|
ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH LAI CHÂU
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 8247/KH-UBND
|
Lai Châu, ngày 19
tháng 12 năm 2025
|
KẾ HOẠCH
KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LAI
CHÂU GIAI ĐOẠN TỪ THÁNG 12 NĂM 2025 ĐẾN THÁNG 6 NĂM 2026
Căn cứ Quyết định số
4822/QĐ-BNNMT ngày 14 tháng 11 năm 2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường về việc
công bố Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình mùa cạn năm
2025-2026, Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu ban hành Kế hoạch khai thác, sử dụng
tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Lai Châu giai đoạn từ tháng 12 năm 2025 đến
tháng 6 năm 2026, với các nội dung chủ yếu sau:
I. MỤC ĐÍCH,
YÊU CẦU
1. Mục đích
- Chủ động điều hòa, phân phối
tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh trong mùa cạn năm 2025-2026.
- Bảo đảm ưu tiên cấp nước sinh
hoạt, góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước, an ninh lương thực và an ninh năng
lượng.
- Phòng ngừa, giảm thiểu nguy
cơ thiếu nước cục bộ, hạn hán; hạn chế tác động bất lợi đến đời sống Nhân dân
và hoạt động sản xuất, kinh doanh.
2. Yêu cầu
- Các sở, ban, ngành tỉnh;
Ủy ban nhân dân các xã, phường và các cơ quan, đơn vị có liên quan chủ động tổ
chức thực hiện Kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh
giai đoạn từ tháng 12 năm 2025 đến tháng 6 năm 2026 theo nhiệm vụ, thẩm quyền
được giao. Chủ trì, phối hợp trong việc tham mưu điều hòa, phân phối nguồn nước
phù hợp với thực trạng nguồn nước, đáp ứng nhu cầu khai thác, phục vụ cấp nước
sinh hoạt, sản xuất trên địa bàn tỉnh.
- Đề xuất kế hoạch khai thác, sử
dụng nước của từng công trình, từng khu vực theo từng tháng, năm. Đề xuất các
giải pháp điều hòa, phân phối nguồn nước tại các khu vực có nguy cơ thiếu nước,
trong đó ưu tiên cho cấp nước sinh hoạt, sản xuất, phù hợp với thực trạng nguồn
nước của tỉnh và Kịch bản nguồn nước trên Lưu vực sông Hồng - Thái Bình mùa cạn
năm 2025-2026 công bố tại Quyết định số 4822/QĐ-BNNMT ngày 14 tháng 11 năm 2025
của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
II. PHẠM VI,
THỜI KỲ THỰC HIỆN
- Phạm vi thực hiện: Trên toàn
bộ địa bàn tỉnh Lai Châu, theo các lưu vực và tiểu lưu vực sông thuộc địa bàn tỉnh.
- Thời kỳ thực hiện: Mùa cạn
năm 2025-2026, từ tháng 12 năm 2025 đến hết tháng 6 năm 2026.
III. HIỆN TRẠNG
NGUỒN NƯỚC VÀ DỰ BÁO XU THẾ DIỄN BIẾN MƯA, DÒNG CHẢY, LƯỢNG NƯỚC TÍCH TRỮ TRONG
CÁC HỒ CHỨA NƯỚC LỚN
1. Hiện trạng
nguồn nước trên địa bàn tỉnh
1.1. Hiện trạng
nguồn nước mưa, nước mặt
a) Theo Kịch bản nguồn nước
trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình mùa cạn năm 2025-2026, trong thời gian từ
tháng 6 đến tháng 10 năm 2025, tổng lượng mưa trên toàn lưu vực phổ biến cao
hơn trung bình nhiều năm cùng thời kỳ từ khoảng 30% đến 60%, riêng lưu vực sông
Đà cao hơn từ khoảng 10% đến 20%
- Trong các tháng 9 và tháng 10
năm 2025, do xuất hiện nhiều đợt mưa diện rộng, tổng lượng mưa tại các lưu vực
tiếp tục cao hơn trung bình nhiều năm từ khoảng 30% đến 80%, trong đó một số
khu vực thuộc lưu vực sông Đà có lượng mưa cao gấp từ 2 đến 3 lần trung bình nhiều
năm cùng kỳ.
- Dòng chảy thượng nguồn sông
Đà (phía Trung Quốc) trong giai đoạn này cao hơn trung bình 10 năm gần
đây khoảng 68% đến 70%, góp phần gia tăng lượng nước về các hồ chứa và dòng chảy
trên hệ thống sông suối thuộc địa bàn tỉnh.
- Tổng lượng dòng chảy trên các
sông, suối trong thời gian từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2025 phổ biến cao hơn
trung bình nhiều năm cùng thời kỳ, đặc biệt trong tháng 10 năm 2025 do xuất hiện
các đợt mưa lớn trên diện rộng.
- Riêng trên sông Đà, tổng lượng
dòng chảy đến các hồ Lai Châu, Sơn La và Hòa Bình trong giai đoạn này thấp hơn
trung bình nhiều năm từ khoảng 3% đến 5%. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm 2024, tổng
lượng dòng chảy trên sông Đà cũng như tổng lượng dòng chảy đến các hồ Lai Châu,
Sơn La và Hòa Bình cao hơn từ khoảng 3% đến 30%, góp phần cải thiện khả năng
tích trữ nước phục vụ điều tiết trong mùa cạn năm 2025-2026.
b) Theo số liệu Đài Khí tượng
Thủy văn tỉnh Lai Châu
- Trong thời gian từ tháng 6 đến
tháng 10 năm 2025, tổng lượng mưa tại các khu vực trên địa bàn tỉnh dao động từ
khoảng 1.079 mm đến 1.970 mm. Phần lớn các khu vực có tổng lượng mưa trong 5
tháng cao hơn trung bình nhiều năm và cùng kỳ năm trước từ khoảng 20 mm đến 357
mm; riêng tại khu vực trạm khí tượng Than Uyên ghi nhận tình trạng thiếu hụt lượng
mưa trong 5 tháng so với trung bình nhiều năm và cùng kỳ năm trước từ khoảng
241 mm đến 434 mm.
- Trong tháng 9 năm 2025, trên
địa bàn tỉnh xuất hiện từ 8 đến 12 ngày mưa; tổng lượng mưa đo được dao động từ
khoảng 157 mm đến 369 mm, cao hơn trung bình nhiều năm và cùng kỳ năm trước từ
khoảng 20 mm đến 22 mm.
- Trong tháng 10 năm 2025, số
ngày mưa tại các khu vực trong tỉnh từ 4 đến 6 ngày; tổng lượng mưa đo được từ
khoảng 74 mm đến 216 mm, thấp hơn trung bình nhiều năm và cùng kỳ năm trước từ
khoảng 16 mm đến 136 mm.
