|
THỦ
TƯỚNG CHÍNH PHỦ
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 614/QĐ-TTg
|
Hà Nội, ngày 04 tháng 4 năm 2026
|
QUYẾT ĐỊNH
PHÊ DUYỆT ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH VÙNG DUYÊN
HẢI NAM TRUNG BỘ VÀ TÂY NGUYÊN THỜI KỲ 2021 - 2030, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2050
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 18 tháng 02 năm 2025;
Căn cứ Luật Quy hoạch ngày 10 tháng 12 năm 2025;
Căn cứ Luật Quy hoạch ngày 24 tháng 11 năm 2017; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 Luật Liên
quan đến quy hoạch ngày 15 tháng 6 năm 2018; Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 Luật có liên quan đến quy hoạch ngày 20
tháng 11 năm 2018; Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Quy hoạch, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công
tư và Luật Đấu thầu ngày 29 tháng 11 năm 2024;
Căn cứ Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Quốc
hội về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Nghị quyết số 252/2025/QH15 ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Quốc
hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 81/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Quốc
hội về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050;
Căn cứ Nghị quyết số 66.2/2025/NQ-CP ngày 28 tháng 8 năm 2025 của
Chính phủ quy định xử lý khó khăn, vướng mắc về việc điều chỉnh quy hoạch cấp
quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành
chính và tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp trong thời gian chưa ban hành Luật
Quy hoạch (sửa đổi);
Căn cứ Nghị định số 37/2019/NĐ-CP ngày 07 tháng 5 năm 2019 của Chính
phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật
Quy hoạch; Nghị định số 58/2023/NĐ-CP
ngày 12 tháng 8 năm 2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định
số 37/2019/NĐ-CP ngày 07 tháng 5 năm 2019 của
Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quy hoạch; Nghị định số 22/2025/NĐ-CP ngày 11 tháng 02 năm 2025 của
Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 37/2019/NĐ-CP ngày 07 tháng 5 năm 2019 của
Chính phủ;
Căn cứ Nghị quyết số 152/NQ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2022 của Chính phủ
ban hành Chương trình hành động của Chính phủ để thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 06 tháng 10 năm 2022 của Bộ Chính
trị về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên đến năm 2030, tầm nhìn đến năm
2045;
Căn cứ Nghị quyết số 168/NQ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2022 của Chính phủ
ban hành Chương trình hành động của Chính phủ để thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 03 tháng 11 năm 2022 của Bộ Chính
trị về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Bắc
Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045;
Căn cứ Quyết định số 376/QĐ-TTg ngày 04 tháng 5 năm 2024 của Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt Quy hoạch vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung thời kỳ
2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050;
Căn cứ Quyết định số 377/QĐ-TTg ngày 04 tháng 5 năm 2024 của Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt Quy hoạch vùng Tây Nguyên thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050;
Theo đề nghị của Bộ trưởng
Bộ Tài chính tại Tờ trình số 106/TTr-BTC ngày 28 tháng 02 năm 2026, Văn bản số
3916/BTC-CLCS ngày 31 tháng 3 năm 2026 về phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch vùng
duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050
và Báo cáo thẩm định số 15/BC-HĐTĐ ngày 28 tháng 02 năm 2026 của Hội đồng thẩm
định điều chỉnh quy hoạch vùng thời kỳ 2021
- 2030, tầm nhìn đến năm 2050 về hồ sơ Điều chỉnh Quy hoạch vùng duyên hải
Nam Trung Bộ và Tây Nguyên thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều
1. Phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch vùng
duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050
với những nội dung sau:
I. PHẠM
VI, RANH GIỚI LẬP QUY HOẠCH
Phạm vi, ranh giới lập điều
chỉnh quy hoạch vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên bao gồm toàn bộ lãnh
thổ đất liền của 06 tỉnh, thành phố: Thành phố Đà Nẵng, các tỉnh Quảng Ngãi,
Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa, Lâm Đồng và phần không gian biển, đảo được xác định
theo các quy định của pháp luật có liên quan.
II.
QUAN ĐIỂM, TẦM NHÌN, MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN
1. Quan điểm phát triển
a) Xây dựng vùng duyên hải
Nam Trung Bộ và Tây Nguyên trở thành vùng phát triển năng động, bền vững, giàu
bản sắc; là không gian phát triển chiến lược của cả nước gắn kết chặt chẽ giữa
biển, cao nguyên và biên giới; giữ vai trò quan trọng về kinh tế biển, năng lượng
tái tạo, công nghiệp chế biến, du lịch, dịch vụ logistics, nông nghiệp ứng dụng
công nghệ cao, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Phát triển
vùng bảo đảm phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước,
các chiến lược, quy hoạch cấp quốc gia.
b) Phát triển kinh tế vùng
nhanh, bền vững trên cơ sở lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển
đổi số làm động lực trung tâm, giữ vai trò dẫn dắt chuyển đổi mô hình tăng trưởng
theo chiều sâu, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của kinh tế
vùng. Kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, bảo
vệ tài nguyên, môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, gắn chặt với quốc
phòng, an ninh và đối ngoại. Huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực
phát triển, trong đó nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng, đột phá.
Phát triển có trọng tâm, trọng điểm, tập trung phát triển các ngành, lĩnh vực
có lợi thế như công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp công nghệ cao, công
nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, năng lượng tái tạo; nông, lâm nghiệp
và thủy sản ứng dụng công nghệ cao; du lịch, kinh tế biển, cảng biển, cảng hàng
không và dịch vụ logistics.
c) Phát triển kinh tế đi
đôi với gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, bảo đảm tiến bộ, công bằng
xã hội; chú trọng thu hẹp chênh lệch phát triển giữa các khu vực, nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần của người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số,
vùng sâu, vùng xa, biên giới và ven biển.
d) Tổ chức không gian phát
triển hợp lý, phù hợp với điều kiện phát triển của vùng, bảo đảm khai thác hiệu
quả không gian phát triển mới do phương án phân vùng mới và việc sắp xếp các
đơn vị hành chính mang lại. Hình thành các hành lang kinh tế theo trục Bắc -
Nam, Đông - Tây, các cực tăng trưởng và vùng động lực thúc đẩy sự phát triển của
cả vùng; thúc đẩy liên kết giữa các địa phương trong vùng, liên kết vùng với
các vùng Đông Nam Bộ, Bắc Trung Bộ, các nước ASEAN và quốc tế. Ưu tiên phát triển
đồng bộ hạ tầng chiến lược, nhất là giao thông, năng lượng, hạ tầng số, thủy lợi
và hạ tầng phòng, chống thiên tai.
đ) Kết hợp chặt chẽ phát
triển kinh tế - xã hội với củng cố tiềm lực, bảo đảm vững chắc quốc phòng, an
ninh; xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền,
quyền chủ quyền, biên giới quốc gia; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, trật
tự, an toàn xã hội để phát triển bền vững.
2. Tầm nhìn đến năm 2050
Đến năm 2050, vùng duyên hải
Nam Trung Bộ và Tây Nguyên trở thành vùng phát triển nhanh, bền vững, có cơ cấu
kinh tế hiện đại, xanh, tuần hoàn và có năng lực cạnh tranh cao; là không gian
liên kết hiệu quả giữa biển, cao nguyên và biên giới; hình thành các trung tâm
kinh tế biển mạnh, trung tâm du lịch chất lượng cao, trung tâm nông nghiệp công
nghệ cao, công nghiệp chế biến, dịch vụ logistics và đổi mới sáng tạo có tầm quốc
gia và khu vực. Hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, kết nối thông suốt
Bắc - Nam và Đông - Tây; môi trường, hệ sinh thái biển, rừng và nguồn nước được
bảo vệ; bản sắc văn hóa các dân tộc được gìn giữ, phát huy; quốc phòng, an ninh
được bảo đảm vững chắc; người dân có cuộc sống ấm no, văn minh, hạnh phúc.
3. Mục tiêu đến năm 2030
a) Mục tiêu tổng quát
Đến năm 2030, vùng duyên hải
Nam Trung Bộ và Tây Nguyên là vùng phát triển nhanh, bền vững; phát huy mạnh mẽ
liên kết biển - cao nguyên - biên giới; có cơ cấu kinh tế hợp lý, từng bước hiện
đại, là điểm đến hấp dẫn về du lịch biển, đảo, sinh thái và văn hóa. Hình thành
nguồn nhân lực có chất lượng, kỹ năng và khả năng thích ứng với yêu cầu phát
triển công nghiệp chế biến, chế tạo, năng lượng, logistics, nông nghiệp công
nghệ cao và kinh tế số. Một số địa phương trong vùng thuộc nhóm dẫn đầu cả nước
về một số lĩnh vực như khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, du lịch,
logistics, dịch vụ tài chính. Hệ thống kết cấu hạ tầng chủ yếu, nhất là giao
thông, năng lượng, đô thị, hạ tầng số, hạ tầng phòng, chống thiên tai từng bước
đồng bộ, hiện đại, kết nối Bắc - Nam và Đông - Tây. Hệ sinh thái rừng, an ninh
nguồn nước, quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đời sống vật chất và tinh thần của
người dân không ngừng được cải thiện.
b) Mục tiêu, chỉ tiêu cụ
thể
- Về kinh tế:
+ Phấn đấu tốc độ tăng trưởng
GRDP bình quân giai đoạn 2026 - 2030 đạt khoảng 10%/năm;
+ GRDP bình quân đầu người
theo giá hiện hành đến năm 2030 đạt trên 210 triệu đồng, tương đương trên 8.000
USD;
+ Tỷ trọng khu vực dịch vụ
chiếm khoảng 43 - 44% trong GRDP; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm khoảng
33 - 34% (riêng công nghiệp chiếm khoảng 27 - 28%, trong đó công nghiệp chế biến,
chế tạo khoảng 14%); khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm khoảng 16 -
17%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp khoảng 6 - 7%;
+ Phấn đấu tỷ trọng kinh tế
số trong GRDP khoảng 30%;
+ Phấn đấu tỷ lệ đô thị
hóa toàn vùng đạt khoảng 50%;
+ Tỷ lệ số xã đạt chuẩn
nông thôn mới đạt khoảng 65%, trong đó có khoảng 10% số xã đạt chuẩn nông thôn
mới hiện đại.
- Về xã hội:
+ Chỉ số phát triển con
người (HDI) đạt mức trung bình của cả nước;
+ Tốc độ tăng dân số bình
quân giai đoạn 2026 - 2030 duy trì ở mức 0,9 - 1,0%/năm;
+ Tỷ lệ lao động qua đào tạo
đạt khoảng 70 - 75%, trong đó tỷ lệ có bằng cấp, chứng chỉ đạt khoảng 30 - 35%;
+ Phấn đấu đạt 40 giường bệnh
và 17 bác sĩ trên 10.000 dân; 100% trạm y tế cấp xã có bác sĩ; tỷ lệ bao phủ bảo
hiểm y tế đạt trên 95%;
+ Phấn đấu 80% trường phổ
thông đạt chuẩn quốc gia; 100% học sinh tiểu học và trung học cơ sở học tin học,
ngoại ngữ; 100% trường học có Internet băng rộng, ít nhất 50% áp dụng mô hình
trường học thông minh;
+ Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn
nghèo đa chiều giảm 1,0 - 1,5%/năm; tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu
số giảm trên 3%/năm.
- Về môi trường:
+ Tỷ lệ che phủ rừng duy
trì ở mức khoảng 51,3%;
+ 100% khu công nghiệp,
khu chế xuất, cụm công nghiệp hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung vận
hành đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường;
+ 98% chất thải rắn sinh
hoạt đô thị được thu gom, xử lý theo quy định; tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt
nông thôn được thu gom, xử lý theo tiêu chuẩn, quy chuẩn đạt 80%;
+ Tỷ lệ nước thải sinh hoạt
đô thị được thu gom, xử lý theo tiêu chuẩn, quy chuẩn đạt trên 50%;
+ Tỷ lệ dân số đô thị được
cung cấp nước sạch qua hệ thống cấp nước tập trung là 100%; tỷ lệ sử dụng nước
sạch đáp ứng quy chuẩn của dân cư nông thôn khoảng 62%;
+ Tỷ lệ chất thải nguy hại
được thu gom, vận chuyển, xử lý theo tiêu chuẩn, quy chuẩn đạt 98%, trong đó tỷ
lệ chất thải y tế được xử lý đạt 100%.
- Về kết cấu hạ tầng:
Từng bước hoàn thiện mạng
lưới giao thông chiến lược vùng. Phấn đấu đến năm 2030 có khoảng 1.700 km đường
cao tốc, cơ bản hình thành các hành lang Bắc - Nam, Đông - Tây kết nối Tây
Nguyên với khu vực ven biển; từng bước đầu tư xây dựng tuyến đường sắt tốc độ
cao Bắc - Nam qua vùng và đường sắt kết nối vùng, liên vùng; phát triển chuỗi cảng
biển tổng hợp - logistics hiện đại; nâng cấp các cảng hàng không, đường thủy nội
địa; phát triển hạ tầng năng lượng, hạ tầng thông tin và truyền thông, đô thị lớn,
hạ tầng thủy lợi, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến
đổi khí hậu.
- Về bảo đảm quốc phòng,
an ninh:
Giữ vững độc lập, chủ quyền,
thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc quyền, chủ quyền biển, đảo,
thềm lục địa; gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với củng
cố quốc phòng, an ninh, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc; bảo đảm môi trường
hòa bình, ổn định và trật tự an toàn xã hội, phục vụ phát triển vùng bền vững.
III.
CÁC NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM, ĐỘT PHÁ PHÁT TRIỂN TRONG KỲ QUY HOẠCH
a) Tập trung hoàn thiện thể
chế, cơ chế, chính sách đặc thù và mô hình quản trị vùng hiệu quả, nâng cao
năng lực điều phối, năng lực cạnh tranh cấp vùng, cải thiện mạnh mẽ môi trường
đầu tư kinh doanh, đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chất lượng quy hoạch
và khả năng tiếp cận đất đai, tăng cường xúc tiến đầu tư và thu hút các nguồn lực
phát triển, trong đó kinh tế tư nhân trở thành động lực tăng trưởng quan trọng
nhất của vùng. Đồng thời, nghiên cứu, thí điểm và nhân rộng các mô hình phát
triển mới phù hợp với điều kiện của vùng như khu thương mại tự do, kinh tế
không gian tầm thấp, đô thị khoa học, trung tâm đổi mới sáng tạo, đào tạo nhân
lực khoa học và công nghệ, phát triển công nghiệp công nghệ cao tại một số địa
phương có điều kiện thuận lợi như Đà Nẵng, Gia Lai để lan tỏa sang các địa
phương khác trong vùng. Ban hành và thực hiện hiệu quả các cơ chế, chính sách đặc
thù về bảo vệ và phát triển rừng, bảo tồn các giá trị văn hóa vật thể và phi vật
thể Tây Nguyên, phát triển đào tạo nghề cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số,
khuyến khích công nghiệp chế biến nông, lâm sản, phát triển năng lượng tái tạo,
chia sẻ nguồn nước và lợi ích từ nguồn nước liên vùng, thu hút đầu tư vào du lịch,
nông nghiệp công nghệ cao, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu phát triển với đất ở và
đất sản xuất của người dân.
b) Đẩy mạnh cơ cấu lại nền
kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, nâng cao năng suất, chất
lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh; sắp xếp, phân bổ lại các
ngành và lãnh thổ theo hướng phát triển nông nghiệp hiệu quả, công nghiệp chế
biến sâu gắn với nông nghiệp, dịch vụ gắn với chuỗi giá trị liên vùng và quốc tế;
ưu tiên phát triển các ngành, lĩnh vực có lợi thế như công nghiệp chế biến, chế
tạo, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp phục vụ nông nghiệp, logistics, tài
chính, thương mại, du lịch chất lượng cao và nông nghiệp công nghệ cao. Tập
trung hình thành các cụm liên kết ngành theo sản phẩm chủ lực, phát triển mạnh
các khu công nghiệp công nghệ cao, khu công nghệ cao, trung tâm đổi mới sáng tạo,
khu thương mại tự do và một số mô hình kinh tế mới tại khu vực ven biển khi đủ
điều kiện; đồng thời có cơ chế, chính sách phù hợp để thúc đẩy phát triển kinh
tế - xã hội, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các khu vực trong vùng, nhất
là giữa phía Đông và phía Tây, cũng như giữa vùng với các vùng khác trong cả nước.
c) Ưu tiên phát triển đồng
bộ và hiện đại hệ thống kết cấu hạ tầng nội vùng, liên vùng, nhất là các công
trình giao thông theo hướng Đông - Tây, gắn với khai thác hiệu quả không gian
phát triển mới; hình thành và phát triển các cực tăng trưởng, trục phát triển,
hành lang kinh tế tạo động lực tăng trưởng và lan tỏa trong toàn vùng, trong đó
trục động lực kinh tế ven biển giữ vai trò dẫn dắt quan trọng nhất. Tập trung đầu
tư nâng cấp, hoàn thiện hạ tầng kết nối giữa khu vực Tây Nguyên với duyên hải
Nam Trung Bộ, kết nối trực tiếp vùng với Đông Nam Bộ, Bắc Trung Bộ, Lào và
Campuchia; hoàn thành các tuyến cao tốc trọng điểm như Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột,
Quy Nhơn - Pleiku - Lệ Thanh, Dầu Giây - Liên Khương, Chơn Thành - Gia Nghĩa,
Nha Trang - Liên Khương; nâng cấp các cảng hàng không, cảng biển quan trọng tại
Đà Nẵng, Quy Nhơn, Khánh Hòa; đồng thời phát triển nhanh hạ tầng kết nối giữa
các trung tâm tổng hợp, trung tâm chuyên ngành của vùng với các trung tâm kinh
tế lớn của các vùng lân cận. Cùng với đó, ưu tiên phát triển hạ tầng khu vực
Tây Nguyên, đặc biệt là Buôn Ma Thuột; hoàn thiện hạ tầng khu công nghiệp, cảng
cạn, logistics, hạ tầng xử lý chất thải rắn, chất thải nguy hại, nước thải; triển
khai nền tảng số dùng chung và cơ chế chia sẻ hạ tầng thông tin, truyền thông
nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, khai thác tài nguyên và phát triển vùng.
d) Phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhu cầu của thị
trường; ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực có khả năng thích ứng, tự đào tạo và làm
chủ công nghệ trong các lĩnh vực trọng điểm như công nghiệp công nghệ cao, năng
lượng tái tạo, logistics, tài chính - ngân hàng, du lịch thông minh, nông nghiệp
công nghệ cao, y tế và dược phẩm. Đồng thời, chú trọng đào tạo nghề cho lao động
nông thôn, giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp, tạo việc làm, tăng thu nhập; có cơ
chế, chính sách đặc thù để thu hút chuyên gia, nhân lực chất lượng cao và lao động
lành nghề đến làm việc lâu dài tại các địa phương trong vùng. Gắn phát triển
nguồn nhân lực với việc hình thành và phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo,
trung tâm khoa học - công nghệ cấp vùng; thúc đẩy liên kết vùng trong chuyển
giao, ứng dụng khoa học, công nghệ vào các ngành, lĩnh vực quan trọng, tạo nền
tảng nâng cao chất lượng tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của vùng.
