|
BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
-------
|
ĐẢNG
CỘNG SẢN VIỆT NAM
---------------
|
|
Số 18-NQ/TW
|
Hà
Nội, ngày 28 tháng 7 năm 2026
|
NGHỊ QUYẾT
HỘI NGHỊ LẦN THỨ BA
BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XIV
VỀ XÂY DỰNG XÃ HỘI KỶ CƯƠNG, AN TOÀN, VĂN MINH,
HÀI HOÀ, PHÁT TRIỂN
-----
I- TÌNH HÌNH
1. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn nhất quán
quan điểm lấy con người làm trung tâm, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi chủ trương, đường lối của Đảng đều hướng
tới xây dựng một xã hội mà mỗi người dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc,
an toàn; được phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất năng lực, phẩm chất của
mình.
Qua 40 năm đổi
mới và 35 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch
sử. Hệ thống chính trị và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa từng bước được
hoàn thiện; dân chủ được mở rộng gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương. Kinh tế
liên tục phát triển; đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân không ngừng được
nâng cao. Văn hoá, con người có bước phát triển; an sinh xã hội được bảo đảm tốt
hơn; quốc phòng, an ninh được giữ vững; an ninh con người ngày càng được quan
tâm. Công tác quản lý xã hội có nhiều đổi mới, từng bước chuyển sang mô hình quản
trị xã hội hiện đại.
Tuy nhiên, quá
trình xây dựng, phát triển xã hội vẫn còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế.
Trật tự, kỷ cương xã hội trên một số lĩnh vực, địa bàn còn chưa nghiêm; tình
hình tội phạm, vi phạm pháp luật còn diễn biến phức tạp. Khoảng cách phát triển
giữa các vùng, miền, nhóm dân cư còn lớn; tình trạng ô nhiễm môi trường chưa được
kiểm soát hiệu quả; văn hoá, đạo đức xã hội có mặt xuống cấp. Hiệu lực, hiệu quả
quản trị xã hội trên một số lĩnh vực chưa theo kịp yêu cầu phát triển nhanh, bền
vững của đất nước... Nguyên nhân chủ yếu của tồn tại, hạn chế nêu trên là do nhận
thức về xây dựng và phát triển xã hội trên một số lĩnh vực chưa theo kịp yêu cầu
thực tiễn, nhất là trong bối cảnh các thách thức an ninh phi truyền thống và những
vấn đề xã hội mới phát sinh ngày càng gia tăng. Công tác lãnh đạo quản trị xã hội
có mặt chậm đổi mới; hệ thống thể chế, chính sách chưa thật sự đồng bộ, kỷ luật
thực thi chưa nghiêm; sự kết hợp giữa phát triển kinh tế với phát triển văn
hoá, con người và bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội có lúc, có nơi chưa chặt chẽ.
2. Từ nay đến năm 2045 là giai đoạn quan trọng định hình cấu trúc
chính trị, an ninh và mô hình phát triển thế giới. Đất nước ta bước vào kỷ
nguyên phát triển mới với quyết tâm hiện thực hoá hai mục tiêu 100 năm Đại hội
XIV đã đề ra. Yêu cầu đặt ra không chỉ là phát triển nhanh hơn, giàu mạnh hơn
mà còn là phát triển bền vững hơn, nhân văn hơn và hài hoà hơn. Thành công của
đất nước không chỉ đo bằng tốc độ tăng trưởng kinh tế mà còn bởi chất lượng
phát triển xã hội, con người, năng lực quản trị quốc gia, mức độ an toàn, niềm
tin và hạnh phúc của Nhân dân.
Bối cảnh,
tình hình trên đòi hỏi phải xây dựng mô hình xã hội phù hợp với yêu cầu phát
triển đất nước trong giai đoạn mới. Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị
quyết về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hoà, phát triển với
những quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp sau:
II- QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO
- Xây dựng
xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hoà, phát triển là sự nghiệp của cả hệ
thống chính trị và toàn dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, đặt trong tổng thể
của mô hình phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Tăng cường sự lãnh đạo
toàn diện, trực tiếp của Đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước;
phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân và sự tham gia của gia đình, cộng đồng, Mặt
trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức
mạnh thời đại, trên cơ sở giữ vững độc lập, chủ quyền, tự chủ, bản sắc văn hoá
dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển đất nước.
- Bảo đảm
hài hoà giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, con người, bảo vệ môi
trường, tiến bộ, công bằng xã hội; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, sức
khỏe, niềm tin và hạnh phúc của Nhân dân; không để xã hội giàu về vật chất
nhưng "nghèo" về văn hoá, đạo đức và các giá trị nhân văn. Phát triển
nhanh, bền vững phải đi đôi với giữ vững ổn định xã hội; không đánh đổi trật tự,
kỷ cương, tiến bộ, công bằng xã hội, môi trường và các giá trị văn hoá lấy tăng
trưởng kinh tế đơn thuần.
- Tập
trung xây dựng con người Việt Nam thời kỳ mới có lý tưởng, lòng yêu nước, bản
lĩnh chính trị vững vàng, trách nhiệm công dân, khát vọng cống hiến cho đất nước
và năng lực thích ứng với xã hội hiện đại. Kết hợp chặt chẽ giữa pháp quyền, đạo
đức và niềm tin xã hội, giữa "xây" và "chống", giữa giáo dục,
thuyết phục với kỷ luật, kỷ cương và thượng tôn pháp luật; từng bước hình thành
"trật tự tự thân" của xã hội, nơi người dân tự giác điều chỉnh hành
vi trên cơ sở pháp luật, đạo đức, văn hoá, trách nhiệm xã hội và khát vọng xây
dựng đất nước giàu mạnh, hùng cường.
