|
VIỆN
KIỂM SÁT NHÂN DÂN
TỐI CAO
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 06/QĐ-VKSTC
|
Hà Nội, ngày 23 tháng 3 năm 2026
|
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC BAN HÀNH QUY CHẾ CÔNG TÁC THỰC
HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ, KIỂM SÁT VIỆC KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VÀ TRUY TỐ
VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
Căn cứ Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân số 63/2014/QH13
đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 82/2025/QH15;
Căn cứ Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 đã được
sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 02/2021/QH15,
Luật số 34/2024/QH15, Luật số 59/2024/QH15 và Luật số 99/2025/QH15;
Xét đề nghị của Vụ trưởng
Vụ Công tố và Kiểm sát điều tra án an ninh và Vụ trưởng Vụ Pháp chế Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy chế công tác thực hành
quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố (kèm theo Phụ lục gồm
18 biểu mẫu).
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và thay
thế Quyết định số 111/QĐ-VKSTC ngày 17/4/2020 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc ban
hành Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra
và truy tố.
Điều 3. Thủ trưởng đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu
trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
Nơi nhận:
- Như Điều 3;
- Lãnh đạo VKSND tối cao;
- Lưu: VT, V1, V14.
|
VIỆN TRƯỞNG
Nguyễn Huy Tiến
|
QUY CHẾ
CÔNG TÁC THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ, KIỂM
SÁT VIỆC KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VÀ TRUY TỐ
(Ban hành kèm theo Quyết định số 06/QĐ-VKSTC ngày 23/3/2026 của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao)
Chương
I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều
1. Phạm vi điều chỉnh
Quy chế này quy định về
công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin
về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố.
Điều
2. Đối tượng áp dụng
1. Viện kiểm sát nhân dân,
Viện kiểm sát quân sự các cấp.
2. Các đơn vị nghiệp vụ,
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc các cơ quan nêu tại khoản 1 Điều
này.
3. Cơ quan, tổ chức, cá
nhân khác có liên quan đến công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin
về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố.
Điều
3. Mục đích công tác
1. Mọi hành vi phạm tội,
người phạm tội đều phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố và xử lý kịp
thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm,
người phạm tội, không làm oan người vô tội.
2. Không để người nào bị khởi tố, bị
bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân, bị xâm phạm
tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự, nhân phẩm trái pháp luật.
3. Việc tiếp nhận, giải
quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố phải kịp thời, khách quan, đúng pháp
luật; mọi vi phạm pháp luật phải được phát hiện, khắc phục và xử lý kịp thời,
nghiêm minh.
Điều
4. Từ ngữ sử dụng trong Quy chế
1. “Viện kiểm sát” gồm Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân
cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân khu vực, Viện kiểm sát quân sự các cấp.
2. “Lãnh đạo Viện” gồm Viện trưởng Viện kiểm sát, Phó Viện trưởng Viện kiểm
sát được Viện trưởng phân công hoặc ủy quyền.
3. “Lãnh đạo đơn vị”
gồm Vụ trưởng, Phó Vụ trưởng Vụ Công tố và Kiểm sát điều tra thuộc Viện kiểm
sát nhân dân tối cao; Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng các phòng Công tố và Kiểm
sát điều tra, Kiểm sát xét xử sơ thẩm hình sự thuộc Viện kiểm sát nhân dân cấp
tỉnh; Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng các phòng Công tố và Kiểm sát điều tra, Kiểm
sát xét xử sơ thẩm hình sự thuộc Viện kiểm sát quân sự trung ương; Trưởng ban Công tố, Kiểm sát điều tra và Kiểm sát xét xử sơ thẩm hình sự thuộc
Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu được phân công.
4. “Cơ quan có thẩm quyền
điều tra” gồm Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra.
5. “Thủ trưởng, Cấp trưởng
cơ quan có thẩm quyền điều tra” gồm Thủ trưởng
Cơ quan điều tra, cấp trưởng cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra, Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Trưởng hoặc Phó trưởng
Công an cấp xã được Thủ trưởng Cơ quan điều tra Công an cấp tỉnh phân công tiến hành
giải quyết vụ việc, vụ án.
6. “Phó Thủ trưởng, Cấp
phó cơ quan có thẩm quyền điều tra” gồm Phó
Thủ trưởng Cơ quan điều tra, cấp phó cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra.
7. “Điều tra viên”
gồm Điều tra viên thuộc Cơ quan điều tra, Điều tra viên của Cơ quan điều tra
Công an cấp tỉnh bố trí ở Công an cấp xã.
8. “Cán bộ điều tra”
gồm Cán bộ điều tra của cơ quan có thẩm quyền điều tra; Cán bộ điều tra của Cơ
quan điều tra Công an cấp tỉnh bố trí ở cấp xã được Trưởng hoặc Phó trưởng Công
an cấp xã phân công tiến hành giải quyết vụ việc, vụ án.
Điều
5. Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện, Kiểm
sát viên, Kiểm tra viên
1. Viện trưởng, Phó Viện
trưởng, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên phải thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn,
trách nhiệm theo quy định tại các điều 41, 42, 43 và quy định
khác của Bộ luật Tố tụng hình sự, các quy định
khác của pháp luật có liên quan trong việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội
phạm, khởi tố, điều tra, truy tố.
2. Khi được phân công, Kiểm
sát viên, Kiểm tra viên có trách nhiệm quản lý hồ sơ vụ việc, hồ sơ vụ án, hồ sơ
kiểm sát; báo cáo bằng văn bản (văn bản giấy, văn bản điện tử trên nền tảng số)
nêu rõ quan điểm đề xuất về các vấn đề thuộc công tác thực hành quyền công tố,
kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra,
truy tố với lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện. Nội dung báo cáo phải đầy đủ, khách
quan, nêu rõ tiến độ giải quyết vụ việc, vụ án và được lập theo mẫu ban hành
kèm theo Quy chế này.
3. Lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo
Viện quản lý, chỉ đạo hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận,
giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố; xem xét, quyết định
các vấn đề liên
quan đến việc giải quyết vụ việc, vụ án theo quy định của pháp luật, Quy chế
này và các quy định khác của Ngành có liên quan.
Lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo
Viện phải duyệt, ghi rõ ý kiến chỉ đạo vào văn bản đề xuất của Kiểm sát viên;
trường hợp Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất qua nền tảng số thì lãnh đạo đơn vị,
lãnh đạo Viện duyệt, ký số, chuyển lại Kiểm sát viên thực hiện. Nếu thấy càn
thiết thì lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện trực tiếp nghiên cứu hồ sơ, kiểm tra
chứng cứ trong hồ sơ hoặc trực tiếp tiến hành một số hoạt động giải quyết nguồn
tin về tội phạm, hoạt động điều tra trước khi cho ý kiến chỉ đạo.
Nếu có ý kiến khác nhau giữa
các Kiểm sát viên thì Kiểm sát viên thụ lý chính báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh
đạo Viện chỉ đạo; nếu có ý kiến khác nhau giữa Kiểm sát viên với lãnh đạo Viện thì thực hiện theo quy
định tại Điều 83 của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân.
Trường hợp Kiểm sát viên thụ lý chính có ý kiến khác với lãnh đạo đơn vị thì phải
thực hiện ý kiến của lãnh đạo đơn vị, nhưng có quyền báo cáo với Phó Viện trưởng
phụ trách; nếu
lãnh đạo đơn vị có ý kiến khác với Phó Viện trưởng thì phải thực hiện ý kiến của
Phó Viện trưởng, nhưng có quyền bảo lưu ý kiến và báo cáo với Viện trưởng; kết
luận của Viện trưởng, Phó Viện trưởng được lưu hồ sơ kiểm sát.
Trường hợp vụ việc, vụ án
phức tạp, có khó khăn, vướng mắc, Viện trưởng có thể đưa ra tập thể lãnh đạo Viện
hoặc Ủy ban kiểm sát thảo luận trước khi kết luận. Đối với vụ việc, vụ án Viện
kiểm sát cấp dưới thỉnh thị Viện kiểm sát cấp trên thì việc thỉnh thị và trả lời thỉnh thị thực hiện
theo quy định của Ngành.
4. Khi phát hiện có sai
sót về nghiệp vụ hoặc vi phạm pháp luật thì lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện phải
có biện pháp khắc phục ngay và tổ chức kiểm điểm, rút kinh nghiệm, xử lý trách
nhiệm người vi phạm theo quy định của pháp luật.
Điều
6. Việc ban hành văn bản tố tụng của Viện kiểm sát trong tiếp nhận, giải quyết
nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố
1. Viện trưởng, Phó Viện
trưởng, Kiểm sát viên ban hành văn bản tố tụng trong tiếp nhận, giải quyết nguồn
tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, quy định khác của pháp luật có liên quan
và quy định của Ngành.
2. Viện trưởng Viện kiểm
sát có quyền ký tất cả các văn bản tố tụng thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát cấp
mình.
3. Phó Viện trưởng Viện kiểm
sát được Viện trưởng phân công phụ trách lĩnh vực công tác hoặc được Viện trưởng
ủy quyền có quyền ký tất cả các văn bản tố tụng thuộc thẩm quyền của Viện kiểm
sát cấp mình, trừ văn bản quy định tại điểm b khoản 1 Điều 41 của
Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản về giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với
hành vi, quyết định của mình.
4. Kiểm sát viên được phân
công thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội
phạm, khởi tố, điều tra, truy tố có quyền ký các văn bản tố tụng theo quy định
tại Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đối với vụ việc, vụ
án phức tạp, có quan điểm khác nhau giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố
tụng hoặc trong trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất xin ý kiến chỉ đạo của
lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện trước khi ký văn bản tố tụng.
5. Sau khi quyết định việc
ban hành các văn bản tố tụng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều
41 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
phân công Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Kiểm sát viên cao cấp
là Vụ trưởng Vụ Công tố và kiểm sát điều tra án hình sự ký thừa lệnh đối với
các văn bản tố tụng thuộc thẩm quyền của mình, trừ văn bản quy định tại các điểm b, d, đ khoản 1 Điều 41 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Cáo
trạng. Trường hợp đặc biệt, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể
phân công Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao ký Cáo trạng.
Trường hợp Vụ trưởng vắng
mặt mà phát sinh văn bản cần ký ngay, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét, quyết
định phân công Kiểm sát viên cao cấp là Phó Vụ trưởng được giao phụ trách việc
giải quyết vụ việc, vụ án ký quyết định tố tụng đối với vụ việc, vụ án đó.
Các văn bản tố tụng Kiểm
sát viên được phân công ký thừa lệnh Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện theo Thông
tư quy định Biểu mẫu văn bản tố tụng, văn bản nghiệp vụ thực hiện trong công
tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố. Kiểm
sát viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao về việc ký các văn bản được phân công; sau khi ký văn bản, Kiểm
sát viên gửi cho lãnh đạo Viện để theo dõi, chỉ đạo. Khi ký các văn bản tố tụng
được phân công, Kiểm sát viên phải ghi thừa lệnh Viện trưởng, cụ thể như sau:
TL. VIỆN TRƯỞNG
KIỂM SÁT VIÊN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
(hoặc KIỂM SÁT VIÊN CAO CẤP)
(ký, ghi rõ họ tên và đóng dấu)
6. Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh có thể phân công Kiểm sát viên là Trưởng phòng Công tố và
Kiểm sát điều tra, Kiểm sát xét xử sơ thẩm hình sự thuộc Viện kiểm sát nhân dân
cấp tỉnh ký thừa lệnh đối với các văn bản tố tụng thuộc thẩm quyền của mình, trừ
văn bản quy định tại các điểm b, d, đ khoản 1 Điều 41 của Bộ luật
Tố tụng hình sự và Cáo trạng.
Các văn bản tố tụng Kiểm sát viên được phân
công ký thừa lệnh Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thực hiện theo
Thông tư quy định Biểu mẫu văn bản tố tụng, văn bản nghiệp vụ thực hiện trong
công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố. Kiểm sát viên phải
chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp
tỉnh về việc ký các văn bản được phân công; sau khi ký văn bản, Kiểm sát viên gửi
cho lãnh đạo Viện để theo dõi, chỉ đạo. Khi ký các văn bản tố tụng được phân
công, Kiểm sát viên phải ghi thừa lệnh Viện trưởng, cụ thể như sau:
TL. VIỆN TRƯỞNG
KIỂM SÁT VIÊN...
(ký, ghi rõ họ tên và đóng dấu)
7. Thẩm quyền ký văn bản tố
tụng của Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự do Viện trưởng Viện kiểm sát quân
sự trung ương quy định.
Điều
7. Phân công Kiểm sát viên, Kiểm tra viên giải quyết vụ việc, vụ án
1. Trong thời hạn 03 ngày,
kể từ ngày nhận được thông báo bằng văn bản về việc tiếp nhận nguồn tin về tội phạm hoặc
quyết định khởi tố vụ án của cơ quan có thẩm quyền điều tra thì lãnh đạo đơn vị,
lãnh đạo Viện phải ra quyết định phân công giải quyết vụ việc, vụ án. Tùy theo
tính chất của vụ việc, vụ án, lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện có thể phân công một
hoặc nhiều Kiểm sát viên, Kiểm tra viên cùng giải quyết vụ việc, vụ án.
Trường hợp Viện trưởng Viện
kiểm sát trực tiếp tiến hành tố tụng đối với vụ việc, vụ án thì Viện trưởng Viện
kiểm sát có văn bản thông báo gửi cho cơ quan có thẩm quyền điều tra.
2. Trường hợp phân công
nhiều Kiểm sát viên, Kiểm tra viên giải quyết vụ việc, vụ án thì trong quyết định
phân công phải phi rõ Kiểm sát viên thụ lý chính. Tại Viện kiêm sát nhân dân tối
cao, Viện kiểm
sát quân sự trung ương, Kiểm sát viên thụ lý chính là Kiểm sát viên trung cấp
trở lên; tại Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân
khu, Kiểm sát viên thụ lý chính là Kiểm sát viên trung cấp trở lên; tại Viện kiểm
sát nhân dân khu vực, Viện kiểm sát quân sự khu vực, người thụ lý chính là Kiểm sát viên
sơ cấp trở lên.
Kiểm sát viên thụ lý chính
có trách nhiệm xây dựng kế hoạch thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn
tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng Kiểm sát viên,
Kiểm tra viên và chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước lãnh đạo đơn vị, lãnh
đạo Viện về việc giải quyết vụ việc, vụ án.
3. Kiểm tra viên tham gia
giải quyết vụ việc, vụ án có trách nhiệm giúp việc cho Kiểm sát viên và tuân
theo sự phân công, chỉ đạo nghiệp vụ của Kiểm sát viên. Các Kiểm sát viên, Kiểm
tra viên phải thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công và chịu sự chỉ đạo nghiệp vụ
của Kiểm sát viên thụ lý chính. Kiểm sát viên ở ngạch thấp hơn phải tuân theo sự
phân công, chỉ đạo nghiệp vụ của Kiểm sát viên ở ngạch cao hơn.
Điều
8. Thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Phó Viện trưởng, Viện trưởng Viện kiểm
sát
1. Kiểm sát viên, Kiểm tra
viên phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu thuộc một trong các
trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Tố tụng hình
sự. Lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra quyết định thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm
tra viên và phân công Kiểm sát viên, Kiểm tra viên thay thế theo quy định tại khoản 2 Điều 52 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Trong thời hạn 03 ngày,
kể từ ngày nhận được kiến nghị của cơ quan có thẩm quyền điều tra hoặc đề nghị
của người tham gia tố tụng về việc xem xét thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm tra
viên, nếu thấy có căn cứ thì lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra quyết định thay
đổi Kiểm sát viên, Kiểm tra viên; trường hợp không thay đổi thì thông báo bằng
văn bản nêu rõ lý do.
Nếu Phó Viện trưởng Viện
kiểm sát thuộc trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi thì
Viện trưởng phân công Phó Viện trưởng khác; trường hợp Viện trưởng trực tiếp tiến
hành tố tụng đối với vụ việc, vụ án thì thông báo bằng văn bản cho cơ quan có thẩm quyền điều tra và nêu rõ lý do.
Nếu Viện trưởng Viện kiểm
sát thuộc trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi thì báo
cáo Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên ra quyết định phân công một Phó Viện trưởng của Viện kiểm sát đang giải quyết vụ việc, vụ án,
thông báo bằng văn bản cho cơ quan có thẩm quyền điều tra và nêu rõ lý do. Nếu
Viện trưởng và các Phó Viện trưởng đều thuộc một trong những trường hợp phải từ chối hoặc bị thay đổi tiến
hành tố tụng thì Viện kiểm sát báo cáo Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp để xem
xét giải quyết.
3. Quyết định thay đổi và
phân công Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Phó Viện trưởng, Viện trưởng Viện kiểm
sát quy định tại Điều này phải gửi cho cơ quan có thẩm quyền điều tra đang thụ
lý vụ việc, vụ án, đưa vào hồ sơ vụ việc, vụ án và lưu hồ sơ kiểm sát.
Điều
9. Yêu cầu thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra; Thủ trưởng, Cấp trưởng, Phó
Thủ trưởng, Cấp phó của cơ quan có thẩm quyền điều tra
1. Khi thấy Điều tra viên,
Cán bộ điều tra thuộc một trong những trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi theo
quy định tại khoản 1 Điều 49 và Điều 51 của Bộ luật Tố tụng
hình sự thì Kiểm sát viên trao đổi ngay để Điều tra viên, Cán bộ điều tra từ
chối tiến hành tố tụng hoặc thay đổi; trường hợp Điều tra viên, Cán bộ điều tra
không thực hiện thì Kiểm sát viên báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện có văn
bản yêu cầu Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng, Cấp trưởng, Cấp phó cơ quan có thẩm quyền
điều tra xem xét, thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra.
Nếu Phó Thủ trưởng, Cấp
phó cơ quan có thẩm quyền điều tra thuộc trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng
hoặc bị thay đổi thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo Viện ra văn bản
yêu cầu Thủ trưởng, Cấp trưởng cơ quan có thẩm quyền điều tra thay đổi.
Trường hợp Điều tra viên
là Trưởng hoặc
Phó trưởng Công an cấp xã được Thủ trưởng Cơ quan điều tra Công an cấp tỉnh
phân công tiến hành giải quyết vụ việc, vụ án thuộc trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc
bị thay đổi thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo Viện kiểm sát khu vực
ra văn bản yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra Công an cấp tỉnh thay đổi.
2. Nếu Thủ trưởng, cấp trưởng
cơ quan có thẩm quyền điều tra (trừ trường hợp Điều tra viên là Trưởng hoặc Phó trưởng Công an cấp
xã được Thủ trưởng Cơ quan điều tra Công an cấp tỉnh phân công tiến hành giải
quyết vụ việc, vụ án) thuộc trường hợp phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi thì Kiểm sát viên báo
cáo, đề xuất lãnh đạo Viện yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra đề nghị Viện kiểm sát có
thẩm quyền ra quyết định chuyển vụ án đến cơ quan có thẩm quyền điều tra cấp
trên để điều tra.
Nếu cơ quan có
thẩm quyền điều tra không đề nghị thì Viện kiểm sát có thẩm quyền ra quyết định
chuyển vụ án. Viện kiểm sát cấp dưới phải báo cáo bằng văn bản về việc chuyển vụ
án cho Viện kiểm sát cấp trên.
Điều
10. Kiểm sát việc dùng tiếng nói và chữ viết trong tố tụng hình sự
1. Kiểm sát viên kiểm sát
chặt chẽ hành vi, tài liệu tố tụng, bảo đảm nguyên tắc tiếng nói và chữ viết
dùng trong tố tụng hình sự là tiếng Việt theo đúng quy định tại Điều
29 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Trường hợp tài liệu tố
tụng không thể hiện bằng tiếng Việt hoặc người tham gia tố tụng không sử dụng
được tiếng Việt hoặc người tham gia tố tụng có khuyết tật nghe, khuyết tật nói, khuyết
tật nhìn thì Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên, Cán bộ điều tra yêu cầu cử
người dịch thuật, người phiên dịch tham gia tố tụng.
Việc phiên dịch phải lập
biên bản theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Điều
11. Kiểm sát việc bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng
1. Kiểm sát viên kiểm sát việc thực hiện trách nhiệm của cơ
quan có thẩm quyền điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra trong việc thông báo, giao,
gửi, cấp, chuyển, niêm yết tài liệu, văn bản tố tụng và việc giải thích, bảo đảm
thực hiện quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và quy định khác của
pháp luật có liên quan. Việc thông báo, giải thích phải được ghi vào biên bản.
2. Khi kiểm sát việc bảo đảm
quyền bào chữa của người bị buộc tội, Kiểm sát viên cần chú ý các nội dung sau:
a) Kiểm sát chặt chẽ hoạt
động của cơ quan có thẩm quyền đang quản lý người bị bắt, người bị tạm giữ
trong việc chuyển đơn yêu cầu người bào chữa; thông báo cho người bị bắt, người bị tạm giữ về việc
người đại diện hoặc người thân thích của họ đã có đơn yêu cầu nhờ người bào chữa
theo đúng quy định tại Điều 75 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
trong việc bảo đảm quyền từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa theo quy định tại Điều 77 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
b) Trường hợp người bị buộc
tội thuộc diện được chỉ định người bào chữa theo quy định tại khoản
1 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự mà cơ quan có thẩm quyền điều tra
không yêu cầu hoặc đề nghị chỉ định người bào chữa thì Kiểm sát viên yêu cầu cơ
quan có thẩm quyền điều tra ra văn bản yêu cầu hoặc đề nghị các tổ chức có liên
quan cử người bào chữa; nếu cơ quan có thẩm quyền điều tra không thực hiện thì
Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu
hoặc đề nghị các tổ chức có liên quan cử người bào chữa theo quy định tại khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Người bị buộc tội, người đại
diện hoặc người thân thích của họ có quyền từ chối hoặc đề nghị thay đổi người
bào chữa. Việc thay đổi người bào chữa do cơ quan đã yêu cầu hoặc đề nghị chỉ định
người bào chữa xem xét, giải quyết; việc từ chối người bào chữa phải được lập
biên bản và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng chấm dứt việc chỉ định người
bào chữa.
Trường hợp người bị buộc tội
là người chưa thành niên hoặc trường hợp kết luận điều tra đề nghị truy tố,
truy tố vắng mặt bị can thì phải có người bào chữa.
3. Trong giai đoạn truy tố,
Kiểm sát viên có trách nhiệm tiếp nhận, xử lý đơn yêu cầu bào chữa, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện
tiến hành các thủ tục chỉ định người bào chữa cho bị can theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Khi người bào chữa đăng ký bào chữa, Kiểm sát viên
có trách nhiệm kiểm tra các giấy tờ người bào chữa xuất trình theo quy định tại khoản 2 và khoản 3
Điều 78 của Bộ luật Tố tụng hình sự, kiểm tra điều kiện không được tham gia
bào chữa của người bào chữa theo quy định tại khoản 4 và khoản
5 Điều 72 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận đủ giấy tờ, nếu có đủ điều
kiện, Kiểm sát viên vào sổ đăng ký bào chữa và ra văn bản thông báo người bào
chữa, gửi cho
người đăng ký bào chữa và cơ sở giam giữ; trường hợp từ chối thì phải nêu rõ lý
do và thông báo cho người đăng ký.
Trường hợp bị can, người đại
diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phạm tội, người bào chữa có yêu cầu
đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc
tội, gỡ tội hoặc
bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa thì Kiểm sát viên bố trí thời gian, địa điểm và
kiểm sát chặt chẽ việc người có yêu cầu thực hiện quyền của mình theo quy định
của pháp luật.
Điều
12. Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc lập hồ sơ vụ việc, vụ án và giữ bí mật
kiểm tra, xác minh, bí mật điều tra, bí mật công tác
1. Trong quá trình kiểm tra,
xác minh, khởi tố, điều tra, truy tố, tài liệu của cơ quan có thẩm quyền điều
tra hoặc của Viện kiểm sát thu thập đều phải được đưa vào hồ sơ vụ việc, vụ án
theo đúng trình tự tố tụng.
Kiểm sát viên kiểm sát chặt
chẽ việc lập hồ sơ vụ việc, vụ án của Điều tra viên, Cán bộ điều tra, bảo đảm tài liệu trong hồ sơ phải được đóng dấu
bút lục của cơ quan có thẩm quyền điều tra, Viện kiểm sát kèm theo bản thống kê
tài liệu theo quy định của pháp luật.
Khi nhận được tài liệu
liên quan đến vụ việc, vụ án do cơ quan có thẩm quyền điều tra chuyển đến, Kiểm sát viên kiểm tra tính hợp
pháp của tài liệu đó. Trường hợp phát hiện tài liệu thu thập không đúng quy định của pháp luật hoặc
không có giá trị chứng minh thì Kiểm sát viên yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều
tra thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Việc giao, nhận, thống kê,
đóng dấu và đánh số bút lục hồ sơ vụ án trong giai đoạn điều tra, truy tố được
thực hiện theo quy định tại khoản 5 Điều 88 của Bộ luật Tố tụng
hình sự, các quy định khác của pháp luật và Điều 62 của Quy
chế này.
2. Kiểm sát viên, Kiểm tra viên phải giữ bí mật kiểm
tra, xác minh, bí mật điều tra, bí mật công tác; yêu cầu Điều tra viên, Cán bộ điều tra, người tham gia tố tụng giữ bí mật kiểm tra, xác minh, bí mật điều tra, bí mật công tác; nếu
phát hiện vi phạm thì báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét xử
lý hoặc kiến nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều
13. Phát hiện và xử lý vi phạm
1. Kiểm sát viên thụ lý giải
quyết vụ việc, vụ án phải kịp thời phát hiện, theo dõi, tổng hợp vi phạm pháp
luật của cơ quan có thẩm quyền điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra để yêu cầu khắc phục; báo
cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện yêu cầu Thủ trưởng, cấp trưởng cơ quan có thẩm
quyền điều tra xử lý nghiêm minh Điều tra viên, Cán bộ điều tra vi phạm pháp luật;
nếu có dấu hiệu tội phạm thì báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện yêu cầu cơ
quan có thẩm quyền điều tra khởi tố vụ án hình sự; nếu có dấu hiệu tội phạm xâm
phạm hoạt động tư pháp, tội phạm tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư
pháp thì báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện chỉ đạo và chuyển ngay nguồn
tin đến Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm
sát quân sự trung ương giải quyết theo thẩm quyền, đồng thời có văn bản thông
báo đến Vụ Công tố và Kiểm sát điều tra án tư pháp (Vụ 6).
