|
|
Bản dịch này thuộc quyền sở hữu của
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Mọi hành vi sao chép, đăng tải lại mà không có sự đồng ý của
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT là vi phạm pháp luật về Sở hữu trí tuệ.
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT has the copyright on this translation. Copying or reposting it without the consent of
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT is a violation against the Law on Intellectual Property.
X
CÁC NỘI DUNG ĐƯỢC SỬA ĐỔI, HƯỚNG DẪN
Các nội dung của VB này được VB khác thay đổi, hướng dẫn sẽ được làm nổi bật bằng
các màu sắc:
: Sửa đổi, thay thế,
hủy bỏ
Click vào phần bôi vàng để xem chi tiết.
|
|
|
|
Đang tải văn bản...
|
Số hiệu:
|
6805/BYT-PC
|
|
Loại văn bản:
|
Công văn
|
|
Nơi ban hành:
|
Bộ Y tế
|
|
Người ký:
|
Đào Hồng Lan
|
|
Ngày ban hành:
|
03/10/2025
|
|
Ngày hiệu lực:
|
Đã biết
|
|
Tình trạng:
|
Đã biết
|
Kính
gửi: Các cơ quan, tổ chức (danh sách kèm theo)
Bộ Y tế nhận được các phản ánh,
kiến nghị liên quan đến vướng mắc, bất cập của văn bản quy phạm pháp luật thuộc
lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Y tế do Bộ Tư pháp tổng hợp, chuyển đến. Thực
hiện Thông báo Kết luận số 08-TB/BCĐTW ngày 8/8/2025 về Kết luận của Tổng bí
thư Tô Lâm, Trưởng Ban chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật tại
Phiên họp chuyên đề của Ban chỉ đạo, Bộ Y tế xin gửi ý kiến trả lời của Bộ đến
các cơ quan, tổ chức có kiến nghị, phản ánh thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của
Bộ Y tế mà kết quả rà soát cho thấy không phải khó khăn, vướng mắc do quy định
pháp luật (chi tiết nội dung trả lời tại các Phụ lục kèm theo Công văn này).
Bộ Y tế mong tiếp tục nhận được
các ý kiến phản ánh, kiến nghị để hoàn thiện hệ thống pháp luật trong thời gian
tới.
Trân trọng cảm ơn./.
|
Nơi nhận:
- Như trên;
- Bộ Tư pháp (để tổng hợp);
- Các Thứ trưởng;
- Vụ, Cục, Văn phòng Bộ;
- Cổng TTĐT Bộ Y tế;
- Lưu: VT, PC.
|
BỘ TRƯỞNG
Đào Hồng Lan
|
DANH SÁCH CƠ QUAN, TỔ CHỨC NHẬN CÔNG VĂN
(Kèm
theo Công văn số 6805/BYT-PC ngày 03 tháng 10 năm 2025 của Bộ Y tế)
1. Sở Tư pháp thành phố Hà Nội
2. Sở Tư pháp thành phố Đà Nẵng
3. Sở Tư pháp thành phố Hải
Phòng
4. Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An
5. Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh
6. Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh
7. Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi
8. Sở Tư pháp tỉnh Cao Bằng
9. Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ
10. Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai
11. Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên
12. Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh
13. Liên đoàn Thương mại và
Công nghiệp Việt Nam (VCCI)
14. Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam
15. Hiệp hội Dược Việt Nam
16. Công ty Medochemie
17. Công ty Dược Yên Bái
18. Trường Cao đẳng Luật Miền
Trung
Phụ lục V.9.1.C
CHO Ý KIẾN ĐỐI VỚI KẾT QUẢ RÀ SOÁT KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC
DO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT THUỘC PHẠM VI PHỤ TRÁCH CỦA BỘ Y TẾ
Tiêu chí: Quy định mâu thuẫn, chồng chéo trong
cùng một VBQPPL hoặc giữa các VBQPPL
Nhóm
C. Nhóm các nội dung cho ý kiến không nhất trí
|
STT
|
Điều, khoản, điểm, tên văn bản đề xuất xử lý
|
Nội dung quy định được phản ánh mâu thuẫn, chồng chéo
|
Phương án xử lý được đề xuất
|
Cơ quan, tổ chức rà soát, phản ánh
|
Ý kiến của Bộ Y tế về nội dung rà soát, phản ánh
|
Tình hình trả lời phản ánh, kiến nghị sau Báo cáo 76-BC/ĐU[1]
|
|
1
|
Điều 53a Luật
Dược 2024, số 44/2024/QH15 (sửa đổi) được ban hành vào tháng 06/2024 có
quy định cơ sở kinh doanh dược có vốn đầu tư nước ngoài không được phép thực
hiện các hoạt động “liên quan trực tiếp đến phân phối thuốc, nguyên liệu làm
thuốc tại Việt Nam”, trong đó có hoạt động “vận chuyển, nhận bảo quản thuốc,
nguyên liệu làm thuốc”, ngoại trừ vận chuyển thuốc đến cơ sở bán buôn và
trong chương trình viện trợ, tài trợ.
|
Việc mở rộng khái niệm “phân
phối thuốc” để bao gồm cả những hoạt động vận chuyển, nhận bảo quản thuốc,
nguyên liệu làm thuốc là không hợp lý vì những lý do sau:
- Mâu thuẫn với quy định của
pháp luật về thương mại và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia: Theo
pháp luật về thương mại và quản lý ngoại thương, các dịch vụ vận chuyển, lưu
kho, lưu bãi thuộc nhóm dịch vụ logistics, không phải là hoạt động phân phối.
Pháp luật đầu tư và các cam kết của Việt Nam trong các hiệp định thương mại tự
do cũng không hạn chế các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FIE) đầu tư
vào các hoạt động kho bãi, bảo quản.
- Làm hạn chế sự phát triển của
doanh nghiệp và thị trường dược phẩm trong nước: Thực tiễn phát triển ngành
dược trong thời gian qua cho thấy, việc bảo hộ cho hoạt động phân phối dược
phẩm có những tác động tích cực nhất định đối với sự phát triển của doanh
nghiệp trong nước; tuy nhiên lại hạn chế khả năng tiếp cận của doanh nghiệp
trong nước với kinh nghiệm, công nghệ tiên tiến cũng như nguồn lực tài chính
từ nhà đầu tư nước ngoài. Cho đến nay, Việt Nam là nước duy nhất trong khu vực
ASEAN chưa cam kết mở cửa cho dịch vụ phân phối thuốc. Hầu hết các quốc gia
trong khu vực và trên thế giới, đặc biệt là những quốc gia có ngành công nghiệp
dược phát triển nhanh những năm gần đây như Ấn Độ, Trung Quốc, Singapore, Hàn
Quốc, đều đã mở cửa một phần hay toàn bộ cho doanh nghiệp nước ngoài được đầu
tư vào phân phối thuốc và nguyên liệu làm thuốc.
- Làm giảm tính hiệu quả của
thị trường dược phẩm, tăng giá thuốc, ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân:
Việc hạn chế doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được tham gia phân phối
thuốc, đặc biệt là thuốc Việt Nam chưa sản xuất được và/hoặc chưa đủ năng lực
để đảm bảo các điều kiện bảo quản khắt khe, đã tạo nên những bất cập trong
chuỗi cung ứng thuốc do có sự tham gia của nhiều bên dẫn đến gia tăng chi phí
hoạt động, ảnh hưởng đến giá thuốc và khả năng tiếp cận thuốc của người dân.
- Cản trở mục tiêu xây dựng nền
kinh tế thị trường: Kinh tế thị trường là nền kinh tế mở, khuyến khích sự cạnh
tranh, là động lực thúc đẩy sự phát triển. Trong bối cảnh Việt Nam đang nỗ lực
theo đuổi mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường, việc đối xử công bằng, tạo
nên môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế là một trong
những yếu tố thiết yếu. Trong khi đó, quy định này tạo nên những rào cản đáng
kể đối với các doanh nghiệp có vốn ĐTNN trong lĩnh vực dược phẩm, dẫn đến sự
phân biệt đối xử rõ rệt giữa các thành phần doanh nghiệp, và do đó, sẽ góp phần
làm cản trở mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường của Việt Nam.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Liên đoàn Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam (VCCI)
|
Không nhất trí vì chính sách,
pháp luật được xây dựng để bảo vệ quyền và lợi ích của người dân Việt Nam.
Quyền phân phối thuốc của các
cơ sở kinh doanh dược có vốn đầu tư nước ngoài đã được Chính phủ và Quốc hội
thảo luận rất kỹ trong quá trình xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Dược 2016 và đã thống nhất quy định phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp
này trong Luật Dược số 44/2024/QH15. Việc quy định phạm vi phân phối này phù
hợp với cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO và cũng mở rộng hơn so các quy
định tại Luật Dược 2016 để nhằm thu hút đầu tư nước ngoài nhưng vẫn đảm bảo
được vấn đề an ninh y tế của Việt Nam.
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế
|
|
2
|
Điểm b Khoản 1
Điều 48 Luật Dược số 105/2016/QH13 Điểm d Khoản 1 Điều 1
Luật Dược số 44/2025/QH15 Điểm a Khoản 2 Điều 52 Thông tư
số 12/2025/TT-BYT
|
Điểm d Khoản 1
Điều 1 Luật Dược số 44/2025/QH15: “Thuốc không kê đơn là thuốc khi cấp
phát, bán lẻ, sử dụng không cần đơn thuốc, được xác định theo nguyên tắc,
tiêu chí do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành và thuộc Danh mục thuốc không kê đơn
do Bộ Y tế công bố”. Điểm b Khoản 1 Điều 48 Luật Dược số
105/2016/QH13: Phạm vi kinh doanh của quầy thuốc ‘Mua và bán lẻ thuốc thuộc
Danh mục thuốc thiết yếu và Danh mục thuốc không kê đơn, trừ vắc xin’ Tuy
nhiên, Điểm a Khoản 2 Điều 52 Thông tư số 12/2025/TT-BYT
đã bãi bỏ nội dung về thuốc hóa dược, sinh phẩm, thuốc dược liệu quy định tại
Thông tư số 07/2017/TT-BYT
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Sở Tư pháp tỉnh Hải Phòng
|
Kiến nghị không chính xác vì:
Điểm c khoản 2 Điều 56 Luật Dược năm 2016 (sửa đổi, bổ
sung năm 2024) đã quy định: Bộ Y tế công khai trên Cổng thông tin điện tử của
Bộ Y tế thông tin về Thuốc không kê đơn sau khi được cấp giấy đăng ký lưu
hành thuốc.
Như vậy, thay vì ban hành
Thông tư để quy định danh mục thuốc không kê đơn thì Luật đã quy định Bộ Y tế
đăng tải trên cổng thông tin điện tử về loại thuốc này, do đó, Bộ Y tế bãi bỏ
Thông tư số 07/2017/TT-BYT là phù hợp.
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế
|
|
3
|
Khoản 1 Điều
23 Luật Dược số 105/2016/QH15 Khoản 2 Điều 24 Thông tư số
31/2025/TT-BYT Điều 12 Luật Dược số 105/2016/QH15
|
Khoản 1 Điều
23 Luật Dược số 105/2016/QH15 quy định: Giám đốc Sở Y tế thành lập Hội đồng
tư vấn cấp Chứng chỉ hành nghề dược có sự tham gia của đại diện hội về dược để
tư vấn cho Giám đốc Sở Y tế trong việc cấp, cấp lại, thu hồi Chứng chỉ hành
nghề dược; Khoản 2 Điều 24 Thông tư số 31/2025/TT-BYT: Hội
đồng tư vấn cấp Chứng chỉ hành nghề dược có trách nhiệm tư vấn cho Cơ quan cấp
Chứng chỉ hành nghề dược trong việc cấp, cấp lại, thu hồi Chứng chỉ hành nghề
dược; Điều 12 Luật Dược số 105/2016/QH15 quy định các trường
hợp: cấp, cấp lại, điều chỉnh nội dung chứng chỉ hành nghề dược Như vậy, trường
hợp điều chỉnh nội dung chứng chỉ hành nghề dược không được quy định trong
trách nhiệm của Hội đồng tư vấn cấp chứng chỉ hành nghề dược trong khi một số
nội dung đề nghị điều chỉnh trong chứng chỉ hành nghề rất cần sự tư vấn của Hội
đồng (ví dụ: thay đổi phạm vi hành nghề …)
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Sở Tư pháp tỉnh Hải Phòng
|
Không nhất trí, vì đây là vấn
đề tổ chức thực hiện
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế
|
|
4
|
Điểm a khoản
19 Điều 1 Luật số 90/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung khoản 1
Điều 31 Luật đấu thầu số 22/2023/QH15. Khoản 7 Điều 1 của
Thông tư số 24/2025/TT-BYT ngày 30/6/2025 của Bộ Y tế
|
"Phương thức một giai đoạn
hai túi hồ sơ được áp dụng trong các trường hợp sau đây: …. c) Đấu thầu rộng
rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu mua thuốc, vật tư y tế, thiết bị y tế."
Sửa đổi cụm từ "vật tư y tế" và cụm từ "trang thiết bị y tế"
thành cụm từ "thiết bị y tế" tại toàn bộ các điều, khoản, điểm, phụ lục của Thông tư số
04/2017/TT-BYT
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An
|
Không rõ nội dung kiến nghị
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế
|
|
5
|
(1) Theo Luật Ngân sách: Ngân
sách cấp nào sẽ chi cho ngân sách cấp đó; (2) Quyết định số 588/QĐ- TTg ngày 28/04/2020
của Thủ tướng chính phủ Phê duyệt "Chương trình Điều chỉnh mức sinh phù
hợp các vùng, đối tượng đến năm 2030"; (3) Quyết định Số 2324/QĐ-BYT
ngày 5/6/2020 của Bộ Y tế "Ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Chương
trình Điều chỉnh mức sinh phù hợp các vùng, đối tượng đến năm 2030".
|
1) Quyết định số 588//QĐ-TTg
ngày 28/04/2020 của Thủ tướng chính phủ Phê duyệt "Chương trình Điều chỉnh
mức sinh phù hợp các vùng, đối tượng đến năm 2030", ở Mục
III. Kinh phí thực hiện ghi rõ: "Kinh phí thực hiện Chương trình do
ngân sách nhà nước bảo đảm theo khả năng cân đối ngân sách trong từng thời kỳ,
theo phân cấp ngân sách hiện hành, được bố trí trong dự toán chi của các cơ
quan, đơn vị được giao nhiệm vụ thực hiện công tác dân số theo quy định của
Luật ngân sách nhà nước và từ các nguồn kinh phí hợp pháp khác. Trong đó,
Ngân sách trung ương tiếp tục bảo đảm đủ chi phí dịch vụ kế hoạch hóa gia
đình bao gồm cả phương tiện tránh thai cấp cho người dân tại các địa phương
có mức sinh cao và đối tượng ưu tiên; một số khuyến khích người dân sinh ít
con hơn tại địa phương có mức sinh cao, sinh đủ hai con tại địa phương có mức
sinh thấp."
2) Quyết định Số 2324/QĐ- BYT
ngày 5/6/2020 của Bộ Y tế "Ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Chương
trình Điều chỉnh mức sinh phù hợp các vùng, đối tượng đến năm 2030", ở Mục VII. Kinh phí thực hiện ghi rõ: "1. Nguồn kinh phí
Kinh phí thực hiện Kế hoạch do ngân sách nhà nước bảo đảm theo khả năng cân đối
ngân sách trong từng thời kỳ, theo phân cấp ngân sách hiện hành, được bố trí
trong dự toán chi của các cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ thực hiện công
tác dân số theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và từ các nguồn kinh phí
hợp pháp khác. Ngân sách trung ương tiếp tục bảo đảm đủ chi phí dịch vụ kế hoạch
hóa gia đình bao gồm cả phương tiện tránh thai cấp cho người dân tại các địa
phương có mức sinh cao và đối tượng ưu tiên; một số khuyến khích người dân
sinh ít con hơn tại địa phương có mức sinh cao, sinh đủ hai con tại địa
phương có mức sinh thấp.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An
|
Đây không phải là các văn bản
quy phạm pháp luật không thuộc phạm vi rà soát
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế
|
|
6
|
Pháp lệnh sửa đổi Điều 10 Pháp lệnh Dân số
|
Tại Điều 1
quy định “Điều 10. Quyền và nghĩa vụ của mỗi cặp vợ chồng, cá nhân trong việc
thực hiện cuộc vận động dân số và kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe
sinh sản:…2. Sinh một hoặc hai con, trừ trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy
định”. Tuy nhiên, ngày 17/02/2025, Văn phòng Trung ương Đảng ban hành Công
văn số 13421-CV/VPTW về việc thực hiện sơ kết Nghị quyết số 21-NQ/TW về công
tác dân số trong tình hình mới và sửa đổi các qui định của Đảng và Nhà nước
liên quan đến chính sách dân số, trong đó Bộ Chính trị giao Đảng ủy Quốc hội,
Đảng ủy Chính phủ khẩn trương rà soát, sửa đổi các văn bản pháp luật có qui định
về số con
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi
|
Kiến nghị không chính xác,
vì: Ngày 03/6/2025, UBTVQH đã ban hành Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15 sửa đổi,
bổ sung Điều 10 của Pháp lệnh dân số năm 2003, theo đó,
Pháp lệnh này đã bãi bỏ quy định “sinh một hoặc hai con, trừ trường hợp đặc
biệt do Chính phủ quy định” theo đúng chỉ đạo của Đảng.
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế
|
|
7
|
Nghị định số 98/2021/NĐ-CP
ngày 08/11/2021 của Chính phủ về quản lý thiết bị y tế có các quy định mâu
thuẫn tại Điều 1.2.đ và Điều 48.1.a Dự thảo Luật Trang
thiết bị y tế mới
|
Nghị định số
98/2021/NĐ-CP Điều 1. Phạm vi áp dụng 2. Nghị định này không áp dụng đối với:
đ) Các sản phẩm dùng trong y tế với mục đích nghiên cứu (Research Use Only -
RUO), các sản phẩm dùng trong phòng thí nghiệm (Laboratory Use Only - LUO).
Điều 48. Giấy phép nhập khẩu 1. Các trường hợp phải có giấy
phép nhập khẩu: a) Trang thiết bị y tế chưa có số lưu hành nhập khẩu chỉ để
phục vụ nghiên cứu khoa học, kiểm định, kiểm nghiệm, khảo nghiệm, đánh giá chất
lượng hoặc đào tạo hướng dẫn việc sử dụng, hướng dẫn sửa chữa trang thiết bị
y tế; Hiện này, các nghiên cứu lâm sàng thuốc, trang thiết bị y tế tại Việt
Nam đều phải trải qua quá trình phê duyệt đề cương và thuyết minh nghiên cứu
rất chi tiết, bao gồm đầy đủ mọi thông tin về chủng loại, số lượng các sản phẩm
thuốc và trang thiết bị cần nhập khẩu để sử dụng trong nghiên cứu. Tuy nhiên,
sau khi đề cương và thuyết minh nghiên cứu đã được phê duyệt, việc xin phép
nhập khẩu cho từng thiết bị sử dụng trong từng nghiên cứu lâm sàng thuốc theo
quy định của Điều 48 Nghị định 98 lại làm cho thời gian
khởi động nghiên cứu bị kéo dài thêm nữa sau khi đã trải qua quá trình phê
duyệt đề cương vốn rất kỹ lưỡng và kéo dài. Đặc biệt, việc nhập khẩu các bộ
labkit và các thiết bị chỉ dung trong nghiên cứu lại càng khó khăn hơn do các
đối tượng này không nằm trong phạm vi quản lý của Nghị định 98 và 03 về Quản
lý Thông tin Bộ Y tế (theo Điều 1), trong khi cơ quan Hải
quan lại cần những xác nhận của Bộ Y tế rằng các labkit đó là đối tượng được
phép nhập khẩu (theo Điều 48).
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Liên đoàn Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam (VCCI)
|
Không nhất trí, vì: cấp giấy
phép nhập khẩu trang thiết bị y tế chưa có số lưu hành dùng nhập khẩu chỉ để
phục vụ nghiên cứu khoa học tuy không được quy định tại Điều
2 phạm vi áp dụng nhưng lại được quy định tại Điều 24
(miễn công bố tiêu chuẩn và miễn đăng ký lưu hành), Điều 48,
57 (miễn kiểm định lần đầu) Nghị định số 98/2021/NĐ-CP. Do đó, việc không
được quy định tại Điều 2 không ảnh hưởng đến việc các sản
phẩm này phải tuân thủ quy định về cấp giấy phép nhập khẩu. Bên cạnh đó, Nghị
định số 69/2018/NĐ-CP hướng dẫn Luật Quản lý ngoại thương đã xác định loại
thiết bị này phải được quản lý bằng hình thức giấy phép nhập khẩu (mục VII Phụ lục III)
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế
|
|
8
|
Điều 1 Nghị định
số 117/2007/NĐ-CP ngày 11/7/2007; Điều 2 QCVN 01-
1:2024/BYT ban hành kèm theo Thông tư số 52/2024/TT-BYT
|
Tại điểm b
khoản 1 Điều 19, điểm b khoản 1 Điều 22, khoản 1 Điều 28, khoản 5 Điều 32 Luật
ATTP quy định: Có đủ nước đạt quy chuẩn kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh
doanh thực phẩm. Tuy nhiên phạm vi áp dụng tại Nghị định 117/2007/NĐ-CP và
Thông tư số 52/2024/TT-BYT lại không quy định áp dụng đối với các tổ chức, cá
nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm sử dụng nước tự khai thác từ giếng khoan,
giếng đào, nước suối, bể chứa,... (chỉ quy định đối với đơn vị cấp nước tập
trung và đơn vị sử dụng nước từ đơn vị cấp nước tập trung).