- Trong tháng 10 năm 2025, trên
các sông, suối trên địa bàn tỉnh xuất hiện từ 1 đến 2 đợt lũ nhỏ; từ tháng 11
năm 2025 đến nửa đầu tháng 12 năm 2025, mực nước trên các sông, suối chủ yếu
dao động theo chế độ điều tiết của các hồ thủy điện thượng lưu.
- Tổng lượng dòng chảy trên các
sông, suối trên địa bàn tỉnh từ tháng 10 đến tháng 11 năm 2025 ở mức thấp hơn
trung bình nhiều năm từ khoảng 30% đến 60%, cho thấy nguồn nước bước vào giai
đoạn suy giảm đầu mùa cạn, cần được theo dõi chặt chẽ để chủ động điều hòa,
phân phối và bảo đảm cấp nước cho các nhu cầu thiết yếu trong thời gian tiếp
theo.
1.2. Hiện trạng
tích nước của các hồ chứa
- Theo Kịch bản nguồn nước (lần
đầu) trên lưu vực sông Hồng - Thái Bình, tổng lượng nước tích trữ tại 03 hồ chứa
Lai Châu, Bản Chát và Huội Quảng đến tháng 11 năm 2025 đạt khoảng 3.442 triệu
m³.
- Hiện trạng các hồ chứa trên địa
bàn tỉnh: Tính đến ngày 25 tháng 11 năm 2025, trên địa bàn tỉnh Lai Châu có 19
hồ chứa có dung tích trên 1 triệu m³, gồm 02 hồ chứa thủy lợi và 17 hồ chứa thủy
điện, cụ thể như sau:
+ Đối với hồ chứa thủy lợi: Có
02 hồ chứa, gồm Hồ Hoàng Hồ (xã Sìn Hồ) với dung tích toàn bộ 2,406 triệu m³ và
Hồ Xà Dề Phìn (xã Sìn Hồ) với dung tích toàn bộ 2,650 triệu m³; hiện trạng tích
nước cơ bản đáp ứng yêu cầu cấp nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp
theo thiết kế.
+ Đối với hồ chứa thủy điện: Có
03 hồ chứa của công trình thủy điện Lai Châu, Huội Quảng, Bản Chát, hồ chứa điều
tiết nước dài hạn (điều tiết năm), hồ chứa có nhiệm vụ tích nước trong mùa mưa
lũ phục vụ vận hành phát điện và chống hạn cho vùng hạ du vào mùa khô. Hiện
nay, 03 hồ chứa thủy điện nêu trên đã thực hiện tích nước đạt sấp xỉ với dung
tích toàn bộ của hồ chứa, cụ thể: Dung tích hồ chứa thủy điện Lai Châu đạt
99,84%; dung tích hồ chứa thủy điện Bản Chát đạt 99,81%; dung tích hồ chứa thủy
điện Huội Quảng đạt 96,2%. Đảm bảo sẵn sàng thực hiện việc vận hành xả nước
phát điện thực hiện theo lệnh điều độ của Trung tâm Điều độ hệ thống lưới điện
Quốc gia, vận hành xả nước chống hạn theo yêu cầu của bộ, ngành Trung ương nhằm
đảm bảo an ninh năng lượng và an ninh quốc gia trong giai đoạn tháng 12/2025 đến
tháng 6/2026.
+ Có 14 hồ chứa của công trình
thủy điện (Nậm Na 2, Nậm Na 3, Nậm Na 1, Pắc Ma, Pa Hạ, Phiêng Lúc, Nậm Củm
3, Mường Mít, Nậm Cuổi, Nậm Mít Luông, Nậm Xí Lùng 2, Nậm Củm 4, Vàng Ma Chải
2, Nà An) có dung tích hồ chứa trên 1 triệu m3 điều tiết nước phát điện
theo giờ trong ngày. Mực nước trong hồ chứa được duy trì không thấp hơn mực nước
chết và không vượt quá mực nước dâng bình thường thông qua các tổ máy phát điện
và công trình xả lũ.
- Các hồ chứa thủy lợi và thủy
điện cơ bản đảm bảo nguồn nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất và phát điện theo
thiết kế, tuy nhiên hồ chứa thủy điện Huội Quảng thiếu khoảng 3,8% so với kế hoạch.
1.3. Hiện trạng
cấp nước sinh hoạt
a) Cấp nước sạch đô thị
- Hiện nay, Công ty Cổ phần Nước
sạch Lai Châu đang quản lý, vận hành và khai thác 10 trạm cấp nước, với tổng
công suất thiết kế đạt khoảng 45.220 m³/ngày đêm, tăng 1.720 m³/ngày đêm so với
cùng kỳ năm 2024. Lưu lượng nước khai thác thực tế đạt khoảng 27.220 m³/ngày
đêm, sử dụng 08 nguồn nước mặt và 02 nguồn nước ngầm trên các con suối trên địa
bàn tỉnh Lai Châu.
- Trong những năm gần đây, nhiều
nguồn nước mặt và suối phục vụ cấp nước sinh hoạt đô thị thường xuyên bị suy giảm
lưu lượng vào mùa khô (từ đầu tháng 12 năm trước đến hết tháng 4 năm sau), dẫn
đến tình trạng thiếu nước cục bộ tại một số khu vực. Cụ thể:
+ Nhà máy xử lý và cấp nước sinh
hoạt - hệ thống cấp nước trạm Tả Lèng chỉ đạt khoảng 72% công suất thiết kế,
thiếu khoảng 27%, tương đương 4.320 m³/ngày đêm;
+ Trạm xử lý và cấp nước sinh
hoạt đầu nguồn Nùng Nàng chỉ đạt khoảng 70% công suất thiết kế, thiếu khoảng
30%, tương đương 600 m³/ngày đêm;
+ Trạm xử lý và cấp nước sinh
hoạt khu vực Nậm Lỏong chỉ đạt khoảng 71% công suất thiết kế, thiếu khoảng 29%,
tương đương 435 m³/ngày đêm;
+ Trạm cấp nước sinh hoạt Bình
Lư (xã Bình Lư) chỉ đạt khoảng 72% công suất thiết kế, thiếu khoảng 28%, tương
đương 560 m³/ngày đêm;
+ Trạm cấp nước sinh hoạt xã
Sìn Hồ chỉ đạt khoảng 78% công suất thiết kế, thiếu khoảng 22%, tương đương 440
m³/ngày đêm;
+ Trạm cấp nước sinh hoạt khu vực
xã Phong Thổ chỉ đạt khoảng 73% công suất thiết kế, thiếu khoảng 27%, tương
đương 540 m³/ngày đêm;
+ Công trình cấp nước sinh hoạt
Hua Nà (xã Than Uyên) chỉ đạt khoảng 72% công suất thiết kế, thiếu khoảng 28%,
tương đương 840 m³/ngày đêm.