- Bảo đảm
an ninh con người là mục tiêu, yêu cầu xuyên suốt của quá trình phát triển, thể
hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa. Mọi chủ trương, chính sách
phải hướng tới bảo vệ con người, bảo đảm để mọi người dân được sống trong môi
trường an toàn, khỏe mạnh, hạnh phúc, nhân văn, có cơ hội phát triển và thụ hưởng
công bằng thành quả phát triển; bảo đảm an sinh xã hội, không để ai bị bỏ lại
phía sau.
- Xây dựng
nền quản trị xã hội hiện đại là nhiệm vụ trọng tâm, chiến lược gắn với nâng cao
năng lực quản trị quốc gia. Đổi mới mạnh mẽ tư duy và phương thức quản trị xã hội
theo hướng chuyển mạnh từ "quản lý xã hội" sang "quản trị và kiến
tạo xã hội"; lấy người dân làm trung tâm, văn hoá là nền tảng, pháp luật
là trụ cột, kỷ cương là sức mạnh, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển
đổi số là động lực, niềm tin xã hội là thước đo và hạnh phúc của Nhân dân là mục
tiêu cao nhất.
III- MỤC TIÊU
1. Mục tiêu tổng quát
Xây dựng
xã hội Việt Nam kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hoà, phát triển. Pháp luật, kỷ
cương và các chuẩn mực xã hội được tôn trọng, bảo vệ, thực thi nghiêm minh; an
ninh con người được bảo đảm toàn diện; kinh tế phát triển nhanh, bền vững, hiện
đại, gắn kết hài hoà với phát triển toàn diện văn hoá và con người trên nền tảng
hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người
và chuẩn mực xã hội Việt Nam. Xây dựng nền quản trị xã hội hiện đại, kiến tạo
phát triển trên nền tảng dữ liệu, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển
đổi số. Phát triển hệ thống an sinh xã hội bao trùm, đa tầng, hiện đại, bền vững;
bảo đảm mọi người dân được sống an toàn, lành mạnh, nhân văn, có cơ hội phát
triển toàn diện và được thụ hưởng công bằng mọi thành quả phát triển. Nâng cao
chất lượng sống, chỉ số hạnh phúc, mức độ hài lòng và niềm tin của Nhân dân; từng
bước hình thành "trật tự tự thân" của xã hội; tạo nền tảng vững chắc
cho phát triển nhanh, bền vững đất nước, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam.
2. Mục tiêu đến năm 2030
Cơ bản tạo
lập được nền tảng của xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hoà, phát triển.
Pháp luật, kỷ cương được củng cố; an ninh con người được bảo đảm tốt hơn; kinh
tế phát triển nhanh, bền vững, gắn kết hài hoà với phát triển toàn diện văn hoá
và con người Việt Nam; từng bước hoàn thiện nền quản trị xã hội hiện đại, vận
hành trên nền tảng dữ liệu, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi
số; hệ thống an sinh xã hội đa dạng, đa tầng, toàn diện, hiện đại, bao trùm, bền
vững; chất lượng sống, mức độ hài lòng và hạnh phúc của Nhân dân được nâng cao;
góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu Đại hội XIV của Đảng đã đề ra.
Một
số chỉ tiêu cụ thể:
- Cơ bản
hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật; ban hành Bộ tiêu chí về xã hội kỷ
cương, an toàn, văn minh, hài hoà, phát triển và các Bộ chỉ số về quản trị xã hội
hiện đại, an ninh con người, an sinh xã hội, chất lượng sống, hạnh phúc xã hội
và niềm tin xã hội. Văn hoá thượng tôn pháp luật trở thành chuẩn mực ứng xử
trong xã hội; xây dựng và thực hành văn hoá Đảng, văn hoá công vụ trong 100%
cán bộ, đảng viên.
- Kéo giảm
bền vững tội phạm, vi phạm pháp luật, tệ nạn xã hội, tai nạn và các rủi ro xã hội;
phấn đấu hằng năm giảm 10% số vụ phạm tội về trật tự xã hội; đến năm 2030 đạt
ít nhất 50% số địa bàn cấp xã và 20% địa bàn cấp tỉnh không có ma túy.
- Hoàn thành xây
dựng Chính phủ số, hình thành Chính phủ thông minh; Việt Nam thuộc nhóm
3 nước dẫn đầu ASEAN và 50 nước dẫn đầu thế giới về Chính phủ điện tử và Chính
phủ số và thuộc nhóm 15 nước dẫn đầu thế giới về Chỉ số an ninh mạng toàn cầu
(GCI). Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính
nhà nước (SIPAS) đạt giá trị trung bình cả nước trên 88%.
