|
BỘ TÀI
NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
-------
|
CỘNG HÒA
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số:
163/QĐ-BTNMT
|
Hà Nội,
ngày 14 tháng 01 năm 2025
|
QUYẾT
ĐỊNH
VỀ
VIỆC CÔNG BỐ KỊCH BẢN NGUỒN NƯỚC (LẦN ĐẦU) TRÊN LƯU VỰC SÔNG SÊ SAN
BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI NGUYÊN VÀ
MÔI TRƯỜNG
Căn cứ Luật Tài nguyên
nước ngày 27 tháng 11 năm 2023;
Căn cứ Nghị quyết số
141/2024/QH15 ngày 29 tháng 6 năm 2024 của Quốc hội về hoạt động chất vấn tại
Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XV;
Căn cứ Nghị định số
68/2022/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2022 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường;
Căn cứ Nghị định số
53/2024/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành
một số điều của Luật Tài nguyên nước;
Căn cứ Quyết định số
1622/QĐ-TTg ngày 27 tháng 12 năm 2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy
hoạch tài nguyên nước thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050;
Căn cứ Quyết định số
2204/QĐ-TTg ngày 27 tháng 12 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy
hoạch tổng hợp lưu vực sông Sê San thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050;
Trên cơ sở các thông
tin, số liệu của các Bộ, ngành, địa phương và các tổ chức, cá nhân khai thác,
sử dụng tài nguyên nước lớn, quan trọng trên lưu vực sông Sê San và Bản tin dự
báo, cảnh báo khí tượng thủy văn thời hạn mùa trên phạm vi toàn quốc của Trung
tâm Dự báo khí tượng thủy văn quốc gia;
Theo đề nghị của Cục
trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Công bố Kịch bản nguồn nước (lần đầu) trên lưu vực sông Sê
San, cụ thể như sau:
1. Mục tiêu công bố: phục vụ công tác điều
hòa, phân phối tài nguyên nước trên lưu vực sông, góp phần bảo đảm an ninh
nguồn nước, an ninh lương thực, an ninh năng lượng và các nhu cầu thiết yếu
khác của người dân.
Làm căn cứ để các Bộ, ngành và Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh trên lưu vực sông, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình, chỉ đạo việc lập kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước phù hợp với
Kịch bản nguồn nước theo quy định tại khoản 1, khoản 5 và khoản
6 Điều 35 của Luật Tài nguyên nước và khoản 2 Điều 43 của
Nghị định số 53/2024/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Chính phủ Quy định
chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước.
2. Nội dung công bố của Kịch bản nguồn
nước theo quy định tại khoản 4 Điều 41 của Nghị định số
53/2024/NĐ-CP.
3. Kỳ công bố Kịch bản, trong mùa cạn
năm 2025 (từ tháng 01/2025 đến tháng 6/2025).
(Chi tiết
Kịch bản nguồn nước kèm theo Quyết định này)
Điều 2.
Trách nhiệm tổ chức, thực hiện
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn, Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng và Ủy ban nhân dân các tỉnh Gia Lai và Kon
Tum trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, chỉ đạo việc lập kế hoạch khai
thác, sử dụng tài nguyên nước phù hợp với Kịch bản nguồn nước ban hành kèm theo
Quyết định này theo quy định tại khoản 1, khoản 6 Điều 35 của
Luật Tài nguyên nước và khoản 2 Điều 43 của Nghị định số
53/2024/NĐ-CP.
2. Căn cứ Kịch bản nguồn nước được công
bố, hiện trạng nguồn nước, nhu cầu sử dụng nước, nhận định xu thế khí tượng
thủy văn, Cục Quản lý tài nguyên nước chủ trì, phối hợp với Tổng cục Khí tượng
Thủy văn, Văn phòng Thường trực Ủy ban sông Mê Công Việt Nam, Trung tâm Quy
hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia, Viện Khoa học tài nguyên nước, Viện
Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu tính toán, cập nhật và trình Bộ
Tài nguyên và Môi trường xem xét, quyết định việc cập nhật Kịch bản nguồn nước
trong trường hợp xảy ra những diễn biến bất thường về khí tượng, thủy văn hoặc
phát sinh các yêu cầu đối với nguồn nước nhằm đảm bảo an ninh nguồn nước cấp
cho sinh hoạt, an ninh lương thực, an ninh năng lượng.
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn, Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng và Ủy ban nhân dân các tỉnh Gia Lai và Kon
Tum và các tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm cung cấp thông tin, số
liệu và phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường để xây dựng, cập nhật Kịch bản
nguồn nước trên lưu vực sông Sê San.
4. Văn phòng Bộ, Báo Tài nguyên và Môi
trường, Trung tâm Truyền thông tài nguyên và môi trường phối hợp với Cục Quản
lý tài nguyên nước để đăng tải Kịch bản nguồn nước trên lưu vực sông Sê San
trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
5. Ủy ban nhân dân các tỉnh Gia Lai và
Kon Tum chỉ đạo việc đăng tải Kịch bản nguồn nước trên cổng thông tin điện tử
của địa phương theo quy định tại khoản 6 Điều 41 của Nghị định
số 53/2024/NĐ-CP.
Điều 3. Hiệu
lực thi hành
1. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày
ký.
2. Chánh Văn phòng Bộ, Cục trưởng Cục
Quản lý tài nguyên nước, Tổng cục trưởng Tổng cục Khí tượng Thủy văn, Tổng giám
đốc Trung tâm Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia, Chánh Văn phòng
Thường trực Ủy ban sông Mê Công Việt Nam, Viện trưởng Viện Khoa học tài nguyên
nước, Viện trưởng Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu, Thủ
trưởng các đơn vị quản lý nhà nước trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường và
các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
Nơi nhận:
-
Như Điều 3;
- Thủ tướng Chính phủ (để báo cáo);
- PTTg CP. Trần Hồng Hà (để báo cáo);
- Bộ trưởng Đỗ Đức Duy (để báo cáo);
- Các Thứ trưởng;
- Các Bộ: NNPTNT, Công Thương, Xây dựng;
- UBND các tỉnh: Kon Tum, Gia Lai;
- Các Sở TN&MT, NN&PTNT, XD, CT các tỉnh: Kon Tum, Gia Lai;
- Đài truyền hình Việt Nam, Đài tiếng nói Việt Nam;
- Tập đoàn Điện lực Việt Nam, NSMO;
- Báo TN&MT, TT Truyền thông TN&MT;
- Lưu: VT, VP, PC, TNN (10).