đ) Kết hợp chặt chẽ phát
triển kinh tế với bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử, bản sắc và vốn
sinh thái nhân văn của vùng; gắn bảo tồn văn hóa Tây Nguyên với phát triển du lịch
bền vững, giáo dục cộng đồng và phát triển sản phẩm đặc trưng; đồng thời đẩy mạnh
quảng bá di sản, phát triển mạng lưới văn hóa - du lịch và nguồn nhân lực văn
hóa, du lịch khu vực duyên hải Nam Trung Bộ. Quản lý chặt chẽ, sử dụng hiệu quả
tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động phòng chống thiên tai và thích ứng với
biến đổi khí hậu; ưu tiên đầu tư các công trình, dự án trọng điểm về phòng chống
thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu; xây dựng Tây Nguyên trở thành khu vực
đi đầu trong bảo tồn, phục hồi và làm giàu tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là
tài nguyên rừng, hướng tới nền kinh tế trung hòa carbon, đồng thời xây dựng khu
vực duyên hải Nam Trung Bộ đi đầu trong bảo tồn, phục hồi và phát huy giá trị
tài nguyên biên. Trên cơ sở đó, tiếp tục củng cố liên kết vùng, nâng cao hiệu
quả điều phối, tăng cường thu hút nguồn lực, xúc tiến đầu tư cấp vùng, tạo động
lực cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững và có sức lan tỏa trong
toàn vùng.
IV.
PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ PHÂN BỐ KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN CHO CÁC NGÀNH, LĨNH VỰC
CÓ LỢI THẾ
1.
Ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản
- Tổ chức không gian phát
triển nông nghiệp theo hướng hình thành chuỗi giá trị nông sản gắn với điều kiện
tự nhiên, lợi thế so sánh của từng địa phương; tăng cường liên kết nội vùng,
ngoại vùng; đẩy mạnh phối hợp giữa các địa phương trong vùng và với các vùng
khác trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản.
- Hình thành Trung tâm đổi
mới sáng tạo nông nghiệp vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên làm hạt nhân
nghiên cứu, phát triển giống cây trồng, vật nuôi chất lượng cao, chuyển giao
công nghệ số, công nghệ chế biến sâu, kết nối thị trường; là đầu mối liên kết
viện - trường - doanh nghiệp, hỗ trợ mô hình nông nghiệp công nghệ cao, hữu cơ,
tuần hoàn, tạo không gian thử nghiệm và lan tỏa tiến bộ khoa học - công nghệ,
nâng cao năng lực cạnh tranh và thương hiệu sản phẩm đặc trưng của vùng.
- Phát triển nông, lâm
nghiệp và thủy sản theo hướng sinh thái, thích ứng biến đổi khí hậu, gắn với
công nghiệp chế biến và thị trường; coi phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã
và chuỗi liên kết sản xuất - chế biến - dịch vụ - thị trường là trọng tâm. Hình
thành vùng sản xuất chuyên canh tập trung, quy mô phù hợp, ứng dụng công nghệ
cao, phát triển nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn, phát thải thấp gắn với chế biến
sâu, truy xuất nguồn gốc và xây dựng thương hiệu. Chú trọng phát triển kinh tế
rừng và kinh tế dưới tán rừng, mở rộng diện tích cây ăn quả, cây dược liệu.
- Đẩy mạnh nuôi biển công
nghiệp quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao, công nghệ số, tự động hóa; phát triển
nuôi ven bờ gắn với bảo vệ và phục hồi rừng ngập mặn, hệ sinh thái ven biển và
sinh kế bền vững của cộng đồng dân cư; tổ chức lại khai thác hải sản theo hướng
giảm khai thác gần bờ, tăng khai thác xa bờ và viễn dương phù hợp với khả năng
phục hồi hệ sinh thái; bố trí lại sinh kế ngư dân gắn với nuôi trồng, chế biến
thủy, hải sản và dịch vụ du lịch.
2. Ngành
công nghiệp
- Phát triển công nghiệp
vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên theo hướng hiện đại, xanh, tuần hoàn
và số hóa, phát huy vai trò của vùng là địa bàn quan trọng về công nghiệp chế
biến, chế tạo, năng lượng tái tạo, công nghiệp biển và một số ngành công nghiệp
công nghệ cao.
- Tập trung phát triển các
nhóm ngành công nghiệp chủ lực, gồm: công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản gắn
với nông nghiệp công nghệ cao; công nghiệp năng lượng, nhất là năng lượng tái tạo,
phát triển điện gió ngoài khơi, điện hạt nhân theo lộ trình quốc gia; công nghiệp
cơ khí chế tạo, luyện kim, lọc hóa dầu, công nghiệp hỗ trợ, điện tử, công nghệ
số và một số lĩnh vực công nghệ cao phù hợp điều kiện của vùng.
- Tổ chức không gian công
nghiệp theo các trục kết nối ven biển, cao nguyên và Đông - Tây gắn với hệ thống
cảng biển, cửa khẩu quốc tế, đô thị động lực và các khu kinh tế, khu công nghiệp
trọng điểm của vùng; khu vực duyên hải ưu tiên phát triển công nghiệp công nghệ
cao, điện gió, điện mặt trời; khu vực Tây Nguyên tập trung chế biến nông - lâm
sản, khoáng sản và phát triển năng lượng tái tạo.
- Thúc đẩy hình thành các
cụm liên kết ngành và chuỗi giá trị đối với các ngành công nghiệp chủ lực; khuyến
khích phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, cụm công nghiệp, làng nghề gắn với tạo
việc làm tại chỗ, đồng thời bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và sử
dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên.
- Tổ chức hệ thống khu
công nghiệp theo không gian hợp lý gắn với các hành lang giao thông; khuyến
khích phát triển các khu công nghiệp hỗ trợ, khu công nghiệp công nghệ cao, khu
công nghiệp sinh thái. Khu vực ven biển Nam Trung Bộ tập trung phát triển khu
công nghiệp quy mô lớn gắn với kinh tế biển; khu vực Tây Nguyên ưu tiên khu
công nghiệp gắn với chế biến nông, lâm sản và chuỗi bauxite - alumin - nhôm
theo các trục giao thông ra cảng biển; gắn phát triển khu công nghiệp với đô thị
và dịch vụ theo mô hình khu công nghiệp - đô thị - dịch vụ, bảo đảm hạ tầng xã
hội và nhà ở cho người lao động.
3. Ngành
dịch vụ
- Phát triển ngành dịch vụ
toàn diện, bền vững, tận dụng tối đa lợi thế cảng biển, sân bay và cửa khẩu quốc
tế, đồng thời gắn kết chặt chẽ với các ngành nông nghiệp và công nghiệp nhằm mở
rộng thị trường cung ứng và tiêu thụ trong và ngoài vùng.
- Phát triển thương mại
theo hướng hội nhập, thông minh và bền vững, bảo đảm sự hài hòa giữa thương mại
truyền thống và hiện đại, phù hợp với đặc thù các khu vực ven biển và cao
nguyên. Khuyến khích hình thành các doanh nghiệp thương mại có quy mô lớn, năng
lực cạnh tranh cao, giữ vai trò dẫn dắt, điều tiết và kết nối thị trường; đồng
thời tạo điều kiện phát triển mạng lưới doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh
và thương nhân khu vực nông thôn tham gia sâu hơn vào hệ thống phân phối và chuỗi
cung ứng hàng hóa; mở rộng hệ thống phân phối hiện đại, chợ đầu mối nông sản và
các trung tâm cung ứng hàng hóa liên vùng, ưu tiên hình thành, nâng cấp các
trung tâm hội chợ, triển lãm tại các đô thị trung tâm như Đà Nẵng, Quy Nhơn,
Nha Trang, Đà Lạt, Buôn Ma Thuột, Gia Nghĩa, tạo mạng lưới xúc tiến thương mại,
quảng bá sản phẩm chủ lực của vùng. Tăng cường thương mại biên giới gắn với đầu
tư nâng cấp kết cấu hạ tầng tại các cửa khẩu quốc tế trọng điểm, đồng thời đẩy
mạnh phát triển thương mại điện tử và kinh tế số, ứng dụng công nghệ trong phân
phối, quản lý chuỗi cung ứng và kết nối thị trường.
- Phát triển du lịch theo
hướng tổng hợp, bền vững và giàu bản sắc, khai thác hiệu quả lợi thế biển đảo của
khu vực Nam Trung Bộ và không gian sinh thái, văn hóa đặc sắc của khu vực Tây
Nguyên. Hình thành các sản phẩm du lịch đặc thù có tính nhận diện vùng, tăng cường
liên kết nội vùng, liên vùng và quốc tế; thúc đẩy chuyển đổi số, hoàn thiện hạ
tầng và hệ sinh thái du lịch xanh và thông minh, đưa vùng trở thành trung tâm
du lịch biển, sinh thái và văn hóa của cả nước.
- Phát triển dịch vụ
logistics theo hướng chuyên nghiệp và ứng dụng công nghệ tiên tiến, gắn với hệ
thống cảng biển, cảng hàng không và cửa khẩu quốc tế, đồng thời tăng cường liên
kết với các trung tâm và hành lang kinh tế nhằm hỗ trợ các hoạt động thương mại,
công nghiệp, nông nghiệp và du lịch. Ưu tiên các đầu mối logistics cấp vùng, cấp
quốc gia tại Đà Nẵng, Cam Ranh, Vân Phong, kết nối chặt chẽ với khu kinh tế ven
biển, khu công nghiệp và các tuyến thương mại liên vùng (bao gồm hành lang Đông
- Tây), đồng thời phát triển hệ thống kho bãi, cảng cạn, kho ngoại quan, kho lạnh
tại các đầu mối giao thương quan trọng để giảm chi phí và nâng cao năng lực cạnh
tranh.
- Phát triển, gắn kết giữa
trung tâm tài chính quốc tế và khu thương mại tự do tại thành phố Đà Nẵng, hình
thành hệ sinh thái kinh tế hiện đại, thông minh, có tính cạnh tranh cao, tạo sức
lan tỏa lớn. Hình thành, phát triển khu thương mại tự do và các loại hình khu
chức năng với mô hình phù hợp, có sức cạnh tranh khu vực và quốc tế trong thu
hút đầu tư chất lượng cao.
4. Phát
triển kinh tế biển
- Phát triển mạnh kinh tế
biển theo hướng hiện đại, xanh và bền vững, khai thác hiệu quả tiềm năng biển
và ven biển của vùng, gắn với quản lý tổng hợp và bảo tồn hệ sinh thái biển. Tập
trung hình thành các trung tâm kinh tế biển có vai trò quốc gia và khu vực,
phát triển các ngành mũi nhọn như kinh tế hàng hải, cảng biển, logistics, du lịch
biển đảo, công nghiệp ven biển, năng lượng tái tạo và nuôi biển công nghệ cao.
Bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế, bảo vệ tài nguyên, môi trường biển và
củng cố quốc phòng, an ninh biển đảo.
- Ưu tiên đầu tư phát triển
hệ thống cảng biển hiện đại tại Đà Nẵng và Khánh Hòa, gắn với các trung tâm
logistics biển và hành lang vận tải quốc tế. Phát triển mạnh du lịch biển đảo
chất lượng cao, đô thị biển hiện đại, các khu công nghiệp ven biển và các trung
tâm năng lượng tái tạo ngoài khơi; thúc đẩy nuôi biển và chế biến thủy sản theo
hướng công nghệ cao và bền vững. Hình thành hai trung tâm kinh tế biển động lực
tại Đà Nẵng và Khánh Hòa, tạo hạt nhân lan tỏa phát triển và đầu mối kết nối quốc
tế.
V.
PHƯƠNG ÁN PHÁT TRIỂN, SẮP XẾP, LỰA CHỌN VÀ PHÂN BỔ KHÔNG GIAN PHÁT TRIỂN TRÊN
LÃNH THỔ VÙNG
1. Các
tiểu vùng
a) Tiểu vùng phía Bắc gồm
thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Ngãi
- Phát triển thành phố Đà
Nẵng và tỉnh Quảng Ngãi trở thành các địa phương có tỷ trọng đóng góp kinh tế lớn
trong vùng động lực miền Trung. Phát huy vai trò trung tâm kinh tế - đô thị Đà
Nẵng và Khu kinh tế Dung Quất để hình thành trục động lực công nghiệp - dịch vụ
ven biển, phát triển cụm liên kết ngành công nghiệp công nghệ cao (điện tử,
công nghệ thông tin, công nghiệp hỗ trợ) và cơ khí - ô tô tại Đà Nẵng - Chu
Lai, gắn kết với tổ hợp công nghiệp nặng (lọc - hóa dầu, luyện kim, đóng tàu, vật
liệu xây dựng) tại Khu kinh tế Dung Quất.
- Phát triển mạnh dịch vụ
hiện đại và logistics, xây dựng Đà Nẵng trở thành cực dịch vụ đa ngành
(tài chính, logistics, công nghệ), gắn với trục Bắc - Nam ven biển. Hình thành
các trung tâm logistics cấp vùng tại Đà Nẵng, Dung Quất và Chu Lai để kết nối
Tây Nguyên và các vùng lân cận. Hoàn thiện liên kết hạ tầng qua cao tốc Bắc -
Nam, quốc lộ 14B, quốc lộ 24 nhằm giảm chi phí vận chuyển và nâng cao năng lực
xuất khẩu nông, lâm, thủy sản.
- Khai thác hiệu quả không
gian biển - đảo, phát triển các khu du lịch biển chất lượng cao tại Đà Nẵng và
Quảng Ngãi, gắn với tài nguyên văn hóa - di sản (Hội An, các lễ hội truyền thống),
hình thành trục du lịch biển - đảo chủ lực của miền Trung với các sản phẩm đa dạng:
du lịch nghỉ dưỡng, du lịch lễ hội - ẩm thực, du lịch di sản.
- Tổ chức lại không gian
nông nghiệp ven biển theo hướng chuyên canh tập trung, công nghệ cao, gắn với
chế biến sâu và phát triển chuỗi giá trị nông, lâm và thủy sản phục vụ xuất khẩu.
- Phát triển cụm y tế
chuyên sâu Đà Nẵng - Quảng Ngãi, bao gồm trung tâm y học biển - đảo, y tế công
nghiệp, y tế dự phòng cấp vùng; mở rộng hệ thống khám chữa bệnh chất lượng cao
đáp ứng nhu cầu người dân và lực lượng lao động khu công nghiệp.
- Xây dựng trung tâm đào tạo
nhân lực chất lượng cao về công nghiệp, logistics, công nghệ thông tin, tăng cường
liên kết cơ sở đào tạo - doanh nghiệp, triển khai đào tạo gắn với thực hành và
chuyển giao công nghệ. Hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo Đà Nẵng - Dung
Quất, thúc đẩy R&D trong công nghiệp, năng lượng, môi trường, logistics và
chuyển đổi số trong quản lý đô thị, cảng biển, chuỗi cung ứng.
- Phát triển chuỗi đô thị
biển - công nghiệp - dịch vụ theo hướng xanh, thông minh và thích ứng khí hậu,
hoàn thiện hạ tầng cấp, thoát nước, xử lý chất thải, nhà ở công nhân, giao
thông liên kết vùng, đồng thời mở rộng không gian xanh ven sông - ven biển.
b) Tiểu vùng Trung tâm gồm
tỉnh Gia Lai và tỉnh Đắk Lắk
- Phát triển tiểu vùng
trung tâm thành vựa nông sản của vùng, hình thành vùng nguyên liệu tập trung
cho cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả ôn đới, rau, hoa và dược liệu. Xây dựng
các trung tâm chế biến quy mô lớn tại Buôn Ma Thuột
và Pleiku, đẩy mạnh chế biến sâu gắn với nông nghiệp công nghệ cao và chuỗi
logistics xuất khẩu qua hành lang Đông - Tây.
- Xây dựng Đắk Lắk trở
thành trung tâm cơ khí nông nghiệp của vùng. Đồng thời, phát triển nguồn năng
lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời) bảo đảm cung ứng điện ổn định cho sản
xuất nông nghiệp và công nghiệp.
- Hình thành hệ thống
thương mại, logistics hiện đại. Ưu tiên hoàn thiện hành lang Đông - Tây (quốc lộ
19, quốc lộ 25, quốc lộ 26), kết nối cao nguyên ra các cảng biển miền Trung, giảm
15 - 20% chi phí logistics. Phát triển hệ thống cảng cạn (ICD), trung tâm
logistics lạnh và kho bảo quản phục vụ xuất khẩu.
- Đẩy mạnh du lịch sinh
thái rừng, du lịch văn hóa, du lịch mạo hiểm và du lịch cộng đồng, hình thành sản
phẩm du lịch đặc trưng gắn kết cao nguyên với vùng biển.
- Thúc đẩy nông nghiệp hữu
cơ và hướng đến kinh tế tuần hoàn để bảo vệ rừng và đa dạng sinh học. Tăng cường
kết nối liên vùng giữa khu vực biển, cao nguyên và biên giới qua hành lang ra cảng
Quy Nhơn, Đà Nẵng và cửa khẩu quốc tế (Bờ Y, Bu Prăng) để mở rộng thị trường xuất
khẩu nông sản. Áp dụng cơ chế khuyến khích sản xuất xanh nhằm bảo đảm sinh kế bền
vững cho cộng đồng dân tộc thiểu số.
c) Tiểu vùng phía Nam gồm
tỉnh Lâm Đồng và tỉnh Khánh Hòa
- Phát triển tiểu vùng trở
thành cực tăng trưởng biển - cao nguyên dựa trên trục Nha Trang - Đà Lạt, hình
thành hành lang du lịch biển - sinh thái - nghỉ dưỡng quốc tế; trong đó Nha
Trang - Cam Lâm - Cam Ranh tập trung phát triển du lịch biển và chăm sóc sức khỏe,
Đà Lạt là trung tâm du lịch sinh thái kết hợp phát triển nông nghiệp công nghệ
cao.
- Tập trung phát triển Lâm
Đồng trở thành trung tâm rau, hoa và nông sản ôn đới công nghệ cao của cả nước,
mở rộng vùng sản xuất gắn với chế biến sâu, kho lạnh, logistics và truy xuất
nguồn gốc; thúc đẩy mô hình nông nghiệp xanh, hữu cơ và tuần hoàn, tăng cường
liên kết nông nghiệp giữa hai tỉnh.
