|
ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số:
46/2025/QĐ-UBND
|
Thanh Hóa, ngày
30 tháng 5 năm 2025
|
QUYẾT ĐỊNH
QUY
ĐỊNH MỨC ĐỘ KHÔI PHỤC LẠI TÌNH TRẠNG BAN ĐẦU CỦA ĐẤT VÀ CÁC TRƯỜNG HỢP KHÔNG CÓ
TÍNH KHẢ THI ĐỂ KHÔI PHỤC LẠI TÌNH TRẠNG BAN ĐẦU CỦA ĐẤT TRƯỚC KHI VI PHẠM ĐỐI
VỚI HÀNH VI HỦY HOẠI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA
Căn cứ Luật Tổ chức Chính quyền địa phương ngày
19 tháng 02 năm 2025;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
ngày 19 tháng 02 năm 2025;
Căn cứ Luật Đất đai ngày 18 tháng 01 năm 2024;
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai số 31/2024/QH15, Luật Nhà ở
số 27/2023/QH15, Luật Kinh doanh bất động sản số 29/2023/QH15, Luật Các tổ chức
tín dụng số 32/2024/QH15 ngày 29 tháng 6 năm 2024;
Căn cứ Luật Xử lý vi phạm hành chính ngày 20
tháng 6 năm 2012; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành
chính ngày 13 tháng 11 năm 2020;
Căn cứ Nghị định số 102/2024/NĐ-CP ngày 30 tháng
7 năm 2024 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất
đai;
Căn cứ Nghị định số 123/2024/NĐ-CP ngày 04 tháng
10 năm 2024 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
đất đai;
Căn cứ Nghị định số 78/2025/NĐ-CP ngày 01 tháng
4 năm 2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức,
hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi
trường tại Tờ trình số 394/TTr-SNNMT ngày 15 tháng 5 năm 2025;
Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa quyết định quy định
mức độ khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất và các trường hợp không có tính
khả thi để khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm đối với
hành vi hủy hoại đất trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy định mức độ khôi phục lại
tình trạng ban đầu của đất và các trường hợp không có tính khả thi để khôi phục
lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm đối với hành vi hủy hoại đất
trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại khoản 5 Điều
14 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP ngày 04/10/2024 của
Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Điều 2. Quyết định này có
hiệu lực thi hành kể từ ngày 10 tháng 6 năm 2025.
Điều 3. Chánh Văn phòng
UBND tỉnh; Giám đốc (Thủ trưởng) các Sở, ban, ngành cấp tỉnh; Chủ tịch UBND các
huyện, thị xã, thành phố; Chủ tịch UBND các xã, phường, thị trấn và các tổ chức,
cá nhân, đối tượng khác có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định
này./.
|
Nơi nhận:
- Như Điều 3 QĐ;
- Thủ tướng Chính phủ (b/c);
- Văn phòng Chính phủ (b/c);
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường (b/c);
- Cục KTVB và QLXL VPHC - Bộ Tư pháp (b/c);
- Thường trực Tỉnh ủy (b/c);
- Thường trực HĐND tỉnh (b/c);
- Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh (b/c);
- Ủy ban MTTQVN tỉnh (b/c);
- Chủ tịch, các PCT UBND tỉnh;
- Các Ban của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh;
- Huyện ủy, Thị ủy, Thành ủy;
- HĐND các huyện, thị xã, thành phố;
- Công báo tỉnh (đăng tải);
- Cổng thông tin điện tử tỉnh (đăng tải);
- Lưu VT, NNMT.