|
KT. BỘ
TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Lê Minh Ngân
|
KỊCH
BẢN NGUỒN NƯỚC (LẦN ĐẦU) TRÊN LƯU VỰC SÔNG SÊ SAN
(Kèm theo
Quyết định số: 163/QĐ-BTNMT ngày 14 tháng 01 năm 2025 của Bộ trưởng Bộ Tài
nguyên và Môi trường)
Kịch bản nguồn nước (lần đầu) trên lưu
vực sông Sê San được xây dựng trên cơ sở quy định tại Điều 35
của Luật Tài nguyên nước; Nghị quyết số 141/2024/QH15 ngày 29 tháng 6 năm
2024 của Quốc hội về hoạt động chất vấn tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XV; Nghị
định số 53/2024/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Chính phủ quy định chi tiết
thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước; Quy hoạch tài nguyên nước thời
kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 [1] và Quy hoạch tổng hợp lưu vực sông Sê
San thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 [2]; hiện trạng nguồn nước
mặt, nước dưới đất, hiện trạng tích trữ nước trong các hồ chứa trên lưu vực,
nhu cầu khai thác, sử dụng tài nguyên nước; nhận định xu thế diễn biến lượng
mưa, lượng dòng chảy, mực nước trong các tầng chứa nước và thông tin, số liệu
do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng, Ủy ban
nhân dân các tỉnh Gia Lai, Kon Tum và các tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng
nước lớn, quan trọng trên lưu vực sông Sê San cung cấp.
Phạm vi xây dựng kịch bản trên toàn bộ
lưu vực sông Sê San, được phân chia thành 06 (sáu) tiểu vùng theo Quy hoạch
tổng hợp lưu vực sông Sê San thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Chi
tiết tại Phụ lục kèm theo Kịch bản nguồn nước). Kỳ công bố Kịch bản được tính
toán, đánh giá trong mùa cạn năm 2025 (từ tháng 01/2025 đến tháng 6/2025).
Nội dung Kịch bản nguồn nước (lần đầu)
thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 41 của Nghị định số
53/2024/NĐ-CP, gồm những nội dung chính sau:
I. HIỆN
TRẠNG NGUỒN NƯỚC TRÊN LƯU VỰC SÔNG SÊ SAN
1. Hiện
trạng nguồn nước mưa, nước mặt
Tổng lượng mưa từ tháng 7 đến tháng 12
năm 2024 trên lưu vực sông Sê San phổ biến ở mức thấp hơn trung bình nhiều năm
(TBNN[3]) từ 10% đến 30%.
Tổng lượng dòng chảy mùa lũ (từ tháng 7
đến tháng 12 năm 2024) trên lưu vực sông Sê San thấp hơn trung bình thời kỳ
(TBTK[4]), trong đó, tổng lượng dòng chảy trên
sông Đăk Bla thấp hơn TBTK từ 60% đến 91%; trên sông Đăk Tơ Kan phổ biến thấp
hơn từ 5% đến 30%, riêng tháng 12 cao hơn 17%; trên sông Pô Kô cao hơn từ 12%
đến 19%, riêng tháng 8 thấp hơn 33%.
2. Hiện
trạng nguồn nước dưới đất
Nước dưới đất trên lưu vực sông Sê San
gồm các tầng chứa nước lỗ hổng (qh, qp) trong trầm tích Đệ tứ phân bố rải rác
dọc các sông ở các tiểu vùng Hạ Đắk Bla, Trung Sê San với diện tích khoảng
1.236 km²; các tầng chứa nước khe nứt - lỗ hổng trong đá phun trào bazan (tầng
β(qp), β(n2-qp)) phân bố chủ yếu ở các tiểu vùng Trung Sê San, Hạ Sê
San, Thượng Đắk Bla và Hạ Đắk Bla với diện tích khoảng 2.192 km²; các tầng chứa
nước khe nứt trong các đá trầm tích phân bố chủ yếu ở các tiểu vùng Trung Sê
San, Hạ Sê San và Hạ Đắk Bla với diện tích khoảng 3.513 km².
Trữ lượng có thể khai thác nước dưới đất
trên toàn lưu vực sông Sê San khoảng 2,5 triệu m³/ngày đêm, hiện đang khai thác
khoảng 0,51 triệu m³/ngày đêm (khoảng 20,4%). Trong đó 13 công trình cấp nước
tập trung với tổng lưu lượng 3.880 m³/ngày đêm (tỉnh Kon Tum) và 210 công trình
cấp nước tập trung với tổng lưu lượng 12.500 m³/ngày đêm (tỉnh Gia Lai), khai
thác trong các tầng chứa nước khe nứt - lỗ hổng trong đá phun trào bazan để cấp
nước cho sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Ngoài ra còn rất nhiều giếng
khai thác ở quy mô đơn lẻ và giếng khai thác nông thôn phục vụ nhu cầu sinh
hoạt, sản xuất của người dân, chiếm tỷ lệ lớn.
Theo số liệu quan trắc mực nước từ năm
2016 đến nay cho thấy chiều sâu mực nước trong các tầng chứa nước khoảng
2,2-19,1m (đảm bảo quy định không vượt quá 50m đối với các tầng chứa nước
trong đá bazan, khe nứt; không vượt quá 30m đối với các tầng chứa nước lỗ hổng),
mực nước của các tầng chứa nước hầu hết có xu thế ổn định, một số khu vực có xu
hướng dâng nhẹ, nguyên nhân chủ yếu có thể do sự thay đổi về lượng bổ cập (từ
mưa) qua các năm tạo nên xu thế dâng nhẹ cho các tầng chứa nước.
3. Hiện
trạng tích nước của các hồ chứa
3.1. Đối với các hồ chứa thủy điện
Trên lưu vực sông Sê San có khoảng 51
công trình thủy điện với tổng dung tích thiết kế khoảng 3.594 triệu m³, trong
đó 04 hồ chứa thủy điện lớn, điều tiết năm trên lưu vực gồm: Ialy, PleiKrông,
Sê San 4 và Thượng Kon Tum. Hồ Thượng Kon Tum là công trình chuyển nước từ lưu
vực sông Sê San sang lưu vực sông Trà Khúc. 03 hồ chứa Ialy, PleiKrông, Sê San
4 ngoài vai trò cấp nước cho hạ du còn có nhiệm vụ phối hợp vận hành để đảm bảo
duy trì dòng chảy hạ du sông Sê San không nhỏ hơn 195 m³/s.
Tính đến đầu mùa cạn năm 2025, tổng
lượng nước tích trữ được trong 03 hồ chứa Ialy, PleiKrông, Sê San 4 khoảng 2,88
tỷ m³, đạt 96,6% dung tích toàn bộ (2,98 tỷ m³) cao hơn trung bình thời kỳ 2015
- 2024 khoảng 6,4% và cao hơn 11,6% so với năm 2024 (2,58 tỷ m³).
