|
THỦ
TƯỚNG CHÍNH PHỦ
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 612/QĐ-TTg
|
Hà Nội, ngày 04
tháng 4 năm 2026
|
QUYẾT ĐỊNH
PHÊ
DUYỆT ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG THỜI KỲ 2021 - 2030, TẦM
NHÌN ĐẾN NĂM 2050
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức
Chính phủ ngày 18 tháng 02 năm 2025;
Căn cứ Luật Quy hoạch
ngày 10 tháng 12 năm 2025;
Căn cứ Luật Quy hoạch
ngày 24 tháng 11 năm 2017; Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của 11 luật có Liên quan đến quy hoạch ngày 15 tháng 6 năm
2018; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 luật
có liên quan đến quy hoạch ngày 20 tháng 11 năm 2018; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quy hoạch,
Luật Đầu tư, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư và Luật Đấu thầu
ngày 29 tháng 11 năm 2024;
Căn cứ Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Quốc
hội về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm
2050; Nghị quyết số 252/2025/QH15 ngày 10
tháng 12 năm 2025 của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số
81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm 2023 của
Quốc hội về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm
2050;
Căn cứ Nghị quyết số 66.2/2025/NQ-CP ngày 28 tháng 8 năm 2025 của
Chính phủ quy định xử lý khó khăn, vướng mắc về việc điều chỉnh quy hoạch cấp
quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành
chính và tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp trong thời gian chưa ban hành Luật
Quy hoạch (sửa đổi);
Căn cứ Nghị định số 37/2019/NĐ-CP
ngày 07 tháng 5 năm 2019 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật Quy hoạch; Nghị định số 58/2023/NĐ-CP ngày 12 tháng 8 năm 2023 của Chính
phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 37/2019/NĐ-CP ngày 07 tháng 5 năm 2019 của
Chính phủ; Nghị định số 22/2025/NĐ-CP ngày 11
tháng 02 năm 2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 37/2019/NĐ-CP ngày 07 tháng 5 năm 2019 của Chính
phủ;
Căn cứ Quyết định số 368/QĐ-TTg ngày 04 tháng 5 năm 2024 của Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt Quy hoạch vùng đồng bằng sông Hồng thời kỳ 2021 - 2030,
tầm nhìn đến năm 2050;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính tại Tờ
trình số 103/TTr-BTC ngày 28 tháng 02 năm 2026, Văn bản số 3917/BTC-CLCS
ngày 31 tháng 3 năm 2026 về phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch vùng đồng bằng sông
Hồng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Báo cáo thẩm định số
12/BC-HĐTĐ ngày 28 tháng 02 năm 2026 của Hội đồng thẩm định điều chỉnh quy hoạch
vùng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 về hồ sơ Điều chỉnh Quy hoạch
vùng đồng bằng sông Hồng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt Điều chỉnh
Quy hoạch vùng đồng bằng sông Hồng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 với
những nội dung sau:
I. PHẠM VI, RANH GIỚI QUY HOẠCH
Phạm vi, ranh giới lập điều chỉnh quy hoạch vùng đồng
bằng sông Hồng bao gồm toàn bộ lãnh thổ đất liền của 06 tỉnh, thành phố: Thành
phố Hà Nội, thành phố Hải Phòng, các tỉnh Ninh Bình, Hưng Yên, Bắc Ninh, Quảng
Ninh; và phần không gian biển, đảo được xác định theo các quy định của pháp luật
có liên quan.
II. QUAN ĐIỂM, TẦM NHÌN, MỤC
TIÊU PHÁT TRIỂN
1. Quan điểm phát triển
a) Vùng đồng bằng sông Hồng là địa bàn chiến lược đặc
biệt quan trọng, là động lực phát triển hàng đầu, có vai trò dẫn dắt quá trình
cơ cấu lại nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng của đất nước để tạo đột
phá phát triển nhanh, bền vững. Phát triển vùng phải phát huy vai trò và khai
thác hiệu quả các thế mạnh về địa chính trị, địa kinh tế, điều kiện tự nhiên và
các giá trị văn hóa, lịch sử; các hành lang, vành đai kinh tế, cực tăng trưởng,
trung tâm kinh tế, hệ thống đô thị; phải bảo đảm phù hợp với chủ trương, đường
lối phát triển của Đảng và Nhà nước, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cả
nước giai đoạn 2021 - 2030, Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt
Nam, các chiến lược phát triển ngành, lĩnh vực quốc gia có liên quan; bảo đảm sự
tuân thủ, tính liên tục, kế thừa và sự phù hợp với quy hoạch tổng thể quốc gia
và các quy hoạch ngành quốc gia.
b) Phát triển và cơ cấu lại kinh tế vùng phải dựa
vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số để nâng cao năng suất,
chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của vùng; phải phát huy hiệu quả các trung
tâm nghiên cứu khoa học công nghệ, các trung tâm đổi mới sáng tạo và trung tâm
dữ liệu và khu công nghệ số hàng đầu quốc gia để chuyển đổi mô hình tăng trưởng
theo hướng công nghiệp và dịch vụ hiện đại, nông nghiệp công nghệ cao, hữu cơ,
xanh, tuần hoàn, bảo đảm vùng phát triển hiện đại, văn minh, sinh thái dẫn đầu
cả nước. Phát triển hiệu quả, bền vững kinh tế biển theo hướng tăng trưởng
xanh, bảo tồn đa dạng sinh học và các hệ sinh thái biển.
c) Đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế toàn diện, sâu
rộng và hiệu quả, tận dụng tối đa lợi thế từ các FTA thế hệ mới (CPTPP, EVFTA, RCEP...) để mở rộng thị trường, nâng cao khả
năng thích ứng và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Chủ động phát triển năng lực sản
xuất mới, gắn với chuỗi giá trị và cụm liên kết ngành, tăng sức chống chịu trước
biến động toàn cầu. Phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng
hàng đầu cho phát triển kinh tế vùng. Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư,
khuyến khích khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, tạo điều kiện thuận lợi để doanh
nghiệp mọi khu vực kinh tế phát triển và đóng góp tích cực cho tăng trưởng
vùng.
d) Phát triển kinh tế hài hoà với phát triển văn
hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa,
giá trị lịch sử, nhất là văn hóa đồng bằng Bắc Bộ. Coi văn hóa và các giá trị
truyền thống là nguồn lực phát triển hướng tới nâng cao đời sống vật chất, tinh
thần và hạnh phúc của Nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội, thu hẹp khoảng cách
phát triển giữa nông thôn và thành thị. Phát triển văn hóa, y tế, giáo dục và
đào tạo bảo đảm chất lượng cao, hiện đại, tương đương với các quốc gia phát triển
trong khu vực.
đ) Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện
đại, bảo đảm tổ chức không gian hợp lý, hiệu quả, thống nhất, liên kết nội
vùng, liên vùng, khu vực và quốc tế. Chú trọng việc kết nối các hành lang kinh
tế trong nước với các hành lang kinh tế của khu vực và quốc tế. Huy động hiệu
quả các nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng, hoàn thiện chính sách xã hội hóa và hợp
tác công tư. Ưu tiên bố trí nguồn lực cho các công trình động lực, có tính lan
tỏa, kết nối vùng. Phát triển kết cấu hạ tầng phải gắn với quản lý, khai thác
và sử dụng hiệu quả nhằm phát huy tối đa công suất, giá trị kinh tế - xã hội.
e) Tổ chức không gian phát triển vùng phải gắn kết
giữa khu vực đất liền với không gian biển; quản lý, khai thác và sử dụng hiệu
quả không gian ngầm, vùng biển, vùng trời. Phát triển không gian vùng gắn với sắp
xếp lại đơn vị hành chính, xây dựng mô hình chính quyền địa phương 2 cấp ở đô
thị lớn và vùng liên tỉnh. Ưu tiên phát triển các hành lang kinh tế kết nối
liên vùng, hành lang kinh tế Bắc - Nam; phát triển hành lang kinh tế ven biển
Quảng Ninh - Hải Phòng - Hưng Yên - Ninh Bình, tạo mạng lưới không gian phát
triển thông minh, liên thông và thích ứng cao. Phát triển không gian gắn với đổi
mới sáng tạo, chuyển đổi số, liên kết giữa các trung tâm nghiên cứu - đại học -
doanh nghiệp. Tổ chức hợp lý mạng lưới đô thị và phân bố dân cư, hướng tới phát
triển đô thị xanh - thông minh - đa trung tâm và nông thôn mới hiện đại. Đẩy
nhanh tiến độ các dự án đường sắt đô thị gắn với triển khai mô hình phát triển
đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD). Quản lý, khai thác không
gian ngầm đô thị gắn với nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ đất đô thị.
g) Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên, đặc biệt
là tài nguyên đất, nước, rừng, biển; tài nguyên số, không gian số; bảo đảm an
ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước; bảo vệ môi trường, bảo
tồn thiên nhiên và nâng cao chất lượng đa dạng sinh học, nhất là rừng ngập mặn;
chủ động phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh hợp
tác với các quốc gia thượng nguồn và các tổ chức quốc tế, các địa phương ngoại
vùng trong việc bảo vệ và sử dụng có hiệu quả tài nguyên nước ở lưu vực sông Hồng.
h) Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội
với bảo đảm quốc phòng, an ninh khu vực đất liền, biên giới, vùng trời, vùng biển
và hải đảo; giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội.
2. Tầm nhìn đến năm 2050
Đồng bằng sông Hồng là vùng phát triển hiện đại,
văn minh, sinh thái và thịnh vượng; là trung tâm kinh tế, tài chính lớn mang tầm
khu vực và thế giới; trung tâm hàng đầu của cả nước về văn hóa, giáo dục và đào
tạo, khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, xã hội số, y tế và
chăm sóc sức khỏe Nhân dân. Hình thành nền kinh tế tri thức, xanh, tuần hoàn và
các-bon thấp, lấy khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm
động lực chủ đạo. Phát triển các ngành công nghiệp với công nghệ hiện đại, chất
lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu;
phát triển các ngành, sản phẩm công nghiệp mới, công nghệ cao và chủ động trong
các khâu nghiên cứu, thiết kế, chế tạo. Phát triển các trung tâm dịch vụ lớn
mang tầm khu vực và thế giới về thương mại, du lịch, tài chính, logistics ở Hà
Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh. Phát triển nền nông nghiệp hiện đại, hiệu quả cao.
Phát triển hệ thống đô thị vùng theo hướng xanh, thông minh, bền vững và thích ứng
với biến đổi khí hậu, có cơ sở hạ tầng đồng bộ, hiện đại, có môi trường và chất
lượng sống đô thị cao, có vai trò, vị thế xứng đáng trong mạng lưới đô thị châu
Á - Thái Bình Dương. Thủ đô Hà Nội trở thành thành phố kết nối toàn cầu; kinh tế,
văn hóa, xã hội phát triển toàn diện, đặc sắc và hài hòa, tiêu biểu cho cả nước;
ngang tầm thủ đô các nước phát triển trong khu vực và thế giới.
Giai đoạn 2031 - 2050, phấn đấu tốc độ tăng trưởng
GRDP bình quân khoảng 7,5 - 8,0%/năm; đến năm 2050, GRDP bình quân đầu người
theo giá hiện hành đạt khoảng 48.000 - 50.000 USD; chỉ số phát triển con người
HDI đứng đầu cả nước.
3. Mục tiêu đến năm 2030
a) Mục tiêu tổng quát
Đồng bằng sông Hồng là vùng phát triển nhanh, bền vững,
có cơ cấu kinh tế hợp lý, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc; lấy khoa học, công
nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá, động lực chính để phát triển
kinh tế - xã hội; vùng có nền công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ hiện đại, thân
thiện với môi trường; đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân được nâng
cao, dẫn đầu cả nước; là trung tâm giáo dục, đào tạo nhân lực chất lượng cao của
cả nước; đi đầu về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số,
xã hội số; có hạ tầng đồng bộ, hiện đại, đô thị thông minh, có tính kết nối
cao; hình thành mạng lưới đô thị xanh, thông minh, thích ứng biến đổi khí hậu,
giải quyết cơ bản ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông và ngập úng đô thị. Thủ
đô Hà Nội phát triển theo hướng "Văn hiến - Văn minh - Hiện đại", trở
thành trung tâm hàng đầu về kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ,
đổi mới sáng tạo, đóng vai trò động lực thúc đẩy phát triển vùng và cả nước, phấn
đấu ngang tầm thủ đô các nước phát triển trong khu vực. Quốc phòng, an ninh được
giữ vững; đối ngoại và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, hiệu quả. Phấn đấu
đến năm 2030 trở thành vùng công nghiệp hiện đại, tiệm cận mức thu nhập cao.
b) Mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể
Phấn đấu trong kỳ quy hoạch đến năm 2030 đạt được
những chỉ tiêu chủ yếu sau đây:
- Về kinh tế:
+ Phấn đấu tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt
khoảng 11%/năm giai đoạn 2026 - 2030; quy mô GRDP vùng năm 2030 tăng khoảng 3,5
- 3,6 lần so với năm 2020 (giá hiện hành). GRDP bình quân đầu người theo giá hiện
hành đến năm 2030 đạt khoảng 12.300 USD - 12.500 USD/người;
+ Tỷ trọng trong GRDP của khu vực dịch vụ đạt khoảng
44,5%; công nghiệp - xây dựng khoảng 46,6% (trong đó công nghiệp chế biến, chế
tạo đạt khoảng 30 - 32% GRDP); nông, lâm, thủy sản đạt khoảng 3,1% GRDP; thuế sản
phẩm trừ trợ cấp chiếm khoảng 5,8% GRDP; kinh tế số đạt khoảng 35% GRDP;
+ Tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo
chiếm 50% tổng số doanh nghiệp hoạt động;
+ Tốc độ tăng năng suất lao động xã hội đạt trên
8,5%/năm;
+ Đóng góp bình quân của năng suất các nhân tố tổng
hợp (TFP) vào tăng trưởng giai đoạn 2021 - 2030 đạt trên 60%;
+ Tỷ lệ đô thị hóa đạt trên 55%. Diện tích sàn nhà ở
bình quân đầu người khu vực đô thị đạt khoảng 32 - 33 m2.
- Về xã hội:
+ Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt khoảng
0,83;
+ Tuổi thọ bình quân đạt 76 tuổi, trong đó thời
gian sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 68 năm;
+ Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ
đạt 48 - 52%. Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị duy trì ở mức dưới 3%. Tỷ trọng
lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội giảm xuống dưới 10%;
+ Số bác sĩ/vạn dân đạt 17 bác sĩ. Số giường bệnh/vạn
dân đạt 40 giường. Tỷ lệ giường bệnh tư nhân đạt 20%. Đạt bao phủ bảo hiểm y tế
toàn dân;
+ Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia
giai đoạn 2026 - 2030 giảm khoảng 0,2 - 0,3%/năm;
+ Phấn đấu 100% đơn vị hành chính cấp tỉnh có đủ 03
loại hình thiết chế văn hóa gồm trung tâm văn hóa hoặc trung tâm văn hóa - nghệ
thuật, bảo tàng và thư viện; có 70% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có
ít nhất 12% xã đạt chuẩn nông thôn mới hiện đại.
- Về bảo vệ môi trường:
+ Tỷ lệ hộ gia đình được sử dụng nước sạch theo quy
chuẩn ở thành thị đạt 100%, ở nông thôn đạt 95%;
+ Bảo đảm 100% khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm
công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn
môi trường;
+ Tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô
thị bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn đạt 95%; tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn
sinh hoạt nông thôn đạt 90%;
+ Tỷ lệ thu gom và xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn
theo quy định là trên 50% nước thải đối với các đô thị loại II trở lên và 20% đối
với các đô thị còn lại;
+ Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt đô thị được xử lý bằng
công nghệ chôn lấp trực tiếp trên tổng lượng chất thải được thu gom nhỏ hơn
10%;
+ Tỷ lệ chất thải nguy hại được thu gom, xử lý theo
quy định đạt 98%, trong đó chất thải y tế được xử lý đạt 100%;
+ Duy trì tỷ lệ che phủ rừng đạt 20,88%. Giảm 9% lượng
phát thải khí nhà kính.
- Về kết cấu hạ tầng:
+ Kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, hoàn thiện các
tuyến đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông đi qua địa bàn vùng, các tuyến đường
bộ kết nối, các tuyến vành đai vùng Thủ đô Hà Nội, đường bộ ven biển. Tập trung
mở rộng, nâng cấp Cảng hàng không Quốc tế Nội Bài; xây dựng, mở rộng các cảng
hàng không quốc tế Gia Bình, Cát Bi. Hoàn thiện hạ tầng các cảng biển Hải
Phòng, Quảng Ninh. Hoàn thành đưa vào khai thác các tuyến đường sắt đô thị tại
Hà Nội. Hạ tầng cấp điện, năng lượng bảo đảm cung ứng đủ nhu cầu sản xuất và
tiêu dùng, hạ tầng thông tin và truyền thông hiện đại tương đương trình độ của
các nước tiên tiến trên thế giới, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, phát triển
kinh tế số. Hoàn thiện hạ tầng thủy lợi, cấp nước, thoát nước và phòng chống
thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu;
+ Xây dựng được một số cơ sở khám, chữa bệnh chuyên
sâu, tầm cỡ quốc tế; xây dựng được ít nhất 01 trường đại học thuộc nhóm các trường
tốt nhất châu Á và 01 - 02 trường thuộc nhóm 500 trường tốt nhất thế giới.
- Về khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi số:
+ Kinh phí chi cho nghiên cứu phát triển (R&D)
đạt 3% GDP, trong đó kinh phí từ xã hội chiếm hơn 60%; bố trí ít nhất 3% tổng
chi ngân sách hằng năm cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo,
chuyển đổi số quốc gia và tăng dần theo yêu cầu phát triển. Hệ thống tổ chức
khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo được sắp xếp lại bảo đảm hiệu lực, hiệu
quả, gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu - ứng dụng - đào tạo;
+ Phát triển mạnh hạ tầng số, hạ tầng dữ liệu đi
trước một bước tạo nền tảng chuyển đổi số quốc gia, phát triển chính phủ số,
kinh tế số, xã hội số: 100% người sử dụng có khả năng truy nhập cáp quang với tốc
độ 1 Gb/s trở lên; mạng băng rộng di động 5G phủ sóng 99% dân số; số lượng kết
nối IoT đạt mức cao của cả nước, tối thiểu trung bình mỗi người dân 04 kết nối
IoT; tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến của người dân và doanh nghiệp đạt
trên 80%; tỷ lệ dân số trưởng thành có chữ ký số hoặc chữ ký điện tử cá nhân đạt
85 - 90%, phổ cập trong giao dịch điện tử, ngân hàng, bảo hiểm và y tế.
- Về quốc phòng, an ninh và đối ngoại:
+ Xây dựng, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân,
thế trận an ninh nhân dân gắn với thế trận lòng dân vững chắc, nhất là khu vực
phòng thủ của vùng và các địa phương trong vùng;
+ Bảo đảm vững chắc an ninh chính trị, trật tự, an
toàn xã hội, không bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Chủ động phát hiện, đấu
tranh, vô hiệu hóa mọi âm mưu, hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước của các thế lực
thù địch, phản động. Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế
- xã hội; gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội,
môi trường với củng cố quốc phòng, an ninh; ứng phó có hiệu quả các tình huống,
các mối đe dọa an ninh truyền thống, phi truyền thống; phòng ngừa, trấn áp và xử
lý hiệu quả các loại tội phạm, tệ nạn xã hội;
+ Triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả hoạt động
đối ngoại và hội nhập quốc tế, chủ động tham gia các sáng kiến liên kết, kết nối
với các nước trong khu vực, quốc tế; phát triển quan hệ thương mại ổn định, bền
vững với thị trường Trung Quốc, phát huy vị trí cửa ngõ kết nối của ASEAN, đa dạng
hóa đối tác thương mại, khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do. Làm
tốt công tác đối ngoại nhân dân, xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp
tác.
4. Các nhiệm vụ trọng tâm, đột phá
trong kỳ quy hoạch
a) Phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, kết
nối hiệu quả nội vùng, liên vùng và quốc tế, gắn với các hành lang kinh tế trọng
điểm của vùng đồng bằng sông Hồng. Tập trung hoàn thiện mạng lưới giao thông đa
phương thức kết nối Thủ đô Hà Nội với các trung tâm kinh tế, cảng biển, cảng
hàng không và khu kinh tế, khu công nghiệp của vùng, đặc biệt là các tuyến cao
tốc, các tuyến vành đai 4, vành đai 5 Hà Nội, cao tốc ven biển Ninh Bình - Hải
Phòng - Quảng Ninh, đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, đường sắt đô thị Hà Nội và
đường sắt kết nối liên vùng như Hà Nội - Quảng Ninh, Lào Cai - Hà Nội - Hải
Phòng, đường thủy nội địa và logistics... Đẩy nhanh tiến độ và hoàn thành dứt
điểm các công trình hạ tầng chiến lược, trọng điểm quốc gia về giao thông, năng
lượng, hạ tầng số và hạ tầng đô thị. Ưu tiên phát triển hạ tầng năng lượng sạch,
hạ tầng số, dữ liệu lớn và hạ tầng khoa học và công nghệ, phục vụ chuyển đổi
xanh, chuyển đổi số và phát triển kinh tế tri thức, bảo đảm đồng bằng sông Hồng
trở thành vùng đi đầu cả nước về hạ tầng hiện đại, liên kết và hội nhập.
b) Phát triển không gian kinh tế vùng đồng bằng
sông Hồng theo hướng mở, linh hoạt, gắn với các hành lang kinh tế, cực tăng trưởng
và chuỗi đô thị động lực (như Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh - Bắc Ninh) và
chuỗi giá trị ngành (công nghệ cao, công nghiệp điện tử, ô tô, chip bán dẫn,
logistics, nông nghiệp công nghệ cao, du lịch văn hóa...), liên kết vùng, quốc
gia và quốc tế. Hình thành các cực tăng trưởng, trung tâm đổi mới sáng tạo,
khoa học và công nghệ, khởi nghiệp và chuyển đổi số; phát triển mạnh hệ sinh
thái đổi mới sáng tạo, kết nối viện, trường, doanh nghiệp và quỹ đầu tư mạo hiểm.
Xây dựng các cụm liên kết ngành, trung tâm R&D, khu công nghệ cao, khu công
nghiệp, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với mạng lưới đô thị động lực
và các trung tâm logistics. Phát triển và nâng cao hiệu quả các khu kinh tế ven
biển, khu thương mại tự do, khu công nghiệp thông minh với hạ tầng xanh, hiện đại,
quản trị số. Thu hút đầu tư có chọn lọc vào các ngành công nghệ cao, thân thiện
môi trường, giá trị gia tăng lớn như điện tử, chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, sản
xuất ô tô, công nghiệp hỗ trợ, logistics, năng lượng tái tạo và kinh tế số, hướng
tới hình thành vùng kinh tế tri thức - công nghệ cao hàng đầu cả nước.
c) Đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, phát triển hệ thống
đô thị vùng đồng bằng sông Hồng hiện đại, bền vững, có khả năng cạnh tranh quốc
tế, đóng vai trò trung tâm trong mạng lưới đô thị quốc gia; kinh tế đô thị trở thành
động lực chủ yếu của tăng trưởng vùng. Hình thành cấu trúc không gian vùng đô
thị trung tâm Hà Nội, gắn với vùng động lực phía Bắc của quốc gia, kết nối với
các hành lang kinh tế Bắc - Nam, hành lang kinh tế ven biển, hành lang sông Hồng
và các đô thị vệ tinh. Phát triển hệ thống đô thị vệ tinh, đô thị công nghiệp -
dịch vụ - cảng biển - du lịch - đại học. Phát triển hạ tầng đô thị Hà Nội theo
hướng đô thị hiện đại, thông minh, xanh và bền vững như cấp, thoát nước, xử lý
rác thải, năng lượng sạch, ngầm hóa hạ tầng viễn thông, giao thông thông minh
và hạ tầng chống ngập, ứng phó với biến đổi khí hậu; hạ tầng đô thị được quy hoạch,
kết nối và vận hành theo mô hình vùng đô thị đa cực, đa trung tâm, dẫn dắt quá
trình chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và phát triển kinh tế tri thức. Đẩy mạnh đầu
tư đồng bộ đường sắt đô thị, từng bước xóa bỏ ùn tắc giao thông; đầu tư theo mô
hình TOD tại các cực đô thị - ga đường sắt - tuyến metro..., khai thác hiệu quả
không gian ngầm khu vực đô thị. Đồng thời, phát triển nhà ở xã hội gắn với các
khu công nghiệp, đô thị, đầu tư các trung tâm giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao
vùng, bảo đảm khả năng tiếp cận bình đẳng cho người dân đô thị và vùng ven.
d) Tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao, hình thành hệ sinh thái khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo làm nền tảng
cho tăng trưởng nhanh, bền vững. Xây dựng trung tâm đào tạo, nghiên cứu và đổi
mới sáng tạo vùng tại Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, gắn kết mạng lưới đại học,
viện nghiên cứu và doanh nghiệp; hình thành cụm liên kết đổi mới sáng tạo và
công nghiệp công nghệ cao (điện tử, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, sinh học, vật liệu
mới), hình thành một số trung tâm đào tạo nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng
cao cho cả nước. Đột phá trong đào tạo lại và nâng cao kỹ năng lao động, nhất
là nhân lực số, kỹ thuật và quản lý, đáp ứng chuyển đổi xanh và chuyển đổi số.