- Bảo đảm
đủ lớp, đủ trường, đủ giáo viên, đủ sách giáo khoa, thiết bị dạy học tối thiểu
đáp ứng yêu cầu học tập của mọi lứa tuổi; ít nhất 85% người trong độ tuổi hoàn
thành chương trình trung học phổ thông và tương đương; tỉ lệ lao động qua đào tạo
có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35 - 40%; 100% người dân được khám sức khỏe hằng
năm, hướng tới cơ bản miễn viện phí toàn dân; tỉ lệ thất nghiệp chung dưới 3%,
tỉ lệ thất nghiệp khu vực thành thị dưới 4%; đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn
dân; 60% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội; 90% thiết
chế văn hoá cơ sở hoạt động thường xuyên, hiệu quả; trên 95% hộ gia đình là
"Gia đình văn hoá", trên 90% tổ dân phố, thôn đạt danh hiệu văn hoá,
bảo đảm thực chất.
- Chỉ số
phát triển con người (HDI) đạt khoảng 0,8; tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh
đạt khoảng 75,5 tuổi, trong đó thời gian sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 68 năm.
Chỉ số chênh lệch thu nhập (GINI) dưới mức 0,38; tỉ lệ đô thị hoá cả nước đạt
trên 50%. Lượng phát thải khí nhà kính giảm 8 - 9%; tỉ lệ các cơ sở sản xuất
kinh doanh đạt quy chuẩn về môi trường đạt khoảng 98 - 100%. Phấn đấu thuộc
nhóm 40 quốc gia có chỉ số hạnh phúc cao nhất.
- Các khu vực
đô thị, nông thôn, nhất là các đô thị lớn và địa bàn trọng điểm cơ bản khắc phục
được tình trạng mất trật tự, mỹ quan đô thị, ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao
thông và ngập úng. Hình thành các địa phương kỷ cương, an toàn, văn minh, hài
hoà, phát triển.
3. Tầm nhìn đến năm 2045
Xây dựng
thành công xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hoà, phát triển. Pháp luật,
đạo đức, văn hoá, trách nhiệm công dân, ý thức cộng đồng trở thành nền tảng điều
chỉnh hành vi của mọi người dân; "trật tự tự thân" của xã hội được
hình thành vững chắc. Nền kinh tế phát triển bền vững, hiện đại, hội nhập quốc
tế sâu rộng; gắn kết chặt chẽ với phát triển toàn diện văn hoá và con người Việt
Nam. Nền quản trị xã hội hiện đại, kiến tạo, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, vận
hành trên nền tảng dữ liệu, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi
số. An ninh con người được bảo đảm toàn diện; an sinh xã hội bao trùm, đa tầng,
hiện đại, bền vững. Mọi người dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc và được
thụ hưởng công bằng mọi thành quả phát triển. Đồng thuận xã hội và sức mạnh đại
đoàn kết toàn dân tộc được củng cố vững chắc. Chất lượng sống, chỉ số hạnh
phúc, chỉ số phát triển con người và trình độ quản trị xã hội thuộc nhóm các quốc
gia tiên tiến trên thế giới; tạo nền tảng hiện thực hoá mục tiêu trở thành nước
phát triển, thu nhập cao, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững
bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
IV- NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP
1. Nâng cao nhận thức, thống nhất tư duy và hành động về xây dựng xã hội
kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hoà, phát triển
Các cấp uỷ,
tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội, cán bộ,
đảng viên và Nhân dân quán triệt sâu sắc, thống nhất nhận thức việc xây dựng xã
hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hoà, phát triển là nhiệm vụ trọng tâm, chiến
lược, có ý nghĩa nền tảng để phát triển đất nước nhanh, bền vững; là trách nhiệm
của cả hệ thống chính trị và toàn dân.
Đổi mới
phương thức lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với quản trị xã hội hiện
đại, nâng cao năng lực dự báo, hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách. Người
đứng đầu cấp uỷ, chính quyền, cơ quan, đơn vị phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo,
kiểm tra và chịu trách nhiệm về kết quả xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn
minh, hài hoà, phát triển. Các cơ quan trong hệ thống chính trị phải gương mẫu
đi đầu để người dân cùng tham gia thực hiện. Thực hiện đầy đủ, thực chất phương
châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng";
khuyến khích Nhân dân chủ động, tích cực tham gia xây dựng và quản trị xã hội.
Quán triệt
sâu sắc quan điểm phát triển lấy con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu,
nguồn lực và động lực chủ yếu của phát triển; gắn kết chặt chẽ giữa phát triển
kinh tế với phát triển văn hoá, con người, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội,
an ninh con người và bảo vệ môi trường. Nâng cao nhận thức về quản trị xã hội
hiện đại, kiến tạo với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
là giải pháp đột phá.
Thể chế
hoá đầy đủ, đồng bộ các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết trong quá
trình hoàn thiện pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và giải
pháp phát triển quốc gia, ngành, lĩnh vực và địa phương. Tăng cường tuyên truyền,
nâng cao nhận thức, đồng thuận xã hội và quyết tâm chính trị mạnh mẽ trong toàn
thể cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực
tiễn, từng bước hoàn thiện mô hình xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện đại, giàu bản
sắc, phù hợp với yêu cầu phát triển mới.
2. Xây dựng văn hoá thượng tôn pháp luật và kỷ cương xã hội
Xây dựng
văn hoá thượng tôn pháp luật trở thành giá trị cốt lõi và nền tảng của đời sống
xã hội; bảo đảm mọi tổ chức, cá nhân sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.
Cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải gương mẫu chấp hành pháp luật, kỷ
luật, kỷ cương để lan toả mạnh mẽ đến mọi người dân và toàn xã hội. Từng bước
xây dựng xã hội mà kỷ cương được giữ vững bằng ý thức tự giác và việc tuân thủ
pháp luật trở thành nhu cầu tự thân, nếp sống văn hoá và trách nhiệm của mỗi
người dân.
Đưa giáo dục
về pháp luật, văn hoá thượng tôn pháp luật và kỷ cương xã hội trở thành nội
dung quan trọng, thường xuyên trong gia đình, nhà trường, cơ quan, doanh nghiệp
và cộng đồng dân cư. Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, văn
hoá thượng tôn pháp luật và kỷ cương xã hội; phát huy vai trò của các cơ quan
báo chí, xuất bản, truyền thông, người có uy tín và các nền tảng số.
Đổi mới
công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực
đời sống xã hội, nhất là các vấn đề xã hội phát sinh từ công nghệ số, trí tuệ
nhân tạo, dữ liệu, nền tảng số và bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo đảm kỷ cương xã hội
trong đời sống thực và trên không gian mạng. Xây dựng nền tư pháp liêm chính,
chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân
dân. Tăng cường kiểm tra, giám sát thi hành pháp luật; xử lý nghiêm mọi hành vi
vi phạm, bảo đảm không có vùng cấm, không có ngoại lệ.
Đẩy mạnh
hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì
Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng; thực hiện nghiêm cơ chế kiểm soát quyền lực,
phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Nâng cao hiệu quả hoạt động của
các cơ quan bảo vệ pháp luật và tư pháp; bảo đảm công lý, quyền con người, quyền
công dân được tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.
Phát huy vai trò
của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, gia đình, cộng đồng
và Nhân dân trong giám sát, tuyên truyền, vận động toàn dân thực hiện pháp luật
và các chuẩn mực xã hội. Nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố
cáo và công tác hoà giải ở cơ sở. Thực hành quy chế dân chủ, khuyến khích các
hình thức tự quản của cộng đồng, xây dựng và thực hiện các hương ước, quy ước
tiến bộ, phù hợp với pháp luật và văn hoá truyền thống dân tộc.
3. Xây dựng con người Việt Nam thời kỳ mới là chủ thể, nguồn lực và động
lực của xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hoà, phát triển
Đặt con
người ở vị trí trung tâm, là chủ thể, mục tiêu, nguồn lực và động lực của phát
triển; xác định phát triển toàn diện con người Việt Nam là yêu cầu xuyên suốt
và nhân tố quyết định của xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hoà,
phát triển. Đầu tư cho phát triển con người là đầu tư cho phát triển bền vững của
đất nước. Xây dựng con người Việt Nam thời kỳ mới phát triển toàn diện về đạo đức,
trí tuệ, văn hoá, thể chất và năng lực số; có lòng yêu nước, bản lĩnh, nhân
cách, ý thức thượng tôn pháp luật, trách nhiệm xã hội, khát vọng cống hiến, tư
duy đổi mới sáng tạo, năng lực làm chủ khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế.
Đột phá
phát triển giáo dục và đào tạo theo hướng mở, hiện đại, thực học, thực nghiệp;
xây dựng xã hội học tập và thúc đẩy học tập suốt đời. Xây dựng nền giáo dục lấy
người học làm trung tâm; chuyển mạnh từ tư duy quản lý giáo dục sang quản trị
phát triển giáo dục; mọi chính sách giáo dục phải hướng tới sự phát triển toàn
diện, hạnh phúc, tương lai của người học và sự phát triển nhanh, bền vững của đất
nước.
Đổi mới mạnh
mẽ nội dung, phương pháp giáo dục; kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục tri thức với
giáo dục đạo đức, pháp luật, lịch sử, văn hoá, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp
và ý thức công dân. Đưa nội dung giáo dục về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn,
văn minh, hài hoà, phát triển vào chương trình giáo dục phù hợp ở các cấp học;
xây dựng nhà trường trở thành môi trường giáo dục toàn diện. Phát huy vai trò,
trách nhiệm của gia đình trong hình thành, phát triển, hoàn thiện nhân cách, đạo
đức, lối sống; phát huy vai trò của các thiết chế văn hoá, tổ chức chính trị -
xã hội và cộng đồng trong bồi dưỡng và phát triển nhân cách con người.
Bảo đảm
công bằng, bình đẳng trong giáo dục và đào tạo; quan tâm nhóm yếu thế, nhất là
người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và vùng khó khăn. Có cơ chế phát
hiện, đào tạo, bồi dưỡng, thu hút và trọng dụng nhân tài; phát triển đội ngũ
trí thức, nhà khoa học, doanh nhân, chuyên gia, công nhân lành nghề và lao động
chất lượng cao. Thúc đẩy phát triển khoa học cơ bản, khoa học xã hội và nhân
văn, tạo nền tảng nâng cao năng lực quản trị xã hội và năng lực tự chủ, năng lực
cạnh tranh quốc gia.
Đẩy mạnh ứng
dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong giáo dục, đào
tạo và phát triển con người; phát triển hệ sinh thái học tập số và xã hội học tập
số. Xây dựng thế hệ công dân số có năng lực làm chủ môi trường số, kỹ năng số,
đạo đức, trách nhiệm và văn hoá ứng xử số; nâng cao khả năng tự bảo vệ trước
thông tin xấu độc và tác động tiêu cực của môi trường số đối với phát triển con
người, đặc biệt là trẻ em, thanh thiếu niên và nhóm yếu thế.