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An
|
Phản ánh không chính xác, vì:
'- Điểm b khoản 1 Điều 29, điểm b khoản 1 Điều 22… về yêu
cầu có đủ nước đạt quy chuẩn kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh doanh thực phẩm
đã được hướng dẫn tại Công văn số 5845/BCT-KHCN ngày 03/7/2013 của Bộ Công
thương, theo đó, mục 8 Công văn này đã hướng dẫn Tiêu chuẩn
mẫu nước phù hợp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) về chất lượng nước
sinh hoạt số 02:2009/BYT. (hiện nay, Tiêu chuẩn này đã được thay thế bằng
Tiêu chuẩn ban hành kèm theo Thông tư số 52/2024/TT-BYT).
- Khoản 2 Điều
2 Thông tư số 52/2024/TT-BYT quy định: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia này
không áp dụng đối với nước uống trực tiếp tại vòi, nước khoáng thiên nhiên
đóng chai và nước uống đóng chai được sử dụng với mục đích giải khát, nước sản
xuất ra từ các bình lọc nước, hệ thống lọc nước và các loại nước không dùng
cho mục đích sinh hoạt.
Như vậy, Thông tư này không
loại trừ các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm sử dụng nước tự khai thác
như phản ánh, kiến nghị. Mặt khác, khoản 1 Điều 3, khoản 2 Điều
8 Thông tư đã quy định: Nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt là nước
đã qua xử lý có chất lượng bảo đảm, đáp ứng yêu cầu sử dụng cho mục đích ăn uống,
vệ sinh của con người.
Đơn vị cấp nước; đơn vị sử dụng
nước; đơn vị, hộ gia đình tự khai thác sử dụng trên toàn lãnh thổ Việt Nam phải
tuân thủ các quy định tại quy chuẩn kỹ thuật quốc gia này.
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế
|
|
9
|
Nghị định số 15/2018/NĐ-CP
ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật
An toàn thực phẩm
|
Tại khoản 10
Điều 3 Nghị định số 15/2018/NĐ-CP quy định “Cơ sở kinh doanh thực phẩm nhỏ
lẻ là cơ sở do cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình thực hiện đăng ký hộ kinh
doanh và cơ sở không được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng
nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy chứng nhận đầu tư theo quy định của pháp
luật”
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi
|
Kiến nghị không rõ nội dung,
hiện tại Bộ Y tế đang rà soát tổng thể, sửa đổi Nghị định 15/2018/NĐ-CP
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế
|
|
10
|
Điều 6 Nghị định
số 98/2020/NĐ-CP 26/8/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành
chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng
|
Chồng chéo về hành vi vi phạm
về điều kiện đầu tư kinh doanh trong hoạt động kinh doanh ngành, nghề đầu tư
kinh doanh có điều kiện với với khoản 2 Điều 39 Nghị định số
99/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dầu khí,
kinh doanh xăng dầu và khí; Điều 54 Nghị định số
117/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế; Điều 22 Nghị định số 31/2023/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm
hành chính về trồng trọt
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Sở Tư pháp tỉnh Cao Bằng
|
Phản ánh không chính xác, vì:
- Điểm b khoản
2 Điều 4 Nghị định số 118/2021/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện
pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính ngày 23/12/2021 của Chính phủ (sửa
đổi, bổ sung tại Nghị định số 68/2025/NĐ-CP, Nghị định 190/2025/NĐ-CP) đã
quy định về vấn đề quy định các hành vi vi phạm hành chính tại các Nghị định
xử phạt vi phạm hành chính như sau: b) Trường hợp hành vi vi phạm hành chính
đã được quy định ở lĩnh vực này nhưng có liên quan đến lĩnh vực khác, thì quy
định dẫn chiếu hành vi vi phạm, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc
phục hậu quả đã quy định, đồng thời quy định thẩm quyền xử phạt đối với hành
vi đó. Nếu do tính chất đặc thù liên quan đến lĩnh vực, địa điểm vi phạm, hậu
quả của hành vi và các yếu tố, điều kiện khách quan khác thì có thể quy định
hành vi vi phạm, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả
gắn với tính chất đặc thù của hành vi đó
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế
|
|
11
|
Khoản 6 Điều
21 Nghị định 115/2020/NĐ-CP Không bố trí, phân công công tác đối với người
được tuyển dụng đang trong thời gian thực hiện chế độ tập sự sang vị trí việc
làm khác vị trí được tuyển dụng
|
Khoản 6 Điều
21 Nghị định 115/2020/NĐ-CP quy định: “Không bố trí, phân công công tác đối
với người được tuyển dụng đang trong thời gian thực hiện chế độ tập sự sang vị
trí việc làm khác vị trí được tuyển dụng.” Điều 3 Nghị định
96/2023/NĐ-CP quy định về thời gian, nội dung thực hành để cấp giấy phép
hành nghề khám bệnh, chữa bệnh. Vướng mắc: Đối với nhân viên y tế được tuyển
dụng vừa phải tập sự vừa phải thực hành thì có mâu thuẫn: thực hành phải đến
các khoa còn tập sự thì không được sang vị trí khác.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh
|
Kiến nghị không chính xác vì:
- “Tập sự” và “thực hành để cấp
giấy phép hành nghề” là 02 quy định khác nhau
'- Khoản 6 Điều
21 chỉ quy định không bố trí, phân công công tác đối với người được tuyển
dụng đang trong thời gian tập sự sang vị trí việc làm khác với vị trí được
tuyển dụng
Trong khi đó, khoản
2 Điều 23 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 đã quy định nguyên tắc của
thực hành khám bệnh, chữa bệnh là: Thực hiện tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
có phạm vi hoạt động chuyên môn phù hợp với nội dung thực hành
=> Như vậy, việc viên chức
y tế mới được tuyển dụng tới các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, các khoa chuyên
môn để thực hành là bảo đảm nguyên tắc “có phạm vi hoạt động chuyên môn phù hợp
với phạm vi thực hành” tại Luật KBCB và phù hợp với vị trí được tuyển dụng.
Bên cạnh đó, việc thực hành là yêu cầu bắt buộc để cấp giấy phép hành nghề
(không phải bố trí sang vị trí khác, ví dụ: kế toán, văn thư, hành chính…
không phù hợp với chuyên môn, nghiệp vụ, yêu cầu thực hành hoặc yêu cầu tập sự)
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế
|
|
12
|
Nội dung Bảng 1 Định mức số
lượng người làm việc của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo nhóm chức danh
và theo từng loại giường bệnh tại Thông tư số 03/2023/TT-BYT Nội dung Bảng 2
Cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tại
Thông tư số 03/2023/TT-BYT
|
Định mức số lượng người làm
việc/giường bệnh tại Bảng 1 chưa rõ tỉ lệ từng chức danh nghề nghiệp và không
phù hợp tỉ lệ chức danh nghề nghiệp tại Bảng 2, đối với Bệnh viện hạng I: Tại
Bảng 1 nhóm chức danh Dược và kiểm soát nhiễm khuẩn, môi trường, dinh dưỡng
tương đương bắt buộc 10% tỷ lệ người/giường bệnh; tại Bảng 2 tổng nhóm Dược,
trang thiết bị y tế và nhóm chức danh nghề nghiệp chuyên môn liên quan khác
là 8% tổng số người của cơ sở khám chữa bệnh.
|
A. Giải thích luật, nghị quyết
của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo quy định
tại Điều 60 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025
|
Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh
|
Việc xác định định mức số người
làm việc tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không thuộc chuyên môn của Bộ Tư
pháp nên không có cơ sở để cho ý kiến. Tuy nhiên, Bộ Tư pháp nhận thấy:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Thông tư này thì: Định mức số lượng người làm
việc quy định tại Thông tư này là số lượng người làm việc tối thiểu của đơn vị
sự nghiệp y tế công lập cần bố trí nhằm bảo đảm chất lượng dịch vụ y tế và
quyền lợi của viên chức, người lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ
ngơi theo quy định của pháp luật. Tùy theo khối lượng công việc và khả năng
tài chính, các đơn vị sự nghiệp y tế có thể bố trí số lượng người làm việc
cao hơn để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, bảo đảm hiệu quả
Như vậy, thực tế, đơn vị sự
nghiệp y tế có thể bố trí số lượng người làm việc cao hơn số lượng người tại
TT này tuỳ thuộc tình hình cụ thể. Do đó, đây có thể không hẳn là vướng mắc
pháp lý
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế
|
|
13
|
Điều 1, Khoản
9 Thông tư số 06/2023/TT-BYT ngày 12/3/2023 của Bộ Y tế Sửa đổi, bổ sung
một số điều của Thông tư số 15/2019/TT-BYT ngày 11 tháng 7 năm 2019 của Bộ
trưởng Bộ Y tế quy định việc đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập.
|
Điều 10 của
Thông tư số 15/2019/TT-BYT (quy định 3 nhóm tiêu chí kỹ thuật cho thuốc
dược liệu, thuốc cổ truyền) đã được Điều 1, Khoản 9 của Thông
tư số 06/2023/TT-BYT sửa đổi thành 4 nhóm tiêu chí kỹ thuật cho loại thuốc
tương tự. Điều này gây khó khăn trong việc áp dụng thống nhất khi xây dựng kế
hoạch lựa chọn nhà thầu, đặc biệt là đối với các thuốc nhóm 1 và nhóm 2 do
tiêu chí và số lượng nhóm đã thay đổi.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh
|
Kiến nghị không chính xác,
vì: Thông tư này đã hết hiệu lực từ 17/5/2024
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế
|
|
14
|
Khoản 1 Điều
5 Thông tư 29/2023/TT-BYT hướng dẫn nội dung, cách ghi thành phần dinh dưỡng,
giá trị dinh dưỡng trên nhãn thực phẩm.
|
Thứ nhất là mâu thuẫn giữa phạm
vi áp dụng và yêu cầu tuân thủ toàn phần: Thông tư số 29/2023/TT-BYT tại xác
định rằng đồ uống có cồn (trong đó có bia) không thuộc phạm vi điều chỉnh bắt
buộc của Thông tư. Tuy nhiên, theo trường hợp doanh nghiệp tự nguyện ghi
thông tin dinh dưỡng thì lại phải tuân thủ đầy đủ toàn bộ nội dung quy định tại
Thông tư. Điều này dẫn đến mâu thuẫn trong cách hiểu và áp dụng, đặc biệt với
các doanh nghiệp ngành bia vốn đã thực hiện ghi nhãn theo thông lệ quốc tế,
thường chỉ công bố một số thành phần đặc trưng (như năng lượng và
carbohydrate), không đầy đủ 5 thành phần như yêu cầu gồm: a) Năng lượng; b)
Chất đạm; c) Carbohydrat; d) Chất béo; đ) Natri. e) đường nếu có bổ sung đường.
Nhưng không làm rõ đây là đường bổ sung thêm hay là đường trong nguyên liệu,
hương liệu (compound) thì có được tính vào trong thành phần đường không. Việc
không làm rõ quy định này áp dụng trong trường hợp nào - bắt buộc hay tự nguyện
- đã tạo ra xung đột nội dung giữa các điều trong cùng một Thông tư và gây
khó khăn trong thực tiễn áp dụng, đặc biệt đối với: - Doanh nghiệp trong
ngành đồ uống có cồn vốn đã thực hiện ghi nhãn dinh dưỡng tự nguyện trước
đây; - Các sản phẩm có thành phần dinh dưỡng không đáng kể, không phù hợp với
việc khai báo đủ 5 thành phần. Thứ hai là mâu thuẫn với thông lệ quốc tế và
thực tiễn ngành: - EU: Quy định 1169/2011 cho phép tự nguyện khai báo “chỉ
năng lượng” đối với đồ uống > 1.2 % ABV; quy định này vừa được Nghị viện
EU tái khẳng định (tháng 6 / 2025) - Hoa Kỳ: TTB không bắt buộc ghi dinh dưỡng;
hãng bia có thể nêu năng lượng hoặc carbohydrate vói điều kiện kèm -‘average
analysis statement” (calo + carb -I- protein + fat). - Codex Alimentarius
(CXG 2-1985): cho phép miễn khai báo dinh dưỡng nếu giá trị dinh dưỡng không
đáng kể hoặc bao bì nhỏ. Việc áp dụng cứng nhắc yêu cầu này dẫn đến các tác động
không nhỏ về mặt kỹ thuật và thương mại. Về hạ tầng đo lường, nhiều nhà máy
bia cỡ vừa/nhỏ không có thiết bị đo natri; phải gửi mẫu đi kiểm nghiệm, phát
sinh chi phí cho việc đo/mẫu. về diện tích nhãn, chai/lon 330 ml hiện đã phải
hiển thị độ cồn, logo tái chế, mã CRV, cảnh báo sức khỏe & thai kỳ. Thêm
2-3 dòng (đạm, béo, natri) buộc cỡ chữ nhỏ lại, giảm mức độ đọc được. Ở góc độ
thương mại, quy định này gây bất lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu: Bia xuất khẩu
đi EU/Hoa Kỳ sẽ phải in nhãn riêng theo chuẩn quốc tế (energy-only hoặc panel
khác); nếu bắt buộc 5 thành phần ở thị trường nội địa, doanh nghiệp phải in
song song hai bộ nhãn, tăng tồn kho vật tư & rủi ro nhầm lẫn. Hơn nữa,
các nhãn hàng nổi tiếng (Heineken, AB InBev...) đã xây dựng chuỗi cung ứng
nhãn đồng bộ cho > 70 thị trường; quy định “đủ 5 thành phần” chỉ áp dụng
riêng Việt Nam tạo trade-barrier, ảnh hưởng cam kết RCEP, CPTPP về hài hòa
tiêu chuẩn. Căn cứ Điều 61 Luật Ban hành văn bản quy phạm
pháp luật năm 2025 về việc hướng dẫn áp dụng văn bản, đề xuất Bộ Y tế xem
xét ban hành hướng dẫn cụ thể như sau: (1) Phương án 1: Hướng dẫn linh hoạt
trong trường họp ghi nhãn tự nguyện. Trường hợp doanh nghiệp sản xuất, kinh
doanh đồ uống có cồn (bao gồm bia) thực hiện ghi nhãn thành phần dinh dưỡng
theo hình thức tự nguyện (khoản 3 Điều 1 Thông tư), được
lựa chọn khai báo một phần các thành phần dinh dưỡng mang tính đặc thù của sản
phẩm (như năng lượng, carbohydrate), không bắt buộc ghi đầy đủ cả 5 thành phần
theo Điều 5. (2) Phương án 2: Bổ sung phương án trình bày
phù hựp thực tế ngành Cho phép khai báo thành phần dinh dưỡng qua QR code đối
với bao bì có diện tích hạn chế (ví dụ chai/lon < 355 ml). Ban hành Phụ lục
minh họa bảng “Serving Facts” hoặc “Nutrition Facts” dạng rút gọn (tương tự
Codex hoặc FDA Hoa Kỳ), giúp doanh nghiệp áp dụng đồng bộ và đúng kỹ thuật.
Việc ban hành hướng dẫn trên sẽ: Giải quyết mâu thuẫn nội tại của Thông tư
29; Phù hợp thông lệ quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp sản xuất,
nhập khẩu; giảm gánh nặng hành chính và chi phí tuân thủ; đồng thời vẫn đảm bảo
minh bạch thông tin cho người tiêu dùng và thúc đẩy ghi nhãn tự nguyện có
trách nhiệm.
|
B. Hướng dẫn áp dụng VBQPPL
theo quy định tại Điều 61 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025
|
Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam;
Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)
|
Không nhất trí, vì: khoản 3 Điều 2 Thông tư đã quy định: Trường hợp tổ chức, cá
nhân quy định tại khoản 2 Điều này tự nguyện ghi thành
phần dinh dưỡng, giá trị dinh dưỡng trên nhãn thực phẩm thì thực hiện theo
quy định tại Thông tư này. Như vậy, trường hợp đã tự nguyện áp dụng ghi nhãn
thì phải áp dụng theo thông tư này.
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế
|
|
15
|
Thông tư số 31/2023/TT-BYT
|
Tại khoản 1
Điều 3 Thông tư số 31/2023/TT-BYT quy định cơ quan có thẩm quyền thu hồi
Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm khi thực hiện thanh tra,
kiểm tra hoặc thu hồi theo đề nghị của cơ quan thanh tra, kiểm tra khi: a)
phát hiện cơ sở không đủ các điều kiện ATTP theo quy định...; b) Không có
đăng ký ngành, nghề kinh doanh thực phẩm trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh/Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Tuy nhiên không có biện pháp xử
phạt bổ sung trong Nghị định xử phat vi phạm hành chính số 115/2018/NĐ-CP
ngày 04/9/2018 và sửa đổi bổ sung tại Nghị định 124/2021/NĐ-CP cũng không quy
định điều này.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An
|
Phản ánh không chính xác, vì:
- Điều 21 Luật
Xử lý vi phạm hành chính không có quy định về biện pháp xử phạt bổ sung
là “thu hồi giấy phép” mà chỉ có quy định về tước giấy phép, chứng chỉ hành
nghề
- Việc thu hồi giấy chứng nhận
cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm tại Thông tư số 31/2023/TT-BYT do Điều 35 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 giao quy định
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế
|
|
16
|
Điều 19 và
Khoản 5 Điều 24, Thông tư 12/2025/TT-BYT
|
Giữa quy định tại khoản 5 Điều 24 và Điều 19 vẫn còn tồn tại điểm chưa thống
nhất về phạm vi miễn trừ nghĩa vụ. Cụ thể, các trường hợp được miễn nộp tài
liệu chứng minh tính an toàn, hiệu quả quy định tại khoản 5
Điều 24 chưa hoàn toàn tương ứng với các trường hợp được miễn thực hiện
thử lâm sàng theo quy định tại Điều 19. Sự thiếu đồng bộ
này có thể dẫn đến hệ quả bất hợp lý, theo đó một thuốc đã được xác định đáp ứng
yêu cầu về an toàn, hiệu quả để không cần nộp tài liệu chứng minh vẫn có khả
năng bị yêu cầu tiến hành thử nghiệm lâm sàng mới, gây tốn kém chi phí và nguồn
lực không cần thiết cho doanh nghiệp. Do đó, cần thiết phải rà soát và đồng bộ
quy định giữa khoản 5 Điều 24 và Điều 19, đảm bảo rằng
các trường hợp được miễn nộp tài liệu về an toàn, hiệu quả cũng phải đồng thời
được miễn thử lâm sàng. Việc này sẽ góp phần loại bỏ sự chồng chéo, giảm bớt
gánh nặng thủ tục không cần thiết cho doanh nghiệp.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Công ty Dược Yên Bái
|
Phản ánh không chính xác, vì:
- Khoản 2, 3
Điều 89 Luật Dược đã quy định các trường hợp thuốc được miễn, miễn một số
giai đoạn thử lâm sàng; đồng thời, khoản 4 Điều này giao
Bộ trưởng Bộ Y tế xác định tiêu chí cụ thể để xác định trường hợp miễn thử
- Điểm b khoản
3 Điều 56 Luật Dược đã quy định về các loại thuốc phải nộp và miễn nộp hồ
sơ lâm sàng chứng minh đạt an toàn, hiệu quả trong hồ sơ đăng ký lưu hành thuốc;
đồng thời, khoản 9 Điều này giao Bộ trưởng Bộ Y tế quy định
chi tiết khoản 3
=> Như vậy, các trường hợp
miễn nộp hồ sơ lâm sàng trong đăng ký thuốc và trường hợp miễn thử lâm sàng
đã được quy định tại Luật Dược, Thông tư của Bộ Y tế chỉ quy định cụ thể hơn
các tiêu chí để xác định. Do đó, trường hợp có vướng mắc về vấn đề này thì
không phải chỉ là vướng mắc tại Thông tư mà cần xem xét các trường hợp được
miễn quy định tại Luật Dược
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế
|
|
17
|
Điều 10 và Điều
15, Thông tư 29/2025/TT-BYT
|
Điều 10,
với tiêu đề “Tiêu chí xác định trường hợp thuốc cổ truyền được miễn thử lâm
sàng”, liệt kê các điều kiện cụ thể, trong đó bao gồm yêu cầu thuốc phải có
trong tài liệu chuyên môn hoặc đã được cấp số đăng ký trước năm 2017, nhưng
không đề cập đến “bài thuốc gia truyền” như một tiêu chí. Tuy nhiên, tại Điều 15, phần quy định về “Các trường hợp được miễn nộp dữ
liệu lâm sàng” lại ghi nhận rõ “Bài thuốc gia truyền đã được cấp giấy chứng
nhận” là một trường hợp được miễn. Điều này tạo ra sự không nhất quán: một điều
khoản đặt ra "tiêu chí xác định" nhưng điều khoản khác lại bổ sung
một trường hợp miễn trừ không nằm trong các tiêu chí đó.
|
A. Giải thích luật, nghị quyết
của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo quy định
tại Điều 60 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025
|
Công ty Dược Yên Bái
|
Ý kiến của Cục QLYDCT:
Kiến nghị không chính xác vì:
1. Điều 15 của
Thông tư số 29/2025/TT-BYT quy định chi tiết khoản 4 Điều
89 Luật Dược về dữ liệu lâm sàng để bảo đảm an toàn, hiệu quả đối với thuốc
cổ truyền trong hồ sơ đăng ký lưu hành, theo đó:
- Tại khoản 1
và khoản 2 Điều 15 quy định rõ dữ liệu lâm sàng phải nộp trong hồ sơ đăng
ký, khoản 3 Điều 15 là các trường hợp miễn nộp dữ liệu
lâm sàng. Như vậy nội dung tại 3 khoản tại Điều 15 hoàn
toàn phù hợp với tên Điều và nội dung được giao tại khoản 4
Điều 89 Luật Dược.