Tăng cường liên kết kinh tế, khoa học và công nghệ giữa các địa phương, thúc đẩy
chia sẻ dữ liệu, nền tảng số, chuyển giao công nghệ và thương mại hóa sản phẩm
nghiên cứu. Phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, hỗ trợ doanh nghiệp
công nghệ, hình thành quỹ đầu tư mạo hiểm vùng. Nâng cao năng lực quản trị, hấp
thụ công nghệ của doanh nghiệp, xây dựng trung tâm đổi mới sáng tạo mở cấp vừng.
đ) Tập trung bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của
nền văn minh sông Hồng làm nền tảng tinh thần cho phát triển bền vững và hình
thành công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới của vùng. Trọng
tâm là bảo tồn, tôn tạo và khai thác hiệu quả hệ thống di sản vật thể và phi vật
thể, các di tích, danh thắng, các trung tâm văn hóa, tôn giáo, lễ hội đặc trưng
vùng Bắc Bộ. Hình thành và phát triển các trục, cụm và trung tâm di sản, văn
hóa, du lịch liên vùng như Quảng Ninh - Hải Phòng - Hưng Yên - Bắc Ninh - Hà Nội
- Ninh Bình; xây dựng "trục văn hóa sông Hồng" làm không gian kết nối
văn hóa, du lịch, sáng tạo. Đột phá vào phát triển công nghiệp văn hóa, dịch vụ
văn hóa, khai thác di sản, nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, mỹ thuật, thiết kế,
quảng cáo, du lịch văn hóa và kinh tế số trong văn hóa. Thúc đẩy hệ sinh thái
sáng tạo vùng, xây dựng các trung tâm sáng tạo văn hóa, liên kết giữa nghệ sĩ,
doanh nghiệp, trường học và công nghệ. Phát huy giá trị văn hóa như nguồn lực nội
sinh, xây dựng bản sắc vùng và nâng tầm thương hiệu "văn minh sông Hồng"
trong hội nhập quốc tế.
e) Tập trung hoàn thiện thể chế điều phối và cơ chế
liên kết phát triển vùng nhằm bảo đảm phát triển thống nhất, đồng bộ và hiệu quả.
Trọng tâm là thể chế hóa vai trò, chức năng và quyền hạn của Hội đồng Điều phối
vùng, xây dựng cơ chế phối hợp giữa Trung ương và các địa phương trong quy hoạch,
đầu tư, phân bổ nguồn lực và giám sát thực hiện, đảm bảo tinh gọn, vận hành
linh hoạt, hiệu quả. Đột phá vào việc ban hành cơ chế, chính sách đặc thù cho
vùng về tài chính, ngân sách, đầu tư theo phương thức đối tác công tư, phát triển
hạ tầng liên vùng, bảo vệ môi trường và chuyển đổi xanh. Hình thành hệ thống
thông tin, dữ liệu vùng thống nhất, phục vụ điều hành, dự báo và quản lý phát
triển theo thời gian thực. Tăng cường phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm tra,
giám sát và phối hợp liên ngành, bảo đảm tính chủ động, sáng tạo của địa phương
nhưng gắn chặt với mục tiêu chung của vùng. Thúc đẩy cơ chế điều phối phát triển
hạ tầng, các cụm liên kết ngành, phát triển đô thị, công nghiệp, logistics,
giáo dục, y tế và xử lý các vấn đề môi trường, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm và đảm
bảo an ninh nguồn nước theo không gian liên tỉnh, tạo hiệu ứng lan tỏa.
g) Tăng cường năng lực hội nhập và kết nối quốc tế,
tập trung phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng, làm nền tảng
tăng trưởng nhanh, bền vững. Hợp tác liên vùng trong xúc tiến đầu tư, thương mại,
du lịch, tận dụng cơ hội từ các FTA thế hệ mới (CPTPP,
EVFTA, RCEP...).
Kết nối với các hành lang kinh tế quốc tế (Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải
Phòng; Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội) và hành lang kinh tế ven biển. Thu hút các
tập đoàn đa quốc gia, phát triển các trung tâm logistics, tài chính, thương mại
quốc tế... trên địa bàn vùng.
III. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ PHÂN
BỐ KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH, LĨNH VỰC CÓ LỢI THẾ
1. Công nghiệp
Phát triển công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng trở
thành trung tâm công nghiệp công nghệ cao, chế biến, chế tạo hàng đầu của cả nước,
đóng vai trò đầu tàu trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa quốc gia:
- Phát triển nền công nghiệp hiện đại, công nghệ
cao, có khả năng cạnh tranh quốc tế và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu,
lấy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh làm động lực chủ đạo. Đẩy
mạnh công nghiệp chế biến, chế tạo, từng bước làm chủ công nghệ lõi, công nghệ
nền, hình thành năng lực sản xuất mới, tự chủ, thích ứng cao. Ưu tiên phát triển
các ngành điện tử, cơ điện tử, chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, sản xuất robot,
công nghiệp số và tự động hóa, tập trung chủ yếu tại Hà Nội, Bắc Ninh, Hải
Phòng và mở rộng ra Hưng Yên, Quảng Ninh, Ninh Bình. Tập trung phát triển công
nghiệp đường sắt trở thành ngành công nghiệp chiến lược, mũi nhọn tại Hải Phòng
và Hà Nội.
- Tập trung hình thành các cụm liên kết ngành, vành
đai công nghiệp - đô thị - dịch vụ dọc theo vành đai 4, vành đai 5 và hành lang
kinh tế Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, gắn kết với vùng trung du và
miền núi phía Bắc. Phát triển mạnh công nghiệp chế biến sâu, chất lượng cao, đặc
biệt là chế biến nông sản, thực phẩm, dược liệu và sản phẩm sinh học; hoàn thiện
chuỗi cung ứng sản phẩm từ nguyên liệu, phụ liệu, thiết kế, sản xuất đến thương
mại, logistics ra thị trường quốc tế.
- Đẩy mạnh phát triển công nghiệp vật liệu cơ bản,
vật liệu mới, công nghiệp xanh và công nghiệp năng lượng sạch, tập trung chủ yếu
tại Hải Phòng, Quảng Ninh và các khu kinh tế ven biển. Hình thành trung tâm
công nghiệp hóa dược, mỹ phẩm và sản phẩm sinh học ứng dụng công nghệ cao, từng
bước trở thành cụm công nghiệp hóa dược, mỹ phẩm hàng đầu cả nước.
- Phát triển công nghiệp ô tô và cơ khí chế tạo
thông minh tập trung tại Hải Phòng, Ninh Bình gắn với chuỗi cung ứng linh kiện,
vật liệu và hệ thống logistics. Di dời các cơ sở công nghiệp thâm dụng lao động,
dệt may, da giày ra khu vực phía Nam sông Hồng và các khu vực vệ tinh để giảm
áp lực môi trường, đồng thời mở rộng không gian phát triển công nghiệp công nghệ
cao tại vùng trung tâm và ven đô thị lớn.
- Đẩy mạnh phát triển khu công nghiệp, khu công nghệ
cao, khu công nghiệp sinh thái theo hướng hiện đại, áp dụng chuyển đổi số trong
quản lý hạ tầng, tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải. Gắn phát triển công
nghiệp với phát triển đô thị, dịch vụ, nguồn nhân lực chất lượng cao và hạ tầng
logistics hiện đại.
2. Dịch vụ
Xây dựng vùng Đồng bằng sông Hồng trở thành trung
tâm dịch vụ và công nghiệp văn hóa hàng đầu cả nước:
- Phát triển vùng trở thành trung tâm dịch vụ hiện
đại, đa dạng, hội nhập quốc tế, có sức cạnh tranh khu vực Đông Nam Á. Hình
thành mạng lưới trung tâm dịch vụ, trong đó: Thủ đô Hà Nội là trung tâm dịch vụ
tài chính - ngân hàng, thương mại, giáo dục, y tế, đổi mới sáng tạo, du lịch chất
lượng cao mang tầm khu vực và quốc tế; thành phố Hải Phòng là trung tâm
logistics, thương mại cảng biển quốc tế hiện đại; Quảng Ninh là trung tâm du lịch,
dịch vụ nghỉ dưỡng và kinh tế biển; các tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Phòng phát
triển mạnh dịch vụ công nghiệp, logistics, thương mại số. Tăng cường liên kết
giữa các trung tâm dịch vụ vùng với các hành lang kinh tế Bắc - Nam và Lào Cai
- Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, tạo chuỗi giá trị dịch vụ liên vùng và quốc
tế.
- Phát triển thương mại hiện đại và hạ tầng thương
mại đồng bộ, gắn với chuỗi phân phối toàn cầu; mở rộng xuất khẩu hàng hóa
thương hiệu vùng thông qua hệ thống bán lẻ quốc tế. Đẩy mạnh thương mại điện tử,
thương mại số và dịch vụ tài chính số, gắn với xây dựng hạ tầng dữ liệu,
logistics và thanh toán điện tử. Hình thành các trục Thương mại - logistics chiến
lược, gắn với các hành lang kinh tế Bắc - Nam (Lạng Sơn - Hà Nội - Ninh Bình),
hành lang kinh tế Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, hành lang kinh tế
ven biển Ninh Bình - Hưng Yên - Hải Phòng - Quảng Ninh.
- Đẩy mạnh, đột phá trong phát triển du lịch chất
lượng cao, xanh, bền vững. Ưu tiên phát triển các sản phẩm du lịch mang đặc
trưng riêng của vùng như tham quan và trải nghiệm di sản thế giới Vịnh Hạ Long
(Quảng Ninh), Quần thể danh thắng Tràng An (Ninh Bình), Hoàng thành Thăng Long
(Hà Nội); Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc;
du lịch tìm hiểu văn hóa, tín ngưỡng dân gian; du lịch làng nghề, lễ hội; du lịch
đô thị gắn với công nghiệp văn hóa và kinh tế ban đêm. Hình thành các trung tâm
du lịch đặc trưng riêng có của vùng như Thủ đô Hà Nội và phụ cận; Tăng cường liên
kết khai thác tài nguyên du lịch và tận dụng lợi thế về kết cấu hạ tầng theo
các cụm như cụm du lịch biển đảo Hải Phòng - Quảng Ninh với hạt nhân là Vịnh
Lan Hạ - Hạ Long - Bái Tử Long; cụm du lịch tâm linh, sinh thái phía Nam sông Hồng
với hạt nhân là Chùa Hương, Tam Chúc, Tràng An - Bái Đính. Liên kết với vùng Bắc
Trung Bộ, với Trung Quốc theo hành lang du lịch Bắc - Nam phía Đông, vành đai
kinh tế vịnh Bắc Bộ (Quảng Ninh - Hải Phòng - Hưng Yên - Ninh Bình); với vùng
Trung du và miền núi phía Bắc theo hành lang du lịch Đông - Tây phía Bắc trên
cơ sở hành lang kinh tế Điện Biên - Sơn La - Phú Thọ - Hà Nội.
- Phát triển dịch vụ khoa học và công nghệ, giáo dục
và đào tạo, y tế, logistics chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển của vùng
và cả nước. Xây dựng các khu giáo dục và đào tạo, y tế và đổi mới sáng tạo tại
Thủ đô Hà Nội, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hải Phòng, gắn với mạng lưới đại học và bệnh
viện chuyên sâu cấp vùng.
- Phát triển dịch vụ văn hóa, công nghiệp văn hóa,
dịch vụ xã hội hiện đại, khai thác giá trị văn minh sông Hồng làm nền tảng và
mang bản sắc riêng có của vùng. Nâng cấp các bảo tàng, nhà hát, trung tâm điện ảnh
tại Hà Nội và các đô thị lớn trong vùng, thúc đẩy kinh tế sáng tạo, nghệ thuật
biểu diễn, điện ảnh, mỹ thuật, thiết kế, quảng cáo và truyền thông số. Bảo tồn,
phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, nâng cao chất lượng hiệu quả sáng
tạo giá trị văn hóa mới, rút ngắn khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa thành thị
và nông thôn.
3. Nông nghiệp
Phát triển vùng đồng bằng sông Hồng trở thành vùng
nông nghiệp sinh thái, công nghệ cao và đa giá trị của cả nước, là trung tâm
cung ứng sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, thực phẩm an toàn và nông sản xuất
khẩu chủ lực, đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm an ninh lương thực, an ninh
sinh thái và phát triển nông thôn hiện đại của quốc gia:
- Phát triển nền nông nghiệp sinh thái, công nghệ
cao, hữu cơ và tuần hoàn, gắn với xây dựng nông thôn mới hiện đại, nông dân văn
minh, bảo đảm hiệu quả, bền vững và giá trị gia tăng cao. Cơ cấu lại sản xuất
nông nghiệp theo hướng kinh tế nông nghiệp xanh, thông minh và được số hóa, gắn
kết chặt chẽ với công nghiệp chế biến, logistics, thương mại và du lịch sinh
thái, tạo việc làm tại chỗ, nâng cao thu nhập nông dân và thúc đẩy quá trình đô
thị hóa nông thôn.
- Bảo đảm diện tích đất trồng lúa để bảo đảm an
ninh lương thực của vùng và quốc gia và một phần cho xuất khẩu, đồng thời chuyển
mạnh sang sản xuất lúa hàng hóa chất lượng cao, hữu cơ, phát thải thấp; đến năm
2030, tỷ lệ lúa chất lượng cao đạt trên 65%. Phát triển rau, củ, quả, hoa và
cây dược liệu ứng dụng công nghệ cao, sản xuất theo tiêu chuẩn an toàn, có truy
xuất nguồn gốc, hướng tới xuất khẩu. Mở rộng vùng sản xuất rau, quả tập trung
quy mô lớn tại Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Phòng, Ninh Bình và vùng ven Hà Nội; cây
dược liệu tại Hải Phòng, Hưng Yên, Ninh Bình; hoa công nghệ cao tại Quảng Ninh,
Hải Phòng, Hưng Yên, Ninh Bình và ngoại thành Hà Nội.
- Phát triển chăn nuôi tập trung, an toàn sinh học,
công nghệ cao, ưu tiên chăn nuôi lợn, bò thịt, bò sữa gắn với chế biến và bảo vệ
môi trường. Hình thành các vùng chăn nuôi hàng hóa, khu hợp tác xã chăn nuôi,
trang trại hiện đại tại Hưng Yên, Ninh Bình và vùng ven Hà Nội, áp dụng công
nghệ số trong quản lý chuồng trại và truy xuất sản phẩm.
- Phát triển mạnh nuôi trồng thủy sản sinh thái,
công nghệ cao, kết hợp bảo vệ môi trường nước và đa dạng sinh học. Mở rộng vùng
nuôi thủy sản nước ngọt, đặc sản nội đồng tại các tỉnh, thành phố Hải Phòng,
Hưng Yên, Ninh Bình; ổn định vùng nuôi nước mặn, nước lợ ven biển, đồng thời
phát triển nuôi biển công nghiệp và thủy sản sinh thái vùng đảo Quảng Ninh, Hải
Phòng, hướng tới xuất khẩu và chế biến sâu.
- Đầu tư phát triển hạ tầng và dịch vụ hậu cần nghề
cá vùng vịnh Bắc Bộ, xây dựng Trung tâm nghề cá tại Hải Phòng, mở rộng mạng lưới
hậu cần nghề cá tại các đảo và cảng cá tại Quảng Ninh, Hải Phòng, gắn với phát
triển kinh tế biển xanh, khai thác bền vững và quản lý ngư trường hiện đại.
4. Kinh tế biển
Phát triển kinh tế biển hiện đại, xanh, đa chức
năng và liên kết cao, gắn kết chặt chẽ giữa kinh tế ven biển với kinh tế nội địa
và liên vùng; lấn biển tại các khu vực phù hợp để mở rộng không gian phát triển.
Hình thành chuỗi đô thị - công nghiệp - dịch vụ biển dọc hành lang Quảng Ninh -
Hải Phòng - Hưng Yên - Ninh Bình, kết nối đồng bộ với vùng trung du và miền núi
phía Bắc, vùng Bắc Trung Bộ và các hành lang kinh tế quốc gia, tạo động lực
tăng trưởng lan tỏa cho toàn vùng.
IV. PHƯƠNG ÁN PHÁT TRIỂN, SẮP XẾP,
LỰA CHỌN VÀ PHÂN BỔ KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN TRÊN LÃNH THỔ VÙNG
Tổ chức các hoạt động kinh tế - xã hội của vùng
thành 02 tiểu vùng (phía Bắc sông Hồng và phía Nam sông Hồng) với 01 vùng động
lực quốc gia, 04 cực tăng trưởng và 05 hành lang kinh tế (02 hành lang kết nối
quốc tế; 03 hành lang kết nối vùng).
1. Định hướng phát triển các tiểu
vùng
a) Tiểu vùng phía Bắc, gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng
Ninh, Hưng Yên (Bắc Hưng Yên), Bắc Ninh. Phát triển tiểu vùng phía Bắc gắn với
vùng Thủ đô Hà Nội, trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, đồng thời là cực
tăng trưởng và hạt nhân của vùng động lực phía Bắc.
Tập trung phát triển công nghiệp công nghệ cao,
công nghiệp chế biến, chế tạo có giá trị gia tăng lớn, đặc biệt các lĩnh vực điện
tử, cơ điện tử, chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, sản xuất robot, thiết bị số và
vật liệu mới; hình thành chuỗi công nghiệp - đô thị - dịch vụ hiện đại dọc các
trục vành đai 4, vành đai 5 và hành lang kinh tế Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng -
Quảng Ninh. Phát triển mạnh dịch vụ thương mại, tài chính - ngân hàng,
logistics, viễn thông, du lịch quốc tế; xây dựng Hà Nội trở thành thành phố kết
nối toàn cầu, ngang tầm thủ đô các nước phát triển trong khu vực; Hải Phòng, Quảng
Ninh là trung tâm kinh tế biển, dịch vụ cảng biển, công nghiệp đóng tàu và du lịch
biển, đảo hiện đại. Phát huy vai trò trung tâm quốc gia về giáo dục, đào tạo,
khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và y tế chuyên sâu; dẫn đầu cả nước về
phát triển kinh tế tri thức, kinh tế số, xã hội số. Phát triển hài hòa giữa
kinh tế và xã hội, gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - bảo vệ môi trường
- bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự xã hội, hướng tới xây dựng không gian
phát triển bền vững, thông minh, xanh và có sức lan tỏa toàn vùng.
b) Tiểu vùng phía Nam, gồm: Hưng Yên (Nam Hưng Yên)
và Ninh Bình. Phát triển tiểu vùng phía Nam theo hướng công nghiệp - nông nghiệp
- dịch vụ ven biển, gắn với hành lang kinh tế Bắc Trung Bộ và vùng duyên hải Bắc
Bộ, hình thành chuỗi đô thị - công nghiệp - dịch vụ ven biển.
Tập trung phát triển các khu kinh tế ven biển, khu
công nghiệp sinh thái, thu hút đầu tư vào công nghiệp bảo quản, chế biến nông sản,
công nghiệp hỗ trợ, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, vật liệu mới; hình
thành các trung tâm sản xuất và trung chuyển năng lượng gió, mặt trời ven biển.
Phát triển nông nghiệp công nghệ cao, hữu cơ, tuần hoàn, gắn kết với công nghiệp
chế biến sâu và logistics nông nghiệp; xây dựng vùng này thành trung tâm cung ứng
thực phẩm an toàn và du lịch sinh thái nông nghiệp của cả vùng. Đẩy mạnh du lịch
văn hóa, tâm linh, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng biển đảo gắn với các di sản,
danh lam thắng cảnh của Hưng Yên, Ninh Bình; phát triển dịch vụ vận tải, kho
bãi, logistics liên vùng, tăng cường kết nối với tiểu vùng Bắc Trung Bộ. Chú trọng
bảo vệ môi trường sinh thái vùng bờ, quản lý tài nguyên nước, đất và hệ sinh
thái rừng ngập mặn, bảo tồn và phục hồi rừng phòng hộ ven biển, bảo đảm phát
triển bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.
2. Định hướng phát triển vùng động
lực và cực tăng trưởng
a) Vùng động lực
Phát triển vùng động lực, bao gồm thành phố Hà Nội
và các địa bàn gắn với các tuyến đường vành đai 4, vành đai 5, các trục quốc lộ
5 và quốc lộ 18, các tuyến cao tốc CT01, CT04, CT05, CT07, CT09 qua thành phố Hải
Phòng và các tỉnh Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình; trong đó, Thủ đô
Hà Nội là cực tăng trưởng trung tâm. Vùng động lực này giữ vai trò là vùng động
lực phía Bắc của quốc gia, đầu tàu phát triển công nghiệp, dịch vụ, khoa học và
công nghệ và đổi mới sáng tạo của vùng Đồng bằng sông Hồng và cả nước, tạo động
lực lan tỏa ra toàn miền Bắc.
- Tập trung phát triển các ngành dịch vụ hiện đại,
chất lượng cao, đặc biệt là tài chính, ngân hàng, logistics, thương mại, du lịch,
y tế chuyên sâu, giáo dục và đào tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân lực số;
hình thành trung tâm dịch vụ lớn mang tầm khu vực và quốc tế. Phát triển các
ngành công nghiệp mũi nhọn, công nghệ cao, công nghiệp điện tử, chip bán dẫn,
trí tuệ nhân tạo, sản xuất ô tô, công nghiệp hỗ trợ và sản xuất thông minh,
tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Mở rộng phát triển nông nghiệp công
nghệ cao, nông nghiệp sạch và nông nghiệp đô thị hiện đại, gắn với chuỗi cung ứng
và du lịch nông nghiệp. Phát triển khu thương mại tự do và các loại hình khu chức
năng theo mô hình mới phù hợp với xu thế chung của thế giới, có môi trường hấp
dẫn vượt trội để tạo động lực phát triển mới.
- Đẩy mạnh phát triển mạng lưới đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi số, hình thành trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia, trung tâm nghiên
cứu R&D, khu công nghệ cao và khu đô thị sáng tạo, đưa vùng đi đầu trong
khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, xã hội số và chính quyền số.
- Thúc đẩy đô thị hóa nhanh, bền vững, phát triển hệ
thống hạ tầng đồng bộ, giao thông liên vùng, liên tỉnh và hạ tầng số hiện đại,
nâng cao hiệu quả kinh tế đô thị, liên kết chuỗi đô thị Hà Nội - Hải Phòng - Quảng
Ninh - Bắc Ninh - Hưng Yên. Xây dựng Thủ đô Hà Nội là trung tâm kinh tế, tài
chính, thương mại, đổi mới sáng tạo hàng đầu quốc gia, có sức cạnh tranh quốc tế;
phát triển khu vực Hải Phòng, Quảng Ninh trở thành trung tâm kinh tế biển hiện
đại, cửa ngõ quốc tế phía Bắc, gắn với cảng cửa ngõ Lạch Huyện, phát triển dịch
vụ cảng, vận tải biển, dịch vụ logistics, du lịch biển - đảo, năng lượng tái tạo
và công nghệ sinh học biển.
- Xây dựng vùng Thủ đô Hà Nội trở thành vùng phát
triển kinh tế tổng hợp mang tầm khu vực châu Á - Thái Bình Dương, là trung tâm
quản trị, thương mại, tài chính, đào tạo, khoa học và công nghệ và văn hóa - lịch
sử quốc gia; phát huy vai trò là đầu mối liên kết và lan tỏa phát triển vùng.
- Hình thành trục phát triển sông Hồng, là trục cảnh
quan sinh thái - văn hóa chủ đạo kết nối Thủ đô Hà Nội với các đô thị phía Bắc
và phía Nam sông Hồng, gắn kết chặt chẽ với Vùng Thủ đô và các hành lang kinh tế
quốc gia, quốc tế, tạo bản sắc và động lực phát triển bền vững cho toàn vùng.
b) Các cực tăng trưởng
- Thành phố Hà Nội là cực tăng trưởng trung tâm, đầu
tàu dẫn dắt phát triển của vùng và cả nước, giữ vai trò hạt nhân trong hệ sinh
thái đổi mới sáng tạo, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo và tài chính
quốc gia. Hà Nội được định hướng trở thành thành phố toàn cầu, trung tâm kinh tế,
giáo dục, y tế, công nghệ, dịch vụ chất lượng cao và văn hóa - sáng tạo của khu
vực Đông Nam Á; là đầu mối điều phối liên kết vùng, lan tỏa phát triển tới các
đô thị vệ tinh và các địa phương trong vùng.
- Thành phố Hải Phòng là cực tăng trưởng công nghiệp,
dịch vụ và logistics hàng đầu miền Bắc, giữ vai trò tiên phong trong phát triển
công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế tạo, công nghiệp hỗ trợ và dịch vụ cảng
biển quốc tế. Hải Phòng là cửa ngõ giao thương quốc tế của vùng và quốc gia, gắn
với cảng cửa ngõ Lạch Huyện và các hành lang kinh tế Lào Cai - Hà Nội - Hải
Phòng - Quảng Ninh, đồng thời là trung tâm logistics, năng lượng và kinh tế biển
hiện đại.
- Tỉnh Quảng Ninh là cực tăng trưởng đa ngành,
trung tâm kinh tế biển - du lịch - dịch vụ - công nghiệp xanh của vùng và quốc
gia, giữ vai trò là một trong những đầu tàu về phát triển kinh tế dịch vụ, du lịch
quốc tế, kinh tế số và kinh tế tuần hoàn, gắn với hạt nhân du lịch Hạ Long - Vân
Đồn - Cô Tô và khu vực cảng biển, khu kinh tế ven biển. Quảng Ninh là động lực
thúc đẩy phát triển kinh tế xanh và kinh tế biển bền vững, đồng thời là cửa ngõ
giao thương quốc tế phía Đông Bắc của quốc gia.