Như vậy, trên địa bàn tỉnh Lai
Châu trong mùa khô, tình trạng thiếu nước sinh hoạt đô thị trên địa bàn tỉnh
Lai Châu ước khoảng 7.700 - 8.000 m³/ngày đêm, tập trung chủ yếu tại các khu vực
Tả Lèng, phường Đoàn Kết, Bình Lư, Sìn Hồ, Phong Thổ và Than Uyên. Đây là các
khu vực cần được ưu tiên theo dõi, điều hòa và bổ sung nguồn nước trong giai đoạn
mùa cạn từ tháng 12 năm 2025 đến tháng 6 năm 2026.
b) Cấp nước sạch/nước hợp vệ
sinh nông thôn:
- Hiện nay, trên địa bàn tỉnh
Lai Châu có 808 công trình cấp nước sạch/nước hợp vệ sinh khu vực nông thôn,
trong đó gồm 22 công trình cấp nước sạch nông thôn và 786 công trình cấp nước hợp
vệ sinh nông thôn. Nhìn chung, nguồn nước cơ bản bảo đảm nhu cầu cấp nước sinh
hoạt cho Nhân dân; tuy nhiên, trong mùa khô vẫn tiềm ẩn nguy cơ thiếu nước cục
bộ tại một số khu vực, cụ thể như sau:
+ Khu vực các xã: Sin Suối Hồ,
Phong Thổ, Sì Lở Lầu, Dào San, Khổng Lào: Trong thời gian từ tháng 01 đến tháng
5 hằng năm, có 09 công trình cấp nước hợp vệ sinh có nguy cơ thiếu nước, gồm
các công trình: cấp nước sinh hoạt bản Dền Thàng A, Dền Thàng B, bản Hợp 2, bản
Xì Phải, bản Lèng Chư (xã Dào San); công trình cấp nước sinh hoạt xã Dào
San; công trình cấp nước sinh hoạt bản Lảng Than (xã Dào San); công
trình cấp nước sinh hoạt trung tâm xã Sì Lở Lầu; công trình cấp nước sinh hoạt
bản Hoàng Trù Sào (xã Phong Thổ).
+ Khu vực các xã: Lê Lợi, Nậm
Hàng, Mường Mô, Hua: Trong thời gian từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, có 13/65
công trình cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh có nguy cơ thiếu nước, gồm các công
trình: cấp nước sinh hoạt bản Nậm Manh, Huổi Héo, Huổi Chát 2, bản Nậm Nàn (nhóm
1, nhóm 2, nhóm 3), bản Cang, bản Nậm Cầy, bản Nậm Ty, bản Phiêng Luông I
và II, bản Phiêng Lằn, bản Táng Ngá, bản Chang Chảo Pá, bản Pa Cheo, bản Lao
Chen.
+ Khu vực các xã: Tủa Sín Chải,
Sìn Hồ, Hồng Thu, Nậm Tăm, Pu Sam Cáp, Nậm Cuổi, Nậm Mạ: Trong thời gian từ khoảng
tháng 9 đến tháng 3 năm sau, có 03/157 công trình cấp nước sinh hoạt có nguy cơ
thiếu nước, gồm: công trình nâng cấp nước sinh hoạt bản Hồ Sì Pán (xã Pu Sam
Cáp); công trình nước sinh hoạt bản Nậm Khăm (xã Tủa Sín Chải); công trình
nước sinh hoạt bản Pú Mạ (xã Nậm Cuổi).
+ Khu vực các phường: Đoàn Kết,
Tân Phong: Hiện có 13 công trình cấp nước tập trung khu vực nông thôn, các công
trình cơ bản bảo đảm đủ nước sinh hoạt cho các hộ dân, chưa ghi nhận nguy cơ
thiếu nước trong mùa khô.
Như vậy cấp nước sinh hoạt khu
vực nông thôn trên địa bàn tỉnh cơ bản đáp ứng nhu cầu trong điều kiện bình thường;
tuy nhiên, tại một số xã, khu vực vùng cao, vùng xa, nguy cơ thiếu nước trong
mùa khô vẫn còn, cần được theo dõi, chủ động điều hòa, bổ sung nguồn nước và có
phương án ứng phó kịp thời trong giai đoạn từ tháng 12 năm 2025 đến tháng 6 năm
2026.
1.4. Hiện trạng
khai thác nguồn nước tại các hồ chứa thủy lợi, hệ thống công trình thủy lợi
- Đến hết năm 2025, trên địa
bàn tỉnh Lai Châu có khoảng 1.018 công trình thủy lợi, trong đó gồm 06 hồ chứa,
1.012 công trình tưới tự chảy, với tổng diện tích tưới khoảng 27.550 ha. Công
ty TNHH MTV Quản lý thủy nông Lai Châu đang quản lý, vận hành 96 công trình,
các công trình còn lại do Ủy ban nhân dân các xã, phường trực tiếp quản lý.
- Về hiện trạng công trình,
toàn tỉnh có 947 công trình kiên cố và 71 công trình tạm; tổng chiều dài kênh
mương khoảng 2.330 km, trong đó 1.890 km kênh kiên cố và 470 km kênh tạm. Nhìn
chung, các công trình thủy lợi cơ bản đáp ứng nhu cầu tưới phục vụ sản xuất
nông nghiệp; tuy nhiên, vào mùa khô, do ảnh hưởng của thời tiết nắng nóng kéo
dài và lưu lượng nguồn nước suy giảm, một số công trình có nguy cơ thiếu nước cục
bộ, cụ thể như sau:
- Khu vực các xã: Sin Suối Hồ,
Phong Thổ, Sì Lở Lầu, Dào San, Khổng Lào: Có 13/193 công trình có nguy cơ thiếu
nước vào mùa khô, gồm các công trình: Nà Củng, Đon Kang, Kênh Thủy điện, Nậm Nhịp,
Nà Giang, Nà Trai, Nà Tung, Dao Chản, Nậm Hang, Phái Bản, Tùng Luông, Nậm Chín (xã
Phong Thổ); Mồ Sì Câu (xã Khổng Lào); Sín Chải (xã Sì Lở Lầu). Lượng
nước thiếu dự kiến từ khoảng 10% đến 18,5% so với công suất thiết kế.
- Khu vực các xã: Lê Lợi, Nậm
Hàng, Mường Mô, Hua Bum: Có 06/60 công trình có nguy cơ thiếu nước vào mùa khô,
gồm các công trình: Nậm Nhùn (Na Sai), bản Nậm Nhùn; Na Bắc Cang (Nậm
Bắc), xã Nậm Hàng; Se Sư (bản Chang Chảo Pá, xã Hua Bum); Nậm Nó 1 (Trung
Trải, xã Pa Tần); Nậm Cầy 1 (Huổi Ban, xã Nậm Hàng); Nậm Cầy 2 (bản
Pa Tết, xã Nậm Hàng); Nậm Manh (bản Nậm Manh, xã Nậm Hàng); Nậm Manh
(bãi 1 và bãi 2, xã Nậm Hàng). Một số công trình thiếu nước trong tháng
4 đến tháng 5, gây thiệt hại khoảng 12 ha lúa bị mất trắng, không cho thu hoạch.