Bảng 1. Lượng nước tích trữ tại 3 hồ
chứa thủy điện lớn (ngày 01/01/2025)
|
STT
|
Tên hồ chứa
|
MNDBT (m)
|
Mực nước
hồ (m)
|
Dung tích
hồ (triệu m³)
|
|
Dung tích
toàn bộ
|
Dung tích
ngày 01/01/2025
|
TB thời kỳ
(2015-2024)
|
|
1
|
Ialy
|
515
|
513,67
|
1.037,10
|
985,39
|
936,30
|
|
2
|
PleiKrông
|
570
|
569,77
|
1.048,70
|
1.037,10
|
983,61
|
|
3
|
Sê San 4
|
215
|
214,31
|
893,30
|
856,88
|
785,70
|
|
|
Tổng
|
|
|
2.979,10
|
2.879,37
|
2.705,61
|
3.2. Đối với các hồ chứa thủy lợi
Trên lưu vực sông Sê San có khoảng 135
hồ chứa thủy lợi với tổng dung tích toàn bộ khoảng 125 triệu m³. Trong đó, có
06 hồ có dung tích từ 3 triệu m³ (tổng dung tích khoảng 63,192 triệu m³); 26 hồ
có dung tích từ 1 triệu m³ (tổng dung tích khoảng 99 triệu m³).
Các hồ chứa thủy lợi tập trung nhiều tại
tiểu vùng Trung Sê San (45 hồ, tổng dung tích thiết kế khoảng 55 triệu m³,
trong đó có 02 hồ chứa lớn: hồ Đăk Uy và Đăk Rơn Ga), tiểu vùng Hạ Sê San (54
hồ, tổng dung tích thiết kế khoảng 36 triệu m³, trong đó có 02 hồ chứa lớn: hồ
Biển Hồ và Tân Sơn), tiểu vùng hạ Đắk Bla (22 hồ, tổng dung tích thiết kế khoảng
27,7 triệu m³, trong đó có 02 hồ chứa lớn: hồ Đăk Loh và Đăk Yên). Tiểu vùng
Thượng Sê San, Thượng Đắk Bla, Sa Thầy có số lượng hồ chứa ít nhất, chỉ có khoảng
04 đến 07 hồ chứa, chủ yếu là các hồ có dung tích nhỏ hơn 1 triệu m³.
Tính đến thời điểm đầu tháng 01/2025,
dung tích trữ của 06 hồ chứa lớn (hồ Tân Sơn, Biển Hồ B thuộc tỉnh Gia Lai; hồ
Đăk Loh, Đăk Uy, Đăk Yên, Đăk Rơn Ga thuộc tỉnh Kon Tum) ở mức trên 91% dung
tích thiết kế; các hồ chứa dung tích từ 1 - 3 triệu m³ đạt 75% dung tích thiết
kế trở lên, riêng các hồ chứa Đăk Rơ Wa, Đăk Chà Mòn I (tiểu vùng Hạ Đắk Bla),
hồ chứa C1 (tiểu vùng Trung Sê San) dung tích hiện còn 50 - 70% dung tích thiết
kế.
II. DỰ BÁO
XU THẾ DIỄN BIẾN MƯA, DÒNG CHẢY, LƯỢNG NƯỚC TÍCH TRỮ TRONG CÁC HỒ CHỨA NƯỚC
LỚN, QUAN TRỌNG; MỰC NƯỚC TRONG CÁC TẦNG CHỨA NƯỚC TRONG KỲ CÔNG BỐ KỊCH BẢN
NGUỒN NƯỚC
1. Hiện tượng ENSO đang trong trạng thái
trung tính, với chuẩn sai nhiệt độ mặt nước biển khu vực xích đạo trung tâm
Thái Bình Dương. Dự báo trong 06 tháng đầu năm 2025, ENSO tiếp tục có khả năng
ở trạng thái trung tính. Từ tháng 01 đến tháng 8 năm 2025, nhiệt độ trung bình
phổ biến ở mức xấp xỉ so với TBNN. Từ tháng 5 đến tháng 8 năm 2025, nắng nóng
gia tăng hơn về cường độ và tần suất. Nhiệt độ cao nhất trong các đợt nắng nóng
có thể tăng lên ngưỡng từ 380C đến 40⁰C.
2. Tổng lượng mưa trên lưu vực sông Sê
San phổ biến xấp xỉ và cao hơn TBNN, trong đó: từ tháng 01-3/2025 phổ biến cao
hơn TBNN 5-15mm; các tháng 4, 5, 6/2025 xấp xỉ so với TBNN, có nơi thấp hơn từ
5% đến 15% TBNN.
Tổng lượng dòng chảy trên sông Đăk Bla
đến hồ chứa Thượng Kon Tum có xu thế cao hơn TBTK từ 7% đến 13%. Tổng lượng
dòng chảy trên sông Pô Kô đến hồ chứa PleiKrông có xu thế thấp hơn TBTK từ 10%
đến 35%. Tổng lượng dòng chảy trên sông Sê San đến hồ chứa Ialy và Sê san 4 có
xu thế cao hơn TBTK từ 10% đến 30% trong các tháng từ tháng 02 đến tháng 5,
riêng tháng 1 và tháng 6 có xu thế thấp TBTK từ 10% đến 20%.
Tổng lượng dòng chảy trên các sông nhánh
phổ biến ở mức thấp hơn TBTK từ 30-80%, riêng sông Đăk Tơ Kan cao hơn từ 50%
đến 100%.
3. Mực nước trong các tầng chứa nước
dưới đất
Kết quả quan trắc mực nước tại 42 công
trình quan trắc thuộc mạng quan trắc quốc gia trên lưu vực sông Sê San trong
giai đoạn 2016 - 2024 cho thấy:
- Các tầng chứa nước lỗ hổng (qh, qp)
trong trầm tích Đệ tứ có xu hướng ổn định và dâng nhẹ so với TBNN (tăng khoảng
0,10 m/năm), dao động trong khoảng 0,77 - 8,95m.
- Các tầng chứa nước khe nứt - lỗ hổng
trong đá phun trào bazan cho thấy mực nước có xu hướng dâng nhẹ (khoảng 0,11
m/năm đối với TCNβ(qp) và tăng khoảng 0,09m/năm đối với TCNβ(n2-qp),
mực nước dao động trong khoảng trong khoảng 0,51 - 19,09m.
- Các tầng chứa nước khe nứt trong các
đá trầm tích cho thấy mực nước tương đối ổn định, dao động trong khoảng từ 0,88
- 16,93m.