- Khai thác lợi thế ngư
trường và cảng cá Nha Trang để xây dựng trung tâm hậu cần nghề cá của vùng, đồng
thời phát triển mạnh công nghiệp sản xuất giống thủy sản, nuôi biển công nghiệp,
lồng bè công nghệ cao; đầu tư hạ tầng logistics thủy sản và trung tâm nghiên cứu
nguồn lợi hải sản, hướng tới nghề cá bền vững.
- Tập trung phát triển mạnh
các khu công nghiệp ven biển Khánh Hòa - Vân Phong, ưu tiên các ngành công nghiệp
hàng hải, đóng tàu, cơ khí, công nghiệp công nghệ cao và công nghiệp hỗ trợ. Đồng
thời, đẩy mạnh phát triển năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời) tại
Khánh Hòa nhằm cung cấp nguồn điện sạch cho khu công nghiệp và dân sinh. Phấn đấu
khởi công Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận trong năm 2026. Đầu tư, nâng cấp hệ
thống cảng biển Cam Ranh và Vân Phong trở thành trung tâm logistics năng lượng
và xăng dầu quy mô khu vực.
- Tăng cường kết nối liên
vùng với Đông Nam Bộ và hành lang Đông - Tây (Campuchia, Lào). Đồng thời, bảo tồn
rừng đặc dụng, san hô ven biển Nha Trang - Bình Ba và các hệ sinh thái đặc thù.
- Hình thành mạng lưới đô
thị biển - cao nguyên: (1) Vân Phong - Nha Trang - Cam Lâm - Cam Ranh là chuỗi
đô thị cảng - du lịch - dịch vụ quốc tế, logistics - công nghiệp biển. (2) Đà Lạt
- Đức Trọng - Liên Khương là đô thị sinh thái - sáng tạo, trung tâm R&D, du
lịch nghỉ dưỡng cao cấp, trung tâm giáo dục - y tế vùng.
- Phát triển Nha Trang -
Cam Lâm - Cam Ranh trở thành trung tâm y tế chất lượng cao của vùng, tập trung
vào các lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, y học biển và du lịch
nghỉ dưỡng y tế; Đà Lạt - Liên Khương định hướng phát triển thành trung tâm y tế
- phục hồi sức khỏe chuyên sâu gắn với khí hậu đặc thù cao nguyên, phục vụ nhu
cầu điều trị, nghỉ dưỡng và chăm sóc dài ngày cho người dân trong vùng và du
khách quốc tế.
- Về giáo dục, xây dựng cụm
trường đại học, cao đẳng liên vùng tại Nha Trang (hàng hải, logistics, du lịch,
thủy sản) và Đà Lạt (nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ thông tin, công nghệ
sinh học) kết nối viện - trường - doanh nghiệp. Phát triển đào tạo nghề theo cụm
ngành (năng lượng tái tạo, vận hành cảng - logistics, công nghệ biển, chế biến
nông thủy sản) tại Cam Ranh, Đức Trọng - Liên Khương.
2. Vùng
động lực và cực tăng trưởng
a) Vùng động lực
Phạm vi vùng động lực miền
Trung thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên gồm khu vực ven biển các
tỉnh, thành phố: Đà Nẵng, Quảng Ngãi và Gia Lai; trong đó thành phố Đà Nẵng là
cực tăng trưởng. Vùng động lực này được định hướng phát triển thành không gian
tăng trưởng năng động của vùng, tập trung hình thành hệ thống đô thị ven biển
hiện đại, các trung tâm du lịch biển, du lịch sinh thái có tầm khu vực và quốc
tế; phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế, trọng tâm là lọc hóa dầu, năng
lượng, công nghiệp ô tô và công nghiệp hỗ trợ cơ khí; phát triển đồng bộ hệ thống
cảng biển, cảng hàng không, logistics, dịch vụ hậu cần nghề cá gắn với các đầu
mối giao thông quan trọng. Đồng thời, ưu tiên phát triển các trung tâm dịch vụ,
thương mại, tài chính, ngân hàng, đào tạo, y tế chất lượng cao; đẩy mạnh khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; thu hút các ngành công nghiệp mới nổi,
phát triển khu công nghệ cao, khu công nghệ số và trung tâm đổi mới sáng tạo, tạo
sức lan tỏa đối với toàn vùng.
b) Các cực tăng trưởng
- Đà Nẵng là cực tăng trưởng
phía Bắc của vùng, đầu mối kết nối vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên với
vùng Bắc Trung Bộ, Lào và các nước ASEAN; đồng thời là một trong những trung
tâm kinh tế - xã hội lớn của cả nước và Đông Nam Á với vai trò là trung tâm về
khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, du lịch, thương mại, tài chính, logistics, công
nghiệp công nghệ cao, công nghệ số, công nghiệp hỗ trợ; là một trong những
trung tâm văn hóa - thể thao, giáo dục và đào tạo, y tế chất lượng cao, khoa học,
công nghệ phát triển của đất nước.
- Gia Lai là một cực tăng
trưởng ở khu vực trung tâm của vùng, đảm nhận chức năng là trung tâm sản xuất,
chế biến nông - lâm - thủy sản ứng dụng công nghệ cao; trung tâm khoa học -
công nghệ và đào tạo nhân lực; trung tâm dịch vụ du lịch, logistics của toàn
vùng; đồng thời là trung tâm kết nối nội vùng, ngoại vùng, kết nối với Lào,
Campuchia thông qua các cửa khẩu quốc tế Bờ Y, Lệ Thanh.
- Lâm Đồng là cực tăng trưởng
phía Nam của vùng, đảm nhận chức năng là trung tâm du lịch, trung tâm rau hoa
công nghệ cao và nông sản ôn đới của vùng và cả nước; đồng thời là đầu mối kết
nối vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên với vùng Đông Nam Bộ, Campuchia
và các nước ASEAN. Trong kỳ quy hoạch đến năm 2030, từng bước phát triển Lâm Đồng
cùng với Khánh Hòa và vùng phụ cận trở thành một vùng kinh tế động lực của cả
nước.
4. Các
hành lang kinh tế
a) Hành lang kinh tế Bắc -
Nam ven biển (Đà Nẵng - Quy Nhơn - Phan Thiết)
Phát triển hành lang kinh
tế Bắc - Nam ven biển từ Đà Nẵng đến Phan Thiết trên cơ sở trục giao thông Bắc
- Nam phía Đông kết nối các trung tâm đô thị, trung tâm sản xuất, trung tâm du
lịch, trung tâm logistics lớn ven biển của vùng, tạo tác động lan tỏa thúc đẩy
sự phát triển của khu vực phía Tây của vùng; đồng thời tăng cường liên kết với
vùng Bắc Trung Bộ ở phía Bắc và vùng Đông Nam Bộ ở phía Nam. Đến năm 2030, tập
trung đầu tư, hoàn thiện tuyến đường bộ ven biển từ Đà Nẵng đến Phan Thiết để
phát triển du lịch, logistics và kết nối các cảng biển trên tuyến hành lang
kinh tế Đà Nẵng - Quy Nhơn - Phan Thiết; phát triển đô thị theo hướng xanh,
thông minh, hiện đại, thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu; phát triển các
khu kinh tế, khu công nghiệp theo hướng ưu tiên các dự án công nghiệp công nghệ
cao; khai thác hiệu quả nguồn năng lượng tái tạo; chú trọng xây dựng thương hiệu,
nâng cao chất lượng du lịch biển; hình thành các trung tâm đào tạo nhân lực chất
lượng cao và phát triển các loại hình dịch vụ hiện đại như dịch vụ tài chính, dịch
vụ khoa học công nghệ tại Đà Nẵng và một số đô thị lớn của vùng.
b) Hành lang kinh tế Bắc -
Nam Tây Nguyên (Kon Tum - Pleiku - Buôn Ma Thuột - Gia Nghĩa)
Phát triển hành lang kinh
tế Bắc - Nam Tây Nguyên từ Kon Tum đến Gia Nghĩa trên cơ sở đường Hồ Chí Minh,
cao tốc Bắc - Nam phía Tây và tuyến đường sắt dọc Tây Nguyên trong tương lai, kết
nối các trung tâm sản xuất, đô thị của khu vực Tây Nguyên và kết nối Tây Nguyên
với Đà Nẵng, vùng Bắc Trung Bộ ở phía Bắc và vùng Đông Nam Bộ ở phía Nam. Mở rộng
phát triển đô thị động lực dọc hành lang kinh tế này, đặc biệt tại Buôn Ma Thuột,
Pleiku và Kon Tum gắn với hình thành các khu, cụm công nghiệp, trung tâm dịch vụ
- logistics, chợ đầu mối và tuyến du lịch “Con đường xanh Tây Nguyên”.
c) Hành lang kinh tế Bờ Y
- Pleiku - Quy Nhơn
Phát triển hành lang kinh
tế Bờ Y - Pleiku - Quy Nhơn trên cơ sở trục quốc lộ 19, đường Hồ Chí Minh, quốc
lộ 40 và các tuyến kết nối tới cảng Quy Nhơn, Thị Nại, Phù Mỹ, cùng cao tốc Lệ
Thanh - Pleiku - Quy Nhơn trong tương lai. Hành lang kinh tế này kết nối phía Bắc
khu vực Tây Nguyên với khu vực ven biển Nam Trung Bộ và cảng biển, thúc đẩy
phát triển kinh tế - xã hội vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, đồng thời
là cửa ngõ ra biển quan trọng đối với Lào, Campuchia và khu vực biên giới phía
Tây. Phát triển các đô thị động lực dọc tuyến, kết nối du lịch sinh thái - văn
hóa - nông nghiệp Tây Nguyên với du lịch biển Quy Nhơn, hình thành chuỗi đô thị
- công nghiệp - dịch vụ gắn với tuyến cao tốc và các đầu mối giao thông quốc
gia.
d) Hành lang kinh tế Phú
Yên - Đắk Lắk và Buôn Ma Thuột - Khánh Hòa
Phát triển hành lang kinh
tế Phú Yên - Đắk Lắk và Buôn Ma Thuột - Khánh Hòa trên cơ sở cao tốc Phú Yên -
Đắk Lắk (CT.23) từ cửa khẩu Đắk Ruê - Buôn Hồ đến cảng Vũng Rô và cao tốc Buôn
Ma Thuột - Khánh Hòa (CT.24) kết nối Buôn Ma Thuột - Phước An - Ea Kar với Khu
kinh tế Vân Phong và Trung tâm du lịch quốc tế biển Nha Trang. Tuyến hành lang
kinh tế này tăng cường kết nối khu vực Trung Tây Nguyên với khu vực ven biển
Nam Trung Bộ, là trục vận tải liên vùng, thúc đẩy giao thương nội vùng, ngoại
vùng, giao thương quốc tế. Trên tuyến hành lang kinh tế này, hình thành đô thị
công nghiệp - dịch vụ thương mại - du lịch tại địa phận tỉnh Đắk Lắk; phát triển
các vùng chuyên canh cây công nghiệp; phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm
sản, khoáng sản, năng lượng tái tạo; liên kết các tour du lịch của Đắk Lắk với
tỉnh Khánh Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh thành tour du lịch liên vùng.
đ) Hành lang kinh tế Dầu
Giây - Đà Lạt - Nha Trang
Phát triển hành lang kinh
tế Dầu Giây - Đà Lạt - Nha Trang trên cơ sở quốc lộ 20, quốc lộ 27B, cao tốc Dầu
Giây - Đà Lạt (CT.27) và cao tốc Nha Trang - Liên Khương (CT.25), là trục giao
thông quan trọng kết nối trung tâm du lịch Đà Lạt với trung tâm du lịch biển
Nha Trang; kết nối tỉnh Lâm Đồng nói riêng, vùng duyên hải Nam Trung Bộ nói
chung với vùng Đông Nam Bộ. Trên tuyến hành lang kinh tế này xây dựng các đô thị
có chức năng dịch vụ thương mại - du lịch - vận tải như Di Linh, Ma Đa Guôi…;
xây dựng và phát triển các khu du lịch lớn gắn với cảnh quan thiên nhiên sẵn
có; phát triển các vùng chuyên canh cây công nghiệp, cây lương thực, các khu
công nghiệp chế biến nông lâm sản, thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, hóa chất,
may mặc, cơ khí sửa chữa, dệt may, vật liệu xây dựng, khai thác và chế biến khoáng
sản.
e) Hành lang kinh tế Cửa
khẩu Bu Prăng - Gia Nghĩa - Bảo Lộc - Bình Thuận
Phát triển hành lang kinh
tế Cửa khẩu Bu Prăng - Gia Nghĩa - Bảo Lộc - Bình Thuận trên cơ sở tuyến Cửa khẩu
Bu Prăng - đường Hồ Chí Minh - Quốc lộ 55, kết nối khu vực Nam Tây Nguyên với
duyên hải Nam Trung Bộ theo hướng Đông - Tây và kết nối trực tiếp ra cảng biển
Sơn Mỹ; là trục phát triển công nghiệp, đô thị, dịch vụ thương mại - du lịch,
nông nghiệp, vận chuyển hàng hóa, quặng bauxite, nông sản từ Tây Nguyên ra cảng
biển. Trên tuyến hành lang kinh tế này tập trung phát triển các khu công nghiệp
với các ngành chế biến nông, lâm sản, thực phẩm, hàng tiêu dùng, hóa chất, khai
thác và chế biến khoáng sản; hình thành các trung tâm logistics phục vụ ngành
bauxite; tăng cường kết nối các tuyến, khu và điểm du lịch giữa khu vực cao
nguyên với duyên hải Nam Trung Bộ.
g) Nghiên cứu hình thành
tuyến hành lang kinh tế Bờ Y - Đà Nẵng trên cơ sở cao tốc Quảng Ngãi - Kon Tum (CT.42)
và các tuyến đường bộ được nâng cấp, xây dựng mới ở phía Bắc của vùng.
5. Các
khu vực cần bảo tồn, hạn chế khai thác phát triển
a) Các khu vực cần bảo tồn
- Bảo tồn, bảo vệ nghiêm
ngặt và mở rộng hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên, bao gồm vườn quốc gia, khu dự
trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài - sinh cảnh, khu bảo vệ cảnh quan; hệ thống rừng
đặc dụng, rừng phòng hộ đầu nguồn và các hệ sinh thái rừng có chức năng bảo vệ
nguồn nước của cộng đồng dân cư.
- Bảo tồn, bảo vệ nghiêm
ngặt các di sản thiên nhiên được công nhận ở cấp quốc gia và quốc tế, các vùng
lõi của di sản thiên nhiên, di sản thế giới, khu dự trữ sinh quyển, công viên địa
chất toàn cầu, vườn di sản.
- Khu vực bảo vệ I của các
di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di tích quốc gia và di tích quốc
gia đặc biệt; quản lý nghiêm ngặt không gian bảo vệ di sản văn hóa vật thể và
phi vật thể.
- Khu vực nội thành, nội
thị của các đô thị loại đặc biệt, loại I, II, III theo pháp luật phân loại đô
thị.
- Bảo vệ ổn định các nguồn
nước mặt sử dụng cho cấp nước sinh hoạt; duy trì, phục hồi sinh thái tại các
vùng rừng phòng hộ, khu vực có chức năng điều tiết nước, bảo vệ môi trường và
nâng cao khả năng chống chịu thiên tai.
b) Các khu vực hạn chế
phát triển
- Vùng đệm của các khu bảo
tồn thiên nhiên, khu di sản thiên nhiên được công nhận ở cấp quốc gia và quốc tế;
các hành lang đa dạng sinh học, vùng đất ngập nước quan trọng và các khu vực cần
duy trì chức năng sinh thái tự nhiên.
- Khu vực bảo vệ II của
các di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia và cấp quốc gia đặc biệt; các không
gian phụ cận di sản cần hạn chế xây dựng mới, hạn chế tác động đến giá trị cảnh
quan - văn hóa.
- Các vùng đất ngập nước
quan trọng được xác định theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và đa
dạng sinh học.
- Các hành lang bảo vệ nguồn
nước, bao gồm khu vực dọc sông, suối, hồ chứa; rừng phòng hộ ngoài khu vực rừng
phòng hộ đầu nguồn; khu vực rừng có chức năng bảo vệ môi trường sinh thái và chống
xói mòn.
- Các vùng có nguy cơ cao
xảy ra thiên tai, gồm sạt lở đất, sạt lở núi, lũ quét, lũ ống, ngập lụt và các
khu vực chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu; hạn chế bố trí các hoạt động
phát triển kinh tế - xã hội tại các khu vực này.
- Các khu vực bảo đảm quốc
phòng, an ninh, khu vực phòng thủ và các vùng cần hạn chế bố trí công trình, hoạt
động kinh tế - xã hội để bảo đảm an ninh, trật tự và an toàn xã hội.
VI.
PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG ĐÔ THỊ, NÔNG THÔN VÀ CÁC KHU CHỨC NĂNG
1.
Phương hướng phát triển hệ thống đô thị
- Phát triển hệ thống đô
thị vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên theo mô hình đa trung tâm, xanh,
thông minh, thích ứng với biến đổi khí hậu và giàu bản sắc; bảo đảm gắn kết hài
hòa giữa không gian biển, ven biển, cao nguyên và biên giới, tạo lan tỏa phát
triển trong toàn vùng. Đà Nẵng, Khánh Hòa và Lâm Đồng giữ vai trò cực tăng trưởng,
trung tâm tổng hợp và chuyên ngành cấp vùng, trong khi các đô thị động lực cấp
tiểu vùng trở thành hạt nhân liên kết kinh tế, dịch vụ, du lịch và chế biến
nông, lâm, thủy sản, góp phần hình thành mạng lưới đô thị hiện đại và bền vững.
- Tổ chức phát triển đô thị
theo các hành lang kinh tế chủ đạo của vùng, trong đó trục Bắc - Nam gắn với hệ
thống cao tốc, quốc lộ, khu kinh tế ven biển, cảng biển, cảng hàng không, khu
công nghiệp và các không gian phát triển du lịch, năng lượng; các trục Đông -
Tây gắn với các cửa khẩu quốc tế, các đầu mối logistics, các trung tâm sản xuất
và hệ thống cảng biển; đồng thời tăng cường kết nối theo trục cao nguyên để
thúc đẩy phát triển nông nghiệp công nghệ cao, du lịch sinh thái, công nghiệp
chế biến và năng lượng.
- Hệ thống đô thị vùng được
tổ chức theo phân tầng hợp lý, trong đó Đà Nẵng là đô thị trung tâm cấp quốc
gia đảm nhiệm vai trò là trung tâm vùng; các đô thị Nha Trang (Khánh Hòa), Đà Lạt
(Lâm Đồng), Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk) là trung tâm tổng hợp và chuyên ngành cấp
vùng và cấp tỉnh; các đô thị Quy Nhơn, Tuy Hòa, Quảng Ngãi, Pleiku, Kon Tum,
Gia Nghĩa, Bảo Lộc, Phan Thiết, Tam Kỳ, Hội An... là đô thị động lực cấp tiểu
vùng, là trung tâm kinh tế, giáo dục, văn hóa, y tế, xã hội các tiểu vùng thuộc
tỉnh; hệ thống các đô thị vừa và nhỏ có chức năng hỗ trợ phát triển nông thôn mới,
phân bố dân cư hợp lý và bảo vệ môi trường sinh thái.
