|
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ
MÔI TRƯỜNG
CỤC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 244/QLĐĐ-KSQLSDĐĐ
V/v trả lời phản ánh, kiến nghị trên Hệ
thống thông tin của Bộ Tư pháp
|
Hà Nội, ngày 29
tháng 01 năm 2026
|
Kính
gửi: ông Nguyễn Quốc Huy
(Địa chỉ: gửi trên Hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về
văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Tư pháp)
Cục Quản lý đất đai được Bộ
Nông nghiệp và Môi trường giao nhiệm vụ nghiên cứu, trả lời phản ánh, kiến nghị
của Ông trên Hệ thống thông tin của Bộ Tư pháp (Mã PAKN: 1767266574213). Về nội
dung phản ánh kiến nghị này, Cục Quản lý đất đai, Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả
lời như sau:
Nội dung phản
ánh, kiến nghị :
Điều 105 - Thủ tục hòa giải
tranh chấp đất đai 1. Sự thiếu thống nhất, chồng chéo trong cách hiểu và áp
dụng các khái niệm "tranh chấp đất đai", "tranh chấp liên quan
đến đất đai" và tiêu chí xác định "đất đang có tranh chấp" giữa
cơ quan hành chính và cơ quan tư pháp. Mâu thuẫn trong phân loại tranh chấp:
- Cơ quan tư pháp (Tòa án, Viện
kiểm sát) căn cứ vào các văn bản hướng dẫn chuyên ngành như Khoản 2 Điều 3 Nghị
quyết 04/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao và Mục 5, chương 2, Công
văn số 22/HD-VKSTC của Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, xác định: tranh chấp
thừa kế quyền sử dụng đất là "tranh chấp liên quan đến đất đai" - một
dạng của tranh chấp dân sự về tài sản. Loại tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải
quyết ban đầu của Tòa án, và việc hòa giải tại UBND cấp xã không phải là điều
kiện bắt buộc trước khi khởi kiện.
- Cơ quan hành chính (UBND cấp
xã) lại căn cứ vào định nghĩa tại khoản 47 Điều 3 Luật Đất đai 2024 ("Tranh
chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc
nhiều bên trong quan hệ đất đai"), với cách diễn giải rộng, cho rằng mọi
tranh chấp về quyền sử dụng đất, kể cả tranh chấp thừa kế, đều là "tranh
chấp đất đai". Từ đó, họ cho rằng việc thụ lý một đơn yêu cầu hòa giải (kể
cả về thừa kế liên quan đến đất) đã đủ căn cứ để xác định "đất đang có
tranh chấp" và ngừng giải quyết các thủ tục hành chính liên quan như cấp
Giấy chứng nhận.
Hệ quả của mâu thuẫn: Sự không
thống nhất này tạo ra "khoảng trống pháp lý" và "vùng xám"
trong thực thi, dẫn đến hai hệ thống (hành chính và tư pháp) vận hành theo hai
hướng khác nhau, gây khó khăn cho công dân, làm giảm hiệu lực của phán quyết tư
pháp và gây ách tắc trong giải quyết thủ tục hành chính.
2. Thiếu quy định rõ ràng về cơ
chế xử lý và hậu quả pháp lý sau khi hòa giải không thành, dẫn đến tình trạng
"treo" hồ sơ vô thời hạn.
Thực trạng vướng mắc: Hiện nay,
pháp luật quy định UBND cấp xã có trách nhiệm hòa giải đối với tranh chấp đất
đai. Tuy nhiên, chưa có quy định cụ thể, ràng buộc về trường hợp sau khi hòa
giải không thành mà bên muốn tranh chấp không tiếp tục thực hiện các thủ tục
pháp lý tiếp theo (như khởi kiện ra Tòa án hoặc nộp đơn yêu cầu giải quyết
tranh chấp đến UBND cấp có thẩm quyền).
Hậu quả thực tiễn: Sự thiếu
vắng quy định này tạo điều kiện cho việc lạm dụng thủ tục hòa giải như một công
cụ để cản trở. Một bên có thể nộp đơn yêu cầu hòa giải, và ngay cả khi hòa giải
không thành, họ không cần phải làm gì thêm. Trong khi đó, cơ quan hành chính,
với cách hiểu hiện hành, vẫn coi đây là "đất đang có tranh chấp" và
từ chối hoặc "treo" vô thời hạn hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất của bên kia. Điều này khiến quyền lợi hợp pháp của người sử
dụng đất ổn định bị tổn hại nghiêm trọng, thủ tục hành chính bị ách tắc, và tranh
chấp thực chất không được giải quyết dứt điểm.