Thực hiện
đồng bộ các chính sách dân số và phát triển, bảo đảm duy trì mức sinh, cơ cấu hợp
lý, nâng cao chất lượng dân số. Phát triển toàn diện đời sống văn hoá, tinh thần;
xây dựng lối sống lành mạnh, văn minh; đẩy mạnh phong trào, hoạt động thể dục,
thể thao, nâng cao thể lực, tầm vóc và sức khỏe con người Việt Nam.
4. Xây dựng và phát huy hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá
trị gia đình, chuẩn mực con người và chuẩn mực xã hội Việt Nam thời kỳ mới
Phát triển
toàn diện văn hoá Việt Nam thực sự trở thành nền tảng tinh thần, sức mạnh nội
sinh và yếu tố quan trọng trong quản trị xã hội, cùng với pháp luật, đạo đức,
trách nhiệm xã hội, góp phần xây dựng "trật tự tự thân" của xã hội, từng
bước hình thành cơ chế tự điều chỉnh xã hội.
Xây dựng
và triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia
đình, chuẩn mực con người Việt Nam; từng bước cụ thể hoá thành các chuẩn mực xã
hội Việt Nam thời kỳ mới. Phát huy vai trò định hướng chiến lược của hệ giá trị
quốc gia; hệ giá trị văn hoá là nền tảng tinh thần; hệ giá trị gia đình là môi
trường hình thành, nuôi dưỡng và truyền thụ các giá trị; chuẩn mực con người là
sự thể hiện cụ thể của các hệ giá trị trong mỗi cá nhân; chuẩn mực xã hội là sự
kết tinh và hiện thực hoá các hệ giá trị trong các quan hệ xã hội.
Xây dựng
và lan toả văn hoá Đảng gắn với tính tiên phong, gương mẫu, liêm chính và phụng
sự Nhân dân của đảng viên; văn hoá công vụ gắn với liêm chính, trách nhiệm, kỷ
cương, kỷ luật thực thi và tinh thần vì Nhân dân phục vụ của cán bộ, công chức,
viên chức; văn hoá công dân gắn với thượng tôn pháp luật, trách nhiệm xã hội và
tinh thần cộng đồng; văn hoá doanh nghiệp gắn với đạo đức kinh doanh, tinh thần
khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và trách nhiệm xã hội; văn hoá số gắn với chuẩn mực
đạo đức và văn minh trên môi trường số; xây dựng văn hoá ứng xử văn minh và
trách nhiệm trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Xây dựng
gia đình Việt Nam ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh, thực sự là tế bào lành mạnh
của xã hội; phát huy các giá trị hiếu nghĩa, thủy chung, trách nhiệm, yêu
thương, chia sẻ và tôn trọng lẫn nhau. Tăng cường chính sách xây dựng gia đình
hạnh phúc, phòng ngừa và hạn chế những hệ lụy xã hội từ "đổ vỡ" gia
đình; quan tâm chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em; chăm sóc, bảo vệ và phát
huy vai trò của phụ nữ và người cao tuổi; phòng, chống bạo lực, xâm hại phụ nữ,
trẻ em và các nhóm yếu thế.
Phát triển
đồng bộ văn hoá cơ sở, lấy khu dân cư là hạt nhân của môi trường văn hoá, người
dân là chủ thể và trung tâm; phát huy tính tự quản của cộng đồng, hương ước,
quy ước, thiết chế văn hoá, thể thao cơ sở trong xây dựng xã hội. Nâng cao mức
thụ hưởng văn hoá, đáp ứng nhu cầu sáng tạo, thực hành văn hoá của Nhân dân, nhất
là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, các
khu công nghiệp, khu vực lao động phi chính thức và nhóm yếu thế.
Bảo tồn và
phát huy các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể, các giá trị văn hoá đặc sắc của
đồng bào dân tộc thiểu số. Thực hiện nếp sống văn hoá mới, xóa bỏ các hủ tục, tập
quán lạc hậu. Coi trọng và phát huy hơn nữa vai trò của văn học, nghệ thuật;
phát triển công nghiệp văn hoá và các ngành công nghiệp sáng tạo; đẩy mạnh số
hoá, phát huy hệ tri thức dân tộc và các giá trị văn hoá truyền thống. Xây dựng
môi trường văn hoá số, môi trường thông tin số an toàn, lành mạnh; tăng cường bảo
đảm an ninh mạng, chủ quyền văn hoá số.
5. Đột phá xây dựng nền quản trị xã hội hiện đại, kiến tạo phát triển từ
cơ sở
Tiếp tục
hoàn thiện thể chế, chú trọng thực thi pháp luật, đưa thể chế, pháp luật trở
thành lợi thế cạnh tranh, nền tảng vững chắc, động lực mạnh mẽ cho phát triển.
Đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo,
chuyển đổi số và dữ liệu trong quản trị xã hội. Xây dựng dữ liệu trở thành nguồn
tài nguyên chiến lược, tư liệu sản xuất mới, nền tảng của quản trị hiện đại;
phát triển đồng bộ hạ tầng số và hệ sinh thái dữ liệu quốc gia; chuẩn hoá, kết
nối, chia sẻ, khai thác hiệu quả, an toàn. Tăng cường ứng dụng trí tuệ nhân tạo,
dữ liệu lớn, Internet vạn vật (IoT) và công nghệ số hiện đại; cắt giảm tối đa
thủ tục hành chính; phát triển dịch vụ công thông minh, lấy người dân và doanh
nghiệp làm trung tâm phục vụ.