Hình 1. Diễn
biến và xu thế mực nước trong các tầng chứa nước khe nứt - lỗ hổng trong đá
phun trào bazan lưu vực sông Sê San
III. NHU CẦU
KHAI THÁC, SỬ DỤNG NƯỚC CỦA CÁC NGÀNH TRONG KỲ CÔNG BỐ KỊCH BẢN
Tổng nhu cầu khai thác, sử dụng nước của
các ngành (trừ thủy điện) trên lưu vực sông Sê San khoảng 445,8 triệu m³, trong
đó tiểu vùng Thượng Đăk Bla khoảng 73,4 triệu m³, tiểu vùng Hạ Đăk Bla khoảng
136,5 triệu m³, tiểu vùng Thượng Sê San khoảng 14,5 triệu m³, tiểu vùng Trung
Sê San khoảng 71,6 triệu m³, tiểu vùng Hạ Sê San khoảng 134,1 triệu m³ và tiểu
vùng Sa Thầy khoảng 15,7 triệu m³. Tiểu vùng lưu vực sông Hạ Đăk Bla, Hạ Sê San
là khu vực có nhu cầu khai thác, sử dụng nước lớn nhất. Nhu cầu về nguồn nước
của một số ngành sử dụng nước chính trên lưu vực như sau:
1. Nhu cầu
cấp nước cho sinh hoạt, công nghiệp
Tổng nhu cầu nước khai thác cấp cho sinh
hoạt, công nghiệp trên lưu vực khoảng 21,6 triệu m³. Tổng số công trình cấp
nước tập trung (quy mô khai thác từ 500 m³/ngày đêm đối với khai thác nước mặt
và từ 50 m³/ngày đêm đối với khai thác nước dưới đất) trên toàn lưu vực là 269
công trình[5] với tổng lượng nước khai thác khoảng
8,3 triệu m³, trong đó:
- 46 công trình cấp nước tập trung (quy
mô từ 500 m³/ngày đêm trở lên) khai thác nước mặt với tổng lưu lượng là 29.510 m³/ngày
đêm, khai thác chủ yếu từ các hồ chứa thủy lợi, thủy điện trên địa bàn (hồ Biển
Hồ A, hồ Sê San 4, hồ Chà Mòn, hồ Đăk Rơn Ga, hồ Đăk Long, hồ Lạc Long Quân).
Tuy nhiên, lượng nước khai thác thực tế tại một số nhà máy nước chỉ đạt khoảng
50% lưu lượng thiết kế. Một số nhà máy có tỷ lệ thất thoát nước lớn trong hệ
thống (đặc biệt nhà máy Biển Hồ, Nhà máy nước Sài Gòn Pleiku có tỷ lệ thất
thoát lên đến 40%). Ngoài ra, phần lớn các công trình cấp nước trên lưu vực là
công trình cấp nước tự chảy sử dụng nguồn nước mặt, phụ thuộc vào nguồn nước
mưa, dòng chảy tự nhiên trên sông, suối.
- 223 công trình cấp nước tập trung (quy
mô từ 50 m³/ngày đêm trở lên) khai thác nguồn nước dưới đất với tổng lưu lượng
là 16.380 m³/ngày đêm, khai thác nhiều nhất trong tầng chứa nước khe nứt - lỗ
hổng trong đá phun trào bazan. Ngoài ra, còn rất nhiều giếng khai thác ở quy mô
đơn lẻ và giếng khai thác nông thôn phục vụ nhu cầu sinh hoạt, sản xuất của
người dân, chiếm tỷ lệ lớn.
2. Nhu cầu
nước cho nông nghiệp
Tổng nhu cầu sử dụng nước cho nông
nghiệp [6] trên lưu vực sông Sê San khoảng
408,68 triệu m³, trong đó tiểu vùng Hạ Đắk Bla và Hạ Sê San có nhu cầu sử dụng
nước nhiều nhất, chiếm 45,8%. Nguồn nước sử dụng cho nông nghiệp chủ yếu là
nguồn nước mặt.
Phần lớn các công trình thủy lợi trên
lưu vực chủ yếu là công trình có quy mô vừa và nhỏ (khoảng 120/135 hồ chứa có
dung tích dưới 3 triệu m³), khả năng điều tiết giữa các thời kỳ trong năm là
hạn chế. Hiện tại, hệ thống các công trình thủy lợi, thủy điện trên lưu vực chỉ
đáp ứng khoảng hơn 20% tổng diện tích cần tưới, phần lớn diện tích còn lại chưa
chủ động được nguồn nước mà phải dựa vào nguồn nước mưa, nước ngầm và sông suối
tự nhiên. Do đặc điểm canh tác, phần lớn các diện tích cây công nghiệp (cà phê,
tiêu, điều) được trồng trên các sườn đồi, do đó, khó tiếp cận nguồn nước từ các
công trình hồ chứa, đập dâng thủy lợi.
3. Nhu cầu
nước cho sản xuất thủy điện
Trên lưu vực sông Sê San có khoảng 51
công trình thủy điện với tổng công suất lắp máy khoảng 2.540 MW, trong đó 08
công trình thủy điện vận hành theo Quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực
sông Sê San (hồ Ialy, PleiKrông, Sê San 4, Thượng Kon Tum, Sê San 4A, Đăk Bla
1, Sê San 3, Sê San 3A có tổng công suất là 1.850 MW) chiếm 72,8% tổng công
suất các nhà máy thủy điện trên lưu vực. Nhu cầu khai thác nước cho sản xuất
thủy điện của 08 công trình nêu trên chiếm tỷ lệ lớn so với tổng nhu cầu khai
thác nước cho sản xuất thủy điện trên lưu vực.
Trong đó, 03 hồ chứa Ialy, PleiKrông, Sê
San 4 khai thác nguồn nước dòng chính sông Sê San, đóng góp đáng kể vào sản
lượng điện trên lưu vực sông Sê San lên hệ thống điện quốc gia, đồng thời,
thông qua việc vận hành xả nước phát điện từ 03 hồ chứa này góp phần đảm bảo
nhu cầu cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp và đảm bảo duy trì dòng
chảy phía hạ du sông Sê San.
Theo kế hoạch, tổng nhu cầu nước phục vụ
sản xuất thủy điện của 03 nhà máy thủy điện Ialy, PleiKrông, Sê San 4 trung
bình thời kỳ từ tháng 01/2025 - 6/2025 khoảng 7,1 tỷ m³ (tương đương sản lượng
điện 2.020 triệu kWh), cao hơn khoảng 3,1% so với trung bình thời kỳ 2022-2024
(1.960 triệu kWh)[7], cao hơn 24,3% so với mùa cạn năm
2024 (1.625 triệu kWh).
IV. TRẠNG
THÁI CỦA NGUỒN NƯỚC TRÊN LƯU VỰC SÔNG SÊ SAN
Trên cơ sở thông tin, số liệu về hiện
trạng, dự báo xu thế diễn biến nguồn nước của các hồ chứa quan trọng, nguồn
nước trên các tiểu lưu vực sông, trong tầng chứa nước dưới đất, dự báo khí
tượng, thủy văn trên lưu vực sông, có thể nhận định khả năng nguồn nước trên
lưu vực sông Sê San trong mùa cạn năm 2025 ở “Trạng thái bình thường”.