- Tỉnh Bắc Ninh là cực tăng trưởng công nghiệp công
nghệ cao và công nghiệp hỗ trợ trọng điểm của vùng, trung tâm sản xuất điện tử,
chip bán dẫn, thiết bị công nghệ số và cơ khí chính xác, giữ vai trò mắt xích
chiến lược trên hành lang phát triển Bắc - Nam dọc theo trục quốc lộ 1A và Đông
- Tây dọc theo trục quốc lộ 18 và vành đai 4. Cùng với Hà Nội, Hải Phòng và
Hưng Yên, Bắc Ninh hình thành trung tâm đổi mới sáng tạo, công nghiệp công nghệ
cao, logistics và trung chuyển hàng hóa cấp vùng; đồng thời phát triển giáo dục
- đào tạo kỹ thuật, y tế, văn hóa - du lịch - thể thao, nông nghiệp công nghệ
cao và hạ tầng năng lượng bền vững. Đặc biệt, Cảng Hàng không quốc tế Gia Bình
và hành lang kết nối với Thủ đô Hà Nội tạo động lực hình thành cực phát triển mới
của vùng Bắc Bộ trong mạng lưới hạ tầng quốc gia.
3. Định hướng phát triển các
hành lang kinh tế
a) Hành lang kinh tế Bắc - Nam (Bắc Ninh - Hà Nội -
Ninh Bình)
- Hình thành trên cơ sở đường bộ cao tốc Bắc - Nam
phía Đông, quốc lộ 1A, đường sắt Bắc - Nam và đường sắt tốc độ cao trong tương
lai, kết nối các vùng động lực quốc gia và các trung tâm kinh tế, đô thị lớn.
Đây là trục phát triển kinh tế chủ đạo phía Tây vùng đồng bằng sông Hồng, tạo
tác động lan tỏa thúc đẩy sự phát triển của khu vực phía Tây và dải ven biển.
- Tập trung phát triển công nghiệp và dịch vụ chất
lượng cao, giá trị gia tăng lớn, các trung tâm khoa học và công nghệ, giáo dục
và đào tạo, y tế chuyên sâu, hiện đại, gắn với các trung tâm đô thị cấp quốc
gia và các chuỗi đô thị vệ tinh trên tuyến hành lang. Mở rộng phát triển đô thị
và hệ thống khu, cụm công nghiệp, trung tâm logistics, dịch vụ và du lịch gắn kết
chặt chẽ với các cảng hàng không quốc tế Nội Bài, Gia Bình và các cảng biển Hải
Phòng, Quảng Ninh, hình thành hành lang công nghiệp - đô thị - dịch vụ xanh,
thông minh và bền vững.
b) Hành lang kinh tế Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng -
Quảng Ninh
- Là trục kết nối chủ đạo và động lực tăng trưởng
chiến lược của vùng; hành lang kết nối vùng Trung du và miền núi phía Bắc với
vùng đồng bằng sông Hồng và với các trung tâm kinh tế, cảng biển lớn của cả nước;
đồng thời kết nối với quốc tế, thúc đẩy hợp tác thương mại, đầu tư giữa các địa
phương của Việt Nam và liên kết kinh tế với khu vực Tây Nam Trung Quốc.
- Tập trung đầu tư hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng
giao thông, đô thị và hạ tầng logistics liên vùng, bố trí phát triển công nghiệp,
thương mại, dịch vụ, du lịch và đặc biệt là dịch vụ logistics dọc tuyến hành
lang. Đẩy mạnh hợp tác thương mại, đầu tư, du lịch quốc tế, khai thác tiềm năng
của vùng Trung du và miền núi phía Bắc và liên kết kinh tế xuyên biên giới với
các tỉnh Tây Nam Trung Quốc.
c) Hành lang kinh tế Hà Nội - Thái Nguyên - Cao Bằng
- Là tuyến hành lang kết nối kinh tế vùng đồng bằng
sông Hồng với Trùng Khánh (Trung Quốc), đóng vai trò hành lang hợp tác kinh tế
và logistics quốc tế phía Bắc.
- Tập trung phát triển công nghiệp công nghệ cao,
công nghiệp sạch, trung chuyển hàng hóa quốc tế và dịch vụ logistics hiện đại.
Hình thành các đô thị thông minh, trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm triển lãm
- hội nghị quốc tế và không gian công nghiệp văn hóa, góp phần mở rộng ảnh hưởng
kinh tế vùng đồng bằng sông Hồng ra khu vực Đông Bắc.
d) Hành lang kinh tế ven biển Quảng Ninh - Hải
Phòng - Hưng Yên - Ninh Bình
- Là tuyến hành lang kinh tế ven biển trọng điểm quốc
gia, kết nối chuỗi khu kinh tế, khu công nghiệp, đô thị ven biển và trung tâm
du lịch - cảng biển - nông nghiệp nuôi trồng từ biển của vùng đồng bằng sông Hồng;
kết nối vùng với vùng Bắc Trung Bộ và khu vực phía Đông Nam Trung Quốc.
- Tập trung đầu tư hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng
ven biển, phát triển các khu kinh tế ven biển như Đình Vũ - Cát Hải, Quảng Yên,
Ninh Cơ, các trung tâm du lịch biển - đảo, dịch vụ logistics, công nghiệp chế
biến và nông nghiệp công nghệ cao gắn với các cụm liên ngành. Hình thành chuỗi
đô thị ven biển hiện đại, gắn với bảo tồn đa dạng sinh học, hệ sinh thái ngập mặn
và nguồn lợi biển; đồng thời xây dựng hệ thống công trình phòng, chống thiên
tai, đê điều, hồ đập, hạ tầng thích ứng biến đổi khí hậu bảo đảm phát triển bền
vững vùng ven biển.
đ) Từng bước hình thành hành lang kinh tế Điện Biên
- Sơn La - Phú Thọ - Hà Nội
- Là tuyến hành lang kết nối vùng đồng bằng sông Hồng
với tiểu vùng Tây Bắc và khu vực phía Bắc Lào, đóng vai trò hành lang kinh tế
giao thương, du lịch nội vùng và quốc tế.
- Tập trung đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng giao
thông, thúc đẩy phát triển thương mại, logistics, du lịch và dịch vụ nông nghiệp
sinh thái, khai thác tiềm năng, lợi thế của vùng Tây Bắc và phía Bắc Lào, qua
đó mở rộng không gian phát triển và tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế của
vùng đồng bằng sông Hồng.
4. Định hướng các khu vực bảo tồn,
hạn chế khai thác phát triển
a) Các khu vực bảo tồn
Phát triển kinh tế gắn liền với bảo tồn thiên
nhiên, đa dạng sinh học và di sản văn hóa - lịch sử đặc sắc của nền văn minh
sông Hồng, bảo đảm cân bằng giữa tăng trưởng, sinh thái và bản sắc văn hóa dân
tộc.
- Hệ thống rừng đặc dụng, vườn quốc gia, khu bảo tồn
thiên nhiên: Duy trì, phục hồi và mở rộng các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc
gia và vùng đất ngập nước quan trọng tại Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hưng
Yên, Ninh Bình và Hà Nội. Tăng cường quản lý tổng hợp lưu vực sông, vùng cửa
sông, ven biển, kết hợp bảo tồn sinh cảnh đất ngập nước, rừng ngập mặn và đa dạng
sinh học vùng biển - đảo, đặc biệt tại Khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long (Ninh
Bình), Cát Bà (Hải Phòng), Yên Tử (Quảng Ninh) và các vùng sinh thái hạ lưu
sông Hồng, sông Đáy, sông Ninh Cơ.
- Hệ thống rừng phòng hộ đầu nguồn và ven biển: Giữ
vững diện tích rừng phòng hộ, rừng tự nhiên hiện có, nhất là rừng phòng hộ ven
biển, rừng ngập mặn và rừng đầu nguồn các lưu vực sông lớn. Thực hiện trồng mới,
trồng thay thế bằng cây bản địa và cây đa tác dụng, có giá trị kinh tế, phục hồi
rừng bị suy thoái, tăng cường khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên, gắn với phát
triển kinh tế lâm nghiệp bền vững và sinh kế cho cộng đồng dân cư vùng rừng.
Hoàn thiện phân định ranh giới và cắm mốc rõ ràng giữa rừng đặc dụng, rừng
phòng hộ, rừng sản xuất và đất phi lâm nghiệp, đảm bảo quản lý thống nhất, lâu
dài.
- Các di tích lịch sử, văn hóa và di sản vật thể -
phi vật thể: Tập trung bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử,
văn hóa, danh thắng tiêu biểu của vùng, gắn liền với các triều đại Đinh, Lý, Trần...
các trung tâm văn minh sông Hồng, đồng thời phát triển du lịch văn hóa, sinh
thái, tâm linh. Ưu tiên bảo tồn và phát huy giá trị Hoàng thành Thăng Long, Văn
Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội); Cố đô Hoa Lư (Ninh Bình); khu lăng mộ và đền thờ
các vị vua Triều Lý (Bắc Ninh); khu di tích nhà Trần tại Côn Sơn - Kiếp Bạc (Hải
Phòng), Yên Tử (Quảng Ninh), Hưng Hà (Hưng Yên), Thiên Trường (Ninh Bình) cùng
các di sản văn hóa phi vật thể như hát quan họ, ca trù, chèo, lễ hội truyền thống
vùng Bắc Bộ. Tiếp tục rà soát, trùng tu, phục dựng, tôn tạo và phát huy giá trị
di sản, gắn bảo tồn với phát triển không gian văn hóa sông Hồng. Phát triển Thủ
đô Hà Nội xứng tầm "ngàn năm văn hiến Thăng Long", là trung tâm hội tụ,
lan tỏa văn hóa của cả nước, đồng thời là hạt nhân văn hóa mới trong thời kỳ hiện
đại và hội nhập quốc tế.
b) Các khu vực hạn chế phát triển
Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Hồng
phải đi đôi với bảo đảm an toàn hệ sinh thái, tài nguyên, môi trường, quốc
phòng - an ninh và thích ứng biến đổi khí hậu, theo hướng giới hạn hợp lý không
gian phát triển tại các khu vực nhạy cảm, dễ tổn thương hoặc có giá trị chiến
lược cần bảo vệ lâu dài.
- Hành lang bảo vệ nguồn nước: Chú trọng bảo vệ tài
nguyên nước bao gồm toàn bộ lưu vực hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình; khoanh
vùng hành lang bảo vệ nguồn nước cụ thể, nghiêm ngặt. Hạn chế bố trí phát triển
công nghiệp, đô thị và các cơ sở sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước;
yêu cầu bắt buộc áp dụng công nghệ xử lý nước thải, chất thải đạt chuẩn quốc
gia. Quản lý tổng hợp tài nguyên nước, bảo đảm an ninh nguồn nước sinh hoạt và
sản xuất, duy trì dòng chảy sinh thái và cân bằng nước vùng hạ du.
- Hành lang bảo vệ an toàn đê điều và phòng chống
thiên tai: Thực hiện cắm mốc, xác lập hành lang bảo vệ đê điều và vùng thoát lũ
trên toàn hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình; ưu tiên nâng cấp, củng cố hệ thống
đê điều, hồ đập và công trình thủy lợi trọng yếu. Tập trung nâng cấp đê bảo vệ
vùng hạ du hệ thống sông Thái Bình (Sông Thái Bình, sông Kinh Thầy, sông Văn
Úc, sông Gùa, sông Mía, sông Mới, sông Lạch Tray, sông Đá Bạch, sông Rạng, sông
Kinh Môn và sông Cấm...). Xây dựng trung tâm điều hành quản lý lũ, phòng chống
thiên tai vùng sông Hồng - sông Thái Bình và nghiên cứu chỉnh trị cửa sông Đuống,
sông Hồng đoạn qua đô thị trung tâm Hà Nội, nhằm nâng cao khả năng tiêu thoát
lũ, chống ngập và ứng phó biến đổi khí hậu.
- Các khu vực đa dạng sinh học trọng điểm: Bảo vệ,
duy trì và mở rộng hệ thống hành lang đa dạng sinh học ven biển Bắc Bộ, đặc biệt
tại Hưng Yên, Hải Phòng, Quảng Ninh; kết nối với các khu bảo tồn thiên nhiên,
vườn quốc gia và khu Ramsar trong vùng. Tăng cường bảo tồn nguồn gen quý hiếm,
trung tâm cứu hộ động vật, vườn thực vật, ngân hàng gen và vườn cây thuốc, gắn
với nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và phát triển du lịch sinh thái.
- Các khu vực có nguy cơ ảnh hưởng thiên tai và biến
đổi khí hậu: Hạn chế bố trí phát triển tại vùng trũng thấp, vùng ven biển, cửa
sông và các khu vực có nguy cơ cao chịu ảnh hưởng ngập lụt, xói lở, sụt lún hoặc
nước biển dâng. Ưu tiên các hoạt động thích ứng khí hậu, chuyển đổi sinh kế,
quy hoạch dân cư an toàn, phát triển hạ tầng chống chịu và phục hồi sinh thái
vùng ven biển - hạ lưu sông Hồng.
- Các khu vực dự trữ khoáng sản quốc gia: Bảo vệ
khu vực dự trữ than á-bitum tại Hưng Yên, Ninh Bình và thành phố Hà Nội, cùng
vùng dự trữ than antraxit tại Uông Bí, Quảng Yên, Hạ Long (Quảng Ninh). Không cấp
phép khai thác mới hoặc xây dựng công trình làm ảnh hưởng đến trữ lượng, cấu
trúc địa chất và khả năng khai thác lâu dài các nguồn tài nguyên này.
- Các khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh: Hạn chế
bố trí phát triển kinh tế - xã hội trong hoặc lân cận các khu vực phòng thủ,
căn cứ quân sự, khu vực trọng điểm quốc phòng, an ninh, khu vực ven biển, đảo
và cửa sông chiến lược. Bảo đảm nguyên tắc kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế
với củng cố quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn
xã hội và chủ quyền quốc gia.
V. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG
ĐÔ THỊ, NÔNG THÔN VÀ CÁC KHU CHỨC NĂNG
1. Phương hướng phát triển hệ thống
đô thị
Phát triển hệ thống đô thị vùng đồng bằng sông Hồng
phù hợp với sắp xếp đơn vị hành chính và mô hình chính quyền địa phương 2 cấp
và theo hướng hiện đại, thông minh, xanh, bền vững và có khả năng thích ứng cao
với biến đổi khí hậu, gắn kết chặt chẽ với quá trình công nghiệp hóa, chuyển đổi
số và phát triển kinh tế tri thức. Đẩy nhanh tốc độ và chất lượng đô thị hóa,
nâng cao hiệu quả kinh tế đô thị, lấy Thủ đô Hà Nội làm hạt nhân, đồng thời
hình thành các chuỗi và cụm đô thị động lực theo các hành lang kinh tế - đô thị
trọng điểm.
a) Định hướng phát triển mạng lưới và không gian đô
thị
- Phát triển đô thị vùng theo mô hình mạng lưới đa
cực, đa trung tâm, có sự phân công và chia sẻ chức năng hợp lý, liên kết chặt
chẽ với hệ thống hạ tầng vùng và quốc gia. Hình thành hai vành đai phát triển
đô thị - công nghiệp - dịch vụ (vành đai 4 và vành đai 5 vùng Thủ đô Hà Nội), kết
nối Hà Nội - Bắc Ninh - Hưng Yên - Hải Phòng - Quảng Ninh và Ninh Bình.
- Phát triển chuỗi đô thị ven biển Quảng Ninh - Hải
Phòng - Hưng Yên - Ninh Bình, gắn với kinh tế biển, du lịch, cảng biển, công
nghiệp chế biến và năng lượng tái tạo, hình thành vành đai kinh tế ven biển Bắc
Bộ.
- Định hướng phát triển đô thị theo mô hình TOD gắn
với các trục giao thông lớn, hệ thống metro, đường sắt và hành lang kinh tế; di
dời dần các cơ sở công nghiệp, kho tàng, viện nghiên cứu, đơn vị sự nghiệp ra
khỏi nội đô Hà Nội và các đô thị trung tâm để giảm áp lực hạ tầng, mở rộng
không gian phát triển mới.
b) Phát triển đô thị Thủ đô Hà Nội và phụ cận
- Xây dựng Thủ đô Hà Nội thành trung tâm kinh tế,
giáo dục, y tế và đổi mới sáng tạo hàng đầu khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
- Hình thành mạng lưới đô theo mô hình "Hạt
nhân - Vệ tinh" gắn với chia sẻ chức năng, Hà Nội giữ vai trò là đô thị hạt
nhân, trung tâm lan tỏa và động lực dẫn dắt toàn vùng Thủ đô, vùng Đồng bằng
sông Hồng. Phát triển hạ tầng đồng bộ, kết nối thuận tiện qua các tuyến vành
đai 4, vành đai 5, các tuyến metro và đường sắt vành đai phía Đông. Phát triển
các đô thị mới theo mô hình "đô thị sinh thái - đô thị sáng tạo - đô thị
thông minh", hướng tới giảm tải khu vực nội đô, phân bố lại dân cư, lao động
và dịch vụ công. Thúc đẩy hình thành vành đai công nghiệp - đô thị - dịch vụ hiện
đại dọc các tuyến giao thông hướng tâm, tạo động lực lan tỏa phát triển cho
toàn vùng Bắc Bộ.
c) Phát triển đô thị theo hành lang kinh tế - đô thị
ven biển
Tập trung phát triển chuỗi và chùm đô thị ven biển,
đặc biệt tại Quảng Ninh (Móng Cái - Hải Hà - Vân Đồn - Hạ Long), Hải Phòng,
Hưng Yên, Ninh Bình, gắn với các khu kinh tế, cảng biển, trung tâm du lịch và
công nghiệp chế biến. Khuyến khích phát triển đô thị vừa và nhỏ, tạo liên kết
giữa nông thôn và đô thị, hỗ trợ phát triển nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp
công nghệ cao và du lịch nông thôn; hình thành chuỗi giá trị dịch vụ, tiêu thụ
sản phẩm và đổi mới sáng tạo giữa các đô thị nhỏ và đô thị trung tâm vùng.
d) Phát triển các đô thị trung tâm vùng
Hình thành mạng lưới đô thị trung tâm vùng đồng bằng
sông Hồng hiện đại, liên kết chặt chẽ, phát triển theo hướng xanh, thông minh,
bền vững, trong đó Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh là ba cực tăng trưởng đô thị
chủ đạo, dẫn dắt liên kết vùng và hội nhập quốc tế.
- Thủ đô Hà Nội; Xây dựng Hà Nội trở thành đô thị đặc
biệt "Văn hiến - Văn minh - Hiện đại - Hạnh phúc", trung tâm kinh tế,
giáo dục, y tế và đổi mới sáng tạo hàng đầu khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, đầu
tàu đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Tập trung xây dựng hạ tầng đô
thị hiện đại, hoàn thiện hệ thống giao thông kết nối với các đô thị vệ tinh,
sân bay quốc tế (Nội Bài, Gia Bình), cảng biển (Hải Phòng, Quảng Ninh), đường sắt
đô thị, cầu qua sông Hồng, sông Đuống, không gian ngầm và thoát nước đô thị, giải
quyết căn bản tình trạng ùn tắc, ngập úng, hướng tới thành phố thông minh và bền
vững tầm khu vực.
- Thành phố Hải Phòng: Phát triển Hải Phòng thành
thành phố công nghiệp - cảng biển hiện đại, thông minh, bền vững mang tầm cỡ
khu vực Đông Nam Á. Hình thành mô hình đô thị - công nghiệp - dịch vụ thông
minh, trung tâm logistics quốc tế, phát triển công nghiệp hỗ trợ, y tế, giáo dục
và đào tạo cấp vùng, nghiên cứu khoa học và công nghệ biển; kết nối phát triển
với Côn Sơn - Kiếp Bạc, Kinh Môn và vùng Thủ đô mở rộng. Phát triển thành phố đạt
tiêu chí đô thị loại đặc biệt.
- Đô thị Quảng Ninh: Trở thành thành phố trực thuộc
trung ương, đô thị biển - du lịch - di sản - cửa ngõ quốc tế, trung tâm thương
mại - dịch vụ - du lịch bền vững, cân bằng giữa bảo tồn và phát triển Di sản
thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long, gắn với vùng động lực của Hà Nội - Bắc Ninh
- Quảng Ninh - Hải Phòng, lan tỏa phát triển tới khu vực biên giới Việt - Trung
và vùng Vịnh Bắc Bộ.
2. Phương hướng phát triển nông
thôn
- Phát triển nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng văn
minh, hiện đại, sinh thái và bền vững, có hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, dịch
vụ xã hội phát triển, đời sống người dân nông thôn có chất lượng tiệm cận đô thị,
đồng thời bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, bản sắc vùng
văn minh sông Hồng.
- Tập trung xây dựng nông thôn mới hiện đại gắn với
chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và kinh tế tuần hoàn. Phát triển không gian nông
thôn đa chức năng gắn với công nghiệp chế biến, thương mại, du lịch, dịch vụ và
kinh tế sinh thái; hình thành các cụm dân cư nông thôn hiện đại, thích ứng biến
đổi khí hậu, phù hợp với từng vùng sinh thái - văn hóa - kinh tế - xã hội của
tiểu vùng ven biển, trung tâm đồng bằng và vùng trung du giáp ranh.
- Tổ chức lại sản xuất theo hướng kinh tế nông nghiệp
hàng hóa, giá trị cao và bền vững, thúc đẩy tái cơ cấu ngành nông nghiệp, phát
triển kinh tế nông thôn gắn sản xuất với chế biến, logistics và thị trường tiêu
thụ. Tăng cường đào tạo nghề, chuyển đổi việc làm phi nông nghiệp, nâng cao thu
nhập, giảm chênh lệch phát triển giữa nông thôn và đô thị.
- Phát triển hạ tầng nông thôn đồng bộ, hiện đại và
kết nối liên vùng, giao thông, điện, nước sạch, viễn thông, giáo dục, y tế và hạ
tầng số; chú trọng xây dựng làng, xã sính thái, du lịch nông nghiệp - văn hóa.
Bảo vệ môi trường, kiểm soát ô nhiễm, quản lý chất thải sinh hoạt và sản xuất theo
mô hình kinh tế tuần hoàn.
- Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế nông thôn với
bảo đảm quốc phòng - an ninh, nhất là tại vùng ven biển, khu vực phòng thủ trọng
điểm và khu vực đệm giữa đô thị - nông thôn, xây dựng thế trận quốc phòng toàn
dân, an ninh nhân dân vững chắc, góp phần giữ vững chủ quyền quốc gia, ổn định
xã hội và phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Hồng.
3. Phương hướng phát triển các
khu chức năng
Hình thành mạng lưới khu chức năng vùng đồng bằng
sông Hồng hiện đại, xanh, thông minh, hội nhập quốc tế, đóng vai trò động lực dẫn
dắt công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững quốc gia. Đẩy mạnh
phát triển đồng bộ và nâng cao hiệu quả các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu
công nghệ cao, khu thương mại tự do, khu du lịch, khu nghiên cứu - đào tạo và
khu thể thao theo hướng hiện đại, xanh, thông minh và hội nhập quốc tế. Các khu
chức năng được quy hoạch gắn kết với các hành lang kinh tế - đô thị - logistics
trọng điểm, trở thành cực tăng trưởng, hạt nhân đổi mới sáng tạo và trung tâm
lan tỏa phát triển vùng. Trong đó:
a) Khu kinh tế, khu thương mại tự do
- Khu kinh tế cửa khẩu: Tập trung đầu tư, hoàn thiện
hạ tầng Khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái và các khu kinh tế cửa khẩu khác tại Quảng
Ninh, theo hướng hiện đại, thông minh, tăng cường năng lực logistics, xuất nhập
khẩu và thương mại xuyên biên giới, gắn kết với thị trường Tây Nam Trung Quốc.
Hình thành khu phi thuế quan, khu thương mại, công nghiệp, khu logistics và dịch
vụ hỗ trợ xuất nhập khẩu.
- Khu kinh tế ven biển: Đẩy mạnh đầu tư, phát triển
06 khu kinh tế ven biển hiện hữu, gồm: khu kinh tế ven biển Quảng Yên, Vân Đồn
(Quảng Ninh); Đình Vũ - Cát Hải, Nam Hải Phòng (Hải Phòng), Thái Bình (Hưng
Yên), Ninh Cơ (Ninh Bình). Phát triển các cảng biển tổng hợp và cảng chuyên
dùng gắn với các khu kinh tế ven biển, hình thành cụm cảng trung chuyển hàng
hóa quốc tế vùng Bắc Bộ.
- Khu kinh tế chuyên biệt, khu thương mại tự do:
Phát triển các khu kinh tế chuyên biệt tại Hải Phòng và Bắc Ninh, gắn với các
hành lang kinh tế, trục giao thông và đường sắt liên vùng, tạo động lực phát
triển công nghiệp và kết nối kinh tế vùng, quốc gia và quốc tế. Khu thương mại
tự do Hải Phòng được định hướng trở thành động lực tăng trưởng mới của vùng, hướng
tới trung tâm sản xuất, logistics, thương mại - dịch vụ, công nghệ cao và tài
chính có sức cạnh tranh khu vực và quốc tế, gắn với chuyển đổi số và tăng trưởng
xanh. Ngoài ra, tiếp tục nghiên cứu phát triển các khu kinh tế chuyên biệt, khu
thương mại tự do và các khu kinh tế theo mô hình mới theo quy định của pháp luật
trên địa bàn các địa phương có tiềm năng và đủ điều kiện hình thành theo quy định
tạo động lực phát triển và kết nối kinh tế với các tỉnh, thành phố lân cận
trong vùng, cả nước, khu vực và quốc tế.
b) Khu công nghiệp
- Phát triển hệ thống khu công nghiệp sinh thái,
khu công nghiệp chuyên ngành và khu công nghiệp - dịch vụ - đô thị hiện đại, bảo
đảm kết nối đồng bộ với hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và logistics vùng.