- Trường hợp được miễn nộp dữ
liệu lâm sàng trong hồ sơ đăng ký lưu hành thuốc cổ truyền là các trường hợp
cụ thể:
(1) Bài thuốc có trong chuyên
luận dược điển Việt Nam hoặc dược điển một trong các nước Trung Quốc, Nhật Bản,
Hàn Quốc.
(2) Bài thuốc gia truyền đã
được cấp giấy chứng nhận bài thuốc gia truyền theo quy định của pháp luật.
(3) Thuốc cổ truyền dùng
ngoài đáp ứng tiêu chí là thuốc không kê đơn và được đánh giá tính an toàn,
hiệu quả trong nghiên cứu tiền lâm sàng.
2. Điều 10 của
Thông tư số 29/2025/TT-BYT quy định chi tiết tại khoản 2,
khoản 3 Điều 72 và khoản 4 Điều 89 Luật Dược về tiêu chí xác định trường
hợp thuốc cổ truyền được miễn thử lâm sàng ngoài trường hợp miễn thử lâm sàng
đã được dẫn chiếu theo Luật Dược tại khoản 2 Điều 10 Thông tư
số 29/2025/TT-BYT thì quy định rõ các tiêu chí theo quy định tại khoản 1 Điều 10.
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế
|
Phụ lục V.9.2.C
CHO Ý KIẾN ĐỐI VỚI KẾT QUẢ RÀ SOÁT KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC
DO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT THUỘC PHẠM VI PHỤ TRÁCH CỦA BỘ Y TẾ
Tiêu chí: Quy định của VBQPPL không rõ ràng, có
nhiều cách hiểu khác nhau, không hợp lý, không khả thi, gây khó khăn trong áp dụng,
thực hiện pháp luật
Nhóm
C. Nhóm các nội dung cho ý kiến không nhất trí
|
STT
|
Điều, khoản, điểm, tên văn bản đề xuất xử lý
|
Nội dung quy định được phản ánh không rõ ràng, có nhiều cách hiểu
khác nhau, không hợp lý, không khả thi, gây khó khăn trong áp dụng, thực hiện
pháp luật
|
Phương án xử lý được đề xuất
|
Cơ quan, tổ chức rà soát, phản ánh
|
Ý kiến của Bộ Y tế về nội dung rà soát, phản ánh
|
Tình hình trả lời phản ánh, kiến nghị sau Báo cáo 76- BC/ĐU[1]
|
|
1
|
Điểm d khoản
1 Điều 42 Luật Dược
|
• Chủ thể thực hiện/tiếp nhận:
Cơ sở kinh doanh dược; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và bệnh nhân- chưa thể hiện
rõ ràng các bên thứ tư ( nếu có) ví dụ như các bên được cơ sở kinh doanh dược
ủy quyền như Quỹ hỗ trợ bệnh nhân ung thư ngày mai tươi sáng.
• Nội hàm chương trình hỗ trợ
thuốc miễn phí có thể hiểu khác nhau (có thể bao gồm miễn phí toàn bộ và miễn
phí một phần? Cần thiết tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc liên quan bằng cách sửa
điểm d khoản 1 Điều 42 tại Luật Dược, cụ thể: Điều 42. Quyền và trách nhiệm của cơ sở kinh doanh dược 1. Cơ
sở kinh doanh dược có các quyền sau đây: d) Thực hiện hoặc ủy quyền cho đơn vị
quản lý thực hiện chương trình hỗ trợ thuốc cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để
điều trị cho bệnh nhân theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế;
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Liên đoàn Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam (VCCI)
|
Không nhất trí, vì: hiện nay,
Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 31/2018/TT-BYT quy định thực hiện chương
trình hỗ trợ thuốc miễn phí cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để điều trị cho
người bệnh do cơ sở kinh doanh dược thực hiện, trong đó, đã có quy định về:
(i) hỗ trợ miễn phí toàn bộ, miễn phí một phần; (ii) chế độ báo cáo, phê duyệt
đối với các chương trình hỗ trợ; (iii) các biểu mẫu thực hiện thủ tục hành
chính tại Phụ lục 4, 5 đều có mục "đơn vị khác (nếu
có). Do đó, đây không phải vấn đề vướng mắc của Luật Dược.
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
2
|
Khoản 32, 33
Điều 2 Luật Dược 2016
|
Khoản 32, 33
Điều 2 Luật Dược 2016 quy định về các tiêu chí để xác định thuốc không đạt
tiêu chuẩn chất lượng, thuốc giả. Tuy nhiên, trong thực tiễn sản xuất dược phẩm,
nhiều hoạt chất có tính chất không ổn định tự nhiên (như vitamin, men vi
sinh,...), rất nhạy cảm với điều kiện nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng. Mặc dù doanh
nghiệp đã tuân thủ đúng quy trình sản xuất - kiểm nghiệm; theo dõi độ ổn định
sản phẩm; bảo quản theo điều kiện ghi nhãn, vận hành kho đạt GPS/GDP... thì vẫn
có thể xảy ra sự sai lệch nhỏ về hàm lượng hoạt chất trong một số mẫu cá biệt
tại thời điểm kiểm tra, do biến động trong khâu bảo quản, lưu thông. Việc áp
dụng cứng nhắc quy định pháp luật hiện nay mà không đánh giá đúng bản chất sự
việc, dễ dẫn đến: - Quy chụp sản phẩm suy giảm chất lượng do khách quan thành
hàng giả hoặc thuốc giả; - Làm doanh nghiệp chịu tổn thất nặng nề về uy tín,
tài chính, pháp lý; - Gây ra nhận thức sai lệch trong xã hội đối với toàn
ngành dược về vấn nạn sản xuất thuốc giả/hàng giả, dù thực tế là chỉ có 1 phần
nhỏ sản phẩm bị ảnh hưởng. Trong khi đó, quy định hiện hành chưa phân định rõ
giữa thuốc giả, thuốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng, và sai lệch khách quan
do điều kiện thực tế. Do đó, đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định theo hướng
phân biệt rõ ràng giữa: - Thuốc giả theo Khoản 33 Điều 2 Luật
Dược; - Thuốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng (do lỗi kỹ thuật/khách
quan) theo Khoản 32 Điều 2 Luật Dược; - Thuốc giảm chất
lượng do điều kiện bảo quản, vận chuyển, vốn không nằm trong lỗi của nhà sản
xuất nếu có hồ sơ minh chứng đầy đủ
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Liên đoàn Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam (VCCI)
|
Không nhất trí với kiến nghị.
Lý do: Luật Dược đã quy định rõ các tiêu chí xác định Thuốc không đạt chất lượng
(khoản 32 Điều 2) và Thuốc giả (khoản 33
Điều 2).
Tại điểm c
khoản 33 Điều 2 cũng đã quy định "trừ thuốc không đạt tiêu chuẩn chất
lượng quy định tại khoản 32 Điều này trong quá trình bảo
quản, lưu thông phân phối". Như vậy, không cần phải quy định thêm khái
niệm Thuốc giảm chất lượng như đề xuất. Hơn nữa việc đưa ra khái niệm này
cũng rất chung chung, không cụ thể dẫn đến văn phạm tùy nghi.
Vấn đề đặt ra của VCCI đề nghị
sửa Luật Dược là không chính xác; cần phải sửa quy định về hàng giả tại Nghị
định số 98/2020/NĐ-CP. Hiện nay Bộ Công Thương là đầu mối sửa đổi Nghị định số
98/2020/NĐ-CP, Bộ Y tế đã đề xuất sửa đổi điểm b khoản 7 Điều
3, trong đó bổ sung cụm từ “ được bảo quản ở điều kiện ghi trên nhãn”
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
3
|
Khoản 2, Điều
2 tại Nghị quyết 206/2025/QH15 về cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc
do quy định của pháp luật
|
Quy định của văn bản quy phạm
pháp luật không rõ ràng, có nhiều cách hiểu khác nhau, không hợp lý, không khả
thi, gây khó khăn trong áp dụng, thực hiện pháp luật Xem xét phạm vi áp dụng
nghị quyết 66- NQ/TW và nghị quyết 206/2025/QH15.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Liên đoàn Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam (VCCI)
|
Không rõ nội dung phản ánh, kiến
nghị
|
Đề nghị chuyển Bộ Tư pháp là
cơ quan đầu mối xây dựng Nghị quyết 206/2025/QH15
|
|
4
|
Khoản 2, Khoản
6, Khoản 7 Điều 3 Nghị định số 104/2016/NĐ-CP ngày
01/7/2016 của Chính phủ quy định về hoạt động tiêm chủng (Nghị định số
13/2024/NĐ-CP ngày 05/02/2024 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị định số 104/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về hoạt động
tiêm chủng)
|
Các định nghĩa tại Điều 3 Nghị định số 104/2016/NĐ-CP (khoản 2
về tiêm chủng chống dịch, khoản 6 về cơ sở tiêm chủng, khoản 7 về các hình thức tiêm chủng) không phù hợp với thực
tế phát triển của hoạt động tiêm chủng và các hình thức tiêm chủng (như tiêm
chủng thường xuyên, tiêm chủng bù liều, tiêm chủng chiến dịch). Điều này gây
khó khăn trong việc áp dụng thống nhất và toàn diện các hoạt động tiêm chủng.
|
B. Hướng dẫn áp dụng VBQPPL
theo quy định tại Điều 61 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025
|
Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh
|
Liên quan đến vấn đề này, Bộ
Y tế hiện đang triển khai xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị định số 104/2016/NĐ-CP (theo trình tự thủ tục thông thường), trong đó đã
giải quyết các nội dung rà soát, phản ánh của Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh.
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
5
|
Nghị định số 15/2018/NĐ-CP
ngày 02/02/2018 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật
An toàn thực phẩm
|
- Quy định thực hiện tự công
bố sản phẩm đối với thực phẩm đã qua chế biến bao gói G21, phụ gia thực phẩm,
chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, dụng cụ chứa đựng thực phẩm, vật liệu bao gói
tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm (Khoản 1, Điều 4) và
đăng ký bản công bố sản phẩm đối với thực phẩm bảo vệ sức khỏe, thực phẩm
dinh dưỡng y học, thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt, sản phẩm dinh dưỡng
dùng cho trẻ đến 36 tháng tuổi, phụ gia thực phẩm hỗn hợp có công dụng mới,
phụ gia thực phẩm không thuộc trong danh mục phụ gia được phép sử dụng trong
thực phẩm hoặc không đúng đối tượng sử dụng do Bộ Y tế quy định (Điều 6), nhưng chưa nói rõ thực phẩm bổ sung thuộc G21 tự
công bố hay đăng ký bản công bố sản phẩm. G21- Nghị định số 15/2018/NĐ-CP cho
phép cơ sở được tự công bố sản phẩm, bãi bỏ thủ tục hành chính, quản lý chuyển
từ “tiền kiểm” sang hướng “hậu kiểm” là thách thức lớn cho cơ quan quản lý về
sản phẩm cũng như điều kiện ATTP vì khi tổ chức, cá nhân tự công bố sau đó
đưa sản phẩm ra thị trường, trong trường hợp có nguy cơ mất an toàn thực phẩm
thì dù có kiểm tra xử lý nhưng thực phẩm không đảm bảo đã được lưu thông trên
thị trường. Việc kiểm tra, hậu kiểm của cơ quan quản lý gặp nhiều khó khăn đối
với cơ sở kinh doanh thực phẩm nhập khẩu do cơ sở tự công bố sản phẩm không
ghi cụ thể địa chỉ, không ghi số điện thoại liên hệ hoặc có số điện thoại
nhưng không liên lạc được trong khi nhân lực mỏng, phương tiện thiếu, gây ảnh
hưởng đến hiệu quả công tác quản lý an toàn thực phẩm.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh
|
Nhất trí, Bộ Y tế đang xây dựng
Nghị định thay thế Nghị định 15/2018/NĐ-CP, Bộ Y tế sẽ nghiên cứu, tiếp thu
trong quá trình xây dựng
|
Đề nghị chuyển sang Phụ lục
V.9.2.B vì nhất trí với kiến nghị
|
|
6
|
Điều 8 Nghị
định số 15/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một
số điều của Luật An toàn thực phẩm
|
Trong thời hạn 07 (bảy) ngày
làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ đăng ký bản công bố sản phẩm đối với phụ gia
thực phẩm hỗn hợp có công dụng mới, phụ gia thực phẩm chưa có trong danh mục
phụ gia được phép sử dụng hoặc không đúng đối tượng sử dụng trong thực phẩm
do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định, thực phẩm dinh dưỡng y học, thực phẩm dùng cho
chế độ ăn đặc biệt, sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ đến 36 tháng tuổi
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Sở Tư pháp
tỉnh Phú Thọ
|
Kiến nghị không rõ, Bộ Y tế sẽ
rà soát tổng thể, sửa đổi Nghị định 15/2018/NĐ-CP
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
7
|
Khoản 5 Điều
14 Nghị định số 146/2018/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2018 của Chính phủ
quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành Luật Bảo hiểm y tế, đã được
sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 75/2023/NĐ-CP ngày 19/10/2023 và Nghị định
số 02/2025/NĐ-CP ngày 01/ 01/2025 của Chính phủ
|
Bổ sung cụm từ “cấp chuyên
sâu” vào tên Khoản 5 để đảm bảo thống nhất với phạm vi
điều chỉnh (vì điểm h khoản 4 Điều 22 Luật Bảo hiểm y tế
(được sửa đổi, bổ sung năm 2024) có quy định về cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp
chuyên sâu)
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai
|
Không nhất trí, vì: Nghị định
188/2025/NĐ-CP ban hành thay thế Nghị định số 146/2018/NĐ-CP đã bổ sung cụm từ
này
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
8
|
Nghị định số 117/2020/NĐ-CP
ngày 28/9/2020 của Chinh phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực
y tế
|
điểm a, khoản
5, Điều 59 đi kèm với biện pháp khắc phục hậu quả là tiêu hủy toàn bộ thuốc
và dược liệu có tại cơ sở là chưa hợp lý vì cơ sở đã xuất trình được hóa đơn
chứng minh được nguồn gốc xuất xứ của thuốc và dược liệu.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Đảng bộ cơ sở Trường Cao đẳng
Luật Miền Trung
|
Không nhất trí, vì: Nghị định
số 124/2021/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung Nghị định số 117/2020/NĐ-CP theo hướng
bãi bỏ quy định buộc tiêu huỷ đối với hành vi vi phạm tại điểm
a khoản 5 điều 59
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
9
|
Nghị định số 117/2020/NĐ-CP
ngày 28/9/2020 của Chinh phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực
y tế
|
điểm a, khoản
5, Điều 59 đi kèm với biện pháp khắc phục hậu quả là tiêu hủy toàn bộ thuốc
và dược liệu có tại cơ sở là chưa hợp lý vì cơ sở đã xuất trình được hóa đơn
chứng minh được nguồn gốc xuất xứ của thuốc và dược liệu.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Sở Tư pháp thành phố Hà Nội
|
Không nhất trí, vì: Nghị định
số 124/2021/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung Nghị định số 117/2020/NĐ-CP theo hướng
bãi bỏ quy định buộc tiêu huỷ đối với hành vi vi phạm tại điểm
a khoản 5 điều 59
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
10
|
Khoản 1 Điều
5 Nghị định 98/2021/NĐ-CP: Thiết bị y tế phải được phân loại theo mức độ
rủi ro từ A đến D
|
Các tổ chức được cấp quyền
phân loại thiết bị y tế không thống nhất về kết quả phân loại cho cùng một sản
phẩm. Nhiều sản phẩm nhập khẩu có tài liệu kỹ thuật không đầy đủ hoặc không
tương thích với tiêu chuẩn phân loại tại Việt Nam. Việc phân loại sai dẫn đến
sai phạm trong công bố tiêu chuẩn, cấp phép lưu hành hoặc giá kê khai.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Sở Tư pháp tỉnh Hải Phòng
|
Không nhất trí vì đây là vấn
đề tổ chức thực hiện
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
11
|
Tại khoản 7,
Điều 1 Nghị định 75/2023/NĐ-CPsửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định
số 146/2018/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết
và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của luật bảo hiểm y tế.
|
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được
cung cấp thông tin kịp thời khi hệ thống thông tin giám định bảo hiểm y tế
phát hiện có gia tăng chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế cao so với mức
chi phí bình quân của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cùng hạng, cùng tuyến, cùng
chuyên khoa để kịp thời rà soát, kiểm tra xác minh, thực hiện giải pháp điều
chỉnh phù hợp.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An
|
Không rõ nội dung kiến nghị
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
12
|
Khoản 12 Điều
12, Điều 27 Nghị Định 96/2023/NĐ-CP ngày
30/12/2023 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật Khám bệnh, chữa
bệnh
|
Khoản 12 Điều
12, Điều 27 Nghị Định 96/2023/NĐ-CP quy định: “12.
Khi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có sự thay đổi về người hành nghề, người đứng
đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm: a) Trường hợp người hành nghề
không còn làm việc tại cơ sở: - Tạm dừng cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh
thuộc phạm vi hành nghề của người hành nghề đó nếu chưa có người hành nghề
thay thế kể từ thời điểm người hành nghề chấm dứt hành nghề tại cơ sở; - Báo
cáo với cơ quan có thẩm quyền trong thời gian 03 ngày kể từ thời điểm người
hành nghề chấm dứt hành nghề tại cơ sở. b) Trường hợp bổ sung người hành nghề:
thực hiện việc đăng ký hành nghề theo quy định tại Nghị định này. Người hành
nghề chỉ được hành nghề sau khi hoàn thành thủ tục đăng ký hành nghề.”
- Vậy các trường hợp người
hành nghề đang hành nghề có thay đổi thông tin về điều động, luân phiên ra
khoa Khám bệnh, phân công khi có người nghỉ tạm thời... thì có phải đăng tải
đăng ký hành nghề hay không.
- Mẫu 01 phụ lục II ban hành theo
Nghị định 96/2023 là mẫu áp dụng chung cho các đơn vị thì Sở Y tế có được
thay đổi mẫu biểu không
|
B. Hướng dẫn áp dụng VBQPPL
theo quy định tại Điều 61 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025
|
Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh
|
Không nhất trí, vì:
- Nghị định số 96/2023/NĐ-CP
và Nghị định số 148/2025/NĐ-CP không quy định về trường hợp như địa phương phản
ánh nên khi có thay đổi thông tin về điều động, luân phiên ra khoa Khám bệnh,
phân công khi có người nghỉ tạm thời thì không phải đăng tải đăng ký hành nghề.
- Về vấn đề điều chỉnh thủ tục
hành chính, khoản 7 Điều 13 Luật Tổ chức chính quyền địa
phương năm 2025 đã có quy định. Bộ Y tế sẽ nghiên cứu chỉnh sửa trong quá
trình xây dựng Nghị định sửa đổi
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
13
|
Khoản 3 Điều
67 Nghị định số 96/2023/NĐ-CP ngày 30/12/2023 của Chính phủ quy định chi
tiết một số điều của Luật Khám bệnh, chữa bệnh
|
Việc quy định về thay đổi 10%
quy mô giường bệnh trong trường hợp này là quy định thay đổi quy mô giường bệnh
của khoa, phòng hay của toàn bộ cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Nếu quy định về
thay đổi 10% quy mô giường bệnh trong trường hợp này là của toàn bộ cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh thì quy định số giường điều chỉnh không được vượt quá 30
giường bệnh đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có quy mô giường bệnh lớn
trên 1.000 giường là không phù hợp.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai
|
Không nhất trí, vì:
- khoản 3 Điều
67 Nghị định số 96/2023/NĐ-CP quy định: nếu quy mô thay đổi dưới 10% tổng
số quy mô giường bệnh đã được ghi trong giấy phép hoạt động
- Khoản 1 Điều
41 Nghị định số 96/2023/NĐ-CP đã quy định số giường bệnh tối thiểu đối với
quy mô của từng loại hình bệnh viện. Như vậy, 10% quy mô giường bệnh được ghi
trong giấy phép hoạt động là quy mô của bệnh viện
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
14
|
Khoản 9 Điều
119 Nghị định số 96/2023/NĐ-CP ngày 29/12/2023 của Chính phủ quy định chi
tiết một số điều của Luật Khám bệnh, chữa bệnh.
|
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
quy định giá cụ thể đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập thuộc phạm
vi quản lý tại địa phương. Tuy nhiên, trên thực tế Bộ Y tế chưa ban hành đầy
đủ định mức kinh tế - kỹ thuật làm cơ sở cho việc xây dựng giá để địa phương
tham khảo, vận dụng. Phần lớn các địa phương gặp khó khăn trong việc xây dựng
mức giá độc lập và thường phải áp dụng mức giá do Bộ Y tế ban hành mà chưa thể
phản ánh đầy đủ điều kiện thực tiễn tại địa phương được phân quyền nhưng
không được vượt quá giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tương ứng do Bộ trưởng Bộ
Y tế quy định. Thêm vào đó, khi có sự điều chỉnh giá dịch vụ khám bệnh, chữa
bệnh, Bộ Y tế có thể kịp thời ban hành quyết định hành chính để áp dụng ngay
cho các cơ sở thuộc thẩm quyền quản lý. Trong khi đó, ở cấp địa phương, việc
điều chỉnh giá phải thực hiện thông qua quy trình xây dựng và ban hành Nghị
quyết của Hội đồng nhân dân, phụ thuộc vào thời điểm tổ chức kỳ họp và thủ tục.