Để đánh giá mức độ đáp ứng của nguồn nước cấp cho sinh hoạt, nông nghiệp, thủy
điện, công nghiệp, các nhu cầu sử dụng nước khác và các yêu cầu về đảm bảo an
ninh nguồn nước, an ninh lương thực, an ninh năng lượng nhằm giảm thiểu rủi ro
khả năng thiếu nước do việc khai thác, sử dụng nước không hiệu quả, lãng phí,
việc đánh giá theo các vùng, các nguồn nước cụ thể như sau:
- Mức độ đáp ứng của nguồn nước của 03
hồ Ialy, Pleikrông, Sê San 4 cho nhu cầu phát điện, nhu cầu sử dụng nước khác ở
hạ du, có xét đến yêu cầu duy trì dòng chảy hạ du sông Sê San.
- Mức độ đáp ứng của nguồn nước trên các
tiểu vùng cho các nhu cầu sinh hoạt, nông nghiệp, công nghiệp (nằm ngoài phạm
vi điều tiết của 03 hồ Ialy, Pleikrông, Sê San 4).
1. Đối với
03 hồ chứa thủy điện lớn trên lưu vực
- Trường hợp 1: nhu cầu
phát điện dự kiến, nhu cầu sử dụng nước khác ở hạ du và có xét đến yêu cầu duy
trì dòng chảy ở hạ du sông Sê San phía Campuchia với lưu lượng liên tục không
nhỏ hơn 195 m³/s.
- Trường hợp 2: nhu cầu
phát điện dự kiến, nhu cầu sử dụng nước khác ở hạ du và có xét đến yêu cầu duy
trì dòng chảy ở hạ du sông Sê San phía Campuchia với lưu lượng liên tục không
nhỏ hơn 160 m³/s.
- Trường hợp 3: nhu cầu
phát điện dự kiến, nhu cầu sử dụng nước khác ở hạ du và có xét đến yêu cầu duy
trì dòng chảy ở hạ du sông Sê San phía Campuchia với lưu lượng liên tục không
nhỏ hơn 120 m³/s.

Hình 2. Nhận
định xu thế diễn biến tổng dung tích 03 hồ chứa
Như vậy, mặc dù về
tổng thể thì nguồn nước của 03 hồ chứa cơ bản đáp ứng được các nhu cầu sử dụng
nước ở hạ du, nhưng nếu 03 hồ vận hành đảm bảo duy trì lưu lượng xả về hạ du
sông Sê San liên tục không nhỏ hơn 195 m³/s trong suốt thời gian mùa cạn, thì
nguy cơ cao sẽ xảy ra tình trạng thiếu hụt nguồn nước, ảnh hưởng đến vấn đề bảo
đảm an ninh năng lượng và an toàn của hệ thống công trình thủy điện trên lưu
vực sông Sê San, đặc biệt vào các tháng cuối mùa cạn, xảy ra nắng nóng diện
rộng, ít mưa.
2. Đối với
các tiểu vùng trên lưu vực sông Sê San
Trên cơ sở hiện trạng nguồn nước của các
hồ chứa thủy lợi, hiện trạng cấp nước của hệ thống công trình thủy lợi, nhu cầu
khai thác, sử dụng, dự báo diễn biến thời tiết, khí hậu trên lưu vực, nguồn
nước trên 06 tiểu vùng thuộc lưu vực sông Sê San trong mùa cạn năm 2025 cơ
bản ở trạng thái bình thường.
Tuy nhiên, với đặc điểm địa hình, hệ thống
sông, suối nhỏ hẹp, độ dốc lớn nên khả năng giữ nước rất hạn chế và mùa khô kéo
dài, lượng mưa ít, độ ẩm giảm mạnh, lượng bốc hơi lớn là các yếu tố bất lợi dẫn
đến nguy cơ xuất hiện tình trạng thiếu nước mang tính cục bộ có thể xảy
ra ở một số khu vực, đặc biệt là các khu vực có hệ thống công trình
thủy lợi còn thiếu, chưa đồng bộ, hồ chứa có dung tích nhỏ và các khu vực ngoài
phạm vi cấp nước của hồ chứa phụ thuộc chủ yếu vào nguồn nước mưa, cụ thể như
sau:
2.1. Tiểu vùng Thượng
Sê San
Tiểu vùng Thượng Sê San có một phần diện
tích thuộc 03 huyện: Ngọc Hồi, Đắk Glei, Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum, là tiểu vùng
có nhu cầu sử dụng nước tương đối ít. Nguồn nước mặt dồi dào, các sông chính
cấp nước cho các nhu cầu sử dụng nước của vùng bao gồm: sông Sê San (phía thượng
nguồn), sông Đắk Rơ Long, sông Đắk Pru và sông Đắk Na.
Toàn vùng hiện có 4 hồ chứa thủy lợi,
trong đó có 02 hồ chứa có dung tích toàn bộ từ 1 triệu m³/s trở lên. Hiện trạng
nguồn nước trong các hồ chứa thủy lợi cơ bản đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước
của vùng, ít có nguy cơ xảy ra tình trạng thiếu nước trong các tháng mùa cạn
năm 2025.
2.2. Tiểu vùng Trung Sê
San
Tiểu vùng Trung Sê San có một phần diện
tích thuộc 06 huyện/thành phố: Sa Thầy, Ngọc Hồi, Tu Mơ Rông, Đắk Hà, Đắk Tô,
TP. Kon Tum thuộc tỉnh Kon Tum. Các sông chính cấp nước cho các nhu cầu sử dụng
nước của vùng bao gồm: sông Sê San (phía trung lưu), sông Đắk Uy, sông Đăk Ta
Kan, sông Đăk Psi.
Toàn vùng hiện có 45 hồ chứa thủy lợi,
trong đó có 9 hồ chứa có dung tích toàn bộ từ 1 triệu m³/s trở lên. Hiện trạng
nguồn nước trong các hồ chứa lớn đã tích được trên 85% so với dung tích thiết
kế (hồ Đăk Uy đạt 97% dung tích thiết kế, hồ Đăk Rơn Ga đạt 100% dung tích
thiết kế, hồ C19 đạt 86% dung tích thiết kế), có khả năng đáp ứng các nhu cầu
sử dụng nước thuộc phạm vi cấp nước.
Tuy nhiên, trong các tháng 5, 6/2025 do
nắng nóng, thiếu hụt lượng mưa, một số khu vực nằm ngoài phạm vi cấp nước tưới
của các hồ chứa thủy lợi, các khu vực chưa có hệ thống cấp nước chủ động từ các
hồ chứa thủy lợi, thủy điện trong khu vực vẫn có nguy cơ thiếu hụt nguồn nước,
trong đó, một số khu vực có nguy cơ cao xảy ra thiếu nước cấp cho nông nghiệp
và sinh hoạt tại khu vực thuộc các huyện Đắk Hà, Đắk Tô, TP. Kon Tum.