Đối với lệnh, quyết định
không có căn cứ và trái pháp luật của cơ quan có thẩm quyền điều tra thì xử lý
như sau:
a) Lệnh, quyết định của
Phó Thủ trưởng, Cấp phó cơ quan có thẩm quyền điều tra thì lãnh đạo Viện ra văn
bản yêu cầu Thủ trưởng, Cấp trưởng cơ quan có thẩm quyền điều tra ra quyết định
thay đổi, hủy bỏ; nếu không thực hiện thì Viện kiểm sát trực tiếp ra quyết định
thay đổi hoặc hủy bỏ;
b) Lệnh, quyết định của Thủ
trưởng, Cấp trưởng cơ quan có thẩm quyền điều tra thì lãnh đạo Viện ra quyết định
thay đổi hoặc hủy bỏ;
c) Lệnh, quyết định của cơ
quan có thẩm quyền điều tra đã được Viện kiểm sát phê chuẩn thì lãnh đạo Viện
ra quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ.
Trường hợp Viện kiểm sát
quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ lệnh, quyết định theo quy định tại các điểm a,
b và c khoản này thì phải gửi ngay cho cơ quan có thẩm quyền điều tra để thực
hiện.
2. Quá trình thực hành quyền
công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, Kiểm
sát viên có trách nhiệm tổng hợp các vi phạm pháp luật của cơ quan có thẩm quyền
tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng
và những sơ hở, thiếu sót trong hoạt động quản lý của cơ quan, tổ chức có liên
quan, báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ban hành văn bản kiến nghị
yêu cầu khắc phục và áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm, vi phạm pháp luật
theo quy định tại khoản 3 Điều 160, khoản 6, khoản 8 Điều 166
và khoản 1 Điều 237 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Điều
14. Xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng hình sự
1. Người có hành vi cản trở
hoạt động tố tụng hình sự theo quy định tại Điều 466 của Bộ luật
Tố tụng hình sự và pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi
cản trở hoạt động
tố tụng thì tùy tính chất, mức độ vi phạm, Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh
đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xử lý.
2. Hình thức, thẩm quyền,
trình tự, thủ tục xử lý đối với các hành vi cản trở hoạt động tố tụng hình sự được thực hiện theo quy định
của Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật Xử lý vi phạm hành chính, Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính đối với
hành vi cản trở hoạt động tố tụng và các quy định khác của pháp luật có liên
quan.
Chương
II
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ,
KIỂM SÁT VIỆC ÁP DỤNG, THAY ĐỔI, HỦY BỎ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN, BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ
Điều
15. Xét phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp
1. Ngay sau khi nhận được
hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp,
Kiểm sát viên tiến hành các hoạt động sau đây:
a) Kiểm tra hồ sơ, bảo đảm
đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo khoản 5 Điều 110 của Bộ luật Tố
tụng hình sự; trường hợp không đủ tài liệu, chứng cứ thì yêu cầu cơ quan đề
nghị phê chuẩn lệnh bắt bổ sung tài liệu, chứng cứ;
b) Xác định thẩm quyền,
căn cứ của việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, việc bắt người bị giữ
trong trường hợp khẩn cấp theo quy định tại các khoản 1, 2 và 4
Điều 110 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 136 của Luật
Tư pháp người chưa thành niên.
Trường hợp thấy có dấu hiệu
vi phạm trong việc giữ người, bắt người hoặc người bị giữ, người bị bắt không
nhận tội, các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ có mâu thuẫn, người bị giữ, người
bị bắt là người nước ngoài, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao
trong dân tộc thiểu số hoặc trong trường hợp cần thiết khác thì Kiểm sát viên
trực tiếp hỏi người bị giữ, người bị bắt trước khi báo cáo, đề xuất lãnh đạo
đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét, quyết định việc phê chuẩn. Khi cần hỏi người bị giữ, người
bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, Kiểm sát viên thông báo trước cho cơ quan có
thẩm quyền điều tra để phối hợp trong quá trình hỏi. Biên bản ghi lời khai của người
bị giữ, người bị bắt do Kiểm sát viên lập theo đúng quy định tại Điều
133 của Bộ luật Tố tụng hình sự được đưa vào hồ sơ vụ việc, vụ án và lưu hồ
sơ kiểm sát.
2. Trong thời hạn 12 giờ,
kể từ khi nhận được hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường
hợp khẩn cấp, lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện phải quyết định phê chuẩn hoặc
không phê chuẩn; thời hạn xét phê chuẩn được tính liên tục, kể cả trong và ngoài giờ làm việc.
Điều
16. Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tạm giữ
1. Ngay sau khi nhận được
quyết định tạm giữ, hồ sơ đề nghị phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ của cơ quan
có thẩm quyền điều tra, Kiểm sát viên kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của việc tạm giữ,
gia hạn tạm giữ để báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện giải quyết
như sau:
a) Nếu thấy việc tạm giữ
không có căn cứ hoặc không cần thiết thì yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra
ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ, nếu cơ quan có thẩm quyền điều tra
không thực hiện thì trực tiếp ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ và yêu cầu
cơ quan đã ra quyết định tạm giữ trả tự do ngay cho người bị tạm giữ theo quy định
tại khoản 4 Điều 117 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
b) Nếu thấy việc gia hạn tạm
giữ có căn cứ và cần thiết thì trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận được hồ sơ
đề nghị phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ, Viện kiểm sát phải ra quyết định
phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ. Nếu thấy việc gia hạn tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần
thiết thì ra quyết định không phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ và yêu cầu
cơ quan đã ra quyết định tạm giữ trả tự do ngay cho người bị tạm giữ theo quy định
tại khoản 2 Điều 118 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trường hợp
Viện kiểm sát đã phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ lần thứ nhất nhưng không
phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ lần thứ hai thì Viện kiểm sát ra quyết định
trả tự do cho người bị tạm giữ.
2. Hằng ngày, Viện kiểm
sát phải kiểm sát số người bị bắt, bị tạm giữ, gia hạn tạm giữ, số người chuyển
tạm giam, số
người được trả tự do hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, số người Viện kiểm
sát không phê chuẩn việc bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, không phê
chuẩn gia hạn tạm giữ, số người bị bắt, bị tạm giữ nhưng không xử lý hình sự; phát hiện, tổng hợp vi
phạm của cơ quan có thẩm quyền điều tra.
Điều
17. Xét phê chuẩn lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh tạm giam; quyết định áp dụng,
thay đổi hoặc hủy
bỏ biện pháp tạm
giam
1. Trong thời hạn 03 ngày,
kể từ ngày nhận được lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh tạm giam và hồ sơ đề nghị
xét phê chuẩn, Kiểm sát viên kiểm tra tài liệu, chứng cứ, đối chiếu với quy định
tại các điều 113, 119, 173 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 138 của Luật Tư pháp người chưa thành niên và quy định
khác của pháp luật có liên quan để xác định thẩm quyền, đối tượng, căn cứ tạm giam, thời hạn tạm giam đối với
từng bị can; báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét, quyết định
phê chuẩn hoặc không phê chuẩn và trả hồ sơ cho cơ quan đề nghị phê chuẩn ngay
sau khi kết thúc việc xét phê chuẩn.
Trường hợp chưa rõ căn cứ
thì ra văn bản yêu cầu cơ quan đề nghị phê chuẩn bổ sung tài liệu, chứng cứ để
làm rõ căn cứ xem xét, quyết định việc phê chuẩn. Trong trường hợp này, thời hạn xét phê chuẩn là 03
ngày, kể từ ngày Viện kiểm sát nhận được tài liệu, chứng cứ bổ sung.
Kiểm sát viên đóng dấu bút
lục của Viện kiểm sát vào các tài liệu làm căn cứ xét phê chuẩn và trả hồ sơ cho
Cơ quan điều tra ngay sau khi kết thúc việc phê chuẩn.
2. Nếu thấy đủ căn cứ để tạm
giam bị can theo quy định tại Điều 119 của Bộ luật Tố tụng hình
sự, Điều 138 của Luật Tư pháp người chưa thành niên và
cần thiết phải tạm giam bị can, nhưng Cơ quan điều tra không ra lệnh bắt bị can
để tạm giam, lệnh tạm giam thì Kiểm sát viên thụ lý giải quyết vụ án báo cáo, đề
xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra lệnh
bắt bị can để tạm giam, lệnh tạm giam; nếu Cơ quan điều tra không thực hiện thì
Viện kiểm sát ra lệnh bắt bị can để tạm giam, lệnh tạm giam và chuyển cho Cơ
quan điều tra để
thực hiện.
3. Sau khi phê chuẩn lệnh
bắt bị can để tạm giam, lệnh tạm giam bị can, Kiểm sát viên kiểm sát chặt chẽ
việc thi hành lệnh và thời hạn tạm giam bị can để kịp thời báo cáo, đề xuất
lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện giải quyết như sau:
a) Trong giai đoạn điều
tra, trường hợp còn thời hạn tạm giam nhưng xét thấy không cần thiết phải tiếp
tục tạm giam bị can thì Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra ra văn bản đề
nghị Viện kiểm sát quyết định việc hủy bỏ biện pháp tạm giam hoặc thay thế bằng
biện pháp ngăn chặn khác;
b) Chậm nhất 10 ngày trước
khi hết thời hạn tạm giam, nếu Cơ quan điều tra chưa có văn bản đề nghị Viện kiểm
sát gia hạn tạm giam bị can thì Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên báo cáo Thủ
trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra ra văn bản đề nghị gia hạn hoặc thay đổi,
hủy bỏ biện pháp tạm giam.
Chậm nhất 05 ngày, trước
khi hết thời hạn tạm giam, Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh
đạo Viện để xem xét, quyết định gia hạn tạm giam hoặc thay đổi, hủy bỏ biện
pháp tạm giam.
4. Viện kiểm sát phải nắm
chắc số liệu bị can tạm giam; theo dõi, quản lý chặt chẽ các trường hợp không
phê chuẩn lệnh
bắt bị can để tạm giam, không phê chuẩn lệnh tạm giam, không gia hạn tạm giam, quyết định hủy bỏ hoặc
thay thế biện pháp tạm giam, các trường hợp tạm giam nhưng đình chỉ điều tra do
bị can không phạm tội hoặc Tòa án tuyên không phạm tội để báo cáo lãnh đạo đơn
vị, lãnh đạo Viện.
Điều
18. Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc áp dụng biện pháp bảo lĩnh hoặc đặt tiền để bảo
đảm
1. Trong thời hạn 03 ngày,
kể từ ngày nhận được quyết định về việc bảo lĩnh hoặc quyết định về việc đặt tiền
để bảo đảm, đề nghị xét phê chuẩn và tài liệu khác có liên quan về việc bảo
lĩnh hoặc đặt tiền để bảo đảm, Kiểm sát viên kiểm sát căn cứ, điều kiện, thẩm
quyền, thời hạn bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm theo quy định tại Điều
121 hoặc Điều 122 của Bộ luật Tố tụng hình sự và quy định khác của pháp luật
có liên quan, báo cáo đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét, quyết định
phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định về việc bảo lĩnh hoặc quyết định về
việc đặt tiền để bảo đảm.
Trường hợp bị can đã được
áp dụng biện pháp bảo lĩnh hoặc đặt tiền để bảo đảm nhưng vi phạm nghĩa vụ thì
Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định về việc bảo lĩnh hoặc quyết định về việc đặt tiền
để bảo đảm và ra quyết định áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can.
2. Trong giai đoạn truy tố,
nếu có căn cứ thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh hoặc đặt tiền
để bảo đảm thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện
xem xét, quyết định.
Điều
19. Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư
trú
1. Sau khi phê chuẩn quyết
định khởi tố bị can, nếu cơ quan có thẩm quyền điều tra áp dụng biện pháp cấm đi
khỏi nơi cư trú đối với bị can, Kiểm sát viên kiểm sát căn cứ, điều kiện, thẩm
quyền, thời hạn và việc gửi lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, thông báo về việc áp dụng
biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị can và tùy từng trường hợp xử lý
như sau:
a) Nếu phát hiện lệnh cấm
đi khỏi nơi cư
trú của cơ quan có thẩm quyền điều tra không có căn cứ thì Kiểm sát viên báo
cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu cơ quan có thẩm
quyền điều tra hủy bỏ lệnh đó; nếu cơ quan có thẩm quyền điều tra không thực hiện
thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra quyết định
hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú;
b) Trường hợp phát hiện bị
can vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 123 hoặc thuộc trường
hợp quy định tại khoản 4 Điều 119 của Bộ luật Tố tụng hình sự
thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn bản
yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và ra
lệnh bắt bị can để tạm giam; nếu cơ quan có thẩm quyền điều tra không thực hiện
thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và ra lệnh bắt
bị can để tạm giam, chuyển cơ quan có thẩm quyền điều tra thực hiện;
c) Trong giai đoạn điều
tra, nếu có đủ căn cứ, điều kiện áp biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị can nhưng cơ quan có thẩm quyền điều
tra không áp dụng thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo
Viện có văn bản yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra ra lệnh cấm đi khỏi nơi
cư trú đối với bị can; nếu cơ quan có thẩm quyền điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát ra lệnh cấm
đi khỏi nơi cư trú đối với bị can, chuyển cho cơ quan có thẩm quyền điều tra để
thực hiện.
2. Trong giai đoạn truy tố,
Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét, quyết định
áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị can theo quy định tại Điều
123 của Bộ luật Tố tụng hình sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Trường hợp bị can đã được
quyết định áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú nhưng vi phạm nghĩa vụ quy
định tại khoản 2 Điều 123 hoặc thuộc trường hợp quy định tại
khoản 4 Điều 119 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì Kiểm sát
viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét hủy bỏ lệnh cấm đi
khỏi nơi cư trú và ra lệnh bắt bị can để tạm giam.
Điều
20. Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tạm hoãn xuất cảnh
1. Ngay sau khi nhận được
thông báo về việc quyết định tạm hoãn xuất cảnh của Cơ quan điều tra, Kiểm sát
viên kiểm sát căn cứ, thẩm quyền, thời hạn tạm hoãn xuất cảnh. Trường hợp xét
thấy quyết định tạm hoãn xuất cảnh của Cơ quan điều tra không có căn cứ thì Kiểm
sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu Cơ
quan điều tra hủy
bỏ quyết định tạm hoãn xuất cảnh; nếu Cơ quan điều tra không thực hiện thì Kiểm
sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra quyết định hủy bỏ
quyết định tạm hoãn xuất cảnh của Cơ quan điều tra theo quy định tại Điều 41 và khoản 5 Điều 165 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Nếu có căn cứ xác định bị can
có dấu hiệu bỏ trốn ra nước ngoài mà Cơ quan điều tra không ra quyết định tạm
hoãn xuất cảnh thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện
ra văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định tạm hoãn xuất cảnh; nếu Cơ
quan điều tra không thực hiện thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị,
lãnh đạo Viện ra quyết định tạm hoãn xuất cảnh và gửi ngay cho Cơ quan điều
tra, Cơ quan quản lý xuất nhập cảnh.
2. Trong giai đoạn truy tố,
nếu có căn cứ và xét thấy cần thiết thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo
đơn vị, lãnh đạo Viện ra quyết định tạm hoãn xuất cảnh đối với những người quy
định tại khoản 1 Điều 124 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Điều
21. Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn
chặn
1. Kiểm sát viên kiểm sát
chặt chẽ căn cứ, điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục hủy bỏ, thay thế biện
pháp ngăn chặn theo quy định tại Điều 125 của Bộ luật Tố tụng
hình sự, khoản 7 Điều 139 và khoản 7 Điều 140 của Luật Tư
pháp người chưa thành niên.
2. Khi xem xét các trường
hợp hủy bỏ biện pháp ngăn chặn theo quy định tại khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng
hình sự, khoản 7 Điều 139 và khoản 7 Điều 140 của Luật Tư
pháp người chưa thành niên thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn
vị, lãnh đạo Viện giải quyết như sau:
a) Đối với quyết định áp dụng
biện pháp ngăn chặn của cơ quan có thẩm quyền điều tra không do Viện kiểm sát
phê chuẩn thì Viện kiểm sát ra văn bản yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra hủy bỏ; nếu cơ quan có thẩm
quyền điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ;
b) Đối với quyết định áp dụng
biện pháp ngăn chặn do Viện kiểm sát phê chuẩn hoặc ban hành thì Viện kiểm sát
ra quyết định hủy bỏ.
3. Khi xem xét các trường hợp
hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn theo quy định tại khoản
2 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 7 Điều 139 và
khoản 7 Điều 140 của Luật Tư pháp người chưa thành niên thì Kiểm sát viên
báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện giải quyết như sau:
a) Đối với quyết định áp dụng
biện pháp ngăn chặn của cơ quan có thẩm quyền điều tra không do Viện kiểm sát
phê chuẩn; nếu xét thấy không còn cần thiết hoặc có thể thay thế bằng biện pháp
ngăn chặn khác mà cơ quan có thẩm quyền điều tra không ra quyết định hủy bỏ hoặc
thay thế thì Viện kiểm sát ra văn bản yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra ra
quyết định hủy bỏ hoặc thay thế.
Nếu cơ quan có thẩm quyền
điều tra ra quyết định hủy bỏ hoặc thay thế nhưng Viện kiểm sát thấy việc hủy bỏ
hoặc thay thế đó không có căn cứ và trái pháp luật thì Viện kiểm sát ra văn bản
yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra hủy bỏ; trường hợp cơ quan có thẩm quyền
điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ;
b) Đối với quyết định áp dụng
biện pháp ngăn chặn do Viện kiểm sát phê chuẩn hoặc ban hành thì Viện kiểm sát
ra quyết định hủy bỏ hoặc thay thế.
Trường hợp chưa hết thời hạn
gia hạn tạm giữ mà cơ quan có thẩm quyền điều tra ra quyết định khởi tố vụ án,
khởi tố bị can và xét thấy không cần thiết tạm giam bị can thì căn cứ khoản 2 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Viện kiểm sát
yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra có văn bản đề nghị Viện kiểm sát quyết định
việc hủy bỏ biện pháp tạm giữ; nếu cần thiết phải áp dụng biện pháp ngăn chặn
khác thì Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra áp dụng; nếu cơ
quan có thẩm quyền điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát quyết định áp dụng.
Điều
22. Gia hạn tạm giam để điều tra
1. Việc gia hạn tạm giam
và thẩm quyền gia hạn tạm giam của Viện kiểm sát các cấp được thực hiện theo
quy định tại Điều 173 của Bộ luật Tố tụng hình sự và quy định
khác của pháp luật có liên quan.
2. Trường hợp cần thiết phải
gia hạn tạm giam theo quy định tại khoản 5 và khoản 6 Điều 173
của Bộ luật Tố tụng hình sự, nếu vụ án đang do Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh,
Viện kiểm sát quân
sự cấp quân khu thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra thì trên cơ sở đề nghị gia hạn tạm giam của Cơ quan điều tra cùng cấp, Viện kiểm sát
nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu phải chuyển hồ sơ vụ án kèm theo văn
bản đề nghị gia hạn, nêu rõ nội dung vụ án, hành vi phạm tội của bị can, lý do
đề nghị gia hạn đến Viện kiểm sát nhân dân tối cao chậm nhất 10 ngày, trước khi
hết thời hạn tạm giam. Chậm nhất 05 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án kèm
theo văn bản đề nghị gia hạn, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định gia hạn
hoặc không gia hạn tạm giam; nếu không gia hạn tạm giam thì có văn bản nêu rõ lý do và trả lại hồ sơ cho Viện kiểm
sát đã đề nghị.
Điều
23. Thực hành
quyền công tố, kiểm sát việc áp dụng biện pháp áp giải, dẫn giải
1. Trong giai đoạn khởi tố,
điều tra và truy tố, nếu xét thấy cần thiết phải áp dụng biện pháp áp giải, dẫn
giải các đối tượng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 127 của
Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 và khoản 2 Điều 141 của Luật
Tư pháp người chưa thành niên thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo
đơn vị, lãnh đạo Viện có văn bản yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra ra quyết
định hoặc trực tiếp ra quyết định áp giải, dẫn giải.
2. Khi kiểm sát việc áp giải,
dẫn giải của Điều tra viên, Cấp trưởng cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra, Kiểm sát viên kiểm sát chặt chẽ đối tượng bị áp giải, dẫn
giải, điều kiện áp dụng, thẩm quyền, nội dung quyết định, trình tự thi hành, cơ
quan có trách nhiệm thi hành quyết định áp giải, quyết định dẫn giải; nếu phát
hiện vi phạm thì báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn bản yêu
cầu khắc phục vi phạm.
Điều
24. Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc áp dụng biện pháp kê biên tài sản,
phong tỏa tài khoản
1. Sau khi nhận được lệnh
kê biên tài sản, lệnh phong tỏa tài khoản của Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên
kiểm sát chặt chẽ đối tượng bị áp dụng, căn cứ, điều kiện, thẩm quyền áp dụng
biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản; nội dung biên bản kê biên tài sản,
phong tỏa tài khoản theo quy định tại Điều 128 và Điều 129 của
Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong giai đoạn khởi tố,
điều tra, nếu xét thấy có đủ căn cứ, điều kiện và cần thiết phải áp dụng biện
pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản mà Cơ quan điều tra chưa áp dụng thì Kiểm sát
viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu Cơ quan
điều tra áp dụng; nếu Cơ quan điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát ra lệnh
kê biên tài sản, lệnh phong tỏa tài khoản và yêu cầu Cơ quan điều tra thực hiện.
Trường hợp Cơ quan điều
tra ra lệnh kê biên tài sản, lệnh phong tỏa tài khoản không có căn cứ, trái
pháp luật thì Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra hủy bỏ lệnh đó; nếu Cơ
quan điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ.
2. Trong giai đoạn truy tố,
nếu xét thấy có đủ căn cứ, điều kiện và cần thiết phải áp dụng biện pháp kê
biên tài sản, phong tỏa tài khoản thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo
đơn vị, lãnh đạo Viện quyết định việc kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, đồng
thời yêu cầu Cơ quan điều tra phối hợp thực hiện.
Điều
25. Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp kê
biên tài sản, phong tỏa tài khoản
1. Kiểm sát viên kiểm sát
chặt chẽ trường hợp, căn cứ, điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục hủy bỏ,
thay thế biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản theo quy định tại Điều 130 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Trường hợp có đủ căn cứ
hủy bỏ biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản của Cơ quan điều tra theo
quy định tại khoản 1 Điều 130 của Bộ luật Tố tụng hình sự
mà Cơ quan điều tra không ra quyết định hủy bỏ thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất
lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ban hành văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra hủy bỏ;
nếu Cơ quan điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ.
Trường hợp xét thấy không
còn cần thiết áp dụng hoặc có thể thay thế biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa
tài khoản bằng biện pháp khác theo quy định tại khoản 2 Điều
130 của Bộ luật Tố tụng hình sự mà Cơ quan điều tra không ban hành quyết định
hủy bỏ hoặc thay thế thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo
Viện ban hành văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định hủy bỏ hoặc thay
thế. Trường hợp Cơ quan điều tra ra quyết định hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp
kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản nhưng xét thấy quyết định hủy bỏ hoặc thay
thế của Cơ quan điều tra không có căn cứ và trái pháp luật thì Kiểm sát viên
báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ban hành văn bản yêu cầu Cơ
quan điều tra hủy
bỏ quyết định đó; nếu Cơ quan điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát quyết
định hủy bỏ.
3. Trong giai đoạn khởi tố,
điều tra, quyết định áp dụng biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản do
Viện kiểm sát ban hành thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh
đạo Viện ra quyết định hủy bỏ hoặc thay thế.
Trong giai đoạn truy tố,
Viện kiểm sát quyết định hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp kê biên tài sản, phong
tỏa tài khoản khi có đủ căn cứ quy định tại Điều 130 của Bộ luật
Tố tụng hình sự.
Chương
III
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ,
KIỂM SÁT VIỆC KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG, KHÁM NGHIỆM TỬ THI, THỰC NGHIỆM ĐIỀU
TRA, GIÁM ĐỊNH VÀ ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN
Điều
26. Tiếp nhận, xử lý và giải quyết nguồn tin về tội phạm có liên quan đến khám
nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi
1. Lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo
Viện phân công Kiểm sát viên trực nghiệp vụ 24/24 giờ để tiếp nhận, quản lý đầy
đủ nguồn tin về tội phạm có liên quan đến khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm
tử thi do cơ quan, tổ chức, cá nhân chuyển đến. Kiểm sát viên ghi vào sổ thụ
lý; ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm tiếp nhận; nội dung nguồn tin về tội phạm có
liên quan đến khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi; tên, tuổi và địa chỉ
của cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp; kịp thời báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh
đạo Viện để chuyển ngay các nguồn tin về tội phạm kèm theo các tài liệu có liên
quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết. Nếu là thông tin do cơ quan
có thẩm quyền điều tra cung cấp, Kiểm sát viên được phân công trực phải báo cáo
ngay lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện trong ca trực để kịp thời phân công Kiểm
sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám
nghiệm tử thi.
Kiểm sát viên, Kiểm tra
viên phải giữ bí mật thông tin của cá nhân đã cung cấp nguồn tin về tội phạm có
liên quan đến khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi.
2. Khi nhận được thông báo
của cơ quan có thẩm quyền điều tra, lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện phải cử Kiểm
sát viên thực hành
quyền công tố, kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi đối với tất cả
các vụ việc mà cơ quan có thẩm quyền điều tra tiến hành khám nghiệm theo quy định của pháp luật.
Đối với vụ việc phức tạp,
liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, dư luận xã hội đặc biệt quan tâm; vụ giết
người không quả tang; vụ tai nạn giao thông, vụ tai nạn lao động gây hậu quả đặc
biệt nghiêm trọng; vụ việc liên quan đến người vi phạm là cán bộ lãnh đạo chủ
chốt từ cấp tỉnh trở lên, người có chức sắc trong tôn giáo, người có uy tín cao
trong dân tộc thiểu số hoặc các trường hợp khác khi xét thấy cần thiết thì lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo
Viện phải trực tiếp cùng Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát việc
khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi.
Trường hợp cần thiết, Viện
kiểm sát cấp dưới đề nghị Viện kiểm sát cấp trên phân công Kiểm sát viên cùng tham
gia thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm
tử thi.
Điều
27. Thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường,
khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra
1. Thẩm quyền thực hành
quyền công tố, kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực
nghiệm điều tra theo thẩm quyền giải quyết các vụ án hình sự và theo lãnh thổ.
