|
CHÍNH PHỦ
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 108/2026/NĐ-CP
|
Hà Nội, ngày 31 tháng 3 năm 2026
|
NGHỊ ĐỊNH
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU
CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 140/2021/NĐ-CP NGÀY 31 THÁNG 12 NĂM 2021 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH
CHẾ ĐỘ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH ĐƯA VÀO TRƯỜNG GIÁO DƯỠNG VÀ CƠ SỞ
GIÁO DỤC BẮT BUỘC
Căn
cứ Luật Tổ chức Chính phủ số 63/2025/QH15;
Căn cứ Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 được
sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 54/2014/QH13, Luật
số 18/2017/QH14, Luật số 67/2020/QH14, Luật số 09/2022/QH15, Luật số 11/2022/QH15, Luật số 56/2024/QH15 và Luật số 88/2025/QH15;
Căn cứ Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15
được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 85/2025/QH15;
Căn cứ Luật Thi hành án hình sự số 127/2025/QH15;
Theo đề nghị của Bộ trưởng
Bộ Công an;
Chính phủ ban hành Nghị định
sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 140/2021/NĐ-CP
ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý
hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộc.
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung khoản 7 Điều 3 như sau:
“7.
Lập công là trường hợp học sinh, trại viên phát hiện, cung cấp nguồn tin giúp
trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc ngăn chặn, phòng, chống âm mưu, hành
vi gây mất trật tự, an ninh, an toàn, chống phá trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục
bắt buộc; giúp cơ quan có thẩm quyền phát hiện, truy bắt, điều tra, xử lý tội
phạm; dũng cảm cứu người đang trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng hoặc cứu
được tài sản có giá trị 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) trở lên; có sáng
kiến, cải tiến kỹ thuật có giá trị trong lao động. Những trường hợp lập công
trên phải được cấp có thẩm quyền xác nhận.”
Điều 2. Sửa đổi Điều 13 như sau:
“Điều
13. Hồ sơ, thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng
1.
Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo
dưỡng, Trưởng Công an cấp xã chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân khu vực để xem
xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng. Hồ sơ gồm:
a)
Văn bản của Trưởng Công an cấp xã đề nghị Tòa án nhân dân khu vực xem xét áp dụng
biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng;
b) Đối
với đối tượng quy định tại Điều 92 Luật Xử lý vi phạm hành chính
thì hồ sơ theo quy định tại khoản 1 Điều 99 Luật Xử lý vi phạm
hành chính;
c) Đối
với đối tượng do cơ quan, đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, điều
tra, thụ lý vụ vi phạm pháp luật thì hồ sơ theo quy định tại khoản
2, Điều 99 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
2.
Việc giao, nhận hồ sơ phải được lập biên bản. Hồ sơ phải được đánh bút lục theo
quy định.”
Điều 3. Sửa đổi, bổ sung điểm đ khoản 5 Điều 15 như sau:
“đ)
Một trong các văn bản sau: Văn bản xác nhận hoặc bản sao bệnh án của cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên về tình trạng bệnh hiểm nghèo; văn bản xác
nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên về tình trạng đang mang
thai; văn bản xác nhận của Hiệu trưởng trường giáo dưỡng, Chủ tịch Ủy ban nhân
dân từ cấp xã trở lên, cơ quan có thẩm quyền phát hiện, truy bắt, điều tra xử
lý tội phạm về việc lập công; văn bản xác nhận của cơ quan có thẩm quyền công
nhận có sáng kiến, cải tiến kỹ thuật có giá trị trong lao động.”
Điều 4. Sửa đổi Điều 17 như sau:
“Điều
17. Chế độ ăn, mặc và đồ dùng sinh hoạt của học sinh
1. Học
sinh được Nhà nước đảm bảo, tiêu chuẩn ăn định lượng mỗi tháng gồm:
a)
20 kg gạo tẻ;
b)
1,5 kg thịt lợn;
c)
1,5 kg cá;
d)
08 quả trứng gà hoặc trứng vịt;
đ)
0,5 kg đường;
e)
0,75 lít nước mắm;
g)
0,1 kg bột ngọt;
h)
0,5 kg muối;
i)
17 kg rau xanh, củ, quả;
k)
0,2 lít dầu ăn;
l)
Gia vị khác tương đương 0,5 kg gạo tẻ;
m)
Chất đốt tương đương 17 kg củi hoặc 15 kg than.
Lương
thực, thực phẩm, chất đốt bảo đảm chất lượng và có mức giá trung bình theo thời
giá tại địa phương.