Do đó, cần thiết sửa đổi để đảm bảo định mức kinh tế kỹ thuật áp dụng thống
nhất trong cả nước.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai
|
Không nhất trí, vì:
Khoản 6 Điều
110 Luật KBCB quy định: Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định giá cụ thể dịch
vụ khám bệnh, chữa bệnh quy định tại điểm b khoản 5 Điều này
đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước trên địa bàn quản lý thuộc
phạm vi được phân quyền nhưng không được vượt quá giá dịch vụ khám bệnh, chữa
bệnh tương ứng do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định.
Như vậy, đây là vấn đề tổ chức
thực hiện, không phải vướng mắc pháp lý. Bộ Y tế sẽ nghiên cứu chỉnh sửa
trong quá trình xây dựng Nghị định sửa đổi
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
15
|
Điều 17 Nghị
định số 85/2024/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Giá
|
Điều 17 Nghị
định số 85/2024/NĐ-CP, tổ chức kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng
kê khai giá có trách nhiệm gửi văn bản kê khai giá cho cơ quan tiếp nhận kê
khai giá trong thời gian tối đa 05 ngày làm việc kể từ ngày quyết định giá.
Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa có hướng dẫn chi tiết về cách thức thực hiện và
chưa có ứng dụng công nghệ thông tin trong việc triển khai quy định này. Vì vậy,
cứ mỗi 5 ngày, doanh nghiệp phải trích xuất dữ liệu bán hàng, lọc và phân
tích để có được dữ liệu báo cáo cơ quan có thẩm quyền theo đúng yêu cầu của
Nghị định. Trong khi đó, yêu cầu này là không thực sự cần thiết do Sở Y tế
hoàn toàn có thể truy xuất dữ liệu này từ hệ thống cơ sở dữ liệu của cơ quan
thuế (hiện nay tất cả các doanh nghiệp đều đã và đang sử dụng hóa đơn điện tử).
Đề xuất xem xét bãi bỏ quy định này để giảm gánh nặng TTHC không cần thiết
cho doanh nghiệp.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Liên đoàn Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam (VCCI)
|
Không nhất trí, kiến nghị
không thuộc phạm vi của Bộ Y tế, kiến nghị chuyển sang Bộ Tài chính
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
16
|
Nghị định 163/2025/NĐ-CP Quy
định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành luật dược
Phụ lục V - Danh mục thuốc, nguyên
liệu làm thuốc cấm nhập khẩu, cấm sản xuất
|
Các chất được liệt kê trong Phụ lục V được phân loại là dược chất.
Thực tế, công ty có sử dụng một hoặc một số chất có trong Danh mục này nhưng
với lượng nhỏ và đóng vai trò là tá dược trong công thức bào chế thuốc (ví dụ
như để điều chỉnh pH…). Các tá dược này có trong thành phần công thức thuốc
trước Chuyển giao công nghệ, đã được cấp Giấy phép lưu hành tại các nước SRA
dựa trên cơ sở an toàn sử dụng cho người và được chuyển giao công nghệ sản xuất
tại Việt Nam. Việc cấm nhập khẩu các nguyên liệu này trong khi chúng chỉ được
sử dụng với lượng nhỏ và đóng vai trò là tá dược trong công thức bào chế sẽ cản
trở việc chuyển giao công nghệ sản xuất thuốc từ các nước tiên tiến sang Việt
Nam, đi ngược với đường lối chính sách của Chính phủ trong việc phát triển
ngành dược và đẩy mạnh xuất khẩu thuốc.
|
B. Hướng dẫn áp dụng VBQPPL
theo quy định tại Điều 61 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025
|
Hiệp hội Dược Việt Nam
(VNPCA); Medochemie
|
Không nhất trí, vì: Phụ lục V ban hành danh mục thuốc,
nguyên liệu làm thuốc cấm nhập khẩu, sản xuất thì không được nhập khẩu, sử dụng
dưới bất kỳ mục đích nào hoặc hàm lượng nào.
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
17
|
Điều 46
Thông tư 06/2011/TT-BYT ngày 25/01/2011 của Bộ Y tế về việc Quản lý mỹ phẩm
|
+ Việc thu hồi tự nguyện số
tiếp nhận phiếu công bố sản phẩm mỹ phẩm theo quy định tại Điều
46 Thông tư số 06/2011/TT-BYT do tổ chức, cá nhân đưa sản phẩm ra thị trường
có văn bản đề nghị thu hồi. Điều này đôi khi gây khó khăn cho Sở Y tế và cơ sở
sản xuất khi cơ sở sản xuất mỹ phẩm đề nghị thu hồi số tiếp nhận phiếu công bố
do không có nhu cầu sản xuất, kinh doanh.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Sở Tư pháp tỉnh Hải Phòng
|
Không rõ nội dung kiến nghị
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
18
|
Khoản 1 Điều
2 Thông tư số 43/2014/TT-BYT ngày 24/11/2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định
về quản lý thực phẩm chức năng
|
Thực phẩm bổ sung
(Supplemented Food) là thực phẩm thông thường được bổ sung vi chất và các yếu
tố có lợi cho sức khỏe như vitamin, khoáng chất, axit amin, axit béo, enzym,
probiotic, prebiotic và chất có hoạt tính sinh học khác. Tuy nhiên chưa có
danh mục cụ thể thực phẩm thông thường là những loại thực phẩm nào
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ
|
Nhất trí, Bộ Y tế đang xây dựng
Nghị định thay thế Nghị định 15/2018/NĐ-CP, Bộ Y tế sẽ nghiên cứu, tiếp thu
trong quá trình xây dựng
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
19
|
Điều 9 Thông
tư số 02/2018/TT-BYT ngày 22/01/2018 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định về thực
hành tốt cơ sở bán lẻ thuốc (được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số
12/2020/TT-BYT và Thông tư số 11/2025/TT-BYT)
|
"- Tại khoản
3 Điều 9 Thông tư số 02/2018/TT-BYT (được sửa đổi tại điểm
b khoản 2 Điều 1 Thông tư số 11/2025/TT-BYT) quy định: “Trong thời gian tối
thiểu 30 ngày trước thời điểm đến hạn đánh giá định kỳ, cơ sở bán lẻ thuốc phải
nộp báo cáo về việc duy trì đáp ứng thực hành tốt cơ sở bán lẻ thuốc theo quy
định tại điểm c khoản 7 Điều này về cơ quan chuyên môn về
y tế của tỉnh”; tại Điều 1 Quyết định số 1921/QĐ-BYT
ngày 11/6/2025 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc công bố thủ tục hành chính bị
bãi bỏ lĩnh vực dược phẩm thuộc phạm vi quản lý của bộ y tế quy định tại
Thông tư số 11/2025/TT-BYT ngày 16/5/2025 của Bộ trưởng Bộ Y tế, trong đó bãi
bỏ TTHC “Đánh giá duy trì đáp ứng thực hành tốt cơ sở bán lẻ thuốc”. - Tuy
nhiên, tại khoản 7 Điều 9 Thông tư số 02/2018/TT-BYT (được
sửa đổi tại điểm g khoản 15 Điều 1 Thông tư số
11/2025/TT-BYT) quy định: “Hồ sơ đánh giá định kỳ việc duy trì đáp ứng
GPP”; và tại khoản 8 Điều 1 Thông tư số 12/2020/TT-BYT, bổ
sung khoản 7a Điều 9 Thông tư số 02/2018/TT-BYT, quy định: “Cơ sở bán lẻ
thuốc nộp 01 bộ hồ sơ đánh giá định kỳ việc duy trì đáp ứng GPP kèm theo phí
thẩm định theo quy định của Bộ Tài chính về phí thẩm định điều kiện, tiêu chuẩn
bán lẻ thuốc đến cơ quan chuyên môn về y tế của tỉnh”. Căn cứ các quy định
nêu trên, địa phương khó khăn trong việc hướng dẫn thực hiện thu phí thẩm định
theo quy định của Bộ Tài chính về phí thẩm định điều kiện, tiêu chuẩn bán lẻ
thuốc theo khoản 8 Điều 1 Thông tư số 12/2020/TT-BYT.
"
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên
|
Quyết định bãi bỏ thủ tục
hành chính không phải văn bản quy phạm pháp luật nên không thuộc phạm vi rà
soát, cho ý kiến
Mặt khác, Bộ Y tế đã ban hành
Quyết định số 2546/QĐ-BYT ngày 11/8/2025 công bố TTHC về thẩm định điều kiện
về cơ sở vật chất, kỹ thuật, nhân sự và đánh giá thực hành tốt cho cơ sở
không vì mục đích thương mại, đánh giá định kỳ việc duy trì thực hành tốt
GPP/GDP/GSP, kiểm soát thay đổi với cơ sở bán lẻ thuốc, phân phối thuốc,
nguyên liệu làm thuốc, bảo quản thuốc, nguyên liệu làm thuốc, trong đó có quy
định về phí được thực hiện theo Thông tư số 41/2023/TT-BTC của Bộ Tài chính.
Thủ tục đánh giá, đánh giá định kỳ việc duy trì GPP, kiểm soát thay đổi cho
cơ sở bán lẻ thuốc đã được công bố trên trang https:// dichvucong. gov.vn/ là
thủ tục 1.014203
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
20
|
QCVN 06- 1:2010/BYT; Thông tư
số 41/2018/TT-BYT
|
Quy chuẩn QCVN 06-1:2010/BYT
có các chỉ tiêu (Thuỷ ngân, Nitrat, Nitrit, Mangan…) quy định giới hạn tối đa
cao hơn so với giới hạn của nước sinh hoạt quy định tại Thông tư số
41/2018/TT-BYT
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ
|
Không nhất trí, vì: thông tư đã
hết hiệu lực
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
21
|
Khoản 1 Điều
2 Chương II Thông tư số 01/2019/TT- BLĐTBXH ngày 02/01/2019 của Bộ trưởng
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định về việc xác định mức độ khuyết tật
do Hội đồng xác định mức độ khuyết tật thực hiện.
|
Hiện nay, thành phần quy định
tại Thông tư số 01/2019/TT-BLĐTXH gồm: b) Trạm trưởng trạm y tế cấp xã; c)
Công chức cấp xã phụ trách công tác lao động, thương binh và xã hội; Hiện
nay, chưa có quy định cụ thể đối với Trạm Y tế cấp xã nên trên địa bàn 01 phường/xã
mới có thể có nhiều hơn 2 trạm Y tế dẫn đến vướng mắc trong quá trình thành lập
Hội đồng xác định mức độ khuyết tật. Mặt khác, mô hình quản lý tại cấp xã đối
với lĩnh vực trước đây thuộc ngành Lao động - Thương binh và Xã hội thuộc quản
lý của Phòng Văn hóa - Xã hội cấp xã, do vậy chức danh công chức cấp xã phụ
trách công tác lao động, thương binh và xã hội không còn phù hợp.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên
|
Không nhất trí, vì: thành phần
Hội đồng xác định khuyết tật được quy định tại khoản 2 Điều
16 Luật Người Khuyết tật năm 2011, do đó, vướng mắc (nếu có) là vướng mắc
tại luật, không phải thông tư.
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
22
|
Thông tư số 15/2019/TT-BYT
ngày 11/7/2019 của Bộ Y tế quy định việc đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế
công lập và Thông tư số 06/2023/TT-BYT ngày 12/3/2023 của Bộ Y tế sửa đổi, bổ
sung một số điều của thông tư số 15/2019/TT-BYT ngày 11 tháng 7 năm 2019 của
bộ trưởng bộ y tế quy định việc đấu thầu thuốc tại các cơ sở y tế công lập.
|
Quy định trong Thông tư số
15/2019/TT-BYT và Thông tư số 06/2023/TT-BYT có nhiều vị thuốc cổ truyền thiếu
thông tin trúng thầu, khiến Chủ đầu tư/Bên mời thầu không đủ căn cứ để tổng hợp,
phân tích, đánh giá và xây dựng giá kế hoạch.
|
B. Hướng dẫn áp dụng VBQPPL
theo quy định tại Điều 61 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025
|
Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh
|
Kiến nghị không rõ ràng,
không có cơ sở để cho ý kiến. Thông tư số 15/2019/TT-BYT và Thông tư số
06/2023/TT-BYT đã hết hiệu lực
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
23
|
Tiêu chí 4, Bảng đánh giá
tiêu chuẩn kỹ thuật Phụ lục 2, Mẫu số 02 Thông tư số 09/2022/TT-BYT ngày
09/9/2022 của Bộ Y tế quy định chi tiết mẫu hồ sơ mời thầu mua sắm dược liệu
và vị thuốc cổ truyền tại cơ sở y tế công lập
|
Yêu cầu thông tin “sản lượng
thực tế trong vòng 30 ngày kể từ ngày hoàn thành thu hoạch được công bố trên
Trang thông tin điện tử của Cục Quản lý Y, Dược cổ truyền” (www.ydct.
moh.gov.vn). Tuy nhiên, thông tin này không tìm thấy trên website, dẫn đến
các mặt hàng vị thuốc có nguồn gốc trong nước không đạt yêu cầu hồ sơ mời thầu
và không lựa chọn được nhà thầu trúng thầu.
|
B. Hướng dẫn áp dụng VBQPPL
theo quy định tại Điều 61 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025
|
Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh
|
Không nhất trí vì đây là vấn
đề tổ chức thực thi, không phải vướng mắc về pháp luật. Bộ trưởng Y tế đã ban
hành Thông tư số 07/2024/TT-BYT ngày 17/5/2024 quy định về đấu thầu thuốc tại
cơ sở y tế công lập, trong đó đã sửa đổi quy định nêu trên.
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
24
|
Thông tư số 01/2022/TT-BYT
ngày 10/01/2022 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định ghi chép ban đầu và chế độ báo
cáo thống kê chuyên ngành dân số
|
Do quy trình thu thập, cập nhật
thông tin biến động dân số theo các bước từ cộng tác viên dân số đến Trạm y tế
cấp xã và Trung tâm y tế cấp huyện. Hiện nay, trên địa bàn cấp xã mới có nhiều
hơn 2 trạm y tế cấp xã thuộc địa bàn quản lý của các Trung tâm Y tế khác
nhau. Do vậy, khó khăn trong công tác ghi chép ban đầu, tổng hợp báo cáo lĩnh
vực Dân số.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên
|
Không nhất trí, vì vấn đề báo
cáo thống kê chuyên ngành dân số đã được quy định tại Thông tư số
17/2025/TTBYT Quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02
cấp trong lĩnh vực dân số bảo đảm phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa
phương 02 cấp.
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
25
|
Mục 9, Điều
11 Thông tư số 32/2023/TT-BYT của Bộ Y tế.
|
Tại Phụ lục số XIV: “Danh mục kỹ thuật
chuyên môn khám bệnh, chữa bệnh của Người hành nghề chức danh kỹ thuật y”. Có
rất nhiều kỹ thuật xạ trị cần sự hỗ trợ của kỹ thuật viên, ví dụ: Xạ trị bằng
máy gia tốc; Xạ trị bằng máy gia tốc có điều biến liều; Làm mặt nạ cố định đầu;
Xạ trị sử dụng CT mô phỏng …nhưng các kỹ thuật này không có trong DMKT của kỹ
thuật y hoặc chức danh khác. Bên cạnh đó các cơ sở đào tạo có đào tạo chứng
chỉ "kỹ thuật viên xạ trị".
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An
|
Nhất trí, Bộ Y tế sẽ nghiên cứu
tiếp thu trong quá trình xây dựng Thông tư 32/2023/TT-BYT
|
Chuyển sang phụ lục
V.9.2.B vì nhất trí với kiến nghị
|
|
26
|
Mục 9, Điều
11 Thông tư số 32/2023/TT-BYT của Bộ Y tế.
|
Tại Phụ lục số XIV: “Danh mục kỹ thuật
chuyên môn khám bệnh, chữa bệnh của Người hành nghề chức danh kỹ thuật y”. Có
rất nhiều kỹ thuật xạ trị cần sự hỗ trợ của kỹ thuật viên, ví dụ: Xạ trị bằng
máy gia tốc; Xạ trị bằng máy gia tốc có điều biến liều; Làm mặt nạ cố định đầu;
Xạ trị sử dụng CT mô phỏng …nhưng các kỹ thuật này không có trong DMKT của kỹ
thuật y hoặc chức danh khác. Bên cạnh đó các cơ sở đào tạo có đào tạo chứng
chỉ "kỹ thuật viên xạ trị".
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An
|
Nhất trí, Bộ Y tế sẽ nghiên cứu
tiếp thu trong quá trình xây dựng Thông tư 32/2023/TT-BYT
|
Chuyển sang phụ lục
V.9.2.B vì nhất trí với kiến nghị
|
|
27
|
Phụ lục IX: Danh mục kỹ thuật chuyên
môn theo chuyên khoa của Thông tư 32/TT-BYT Quy định chi tiết một số điều của
Luật Khám bệnh, chữa bệnh.
|
Theo Chương XI: Tại Mũi Họng
không có danh mục kỹ thuật “Nội soi tai mũi họng”. Gây khó khăn trong việc BS
chuyên khoa TMH chỉ định, thực hiện và thanh toán kỹ thuật khi khám và điều
trị cho người bệnh.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An
|
Nhất trí, Bộ Y tế sẽ nghiên cứu
tiếp thu trong quá trình sửa đổi Thông tư 32/2023/TT-BYT
|
Chuyển sang phụ lục
V.9.2.B vì nhất trí với kiến nghị
|
|
28
|
Phụ lục XII, Thông tư
32/2023/TT-BYT ngày 31/12/2023 của Bộ trưởng Bộ Y tế Quy định chi tiết 1 số
điều của Luật khám bệnh, chữa bệnh.
|
- Phụ lục XII, Thông tư 32/2023/TT-BYT
ngày 31/12/2023 quy định phạm vi hành nghề của người hành nghề có chức danh
điều dưỡng: Theo đó 1 số thủ thuật là ‘Kỹ thuật đánh dấu "*": Kỹ
thuật điều dưỡng có văn bằng chuyên khoa đó hoặc điều dưỡng trình độ đại học
trở lên được đào tạo bổ sung kỹ thuật chuyên môn đó được thực hiện và/hoặc chỉ
định kỹ thuật.’ Theo Nghị định 96/2023/NĐ-CP: + Tiểu mục 8,
Điều 2, Chương 1 giải thích từ ngữ: “Văn bằng chuyên khoa là văn bản chứng
nhận người học đã hoàn thành chương trình đào tạo sau đại học trong lĩnh vực
sức khỏe tương ứng với 1 trong các chức danh quy định tại các điểm
a, c, d, đ, e, g, h khoản 1 Điều 26 của Luật Khám bệnh, chữa bệnh” Bởi vậy
dẫn đến mâu thuẫn: điều dưỡng muốn thực hiện kỹ thuật đánh dấu * thì phải học
văn bằng chuyên khoa sau đại học mới được phép thực hiện hay chỉ cần văn bằng
chuyên khoa tối thiểu 18 tháng?
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh
|
Nhất trí, Bộ Y tế sẽ nghiên cứu
tiếp thu trong quá trình sửa đổi Thông tư 32/2023/TT-BYT
|
Chuyển sang phụ lục
V.9.2.B vì nhất trí với kiến nghị
|
|
29
|
Thông tư số 32/2024/TT-BYT
ngày 15/11/2024 của Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Y tế huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh,
thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương
|
Điểm c khoản
1 Điều 10 Thông tư số 32/2024/TT-BYT ngày 15/11/2024 quy định giao UBND cấp
tỉnh chỉ đạo việc ban hành Quy chế phối hợp giữa UBND cấp huyện với các cơ
quan chuyên môn ở cấp tỉnh liên quan trong việc thực hiện các nhiệm vụ chăm
sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân trên địa bàn. Tuy nhiên theo quy định
này thì chưa xác định được cơ quan nào có thẩm quyền ban hành văn bản này nên
địa phương còn lúng túng trong quá trình thực hiện.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh
|
Không nhất trí, vì: hiện nay
chính quyền cấp huyện không còn tồn tại.
|
Chuyển sang phụ lục
V.9.2.B vì nhất trí với kiến nghị. Bộ Y tế đang tiến hành sửa đổi Thông tư số
32/2024/TT-BYT và sẽ nghiên cứu sửa đổi nội dung này.
|
|
30
|
Thông tư số 01/2025/TT-BYT của
Bộ Y tế, theo đó Thông tư mới phân loại cơ sở khám, chữa bệnh
|
Điều 4 Thông
tư số 40/2015/TT-BYT ngày 16/11/2015 của Bộ Y tế, các cơ sở y tế được coi
là tuyến huyện và tương đương trong hệ thống khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế
ban đầu một cách cụ thể. Tuy nhiên, từ ngày 01/01/2025, Thông tư
40/2015/TT-BYT đã hết hiệu lực và được thay thế bởi Thông tư số
01/2025/TT-BYT của Bộ Y tế, theo đó Thông tư mới phân loại cơ sở khám, chữa bệnh
thành 3 cấp: Cấp ban đầu, cấp cơ bản và cấp chuyên sâu không còn phân thành
04 tuyến: Tuyến Trung ương; tuyến tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; tuyến
huyện, quận, thị xã thuộc tỉnh; tuyến xã, phường, thị trấn. Thông qua công
tác kiểm sát việc quản lý người tạm giữ, tạm giam, nhận thấy, thực tế có trường
hợp, cơ sở giam giữ tiếp nhận người bị tạm giữ, tạm giam là người đồng tính,
người chuyển giới nhưng do cơ cấu nhà tạm giữ không đủ buồng phòng nên không
thể giam giữ ở buồng riêng. Khi phân loại để bố trí buồng phòng giam, giữ cho
những đối tượng này thì gặp vướng mắc trong việc phân buồng theo giới tính
như thế nào cho phù hợp. Ví dụ: Người có giới tính nữ, đang trong quá trình
chuyển giới (đã tiêm hoocmon nam, chưa phẫu thuật) thì nên việc sắp xếp vào
buồng nữ hay buồng nam chưa được quy định cụ thể.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Sở Tư pháp thành phố Đà Nẵng
|
Không nhất trí:
Điều 4 Thông
tư số 40/2015/TT-BYT ngày 16/11/2015 và Điều 6 Thông tư
số 01/2025/TT-BYT ngày 01/01/2025 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
một số điều của Luật Bảo hiểm y tế. Trong đó chỉ quy định về Cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu không liên quan đến việc phân loại buồng bệnh.