Các vụ án giết người, nghi giết người; các vụ tai nạn lao động, tai nạn giao
thông; các vụ cháy, nổ đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, các vụ việc xảy ra có
liên quan đến yếu tố nước ngoài hoặc các vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp
khác do Cơ quan điều tra Công an cấp tỉnh, Cơ quan điều tra quân sự cấp quân
khu tiến hành khám nghiệm, thực nghiệm điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp
tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu thực hành quyền công tố, kiểm sát việc
khám nghiệm, thực nghiệm điều tra.
2. Trường hợp vụ việc thuộc
thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân
khu thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm
tử thi, thực nghiệm điều tra thì khi có yêu cầu, Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân khu vực, Viện kiểm sát quân sự khu vực nơi xảy ra tội phạm
hoặc nơi có dấu vết tội phạm có trách nhiệm phân công Kiểm sát viên phối hợp,
tham gia.
Điều
28. Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm sát viên khi thực hành quyền công
tố, kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều
tra và giám định
1. Yêu cầu Điều tra viên, Cán bộ điều tra hoặc
người biết về vụ việc cung cấp thông tin liên quan đến vụ việc cần khám nghiệm
hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra.
2. Kiểm sát thành phần tiến
hành, tham gia việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều
tra bảo đảm đúng thẩm quyền, thành phần theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và quy định khác của
pháp luật có liên quan.
3. Yêu cầu Điều tra viên,
Cán bộ điều tra thu giữ, niêm phong, bảo quản vật chứng, tài liệu, đồ vật hoặc
dữ liệu điện tử có liên quan đến vụ việc khám nghiệm; lập biên bản, chụp ảnh, vẽ
sơ đồ và các hoạt động khác theo đúng quy định của pháp luật.
4. Kiểm sát chặt chẽ việc
khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra và giám định;
kịp thời đề ra yêu cầu cho Điều tra viên Cán bộ điều tra, người có chuyên môn,
Giám định viên kỹ thuật hình sự, Giám định viên pháp y thu thập, làm rõ các dấu
vết để xác định nguyên nhân, có thể sơ bộ kết luận về nguyên nhân để phục vụ
công tác truy nguyên hình sự và truy tìm người phạm tội đối với những vụ án
không quả tang.
5. Yêu cầu Điều tra viên,
Cán bộ điều tra, người có chuyên môn, Giám định viên kỹ thuật hình sự, Giám định
viên pháp y xác định chính xác phạm vi hiện trường, bao gồm cả hiện trường
chính, hiện trường phụ, hiện trường giả của vụ án, hiện trường còn nguyên vẹn
hay đã bị thay đổi; mở rộng hiện trường để truy tìm dấu vết và công cụ, phương
tiện phạm tội; phát hiện, mô tả, thu thập đầy đủ, trung thực, khách quan mọi dấu
vết liên quan đến tội phạm và người phạm tội tại hiện trường. Kiểm sát viên có
thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm
tử thi, thực nghiệm điều tra.
6. Kiểm tra, đối chiếu giữa
sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực
nghiệm điều tra và các tài liệu liên quan khác so với thực tế hiện trường, diễn
biến quá trình khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều
tra.
7. Kiểm sát viên được phân
công phải có mặt từ khi bắt đầu đến khi kết thúc, ký tên vào sơ đồ hiện trường
và biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và thực nghiệm điều
tra. Mọi trường hợp Kiểm sát viên không trực tiếp thực hành quyền công tố, kiểm
sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra thì
không được ký vào các biên bản trên.
Điều
29. Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường
1. Trước khi khám nghiệm
hiện trường, Kiểm sát viên chủ động nắm tình hình, yêu cầu Điều tra viên, Cán bộ
điều tra thông báo nội dung, diễn biến ban đầu của sự việc xảy ra và công tác bảo
vệ hiện trường để tham gia ý kiến vào việc chuẩn bị khám nghiệm, phương pháp
khám nghiệm; chủ động yêu cầu Điều tra viên, Cán bộ điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường; kiểm
tra đầy đủ thành phần trước khi tiến hành khám nghiệm bảo đảm đúng quy định tại
Điều 201 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Trong quá trình khám
nghiệm hiện trường, Kiểm sát viên thực hiện các hoạt động sau:
a) Kiểm sát viên phối hợp
với Điều tra viên, Cán bộ điều tra, người có chuyên môn để thống nhất nội dung, kế hoạch, trình tự, phương pháp khám nghiệm hiện
trường, bảo đảm khách quan, toàn diện, đúng pháp luật.
Kiểm sát việc lấy lời khai
của những người biết sự việc ngay tại hiện trường, nếu thấy người làm chứng,
người bị hại hoặc đối tượng có thể chết hoặc mất khả năng khai báo, Kiểm sát
viên yêu cầu Điều tra viên, Cán bộ điều tra lấy ngay lời khai và ghi âm lời
khai của họ;
b) Kiểm sát viên chủ động
nắm tình hình về hiện trường qua thông báo của Điều tra viên, Cán bộ điều tra,
thông tin do người dân xung quanh khu vực hiện trường cung cấp hoặc tự mình quan sát và phân
tích các yếu tố để đánh giá tình trạng hiện trường còn nguyên vẹn hay đã bị thay đổi, nguyên nhân dẫn
đến sự thay đổi đó (do các yếu tố con người, thời tiết, động vật qua lại hoặc
các yếu tố
khách quan khác); xác định phạm vi cần khám nghiệm và những loại dấu vết, vật
chứng, đồ vật, tài liệu, dữ liệu điện tử cần được xem xét, thu giữ để yêu cầu
Điều tra viên, Cán bộ điều tra thực hiện;
c) Trong quá trình khám
nghiệm hiện trường, Kiểm sát viên kiểm sát chặt chẽ các hoạt động khám nghiệm;
yêu cầu Điều tra
viên, Cán bộ điều tra, người có chuyên môn thực hiện đúng trình tự, thủ tục
khám nghiệm, vẽ sơ đồ, chụp ảnh, đo đạc và mô tả thực trạng hiện trường và thực
hiện các hoạt động khác theo quy định của pháp luật; yêu cầu biên bản khám nghiệm
hiện trường phải được lập, sơ đồ hiện trường phải được vẽ ngay tại nơi khám
nghiệm.
Kiểm sát viên ghi chép đầy
đủ, chính xác, rõ ràng, cụ thể các tình tiết, đặc điểm, vị trí của dấu vết, vật
chứng, đồ vật, tài liệu quan trọng tại hiện trường để có cơ sở xem xét đối chiếu,
kiểm tra với biên bản và sơ đồ khám nghiệm hiện trường; trường hợp cần thiết,
có thể chụp ảnh, ghi hình, vẽ sơ đồ, mô tả hiện trường, xem xét tại chỗ dấu vết,
đồ vật, tài liệu có liên quan đến tội phạm, lấy lời khai và ghi âm lời khai của
người bị hại, người làm chứng và những người biết việc; các tài liệu này được
lưu hồ sơ kiểm sát;
d) Kiểm sát viên đề ra yêu
cầu khám nghiệm trên cơ sở nghiên cứu cơ chế, quy luật hình thành dấu vết để có thể phát hiện, xác định
được loại dấu vết, dấu vết hình thành đúng hay trái với quy luật thông thường,
sự mâu thuẫn giữa các dấu vết, vật chứng, đồ vật, tài liệu, dữ liệu điện tử để
kịp thời yêu cầu thu thập đầy đủ; tránh trường hợp làm mất, hư hỏng các dấu vết
hoặc làm thay đổi tình trạng hiện trường; xác định có hay không việc tạo hiện
trường giả sau khi gây án;
đ) Kiểm sát viên phối hợp
với Điều tra viên, Cán bộ điều tra, người có chuyên môn phân tích, đánh giá các
dấu vết, vật chứng, đồ vật, tài liệu, dữ liệu điện tử đã thu giữ được tại hiện
trường để đặt ra các giả thuyết điều tra, định hướng cho việc khám nghiệm, thu
giữ dấu vết được
đầy đủ, chính xác, phục vụ công tác truy tìm vật chứng, truy bắt người thực hiện
hành vi phạm tội;
e) Những dấu vết, vật chứng,
đồ vật, tài liệu, dữ liệu điện tử đã thu giữ phải được bảo quản, giữ nguyên trạng hoặc niêm phong theo
quy định của pháp luật, bảo đảm phục vụ cho việc giám định và sử dụng làm chứng
cứ giải quyết vụ án;
g) Kiểm sát viên phối hợp
cùng Điều tra viên, Cán bộ điều tra phân tích, đánh giá đúng kết quả khám nghiệm
hiện trường; xem xét quyết định kết thúc khám nghiệm hoặc tiếp tục bảo vệ hiện
trường để có thể
khám nghiệm bổ sung, khám nghiệm lại; xác định rõ những dấu vết, vật chứng, đồ
vật, tài liệu, dữ liệu điện tử cần được trưng cầu giám định, nội dung cần trưng
cầu để phục vụ cho công tác điều tra, giải quyết vụ án.
Trường hợp Kiểm sát viên
và Điều tra
viên không thống nhất ý kiến thì Kiểm sát viên yêu cầu ghi ý kiến của mình vào
biên bản và báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện sau khi kết thúc khám nghiệm;
h) Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên, Cán bộ
điều tra quán triệt những người tham gia khám nghiệm hiện trường giữ bí mật về
kết quả khám nghiệm, tuyệt đối không được tiết lộ, gây khó khăn cho công tác điều tra, giải
quyết vụ án.
3. Sau khi kết thúc việc
khám nghiệm hiện trường, Kiểm sát viên ghi thông tin vào sổ khám nghiệm, đồng
thời báo cáo ngay
bằng văn bản và đề xuất quan điểm xử lý với lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện về kết
quả khám nghiệm hiện trường, những yêu cầu của Kiểm sát viên không được Điều
tra viên, Cán bộ điều tra, người có chuyên môn thực hiện hoặc thực hiện không đầy
đủ (nếu có), cần phải khám nghiệm bổ sung, khám nghiệm lại để có ý kiến chỉ đạo.
Kiểm sát viên dự thảo báo
cáo ban đầu trình lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện để gửi Viện kiểm sát cấp trên
theo quy định về chế độ thông tin, báo cáo của Ngành.
Điều 30.
Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khám nghiệm tử thi
1. Trước khi khám nghiệm tử
thi, Kiểm sát viên chủ động phối hợp với Điều tra viên để thống nhất nội dung kế
hoạch khám nghiệm tử thi. Trước khi khám nghiệm tử thi, Kiểm sát viên yêu cầu
Điều tra viên thông báo tóm tắt nội dung vụ việc, thành phần tiến hành, tham
gia khám nghiệm, thời gian, địa điểm tiến hành khám nghiệm.
2. Trong quá trình khám
nghiệm tử thi, Kiểm sát viên thực hiện các hoạt động sau:
a) Kiểm sát viên yêu cầu
Điều tra viên,
Giám định viên pháp y, Giám định viên kỹ thuật hình sự chụp ảnh, mô tả đầy đủ dấu
vết để lại trên tử thi, thu thập, bảo quản mẫu vật, phục vụ công tác giám định
để xác định nguyên nhân chết hoặc truy tìm tung tích của nạn nhân.
Kiểm sát viên ghi chép, mô
tả đầy đủ, chính xác, rõ ràng, cụ thể các dấu vết để lại trên tử thi để làm cơ
sở xem xét, đối chiếu với biên bản khám nghiệm tử thi;
b) Nếu thấy việc khám nghiệm
tử thi chưa đầy đủ, vi phạm quy định tại Điều 202 của Bộ luật Tố
tụng hình sự, Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên, Giám định viên pháp y,
Giám định viên kỹ thuật hình sự bổ sung, khắc phục; trường hợp không thực hiện
hoặc thực hiện không đầy đủ thì yêu cầu ghi ý kiến của Kiểm sát viên vào biên bản
khám nghiệm và báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện;
c) Trường hợp phải khai quật
tử thi, Kiểm sát viên kiểm sát về trình tự, thủ tục, bảo đảm việc khai quật tử
thi để khám nghiệm đúng quy định tại Điều 202 của Bộ luật Tố tụng
hình sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.
3. Sau khi kết thúc việc
khám nghiệm tử thi, Kiểm sát viên ghi thông tin vào sổ khám nghiệm, đồng thời
báo cáo ngay bằng văn bản và đề xuất quan điểm với lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện
về kết quả khám nghiệm tử thi, những yêu cầu của Kiểm sát viên không được Điều
tra viên, Giám định viên pháp y, Giám định viên kỹ thuật hình sự thực hiện hoặc
thực hiện không đầy đủ (nếu có) để có ý kiến chỉ đạo.
Kiểm sát viên dự thảo báo
cáo ban đầu trình lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện để gửi Viện kiểm sát cấp trên theo quy định về chế độ thông tin, báo cáo của Ngành.
Điều
31. Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc thực nghiệm điều tra
1. Khi nhận được thông báo
của Cơ quan điều tra về việc thực nghiệm điều tra, lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện
cử Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát việc thực nghiệm điều tra.
Trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt, phải được sự đồng ý của lãnh đạo đơn vị,
lãnh đạo Viện và thông báo cho Cơ quan điều tra biết để ghi vào biên bản thực
nghiệm điều tra.
Kiểm sát viên nghiên cứu nội
dung, kế hoạch thực nghiệm điều tra, bảo đảm việc dựng lại hiện trường, diễn lại
hành vi, tình huống hoặc tình tiết khác phù hợp với thực tế khách quan, theo
đúng quy định tại Điều 204 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trường hợp cần thiết mà Cơ
quan điều tra
chưa tổ chức thực nghiệm điều tra thì Kiểm sát viên kịp thời báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị,
lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành thực nghiệm điều
tra.
2. Viện kiểm sát tiến hành
thực nghiệm điều tra trong các trường hợp sau đây:
a) Trong giai đoạn điều
tra, Viện kiểm sát đã yêu cầu Cơ quan điều tra thực nghiệm điều tra nhưng Cơ
quan điều tra không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ;
b) Trong giai đoạn truy tố,
nếu xét thấy việc thực nghiệm điều tra đơn giản, không cần phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì Kiểm sát viên
báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện tự mình hoặc phối hợp với Cơ
quan điều tra tổ
chức thực nghiệm điều tra.
Việc thực nghiệm điều tra
và lập biên bản
thực nghiệm điều tra theo quy định tại khoản này phải theo đúng quy định tại Điều 204 của Bộ luật Tố tụng hình sự và quy định của Viện kiểm
sát nhân dân tối cao.
Điều
32. Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giám định
1. Kiểm sát viên kiểm sát
việc trưng cầu giám định của cơ quan có thẩm quyền điều tra nhằm bảo đảm nội
dung trưng cầu giám định cụ thể, rõ ràng, phù hợp với sự việc và những vấn đề cần yêu cầu kết luận. Trường
hợp vụ việc, vụ án cần thiết phải trưng cầu giám định, Kiểm sát viên chủ động phối
hợp với Điều tra viên, Cán bộ điều tra thống nhất nội dung trưng cầu giám định
trước khi trưng cầu; khi có kết luận giám định thì phối hợp kiểm tra, đánh giá
toàn bộ kết quả và lập biên bản lưu hồ sơ kiểm sát.
Kiểm sát viên kịp thời
nghiên cứu hồ sơ, tài liệu để phát hiện các nội dung cần giám định, các trường
hợp bắt buộc hoặc cần thiết phải trưng cầu giám định quy định tại Điều 206 của Bộ luật Tố tụng hình sự và các quy định khác của
pháp luật có liên quan.
Trường hợp Kiểm sát viên
tham dự quá trình thực hiện giám định thì thông báo trước cho người giám định
biết theo quy định tại Điều 209 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Khi kiểm sát kết luận
giám định, Kiểm sát viên thực hiện như sau:
a) Nếu thấy nội dung kết
luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc phát sinh những vấn đề mới cần phải
giám định liên quan đến các tình tiết của vụ việc, vụ án đã được kết luận trước đó
thì Kiểm sát viên kịp thời báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu
cơ quan có thẩm quyền điều tra trưng cầu giám định bổ sung theo quy định tại Điều 210 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
b) Nếu nghi ngờ kết luận
giám định lần đầu không chính xác hoặc có sự khác nhau giữa kết luận giám định lần đầu và kết luận
giám định lại về cùng một nội dung giám định thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra
văn bản yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra trưng cầu giám định lại hoặc
giám định lại lần thứ hai theo quy định tại Điều 211 của Bộ luật
Tố tụng hình sự.
Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao quyết định việc giám định lại trong trường hợp đặc biệt theo
quy định tại Điều 212 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
c) Nếu thấy cần làm sáng tỏ
nội dung kết luận giám định thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị,
lãnh đạo Viện yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra để yêu cầu tổ chức, cá
nhân đã tiến
hành giám định giải thích kết luận giám định, hỏi thêm người giám định về những
tình tiết cần thiết theo quy định tại Điều 213 của Bộ luật Tố tụng
hình sự;
d) Nếu phát hiện người
giám định thuộc trường hợp phải từ chối hoặc bị thay đổi theo quy định tại khoản 5 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì Kiểm sát viên
báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu cơ quan có
thẩm quyền điều tra thực hiện thủ tục thay đổi người giám định.
3. Kiểm sát viên báo cáo,
đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra quyết định trưng cầu giám định trong
các trường hợp sau đây:
a) Trong giai đoạn khởi tố,
Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết nguồn tin về tội phạm;
b) Trong giai đoạn điều
tra, Viện kiểm sát đã yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra ra quyết định trưng cầu giám định nhưng cơ
quan có thẩm
quyền điều tra không thực hiện mà nếu không giám định thì không đủ chứng cứ để chứng minh hành vi phạm tội,
tính chất, mức độ, thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra;
c) Trong giai đoạn truy tố,
nếu xét thấy cần thiết.
4. Trường hợp Viện kiểm
sát đã trưng cầu giám định mà thấy cần giám định bổ sung, giám định lại, giám định
lại lần thứ
hai, giám định lại trong trường hợp đặc biệt hoặc cần làm sáng tỏ nội dung kết
luận giám định thì thực hiện tương tự như quy định tại khoản 2 Điều này.
5. Kiểm sát viên kiểm sát
chặt chẽ thời hạn gửi quyết định trưng cầu giám định, thời hạn giám định và thời hạn gửi kết
luận giám định, bảo đảm đúng theo quy định tại các điều 205,
208 và 213 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật
Giám định tư pháp.
Điều
33. Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc định giá tài sản
1. Kiểm sát viên kiểm sát
chặt chẽ căn cứ, điều kiện, thẩm quyền, thủ tục, thời hạn yêu cầu định giá tài
sản theo quy định tại các điều 215, 216, 217, 218, 219, 220, 221, 222 của Bộ luật Tố tụng
hình sự và Nghị định số 250/2025/NĐ-CP
ngày 22/9/2025 của Chính phủ quy định chi tiết việc thành lập và hoạt động của
Hội đồng định
giá tài sản; trình tự, thủ tục định giá tài sản trong tố tụng hình sự.
Trong giai đoạn truy tố, Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị,
lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu định giá tài sản khi xét thấy cần thiết. Trường hợp cần thiết, Kiểm
sát viên tham dự phiên họp định giá tài sản nhưng phải thông báo trước cho Hội
đồng định giá tài sản. Khi tham dự phiên họp, Kiểm sát viên có quyền đưa ra ý
kiến, nếu được
sự đồng ý của Hội đồng định giá tài sản.
2. Sau khi nhận được văn bản
yêu cầu định giá tài sản của cơ quan có thẩm quyền điều tra, nếu thấy nội dung
chưa đầy đủ, rõ
ràng thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn bản
yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền điều tra sửa đổi, bổ sung.
Trường hợp cần định giá
tài sản nhưng cơ quan có thẩm quyền điều tra không yêu cầu định giá tài sản thì
Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu
cơ quan có thẩm quyền điều tra yêu cầu định giá tài sản; nếu không thực hiện
thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn bản
yêu cầu định giá tài sản.
Nếu phát hiện người định
giá tài sản thuộc trường hợp phải từ chối hoặc bị thay đổi theo quy định tại khoản 5 Điều 69 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì Kiểm sát viên
báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu cơ quan có
yêu cầu định giá tài sản thực hiện thủ tục thay đổi người định giá tài sản.
3. Kiểm sát viên kiểm sát
kết luận định giá tài sản, bảo đảm kết luận định giá tài sản khách quan, phù hợp với
các tài liệu, chứng cứ thu thập trong quá trình khởi tố, điều tra và đáp ứng được
yêu cầu định giá tài sản.
Khi có căn cứ phải định
giá lại tài sản, Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện
ra văn bản yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra yêu cầu định giá lại tài sản;
nếu không thực hiện thì Viện kiểm sát trực tiếp ra văn bản yêu cầu định giá lại
tài sản.
Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao quyết định việc định giá lại tài sản trong trường hợp đặc biệt
theo quy định tại Điều 220 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Nếu thấy cần làm sáng tỏ nội
dung kết luận định giá tài sản thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị,
lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra để yêu cầu Hội
đồng định giá tài sản giải thích kết luận định giá, hỏi thêm về những tình tiết
cần thiết theo quy định tại Điều 221 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chương
IV
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ,
KIỂM SÁT VIỆC KHỞI TỐ
Điều
34. Tiếp nhận, chuyển giao nguồn tin về tội phạm
1. Lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo
Viện phân công Kiểm sát viên tiếp nhận đầy đủ nguồn tin về tội phạm do cơ quan,
tổ chức, cá nhân chuyển đến hoặc do đơn vị Kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp tiếp nhận,
chuyển đến.
2. Thủ tục tiếp nhận nguồn
tin về tội phạm được thực hiện theo quy định tại Điều 146 của Bộ
luật Tố tụng hình sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Sau khi tiếp nhận, Kiểm
sát viên vào sổ thụ lý, ghi đầy đủ, chính xác nguồn tin về tội phạm; báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện
và làm thủ tục chuyển ngay nguồn tin về tội phạm kèm theo các tài liệu có liên
quan đã tiếp nhận cho cơ quan có thẩm quyền điều tra giải quyết.
Điều
35. Kiểm sát việc tiếp nhận, phân loại nguồn tin về tội phạm để giải quyết theo
thẩm quyền
1. Kiểm sát viên kiểm sát
chặt chẽ việc tiếp nhận, phân loại của cơ quan có thẩm quyền điều tra đối với
nguồn tin về tội phạm; trường hợp phát hiện việc tiếp nhận, phân loại chưa
chính xác, Kiểm sát viên kịp thời báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện để
trao đổi với cơ
quan có thẩm quyền
điều tra khắc phục.
2. Quá trình kiểm sát việc
tiếp nhận, phân loại, kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm của cơ quan có thẩm quyền
điều tra mà thấy không đúng thẩm quyền, Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo
đơn vị, lãnh đạo Viện có văn bản yêu cầu cơ quan đã tiếp nhận, đang tiến hành
kiểm tra, xác minh chuyển đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết, đồng thời thông
báo đến Viện kiểm sát có thẩm quyền.
3. Việc giải quyết tranh
chấp về thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm được thực hiện theo quy định
tại Điều 150 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Điều
36. Xử lý đối với nguồn tin về tội phạm đã rõ dấu hiệu tội phạm, đủ căn cứ để
khởi tố vụ án hình sự
1. Khi kiểm sát việc tiếp
nhận, phân loại
nguồn tin về tội phạm, nếu thấy đã rõ dấu hiệu tội phạm, đủ căn cứ để khởi tố vụ án hình sự (kể cả trường hợp chưa xác định được
đối tượng thực hiện hành vi phạm tội) nhưng cơ quan có thẩm quyền điều tra chưa
khởi tố vụ án hình sự thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh
đạo Viện yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra ra ngay quyết định khởi tố vụ
án hình sự.
2. Trường hợp Viện kiểm
sát trực tiếp giải quyết nguồn tin về tội phạm mà đã rõ dấu hiệu tội phạm, đủ căn cứ
để khởi tố vụ án hình sự thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo
Viện ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và chuyển cho cơ quan có thẩm quyền điều
tra để thực hiện.
Điều
37. Đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh
1. Trong quá trình thực hành
quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, nếu thấy
cần phải kiểm
tra tính xác thực của nguồn tin về tội phạm, thu thập, củng cố chứng cứ, tài liệu,
đồ vật để làm rõ những tình tiết có liên quan đến những vấn đề phải chứng minh
trong vụ án hình sự quy định tại Điều 85 và Điều 441 của Bộ luật
Tố tụng hình sự, Kiểm sát viên kịp thời đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh (bằng
lời nói hoặc bằng văn bản). Yêu cầu kiểm tra, xác minh có thể được thực hiện
nhiều lần. Văn bản yêu cầu kiểm tra, xác minh phải được đưa vào hồ sơ vụ việc,
lưu hồ sơ kiểm sát.
2. Kiểm sát viên kiểm sát
chặt chẽ hoạt động giải quyết nguồn tin về tội phạm của Điều tra viên, Cán bộ
điều tra, bảo đảm kết quả giải quyết và các yêu cầu
kiểm tra, xác minh được thực hiện đầy đủ, khách
quan, đúng pháp luật. Khi thấy cần phải kiểm tra, xác minh thêm, Kiểm sát viên
kịp thời bổ sung yêu cầu kiểm tra, xác minh; nếu Điều tra viên, Cán bộ điều tra
đề nghị, Kiểm sát viên giải thích rõ nội dung yêu cầu kiểm tra, xác minh. Trường
hợp Điều tra viên, Cán bộ điều tra không nhất trí thì Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên, Cán bộ điều
tra nêu rõ lý do và báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét, kiến nghị với
Thủ trưởng, Cấp trưởng cơ quan có thẩm quyền điều tra; trường hợp cơ quan có thẩm
quyền điều tra không thực hiện được đầy đủ các yêu cầu kiểm tra, xác minh vì lý do khách quan thì yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra
nêu rõ lý do trong văn bản thông báo kết quả giải quyết nguồn tin về tội phạm.
Điều
38. Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết nguồn tin về tội phạm
1. Trường hợp phát hiện cơ
quan có thẩm quyền điều tra vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm
tra, xác minh nguồn tin về tội phạm hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm thì Kiểm sát viên báo cáo lãnh đạo đơn
vị, lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra khắc phục vi phạm. Trường hợp Viện kiểm
sát đã yêu cầu nhưng cơ quan có thẩm quyền điều tra không khắc phục, Kiểm sát
viên báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra chuyển hồ sơ vụ
việc cho Viện kiểm sát để giải quyết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và quy định khác của
pháp luật có liên quan.