Chế
độ ăn trong các ngày lễ, tết của học sinh được tăng thêm nhưng không được quá
05 lần tiêu chuẩn ăn ngày thường.
2.
Ngoài tiêu chuẩn ăn được quy định tại khoản 1 Điều này, học sinh được sử dụng
tiền của mình để ăn thêm và phải thông qua hệ thống lưu ký và căng tin phục vụ
sinh hoạt cho học sinh của trường giáo dưỡng.
3.
Hiệu trưởng trường giáo dưỡng có thể hoán đổi định lượng ăn nêu trên cho phù hợp
với thực tế để đảm bảo học sinh ăn hết tiêu chuẩn ăn. Hiệu trưởng trường giáo
dưỡng quyết định chế độ ăn đối với học sinh ốm đau, bệnh tật, thương tích trên
cơ sở đề xuất của y sĩ hoặc bác sĩ trường giáo dưỡng hoặc theo chỉ định của bác
sĩ tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhưng tổng định lượng mức ăn không quá 05 lần
tiêu chuẩn.
4. Mỗi
phân hiệu của trường giáo dưỡng được tổ chức ít nhất một bếp ăn tập thể. Định mức
dụng cụ cấp dưỡng của một bếp tập thể dùng cho 100 học sinh gồm: 01 tủ đựng thức
ăn có lưới hoặc kính che kín, 03 chảo to, 01 chảo nhỏ, 01 nồi to dùng trong 03
năm; các loại dao, thớt, chậu rửa bát, rổ, rá, bát, đũa dùng trong 01 năm và
các dụng cụ, trang thiết bị cấp dưỡng cần thiết khác phục vụ việc nấu ăn và
chia khẩu phần ăn cho học sinh.
Dụng
cụ cấp dưỡng dùng cho 01 mâm ăn của 06 học sinh bao gồm 01 lồng bàn, 01 xoong đựng
cơm, 01 xoong đựng canh dùng trong 02 năm; 02 đĩa đựng thức ăn, 01 bát đựng nước
chấm, 01 muôi múc cơm, 01 muôi múc canh dùng trong 01 năm.
Dụng
cụ cấp dưỡng dùng cho 01 học sinh ăn riêng theo suất gồm 01 cặp lồng có 04 ngăn
hoặc khay có 05 ngăn bằng nhựa chuyên dùng đựng đồ ăn cơm và 01 thìa ăn cơm bằng
nhựa dùng trong 02 năm.
5. Học
sinh được sử dụng điện, nước đảm bảo yêu cầu sinh hoạt hằng ngày.
6.
Chế độ mặc, đồ dùng sinh hoạt của học sinh trong năm được cấp như sau:
a)
02 bộ quần áo dài;
b)
01 bộ quần áo dài đồng phục;
c)
02 bộ quần áo lót;
d)
02 đôi dép nhựa;
đ)
01 áo mưa nilông;
e)
01 mũ cứng;
g)
01 mũ vải;
h)
03 khăn mặt;
i)
03 bàn chải đánh răng;
k)
02 chiếu cá nhân;
l)
800 g kem đánh răng;
m)
3,6 kg xà phòng;
n)
800 ml dầu gội đầu.
Học
sinh vào trường giáo dưỡng được cấp 01 màn, 01 chăn sợi, 01 gối vải cotton lõi
bông. Đối với các trường giáo dưỡng từ thành phố Đà Nẵng trở ra phía Bắc, mỗi học
sinh được cấp 01 áo ấm, 02 đôi tất, 01 mũ len và 01 chăn bông có vỏ nặng không
quá 02 kg dùng trong 02 năm. Đối với học sinh phải chấp hành từ 12 tháng trở
lên thì được cấp 02 lần (trừ chăn bông).
7. Học
sinh được mang vào trường giáo dưỡng những đồ dùng cá nhân thiết yếu để sử dụng
theo quy định của Bộ Công an. Học sinh nữ được cấp đồ dùng cần thiết cho vệ
sinh cá nhân không quá 05 kg gạo tẻ/học sinh/tháng.
8. Học
sinh tham gia lao động, học nghề đối với những công việc mà pháp luật quy định
phải có bảo hộ lao động thì mỗi năm phát thêm 02 bộ quần áo, đồ bảo hộ lao động,
học nghề cho học sinh.
9. Bộ
trưởng Bộ Công an quy định mẫu quần áo đồng phục, đồ bảo hộ lao động, học nghề
của học sinh.”