- Tăng cường liên kết sản xuất, cộng sinh công nghiệp
giữa các khu công nghiệp trong vùng, hình thành các cụm liên kết ngành theo chuỗi
giá trị (điện tử, ô tô, công nghiệp hỗ trợ, chế biến thực phẩm, vật liệu mới...).
- Ưu tiên đầu tư hạ tầng tại các khu công nghiệp
ven biển, nâng cao tỷ lệ lấp đầy, thu hút dự án xanh, công nghệ cao, ít phát thải.
Đẩy nhanh hoàn thiện thủ tục, xây dựng hạ tầng các khu công nghiệp đã được phê
duyệt, bảo đảm phù hợp với chỉ tiêu sử dụng đất và tiêu chí phát triển bền vững.
c) Khu công nghệ cao
- Đẩy nhanh tiến độ đầu tư, hoàn thiện hạ tầng và
thu hút doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học vào khu công nghệ cao Hòa
Lạc (Hà Nội), phát triển thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, nghiên cứu và triển
khai mang tầm quốc gia, khu vực và quốc tế, kết nối chặt chẽ với khu đô thị Đại
học Quốc gia Hà Nội. Phát triển Khu công nghệ cao Hà Nam (Ninh Bình) với trọng
tâm phát triển trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, công nghệ sinh học.
- Nghiên cứu hình thành các khu công nghệ cao
chuyên ngành tại Hải Phòng, Quảng Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình, gắn kết với mạng
lưới trung tâm đổi mới sáng tạo của vùng và quốc gia, hình thành hệ sinh thái
khoa học và công nghệ - đổi mới sáng tạo vùng đồng bằng sông Hồng.
d) Khu du lịch
- Phát triển khu du lịch quốc gia và khu du lịch trọng
điểm vùng theo hướng bền vững, đa trải nghiệm và hội nhập quốc tế. Ưu tiên đầu
tư, nâng cao chất lượng hai khu du lịch quốc gia Trà Cổ (Quảng Ninh); hoàn thiện
hạ tầng và nâng cao chất lượng dịch vụ bảo đảm đáp ứng được các tiêu chí đối với
khu du lịch quốc gia tại Ba Vì (Hà Nội); Cát Bà, Côn Sơn - Kiếp Bạc (Hải
Phòng); Vân Đồn (Quảng Ninh); Tam Chúc, Tràng An (Ninh Bình).
- Nghiên cứu, bổ sung mới các địa điểm có tiềm năng
trở thành các khu du lịch quốc gia gồm: Hương Sơn - Quan Sơn (Hà Nội), Yên Tử
(Quảng Ninh). Đẩy mạnh phát triển các khu du lịch cấp tỉnh và liên vùng gắn với
biển, đảo, sinh thái, văn hóa và tôn giáo, hình thành hành lang du lịch ven biển
Bắc Bộ kết nối với các vùng trung du miền núi phía Bắc, vùng Bắc Trung Bộ và quốc
tế.
đ) Khu nghiên cứu, đào tạo
- Xây dựng Khu đô thị đại học quốc gia Hòa Lạc (Hà
Nội) trở thành trung tâm giáo dục, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo hàng đầu khu vực,
kết nối với Khu công nghệ cao Hòa Lạc tạo thành tổ hợp đô thị khoa học và công
nghệ quốc gia. Đẩy nhanh việc di dời các trường đại học, viện nghiên cứu, trung
tâm nghiên cứu ở khu vực nội đô trung tâm Hà Nội về khu đô thị đại học quốc
gia.
- Đẩy nhanh tiến độ đầu tư phát triển một số Khu đại
học trọng điểm của vùng như Phố Hiến (Hưng Yên), Nam Cao (Ninh Bình), Bắc Ninh,
hình thành mạng lưới đại học, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo liên kết vùng.
Khuyến khích hợp tác giữa trường đại học - viện nghiên cứu - doanh nghiệp, phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát triển công nghiệp, dịch vụ, khoa học,
công nghệ và quản trị đô thị, phát triển vùng.
e) Khu thể dục, thể thao
- Phát triển hệ thống khu liên hợp thể thao vùng và
quốc gia đạt tiêu chuẩn quốc tế, bảo đảm đủ năng lực tổ chức các sự kiện thể
thao lớn của khu vực và thế giới.
- Tập trung đầu tư nâng cấp Khu liên hợp thể thao
quốc gia Mỹ Đình (Hà Nội); xây dựng Khu đô thị thể thao Olympic tại Hà Nội; xây
dựng các trung tâm huấn luyện thể thao vùng tại Hải Phòng, Quảng Ninh, Ninh
Bình, phục vụ phát triển thể thao thành tích cao, thể thao cộng đồng và kinh tế
thể thao.
- Gắn phát triển hạ tầng thể thao với dịch vụ du lịch,
văn hóa và sức khỏe, hình thành chuỗi đô thị thể thao - du lịch - nghỉ dưỡng hiện
đại vùng Đồng bằng sông Hồng.
4. Phương hướng phát triển vùng
sản xuất tập trung
Phát triển các vùng sản xuất tập trung đa ngành,
công nghệ cao và xanh, gắn kết chặt chẽ giữa công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ
- logistics, tạo chuỗi giá trị vùng, hình thành các cực sản xuất quy mô lớn,
chuyên môn hóa, hiện đại và có sức cạnh tranh quốc tế, bảo đảm tính liên kết
vùng, liên ngành, liên không gian, vừa thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững, vừa
bảo tồn sinh thái.
a) Các trung tâm công nghiệp
- Trung tâm công nghiệp vùng Thủ đô Hà Nội, gồm khu
vực phía Bắc và phía Đông Hà Nội - Bắc Ninh - Bắc Hưng Yên, là trung tâm công
nghiệp công nghệ cao, chế tạo điện tử và đổi mới sáng tạo hàng đầu quốc gia,
hình thành gắn với trục vành đai 4, vành đai 5 và hành lang Lạng Sơn - Bắc Ninh
- Hà Nội - Hải Phòng. Tập trung phát triển theo hướng hình thành trung tâm công
nghiệp chế tạo lớn, hiện đại hàng đầu trong cả nước về công nghiệp điện tử,
công nghiệp công nghệ số, sản xuất chip bán dẫn, linh kiện điện tử, cơ khí
chính xác, rô-bốt, thiết bị y tế, trí tuệ nhân tạo và công nghiệp phần mềm, sản
xuất lắp ráp ô tô. Trong đó, thành phố Hà Nội là trung tâm tập trung các cơ sở
nghiên cứu thử nghiệm, thiết kế chế tạo, đổi mới sáng tạo phục vụ phát triển
công nghiệp của vùng và cả nước.
- Trung tâm công nghiệp phía Đông Bắc (gắn kết với
khu cảng Hải Phòng - Quảng Ninh), gồm Hải Phòng - Nam Quảng Ninh, là trung tâm
công nghiệp biển, công nghiệp năng lượng và chế biến quy mô lớn của vùng Bắc Bộ,
gắn với các cảng biển cửa ngõ quốc tế (Lạch Huyện, Cái Lân). Tập trung phát triển
theo hướng hình thành trung tâm công nghiệp sản xuất ô tô, đóng tàu và công
nghiệp hỗ trợ ngành đóng tàu, cơ khí chế tạo, máy nông nghiệp, năng lượng sạch,
hóa chất - hóa dược, vật liệu mới, điện tử tiêu dùng, dệt may - da giày xuất khẩu
và chế biến thủy sản, nông sản của vùng. Hình thành trung tâm công nghiệp - dịch
vụ logistics Hải Phòng - Quảng Ninh, gắn với Khu kinh tế Đình Vũ - Cát Hải, Quảng
Yên, Vân Đồn. Phát triển các trung tâm logistics đa phương thức, khu cảng cạn
ICD, kho ngoại quan và khu công nghiệp - đô thị thông minh ven biển, hướng tới
chuỗi giá trị xuất khẩu công nghệ cao.
- Trung tâm công nghiệp phía Nam, gồm khu vực Nam
Hưng Yên - Ninh Bình. Hình thành cực công nghiệp chế biến nông sản, dệt may, da
giày và công nghiệp hỗ trợ dọc trục quốc lộ 10, cao tốc ven biển, gắn với các
khu kinh tế ven biển Thái Bình, Ninh Cơ (Hưng Yên, Nam Định) và các khu công
nghiệp tại Ninh Bình. Phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm, thủy sản, dược
liệu, cơ khí nông nghiệp, năng lượng tái tạo và vật liệu xây dựng xanh, tạo
trung tâm công nghiệp - logistics ven biển Nam Đồng bằng. Gắn kết chặt chẽ với
chuỗi đô thị - cảng biển - khu kinh tế ven biển, đồng thời bảo đảm phát triển bền
vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo tồn hệ sinh thái ven biển.
b) Các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung
- Vùng vành đai nông nghiệp ven biển: tại các khu vực
ven biển Quảng Ninh, Hải Phòng, Hưng Yên, Ninh Bình. Tập trung phát triển sản
xuất nông nghiệp hàng hóa lớn, sinh thái và xuất khẩu, tập trung vào nuôi trồng
thủy sản nước mặn, nước lợ, chế biến thủy hải sản và nông nghiệp ven biển bền vững,
ứng dụng công nghệ cao trong canh tác lúa, rau màu, chăn nuôi, nuôi trồng thủy
sản kết hợp, phát triển mô hình nông nghiệp thông minh, nông nghiệp sinh thái,
kinh tế nông nghiệp tuần hoàn, kết hợp du lịch nông nghiệp ven biển. Liên kết
chặt chẽ với các khu kinh tế ven biển và trung tâm logistics vùng để hình thành
chuỗi giá trị nông sản xuất khẩu vùng duyên hải Bắc Bộ.
- Vùng vành đai nông, lâm nghiệp trung du đồi núi:
tại khu vực phía Tây và phía Bắc Hà Nội - Bắc Bắc Ninh - Bắc Hải Phòng - phía
Tây và Bắc Quảng Ninh - phía Tây và Bắc Ninh Bình. Là vành đai nông nghiệp sinh
thái của toàn vùng, đóng vai trò bảo vệ môi trường, phòng hộ đầu nguồn và cân bằng
sinh thái vùng. Tập trung phát triển nông, lâm nghiệp bền vững, sản xuất các sản
phẩm hàng hóa cây ăn quà đặc sản, cây dược liệu... kết hợp chế biến sâu, bảo quản
sau thu hoạch, truy xuất nguồn gốc và xuất khẩu chính ngạch; chăn nuôi đại gia
súc (bò sữa, bò thịt, dê...) và nuôi đặc sản với công nghệ cao kết hợp chế biến
thực phẩm. Phát triển sản xuất nông, lâm kết hợp, trồng rừng sản xuất, canh tác
lúa kết hợp trồng rau màu và cây thức ăn gia súc...; kết hợp du lịch sinh thái
nông nghiệp, bảo tồn đa dạng sinh học.
- Vùng nông nghiệp đồng bằng: trọng tâm tại Hà Nội
- Hưng Yên - Hải Phòng - Ninh Bình. Hình thành vùng sản xuất nông nghiệp hàng
hóa lớn, công nghệ cao, thân thiện môi trường, cung ứng nông sản, thực phẩm sạch
cho khu vực đô thị và chế biến, xuất khẩu. Phát triển các chuỗi sản xuất - chế
biến - phân phối nông sản, kết nối với các trung tâm logistics nông nghiệp và
khu công nghiệp chế biến tại Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Phòng. Chuyển đổi đất lúa
kém hiệu quả sang cây trồng, thủy sản, chăn nuôi giá trị cao, ứng dụng công nghệ
số trong quản lý sản xuất và thị trường nông sản, hướng tới nông nghiệp thông
minh vùng châu thổ sông Hồng.
VI. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN KẾT
CẤU HẠ TẦNG
1. Phương hướng phát triển kết cấu
hạ tầng kỹ thuật
a) Mạng lưới giao thông
Phát triển hệ thống giao thông vùng đồng bằng sông
Hồng đồng bộ, hiện đại và đa phương thức, kết nối chặt chẽ các khu kinh tế, khu
công nghiệp, khu thương mại tự do, khu đô thị, cảng biển, sân bay và khu du lịch...
thúc đẩy kết nối vùng, liên vùng, hình thành hành lang, vành đai kinh tế, chuỗi
cung ứng xuyên quốc gia, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững
và hội nhập quốc tế. Phát triển hạ tầng giao thông đô thị Hà Nội, với các đường
vành đai, trục hướng tâm, kết nối Thủ đô Hà Nội với các đô thị vệ tinh trong
vùng, xây dựng mạng lưới đường sắt đô thị, khai thác không gian ngầm, giải quyết
dứt điểm tình trạng tắc nghẽn giao thông, úng ngập; hoàn thành dứt điểm các
công trình trọng điểm quốc gia về giao thông, hạ tầng số, hạ tầng đô thị. Trong
đó:
- Đường bộ:
+ Tiếp tục đầu tư phát triển các tuyến đường bộ cao
tốc, quốc lộ theo quy hoạch, kế hoạch phát triển mạng lưới đường bộ thời kỳ
2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, tập trung vào các tuyến kết nối nội vùng,
liên vùng và quốc tế, nâng cao hiệu quả vận tải, giảm chi phí, thời gian và
phát thải. Đặc biệt chú trọng các tuyến cao tốc kết nối các khu công nghiệp,
sân bay, cảng biển, khu du lịch và hệ thống đô thị; các cầu trọng điểm nối giữa
các địa phương qua sông Hồng tại Hà Nội, Hưng Yên, Hải Phòng tăng cường kết nối
với các khu công nghiệp và tuyến giao thông chính.
+ Phát triển một số trục kết nối đến các đầu mối vận
tải lớn và các khu công nghiệp, tạo thành không gian phát triển đô thị, công
nghiệp, du lịch, dịch vụ, thúc đẩy giao lưu thương mại, đầu tư và phát triển
trong vùng và liên vùng như các tuyến Bắc Ninh - Thái Nguyên; tuyến Hải Phòng -
Quảng Ninh qua cầu Bến Rừng và cầu và đường kết nối Uông Bí (Quảng Ninh) - Thủy
Nguyên (Hải Phòng); các tuyến đường kết nối các khu du lịch và di tích, như tuyến
Thanh Miện (Hải Phòng) - Quỳnh Lâm (Hưng Yên); tuyến Hưng Yên - Hải Phòng kết nối
vùng nông nghiệp và du lịch; các tuyến đường kết nối các địa phương tới cảng
hàng không quốc tế Gia Bình.
- Đường sắt:
+ Đầu tư phát triển các tuyến đường sắt theo quy hoạch
phát triển đường sắt quốc gia đối với các đoạn tuyến đi qua vùng. Đầu tư xây dựng
tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam; tuyến đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Quảng
Ninh. Xây dựng đường sắt kết nối khu kinh tế cửa khẩu với cảng biển cửa ngõ quốc
tế khu vực Hải Phòng - Quảng Ninh, trong đó ưu tiên chuẩn bị và triển khai xây
dựng mới các tuyến đường sắt tốc độ cao Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng
Ninh và Lạng Sơn - Hà Nội kết nối với Trung Quốc. Nghiên cứu đầu tư phát triển
các tuyến đường sắt kết nối vùng, liên vùng phù hợp nhu cầu từng giai đoạn: Đường
sắt ven biển Hải Phòng - Hạ Long - Móng Cái, Nam Định (Ninh Bình) - Thái Bình
(Hưng Yên) - Hải Phòng và hoàn thành các tuyến đường sắt đầu mối thành phố Hà Nội.
+ Đẩy mạnh quy hoạch đường sắt đô thị tại Hà Nội và
các địa phương trong vùng. Nghiên cứu đầu tư các tuyến đường sắt đô thị kết nối
Hà Nội với Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình nhằm tăng cường năng lực vận tải công
cộng khối lượng lớn, gắn kết các đô thị liền kề, tạo không gian phát triển xây
dựng đô thị, các khu chức năng (mô hình TOD).
- Cảng biển: Phát triển các cảng biển tại Hải Phòng,
Quảng Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình. Tổ chức các hành lang vận tải thủy đi qua vùng
đồng bằng sông Hồng, gồm: 01 hành lang ven biển xuyên Việt (Quảng Ninh đến An
Giang), 04 hành lang khu vực miền Bắc (Quảng Ninh - Hải Phòng - Hà Nội, Quảng
Ninh - Hải Phòng - Ninh Bình, Hà Nội - Ninh Bình và Hà Nội - Phú Thọ - Lào
Cai). Đầu tư các bến mới tại cảng biển Hải Phòng, Quảng Ninh; các bến khởi động
thuộc khu bến Nam Đồ Sơn khi đáp ứng đủ các điều kiện; khai thác hiệu quả cảng
quốc tế Lạch Huyện. Nghiên cứu hình thành các cảng biển nước sâu phục vụ phát
triển các khu kinh tế, bảo đảm hiệu quả kinh tế, đáp ứng yêu cầu kỹ thuật cho
phép.
- Cảng hàng không: Nâng cấp, mở rộng các cảng hàng
không hiện hữu (Nội Bài, Vân Đồn, Cát Bi). Đầu tư xây dựng mới Cảng hàng không
quốc tế Gia Bình, cấp 4F tại Bắc Ninh. Nghiên cứu và chuẩn bị các điều kiện để
sớm hình thành cảng hàng không quốc tế Hải Phòng, dự bị cho Cảng hàng không quốc
tế Nội Bài; nghiên cứu vị trí phù hợp để phát triển cảng hàng không thứ 2 hỗ trợ
cảng hàng không quốc tế Nội Bài tại khu vực phía Đông Nam hoặc phía Nam Thủ đô
Hà Nội.
- Đường thủy nội địa: Phát triển 13 tuyến vận tải
thủy nội địa kết nối liên vùng, liên tỉnh; 15 cụm cảng hàng hóa và 08 cụm cảng
hành khách. Trên các tuyến vận tải, đầu tư đồng bộ các kết cấu hạ tầng đường thủy
nội địa. Nghiên cứu hình thành các cụm bến thủy nội địa phục vụ các tuyến kết nối
từ bờ ra đảo, tuyến đường thủy nội địa ven bờ gắn với phương án phát triển các
khu, điểm du lịch dọc bờ biển, các đảo có tiềm năng khai thác du lịch.
- Cảng cạn: Phát triển hệ thống cảng cạn, với 29 cảng
cạn, cụm cảng cạn tại Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh
Bình để đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu, kết hợp với vận tải
container, giảm chi phí vận chuyển và thời gian lưu hàng tại cảng biển. Phát
triển hệ thống cảng cạn trở thành các đầu mối tổ chức vận tải, trung chuyển,
phân phối hàng hóa, kết hợp với cung cấp các dịch vụ logistics.
b) Mạng lưới cấp điện, cung cấp năng lượng
- Phát triển mạng lưới cấp điện phù hợp với Quy hoạch
phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, bảo đảm
đáp ứng nhu cầu tiêu thụ điện cho phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc
phòng trong vùng, nhất là cấp điện an toàn, liên tục cho khu vực có tốc độ công
nghiệp hóa cao như Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Phòng, Quảng Ninh. Hình
thành hệ thống cấp điện đồng bộ, hiện đại và vận hành thông minh, nâng cấp và mở
rộng các trạm biến áp 500 kV, 220 kV, 110 kV, đồng thời hoàn thiện lưới điện
thông minh, tích hợp hệ thống giám sát, điều khiển tự động, quản lý số hóa phụ
tải. Tăng cường khả năng liên kết, đấu nối với lưới điện quốc gia, đảm bảo cung
cấp đủ công suất trong tình huống sự cố và hỗ trợ điều tiết vùng phụ tải cao.
Phát triển các nguồn cung và lưới điện theo các tiểu vùng điện lực, gồm: (i) Tiểu
vùng Đông Bắc (Hải Phòng, Quảng Ninh), tập trung sản xuất và truyền tải điện lớn
của vùng, gắn với các nguồn điện nhiệt điện, điện gió ven biển, điện khí
LNG...; (ii) Tiểu vùng trung tâm Hà Nội và Bắc Hà Nội, trung tâm phụ tải điện lớn
nhất cả nước, tập trung cho công nghiệp công nghệ cao của vùng Bắc Thủ đô, ưu
tiên đầu tư lưới điện ngầm, điện thông minh, bảo đảm cung ứng điện ổn định cho
Thủ đô và vùng Thủ đô mở rộng; (iii) Tiểu vùng Nam Hà Nội (Hưng Yên, Ninh Bình),
phát triển nguồn điện sạch, điện gió ven biển, điện sinh khối, điện khí LNG và
điện mặt trời nông nghiệp; đóng vai trò cân bằng phụ tải và dự phòng công suất
cho toàn vùng.
- Phát triển các nguồn năng lượng mới, năng lượng
tái tạo phù hợp với quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia; nghiên cứu, phát
triển năng lượng tái tạo tại các khu vực có nhiều tiềm năng trong vùng như điện
gió ngoài khơi tại Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Quảng Ninh; điện mặt trời và
sinh khối tại Hải Phòng, Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình; điện rác tại Hà Nội, Bắc
Ninh, Hải Phòng; điện khí tại Hải Phòng, Hưng Yên, Ninh Bình. Khuyến khích đầu
tư các trung tâm năng lượng tái tạo, công nghiệp xanh, hydrogen tại Quảng Ninh,
Hải Phòng, Hưng Yên, kết nối với hành lang năng lượng ven biển Bắc Bộ.
- Phát triển hạ tầng dự trữ, cung ứng xăng dầu, khí
đốt. Phát triển trung tâm năng lượng và kho dự trữ nhiên liệu vùng tại Hải
Phòng và Quảng Ninh, gắn với các cảng nước sâu Lạch Huyện, Cái Lân, đầu mối nhập
khẩu và trung chuyển xăng dầu, LPG, LNG cho khu vực miền Bắc. Hình thành cụm
kho LNG, khí đốt tại Hải Phòng và kho khí hóa lỏng tại Quảng Ninh, bảo đảm cung
ứng ổn định khí nhiên liệu cho phát điện, công nghiệp và dân sinh. Mở rộng mạng
lưới kho dự trữ xăng dầu thương mại tại Hải Phòng, Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh
Bình, bảo đảm an ninh năng lượng vùng, đáp ứng các tình huống khẩn cấp.
c) Mạng lưới thủy lợi, cấp nước
- Phát triển hạ tầng thủy lợi theo hướng phục vụ đa
mục tiêu, hiện đại, linh hoạt và thích ứng biến đổi khí hậu, đáp ứng yêu cầu sản
xuất nông nghiệp, công nghiệp, đô thị và dân sinh; phục vụ phòng, chống thiên
tai, cấp nước, tiêu thoát nước và bảo vệ môi trường; giải quyết ô nhiễm nguồn
nước, các tác động của hoạt động phát triển. Tập trung giải quyết nguồn nước và
giải pháp công trình cấp tưới, cấp nước cho các vùng hạ du sông Hồng bằng hình
thức cải tạo các trạm bơm, cống lấy nước kết hợp với xả nước từ các hồ thủy điện.
- Tăng cường tạo nguồn, kết nối, điều hòa, chuyển
nước liên vùng, liên lưu vực, đặc biệt là hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình,
điều tiết hợp lý nguồn nước từ các hồ chứa thủy điện, thủy lợi để bảo đảm cấp
nước sản xuất, sinh hoạt cho vùng hạ du. Xây dựng các công trình điều tiết như
đập dâng, cống lấy nước, trạm bơm điện, kênh tiêu - thoát kết hợp để nâng mực
nước trên sông Hồng tại hạ lưu cống Xuân Quan, sông Đuống tại hạ lưu cống Long
Tửu để ứng phó với diễn biến hạ thấp mực nước trên hệ thống sông hướng tới mục
tiêu bảo đảm an ninh nguồn nước. Đầu tư các công trình nâng mực nước và cải thiện
khả năng dẫn dòng, tiếp nguồn nước thuận lợi cho hệ thống Bắc Hưng Hải và các
sông Đáy, sông Nhuệ, sông Ngũ Huyện Khê, kết hợp với các giải pháp xử lý nước
thải, cải thiện môi trường nước để làm sống lại các sông nội đồng như sông Tô Lịch,
sông Nhuệ, sông Đáy, sông Ngũ Huyện Khê, sông Châu Giang, sông Bắc Hưng Hải. Thực
hiện phương án bổ sung nước từ dòng chính sông Đà vào sông Tích, sông Đáy, điều
hòa nguồn cho khu vực Hà Nội và các tỉnh hạ du. Nghiên cứu phát triển mạng lưới
điều tiết nước ngọt liên vùng phục vụ sản xuất và sinh hoạt.