Lượng nước thiếu dự kiến từ khoảng 12% đến 28,3% so với công suất thiết kế.
- Khu vực các xã: Bản Bo, Bình
Lư, Tả Lèng, Khun Há: Có 19/170 công trình có nguy cơ thiếu nước vào mùa khô, gồm
các công trình: Lở Thàng, Thèn Sin, Bản Giang, Nậm Pé, Hồ Thầu, Nà Đa Phìn, Tắc
Tình, Nậm Na – Nậm Tường, Lài Khan, Thèn Thầu, Nà Hum, công trình thủy lợi kiên
cố cánh đồng Bình Lư - Nà Tăm, Chu Va 12.2, Nậm Tằng - Nà Sằng, Nà Ly, Khun Há,
Ma Sao Phìn, Đông Pao, Nà Ly (Nà Hiềng). Lượng nước thiếu trung bình từ
khoảng 4,7% đến 18,75% so với công suất thiết kế.
- Khu vực các xã: Pắc Ta, Nậm Sỏ,
Tân Uyên, Mường Khoa: Có 15/116 công trình có nguy cơ thiếu nước vào mùa khô, gồm
các công trình: Bản Mường, Hua Cưởm 1 và 2, Bó Lun - Cóc Nhủng, C23, Nậm Mít, Nậm
Vai (K2), Mít Dạo, Phiêng Chăng II, Chom Chăng, Nà Pắt, Nậm Be, Hua Chăng, Nà
Khoang, Ngọc Lại, công trình thủy lợi Nậm Bon. Lượng nước thiếu trung bình từ
khoảng 3,75% đến 20% so với công suất thiết kế.
- Khu vực các xã: Mường Kim,
Khoen On, Than Uyên, Mường Than: Có 09/119 công trình có nguy cơ thiếu nước vào
mùa khô, gồm các công trình: Nà Khằm, Cẩm Chung, Nà Ban, Chiềng Ban, Phai Ngoa,
Nậm Mở, Nậm Lưng, Nà Phát - Sang Ngà, Phai Ta. Lượng nước thiếu trung bình từ
khoảng 5% đến 22,22% so với công suất thiết kế.
- Khu vực các xã: Sìn Hồ, Hồng
Thu, Nậm Tăm, Pu Sam Cáp, Nậm Cuổi, Nậm Mạ: Có 10/169 công trình có nguy cơ thiếu
nước vào mùa khô, gồm các công trình: Hoàng Hồ, Nậm Tần 2 (Pá Nặm), Tà
Ghênh (nhóm Tà Tâu), Phiêng Diểm, Nậm Ta La, Ná Hay, Ta Pả, Nậm Há,
Phiêng Trạng, Pa Khóa. Lượng nước thiếu trung bình từ khoảng 10% đến 17,4% so với
công suất thiết kế.
- Khu vực các xã: Bum Nưa, Bum
Tở, Mường Tè, Thu Lũm, Pa Ủ: Có 03/144 công trình có nguy cơ thiếu nước vào mùa
khô, gồm các công trình: Nậm Mạ Nọi, Na Pu Đeng, Công Cầu Máng. Lượng nước thiếu
trung bình từ khoảng 9% đến 28,57% so với công suất thiết kế.
- Khu vực các phường: Đoàn Kết,
Tân Phong: Hiện có 23 công trình thủy lợi đang vận hành và 02 hồ điều hòa, chưa
ghi nhận nguy cơ thiếu nước trong mùa khô.
Như vậy trên địa bàn tỉnh Lai
Châu có 75/1.018 công trình thủy lợi có nguy cơ thiếu nước trong mùa khô từ
tháng 01 năm 2026 đến tháng 4 năm 2026, với mức thiếu hụt ước từ khoảng 3,75% đến
28,57% so với công suất thiết kế. Đây là cơ sở để tỉnh xây dựng phương án điều
hòa, phân phối nguồn nước và ưu tiên cấp nước cho sản xuất nông nghiệp trong
giai đoạn mùa cạn từ tháng 12 năm 2025 đến tháng 6 năm 2026.
1.5. Hiện trạng
khai thác nguồn nước tại các hồ chứa thủy điện
- Tính đến ngày 25 tháng 11 năm
2025, trên địa bàn tỉnh Lai Châu có 72 công trình thủy điện đã đưa vào vận hành
phát điện; trong đó có 17 công trình thủy điện có hồ chứa với dung tích từ 1
triệu m³ trở lên. Cụ thể như sau:
+ Nhóm hồ chứa điều tiết dài hạn
(điều tiết năm): Có 03 công trình thủy điện Lai Châu, Huội Quảng và Bản
Chát là các hồ chứa điều tiết dài hạn, có nhiệm vụ tích nước trong mùa mưa lũ để
phục vụ vận hành phát điện và điều hòa, bổ sung nguồn nước chống hạn cho vùng hạ
du trong mùa khô. Đến thời điểm cuối tháng 11 năm 2025, các hồ chứa này đã thực
hiện tích nước đạt xấp xỉ dung tích toàn bộ, cụ thể: hồ chứa thủy điện Lai Châu
đạt khoảng 1.215.000.000 m³ (đạt 99,84%); hồ chứa thủy điện Bản Chát đạt khoảng
2.137.700.000 m³ (đạt 99,81%); hồ chứa thủy điện Huội Quảng đạt khoảng
2.137.700.000 m³ (đạt 95,18%). Các hồ chứa này bảo đảm điều kiện sẵn sàng vận hành
theo lệnh điều độ của Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia và thực hiện xả
nước chống hạn theo yêu cầu của các bộ, ngành Trung ương, góp phần bảo đảm an
ninh năng lượng và an ninh nguồn nước trong giai đoạn từ tháng 12 năm 2025 đến
tháng 6 năm 2026.
+ Nhóm hồ chứa điều tiết ngày:
Có 14 công trình thủy điện gồm: Nậm Na 1, Nậm Na 2, Nậm Na 3, Pắc Ma, Pa Hạ,
Phiêng Lúc, Nậm Củm 3, Nậm Củm 4, Mường Mít, Nậm Cuổi, Nậm Mít Luông, Nậm Xí
Lùng 2, Vàng Ma Chải 2, Nà An; cùng với 46 hồ chứa nhỏ điều tiết nước phát điện
theo giờ trong ngày. Mực nước tại các hồ chứa này được duy trì không thấp hơn mực
nước chết và không vượt quá mực nước dâng bình thường, thông qua vận hành các tổ
máy phát điện và công trình xả lũ theo quy định.