Điều 5. Sửa đổi khoản 1 Điều 19 như sau:
“1.
Chế độ chăm sóc y tế đối với học sinh
a) Học
sinh khi đến trường giáo dưỡng được y tế của trường giáo dưỡng tổ chức khám sức
khỏe theo đúng quy định. Trong thời gian chấp hành biện pháp giáo dục tại trường
giáo dưỡng, học sinh được khám sức khỏe định kỳ 06 tháng một lần, cụ thể: Đo
chiều cao, cân nặng, vòng ngực trung bình, kiểm tra các thông số về nhịp tim,
huyết áp, nhiệt độ cơ thể, khám lâm sàng toàn diện theo các chuyên khoa, khám cận
lâm sàng theo chỉ định của bác sĩ. Chi phí khám sức khỏe định kỳ cho học sinh
được thanh toán theo khung giá quy định của Bộ Y tế. Kết quả khám sức khỏe định
kỳ của học sinh được lưu vào hồ sơ để quản lý. Tiền thuốc chữa bệnh thông thường,
vật tư y tế cho học sinh được cấp tương đương 07 kg gạo tẻ/01 học sinh/01 tháng.
b)
Trường hợp học sinh khi bị bệnh hoặc thương tích được điều trị tại bệnh xá trường
giáo dưỡng, nếu vượt quá khả năng điều trị được chuyển đến cơ sở y tế phù hợp để
điều trị và thông báo cho cha, mẹ hoặc người giám hộ của học sinh biết, phối hợp
với nhà trường chăm sóc, điều trị. Trường hợp tiếp tục vượt quá khả năng điều
trị của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó thì Hiệu trưởng trường giáo dưỡng xem
xét, quyết định việc điều trị tiếp theo, đồng thời báo cáo Cục Cảnh sát quản lý
trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, Bộ Công an.
c) Đối
với học sinh có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức
hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng phối hợp
với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh về tâm thần của Nhà nước nơi đơn vị đóng quân tổ
chức khám và điều trị theo quy định của pháp luật.
Đối
với học sinh có tiền sử nghiện ma tuý, căn cứ điều kiện, khả năng trường giáo
dưỡng tổ chức khám bệnh, chăm sóc sức khoẻ, phục hồi chức năng; trường hợp học
sinh có đủ tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện ma túy thì phối hợp với các cơ quan chức
năng liên quan tổ chức cai nghiện theo quy định.
d)
Trường giáo dưỡng thường xuyên có biện pháp phòng, chống dịch bệnh, thực hiện
các biện pháp phòng, chống lây nhiễm, điều trị HIV/AIDS và các bệnh truyền nhiễm
khác cho học sinh.
đ)
Kinh phí khám bệnh, chữa bệnh cho học sinh do Nhà nước chi trả, trừ trường hợp
người thân thích hoặc người đại diện hợp pháp của học sinh tự nguyện chi trả
kinh phí điều trị bệnh. Học sinh đang có bảo hiểm y tế tiếp tục được hưởng bảo
hiểm y tế, phần kinh phí phải trả thêm ngoài bảo hiểm do Nhà nước cấp. Trường hợp
có cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đủ khả năng điều trị mà tự nguyện khám bệnh, chữa
bệnh miễn phí cho học sinh thì Hiệu trưởng trường giáo dưỡng xem xét quyết định.”
Điều 6. Sửa đổi, bổ sung Điều 24 như sau:
“Điều
24. Chế độ thăm gặp người thân thích, liên lạc, nhận tiền, quà của học sinh
1.
Chế độ thăm gặp người thân thích
a) Học
sinh được thăm gặp người thân thích tại nhà thăm gặp của trường giáo dưỡng, thời
gian mỗi lần không quá 04 giờ theo thời gian làm việc của nhà trường, trường hợp
ngoài giờ do Hiệu trưởng trường giáo dưỡng quyết định.
Thời
gian thăm gặp vào tất cả các ngày trong tuần, ngày nghỉ, ngày lễ, tết. Trường hợp
học sinh chấp hành tốt nội quy trường giáo dưỡng, tích cực rèn luyện, học tập,
học nghề và lao động hoặc để phục vụ công tác giáo dục thì Hiệu trưởng trường
giáo dưỡng quyết định cho kéo dài thời gian thăm gặp nhưng không quá 24 giờ
trong một lần tại phòng gặp thêm giờ;
b)
Trường giáo dưỡng cấp sổ thăm gặp theo mẫu thống nhất có danh sách của người
thân thích học sinh. Hiệu trưởng trường giáo dưỡng ký tên, đóng dấu vào sổ thăm
gặp. Số thăm gặp phải được xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp
xã nơi cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập lần đầu tiên
hoặc khi có sự thay đổi về người thân thích.