- Cải tạo, nâng cấp và hoàn thiện các hệ thống thủy
lợi trọng điểm quốc gia và vùng như Bắc Hưng Hải, Bắc Nam Hà, Liễn Sơn - Bạch Hạc,
Ấp Bắc - Nam Hồng, Bắc Đuống, sông Nhuệ, An Kim Hải, Đa Độ. Nghiên cứu đầu tư
nâng cấp, cải tạo đối với các hệ thống thủy lợi còn lại trong các chương trình,
dự án quản lý lưu vực sông và các chương trình dự án phát triển của các tỉnh,
thành phố; cải tạo cụm đầu mối và toàn hệ thống sông Đáy (công trình đầu mối Cẩm
Đình và các công trình Vân Cốc, Đập Đáy, lòng dẫn sông Đáy) phục vụ đa mục
tiêu.
d) Mạng lưới thoát nước
- Phát triển hệ thống thoát nước tổng hợp, đa mục
tiêu, hiện đại và thích ứng biến đổi khí hậu, phục vụ yêu cầu tiêu úng, kiểm
soát, chống ngập cho Thủ đô Hà Nội, Hải Phòng và các đô thị khác trong vùng. Thực
hiện đồng bộ các giải pháp công trình và phi công trình, tăng khả năng tiêu
thoát nước tự nhiên kết hợp cơ giới, đảm bảo an toàn dân sinh, hạ tầng và sản
xuất trong bối cảnh đô thị hóa nhanh. Duy trì tỷ lệ diện tích hồ điều hòa từ 5
- 10% trong các khu đô thị, khu công nghiệp.
- Xây dựng, nâng cấp các trạm bơm tiêu chính và hệ
thống kênh tiêu, cống điều tiết tại các khu vực trọng điểm Hà Nội, Bắc Ninh, Hải
Phòng, Hưng Yên, Ninh Bình; đồng thời thay thế, hiện đại hóa các trạm bơm cũ bằng
thiết bị công nghệ tiên tiến, hiệu suất cao, tiết kiệm năng lượng, có khả năng
kết nối điều khiển và giám sát thông minh. Ưu tiên các dự án tiêu thoát nước kết
hợp kiểm soát lũ, triều và cải thiện môi trường nước, phục vụ cả tiêu úng nông
nghiệp và thoát nước đô thị.
- Cải tạo, khơi thông và bảo vệ các trục tiêu nước
chính trên các hệ thống thủy lợi như sông Nhuệ, sông Đáy, sông Cà Lồ, Ngũ Huyện
Khê, Bắc Hưng Hải, Bắc Nam Hà, An Kim Hải; các hệ thống thủy lợi tại Hải Phòng,
Hưng Yên, Ninh Bình, kết hợp rà soát, cắm mốc hành lang bảo vệ kênh tiêu, hồ điều
hòa theo quy hoạch, bảo đảm an toàn vận hành và chống lấn chiếm, san lấp hệ thống
tiêu thoát nước.
- Tăng cường năng lực tiêu thoát nước cho khu vực
ven biển chịu ảnh hưởng thủy triều, đặc biệt tại Hải Phòng, Hưng Yên, Ninh
Bình. Xây dựng và mở rộng cống ngăn triều, đập điều tiết, tăng khả năng tiêu tự
chảy ra biển; bổ sung các trạm bơm tiêu động lực quy mô lớn, bảo đảm chủ động
thoát nước khi xảy ra tổ hợp lũ lợn kết hợp triều cường và mưa cực đoan.
- Thực hiện các giải pháp đẩy mặn và ổn định mực nước
trên dòng chính sông Hồng, khai thác hiệu quả điều tiết của các hồ chứa thượng
nguồn; kết hợp xây dựng các công trình đập dâng nước tại hạ lưu sông Hồng, sông
Đuống, sông Đáy nhằm khắc phục tình trạng hạ thấp mực nước, bảo đảm khả năng
tiêu, thoát và cấp nước cho các công trình đầu mối. Từng bước hình thành hệ thống
điều tiết, thoát nước vùng liên kết phục vụ phát triển đô thị bền vững, gắn với
mục tiêu phòng, chống thiên tai và thích ứng biến đổi khí hậu.
đ) Mạng lưới thông tin và truyền thông
- Phát triển hạ tầng thông tin và truyền thông phù
hợp Quy hoạch hạ tầng thông tin và truyền thông thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến
năm 2050, bảo đảm hiện đại, đồng bộ đáp ứng yêu cầu phát triển chính phủ số,
kinh tế số, xã hội số, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, bảo vệ môi trường
và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
- Phát triển và phân bố hợp lý mạng lưới bưu chính
của vùng, các trung tâm bưu chính khu vực tại địa phương bảo đảm yêu cầu về kỹ
thuật, khoảng cách tiếp cận. Phát triển các trung tâm bưu chính vùng tại Hà Nội
và các địa phương Hải Phòng, Ninh Bình, bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật, kết nối
thông suốt với trung tâm bưu chính cấp tỉnh khác trong vùng và các trung tâm
bưu chính của các vùng khác. Phát triển trung tâm logistics bưu chính thông
minh trong phân loại, định tuyến, dự báo và tối ưu hóa dịch vụ vận chuyển, phân
phối hàng hóa.
- Tập trung đầu tư hạ tầng viễn thông, hạ tầng số
hiện đại, an toàn, nhất là hạ tầng viễn thông băng rộng, điện toán đám mây,
Internet vạn vật (IoT)..., trong đó:
+ Phát triển hạ tầng viễn thông băng rộng song
song, đồng bộ với hạ tầng giao thông, hạ tầng điện, mạng lưới cấp nước nội
vùng, liên vùng. Đẩy mạnh đầu tư, xây dựng, phát triển hạ tầng băng rộng di động
chất lượng cao (4G/5G và thế hệ tiếp theo) trên phạm vi toàn vùng. Ưu tiên triển
khai tại các khu vực công cộng, điểm du lịch, các khu công nghiệp, khu công nghệ
cao, khu công nghệ số tập trung, hành lang, vành đai kinh tế và khu vực động lực
của vùng.
+ Phát triển mạnh hạ tầng Internet vạn vật và điện
toán đám mây (Cloud), tích hợp vào các cơ sở hạ tầng truyền thống trong xây dựng
thành phố thông minh, giao thông vận tải, năng lượng, nhà máy thông minh và
trong xây dựng cơ sở hạ tầng công cộng tại các địa phương trong vùng.
+ Xây dựng hệ thống trung tâm dữ liệu đa mục tiêu cấp
quốc gia, cấp vùng và trung tâm dữ liệu các địa phương trong vùng, kết nối đồng
bộ với trung tâm dữ liệu vùng.
+ Hình thành trung tâm chuyển đổi số vùng tại Hà Nội,
làm đầu mối kết nối và lan tỏa các hoạt động đổi mới sáng tạo, cung cấp dịch vụ
số, bồi dưỡng nguồn nhân lực số, hỗ trợ doanh nghiệp địa phương tham gia hệ
sinh thái công nghệ và thị trường số.
- Ưu tiên phát triển các khu công nghệ số tập trung
chuyên sâu vào hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), làm chủ các công
nghệ chiến lược, công nghệ số trọng điểm; công nghệ tài chính; thu hút các dự
án thiết kế chip bán dẫn và phát triển nguồn nhân lực công nghiệp công nghệ số.
- Tổ chức lại hệ thống cơ quan báo chí, truyền
thông và xuất bản trong vùng theo hướng hội tụ, đa phương tiện, đa nền tảng,
tích hợp công nghệ số, dữ liệu mở và truyền thông tương tác với người dân. Xây
dựng và phát triển một số nhà xuất bản trọng điểm có ảnh hưởng lớn, phân bố hợp
lý, hình thành mạng lưới cơ sở phát hành xuất bản phẩm đến cấp xã, phương. Tăng
cường hạ tầng truyền thông đối ngoại và cụm thông tin số tại các khu vực cửa khẩu,
cảng biển, khu du lịch quốc tế nhằm quảng bá hình ảnh, thúc đẩy giao lưu, hợp
tác quốc tế và phát triển kinh tế số của vùng.
e) Các khu xử lý chất thải
- Phát triển hệ thống quản lý, thu gom, phân loại,
tái chế và xử lý chất thải rắn theo hướng hiện đại, đồng bộ và tuần hoàn. Giảm
phát sinh, tăng tái sử dụng, tái chế, giảm tối đa chôn lấp trực tiếp, tiến tới
hình thành nền kinh tế tuần hoàn, không rác thải. Cải tạo các bãi chôn lấp
không hợp vệ sinh, từng bước đóng cửa và chuyển đổi công năng các bãi rác gây ô
nhiễm nghiêm trọng, kết hợp trồng cây xanh và phục hồi môi trường sinh thái.
- Xây dựng mạng lưới các khu xử lý chất thải tập
trung cấp vùng và liên tỉnh, áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại, thân thiện
môi trường; ưu tiên xử lý đồng bộ chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp,
chất thải y tế và chất thải nguy hại theo mô hình liên kết vùng. Tập trung đầu
tư Khu xử lý chất thải Nam Sơn (Hà Nội) trở thành tổ hợp xử lý chất thải cấp
vùng hiện đại, sử dụng công nghệ đốt rác phát điện, thu hồi năng lượng, tận dụng
tro xỉ, bùn thải cho vật liệu xây dựng. Nghiên cứu phương án phát triển các khu
xử lý chất thải phân tán quy mô phù hợp với công nghệ hiện đại tại Bắc Ninh,
Hưng Yên, Hải Phòng.
- Đồng bộ hóa hạ tầng xử lý nước thải, chất thải rắn
với hạ tầng đô thị và khu công nghiệp, bảo đảm mỗi khu vực đều có hệ thống xử
lý tập trung, công nghệ tiên tiến, quan trắc tự động kết nối dữ liệu môi trường
vùng.
g) Hạ tầng phòng cháy, chữa cháy
- Phát triển đồng bộ, hiện đại hệ thống hạ tầng
phòng cháy, chữa cháy của vùng Đồng bằng sông Hồng theo hướng chủ động phòng ngừa,
ứng phó nhanh, hiệu quả, an toàn và thích ứng với rủi ro đô thị hóa cao; bảo đảm
phù hợp với Quy hoạch hạ tầng phòng cháy và chữa cháy thời kỳ 2021 - 2030, tầm
nhìn 2050 của quốc gia.
- Hình thành trung tâm liên kết vùng về phòng cháy,
chữa cháy tại Thủ đô Hà Nội, là đầu mối chỉ huy, huấn luyện, điều phối và ứng
phó khẩn cấp cấp vùng và quốc gia; các địa phương vệ tinh trọng điểm liên kết
là Hải Phòng, Quảng Ninh và Ninh Bình được đầu tư đồng bộ hệ thống cơ sở vật chất,
trang thiết bị và lực lượng chuyên trách để tăng cường khả năng ứng phó liên
vùng và hỗ trợ lẫn nhau khi xảy ra sự cố quy mô lớn.
- Đầu tư xây dựng trụ sở cơ quan Cục Cảnh sát phòng
cháy và chữa cháy và cứu nạn cứu hộ tại Thanh Xuân, Hà Nội đạt chuẩn quốc gia về
trung tâm điều hành, chỉ huy ứng cứu, tích hợp hệ thống dữ liệu số, bản đồ nhiệt,
mô phỏng và cảnh báo rủi ro cháy nổ; thành lập Trung tâm huấn luyện và ứng phó
khẩn cấp về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ của Bộ Công an và Viện
nghiên cứu khoa học công nghệ phòng cháy và chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cụm
công trình của Cục Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tại Ninh Bình, làm hạt nhân
đào tạo, chuyển giao công nghệ, nghiên cứu phát triển thiết bị và giải pháp
công nghệ mới cho toàn vùng.
- Phát triển mạng lưới cơ sở phòng cháy, chữa cháy
chuyên ngành và cơ sở ứng cứu khu vực, đặc biệt tại các khu công nghiệp, khu
công nghệ cao, khu đô thị tập trung, cảng biển, kho xăng dầu, trung tâm
logistics và khu du lịch biển đảo, bảo đảm được trang bị phương tiện, thiết bị
hiện đại, lực lượng chuyên trách và hệ thống cấp nước chữa cháy đạt chuẩn.
2. Phương hướng phát triển kết cấu
hạ tầng xã hội
a) Mạng lưới cơ sở giáo dục, đào tạo và giáo dục
nghề nghiệp
- Tổ chức, sắp xếp lại các trường đại học, cao đẳng,
giáo dục nghề nghiệp theo hướng tinh gọn, hiệu quả, chuyên sâu, gắn với nhu cầu
phát triển vùng và cả nước. Nâng cấp, mở rộng các cơ sở đào tạo có thể mạnh về
khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, biển, hàng hải, logistics
và y, dược chất lượng cao, tiếp cận trình độ ASEAN-4.
- Hình thành các trung tâm đào tạo đại học trọng điểm
quốc gia và khu đại học vùng hiện đại, trong đó Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học
Bách khoa Hà Nội, Đại học Kinh tế Quốc dân là hạt nhân đào tạo, nghiên cứu, đổi
mới sáng tạo tầm quốc gia và khu vực; khu Đại học Quốc gia Hòa Lạc được đầu tư
đồng bộ trở thành đô thị đại học - khoa học công nghệ tiên tiến, trung tâm đào
tạo, R&D, khởi nghiệp sáng tạo hàng đầu miền Bắc. Phát triển Hải Phòng
thành trung tâm đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ về hàng hải,
kinh tế biển và công nghiệp xanh của vùng. Phát triển 2 - 3 đại học tinh hoa
theo mô hình đại học nghiên cứu đẳng cấp quốc tế, đào tạo nhân tài quốc gia.
- Phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp
theo hướng mở, linh hoạt và hội nhập quốc tế. Xây dựng trung tâm quốc gia đào tạo
và thực hành nghề chất lượng cao đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế trên cơ sở
nâng cấp trường Cao đẳng Nghề công nghệ cao Hà Nội. Hình thành một số trung tâm
giáo dục nghề nghiệp cấp vùng tại các địa bàn trọng điểm như Hà Nội, Hải Phòng,
Bắc Ninh đồng thời hình thành mạng lưới các trường nghề chất lượng cao tại các
tỉnh, thành phố trong vùng gắn với các trung tâm công nghiệp, dịch vụ trọng điểm,
đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động số, kinh tế xanh và chuyển đổi năng lượng.
- Tăng cường liên kết đào tạo giữa các cơ sở giáo dục,
doanh nghiệp và khu công nghiệp, thúc đẩy mô hình hợp tác công tư trong đào tạo
nhân lực chất lượng cao, khuyến khích các doanh nghiệp tham gia đầu tư, đặt
hàng đào tạo, thực hành nghề, bảo đảm gắn kết giữa giáo dục - sản xuất - thị
trường lao động. Hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp và đào
tạo kỹ năng số của vùng đặt tại Hà Nội và các đô thị động lực. Khuyến khích các
cơ sở giáo dục đại học trong vùng thành lập doanh nghiệp khoa học và công nghệ
để thương mại hóa các kết quả nghiên cứu thế mạnh đặc thù của vùng.
- Đầu tư xây dựng Trung tâm Giáo dục đặc biệt Quốc
gia tại Hà Nội đóng vai trò điều phối, hướng dẫn chuyên môn cho hệ thống các cơ
sở giáo dục hòa nhập và chuyên biệt trong vùng và cả nước, đồng thời xây dựng
trường chuyên biệt liên cấp chất lượng cao của vùng tại Hà Nội nhằm đào tạo, bồi
dưỡng nhân tài, hỗ trợ chuyên môn cho các địa phương.
b) Mạng lưới tổ chức khoa học và công nghệ, đổi mới
sáng tạo
Tập trung xây dựng và nâng cao hiệu quả hoạt động của
các trung tâm đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ, hệ sinh thái khởi nghiệp,
thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ. Hình thành các cụm liên kết ngành về
đổi mới sáng tạo, liên kết các tổ chức khoa học công nghệ, trường đại học, viện
nghiên cứu, quỹ đầu tư mạo hiểm với các khu công nghệ cao, khu công nghiệp, khu
nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Trong đó:
- Hình thành và phát triển mạng lưới trung tâm đổi
mới sáng tạo trong vùng, lấy Hà Nội làm trung tâm điều phối, liên kết với Trung
tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC) tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc, đồng thời
xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo chuyên ngành và trung tâm trí tuệ nhân
tạo tại Hải Phòng, Bắc Ninh, Quảng Ninh và Ninh Bình, tạo thành cụm liên kết đổi
mới sáng tạo vùng Đồng bằng sông Hồng.
- Hoàn thành đầu tư xây dựng, hiện đại hóa cơ sở vật
chất, tăng cường năng lực, nâng cao hiệu quả hoạt động của trung tâm đổi mới
sáng tạo quốc gia tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc, Hà Nội trở thành tổ hợp nghiên
cứu - đào tạo - thử nghiệm - chuyển giao công nghệ - khởi nghiệp sáng tạo quốc
gia và quốc tế, gắn với Khu đô thị đại học Hòa Lạc theo mô hình "5 trong
1" bao gồm: Trung tâm đào tạo tài năng; trung tâm nghiên cứu chuyển giao
công nghệ hiện đại; trung tâm đổi mới sáng tạo ngang tầm quốc gia và quốc tế;
đô thị đại học thông minh, hiện đại; trung tâm thử nghiệm hợp tác công tư và
đào tạo nghiên cứu.
- Phát triển và hiện đại hóa hệ thống các phòng thí
nghiệm trọng điểm quốc gia, phòng thí nghiệm chuyên ngành, các cơ sở nghiên cứu,
cơ sở ươm tạo công nghệ, công viên công nghệ tại Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng,
Hưng Yên và Quảng Ninh; khuyến khích các tập đoàn, doanh nghiệp lớn trong và
ngoài nhà nước hình thành các viện R&D chuyên sâu, thúc đẩy nội địa hóa
công nghệ, phát triển sản phẩm chủ lực và nâng cao năng lực cạnh tranh công
nghiệp vùng.
- Thúc đẩy hình thành các cụm liên kết ngành về đổi
mới sáng tạo, kết nối các khu công nghệ cao, khu công nghiệp, trung tâm tài
chính, quỹ đầu tư mạo hiểm với hệ thống viện - trường - doanh nghiệp khởi nghiệp;
hình thành các hành lang công nghệ và không gian sáng tạo vùng. Phát triển các
trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo cấp vùng, hỗ trợ Thương mại
hóa sản phẩm khoa học và công nghệ, tạo cầu nối giữa khoa học và công nghệ - thị
trường - vốn đầu tư.
- Ứng dụng mạnh mẽ chuyển đổi số trong hoạt động
khoa học và công nghệ, xây dựng cơ sở dữ liệu số vùng về nghiên cứu, sở hữu trí
tuệ, đổi mới sáng tạo, tích hợp vào nền tảng quốc gia; triển khai chính phủ số
trong quản lý khoa học và công nghệ, thúc đẩy chia sẻ, mở dữ liệu, và phát triển
hệ thống chỉ số đổi mới sáng tạo vùng theo chuẩn quốc tế.
- Đẩy mạnh thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học
và phát triển công nghệ; tăng cường chuyển giao công nghệ, phát triển thị trường
khoa học và công nghệ của vùng; thúc đẩy liên kết giữa tổ chức khoa học và công
nghệ, cơ sở đào tạo với doanh nghiệp và chính quyền địa phương, bảo đảm hoạt động
nghiên cứu, đổi mới sáng tạo gắn với nhu cầu thực tiễn phát triển của vùng.
c) Mạng lưới cơ sở y tế
Phát triển hệ thống y tế toàn diện, hiện đại, công
bằng và bền vững, lấy y tế dự phòng là then chốt, y tế cơ sở là nền tảng, y tế
chuyên sâu là động lực, hướng tới bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân và bảo hiểm
y tế toàn dân. Bảo đảm mọi người dân được tiếp cận dịch vụ y tế chất lượng, an
toàn, bình đẳng, gắn với ứng dụng chuyển đổi số y tế, y học chính xác và y tế
thông minh. Trong đó:
- Đầu tư, hiện đại hóa các bệnh viện trung ương và
trọng điểm vùng, đặc biệt là 03 bệnh viện cấp quốc gia hạng đặc biệt, gồm: Bệnh
viện Bạch Mai, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức,
phát triển ngang tầm các cơ sở y tế tiên tiến trong khu vực châu Á - Thái Bình
Dương. Hoàn thành xây dựng, đưa vào khai thác sử dụng cơ sở 2 các bệnh viện Bạch
Mai, Việt Đức và Lão Khoa Trung ương tại Ninh Bình để giảm tải tuyến trung
ương, phục vụ khu vực phía Nam của vùng. Tiếp tục đầu tư các bệnh viện chuyên
khoa vùng và bệnh viện tư nhân chất lượng cao, tạo mạng lưới y tế đa tầng -
liên thông - hội nhập, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe hiện đại của dân cư đô
thị và công nghiệp.
- Phát triển hệ thống bệnh viện chuyên sâu cấp
vùng, trong đó: Hải Phòng được định hướng trở thành trung tâm y tế chuyên sâu của
vùng đồng bằng sông Hồng, với các lĩnh vực mũi nhọn về ngoại khoa, hồi sức cấp
cứu, y học biển, y học dự phòng và y học tái tạo. Hà Nội tiếp tục giữ vai trò
trung tâm y học đầu ngành quốc gia, tập trung phát triển các chuyên khoa ung bướu,
tim mạch, sản - nhi, ghép tạng, truyền máu và tế bào gốc, gắn với trung tâm điều
phối quốc gia về ghép bộ phận cơ thể người. Các địa phương như Ninh Bình, Hưng Yên
được định hướng nâng cấp các bệnh viện đa khoa tỉnh thành cơ sở vệ tinh của tuyến
trung ương, đảm nhiệm chức năng y tế vùng.
- Tăng cường năng lực y tế dự phòng, kiểm soát dịch
bệnh và an toàn sinh học vùng, hình thành cơ quan kiểm soát bệnh tật trung ương
trên địa bàn vùng, đầu tư, nâng cấp phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp 3 của
vùng, bảo đảm năng lực phát hiện, cảnh báo sớm, phòng ngừa và ứng phó dịch bệnh
mới nổi. Đầu tư, nâng cấp Trung tâm kiểm nghiệm thuốc, mỹ phẩm, thực phẩm của
Hà Nội thành Trung tâm kiểm nghiệm vùng đồng bằng sông Hồng, phục vụ quản lý chất
lượng dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm và vật tư y tế. Tại Hà Nội, nghiên cứu hình
thành các đơn vị quốc gia về chuyển giao công nghệ vắc xin; trung tâm nghiên cứu
sản xuất vắc xin và sinh phẩm y tế; trung tâm sàng lọc, chẩn đoán trước sinh và
sơ sinh vùng.
- Phát triển hệ thống y tế cơ sở, y tế cộng đồng và
y tế số, hoàn thiện mạng lưới trạm y tế xã, phường đạt chuẩn quốc gia, tăng cường
kết nối dữ liệu khám chữa bệnh liên thông 3 cấp (xã - tỉnh - trung ương). Ứng dụng
chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và hồ sơ sức khỏe điện tử toàn dân, hình thành
nền tảng y tế thông minh vùng đồng bằng sông Hồng; xây dựng các trung tâm điều
hành y tế thông minh tại Hà Nội và Hải Phòng, hỗ trợ giám sát, điều phối cấp cứu,
phòng dịch và quản lý sức khỏe cộng đồng theo thời gian thực.
d) Mạng lưới cơ sở văn hóa
Phát triển mạng lưới cơ sở văn hóa đồng bộ, hiện đại,
gắn với việc hình thành các không gian văn hóa sáng tạo và hưởng thụ văn hóa của
Nhân dân, coi đây là nền tảng tinh thần của xã hội và động lực phát triển bền vững
vùng Đồng bằng sông Hồng. Trong đó:
- Tập trung hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa cấp
quốc gia và vùng. Xây dựng, nâng cấp các bảo tàng văn hóa, lịch sử và bảo tàng
chuyên ngành hiện đại gắn với chuyển đổi số, hình thành bảo tàng số và không
gian trưng bày thực tế ảo. Phát triển mạng lưới thư viện quốc gia, vùng, địa
phương, kết nối, liên thông cơ sở dữ liệu thư viện số; nâng cấp các thư viện
công cộng cấp tỉnh tại Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh... thành thư viện trung
tâm vùng, khu vực, tích hợp nền tảng tra cứu và chia sẻ tri thức số.
- Phát triển các cơ sở văn hóa nghệ thuật và công
nghiệp văn hóa hiện đại. Đầu tư xây dựng Nhà hát Nghệ thuật Quốc gia tại Hà Nội,
nâng cấp các cơ sở nghệ thuật biểu diễn đạt chuẩn quốc tế, có khả năng tổ chức
các sự kiện văn hóa, nghệ thuật, điện ảnh trong nước và quốc tế. Khôi phục,
nâng cấp các nhà hát nghệ thuật truyền thống của địa phương như chèo, tuồng, ca
trù, quan họ, chầu văn... nhằm bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc kết hợp
phát triển du lịch văn hóa. Hình thành các cơ sở điện ảnh, trung tâm sản xuất,
phân phối nội dung số và nền tảng điện ảnh trực tuyến, phát triển công nghiệp
phim và dịch vụ sáng tạo số vùng đồng bằng sông Hồng.
- Xây dựng các trung tâm hội chợ, triển lãm và
không gian văn hóa cấp vùng, quốc gia. Đầu tư hoàn thiện Trung tâm triển lãm quốc
tế hiện đại tại Hà Nội và nâng cấp Trung tâm triển lãm văn hóa nghệ thuật Việt
Nam tại Hà Nội thanh tổ hợp triển lãm mỹ thuật, sáng tạo văn hóa vùng và quốc
gia đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ tổ chức các sự kiện triển lãm mỹ thuật trong nước
và quốc tế.