- Phát triển đô thị theo định
hướng thông minh, sinh thái và tuần hoàn, tăng cường sử dụng vật liệu bền vững,
kỹ thuật xây dựng an toàn và giải pháp thích ứng biến đổi khí hậu, đặc biệt tại
các đô thị ven biển và vùng khô hạn Nam Trung Bộ. Đẩy mạnh chuyển đổi số, phát
triển hạ tầng dữ liệu và chính quyền điện tử trong quản lý đô thị; sử dụng đất
đô thị tiết kiệm, hiệu quả; ưu tiên không gian xanh, giao thông công cộng, hệ
thống thoát nước, xử lý chất thải và năng lượng tái tạo nhằm hướng tới phát triển
bền vững.
- Gắn kết quả trình đô thị
hóa với phát triển kinh tế biển, năng lượng và du lịch thông qua việc hình
thành chuỗi đô thị - cảng biển - khu kinh tế - khu công nghiệp - khu du lịch
trên trục ven biển, đặc biệt tại các khu vực Chu Lai - Dung Quất - Quy Nhơn -
Vân Phong - Nha Trang - Phan Rang - Phan Thiết. Đồng thời phát triển các trung
tâm du lịch quốc gia tại Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Đà Lạt, gắn kết không
gian du lịch biển - núi - cao nguyên với văn hóa bản địa.
- Tăng cường liên kết giữa
đô thị và nông thôn thông qua hệ thống giao thông, thương mại, du lịch,
logistics và công nghiệp chế biến. Phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp công
nghệ cao - chế biến - đô thị hóa nông thôn nhằm nâng cao sinh kế và bảo đảm người
dân nông thôn được hưởng lợi từ đô thị.
- Phát triển kiến trúc đô
thị gắn với bảo tồn di sản và bản sắc địa phương, bao gồm di sản Chăm Pa, văn
hóa Cồng chiêng Tây Nguyên, các không gian đô thị di sản như Đà Lạt và Hội An
cùng các giá trị văn hóa truyền thống. Quy hoạch không gian mở, quảng trường,
di tích và khu di sản văn hóa - lịch sử nhằm tạo dựng hình ảnh đô thị đặc trưng
miền Trung - Tây Nguyên; đồng thời khuyến khích ứng dụng vật liệu xanh và kiến
trúc bền vững, phát triển không gian sống cộng đồng hài hòa với thiên nhiên.
- Phát triển đô thị và hạ
tầng vùng gắn liền với yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền biên giới
và biển đảo, hình thành các đô thị và khu dân cư biên giới an toàn, có khả năng
tự chủ về hạ tầng và sinh kế, góp phần giữ vững ổn định xã hội và an ninh vùng.
2.
Phương hướng xây dựng hệ thống đô thị theo các tiểu vùng
- Tiểu vùng phía Bắc: Phát
triển chuỗi đô thị ven biển hiện đại gồm Đà Nẵng - Hội An - Tam Kỳ - Quảng
Ngãi, gắn với các khu kinh tế Chu Lai, Dung Quất. Đây là trung tâm dịch vụ - cảng
biển - logistics và đổi mới sáng tạo của toàn vùng.
- Tiểu vùng trung tâm;
Hình thành các chuỗi đô thị động lực tại khu vực ven biển và phía Tây của vùng,
trong đó khu vực ven biển gồm Nhơn Hội - Quy Nhơn - Tuy Hòa, khu vực phía Tây gồm
Pleiku - Buôn Ma Thuột; Buôn Ma Thuột giữ vai trò trung tâm vùng. Đồng thời,
phát triển Kon Tum thành đô thị cửa ngõ trên hành lang Đông - Tây.
- Tiểu vùng phía Nam: Phát
triển chuỗi đô thị biển Vân Phong - Nha Trang - Cam Lâm - Cam Ranh - Phan Rang
- Phan Thiết gắn với kinh tế biển, đô thị du lịch, đô thị cảng và đô thị sinh
thái ven biển. Ở khu vực cao nguyên, phát triển Đà Lạt thành đô thị di sản - du
lịch sinh thái - sáng tạo; mở rộng chuỗi đô thị công nghiệp - dịch vụ dọc quốc
lộ 14 và cao tốc Dầu Giây - Liên Khương.
3.
Phương hướng phát triển nông thôn
Phát triển nông thôn theo
hướng hiện đại, sinh thái và số hóa, bảo đảm thích ứng với biến đổi khí hậu và
an toàn trước thiên tai. Hạ tầng nông thôn được phát triển đồng bộ và đảm bảo kết
nối liên vùng, đáp ứng các tiêu chí nông thôn mới giai đoạn 2026 - 2030. Kinh tế
nông thôn chuyển dịch theo hướng xanh, tuần hoàn và công nghệ cao, phát triển
vùng nguyên liệu, nâng tầm các sản phẩm OCOP theo chuỗi giá trị và đa dạng sinh
kế cho người dân. Phát triển nông thôn gắn kết chặt chẽ với hệ thống đô thị và
các cực tăng trưởng, đồng thời bảo tồn văn hóa địa phương, nâng cao chất lượng
dịch vụ xã hội, quản trị nông thôn hiện đại, bảo vệ tài nguyên và môi trường, rừng
đầu nguồn và cảnh quan sinh thái.
- Đối với các khu vực nông
thôn nằm trong vùng đô thị hóa: phát triển nông nghiệp đô thị - công nghệ cao
và hình thành các trung tâm dịch vụ nông nghiệp hiện đại. Tổ chức không gian
dân cư theo hướng tập trung, đồng thời xây dựng các hành lang sinh thái ven đô
nhằm bảo đảm cân bằng giữa đô thị và nông thôn, giữ gìn cảnh quan. Phát triển
các không gian thương mại - dịch vụ nông thôn mới để hỗ trợ chuỗi giá trị OCOP
và du lịch trải nghiệm nông nghiệp.
- Đối với khu vực nông
thôn sản xuất nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn: phát triển các không gian nông
nghiệp tập trung gắn với lợi thế từng khu vực:
Tại khu vực duyên hải Nam
Trung Bộ: phát triển nuôi biển công nghệ cao gắn với các cụm dân cư ven biển và
hệ thống dịch vụ hậu cần nghề cá, kho lạnh, sơ chế, đóng gói và kiểm nghiệm thủy
sản; phát triển các vùng sản xuất rau màu, nuôi trồng thủy sản nước lợ tại các
lưu vực sông, đầm phá và vùng ven biến; mở rộng các vùng sản xuất nông nghiệp
hàng hóa ứng dụng công nghệ cao đối với một số cây trồng đặc sản, có lợi thế và
giá trị kinh tế cao.
Tại khu vực Tây Nguyên:
phát triển các vùng cà phê, hồ tiêu, điều, sầu riêng quy mô lớn gắn với các
trung tâm sơ chế, logistics nông nghiệp và điểm tập kết nông sản; mở rộng vùng
rau - hoa công nghệ cao Đà Lạt - Đức Trọng - Đơn Dương với hệ thống hạ tầng đổi
mới sáng tạo, nhà kính và chuỗi lạnh; đồng thời hình thành không gian nông nghiệp
sinh thái, hữu cơ tại khu vực xung quanh các khu bảo tồn và vườn quốc gia nhằm
bảo vệ hệ sinh thái và phát triển bền vững.
- Đối với khu vực nông
thôn ven biển: Phát triển khu vực nông thôn ven biển theo mô hình hành lang biển
- đô thị - làng nghề cá - đầm phá, bố trí dân cư tại các khu vực có cao trình
an toàn, bảo đảm khả năng ứng phó bão, triều cường và các hiện tượng thiên tai
cực đoan. Phát triển đồng bộ các cụm nông thôn nghề cá gắn với hệ thống bến cá,
chợ hải sản, kho lạnh, dịch vụ hậu cần nghề cá và trung tâm thu mua nhằm nâng
cao hiệu quả khai thác và gia tăng giá trị chuỗi thủy sản. Hình thành không
gian du lịch sinh thái ven biển gắn với làng nghề truyền thống và các vịnh, đầm
phá đặc trưng, qua đó bảo tồn bản sắc ven biển và thúc đẩy phát triển kinh tế
đa dạng, bền vững.
- Đối với khu dân cư đồng
bào dân tộc thiểu số và vùng dân cư gần các khu bảo tồn thiên nhiên: Phát triển
theo hướng hài hòa với môi trường tự nhiên, bảo tồn bản sắc văn hóa và bảo đảm
sinh kế bền vững. Việc bố trí dân cư được thực hiện ngoài vùng lõi rừng, phù hợp
với điều kiện an toàn thiên tai, gắn với mô hình sinh thái - du lịch cộng đồng
và phát triển nông, lâm nghiệp đặc trưng. Tổ chức không gian nông thôn trên cơ
sở tôn trọng phong tục truyền thống, bảo đảm hạ tầng thiết yếu, an toàn, gắn với
các trục phát triển của vùng và vùng đệm bảo tồn, hướng tới cấu trúc nông thôn
đa chức năng, thích ứng và bền vững.
- Đối với khu dân cư gần
khu vực biên giới: Phát triển vùng dân cư biên giới theo hướng ổn định và bền vững,
gắn với nhiệm vụ giữ vững quốc phòng, an ninh trên tuyến biên giới với Lào và
Campuchia. Tổ chức các điểm dân cư biên giới với quy mô phù hợp, gắn với đồn
biên phòng, đồng thời bảo đảm đầy đủ hạ tầng thiết yếu về giáo dục, y tế và văn
hóa. Thúc đẩy phát triển kinh tế biên mậu tại các cửa khẩu trọng điểm, kết nối
với vùng sản xuất nông nghiệp chủ lực; đồng thời bảo tồn văn hóa các dân tộc
thiểu số và phát triển du lịch biên giới - sinh thái nhằm nâng cao sinh kế và tạo
động lực phát triển cho khu vực.
4.
Phương hướng phát triển các khu chức năng
a) Khu kinh tế
- Khu kinh tế cửa khẩu: Đầu
tư phát triển các khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Nam Giang, Bờ Y và Lệ Thanh trở
thành các trung tâm động lực về thương mại biên giới, logistics và công nghiệp
chế biến, phù hợp với vai trò cửa ngõ giao thương của vùng duyên hải Nam Trung
Bộ và Tây Nguyên. Từng bước đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Khu kinh tế cửa khẩu
Đắk Ruê qua đó hình thành mạng lưới khu kinh tế cửa khẩu liên hoàn, thúc đẩy
trung chuyển hàng hóa, mở rộng không gian kinh tế và đóng góp vào phát triển
kinh tế - xã hội toàn vùng.
- Khu kinh tế ven biển: Định
hướng các khu kinh tế ven biển phát triển theo mô hình cảng biển nước sâu -
logistics - khu công nghiệp - đô thị - dịch vụ phù hợp điều kiện từng khu vực;
ưu tiên nâng cao năng lực tiếp nhận hàng hóa quy mô lớn, hình thánh các hành
lang kinh tế liên kết vùng và kết nối quốc tế, phát triển không gian hậu phương
công nghiệp - đô thị - dịch vụ theo hướng bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu.
- Đẩy mạnh đầu tư, phát
triển 05 khu kinh tế ven biển hiện hữu, gồm: Khu kinh tế mở Chu Lai, Khu kinh tế
Dung Quất, Khu kinh tế Nhơn Hội, Khu kinh tế Vân Phong, Khu kinh tế Nam Phú
Yên. Nghiên cứu hình thành Khu kinh tế ven biển phía Nam tỉnh Khánh Hòa và Khu
kinh tế ven biển phía Nam tỉnh Lâm Đồng khi đủ điều kiện theo quy định.
b) Khu công nghiệp
- Ưu tiên nâng cao hiệu quả
sử dụng đất, táng tỷ lệ lấp đầy các khu công nghiệp hiện hữu trước khi mở rộng
mới, thực hiện quy hoạch tiết kiệm đất và khai thác tối đa công suất hạ tầng đã
đầu tư.
- Phát triển các mô hình
khu công nghiệp hiện đại, bền vững (khu công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao, sinh
thái) và từng bước chuyển đổi các khu công nghiệp hiện hữu theo tiêu chuẩn môi
trường - năng lượng mới.
- Khu vực ven biển ưu tiên
phát triển các khu công nghiệp quy mô lớn gắn với cảng biển, tập trung các
ngành lọc hóa dầu, luyện kim, cơ khí chế tạo, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp
chế biến, chế tạo và năng lượng; khu vực Tây Nguyên phát triển các khu công
nghiệp, cụm công nghiệp phù hợp với điều kiện, lợi thế của từng địa phương, gắn
với chế biến nông, lâm sản, dược liệu, khoáng sản và chuỗi bauxite - alumin -
nhôm. Đồng thời, phát triển khu công nghiệp theo mô hình khu công nghiệp - đô
thị - dịch vụ, bảo đảm hạ tầng xã hội, nhà ở và các tiện ích thiết yếu cho người
lao động, tạo cơ sở hình thành và phát triển các đô thị công nghiệp. Việc thành
lập mới, mở rộng khu công nghiệp được thực hiện phù hợp với khả năng thu hút đầu
tư, điều kiện kết cấu hạ tầng, quỹ đất của từng địa phương, bảo đảm tuân thủ
quy định pháp luật, sử dụng đất hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững
và tăng cường liên kết không gian công nghiệp của toàn vùng.
c) Khu công nghệ cao
- Phát triển các khu công
nghệ cao trở thành động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển khoa
học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, Khu
công nghệ cao Đà Nẵng được định hướng mở rộng khi đáp ứng điều kiện, xây dựng
thành hạt nhân dẫn dắt công nghiệp công nghệ cao và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo
của vùng, góp phần phát triển Đà Nẵng thành đô thị khoa học - công nghệ - sáng
tạo tầm quốc tế. Nghiên cứu hình thành các khu mới tại những địa bàn đáp ứng
yêu cầu về quỹ đất, hạ tầng và nhân lực, bảo đảm phù hợp định hướng phát triển
vùng.
- Phát triển các khu nông
nghiệp công nghệ cao trên cơ sở phát huy lợi thế sinh thái, điều kiện sản xuất
và khả năng liên kết với công nghiệp chế biến, tiêu thụ nông sản. Ưu tiên phát
triển Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Quảng Ngãi thành mô hình điểm của
vùng về trồng trọt và nuôi trồng thủy sản nước ngọt để từng bước nhân rộng.
d) Khu du lịch
- Ưu tiên đầu tư đồng bộ,
nâng cao chất lượng các khu du lịch quốc gia để thúc đẩy phát triển du lịch
vùng, bảo đảm hệ thống hạ tầng, cơ sở vật chất và dịch vụ hiện đại, có sức cạnh
tranh và lan tỏa mạnh.
- Đối với các địa điểm tiềm
năng, tập trung hoàn thiện hạ tầng, thu hút đầu tư đáp ứng tiêu chí Khu du lịch
quốc gia; đồng thời bổ sung các khu vực có tiềm năng gắn với lợi thế tự nhiên,
văn hóa và không gian vùng.
- Các khu, điểm du lịch chủ
đạo phát triển theo hướng chuyên biệt hóa sản phẩm: du lịch sinh thái rừng - biển,
nghỉ dưỡng cao cấp, du lịch cộng đồng và văn hóa (Sơn Trà, Cù Lao Chàm, Lý Sơn,
Mỹ Khê, Măng Đen, Yok Đôn, Biển Hồ - Chư Đăng Ya, Đan Kia - Suối Vàng); du lịch
biển đảo quốc tế và thể thao biển (Đà Nẵng, Quy Nhơn, Vịnh Cam Ranh, Vịnh Vân
Phong, bãi biển Ninh Chữ, Vịnh Xuân Đài); du lịch núi cao, khí hậu và vui chơi
giải trí (Bà Nà); du lịch hồ - cảnh quan địa chất (Hồ Tà Đùng). Đồng thời hình
thành các trung tâm nghỉ dưỡng, sinh thái, du lịch chất lượng cao phù hợp với lợi
thế từng địa phương trong vùng.
đ) Khu nghiên cứu, đào tạo
- Phát triển mạng lưới khu
nghiên cứu, đào tạo theo hướng tập trung, chuyên sâu và liên kết vùng; gắn kết
chặt chẽ giữa đào tạo nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học, đổi mới
sáng tạo với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển các ngành mũi nhọn
của vùng.
- Từng bước hình thành một
số cực nghiên cứu và đào tạo vùng tại các đô thị động lực và trung tâm công
nghiệp, trong đó: (i) Khu vực Đà Nẵng - Chu Lai, Quy Nhơn là trung tâm đào tạo
và nghiên cứu về công nghệ thông tin, điện tử, công nghiệp công nghệ cao,
logistics và kinh tế biển; (ii) Khu vực Nha Trang - Vân Phong (Khánh Hòa) tập
trung các cơ sở nghiên cứu về biển, hải dương học, khí hậu, năng lượng tái tạo
và dịch vụ hàng hải; (iii) Khu vực Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk), Pleiku (Gia Lai) và
Đà Lạt (Lâm Đồng) phát triển các khu nghiên cứu, đào tạo về nông, lâm nghiệp
công nghệ cao, tài nguyên và môi trường, dược liệu, năng lượng và khoa học xã hội.
- Nâng cấp các trường đại
học, học viện và viện nghiên cứu hiện có thành hạt nhân của các khu nghiên cứu,
đào tạo vùng, gắn với mạng lưới trung tâm đổi mới sáng tạo, vườn ươm doanh nghiệp
khoa học và công nghệ.
- Thúc đẩy mô hình liên kết
nhà nước - nhà trường - viện - doanh nghiệp, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng
số, phòng thí nghiệm trọng điểm.
e) Khu thể dục, thể thao
- Phát triển hệ thống khu
thể dục thể thao quốc gia và vùng theo hướng đồng bộ, hiện đại, có công trình đạt
chuẩn quốc tế; hình thành các trung tâm thể thao trọng điểm gắn với các đô thị
lớn tại Đà Nẵng, Gia Lai, Đắk Lắk, đáp ứng yêu cầu đăng cai sự kiện thể thao
khu vực và châu lục.
- Xây dựng, nâng cấp các
khu liên hợp và trung tâm huấn luyện, thi đấu thể thao quốc gia, vùng và địa
phương theo hướng đồng bộ, hiện đại, phù hợp khả năng huy động nguồn lực và nhu
cầu sử dụng.