2. Khi trực tiếp giải quyết
nguồn tin về tội phạm, Kiểm sát viên được phân công thực hiện các hoạt động sau
đây:
a) Trước khi tiến hành một
số hoạt động kiểm tra, xác minh, Kiểm sát viên xây dựng kế hoạch báo cáo lãnh đạo
đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét, phê duyệt;
b) Trong quá trình kiểm
tra, xác minh, Kiểm sát viên tuân thủ quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về căn cứ, thẩm quyền,
trình tự, thủ tục tiến hành các biện pháp kiểm tra, xác minh. Đối với vụ việc phức tạp, Kiểm sát viên
có thể phối hợp với Điều tra viên, Cán bộ điều tra để tiến hành một số hoạt động
kiểm tra, xác minh;
c) Kết thúc việc kiểm tra,
xác minh, Kiểm sát viên nghiên cứu, đánh giá chứng cứ, tài liệu, đồ vật, báo
cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện kết quả kiểm tra, xác minh và đề xuất hướng
giải quyết theo quy định của pháp luật.
3. Chứng cứ, tài liệu, đồ
vật Kiểm sát viên thu thập được trong quá trình kiểm tra, xác minh được đưa vào
hồ sơ vụ việc, lưu hồ sơ kiểm sát.
Điều
39. Thực hành quyền công tố, kiểm sát kết quả giải quyết nguồn tin về tội phạm
1. Kiểm sát viên chủ động nắm chắc nội dung kiểm tra,
xác minh, tiến độ giải quyết nguồn tin về tội phạm và yêu cầu Điều tra viên,
Cán bộ điều tra cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật; kịp thời nghiên cứu, báo
cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét, quyết định việc giải quyết.
2. Kiểm sát viên kiểm sát
chặt chẽ kết quả
giải quyết nguồn tin về tội phạm của cơ quan có thẩm quyền điều tra theo quy định của pháp
luật. Kết thúc việc kiểm tra, xác minh, nếu cơ quan có thẩm quyền điều tra không
ra một trong các quyết định quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ
luật Tố tụng hình sự thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị,
lãnh đạo Viện yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra ban hành quyết định và gửi
kèm hồ sơ để kiểm sát kết quả giải quyết. Trong thời hạn 03 ngày (đối với trường
hợp khởi tố), 02 ngày (đối với trường hợp không khởi tố), kể từ ngày nhận được
quyết định và các tài liệu có liên quan, Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo
đơn vị, lãnh đạo Viện hướng giải quyết.
Trong thời hạn 15 ngày, kể
từ ngày nhận được quyết định tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm kèm theo hồ sơ vụ
việc của cơ quan có thẩm quyền điều tra, nếu thấy quyết định tạm đình chỉ có căn cứ thì Viện kiểm sát
chuyển trả hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền điều tra để giải quyết.
3. Việc gia hạn thời hạn
giải quyết, tạm đình chỉ, phục hồi giải quyết nguồn tin về tội phạm thực hiện
theo quy định tại các điều 147, 148, 149 của Bộ luật Tố tụng
hình sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Viện kiểm sát theo dõi, quản
lý hồ sơ các vụ việc tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm, phối hợp với cơ quan có thẩm quyền điều
tra rà soát, báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện kịp thời xử lý khi
lý do tạm đình chỉ không còn.
Kiểm sát viên kiểm sát chặt
chẽ việc gửi, thông báo kết quả giải quyết nguồn tin về tội phạm cho cơ quan, tổ
chức, cá nhân; trường hợp phát hiện vi phạm thì yêu cầu hoặc kiến nghị theo quy
định của pháp luật.
Điều
40. Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự, việc thay đổi
hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự
1. Trong thời hạn 03 ngày,
kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố vụ án hình sự và các tài liệu liên
quan, Kiểm sát viên được phân công phải kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định khởi
tố vụ án hình sự, báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét, xử lý như sau:
a) Nếu thấy quyết định khởi
tố vụ án hình sự có căn cứ và hợp pháp thì gửi quyết định phân công Kiểm sát viên, Kiểm tra viên
thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố cho cơ quan ra quyết định. Trường hợp
Viện trưởng Viện kiểm sát trực tiếp tiến hành tố tụng đối với vụ án thì có văn
bản thông báo gửi cho cơ quan ra quyết định;
b) Nếu thấy chưa rõ căn cứ
để khởi tố vụ án thì báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn bản
yêu cầu cơ quan đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự bổ sung tài liệu, chứng
cứ để làm rõ. Kiểm sát viên có trách nhiệm đôn đốc Điều tra viên, Cán bộ điều
tra thực hiện các nội dung yêu cầu bổ sung;
c) Nếu thấy quyết định khởi
tố vụ án hình sự không có căn cứ thì báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu cơ
quan đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hủy bỏ quyết định đó; nếu cơ quan đã ra quyết định không nhất trí thì Viện kiểm
sát ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 161 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Nếu thấy tội phạm đã khởi
tố không đúng với hành vi phạm tội hoặc còn có tội phạm khác chưa được khởi tố
thì Kiểm sát viên thụ lý giải quyết vụ án báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện
yêu cầu cơ quan đã ra quyết định khởi tố ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ
án hình sự; nếu cơ quan đã ra quyết định khởi tố không thực hiện thì Viện kiểm
sát ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự và gửi
cho cơ quan có thẩm quyền điều tra (để thực hiện) trong thời hạn 24 giờ, kể từ
khi ra quyết định theo quy định tại khoản 2 Điều 156 của Bộ luật
Tố tụng hình sự.
3. Nếu thấy quyết định thay đổi hoặc bổ sung
quyết định khởi tố vụ án hình sự của cơ quan có thẩm quyền điều tra không có căn cứ thì Kiểm sát viên báo cáo, đề
xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra hủy
bỏ quyết định đó; nếu cơ quan đã ra quyết định không hủy bỏ thì Viện kiểm sát
trực tiếp ra quyết định hủy bỏ.
Điều
41. Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ra quyết định không khởi tố vụ án
hình sự; giải quyết yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của Hội đồng xét xử
1. Trong thời hạn 02 ngày,
kể từ ngày nhận được quyết định không khởi tố vụ án hình sự và các tài liệu có
liên quan của cơ quan có thẩm quyền điều tra, Kiểm sát viên kiểm tra tính có
căn cứ và hợp
pháp của quyết định đó và báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện giải
quyết như sau:
a) Nếu thấy chưa đủ căn cứ
thì có văn bản yêu cầu cơ quan đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự bổ
sung tài liệu, chứng cứ để làm rõ;
b) Nếu thấy không có căn cứ thì
yêu cầu cơ quan đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự hủy bỏ quyết định
đó và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự; nếu cơ quan đó không thực hiện thì Viện kiểm
sát ra quyết định hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của cơ quan có
thẩm quyền điều tra và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 153, khoản 6 Điều 159 của Bộ luật Tố tụng hình
sự và gửi cho cơ quan có thẩm quyền điều tra để tiến hành điều tra;
c) Nếu thấy đủ căn cứ thì thông
báo bằng văn bản cho cơ quan đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự.
2. Trong thời hạn 03 ngày,
kể từ ngày nhận được yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của Hội đồng xét xử, Kiểm sát
viên thụ lý giải quyết vụ án phải kiểm tra các tài liệu, chứng cứ và báo cáo, đề
xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện giải quyết như sau:
a) Nếu thấy yêu cầu khởi tố
vụ án hình sự của Hội đồng xét xử có căn cứ thì chuyển cho Cơ quan điều tra để ra quyết định khởi tố vụ
án hình sự, nếu Cơ quan điều tra không ra quyết định thì Viện kiểm sát ra quyết
định khởi tố vụ án hình sự và chuyển ngay quyết định đó kèm theo các tài liệu
có liên quan đến Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra;
b) Nếu thấy yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của Hội đồng
xét xử không có căn cứ thì thông báo bằng văn bản cho Tòa án nơi Hội đồng xét xử
yêu cầu khởi tố.
Chương
V
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ
VÀ KIỂM SÁT ĐIỀU TRA
Điều
42. Xét phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định
khởi tố bị can
1. Trong thời hạn 03 ngày,
kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố bị can và hồ sơ đề nghị Viện kiểm sát
phê chuẩn của cơ quan có thẩm quyền điều tra, Kiểm sát viên phải kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết
định khởi tố bị can để xử lý như sau:
a) Nếu thấy quyết định khởi tố bị
can có căn cứ và hợp pháp thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị,
lãnh đạo Viện quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và gửi ngay cho cơ
quan đã ra quyết định;
b) Nếu thấy chưa rõ căn cứ
xác định bị can phạm tội thì Kiểm sát viên yêu cầu cơ quan đã ra quyết định khởi
tố bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm rõ căn cứ khởi tố. Trong thời hạn 03 ngày,
kể từ ngày nhận được tài liệu, chứng cứ bổ sung, Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra
quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can.
Kiểm sát viên có thể phối
hợp với Điều tra viên, Cán bộ điều tra để lấy lời khai người bị khởi tố, người làm chứng, bị hại để làm rõ căn cứ khởi tố bị can
trước khi báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét, quyết định
phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố bị can. Đối với những trường hợp người
bị bắt, người bị tạm giữ, người bị khởi tố lúc nhận tội, lúc không nhận tội,
tài liệu, chứng cứ có mâu thuẫn hoặc chưa rõ thì trước khi báo cáo, đề xuất
lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố bị
can, Kiểm sát viên phải trực tiếp lấy lời khai người bị bắt, người bị tạm giữ,
người bị khởi tố. Biên bản ghi lời khai được chuyển cho cơ quan đã ra quyết định
khởi tố để đưa vào hồ sơ vụ án;
c) Nếu thấy ngoài bị can
đã bị khởi tố còn có người khác đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án nhưng
chưa bị khởi tố thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện
ra văn bản yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra ra quyết định khởi tố bị can;
nếu cơ quan có thẩm quyền điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát ra quyết định
khởi tố bị can. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can,
Viện kiểm sát gửi cho cơ quan có thẩm quyền điều tra để tiến hành điều tra;
d) Nếu hết thời hạn tạm giữ
mà không đủ căn cứ phê chuẩn quyết định khởi tố bị can thì Kiểm sát viên báo
cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi
tố bị can và yêu cầu cơ quan đã ra quyết định khởi tố bị can trả tự do ngay cho
người bị tạm giữ.
Trường hợp Viện kiểm sát
đã phê chuẩn quyết
định gia hạn tạm giữ thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can, hủy bỏ quyết định
gia hạn tạm giữ (nếu quyết định gia hạn tạm giữ còn thời hạn) và ra quyết định
trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.
2. Trong quá trình thực
hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, nếu thấy quyết định khởi tố bị can ghi
không đúng họ, tên, tuổi, nhân thân của bị can; bị can phạm vào tội khác với tội đã bị khởi tố hoặc còn có hành vi
phạm tội khác với tội đã khởi tố thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo
đơn vị, lãnh đạo Viện yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra ra quyết định thay đổi
hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can; nếu cơ quan có thẩm quyền điều tra không thực
hiện thì Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị
can và gửi cho cơ quan có thẩm quyền điều tra để tiến hành điều tra trong thời
hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định theo quy định tại khoản 3
Điều 180 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong thời hạn 03 ngày, kể
từ ngày nhận được quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can của
cơ quan có thẩm quyền điều tra, Kiểm sát viên kiểm tra tài liệu, chứng cứ và
báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định thay
đổi hoặc quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can; trường hợp Viện kiểm sát
yêu cầu bổ sung tài liệu, chứng cứ thì trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được
tài liệu, chứng cứ bổ sung, Viện kiểm sát xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc hủy
bỏ quyết định thay đổi hoặc quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can.
3. Trường hợp phải thay đổi
hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can theo quy định tại khoản 2 Điều này thì
Viện kiểm sát yêu
cầu Cơ quan có thẩm quyền điều tra ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định
khởi tố vụ án hình sự nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 156 của Bộ luật Tố tụng
hình sự; trường hợp Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thì
Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự.
4. Trong quá trình xét phê
chuẩn quyết định khởi tố bị can, Kiểm sát viên kiểm tra lý lịch bị can. Nếu vụ
án có bị can là người chưa thành niên nhưng Cơ quan điều tra chưa tách vụ án đối
với bị can là người chưa thành niên thì báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh
đạo Viện ra văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra thực hiện việc tách vụ án đối với
bị can là người chưa thành niên theo quy định tại Điều 143 của
Luật Tư pháp người chưa thành niên và quy định khác của pháp luật có liên
quan.
Trường hợp cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thụ lý vụ án có người chưa
thành niên là người bị buộc tội thì Kiểm sát viên đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh
đạo Viện ra quyết định chuyển toàn bộ vụ án cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền
theo quy định tại khoản 4 Điều 142 Luật Tư pháp người chưa
thành niên.
Điều
43. Đề ra yêu cầu điều tra
1. Ngay từ khi nhận được
quyết định khởi tố vụ án hình sự và trong quá trình điều tra, Kiểm sát viên kịp
thời trao đổi với
Điều tra viên,
Cán bộ điều tra về những nội dung điều tra. Trường hợp thấy có những vấn đề cần
điều tra mà Điều tra viên, Cán bộ điều tra chưa thực hiện thì Kiểm sát viên đề ra yêu cầu
điều tra.
Yêu cầu điều tra có thể được
thực hiện nhiều lần, bằng lời nói (trong trường hợp kiểm sát trực tiếp hoạt động
điều tra) hoặc bằng văn bản. Yêu cầu điều tra phải nêu rõ ràng, cụ thể những vấn
đề cần điều tra, chứng cứ, tài liệu cần thu thập. Văn bản yêu cầu điều tra được
đưa vào hồ sơ vụ án, lưu hồ sơ kiểm sát.
Trường hợp vụ án về tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng; vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương, Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về
phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực theo dõi, chỉ đạo; vụ án có nhiều tình tiết phức tạp,
liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, dư luận xã hội đặc biệt quan tâm; vụ án
mà khi xử lý có ảnh hưởng đến chính trị, đối ngoại; vụ án có bị can là cán bộ
lãnh đạo chủ chốt từ cấp tỉnh trở lên, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc thiểu
số và trường hợp cần thiết khác xét thấy có thể thay đổi hoặc bổ sung quyết định
khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can thì trước khi ký văn bản đề ra yêu cầu điều
tra, Kiểm sát viên báo cáo, xin ý kiến lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện.
2. Nội dung yêu cầu điều tra phải cụ thể, rõ ràng,
sát với nội dung vụ án, định hướng thu thập chứng cứ để làm rõ cấu thành tội phạm,
những vấn đề phải chứng minh trong vụ án theo quy định tại Điều
85, Điều 441 của Bộ luật Tố tụng hình sự và quy định khác của pháp luật có
liên quan.
3. Kiểm sát viên chủ động
phối hợp, yêu cầu Điều tra viên, Cán bộ điều tra thực hiện đầy đủ nội dung yêu
cầu điều tra. Nếu Điều tra viên, Cán bộ điều tra không thực hiện hoặc thực hiện
không đầy đủ yêu cầu điều tra thì tùy từng trường hợp, Kiểm sát viên báo cáo, đề
xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện kiến nghị bằng văn bản với Thủ trưởng, Cấp
trưởng cơ quan có thẩm quyền điều tra hoặc yêu cầu thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra. Trường
hợp vì lý do khách quan mà không thể thực hiện được đầy đủ yêu cầu điều tra thì
Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên, Cán bộ điều tra giải thích, nêu rõ lý do
trong bản kết luận điều tra.
Điều
44. Kế hoạch thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra
1. Kiểm sát viên xây dựng
kế hoạch thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra (trường hợp áp dụng thủ tục
rút gọn thì không bắt buộc phải xây dựng kế hoạch), trình lãnh đạo đơn vị, lãnh
đạo Viện phê duyệt. Nội dung kế hoạch dự kiến các nhiệm vụ và hoạt động cụ thể,
phân công thực hiện, cách thức, lực lượng, thời gian thực hiện, các vấn đề khác
có liên quan và được lập theo mẫu ban hành kèm theo Quy chế này.
2. Kiểm sát viên chủ động
thực hiện kế hoạch; báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện để bổ sung,
điều chỉnh kế hoạch khi cần thiết; bảo đảm việc thực hiện kế hoạch đúng hướng,
sát thực tế, hiệu quả, đúng thời hạn.
3. Đối với vụ án có nhiều
Kiểm sát viên, Kiểm tra viên thụ lý giải quyết thì lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện
hoặc Kiểm sát viên thụ lý chính trực tiếp tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch;
kiểm tra, đôn đốc các Kiểm sát viên, Kiểm tra viên tiến hành các hoạt động thực
hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kịp thời quyết định các công việc thuộc
thẩm quyền.
4. Đối với vụ án nghiêm trọng,
phức tạp, có quan điểm khác nhau về đánh giá chứng cứ, đường lối xử lý, lãnh đạo
đơn vị, lãnh đạo Viện phải trực tiếp chỉ đạo việc lập kế hoạch; trực tiếp thực
hành quyền công tố, kiểm sát điều tra khi xét thấy cần thiết.
Điều
45. Kiểm sát viên trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong giai đoạn
điều tra
1. Khi cần kiểm tra, bổ
sung tài liệu, chứng cứ để xét phê chuẩn lệnh, quyết định của cơ quan có thẩm
quyền điều tra hoặc trường hợp phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm,
người phạm tội hoặc có vi phạm pháp luật khác mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc
phục theo quy định tại khoản 7 Điều 165 của Bộ luật Tố tụng
hình sự thì Kiểm sát viên trực tiếp tiến hành hỏi cung bị can, lấy lời khai
người bị tạm giữ, người bị bắt, bị hại, đương sự, người làm chứng, người chứng
kiến, đối chất, thực nghiệm điều tra và các hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ
luật Tố tụng hình sự. Kiểm sát viên thông báo trước cho Điều tra viên, Cán bộ điều tra để phối hợp.
2. Biên bản, tài liệu, chứng
cứ được Kiểm sát viên lập, thu thập khi tiến hành một số hoạt động điều tra phải
được đưa vào hồ sơ vụ án, lưu hồ sơ kiểm sát.
Điều
46. Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc hỏi cung bị can
1. Kiểm sát viên kiểm sát
chặt chẽ việc hỏi
cung bị can ngay từ lần hỏi cung đầu tiên, bảo đảm tính có căn cứ, hợp pháp, đúng trình tự, thủ
tục theo quy định tại Điều 183 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Điều 144 của Luật Tư pháp người chưa thành niên. Kiểm sát
viên có thể trực tiếp tham gia hỏi cung bị can cùng Điều tra viên, Cán bộ điều
tra hoặc kiểm sát biên bản hỏi cung bị can. Trước khi kết thúc điều tra, Kiểm
sát viên phối hợp với Điều tra viên, Cán bộ điều tra tổng hợp, đánh giá kết quả
hỏi cung; tiến
hành phúc cung khi thấy cần thiết.
2. Khi nhận được thông báo
của Điều tra viên, Cán bộ điều tra về việc tiến hành hỏi cung bị can, nếu xét
thấy cần thiết, Kiểm sát viên trực tiếp tham gia việc hỏi cung bị can. Trong
trường hợp này, Kiểm sát viên phải nghiên cứu, nắm chắc hồ sơ vụ án, các tình
tiết liên quan đến hành vi phạm tội của bị can, xác định nội dung cần làm rõ để
yêu cầu Điều tra viên, Cán bộ điều tra hỏi; phối hợp với Điều tra viên, Cán bộ
điều tra nghiên cứu, phát hiện mâu thuẫn giữa lời khai của bị can với lời khai
của người tham gia tố tụng khác, với chứng cứ khác nhằm làm rõ những vấn đề cần
phải chứng minh. Kiểm sát viên chú ý cách đặt câu hỏi của Điều tra viên, Cán bộ
điều tra, bảo đảm không để xảy ra việc bức cung, mớm cung, dụ cung; chú ý câu trả lời của bị can để phát
hiện tình tiết mới, những điểm chưa rõ và yêu cầu Điều tra viên, Cán bộ điều tra hỏi làm rõ. Nếu thấy việc
hỏi cung chưa đạt yêu cầu, Kiểm sát viên trực tiếp hỏi để làm rõ. Khi tham gia
hỏi cung bị can cùng Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên ký vào biên
bản hỏi cung.
3. Kiểm sát viên kiểm sát
chặt chẽ biên bản hỏi cung do Điều tra viên, Cán bộ điều tra thực hiện; yêu cầu Điều tra viên, Cán bộ điều tra cung cấp đầy đủ biên bản
hỏi cung, các tài liệu khác đã thu thập được liên quan đến việc hỏi cung bị can; tiến hành
phân tích, đối chiếu, so sánh với các tài liệu khác trong hồ sơ để xác định tính
có căn cứ, hợp
pháp và sự phù hợp của lời khai, bảo đảm mọi tình tiết trong lời khai của bị can đều phải được kiểm tra, xác
minh làm rõ.
4. Kiểm sát viên trực tiếp
hỏi cung bị can trong các trường hợp sau:
a) Bị can kêu oan;
b) Bị can khiếu nại hoạt động
điều tra;
c) Có căn cứ xác định việc
điều tra có vi phạm pháp luật;
d) Khi có đề nghị của cơ
quan có thẩm quyền điều tra; tài liệu, chứng cứ mâu thuẫn hoặc chưa rõ; lời khai của bị
can trước sau không thống nhất, lúc nhận tội, lúc chối tội; có căn cứ để nghi ngờ về tính xác thực
trong lời khai của bị can hoặc trường hợp bị can bị khởi tố về tội đặc biệt
nghiêm trọng và các trường hợp khác khi xét thấy cần thiết.
5. Trường hợp quy định tại
khoản 4 Điều này thì trước khi hỏi cung bị can, Kiểm sát viên báo cáo, xin ý kiến
lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện. Việc Kiểm sát viên hỏi cung bị can được tiến
hành theo đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Điều
47. Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc lấy lời khai người làm chứng, bị hại, đương sự
1. Kiểm sát viên chủ động
phối hợp, yêu cầu Điều tra viên, Cán bộ điều tra cung cấp đầy đủ biên bản ghi lời
khai và các tài liệu liên quan đến việc lấy lời khai người làm chứng, bị hại, đương sự. Khi thấy có người
làm chứng, bị hại, đương sự chưa được lấy lời khai thì Kiểm sát viên yêu cầu Điều
tra viên, Cán bộ điều tra kịp thời lấy lời khai.
2. Kiểm sát viên kiểm sát
chặt chẽ biên bản ghi lời khai, trình tự, thủ tục lấy lời khai; việc giải thích
quyền và nghĩa vụ của người làm chứng, bị hại, đương sự.
Khi phát hiện lời khai của
người làm chứng, bị hại, đương sự chưa rõ, không khách quan, không phù hợp hoặc mâu thuẫn với lời khai của người tham gia
tố tụng khác, với chứng cứ khác thì Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên, Cán bộ
điều tra lấy lời khai bổ sung; nếu phát hiện vi phạm trong việc lấy lời khai,
Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên, Cán bộ điều tra khắc phục ngay.
3. Trong quá trình điều
tra và sau khi kết thúc điều tra, để quyết định việc phê chuẩn hoặc không phê
chuẩn quyết định
của cơ quan có thẩm quyền điều tra hoặc để quyết định việc truy tố, Kiểm sát
viên có thể triệu tập và lấy lời khai người làm chứng, bị hại, đương sự trong
các trường hợp sau đây:
a) Có căn cứ xác định việc
lấy lời khai của Điều tra viên, Cán bộ điều tra không khách quan hoặc có vi phạm
pháp luật;
b) Lời khai của người làm
chứng, bị hại, đương sự có mâu thuẫn với nhau hoặc mâu thuẫn với những chứng cứ
khác đã thu thập được;
c) Có nghi ngờ về tính
trung thực, khách quan trong lời khai của người làm chứng, bị hại, đương sự;
d) Trường hợp cần thiết
khác để làm rõ tài liệu, chứng cứ.
4. Biên bản ghi lời khai
do Kiểm sát viên lập được đưa vào hồ sơ vụ án, lưu hồ sơ kiểm sát.
Điều
48. Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc đối chất
1. Sau khi nhận được thông
báo của Điều tra
viên, Kiểm sát viên phải có mặt để trực tiếp kiểm sát việc đối chất. Trường hợp
Kiểm sát viên vắng mặt, phải được sự đồng ý của lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện
và thông báo kịp thời cho Điều tra viên để ghi rõ trong biên bản đối chất.
2. Trong quá trình thực
hành quyền công
tố, kiểm sát điều tra, nếu thấy thuộc trường hợp phải tiến hành đối chất theo Điều
189 của Bộ luật Tố tụng hình sự mà Điều tra viên chưa thực hiện thì Kiểm
sát viên yêu cầu Điều tra viên tiến hành việc đối chất.
3. Kiểm sát viên kiểm sát
chặt chẽ các hoạt động của Điều tra viên trong khi đối chất theo Điều 189 của Bộ
luật Tố tụng hình sự, Điều 146 của Luật Tư pháp người chưa
thành niên, nếu phát hiện vi phạm thì yêu cầu Điều tra viên khắc phục. Trong quá trình đối chất,
khi thấy còn những vấn đề chưa được làm rõ thì yêu cầu Điều tra viên tiếp tục hỏi
để làm rõ.
4. Khi đã yêu cầu đối chất theo khoản
2 Điều này mà Điều tra viên không thực hiện hoặc kết quả đối chất chưa rõ hoặc
sau khi kết thúc điều tra, Viện kiểm sát đã nhận hồ sơ vụ án, nếu thấy có mâu
thuẫn trong lời khai của những người tham gia tố tụng hoặc trường hợp cần thiết
thì Kiểm sát viên tiến hành đối chất và lập biên bản đối chất theo quy định tại
Điều 178 và Điều 189 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 146 của Luật Tư pháp người chưa thành niên. Biên bản đối
chất phải được đưa vào hồ sơ vụ án, lưu hồ sơ kiểm sát.
Điều
49. Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc nhận dạng, nhận biết giọng nói
1. Sau khi nhận được thông
báo của Điều tra viên, Kiểm sát viên phải có mặt để trực tiếp kiểm sát việc nhận
dạng, nhận biết giọng nói. Trường hợp Kiểm sát viên vắng mặt phải được sự đồng
ý của lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện và thông báo kịp thời cho Điều tra viên để
ghi rõ trong biên bản nhận dạng, nhận biết giọng nói.
2. Kiểm sát viên kiểm sát
chặt chẽ các hoạt động của Điều tra viên khi tiến hành việc nhận dạng, nhận biết
giọng nói theo Điều 190 và Điều 191 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
khoản 2 Điều 145 của Luật Tư pháp người chưa thành niên nếu
phát hiện vi phạm thì yêu cầu Điều tra viên khắc phục.