Tiếp tục sắp
xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu năng, hiệu
lực, hiệu quả; phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền theo nguyên tắc một
cơ quan thực hiện nhiều việc, một việc chỉ giao một cơ quan chủ trì, một đầu mối
chịu trách nhiệm chính, xuyên suốt. Bộ, ngành Trung ương kiến tạo phát triển
theo lĩnh vực phụ trách và đồng bộ trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước;
địa phương chủ động thực hiện, sáng tạo trong khuôn khổ pháp luật và phân cấp,
phân quyền của Trung ương.
Hoàn thiện
mô hình tổ chức và cơ chế vận hành của chính quyền địa phương hai cấp theo hướng
cấp tỉnh tập trung vai trò quy hoạch, điều phối, phân bổ nguồn lực, tổ chức
không gian phát triển, kiểm tra, giám sát và liên kết vùng; cấp xã là tuyến đầu
của quản trị xã hội, gần dân, sát dân, phục vụ Nhân dân. Đẩy mạnh phân cấp,
phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực, công cụ thực thi, kiểm soát quyền lực,
trách nhiệm giải trình; tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán dựa
trên dữ liệu.
Đổi mới mạnh
mẽ công tác cán bộ, lấy phẩm chất, năng lực, kết quả thực hiện nhiệm vụ và mức
độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp là căn cứ quan trọng để đánh giá cán bộ;
khẩn trương hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm, bố trí, sử dụng cán bộ đúng
người, đúng việc. Xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực, tư duy đổi mới,
dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, có năng lực
số và kỹ năng quản trị hiện đại; tăng cường đào tạo, bồi dưỡng và bố trí cán bộ
có năng lực, chuyên môn về cơ sở. Khẩn trương hoàn thiện chính sách tiền lương,
đãi ngộ phù hợp đối với cán bộ, nhất là cán bộ công tác tại cơ sở, vùng khó
khăn, miền núi, biên giới, hải đảo.
Tiếp tục đổi
mới phương thức hoạt động tổ chức đảng ở cơ sở, xây dựng tổ chức cơ sở đảng thực
sự là hạt nhân chính trị, trung tâm đoàn kết, quy tụ, phát huy sức mạnh cán bộ,
đảng viên và Nhân dân. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị
- xã hội và các thiết chế xã hội ở cơ sở tham gia quản trị xã hội. Thực hiện tốt
chính sách bình đẳng, đoàn kết các dân tộc, tôn giáo; phát huy khối đại đoàn kết
toàn dân tộc; từng bước xây dựng xã hội có khả năng tự điều chỉnh trên cơ sở
pháp luật, đạo đức, văn hoá, chuẩn mực xã hội và hương ước, quy ước tiến bộ.
Triển khai thí điểm, tổng kết, nhân rộng mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa
trên nền tảng kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hoà, phát triển.
6. Đột phá về bảo đảm an ninh con người toàn diện và xây dựng môi trường
sống an toàn, lành mạnh
Đổi mới tư
duy về bảo đảm an ninh con người theo hướng lấy con người làm trung tâm, chủ thể
của mọi chính sách phát triển; chuyển mạnh từ tư duy ứng phó, xử lý sang chủ động
phòng ngừa, quản trị rủi ro, lấy chủ động phòng ngừa từ sớm, từ xa, từ cơ sở là
cơ bản, chiến lược, lâu dài. Xây dựng nền an ninh con người chủ động, toàn diện,
bao trùm, hiện đại và bền vững; bảo đảm mọi người dân được sống trong môi trường
an toàn, lành mạnh, được bảo vệ trước các rủi ro về kinh tế, xã hội, sức khoẻ,
an ninh mạng, các nguy cơ an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống.
Kịp thời
hoàn thiện thể chế, pháp luật để xử lý các vấn đề phát sinh trong phát triển
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xác lập mô hình tăng trưởng mới,
chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và tác động của khoa học, công nghệ, trí tuệ
nhân tạo đối với an ninh con người và ổn định xã hội. Hoàn thiện thể chế, chính
sách, pháp luật về bảo đảm an ninh con người, an ninh, trật tự theo hướng phân
định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của từng cơ quan, xác định rõ cơ quan
chủ trì, khắc phục giao thoa, chồng chéo. Khẩn trương rà soát, sửa đổi, hoàn
thiện pháp luật về tổ chức hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước về an
ninh, trật tự, cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án theo hướng đồng bộ,
thống nhất, tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.
Nghiên cứu
tăng chế tài xử lý đối với các hành vi vi phạm về an toàn thực phẩm, sản xuất,
kinh doanh hàng giả, gây ô nhiễm môi trường và các hành vi xâm hại sức khoẻ con
người và cộng đồng. Hoàn thiện chính sách phát triển thanh toán không dùng tiền
mặt, thanh toán số, thúc đẩy xây dựng xã hội số, nâng cao hiệu quả phòng, chống
tội phạm, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân.