- Xây dựng, nâng cấp một số cơ sở văn hóa của các địa
phương đóng vai trò trung tâm vùng tại Ninh Bình trở thành cửa ngõ giao lưu văn
hóa phía Tây và phía Nam của vùng; tại Quảng Ninh, Hải Phòng trở thành trung
tâm văn hóa, du lịch, giao lưu quốc tế phía Đông Bắc của vùng; tại Hà Nội trở
thành trung tâm văn hóa, thể thao và du lịch của quốc gia, đầu mối lan tỏa các
giá trị văn hóa Việt Nam ra khu vực và thế giới.
- Phát triển nguồn nhân lực và cơ sở nghiên cứu,
đào tạo văn hóa, nghệ thuật vùng. Đầu tư, nâng cấp các học viện, trường đại học,
viện nghiên cứu văn hóa, nghệ thuật tại Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình hình thành
trung tâm đào tạo nhân lực ngành văn hóa, nghệ thuật, di sản, công nghiệp văn
hóa của vùng đạt trình độ khu vực và quốc tế. Khuyến khích xã hội hóa đầu tư
vào thiết chế văn hóa, hợp tác công tư trong xây dựng rạp chiếu, nhà hát, không
gian sáng tạo, trung tâm văn hóa cộng đồng; hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp từ
công nghiệp văn hóa, gắn với phát triển kinh tế tri thức, kinh tế số và kinh tế
đêm đô thị.
đ) Mạng lưới cơ sở thể thao
Phát triển mạng lưới cơ sở thể dục thể thao đồng bộ,
hiện đại, đạt chuẩn quốc gia và có một số công trình xây dựng đạt tiêu chuẩn quốc
tế, đáp ứng nhu cầu rèn luyện thể chất, nâng cao sức khỏe Nhân dân, phát triển
thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp, gắn kết chặt chẽ với phát
triển văn hóa, du lịch, y tế và giáo dục vùng. Ưu tiên phát triển các trung tâm
thể thao tổng hợp, thể thao biển, thể thao học đường và thể thao cộng đồng, hướng
tới hình thành vùng thể thao trọng điểm khu vực Bắc Bộ. Trong đó:
- Đầu tư, mở rộng và hiện đại hóa hệ thống trung
tâm huấn luyện thể thao quốc gia và cấp vùng. Xây dựng Trung tâm huấn luyện thể
thao quốc gia Hà Nam (Ninh Bình), đáp ứng yêu cầu huấn luyện, đào tạo vận động
viên, huấn luyện viên thể thao thành tích cao của vùng và cả nước. Cải tạo,
nâng cấp Trung tâm Huấn luyện Thể thao Quốc gia Hà Nội trở thành tổ hợp huấn
luyện đa môn hiện đại, đủ điều kiện tổ chức các sự kiện thể thao quốc tế, khu vực
và tập huấn vận động viên cho Thế vận hội. Phát triển mạng lưới trung tâm thể
thao cấp tỉnh, liên tỉnh (tại Hải Phòng, Quảng Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình) với
cơ sở vật chất đạt chuẩn, đáp ứng nhu cầu huấn luyện, thi đấu và tổ chức sự kiện
thể thao khu vực.
- Phát triển các cơ sở nghiên cứu, y học thể thao
và công nghệ trong thể dục thể thao. Nâng cấp, hiện đại hóa các viện, trung tâm
nghiên cứu khoa học thể thao, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, phân tích dữ liệu
và trí tuệ nhân tạo (AI) trong huấn luyện, theo dõi thành tích, phục hồi thể lực
và dinh dưỡng thể thao. Đầu tư, nâng cấp Bệnh viện Thể thao Việt Nam trở thành
trung tâm y học thể thao và phục hồi chức năng hàng đầu khu vực, áp dụng công
nghệ hiện đại trong khám, điều trị chấn thương, phục hồi vận động viên, huấn
luyện viên và người dân, góp phần hình thành hệ sinh thái y học thể thao vùng.
- Phát triển Trung tâm Doping và Y học thể thao Việt
Nam trở thành cơ sở nghiên cứu, kiểm tra, phòng chống doping cấp khu vực Đông
Nam Á, đạt chuẩn xét nghiệm doping quốc tế (WADA), đảm bảo năng lực kiểm định,
giám sát và hỗ trợ tổ chức các giải đấu quốc tế tại Việt Nam. Kết hợp trung tâm
này với mạng lưới nghiên cứu thể thao, sức khỏe vùng, phục vụ đồng thời khoa học
huấn luyện, y học thể thao và sức khỏe cộng đồng.
- Khuyến khích xã hội hóa đầu tư hạ tầng thể thao,
đặc biệt trong xây dựng sân vận động, nhà thi đấu, trung tâm thể thao đa năng,
khu thể thao công cộng, công viên thể thao đô thị, cũng như phát triển công
nghiệp thể thao và dịch vụ thể thao giải trí. Hình thành cụm thể thao - văn hóa
- du lịch tại Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh và Ninh Bình, vừa phục vụ thi đấu,
huấn luyện, vừa phát triển kinh tế thể thao vùng theo hướng bền vững, hội nhập
quốc tế.
e) Mạng lưới cơ sở trợ giúp xã hội và cơ sở xã hội
nuôi dưỡng người có công
- Phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện, đa
tầng, hiện đại, hướng tới mô hình an sinh chủ động, thích ứng, bao trùm, hỗ trợ
người dân ứng phó hiệu quả với rủi ro kinh tế, xã hội, thiên tai, biến đổi khí
hậu và dịch bệnh, Từng bước chuyển đổi từ chính sách trợ cấp sang trợ giúp phát
triển, bảo đảm mọi người dân, đặc biệt nhóm yếu thế, người khuyết tật, người
cao tuổi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người có công với cách mạng đều được tiếp
cận dịch vụ xã hội cơ bản, công bằng và nhân văn.
- Xây dựng mạng lưới cơ sở trợ giúp xã hội đồng bộ,
hiện đại và chuyên nghiệp. Phát triển Trung tâm phục hồi chức năng người khuyết
tật Thụy An (Ba Vì, Hà Nội) trở thành cơ sở bảo trợ và phục hồi chức năng quốc
gia, làm trung tâm đào tạo, chuyển giao kỹ thuật phục hồi chức năng cho các tỉnh
trong vùng và cả nước. Nâng cấp các trung tâm bảo trợ xã hội cấp tỉnh, thành phố
trong vùng theo hướng mở, thân thiện, chuyên biệt hóa chức năng chăm sóc người
cao tuổi, trẻ em mồ côi, người khuyết tật và người yếu thế, gắn với hệ thống dịch
vụ công tác xã hội tại cộng đồng.
- Phát triển hệ thống cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng
người có công quy mô vùng và quốc gia. Trên cơ sở sáp nhập, nâng cấp, hiện đại
hóa các cơ sở hiện có, hình thành mạng lưới cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng người
có công cấp vùng, cấp quốc gia, bảo đảm cơ sở vật chất đồng bộ, môi trường chăm
sóc an toàn, nhân văn, gắn với ứng dụng y học phục hồi và công nghệ chăm sóc
thông minh. Ưu tiên đầu tư xây dựng mới và nâng cấp cơ sở hạ tầng, trang thiết
bị kỹ thuật các cơ sở tại Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình để tạo thành chuỗi cơ sở
điều dưỡng người có công tiêu chuẩn quốc gia, phục vụ chăm sóc sức khỏe thể chất
và tinh thần người dân.
- Tăng cường năng lực dịch vụ xã hội chuyên nghiệp
và chuyển đổi số trong công tác an sinh. Xây dựng cơ sở dữ liệu an sinh xã hội
vùng kết nối đồng bộ với hệ thống quốc gia về dân cư, y tế, giáo dục và việc
làm. Ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo (AI) trong quản lý, giám sát và
cung cấp dịch vụ trợ giúp xã hội, bảo đảm minh bạch, kịp thời, tiếp cận bình đẳng
cho mọi đối tượng thụ hưởng. Hình thành trung tâm điều hành an sinh xã hội vùng
đặt tại Hà Nội, có chức năng điều phối, cảnh báo rủi ro xã hội và hỗ trợ điều
hành các cơ sở an sinh địa phương.
- Khuyến khích xã hội hóa đầu tư phát triển hệ thống
trợ giúp và chăm sóc xã hội, thúc đẩy mô hình hợp tác công tư trong vận hành cơ
sở bảo trợ, điều dưỡng, phục hồi chức năng; huy động doanh nghiệp, tổ chức xã hội,
tôn giáo, cá nhân tham gia chăm sóc, hỗ trợ cộng đồng yếu thế; phát triển ngành
dịch vụ xã hội nhân văn, hiện đại, bền vững gắn với mục tiêu "không ai bị
bỏ lại phía sau".
g) Hạ tầng thương mại
Phát triển hệ thống hạ tầng thương mại vùng đồng bộ,
hiện đại và bền vững, gắn kết với hạ tầng giao thông, công nghiệp, logistics và
đô thị; hướng tới mô hình thương mại số, thông minh, thích ứng xu thế kinh tế
xanh. Hình thành mạng lưới trung tâm thương mại, logistics liên vùng, trong đó
Hà Nội là trung tâm điều phối và phân phối hàng hóa vùng, kết nối với Hải
Phòng, Quảng Ninh, Hưng Yên, Bắc Ninh, Ninh Bình. Phát triển chuỗi trung tâm
logistics, chợ đầu mối, kho hàng thông minh, sàn giao dịch hàng hóa và thương mại
điện tử gắn với các hành lang kinh tế trọng điểm của vùng, quốc gia; khuyến
khích xã hội hóa đầu tư, hợp tác công tư phát triển thương mại xanh, logistics
không phát thải và chuỗi cung ứng tuần hoàn, góp phần nâng cao năng lực cạnh
tranh và phát triển bền vững vùng.
VII. PHƯƠNG HƯỚNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG,
PHÒNG, CHỐNG THIÊN TAI VÀ ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TRÊN LÃNH THỔ VÙNG
1. Phương hướng liên kết bảo vệ môi trường
- Hoàn thiện thể chế, cơ chế liên kết vùng trong bảo
vệ môi trường, xây dựng mô hình quản trị môi trường vùng đồng bằng sông Hồng và
vùng trung du miền núi phía Bắc bảo đảm thống nhất, hiệu lực và hiệu quả. Tăng
cường cơ chế phối hợp liên ngành, liên tỉnh trong quản lý tài nguyên, môi trường
và ứng phó biến đổi khí hậu; đồng thời ban hành chính sách thu hút, huy động đa
dạng nguồn lực đầu tư hạ tầng môi trường, nhất là các dự án xử lý chất thải rắn,
chất thải nguy hại tập trung cấp vùng và liên tỉnh, ứng dụng công nghệ tiên tiến,
thân thiện môi trường và tuần hoàn tài nguyên.
- Đẩy mạnh liên kết vùng trong xử lý ô nhiễm và cải
thiện chất lượng môi trường sinh thái, tập trung giải quyết căn bản các điểm
nóng môi trường như rác thải, khí thải, nước thải công nghiệp và sinh hoạt tại
Hà Nội, Hải Phòng và các đô thị lớn, cũng như ô nhiễm tại lưu vực sông Nhuệ,
sông Đáy, hệ thống thủy lợi Bắc Hưng Hải và sông Ngũ Huyện Khê. Triển khai các
chương trình phục hồi môi trường nước, không khí, đất và hệ sinh thái, đồng thời
bảo tồn, khai thác bền vững tài nguyên và đa dạng sinh học tại các khu bảo tồn
thiên nhiên, khu di sản thế giới, vùng đất ngập nước quan trọng, hướng tới hệ
sinh thái tự nhiên khỏe mạnh, kinh tế xanh và tăng trưởng bền vững.
- Xây dựng hệ thống dữ liệu môi trường của vùng đồng
bộ, hiện đại, thống nhất và chia sẻ đa cấp, trong đó Hà Nội đóng vai trò trung
tâm điều phối dữ liệu môi trường vùng. Hình thành Trung tâm dữ liệu môi trường
và biến đổi khí hậu vùng, kết nối với hệ thống quan trắc, giám sát môi trường
quốc gia, bảo đảm cập nhật, chia sẻ dữ liệu thời gian thực về chất lượng không
khí, nguồn nước, chất thải và đa dạng sinh học. ứng dụng công nghệ số, trí tuệ
nhân tạo và phân tích dữ liệu lớn trong giám sát, dự báo, cảnh báo rủi ro môi
trường, hỗ trợ ra quyết định quản lý, quy hoạch và ứng phó kịp thời với các sự
cố môi trường vùng.
2. Phương hướng liên kết bảo vệ các lưu vực sông
liên tỉnh
- Bảo vệ môi trường lưu vực sông Hồng - sông Thái
Bình theo hướng quản lý tổng hợp, liên kết vùng và thích ứng với biến đổi khí hậu,
bảo đảm cân bằng giữa khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên nước với bảo vệ chất
lượng môi trường sinh thái. Tổ chức quan trắc, giám sát định kỳ chất lượng nước
trên toàn hệ thống lưu vực, kết nối mạng lưới quan trắc tự động của các địa
phương, tích hợp hệ thống dữ liệu tài nguyên nước, môi trường và khí tượng thủy
văn vào cơ sở dữ liệu quốc gia. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo
trong dự báo, cảnh báo ô nhiễm, xâm nhập mặn, hạn hán và sự cố môi trường nước;
thiết lập trung tâm điều phối giám sát lưu vực sông vùng tại Hà Nội.
- Tăng cường liên kết, phối hợp giữa các địa phương
trong quản lý, kiểm soát ô nhiễm lưu vực sông liên tỉnh, đặc biệt tại các đoạn
sông Nhuệ, sông Đáy, sông Ngũ Huyện Khê, sông Cà Lồ và hệ thống Bắc Hưng Hải là
nơi chịu tác động lớn của nước thải sinh hoạt, công nghiệp, làng nghề. Các tỉnh,
thành phố xây dựng và thực hiện kế hoạch kiểm soát ô nhiễm định kỳ và đột xuất
hằng năm, tập trung vào nguồn thải tập trung, khu công nghiệp, cụm công nghiệp,
làng nghề và khu dân cư ven sông; áp dụng cơ chế phối hợp liên vùng trong cảnh
báo sớm, chia sẻ dữ liệu và xử lý sự cố môi trường xuyên ranh giới.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý
nghiêm các hành vi gây ô nhiễm môi trường lưu vực sông, bảo đảm mọi cơ sở sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ phải có hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn
quốc gia trước khi xả ra môi trường. Khuyến khích doanh nghiệp áp dụng hệ thống
quản lý môi trường tiên tiến theo tiêu chuẩn quốc tế (ISO 14001, ISO 50001), đầu
tư công nghệ xử lý tuần hoàn, tái sử dụng nước và giảm phát thải carbon. Tăng
cường giám sát xã hội và vai trò cộng đồng trong giám sát nguồn thải, góp phần
hình thành văn hóa bảo vệ nguồn nước và môi trường sinh thái lưu vực sông.
3. Phương hướng liên kết bảo vệ các khu vực ven biển
liên tỉnh
- Phát triển không gian ven biển vùng đồng bằng sông
Hồng theo hướng tích hợp phát triển - bảo tồn - thích ứng, bảo đảm phát triển
kinh tế biển gắn với bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học, chủ động ứng phó với
biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Ưu tiên quy hoạch quỹ đất ven biển cho phát
triển công nghiệp, dịch vụ, đô thị ven biển theo mô hình tập trung - xanh -
thông minh, gắn với mạng lưới hạ tầng kỹ thuật đồng bộ đáp ứng tiêu chuẩn quốc
gia về môi trường, an toàn, phòng ngừa sự cố và năng lực ứng phó thiên tai. Kiểm
soát chặt chẽ nguồn thải từ đất liền, đặc biệt từ các khu công nghiệp, đô thị
ven biển, hoạt động giao thông, cảng biển, để ngăn ngừa, giảm thiểu ô nhiễm môi
trường vùng bờ.
- Tăng cường liên kết bảo tồn và phục hồi hệ sinh
thái rừng ngập mặn, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng ven biển tại Quảng Ninh, Hải
Phòng, Hưng Yên, Ninh Bình, gắn với xây dựng hành lang đa dạng sinh học ven biển
Bắc Bộ. Triển khai chương trình trồng mới và phục hồi rừng ngập mặn quy mô lớn,
kết hợp với mô hình sinh kế xanh dựa vào hệ sinh thái (EBAs) nhằm tăng khả năng
chống chịu, hấp thụ carbon và giảm phát thải khí nhà kính.
- Tăng cường liên kết vùng trong khai thác, bảo tồn
và phục hồi các hệ sinh thái biển và vùng đất ngập nước ven sông, ven biển, đặc
biệt tại các cửa sông Hồng, sông Thái Bình và các khu bảo tồn thiên nhiên ven
biển. Tăng cường hợp tác liên tỉnh trong quản lý đa dạng sinh học, bảo vệ nguồn
lợi thủy sản, kiểm soát khai thác ven bờ, kết hợp giám sát, ứng phó và phục hồi
môi trường sau sự cố ô nhiễm, tràn dầu, xói lở bờ biển. Ngăn chặn suy thoái
sinh thái, mất rừng ngập mặn và xâm nhập mặn sâu vào nội địa, góp phần bảo vệ
các vùng đất ngập nước Ramsar, khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng và di sản
thiên nhiên quốc gia.
- Hoàn thành việc thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển
của vùng, gắn với xây dựng, củng cố và nâng cấp hệ thống đê, kè, hồ điều tiết,
khu neo đậu tàu thuyền tránh trú bão và hạ tầng ứng phó thiên tai hiện đại. Đầu
tư phát triển hệ thống quan trắc, cảnh báo sớm thiên tai, sạt lở, nước biển
dâng và ứng dụng công nghệ số trong giám sát bờ biển, xói lở và biến động môi
trường vùng bờ.
- Tăng cường cơ chế phối hợp giữa các địa phương
ven biển trong việc quản lý rác thải nhựa biển và ô nhiễm vùng bờ, thúc đẩy mô
hình kinh tế tuần hoàn, tái chế nhựa, thu gom rác thải ven biển cộng đồng, huy
động doanh nghiệp và ngư dân tham gia bảo vệ biển xanh sạch, bền vững.
4. Phương hướng xác lập các khu vực đa dạng sinh học
cao, vùng đất ngập nước quan trọng, khu vực cảnh quan sinh thái quan trọng, các
khu bảo tồn thiên nhiên, cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học, các hành lang đa dạng
sinh học liên tỉnh
a) Phương hướng xác lập các khu vực đa dạng sinh học
cao
- Tiếp tục khoanh vùng và bảo vệ các khu vực có giá
trị đa dạng sinh học cao ngoài các khu bảo tồn thiên nhiên hiện có, đặc biệt tại
vùng cửa sông, ven biển và hải đảo, nhằm duy trì cấu trúc, chức năng và tính ổn
định của hệ sinh thái đặc trưng vùng đồng bằng sông Hồng. Thực hiện bảo vệ, sử
dụng bền vững nguồn lợi thủy sản thông qua thiết lập khu vực cấm khai thác tạm
thời, khu vực phục hồi sinh cảnh và khu vực cư trú nhân tạo cho loài thủy sản,
đảm bảo cân bằng sinh thái và sinh kế bền vững của cộng đồng ngư dân.
- Nghiên cứu, xác lập khu vực có đa dạng sinh học
cao tại vùng biển đảo Bạch Long Vĩ, Cát Bà, Long Châu (Hải Phòng, Quảng Ninh),
kết nối với các khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại Quảng Ninh, Hưng Yên, Ninh
Bình và vùng ven biển Tây Nam Hạ Long - Hạ Mai - Quất Lâm - Tiền Hải. Hình
thành 04 khu vực cư trú nhân tạo cho loài thủy sản tại Long Châu (Quảng Ninh),
Cát Bà (Hải Phòng), Long Châu Tây Nam (Hải Phòng) và Tiền Hải (Thái Bình) nhằm
phục hồi quần thể thủy sinh quý hiếm và duy trì đa dạng sinh học biển. Xác định
04 khu vực cư trú nhân tạo cho loài thủy sản tại Long Châu (Quảng Ninh), Cát Bà
(Hải Phòng), Long Châu Tây Nam (Hải Phòng) và Tiền Hải (Hưng Yên) nhằm phục hồi
quần thể thủy sinh quý hiếm và duy trì đa dạng sinh học biển.
b) Phương hướng xác lập các vùng đất ngập nước quan
trọng
- Tăng cường bảo tồn, bảo vệ nghiêm ngặt 02 vùng đất
ngập nước có tầm quan trọng quốc tế (khu Ramsar) hiện cố, gồm Vườn Quốc gia
Xuân Thủy và Khu bảo tồn đất ngập nước Vân Long (Ninh Bình) và 02 vùng đất ngập
nước quan trọng tầm quốc gia là Khu Bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Thái Thụy
và Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Tiền Hải (Hưng Yên).
- Hoàn thành việc điều tra, thống kê, kiểm kê diện
tích các vùng đất ngập nước quan trọng; khoanh vùng, xác lập được các vùng đất
ngập nước quan trọng cấp tỉnh và liên tỉnh trong hệ sinh thái đất ngập nước nội
địa trên hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình - sông Đáy, phục vụ bảo tồn sinh cảnh
và điều tiết khí hậu vùng hạ lưu.
c) Phương hướng xác lập các khu vực cảnh quan sinh
thái quan trọng
Xác lập và quản lý bền vững 02 khu vực cảnh quan
sinh thái quan trọng, gồm:
- Khu cảnh quan sinh thái vùng cửa sông ven biển
châu thổ sông Hồng (Hưng Yên - Ninh Bình) tại các khu vực biển, ven biển, với hệ
sinh thái đất ngập nước, rừng ngập mặn và bãi triều phong phú.
- Khu cảnh quan sinh thái Hoa Lư (Ninh Bình), gồm:
Gia Viễn, Hoa Lư, Tam Điệp, Yên Mô, bảo tồn cảnh quan, rừng đặc dụng và giá trị
di sản văn hóa, thiên nhiên thế giới Tràng An. Hướng tới quản lý cảnh quan sinh
thái đa tầng, kết hợp bảo tồn thiên nhiên, di sản và phát triển du lịch sinh
thái bền vững.
d) Phương hướng xác lập các khu bảo tồn thiên nhiên
và hành lang đa dạng sinh học liên tỉnh
- Xác lập các khu bảo tồn thiên nhiên, gồm các khu
bảo tồn chuyển tiếp và các khu bảo tồn thành lập mới, đảm bảo liên thông sinh
thái và thích ứng khí hậu.
- Thành lập mới hành lang đa dạng sinh học Xuân Thủy
- Tiền Hải - Thái Thụy trên địa bàn các tỉnh Ninh Bình, Hưng Yên; hình thành
hành lang đa dạng sinh học liên tỉnh ven biển Bắc Bộ tại Hưng Yên, Quảng Ninh
và Hải Phòng và trục sinh thái biển - đảo liên kết với hành lang sông Hồng -
sông Đáy - sông Thái Bình, tạo mạng lưới bảo tồn liên vùng và liên quốc gia (với
khu vực Vịnh Bắc Bộ).
đ) Phương hướng xác lập các cơ sở bảo tồn đa dạng
sinh học
- Đầu tư nâng cấp và phát triển các bảo tồn hiện
có, đặc biệt là Cơ sở bảo tồn gấu Ninh Bình và Trung tâm cứu hộ động vật hoang
dã Hà Nội, hướng tới mô hình trung tâm cứu hộ, phục hồi và tái thả động vật
hoang dã đạt chuẩn khu vực.
- Xây dựng và phát triển một số cơ sở bảo tồn và
nghiên cứu giống, loài quý hiếm, nguy cấp, đặc hữu của vùng (thực vật thủy
sinh, chim di trú, thú rừng, sinh vật biển ven bờ), gắn với mạng lưới trung tâm
dữ liệu đa dạng sinh học quốc gia.
5. Phương hướng phát triển hệ thống đê điều, kết cấu
hạ tầng phòng, chống thiên tai
Phát triển hệ thống đê điều, hồ chứa và hạ tầng
phòng, chống thiên tai vùng Đồng bằng sông Hồng theo hướng đồng bộ, hiện đại,
đa mục tiêu, bảo đảm chủ động phòng ngừa, giảm nhẹ rủi ro thiên tai, thích ứng
linh hoạt với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, gắn kết chặt chẽ với quy hoạch
thủy lợi, giao thông, nông nghiệp và đô thị vùng. Cải tạo, nâng cấp toàn diện hệ
thống đê sông, đê biển, công trình thủy lợi và hồ chứa trọng điểm, nhất là các
tuyến đê từ cấp III đến cấp đặc biệt trên hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình,
đáp ứng yêu cầu an toàn lũ và tiêu chuẩn thiết kế mới. Trong đó:
- Củng cố, nâng cấp hệ thống đê sông bảo đảm chống
được lũ thiết kế trên các tuyến sông, chỉnh trị, điều tiết dòng chảy và phân
lưu hợp lý giữa sông Hồng và sông Đuống, duy trì ổn định tỷ lệ phân lưu mùa lũ ở
mức 30 - 32%, đảm bảo an toàn cho khu vực nội thành Hà Nội. Không nâng cao các
tuyến đê bối hiện có, không xây dựng đê bối mới. Khi xuất hiện trận lũ cực đoan
tần suất 500 năm, chủ động thực hiện chuyển lũ từ sông Hồng sang sông Đáy với
lưu lượng tối đa là 2.500 m3/s để bảo vệ vùng trọng điểm dân cư và hạ
tầng chiến lược.
- Tăng cường năng lực chống chịu của hệ thống đê biển
và vùng ven biển từ Quảng Ninh đến Ninh Bình, bảo đảm chuẩn an toàn theo cấp đê
(chu kỳ lặp lại 10-100 năm), chống xâm nhập mặn, nước biển dâng và triều cường.