2. Dự báo
xu thế diễn biến mưa, dòng chảy, lượng nước tích trữ trong các hồ chứa có dung
tích từ 1 triệu m³ trở lên trong kỳ kế hoạch
- Theo Kịch bản nguồn nước trên
lưu vực sông Hồng - Thái Bình mùa cạn năm 2025-2026, hiện nay hiện tượng ENSO
đang trong trạng thái La Niña. Dự báo, trong 03 tháng tới, xác suất duy trì trạng
thái La Niña ở mức khoảng 60% đến 75%, trong khi xác suất chuyển sang trạng
thái trung tính khoảng 25% đến 40%. Trong giai đoạn từ tháng 02 đến tháng 4 năm
2026, ENSO có khả năng chuyển dần sang trạng thái trung tính với xác suất khoảng
55% đến 65%; xác suất duy trì trạng thái La Niña khoảng 25% đến 30% và El Nino
khoảng 5% đến 20%.
- Về nhiệt độ, trong thời gian
từ tháng 11 năm 2025 đến tháng 3 năm 2026, nhiệt độ trung bình trên khu vực phổ
biến xấp xỉ trung bình nhiều năm cùng thời kỳ. Giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 6
năm 2026, nhiệt độ trung bình có xu hướng cao hơn trung bình nhiều năm từ khoảng
0,5°C đến 1,0°C. Nắng nóng có khả năng xuất hiện tại khu vực Tây Bắc Bộ từ cuối
tháng 3 năm 2026, và từ tháng 4 năm 2026 có khả năng xảy ra nắng nóng trên diện
rộng tại khu vực Bắc Bộ, làm gia tăng nhu cầu sử dụng nước cho sinh hoạt và sản
xuất.
- Về tổng lượng mưa, trong thời
gian từ tháng 11 năm 2025 đến tháng 6 năm 2026, tổng lượng mưa trên toàn lưu vực
xấp xỉ trung bình nhiều năm, cụ thể:
+ Tháng 11 năm 2025: Tổng lượng
mưa phổ biến xấp xỉ trung bình nhiều năm;
+ Tháng 12 năm 2025: Tổng lượng
mưa tại các lưu vực thiếu hụt khoảng 5% đến 10% so với trung bình nhiều năm, phổ
biến từ 15 mm đến 40 mm, thiếu hụt từ 5 mm đến 10 mm;
+ Từ tháng 01 đến tháng 6 năm
2026: tổng lượng mưa tại các lưu vực phổ biến xấp xỉ trung bình nhiều năm,
trong đó:
Tháng 01 năm 2026: Khoảng 15 -
35 mm; Tháng 02 năm 2026: Khoảng 20 - 40 mm; Tháng 3 năm 2026: Khoảng 40 - 70
mm; Tháng 4 năm 2026: Khoảng 70 - 120 mm; Tháng 5 năm 2026: Khoảng 100 - 200
mm; Tháng 6 năm 2026: Khoảng 200 - 400 mm.
- Về dòng chảy, trong các tháng
mùa cạn trên các sông thuộc lưu vực sông Hồng - Thái Bình, đặc biệt là trên
sông Đà, dòng chảy đến hồ Hòa Bình so với trung bình nhiều năm có xu hướng thiếu
hụt trong thời gian cuối tháng 11 và tháng 12 năm 2025, với mức thiếu hụt khoảng
6% đến 17%. Trong giai đoạn từ tháng 01 đến tháng 5 năm 2026, dòng chảy có khả
năng cao hơn trung bình nhiều năm từ khoảng 15% đến 40%; riêng tháng 6 năm
2026, dòng chảy có khả năng thiếu hụt khoảng 23% so với trung bình nhiều năm.
Nhận định chung, trong kỳ kế hoạch,
nguồn nước trên các lưu vực thuộc địa bàn tỉnh cơ bản đáp ứng nhu cầu khai
thác, sử dụng trong điều kiện bình thường; tuy nhiên, trong các tháng cao điểm
mùa khô và thời kỳ nắng nóng, vẫn tiềm ẩn nguy cơ thiếu nước cục bộ, đòi hỏi phải
chủ động điều hòa, phân phối và sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, đặc biệt đối
với các hồ chứa có dung tích từ 1 triệu m³ trở lên.
2.1. Dự báo
khí tượng, thủy văn từ tháng 01 năm 2026 đến tháng 03 năm 2026
a) Khí tượng
- Nắng nóng: Có khả năng
xuất hiện sớm vào cuối tháng 3 năm 2026 tại các khu vực vùng thấp, gồm các xã:
Bum Nưa, Bum Tở, Mường Tè, Thu Lũm, Lê Lợi, Nậm Hàng, Mường Mô, Hua Bum, Sin Suối
Hồ, Phong Thổ, Sì Lở Lầu, Dào San, Khổng Lào. Số ngày nắng nóng có khả năng cao
hơn trung bình nhiều năm.
- Dông, lốc, sét, mưa đá và mưa
lớn cục bộ: Cần đề phòng các hiện tượng thời tiết nguy hiểm như dông, lốc, sét,
mưa đá, mưa lớn cục bộ và gió giật mạnh, đặc biệt trong các đợt gió mùa Đông Bắc
tăng cường và thời kỳ giao mùa (cuối tháng 3).
- Khả năng tác động: Các hiện
tượng nêu trên có thể ảnh hưởng bất lợi đến môi trường, điều kiện sống, cơ sở hạ
tầng, hoạt động sản xuất nông nghiệp và sức khỏe cộng đồng tại các khu vực chịu
tác động; trong một số đợt rét đậm, rét hại có thể kèm theo sương muối, băng
giá tại vùng núi cao.
b) Dự báo thủy văn và nguồn nước
Xu thế mực nước: Trên các sông,
suối thuộc địa bàn tỉnh, từ đầu tháng 01 năm 2026 đến hết tháng 03 năm 2026 là giai
đoạn đầu mùa cạn, mực nước có xu thế giảm dần và chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi điều
tiết của các hồ thủy điện thượng nguồn. Mực nước trung bình trên các sông, suối
phổ biến ở mức thấp hơn trung bình nhiều năm; riêng sông Nậm Bum tại trạm Nà Hừ
ở mức xấp xỉ trung bình nhiều năm.
Tổng lượng mưa: Trong giai đoạn
này, tổng lượng mưa phổ biến xấp xỉ trung bình nhiều năm và thấp hơn cùng kỳ
năm trước.
Nguồn nước trong giai đoạn đầu
mùa cạn có xu hướng suy giảm, cần theo dõi chặt chẽ diễn biến mực nước và chủ động
điều hòa, phân phối nguồn nước cho các nhu cầu thiết yếu.