2.3. Tiểu vùng Thượng
Đắk Bla
Tiểu vùng Thượng Đắk Bla có một phần
diện tích thuộc 05 huyện: Tu Mơ Rông, Đắk Hà, Kon Rẫy, Kon Plong thuộc tỉnh Kon
Tum và Kbang thuộc tỉnh Gia Lai. Các sông chính cấp nước cho các nhu cầu sử
dụng nước của vùng bao gồm: sông Đăk Bla, suối Măng Ke, sông Kon Keng, sông Đăk
Pơ Ne.
Toàn vùng hiện có 5 hồ chứa thủy lợi,
trong đó các hồ đều có dung tích dưới 1 triệu m³/s, riêng huyện Kbang chưa có
công trình hồ chứa tích trữ nước. Theo quy hoạch dự kiến bổ sung các hồ Dak Tô
Long, hồ Suối Lơ.
Tuy nhiên, trong các tháng 5, 6/2025 do
nắng nóng, thiếu hụt lượng mưa, một số khu vực nằm ngoài phạm vi cấp nước tưới
của các hồ chứa thủy lợi, các khu vực chưa có công trình hồ chứa tích trữ nước
vẫn có nguy cơ thiếu hụt nguồn nước, trong đó, một số khu vực có nguy cơ cao
xảy ra thiếu nước cấp cho nông nghiệp và sinh hoạt tại khu vực thuộc huyện
Đăk Hà, thuộc tỉnh Kon Tum và huyện Kbang thuộc tỉnh Gia Lai.
2.4. Tiểu vùng Hạ Đắk
Bla
Tiểu vùng Hạ Đắk Bla có một phần diện
tích thuộc 07 huyện/thành phố: Ia Grai, Đắk Đoa, Chư Păh, TP. Pleiku thuộc tỉnh
Gia Lai; Đắk Hà, Kon Rẫy, TP. Kon Tum thuộc tỉnh Kon Tum. Đây là vùng có mật độ
tập trung dân cư và kinh tế xã hội, nhu cầu khai thác, sử dụng nước nhiều.
Nguồn nước mặt và nước dưới đất tương đối dồi dào. Các sông chính cấp nước cho
các nhu cầu sử dụng nước của vùng bao gồm: sông Đắk Bla, Đắk Cấm, Đắk Ne.
Toàn vùng hiện có 24 hồ chứa thủy lợi,
trong đó có 9 hồ chứa có dung tích toàn bộ từ 1 triệu m³/s trở lên. Hiện trạng
nguồn nước trong các hồ chứa lớn đã tích được trên 90% so với dung tích thiết
kế (hồ Đăk Yên đạt 91% dung tích thiết kế, hồ Đăk Loh đạt 100% dung tích thiết
kế), có khả năng đáp ứng các nhu cầu sử dụng nước thuộc phạm vi cấp nước.
Tuy nhiên, trong các tháng 5, 6/2025 do
nắng nóng, thiếu hụt lượng mưa, các khu vực nằm ngoài phạm vi cấp nước tưới của
các hồ chứa thủy lợi, các khu vực chưa có hệ thống cấp nước chủ động từ các hồ
chứa thủy lợi, thủy điện trên tiểu vùng vẫn có nguy cơ cao thiếu hụt nguồn
nước.
2.5. Tiểu vùng Hạ Sê
San
Tiểu vùng Hạ Sê San có một phần diện
tích thuộc 07 huyện/thành phố: Ia Grai, Đức Cơ, Chư Păh, TP. Pleiku thuộc tỉnh
Gia Lai; Ia H'Drai, Sa Thầy, TP. Kon Tum thuộc tỉnh Kon Tum. Đây là vùng có mật
độ tập trung dân cư và kinh tế xã hội, nhu cầu khai thác, sử dụng nước nhiều.
Các sông chính cấp nước cho các nhu cầu sử dụng nước của vùng bao gồm: sông Sê
San (phía hạ lưu), sông Ia Krel, sông Ia Nhinh.
Toàn vùng hiện có 54 hồ chứa thủy lợi,
trong đó có 6 hồ chứa có dung tích toàn bộ từ 1 triệu m³/s trở lên và theo quy
hoạch dự kiến bổ sung các hồ Ia Kiâm 3, Làng Canh, Ia Rơ Dung. Hiện trạng nguồn
nước trong các hồ chứa lớn đã tích được trên 90% so với dung tích thiết kế (hồ
Biển Hồ đạt 99% dung tích thiết kế, hồ Đăk Yên đạt 91% dung tích thiết kế), có
khả năng đáp ứng các nhu cầu sử dụng nước thuộc phạm vi cấp nước.
Tuy nhiên, trong các tháng 5, 6/2025 do
nắng nóng, thiếu hụt lượng mưa, một số khu vực nằm ngoài phạm vi cấp nước tưới
của các hồ chứa thủy lợi, các khu vực chưa có công trình hồ chứa tích trữ nước
vẫn có nguy cơ thiếu hụt nguồn nước, trong đó, một số khu vực có nguy cơ cao
xảy ra thiếu nước cấp cho nông nghiệp và sinh hoạt tại khu vực thuộc các
huyện Ia Grai, Chư Păh, TP. Pleiku thuộc tỉnh Gia Lai và TP. Kon Tum thuộc tỉnh
Kon Tum.
2.6. Tiểu vùng Sa Thầy
Tiểu vùng Sa Thầy có một phần diện tích
thuộc 03 huyện/thành phố: Ia H'Drai, Sa Thầy, Ngọc Hồi thuộc tỉnh Kon Tum, là
tiểu vùng có nhu cầu sử dụng nước tương đối ít. Các sông chính cấp nước cho các
nhu cầu sử dụng nước của vùng bao gồm: sông Sa Thầy, sông Ia Tri.
Toàn vùng hiện có 7 hồ chứa thủy lợi,
trong đó các hồ đều có dung tích dưới 1 triệu m³/s. Hiện trạng nguồn nước trong
các hồ chứa thủy lợi cơ bản đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước của vùng, trong
các tháng mùa cạn năm 2025 ít có nguy cơ xảy ra tình trạng thiếu nước.