3. Trong quá trình thực hành
quyền công tố, kiểm sát điều tra, nếu thấy cần thiết, Kiểm sát viên yêu cầu Điều tra viên tiến hành việc
nhận dạng, nhận biết giọng nói; nếu Điều tra viên không thực hiện thì Kiểm sát
viên báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện để kiến nghị Cơ quan điều tra khắc
phục.
Điều
50. Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật
1. Kiểm sát viên kiểm sát chặt
chẽ căn cứ, điều kiện, thẩm quyền, thủ tục khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu,
đồ vật theo quy định tại Chương XIII của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Điều 147 của Luật Tư pháp người chưa thành niên.
2. Kiểm sát viên nghiên cứu
hồ sơ đề nghị phê chuẩn lệnh khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm,
phương tiện; lệnh thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, phương tiện điện
tử, dữ liệu điện tử tại cơ quan, tổ chức; báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị,
lãnh đạo Viện ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn lệnh khám xét, lệnh
thu giữ của cơ quan có thẩm quyền điều tra.
3. Khi nhận được thông báo
của cơ quan có thẩm quyền điều tra về thời gian, địa điểm tiến hành khám xét,
Kiểm sát viên chủ động phối hợp với Điều tra viên, Cán bộ điều tra thống nhất kế hoạch
khám xét, bảo đảm việc khám xét thực hiện đúng quy định tại các điều
194, 195 và 198 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong quá trình khám xét,
Kiểm sát viên kiểm sát thành phần tham gia, trình tự, thủ tục thực hiện; việc
thu giữ, niêm phong, bảo quản phương tiện, tài liệu, đồ vật (nếu có); việc lập
biên bản khám xét, tạm giữ; kịp thời phát hiện vi phạm để yêu cầu chấm dứt, khắc
phục; khi cần thiết, đề ra yêu cầu điều tra bằng
lời nói; ghi chép nội dung cần thiết; ký biên bản khám xét, tạm giữ theo quy định.
Kết thúc việc khám xét, tạm giữ, Kiểm sát viên chủ động phối hợp với Điều tra
viên, Cán bộ điều tra đánh giá, sử dụng kết quả khám xét, tạm giữ để phục vụ giải
quyết vụ án.
4. Kiểm sát viên trực tiếp
kiểm sát việc khám xét. Trường hợp Kiểm sát viên không trực tiếp kiểm sát việc
khám xét thì phải được sự đồng ý của lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện, đồng thời
thông báo để Điều tra viên, Cán bộ điều tra ghi rõ trong biên bản khám xét. Kiểm
sát viên yêu cầu Điều tra viên, Cán bộ điều tra cung cấp biên bản khám xét,
biên bản tạm giữ và các tài liệu có liên quan để kiểm sát. Nếu phát hiện vi phạm,
Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu
khắc phục.
5. Trường hợp khám xét khẩn
cấp theo quy định tại khoản 2 Điều 193 của Bộ luật Tố tụng
hình sự thì ngay sau khi nhận được lệnh khám xét, Kiểm sát viên kiểm tra lệnh,
các tài liệu có liên quan để kiểm sát tính có căn cứ và hợp pháp của việc khám
xét khẩn cấp. Nếu phát hiện vi phạm thì kịp thời báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn
vị, lãnh đạo Viện để yêu cầu khắc phục.
6. Trường hợp cơ quan có
thẩm quyền điều tra thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm theo quy định
tại khoản 2 Điều 197 của Bộ luật Tố tụng hình sự mà sau đó
Viện kiểm sát không phê chuẩn lệnh thu giữ thì Kiểm sát viên kiểm sát việc hoàn
trả thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm cho cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn
thông và việc thông báo cho người có thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm bị
thu giữ. Nếu phát hiện vi phạm thì kịp thời báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị,
lãnh đạo Viện để yêu cầu khắc phục.
7. Trong quá trình thực
hành quyền công tố, kiểm sát việc khám xét, thu giữ, tạm giữ vật chứng, tài liệu,
đồ vật, Kiểm sát viên kiểm sát chặt chẽ việc thu giữ, niêm phong, bảo quản, xử
lý vật chứng, tài liệu, đồ vật theo quy định tại các điều 90,
106, 199 của Bộ luật Tố tụng hình sự và quy định khác của pháp luật có liên
quan.
Điều
51. Thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động điều tra được ủy thác
Khi nhận được quyết định ủy
thác điều tra mà xét thấy hoạt động điều tra được ủy thác phức tạp, kéo dài thì Viện kiểm sát có
thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra được ủy thác phải phân công Phó
Viện trưởng, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiến hành hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra được ủy
thác. Khi kết thúc hoạt động điều tra được ủy thác thì Viện kiểm sát có thẩm quyền được ủy
thác phải chuyển ngay kết quả thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ủy thác điều
tra cho Viện kiểm sát đã ủy thác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra.
Điều
52. Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc nhập hoặc tách vụ án hình sự để tiến hành điều tra,
truy tố; kiểm
sát việc thực hiện thẩm quyền điều tra; giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều
tra
1. Kiểm sát viên kiểm sát
chặt chẽ căn cứ, điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục nhập, tách vụ án hình
sự để tiến hành điều tra theo quy định tại Điều 170 của Bộ luật
Tố tụng hình sự và Điều 143 của Luật Tư pháp người chưa
thành niên.
Ngay sau khi nhận được quyết
định nhập hoặc tách vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, nếu thấy không có căn cứ
thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra quyết định
hủy bỏ quyết định nhập hoặc tách vụ án hình sự của Cơ quan điều tra.
Trường hợp có đủ căn cứ,
điều kiện phải nhập hoặc tách vụ án để tiến hành điều tra nhưng Cơ quan điều
tra không thực hiện thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo
Viện ra văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định nhập hoặc tách vụ án
hình sự để tiến hành điều tra.
2. Trong giai đoạn truy tố, nếu thấy thuộc trường
hợp và có căn cứ, điều kiện nhập hoặc tách vụ án thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất
lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét quyết định việc nhập hoặc tách vụ án theo quy định tại Điều 242 của Bộ luật Tố tụng hình sự và quy định khác của
pháp luật có liên quan.
3. Kiểm sát viên kiểm sát
chặt chẽ việc thực hiện thẩm quyền điều tra theo quy định tại Điều
163 và Điều 164 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các điều 16,
17, 19, 20, 21, 23, 24, 26, 27, 28, 30, 31, 32,
33, 34, 35, 36, 37, 38 và 39 của Luật
Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự; nếu phát hiện việc điều tra không đúng thẩm
quyền thì thực hiện thủ tục chuyển vụ án để điều tra đúng thẩm quyền theo quy định
tại Điều 53 của Quy chế này.
4. Khi có tranh chấp về thẩm
quyền điều tra thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp như sau:
a) Tranh chấp thẩm quyền
điều tra của cơ
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra do Viện kiểm sát có thẩm
quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra đối với vụ án giải quyết;
b) Tranh chấp về thẩm quyền
điều tra giữa các cơ quan điều tra cấp tỉnh, giữa các cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu do Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương giải
quyết.
Tranh chấp về thẩm quyền
điều tra giữa các cơ quan điều tra quân sự khu vực thuộc cùng một quân khu thì
do Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu giải quyết; giữa các cơ quan
điều tra quân sự khu vực thuộc các quân khu khác nhau do Viện trưởng Viện kiểm
sát quân sự cấp quân khu nơi đầu tiên phát hiện tội phạm giải quyết;
c) Tranh chấp về thẩm quyền
điều tra giữa Cơ quan điều tra Công an nhân dân, Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra
Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao giải
quyết.
Điều
53. Việc chuyển vụ án để điều tra theo thẩm quyền
1. Viện kiểm sát ra quyết
định chuyển vụ án khi có văn bản đề nghị của cơ quan có thẩm quyền điều tra hoặc
Viện kiểm sát đã yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra đề nghị Viện kiểm sát chuyển vụ án nhưng cơ
quan có thẩm quyền điều tra không thực hiện.
Khi có căn cứ chuyển vụ án
để điều tra
theo quy định tại khoản 1 Điều 169 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
khoản 4 Điều 142 Luật Tư pháp người chưa thành niên thì Kiểm
sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu cơ
quan có thẩm quyền điều tra đang thụ lý giải quyết vụ án có văn bản đề nghị Viện
kiểm sát ra quyết định chuyển vụ án.
2. Viện kiểm sát nhân dân cấp
tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có thẩm quyền ra quyết định chuyển vụ
án ra ngoài phạm vi tỉnh, thành phố hoặc ngoài phạm vi quân khu và tương đương.
Trường hợp vụ án do Viện
kiểm sát nhân dân khu vực, Viện kiểm sát quân sự khu vực đang thực hành quyền
công tố, kiểm sát điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân khu vực, Viện kiểm sát quân sự khu vực có văn bản đề nghị chuyển.
3. Trình tự, thủ tục chuyển
vụ án để điều tra theo thẩm quyền được thực hiện theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Kiểm sát viên theo dõi,
đôn đốc cơ quan có thẩm quyền điều tra chuyển vụ án đúng thời hạn quy định; nếu
có vi phạm về
thời hạn chuyển vụ án, Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo
Viện kiến nghị yêu cầu khắc phục.
4. Trong thời hạn 03 ngày,
kể từ ngày có quyết định chuyển vụ án, Viện kiểm sát đang thực hành quyền công
tố, kiểm sát điều tra chuyển hồ sơ kiểm sát cho Viện kiểm sát có thẩm quyền,
lưu quyết định chuyển vụ án.
Điều
54. Viện kiểm sát cấp trên gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam
1. Khi đề nghị Viện kiểm
sát cấp trên gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam, lãnh đạo Viện kiểm
sát cấp dưới phải có văn bản đề nghị gia hạn nêu rõ nội dung vụ án, căn cứ, lý
do gia hạn, kèm theo hồ sơ vụ án gửi đến Viện kiểm sát cấp trên trước khi hết
thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam ít nhất 10 ngày (thời hạn này tính từ ngày
Viện kiểm sát cấp trên nhận được văn bản đề nghị gia hạn và hồ sơ vụ án); trường
hợp cần thiết, Viện kiểm sát cấp trên yêu cầu Viện kiểm sát cấp dưới trực tiếp
báo cáo căn cứ, lý do gia hạn.
2. Trong thời hạn 05 ngày,
kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị gia hạn và hồ sơ vụ án của Viện kiểm sát cấp
dưới, Viện kiểm sát cấp trên xem xét, quyết định gia hạn hoặc không gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn
tạm giam; nếu không gia hạn thì có văn bản thông báo cho Viện kiểm sát cấp dưới
và nêu rõ lý do.
Điều
55. Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc chấp hành thời hạn phục hồi điều
tra, điều tra bổ sung, điều tra lại
1. Kiểm sát viên kiểm sát
chặt chẽ việc chấp hành thời hạn phục hồi điều tra, điều tra bổ sung, điều tra lại theo quy định tại Điều 174 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trường hợp phát hiện vi
phạm thì Kiểm sát viên yêu cầu hoặc báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện yêu cầu hoặc kiến
nghị khắc phục, xử lý vi phạm.
2. Trường hợp cần gia hạn
thời hạn điều tra đối với các vụ án phục hồi điều tra do tính chất phức tạp của
vụ án theo đề nghị của Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên kiểm tra căn cứ, điều kiện
gia hạn và báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét, quyết định
theo quy định tại Điều 174 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Điều
56. Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc
biệt
1. Trường hợp Cơ quan điều
tra đề nghị phê chuẩn quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt thì Kiểm sát viên yêu cầu Cơ
quan điều tra cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu gửi kèm văn bản đề nghị Viện kiểm
sát phê chuẩn quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.
Trường hợp có căn cứ và xét thấy cần thiết mà Cơ quan điều tra không
ra quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt thì Kiểm sát viên báo
cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra
ra quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; nếu Cơ quan điều tra không thực hiện thì Viện
kiểm sát thực hiện quyền kiến nghị.
2. Kiểm sát viên kiểm sát
chặt chẽ nguyên tắc, căn cứ, điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn
áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, việc sử dụng thông tin, tài liệu
thu thập được bằng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt theo quy định tại Chương XVI của Bộ luật Tố tụng hình sự. Kiểm sát viên báo
cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc
không phê chuẩn quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.
3. Việc gia hạn thời hạn
áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 226 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
4. Khi có căn cứ hủy bỏ việc
áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt theo quy định tại Điều
228 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Kiểm sát viên kịp thời báo cáo, đề xuất
lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng biện
pháp điều tra tố tụng đặc biệt.
Điều
57. Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tạm đình chỉ điều tra, truy nã bị can
1. Kiểm sát viên kiểm sát
chặt chẽ căn cứ, điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục tạm đình chỉ điều tra
của cơ quan có thẩm quyền điều tra bảo đảm các trường hợp tạm đình chỉ điều tra
được thực hiện theo đúng quy định tại Điều 229 của Bộ luật Tố tụng
hình sự; nếu thấy quyết định tạm đình chỉ điều tra không có căn cứ và trái
pháp luật hoặc thuộc trường hợp đủ điều kiện ra kết luận điều tra đề nghị truy
tố vắng mặt bị can quy định tại Điếu 233 của Bộ luật Tố tụng
hình sự và Thông tư liên tịch số 05/2025
quy định về phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong điều tra, truy tố,
xét xử vắng mặt bị can, bị cáo (sau đây viết tắt là Thông tư liên tịch số 05/2025) thì báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị,
lãnh đạo Viện ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ điều tra của cơ quan có thẩm quyền điều tra và yêu cầu phục
hồi điều tra theo quy định tại Điều 235 của Bộ luật Tố tụng
hình sự.
2. Ngay sau khi phát hiện
bị can trốn hoặc không xác định được bị can ở đâu mà Cơ quan điều tra chưa ra quyết định truy
nã bị can thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra
văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã bị can trước khi tạm
đình chỉ điều tra
theo quy định tại Điều 231 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
3. Đối với vụ án tạm đình
chỉ điều tra có áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế nhưng chưa được
hủy bỏ thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn
bản yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra thực hiện việc hủy bỏ; nếu cơ quan có thẩm quyền điều tra không
thực hiện thì Viện kiểm sát trực tiếp hủy bỏ, trừ trường hợp các cơ quan có thẩm
quyền tiến hành tố tụng thống nhất bằng văn bản xem xét, quyết định việc tiếp tục
áp dụng các biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản theo quy định của pháp
luật.
Điều
58. Quản lý, giải quyết việc tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra
đối với bị can
1. Lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo
Viện phân công Kiểm sát viên thường xuyên theo dõi, quản lý các vụ án tạm đình
chỉ điều tra. Khi thấy lý do tạm đình chỉ không còn thì Kiểm sát viên báo cáo,
đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền
điều tra phục hồi
điều tra để tiến hành điều tra theo quy định tại Điều 235 của
Bộ luật Tố tụng hình sự nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Khi Kiểm sát viên được
phân công thụ lý giải quyết vụ án đang tạm đình chỉ điều tra không tiếp tục thực
hiện nhiệm vụ thì lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện phân công Kiểm sát viên khác
tiếp tục theo dõi vụ án.
2. Viện kiểm sát các cấp
phải phân công đầu mối theo dõi, quản lý hồ sơ các vụ án tạm đình chỉ điều tra;
mở sổ quản lý, theo dõi các vụ án tạm đình chỉ và phục hồi điều tra; kiểm sát việc ra quyết
định đình nã của Cơ quan điều tra sau khi bắt được bị can; định kỳ (hằng tháng, 06 tháng và 01
năm) phối hợp với Cơ quan có thẩm quyền điều tra rà soát, đối chiếu, phân loại,
thống nhất đề xuất xử lý các trường hợp tạm đình chỉ điều tra để báo cáo Viện trưởng
Viện kiểm sát cấp mình và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp xem xét, quyết định.
Đối với những trường hợp tạm đình chỉ điều tra nhưng đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì phải kịp thời yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền điều tra ra quyết định đình chỉ
điều tra theo
quy định tại điểm a khoản 1 Điều 230 và khoản 5 Điều 157 của Bộ
luật Tố tụng hình sự; đồng thời, đưa ra khỏi danh sách theo dõi án tạm đình
chỉ những trường hợp đã có quyết định đình chỉ điều tra và quyết định phục hồi
điều tra.
Điều
59. Kiểm sát việc kết thúc điều tra
1. Chậm nhất 10 ngày đối với
vụ án về tội ít nghiêm trọng và nghiêm trọng, 15 ngày đối với vụ án về tội rất nghiêm trọng, 20 ngày đối với vụ án
về tội đặc biệt nghiêm trọng, trước khi kết thúc điều tra hoặc hết thời hạn điều
tra vụ án, kiểm sát viên chủ động yêu cầu và phối hợp Điều tra viên, Cán bộ điều tra đánh giá toàn bộ chứng cứ,
tài liệu và các thủ tục tố tụng của vụ án, nếu thấy có đủ căn cứ kết thúc điều tra thì thống nhất để Điều tra viên, Cán bộ điều tra báo cáo Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng, Cấp trưởng,
Cấp phó Cơ quan có thẩm quyền điều tra kết thúc điều tra vụ án; nếu thấy cần phải tiếp tục điều
tra thì thống
nhất các thủ tục báo cáo lãnh đạo hai bên để đề nghị và quyết định việc gia hạn
thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam bị can theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với vụ án về tội đặc biệt
nghiêm trọng, phức tạp, vụ án dự kiến kết luận điều tra đề nghị truy tố vắng mặt
bị can hoặc Kiểm sát viên không thống nhất quan điểm đánh giá chứng cứ, tội
danh thì Kiểm sát viên trao đối với Điều tra viên để báo cáo lãnh đạo hai cơ
quan tổ chức họp đánh giá kết quả điều tra vụ án, chỉ đạo giải quyết những vấn
đề chưa thống nhất, khó khăn, vướng mắc, bảo đảm việc kết thúc điều tra, giải quyết
vụ án đúng quy định của pháp luật và Thông tư liên tịch số 05/2025.
2. Kiểm sát viên, Điều tra
viên, Cán bộ điều tra phải lập biên bản thống nhất nội dung đánh giá chứng cứ,
tài liệu và lưu hồ sơ kiểm sát.
Điều
60. Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc đình chỉ điều tra
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được
quyết định đình chỉ điều tra kèm theo hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định đình
chỉ điều tra, việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, trả lại tài liệu,
đồ vật đã tạm giữ (nếu có), việc xử lý vật chứng và các vấn đề khác có liên quan
theo quy định tại Điều 230, Điều 234 của Bộ luật Tố tụng hình
sự và quy định khác của pháp luật có liên quan, báo cáo, đề xuất lãnh đạo
đơn vị, lãnh đạo Viện giải quyết như sau:
1. Nếu quyết định đình chỉ điều
tra có căn cứ thì ra văn bản thống nhất với quyết định đình chỉ điều tra và trả
lại hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền điều tra để giải quyết theo thẩm quyền; đồng
thời có văn bản yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra ra quyết định hủy bỏ
ngay biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, trả lại các tài liệu, đồ vật đã
tạm giữ (nếu có) cho bị can hoặc người có liên quan; đối với biện pháp ngăn chặn,
biện pháp cưỡng chế do Viện kiểm sát phê chuẩn hoặc quyết định thì Viện kiểm
sát ra quyết định hủy bỏ theo quy định tại Điều 125 và Điều
130 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Nếu quyết định đình chỉ
điều tra không có căn cứ, trái pháp luật thì yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra ra quyết định
hủy bỏ hoặc trực tiếp ra quyết định hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra và yêu
cầu phục hồi điều tra theo quy định tại Điều 235 của Bộ luật Tố
tụng hình sự.
Điều
61. Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc phục hồi điều tra
1. Khi nhận được quyết định
phục hồi điều tra của cơ quan có thẩm quyền điều tra, Kiểm sát viên kiểm tra
căn cứ phục hồi điều tra theo quy định tại Điều 235 của Bộ luật
Tố tụng hình sự, báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện giải quyết
như sau:
a) Nếu quyết định phục hồi
điều tra có căn cứ thì Kiểm sát viên được phân công tiếp tục giải quyết vụ án;
b) Nếu quyết định phục hồi
điều tra không có căn cứ, trái pháp luật thì yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều
tra ra quyết định hủy bỏ; nếu cơ quan có thẩm quyền điều tra không thực hiện thì Viện
kiểm sát trực tiếp ra quyết định hủy bỏ.
2. Nếu việc đình chỉ điều tra theo quy định tại khoản 5 và khoản 6 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng hình sự mà bị
can không đồng ý và yêu cầu điều tra lại thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất
lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều
tra ra quyết định phục hồi điều tra; nếu cơ quan có thẩm quyền điều tra không thực hiện thì Viện kiểm
sát trực tiếp ra quyết định phục hồi điều tra và gửi quyết định đó cho cơ quan có thẩm quyền điều tra để tiến hành điều tra.
3. Kiểm sát viên kiểm sát
việc gửi, thông báo quyết định phục hồi điều tra của cơ quan có thẩm quyền điều tra theo
quy định tại khoản 2 Điều 235 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Điều
62. Chuyển, giao nhận biên bản, tài liệu; thống kê, đóng dấu và đánh số bút lục hồ sơ vụ án trong giai đoạn điều tra, truy tố
1. Kiểm sát viên có trách nhiệm và thường xuyên
đôn đốc Điều tra viên, Cán bộ điều tra thực hiện nghiêm túc việc chuyển, giao,
nhận biên bản, tài liệu về hoạt động điều tra theo khoản 5 Điều
88, Điều 133 của Bộ luật Tố tụng hình sự và quy định khác của pháp luật có
liên quan.
2. Trong giai đoạn điều
tra, khi cơ quan có thẩm quyền điều tra chuyển biên bản, tài liệu để Viện kiểm
sát kiểm sát, Kiểm sát viên đóng dấu bút lục của Viện kiểm sát vào góc dưới bên
phải của từng tờ biên bản, tài liệu, ghi rõ ngày nhận biên bản, tài liệu và lập
biên bản cho từng lần giao nhận biên bản, tài liệu với Điều tra viên, cán bộ điều
tra (có thống kê tài liệu, biên bản kèm theo).
Trong trường hợp biên bản,
tài liệu do Kiểm sát viên thu thập trong quá trình điều tra thì ngay sau khi thu thập biên bản,
tài liệu, Kiểm sát viên chuyển cho Điều tra viên để đưa vào hồ sơ vụ án và sao
lưu hồ sơ kiểm sát; việc giao nhận biên bản, tài liệu với Điều tra viên, Cán bộ
điều tra phải lập biên bản và lưu trong hồ sơ vụ án, hồ sơ kiểm sát.
3. Trong giai đoạn truy tố,
biên bản, tài liệu do Kiểm sát viên thu thập phải được đưa vào hồ sơ vụ án,
đóng dấu bút lục ở góc trên bên phải của từng tờ biên bản, tài liệu và đánh số
thứ tự tiếp theo số bút lục trong hồ sơ vụ án; không được thay đổi thứ tự bút lục
trong hồ sơ vụ án. Trường hợp có sự nhầm lẫn hoặc tẩy xóa số bút lục thì phải
có bảng tổng hợp, ký xác nhận của Kiểm sát viên, kèm theo báo cáo giải trình lý
do nhầm lẫn, tẩy xóa; bảng tổng hợp và báo cáo giải trình của Kiểm sát viên phải
được đưa vào hồ sơ vụ án.
Chương
VI
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ,
KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP TRONG GIAI ĐOẠN TRUY TỐ
Điều
63. Tiếp nhận hồ sơ vụ án, bản kết luận điều tra và thụ lý vụ án
Khi nhận được bản kết luận
điều tra đề nghị truy tố và hồ sơ vụ án kèm theo vật chứng (nếu có) do cơ quan
có thẩm quyền điều tra chuyển đến, người nhận hồ sơ đối chiếu bảng kê tài liệu,
vật chứng với
các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và vật chứng (nếu có); kiểm tra việc giao bản
kết luận điều tra cho bị can hoặc người đại diện của bị can theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật Tố tụng hình sự hoặc niêm yết theo quy định tại Điều 140, khoản 3 Điều 233 của Bộ luật Tố
tụng hình sự, Thông tư liên tịch số 05/2025
và xử lý như sau:
1. Nếu các tài liệu có
trong hồ sơ vụ án và vật chứng (nếu có) chưa đầy đủ so với bảng kê, bản kết luận
điều tra chưa được giao cho bị can hoặc người đại diện của bị can hoặc chưa được
niêm yết thì chưa nhận hồ sơ vụ án và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều tra bổ
sung tài liệu, vật chứng, yêu cầu giao bản kết luận điều tra cho bị can hoặc
người đại diện của bị can hoặc yêu cầu niêm yết bản kết luận điều tra;
2. Nếu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và vật chứng
(nếu có) đầy đủ so với bảng kê, bản kết luận điều tra đã được giao cho bị can
hoặc người đại diện của bị can hoặc đã được niêm yết thì ký nhận và vào sổ thụ
lý hồ sơ vụ án, ghi ngày nhận hồ sơ vào góc trên bên trái bìa hồ sơ và báo cáo
ngay với lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện để chuyển hồ sơ vụ án cho Kiểm sát viên
được phân công. Việc giao, nhận hồ sơ giữa người nhận hồ sơ với Kiểm sát viên
phải ký xác nhận trong sổ giao nhận hồ sơ vụ án.
Điều
64. Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng
chế
1. Sau khi thụ lý hồ sơ vụ
án, Kiểm sát viên kiểm tra ngay các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế đang áp dụng
và báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét, quyết định việc áp
dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế theo quy định
của pháp luật.
2. Việc quyết định áp dụng,
thay đổi biện pháp tạm giam cần lưu ý như sau:
a) Nếu thời hạn tạm giam để
điều tra vẫn còn mà bằng hoặc dài hơn thời hạn quyết định việc truy tố quy định
tại khoản 1 Điều 240 Bộ luật Tố tụng hình sự đối với tội phạm đang xem
xét quyết định việc truy tố và xét thấy cần thiết phải tiếp tục tạm giam bị can
trong giai đoạn
truy tố thì Viện kiểm sát tiếp tục sử dụng lệnh, quyết định cũ mà không phải ra
lệnh tạm giam mới;
b) Nếu thời hạn tạm giam để điều
tra vẫn còn,
nhưng không đủ để hoàn thành việc truy tố thì trước khi hết thời hạn tạm giam
ít nhất 05 ngày, Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện
xem xét, ra lệnh tạm giam mới; thời hạn tạm giam còn lại và thời hạn tạm giam mới
không vượt quá thời hạn quyết định việc truy tố quy định tại khoản
1 Điều 240 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Sau khi ra lệnh tạm giam mới, Viện
kiểm sát giao ngay lệnh tạm giam cho bị can, cơ sở giam giữ nơi bị can đang bị
tạm giam.