2.2. Xu thế
thời tiết, thủy văn từ tháng 04 năm 2026 đến tháng 06 năm 2026 a) Khí tượng
- Xu thế nhiệt độ: Trong
thời gian từ tháng 04 đến tháng 06 năm 2026, nhiệt độ không khí trung bình trên
địa bàn tỉnh phổ biến xấp xỉ và cao hơn trung bình nhiều năm.
- Xu thế lượng mưa: Tổng lượng
mưa trong giai đoạn này phổ biến xấp xỉ trung bình nhiều năm.
- Nắng nóng: Số ngày nắng nóng
có khả năng nhiều hơn trung bình nhiều năm; cần đề phòng nắng nóng gay gắt và đặc
biệt gay gắt tại các xã vùng thấp, gồm: Bum Nưa, Bum Tở, Mường Tè, Thu Lũm, Lê
Lợi, Nậm Hàng, Mường Mô, Hua Bum, Sin Suối Hồ, Phong Thổ, Sì Lở Lầu, Dào San,
Khổng Lào.
- Khả năng tác động: Nắng nóng,
dông, lốc, sét, mưa đá và mưa lớn cục bộ có thể tác động tiêu cực đến môi trường,
sản xuất nông nghiệp và sức khỏe cộng đồng trên phạm vi toàn tỉnh.
b) Thủy văn và nguồn nước
- Xu thế mực nước: Trong giai
đoạn từ tháng 04 đến tháng 05 năm 2026, mực nước các sông, suối dao động theo chế
độ điều tiết của các hồ chứa thượng nguồn; sang tháng 06 năm 2026, mực nước có
khả năng dao động nhẹ. Mực nước trung bình trên các sông, suối phổ biến thấp
hơn trung bình nhiều năm; riêng trạm Nà Hừ ở mức xấp xỉ trung bình nhiều năm.
- Xu thế tổng lượng nước mặt: Từ
tháng 04 đến tháng 06 năm 2026, tổng lượng nước mặt trên các sông, suối có khả
năng thấp hơn trung bình nhiều năm từ khoảng 10% đến 30%.
- Cảnh báo thủy văn nguy hiểm:
Nguy cơ xảy ra lũ quét, sạt lở đất tại một số khu vực trong tỉnh, tập trung vào
tháng 05 và tháng 06 năm 2026.
- Khả năng tác động: Lũ quét, sạt
lở đất có thể đe dọa an toàn tính mạng người dân, gây thiệt hại cơ sở hạ tầng,
công trình dân sinh, làm gián đoạn giao thông cục bộ và ảnh hưởng đến các hoạt
động kinh tế - xã hội trên địa bàn.
2.3. Dự báo
lượng nước tích trữ trong các hồ chứa có dung tích từ 1 triệu m3 trở lên
Trong giai đoạn từ tháng 12 năm
2025 đến tháng 6 năm 2026, là thời kỳ cao điểm mùa khô, lượng mưa trên lưu vực
thấp hơn đáng kể so với trung bình cả năm, kéo theo lưu lượng dòng chảy về các
hồ chứa thủy điện suy giảm. Theo dự báo, lượng nước về hồ trong mùa khô có thể
thấp hơn khoảng 30% so với tổng lượng dòng chảy trung bình năm.
Do đó, trong kỳ kế hoạch, khả
năng tích trữ và bổ sung nước cho các hồ chứa thủy điện chủ yếu phụ thuộc vào
lượng nước đã tích lũy từ mùa mưa năm trước; việc vận hành phát điện trong một
số thời điểm có thể không bảo đảm duy trì công suất lắp máy tối đa trong toàn bộ
số giờ vận hành, đặc biệt vào các tháng cao điểm mùa khô. Điều này đòi hỏi tăng
cường phối hợp điều tiết, vận hành hồ chứa hợp lý, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu
phát điện và nhiệm vụ điều hòa, bổ sung nguồn nước cho hạ du.
Nhận định, lượng nước tích trữ
tại các hồ chứa có dung tích từ 1 triệu m³ trở lên trong kỳ kế hoạch cơ bản đáp
ứng yêu cầu vận hành theo kịch bản điều tiết, song cần theo dõi chặt chẽ diễn
biến dòng chảy đến hồ để chủ động điều chỉnh phương thức vận hành trong điều kiện
nguồn nước bất lợi.
2.4. Dự báo
nhu cầu và khả năng cấp nước của các hồ chứa thủy lợi, hệ thống công trình thủy
lợi
Trong giai đoạn từ tháng 12 năm
2025 đến tháng 6 năm 2026, do ảnh hưởng của mùa khô kéo dài và lượng mưa thấp,
khả năng bổ sung nước cho các công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh bị hạn chế.
Theo đánh giá hiện trạng và dự báo nguồn nước, toàn tỉnh có khoảng 75/1.018
công trình thủy lợi có nguy cơ thiếu nước trong thời gian từ tháng 01 năm 2026
đến tháng 4 năm 2026, với mức thiếu hụt ước từ khoảng 3,75% đến 28,57% so với
công suất thiết kế.
Việc thiếu nước tại các công
trình này chủ yếu xảy ra cục bộ, tập trung tại các khu vực vùng cao, vùng xa,
phụ thuộc lớn vào nguồn nước tự nhiên. Do đó, trong kỳ kế hoạch cần ưu tiên bố
trí, điều hòa nguồn nước hợp lý, áp dụng các biện pháp tưới tiết kiệm, đồng thời
chủ động phương án ứng phó nhằm hạn chế thấp nhất ảnh hưởng đến sản xuất nông
nghiệp và đời sống Nhân dân.
IV. KẾ HOẠCH
KHAI THÁC, SỬ DỤNG NƯỚC THEO TỪNG THÁNG, THỜI KỲ TRONG NĂM
1. Kế hoạch
khai thác, sử dụng nước sinh hoạt đến tháng 6 năm 2026
1.1. Kế hoạch
khai thác, sử dụng nước sinh hoạt khu vực đô thị
a) Nhiệm vụ
- Quản lý, vận hành, khai thác
các trạm cấp nước sinh hoạt đô thị trên địa bàn tỉnh, bảo đảm cung cấp đủ nước
cho các cơ quan, tổ chức và Nhân dân; không để xảy ra tình trạng thiếu nước kéo
dài, thiếu nước trên diện rộng.
- Thực hiện điều tiết hài hòa
các nguồn nước, ưu tiên cấp bổ sung cho các trạm cấp nước có nguy cơ thiếu nguồn
trong mùa khô.
b) Giải pháp
- Thường xuyên kiểm tra, bảo
trì, bảo dưỡng các trạm cấp nước sinh hoạt đô thị, bảo đảm vận hành liên tục, ổn
định, hạn chế sự cố, rò rỉ, thất thoát, lãng phí nước.