- Ưu tiên phát triển các
cơ sở đào tạo thể dục thể thao tại Đà Nẵng, Lâm Đồng và Khánh Hòa, hình thành mạng
lưới trung tâm đào tạo, huấn luyện thể thao của vùng, bảo đảm liên kết giữa các
cấp và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thể thao.
g) Khu bảo tồn, di tích lịch
sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh và đối tượng đã được kiểm kê di tích
- Gắn công tác bảo tồn di
tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh của vùng với mục tiêu phát triển
bền vững, coi di sản là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội và
du lịch văn hóa - sinh thái. Ưu tiên bảo tồn, tôn tạo và phát huy các di sản thế
giới, di tích quốc gia đặc biệt, danh thắng và hệ sinh thái tiêu biểu; đồng thời
thực hiện kiểm kê, khoanh vùng bảo vệ, tu bổ có trọng tâm đối với hệ thống di
tích quốc gia và địa phương.
- Kết hợp bảo tồn cảnh
quan, kiến trúc với phát triển du lịch bền vững; mở rộng hệ thống di sản được
công nhận; ứng dụng khoa học - công nghệ và tăng cường xã hội hóa trong quản
lý, phục hồi và khai thác di sản.
5. Vùng
sản xuất nông nghiệp tập trung
- Ổn định và phát triển
vùng chuyên canh lúa nước, rau màu ven biển dọc các lưu vực sông Vu Gia, Thu Bồn
(Đà Nẵng), sông Trà Khúc, sông Vệ (Quảng Ngãi), sông Cái Nha Trang (Khánh Hòa).
Tập trung vùng nguyên liệu mía, lạc, sắn phục vụ chế biến tại khu vực Bình Sơn,
Đức Phổ (Quảng Ngãi) và Ninh Hòa, Cam Lâm (Khánh Hòa); phát triển vùng cây công
nghiệp lâu năm quy mô lớn (cà phê, hồ tiêu, cao su) tại khu vực bắc cao nguyên
(chủ yếu phía Tây Gia Lai và Tây Bắc Đắk Lắk), gắn với chế biến với chuỗi tiêu
thụ. Hình thành vùng rau, hoa công nghệ cao và nông sản ôn đới tại khu vực nam
cao nguyên, tập trung ở Lâm Đồng, đồng thời phát triển vùng cà phê, chè, dâu tằm
gắn với chế biến. Phát triển chăn nuôi theo hướng trang trại, ứng dụng an toàn
sinh học; khuyến khích hình thành các vùng chăn nuôi tập trung, trong đó ưu
tiên phát triển chăn nuôi đại gia súc, bò sữa và gia cầm tại khu vực cao nguyên.
- Tập trung nuôi trồng thủy
sản và nuôi biến tại các vịnh/đầm ven biển trọng điểm (vịnh Đà Nẵng; đầm Thị Nại,
Đề Gi; đầm Nha Phu, vịnh Vân Phong, đầm Thủy Triều...), phát triển các đối tượng
nuôi tôm, cá biển, rong sụn và thủy sản công nghệ cao.
VII.
PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG
1.
Phương hướng phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật
a) Mạng lưới giao thông
Phát triển giao thông vùng
duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên theo hướng đồng bộ, hiện đại và liên kết;
ưu tiên nâng cao năng lực các tuyến trục chính và các tuyến kết nối tới cảng biển,
cảng hàng không, trung tâm logistics, khu kinh tế, khu công nghiệp, đồng thời bảo
đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh, an toàn trước thiên tai và khả năng tiếp cận dịch
vụ, thị trường cho khu vực vùng sâu, vùng xa.
- Đường bộ: Ưu tiên đầu tư
hệ thống đường cao tốc gồm tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông (CT.01), cao tốc Bắc
- Nam phía Tây (CT.02 - Đường Hồ Chí Minh) đi qua các tỉnh trong vùng; cao tốc
theo các trục ngang Đông - Tây gồm Cao tốc Quy Nhơn - Pleiku - Lệ Thanh
(CT.20), Cao tốc Phú Yên - Đắk Lắk (CT.23), Cao tốc Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột
(CT.24), Cao tốc Dầu Giây (Đồng Nai) - Liên Khương (Lâm Đồng) (CT.27), Cao tốc
Quảng Ngãi - Kon Tum (CT.42). Đẩy nhanh tiến độ đường bộ ven biển và nâng cấp các
tuyến quốc lộ 1, đường Hồ Chí Minh - quốc lộ 14, quốc lộ 14C, quốc lộ 20, đường
Trường Sơn Đông, cùng các tuyến quốc lộ trục ngang kết nối cảng - cửa khẩu và
các hành lang Đông - Tây như quốc lộ 40/40B, quốc lộ 24, quốc lộ 19,... và các
tuyến kết nối liên tỉnh.
- Đường sắt: Phát triển mạng
lưới đường sắt theo hướng kết nối trục Bắc - Nam và tăng cường kết nối liên
vùng, triển khai theo quy hoạch đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam trên địa bàn
vùng; các tuyến đường sắt kết nối Đông - Tây (Tháp Chàm - Đà Lạt) theo quy hoạch.
Nghiên cứu phát triển, thu hút đầu tư các tuyến đường sắt kết nối vùng, liên
vùng phù hợp nhu cầu từng giai đoạn như tuyến Đà Nẵng - Tây Nguyên; Phú Yên (Đắk
Lắk) - Tây Nguyên; các tuyến đường sắt đô thị kết nối Huế - Đà Nẵng; Quảng Nam
(Đà Nẵng) - Quảng Ngãi; đồng thời bảo tồn, phục hồi và nâng cấp một số tuyến có
ý nghĩa liên kết - du lịch (như tuyến Tháp Chàm - Đà Lạt) theo lộ trình phù hợp.
- Cảng biển: Phát triển hệ
thống cảng biển đa chức năng, cửa ngõ, gắn với các khu kinh tế ven biển, trung
tâm logistics và công nghiệp hậu cảng; ưu tiên đầu tư hạ tầng bến cảng, luồng
tuyến và kết nối sau cảng. Tập trung phát triển vào các khu bến, cảng biển chủ
lực của vùng như Liên Chiểu, Dung Quất, Quy Nhơn, Phù Mỹ, Nam Vân Phong theo
quy hoạch với lộ trình phù hợp.
- Cảng hàng không: Nâng cấp,
hiện đại hóa và khai thác hiệu quả các cảng hàng không hiện có. Phát triển Cảng
hàng không Chu Lai thành cảng hàng không trung chuyển quốc tế, gắn với
logistics hàng không, bảo dưỡng, sửa chữa tàu bay và đào tạo bay. Đầu tư Cảng
hàng không Phan Thiết, nâng cấp sân bay Thành Sơn theo hướng lưỡng dụng. Đồng
thời, nghiên cứu phát triển các sân bay tiềm năng và sân bay chuyên dùng phục vụ
du lịch, logistics và cứu hộ, cứu nạn, bảo đảm đồng bộ với mạng lưới giao thông
vùng.
- Đường thủy nội địa: Phát
triển giao thông đường thủy nội địa theo hướng khai thác hiệu quả hành lang vận
tải thủy ven biển, tăng cường kết nối các tuyến sông duyên hải với cảng biển và
đô thị ven biển nhằm giảm chi phí logistics và chia sẻ áp lực cho vận tải đường
bộ. Đối với khu vực Tây Nguyên, định hướng khai thác hợp lý giao thông thủy
trên các hồ thủy điện gắn với phát triển du lịch, phù hợp điều kiện tự nhiên từng
lưu vực. Ưu tiên nạo vét, mở rộng một số tuyến sông nội địa và xây dựng, nâng cấp
bến thủy đa năng, gắn với các đô thị và điểm logistics phù hợp.
- Cảng cạn: Phát triển mạng
lưới cảng cạn của vùng theo hướng phân bố dọc các hành lang vận tải container
chủ yếu, gắn kết chặt chẽ với cảng biển, đường sắt Bắc - Nam, đường bộ cao tốc
và quốc lộ, hình thành các đầu mối trung chuyển hàng hóa giữa khu vực ven biển
và Tây Nguyên; ưu tiên các cảng cạn có vai trò liên kết vùng và cửa ngõ
logistics, từng bước mở rộng quy mô và nâng cao năng lực khai thác.
b) Mạng lưới cấp điện,
cung cấp năng lượng
- Phát triển nguồn và lưới
điện theo quy hoạch, bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng, đáp ứng nhu cầu phát
triển kinh tế - xã hội, đồng thời thúc đẩy chuyển dịch năng lượng xanh và hiện
đại hóa hệ thống điện. Ưu tiên phát triển cơ cấu nguồn điện đa dạng, trong đó đẩy
mạnh điện gió (trên bờ, gần bờ và ngoài khơi), điện mặt trời, kết hợp nguồn điện
khí (LNG), thủy điện, thủy điện tích năng và các nguồn điện mới phù hợp lộ
trình; từng bước hình thành hệ sinh thái công nghiệp năng lượng gắn với năng lượng
tái tạo. Phát triển lưới điện truyền tải theo hướng tăng cường các liên kết 500
kV liên miền và liên vùng (kết nối Trung Trung Bộ - Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên -
Trung Trung Bộ, Nam Trung Bộ - Tây Nguyên, Nam Trung Bộ - Nam Bộ, Tây Nguyên -
Nam Bộ), đồng thời mở rộng, nâng cấp các đường dây và trạm biến áp 500 kV tại
các khu vực phụ tải và trung tâm nguồn điện (Đà Nẵng - Thạnh Mỹ; Dung Quất -
Kon Tum/Kon Rẫy; Pleiku; Krông Buk - Ea Nam - Tuy Hòa; Ninh Sơn - Thuận Nam; Di
Linh - Sơn Mỹ - Hồng Phong...), nhằm giải tỏa công suất năng lượng tái tạo,
tăng độ tin cậy cung cấp điện và nâng cao khả năng truyền tải điện cho cả hệ thống
quốc gia.
- Phát triển hệ thống dự
trữ, cung ứng xăng dầu và khí đốt của vùng theo hướng hiện đại hóa hạ tầng hiện
có, mở rộng năng lực dự trữ và phân phối, bảo đảm an ninh cung ứng và liên kết
vùng; ưu tiên kho đầu mối, kho tuyến sau quy mô phù hợp (từ 10.000 m3
trở lên), gắn với các đầu mối cảng biển và mạng lưới vận tải (đường bộ, đường
thủy, đường ống) để cung cấp ổn định cho khu vực ven biển và Tây Nguyên. Xây mới
các kho LPG trọng điểm (Liên Chiểu, Thọ Quang, Vân Phong) và triển khai các kho
LNG theo quy hoạch gắn với các trung tâm điện khí và khu công nghiệp, lựa chọn
vị trí tại các cảng biển nước sâu đủ điều kiện tiếp nhận tàu lớn. Mạng lưới bán
lẻ nhiên liệu được tổ chức đồng bộ với cao tốc, quốc lộ, đường tỉnh và khu vực
miền núi, từng bước bổ sung LPG/CNG cho phương tiện dùng khí và trạm sạc nhanh
cho phương tiện điện, đáp ứng yêu cầu chuyển dịch năng lượng trong giao thông vận
tải.
c) Hạ tầng thủy lợi, cấp,
thoát nước
- Về thủy lợi, phòng chống
thiên tai và an ninh nguồn nước:
Phát triển hệ thống thủy lợi,
cấp, thoát nước theo hướng đa mục tiêu, liên vùng, hiện đại và thích ứng với biến
đổi khí hậu, bảo đảm an ninh nguồn nước cho sinh hoạt, nông nghiệp, đô thị,
công nghiệp, khu kinh tế và các hoạt động kinh tế ven biển, hải đảo.
Ưu tiên xây dựng mới, mở rộng,
nâng cấp các hồ chứa, công trình tạo nguồn, đập dâng, cống, trạm bơm, hệ thống
kênh dẫn, tưới, tiêu; phát triển các công trình liên kết, điều hòa, chuyển nước
giữa các lưu vực, khu vực trong vùng; từng bước hình thành mạng lưới kết nối
nguồn nước liên tỉnh, liên vùng.
Tăng cường vận hành liên hồ
chứa, kết hợp thủy điện với thủy lợi; ứng dụng công nghệ dự báo, cảnh báo để chủ
động ứng phó với hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn, lũ, ngập lụt; kiểm soát mặn,
ngọt tại khu vực cửa sông, ven biển và nội đồng, bảo đảm dòng chảy tối thiểu và
chất lượng nước.
Hoàn thiện hệ thống công
trình thủy lợi tại khu vực ven biển, cửa sông, đầm phá, khu vực khô hạn và ngập
úng; kết hợp các giải pháp bảo vệ bờ sông, bờ biển, chống xói lở, sạt lở, phục
hồi rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn và nâng cao năng lực quan trắc, dự báo, cảnh
báo sớm thiên tai.
- Về cấp nước:
Phát triển mạng lưới cấp
nước an toàn, bền vững, đồng bộ, bảo đảm cấp nước ổn định cho sinh hoạt, sản xuất
và dịch vụ, phù hợp với đặc điểm nguồn nước, địa hình, phân bố dân cư và định
hướng phát triển không gian của vùng.
Tổ chức phân vùng cấp nước
phù hợp với điều kiện nguồn nước mặt, nước dưới đất, địa hình cao nguyên, trung
du, đồng bằng, ven biển và hải đảo; khai thác, sử dụng nước theo thứ tự ưu
tiên, từng bước hạn chế khai thác nước dưới đất, ưu tiên sử dụng nước mặt và
chuyển dần nguồn nước dưới đất sang vai trò dự phòng.
Nâng công suất các nhà máy
nước hiện có, xây dựng mới các công trình cấp nước tại khu vực còn khó khăn về
nước sạch; phát triển đồng bộ hệ thống truyền tải, phân phối và điều tiết nước.
Phát triển hệ thống cấp nước tập trung cho đô thị, hệ thống cấp nước phù hợp
cho nông thôn, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu kinh tế; đẩy mạnh ứng dụng
công nghệ tiên tiến, chuyển đổi số và quản lý thông minh trong vận hành hệ thống
cấp nước.
- Về thoát nước, xử lý nước
thải:
Phát triển mạng lưới thoát
nước, xử lý nước thải theo hướng đồng bộ, bền vững, bảo đảm tiêu thoát nước, chống
ngập úng, cải thiện môi trường sống, kiểm soát ô nhiễm và thích ứng với biến đổi
khí hậu.
Nâng cao năng lực tiêu,
thoát nước cho đô thị, khu dân cư, khu công nghiệp và vùng sản xuất tập trung;
ưu tiên cải tạo, nâng cấp hệ thống thoát nước tại các khu vực thường xuyên ngập
úng, trũng thấp, ven sông, ven biển và các đô thị phát triển nhanh.
Phát triển hệ thống thoát
nước riêng đối với khu đô thị mới; từng bước tách nước mưa và nước thải tại khu
vực hiện hữu; tăng cường thu gom, xử lý nước thải tập trung tại đô thị, nông
thôn, khu, cụm công nghiệp, khu kinh tế và cơ sở sản xuất, bảo đảm đáp ứng quy
chuẩn môi trường.
Cải tạo, nạo vét, khơi
thông dòng chảy các sông, suối, kênh, mương, ao hồ; phát triển hồ điều hòa,
không gian trữ nước, hạ tầng xanh và các giải pháp thoát nước bền vững, thông
minh.
d) Hạ tầng thông tin và
truyền thông
- Phát triển hạ tầng thông
tin và truyền thông theo hướng đồng bộ, hiện đại, an toàn và bền vững, bảo đảm
kết nối rộng khắp, liên thông giữa các địa phương trong vùng và với cả nước,
đáp ứng yêu cầu phát triển chính quyền số, kinh tế số, xã hội số, nâng cao năng
lực quản trị, cải cách hành chính, minh bạch thông tin, bảo đảm quyền tiếp cận
thông tin của người dân và thúc đẩy hình thành công dân số.
- Ưu tiên hoàn thiện hạ tầng
số và mạng viễn thông thế hệ mới, phủ sóng 5G tại các trung tâm đô thị, khu
công nghệ cao và các khu vực dịch vụ trọng điểm, sẵn sàng thử nghiệm 6G; phát
triển hạ tầng dữ liệu và điện toán đám mây, hình thành trung tâm dữ liệu vùng
tiêu chuẩn xanh tại Đà Nẵng, hỗ trợ dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo
(AI), Điện toán hiệu năng cao (HPC) và dịch vụ số dùng chung; thúc đẩy Internet
vạn vật (IoT) và số hóa hạ tầng thiết yếu phục vụ đô thị thông minh, logistics,
nông nghiệp công nghệ cao, giám sát môi trường và năng lượng.
- Hiện đại hóa mạng bưu
chính theo hướng dự phòng cao, ứng dụng số, tự động hóa và AI; hình thành Trung
tâm bưu chính khu vực miền Trung tại Đà Nẵng và 1 - 2 trung tâm bưu chính vùng
tại Khánh Hòa, Đắk Lắk, phát triển dịch vụ bưu chính công ích và bưu chính số,
logistics phục vụ thương mại điện tử, dịch vụ công và chuỗi cung ứng.
- Phát triển hạ tầng ứng dụng
công nghệ thông tin, các nền tảng số dùng chung và các trung tâm giám sát, điều
hành thông minh; tăng cường kết nối, chia sẻ và phân tích dữ liệu liên ngành,
liên lĩnh vực, phục vụ quản lý, điều hành, cung cấp dịch vụ cho người dân,
doanh nghiệp và hỗ trợ chuyển đổi số trong các lĩnh vực có thể mạnh của vùng.
- Đẩy mạnh phát triển kinh
tế số trên cơ sở thúc đẩy thương mại điện tử, dịch vụ số, thanh toán số và các
mô hình kinh doanh mới, nhất là trong các lĩnh vực du lịch, logistics, nông
nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến, chế tạo và dịch vụ đô thị. Phát triển
hệ sinh thái số cho doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh; hỗ trợ chuyển đổi
số trong sản xuất, phân phối, truy xuất nguồn gốc, kết nối thị trường và tham
gia chuỗi giá trị trong nước, quốc tế.