|
TM. ỦY BAN NHÂN
DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Lê Đức Giang
|
QUY ĐỊNH
MỨC
ĐỘ KHÔI PHỤC LẠI TÌNH TRẠNG BAN ĐẦU CỦA ĐẤT VÀ CÁC TRƯỜNG HỢP KHÔNG CÓ TÍNH KHẢ
THI ĐỂ KHÔI PHỤC LẠI TÌNH TRẠNG BAN ĐẦU CỦA ĐẤT TRƯỚC KHI VI PHẠM ĐỐI VỚI HÀNH
VI HỦY HOẠI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA
(Ban hành kèm theo Quyết định số 46/2025/QĐ-UBND ngày 30 tháng 5 năm 2025 của
Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa)
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Quy định này quy định mức độ khôi phục lại tình trạng
ban đầu của đất trước khi vi phạm đối với hành vi hủy hoại đất quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 14 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP và các trường
hợp không có tính khả thi để khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi
vi phạm theo quy định tại khoản 5 Điều 14 Nghị định số
123/2024/NĐ-CP trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
1. Tổ chức, hộ gia đình, cộng đồng dân cư, cá nhân
có hành vi vi phạm hành chính quy định tại Khoản 1, Khoản 2, Điều
14, Nghị định số 123/2024/NĐ-CP ngày 04/10/2024 của Chính phủ quy định về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai xảy ra trên địa bàn tỉnh Thanh
Hóa; trừ trường hợp Điều ước Quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác,
gồm:
a) Cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài là công dân Việt Nam, cá nhân nước ngoài, người gốc Việt Nam định cư ở nước
ngoài (sau đây gọi là cá nhân).
b) Hộ gia đình, cộng đồng dân cư.
c) Tổ chức trong nước, tổ chức nước ngoài, tổ chức
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc.
2. Cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt và tổ chức,
cá nhân có liên quan đến việc xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
Chương II
MỨC ĐỘ KHÔI PHỤC LẠI
TÌNH TRẠNG BAN ĐẦU CỦA ĐẤT VÀ CÁC TRƯỜNG HỢP KHÔNG CÓ TÍNH KHẢ THI ĐỂ KHÔI PHỤC
LẠI TÌNH TRẠNG BAN ĐẦU CỦA ĐẤT TRƯỚC KHI VI PHẠM
Điều 3. Mức độ khôi phục lại
tình trạng ban đầu của đất đối với hành vi làm suy giảm chất lượng đất quy định
tại khoản 1 Điều 14 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP
1. Hành vi làm mất hoặc giảm độ dày tầng đất đang
canh tác thì mức độ khôi phục lại tình trạng ban đầu là buộc khôi phục lại tầng
đất đang canh tác với độ dày như trước khi vi phạm. Loại đất sử dụng để khôi phục
lại tầng đất canh tác là loại đất cũ đã lấy đi; trường hợp đất cũ đã vận chuyển
đi để sử dụng vào mục đích khác thì sử dụng đất có thành phần, tính chất tương
đương với loại đất ban đầu hoặc tương đương các thửa đất liền kề có cùng mục
đích sử dụng.
2. Hành vi làm thay đổi lớp mặt của đất sản xuất
nông nghiệp bằng các loại vật liệu, chất thải hoặc đất lẫn cát, sỏi, đá hay loại
đất có thành phần khác với loại đất đang sử dụng trước khi thực hiện hành vi vi
phạm thì mức độ khôi phục lại tình hạng ban đầu là buộc thực hiện thu gom, vận
chuyển các loại vật liệu, chất thải hoặc đất lẫn cát, sỏi, đá hay loại đất có
thành phần khác với loại đất đang sử dụng ra khỏi phạm vi diện tích đất vi phạm.
Trường hợp sau khi thực hiện biện pháp khôi phục làm mất hoặc giảm độ dày của lớp
đất mặt thì phải thực hiện khôi phục tình trạng ban đầu của đất như quy định tại
khoản 1 Điều này.
3. Hành vi gây bạc màu, gây xói mòn, rửa trôi đất
nông nghiệp mà dẫn đến làm mất hoặc giảm khả năng sử dụng đất đã được xác định
thì mức độ khôi phục lại tình trạng ban đầu là thực hiện các biện pháp cải tạo
đất (che phủ đất bằng vật liệu hữu cơ, luân canh cây trồng, tạo thảm thực vật,
canh tác theo đường đồng mức, bón vôi, phân hữu cơ, điều chỉnh lượng nước tưới
phù hợp với nhu cầu cây trồng, đắp bờ kè, phân tán dòng nước nhằm ngăn chặn
dòng chảy bề mặt) để khôi phục sự màu mỡ của đất, đảm bảo khả năng sử dụng đất
theo mục đích sử dụng đất tương đương với loại đất ban đầu hoặc các thửa đất liền
kề có cùng mục đích sử dụng; trường hợp xói mòn, rửa trôi làm mất hoặc giảm độ
dày tầng đất đang canh tác thì việc khôi phục tình trạng ban đầu của đất thực
hiện như quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 4. Mức độ khôi phục lại
tình trạng ban đầu của đất đối với hành vi làm biến dạng địa hình đất quy định
tại khoản 2 Điều 14 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP
1. Hành vi thay đổi độ dốc bề mặt đất thì mức độ
khôi phục lại tình trạng ban đầu là thực hiện san gạt, đào, đắp, nâng cao, hạ
thấp mặt bằng để điều chỉnh lại độ dốc bề mặt đất như trước khi vi phạm.