- Tăng cường kiểm tra, vệ sinh,
khơi thông các nguồn nước, bảo đảm lưu thông dòng chảy, hạn chế suy giảm lưu lượng.
- Chủ động tìm kiếm, bổ sung
nguồn nước đối với các trạm có nguy cơ thiếu nước, gồm: Trạm xử lý và cấp nước
sinh hoạt xã Phong Thổ (cụm Pa So), Trạm xử lý và cấp nước sinh hoạt xã Bình
Lư, Trạm xử lý và cấp nước sinh hoạt Hua Nà.
- Riêng Nhà máy nước trạm Tả
Lèng, thực hiện khai thác tối đa công suất các trạm cấp nước Nậm Loỏng, Nùng
Nàng để bổ sung lượng nước thiếu hụt trong thời gian cao điểm mùa khô.
1.2. Kế hoạch
khai thác, sử dụng nước sinh hoạt khu vực nông thôn
a) Nhiệm vụ
- Quản lý, vận hành, khai thác
các công trình cấp nước sạch/nước hợp vệ sinh khu vực nông thôn, bảo đảm đáp ứng
nhu cầu sử dụng nước của Nhân dân.
- Chủ động rà soát, tìm kiếm
các nguồn nước bổ sung cho các công trình có nguy cơ thiếu nước trong mùa khô.
b) Giải pháp
- Trước mùa khô, đơn vị quản lý,
vận hành tổ chức kiểm tra, vệ sinh khu vực cửa lấy nước, hệ thống dẫn nước; giảm
thiểu thất thoát, lãng phí nước.
- Trường hợp xảy ra hạn hán,
thiếu nước, nghiên cứu, đề xuất phương án cấp nước bổ sung hoặc thay thế nguồn
cấp, bảo đảm lưu lượng và chất lượng nước hợp vệ sinh.
- Tăng cường tuyên truyền, vận
động Nhân dân sử dụng nước tiết kiệm, chia sẻ nguồn nước tại các khu vực có
nguy cơ thiếu nước.
2. Kế hoạch
khai thác, sử dụng nước phục vụ sản xuất nông nghiệp
a) Nhiệm vụ
- Quản lý, vận hành các công
trình thủy lợi, bảo đảm cấp nước phục vụ sản xuất nông nghiệp phù hợp với điều
kiện nguồn nước mùa khô.
- Chủ động điều hòa, phân phối
nước, hạn chế thấp nhất thiệt hại do thiếu nước gây ra.
b) Giải pháp
- Các đơn vị quản lý, vận hành
công trình thủy lợi xây dựng kế hoạch canh tác, kế hoạch lấy nước tưới phù hợp
với mùa vụ, bám sát kịch bản nguồn nước và kế hoạch này.
- Đối với các công trình thủy lợi
phía hạ du các nhà máy thủy điện, tổ chức lấy nước theo giờ phát điện, phối hợp
chặt chẽ với đơn vị vận hành thủy điện.
- Ưu tiên bảo đảm nước cho sinh
hoạt và sản xuất nông nghiệp, đề nghị các hồ thủy điện xả dòng chảy tối thiểu
đúng quy định trong giấy phép khai thác nước mặt.
- Tiếp tục đầu tư phát triển hệ
thống thủy lợi theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng nước, xã hội hóa quản lý
công trình; củng cố, phát triển các tổ chức quản lý thủy lợi cơ sở.
- Đẩy mạnh kiên cố hóa kênh
mương, áp dụng các công nghệ tưới tiết kiệm nước, phát triển các hồ thủy lợi
theo hướng đa mục tiêu (tưới, tiêu, thủy sản, du lịch, phòng chống thiên
tai).
3. Kế hoạch
khai thác, sử dụng nước phục vụ sản xuất điện
a) Nhiệm vụ
Quản lý, vận hành hiệu quả các
hồ chứa thủy điện, bảo đảm an ninh năng lượng, phù hợp với thực trạng nguồn nước
và yêu cầu điều tiết mùa khô.
b) Giải pháp
- Đối với 03 công trình thủy điện
Lai Châu, Huội Quảng, Bản Chát, bảo đảm sẵn sàng vận hành theo lệnh điều độ của
Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia; thực hiện xả nước chống hạn theo yêu
cầu của cơ quan Trung ương trong giai đoạn từ tháng 12 năm 2025 đến tháng 6 năm
2026.
- Đối với các thủy điện điều tiết
ngày, duy trì mực nước không thấp hơn mực nước chết, không vượt mực nước dâng
bình thường; căn cứ lưu lượng nước về hồ và lệnh điều độ để vận hành phát điện
phù hợp, sử dụng hiệu quả tài nguyên nước.
- Trường hợp mực nước hồ ở mực
nước chết và lưu lượng nước về hồ không đáp ứng yêu cầu vận hành tối thiểu, nhà
máy tạm dừng phát điện.
- Thực hiện nghiêm quy trình vận
hành hồ chứa, liên hồ chứa; trong trường hợp hạn hán, thiếu nước, chủ động cắt
giảm sản lượng phát điện, ưu tiên cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp.
V. TỔ CHỨC
THỰC HIỆN
1. Các Sở,
ngành
1.1. Sở
Nông nghiệp và Môi trường
- Theo dõi, kiểm tra việc duy
trì xả dòng chảy tối thiểu của các công trình khai thác nước; xử lý nghiêm trường
hợp vi phạm theo quy định của pháp luật.
- Hướng dẫn, tiếp nhận, tham
mưu cấp, điều chỉnh, gia hạn, thu hồi giấy phép khai thác tài nguyên nước theo
thẩm quyền.
- Chủ trì phối hợp với các cơ
quan liên quan đôn đốc, tiếp nhận hồ sơ, tham mưu cấp thẩm quyền phê duyệt
phương án cắm mốc hành lang bảo vệ nguồn nước hồ chứa thủy lợi, thủy điện theo
thẩm quyền.
- Chủ trì tham mưu Ủy ban nhân
dân tỉnh ban hành, điều chỉnh kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước khi kịch
bản nguồn nước thay đổi.
- Chỉ đạo vận hành hiệu quả các
công trình thủy lợi, tổ chức lấy nước tập trung, hạn chế phát sinh nhu cầu lấy
nước ngoài kế hoạch.
- Rà soát, nâng cấp công trình
thủy lợi; tính toán cụ thể nhu cầu nước tưới dưỡng lúa giai đoạn tháng 02-4 năm
2026.
- Thẩm định, điều chỉnh quy
trình vận hành hồ chứa thủy lợi, bảo đảm sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, đa mục
tiêu.