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
31
|
Khoản 2, Điều
9, Thông tư 01/2025/TT-BYT ngày 01/01/2025 của Bộ Y tế quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của luật bảo hiểm y tế.
|
Quy định về chuyển người bệnh
giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế theo đúng trình tự còn gây
khó khăn (từ cấp ban đầu đến cấp cơ bản, rồi cấp chuyên sâu). Cụ thể, một số
địa bàn không có cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản ở khoảng cách phù hợp,
buộc các cơ sở khám ban đầu phải chuyển bệnh nhân thẳng lên tuyến chuyên sâu
hoặc đến các địa bàn khác trong tỉnh, làm tăng khoảng cách di chuyển (gần 30-
40km). Việc phải đi lại, di chuyển xa và khó khăn hơn so với trước đây khiến
cho bệnh nhân rất khó khăn, vất vả và bức xúc, gây gánh nặng cho người dân và
hạn chế khả năng tiếp cận dịch vụ y tế.
|
B. Hướng dẫn áp dụng VBQPPL
theo quy định tại Điều 61 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025
|
Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh
|
Không nhất trí:
- Điểm b khoản
2 Điều 14 Thông tư số 01/2025/TT-BYT đã quy định phân cấp cho Sở Y tế có
trách nhiệm: “Hướng dẫn việc chuyển người bệnh giữa các cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh đối với người bệnh tham gia bảo hiểm y tế trên địa bàn tỉnh bảo đảm yêu
cầu chuyên môn, điều kiện thực tế của địa phương và tạo thuận lợi cho người bệnh.”.
- Khoản 3 Điều
6 Thông tư 01/2025/TT-BYT đã quy định: Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm
y tế thuộc cấp khám bệnh, chữa bệnh chuyên sâu được đăng ký khám bệnh, chữa bệnh
bảo hiểm y tế ban đầu cho một số đối tượng tham gia bảo hiểm y tế theo quy định
tại khoản 3 Điều 7 Thông tư này. Bên cạnh đó điểm h khoản 3 Điều 7 quy định: “h) Đối tượng khác trong
trường hợp cần thiết theo đặc thù của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và yêu cầu
thực tế tại địa phương: Sở Y tế lấy ý kiến cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh nơi
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh dự kiến ký hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm
y tế, tổng hợp hồ sơ báo cáo Bộ Y tế xem xét, quyết định.”
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
32
|
Khoản 1, Điều
15, Thông tư 12/2025/TT-BYT ngày 16/5/2025 Quy định việc đăng ký lưu hành
thuốc, nguyên liệu làm thuốc
|
Quy định gây khó khăn cho
doanh nghiệp trong việc cung cấp các tài liệu chứng minh thuốc không kê đơn.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Công ty Dược Yên Bái
|
Chưa rõ vướng mắc, khó khăn cụ
thể vì khoản 1 Điều 15 chỉ quy định về nguyên tắc phân
loại thuốc không kê đơn
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
33
|
2. Thông tư số 32/2025/TT-BYT
của Bộ Y tế: Quy định quản lý về chất lượng thuốc cổ truyền, vị thuốc cổ truyền,
dược liệu
|
Phụ lục II: Mức độ vi phạm của thuốc
cổ truyền: II. Thuốc cổ truyền vi phạm mức độ 2: 9. Thuốc có hàm lượng thành
phần nguyên liệu/dược liệu nằm ngoài mức giới hạn 5% so với giới hạn quy định
tại hồ sơ đăng ký (Ví dụ: Thuốc có hàm lượng thành phần A được đăng ký là 100
mg ± 10% (tức là mức hàm lượng đạt là từ 90 - 110 mg). Nếu hàm lượng thành phần
A thực tế không đạt nhưng nằm trong khoảng dưới 85,5 mg hoặc trên 115,5 mg);
à Góp ý: - Chất lượng dược liệu phụ thuộc rất nhiều vào nguồn giống; quy trình
trồng, chăm sóc; mùa vụ; vùng trồng… nên hàm lượng hoạt chất/chất chiết trong
dược liệu dao động rất lớn ở các lô dược liệu khác nhau/lần nhập khác nhau.
Do đó, đối với chất lượng dược liệu, cũng như thuốc cổ truyền chỉ nên quy định
hàm lượng hoạt chất chính/chất chiết được với mức hạn dưới (không nên quy định
mức giới hạn trên. VD: Hàm lượng chất chiết trong dược liệu không dưới 7,0%).
- Nếu đây là quy định cho chỉ tiêu định lượng hoạt chất/chất chiết theo Tiêu
chuẩn chất lượng thành phẩm đăng ký thì hợp lý (bỏ quy định mức giới hạn
trên). Nhưng nếu đây là lượng dược liệu/cao dược liệu đưa vào công thức sản
xuất thì chưa hợp lý. Vì trong sản xuất sẽ có nhiều hư hao nên nhà sản xuất cần
bù hư hao trong quá trình sản xuất, cũng như tính toán cho việc sai số của
phương pháp kiểm nghiệm.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Hiệp hội Dược Việt Nam
(VNPCA)
|
Không nhất trí, vì: Quy định
về mức chất lượng nằm ngoài khoảng 5% đã được khảo sát, đánh giá từ hệ thống
kiểm nghiệm chất lượng thuốc trên cả nước. Việc quy định mức giới hạn bảo đảm
chất lượng của thuốc, tránh nguy cơ trộn lẫn các thành phần khác trong công
thức
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
34
|
Quyết định số 3495/QĐ-BYT
ngày 07/8/2019 của Bộ Y tế về việc phê duyệt “Kế hoạch dụng vắc xin HPV phòng
bệnh Ung thư cổ tử cung cho trẻ em gái tại một số tỉnh, giai đoạn 2021-2025”
|
Quyết định số 3495/QĐ-BYT vẫn
còn hiệu lực, nhưng Thông tư số 15/2020/TT-BYT ngày 10/8/2020 của Bộ Y tế, vốn
là văn bản liên quan đến phương thức mua sắm vắc xin theo hướng dẫn tại Quyết
định 3495/QĐ- BYT, đã hết hiệu lực. Hiện Bộ Y tế chưa có văn bản hướng dẫn mới
hoặc văn bản dừng triển khai Kế hoạch để thay thế Thông tư đã hết hiệu lực.
Điều này dẫn đến việc tỉnh Quảng Ninh gặp khó khăn trong việc tự thực hiện
mua vắc xin HPV theo mức giá đàm phán được hướng dẫn tại Quyết định
3495/QĐ-BYT, do thiếu căn cứ pháp lý rõ ràng để mua theo mức giá hỗ trợ đàm
phán và không đảm bảo quy định của các thông tư liên quan.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh
|
Không nhất trí, vì: Thông tư
05/2024/TT-BYT đã thay thế Thông tư số 15/2020/TT-BYT
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
35
|
Công văn số 34/KSTT- GSBHXH
ngày 22/4/2025 của Trung tâm kiểm soát thanh toán bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y
tế điện tử - Bảo hiểm xã hội Việt Nam về việc xuất hóa đơn giá trị gia tăng
mua thuốc kháng HIV nguồn quỹ BHYT.
|
Công ty cổ phần Dược liệu
Trung ương 2 không thực hiện cung ứng thuốc đã trúng thầu (thuốc Aluvia, SĐK:
VN-17801-14) theo Quyết định số 05/QĐ-TTMS ngày 26/01/2024 của Trung tâm Mua
sắm tập trung thuốc Quốc gia. Lý do là Trung tâm Kiểm soát thanh toán bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm y tế điện tử - Bảo hiểm xã hội Việt Nam đề nghị các nhà thầu
dừng việc xuất hóa đơn giá trị gia tăng mua thuốc kháng HIV được mua sắm tập
trung cấp quốc gia nguồn quỹ BHYT cho các Hợp đồng mua thuốc năm 2024-2025,
trong khi chờ văn bản hướng dẫn của Bộ Y tế. Tình trạng này gây thiếu thuốc,
gián đoạn phục vụ hoạt động khám bệnh, chữa bệnh cho người bệnh.
|
B. Hướng dẫn áp dụng VBQPPL
theo quy định tại Điều 61 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025
|
Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh
|
Không nhất trí vì Công văn
không phải văn bản quy phạm pháp luật, không thuộc phạm vi rà soát, cho ý kiến
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
Phụ lục V.9.3.C
CHO Ý KIẾN ĐỐI VỚI KẾT QUẢ RÀ SOÁT KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC
DO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT THUỘC PHẠM VI PHỤ TRÁCH CỦA BỘ Y TẾ
Tiêu chí: Nội dung quy định được phản ánh tạo
gánh nặng chi phí tuân thủ; chưa có quy định hoặc có quy định của VBQPPL nhưng
hạn chế việc đổi mới sáng tạo, phát triển động lực tăng trưởng mới, khơi thông
nguồn lực, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và hội nhập quốc tế
Nhóm
C. Nhóm các nội dung cho ý kiến không nhất trí
|
STT
|
Điều, khoản, điểm, tên văn bản đề xuất xử lý
|
Nội dung quy định được phản ánh tạo gánh nặng chi phí tuân thủ;
chưa có quy định hoặc có quy định của VBQPPL nhưng hạn chế việc đổi mới sáng
tạo, phát triển động lực tăng trưởng mới, khơi thông nguồn lực, thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế và hội nhập quốc tế
|
Phương án xử lý được đề xuất
|
Cơ quan, tổ chức rà soát, phản ánh
|
Ý kiến của Bộ Y tế về nội dung rà soát, phản ánh
|
Tình hình trả lời phản ánh, kiến nghị sau Báo cáo 76-BC/ĐU[1]
|
|
1
|
Theo quy định tại Điều 6 Luật Dược 2016, được sửa đổi, bổ sung bởi điểm d, khoản 3, Điều 1, Luật sửa đổi, bổ sung 2024, doanh
nghiệp bị cấm thực hiện hoạt động bán buôn theo phương thức thương mại điện tử
đối với thuốc phải kiểm soát đặc biệt.
|
Trong khi đó, dù là thực hiện
hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử hay phương thức thương
mại truyền thống thì doanh nghiệp đều phải có Giấy chứng nhận đủ điều kiện
kinh doanh dược. Phương thức thương mại điện tử chỉ khác với phương thức kinh
doanh truyền thống ở cách thức đặt hàng. Sau khi thực hiện bước đặt hàng, việc
vận chuyển và giao nhận thuốc cho đơn đặt hàng trực tuyến đều phải tuân thủ
Thực hành tốt phân phối thuốc (GDP) như trong hoạt động vận chuyển và giao nhận
thuốc theo phương thức truyền thống. Do vậy, bán buôn theo phương thức thương
mại điện tử không tạo thêm rủi ro hoặc nguy cơ không tuân thủ nào trong việc
quản lý thuốc phải kiểm soát đặc biệt. Thậm chí, việc đặt hàng thông qua
phương thức thương mại điện tử còn có nhiều ưu điểm như thuận lợi hơn, tiết
kiệm thời gian hơn và hiệu quả hơn trong việc thúc đẩy chuyển đổi số.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Liên đoàn Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam (VCCI)
|
Không nhất trí, vì: Theo quy
định tại Điều 34 Luật Dược thì cơ sở kinh doanh thuốc kiểm
soát đặc biệt phải đáp ứng thêm các điều kiện như: biện pháp về an ninh, bảo
đảm không thất thoát thuốc, nguyên liệu làm thuốc; trường hợp kinh doanh thuốc
phóng xạ phải đáp ứng các điều kiện theo quy định của Luật năng lượng nguyên
tử và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan. Bên cạnh đó, theo quy
định tại Điều 33, 34 Nghị định số 163/2025/NĐ-CP thì việc
giao, nhận, vận chuyển các loại thuốc này phải bảo đảm các yêu cầu đặc biệt,
chẳng hạn: Người giao, người nhận thuốc, nguyên liệu làm thuốc phải kiểm soát
đặc biệt phải có bằng tốt nghiệp trung cấp ngành dược trở lên; trường hợp
giao nhận thuốc phóng xạ, người giao, người nhận thuốc phóng xạ phải có thêm
chứng chỉ an toàn bức xạ theo quy định của pháp luật về năng lượng nguyên tử;
Người vận chuyển thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, thuốc tiền chất, nguyên
liệu làm thuốc là dược chất gây nghiện, dược chất hướng thần, tiền chất dùng
làm thuốc khi làm nhiệm vụ phải mang theo văn bản giao nhiệm vụ của người đứng
đầu cơ sở, giấy tờ tùy thân hợp lệ, hóa đơn bán hàng hoặc phiếu xuất kho. Trường
hợp vận chuyển thuốc phóng xạ, người vận chuyển phải mang thêm chứng chỉ an
toàn bức xạ.
Việc không cho phép kinh
doanh theo phương thức thương mại điện tử đối với thuốc phải kiểm soát đặc biệt
nhằm kiểm soát chặt chẽ đường đi của thuốc, nguyên liệu làm thuốc, tạo điều
kiện xác minh danh tính của người mua, người bán, tránh tình trạng mất an
ninh, thất thoát cho mục đích bất hợp pháp.
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
2
|
Điều 23 Luật
Dược số 105/2016/QH15 Một số nội dung chưa có quy định cụ thể về thời
gian thực hành và quy định hành nghề
|
- Chưa có quy định việc hành
nghề đối với nhân viên của cơ sở kinh doanh Dược - Chưa có quy định thời gian
thực hành trong một ngày tối thiểu bao nhiêu tiếng Nên gây khó khăn trong việc
quản lý và cấp chứng chỉ hành nghề của sở Y tế
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Sở Tư pháp tỉnh Hải Phòng
|
Đây là vấn đề tổ chức thực hiện,
không phải vướng mắc về mặt pháp lý.
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
3
|
Điều 56 Luật
Dược 2016 (đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 30 Điều 1
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược)
|
Trong quá trình soạn thảo Luật
Dược sửa đổi, các doanh nghiệp đã kiến nghị Bộ Y tế bãi bỏ thủ tục gia hạn giấy
phép lưu hành thuốc đối với các thuốc đã lưu hành trên thị trường Việt Nam từ
5 năm trở lên mà không có cảnh báo tác dụng phụ nghiêm trọng, nhằm giảm gánh
nặng thủ tục hành chính cho doanh nghiệp cũng như giảm lãng phí nguồn lực nhà
nước cho một thủ tục không cần thiết. Tuy nhiên, đề xuất này chưa được chấp
nhận trong quá trình thông qua Luật Dược sửa đổi. Đề xuất Bộ Y tế bãi bỏ thủ
tục gia hạn Giấy phép lưu hành thuốc quy định tại Điều 56 Luật
Dược. Cụ thể, đối với thuốc không ghi nhận tác dụng phụ nghiêm trọng
trong thời hạn 05 năm kể từ ngày cấp Giấy phép lưu hành thuốc thì tiếp tục được
gia hạn giấy phép không thời hạn kể từ lần gia hạn đầu tiên.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Liên đoàn Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam (VCCI)
|
Việc gia hạn giấy phép lưu
hành thuốc đã được Chính phủ và Quốc hội thảo luận rất kỹ trong quá trình xây
dựng Luật sửa đổi, bổ sung Luật Dược 2016 và thống nhất vẫn yêu cầu có thủ tục
gia hạn sau khi tham khảo các nước trên Thế giới và báo cáo đánh giá tác động,
tổng kết thi hành Luật Dược. Để đảm bảo an toàn, hiệu quả cho người sử dụng
nhưng vẫn giảm gánh nặng cho DN, Luật Dược sửa đổi đã đơn giản tối đa thủ tục
gia hạn, đồng thời cho phép được tiếp tục sử dụng giấy phép lưu hành sau khi
hết hiệu lực trong thời gian chờ gia hạn đã đảm bảo thuốc được lưu hành liên
tục trên thị trường. Các quy định này cùng phù hợp thông lệ quốc tế.
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
4
|
Luật sửa đổ, bổ sung một số
điều của Luật Dược
|
Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Dược đã được Quốc hội thông qua tháng 11/2024 và sẽ có hiệu lực
từ 01/7/2025. Hiện Cục Quản lý Dược đang hoàn thiện Dự thảo Nghị định hướng dẫn
thi hành, dự kiến ban hành trong thời gian tới. Tuy nhiên, Dự thảo đang gây
lo ngại cho doanh nghiệp ở hai nội dung chính: (i) Quy định chênh lệch giá giữa
giá công bố và giá trúng thầu: Dự thảo quy định ngưỡng kiểm soát là 35% đối với
thuốc có giá dưới 1 triệu đồng/đơn vị đóng gói, và 15% đối với thuốc từ 1 triệu
đồng trở lên. Mức chênh lệch 15% này sẽ là rào cản lớn cho việc nhập khẩu thuốc
mới, thuốc chất lượng cao có giá thành cao hơn thuốc sản xuất trong nước, làm
hạn chế quyền tự định giá của doanh nghiệp theo Luật Giá và dễ gây phân biệt
đối xử với thuốc nhập khẩu. Doanh nghiệp đề xuất nâng ngưỡng chênh lệch lên
50% để tạo thuận lợi cho đấu thầu và giao dịch, đồng thời phù hợp cơ chế thị
trường. (ii) Quy định phê duyệt từng lô hàng trước khi nhập khẩu: Dự thảo yêu
cầu doanh nghiệp phải nộp hồ sơ chi tiết và được Sở Y tế tỉnh/thành phố phê
duyệt trước khi nhập khẩu. Quy định này sẽ làm phát sinh chi phí, tăng thủ tục
và khối lượng công việc cho cả doanh nghiệp và cơ quan quản lý. Doanh nghiệp
và các hiệp hội đã kiến nghị Cục Quản lý Dược nghiên cứu giải pháp công nghệ
kết nối dữ liệu với Hải quan để bỏ quy trình này, đồng thời Cục Kiểm soát thủ
tục hành chính cũng đã đề nghị Bộ Y tế rà soát, cắt giảm ít nhất 30% thủ tục
theo quy định. Kiến nghị Cục Quản lý Dược xem xét đề xuất của doanh nghiệp và
bãi bỏ yêu cầu mới này để thực hiện chủ trương cắt giảm thủ tục hành chính của
Chính phủ.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Liên đoàn Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam (VCCI)
|
Không nhất trí, Lý do:
(i) Kiến nghị về dự thảo văn
bản quy phạm pháp luật không thuộc phạm vi rà soát.
(ii) Hiện tại, Điều 87 Nghị định số 163/2025/NĐ-CP quy định về thông báo
nhập khẩu theo hướng đơn giản hóa tối đa thủ tục hành chính: lô thuốc nhập khẩu
trực tuyến được kê khai trực tuyến tích hợp trên Cổng thông tin một cửa Quốc
gia và không phải nộp bất kỳ tài liệu nào khác kèm theo. Việc thông báo nhập
khẩu không cần phê duyệt của UBND cấp tỉnh, chỉ trường hợp lô thuốc thông báo
không đáp ứng các tiêu chí nhập khẩu, UBND cấp tỉnh mới có văn bản thông báo
cho CSNK và hải quan.
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
5
|
Điểm c, Khoản 3, Điều 42 Dự
thảo Luật Phòng bệnh
|
Điểm c khoản 3 Điều 42 Dự thảo
Luật Phòng bệnh quy định Quỹ Phòng bệnh có thể được hình thành theo hai
phương án: (1) trích một phần từ nguồn thu thuế tiêu thụ đặc biệt đối với các
sản phẩm không có lợi cho sức khỏe; hoặc (2) quy định khoản đóng góp bắt buộc
của cơ sở sản xuất, nhập khẩu các sản phẩm này (trừ thuốc lá), tính theo tỷ lệ
% trên giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt, lộ trình tăng dần từ 1% năm 2027 lên
2% năm 2029. Đề nghị loại bỏ Phương án 2 vì các lý do sau: 1. Từ 2022 đến
nay, doanh nghiệp vẫn đang phục hồi khó khăn, sức mua giảm mạnh, chi tiêu
tiêu dùng giảm từ 11% (2022) xuống 2,9% (2024), chỉ số niềm tin tiêu dùng
cũng lao dốc. Người dân thắt chặt chi tiêu khiến doanh thu và thị phần của
doanh nghiệp tiếp tục bị thu hẹp. 2. Hiện doanh nghiệp đã gánh nhiều nghĩa vụ
tài chính như thuế TNDN, thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt, phí bảo vệ môi
trường, các loại phí địa phương. Việc bổ sung khoản đóng góp bắt buộc này sẽ
làm phát sinh tình trạng “thuế chồng thuế”, gây thêm áp lực chi phí, đặc biệt
với doanh nghiệp vừa và nhỏ, hạn chế khả năng đầu tư, đổi mới và giữ chân lao
động. 3. Kinh nghiệm quốc tế (Thái Lan, Singapore, Hàn Quốc, Úc) cho thấy các
Quỹ Phòng bệnh đều được hình thành từ ngân sách hoặc nguồn thu thuế tiêu thụ
đặc biệt, không phát sinh thêm nghĩa vụ đóng góp trực tiếp từ doanh nghiệp sản
xuất các sản phẩm khác ngoài thuốc lá, rượu bia. Quỹ chủ yếu phục vụ tuyên
truyền, giáo dục sức khỏe, không làm tăng gánh nặng tuân thủ cho doanh nghiệp.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Liên đoàn Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam (VCCI)
|
Kiến nghị về dự thảo văn bản
quy phạm pháp luật không thuộc phạm vi rà soát
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
6
|
Điều 99 Nghị
định. 54/2017/NĐ-CP có quy định cụ thể về thời gian thực hiện đánh giá việc
đáp ứng thực hành tốt sản xuất của cơ sở sản xuất nước ngoài.