2. Hành vi hạ thấp bề mặt đất thì mức độ khôi phục
lại tình trạng ban đầu là thực hiện san lấp, khôi phục lại độ cao bề mặt thửa đất
trước khi vi phạm. Trường hợp bề mặt đất trước khi vi phạm cao hơn hiện trạng
các thửa đất liền kề mà việc khôi phục lại độ cao bề mặt đất ảnh hưởng đến việc
sử dụng đất của thửa đất liền kề thì san lấp đất trở lại trạng thái bề mặt bằng
với thửa đất liền kề có bề mặt cao nhất.
3. Hành vi san lấp đất có mặt nước chuyên dùng (trừ
hồ thủy lợi) mà làm mất hoặc giảm khả năng sử dụng đất theo mục đích đã được
xác định thì mức độ khôi phục lại tình trạng ban đầu là phải nạo vét, trả lại
hiện trạng mặt nước chuyên dùng như trước khi vi phạm.
4. Hành vi san lấp nâng cao, hạ thấp bề mặt của đất
sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản mà làm mất hoặc giảm khả năng sử dụng
đất theo mục đích đã được xác định (trừ trường hợp chuyển đổi cơ cấu cây trồng,
vật nuôi trên đất trồng lúa sang trồng lúa kết hợp nuôi trồng thủy sản, xây dựng
công trình phục vụ trực tiếp sản xuất nông nghiệp trên đất trồng lúa, cải tạo đất
nông nghiệp thành ruộng bậc thang và hình thức cải tạo đất khác phù hợp với mục
đích sử dụng đất được giao, được thuê, được công nhận quyền sử dụng đất hoặc
phù hợp với dự án đầu tư đã được Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền giao đất,
cho thuê đất phê duyệt hoặc chấp thuận) thì mức độ khôi phục lại tình trạng ban
đầu quy định như sau:
a) Thực hiện đào, nạo vét hạ thấp bề mặt hoặc san lấp,
đắp nâng cao bề mặt đất để khôi phục lại độ cao bề mặt đất trước khi vi phạm, đảm
bảo khả năng sử dụng đất theo mục đích sử dụng đất tương đương với loại đất ban
đầu hoặc các thửa đất liền kề có cùng mục đích sử dụng.
b) Trường hợp việc khôi phục theo quy định tại điểm
a khoản này ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của thửa đất liền kề do bề mặt thửa
đất trước khi vi phạm cao hơn hiện trạng các thửa đất liền kề thì thực hiện
khôi phục lại độ cao bề mặt đất bằng với thửa đất liền kề có bề mặt cao nhất.
c) Trường hợp việc khôi phục theo quy định tại điểm
a khoản này ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của thửa đất liền kề do bề mặt đất
trước khi vi phạm thấp hơn hiện trạng các thửa đất liền kề, hiện trạng bề mặt đất
đang vi phạm cao hơn hiện trạng thửa đất liền kề thì thực hiện khôi phục lại độ
cao bề mặt đất bằng với thửa đất liền kề có bề mặt thấp nhất.
5. Trường hợp sau khi thực hiện khôi phục lại tình
trạng của đất theo quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 4 Điều này mà làm mất,
giảm độ dày của tầng đất canh tác hoặc thay đổi lớp mặt của đất sản xuất nông
nghiệp thì thực hiện khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất theo quy định tại
khoản 1, khoản 2 Điều 3 Quy định này.
Điều 5. Các trường hợp không có
tính khả thi để khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất quy định tại
khoản 5 Điều 14 Nghị định số 123/2024/NĐ-CP
Việc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất không
có tính khả thi trên thực địa trong các trường hợp sau:
1. Việc thực hiện khôi phục lại tình trạng ban đầu
là không thể thực hiện được bằng các biện pháp tối đa cần thiết có thể áp dụng
được quy định tại Điều 3 Điều 4 quy định này tại thời điểm buộc khôi phục.