1.2. Sở
Công Thương
- Tiếp nhận hồ sơ, tổ chức thẩm
định quy trình vận hành hồ chứa thủy điện thuộc thẩm quyền phê duyệt của Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh; đôn đốc các chủ đầu tư rà soát, lập và trình phê duyệt điều
chỉnh quy trình vận hành hồ chứa thủy điện, bảo đảm sử dụng nước tiết kiệm, hiệu
quả, đa mục tiêu, chống thất thoát, lãng phí; trong trường hợp xảy ra hạn hán,
thiếu nước, ưu tiên sử dụng nguồn nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất của Nhân
dân.
- Chủ trì, phối hợp với Sở Nông
nghiệp và Môi trường và các chủ dự án thủy điện tổ chức điều tiết hồ chứa công
trình thủy điện khi xảy ra thiếu nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp;
kiểm tra theo thẩm quyền việc chấp hành quy trình vận hành hồ chứa đối với các
dự án, công trình thủy điện trên địa bàn và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
1.3. Sở Xây
dựng
Chủ trì, phối hợp với các sở,
ngành và Ủy ban nhân dân các xã, phường xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch,
dự án cấp nước sinh hoạt, nước sạch; thực hiện biện pháp khẩn cấp để bảo đảm cấp
nước sinh hoạt trong trường hợp hạn hán thiếu nước hoặc sự cố ô nhiễm nguồn nước
nghiêm trọng gây ra thiếu nước đối với khu vực đô thị trên địa bàn tỉnh.
1.4. Các sở,
ban, ngành có liên quan
Theo chức năng, nhiệm vụ được
giao khẩn trương, hoàn thiện các dự án, công trình điều tiết, trữ nước trong
quy hoạch thủy lợi, quy hoạch về tài nguyên nước và các quy hoạch khác có liên
quan.
1.5. Đài
Khí tượng Thủy văn tỉnh Lai Châu
- Cung cấp cho Sở Nông nghiệp
và Môi trường danh mục và vị trí các trạm thủy văn chuyên dùng, tài liệu khí tượng
thủy văn hiện có và số liệu các yếu tố khí tượng thủy văn quan trắc được khi Sở
Nông nghiệp và Môi trường có yêu cầu để tổng hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh
và Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
- Định kỳ hàng tháng, vào mùa
khô, có trách nhiệm cung cấp cho Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Công Thương
và các cơ quan có liên quan kết quả quan trắc khí tượng thủy văn và môi trường,
đồng thời dự báo tình hình khí tượng thủy văn 10 ngày, tháng, mùa tiếp theo
trên địa bàn tỉnh
2. Ủy ban
nhân dân các xã, phường
- Tổ chức triển khai thực hiện
Kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn; chủ động xây dựng
phương án cụ thể tại địa phương phù hợp với điều kiện nguồn nước, đặc biệt
trong thời gian cao điểm mùa khô.
- Rà soát hiện trạng các công
trình khai thác, sử dụng nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp trên địa
bàn; kịp thời phát hiện, báo cáo nguy cơ thiếu nước, đề xuất giải pháp điều
hòa, bổ sung nguồn nước khi cần thiết.
- Chỉ đạo quản lý, vận hành các
công trình thủy lợi, công trình cấp nước sinh hoạt thuộc thẩm quyền quản lý của
cấp xã bảo đảm cấp nước tiết kiệm, hiệu quả, ưu tiên nước cho sinh hoạt và sản
xuất nông nghiệp thiết yếu.
- Chủ động tìm kiếm, huy động
các nguồn nước bổ sung, thay thế trong trường hợp xảy ra hạn hán, thiếu nước;
phối hợp với các đơn vị quản lý công trình thủy lợi, thủy điện trên địa bàn để
điều hòa, phân phối nguồn nước hợp lý.
- Tổ chức quản lý, bảo vệ mốc
giới hành lang bảo vệ nguồn nước; ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi lấn chiếm,
sử dụng trái phép đất trong phạm vi hành lang bảo vệ nguồn nước theo thẩm quyền.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền,
vận động Nhân dân sử dụng nước tiết kiệm, bảo vệ nguồn nước; chủ động hướng dẫn
Nhân dân áp dụng các biện pháp tiết kiệm nước trong sinh hoạt và sản xuất.
- Thường xuyên theo dõi diễn biến
khí tượng, thủy văn; tổng hợp, báo cáo kịp thời về Ủy ban nhân dân tỉnh (qua
Sở Nông nghiệp và Môi trường) những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá
trình thực hiện để xem xét, chỉ đạo xử lý.
3. Các tổ
chức khai thác nước
a) Công ty Cổ phần nước sạch
Lai Châu
- Thường xuyên kiểm tra tình trạng
hoạt động của các nhà máy/trạm cấp nước, mạng lưới cấp nước, đảm bảo khai thác
nước hiệu quả, tiết kiệm, tránh thất thoát, lãng phí tài nguyên nước.
- Chủ động đề xuất nguồn nước bổ
sung, thay thế trong trường hợp trạm cấp nước thiếu nguồn nước cấp.
b) Công ty TNHH MTV quản lý thủy
nông Lai Châu
- Thường xuyên duy tu bảo dưỡng
các công trình thủy lợi do công ty quản lý, đảm bảo việc cung cấp đủ lưu lượng
nước để sản xuất nông nghiệp tiết kiệm, hiệu quả, tránh thất thoát, lãng phí nước.
- Đề xuất các giải pháp, nguồn
nước cấp bổ sung trong trường hợp thiếu nước cấp cho sản xuất nông nghiệp.
c) Chủ các dự án thủy điện
- Vận hành các công trình thủy
điện theo đúng quy trình vận hành hồ chứa, liên hồ chứa được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền phê duyệt.
- Tuân thủ quy định của giấy phép
khai thác tài nguyên nước, đảm bảo khai thác tiết kiệm hiệu quả, duy trì xả
dòng chảy tối thiểu theo đúng giấy phép được cấp. Trường hợp thiếu nước phải có
giải pháp ưu tiên cho mục đích cấp nước sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp.
Trong quá trình triển khai thực
hiện Kế hoạch này, nếu phát sinh khó khăn, vướng mắc các cơ quan, đơn vị phản
ánh về Sở Nông nghiệp và Môi trường để tổng hợp báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh
xem xét, kịp thời chỉ đạo./.
|
Nơi nhận:
- Bộ Nông nghiệp và Môi trường;
- Thường trực Tỉnh ủy; (B/c)
- Thường trực HĐND tỉnh;
- Chủ tịch, các PCT UBND tỉnh;
- Các sở, ban, ngành tỉnh;
- UBND các xã, phường;
- Công ty Cổ phần nước sạch Lai Châu;
- Công ty TNHH MTV quản lý thủy nông Lai Châu;
- Chủ các dự án thủy điện trên địa bàn tỉnh;
- VP. UBND tỉnh: V1, V2, Kt1, CB;
- Lưu: VT, Kt7.
|
TM. ỦY BAN NHÂN
DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Hà Trọng Hải
|