=> Đã có Thông tư
28/2025/TT-BYT mới quy định về Thực hành tốt sản xuất thuốc.
|
Theo quy định hiện hành, để
được cấp/gia hạn giấy đăng ký lưu hành thuốc, doanh nghiệp phải cung cấp giấy
chứng nhận đạt tiêu chuẩn thực hành tốt sản xuất (GMP) còn hiệu lực của nhà
máy sản xuất. Tuy nhiên, trên thực tế, quy trình, thủ tục cấp chứng nhận GPM
mất quá nhiều thời gian, làm chậm quá trình cấp/gia hạn giấy đăng ký lưu hành
thuốc, gây nhiều ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Việc thẩm
định hồ sơ được triển khai rất chậm và không đồng bộ với quy trình thẩm định
hồ sơ cấp/gia hạn giấy đăng ký lưu hành thuốc, dẫn đến nhiều trường hợp hồ sơ
xin cấp/gia hạn giấy đăng ký lưu hành thuốc đã đạt yêu cầu nhưng vẫn không được
cấp số đăng ký vì phải đợi kết quả công bố đáp ứng GMP của nhà máy. Hơn nữa,
trong nhiều trường hợp, hiệu lực công bố GMP của nhà máy sản xuất ở nước
ngoài được cấp bởi nước sở tại chỉ có hiệu lực trong 01 năm (ví dự như đối với
các nhà máy ở Mỹ, Argentina). Thông thường, sau khi chứng nhận GMP hết hạn, sẽ
cần một khoảng thời gian để đợi cấp GMP mới. Thời điểm để cơ sở sản xuất được
cấp GMP mới tùy thuộc vào lịch trình tái kiểm tra đánh giá và cấp lại chứng
nhận GMP của cơ quan quản lý nước sở tại. Sau khi nhà máy được cấp GMP mới,
doanh nghiệp cần chuẩn bị hồ sơ công bố GMP bao gồm hợp pháp hóa lãnh sự (nhiều
trường hợp mất 2-3 tháng), và nộp hồ sơ đến Cục quản lý Dược để thực hiện thẩm
định và công bố nhà máy đạt GMP theo quy định pháp luật của Việt Nam. Toàn bộ
quy trình này có thể mất khoảng 6 tháng.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Liên đoàn Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam (VCCI)
|
Không nhất trí, Lý do:
1. Ngày 29/6/2025, Chính phủ
đã ban hành Nghị định số 163/2025/NĐ-CP, theo đó, thủ tục đánh giá cơ sở sản
xuất thuốc nước ngoài đã được cắt giảm đơn giản hóa phù hợp với từng đối tượng
(cắt giảm thời gian xử lý, hồ sơ cần nộp, mở rộng đối tượng được đánh giá
theo hình thức thừa nhận công nhận kết quả đánh GMP của cơ quan quản lý dược
nước tiên tiến); đã bổ sung quy định (khoản 5 Điều 96) về
việc duy trì kết quả đánh giá GMP, giao cho doanh nghiệp tự chứng minh tình
trạng đáp ứng GMP của cơ sở sản xuất nước ngoài.
2. Quy định hiện nay về đánh
giá đáp ứng GM cơ sở sản xuất nước ngoài của Bộ Y tế Việt Nam là đơn giản, ít
tốn kém thời gian và kinh phí hơn rất nhiều so với việc Cơ quan quản lý dược
nước ngoài đánh giá đối với cơ sở sản xuất thuốc của Việt Nam khi xuất khẩu;
tạo nên sự không công bằng giữa thuốc nhập khẩu vào Việt Nam và thuốc Việt
Nam xuất khẩu.
3. Trong thời gian tới, khi Bộ
Tài chính ban hành quy định về kinh phí đánh giá GMP cơ sở sản xuất thuốc nước
ngoài, Bộ Y tế sẽ tăng cường triển khai việc đánh giá thực tế tại cơ sở.
4. Tại Thông tư số 35/2018/TT-BYT
và Thông tư số 28/2025/TT-BYT (thay thế thông tư số 35) đã quy định việc chấp
nhận tình trạng duy trì GMP khi cơ sở sản xuất nộp báo cáo hoạt động - duy
trì đáp ứng GMP theo thời hạn quy định.
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
7
|
Khoản 3 điều
11 Nghị định 155/2018/NĐ-CP ngày 12/11/2018 của Chính phủ sửa đổi quy định
liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của
Bộ Y tế
|
Khoản 3 Điều
11 Nghị định 155/2018/NĐ-CP sửa đổi Điều 22 Nghị định số
109/2016/NĐ-CP quy định về hình thức tổ chức của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
trong đó Cơ sở dịch vụ thẩm mỹ là một trong những hình thức tổ chức của cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh. Tuy nhiên, Nghị định lại không quy định việc cấp giấy
phép hoạt động cho Cơ sở dịch vụ thẩm mỹ. Đề nghị sửa đổi theo hướng: Một là
bỏ Cơ sở dịch vụ thẩm mỹ ra khỏi các tổ chức hành nghề khám bệnh chữa bệnh,
hai là nếu vẫn quy định dịch vụ thẩm mỹ là tổ chức hành nghề khám chữa bệnh
thị bổ sung việc quy định cấp giấy phép hoạt động để đảm bảo phân định rõ
trách nhiệm quản lý nhà nước.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Sở Tư pháp thành phố Hà Nội;
Đảng bộ cơ sở Trường Cao đẳng Luật Miền Trung
|
Không nhất trí vì: Chương III Nghị định 96/2023 đã có quy định về cấp phép hoạt
động khám chữa bệnh cho các cơ sở cung cấp dịch vụ thẩm mỹ
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
8
|
Dự thảo Nghị định sửa đổi NĐ
15/2018/ NĐ-CP
|
Bản dự thảo 8 Nghị định sửa đổi
ngày 29 tháng 6 năm 2025 2_ Du thao 8 ngay 29_6_2025-18h20-TB DN.pdf Điều 1.
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 15/2018/NĐ-CP ngày 02 tháng 02
năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An
toàn thực phẩm 6. Sửa đổi, bổ sung Điều 7 như sau “Điều 7. Hồ sơ đăng ký bản
công bố sản phẩm đối với sản phẩm thực phẩm nhập khẩu Hồ sơ đăng ký bản công
bố sản phẩm đối với thực phẩm bảo vệ sức khỏe: a. Các tài liệu quy định tại
khoản 1 Điều này; b. Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đạt
yêu cầu Thực hành sản xuất tốt (GMP) hoặc chứng nhận tương đương (bản có đóng
dấu xác nhận của tổ chức, cá nhân hoặc bản điện tử kèm kết quả tự tra cứu từ
trang thông tin điện tử hoặc cơ sở dữ liệu tiếng Anh của cơ quan cấp hoặc cơ
quan có thẩm quyền các nước và có đóng dấu xác nhận của tổ chức, cá nhân); c.
Mẫu nhãn sản phẩm và tờ hướng dẫn sử dụng (nếu có); d. Báo cáo quá trình
nghiên cứu, phát triển sản phẩm; đ) Tài liệu về tiêu chuẩn chất lượng và an
toàn e. Tài liệu về quy trình sản xuất; g. Báo cáo kết quả nghiên cứu độ ổn định
của sản phẩm; i. Các tài liệu khác liên quan đến đánh giá kỹ thuật sản phẩm;
Kết quả kiểm nghiệm bổ sung theo yêu cầu của cơ quan quản lý (nếu được yêu cầu);
Giải trình kỹ thiết khác (nếu có). Chi tiết hướng dẫn đối với các tài liệu
trên và bộ hồ sơ đăng ký bản công bố sản phẩm thực phẩm bảo vệ sức khỏe được
quy định tại Mẫu số 15 Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.
|
B. Hướng dẫn áp dụng VBQPPL
theo quy định tại Điều 61 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025
|
Hiệp hội Dược Việt Nam
(VNPCA)
|
Không nhất trí, vì: Đây là
góp ý dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, không thuộc phạm vi rà soát
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
9
|
Dự thảo Nghị định sửa đổi NĐ
15/2018/ NĐ- CP
|
Bản dự thảo 8 Nghị định sửa đổi
ngày 29 tháng 6 năm 2025 Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
15/2018/NĐ-CP ngày 02 tháng 02 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm 8. Sửa đổi, bổ sung khoản 1, 2, 3, 4 Điều 8 như sau 2. Trong thời hạn 90 ngày kể
từ khi nhận đủ hồ sơ đăng ký bản công bố sản phẩm, cơ quan tiếp nhận hồ sơ
quy định tại khoản 1 Điều này có trách nhiệm thẩm định
hồ sơ và cấp giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm theo Mẫu số 03 Phụ lục
I ban hành kèm theo Nghị định này; 3. Trong trường hợp không đồng ý với hồ sơ
công bố sản phẩm của tổ chức, cá nhân hoặc yêu cầu sửa đổi, bổ sung, cơ quan
quản lý nhà nước có thẩm quyền phải có văn bản nêu rõ lý do và căn cứ pháp
lý, căn cứ chuyên môn của việc yêu cầu. Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận
được văn bản yêu cầu sửa đổi, bổ sung của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm
quyền, tổ chức, cá nhân hoàn thiện và nộp hồ sơ sửa đổi, bổ sung. Tổ chức, cá
nhân chỉ được sửa đổi, bổ sung 01 lần. Quá thời hạn sửa đổi, bổ sung, hồ sơ
không còn giá trị. Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chỉ được yêu cầu sửa
đổi, bổ sung 01 lần đối với mỗi lần tổ chức, cá nhân nộp, sửa đổi, bổ sung hồ
sơ. Hồ sơ sẽ không còn giá trị nếu sau 60 ngày kể từ khi nhận được công văn
yêu cầu sửa đổi, bổ sung, tổ chức, cá nhân không sửa đổi, bổ sung hoặc sửa đổi,
bổ sung quá 01 lần.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Hiệp hội Dược Việt Nam
(VNPCA)
|
Không nhất trí, vì: Đây là
góp ý dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, không thuộc phạm vi rà soát
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
10
|
Dự thảo Nghị định sửa đổi NĐ
15/2018/ NĐ-CP
|
Bản dự thảo 8 Nghị định sửa đổi
ngày 29 tháng 6 năm 2025 Điều 3. Điều khoản thi hành 3. Điều khoản chuyển tiếp
a) Đối với hồ sơ đăng ký bản công bố sản phẩm đã nộp trước thời điểm Nghị định
này có hiệu lực thi hành và sản phẩm đã được cấp Giấy tiếp nhận đăng ký bản
công bố sản phẩm trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực thi hành, trong thời
hạn 18 tháng tổ chức, cá nhân có trách nhiệm sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hồ
sơ theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 7a Nghị định này. Sau thời hạn
trên nếu không hoàn thiện thì hồ sơ đăng ký bản công bố sản phẩm hoặc Giấy tiếp
nhận đăng ký bản công bố sản phẩm không còn giá trị và sản phẩm đã sản xuất
trong vòng 18 tháng sau thời điểm Nghị định này có hiệu lực thi hành thì được
tiếp tục lưu thông đến hết thời hạn sử dụng của sản phẩm và tổ chức, cá nhân
vẫn chịu trách nhiệm đối với sản phẩm đó;
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Hiệp hội Dược Việt Nam
(VNPCA)
|
Không nhất trí, vì: Đây là góp
ý dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, không thuộc phạm vi rà soát
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
11
|
Dự thảo 8 NGHỊ ĐỊNH Sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định số 15/2018/NĐ-CP, (29/06/2025), -Phụ lục, Mẫu
số 15 IX. Báo cáo kết quả nghiên cứu độ ổn định của sản phẩm: Nghiên cứu độ ổn
định ở điều kiện bảo quản (dài hạn) (30 độ C, 25 độ C) để xác định tuổi thọ,
hạn dùng của thành phẩm. Nghiên cứu ở điều kiện lão hóa cấp tốc (khắc nghiệt,
cưỡng bức) (40 độ C/75% RH (Relative humidity- độ ẩm tương đối của không
khí)) của sản phẩm để tiên lượng độ ổn định của chế phẩm. Ngoài ra, cần
nghiên cứu độ ổn định của thành phẩm sau mở nắp (hoặc trong thời gian sử dụng-
stability in use). Ví dụ như viên nén, viên nang cứng, viên sủi đóng chai lọ,
tuýp, chế phẩm lỏng đa liều (siro, dung dịch, hỗn dịch, gel…).
|
Ở đây chưa nêu rõ cụ thể các
chỉ tiêu phải làm độ ổn định. Chỉ tiêu kim loại nặng là 1 chỉ tiêu bắt buộc
trong TCCS của thành phẩm. Nhưng chỉ tiêu này không bị tăng lên theo thời
gian. Như vậy nếu tất cả các thời điểm yêu cầu đều kiểm tra chỉ tiêu kim loại
nặng sẽ gây mất thời gian và lãng phí cho Doanh nghiệp.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Hiệp hội Dược Việt Nam
(VNPCA)
|
Không nhất trí, vì: Đây là
góp ý dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, không thuộc phạm vi rà soát
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
12
|
Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị định 15/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của chính phủ
quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm
|
Dự thảo quy định hồ sơ đăng
ký bản công bố sản phẩm thực phẩm bảo vệ sức khoẻ (TPBVSK) yêu cầu quá nhiều
tài liệu chuyên sâu, từ báo cáo phát triển sản phẩm, công thức, quy trình, đến
tài liệu thử nghiệm, đánh giá công dụng, độ ổn định sản phẩm. Đặc biệt, doanh
nghiệp chỉ được phép sửa đổi bổ sung duy nhất 1 lần, nếu quá 60 ngày hoặc
không đạt thì phải làm lại từ đầu. Điều này gây rủi ro rất lớn và không phù hợp
với bản chất đặc thù của TPBVSK - một lĩnh vực phụ thuộc nhiều vào quan điểm
chuyên gia, chưa có quy chuẩn cứng về công thức. Độ ổn định của sản phẩm thường
mất ít nhất 3 năm để hoàn thành. Tuy nhiên, hiện chưa có quy chuẩn rõ ràng để
xác định điều kiện đạt hay không đạt. Trong trường hợp hồ sơ không được chấp
thuận, toàn bộ công sức và nguồn lực mà doanh nghiệp đã đầu tư sẽ không thể
phát huy hiệu quả, gây lãng phí đáng kể. Đề xuất cắt giảm bớt các TTHC.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Liên đoàn Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam (VCCI)
|
Không nhất trí, vì: Đây là
góp ý dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, không thuộc phạm vi rà soát
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
13
|
Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị định 15/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của chính phủ
quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm
|
Dự thảo hiện quy định các sản
phẩm đã được cấp giấy công bố trước đây chỉ được tiếp tục lưu thông đến hết hạn
sử dụng và không được phép sản xuất thêm nếu chưa hoàn tất đăng ký lại. Quy định
này đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp đã đầu tư đáng kể cho việc phát triển
sản phẩm, xây dựng thương hiệu và thị trường sẽ phải bắt đầu lại toàn bộ quy
trình, trong khi khả năng hồ sơ mới không được phê duyệt là rất cao do chưa
có hướng dẫn, tiêu chí cụ thể từ cơ quan quản lý. Điều này tạo ra rủi ro lớn
cho các doanh nghiệp đã bỏ chi phí xây dựng thương hiệu và sản phẩm đã được
người tiêu dùng tin tưởng, nhưng lại không có cơ sở chắc chắn để biết sản phẩm
có tiếp tục được lưu thông hay không, hoặc có đạt điều kiện chỉ sau một lần nộp
hồ sơ hay không. Thực tế cho thấy các hướng dẫn chuyên ngành thường thiếu rõ
ràng, dẫn đến rủi ro pháp lý và gián đoạn sản xuất. Đề nghị cơ quan soạn thảo
xem xét bổ sung quy định về giai đoạn chuyển tiếp hợp lý hoặc cơ chế công nhận,
kế thừa hồ sơ đã cấp, tránh gây gián đoạn chuỗi cung ứng, thiệt hại không cần
thiết cho doanh nghiệp. Trường hợp cần thiết, có thể quy định thủ tục đăng ký
riêng đối với các sản phẩm đã được cấp số đăng ký, cho phép doanh nghiệp bổ
sung tài liệu phù hợp để tiếp tục sản xuất, kinh doanh.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Liên đoàn Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam (VCCI)
|
Không nhất trí, vì: Đây là
góp ý dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, không thuộc phạm vi rà soát
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
14
|
Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị định 15/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của chính phủ
quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật An toàn thực phẩm
|
Nghị quyết 68-NQ/TW xác định
khu vực kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế. Tuy nhiên,
các quy định trong dự thảo hiện nay lại đang siết chặt một cách cực đoan, vô
hình trung đẩy doanh nghiệp nhỏ và vừa vào thế bế tắc, trong khi các doanh
nghiệp làm ăn chui, không công bố thì lại có xu hướng dễ hoạt động hơn do
không bị ràng buộc. Đề xuất nới lỏng các quy định trong dự thảo dành cho
doanh nghiệp tư nhân.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Liên đoàn Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam (VCCI)
|
Không nhất trí, vì: Đây là
góp ý dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, không thuộc phạm vi rà soát
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
15
|
Nghị định sửa đổi Nghị định
15/2018/NĐ-CP hướng dẫn Luật An toàn thực phẩm đã đưa ra nhiều thủ tục hành
chính phức tạp về đăng ký thực phẩm như dược phẩm, một số yêu cầu còn khó hơn
|
1. Nội dung hồ sơ đăng ký
tăng từ 7 mục lên 41 mục (tăng gần 600%), nhiều yêu cầu bất hợp lý:
- Mẫu 04, mục VIII: Tài liệu
về quy trình sản xuất: Yêu cầu mô tả chi tiết quy trình sản xuất, loại máy,
thiết bị kèm thông số -> nguy cơ làm lộ bí mật kỹ thuật. -Mẫu 04, mục IX:
Yêu cầu nghiên cứu độ ổn định 2. Thời gian thực hiện thủ tục kéo dài: • thời
gian thẩm định hồ sơ đăng ký tăng gần 1400% (từ 7 ngày lên 90 ngày); • tự
công bố: từ 1 lên 21 ngày, tăng 2100%, chỉ để đăng tải lên hệ thống, sau đó mới
lên kế hoạch rà soát - thời gian kiểm tra hàng hóa nhập khẩu: 3 & 7 ngày
lên 7 & 15 ngày tăng hơn 200% 3. Tất cả thực phẩm quản lý bởi bộ y tế đều
phải đăng ký, dẫn đến số lượng sản phẩm phải đăng ký tăng khoảng 50%, do nhóm
thực phẩm bổ sung phải chuyển từ tự công bố sang đăng ký (khoản 19), bao gồm
cả các sản phẩm đơn giản như muối iod. 4. Tăng thêm 1 thủ tục hành chính mới
khi yêu cầu các sản phẩm đã đăng ký và đang lưu hành bình thường cũng phải bổ
sung hồ sơ theo quy định mới trong vòng 18 tháng. 5. Hậu kiểm chưa theo quản
lý rủi ro: hậu kiểm thực phẩm bảo vệ sức khỏe 3 năm/1 lần; trong khi các thực
phẩm khác 1 năm/1 lần??? 6 Không phù hợp với quốc tế: Các nước tiên tiến như
Hoa Kỳ, EU, Nhật, Hàn quốc, Australia… chủ yếu quản lý thực phẩm theo phương
thức hậu kiểm và đánh giá rủi ro, không yêu cầu đăng ký trước với đa số thực
phẩm, ngoại trừ Nhật và Hàn quốc có yêu cầu đăng ký đối với thực phẩm bảo vệ
sức khỏe. Dự thảo áp dụng mô hình của Trung quốc (chỉ cho một vài nhóm thực
phẩm có nguy cơ cao), cho Việt Nam (cho nhiều nhóm thực phẩm) mà chưa có đánh
giá lợi ích-nguy cơ là chưa hợp lý. Chưa phù hợp với các luật hiện hành 1.Dự
thảo yêu cầu tất cả các thực phẩm thuộc quản lý của Bộ Y tế vào nhóm phải
đăng ký (điểm 5 sửa điều 6, khoản 1a, 1b). Như vậy là không phân biệt mức độ
rủi ro, chưa phù hợp với Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa sửa đổi tháng
6/2025 quy định phân loại hàng hóa theo 3 mức độ rủi ro: thấp, trung bình,
cao, ứng với 3 hình thức quản lý. 2. Luật An toàn thực phẩm không có các nội
dung giao hướng dẫn đăng ký, tự công bố. Do đó, đề nghị sửa Luật An toàn thực
phẩm (dự kiến tháng 10/2025) và Nghị định hướng dẫn thi hành cùng một lúc, để
đảm bảo tính đồng bộ, nhất quán của các văn bản pháp luật. 3.Điều 8c. Quy định
dừng xem xét, tiếp nhận hồ sơ nếu có vi phạm về an toàn thực phẩm, bất kể vi
phạm nặng hay nhẹ, là không phù hợp với khoản 2 Điều 25 của
Luật xử lý vi phạm hành chính quy định chỉ “đình chỉ hoạt động nếu vi phạm
gây hậu quả nghiêm trọng”.