2. Việc thực hiện khôi phục lại tình trạng ban đầu
có thể gây nguy hiểm cho người, động vật, các phương tiện cơ giới, các công
trình kiến trúc; gây sạt lở, vùi lấp, ngập úng đến khu đất xung quanh.
3. Trường hợp việc khôi phục lại tình trạng ban đầu
của đất có thể thực hiện được nhưng hiện trạng diện tích đất vi phạm phù hợp với
quy hoạch sử dụng đất cấp huyện hoặc phù hợp với dự án đầu tư đã được cơ quan
có thẩm quyền chấp thuận theo quy định của pháp luật về đầu tư, trừ trường hợp
người vi phạm đề nghị thực hiện khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất.
4. Trường hợp việc khôi phục lại tình trạng ban đầu
của đất có thể thực hiện được nhưng không thể tiếp tục sử dụng đất sau khi khôi
phục theo mục đích ban đầu do các yếu tố khách quan, trừ trường hợp người vi phạm
đề nghị thực hiện khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất.
Chương III
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 6. Trách nhiệm xác định
trường hợp không có tính khả thi để khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất
trước khi vi phạm
1. Trong quá trình xem xét xử lý hành vi vi phạm
hành chính, người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính, cơ quan trình
xử phạt vi phạm hành chính (trường hợp vượt thẩm quyền xử phạt của người có thẩm
quyền xử phạt vi phạm hành chính thuộc cơ quan đó) có trách nhiệm xác định trường
hợp không có tính khả thi để khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất theo quy
định tại Điều 5 Quy định.
2. Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
căn cứ biên bản vi phạm hành chính, kết quả xác định của cơ quan trình xử phạt
vi phạm hành chính để quyết định trường hợp không có tính khả thi để khôi phục
lại tình trạng ban đầu của đất khi quyết định xử phạt vi phạm hành chính Trường
hợp cần thiết có thể đề nghị, yêu cầu ý kiến của cơ quan chuyên môn có liên
quan để quyết định trường hợp không có tính khả thi để khôi phục lại tình trạng
ban đầu của đất.
3. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm cung cấp kịp
thời, chính xác các thông tin, hồ sơ liên quan đến tình trạng ban đầu của đất
trước khi vi phạm và các thông tin liên quan theo yêu cầu của người có thẩm quyền
lập biên bản vi phạm hành chính, cơ quan trình xử phạt vi phạm hành chính, người
có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính để xác định trường hợp không có tính
khả thi để khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất; phối hợp với cơ quan của
người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, cơ quan trình xử phạt vi phạm
hành chính (trường hợp vượt thẩm quyền xử phạt của người có thẩm quyền xử phạt
vi phạm hành chính thuộc cơ quan đó) để xác định kết quả khôi phục lại tình trạng
ban đầu của đất của người vi phạm.
Điều 7. Điều khoản chuyển tiếp
1. Hành vi vi phạm hành chính hủy hoại đất xảy ra
trước ngày Quy định này có hiệu lực thi hành mà tổ chức, cá nhân vi phạm chưa
thực hiện xong việc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm
thì thực hiện áp dụng theo Quy định này.
2, Đối với Quyết định xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực đất đai đã được ban hành và tổ chức, cá nhân vi phạm đã thực hiện
xong việc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm thì không
thực hiện áp dụng theo Quy định này.
Điều 8. Trách nhiệm của các cơ
quan, tổ chức có liên quan
1. Ủy ban nhân dân các cấp và các sở, ban, ngành, tổ
chức đoàn thể có liên quan, theo chức năng, nhiệm vụ, có trách nhiệm phổ biến,
triển khai thực hiện Quy định này.
2. Trong quá trình triển khai thực hiện, nếu có khó
khăn, vướng mắc, bất cập phát sinh thì các cơ quan, đơn vị, địa phương và các tổ
chức, cá nhân có liên quan kịp thời có ý kiến bằng văn bản gửi về Sở Nông nghiệp
và Môi trường để hướng dẫn, tổng hợp, báo cáo, đề xuất UBND tỉnh xem xét, sửa đổi,
bổ sung cho phù hợp./.