Hoàn thiện, củng cố mặt cắt, cao trình đê biển, kết hợp công trình kè chống sạt
lở, đê chắn sóng, khu neo đậu tàu thuyền tránh trú bão và trồng rừng ngập mặn,
rừng chắn sóng ven biển nhằm tăng khả năng chống chịu tự nhiên.
- Ứng dụng giải pháp công trình và phi công trình
trong phòng, chống thiên tai, kết hợp khôi phục rừng phòng hộ, rừng ngập mặn và
các vùng đệm sinh thái ven biển, ven sông. Tăng cường năng lực dự báo, cảnh báo
sớm thiên tai, giám sát lũ, xói lở và hạn hán thông qua hệ thống quan trắc, dữ
liệu vệ tinh và trung tâm điều hành số vùng đồng bằng sông Hồng.
- Sử dụng hiệu quả dung tích phòng lũ của các hồ chứa
trên hệ thống sông Hồng - sông Thái Bình, vận hành liên hồ chứa linh hoạt bảo đảm
cắt giảm lũ, điều tiết nước mùa kiệt và duy trì dòng chảy tối thiểu, đồng thời hài
hòa giữa phòng lũ, cấp nước và an ninh năng lượng thủy điện. Quản lý, bảo vệ
nghiêm ngặt không gian thoát lũ, rà soát, di dời dân cư khỏi khu vực bãi sông,
ngăn chặn xây dựng trái phép, giải phóng vật cản dòng chảy, cải tạo lòng dẫn
sông nhằm tăng khả năng thoát lũ và giảm thiểu sạt lở.
- Xây dựng phương án tổng thể ứng phó với kịch bản
thiên tai cực đoan và biến đổi khí hậu, bao gồm vận hành liên hồ khi có lũ lịch
sử (tần suất 500 năm), bảo đảm lưu lượng tại Sơn Tây ≤ 28.000 m3/s,
tại Hà Nội ≤ 20.000 m3/s, mực nước không vượt quá 13,4 m. Đồng thời,
đầu tư các công trình bảo vệ dân cư tại vùng nguy cơ cao, như tường chắn sạt lở,
đập ngăn bùn đá, công trình ổn định sườn dốc, nhằm bảo vệ tính mạng, tài sản và
hạ tầng vùng hạ du.
6. Phương hướng phát triển bền vững rừng đặc dụng,
rừng phòng hộ, rừng sản xuất liên tỉnh và phát triển kết cấu hạ tầng lâm nghiệp
- Bảo đảm ổn định diện tích và nâng cao chất lượng
các loại rừng trên toàn vùng theo Quy hoạch sử dụng đất quốc gia thời kỳ 2021 -
2030, tầm nhìn đến năm 2050. Duy trì, phục hồi và phát triển diện tích rừng đặc
dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất gắn với mục tiêu bảo tồn thiên nhiên, bảo vệ
nguồn nước, bảo đảm quốc phòng - an ninh và sinh kế cộng đồng. Tăng cường quản
lý, bảo vệ, nâng cao chất lượng rừng đặc dụng hiện có, bao gồm vườn quốc gia,
khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài, sinh cảnh và khu bảo vệ cảnh quan, kết
hợp phát triển du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học và giáo dục môi trường
theo quy định của pháp luật về lâm nghiệp.
- Phát triển rừng phòng hộ và rừng ngập mặn ven biển
theo hướng bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu, tập trung tại Quảng Ninh, Hải
Phòng, Hưng Yên, Ninh Bình, góp phần giảm xói lở, chắn sóng, ngăn mặn, bảo vệ
đê điều và đa dạng sinh học vùng bờ. Đẩy mạnh trồng rừng thay thế và rừng phân
tán, khuyến khích mô hình rừng trồng gỗ lớn, rừng sản xuất kết hợp lâm - nông -
ngư nghiệp bền vững, hướng tới kinh tế lâm nghiệp xanh, tuần hoàn và trung hòa
carbon.
- Phát triển kết cấu hạ tầng lâm nghiệp đồng bộ, hiện
đại, đáp ứng yêu cầu quản lý, bảo vệ, khai thác và phòng cháy, chữa cháy rừng.
Duy tu, bảo dưỡng thường xuyên hệ thống đường lâm nghiệp hiện có; xây dựng mới
khoảng 100 - 150 km hệ thống đường lâm nghiệp, ưu tiên tại vùng rừng nguyên liệu
tập trung, vùng sâu, vùng xa, khu vực khó khăn; kết hợp đường lâm nghiệp với đường
tuần tra, bảo vệ rừng và kiểm soát cháy rừng. Xây dựng, nâng cấp văn phòng ban
quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, trạm bảo vệ rừng, trạm kiểm lâm, đường
băng cản lửa (khoảng 150 - 200 km), đảm bảo ứng phó nhanh với cháy rừng, thiên
tai và bảo vệ tài nguyên rừng.
- Ứng dụng công nghệ số và chuyển đổi số trong quản
lý lâm nghiệp, xây dựng hệ thống dữ liệu số về rừng vùng đồng bằng sông Hồng
liên thông với cơ sở dữ liệu lâm nghiệp quốc gia. Tăng cường giám sát diễn biến
rừng bằng vệ tinh, UAV, AI; áp dụng công nghệ blockchain trong truy xuất nguồn
gốc gỗ và sản phẩm lâm nghiệp; thúc đẩy thị trường tín chỉ carbon rừng và cơ chế
chia sẻ lợi ích từ dịch vụ môi trường rừng (PFES).
- Khuyến khích xã hội hóa đầu tư lâm nghiệp và phát
triển kinh tế rừng bền vững, thu hút doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình và cộng
đồng dân cư tham gia trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng và phát triển du lịch sinh
thái, nghỉ dưỡng rừng. Ưu tiên phát triển các chuỗi giá trị lâm sản bền vững,
chế biến gỗ, dược liệu và sản phẩm từ rừng theo chuẩn mực xanh, carbon thấp, gắn
với xuất khẩu và cam kết giảm phát thải quốc gia.
VIII. PHƯƠNG HƯỚNG KHAI THÁC VÀ
BẢO VỆ TÀI NGUYÊN NƯỚC, LƯU VỰC SÔNG TRÊN LÃNH THỔ VÙNG
1. Phương hướng ưu tiên phân bổ trong trường hợp
bình thường và hạn hán, thiếu nước
- Bảo đảm an ninh nguồn nước tổng hợp, phân bổ hợp
lý và bền vững giữa các lưu vực sông, ngành và địa phương, đáp ứng nhu cầu phát
triển kinh tế - xã hội, dân sinh và bảo vệ môi trường. Trong điều kiện bình thường,
ưu tiên phân bổ nguồn nước mặt làm nguồn chủ lực cho sản xuất, dịch vụ và dân
sinh, kết hợp sử dụng nước dưới đất có kiểm soát, tiết kiệm, hiệu quả phục vụ cấp
nước sinh hoạt, đặc biệt tại các vùng ven biển bị xâm nhập mặn, vùng khan hiếm
nước, biên giới, hải đảo và khu vực dân tộc thiểu số.
- Phân bổ, điều tiết nguồn nước trên cơ sở quản lý
tổng hợp lưu vực sông Hồng - sông Thái Bình, bảo đảm hiệu quả khai thác công
trình thủy lợi, hồ chứa, trạm bơm, công trình kiểm soát mặn và cấp nước hiện
có; đồng thời hài hòa lợi ích giữa thượng lưu - hạ lưu và giữa các ngành sử dụng
nước (nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt, thủy sản, năng lượng). Tăng cường điều
hòa liên vùng và điều tiết nguồn nước trong mùa khô nhằm bảo đảm nhu cầu sinh
hoạt, sản xuất và duy trì dòng chảy sinh thái.
- Trong điều kiện bình thường, ưu tiên cấp nước
sinh hoạt và an sinh xã hội; tiếp đến là nông nghiệp, công nghiệp, năng lượng
và dịch vụ theo nguyên tắc sử dụng nước tiết kiệm, tái sử dụng và tuần hoàn.
Khuyến khích ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm, tái sử dụng nước thải đã qua xử
lý, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp điều kiện nguồn nước.
- Trường hợp xảy ra hạn hán, thiếu nước nghiêm trọng
(nguồn nước không đáp ứng trên 90% nhu cầu), thực hiện điều hòa, phân bổ khẩn cấp
theo phương án được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, trên cơ sở dự báo khí tượng
thủy văn, mực nước sông, dung tích hồ chứa và khả năng cấp nước thực tế. Ưu
tiên tuyệt đối cấp nước sinh hoạt, phòng chống dịch bệnh, an ninh lương thực và
sản xuất thiết yếu; hạn chế cấp nước cho các mục đích tiêu thụ không thiết yếu.
- Tăng cường năng lực dự báo, cảnh báo sớm và giám
sát hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn bằng công nghệ số, vệ tinh, cảm biến và dữ
liệu lớn, phục vụ điều hành phân bổ nước linh hoạt, kịp thời. Xây dựng phương
án điều hòa, vận hành liên hồ chứa, liên lưu vực nhằm chủ động bổ sung, điều tiết
và phân phối nước trong mùa cạn, đồng thời bảo đảm an toàn đập, hồ chứa và công
trình thủy lợi trọng điểm.
2. Phương hướng bảo vệ tài nguyên nước, phục hồi nguồn
nước bị ô nhiễm hoặc bị suy thoái, cạn kiệt
- Bảo vệ, phục hồi và quản lý bền vững tài nguyên
nước vùng Đồng bằng sông Hồng theo hướng tổng hợp, hệ thống và dựa vào thiên
nhiên, gắn với bảo vệ an ninh nguồn nước quốc gia và phát triển kinh tế xanh, tuần
hoàn. Tập trung ngăn chặn ô nhiễm, suy thoái, cạn kiệt nguồn nước, bảo đảm cân
bằng khai thác - sử dụng - phục hồi, hướng tới duy trì dòng chảy sinh thái và
chất lượng nước đạt chuẩn môi trường.
- Phát triển hệ thống giám sát, quan trắc tài
nguyên nước đồng bộ, hiện đại, bổ sung khoảng 35 trạm quan trắc nước mặt, 03 trạm
đo mặn, 13 trạm quan trắc môi trường nước tại lưu vực sông Hồng - sông Thái
Bình; xây dựng, nâng cấp các điểm, công trình quan trắc tài nguyên dưới đất
theo Quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản tài nguyên nước đến năm 2030, tầm nhìn
đến năm 2050. Ứng dụng chuyển đổi số, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo trong
giám sát tự động lưu lượng, chất lượng nước và xả thải, kết nối trực tuyến với
Trung tâm dữ liệu quốc gia về tài nguyên nước.
- Bảo vệ nghiêm ngặt các vùng sinh thủy, rừng đầu
nguồn, rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, khôi phục các diện tích rừng bị suy
thoái để bảo vệ nguồn nước và chống xói mòn, sạt lở. Tăng cường bảo vệ các tầng
chứa nước dưới đất, kiểm soát khai thác quá mức, đặc biệt tại Hà Nội, Hải
Phòng, Hưng Yên, Bắc Ninh, tránh sụt lún và hạ thấp mực nước ngầm. Kiểm soát
nghiêm ngặt nguồn thải trên lưu vực sông Hồng - sông Thái Bình, yêu cầu 100%
công trình khai thác, sử dụng và xả nước thải phải giám sát vận hành, kết nối dữ
liệu trực tuyến với cơ quan quản lý trước năm 2030. Đẩy mạnh xử lý, tái sử dụng
nước thải, hạn chế cấp phép khai thác nước mới tại các khu vực có nguy cơ cạn
kiệt hoặc ô nhiễm.
- Cải tạo, phục hồi các dòng sông, đoạn sông bị ô
nhiễm, suy thoái hoặc cạn kiệt, đặc biệt là sông Cầu, Ngũ Huyện Khê, Nhuệ, Đáy,
Bắc Hưng Hải, hướng tới "tái sinh dòng sông" bằng giải pháp tổng hợp
như thoát nước - xử lý nước thải - phục hồi sinh thái - không gian thoát lũ. Quản
lý chặt chẽ không gian lòng sông và bãi sông, ngăn chặn lấn chiếm, thu hẹp hành
lang thoát lũ, khai thác cát sỏi trái phép, đồng thời phòng, chống sạt lở bờ
sông, bảo vệ hệ sinh thái thủy sinh.
- Tăng cường bảo vệ và quản lý các hồ chứa trọng điểm
như Cấm Sơn (Bắc Ninh); Yên Lập, Trúc Bài Sơn, Tràng Vinh, Cao Vân (Quảng
Ninh); Đồng Sương, Đồng Mô, Suối Hai, Quan Sơn (Hà Nội)... gắn với chức năng điều
tiết nước, sinh thái và cảnh quan du lịch. Thực hiện giám sát chặt chẽ xả thải
vào hồ, suối, sông, đảm bảo chất lượng nước đáp ứng tiêu chuẩn quốc gia và mục
tiêu phát triển bền vững.
- Huy động xã hội hóa, hợp tác công tư trong đầu tư
công trình xử lý nước thải, phục hồi nguồn nước, tái tạo cảnh quan sông hồ, thực
hiện hiệu quả cơ chế thị trường nước, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và tăng trưởng
xanh vùng đồng bằng sông Hồng.
IX. PHƯƠNG HƯỚNG BẢO ĐẢM QUỐC
PHÒNG, AN NINH VÀ ĐỐI NGOẠI
- Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với
củng cố quốc phòng, an ninh, bảo đảm mỗi quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển
trên địa bàn vùng Đồng bằng sông Hồng đều gắn với yêu cầu bảo vệ độc lập, chủ
quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân
gắn với nền an ninh nhân dân và thế trận lòng dân vững chắc, bảo đảm ổn định
chính trị, trật tự, an toàn xã hội trong mọi tình huống; chủ động phòng ngừa, đấu
tranh làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch.
- Phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố thế
trận quốc phòng toàn dân, khu vực phòng thủ vững chắc, liên hoàn giữa các địa
phương trong vùng. Tổ chức bố trí không gian phát triển vùng phù hợp với Quy hoạch
tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Quyết định số
2256/QĐ-BQP ngày 30 tháng 5 năm 2023 của Bộ Quốc phòng phê duyệt bản đồ các khu
quân sự và địa hình ưu tiên cho nhiệm vụ quốc phòng. Kết hợp chặt chẽ phát triển
đô thị, khu kinh tế, khu công nghiệp, hạ tầng giao thông, năng lượng, thông
tin, cảng biển, sân bay với yêu cầu phòng thủ, bảo đảm quốc phòng và an ninh
vùng.
- Bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội,
an ninh kinh tế, an ninh mạng, an ninh năng lượng và an ninh môi trường trên địa
bàn toàn vùng, đặc biệt tại Thủ đô Hà Nội, trung tâm chính trị, hành chính quốc
gia và vùng động lực phát triển Bắc Bộ. Bảo vệ tuyệt đối an toàn các mục tiêu
trọng điểm chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, văn hóa, xã hội,
các sự kiện lớn của Đảng, Nhà nước và hoạt động của lãnh đạo cấp cao, khách quốc
tế. Gắn phát triển kinh tế - xã hội, đô thị hóa và hạ tầng hiện đại với xây dựng
xã hội an toàn, kỷ cương, văn minh, phát huy vai trò toàn dân tham gia bảo đảm
an ninh, trật tự, phòng chống tội phạm, phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ cứu nạn.
- Ưu tiên bố trí, đầu tư hệ thống hạ tầng phục vụ
quốc phòng, an ninh và an toàn xã hội, gồm trụ sở, doanh trại, trung tâm chỉ
huy, công trình phòng thủ dân sự, cơ sở phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ
tại trung tâm các tỉnh, thành phố, khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp
trọng điểm. Kết hợp đầu tư hạ tầng đa dụng vừa phục vụ phát triển kinh tế - xã
hội, vừa đáp ứng yêu cầu tác chiến, phòng thủ và cứu hộ khẩn cấp trong tình huống
thiên tai, thảm họa hoặc an ninh phi truyền thống.
- Tăng cường hợp tác quốc tế và liên vùng về bảo đảm
quốc phòng, an ninh, an ninh phi truyền thống, nhất là trong các lĩnh vực an
ninh mạng, an ninh năng lượng, ứng phó biến đổi khí hậu, cứu hộ cứu nạn, phòng
chống thiên tai và dịch bệnh. Xây dựng vùng Đồng bằng sông Hồng trở thành khu vực
phòng thủ, an ninh mẫu mực, bảo đảm ổn định chính trị, an ninh con người và môi
trường hòa bình cho phát triển bền vững.
- Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, đặc biệt là
ngoại giao kinh tế, là động lực chiến lược, nhiệm vụ thường xuyên và tiên phong
trong tạo lập môi trường hòa bình, ổn định, huy động hiệu quả các nguồn lực bên
ngoài phục vụ phát triển nhanh, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của
vùng. Đẩy mạnh hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng gắn chặt với phát triển
kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh; mở rộng và làm sâu sắc quan hệ với các đối
tác trọng điểm trên cơ sở đan xen lợi ích, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia -
dân tộc. Tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do (FTA), thu hút đầu tư
nước ngoài có chọn lọc, ưu tiên công nghệ cao, đổi mới sáng tạo, kinh tế xanh,
kinh tế số; thúc đẩy hợp tác khoa học và công nghệ, phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao và tham gia sâu vào chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng toàn cầu. Đồng
thời, xây dựng ngoại giao kinh tế lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm,
đa dạng hóa thị trường, nâng cao năng lực phòng vệ, dự báo và tham mưu chiến lược,
chủ động ứng phó với biến động quốc tế, bảo đảm phát triển bền vững vùng Đồng bằng
sông Hồng.
X. GIẢI PHÁP, NGUỒN LỰC THỰC HIỆN
QUY HOẠCH
1. Về cơ chế, chính sách
a) Cơ chế, chính sách thúc đẩy liên kết vùng
- Hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách phát triển
và liên kết vùng theo hướng thống nhất, minh bạch và hiệu quả, rõ vai trò,
trách nhiệm và quyền hạn của Hội đồng điều phối vùng và các địa phương trong
vùng. Đổi mới cơ chế điều phối vùng theo hướng tăng tính pháp lý, quyền tự chủ
và khả năng huy động, phân bổ nguồn lực liên vùng, nhất là trong quy hoạch, đầu
tư, hạ tầng, xử lý các vấn đề môi trường, chuyển đổi số và phát triển nhân lực.
- Tăng cường cơ chế, phối hợp liên tỉnh, liên ngành
và liên vùng trong lập, tổ chức thực hiện và giám sát quy hoạch vùng, quy hoạch
tỉnh, bảo đảm đồng bộ, thống nhất với Quy hoạch tổng thể quốc gia và các quy hoạch
ngành hạ tầng. Ưu tiên phát triển hệ thống hạ tầng kết nối vùng (giao thông,
logistics, năng lượng, thông tin, thủy lợi) và kết nối đào tạo - lao động -
khoa học công nghệ, gắn với vùng động lực và các hành lang kinh tế trọng điểm.
- Ban hành chính sách khuyến khích hợp tác, liên kết
giữa các địa phương, doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng, viện - trường - doanh
nghiệp. Tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo
tham gia chuỗi giá trị vùng, chương trình xúc tiến thương mại, đầu tư, đổi mới
công nghệ và kết nối sản xuất - tiêu thụ sản phẩm thế mạnh liên vùng. Khuyến
khích thành lập các cụm liên kết ngành, chuỗi cung ứng và trung tâm logistics
vùng với cơ chế đầu tư PPP và chia sẻ rủi ro, lợi ích minh bạch.
- Hoàn thiện chính sách phát triển hạ tầng số, hạ tầng
thông tin và dữ liệu vùng bảo đảm triển khai đồng bộ với hạ tầng kỹ thuật khác
(giao thông, điện, nước, năng lượng). Thúc đẩy xây dựng nền tảng dữ liệu liên kết
vùng, chia sẻ thông tin giữa các địa phương, phục vụ quản lý, điều phối, giám
sát và dự báo phát triển vùng trên nền tảng số.
- Ưu tiên các cơ chế, chính sách tài chính và đầu
tư cho phát triển liên kết vùng như cơ chế điều tiết ngân sách, trái phiếu vùng
và cơ chế chia sẻ nguồn thu cho các dự án có tác động lan tỏa lớn; khuyến khích
mô hình hợp tác công tư trong đầu tư hạ tầng liên vùng.
b) Xây dựng và thực hiện một số cơ chế, chính sách
đặc thù
- Rà soát, điều chỉnh và hoàn thiện cơ chế, chính
sách hiện hành theo hướng phù hợp với điều kiện đặc thù và vai trò đầu tàu của
vùng đồng bằng sông Hồng, tạo hành lang pháp lý thuận lợi để vùng bứt phá trong
phát triển kinh tế tri thức, công nghiệp công nghệ cao, đô thị thông minh và hội
nhập quốc tế. Xây dựng thể chế điều phối vùng đủ mạnh, có nguồn lực và thẩm quyền
điều hành, giám sát liên kết vùng, bảo đảm hiệu quả trong phân bổ nguồn lực, điều
phối đầu tư và chia sẻ lợi ích giữa các địa phương đảm bảo hiệu quả điều phối,
liên kết vùng. Thực hiện thí điểm một số mô hình, cơ chế, chính sách mới có
tính đột phá và cạnh tranh quốc tế cao, đặc biệt trong phát triển đô thị thông
minh, khu công nghiệp, khu công nghệ cao thế hệ mới, kinh tế số, kinh tế tuần
hoàn, trung tâm logistics vùng và hợp tác công tư.
- Hoàn thiện cơ chế, chính sách về tài chính, ngân
sách, đầu tư nhằm khuyến khích các địa phương tạo nguồn thu; xây dựng tỷ lệ điều
tiết ngân sách phù hợp cho các tỉnh, thành phố tạo động lực phát triển mới cho
toàn vùng; cho phép các địa phương được sử dụng ngân sách địa phương chủ động
tham gia các hoạt động liên kết và đầu tư cho các dự án vùng, liên vùng; ngân
sách cấp này được thực hiện nhiệm vụ chi của ngân sách cấp khác đối với các dự
án vùng, liên vùng vì lợi ích chung của địa phương, vùng và cả nước.
- Xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù thúc đẩy đổi
mới sáng tạo, phát triển nhân lực chất lượng cao, khoa học và công nghệ, kinh tế
số và xã hội số. Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu và phát triển,
phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo, vườn ươm công nghệ, trung tâm dữ liệu
và hạ tầng số dùng chung; ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ
công nghệ cao có khả năng dẫn dắt tăng trưởng bền vững và hội nhập sâu vào chuỗi
giá trị toàn cầu.
- Nghiên cứu, đề xuất các cơ chế đặc thù về đất
đai, trái phiếu vùng và chia sẻ lợi ích giữa các địa phương. Bảo đảm sự hài hòa
giữa lợi ích Nhà nước, doanh nghiệp và người dân, hướng đến thể chế vùng năng động,
hiệu quả, đổi mới, sáng tạo và bền vững.
2. Về huy động vốn đầu tư
Đa dạng hóa nguồn lực đầu tư, kết hợp ngân sách nhà
nước - đầu tư tư nhân - đầu tư trực tiếp nước ngoài - trái phiếu, gắn với quản
lý nợ công an toàn và tăng cường hiệu quả đầu tư công. Hướng tới mô hình huy động
vốn tổng hợp vùng, bảo đảm tập trung, đồng bộ, bền vững, đóng góp tích cực cho
mục tiêu phát triển nhanh, xanh và bao trùm của vùng đồng bằng sông Hồng.
a) Đối với nguồn vốn từ khu vực nhà nước
- Hoàn thiện thể chế tài chính và xây dựng các định
chế huy động, điều phối nguồn lực đầu tư, bảo đảm chủ động cân đối nguồn vốn thực
hiện các dự án liên tỉnh, liên vùng. Không bố trí ngân sách nhà nước cho những
lĩnh vực có khả năng thu hút xã hội hóa, ưu tiên bố trí nguồn lực từ ngân sách
cho các dự án liên vùng có tác động lan tỏa cao như các tuyến cao tốc, các công
trình thủy lợi, phòng, chống thiên tai đa mục tiêu liên tỉnh, liên vùng và an
sinh xã hội và bảo vệ môi trường.
- Tăng cường phân cấp, phân quyền trong đầu tư, tài
chính gắn với kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực, bảo đảm công khai,
minh bạch và trách nhiệm giải trình. Cho phép các địa phương sử dụng ngân sách
địa phương chủ động đầu tư cho các dự án vùng và liên tỉnh, phù hợp với quy hoạch
được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Các tỉnh, thành phố trong vùng phối hợp chặt
chẽ với bộ, ngành Trung ương trong xây dựng, tích hợp và bố trí nguồn vốn cho
các dự án quốc gia, vùng, liên tỉnh, bảo đảm tiến độ, hiệu quả và đồng bộ hạ tầng
vùng.
b) Đối với nguồn vốn từ khu vực ngoài nhà nước
- Xây dựng cơ chế chính sách đột phá để huy động mạnh
mẽ nguồn lực xã hội vào đầu tư phát triển vùng, nhất là từ các nhà đầu tư chiến
lược, tập đoàn kinh tế tư nhân, doanh nghiệp công nghệ. Tạo đột phá trong cải
cách thủ tục hành chính, xóa bỏ triệt để các rào cản gia nhập thị trường, điều
kiện kinh doanh chồng chéo, kiến tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi,
hoàn thiện mạnh mẽ thể chế bảo đảm quyền tài sản và quyền tự do kinh doanh của
khu vực tư nhân. Khuyến khích hình thành các hệ sinh thái đầu tư, cụm ngành,
trung tâm đổi mới sáng tạo và khu công nghiệp - đô thị - dịch vụ kiểu mẫu, đặc
biệt trong các lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao, năng lượng sạch, logistics,
hạ tầng số, thương mại và du lịch chất lượng cao.