1. Hậu kiểm theo quản lý rủi
ro -Hậu kiểm theo quản lý rủi ro như kinh nghiệm của các nước tiên tiến. - Luật
Chất lượng sản phẩm đã chia các sản phẩm theo 3 mức độ rủi ro: cao-trung
bình, thấp.
- Hậu kiểm cũng cần theo quản
lý rủi ro với ba mức độ: chặt - thông thường - giảm, căn cứ vào: i) mức độ rủi
ro của sản phẩm, ii) lịch sử tuân thủ, iii) dấu hiệu cảnh báo hoặc vi phạm. -
Trường hợp có cảnh báo hoặc dấu hiệu vi phạm thì phải tiến hành đánh giá
ngay, và hậu kiểm nếu thấy cần thiết. * Nghị quyết 02/NQ-CP ngày 8/1/2025:
“chuyển sang hậu kiểm, áp dụng quản lý rủi ro trên cơ sở đánh giá mức độ tuân
thủ pháp luật của doanh nghiệp và mức độ rủi ro của hàng hóa” 2. Các giải
pháp khác: sử dụng dự thảo 5 ngày 8/4/2025 có bổ sung: a. Kiểm tra cả chỉ
tiêu chất lượng và chỉ tiêu an toàn. Yêu cầu áp dụng biện pháp quản lý chất
lượng tiên tiến như HACCP, GMP hoặc tương đương đối với các cơ sở sản xuất thực
phẩm có nguy cơ cao (đã được đưa vào dự thảo) b. Với hồ sơ tự công bố: Cần
quy định thời gian 5 hoặc 7 ngày làm việc để rà soát, loại bỏ các công bố sai
lệch trước khi đăng tải lên hệ thống. Quy định rõ các mục cần rà soát: phân
loại, tiêu chuẩn sản phẩm, các công bố trên nhãn. c. Với hồ sơ đăng ký: bổ
sung quy định cụ thể về quy trình thẩm định, thời gian chuyển tiếp, biểu mẫu
cho phù hợp và dễ thực hiện. • Quy định yêu cầu bổ sung phải rõ ràng và không
được có yêu cầu bổ sung mới không liên quan đến yêu cầu trước đó. • Cho phép
bổ sung tối đa 3 lần, ngoại trừ những trường hợp hồ sơ vi phạm pháp luật sẽ
không được phép bổ sung, như hồ sơ giả, hồ sơ sai do phân loại sai, chất lượng
sản phẩm không đạt tiêu chuẩn quy định, hoặc có các thành phần cấm sử dụng.
d. Với nhóm thực phẩm bổ sung: cần phân loại theo quản lý rủi ro: • các thực
phẩm đơn giản, không có công dụng dành cho các đối tượng đặc biệt thì tiếp tục
được tự công bố; • các thực phẩm có công dụng dành cho các đối tượng không phải
người khỏe mạnh bình thường thì thuộc nhóm nguy cơ cao, phải đăng ký bản công
bố. e. Xây dựng hệ thống quản lý số về an toàn thực phẩm trên toàn quốc, bao
gồm cả đăng ký, tự công bố, kết quả hậu kiểm, các cảnh báo trong nước và quốc
tế.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Liên đoàn Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam (VCCI)
|
Không nhất trí, vì: Đây là
góp ý dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, không thuộc phạm vi rà soát
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
16
|
Nghị định 98/2021/NĐ-CP ngày
8/11/2021 và Thông tư 14/2020/TT-BYT của Bộ Y tế
|
Nghị định 98/2021/NĐ-CP ngày
8/11/2021 về quản lý trang thiết bị y tế và Thông tư 14/2020/TT-BYT quy định
một số nội dung trong đấu thầu trang thiết bị y tế tại các cơ sở y tế công lập
chưa quy định đầy đủ và thống nhất các mã danh mục vật tư, hóa chất, sinh phẩm,
trang thiết bị. Qua công tác phòng chống dịch COVID-19 cho thấy, quy định tại
2 văn bản này gây ra những khó khăn vướng mắc trong mua sắm vật tư, hóa chất
phục vụ công tác khám bệnh, chữa bệnh, cụ thể: (i) Khó khăn khi xác định giá
gói thầu: Thông tin về giá các trang thiết bị, vật tư y tế trên cổng thông
tin của Bộ Y tế chưa đầy đủ (chỉ công bố giá, không công bố cấu hình cụ thể)
hoặc không có. Nhiều loại máy móc, trang thiết bị có nhiều mức giá khác nhau,
dải giá trúng thầu công khai trên Cổng thông tin của Bộ Y tế và mạng đấu thầu
quốc gia rất rộng. Có những máy móc thiết bị chuyên sâu, công nghệ cao lần đầu
có nhu cầu phải sử dụng, nhưng không có đơn vị đủ năng lực thực hiện thẩm định
giá. Các cơ quan Thanh tra, Cơ quan cảnh sát điều tra thường so sánh giá mua
sắm với giá hải quan. Tuy nhiên, các đơn vị không thể tiếp cận được với các
thông tin về giá hải quan do các thông tin này chưa được công bố trên Cổng
thông tin, dẫn đến tình trạng giá mua cao hơn giá kê khai hải quan. (ii) Khó
khăn khi đấu thầu hóa chất theo máy: một số máy bắt buộc phải có hóa chất xét
nghiệm là hóa chất đi kèm theo máy, khi xây dựng thông số kỹ thuật của hóa chất
sẽ phải xây dựng theo thông số hóa chất đặc thù của hãng sản xuất máy. Tuy
nhiên, chưa có hướng dẫn cụ thể về việc đấu thầu các hóa chất theo máy. (iii)
Khó khăn khi lựa chọn nhà thầu: tại một số thời điểm cụ thể, các đơn vị mua sắm
không biết đến các nhà cung cấp khác có giá và chất lượng hàng hóa phù hợp
hơn mà chỉ chọn lựa được nhà cung cấp khi họ đến tham dự thầu (đặc biệt trong
thời gian phòng chống dịch vừa qua, nhiều nhiệm vụ được giao phải thực hiện
khẩn cấp). Đồng thời, giá cả biến động theo thị trường, đặc biệt là những thời
điểm khan hiếm hàng hóa, có sự chênh lệch về giá máy móc, trang thiết bị khi
phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu (là giá thấp nhất) và giá thị trường
(giá cao hơn so với giá kế hoạch) tại thời điểm thực hiện mua sắm nên không
có nhà thầu tham gia dự thầu.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Bộ Y tế
|
Kiến nghị không chính xác,
Thông tư số 14/2020/TT-BYT đã bị bãi bỏ. Hiện nay, việc đấu thầu thiết bị y tế
thực hiện theo quy định tại Điều 55 Luật Đấu thầu năm 2023
và Nghị định số 24/2024/NĐ-CP hướng dẫn Luật Đấu thầu
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
17
|
V. Lĩnh vực y tế Điểm b, điểm c, điểm a (đã được sửa đổi, bổ sung Nghị định số
75/2025/NĐ-CP) khoản 5 Điều 14 Nghị định số 146/2018/NĐ-CP ngày 17 tháng
10 năm 2018 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một
số điều của Luật Bảo hiểm y tế
|
Điểm c khoản
5 Điều 14 Nghị định số 146/2018/NĐ-CP quy định "Từ ngày 01/7/2026,
khi khám bệnh, chữa bệnh ngoại trú tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản
mà trước ngày 01/01/2025 đã được cơ quan có thẩm quyền xác định là tuyến tỉnh
hoặc tuyến trung ương hoặc tương đương tuyến tỉnh hoặc tuyến trung ương, người
tham gia bảo hiểm y tế được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 50% mức hưởng”. Điểm a khoản này (đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 4 Điều 5 Nghị định 75/2025/NĐ-CP) lại quy định từ
ngày 01/01/2025, được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 100% mức hưởng. Điểm b khoản này quy định từ ngày 1/7/2026, khi khám bệnh,
chữa bệnh ngoại trú tại cơ sở khám bệnh, sẽ được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán
50% mức hưởng. Như vậy, chưa quy định mức hưởng của người tham gia bảo hiểm y
tế khi khám bệnh, chữa bệnh ngoại trú tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản
từ ngày 01/01/2025 đến trước ngày 01/7/2026.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai
|
Không nhất trí, vì:, khoản 5 Điều 14 Nghị định 146/2018 không chia thành các điểm,
mặt khác, các khoản của Điều này đã được bãi bỏ tại Nghị định số
188/2025/NĐ-CP. Mặt khác, lộ trình thực hiện và tỷ lệ mức hưởng khi khám bệnh,
chữa bệnh ngoại trú tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản theo quy định tại
điểm e và điểm h khoản 4 Điều 22 của Luật Bảo hiểm y tế
đang được quy định tại Điều 19 Nghị định số 188/2025/NĐ-CP
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
18
|
Điểm a Khoản
1 Điều 43 Nghị định số 163/2025/NĐ-CP đang được quy định như sau: Điều 43. Tiêu chí, hồ sơ đề nghị cấp phép xuất khẩu thuốc
gây nghiện, thuốc hướng thần, thuốc tiền chất, thuốc dạng phối hợp có chứa dược
chất gây nghiện, thuốc dạng phối hợp có chứa dược chất hướng thần, thuốc dạng
phối hợp có chứa tiền chất, nguyên liệu làm thuốc là dược chất gây nghiện, dược
chất hướng thần, tiền chất dùng làm thuốc 1. Thuốc chỉ được cấp phép xuất khẩu
khi đáp ứng một trong các tiêu chí sau: a) Được sản xuất tại Việt Nam, có giấy
đăng ký lưu hành thuốc tại Việt Nam và được cơ quan quản lý có thẩm quyền nước
nhập khẩu cho phép nhập khẩu;
|
Căn cứ theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 43 Nghị định số 163/2025/NĐ-CP, tiêu
chí bắt buộc để thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, thuốc tiền chất, thuốc dạng
phối hợp có chứa dược chất gây nghiện, thuốc dạng phối hợp có chứa dược chất
hướng thần, thuốc dạng phối hợp có chứa tiền chất sản xuất tại Việt Nam có thể
được cấp phép xuất khẩu đó là phải có Giấy đăng ký lưu hành thuốc tại Việt
Nam. Đối với trường hợp chỉ xuất khẩu các thuốc kiểm soát đặc biệt nhóm này
sang các nước Châu Âu mà ở đó các thuốc này đã được cấp phép lưu hành, và
không lưu hành các thuốc này ở Việt Nam, với quy định như tại điểm a Khoản 1
Điều 47 của Dự thảo Nghị định, doanh nghiệp chúng tôi nói riêng và các doanh
nghiệp xuất khẩu tương tự như chúng tôi nói chung sẽ gặp phải các khó khăn,
vướng mắc như sau: 1. Việc yêu cầu thuốc xuất khẩu phải được cấp Giấy đăng ký
lưu hành thuốc tại Việt Nam sẽ làm kéo dài thời gian thực hiện hợp đồng xuất
khẩu, ảnh hưởng đến việc xuất khẩu (vì thời gian phải đợi đến khi thuốc được
cấp Giấy đăng ký lưu hành tại Việt Nam thông thường từ 2-3 năm kể từ thời điểm
nộp hồ sơ đăng ký thuốc). Trong khi đó nhiều nước nhập khẩu không có yêu cầu
thuốc nhập khẩu vào nước họ phải được cấp Giấy đăng ký lưu hành tại Việt Nam.
2. Bên cạnh đó, theo quy định về đăng ký thuốc, nguyên liệu làm thuốc, một
thuốc muốn được đăng ký lưu hành tại Việt Nam (trừ thuốc thuộc danh mục thuốc
hiếm) thì trong hồ sơ đăng ký thuốc yêu cầu: - Phải nộp dữ liệu nghiên cứu độ
ổn định ở vùng khí hậu IVB. Trong khi đó, nhiều nước nhập khẩu (cụ thể là các
nước Châu Âu) không có yêu cầu thuốc nhập khẩu vào nước họ phải có dữ liệu
nghiên cứu độ ổn định ở vùng khí hậu IVB. Chính vì vậy, việc yêu cầu thuốc xuất
khẩu phải được cấp Giấy đăng ký lưu hành thuốc tại Việt Nam sẽ làm kéo dài
thêm thời gian thực hiện hợp đồng xuất khẩu (vì phải chờ thực hiện và có số
liệu nghiên cứu độ ổn định tối thiểu đến 12 tháng ở vùng khí hậu IVB, sau đó
phải nộp hồ sơ và chờ cấp Giấy đăng ký lưu hành tại Việt Nam), đồng thời gây
tốn kém chi phí không cần thiết nếu thuốc sản xuất ra chỉ để xuất khẩu mà
không có nhu cầu lưu hành thực tế tại Việt Nam.
- Đối với những thuốc chứa dược
chất hoặc phối hợp dược chất đã được cấp phép lưu hành tại nước nhập khẩu nhưng
chưa từng được cấp số lưu hành tại Việt Nam, khi đó sẽ được xem là thuốc mới
tại Việt Nam và vì vậy trong hồ sơ đăng ký thuốc cần nộp hồ sơ lâm sàng để có
thể đăng ký tại Việt Nam, trong khi nước nhập khẩu không yêu cầu và bản thân
nhà sản xuất tại Việt Nam không có các dữ liệu lâm sàng để cung cấp. Điều này
gây bất cập nếu thuốc xuất khẩu thuộc trường hợp này và dự án xuất khẩu các
thuốc thuộc nhóm này gần như là không thể thực hiện được. 3. Ngoài ra, theo
quy định tại khoản 30 Điều 1 Luật số 44/2024/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số Điều của Luật Dược 2016 được Quốc hội khóa XV thông qua tại kỳ
họp thứ 8 vào ngày 21/11/2024, sửa đổi, bổ sung Điều 56 như
Luật Dược 2016 sau: Trường hợp thuốc đã được cấp giấy đăng ký lưu hành
nhưng không lưu hành trên thị trường trong thời hạn 05 năm kể từ ngày giấy
đăng ký lưu hành thuốc có hiệu lực thì không tiếp tục gia hạn hiệu lực giấy
đăng ký lưu hành thuốc, trừ thuốc hiếm và thuốc có không quá 03 thuốc của 03
hãng sản xuất có cùng dược chất, dược liệu, dạng bào chế, hàm lượng hoặc nồng
độ dược chất, khối lượng dược liệu trong một đơn vị liều đã được cấp giấy
đăng ký lưu hành thuốc mà giấy đăng ký lưu hành thuốc đó còn thời hạn hiệu lực.
Như vậy, đối với các thuốc chỉ để xuất khẩu và không có nhu cầu lưu hành tại
Việt Nam thì sau 05 năm Giấy đăng ký lưu hành sẽ không còn hiệu lực, và khi
đó thì sẽ không thể thực hiện thủ tục cấp Giấy phép xuất khẩu đồng nghĩa với
việc không thể tiếp tục thực hiện được hợp đồng xuất khẩu. Điều này đi ngược
với chính sách của Bộ Y tế Việt Nam nói chung và Cục Quản lý Dược nói riêng về
thúc đẩy xuất khẩu thuốc sản xuất tại Việt Nam sang thị trường thế giới, tăng
gánh nặng về phía Cục Quản lý Dược trong việc thẩm định Hồ sơ đăng ký trong
trường hợp thuốc chỉ xuất khẩu không lưu hành tại Việt Nam, tăng thời gian và
chi phí nghiên cứu và đăng ký thuốc của công ty trong khi thuốc sản xuất ra
chỉ để xuất khẩu không lưu hành tại Việt Nam.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Medochemie
|
Không nhất trí, vì: việc quy
định biện pháp quản lý cần cân nhắc, xem xét trên cơ sở phân tích những yếu tố
liên quan đến quản lý nguy cơ thất thoát nguyên liệu làm thuốc là dược chất
gây nghiện, hướng thần, tiền chất do nếu không được cấp giấy ĐKLH đồng nghĩa
với việc hồ sơ không được thẩm duyệt quy trình sản xuất, kiểm soát tỉ lệ hao
hụt,... Do đó, để đảm bảo kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng các nguyên liệu
này, tránh thất thoát nguyên liệu cho mục đích bất hợp pháp, quy định thuốc chỉ
được xuất khẩu khi đã được cấp giấy đăng ký lưu hành tại Việt Nam.
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
19
|
Các Điều 36,
37, 38, 39 Thông tư 08/2022/TT-BYT có quy định về thời gian thực hiện thủ
tục thẩm định và phê duyệt hồ sơ cấp, gia hạn, thay đổi nội dung giấy đăng ký
lưu hành thuốc. Điều 127 Nghị định số 154/2017/NĐ-CP quy định về trình tự, thủ
tục cấp giấy xác nhận nội dung quảng cáo thuốc, trong đó có quy định về giới
hạn thời gian xử lý thủ tục.
|
Tuy nhiên, trên thực tế, thời
gian thực hiện các thủ tục nêu trên kéo dài hơn rất nhiều so với quy định,
gây nhiều ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, cung ứng thuốc cho các bệnh viện
và bệnh nhân.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Liên đoàn Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam (VCCI)
|
Vấn đề tổ chức thực hiện,
không phải vướng mắc pháp lý
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
20
|
- Điểm b khoản 2 Điều 52 G8 -
Điểm a khoản 1 Điều 16 và điểm c khoản 3 Điều 29 tại Thông
tư số 23/2023/TT-BYT về sửa đổi, bổ sung một số điều tại Thông tư số 01/2018/TT-BYT
ngày 18 tháng 01 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định ghi nhãn thuốc,
nguyên liệu làm thuốc và tờ hướng dẫn sử dụng thuốc.
|
Điều này dẫn đến gia tăng
đáng kể chi phí cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp đầu tư lại cho việc thiết kế,
chỉnh sửa mẫu nhãn, và in ấn các loại bao bì mới. Đồng thời, lượng lớn nhãn,
bao bì đang tồn kho hoặc đã được in theo quy định cũ sẽ không thể sử dụng, dẫn
đến lãng phí và thiệt hại tài chính. Những thay đổi đột ngột này cũng gây xáo
trộn kế hoạch sản xuất và kinh doanh đã của doanh nghiệp
|
B. Hướng dẫn áp dụng VBQPPL
theo quy định tại Điều 61 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025
|
Công ty Dược Yên Bái
|
Kiến nghị của doanh nghiệp
chưa đúng, lý do: Doanh nghiệp hiểu chưa đúng nội dung quy định này, cụ thể:
- Điểm c và
d khoản 8 Điều 22 Thông tư 12/2025/TT-BYT quy định :
+ “c) Nhãn bao bì ngoài của
thuốc, bán thành phẩm thuốc ghi đầy đủ tên và hàm lượng, khối lượng hoặc nồng
độ của từng thành phần dược chất, dược liệu trong công thức thuốc, bán thành
phẩm thuốc cho một đơn vị chia liều nhỏ nhất hoặc một đơn vị đóng gói nhỏ nhất;”
+ “d) Đối với các dạng bào chế
hoặc đóng gói phải thực hiện nghiên cứu độ ổn định sau khi mở nắp theo hướng
dẫn của ACTD hoặc ICH-CTD, hướng dẫn sử dụng phải có thông tin về thời hạn sử
dụng và điều kiện bảo quản sau khi mở nắp;". Nội dung quy định tại điểm c và d khoản 8 Điều 22 Thông tư 12/2025/TT-BYT đã bao
gồm cả trường hợp quy định tại tiết 1 điểm a khoản 1 Điều 16
Thông tư 01/2018/TT-BYT được sửa đổi, bổ sung tại khoản
8 Điều 1 Thông tư 23/2023/TT-BYT: “Ghi đầy đủ tên và hàm lượng, khối lượng
hoặc nồng độ của từng thành phần dược chất, dược liệu trong công thức thuốc,
bán thành phẩm thuốc cho một đơn vị chia liều nhỏ nhất hoặc một đơn vị đóng
gói nhỏ nhất. Đối với thuốc dạng lỏng, dạng bán rắn có quy cách đóng gói đa
liều: Hàm lượng hoạt chất ghi theo nồng độ % (khối lượng/khối lượng hoặc khối
lượng/thể tích).” và quy định tại tiết 2 điểm c khoản 3 Điều
29 Thông tư 01/2018/TT-BYT được sửa đổi bổ sung tại khoản
10 Điều 1 Thông tư 23/2023/TT-BYT: “- Hạn dùng sau khi mở nắp bao bì trực
tiếp lần đầu đối với các dạng thuốc chưa phân liều như thuốc nhỏ mắt hoặc các
dạng thuốc nhỏ mũi, nhỏ tai, thuốc mỡ, gel dùng nhiều lần và thuốc dạng lỏng
đa liều để uống;”.