- Phát triển hệ thống khu
công nghệ số tập trung với quy mô và cơ cấu hợp lý theo thế mạnh từng địa
phương, thúc đẩy công nghiệp công nghệ số dựa trên các công nghệ nền tảng (AI,
dữ liệu lớn, blockchain, cloud, IoT) và chuyển dịch từ gia công sang sáng tạo sản
phẩm, dịch vụ số “Make in Viet Nam”, góp phần xây dựng Chính phủ số, kinh tế số
và xã hội số. Ưu tiên phát triển theo hướng chuyên sâu về nghiên cứu, phát triển
và sản xuất các sản phẩm công nghệ số có giá trị gia tăng cao, trọng tâm là phần
mềm, thiết kế vi mạch bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và các giải pháp số ứng dụng
trong nông nghiệp công nghệ cao, sản xuất thông minh, du lịch và kinh tế số; từng
bước hình thành các trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ số gắn với hệ
sinh thái đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp. Định hướng Đà Nẵng, Gia Lai và Khánh
Hòa trở thành các trung tâm công nghiệp công nghệ số của vùng, gắn với mạng lưới
thiết kế vi mạch, nghiên cứu và phát triển; ưu tiên phát triển Công viên phần mềm
Đà Nẵng thành khu công nghệ số tập trung trọng điểm quốc gia; khuyến khích đầu
tư hạ tầng, nghiên cứu, phát triển, sản xuất sản phẩm công nghệ số tại các địa
phương có đủ điều kiện. Đồng thời, phát triển hạ tầng số, logistics số, các nền
tảng thương mại điện tử và tăng cường kết nối chuỗi giá trị nông sản Tây Nguyên
với hệ thống cảng biển, thị trường trong nước và quốc tế.
đ) Các khu xử lý chất thải
Phát triển hệ thống xử lý
chất thải theo hướng liên vùng và liên tỉnh, ưu tiên công nghệ hiện đại, giảm
chôn lấp, tăng tái chế và thu hồi năng lượng; đồng thời kiểm soát chất thải
nguy hại, chất thải y tế và ô nhiễm nhựa đại dương. Ưu tiên đầu tư các khu xử
lý chất thải tập trung và nâng cấp năng lực xử lý tại các địa bàn trọng điểm; gắn
với hệ thống thu gom, trung chuyển và các mô hình phân loại tại nguồn.
e) Hạ tầng phòng cháy, chữa
cháy và cứu nạn cứu hộ
Phát triển mạng lưới phòng
cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ theo hướng đồng bộ, hiện đại, đa tầng, phân bố
phù hợp theo mức độ quan trọng và nguy cơ cháy nổ, ưu tiên bảo đảm năng lực đáp
ứng tại các khu vực đô thị, công nghiệp, khu kinh tế, du lịch, rừng, ven biển
và biên giới, có khả năng ứng phó nhanh và chi viện liên vùng khi xảy ra sự cố
lớn. Ưu tiên hình thành các đầu mối chỉ huy, điều phối vùng và hệ thống cơ sở
phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ cấp địa phương, gắn với hạ tầng cấp nước
chữa cháy (mạng cấp nước có dự phòng, khai thác nguồn nước tự nhiên, bể dự trữ
tại khu vực thiếu nguồn), hạ tầng giao thông phục vụ tiếp cận hiện trường theo
đa phương thức (đường bộ, thủy, biển, sắt, hàng không) và mạng thông tin liên lạc
số liên thông, bảo đảm năng lực cảnh báo, chỉ huy, điều hành và phối hợp lực lượng.
g) Hệ thống cửa khẩu biên
giới đất liền
Phát triển hệ thống cửa khẩu
trong vùng theo hướng đa dạng loại hình, bố trí có trọng điểm, phù hợp với điều
kiện tự nhiên và yêu cầu bảo vệ môi trường; gắn phát triển kinh tế cửa khẩu với
bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ quyền biên giới. Đồng thời, phát huy vai trò
của các cửa khẩu biên giới đất liền trong thúc đẩy hợp tác đầu tư, kinh doanh
qua biên giới, phát triển thương mại, xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ; tăng cường
liên kết phát triển với Lào, Campuchia, Tiểu vùng Mê Kông mở rộng (GMS) và các
hành lang Đông - Tây.
2.
Phương hướng phát triển kết cấu hạ tầng xã hội
a) Mạng lưới cơ sở giáo dục,
đào tạo và giáo dục nghề nghiệp
- Phát triển giáo dục, đào
tạo theo hướng hiện đại, mở và linh hoạt, bảo đảm tiếp cận công bằng và học tập
suốt đời. Phân bố các cơ sở giáo dục một cách hài hòa giữa vùng ven biển và
vùng núi. Tổ chức theo mô hình trung tâm - vệ tinh, gắn với các đô thị, khu
kinh tế và trung tâm đổi mới sáng tạo. Đẩy mạnh chuyển đổi số, xã hội hóa và hợp
tác công - tư để kết nối, chia sẻ nguồn lực nhằm phát triển mạng lưới giáo dục,
đào tạo trong vùng.
- Phát triển mạng lưới mầm
non và phổ thông theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, gắn với quy hoạch dân cư,
đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế, bảo đảm tiếp cận thuận lợi, an toàn. Ưu
tiên kiên cố hóa trường lớp, xóa phòng học tạm; tăng cường điều kiện dạy học,
bán trú/nội trú và hỗ trợ học sinh vùng khó khăn, dân tộc thiểu số, biên giới,
hải đảo. Đẩy mạnh chuyển đổi số, bảo đảm hạ tầng kết nối và năng lực số trong
nhà trường; phát triển trường chất lượng cao tại các trung tâm vùng.
- Phát triển mạng lưới cơ
sở giáo dục đại học đáp ứng nhu cầu nhân lực chất lượng cao và nhu cầu học tập
đa dạng của vùng. Ưu tiên hình thành các đô thị đại học tích hợp đào tạo,
nghiên cứu và đổi mới sáng tạo tại các đô thị hạt nhân; củng cố các cơ sở sư phạm
gắn nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và chuyển đổi số giáo dục.
- Thúc đẩy chuyển đổi số
trong giáo dục đại học nhằm tạo chuyển biến rõ nét về chất lượng đào tạo và
nghiên cứu khoa học, trọng tâm tại các cơ sở giáo dục đại học lớn; tăng cường
liên kết đại học - viện - doanh nghiệp - chính quyền địa phương, gắn đào tạo với
nhu cầu thị trường lao động và đổi mới sáng tạo trong các lĩnh vực mũi nhọn, lợi
thế của vùng; từng bước hình thành giáo dục đại học số, hệ sinh thái học liệu số
và các trung tâm nghiên cứu, thực nghiệm, chuyển giao công nghệ.
- Tập trung phát triển Đại
học Đà Nẵng theo định hướng đại học trọng điểm, nghiên cứu đa ngành và chuyển đổi
số; phát triển Trường Đại học Nha Trang thành trung tâm đào tạo, nghiên cứu về
khoa học công nghệ biển, thủy sản và một số lĩnh vực thế mạnh như công nghệ thực
phẩm, kinh tế biển, du lịch và dịch vụ. Củng cố cụm giáo dục đại học khu vực
Tây Nguyên với nòng cốt Trường Đại học Tây Nguyên, ưu tiên các ngành phục vụ
nông, lâm nghiệp, chế biến, kinh tế rừng, năng lượng tái tạo, du lịch; tăng cường
năng lực đào tạo y dược và các ngành thiết yếu của khu vực.
- Phát triển giáo dục nghề
nghiệp theo hướng tinh gọn, liên thông, linh hoạt, gắn chặt nhu cầu doanh nghiệp
và chuyển dịch cơ cấu lao động. Hình thành các trung tâm liên kết đào tạo nghề
theo mô hình trung tâm - vệ tinh, ưu tiên tại các khu kinh tế, khu công nghiệp
trọng điểm; thúc đẩy đào tạo nghề lưu động cho vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu
số; khuyến khích xã hội hóa và hợp tác công - tư trong đầu tư giáo dục nghề
nghiệp.
- Hoàn thiện mạng lưới
giáo dục chuyên biệt và hỗ trợ giáo dục hòa nhập theo hướng bảo đảm người học
có nhu cầu đặc thù được tiếp cận dịch vụ phù hợp, liên tục trong suốt quá trình
học tập. Tổ chức hệ thống cơ sở giáo dục chuyên biệt công lập với 02 trung tâm
vùng (tại khu vực ven biển và khu vực Tây Nguyên) và mạng lưới trung tâm hỗ trợ
phát triển giáo dục hòa nhập cấp tỉnh. Bảo đảm mỗi tỉnh, thành phố có ít nhất
01 cơ sở giáo dục chuyên biệt đến cấp trung học phổ thông; nâng cấp cơ sở vật
chất, thiết bị hỗ trợ học tập, bảo đảm điều kiện học tập bình đẳng cho học sinh
khuyết tật, thành lập mới 01 cơ sở tại Gia Lai và phát triển các trung tâm hỗ
trợ hòa nhập công lập theo nhu cầu.
b) Mạng lưới cơ sở y tế,
chăm sóc sức khỏe
- Phát triển hệ thống y tế
và chăm sóc sức khỏe theo hướng đồng bộ, hiện đại và liên kết vùng, đáp ứng yêu
cầu chăm sóc sức khỏe toàn diện cả về thể chất và tinh thần, nâng cao chất lượng
sống, tuổi thọ của người dân; bảo đảm công bằng trong tiếp cận dịch vụ y tế; đồng
thời tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ y tế chuyên sâu cho người dân trong
vùng.
- Phát triển hệ thống y tế
dự phòng, y tế công cộng và kiểm soát dịch bệnh gắn với các trung tâm kiểm soát
bệnh tật cấp tỉnh, kết nối chặt chẽ với Viện Pasteur Nha Trang giữ vai trò đầu
mối vùng trong nghiên cứu, giám sát, phòng chống dịch bệnh; đầu tư nâng cao
năng lực xét nghiệm, giám sát dịch tễ và sẵn sàng ứng phó với các tình huống y
tế khẩn cấp, dịch bệnh mới nổi.
- Ưu tiên đầu tư phát triển
các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa cấp chuyên sâu đảm nhận chức năng vùng, từng
bước hình thành các trung tâm y tế vùng tại các đô thị trung tâm; trong đó trọng
tâm là Bệnh viện C Đà Nẵng, Bệnh viện đa khoa khu vực Tây Nguyên tại Đắk Lắk,
các bệnh viện đa khoa cấp chuyên sâu tại Quảng Ngãi, Lâm Đồng và Gia Lai, cùng
với một số bệnh viện chuyên khoa trọng điểm như Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng, Bệnh
viện Sản - Nhi Đà Nẵng, Bệnh viện Y học cổ truyền Đắk Lắk, Bệnh viện Bệnh nhiệt
đới Khánh Hòa. Phát triển Bệnh viện Quân y 87 trở thành cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
cấp chuyên sâu theo mô hình kết hợp quân - dân y, có vai trò hỗ trợ chuyên môn
kỹ thuật và tham gia bảo đảm y tế cho các địa bàn trọng điểm của vùng.
- Tiếp tục củng cố và mở rộng
mạng lưới bệnh viện vệ tinh, tăng cường chuyển giao kỹ thuật, đào tạo nhân lực,
giảm quá tải cho các bệnh viện trung tâm; đồng thời đầu tư y tế cơ sở, bảo đảm
trạm y tế xã, phường đủ năng lực cung cấp dịch vụ y tế ban đầu theo mô hình
chính quyền địa phương hai cấp.
- Khuyến khích xã hội hóa
và phát triển y tế tư nhân, gắn với hình thành các trung tâm chăm sóc sức khỏe
và du lịch y tế tại các đô thị và điểm đến du lịch trọng điểm như Đà Nẵng, Quy
Nhơn, Nha Trang, Đà Lạt.
c) Mạng lưới cơ sở văn hóa
và thể thao
- Phát triển toàn diện các
lĩnh vực văn hóa, hài hòa giữa bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc, gắn
với phát triển kinh tế - xã hội bền vững và hội nhập; bảo đảm tiếp cận công bằng
các dịch vụ văn hóa, nhất là tại khu vực cao nguyên và vùng đồng bào dân tộc
thiểu số. Hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa các cấp theo hướng đạt chuẩn,
phù hợp với không gian văn hóa từng khu vực; gắn bảo tồn di sản với phát triển
du lịch bền vững và công nghiệp văn hóa. Ưu tiên hình thành các trung tâm văn
hóa - nghệ thuật, bảo tàng, thư viện, điện ảnh và nghệ thuật biểu diễn có vai
trò cấp vùng, quốc gia tại các đô thị trung tâm; đồng thời hình thành trung tâm
công nghiệp văn hóa vùng tại Đà Nẵng, Khánh Hòa và Lâm Đồng, liên kết với các
đô thị động lực nhằm tạo cực tăng trưởng mới cho kinh tế văn hóa - sáng tạo, gắn
với chuyển đổi số, xã hội hóa trong đầu tư, quản lý và khai thác thiết chế văn
hóa.
- Phát triển mạng lưới cơ sở
thể dục, thể thao vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên theo hướng đồng bộ,
hiện đại và phân bố hợp lý, đáp ứng nhu cầu tập luyện, thi đấu và nâng cao sức
khỏe nhân dân; từng bước hình thành thể thao thành tích cao, thể thao chuyên
nghiệp và dịch vụ thể thao chất lượng cao. Ưu tiên đầu tư, nâng cấp Khu liên hợp
thể thao quốc gia Đà Nẵng, Trung tâm thể dục, thể thao Khánh Hòa, Trung tâm thể
dục, thể thao Lâm Đồng và Trung tâm thể dục, thể thao Gia Lai đạt tiêu chuẩn
vùng, quốc gia, gắn với y học thể thao và phục hồi chức năng; đồng thời phát
triển thiết chế thể thao cơ sở, đẩy mạnh xã hội hóa và hợp tác công - tư trong
đầu tư, quản lý và khai thác cơ sở thể thao.
d) Mạng lưới tổ chức khoa
học và công nghệ, đổi mới sáng tạo
- Phát triển khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực then chốt và yếu tố dẫn dắt
chuyển đổi mô hình tăng trưởng của vùng, thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững
theo hướng kinh tế tri thức, xanh và tuần hoàn, gắn với chuyển đổi số và nâng
cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của nền kinh tế.
- Nâng cao tiềm lực khoa học
công nghệ và hiệu quả mạng lưới tổ chức khoa học công nghệ theo hướng tinh gọn,
tự chủ; tăng cường liên kết Nhà nước - viện, trường - doanh nghiệp - địa
phương, lấy doanh nghiệp làm trung tâm đổi mới sáng tạo và thương mại hóa kết
quả nghiên cứu. Hình thành các hạt nhân đổi mới sáng tạo liên vùng tại Đà Nẵng,
Khánh Hòa, Lâm Đồng; phát triển mạng lưới trung tâm đổi mới sáng tạo, hỗ trợ khởi
nghiệp tại các đô thị gồm Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Buôn Ma Thuột, Đà Lạt;
khuyến khích hợp tác công tư và thu hút nguồn lực quốc tế tham gia đầu tư
nghiên cứu, thử nghiệm và chuyển giao công nghệ.
- Phát triển thị trường
khoa học và công nghệ cùng hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo theo hướng minh bạch,
hiệu quả; xây dựng sàn giao dịch công nghệ cấp vùng tại Đà Nẵng và Khánh Hòa, kết
nối với mạng lưới quốc gia và quốc tế; đồng thời hoàn thiện cơ chế về sở hữu
trí tuệ, tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng, tăng cường dịch vụ kiểm định, chứng
nhận, qua đó thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ và nâng tỷ trọng sản phẩm
công nghệ cao.
- Tổ chức không gian khoa
học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phù hợp với lợi thế và định hướng phát triển
của từng địa phương trong vùng. Hình thành chuỗi đô thị khoa học, trung tâm đổi
mới sáng tạo tại Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Khánh Hòa và Lâm Đồng; tập trung phát triển
các lĩnh vực ưu tiên của khu vực Tây Nguyên tại các tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm
Đồng. Ưu tiên đầu tư các hạ tầng, thiết chế trọng điểm như Khu công nghệ cao Đà
Nẵng, Khu công nghệ sinh học Lâm Đồng, Trung tâm nghiên cứu năng lượng tái tạo
Khánh Hòa và các không gian thử nghiệm công nghệ tại Gia Lai, Đắk Lắk; phát triển
hạ tầng dữ liệu vùng, bảo đảm liên thông, chia sẻ nguồn lực khoa học và công
nghệ giữa các địa phương, kết nối với hạ tầng số quốc gia và quốc tế.
đ) Mạng lưới cơ sở trợ
giúp xã hội và cơ sở xã hội nuôi dưỡng người có công
- Phát triển mạng lưới cơ
sở trợ giúp xã hội vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên theo hướng đồng bộ,
đa tầng, chuyên môn hóa và liên kết vùng, bảo đảm tiếp cận công bằng dịch vụ xã
hội thiết yếu. sắp xếp, nâng cấp các cơ sở hiện có, bảo đảm mỗi tỉnh, thành phố
có ít nhất một trung tâm trợ giúp xã hội tổng hợp và hình thành một trung tâm
liên vùng tại vị trí trung tâm vùng để tiếp nhận, can thiệp, phục hồi, hỗ trợ
chuyển tuyến. Đà Nẵng, Khánh Hòa, Lâm Đồng là các địa bàn nòng cốt cung ứng dịch
vụ liên vùng. Ưu tiên nâng cao năng lực cơ sở vật chất, nhân lực; chuyển đổi số,
cơ sở dữ liệu vùng liên thông; phát triển mô hình hướng cộng đồng.
- Củng cố, nâng cấp mạng
lưới cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công theo hướng chăm sóc toàn diện,
kết hợp y tế, phục hồi chức năng. Ưu tiên các cơ sở tại Quảng Nam, Khánh Hòa,
Gia Lai, Đắk Lắk; đồng thời xây dựng, cải tạo và nâng cấp Trung tâm điều dưỡng
người có công tỉnh Quảng Ngãi. Tiếp tục duy trì, phát triển hệ thống cơ sở điều
dưỡng cấp tỉnh/thành phố; phát triển điều dưỡng tại cộng đồng gắn với y tế cơ sở;
ứng dụng công nghệ thông tin, liên thông dữ liệu và tăng cường phối hợp liên
vùng trong tổ chức điều dưỡng, nghỉ dưỡng phục hồi sức khỏe.
VIII.
PHƯƠNG HƯỚNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG, PHÒNG, CHỐNG THIÊN TAI VÀ ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI
KHÍ HẬU TRÊN LÃNH THỔ VÙNG
1. Phương hướng liên kết bảo
vệ môi trường
- Tăng cường liên kết
vùng, liên tỉnh trong bảo vệ môi trường theo hướng đồng bộ, chủ động và chia sẻ
trách nhiệm; ưu tiên xử lý các vấn đề có tính lan truyền, liên thông không
gian, nhất là ô nhiễm nước mặt, chất thải rắn và chất thải nguy hại, suy giảm
đa dạng sinh học và suy thoái rừng đầu nguồn.
- Tập trung phối hợp kiểm
soát ô nhiễm và cải thiện chất lượng môi trường nước trên các lưu vực sông Vu
Gia - Thu Bồn, sông Ba và sông Sêrêpốk; quản lý đồng bộ các nguồn thải sinh hoạt,
công nghiệp, nông nghiệp trên phạm vi toàn lưu vực; tăng cường đầu tư, vận hành
hiệu quả các công trình thu gom, xử lý nước thải tập trung và cơ chế phối hợp ứng
phó, xử lý sự cố ô nhiễm liên tỉnh.