- Ban hành quy chế phối hợp liên tỉnh về xúc tiến
và hỗ trợ trong cấp phép, thủ tục đầu tư, giải phóng mặt bằng và hạ tầng kỹ thuật;
đồng hành cùng doanh nghiệp trong tháo gỡ khó khăn về vốn, đất đai, thủ tục
hành chính và nhân lực. Khuyến khích hình thành quỹ đầu tư phát triển vùng và
các mô hình hợp tác công - tư linh hoạt cho các dự án có tính liên kết cao.
c) Đối với nguồn vốn từ khu vực đầu tư trực tiếp nước
ngoài
- Chuyển trọng tâm thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài từ số lượng sang chất lượng, hiệu quả, đổi mới sáng tạo và lan tỏa công
nghệ. Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội, giá trị gia tăng cao, quản trị tiên tiến
và bảo vệ môi trường làm thước đo chủ đạo trong lựa chọn dự án đầu tư trực tiếp
nước ngoài. Ưu tiên các dự án công nghệ cao, công nghệ mới, chuyển đổi số, năng
lượng tái tạo, sản xuất chip, vật liệu mới, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và
dịch vụ tài chính quốc tế... có phương thức quản trị hiện đại, kết nối chuỗi
cung ứng toàn cầu.
- Thúc đẩy ngoại giao kinh tế, văn hóa, thể thao và
khoa học công nghệ nhằm mở rộng quan hệ đối tác chiến lược, quảng bá hình ảnh
và năng lực cạnh tranh của vùng đồng bằng sông Hồng, thu hút các tập đoàn xuyên
quốc gia, nhà đầu tư có uy tín toàn cầu. Các địa phương phối hợp xây dựng chính
sách về đầu tư trực tiếp nước ngoài phù hợp với các cam kết quốc tế và phù hợp
với định hướng phát triển của vùng, nhất là trong những ngành mới, lĩnh vực trọng
tâm như xây dựng trung tâm tài chính, khu thương mại tự do và trung tâm
logistics quốc tế tại Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Nội.
3. Về phát triển nguồn nhân lực
- Tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy hành chính,
tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, gắn với đổi mới cơ chế quản lý công vụ, công chức
theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại và kiến tạo phát triển. Thực hiện nghiêm đề
án vị trí việc làm, tinh giản biên chế và đánh giá cán bộ theo kết quả, sản phẩm
đầu ra, bảo đảm công khai, minh bạch, đề cao trách nhiệm cá nhân và kỷ luật
hành chính.
- Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các
cấp có phẩm chất, năng lực, trình độ cao, giỏi chuyên môn, ngoại ngữ, công nghệ
số và có tinh thần đổi mới sáng tạo. Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kỹ
năng quản lý, lãnh đạo, năng lực số, ngoại ngữ, kỹ năng hội nhập quốc tế cho
cán bộ địa phương, đáp ứng yêu cầu chính quyền điện tử, chính quyền số và kinh
tế số vùng đồng bằng sông Hồng. Thực hiện cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ
dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
- Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với
nhu cầu của nền kinh tế thị trường, hội nhập và chuyển đổi số. Ban hành cơ chế,
chính sách hỗ trợ người lao động, đặc biệt là lao động trẻ, lao động nông thôn,
phụ nữ và nhóm yếu thế, tham gia các khóa đào tạo nghề, ngoại ngữ, kỹ năng số
và khởi nghiệp, bảo đảm cơ hội tiếp cận công bằng, học tập suốt đời. Khuyến
khích hình thành các quỹ phát triển nhân lực vùng, học bổng và chương trình hợp
tác công tư trong đào tạo nghề, chuyển giao công nghệ và nâng cao kỹ năng.
- Tăng cường liên kết giữa cơ sở đào tạo với doanh
nghiệp, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, viện nghiên cứu và trung tâm đổi mới
sáng tạo. Thúc đẩy đào tạo theo nhu cầu xã hội, khuyến khích doanh nghiệp tham
gia thiết kế chương trình, nội dung và trực tiếp đào tạo, tuyển dụng nhân lực.
Nhà nước thực hiện đặt hàng, giao nhiệm vụ đào tạo nhân lực với các cơ sở giáo
dục và đào tạo không phân biệt hình thức sở hữu. Xây dựng cơ sở dữ liệu nhân lực
vùng đồng bằng sông Hồng kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về việc làm và giáo
dục nghề nghiệp, phục vụ công tác dự báo, hoạch định và phân bổ lao động hiệu
quả.
- Thực hiện cơ chế đãi ngộ, trọng dụng, thu hút nhân
tài trong và ngoài nước, ưu tiên lĩnh vực quản lý nhà nước, khoa học và công
nghệ, năng lượng, công nghiệp chế tạo, kinh tế số, logistics, y tế, giáo dục và
văn hóa. Thúc đẩy chính sách trao quyền, trao cơ hội cho người tài năng, sáng tạo,
qua đó hình thành đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học, kỹ sư, quản trị viên và lao
động kỹ năng cao mang tầm khu vực.
4. Về môi trường và khoa học,
công nghệ
a) Giải pháp về môi trường
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách
về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu theo
hướng đồng bộ, thống nhất, tiệm cận chuẩn mực quốc tế, phù hợp với mục tiêu
phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050.
- Tăng cường kiểm soát các nguồn thải, cơ sở có
nguy cơ gây ô nhiễm cao, đặc biệt tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp,
làng nghề, đô thị lớn. Giải quyết triệt để các điểm nóng ô nhiễm môi trường,
các lưu vực sông bị suy thoái ô nhiễm nghiêm trọng, tập trung vào sông Nhuệ,
sông Đáy, sông cầu, hệ thống Bắc Hưng Hải. Tăng cường quản lý khí thải từ công
nghiệp nặng, giao thông, xây dựng và đốt chất thải, nhất là tại Hà Nội và Hải
Phòng cần xây dựng lộ trình kiểm soát phương tiện cá nhân, phát triển vận tải
công cộng, xe buýt điện, đường sắt đô thị, với mục tiêu hạn chế ô nhiễm không
khí, gắn với phát triển đô thị thông minh và xử lý chất thải tập trung cấp
vùng, xây dựng các khu xử lý rác liên tỉnh tại Hưng Yên - Bắc Ninh. Xây dựng mạng
lưới khu xử lý chất thải rắn, chất thải nguy hại tập trung cấp vùng, liên tỉnh,
áp dụng công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường, kết hợp phát điện từ
rác và thu hồi năng lượng.
- Phát triển mạnh ngành công nghiệp tái chế và kinh
tế tuần hoàn, hình thành các khu, cụm công nghiệp tái chế, trung tâm tái sử dụng
và tái chế chất thải vùng đồng bằng sông Hồng. Hạn chế và tiến tới chấm dứt hoạt
động tái chế thủ công, quy mô nhỏ, gây ô nhiễm tại các làng nghề, đồng thời thực
hiện đầy đủ cơ chế trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất và nhập khẩu (EPR)
trong thu hồi, tái chế sản phẩm, bao bì thải bỏ.
- Tăng cường điều phối, giám sát và chia sẻ dữ liệu
môi trường giữa các địa phương trong vùng, nâng cao vai trò của Ủy ban Bảo vệ
môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy và sông Cầu trong kiểm soát ô nhiễm, phục
hồi sinh thái và khai thác bền vững tài nguyên nước. Đẩy mạnh xã hội hóa công
tác bảo vệ môi trường, huy động sự tham gia của doanh nghiệp, cộng đồng, tổ chức
xã hội và các đối tác quốc tế vào hoạt động giám sát, phục hồi, bảo tồn và
thích ứng biến đổi khí hậu.
- Ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, Internet
vạn vật (IoT) và cảm biến môi trường trong quan trắc, giám sát tự động chất lượng
nước, không khí, đất và chất thải. Xây dựng Trung tâm điều hành và cơ sở dữ liệu
môi trường vùng đồng bằng sông Hồng, kết nối với mạng lưới dữ liệu quốc gia về
cảnh báo lũ, hạn, xâm nhập mặn, ô nhiễm nước và không khí. Chủ động điều hòa,
phân bổ nguồn nước, xây dựng phương án ứng phó thiên tai, khí hậu cực đoan, bảo
đảm an ninh môi trường, an toàn sinh thái và phát triển bền vững cho vùng.
b) Giải pháp về khoa học, công nghệ
- Đổi mới toàn diện cơ chế hoạt động và quản lý nhà
nước về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, gắn với cải cách thể chế, hoàn
thiện chính sách phát triển khoa học và công nghệ vùng đồng bằng sông Hồng theo
hướng mở, linh hoạt, liên thông và khuyến khích sáng tạo. Tăng cường năng lực
quản lý của chính quyền địa phương trong triển khai các chương trình khoa học
và công nghệ, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa viện - trường - doanh nghiệp - cơ
quan quản lý nhà nước.
- Phát triển mạnh mẽ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo
vùng đồng bằng sông Hồng trở thành đầu tàu quốc gia về nghiên cứu, sáng chế, khởi
nghiệp và ứng dụng công nghệ. Xây dựng Trung tâm Đổi mới sáng tạo vùng gắn kết
chặt chẽ với Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC) và mạng lưới khởi nghiệp
sáng tạo quốc gia, kết nối các khu công nghệ cao, trung tâm tài chính, quỹ đầu
tư mạo hiểm, đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp khởi nghiệp. Hình thành các
cụm liên kết đổi mới sáng tạo vùng, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, thương mại
hóa kết quả nghiên cứu và bảo hộ sở hữu trí tuệ.
- Tăng cường đầu tư công cho khoa học và công nghệ,
đổi mới sáng tạo theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW,
đồng thời huy động mạnh mẽ nguồn lực xã hội, vốn ngoài ngân sách, bao gồm doanh
nghiệp, quỹ đầu tư mạo hiểm, hợp tác công tư, tài trợ quốc tế. Khuyến khích
doanh nghiệp trích, quỹ phát triển khoa học và công nghệ để đầu tư vào nghiên cứu
và phát triển, đổi mới quy trình sản xuất, công nghệ xanh, công nghệ số và tự động
hóa.
- Xây dựng, phát triển đội ngũ nhân lực khoa học và
công nghệ trình độ cao, có khả năng nghiên cứu, sáng tạo và ứng dụng công nghệ
mới; ưu tiên đào tạo nhân lực trong các lĩnh vực chiến lược như trí tuệ nhân tạo,
vật liệu mới, sinh học, công nghệ năng lượng, dữ liệu lớn, tự động hóa, công
nghệ môi trường và không gian số. Thúc đẩy liên kết giữa các trường đại học
trong vùng với các đại học, viện nghiên cứu quốc tế, triển khai các chương
trình trao đổi giảng viên, chuyển giao tri thức và liên kết nghiên cứu ứng dụng.
- Đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng nghiên cứu khoa
học và công nghệ vùng hiện đại, đồng bộ, có khả năng kết nối và chia sẻ dữ liệu.
Phát triển mạng lưới phòng thí nghiệm trọng điểm, trung tâm thử nghiệm, trung
tâm dữ liệu và nền tảng chia sẻ nghiên cứu mở. Hình thành chuỗi liên kết giữa
khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và khu công nghệ số tập
trung, kết nối với các vườn ươm doanh nghiệp, khu làm việc chung và trung tâm
chuyển giao công nghệ.
- Đẩy mạnh hội nhập và hợp tác quốc tế về khoa học
và công nghệ, đặc biệt trong nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ mới,
chuyển giao công nghệ, bảo hộ và phát triển tài sản trí tuệ. Mở rộng hợp tác
chiến lược với các nước phát triển, tổ chức quốc tế, viện nghiên cứu và doanh
nghiệp công nghệ hàng đầu, hướng đến chuẩn hóa tiêu chuẩn, chất lượng sản phẩm
và nâng cao năng lực cạnh tranh công nghệ của vùng đồng bằng sông Hồng trên quy
mô khu vực và toàn cầu.
5. Về quản lý, kiểm soát phát triển
đô thị và nông thôn
- Hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách phát triển
đô thị và thị trường bất động sản, bảo đảm vận hành minh bạch, ổn định, lành mạnh,
phù hợp với quy luật thị trường và đặc thù của vùng đồng bằng sông Hồng. Cập nhật
và đồng bộ hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn quy hoạch đô thị theo hướng hội nhập
quốc tế, thích ứng biến đổi khí hậu, thúc đẩy đô thị xanh, đô thị thông minh,
đô thị nén, đô thị bền vững gắn với mục tiêu phát triển phát thải ròng bằng
"0" vào năm 2050.
- Nghiên cứu, hoàn thiện mô hình chính quyền đô thị
hiện đại, chuyên nghiệp, có phân quyền và tự chủ cao, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả
trong quản lý phát triển đô thị bền vững. Đổi mới phương thức quản lý đô thị
theo hướng số hóa, dựa trên dữ liệu và công nghệ, củng cố hệ thống bộ máy quản
lý nhà nước từ cấp vùng đến địa phương, nâng cao năng lực cán bộ trong lãnh đạo,
quy hoạch, quản lý và giám sát phát triển đô thị.
- Đẩy mạnh tái thiết và phục hưng không gian đô thị
cũ, phát triển các khu chức năng mới, trung tâm sáng tạo, thương mại, văn hóa
và dịch vụ hiện đại. Quản lý chặt chẽ không gian ngầm, không gian mặt đất và
không gian trên cao, đồng thời di dời hợp lý các cơ sở, chức năng không phù hợp
khỏi trung tâm các đô thị Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh sang các khu đô thị vệ
tinh hoặc khu vực ven đô.
- Quy hoạch và bố trí hợp lý quỹ đất cho phát triển
hạ tầng và không gian kinh tế đô thị - nông thôn. Dành quỹ đất dự trữ cho các
trung tâm đầu mối hạ tầng quốc gia, tuyến kết nối vùng, liên vùng, phát triển
nhà ở xã hội, hạ tầng án sinh, dịch vụ cho người lao động và dân cư nhập cư.
Quy hoạch các làng ven đô, khu dân cư nông thôn mở rộng theo hướng trở thành
khu dân cư đô thị, có hạ tầng đồng bộ, văn minh, thân thiện môi trường.
- Đổi mới phương thức lập và kiểm soát quy hoạch
tích hợp trên nền tảng số. Triển khai hệ thống thông tin địa lý (GIS), cơ sở dữ
liệu quy hoạch, hạ tầng không gian số đô thị, phục vụ giám sát, quản lý không
gian kiến trúc, đất đai và môi trường đô thị. Điều chỉnh, cập nhật các đồ án
quy hoạch chung đô thị và quy hoạch tỉnh cho phù hợp với định hướng phát triển
mới, mô hình tăng trưởng xanh, kinh tế số và hạ tầng thông minh.
- Tăng cường quản lý, sử dụng đất đô thị hiệu quả,
tiết kiệm, minh bạch. Thực hiện nghiêm cơ chế giao đất, cho thuê đất thông qua
đấu giá, đấu thầu dự án có sử dụng đất; chống đầu cơ, lãng phí và thất thoát
tài nguyên đất đai. Gắn phát triển đô thị với bảo tồn cảnh quan, di sản, không
gian văn hóa và bản sắc vùng đồng bằng Bắc Bộ.
- Đổi mới mô hình phát triển đô thị phù hợp đặc thù
của từng địa phương và tiểu vùng, dựa trên lợi thế tự nhiên, kinh tế, xã hội,
văn hóa, lịch sử. Thúc đẩy phân cấp, phân quyền, ủy quyền giữa Trung ương và địa
phương, giữa các cấp tại địa phương, gắn với trách nhiệm giải trình và kiểm
soát quyền lực. Tăng tính tự chủ trong hoạch định chính sách, quy hoạch và quản
lý phát triển đô thị.
- Phát triển đô thị theo chiều sâu, nâng cao chất
lượng đô thị hóa, chuyển dịch tăng trưởng từ mở rộng không gian sang nâng cao
hiệu quả sử dụng nguồn lực nội tại đô thị. Thúc đẩy kinh tế đô thị dựa trên đổi
mới sáng tạo, kinh tế số, dịch vụ hiện đại và công nghiệp sáng tạo. Tăng cường
liên kết giữa kinh tế đô thị và kinh tế nông thôn, hình thành chuỗi giá trị
liên kết xã - phường, vùng ven đô - vùng sản xuất, thúc đẩy phát triển hài hòa,
cân bằng và bền vững giữa đô thị và nông thôn.
6. Giải pháp về tổ chức thực hiện
và giám sát thực hiện quy hoạch
- Việc tổ chức triển khai quy hoạch cần được thực
hiện công khai, minh bạch theo đúng các quy định của pháp luật, nhằm thu hút
các thành phần kinh tế tham gia thực hiện quy hoạch. Trong quá trình triển khai
thực hiện đầu tư cần có sự phối hợp đồng bộ của các cấp, các ngành nhằm hoàn
thành mục tiêu quy hoạch đề ra.
- Kiện toàn Hội đồng điều phối vùng đồng bằng sông
Hồng phù hợp với phạm vi vùng; Hội đồng điều phối vùng có nhiệm vụ tham mưu, đề
xuất với Thủ tướng Chính phủ về cơ chế, chính sách, kế hoạch triển khai thực hiện
các chương trình, đề án, nhiệm vụ, dự án có quy mô vùng và có tính chất liên kết
vùng theo thứ tự ưu tiên để phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Hồng.
- Các bộ, cơ quan liên quan, các địa phương trong
vùng chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các chương trình, dự án được phân cấp
theo quy định của pháp luật; hoàn thiện và vận hành hệ thống thông tin về các
hoạt động hợp tác đầu tư (định hướng đầu tư, các chương trình, dự án liên kết
kêu gọi đầu tư; số liệu về đầu tư nước ngoài, đầu tư từ các tỉnh, thành phố
trong và ngoài vùng).
- Hoàn thiện và vận hành hệ thống cơ sở dữ liệu về
quy hoạch, cơ sở dữ liệu về kinh tế, xã hội, môi trường phục vụ thúc đẩy phát
triển và liên kết vùng.
XI. HỆ THỐNG SƠ ĐỒ QUY HOẠCH
Danh mục sơ đồ Quy hoạch vùng đồng bằng sông Hồng
thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (điều chỉnh) tại Phụ lục kèm theo.
Điều 2. Tổ chức thực hiện
1. Quy hoạch vùng đồng bằng sông Hồng thời kỳ 2021
- 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (điều chỉnh) là cơ sở để lập quy hoạch tỉnh, quy
hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn, trên địa bàn vùng đồng bằng sông Hồng theo
quy định của pháp luật.
2. Hội đồng điều phối vùng đồng bằng sông Hồng có
trách nhiệm:
a) Giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, đôn đốc, hướng
dẫn thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, chương trình, dự án và các hoạt động liên
kết vùng, bảo đảm tổ chức thực hiện có hiệu quả Quy hoạch vùng (điều chỉnh).
b) Nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển
vùng, đặc biệt là chính sách về phát triển bền vững, tăng trưởng xanh, liên kết
vùng, cơ chế phối hợp điều phối thúc đẩy liên kết giữa các vùng, tiểu vùng và
các địa phương trong vùng theo đúng quy định của pháp luật và theo thẩm quyền
Thủ tướng Chính phủ giao.
c) Tổ chức xúc tiến đầu tư, huy động và điều phối nguồn
lực, ưu tiên sử dụng hiệu quả vốn đầu tư công để dẫn dắt, thu hút nguồn vốn xã
hội hóa và thúc đẩy đầu tư theo phương thức hợp tác công tư (PPP) trong phát
triển hạ tầng chiến lược, cấp bách, quan trọng của vùng phù hợp với quy hoạch
được phê duyệt.
3. Trách nhiệm của Bộ Tài chính:
a) Chịu trách nhiệm về độ chính xác của số liệu,
tài liệu, hệ thống cơ sở dữ liệu, bản đồ, sơ đồ trong hồ sơ điều chỉnh Quy hoạch
vùng đồng bằng sông Hồng theo quy định của pháp luật; lưu trữ, lưu giữ hồ sơ điều
chỉnh Quy hoạch vùng đồng bằng sông Hồng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm
2050 theo quy định.
b) Tổ chức công bố, công khai Quy hoạch vùng đồng bằng
sông Hồng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (điều chỉnh) theo quy định
của pháp luật về quy hoạch.
c) Chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ
và địa phương trong vùng nghiên cứu, xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ ban
hành kế hoạch, chính sách, giải pháp và bố trí nguồn lực thực hiện quy hoạch
vùng.
d) Chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ
và địa phương trong vùng theo dõi, đôn đốc, giám sát, đánh giá việc thực hiện
các dự án quan trọng và mục tiêu của quy hoạch vùng.
đ) Chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ
và địa phương tổ chức các hoạt động xúc tiến, kêu gọi đầu tư đối với các dự án
quan trọng của vùng; tuyên truyền, quảng bá nhằm thu hút các nhà đầu tư trong
và ngoài nước, các thành phần kinh tế tham gia thực hiện quy hoạch.
4. Trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ:
a) Tổ chức thực hiện quy hoạch thuộc lĩnh vực quản
lý theo thẩm quyền, bảo đảm thống nhất với quy hoạch vùng.
b) Phối hợp với Bộ Tài chính nghiên cứu, xây dựng
và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành chính sách, giải pháp và bố trí nguồn lực
thực hiện quy hoạch.
c) Chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ
và địa phương có liên quan trong vùng đánh giá việc thực hiện quy hoạch đô thị,
quy hoạch nông thôn, quy hoạch ngành trên địa bàn vùng theo chức năng quản lý.
d) Phối hợp với Bộ Tài chính trong việc theo dõi,
giám sát, đánh giá việc thực hiện các dự án quan trọng của vùng thuộc lĩnh vực
quản lý nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng.
5. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành
phố trong vùng:
a) Rà soát, cập nhật, điều chỉnh quy hoạch tỉnh bảo
đảm thống nhất, đồng bộ với quy hoạch vùng được phê duyệt.
b) Phối hợp với Bộ Tài chính và các bộ, ngành tổ chức
các hoạt động xúc tiến đầu tư nhằm tuyên truyền, quảng bá, thu hút các nhà đầu
tư trong và ngoài nước và các thành phần kinh tế tham gia thực hiện quy hoạch.
c) Tổ chức giám sát, kiểm tra việc thực hiện các dự
án đầu tư phát triển trên địa bàn theo chức năng, nhiệm vụ được phân công, báo
cáo Thủ tướng Chính phủ.
d) Phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ trong quá
trình đánh giá việc thực hiện quy hoạch vùng, các quy hoạch đô thị, quy hoạch
nông thôn, quy hoạch ngành trên địa bàn vùng.
6. Sau khi các quy hoạch cấp quốc gia được cấp có
thẩm quyền quyết định hoặc phê duyệt, Bộ Tài chính có trách nhiệm rà soát nội
dung Quy hoạch vùng đồng bằng sông Hồng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm
2050 (điều chỉnh), nếu nội dung mâu thuẫn so với quy hoạch cao hơn thì tiến
hành điều chỉnh, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt.
Điều 3. Điều khoản thi hành
1. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày
ký ban hành.
2. Các nội dung đã và đang thực hiện theo Quyết định
số 368/QĐ-TTg ngày 04 tháng 5 năm 2024 của
Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Quy hoạch vùng đồng bằng sông Hồng thời kỳ
2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 tiếp tục được triển khai thực hiện và cập nhật
theo Quyết định này.
3. Bộ trưởng Bộ Tài chính, các Bộ trưởng, Thủ trưởng
các bộ, cơ quan ngang bộ; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trong
vùng đồng bằng sông Hồng, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố có liên quan; Thủ
trưởng các ngành, đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
|
Nơi nhận:
- Ban Bí thư Trung ương Đảng;
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Các bộ, cơ quan ngang bộ;
- HĐND, UBND các tỉnh, thành phố;
- Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Tổng Bí thư;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
- Văn phòng Quốc hội;
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Kiểm toán nhà nước;
- Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTg, TGĐ Cổng TTĐT,
các Vụ, Cục;
- Lưu: VT, CN (2). ĐTQ
|
KT. THỦ TƯỚNG
PHÓ THỦ TƯỚNG
Nguyễn Chí Dũng
|
PHỤ LỤC
DANH MỤC SƠ ĐỒ ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
THỜI KỲ 2021 - 2030, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2050
(Kèm theo Quyết định số 612/QĐ-TTg ngày 04 tháng 4 năm 2026 của Thủ tướng
Chính phủ)
|
TT
|
Tên sơ đồ
|
Tỷ lệ
|
|
1
|
Sơ đồ phương hướng phát triển hệ thống đô thị,
nông thôn
|
1:250.000
|
|
2
|
Sơ đồ phương hướng tổ chức không gian và phân
vùng chức năng
|
1:250.000
|
|
3
|
Sơ đồ phương hướng phát triển kết cấu hạ tầng xã
hội
|
1:250.000
|
|
4
|
Sơ đồ phương hướng phát triển kết cấu hạ tầng kỹ
thuật
|
1:250.000
|
|
5
|
Sơ đồ phương hướng sử dụng tài nguyên
|
1:250.000
|
|
6
|
Sơ đồ phương hướng bảo vệ môi trường
|
1:250.000
|
|
7
|
Sơ đồ phương hướng phòng, chống thiên tai và ứng
phó với biến đổi khí hậu
|
1:250.000
|