Người
thân thích đến thăm gặp phải là người có tên trong sổ thăm gặp và xuất trình
Căn cước hoặc Căn cước công dân hoặc Hộ chiếu hoặc sử dụng ứng dụng VNeID để
làm thủ tục. Trường hợp người thân thích đến thăm gặp học sinh không có các giấy
tờ nêu trên thì phải có đơn đề nghị có dán ảnh đóng dấu giáp lai được Ủy ban
nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người
đó làm việc, học tập xác nhận.
Người
thân thích đến thăm gặp học sinh phải chấp hành đúng quy định của pháp luật, nội
quy nhà thăm gặp và theo sự hướng dẫn của cán bộ trường giáo dưỡng.
2.
Chế độ liên lạc
a) Học
sinh được gửi thư và nhận thư qua đường bưu chính; thư được kiểm duyệt trước
khi nhận, gửi; học sinh không được gửi, nhận thư nếu nội dung không phù hợp,
không đúng với thuần phong mỹ tục, không mang tính chất giáo dục;
b) Học
sinh được liên lạc với người thân thích bằng điện thoại hoặc kết nối hình ảnh,
âm thanh bằng phương tiện điện tử với người thân thích mỗi tháng 04 lần, mỗi lần
không quá 15 phút. Trường hợp học sinh có nhu cầu trao đổi với người thân thích
để giải quyết những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích chính đáng của học
sinh hoặc vì công tác giáo dục thì Hiệu trưởng trường giáo dưỡng cho tăng thêm
số lần, thời gian liên lạc với người thân thích nhưng không quá 02 lần trong 01
tháng và thời gian liên lạc mỗi lần không quá 30 phút. Trước khi liên lạc với
người thân thích học sinh phải đăng ký theo quy định của trường giáo dưỡng; trường
hợp cán bộ trường giáo dưỡng phát hiện nội dung liên lạc không đúng với nội
dung đã đăng ký sẽ bị chấm dứt liên lạc;
c) Học
sinh vi phạm Nội quy trường giáo dưỡng đang bị giáo dục tại phòng riêng hoặc học
sinh đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì không được liên lạc điện
thoại hoặc kết nối hình ảnh, âm thanh bằng phương tiện điện tử với người thân
thích.
3.
Chế độ nhận tiền, quà
a) Học
sinh được nhận tiền mặt (Việt Nam đồng) do người thân thích đến thăm gặp gửi
thì cán bộ làm nhiệm vụ tổ chức thăm gặp tiếp nhận, chuyển vào sổ lưu ký học
sinh; đối với tiền gửi qua bưu điện thì Hiệu trưởng trường giáo dưỡng có trách
nhiệm cử cán bộ đến bưu điện nhận tiền và làm thủ tục lưu ký theo quy định, vào
sổ theo dõi, quản lý, đồng thời thông báo cho học sinh được nhận tiền biết.
Số
tiền lưu ký của học sinh được sử dụng mua lương thực, thực phẩm, hàng hóa và
các đồ dùng thiết yếu khác tại căng tin trường giáo dưỡng; thanh toán tiền gửi
thư, liên lạc điện thoại; gửi về cho người thân thích hoặc nhận lại (nếu còn)
khi chấp hành xong quyết định;
b) Học
sinh được nhận quà khi thăm gặp người thân thích theo quy định của pháp luật trừ
rượu, bia, thuốc lá, các chất kích thích khác, đồ vật và các loại văn hóa phẩm
thuộc danh mục cấm. Đối với quà là hàng tươi sống, thực phẩm chế biến không đảm
bảo vệ sinh an toàn thực phẩm thì yêu cầu người thân thích nhận lại; mỗi tháng
học sinh được nhận bưu phẩm, bưu kiện 02 lần qua đường bưu điện, mỗi lần không
quá 07 kg, nếu gửi 01 lần thì không quá 14 kg; trường hợp bưu phẩm, bưu kiện
không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm thì lập biên bản tiêu hủy có sự chứng
kiến, chữ ký hoặc điểm chỉ xác nhận của học sinh;
c) Học
sinh được nhận thuốc chữa bệnh, thuốc bổ, thực phẩm chức năng khi thăm gặp người
thân thích, các loại thuốc, thực phẩm chức năng thì phải có nhãn mác, hàm lượng,
công dụng, nơi sản xuất và còn thời hạn sử dụng. Trường giáo dưỡng bố trí tủ
riêng để bảo quản, cán bộ y tế có trách nhiệm quản lý tủ thuốc, kiểm tra, hướng
dẫn học sinh sử dụng khi có nhu cầu. Khi học sinh ốm, đau có nhu cầu sử dụng
thuốc, cán bộ y tế căn cứ vào bệnh lý, phác đồ điều trị để cấp thuốc và hướng dẫn
học sinh sử dụng và ghi rõ trong bệnh án: “Thuốc do người thân thích gửi” hoặc
ghi vào sổ theo dõi, học sinh nhận, sử dụng thuốc phải ký tên hoặc điểm chỉ vào
bệnh án hoặc sổ theo dõi. Thuốc chữa bệnh, thuốc bổ, thực phẩm chức năng hết hạn
phải lập biên bản tiêu hủy có sự chứng kiến, chữ ký hoặc điểm chỉ xác nhận của
học sinh.