- Hình thành, duy trì khu
vực kết nối sinh thái và hành lang đa dạng sinh học liên tỉnh, tăng cường kết nối
giữa các khu bảo tồn, vườn quốc gia và rừng phòng hộ đầu nguồn, trọng tâm theo
tuyến Vườn quốc gia Sông Thanh (Đà Nẵng) - Kon Chư Răng (Gia Lai) - Chư Yang
Sin (Đắk Lắk) - Bidoup - Núi Bà (Lâm Đồng); ưu tiên hành lang Sao La - Sông
Thanh và tăng cường liên kết không gian biển, ven biển và hải đảo của vùng.
Tăng cường phối hợp phòng cháy, chữa cháy rừng, kiểm soát khai thác gỗ và lâm sản
trái phép, bảo vệ rừng đầu nguồn có vai trò điều tiết nước.
- Đẩy mạnh liên kết ứng dụng
công nghệ tiên tiến trong bảo vệ môi trường; phối hợp huy động nguồn lực khoa học
- công nghệ, chuyển giao công nghệ xử lý nước thải, chất thải và phục hồi hệ
sinh thái; đồng thời tăng cường truyền thông, huy động sự tham gia của doanh
nghiệp và cộng đồng trong các chương trình bảo vệ môi trường liên vùng.
2. Phương hướng liên kết bảo
vệ môi trường các lưu vực sông liên tỉnh, các khu vực ven biển liên tỉnh
- Các địa phương chủ động
xây dựng kế hoạch phối hợp liên tỉnh về bảo vệ môi trường, trọng tâm là quản lý
tổng hợp lưu vực sông và vùng ven biển, gắn với bảo vệ nguồn nước, kiểm soát ô
nhiễm, quản lý xả thải và khai thác tài nguyên bền vững tại các khu vực giáp
ranh.
- Ưu tiên áp dụng công nghệ
tiên tiến để giám sát nguồn nước, chất lượng nước và cảnh báo sớm trên các hệ
thống sông liên tỉnh: Ba, Trà Khúc, Vu Gia - Thu Bồn, Sê San, Sêrêpôk và Đồng
Nai; thiết lập cơ chế quan trắc - cảnh báo - chia sẻ dữ liệu môi trường liên tỉnh,
phục vụ điều hòa, phân bổ nguồn nước và ứng phó lũ lụt, hạn hán, thiếu nước, ô
nhiễm.
- Tăng cường phối hợp bảo
vệ môi trường vùng bờ, kiểm soát nguồn thải từ đất liền ra biển, bảo tồn đa dạng
sinh học biển; chia sẻ thông tin, dữ liệu và triển khai các chương trình, dự án
liên tỉnh nhằm bảo đảm hài hòa giữa bảo tồn và phát triển bền vững ven biển.
3. Phương hướng tổ chức
không gian xử lý chất thải tập trung cấp vùng
Thành lập mới khu xử lý chất
thải tổng hợp Dung Quất tại tỉnh Quảng Ngãi. Thành lập mới khu xử lý chất thải
tập trung tại xã Kiến Đức, tỉnh Lâm Đồng, tiếp nhận xử lý chất thải rắn công
nghiệp thông thường, chất thải nguy hại, chất thải rắn sinh hoạt, bùn thải và
các loại chất thải rắn khác theo quy mô dự án. Nghiên cứu xây dựng khu xử lý chất
thải tập trung tại xã Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi và đầu tư một số khu xử lý đáp ứng
tiêu chí hình thành khu xử lý chất thải tập trung.
4. Phương hướng xác lập
các khu vực đa dạng sinh học cao, vùng đất ngập nước quan trọng, khu vực cảnh
quan sinh thái quan trọng, các khu bảo tồn thiên nhiên, cơ sở bảo tồn đa dạng
sinh học, các hành lang đa dạng sinh học liên tỉnh
a) Phương hướng xác lập
các khu vực đa dạng sinh học cao
Vùng định hướng xác lập
khoảng 13 khu vực có tiềm năng đa dạng sinh học cao với tổng diện tích khoảng
1,8 triệu ha để đưa vào quản lý, bảo vệ và bảo tồn. Việc xác lập các khu vực
này nhằm bảo vệ các hệ sinh thái tự nhiên còn tương đối nguyên vẹn, các sinh cảnh
quan trọng của các loài đặc hữu, nguy cấp, quý hiếm; đồng thời bảo đảm phù hợp
với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch rừng và định hướng phát triển kinh tế - xã
hội của từng địa phương trong vùng, gắn với khả năng tổ chức quản lý hiệu quả
theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học.
b) Phương hướng xác lập
các vùng đất ngập nước quan trọng
Thành lập mới các vùng đất
ngập nước quan trọng với tổng diện tích khoảng 26 nghìn ha, gồm: vùng đất ngập
nước Cửa Đại (sông Thu Bồn); vùng đất ngập nước đầm Trường Giang; vùng đất ngập
nước hồ Đồng Nai 3 và vùng đất ngập nước Pleikrông. Đồng thời, hoàn thành công
tác điều tra, thống kê, kiểm kê và khoanh vùng các vùng đất ngập nước quan trọng
cấp quốc gia và cấp tỉnh trên các hệ sinh thái đất ngập nước nội địa, ven biển
và ven đảo, làm cơ sở cho quản lý, bảo vệ, sử dụng bền vững và bảo tồn sinh cảnh,
nơi cư trú, sinh sản của các loài sinh vật, đặc biệt là các loài nguy cấp, quý
hiếm.
c) Phương hướng xác lập
các khu vực cảnh quan sinh thái quan trọng
Tập trung điều tra, đánh
giá và khoanh vùng xác lập các khu vực cảnh quan sinh thái quan trọng trên địa
bàn vùng, ưu tiên các khu vực có hệ sinh thái tự nhiên đặc thù, đại diện hoặc
có giá trị nổi bật, độc đáo về cảnh quan, khoa học và giáo dục môi trường. Việc
xác lập các khu vực này nhằm bảo vệ các không gian sinh thái có vai trò quan trọng
trong điều hòa khí hậu, bảo vệ nguồn nước, duy trì cân bằng sinh thái và cung cấp
các dịch vụ hệ sinh thái, làm cơ sở cho quản lý, bảo tồn và khai thác hợp lý, bền
vững.
d) Phương hướng xác lập
các khu bảo tồn thiên nhiên và hành lang đa dạng sinh học liên tỉnh
Tiếp tục bảo tồn, bảo vệ
nghiêm ngặt và chuyển tiếp 41 khu bảo tồn thiên nhiên hiện có (trong đó có chuyển
hạng 03 khu và mở rộng 07 khu) với tổng diện tích khoảng 0,98 triệu ha; đồng thời
thành lập mới 19 khu bảo tồn thiên nhiên với tổng diện tích khoảng 3,19 triệu
ha, nâng tổng số khu bảo tồn thiên nhiên của vùng lên 60 khu, bao gồm 11 vườn
quốc gia với diện tích khoảng 547,2 nghìn ha, 24 khu dự trữ thiên nhiên với diện
tích khoảng 518,5 nghìn ha, 16 khu bảo tồn loài, sinh cảnh với diện tích khoảng
3,03 triệu ha và 10 khu bảo vệ cảnh quan với diện tích khoảng 32,4 nghìn ha.
Song song với đó, vùng tiếp tục chuyển tiếp và quản lý hiệu quả 01 hành lang đa
dạng sinh học Sao La - Sông Thanh với diện tích khoảng 75,2 nghìn ha và thành lập
mới 01 hành lang đa dạng sinh học Côn Đảo - Phú Quý với quy mô khoảng 600 nghìn
ha, nhằm tăng cường kết nối sinh thái liên vùng trên cạn và trên biển, bảo đảm
sự liên thông sinh cảnh và duy trì đa dạng sinh học lâu dài.
đ) Phương hướng xác lập
các cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học
Nâng cấp, phát triển và
hoàn thiện mạng lưới các cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học, bao gồm vườn thực vật,
vườn động vật, trung tâm cứu hộ động vật hoang dã, vườn cây thuốc, ngân hàng
gen và các cơ sở bảo tồn trong hệ thống bảo tàng thiên nhiên, góp phần bảo tồn
nguồn gen, phục hồi các loài hoang dã và nâng cao hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh
học của vùng.
5. Phương hướng phát triển
bền vững rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất liên tỉnh và phát triển kết
cấu hạ tầng lâm nghiệp
a) Phương hướng phát triển
bền vững ba loại rừng
- Duy trì cơ cấu hợp lý ba
loại rừng trên địa bàn vùng theo hướng hài hòa giữa phát triển kinh tế lâm nghiệp
với bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và phòng, chống thiên tai;
trong đó rừng sản xuất chiếm tỷ trọng chủ yếu, gắn với bảo vệ vững chắc rừng
phòng hộ và rừng đặc dụng, bảo đảm chức năng phòng hộ đầu nguồn, bảo tồn đa dạng
sinh học và phát triển sinh kế bền vững.
- Đối với rừng đặc dụng: bảo
tồn nghiêm ngặt các hệ sinh thái rừng tự nhiên, vườn quốc gia, khu bảo tồn
thiên nhiên và danh lam thắng cảnh; duy trì và từng bước mở rộng diện tích rừng
đặc dụng, nhất là tại Lâm Đồng; gắn bảo tồn đa dạng sinh học với phát triển du
lịch sinh thái, giáo dục môi trường và nghiên cứu khoa học theo quy định.
- Đối với rừng phòng hộ:
tăng cường bảo vệ và phục hồi rừng phòng hộ đầu nguồn, ven sông, ven biển và các
khu vực xung yếu; ưu tiên sử dụng cây bản địa, thích ứng với biến đổi khí hậu,
nhằm bảo vệ đất, nguồn nước, giảm xói mòn, lũ lụt và sạt lở.
- Đối với rừng sản xuất:
phát triển rừng sản xuất theo hướng bền vững, thâm canh và ứng dụng khoa học -
công nghệ; mở rộng rừng trồng gỗ lớn, rừng được quản lý theo các tiêu chuẩn bền
vững; thúc đẩy mô hình nông lâm kết hợp, gắn vùng nguyên liệu với công nghiệp
chế biến gỗ và sản phẩm lâm nghiệp tại địa phương.
b) Phương hướng phát triển
kết cấu hạ tầng lâm nghiệp
- Phát triển kết cấu hạ tầng
lâm nghiệp theo hướng đồng bộ, phù hợp với đặc điểm địa hình, phục vụ hiệu quả
quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững.
- Hoàn thiện hệ thống giao
thông lâm nghiệp, đường nội rừng và đường phục vụ phòng cháy, chữa cháy rừng;
tăng cường kết nối với mạng lưới giao thông liên vùng và các trung tâm chế biến
lâm sản. Đầu tư hạ tầng quản lý, bảo vệ rừng, bao gồm trạm bảo vệ rừng, hệ thống
giám sát, cảnh báo sớm cháy rừng và vi phạm tài nguyên rừng; ứng dụng công nghệ
số trong quản lý rừng.
- Phát triển hạ tầng chế
biến và logistics lâm sản, gắn với các vùng rừng sản xuất trọng điểm; khuyến
khích đầu tư công nghệ chế biến hiện đại, tiết kiệm tài nguyên và thân thiện
môi trường. Tăng cường hạ tầng phục vụ nghiên cứu, đào tạo và du lịch sinh thái
rừng, góp phần nâng cao hiệu quả bảo tồn và phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững.
6. Phương hướng phát triển
hạ tầng phòng, chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu
- Nâng cao khả năng chống
chịu và thích ứng chủ động của hệ thống kết cấu hạ tầng, các ngành kinh tế và cộng
đồng dân cư trước các hiện tượng thiên tai ngày càng cực đoan, gắn với áp dụng
các giải pháp thích ứng thông minh, dựa vào tự nhiên và khoa học - công nghệ.
- Tập trung củng cố, nâng
cấp hệ thống đê, kè, hồ đập, hồ điều hòa, công trình thủy lợi và tiêu thoát nước
nhằm nâng cao mức độ an toàn công trình trước thiên tai cực đoan; tăng cường
năng lực phòng, chống lũ, ngập lụt, lũ quét và sạt lở đất, gắn với điều phối
liên vùng theo các lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn, Trà Khúc, Kôn - Hà Thanh, Ba,
Cái Nha Trang, Cái Phan Rang, Lũy, Sê San, Sêrêpôk và Đồng Nai, bảo đảm sự phối
hợp đồng bộ giữa thượng lưu - hạ lưu và giữa các địa phương trong vùng.
- Ưu tiên nâng dung tích một
số hồ chứa lớn, xây dựng các công trình tạo nguồn và chuyển nước quan trọng, sớm
hoàn thành các hồ chứa lớn theo quy hoạch; đồng thời nâng cấp các hệ thống thủy
lợi quy mô lớn và các tuyến tiêu thoát nước chính. Đẩy mạnh nạo vét, khơi thông
dòng chảy, hoàn chỉnh hệ thống cống tiêu, trục tiêu, kết hợp giải pháp tiêu tự
chảy và tiêu động lực tại các vùng thấp trũng, thường xuyên ngập úng, nhằm bảo
đảm chủ động thoát nước, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra.
- Tăng cường xây dựng và
gia cố các công trình phòng, chống sạt lở bờ sông, bờ biển, các khu vực có nguy
cơ cao về sạt lở đất và lũ quét; đẩy mạnh quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền
vững, đặc biệt là rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng phòng hộ ven biển và rừng ngập
mặn, góp phần giảm rủi ro thiên tai và bảo vệ môi trường sinh thái.
- Phát triển đô thị và
nông thôn theo hướng thích ứng với biến đổi khí hậu, chú trọng phòng, chống ngập
úng do mưa lớn, lũ quét, triều cường và nước biển dâng; việc quy hoạch, xây dựng
hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và nhà ở phải gắn chặt với yêu cầu phòng, chống
thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu. Khuyến khích áp dụng các mô hình đô
thị xanh, khu dân cư xanh, công trình xanh, tiết kiệm năng lượng và thân thiện
với môi trường.
IX.
PHƯƠNG HƯỚNG KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN NƯỚC, LƯU VỰC SÔNG TRÊN LÃNH THỔ
VÙNG
1. Định hướng phân vùng chức
năng nguồn nước
- Phân vùng chức năng nguồn
nước và khai thác, sử dụng nước vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên được
thực hiện theo đặc điểm các lưu vực sông liên tỉnh, bảo đảm hài hòa giữa khai
thác, sử dụng nước cho phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ tài nguyên nước,
hệ sinh thái thủy sinh và an ninh nguồn nước.
- Các nguồn nước trong
vùng được định hướng là nguồn nước đa chức năng, phục vụ tổng hợp các mục tiêu
cấp nước sinh hoạt; nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản; công nghiệp, dịch vụ, du
lịch; thủy điện; giao thông thủy; đồng thời thực hiện chức năng điều tiết, trữ
và tiêu thoát lũ.
- Việc khai thác, sử dụng
nước được quản lý theo chức năng của từng nguồn nước, từng đoạn sông và từng
lưu vực, gắn với yêu cầu bảo đảm chất lượng nước, duy trì dòng chảy tối thiểu,
ưu tiên sinh hoạt, phân bổ hợp lý giữa thượng lưu và hạ lưu và từng bước bố trí
nguồn nước dự phòng nhằm bảo đảm an toàn cấp nước trong mọi tình huống. Chức
năng nguồn nước, đoạn sông được xác định trong các quy hoạch tổng hợp lưu vực
sông, quy hoạch tỉnh và các quy hoạch có liên quan.
2. Phương hướng ưu tiên
phân bổ trong trường hợp bình thường và hạn hán, thiếu nước
- Việc điều hòa, phân phối
tài nguyên nước trên địa bàn vùng được thực hiện trên cơ sở hiện trạng nguồn nước,
nhu cầu sử dụng, hạn ngạch khai thác và các kịch bản nguồn nước hằng năm, bảo đảm
an ninh nguồn nước, công bằng và hợp lý giữa các đối tượng khai thác, sử dụng
trên cùng lưu vực sông, đặc biệt giữa thượng lưu và hạ lưu. Trong mọi tình huống,
ưu tiên cao nhất là bảo đảm đủ nước cho sinh hoạt; đồng thời duy trì dòng chảy
tối thiểu, tuân thủ ngưỡng khai thác nước dưới đất và kết hợp linh hoạt giữa
khai thác nước mặt, nước dưới đất và nước mưa.
- Trong điều kiện bình thường,
nguồn nước trên các lưu vực chính của vùng được phân bổ đáp ứng nhu cầu khai
thác, sử dụng cho sinh hoạt, sản xuất và năng lượng. Khi xảy ra hạn hán, thiếu
nước, việc phân bổ được thực hiện theo thứ tự ưu tiên: sinh hoạt, các ngành
kinh tế có giá trị cao và tiêu thụ ít nước, năng lượng; nông nghiệp được điều
chỉnh, cắt giảm có kiểm soát tại các khu vực, thời kỳ thiếu nước kéo dài.
- Tăng cường điều tiết
liên hồ, phối hợp liên vùng theo lưu vực sông; áp dụng các biện pháp quản lý
nhu cầu và khai thác bổ sung hợp lý nước dưới đất để giảm thiếu hụt. Trên một số
lưu vực dự báo thiếu nước lớn, áp dụng nghiêm ngặt thứ tự ưu tiên cấp nước và
các giải pháp điều tiết tổng hợp nhằm hạn chế thiệt hại do hạn hán.
- Định hướng bố trí nguồn
nước dự phòng cho cấp nước sinh hoạt từ các hồ chứa có dung tích điều tiết lớn
và các tầng nước dưới đất có chất lượng tốt, bảo đảm an toàn cấp nước trong mọi
tình huống; các lưu vực chưa đủ thông tin tiếp tục được nghiên cứu, xác định
nguồn dự phòng phù hợp.
3. Phương hướng bảo vệ tài
nguyên nước, phục hồi nguồn nước bị ô nhiễm hoặc bị suy thoái, cạn kiệt
- Tập trung bảo vệ nghiêm
ngặt các nguồn nước mặt và nước dưới đất phục vụ cấp nước sinh hoạt; thiết lập
và quản lý hành lang bảo vệ nguồn nước theo quy định; kiểm soát chặt chẽ hoạt động
khai thác, sử dụng nước và xả nước thải vào nguồn nước; hạn chế, không tiếp nhận
các hoạt động, ngành nghề có nguy cơ gây ô nhiễm cao, từng bước di dời các cơ sở
gây ô nhiễm ra khỏi khu dân cư, khu vực nhạy cảm về môi trường nước.