3. Trong thời hạn quyết định
việc truy tố, nếu xét thấy cần thiết, Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh
đạo Viện xem xét áp dụng hoặc hủy bỏ các biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm
hoãn xuất cảnh, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm theo quy định tại các điều
121, 122, 123, 124 và 125
của Bộ luật Tố tụng hình sự, cụ thể:
a) Nếu thời hạn áp dụng biện
pháp của Cơ quan có thẩm quyền điều tra vẫn còn mà bằng hoặc dài hơn thời hạn quyết định việc truy
tố theo quy định tại khoản 1 Điều 240 của Bộ luật Tố tụng hình
sự, mà xét thấy cần tiếp tục áp dụng các biện pháp ngăn chặn đó thì Viện kiểm
sát tiếp tục sử dụng
lệnh, quyết định của Cơ quan có thẩm quyền điều tra.
Nếu thời hạn áp dụng biện pháp của Cơ quan có thẩm quyền điều
tra vẫn còn nhưng không đủ để hoàn thành việc truy tố, mà xét thấy cần phải tiếp
tục áp dụng các biện pháp đó thì chậm nhất 05 ngày, trước khi hết thời hạn được
ghi trong lệnh,
quyết định của Cơ quan có thẩm quyền điều tra, Viện kiểm sát ra lệnh, quyết định
mới;
b) Khi gia hạn thời hạn
quyết định việc truy tố mà thời hạn áp dụng biện pháp đã hết thì Viện kiểm sát
ra lệnh, quyết định mới. Thời hạn áp dụng các lệnh, quyết định mới của Viện kiểm
sát đối với bị can không quá thời hạn gia hạn thời hạn quyết định việc truy tố.
Điều
65. Viện kiểm sát tiến hành một số hoạt động điều tra trong giai đoạn truy tố
1. Trong giai đoạn truy tố, nếu có căn cứ và cần thiết,
Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện trực tiếp tiến
hành một số hoạt động điều tra trong các trường hợp sau đây:
a) Khi phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt
tội phạm, vi phạm pháp luật mà Viện kiểm sát đã yêu cầu nhưng cơ quan có thẩm
quyền điều tra không thực hiện;
b) Khi cần kiểm tra, bổ
sung tài liệu, chứng cứ để quyết định việc truy tố;
c) Khi Tòa án yêu cầu bổ
sung tài liệu, chứng cứ hoặc trả hồ sơ để yêu cầu bổ sung mà Viện kiểm sát xét
thấy không cần thiết phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung.
2. Khi trực tiếp tiến hành
một số hoạt động điều tra, Kiểm sát viên được phân công thực hiện các hoạt động
sau đây:
a) Trước khi tiến hành một
số hoạt động điều tra, Kiểm sát viên xây dựng kế hoạch điều tra, báo cáo lãnh đạo
đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét, quyết định việc trực tiếp tiến hành một số hoạt
động điều tra;
b) Trong quá trình điều
tra, Kiểm sát viên tuân thủ quy định của Bộ luật
Tố tụng hình sự về căn cứ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục tiến hành các biện
pháp điều tra. Đối với vụ án phức tạp, Kiểm sát viên có thể phối hợp với Điều
tra viên để tiến
hành một số hoạt động điều tra;
c) Kết thúc việc tiến hành
hoạt động điều tra, Kiểm sát viên nghiên cứu, đánh giá tài liệu, chứng cứ, báo
cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện về kết quả điều tra.
3. Biên bản, tài liệu, chứng
cứ do Kiểm sát viên lập, thu thập trong quá trình tiến hành một số hoạt động điều
tra phải được đưa vào hồ sơ vụ án, lưu hồ sơ kiểm sát.
Điều
66. Thời hạn xem xét, quyết định việc truy tố
Thời hạn nghiên cứu hồ sơ
vụ án đối với từng loại tội phạm và ra quyết định tố tụng thuộc thẩm quyền của
Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 240 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chậm nhất 05 ngày, trước
khi hết thời hạn quyết định việc truy tố quy định tại khoản 1
Điều 240 của Bộ luật Tố tụng hình sự, nếu vụ án phức tạp, cần có thêm thời
gian nghiên cứu, đánh giá chứng cứ hoặc báo cáo, thỉnh thị xin ý kiến mà chưa thể đề xuất việc xử lý vụ án
thì Kiểm sát
viên báo cáo, đề xuất ngay với lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện quyết định gia hạn thời hạn quyết định
việc truy tố theo quy định của Bộ luật Tố tụng
hình sự.
Điều
67. Quyết định của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố
1. Trong thời hạn quyết định
việc truy tố quy định tại khoản 1 Điều 240 của Bộ luật Tố tụng
hình sự, Kiểm sát viên nghiên cứu hồ sơ vụ án, báo cáo, đề xuất bằng văn bản
với lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện giải quyết như sau:
a) Nếu thấy đủ căn cứ để
quyết định truy tố thì Kiểm sát viên dự thảo bản Cáo trạng trình lãnh đạo đơn vị,
lãnh đạo Viện xem xét, duyệt ký. Bản Cáo trạng phải phản ánh đúng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ
án, bảo đảm đầy đủ các nội dung theo quy định tại Điều 243 của
Bộ luật Tố tụng hình sự.
b) Nếu có căn cứ xác định
thuộc một trong
trường hợp quy định tại Điều 245 của Bộ luật Tố tụng hình sự
thì Viện kiểm
sát ra quyết định trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung;
c) Nếu có một trong những
căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 và Điều 157 của Bộ luật Tố
tụng hình sự hoặc tại Điều 16 và Điều 29 của Bộ luật Hình
sự hoặc bị can là người chưa thành niên được áp dụng biện pháp xử lý chuyển
hướng theo quy định của Luật Tư pháp người chưa
thành niên thì Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định
đình chỉ vụ án đối với bị can;
d) Nếu có một trong những
căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 247 của Bộ luật Tố tụng hình
sự thì Viện kiểm sát ra quyết định tạm đình chỉ vụ án, quyết định tạm đình
chỉ vụ án đối với bị can;
đ) Việc truy tố vắng mặt bị
can được thực hiện theo quy định tại Điều 243 của Bộ luật Tố tụng
hình sự và Thông tư liên tịch số 05/2025.
3. Việc giao, gửi, thông
báo, niêm yết các quyết định nêu tại khoản 2 Điều này được thực hiện theo quy định
tại khoản 1 Điều 137, Điều 141, khoản 2 và khoản 3 Điều 240 của
Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 8 Thông tư liên tịch số
05/2025.
4. Viện trưởng Viện kiểm
sát cấp trên có quyền hủy bỏ quyết định nêu tại khoản 2 Điều này của Viện kiểm
sát cấp dưới nếu quyết định đó không có căn cứ, trái pháp luật.
Điều
68. Việc chuyển vụ án để truy tố theo thẩm quyền; việc phân công thực hành quyền
công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm hình sự
1. Nếu thấy vụ án không thuộc thẩm quyền truy tố của
Viện kiểm sát cấp mình, Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo
Viện ra quyết định chuyển vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố theo
quy định tại khoản 1 Điều 239 của Bộ luật Tố tụng hình sự
và quy định khác có liên quan. Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố nhận được hồ
sơ ra quyết định phân công Kiểm sát viên nghiên cứu và báo cáo, đề xuất lãnh đạo
đơn vị, lãnh đạo Viện giải quyết như sau:
a) Nếu đồng ý với bản kết luận
điều tra đề nghị truy tố của cơ quan có thẩm quyền điều tra thì ban hành Cáo trạng truy tố bị can ra Tòa
án có thẩm quyền xét xử. Trường hợp Tòa án trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ
sung mà việc trả hồ sơ là có căn cứ thì Viện kiểm sát đã truy tố phải chuyển hồ
sơ cho Viện kiểm sát đã thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra để làm thủ tục
chuyển vụ án cho cơ quan điều tra có thẩm quyền để điều tra bổ sung.
b) Nếu không đồng ý với bản kết
luận điều tra đề nghị truy tố của cơ quan có thẩm quyền điều tra thì chuyển lại
hồ sơ cho Viện kiểm sát đã thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra để làm thủ tục chuyển vụ
án cho cơ quan điều tra có thẩm quyền để điều tra bổ sung.
2. Đối với vụ án do Viện
kiểm sát cấp trên thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra thì
Viện kiểm sát cấp trên quyết định việc truy tố. Việc phân công Viện kiểm sát cấp
dưới thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 239 của Bộ luật Tố tụng hình sự và quy định khác
có liên quan.
Chương
VII
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ,
KIỂM SÁT VIỆC ÁP DỤNG THỦ TỤC ĐẶC BIỆT
Điều
69. Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc áp dụng thủ tục tố tụng đối với người
chưa thành niên
1. Khi thực hành quyền công
tố, kiểm sát việc áp dụng thủ tục tố tụng đối với người bị tố giác, người bị kiến
nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội, người
bị hại, người làm chứng là người chưa thành niên, Kiểm sát viên phải kiểm sát
chặt chẽ, bảo đảm thực hiện đúng quy định của Bộ
luật Tố tụng hình sự, quy định của Luật Tư
pháp người chưa thành niên, quy định của pháp luật có liên quan và Quy chế
này.
2. Nếu có đủ căn cứ truy cứu
trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội, Kiểm sát viên báo
cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra quyết định phê chuẩn quyết định
khởi tố bị can; xem xét việc phê chuẩn lệnh bắt, quyết định gia hạn tạm giữ, lệnh
tạm giam của Cơ quan điều tra theo quy định của Luật
Tư pháp người chưa thành niên. Người chưa thành niên phạm tội có thể bị áp
dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế theo quy định tại các điều 135, 136, 137, 138, 139, 140, 141 của
Luật Tư pháp người chưa thành niên và Thông tư liên tịch số 12/2025 quy định chi tiết việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền
trong thực hiện một số điều của Luật Tư pháp
người chưa thành niên (sau đây viết tắt là Thông tư liên tịch số 12/2025). Nếu không đủ căn cứ truy cứu trách
nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội thì Kiểm sát viên báo cáo,
đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện không phê chuẩn, hủy bỏ quyết định khởi
tố bị can và các quyết định tố tụng khác.
3. Sau khi khởi tố bị can,
nếu người chưa thành niên có đủ điều kiện và thuộc trường hợp được áp dụng biện
pháp xử lý chuyển hướng theo quy định tại các điều 35, 37, 38
và 39 của Luật Tư pháp người chưa thành niên mà Cơ quan điều tra chưa xem
xét áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên phạm tội
thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện có văn bản đề nghị Cơ quan điều tra xem
xét áp dụng thủ tục xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên phạm tội. Trường hợp không đủ điều kiện áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng thì giải quyết vụ án theo quy định
của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Tư pháp người chưa thành niên.
4. Trong giai đoạn truy tố,
nếu người chưa thành niên phạm tội thuộc trường hợp và đủ điều kiện áp dụng biện
pháp xử lý chuyển hướng theo quy định tại các điều 35, 37, 38 và 39 của Luật Tư pháp người chưa thành niên
thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét áp dụng
thủ tục xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên phạm tội và thực hiện
các thủ tục theo quy định của Luật Tư pháp người
chưa thành niên và Thông tư liên tịch số 12/2025.
Điều
70. Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh
1. Khi nghi ngờ người bị
buộc tội mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức, mất khả
năng điều khiển hành vi, Kiểm sát viên kịp thời báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị,
lãnh đạo Viện giải quyết như sau:
a) Trong giai đoạn điều
tra, nếu Cơ quan có thẩm quyền điều tra không trưng cầu giám định pháp y tâm thần
thì ra văn bản yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền điều tra trưng cầu giám định;
b) Trong giai đoạn truy tố,
Viện kiểm sát ra quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thần.
2. Trong thời hạn 03 ngày,
kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh của
Cơ quan có thẩm
quyền điều tra kèm theo kết luận giám định pháp y tâm thần, nếu thấy đủ căn cứ thì Kiểm
sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện giải quyết như sau:
a) Ra quyết định áp dụng
biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với bị can và yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền điều
tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra hoặc tạm đình chỉ điều tra đối với bị
can nếu kết luận giám định pháp y tâm thần xác định là tại thời điểm thực hiện
hành vi phạm tội, bị can không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả
năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi;
b) Ra quyết định áp dụng
biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với bị can và ra văn bản yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền điều tra ra quyết định
đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ điều tra đối với bị can nếu kết luận giám định pháp y tâm thần xác định
là tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị can mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh
khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi.
3. Trong giai đoạn truy tố,
nếu Viện kiểm sát ra quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thần theo quy định tại điểm
b khoản 1 Điều này thì sau khi nhận được kết luận giám định pháp y tâm thần, Kiểm
sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét, giải quyết
theo quy định tại Điều 450 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
4. Nếu nội dung kết luận
giám định pháp y tâm thần chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc khi có nghi ngờ kết luận giám định pháp y
tâm thần không chính xác thì việc trưng cầu giám định bổ sung, giám định lại được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Giám định tư pháp và các quy định khác có
liên quan.
5. Trường hợp Viện kiểm
sát nhận được thông báo của Thủ trưởng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh về việc người
bị bắt buộc chữa bệnh đã có kết luận khỏi bệnh hoặc đủ khả năng nhận thức, đủ khả năng điều
khiển hành vi, Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện giải
quyết như sau:
a) Nếu vụ án đang trong giai đoạn
điều tra thì ra văn bản yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền điều tra ra quyết định
trưng cầu giám định về tình trạng bệnh hiện tại của người bị bắt buộc chữa bệnh;
h) Nếu vụ án đang trong
giai đoạn truy tố thì Viện kiểm sát ra quyết định trưng cầu giám định về tình
trạng bệnh hiện tại của người bị bắt buộc chữa bệnh.
Trong các trường hợp nêu tại điểm a và điểm b
khoản này, nếu kết quả giám định kết luận người bị bắt buộc chữa bệnh đã khỏi bệnh
hoặc đủ khả năng nhận thức, đủ khả năng điều khiển hành vi thì Viện kiểm sát ra
quyết định đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Sau khi đình chỉ thi
hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh, các hoạt động tố tụng đã bị tạm đình chỉ có
thể được phục hồi theo quy định tại Điều 454 của Bộ luật Tố tụng
hình sự.
Điều
71. Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc áp dụng thủ tục rút gọn
1. Trong quá trình thực
hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và truy tố, Kiểm sát viên kiểm sát chặt chẽ căn cứ, điều kiện, thẩm
quyền, trình tự, thủ tục áp dụng thủ tục rút gọn theo quy định tại Chương XXXI của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Trường hợp vụ án có đủ
điều kiện theo quy định tại Điều 456 của Bộ luật Tố tụng hình
sự mà Cơ quan điều tra không ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn thì Kiểm
sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra văn bản yêu cầu Cơ
quan điều tra ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn; nếu Cơ quan điều tra không thực hiện thì lãnh
đạo Viện ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn theo quy định tại khoản 9 Điều 165 của Bộ luật Tố tụng hình sự và gửi ngay quyết
định đó cho Cơ quan điều tra, đồng thời giao, gửi cho người tham gia tố tụng
theo quy định tại khoản 2 Điều 457 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trường hợp Cơ quan điều
tra ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn nhưng không có căn cứ, trái pháp luật
thì trong thời
hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được quyết định áp dụng thủ tục rút gọn, Kiểm sát
viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng thủ
tục rút gọn của Cơ quan điều tra.
3. Trường hợp vụ án không
áp dụng thủ tục rút gọn ở giai đoạn điều tra nhưng giai đoạn truy tố có căn cứ
để áp dụng thủ tục rút gọn thì trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi xác định đủ căn
cứ, điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn theo quy định tại khoản
1 Điều 456 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh
đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn và giao, gửi
quyết định đó theo quy định tại khoản 2 Điều 457 của Bộ luật Tố
tụng hình sự.
Trường hợp quyết định áp dụng
thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát bị khiếu nại thì trong thời hạn 03 ngày, kể từ
ngày nhận được khiếu nại, lãnh đạo Viện có trách nhiệm giải quyết khiếu nại; nếu
khiếu nại đó có căn cứ thì lãnh đạo Viện ra quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng
thủ tục rút gọn
và vụ án được tiến hành theo thủ tục chung; trường hợp khiếu nại không có căn cứ thì
lãnh đạo Viện trả lời bằng văn bản cho người khiếu nại.
4. Trong thời hạn 05 ngày,
kể từ ngày nhận được quyết định đề nghị truy tố của Cơ quan điều tra và hồ sơ vụ
án, Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra quyết định
xử lý vụ án theo quy định tại Điều 461 của Bộ luật Tố tụng
hình sự.
5. Trong quá trình thực
hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và truy tố theo thủ tục rút gọn, nếu thấy
không còn một trong các căn cứ, điều kiện quy định tại các điểm
b, c và d khoản 1 Điều 456 của Bộ luật Tố tụng hình sự; hoặc vụ án, bị can
được tạm đình chỉ; hoặc vụ án có người chưa thành niên thuộc trường hợp được áp
dụng biện pháp xử lý chuyển hướng theo quy định tại khoản 7 Điều
55 của Luật Tư pháp người chưa thành niên thì Kiểm sát viên báo cáo, đề xuất
lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện giải quyết như sau:
a) Yêu cầu Cơ quan điều
tra đã ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn hủy bỏ quyết định đó; nếu Cơ quan
điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ;
b) Trường hợp ở giai đoạn
điều tra, truy tố mà Viện kiểm sát đã ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn thì
Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ.
6. Trường hợp Viện kiểm sát
ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì lãnh đạo Viện ra quyết định hủy
bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn. Việc giải quyết vụ án được tiến hành theo thủ tục chung.
Điều
72. Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố đối với
pháp nhân thương mại
Nhiệm vụ, quyền hạn, trách
nhiệm, trình tự, thủ tục thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải
quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra và truy tố đối với pháp nhân
thương mại thực hiện theo quy định của Bộ luật
Tố tụng hình sự, quy định của pháp luật khác có liên quan và các quy định
tương ứng của Quy chế này.
Điều
73. Đề nghị Cơ quan điều tra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ người tham gia
tố tụng
Trong quá trình thực hành
quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố, khi nhận được đề nghị
của người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại hoặc người thân thích của họ
hoặc xét thấy có căn cứ xác định cần phải áp dụng biện pháp bảo vệ đối với những
người này thì Kiểm sát viên kịp thời báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo
Viện ra văn bản đề nghị Cơ quan điều tra trực tiếp thụ lý giải quyết vụ việc, vụ án xem xét ra quyết
định áp dụng biện pháp bảo vệ.
Chương
VIII
HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG THỰC
HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ, KIỂM SÁT VIỆC KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VÀ TRUY TỐ
Điều
74. Nhiệm vụ, quyền hạn, trình tự, thủ tục hợp tác quốc tế trong giai đoạn khởi tố, điều tra và truy
tố
Nhiệm vụ, quyền hạn, trách
nhiệm của Viện kiểm sát; phạm vi, trình tự, thủ tục hợp tác quốc tế trong giai
đoạn khởi tố, điều tra và truy tố thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại, quy định của
Bộ luật Tố tụng hình sự, pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự và
quy định khác của pháp luật có liên quan.
Điều
75. Yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp về hình sự; giải quyết yêu cầu tương
trợ tư pháp về hình sự của nước ngoài
Việc yêu cầu nước ngoài
tương trợ tư pháp về hình sự, việc giải quyết yêu cầu tương trợ tư pháp về hình
sự của nước ngoài trong quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố,
điều tra, truy tố được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, pháp luật tương trợ tư pháp về hình sự và
quy định khác của pháp luật có liên quan.
Chương
IX
CHẾ ĐỘ BÁO CÁO VÀ QUAN HỆ
CÔNG TÁC
Điều
76. Thực hiện chế độ báo cáo trong quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát
việc khởi tố,
điều tra và truy tố
1. Trong quá trình thực
hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố, Kiểm sát viên
thực hiện việc báo cáo định kỳ, báo cáo đột xuất về việc giải quyết vụ việc, vụ
án theo yêu cầu của lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện và theo quy định của Ngành.
Đối với các vụ việc, vụ án
thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương, Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham
nhũng, lãng phí, tiêu cực theo dõi, chỉ đạo; vụ án có nhiều tình tiết phức tạp,
liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, dư luận xã hội đặc biệt quan tâm; vụ án
mà khi xử lý có ảnh hưởng đến chính trị, đối ngoại; vụ án có bị can là cán bộ
lãnh đạo chủ chốt từ cấp tỉnh trở lên, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có
uy tín cao
trong dân tộc thiểu số, Kiểm sát viên phải thường xuyên báo cáo việc giải quyết
vụ việc, vụ án với lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện để kịp thời chỉ đạo.
2. Kiểm sát viên báo cáo đầy
đủ, khách quan, nêu rõ tiến độ giải quyết vụ việc, vụ án, đề xuất quan điểm xử
lý và được lập theo mẫu ban hành kèm theo Quy chế này.
3. Lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo
Viện phải thường xuyên rà soát, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chế độ báo cáo
của Kiểm sát viên.
Điều
77. Quan hệ giữa công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều
tra và truy tố với công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình
sự
1. Đơn vị công tố, kiểm
sát việc khởi tố, điều tra và truy tố thường xuyên phối hợp với đơn vị kiểm sát
giam giữ và thi hành án hình sự để nắm tình hình người bị tạm giữ, tạm giam,
khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của họ đối với quyết định, hành vi của
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, kịp thời phát hiện vi phạm trong hoạt động
tiếp nhận, giải
quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra và truy tố để khắc phục hoặc kiến
nghị khắc phục.
2. Kiểm sát viên thực hành
quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi
tố, điều tra và
truy tố phải sao gửi ngay lệnh, quyết định cho Kiểm sát viên được giao nhiệm vụ kiểm sát việc tạm giữ,
tạm giam và thi hành án hình sự về những trường hợp từ chối phê chuẩn việc gia hạn tạm giữ,
tạm giam, gia hạn tạm giam, hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp tạm giữ, tạm giam để
theo dõi và phối hợp thực hiện.
Điều
78. Quan hệ giữa công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều
tra và truy tố với công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự
1. Ở Viện kiểm sát nhân
dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát nhân dân khu vực, Viện kiểm sát quân sự cấp quân
khu, Viện kiểm sát quân sự khu vực, Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền
công tố, kiểm sát khởi tố, điều tra vụ án; đồng thời thực hiện nhiệm vụ thực
hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm hình sự.
2. Đối với vụ án do Viện
kiểm sát cấp trên thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và
truy tố phân công cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm hình
sự thì việc phối hợp được thực hiện theo quy định của Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao.
Điều
79. Quan hệ giữa công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều
tra và truy tố với công tác giải quyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư
pháp
Kiểm sát viên được phân
công thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, Kiểm sát viên được phân
công thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố phải
phối hợp với đơn vị kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp để nắm và
kịp thời báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện xem xét, giải quyết các khiếu nại, tố cáo
về quyết định và hành vi tố tụng trong giai đoạn khởi tố, điều tra và truy tố
theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự,
quy định khác của pháp luật có liên quan, Quy chế này và các quy định khác của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Kết quả giải quyết khiếu nại,
tố cáo thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố, điều tra và truy tố phải thông báo cho
đơn vị kiểm sát giải quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp để theo dõi và phối hợp
trả lời, giải thích cho người khiếu nại, tố cáo.
Chương
X
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều
80. Hiệu lực thi hành
1. Quy chế này có hiệu lực
thi hành từ ngày ký ban hành.
2. Các quy định trước đây
của ngành Kiểm sát nhân dân trái với Quy chế này được bãi bỏ. Trường hợp có quy định mới hoặc
các văn bản quy định, hướng dẫn được dẫn chiếu tại Quy chế này được sửa đổi, bổ sung bằng văn bản khác có
liên quan thì áp dụng theo quy định mới của pháp luật, quy định, hướng dẫn của
Ngành.
Điều
81. Trách nhiệm thực hiện
1. Thủ trưởng đơn vị thuộc
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu
trách nhiệm tổ chức thực hiện Quy chế này.
2. Giao cho Vụ Công tố và
Kiểm sát điều tra
án an ninh chủ trì, phối hợp với Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và
các đơn vị có liên quan theo dõi, đôn đốc, hướng dẫn, kiểm tra, sơ kết, tổng kết
việc thực hiện Quy chế này.
3. Trong quá trình thực hiện,
nếu có khó khăn, vướng mắc hoặc phát sinh những vấn đề cần phải sửa đổi, bổ
sung thì kịp thời báo cáo Viện kiểm sát nhân dân tối cao (qua Vụ Công tố và Kiểm
sát điều tra án an ninh) để tổng hợp, báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao xem xét, quyết định./.
PHỤ LỤC
BIỂU MẪU BÁO CÁO ĐỀ XUẤT, BÁO CÁO
TIẾN ĐỘ, BIÊN BẢN, KẾ HOẠCH, THÔNG BÁO TRONG CÔNG TÁC THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ,
KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT NGUỒN TIN VỀ TỘI PHẠM, KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA, TRUY TỐ
(Ban hành kèm theo Quyết định số 06/QĐ-VKSTC ngày 23/3/2026 của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao)
|
Mẫu số
|
Loại báo cáo, đề xuất, biên bản, kế hoạch
|
|
01/HS
|
Báo cáo việc thụ lý thực
hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm
|
|
02/HS
|
Báo cáo đề xuất việc giải
quyết nguồn tin về tội phạm
|
|
03/HS
|
Báo cáo đề xuất Phê chuẩn
Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp
|
|
04/HS
|
Báo cáo đề xuất phê chuẩn
gia hạn tạm giữ
|
|
05/HS
|
Báo cáo về việc khởi tố
vụ án hình sự
|
|
06/HS
|
Báo cáo đề xuất phê chuẩn
(hoặc hủy bỏ) quyết định khởi tố bị can
|
|
07/HS
|
Báo cáo đề xuất về việc
áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn/ biện pháp điều tra tố tụng
đặc biệt/việc phê chuẩn, không phê chuẩn các hoạt động điều tra khác cần sự
phê chuẩn của Viện kiểm sát
|
|
08/HS
|
Báo cáo đề xuất gia hạn
thời hạn điều tra, gia hạn thời hạn tạm giam
|
|
09/HS
|
Báo cáo đề xuất thay đổi
tội danh/khởi tố bổ sung tội danh/khởi tố thêm bị can
|
|
10/HS
|
Báo cáo tiến độ giải quyết
vụ án
|
|
11/HS
|
Báo cáo đề xuất áp dụng,
thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn truy tố hoặc gia hạn
thời hạn quyết định truy tố
|
|
12/HS
|
Báo cáo đề xuất giải quyết
trong giai đoạn truy tố
|
|
13/HS
|
Biên bản họp đánh giá
tài liệu, chứng cứ
|
|
14/HS
|
Biên bản họp đánh giá
tài liệu, chứng cứ
|
|
15/HS
|
Kế hoạch thực hành quyền
công tố, kiểm sát điều tra
|
|
16/HS
|
Thông báo về việc sắp hết
thời hạn điều tra vụ án hình sự
|
|
17/HS
|
Thông báo về việc sắp hết
thời hạn tạm giam để điều tra
|
|
18/HS
|
Thông báo rút kinh nghiệm
về thực hành
quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ việc/vụ án
|
Mẫu số 01/HS
|
VIỆN KIỂM SÁT...