Khi
học sinh chấp hành xong quyết định hoặc điều chuyển nơi khác, cán bộ y tế phải
kiểm tra, đối chiếu, trả lại học sinh số thuốc, thực phẩm chức năng chưa sử dụng
hết hoặc bàn giao thuốc kèm theo hồ sơ sức khỏe của học sinh.”
Điều 7. Sửa đổi Điều 27 như sau:
“Điều
27. Hồ sơ, thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc
1.
Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo
dục bắt buộc, Trưởng Công an cấp xã chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân khu vực
xem xét quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Hồ sơ gồm:
a)
Văn bản của Trưởng Công an cấp xã đề nghị Tòa án nhân dân khu vực xem xét áp dụng
biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc;
b) Đối
với đối tượng quy định tại Điều 94 Luật Xử lý vi phạm hành chính
thì tài liệu, giấy tờ có trong hồ sơ theo quy định tại khoản 1
Điều 101 Luật Xử lý vi phạm hành chính;
c) Đối
với đối tượng quy định tại khoản 3 Điều 118 Luật Xử lý vi phạm
hành chính thì tài liệu, giấy tờ có trong hồ sơ theo quy định tại khoản 2 Điều 101 Luật Xử lý vi phạm hành chính;
d) Đối
với đối tượng do cơ quan, đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, điều
tra, thụ lý vụ vi phạm pháp luật thì tài liệu, giấy tờ có trong hồ sơ theo quy
định tại khoản 3 Điều 101 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
2. Đối
với người phải chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng
nhưng chưa thi hành quyết định mà bỏ trốn, khi truy tìm được mà người đó đủ 18
tuổi trở lên thì cơ quan Công an cấp xã nơi đã lập hồ sơ đề nghị Tòa án nhân
dân khu vực xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc
nếu có đủ điều kiện thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục
bắt buộc. Hồ sơ gồm:
a)
Văn bản của Trưởng Công an cấp xã đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp
đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc;
b) Hồ
sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng trước đó;
c)
Quyết định truy tìm;
d)
Biên bản giữ người có quyết định truy tìm;
đ)
Quyết định tạm giữ người theo thủ tục hành chính (nếu có);
e)
Quyết định đình tìm;
g)
Tài liệu về các hành vi vi phạm trong thời gian bỏ trốn (nếu có).
3. Đối
với học sinh đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng
mà bỏ trốn, khi truy tìm được mà người đó đủ 18 tuổi trở lên thì Hiệu trưởng
trường giáo dưỡng đề nghị Tòa án nhân dân khu vực nơi có trường giáo dưỡng xem
xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc nếu có đủ điều
kiện thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Hồ
sơ gồm:
a)
Văn bản của Hiệu trưởng trường giáo dưỡng đề nghị Tòa án nhân dân khu vực nơi
có trường giáo dưỡng xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục
bắt buộc;
b) Hồ
sơ tài liệu trong quá trình chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng;
c)
Quyết định truy tìm;
d)
Biên bản giữ người có quyết định truy tìm;
đ)
Quyết định tạm giữ người theo thủ tục hành chính (nếu có);
e)
Quyết định đình tìm.
4.
Việc giao, nhận hồ sơ phải được lập biên bản. Hồ sơ phải được đánh bút lục theo
quy định.”
Điều 8. Sửa đổi, bổ sung điểm a, d khoản 1; điểm c, khoản 3
Điều 32 như sau:
“1.