Yêu cầu cấp thiết: Cần phải có
quy định về một thời hạn xác định sau khi hòa giải không thành. Nếu trong thời
hạn đó, bên tranh chấp không chủ động khởi kiện hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm
quyền giải quyết, thì tình trạng "đất đang có tranh chấp" phải được
coi là chấm dứt. Khi đó, cơ quan hành chính có nghĩa vụ tiếp tục giải quyết thủ
tục cấp Giấy chứng nhận cho bên đề nghị, trên cơ sở xác định không còn căn cứ
để từ chối. Quy định này nhằm bảo vệ người sử dụng đất hợp pháp, ngăn chặn hành
vi cản trở có chủ ý và buộc các bên tranh chấp phải tích cực bảo vệ quyền lợi
của mình theo đúng trình tự tố tụng. Việc tháo gỡ những vướng mắc nêu trên là
hết sức cần thiết để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, nâng cao
hiệu quả giải quyết tranh chấp, và quan trọng nhất là bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân, tổ chức trong lĩnh vực đất đai.
Các căn cứ pháp lý: Khoản 16 Điều
3, Khoản 47 Điều 3, Điều 151 Luật Đất đai 2024; Khoản 2 Điều 34 Nghị định 101/2024/NĐ-CP
của Chính phủ; Khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP; Mục 5, chương 2, Công
văn số 22/HD- VKSTC của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, ngày 05/6/2020.
Nội dung trả lời
:
Tại khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 235
Luật Đất đai năm 2024 về hòa giải tranh chấp đất đai có quy định như sau:
1. Nhà nước khuyến khích các
bên tranh chấp đất đai tự hòa giải, hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp
luật về hòa giải ở cơ sở, hòa giải theo quy định của pháp luật về hòa giải
thương mại hoặc cơ chế hòa giải khác theo quy định của pháp luật.
2. Trước khi cơ quan nhà
nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai quy định tại Điều 236 của Luật
này, các bên tranh chấp phải thực hiện hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi
có đất tranh chấp. Việc hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã
nơi có đất tranh chấp
.....
d) Việc hòa giải phải được
lập thành biên bản có chữ ký của các bên tham gia hòa giải và có xác nhận hòa
giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa
giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất
tranh chấp;
đ) Trường hợp hòa giải không
thành mà một hoặc các bên tranh chấp không ký vào biên bản thì Chủ tịch Hội
đồng, các thành viên tham gia hòa giải phải ký vào biên bản, đóng dấu của Ủy
ban nhân dân cấp xã và gửi cho các bên tranh chấp.
3. Hòa giải tranh chấp đất
đai tại Tòa án được thực hiện theo quy định của pháp luật về hòa giải, đối
thoại tại Tòa án và pháp luật về tố tụng dân sự. Hòa giải tranh chấp giữa các
bên phát sinh từ hoạt động thương mại liên quan tới đất đai bằng hòa giải
thương mại thực hiện theo pháp luật về hòa giải thương mại.
4. Đối với trường hợp hòa
giải tranh chấp đất đai quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này mà hòa giải
thành và có thay đổi hiện trạng về ranh giới, diện tích, người sử dụng
đất thì trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản công nhận
kết quả hòa giải thành, các bên tham gia hòa giải phải gửi văn bản công nhận
kết quả hòa giải thành đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc
đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền
với đất theo quy định.
Đối với nội dung kiến nghị, đề
xuất của Quý công dân: “Cần phải có quy định về một thời hạn xác định
sau khi hòa giải không thành….tháo gỡ những vướng mắc nêu trên là hết sức cần
thiết để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả giải
quyết tranh chấp, và quan trọng nhất là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân, tổ chức trong lĩnh vực đất đai” Cục Quản lý đất đai sẽ nghiên
cứu, rà soát, tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, hoàn thiện trong
thời gian tới.
Trên đây là ý kiến của Cục Quản
lý đất đai kính gửi Ông được biết./.
|
Nơi nhận:
- Như trên;
- Thứ trưởng Nguyễn Thị Phương Hoa (để báo cáo);
- Cục trưởng (để báo cáo);
- Vụ Pháp chế (để biết);
- Văn phòng (để p/h);
- Lưu: VT, PKSQLSDĐĐ, HS(QĐ).
|
KT. CỤC TRƯỞNG
PHÓ CỤC TRƯỞNG
Bùi Văn Hải
|