VỤ/VIỆN KIỂM SÁT/PHÒNG…..
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
|
……..1, ngày tháng năm 20...
|
BÁO CÁO
Về việc thụ lý thực
hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải
quyết nguồn tin về tội phạm2
Kính gửi:
………………………………………………………..
- Tên tôi là: …………………………………………………. Chức
danh: ………………………….3
- Giúp việc có đồng chí: ……………………………………………………………………..(nếu
có)
Được phân công thụ lý thực
hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết đối với:
- Nguồn tin về tội phạm (tố
giác/tin báo về tội phạm/kiến nghị khởi tố/nguồn tin về tội phạm khác): ……………………………………………………………………………………………………………
- Nguồn thông tin: ……………………………………………………………………………………..
- Ngày tiếp nhận nguồn
tin: …………………………………………………………………………..
- Cơ quan, người có thẩm
quyền thụ lý vụ việc: ……………………………………………………
- Quyết định phân công Phó
Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra thụ lý vụ việc: ………………………………………………………………………………………………………
- Ngày Viện kiểm sát nhận
hồ sơ: …………………………………………………………………….
Nội dung
1. Tóm tắt nội dung nguồn tin về tội phạm4....
2. Quá trình giải quyết5....
3. Nhận xét, đề xuất của Kiểm sát viên thụ lý (và công chức
giúp việc, nếu có)6....
|
|
Người báo cáo
(ký ghi rõ họ tên, chức danh)
|
Ý kiến của lãnh đạo đơn vị/lãnh đạo Viện
_________________________
1 Ghi địa danh là tên tỉnh/thành phố nơi đặt trụ sở của Viện kiểm sát
2 Dùng trong nguồn tin mới thụ lý; nguồn tin phục hồi kiểm
tra, xác minh
3 Nếu có nhiều Kiểm sát viên cùng thụ lý thì ghi Kiểm sát
viên thụ lý chính lên đầu và lần lượt các Kiểm sát viên thụ lý vụ việc
4 Tóm tắt nội dung nguồn tin về tội phạm (nguồn tin xuất phát
từ nguồn thông tin nào? thời gian, không gian, địa điểm xảy ra? người bị tình nghi thực hiện hành vi
theo đơn tố giác, tin báo hoặc kiến nghị khởi tố; diễn biến việc thực hiện hành vi; hậu quả; điều luật mà
hành vi mô tả trong nguồn tin có dấu hiệu vi phạm; căn cứ phục hồi việc kiểm tra, xác minh nguồn
tin về tội phạm)
5 Ghi rõ: Ngày tiếp nhận, ngày phân công, sơ bộ kết quả kiểm
tra, xác minh ban đầu, ý kiến của Cơ quan điều tra, ý kiến khác (nếu có),...
6 Ghi rõ: Nhận xét về tính chất, đặc điểm của vụ việc; những
nội dung cần yêu cầu kiểm tra, xác minh làm rõ (nếu cụ thể từng nội dung); những
vấn đề cần lưu ý trong quá trình kiểm sát việc giải quyết; ký, ghi rõ họ tên
người đề xuất
Mẫu số 02/HS
|
VIỆN KIỂM SÁT...
VỤ/VIỆN KIỂM SÁT/PHÒNG…..
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
|
……..7, ngày tháng năm 20...
|
BÁO CÁO
Đề xuất việc giải quyết
nguồn tin về tội phạm8
Kính gửi: …………………………………………………………….
- Tên tôi là:………………………………………………….. Chức
danh:………………………….
9
- Giúp việc có đồng chí: ……………………………………………………………………..(nếu
có)
Được phân công thực hành
quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết đối với:
- Nguồn tin về tội phạm (tố
giác/tin báo về tội phạm/kiến nghị khởi tố/nguồn tin về tội phạm khác): ……………………………………………………………………………………………………………
- Tiếp nhận, thụ lý ngày: ………………………………………………………………………………
- Cơ quan, người có thẩm
quyền thụ lý vụ việc: ……………………………………………………
- Ngày Viện kiểm sát nhận
hồ sơ: ……………………………………………………………………
Nội dung
1. Tóm tắt nội dung vụ việc (vì đã qua quá trình giải quyết
nên tóm tắt nội dung vụ việc trên cơ sở kết quả kiểm tra, xác minh)10 ………..
2. Quá trình giải quyết (Những việc đã làm cụ thể của Kiểm sát
viên, kết quả)11…….
3. Nhận xét, đề xuất của Kiểm sát viên thụ
lý (công chức giúp việc, nếu có)12...
|
|
Người báo cáo
(ký ghi rõ họ tên, chức danh)
|
Ý kiến của lãnh đạo đơn vị/lãnh đạo Viện
_________________________
7 Ghi địa danh là tên tỉnh/thành phố nơi đặt trụ sở của Viện kiểm sát
8 Dùng trong trường hợp gia hạn thời hạn kiểm tra, xác minh
tin báo; đường lối giải quyết trước khi ra Quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự; việc kiểm
sát Quyết định tạm đình chỉ; kiểm sát Quyết định không khởi tố vụ án hình sự
9 Nếu có nhiều Kiểm sát viên cùng thụ lý thì ghi Kiểm sát viên thụ lý
chính lên đầu và lần lượt các Kiểm sát viên thụ lý vụ việc
10 Nội dung này đã nêu ở báo cáo thụ lý mẫu báo cáo về việc thụ
lý thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, nên
phần này cần nêu tóm tắt nội dung vụ việc trên cơ sở tổng hợp kết quả kiểm tra, xác minh
11 Có thể nêu từ đầu hoặc nêu quá trình giải quyết tiếp theo sau
phần báo cáo tại mẫu báo cáo về việc thụ lý thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận,
giải quyết nguồn tin về tội phạm (ghi rõ số, ngày tháng Quyết định Cơ quan điều
tra phân công, Viện kiểm sát phân công; kết quả kiểm tra, xác minh, tài liệu chứng
cứ đã thu thập, Quyết định khởi tố, không khởi tố,...), có thể nêu những hoạt động cụ thể của Kiểm sát viên
12 Cần nêu rõ các vấn đề mà cơ quan, người có thẩm quyền điều tra đề nghị
(ghi rõ quan điểm và đề nghị với Lãnh đạo đơn vị). Đồng thời, nêu rõ các tình
tiết thuộc chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội, căn cứ áp dụng, trên cơ sở đó đề
xuất hướng giải quyết. Trong trường hợp Viện kiểm sát trực tiếp tiến hành kiểm
tra, xác minh thì Kiểm sát viên báo cáo rõ lý do? Kế hoạch tiến hành kiểm tra,
xác minh để Lãnh đạo đơn vị duyệt. Ký, ghi rõ họ tên người đề xuất
Mẫu số 03/HS
|
VIỆN KIỂM SÁT...
VỤ/VIỆN KIỂM SÁT/PHÒNG…….
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
|
……… 13, ngày tháng năm 20...
|
BÁO CÁO ĐỀ XUẤT
Phê chuẩn Lệnh bắt người
bị giữ trong trường hợp khẩn cấp
Kính gửi: …………………………………………………………..
Tôi:…………………………………………………………………..
chức danh: ……………………….
Được phân công nghiên cứu
hồ sơ bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với:
Họ tên:………………………………………………………….. Giới
tính: ……………………………..
Tên gọi khác: ……………………………………………………………………………………………..
Sinh ngày……. tháng…….. năm…………….. tại: …………………………………………………….
Quốc tịch:……………………………; Dân tộc:……………………………; Tôn giáo: ………………
Nghề nghiệp: ……………………………………………………………………………………………….
Số CMND/Thẻ CCCD/Thẻ CC/Hộ chiếu: ……………………………………………………………….
Cấp ngày………. tháng…………. năm…………. Nơi cấp: ……………………………………………
Nơi thường trú: …………………………………………………………………………………………….
Nơi tạm trú: …………………………………………………………………………………………………
Nơi ở hiện tại: ………………………………………………………………………………………………
Tiền án, tiền sự: ……………………………………………………………………………………………
Nội dung
1. Nội dung vụ việc14
2. Đề nghị của cơ quan, người có thẩm quyền điều tra15
3. Nhận xét, đề xuất của Kiểm sát viên16
4. Những vấn đề cần yêu cầu làm rõ17
|
|
Người báo cáo
(ký ghi rõ họ tên, chức danh)
|
Ý kiến của lãnh đạo đơn vị/lãnh đạo Viện
_________________________
13 Ghi địa danh là tên tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở của Viện
kiểm sát
14 Nêu hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng bị giữ trong trường
hợp khẩn cấp? những tài liệu, chứng cứ đã thu thập được để xác định hành vi của
đối tượng bị giữ trong trường hợp khẩn cấp?
15 Đề nghị của cơ quan, người có thẩm quyền điều tra, thể hiện
tại văn bản nào?
16 Cần đánh giá về thủ tục tiến hành việc bắt, giữ khẩn cấp: có đảm bảo đúng quy định
của tố tụng
hình sự không? Có
căn cứ để phê chuẩn Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp của cơ
quan, người có thẩm quyền điều tra không? Hành vi gì và theo quy định nào của Bộ luật Tố tụng hình sự? Nếu từ chối phê chuẩn
thì nêu rõ lý do
17 Đề xuất những vấn đề yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền điều tra tiếp tục điều tra làm rõ
sau khi bất đối tượng; ký, ghi rõ họ tên người đề xuất
Mẫu số 04/HS
|
VIỆN KIỂM SÁT...
VỤ/VIỆN KIỂM SÁT/PHÒNG……
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
|
……….18, ngày tháng năm 20...
|
BÁO CÁO ĐỀ XUẤT
Phê chuẩn gia hạn tạm
giữ
(Lần thứ..…….)
Kính gửi: ……………………………………………….
Tôi là:…………………………………………………………… chức
danh: …………………………….
Được phân công nghiên cứu
hồ sơ đề nghị phê chuẩn gia hạn tạm giữ đối với:
Họ tên:…………………………………………………………….. Giới
tính: ……………………………
Tên gọi khác: ………………………………………………………………………………………………
Sinh ngày ………. tháng ………… năm …………. tại: ………………………………………………..
Quốc tịch:………………………………; Dân tộc:………………………………; Tôn giáo: …………
Nghề nghiệp: ………………………………………………………………………………………………
Số CMND/Thẻ CCCD/Thẻ CC/Hộ chiếu: ………………………………………………………………
Cấp ngày……….. tháng……….. năm……………. Nơi cấp: ………………………………………….
Nơi thường trú: ……………………………………………………………………………………………
Nơi tạm trú: ………………………………………………………………………………………………..
Nơi ở hiện tại: ……………………………………………………………………………………………..
Tiền án, tiền sự: …………………………………………………………………………………………..
Bị tạm giữ từ ….. giờ.... phút, ngày ….. tháng ……. năm……. do19 ………….……………………
Cơ quan, người có thẩm quyền
ra Quyết định tạm giữ: ……………………………………………..
Bị bắt trong trường hợp
(khẩn cấp/quả tang/đầu thú/tự thú/truy nã): ………………………………
Nội dung
1. Tóm tắt nội dung vụ việc20
2. Đề nghị của cơ quan, người có thẩm quyền điều tra21
3. Nhận xét, đề xuất của Kiểm sát viên22
4. Những vấn đề cần yêu cầu làm rõ trong thời gian gia hạn23
(nếu có)
|
|
Người báo cáo
(ký ghi rõ họ tên, chức danh)
|
Ý kiến của lãnh đạo đơn vị/lãnh đạo Viện
Lưu ý: Nếu gia hạn tạm
giữ lần 2 thì đề xuất tiếp và bổ sung những mới phát sinh sau gia hạn tạm giữ lần
1, quan điểm của KSV, Lãnh đạo.
_________________________
18 Ghi địa danh là tên tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở của Viện kiểm sát
19 Ghi rõ hành vi có dấu hiệu về tội... theo quy định tại Điều...
của Bộ luật Hình sự
20 Nêu tóm tắt hành vi vi phạm pháp luật của người bị tạm giữ?
những tài liệu, chứng cứ đã thu thập được để xác định hành vi của người bị tạm
giữ (có thể nêu nội dung đã được thể hiện ở trong báo cáo, phiếu đề xuất ngày,
tháng, năm nào và có bổ sung gì mới)
21 Đề nghị của cơ quan, người có thẩm quyền (thể hiện tại văn
bản nào)?
22 Ghi rõ có cần thiết phải gia hạn tạm giữ không? kể từ ngày
nào đến ngày
nào? Nếu không phê chuẩn gia hạn tạm giữ thì nêu rõ lý do
23 Những vấn đề yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền điều tra
tiếp tục điều tra
làm rõ trong thời gian gia hạn để ra quyết định xử lý tiếp theo; ký, ghi rõ họ
tên người đề xuất
Mẫu số 05/HS
|
VIỆN KIỂM SÁT...
VỤ/VIỆN KIỂM SÁT/PHÒNG……
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
|
……….24, ngày tháng năm 20...
|
BÁO CÁO
Về việc khởi tố vụ án hình sự25
Kính gửi:
………………………………..
Tôi là:………………………………………………………………. Chức
danh: ………………………..
Giúp việc có đồng chí:…………………………………………………………………………..
(nếu có)
Được phân công thực hành
quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra đối với:
- Vụ án: …………………………………………………………………………………………………….
- Ngày khởi tố vụ án: ……………………………………………………………………………………..
- Cơ quan/Người có thẩm
quyền khởi tố: ……………………………………………………………..
- Quyết định phân công Phó
Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên thụ lý vụ án: ………….
- Ngày Viện kiểm sát nhận
hồ sơ: ………………………………………………………………………
Nội dung
1. Nội dung vụ án26
2. Nhận xét, đề xuất của Kiểm sát viên27
3. Những vấn đề cần yêu cầu điều tra làm rõ28
|
|
Người báo cáo
(ký ghi rõ họ tên, chức danh)
|
Ý kiến của lãnh đạo đơn vị/lãnh đạo Viện
_________________________
24 Ghi địa danh là tên tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở của Viện kiểm sát
25 Dùng trong trường hợp vụ án mới có Quyết định khởi tố vụ án hình sự, chưa có Quyết định
khởi tố bị can
26 Nội dung vụ án (vụ án được phát hiện từ nguồn thông tin
nào? thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm? người thực hiện hành vi
phạm tội; diễn biến việc thực hiện hành vi phạm tội)
27 Tính hợp pháp, trình tự, thủ tục tố tụng, căn cứ của việc khởi tố vụ án
28 Những nội dung cần yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền điều tra làm rõ (nêu cụ thể từng
nội dung); ký, ghi rõ họ tên người đề xuất
Mẫu số 06/HS
|
VIỆN KIỂM SÁT...
VỤ/VIỆN KIỂM SÁT/PHÒNG……
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
|
……….29, ngày tháng năm 20...
|
BÁO CÁO ĐỀ XUẤT
Phê chuẩn/Hủy bỏ quyết
định khởi tố bị can30
Kính gửi: …………………………………….
Tôi là:…………………………………………………………………chức
danh: ………………………...
Được phân công thực hành
quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án: …………………………………
- Ngày khởi tố vụ án: ……………………………………………………………………………………….
- Cơ quan/Người có thẩm
quyền khởi tố: ………………………………………………………………..
- Ngày phục hồi điều tra (nếu
có) …………………………………………………………………………
- Số bị can khởi tố:……………………………… , về tội: ………………………………………………..
|
Trong đó:
|
+ Số bị can Viện kiểm
sát đã phê chuẩn: ……………………………………………………
+ Số bị can có tạm giam:
…………………………..………………………………………….
|
Nội dung
1. Nội dung vụ án31
2. Đánh giá chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội32
3. Đề nghị của cơ quan, người có thẩm quyền điều tra33
4. Nhận xét, đề xuất của Kiểm sát viên34
5. Những vấn đề tiếp tục yêu cầu điều tra (nếu có)35
|
|
Người báo cáo
(ký ghi rõ họ tên, chức danh)
|
Ý kiến của lãnh đạo đơn vị/lãnh đạo Viện
_________________________
29 Ghi địa danh là tên tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở của Viện kiểm sát
30 Trường hợp cùng với đề xuất phê chuẩn Quyết định khởi tố bị
can còn có đề xuất phê chuẩn Lệnh tạm giam, Lệnh bắt bị can để tạm giam thì báo
cáo thêm nội dung liên quan ở Mẫu số 07/HS.
31 Nêu diễn biến nội dung vụ án và hành vi phạm tội của bị can
(hoặc từng bị can) cần đề nghị phê chuẩn Quyết định khởi tố bị can
32 Nêu tóm tắt những tài liệu chứng cứ đã thu thập được làm
căn cứ để khởi tố bị can (hoặc từng bị can), bao gồm cả chứng cứ gỡ tội, chứng cứ
buộc tội. Nhận xét hành vi của bị can (hoặc từng bị can) phạm tội gì? Khoản, điều luật nào?
Trích ghi lời khai của người làm chứng, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan (nếu có); Kiểm sát viên đã tiến hành các thủ tục gì đối với vụ án (Ví
dụ: hỏi cung, ghi lời khai, kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử
thi, đối chất, nhận dạng, khám xét,..., nếu có)
33 Ghi rõ nội dung đề nghị của cơ quan, người có thẩm quyền điều
tra, thể hiện tại
văn bản nào?
34 Có căn cứ để phê chuẩn quyết định khởi tố bị can chưa? hay
cần phải điều tra làm rõ thêm vấn đề gì? nếu từ chối phê chuẩn quyết định khởi tố thì nêu rõ lý do?
35 Những vấn đề cần tiếp tục yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền điều tra làm rõ
trong quá trình điều tra (nếu đồng ý phê chuẩn hoặc từ chối phê chuẩn)
Mẫu số 07/HS
|
VIỆN KIỂM SÁT...
VỤ/VIỆN KIỂM SÁT/PHÒNG……
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
|
……….36, ngày tháng năm 20...
|
BÁO CÁO ĐỀ XUẤT
Về việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn/ biện
pháp điều tra tố
tụng đặc biệt/việc
phê chuẩn, không phê chuẩn các hoạt động điều tra khác cần sự phê chuẩn của Viện
kiểm sát
Kính gửi: ………………………………………
Tôi là: ……………………………………………………………chức
danh: ………………………..…
Được phân công thực hành
quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án:……………………………….
- Có bị can chính là: ………………………………………………………………………………………
- Về hành vi: ……………………………………………………………………………………………….
- Ngày khởi tố vụ án:
- Ngày phục hồi điều tra (nếu có): ……………………………………………………………………….
- Số bị can khởi tố:………… về tội ……………., trong đó số bị can tạm
giam: …………………….
Nội dung
1. Tóm tắt nội dung vụ án37
2. Đề nghị của cơ quan, người có thẩm quyền điều tra38
3. Nhận xét, đề xuất của Kiểm sát viên39
|
|
Người báo cáo
(ký ghi rõ họ tên, chức danh)
|
Ý kiến của lãnh đạo đơn vị/lãnh đạo Viện
_________________________
36 Ghi địa danh là tên tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở của Viện kiểm sát
37 Tóm tắt nội dung vụ án và hành vi phạm tội của bị can (hoặc
từng bị can) đang xem xét đề nghị áp dụng/thay đổi/hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; áp dụng/hủy bỏ biện pháp điều tra tố
tụng đặc biệt.
Ghi rõ hành vi phạm tội của bị can (hoặc từng bị can) phạm vào loại tội gì (ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng,
đặc biệt nghiêm trọng), theo điều khoản nào của Bộ
luật Hình sự
(có thể nêu nội
dung đã được thể hiện ở trong báo cáo, phiếu đề xuất ngày, tháng, năm nào và có
bổ sung gì mới)
38 Ghi rõ nội dung đề nghị của cơ quan, người có thẩm quyền điều
tra, thể hiện tại
văn bản nào?
39 Cần làm rõ: Căn cứ, điều kiện áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ
biện pháp ngăn chặn đối với bị can (hoặc từng bị can) (ví dụ: Biện pháp ngăn chặn hiện
đang áp dụng là biện pháp ngăn chặn gì? đã áp dụng biện pháp ngăn chặn đó kể từ ngày nào? nay thay
đổi sang biện pháp ngăn chặn nào?); căn cứ, điều kiện áp dụng, hủy bỏ biện pháp điều
tra tố tụng đặc
biệt và các hoạt động điều tra khác cần sự phê chuẩn của Viện kiểm sát. Trường hợp từ chối đề nghị của
cơ quan, người
có thẩm quyền điều tra thì nêu rõ lý do?
Mẫu số 08/HS
|
VIỆN KIỂM SÁT...
VỤ/VIỆN KIỂM SÁT/PHÒNG……
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
|
……….40, ngày tháng năm 20...
|
BÁO CÁO ĐỀ XUẤT
Gia hạn thời hạn điều
tra, gia hạn thời hạn tạm giam41
(Lần thứ………)
Kính gửi: …………………………………………………..
Tôi là:……………………………………………………………… chức
danh: …………………………
Được phân công thực hành
quyền công tố, kiểm sát điều tra vụ án: ……………………………….
- Có bị can chính là: ………………………………………………………………………………………
- Ngày khởi tố vụ án: ……………………………………………………………………………………..
- Ngày phục hồi điều tra(
nếu có): ……………………………………………………………………..
- Số bị can khởi tố:………………, trong đó số bị can tạm
giam: …………………………………..
Nội dung
1. Tóm tắt nội dung vụ án42
2. Đề nghị của cơ quan, người có thẩm quyền điều tra43
3. Nhận xét, đề xuất của Kiểm sát viên44
4. Những vấn đề cần yêu cầu điều tra trong thời gian gia hạn
(nếu có)45
5. Ý kiến của Lãnh đạo đơn vị46
_________________________
40 Ghi địa danh là tên tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở của Viện kiểm
sát
41 Mẫu này có thể dùng trong trường hợp gia hạn thời hạn điều
tra vụ án chưa
có bị can hoặc đùng riêng cho 01 bị can đã hết bạn tạm giam cần phải tiếp tục
gia hạn
42 Tóm tắt nội dung vụ án và hành vi phạm tội của bị can (hoặc
từng bị can) đang xem xét đề xuất gia hạn thời hạn điều tra và gia hạn tạm
giam, bổ sung những vấn đề chưa báo cáo trong các đề xuất trước đó
43 Đề nghị của cơ quan, người có thẩm quyền điều tra (ngày, tháng,
năm đề nghị), thời gian đề nghị gia hạn?
44 Kiểm sát viên cần phân tích đánh giá rõ: Vụ án thuộc loại tội nào? Hành vi phạm tội của bị can (hoặc
từng bị can) phạm vào loại tội gì (ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng)
theo điều khoản nào của Bộ luật Hình sự
- Lý do gia hạn thời hạn
điều tra?; Thời
hạn gia hạn điều tra mấy tháng? kể từ ngày nào?
- Từ khi bị khởi tố đến
nay bị can đã bị tạm giam mấy tháng? kể từ ngày nào?đến ngày nào thì hết hạn tạm giam theo Lệnh
cũ
- Lý do vì sao phải gia hạn
tạm giam; Gia hạn tạm giam mấy tháng? kể từ ngày nào đến ngày nào? nếu từ chối
gia hạn tạm
giam thì nêu rõ
lý do
45 Những nội dung yêu cầu Cơ quan, người có thẩm quyền điều
tra làm rõ trong thời gian gia hạn điều tra, gia hạn tạm giam; ký, ghi rõ họ
tên người đề xuất
46 Ý kiến của Phó Viện trưởng, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu
vực; của Phó Trưởng phòng, Trưởng phòng, Phó Viện trưởng phụ trách (ở Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh); của Phó Vụ trưởng, Vụ
trưởng Vụ Công tố, kiểm sát điều tra (ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao); ký,
ghi rõ họ tên Lãnh đạo
Mẫu số 09/HS
|
VIỆN KIỂM SÁT...
VỤ/VIỆN KIỂM SÁT/PHÒNG……
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
|
……….47, ngày tháng năm 20...
|
BÁO CÁO ĐỀ XUẤT
Thay đổi tội danh/khởi tố bổ sung tội danh/ khởi
tố thêm bị can48
Kính gửi: ………………………………………………………………
Tôi là: …………………………………………………………………..chức
danh: ……………………..
Được phân công THQCT &
KSĐT vụ án: ……………….……………….……………….…………….
- Có bị can chính là: ……………….……………….……………….……………….…………………….
- Ngày khởi tố vụ án: ……………….……………….……………….……………….……………………
- Cơ quan/Người có thẩm
quyền khởi tố ……………….……………….………………………………
- Ngày phục hồi điều tra (nếu có): ……………….……………….……………….…………………….
- Số bị can khởi tố:………………., trong đó số bị can
tạm giam: ……………….……………………
Nội dung
1. Tóm tắt nội dung vụ án49
2. Đề nghị của cơ quan, người có thẩm quyền điều tra50
3. Nhận xét, đề xuất của Kiểm sát viên51
4. Ý kiến của Lãnh đạo đơn vị52
_________________________
47 Ghi địa danh là tên tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở của Viện
kiểm sát
48 Yêu cầu của Báo cáo này có thể nêu nội dung đã được thể hiện ở trong báo cáo, phiếu đề xuất
ngày ... tháng ... năm ... nào? và có bổ sung gì mới
49 Tóm tắt nội dung vụ án và hành vi phạm tội của bị can hoặc
của đối tượng đang xem xét, lý lịch bị can.