V. KẾT LUẬN,
KIẾN NGHỊ
Trên cơ sở kết quả dự báo xu thế diễn
biến nguồn nước mặt, nguồn nước dưới đất, khí tượng, thủy văn trên lưu vực sông
Sê San, nhu cầu sử dụng nước, yêu cầu về nguồn nước trên lưu vực phục vụ cấp
nước sinh hoạt, nông nghiệp, công nghiệp, thủy điện và các yêu cầu về bảo đảm
an ninh nguồn nước, an ninh lương thực trong kỳ công bố kịch bản, về tổng thể
nguồn nước các hồ chứa lớn, quan trọng, nguồn nước trên các tiểu vùng, tiểu lưu
vực sông cơ bản ở Trạng thái bình thường, lượng nước có thể khai
thác bảo đảm đủ cho các nhu cầu sinh hoạt, an sinh xã hội, các ngành kinh tế,
bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, nguồn nước trên lưu vực trong kỳ công bố
kịch bản vẫn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tình trạng thiếu nước nếu không khai thác,
sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả, trong đó:
- Nguồn nước của 03 hồ chứa Ialy,
Pleikrông, Sê San 4 cơ bản đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước phục vụ phát điện
theo kế hoạch trong mùa cạn năm 2025. Tuy nhiên, nếu duy trì dòng chảy liên tục
ở hạ du sông Sê San (sau Sê San 4A), thì nguy cơ cao sẽ xảy ra tình trạng thiếu
hụt nguồn nước, ảnh hưởng đến vấn đề bảo đảm an ninh năng lượng và an toàn của
hệ thống công trình thủy điện trên lưu vực sông Sê San, đặc biệt vào các tháng
cuối mùa cạn, xảy ra nắng nóng diện rộng, ít mưa.
Hiện nay, phía hạ du sông Sê San (bên
phía Campuchia) có công trình thủy điện Hạ Sê San 2 đã đi vào vận hành cuối năm
2017, công suất 400MW, dung tích hồ chứa khoảng 2,715 tỷ m³, tuyến đập nằm cách
biên giới Việt Nam khoảng 250km, đuôi hồ chứa cách biên giới Việt Nam khoảng
150km. Với dung tích lớn, hồ chứa thủy điện Hạ Sê San 2 điều tiết lại được
nguồn nước sẽ giảm áp lực về đảm bảo duy trì dòng chảy trên sông Sê San của hệ
thống hồ chứa phía Việt Nam.
- Một số khu vực thuộc các huyện
Kbang, Ia Grai, Đắk Đoa, Chư Păh, TP. Pleiku thuộc tỉnh Gia Lai; Đắk Hà, Kon
Rẫy, TP. Kon Tum thuộc tỉnh Kon Tum vẫn có khả năng xảy ra thiếu nước
cục bộ nguyên nhân chính là do thiếu các công trình khai thác nước, công trình,
hệ thống công trình thủy lợi, nắng nóng, thiếu hụt lượng mưa trong các tháng 5,
6/2025.
Để giảm thiểu nguy cơ có thể xảy ra
thiếu nước, đặc biệt là ưu tiên đảm bảo cấp nước cho sinh hoạt trong mọi tình
huống, Bộ Tài nguyên và Môi trường đề nghị:
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn, Bộ Xây dựng, Bộ Công Thương và Ủy ban nhân dân các tỉnh Gia Lai, Kon Tum
trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, chỉ đạo việc chủ động lập kế hoạch khai
thác, sử dụng tài nguyên nước theo nhu cầu sử dụng nước bình thường của
từng ngành, lĩnh vực và địa phương [8]. Tuy nhiên, các kế hoạch sử dụng nước
phải lập trên nguyên tắc tiết kiệm nước, tránh thất thoát, lãng phí,
dự phòng nguy cơ xảy ra hạn hán thiếu nước trong các tháng cuối mùa cạn.
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn
- Tổ chức, chỉ đạo, đôn đốc các địa
phương rà soát, nâng cao năng lực hệ thống các hồ chứa thủy lợi, điều chỉnh các
quy trình vận hành công trình, hệ thống công trình thủy lợi bảo đảm sử dụng
nước tiết kiệm, hiệu quả, đa mục tiêu, và bảo đảm lưu thông dòng chảy, không
gây ứ đọng, ô nhiễm nguồn nước.
- Chỉ đạo rà soát, chuyển đổi cơ cấu cây
trồng phù hợp với điều kiện nguồn nước của từng tiểu vùng trên lưu vực. Đặc
biệt là các khu vực có nguồn nước dưới đất hạn chế, khu vực khó khăn để khai
thác nguồn nước mặt (khu vực có địa hình có độ dốc lớn, bị chia cắt), khu vực
thiếu các công trình tích trữ nước, hệ thống công trình thủy lợi chưa đáp ứng
nhu cầu cho sản xuất nông nghiệp.
3. Bộ Công Thương
Chỉ đạo Tập Đoàn điện lực Việt Nam, Công
ty TNHH MTV Vận hành hệ thống điện và thị trường điện Quốc gia xây dựng kế
hoạch vận hành các hồ chứa thủy điện đáp ứng nhu cầu nước sử dụng nước ở hạ du
các hồ chứa trên cơ sở tuân thủ quy định của Quy trình vận hành liên hồ chứa
trên lưu vực. Đồng thời, rà soát, điều chỉnh kế hoạch huy động điện của các nhà
máy thủy điện trên lưu vực sông bảo đảm phù hợp với điều kiện, khả năng của
nguồn nước và bảo đảm nguồn nước cấp cho hạ du đến cuối mùa cạn năm 2025.
Đồng thời, rà soát, nghiên cứu, đánh giá
hiện trạng dòng chảy trên lưu vực sông Sê San, hiện trạng khai thác, sử dụng
nước ở hạ du làm cơ sở tính toán, đề xuất giá trị dòng chảy cần duy trì dòng
chảy về phía hạ du Campuchia cho phù hợp với năng lực, an toàn hệ thống công
trình thủy điện trên lưu vực, an ninh năng lượng và hiện trạng công trình khai
thác, sử dụng và công trình điều tiết trên sông Sê San phía hạ lưu Campuchia.
4. Bộ Xây dựng phối hợp với Ủy ban nhân
dân các tỉnh Gia Lai, Kon Tum chỉ đạo, triển khai công tác bảo đảm cấp nước
sinh hoạt cho người dân và cấp nước cho sản xuất ở đô thị, khu, cụm công
nghiệp, khu công nghệ cao.
5. Đối với Ủy ban nhân dân các tỉnh Gia
Lai, Kon Tum
- Rà soát, nâng cao năng lực hệ thống
các hồ chứa thủy lợi, điều chỉnh các quy trình vận hành công trình, hệ thống
công trình thủy lợi bảo đảm sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, đa mục tiêu và
bảo đảm lưu thông của dòng chảy trong hệ thống công trình, không gây ứ đọng, ô
nhiễm nguồn nước.