Xây dựng hệ
thống quản trị rủi ro, bản đồ số an ninh xã hội để chủ động nhận diện, cảnh báo
sớm, phòng ngừa, ứng phó và kiểm soát hiệu quả các rủi ro đối với an ninh con
người. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, các nền
tảng số, môi trường số, bảo vệ dữ liệu cá nhân và các lĩnh vực liên quan đến sức
khoẻ và an toàn của người dân. Đấu tranh quyết liệt với tội phạm, vi phạm pháp
luật trong đời sống thực và trên không gian mạng; xây dựng, nhân rộng địa bàn
không ma tuý, không tội phạm.
Triển khai
đồng bộ, toàn diện các giải pháp về bảo đảm an ninh con người trong tổng thể
Chiến lược an ninh quốc gia. Xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, thế trận
quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân và
thế trận lòng dân vững chắc. Đẩy mạnh phong trào "Toàn dân bảo vệ an ninh
Tổ quốc", gắn với cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn
mới, đô thị văn minh" và các phong trào thi đua khác. Nâng cao hiệu quả phối
hợp giữa các lực lượng công an cấp xã, ban chỉ huy quân sự cấp xã, đồn biên
phòng, lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở, dân quân tự vệ và quần
chúng nhân dân trong bảo đảm an ninh con người và an ninh, trật tự tại địa bàn
cơ sở.
Tăng cường
bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ Nhân dân; chuyển mạnh từ chữa bệnh sang
chủ động phòng bệnh, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ toàn diện, từ quản lý bệnh tật
sang quản lý sức khoẻ, nâng cao chất lượng sống của Nhân dân. Chú trọng phát
triển y tế dự phòng, y tế cơ sở, chăm sóc sức khoẻ người dân theo vòng đời,
chăm sóc sức khoẻ ban đầu, sức khoẻ học đường, sức khoẻ tâm thần, dinh dưỡng,
an toàn thực phẩm; triển khai khám sức khoẻ định kỳ, từng bước miễn viện phí
theo lộ trình; đẩy mạnh quản lý sức khoẻ toàn dân dựa trên dữ liệu và ứng dụng
khoa học, công nghệ.
Nâng cao năng lực
phòng ngừa, ứng phó, kiểm soát dịch bệnh, nhất là các dịch bệnh mới nổi; bảo đảm
an ninh y tế giữa các vùng, miền. Mở rộng, bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân; nâng
cao năng lực tự chủ về nghiên cứu, sản xuất và cung ứng vắcxin, thuốc, thiết bị
y tế thiết yếu. Tăng cường kiểm soát môi trường sống dựa trên tiêu chuẩn, quy
chuẩn kỹ thuật. Phát triển nguồn nhân lực y tế chất lượng cao, chuyên nghiệp,
nhân văn. Phát huy giá trị y học dân tộc, phát triển dược liệu, công nghiệp dược,
công nghệ sinh học và các ngành, dịch vụ chăm sóc sức khoẻ.
7. Phát triển kinh tế nhanh, bền vững gắn với tiến bộ, công bằng xã hội,
bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sống của Nhân dân
Tiếp tục
hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tập
trung khơi thông, sử dụng hiệu quả và phát huy tối đa mọi nguồn lực, động lực
phát triển; tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi; phát triển kinh tế số,
kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và các mô hình kinh doanh mới; thúc đẩy phát
triển mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng nhất của
nền kinh tế quốc gia; phát triển tầng lớp trung lưu ngày càng lớn mạnh.
Gắn kết chặt
chẽ giữa phát triển kinh tế với nâng cao chất lượng sống của Nhân dân, tạo việc
làm bền vững, mở rộng cơ hội phát triển. Thực hiện hiệu quả các chính sách bảo
đảm tiến bộ và công bằng xã hội trong từng chính sách phát triển; thu hẹp khoảng
cách, chênh lệch phát triển giữa các vùng, miền, giữa đô thị và nông thôn, giữa
các nhóm dân cư; quan tâm địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu
số, khu vực biên giới, hải đảo và các nhóm yếu thế.
Đổi mới công
tác bảo đảm an sinh xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội hiện đại, công bằng,
hiệu quả bao trùm, đa tầng, chủ động, linh hoạt, bền vững, thích ứng với già
hoá dân số, chuyển đổi số, chuyển dịch cơ cấu lao động và các xu hướng phát triển
mới. Xây dựng bản đồ số an sinh xã hội; đẩy mạnh phát triển "kinh tế bạc"
và các quỹ an sinh xã hội; nâng cao năng lực ứng phó với thiên tai, biến đổi
khí hậu và các cú sốc kinh tế - xã hội; bảo đảm an ninh lương thực gắn với phát
triển nông nghiệp sinh thái, bền vững.
Đẩy mạnh
thực hiện chính sách nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê, nâng cao khả năng tiếp cận
các dịch vụ xã hội cơ bản, ưu tiên người có hoàn cảnh khó khăn và nhóm yếu thế.
Đổi mới phương thức trợ giúp xã hội, phát huy vai trò của văn hoá gia đình, cộng
đồng, tập trung chăm lo nhóm yếu thế, nhất là trẻ em bị bỏ rơi, mồ côi, lang
thang cơ nhỡ, người cao tuổi không nơi nương tựa, phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn.
Nâng cao chất
lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác quy hoạch, gắn yêu cầu bảo vệ môi trường
trong mỗi quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án phát triển kinh tế - xã hội.