50 Nêu rõ quan điểm của cơ quan, người có thẩm quyền điều tra
thể hiện tại văn bản nào? Lý do cơ quan, người có thẩm quyền điều tra đề nghị
thay đổi tội danh (hoặc khởi tố bổ sung tội danh, khởi tố thêm bị can)
51 Nêu những căn cứ cụ thể có tại hồ sơ để làm cơ sở cho việc
xem xét đề xuất thay đổi tội danh/khởi tố bổ sung tội danh/khởi tố thêm bị
can.... Quan điểm, đánh giá của Kiểm sát viên
52 Ý kiến của Phó Viện trưởng, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân khu vực; của Phó Trưởng phòng, Trưởng phòng, Phó Viện trưởng phụ trách (ở
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh); của Phó Vụ trưởng, Vụ trưởng Vụ Công tố, kiểm sát điều tra (ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao)
Mẫu số 10/HS
|
VIỆN KIỂM SÁT...
VỤ/VIỆN KIỂM SÁT/PHÒNG……
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
|
……….53, ngày tháng năm 20...
|
BÁO CÁO TIẾN ĐỘ GIẢI QUYẾT
VỤ ÁN
(Lần thứ ………)
Kính gửi: …………………………………….
Tôi là: ……………………………………………………………………chức
danh: …………………….
Được phân công THQCT &
KSĐT vụ án: ………………………………………………………………
- Có bị can chính là:…………………………………………………… sinh
ngày………………………
- Ngày khởi tố vụ án: ………………………………………………………………………………………
- Cơ quan/Người có thẩm
quyền khởi tố: ……………………………………………………………….
- Ngày phục hồi điều tra (nếu có) …………………………………………………………………………
- Số bị can khởi tố: ……………về tội……………, trong đó: Số bị can tạm
giam:…………………….
Nội dung
1. Tóm tắt nội dung vụ án54
2. Quá trình tố tụng vụ án55
3. Những vấn đề bổ sung mới56
4. Hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết
vụ án của Kiểm sát viên57
5. Vướng mắc, khó khăn nếu có và đề xuất của Kiểm sát viên58
6. Những vấn đề cần tiếp tục yêu cầu điều tra59
7. Ý kiến của Lãnh đạo đơn vị60
_________________________
53 Ghi địa danh là tên tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở của Viện kiểm sát
54 Tóm tắt nội dung vụ án cho đến thời điểm làm báo cáo tiến độ
55 Nêu rõ các hoạt động tố tụng đến thời điểm báo cáo
56 So với báo cáo tiến độ lần trước (hoặc báo cáo án mới khởi
tố, báo cáo gia hạn điều tra...) thì đã điều tra thêm được những vấn đề gì có liên quan đến vụ án và
hành vi phạm tội của bị can (nêu tóm tắt những nội dung liên quan đã làm rõ được)
57 Báo cáo những hoạt động nghiệp vụ của Kiểm sát viên trong
quá trình điều tra (kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, giám định,
đối chất, nhận
dạng, hỏi cung, ghi lời khai, khám xét,...), kết quả từ các hoạt động này
58 Nêu cụ thể những vướng mắc và đề xuất cách giải quyết như: tổ chức họp, xin ý kiến
thỉnh thị, báo cáo cấp có thẩm quyền, những hoạt động cần phải tiến hành thêm...
59 Những vấn đề cần được tiếp tục yêu cầu điều tra làm rõ (kèm theo dự thảo Yêu cầu
điều tra)
60 Ý kiến của Phó Viện trưởng, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân khu vực; của Phó Trưởng phòng, Trưởng phòng,
Phó Viện trưởng phụ trách (ở Viện kiểm sát nhân
dân cấp tỉnh); của Phó Vụ trưởng, Vụ trưởng Vụ Công tố, kiểm sát điều tra (ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao); ký, ghi rõ họ tên Lãnh đạo
Mẫu số 11/HS
|
VIỆN KIỂM SÁT...
VỤ/VIỆN KIỂM SÁT/PHÒNG……
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
|
……….61, ngày tháng năm 20...
|
BÁO CÁO ĐỀ XUẤT
Áp dụng, thay đổi, hủy
bỏ các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn truy tố hoặc gia hạn thời hạn quyết
định việc truy tố62
Kính gửi: …………………………………………..
Tôi: …………………………………………………….………Chức
danh: ……………………………..
Được phân công thực hành
quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ án:
- Có bị can chính là:……………………………………………… sinh ngày
…………………………..
- Ngày khởi tố vụ án: ………………………………………………………………………………………
- Ngày phục hồi điều tra (nếu
có): ……………………………………………………………………….
- Số bị can khởi tố:………………, trong đó số bị can tạm
giam: …………………………………….
- Ngày Cơ quan, người có
thẩm quyền điều tra chuyển hồ sơ đề nghị truy tố: ……………………
Nội dung
1. Tóm tắt nội dung vụ án63
2. Quá trình tố tụng của vụ án và lý lịch bị can64
3. Nhận xét, đề xuất của Kiểm sát viên 65
4. Ý kiến của Lãnh đạo đơn vị66
_________________________
61 Ghi địa danh là tên tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở của Viện kiểm sát
62 Mẫu này cũng được áp dụng trong trường hợp đề xuất bắt bị
can để tạm giam phục vụ cho việc truy tố
63 Tóm tắt nội dung vụ án và hành vi phạm tội của bị can (hoặc
từng bị can) đang xem xét đề nghị ra lệnh tạm giam để truy tố hoặc vụ án đề nghị
gia hạn thời hạn quyết định việc truy tố
64 Quá trình tố tụng của vụ án và lý lịch bị can (chỉ nêu những đặc điểm chính
về nhân thân bị can)
65 Nhận xét, đề xuất của Kiểm sát viên: Trường hợp vụ án không
có bị can bị tạm giam thì lý do đề nghị gia hạn thời hạn quyết định việc truy tố?
Những vấn đề cần
làm trong thời gian gia hạn?; ký, ghi rõ họ tên người đề xuất
66 Ý kiến của Phó Viện trưởng, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân khu vực; của Phó Trưởng phòng, Trưởng phòng, Phó Viện trưởng phụ trách (ở
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh); của Phó Vụ trưởng, Vụ trưởng Vụ Công tố, kiểm sát điều
tra (ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao); ký, ghi rõ họ tên Lãnh đạo
Mẫu số 12/HS
|
VIỆN KIỂM SÁT...
VỤ/VIỆN KIỂM SÁT/PHÒNG……
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
|
……….67, ngày tháng năm 20...
|
BÁO CÁO ĐỀ XUẤT
Giải quyết trong giai
đoạn truy tố
Kính gửi: ………………………………………
Tôi: …………………………………………………………………..Chức
danh: ……………………….
Được phân công thực hành
quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ án:……………………….
- Có bị can chính là: ………………………………………………………………………………………
- Ngày khởi tố vụ án: ……………………………………………………………………………………..
- Cơ quan/Người có thẩm quyền khởi tố:
……………………………………………………………..
- Ngày chuyển vụ án đến để
điều tra theo thẩm quyền (nếu có): ………………………………….
- Ngày phục hồi điều tra (nếu
có): …………………………………………………………………….
- Số bị can khởi tố: …………….., trong đó số bị can tạm
giam: …………………………………….
- Ngày kết thúc điều tra vụ
án, ngày Viện kiểm sát nhận hồ sơ: ………………………………….
Nội dung
1. Tóm tắt nội dung vụ án68
2. Đề nghị của cơ quan, người có thẩm quyền điều tra
3. Đánh giá hành vi phạm tội của từng bị can69
4. Những vi phạm rút ra trong quá trình điều tra70
5. Nhận xét, đề xuất của Kiểm sát viên71
6. Ý kiến của Lãnh đạo đơn vị72
_________________________
67 Ghi địa danh là tên tỉnh, thành phố noi đặt trụ sở của Viện kiểm sát
68 Nêu nội dung vụ án: Thời gian, không gian, địa điểm xảy ra
vụ án; diễn biến việc thực hiện hành vi phạm tội của bị can (hoặc từng bị can);
hậu quả do tội phạm gây ra
69 Đánh giá hành vi phạm tội của từng bị can: Lý lịch bị can (chỉ nêu những đặc điểm chính
về nhân thân bị can), các căn cứ để xác định hành vi phạm tội của bị can hoặc từng bị can (nêu
tóm tắt nội dung những tài liệu, chứng cứ phản ánh liên quan đến việc xác định
hành vi phạm tội của bị can). Đối với vụ án có nhiều hành vi phạm tội thì Kiểm sát viên phải nêu lần
lượt theo thứ tự thời gian: lần thứ nhất hành vi thực hiện tội phạm như thế nào? những chứng cứ cụ thể để xác định hành
vi phạm tội trong lần này, sau đó mới nêu tiếp lần phạm tội thứ hai và các lần kế tiếp. Khi nêu hết
các hành vi thì nêu hậu quả do tội phạm gây ra của toàn vụ án, số lần phạm tội của từng bị
can (nếu vụ án có nhiều bị can) và hậu quả do từng bị can tham gia đã gây ra.
Nêu chứng cứ buộc tội, gỡ tội (nếu có)
70 Những vi phạm rút ra trong quá trình điều tra: Kiểm sát
viên phải nêu có hay không có nhũng vi phạm tố tụng trong quá trình điều tra vụ án của
cơ quan điều tra và của điều tra viên. Nếu có vi phạm thì nêu từng vi phạm cụ thể,
vi phạm đã được khắc phục hay chưa?
71 Đề xuất của Kiểm sát viên về giải quyết vụ án:
* Đã đủ chứng cứ để kết luận hành vi
phạm tội của bị can chưa?
* Nếu đủ chúng cứ thì bị
can (hoặc từng bị can) phạm tội gì? quy định ở điểm, khoản, điều luật hoặc văn bản hướng dẫn?
- Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ,
tiền án, tiền sự đối với bị can (hoặc từng bị can) nếu có?
- Những đối tượng khác có
liên quan trong vụ án nhưng không xem xét trách nhiệm hình sự là đối tượng cụ
thể nào? Vì sao không xem xét trách nhiệm hình sự?
- Những hành vi phạm pháp khác
bị can khai ra nhưng không kết luận là hành vi phạm tội? Lý do vì sao?
- Về vật chứng, tài sản
thu giữ hoặc kê biên trong vụ án là những cái gì? Đã xử lý những gì?
- Vấn đề dân sự trong vụ án hình sự (bị hại yêu cầu bồi thường
bao nhiêu? đã bồi
thường được bao nhiêu? Ai bồi thường...)
- Làm cáo trạng để truy tố
bị can ra toà, hay chuyển vụ án đến Viện kiểm sát khác để truy tố theo thẩm quyền?
- Đình chỉ hay tạm đình chỉ vụ án, bị can?
* Nếu không đủ hoặc chưa đủ
chứng cứ để kết luận hành vi phạm tội của bị can thì đề xuất giải quyết vụ án
như thế nào: trả hồ sơ để điều tra bổ sung, đình chỉ...?
72 Ý kiến của Phó Viện trưởng, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân khu vực; của Phó Trưởng phòng, Trưởng phòng, Phó Viện trưởng phụ trách (ở
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh); của Phó Vụ trưởng, Vụ trưởng Vụ Công tố, kiểm
sát điều tra (ở Viện kiểm sát nhân
dân tối cao); ký, ghi rõ họ tên Lãnh đạo.
Mẫu số 13/HS
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
BIÊN BẢN HỌP ĐÁNH GIÁ TÀI
LIỆU, CHỨNG CỨ73
Hồi….., ngày.... tháng.... năm
20...74, tại …………………………….75
Chúng tôi gồm:
1. Đồng chí:…………………………………. Chức danh: Kiểm
sát viên
2. Đồng chí:…………………………………. Chức danh: Điều tra viên
Cùng thống nhất đánh giá
tài liệu, chứng cứ trong việc giải quyết:
- Nguồn tin về tội phạm (tố
giác/tin báo về tội phạm/kiến nghị khởi tố/nguồn
tin về tội phạm khác): ……………………………………………………………………………………….
- Tiếp nhận, thụ lý ngày: ………………………………………………………………………………..
- Cơ quan thụ lý: …………………………………………………………………………………………
Nội dung
1. Tóm tắt nội dung nguồn tin về tội phạm76
2. Quan điểm đánh giá của Điều tra viên77
3. Quan điểm của Kiểm sát viên
4. Những nội dung cần tiếp tục kiểm tra, xác minh (nếu có)78
5. Ý kiến của Lãnh đạo đơn vị Viện kiểm sát, cơ quan, người có
thẩm quyền điều tra (nếu có)79
_________________________
73 Dùng trong trường hợp trước khi ra Quyết định khởi tố hoặc
không khởi tố vụ án hình sự hoặc Quyết định tạm đình
chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm
74 Thời gian để hai bên lập biên bản trao đổi, đánh giá chứng cứ là ít
nhất 10 ngày trước khi ra Quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự
hoặc Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm
75 Ghi địa danh là tên tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở của Viện
kiểm sát/Cơ quan điều tra.
76 Nêu tóm tắt nội dung nguồn tin về tội phạm (xuất phát từ nguồn thông
tin nào? thời gian, không gian, địa điểm xảy ra? người thực hiện hành vi theo đơn tố giác, tin báo; diễn
biến việc thực hiện hành vi, những vấn đề vướng mắc, khó khăn, biện pháp giải
quyết,...)
77 Quan điểm của Điều tra viên thụ lý về đường lối giải quyết
nguồn tin về tội phạm
78 Những vấn đề Điều tra viên, Kiểm sát viên đặt ra để tiếp tục
xác minh, kiểm tra chứng cứ, tài liệu làm cơ sở giải quyết tin báo đúng pháp luật, những vấn đề
cần lưu ý trong quá trình giải quyết tin báo (nếu có).
79 Ý kiến của Phó Viện trưởng, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân khu vực; của Phó Trưởng phòng, Trưởng phòng, Phó Viện trưởng phụ trách (ở
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh); của Phó Vụ trưởng, Vụ trưởng Vụ Công tố, kiểm sát điều
tra (ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao); ký, ghi rõ họ tên Lãnh đạo. Ý kiến của
Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT, Điều tra viên là Trưởng/Phó trưởng Công an cấp xã (nếu có).
Mẫu số 14/HS
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
BIÊN BẢN HỌP ĐÁNH GIÁ TÀI
LIỆU, CHỨNG CỨ80
Hồi………., ngày.... tháng.... năm
20...81, tại …………………………….82
Chúng tôi gồm:
1. Đồng chí:………………………………………. Chức danh:
Kiểm sát viên
2. Đồng chí:………………………………………. Chức danh:
Điều tra viên
Cùng thống nhất đánh giá
tài liệu, chứng cứ trong việc giải quyết:
- Vụ án: ……………………………………………………………………………………………
- Thụ lý ngày: …………………………………………………………………………………….
- Cơ quan thụ lý: …………………………………………………………………………………
Nội dung
1. Tóm tắt nội dung vụ án
2. Quan điểm đánh giá của Điều tra viên
3. Quan điểm của Kiểm sát viên
4. Những nội dung cần tiếp tục điều tra, yêu cầu xử lý vật chứng,
xử lý hành chính (nếu có)83
5. Ý kiến của Lãnh đạo đơn vị Viện kiểm sát, cơ quan, người có
thẩm quyền điều tra (nếu có)84
_________________________
80 Dùng trong trường hợp trước khi kết thúc điều tra hoặc ra
quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự, đình chỉ điều tra bị can, đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can
81 Thời gian để hai bên lập biên bản trao đổi, đánh giá chứng
cứ thực hiện theo Thông tư liên ngành trung ương (trong trường hợp kết thúc điều
tra đề nghị truy tố)
82 Ghi địa danh là tên tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở của Viện kiểm sát/Cơ quan điều tra
83 Những vấn đề Điều tra viên,
Kiểm sát viên đặt ra để tiếp tục điều tra, những
vấn đề cần lưu ý trong quá trình điều tra (nếu
có)
84 Ý kiến của Phó Viện trưởng, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân khu vực; của Phó Trưởng phòng, Trưởng phòng, Phó Viện trưởng phụ trách (ở Viện
kiểm sát nhân dân cấp tỉnh); của Phó Vụ trưởng, Vụ trưởng Vụ Công tố, kiểm sát
điều tra (ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao); ký, ghi rõ họ tên Lãnh đạo. Ý kiến của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT, Điều tra
viên là Trưởng/Phó trưởng Công an cấp xã (nếu có).
Mẫu số 15/HS
|
VIỆN KIỂM SÁT........
VỤ/VIỆN KIỂM SÁT/PHÒNG……
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
|
….….….85, ngày … tháng … năm 20...
|
KẾ HOẠCH
THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG
TỐ, KIỂM SÁT ĐIỀU TRA
- Vụ án: …………………………………………………………………………………………………..
- Có bị can chính là:…………………………………………………… sinh
ngày …………………..
- Ngày khởi tố vụ án: ……………………………………………………………………………………
- Cơ quan khởi tố: ……………………………………………………………………………………….
- Ngày chuyển vụ án đến để
điều tra theo thẩm quyền (nếu có): ………………………………….
- Ngày phục hồi điều tra
(nếu có): ……………………………………………………………………..
- Số bị can khởi tố:…………………… , trong đó: Số bị
can tạm giam: ……………………………
- Kiểm sát viên, Kiểm tra viên thực hành quyền
công tố, kiểm sát điều tra vụ án: …………………………………………………………………………………………………………….
- Ngày phân công: ………………………………………………………………………………………
Nội dung cụ thể
1. Tóm tắt nội dung vụ án
2. Kết quả điều tra ban đầu
3. Nội dung
- Nêu cụ thể từng nội dung
cần yêu cầu điều tra làm rõ;
- Biện pháp thực hiện Kế
hoạch thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra; việc phân công cụ thể từng Kiểm sát viên, Kiểm tra viên
(trong trường hợp vụ án có nhiều Kiểm sát viên cùng tham gia).
- Dự kiến thời gian thực
hiện các loại báo cáo và thời gian kết thúc điều tra vụ án.
4. Ý kiến đề xuất của Kiểm sát viên (nếu có)
|
Ý kiến của Lãnh đạo đơn vị
|
Kiểm sát viên
|
_________________________
85 Ghi địa danh là tên tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở của Viện kiểm sát.
Mẫu số 16/HS
|
VIỆN KIỂM SÁT86...
87……………………………
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số:…./QĐ-VKS…-…88
|
……….89, ngày … tháng … năm ...
|
THÔNG BÁO
Về việc sắp hết thời
hạn điều tra90
VIỆN KIỂM SÁT 2……………….
Căn cứ Điều 42 và Điều 172
(hoặc Điều 17491) của Bộ luật Tố tụng
hình sự;
Căn cứ Quyết định khởi tố
vụ án hình sự số ngày .... tháng .... năm ………
(Quyết định thay đổi/bổ
sung Quyết định khởi tố vụ án hình sự số…… ngày .... tháng .... năm ………, nếu có) của92…………. về tội ………….………….………….………….………….………….
quy định tại khoản….. Điều……. của Bộ luật Hình sự;
Qua thực hành quyền công tố,
kiểm sát điều tra vụ án, nhận thấy: Thời hạn điều tra vụ án sẽ hết vào ngày
.... tháng .... năm ………
Viện kiểm sát2…………. thông báo cho93…….
biết và tiến hành giải quyết theo quy định của Bộ
luật Tố tụng hình sự./.
|
Nơi nhận:
- 7…;
- 8…;
- Lưu HSVA, HSKS, VP.
|
TUQ. VIỆN TRƯỞNG
KIỂM SÁT VIÊN
|
_________________________
86 Ghi tên Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp hoặc Viện kiểm sát
nhân dân tối cao
87 Ghi tên Viện kiểm sát ban hành. Trường hợp Viện kiểm sát
nhân dân tối cao ban hành thì bỏ mục này
88 Viết tắt tên Viện kiểm sát ban hành - đơn vị phụ trách (nếu
có)
89 Ghi địa danh là tên tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở của Viện kiểm sát ban hành
90 Sử dụng trong các vụ án phức tạp, nhiều bị can, nhiều tội danh với khung
hình phạt khác nhau hoặc trong trường hợp cần thiết
91 Trường hợp vụ án phục hồi điều tra, điều tra bổ sung, điều tra lại
92 Ghi tên cơ quan, người có thẩm quyền ra Quyết định khởi tố
vụ án hình sự
93 Ghi tên cơ quan, người có thẩm quyền điều tra
Mẫu số 17/HS
|
VIỆN KIỂM SÁT94...
95……………………………
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số:…./QĐ-VKS…-…96
|
……….97, ngày … tháng … năm ...
|
THÔNG BÁO
Về việc sắp hết thời
hạn tạm giam để điều tra98
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN2………………..
Căn cứ Điều 42 và Điều 173
(hoặc Điều 17499) của Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 2015;
Căn cứ Quyết định khởi tố
vụ án hình sự số... ngày... tháng... năm... (Quyết định thay đổi/bổ sung Quyết
định khởi tố vụ án số….. ngày….. tháng…..năm……, nếu có) của100………. về tội………. quy định tại khoản………. Điều………….. của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ Quyết định khởi tố
bị can số………..
ngày………. tháng…….. năm………. (Quyết định thay đổi/bổ
sung Quyết định khởi tố bị can số………. ngày......tháng……. năm……. , nếu có) của101……………….. đối với102………………. về tội …………….. quy định tại khoản……. Điều……………. của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ Lệnh tạm giam/Lệnh
bắt bị can để tạm giam số.... ngày……..tháng…….. năm…… của103………………..;
Căn cứ Quyết định gia hạn
tạm giam lần thứ số... ngày... tháng...năm…….. của Viện kiểm sát104……………………..; (nếu có);
Qua thực hành quyền công tố
và kiểm sát điều tra vụ án, nhận thấy: Thời hạn tạm giam đối với bị can hoặc
các bị can trong vụ án sắp hết, cụ thể như sau:
1. Bị can:………………………………… bị tạm giam theo105……….. tại.......106
từ ngày.. tháng .... năm……… đến ngày……. tháng…….. năm………
2. Bị can:…………………………………;
Viện kiểm sát nhân dân2…………. thông báo cho107……. biết và tiến hành giải quyết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự./.
|
Nơi nhận:
- 14…
- Lưu HSVA, HSKS, VP.
|
TUQ. VIỆN TRƯỞNG
KIỂM SÁT VIÊN
(Ký tên, đóng dấu)
|
_________________________
94 Ghi tên Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp hoặc Viện kiểm sát
nhân dân tối cao
95 Ghi tên Viện kiểm sát ban hành. Trường hợp Viện kiểm sát
nhân dân tối cao ban hành thì bỏ mục này
96 Viết tắt tên Viện kiểm sát ban hành - đơn vị phụ trách (nếu
có)
97 Ghi địa danh là tên tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở của Viện kiểm sát nhân dân ban
hành
98 Sử dụng trong các vụ án phức tạp, nhiều bị can, áp dụng biện
pháp tạm giam vào nhiều thời điểm khác nhau hoặc trong trường hợp cần thiết
99 Trường hợp vụ án phục hồi điều tra, điều tra bổ sung, điều
tra lại
100 Ghi tên cơ quan, người có thẩm quyền ra Quyết định khởi tố
vụ án hình sự
101 Ghi tên cơ quan, người có thẩm quyền ra Quyết định khởi tổ
bị can
102 Ghi họ tên người hoặc tên pháp nhân bị khởi tố
103 Ghi tên cơ quan, người có thẩm quyền ra Lệnh
104 Ghi tên Viện kiểm sát gia hạn
105 Ghi rõ Lệnh tạm giam, Lệnh bắt bị can để tạm giam hoặc Quyết
định gia hạn thời hạn tạm giam.
106 Ghi tên cơ sở đang thi hành biện pháp tạm giam.
107 Ghi tên cơ quan, người có thẩm quyền điều tra
Mẫu số 18/HS
|
VIỆN KIỂM SÁT108...
109……………………………
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số:…./QĐ-VKS…-…110
|
……….111, ngày … tháng … năm 20...
|
THÔNG BÁO
Rút kinh nghiệm về thực hành quyền
công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ việc/ vụ án
Qua công tác thực hành quyền
công tố, kiểm sát việc giải quyết các vụ việc/vụ án112..., Viện kiểm
sát2……
nhận thấy việc giải quyết vụ việc/ vụ án…….của……….. tại……………… có vi phạm, cần thông báo rút kinh nghiệm, cụ thể như sau:
I. NỘI DUNG VỤ VIỆC, VỤ
ÁN
113……………………………………………………………………….
II. QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT
114……………………………………………………………………….
III. NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN
RÚT KINH NGHIỆM
115……………………………………………………………………….
Trên đây là vi phạm của…………… trong việc giải quyết
vụ việc/ vụ án.... Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thực hành quyền công
tố, kiểm sát việc giải quyết vụ việc, vụ án hình sự, Viện kiểm sát2…….. thông báo đến…………… cùng tham khảo và rút kinh nghiệm khi
thực hành quyền công tố, kiểm sát giải quyết vụ việc, vụ án tương tự.
|
Nơi nhận:
- Văn phòng, Vụ Pháp chế VKSTC;
-…………..;
- Lưu: VT, HSKS.
|
VIỆN TRƯỞNG116
(Ký tên, đóng dấu)
|
_________________________
108 Ghi tên Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp hoặc Viện kiểm sát
nhân dân tối cao
109 Ghi tên Viện kiểm sát ban hành. Trường hợp Viện kiểm sát
nhân dân tối cao ban hành thì bỏ mục này
110 Viết tắt tên Viện kiểm sát ban hành - đơn vị phụ trách (nếu có)
111 Ghi địa danh là tên tỉnh/thành phố nơi đặt trụ sở của Viện kiểm sát ban hành
112 Trích dẫn ngắn gọn nội dung vụ việc (nguồn cung cấp, thời
gian, địa điểm, hành vi có dấu hiệu tội phạm,...)/Ghi rõ theo Quyết định khởi tố vụ án
hình sự số ... ngày... tháng... năm...của...
113 Nêu tóm tắt nội dung vụ việc/vụ án. Trường hợp Thông báo
rút kinh nghiệm chung thì bỏ mục này
114 Phân tích, lập luận rõ ràng, cụ thể về vi phạm của cơ quan
tiến hành tố tụng trong việc giải quyết vụ việc, vụ án; lỗi của Viện kiểm sát cấp dưới trong
công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ việc, vụ án
115 Xác định rõ rút kinh nghiệm về chỉ đạo điều hành, kỹ năng
nghiệp vụ, áp dụng pháp luật
116 Trường hợp Phó Viện trưởng được Viện trưởng ủy quyền ký
thay thì ghi như sau:
“KT. VIỆN TRƯỞNG
PHÓ VIỆN TRƯỞNG”