Do vậy nhãn đã ghi hàm lượng
dược chất và hạn dùng sau mở nắp theo quy định tại tiết 1 điểm
a khoản 1 Điều 16 Thông tư 01/2018/TT-BYT được sửa đổi, bổ sung tại khoản 8 Điều 1 Thông tư 23/2023/TT-BYT và tiết
2 điểm c khoản 3 Điều 29 Thông tư 01/2018/TT-BYT được sửa đổi bổ sung tại
khoản 10 Điều 1 Thông tư 23/2023/TT-BYT đã phù hợp với
quy định tại điểm c và d khoản 8 Điều 22 Thông tư
12/2025/TT-BYT. Vì vậy, doanh nghiệp không phải điều chỉnh nội dung này
trên nhãn thuốc.
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
21
|
Thông tư số 21/2024/TT-BYT
ngày 17/10/2024 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định phương pháp định giá dịch vụ
khám bệnh, chữa bệnh
|
Theo điểm d
khoản 16 Điều 6 Thông tư số 22/2023/TT-BYT ngày 17/11/2023 của Bộ trưởng
Bộ Y tế quy định trường hợp cơ sở y tế luôn trong tình trạng quá tải do
nguyên nhân khách quan (ví dụ do mở rộng địa giới hành chính, số thẻ đăng ký
khám, chữa bệnh ban đầu tăng...), Sở Y tế có trách nhiệm báo cáo Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh xem xét, giao tăng giường bệnh và số lượng vị trí việc làm để bảo
đảm chất lượng cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh. Tuy nhiên, Thông tư số
22/2023/TT-BYT đã hết hiệu lực từ ngày 01/01/2025. Hiện nay, tại Luật Khám bệnh,
chữa bệnh và Thông tư số 21/2024/TT-BYT ngày 17/10/2024 của Bộ trưởng Bộ Y tế
không quy định thẩm quyền của UBND tỉnh trong việc xem xét, giao tăng giường
bệnh, dẫn đến những khó khăn nhất định cho địa phương khi xác định thẩm quyền
giao tăng giường bệnh trong trường hợp này. Do đó, đề nghị Bộ Y tế có hướng dẫn
để địa phương thực hiện.
|
B. Hướng dẫn áp dụng VBQPPL
theo quy định tại Điều 61 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025
|
Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh
|
Phản ánh không chính xác, vì:
Cơ sở khám chữa bệnh có thể thay đổi quy mô giường bệnh theo thủ tục quy định
tại khoản 3, 4, 5 Điều 67 Nghị định số 96/2023/NĐ-CP
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
22
|
Thông tư số 34/2024/TT-BYT ngày
15/11/2024 của Bộ Y tế Quy định đặc điểm kinh tế - kỹ thuật dịch vụ kiểm dịch
y tế, y tế dự phòng tại cơ sở y tế công lập và Thông tư số 41/2024/TT-BYT
ngày 27/11/2024 của Bộ Y tế Hướng dẫn xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật dịch
vụ kiểm dịch y tế, y tế dự phòng tại cơ sở y tế công lập.
|
Thông tư số 34/2024/TT-BYT và
Thông tư số 41/2024/TT-BYT gặp khó khăn trong việc xác định hàng hóa, dịch vụ
giống hệt hoặc có nhiều đặc tính gần giống nhất để so sánh do chưa có thông
tin về định mức kinh tế kỹ thuật và chưa có quy định rõ ràng về thẩm quyền định
mức kinh tế kỹ thuật làm cơ sở xây dựng giá, gây lúng túng trong quá trình thực
hiện và chậm trễ trong việc ban hành giá dịch vụ kiểm dịch y tế, y tế dự
phòng.
|
B. Hướng dẫn áp dụng VBQPPL
theo quy định tại Điều 61 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025
|
Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh
|
Phản ánh chưa chính xác vì:
Định mức kinh tế - kỹ thuật
các dịch vụ đã được quy định cụ thể tại Thông tư số 41/2024/TT-BYT, thẩm quyền
ban hành định mức thực hiện theo quy định tại Nghị định số 60/2021/NĐ-CP và
Nghị định số 111/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
60/20221/NĐ-CP
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
23
|
Thông tư số 41/2024/TT-BYT
ngày 27/11/2024 của Bộ Y tế Hướng dẫn xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật dịch
vụ kiểm dịch y tế, y tế dự phòng tại cơ sở y tế công lập
|
Thông tư số 41/2024/TT-BYT chỉ
quy định chi phí vật tư trực tiếp và lao động trực tiếp trong xây dựng định mức,
chưa có các chi phí quan trọng khác như khấu hao tài sản cố định, chi phí sản
xuất chung, chi phí hợp lý, hợp lệ khác. Điều này dẫn đến định mức không đầy
đủ, không phản ánh đúng chi phí thực tế, gây áp lực tài chính cho các cơ sở y
tế và hạn chế khả năng tái đầu tư, đổi mới.
|
A. Giải thích luật, nghị quyết
của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo quy định
tại Điều 60 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025
|
Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh
|
Phản ánh chưa chính xác vì:
Định mức kinh tế - kỹ thuật
các dịch vụ đã được quy định cụ thể tại Thông tư số 41/2024/TT-BYT, thẩm quyền
ban hành định mức thực hiện theo quy định tại Nghị định số 60/2021/NĐ-CP và
Nghị định số 111/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
60/20221/NĐ-CP
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
24
|
Thông tư
12/2025/TT-BYT quy định đăng ký lưu hành thuốc, nguyên liệu làm thuốc Điều 1.
Phạm vi điều chỉnh 1. Thông tư này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật Dược ngày 06 tháng 4 năm 2016 và Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Dược ngày 21 tháng 11 năm 2024 (sau đây gọi là Luật Dược), bao
gồm: a) Quy định về dữ liệu lâm sàng để bảo đảm an toàn, hiệu quả trong hồ sơ
đăng ký thuốc và tiêu chí để xác định trường hợp miễn thử, miễn một số giai
đoạn thử thuốc trên lâm sàng tại Việt Nam và thuốc phải yêu cầu thử lâm sàng
giai đoạn 4 tại khoản 4 Điều 89 Luật Dược; b) Quy định về
hồ sơ, thủ tục cấp, gia hạn, thay đổi, bổ sung, thu hồi giấy đăng ký lưu hành
thuốc hóa dược, vắc xin, sinh phẩm, thuốc dược liệu và nguyên liệu làm thuốc
dùng cho người tại Việt Nam tại khoản 9 Điều 56 và khoản 2 Điều 58 Luật Dược; c) Quy định về nguyên tắc,
tiêu chí phân loại thuốc không kê đơn tại khoản 27 Điều 2 Luật
Dược; d) Quy định về báo cáo an toàn, hiệu quả của thuốc sau khi được cấp
giấy đăng ký lưu hành để triển khai hoạt động cảnh giác dược theo quy định tại
khoản 2 Điều 78 Luật Dược; đ) Nguyên tắc tổ chức, hoạt động
của hội đồng, đơn vị thẩm định, chuyên gia thẩm định. 2. Thông tư này không
điều chỉnh đối với hồ sơ đăng ký thuốc cổ truyền; hồ sơ đăng ký nguyên liệu
làm thuốc là dược liệu, vị thuốc cổ truyền.
|
Phạm vi điều chỉnh của Thông
tư này không bao gồm Thuốc kiểm soát đặc biệt là thuốc gây nghiện, thuốc hướng
thần, thuốc tiền chất, thuốc dạng phối hợp có chứa dược chất gây nghiện, thuốc
dạng phối hợp có chứa dược chất hướng thần, thuốc dạng phối hợp có chứa tiền
chất chỉ để xuất khẩu, không lưu hành tại Việt Nam. Khó khăn, vướng mắc: như
trình bày tại Mục 1 trên đây.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Medochemie
|
Không nhất trí, vì: Phụ lục V về biểu mẫu đăng ký thuốc
đã có thuốc kiểm soát đặc biệt
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
25
|
Điểm e khoản
7 Điều 22 Thông tư số 12/2025/TT-BYT về đăng ký lưu hành thuốc, nguyên liệu
làm thuốc
|
Doanh nghiệp thường không có
đủ chi phí, nguồn lực và năng lực chuyên môn đủ để tự đánh giá cơ sở sản xuất
tá dược có đáp ứng GMP hay không, đặc biệt là cơ sở sản xuất tá dược đặt tại
nước ngoài.
|
C. Sửa đổi, bổ sung, thay thế,
ban hành mới VBQPPL (theo trình tự, thủ tục rút gọn ban hành VBQPPL của Luật
Ban hành VBQPPL)
|
Công ty Dược Yên Bái
|
Không nhất trí, vì:
1. - Theo quy định tại Luật
Dược và các văn bản hướng dẫn liên quan, cơ sở sản xuất tá dược phải đáp ứng
GMP theo quy định của Bộ Y tế.
- Theo nội dung trong tài liệu
nguyên tắc, tiêu chuẩn GMP, nhà sản xuất thuốc phải tiến hành đánh giá nhà
cung ứng (bao gồm cả nhà sản xuất nguyên liệu là dược chất, tá dược,…) ban
hành kèm Theo Thông tư số 28/2025/TT-BYT Thông tư số 28/2025/TT-BYT ngày
01/7/2025 của Bộ Y tế quy định về thực hành sản xuất tốt sản xuất thuốc,
nguyên liệu làm thuốc, yêu cầu đánh giá nhà cung ứng là yêu cầu của hệ thống
chất lượng của mọi cơ sở sản xuất trong tất cả các lĩnh vực.
- Để tạo điều kiện cho doanh
nghiệp, tại điểm e khoản 7 Điều 22 Thông tư 12/2025/TT-BYT
quy định:
(1) Doanh nghiệp không bắt buộc
phải thực hiện tự đánh giá, mà có thể yêu cầu nhà sản xuất tá dược cung cấp
các tài liệu khác theo các điểm a, b, d, đ khoản 7 Điều 22
Thông tư 12 để chứng nhận chất lượng tá dược khi sản xuất thuốc.
(2) Trường hợp không cung cấp
được giấy tờ pháp lý của cơ sở sản xuất tá dược theo quy định, cơ sở sản xuất
thuốc tự công bố trong hồ sơ đăng ký thuốc, nguyên liệu làm thuốc về nguyên tắc,
tiêu chuẩn thực hành tốt sản xuất mà cơ sở sản xuất tá dược đáp ứng và cam kết
chịu trách nhiệm trước pháp luật về công bố này theo Mẫu 05/TT ban hành kèm theo Thông
tư này.
2. Theo quy định tại tài liệu
nguyên tắc, tiêu chuẩn GMP, nhà sản xuất thuốc phải tiến hành đánh giá nhà
cung ứng (bao gồm cả nhà sản xuất nguyên liệu là dược chất, tá dược, bao bì,
các dịch vụ khác của cơ sở bên ngoài...). Yêu cầu đánh giá nhà cung ứng là
yêu cầu của hệ thống chất lượng của mọi cơ sở sản xuất trong tất cả các lĩnh
vực. Có các phương pháp khác nhau để đánh giá nhà cung ứng (đánh giá trực tiếp,
đánh giá qua bảng khảo sát, đánh giá qua đơn vị tư vấn...).
Theo quy định tại Luật dược
và các văn bản hướng dẫn liên quan, cơ sở sản xuất tá dược phải đáp ứng GMP
theo quy định của Bộ Y tế (WHO- GMP). Trường hợp cơ sở sản xuất thuốc không
tiến hành đánh giá theo quy định tại Thông tư Đăng ký thuốc, nguyên liệu làm
thuốc, cơ sở phải chứng minh cơ sở sản xuất tá dược đáp ứng GMP hoặc GMP được
Bộ Y tế công bố áp dụng, thừa nhận.
Bên cạnh đó, lý do doanh nghiệp
không có năng lực chuyên môn là không phù hợp. Cơ sở sản xuất thuốc phải có đủ
chuyên môn, hiểu biết về GMP chung để triển khai tại cơ sở. Trong các tài liệu
hướng dẫn về GMP (tài liệu GMP chung, GMP cho dược chất, GMP cho tá dược..),
tài liệu GMP cho tá dược được đánh giá là đơn giản hơn so với GMP chung.
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
|
26
|
Khác
|
Hoạt động thẩm định đăng ký
thực phẩm bảo vệ sức khỏe, hồ sơ quảng cáo các sản phẩm thuốc không kê đơn và
quảng cáo thực phẩm bảo vệ sức khỏe hiện nay đang ngưng thẩm định do Cục đang
tập trung thực hiện các hoạt động thanh tra. Điều này tạo ra khó khăn, ảnh hưởng
đến hoạt động của doanh nghiệp vì thời gian chờ đợt phê duyệt kéo dài. Về hồ
sơ quảng cáo thực phẩm bảo vệ sức khỏe, hiện doanh nghiệp đã nộp 09 hồ sơ mới
và nộp bổ sung 04 hồ sơ vào tháng 5/2025. Một số hồ sơ quảng cáo thuốc không
kê đơn đã nộp từ tháng 12/2024 hiện đang chờ kết quả. Doanh nghiệp cũng đã nộp
03 bộ hồ sơ đăng ký thực phẩm bảo vệ sức khỏe cho 03 sản phẩm vào tháng
07/2024, 12/2024 và 05/2025 và hiện đang chờ thẩm định.
|
B. Hướng dẫn áp dụng VBQPPL
theo quy định tại Điều 61 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025
|
Hiệp hội Dược Việt Nam
(VNPCA)
|
Vấn đề tổ chức thực hiện,
không thuộc phạm vi rà soát
|
Bộ Y tế đã đăng tải ý kiến của
Bộ trên cổng pháp luật quốc gia và cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và sẽ có
công văn trả lời
|
[1] - Đối với nội dung phản ánh, kiến nghị đã được trả lời
cần nêu rõ Văn bản trả lời (số, ký hiệu, ngày ban hành, trích yếu), thông tin về
việc đăng trên Cổng thông tin điện tử của bộ/cơ quan và Cổng Pháp luật quốc gia
(đã/chưa đăng, ngày đăng);
- Đối với nội dung phản ánh kiến
nghị đang nghiên cứu trả lời: ghi rõ thông tin và nêu rõ lý do vì sao phải
nghiên cứu; dự kiến thời gian trả lời.
- Đối với nội dung phản ánh, kiến nghị chưa trả lời
cần nêu rõ: thông tin về việc chưa trả lời; lý do chưa trả lời; dự kiến thời điểm
trả lời
[1] - Đối với nội dung phản ánh, kiến nghị đã được trả lời
cần nêu rõ Văn bản trả lời (số, ký hiệu, ngày ban hành, trích yếu), thông tin về
việc đăng trên Cổng thông tin điện tử của bộ/cơ quan và Cổng Pháp luật quốc gia
(đã/chưa đăng, ngày đăng);
- Đối với nội dung phản ánh kiến
nghị đang nghiên cứu trả lời: ghi rõ thông tin và nêu rõ lý do vì sao phải
nghiên cứu; dự kiến thời gian trả lời.
- Đối với nội dung phản ánh, kiến nghị chưa trả lời
cần nêu rõ: thông tin về việc chưa trả lời; lý do chưa trả lời; dự kiến thời điểm
trả lời
[1] - Đối với nội dung phản ánh, kiến nghị đã được trả lời
cần nêu rõ Văn bản trả lời (số, ký hiệu, ngày ban hành, trích yếu), thông tin về
việc đăng trên Cổng thông tin điện tử của bộ/cơ quan và Cổng Pháp luật quốc gia
(đã/chưa đăng, ngày đăng);
- Đối với nội dung phản ánh kiến
nghị đang nghiên cứu trả lời: ghi rõ thông tin và nêu rõ lý do vì sao phải
nghiên cứu; dự kiến thời gian trả lời.
- Đối với nội dung phản ánh, kiến nghị chưa trả lời
cần nêu rõ: thông tin về việc chưa trả lời; lý do chưa trả lời; dự kiến thời điểm
trả lời
Công văn 6805/BYT-PC năm 2025 trả lời phản ánh, kiến nghị liên quan đến vướng mắc, bất cập của văn bản quy phạm pháp luật do Bộ Y tế ban hành
Văn bản này chưa cập nhật nội dung Tiếng Anh
Công văn 6805/BYT-PC ngày 03/10/2025 trả lời phản ánh, kiến nghị liên quan đến vướng mắc, bất cập của văn bản quy phạm pháp luật do Bộ Y tế ban hành
Văn bản liên quan
Ban hành:
27/05/2026
Hiệu lực: Đã biết
Cập nhật:
12/06/2026
Ban hành:
03/03/2026
Hiệu lực: Đã biết
Cập nhật:
04/03/2026
Ban hành:
26/02/2026
Hiệu lực: Đã biết
Cập nhật:
04/03/2026
Ban hành:
30/01/2026
Hiệu lực: Đã biết
Cập nhật:
02/03/2026
Ban hành:
29/01/2026
Hiệu lực: Đã biết
Cập nhật:
04/03/2026
Ban hành:
26/09/2025
Hiệu lực: Đã biết
Cập nhật:
11/11/2025
Ban hành:
26/09/2025
Hiệu lực: Đã biết
Cập nhật:
11/11/2025
Ban hành:
26/09/2025
Hiệu lực: Đã biết
Cập nhật:
11/11/2025
Ban hành:
11/08/2025
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
12/08/2025
Ban hành:
01/07/2025
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
11/07/2025
562
|
NỘI DUNG SỬA ĐỔI, HƯỚNG DẪN
Văn bản bị thay thế
Văn bản thay thế
Chú thích
Chú thích:
Rà chuột vào nội dụng văn bản để sử dụng.
<Nội dung> = Nội dung hai
văn bản đều có;
<Nội dung> =
Nội dung văn bản cũ có, văn bản mới không có;
<Nội dung> = Nội dung văn
bản cũ không có, văn bản mới có;
<Nội dung> = Nội dung được sửa đổi, bổ
sung.
Click trái để xem cụ thể từng nội dung cần so sánh
và cố định bảng so sánh.
Click phải để xem những nội dung sửa đổi, bổ sung.
Double click để xem tất cả nội dung không có thay
thế tương ứng.
Tắt so sánh [X] để
trở về trạng thái rà chuột ban đầu.
FILE ĐƯỢC ĐÍNH KÈM THEO VĂN BẢN
FILE ATTACHED TO DOCUMENT
|
|
|
|
|
Địa chỉ:
|
17 Nguyễn Gia Thiều, P. Xuân Hòa, TP.HCM
|
|
Điện thoại:
|
(028) 3930 3279 (06 lines)
|
|
E-mail:
|
inf[email protected]
|
|
Mã số thuế:
|
0315459414
|
|
|
|
TP. HCM, ngày 31/05/2021
Thưa Quý khách,
Đúng 14 tháng trước, ngày 31/3/2020, THƯ VIỆN PHÁP LUẬT đã bật Thông báo này, và nay 31/5/2021 xin bật lại.
Hơn 1 năm qua, dù nhiều khó khăn, chúng ta cũng đã đánh thắng Covid 19 trong 3 trận đầu. Trận 4 này, với chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, chắc chắn chúng ta lại thắng.
Là sản phẩm online, nên 250 nhân sự chúng tôi vừa làm việc tại trụ sở, vừa làm việc từ xa qua Internet ngay từ đầu tháng 5/2021.
Sứ mệnh của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT là:
sử dụng công nghệ cao để tổ chức lại hệ thống văn bản pháp luật,
và kết nối cộng đồng Dân Luật Việt Nam,
nhằm:
Giúp công chúng “…loại rủi ro pháp lý, nắm cơ hội làm giàu…”,
và cùng công chúng xây dựng, thụ hưởng một xã hội pháp quyền trong tương lai gần;
Chúng tôi cam kết dịch vụ sẽ được cung ứng bình thường trong mọi tình huống.
THÔNG BÁO
về Lưu trữ, Sử dụng Thông tin Khách hàng
Kính gửi: Quý Thành viên,
Nghị định 13/2023/NĐ-CP về Bảo vệ dữ liệu cá nhân (hiệu lực từ ngày 01/07/2023) yêu cầu xác nhận sự đồng ý của thành viên khi thu thập, lưu trữ, sử dụng thông tin mà quý khách đã cung cấp trong quá trình đăng ký, sử dụng sản phẩm, dịch vụ của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT.
Quý Thành viên xác nhận giúp THƯ VIỆN PHÁP LUẬT được tiếp tục lưu trữ, sử dụng những thông tin mà Quý Thành viên đã, đang và sẽ cung cấp khi tiếp tục sử dụng dịch vụ.
Thực hiện Nghị định 13/2023/NĐ-CP, chúng tôi cập nhật Quy chế và Thỏa thuận Bảo về Dữ liệu cá nhân bên dưới.
Trân trọng cảm ơn Quý Thành viên.
Tôi đã đọc và đồng ý Quy chế bảo vệ dữ liệu cá nhân
Tiếp tục sử dụng

Cảm ơn đã dùng ThuVienPhapLuat.vn
- Bạn vừa bị Đăng xuất khỏi Tài khoản .
-
Hiện tại có đủ người dùng cùng lúc,
nên khi người thứ vào thì bạn bị Đăng xuất.
- Có phải do Tài khoản của bạn bị lộ mật khẩu
nên nhiều người khác vào dùng?
- Hỗ trợ: (028) 3930.3279 _ 0906.229966
- Xin lỗi Quý khách vì sự bất tiện này!
Tài khoản hiện đã đủ người
dùng cùng thời điểm.
Quý khách Đăng nhập vào thì sẽ
có 1 người khác bị Đăng xuất.
Tài khoản của Quý Khách đẵ đăng nhập quá nhiều lần trên nhiều thiết bị khác nhau, Quý Khách có thể vào đây để xem chi tiết lịch sử đăng nhập
Có thể tài khoản của bạn đã bị rò rỉ mật khẩu và mất bảo mật, xin vui lòng đổi mật khẩu tại đây để tiếp tục sử dụng
|
|