Tập trung giải quyết dứt điểm các vấn đề bức xúc tại các đô thị lớn và địa bàn
trọng điểm, như ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông, ngập lụt, quá tải hạ tầng
và các vấn đề liên quan đến chất lượng sống của người dân. Phát triển hệ thống
đô thị và nông thôn xanh, thông minh, văn minh, giàu bản sắc.
Hoàn thiện
thể chế quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường;
thúc đẩy chuyển đổi xanh; thiết lập cơ chế điều phối liên vùng; đẩy mạnh ứng dụng
khoa học, công nghệ, dữ liệu, hệ thống quan trắc, giám sát, cảnh báo, bảo vệ
môi trường. Xây dựng văn hoá sinh thái, lối sống hài hoà với thiên nhiên; phát
huy trách nhiệm của cộng đồng doanh nghiệp trong bảo vệ môi trường, bảo đảm an
sinh xã hội và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.
8. Tăng cường hội nhập quốc tế và huy động nguồn lực cho xây dựng xã hội
kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hoà, phát triển
Tích cực,
chủ động hội nhập, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm, tri thức và thành tựu quốc
tế về xây dựng và quản trị xã hội phù hợp với điều kiện Việt Nam. Đẩy mạnh hợp
tác trong nghiên cứu, đào tạo, chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao và nâng cao năng lực quản trị xã hội hiện đại.
Chủ động đề
xuất sáng kiến, tăng cường hợp tác phòng ngừa, ứng phó hiệu quả với các thách
thức xuyên quốc gia và các vấn đề xã hội mang tính toàn cầu, đóng góp xây dựng
các chuẩn mực và cơ chế hợp tác quốc tế về xây dựng xã hội, an ninh con người
và phát triển bền vững. Có cơ chế thu hút, kết nối và phát huy hiệu quả nguồn lực
tri thức, chuyên gia, nhà khoa học, doanh nhân và cộng đồng người Việt Nam ở nước
ngoài phục vụ xây dựng và phát triển đất nước.
Tăng cường
bảo đảm nguồn lực, coi đầu tư cho xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh,
hài hoà, phát triển là đầu tư cho phát triển bền vững đất nước. Ưu tiên đầu tư
cho các lĩnh vực trọng yếu, cấp bách, địa bàn cơ sở, địa bàn khó khăn, vùng
sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các địa bàn chiến lược. Huy động
nguồn lực từ khu vực nhà nước, tư nhân, quốc tế và cộng đồng người Việt Nam ở
nước ngoài; thúc đẩy hợp tác công tư trong các lĩnh vực quản trị xã hội, bảo vệ
môi trường, bảo đảm an ninh con người và an sinh xã hội.
9. Các nhiệm vụ, giải pháp đột phá
Xác định 3
nhóm nhiệm vụ, giải pháp đột phá để tập trung thực hiện, tạo nền tảng, động lực
và lan toả, gồm: (1) Xây dựng văn hoá thượng tôn pháp luật, văn hoá Đảng, văn
hoá công vụ và kỷ cương xã hội. (2) Xây dựng con người Việt Nam thời kỳ mới.
(3) Xây dựng nền quản trị xã hội hiện đại, kiến tạo phát triển từ cơ sở.
V- TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Bộ Chính trị ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết;
lãnh đạo, chỉ đạo triển khai đồng bộ, kịp thời, hiệu quả, tạo chuyển biến mạnh
mẽ trong nhận thức, hành động của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.
2. Đảng uỷ Quốc hội, Đảng uỷ Chính phủ, các đảng uỷ bộ, ngành
Trung ương chỉ đạo rà soát, sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật bảo đảm đồng
bộ, thống nhất cho triển khai thực hiện Nghị quyết và giám sát thực hiện Nghị
quyết.
3. Các tỉnh uỷ, thành uỷ, các ban đảng, đảng uỷ trực thuộc Trung
ương tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt, xây dựng kế hoạch thực hiện Nghị
quyết và triển khai nghiêm túc đến chi bộ.
4. Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương chủ trì, phối hợp với Đảng
uỷ Công an Trung ương hướng dẫn, quán triệt và thường xuyên tuyên truyền về việc
triển khai, kết quả thực hiện Nghị quyết.
5. Đảng uỷ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương lãnh đạo, chỉ
đạo tăng cường công tác giám sát, phản biện xã hội, tuyên truyền, vận động các
tầng lớp nhân dân tích cực tham gia giám sát việc thực hiện Nghị quyết và chính
sách, pháp luật về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hoà, phát
triển.
6. Đảng uỷ Công an Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban Chính
sách, chiến lược Trung ương và các cơ quan liên quan theo dõi, hướng dẫn, đôn đốc,
kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết; định kỳ sơ kết, tổng kết, báo cáo
Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư theo quy định.
Nghị quyết này phổ biến đến chi
bộ.
|
Nơi nhận:
- Bộ
Chính trị, Ban Bí thư;
- Các ban đảng, đảng uỷ trực thuộc Trung ương;
- Các tỉnh uỷ, thành uỷ;
- Các đảng uỷ bộ, ngành, tổ chức chính trị-xã hội ở Trung
ương;
- Các đảng uỷ đơn vị sự nghiệp Trung ương;
- Các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng;
- Lưu Văn phòng Trung ương Đảng.
|
T/M BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
TỔNG BÍ THƯ
Tô Lâm
|