- Xây dựng các công trình điều tiết, trữ
nước trong quy hoạch về tài nguyên nước, quy hoạch thủy lợi và các quy hoạch
khác có liên quan, ưu tiên các tiểu vùng có nguy cơ xảy ra hạn hán, thiếu nước (tiểu
vùng Trung Sê San, Thượng Đắk Bla, Hạ Đắk Bla và Hạ Sê San).
- Phát triển hệ thống ao, hồ nhỏ và các
công trình trữ nước quy mô hộ gia đình, công trình thu trữ nước trên đất dốc;
ứng dụng tưới tiên tiến, tiết kiệm nước để mở rộng diện tích tưới; khai thác hợp
lý và bảo vệ tài nguyên nước dưới đất.
- Xây dựng, nâng cấp hệ thống dẫn nước
từ các hồ chứa thủy lợi, đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn nước, tránh thất thoát,
lãng phí; đối với các hồ chứa thủy lợi vừa và nhỏ chỉ điều tiết nước cho hoạt
động tưới khi thực sự có nhu cầu.
- Giám sát chặt chẽ yêu cầu xả dòng chảy
về hạ du các hồ chứa thủy điện trên lưu vực, đặc biệt là hồ Thượng Kon Tum.
- Tại các khu vực thường xuyên xảy ra
hạn hán, thiếu nước thuộc các huyện: Đắk Tô, Đắk Hà, Đăk Glei, Tu Mơ Rông, Kon
Plông, Kbang (tỉnh Kon Tum); Đăk Đoa, Ia Grai, Đức Cơ, Kbang, TP. Pleiku (tỉnh
Gia Lai) cần đầu tư xây dựng hệ thống hồ chứa, đập dâng; cải tạo, nâng cấp hệ
thống công trình thủy lợi; xây dựng, nâng cao năng lực cấp nước của các nhà máy
cấp nước tập trung để đảm bảo cấp nước sinh hoạt cho người dân.
- Đối với Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai:
nâng cấp, cải tạo mạng lưới cấp nước của các nhà máy nước khai thác nguồn nước
Biển Hồ A (Nhà máy nước Biển Hồ, Nhà máy nước Sài Gòn Pleiku), giảm tỷ lệ thất
thoát nước trong hệ thống, đảm bảo cấp nước an toàn, ổn định cho người dân.
- Phát triển hệ thống ao, hồ nhỏ và các
công trình trữ nước quy mô hộ gia đình, công trình thu trữ nước trên đất dốc;
ứng dụng tưới tiên tiến, tiết kiệm nước để mở rộng diện tích tưới, đồng thời rà
soát, chuyển đổi cơ cấu cây trồng nhằm giảm nhu cầu sử dụng nước tưới tại các
khu vực thường xuyên xảy ra hạn hán, thiếu nước.
- Khai thác hợp lý và bảo vệ tài nguyên
nước dưới đất; tăng cường giám sát chặt chẽ việc khai thác nước dưới đất, trong
đó lưu ý việc khai thác nước dưới đất để tưới cho các cây công nghiệp; có giải
pháp khai thác luân phiên nguồn nước mặt và nguồn nước dưới đất, tránh việc
khai thác nước dưới đất quá mức gây suy thoái, cạn kiệt nguồn nước.
- Sớm hoàn thiện việc kiểm kê tài nguyên
nước trong đó có nội dung kiểm kê các công trình khai thác nước dưới đất trên
toàn bộ lưu vực sông (theo Quyết định số 1670/QĐ-TTg ngày 27/12/2024 của Thủ
tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số
1383/QĐ-TTg ngày 04/8/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tổng kiểm kê
tài nguyên nước quốc gia, giai đoạn đến năm 2025); khẩn trương rà soát, phê
duyệt kế hoạch bảo vệ nước dưới đất trong đó xác định vùng cấm, vùng hạn chế
khai thác nước dưới đất đối với các khu vực, các tầng chứa nước.
- Tăng cường điều tra, tìm kiếm, đánh
giá các khu vực, nguồn nước dưới đất có tiềm năng bổ cập và khai thác để bố
trí, xây dựng các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung; nghiên cứu, ứng dụng
các giải pháp tích trữ nước mưa, nước mặt, bổ sung nhân tạo nước dưới đất để
phục vụ cấp nước trong mùa khô.
PHỤ
LỤC
PHẠM VI XÂY DỰNG KỊCH BẢN
(Kèm theo Kịch bản nguồn nước (lần đầu) trên lưu vực sông Sê San theo Quyết
định số 163/QĐ-BTNMT ngày 14 tháng 01 năm 2025 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và
Môi trường)

Sơ đồ phạm
vi xây dựng kịch bản lưu vực sông Sê San
(phần diện tích thuộc lãnh thổ Việt Nam)
|
TT
|
Tiểu vùng
|
Diện tích (km²)
|
Phạm vi
|
|
I
|
Thượng Đắk Bla
|
1.514
|
03 xã huyện Kbang
thuộc tỉnh Gia Lai; 01 xã huyện Tu Mơ Rông, 01 xã huyện Đắk Hà, 03 xã huyện
Kon Rẫy, 06 xã huyện Kon Plong thuộc tỉnh Kon Tum
|
|
II
|
Hạ Đắk Bla
|
1.886
|
1 xã huyện Ia Grai,
14 xã huyện Đắk Đoa, 5 xã huyện Chư Păh, 19 xã/phường TP. Pleiku thuộc tỉnh
Gia Lai; 5 xã huyện Đắk Hà, 4 xã huyện Kon Rẫy, 21 xã/phường TP. Kon Tum
thuộc tỉnh Kon Tum
|
|
III
|
Thượng Sê San
|
1.051
|
1 xã huyện Ngọc Hồi,
8 xã huyện Đắk Glei, 4 xã huyện Tu Mơ Rông thuộc tỉnh Kon Tum
|
|
IV
|
Trung Sê San
|
2.361
|
1 xã huyện Sa Thầy; 5
xã huyện Ngọc Hồi, 6 xã huyện Tu Mơ Rông, 5 xã huyện Đắk Hà, 9 xã huyện Đắk
Tô, 1 xã TP. Kon Tum thuộc tỉnh Kon Tum
|
|
V
|
Hạ Sê San
|
3.132
|
12 xã huyện Ia Grai,
7 xã huyện Đức Cơ, 10 xã huyện Chư Păh, 3 xã TP. Pleiku thuộc tỉnh Gia Lai; 2
xã huyện Ia H'Drai, 10 xã huyện Sa Thầy, 2 xã TP. Kon Tum thuộc tỉnh Kon Tum
|
|
VI
|
Sa Thầy
|
1.504
|
3 xã huyện Ia H'Drai,
2 xã huyện Sa Thầy, 2 xã huyện Ngọc Hồi thuộc tỉnh Kon Tum
|
|
|
Tổng cộng
|
11.450
|
|