- Triển khai các giải pháp
duy trì dòng chảy tối thiểu trên các sông, suối liên tỉnh gắn với vận hành liên
hồ chứa; khoanh vùng, kiểm soát và hạn chế khai thác nước dưới đất tại các khu
vực có nguy cơ suy giảm mực nước, sụt lún hoặc xâm nhập mặn; nghiên cứu và áp dụng
các giải pháp tăng khả năng bổ cập, tích trữ nước mưa và nước mặt nhằm giảm áp
lực khai thác tài nguyên nước.
- Tăng cường thu gom, xử
lý nước thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp và y tế đạt quy chuẩn trước
khi xả thải; khuyến khích áp dụng công nghệ sạch, sản xuất sạch hơn, sử dụng tiết
kiệm và tuần hoàn nước.
- Phát triển mạng lưới
quan trắc chất lượng nước và giám sát xả thải theo hướng đồng bộ, hiện đại, từng
bước ứng dụng công nghệ số, kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa trung ương và địa
phương; tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, đồng thời công khai
thông tin phục vụ giám sát của cộng đồng.
4. Định hướng các giải
pháp phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra
Thực hiện quản lý tổng hợp
tài nguyên nước trên quy mô vùng. Trọng tâm là nâng cao năng lực dự báo, cảnh
báo sớm lũ, lũ quét, sạt lở đất, sạt lở bờ sông, bờ biển và ngập lụt đô thị;
Chính trị dòng chảy, bảo vệ không gian thoát lũ, đầu tư củng cố đê sông, đê biển,
kè chống sạt lở và hệ thống tiêu thoát nước; điều phối vận hành liên hồ chứa nhằm
giảm lũ, duy trì dòng chảy tối thiểu và bảo vệ hạ du. Đồng thời, kiểm soát chặt
khai thác nước dưới đất để hạn chế sụt lún, xâm nhập mặn; bảo vệ rừng đầu nguồn,
vùng trữ nước tự nhiên và vừng bổ cập nước dưới đất; gắn quản lý sử dụng đất và
chuyển đổi cơ cấu sản xuất phù hợp điều kiện mặn, hạn nhằm nâng cao hiệu quả
phòng, chống thiên tai và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu của toàn vùng.
X.
PHƯƠNG HƯỚNG BẢO ĐẢM QUỐC PHÒNG, AN NINH
1. Bảo đảm quốc phòng, an
ninh vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên gắn với xây dựng lực lượng vũ
trang chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; củng cố thế trận quốc phòng
toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, giữ vững chủ quyền biển, đảo, thềm
lục địa và biên giới, chủ động phòng ngừa, xử lý kịp thời các tình huống, không
để phát sinh điểm nóng.
2. Kết hợp chặt chẽ quốc
phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội; quy hoạch, đầu tư hạ tầng theo
hướng lưỡng dụng; tăng cường quản lý khu vực biên giới, cửa khẩu và khu vực biển,
tạo điều kiện ngư dân bám biển gắn với bảo vệ chủ quyền và bảo đảm an ninh, an
toàn trên biển,
3. Chủ động ứng phó các
thách thức an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, an ninh tài nguyên,
an ninh khí hậu, an ninh lương thực và năng lượng; đẩy mạnh ứng dụng khoa học -
công nghệ, nâng cao hiệu quả quản trị, an sinh xã hội và sự tham gia của cộng đồng
trong bảo đảm an ninh, trật tự.
XI. GIẢI
PHÁP, NGUỒN LỰC THỰC HIỆN QUY HOẠCH
1. Về cơ chế, chính
sách
- Hoàn thiện thể chế và cơ
chế liên kết phát triển vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên theo hướng quản
lý thống nhất không gian phát triển, tăng cường phối hợp liên tỉnh trong giải
quyết các vấn đề mang tính liên vùng như hạ tầng, môi trường, tài nguyên nước,
phòng, chống thiên tai và thích ứng biến đổi khí hậu; thúc đẩy phát triển theo
chuỗi giá trị, chuỗi ngành hàng, hành lang kinh tế theo trục dọc ven biển và
các hành lang Đông - Tây kết nối ven biển - cao nguyên - cửa khẩu.
- Tiếp tục cải thiện mạnh
mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh; đẩy mạnh cải cách hành chính, phân cấp gắn với
trách nhiệm giải trình; phát triển chính quyền điện tử hướng tới chính quyền số,
kinh tế số và xã hội số; tăng cường chia sẻ, kết nối dữ liệu dùng chung giữa
các địa phương trong vùng phục vụ quản lý, điều hành và thu hút đầu tư.
- Thực hiện hiệu quả các
chủ trương, chính sách phát triển kinh tế tư nhân, khuyến khích các tập đoàn,
doanh nghiệp lớn tham gia đầu tư các dự án hạ tầng, công nghiệp, dịch vụ và các
ngành kinh tế động lực của vùng; nghiên cứu, đề xuất các cơ chế, chính sách đặc
thù phù hợp với điều kiện phát triển vùng.
2. Về huy động vốn đầu tư
- Ưu tiên bố trí vốn đầu
tư công cho các dự án hạ tầng liên kết vùng, hạ tầng giao thông chiến lược, hạ
tầng logistics, chuyển đổi số, thích ứng với biến đổi khí hậu và phòng chống
thiên tai; sử dụng hiệu quả nguồn lực từ đất đai, tài sản công, cổ phần hóa và
thoái vốn nhà nước để bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển.
- Tăng cường thu hút đầu
tư từ khu vực tư nhân trong nước, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và huy
động các nguồn vốn vay ưu đãi, vốn tài chính xanh từ các tổ chức quốc tế để triển
khai các chương trình, dự án trọng điểm của vùng; tập trung thu hút FDI có chọn
lọc, ưu tiên các dự án công nghệ cao, thân thiện môi trường, có khả năng lan tỏa
và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
- Đẩy mạnh các hình thức hợp
tác công tư (PPP); phát triển các công cụ huy động vốn trung và dài hạn như
trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu xanh, quỹ đầu tư hạ tầng; khuyến
khích các mô hình khai thác giá trị gia tăng từ đất đai gắn với phát triển hạ tầng
và đô thị.
3. Về phát triển nguồn
nhân lực
- Phát triển nguồn nhân lực
vùng gắn với nhu cầu thị trường lao động và định hướng phát triển các ngành
kinh tế chủ lực của vùng như công nghiệp chế biến, năng lượng tái tạo,
logistics, du lịch, nông nghiệp công nghệ cao và kinh tế số.
- Tăng cường liên kết giữa
các cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu với doanh nghiệp và chính quyền địa phương;
hình thành mạng lưới đào tạo và sử dụng nhân lực trong vùng; khuyến khích đào tạo
theo đặt hàng của doanh nghiệp và đào tạo lại, nâng cao kỹ năng cho lao động
đang làm việc.
- Có cơ chế thu hút, đãi
ngộ và sử dụng hiệu quả đội ngũ chuyên gia, nhân lực chất lượng cao; phát triển
các trung tâm đào tạo, nghiên cứu cấp vùng tại các đô thị lớn; mở rộng xã hội
hóa giáo dục, đa dạng hóa các loại hình đào tạo, thúc đẩy học tập suốt đời.
4. Về môi trường và khoa học
và công nghệ
- Tăng cường bảo vệ môi
trường, kiểm soát chặt các nguồn gây ô nhiễm; hoàn thiện cơ chế, chính sách,
công cụ quản lý và đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về
bảo vệ môi trường của cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá
nhân.
- Sử dụng tiết kiệm, hiệu
quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là đất đai, khoáng sản, nguồn nước
và năng lượng tái tạo; đầu tư hoàn thiện hệ thống quan trắc, giám sát môi trường
tự động; nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm thiên tai, lũ quét, sạt lở đất
và các rủi ro môi trường trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
- Tăng cường năng lực
phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường; nghiên cứu tổ chức xử lý tập
trung chất thải y tế, chất thải nguy hại bằng công nghệ tiên tiến phù hợp, đồng
thời khuyến khích giảm thiểu, tái sử dụng và xử lý chất thải hữu cơ tại nguồn ở
các khu vực nông thôn chưa có hệ thống xử lý tập trung.
- Đẩy mạnh ứng dụng khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo trong sản xuất, quản lý và cung cấp dịch vụ công;
phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo của vùng; thúc
đẩy chuyển giao công nghệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và ứng dụng các
công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ số, công nghệ xanh,
công nghệ sinh học và công nghệ phục vụ ứng phó, thích ứng với biến đổi khí hậu.
- Tăng cường hợp tác quốc
tế, liên kết nội vùng và liên vùng; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; huy động
hiệu quả nguồn lực xã hội; hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư
ngoài ngân sách, phát triển quỹ khoa học và công nghệ của doanh nghiệp, đầu tư
trang thiết bị nghiên cứu và hình thành các đơn vị nghiên cứu mạnh trong doanh
nghiệp.
- Phát triển thị trường
khoa học và công nghệ, đẩy mạnh kết nối cung - cầu công nghệ, tăng cường liên kết
giữa trường đại học, viện nghiên cứu với khu công nghiệp, doanh nghiệp nhằm nâng
cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của các sản phẩm chủ lực của địa
phương và của vừng; ưu tiên phát triển, từng bước làm chủ và hình thành năng lực
nghiên cứu, sản xuất các công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược
phù hợp với tiềm năng, lợi thế và định hướng phát triển của vùng.
5. Về quản lý, kiểm
soát phát triển đô thị và nông thôn
- Quản lý chặt chẽ phát
triển đô thị theo quy hoạch; kiểm soát quá trình mở rộng đô thị theo hướng sử dụng
tiết kiệm, hiệu quả đất đai và hạ tầng; ưu tiên phát triển đô thị theo mô hình
nén, đô thị xanh, thông minh, thích ứng với biến đổi khí hậu; tăng cường quản
lý không gian ven biển, ven sông và các khu vực có nguy cơ thiên tai cao.
- Phát triển nông thôn
theo hướng hiện đại, gắn với tái cơ cấu nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới bền
vững; kiểm soát chuyển đổi mục đích sử dụng đất; phát triển các điểm dân cư
nông thôn gắn với dịch vụ, du lịch sinh thái và bảo tồn bản sắc văn hóa, đặc biệt
tại khu vực Tây Nguyên và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
6. Giải pháp về tổ chức thực
hiện và giám sát thực hiện quy hoạch
- Tổ chức công bố, công
khai quy hoạch và cung cấp đầy đủ thông tin theo quy định pháp luật, bảo đảm
minh bạch, tạo điều kiện thu hút các thành phần kinh tế tham gia thực hiện quy
hoạch. Đồng thời hoàn thiện cơ sở dữ liệu quy hoạch vùng đồng bộ, kết nối với
quy hoạch quốc gia và quy hoạch tỉnh, phục vụ phối hợp tổ chức thực hiện, quản
lý, giám sát việc thực hiện quy hoạch.
- Kiện toàn tổ chức điều
phối vùng phù hợp với phạm vi vùng, hình thành Hội đồng điều phối vùng duyên hải
Nam Trung Bộ và Tây Nguyên; Hội đồng điều phối vùng có nhiệm vụ tham mưu, đề xuất
với Thủ tướng Chính phủ về cơ chế, chính sách, kế hoạch triển khai thực hiện
các chương trình, đề án, nhiệm vụ, dự án có quy mô vùng và có tính chất liên kết
vùng theo thứ tự ưu tiên để phát triển bền vững vùng.
- Các bộ, cơ quan liên
quan, các địa phương trong vùng chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các chương
trình, dự án được phân cấp theo quy định của pháp luật; hoàn thiện và vận hành
hệ thống thông tin về các hoạt động hợp tác đầu tư (định hướng đầu tư, các
chương trình, dự án liên kết kêu gọi đầu tư; số liệu về đầu tư nước ngoài, đầu
tư từ các tỉnh, thành phố trong và ngoài vùng).
- Hoàn thiện và vận hành hệ
thống cơ sở dữ liệu về quy hoạch, cơ sở dữ liệu về kinh tế, xã hội, môi trường
phục vụ thúc đẩy phát triển và liên kết vùng.
- Thực hiện giám sát, đánh
giá định kỳ việc thực hiện quy hoạch; kịp thời phát hiện vướng mắc, bất cập và
đề xuất điều chỉnh phù hợp với thực tiễn phát triển và yêu cầu quản lý nhà nước.
Tăng cường kỷ luật, kỷ cương và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật trong tổ
chức thực hiện quy hoạch; kịp thời kiến nghị hoàn thiện cơ chế, chính sách, bảo
đảm quy hoạch được thực hiện thống nhất, đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả.
XII. HỆ
THỐNG SƠ ĐỒ QUY HOẠCH
Danh mục sơ đồ Điều chỉnh
Quy hoạch vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên thời kỳ 2021 - 2030, tầm
nhìn đến năm 2050 tại Phụ lục kèm theo.
Điều
2. Tổ chức thực hiện
1. Quy hoạch vùng duyên hải
Nam Trung Bộ và Tây Nguyên thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (điều chỉnh)
là cơ sở để lập, điều chỉnh quy hoạch tỉnh, quy hoạch đô thị, quy hoạch nông
thôn trên địa bàn vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên theo quy định của
pháp luật.
2. Trách nhiệm của Bộ Tài
chính
a) Chịu trách nhiệm về
tính chính xác của số liệu, tài liệu, hệ thống sơ đồ, bản đồ và cơ sở dữ liệu
trong hồ sơ Điều chỉnh Quy hoạch vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên thời
kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 theo quy định của pháp luật; lưu trữ, lưu
giữ hồ sơ Điều chỉnh Quy hoạch vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên thời kỳ
2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 theo quy định.
b) Tổ chức công bố, công
khai Quy hoạch vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên thời kỳ 2021 - 2030, tầm
nhìn đến năm 2050 theo quy định của pháp luật về quy hoạch.
c) Chủ trì, phối hợp các bộ,
ngành, địa phương trong vùng xây dựng kế hoạch, chính sách, giải pháp và bố trí
nguồn lực thực hiện quy hoạch vùng.
d) Chủ trì, phối hợp với
các bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương trong vùng theo dõi, đôn đốc, giám sát,
đánh giá việc thực hiện các dự án quan trọng và mục tiêu của quy hoạch vùng.
đ) Chủ trì, phối hợp với
các bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương tổ chức các hoạt động xúc tiến, kêu gọi
đầu tư đối với các dự án quan trọng của vùng; tuyên truyền, quảng bá nhằm thu
hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước, các thành phần kinh tế tham gia thực hiện
quy hoạch.
3. Trách nhiệm của các bộ,
ngành liên quan
a) Tổ chức thực hiện quy
hoạch thuộc lĩnh vực quản lý theo thẩm quyền.
b) Phối hợp với Bộ Tài
chính nghiên cứu, xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành chính sách, giải
pháp và bố trí nguồn lực thực hiện quy hoạch.
c) Chủ trì phối hợp với
các bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương có liên quan trong vùng đánh giá việc thực
hiện quy hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn, quy hoạch ngành trên địa bàn vùng
theo chức năng quản lý.
d) Phối hợp với Bộ Tài
chính trong việc theo dõi, giám sát, đánh giá việc thực hiện các dự án quan trọng
của vùng thuộc lĩnh vực quản lý nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng.
4. Trách nhiệm của Ủy ban
nhân dân các tỉnh, thành phố
a) Rà soát nội dung quy hoạch
tỉnh bảo đảm thống nhất với quy hoạch vùng được phê duyệt.
b) Phối hợp với Bộ Tài
chính và các bộ, ngành tổ chức các hoạt động xúc tiến đầu tư nhằm tuyên truyền,
quảng bá, thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước và các thành phần kinh tế
tham gia thực hiện quy hoạch.
c) Tổ chức giám sát, kiểm
tra việc thực hiện các dự án đầu tư phát triển trên địa bàn theo chức năng, nhiệm
vụ được phân công, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
d) Phối hợp với các bộ, cơ
quan ngang bộ trong quá trình đánh giá việc thực hiện quy hoạch vùng, các quy
hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn, quy hoạch ngành trên địa bàn vùng.
5. Sau khi các quy hoạch cấp
quốc gia được cấp có thẩm quyền quyết định hoặc phê duyệt, Bộ Tài chính có
trách nhiệm rà soát nội dung Quy hoạch vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây
Nguyên thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (điều chỉnh), nếu nội dung
mâu thuẫn so với quy hoạch cao hơn thì tiến hành điều chỉnh, trình Thủ tướng
Chính phủ xem xét, phê duyệt.
Điều
3. Điều khoản thi hành
1. Quyết định này có hiệu
lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.
2. Các nội dung đã và đang
thực hiện theo Quyết định số 376/QĐ-TTg
ngày 04 tháng 5 năm 2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch vùng Bắc
Trung Bộ và duyên hải miền Trung thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050,
Quyết định số 377/QĐ-TTg ngày 04 tháng 5
năm 2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch vùng Tây Nguyên thời kỳ
2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 tiếp tục được triển khai thực hiện và cập nhật
theo Quyết định này.
3. Bộ trưởng Bộ Tài chính,
các Bộ trưởng, Thủ trưởng các bộ, cơ quan ngang bộ; Chủ tịch Ủy ban nhân dân
các tỉnh, thành phố trong vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, Ủy ban nhân
dân các tỉnh, thành phố có liên quan; Thủ trưởng các ngành, đơn vị có liên quan
chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
|
Nơi nhận:
- Ban Bí thư
Trung ương Đảng;
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Các bộ, cơ quan ngang bộ;
- HĐND, UBND các tỉnh, thành phố;
- Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Tổng Bí thư;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
- Văn phòng Quốc hội;
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Kiểm toán nhà nước;
- Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTg,
TGĐ Cổng TTĐT, các Vụ, Cục;
- Lưu: VT, CN (2). Tuan
|
KT. THỦ TƯỚNG
PHÓ THỦ TƯỚNG
Nguyễn Chí Dũng
|
PHỤ LỤC
DANH MỤC SƠ ĐỒ ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH
VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ VÀ TÂY NGUYÊN KỲ 2021 - 2030, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2050
(Kèm theo Quyết định số 614/QĐ-TTg ngày 04 tháng 4 năm 2026 của Thủ tướng
Chính phủ)
|
TT
|
Tên sơ đồ, bản đồ
|
Tỷ lệ
|
|
1
|
Sơ đồ phương hướng phát
triển hệ thống đô thị, nông thôn
|
1:250.000
|
|
2
|
Sơ đồ phương hướng tổ chức
không gian và phân vùng chức năng
|
1:250.000
|
|
3
|
Sơ đồ phương hướng phát
triển kết cấu hạ tầng xã hội
|
1:250.000
|
|
4
|
Sơ đồ phương hướng phát
triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật
|
1:250.000
|
|
5
|
Sơ đồ phương hướng sử dụng
tài nguyên
|
1:250.000
|
|
6
|
Sơ đồ phương hướng bảo vệ
môi trường
|
1:250.000
|
|
7
|
Sơ đồ phương hướng
phòng, chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu
|
1:250.000
|