Chế độ mặc của trại viên trong một năm được cấp:
a)
02 bộ quần, áo dài theo mẫu thống nhất;
d) Đối
với trại viên ở các cơ sở giáo dục bắt buộc từ thành phố Đà Nẵng trở ra phía Bắc
được cấp 01 áo ấm/năm theo mẫu thống nhất.
3.
Ngoài chế độ quy định tại khoản 2 Điều này, trại viên còn được
cấp:
c) Đối
với trại viên ở cơ sở giáo dục bắt buộc từ thành phố Đà Nẵng trở ra phía Bắc được
cấp 01 chăn bông/02 năm có vỏ nặng không quá 02kg”.
Điều 9. Sửa đổi, bổ sung Điều 38 như sau:
“1.
Trại viên có thành tích trong rèn luyện, học tập và chấp hành tốt quy định của
pháp luật, nội quy cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc lập công thì được khen thưởng bằng
một hoặc nhiều hình thức sau đây:
a)
Biểu dương; tặng tiền hoặc hiện vật;
b)
Tăng số lần và thời gian thăm gặp người thân thích, số lần liên lạc bằng điện
thoại hoặc kết nối hình ảnh, âm thanh bằng phương tiện điện tử và số lần nhận
quà hoặc số lượng quà được nhận;
c)
Được đề nghị xét giảm hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại.
2.
Trại viên vi phạm nội quy thì tùy theo tính chất và mức độ vi phạm sẽ bị kỷ luật
bằng một trong các hình thức:
a)
Khiển trách;
b) Cảnh
cáo;
c)
Cách ly với trại viên khác tại buồng kỷ luật từ 05 đến 10 ngày. Trong thời gian
cách ly không được thăm gặp người thân thích.
d) Hạn
chế số lần thăm gặp người thân thích, số lần liên lạc bằng điện thoại hoặc kết
nối hình ảnh, âm thanh bằng phương tiện điện tử, số lần và số lượng nhận quà.”
Điều 10. Sửa đổi, bổ sung khoản 1, khoản 2 Điều 39 như sau:
“1.
Chế độ thăm gặp người thân thích
a)
Trại viên được thăm gặp người thân thích mỗi tháng 02 lần, mỗi lần không quá 02
giờ tại nhà thăm gặp của cơ sở giáo dục bắt buộc và phải chấp hành đúng quy định
về thăm gặp. Trường hợp thăm gặp thêm giờ thì phải được sự đồng ý của Giám đốc
cơ sở giáo dục bắt buộc, nhưng không quá 04 giờ;
b)
Trại viên phải có 03 tháng liên tục xếp loại khá, tốt liền kề với thời điểm
thăm gặp và có đơn đề nghị thì Giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc có thể cho gặp
vợ hoặc chồng đến 24 giờ trong một lần và được ở lại qua đêm tại nhà thăm gặp của
cơ sở giáo dục bắt buộc. Vợ hoặc chồng đến thăm và được nghỉ qua đêm thì phải
có thêm Giấy chứng nhận hoặc trích lục kết hôn hoặc Giấy xác nhận tình trạng
hôn nhân của Ủy ban nhân dân cấp xã thể hiện là vợ hoặc chồng;
c)
Thời gian thăm gặp được tổ chức tất cả các ngày trong tuần, ngày nghỉ, ngày lễ,
tết. Thời gian tổ chức cho trại viên thăm gặp người thân thích theo thời gian
làm việc của cơ sở giáo dục bắt buộc, trường hợp ngoài giờ do Giám đốc cơ sở
giáo dục bắt buộc quyết định;
d) Đối
với người thân thích đến thăm gặp trại viên lần đầu phải có đơn đề nghị thăm gặp,
được Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi cư trú xác nhận. Từ các lần
gặp sau, người thân thích đến gặp phải là người có tên trong Sổ thăm gặp và xuất
trình Căn cước hoặc Căn cước công dân hoặc Hộ chiếu hoặc sử dụng ứng dụng VNeID
để làm thủ tục. Trường hợp người thân thích đến thăm gặp trại viên không có các
giấy tờ nêu trên thì phải có đơn đề nghị có dán ảnh đóng dấu giáp lai được xác nhận
của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi cư trú hoặc của cơ quan, tổ
chức nơi người đó làm việc, học tập. Cơ sở giáo dục bắt buộc cấp sổ thăm gặp
theo mẫu thống nhất có danh sách của người thân thích trại viên. Giám đốc cơ sở
giáo dục bắt buộc ký tên, đóng dấu vào sổ thăm gặp. Sổ thăm gặp phải được Ủy
ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi cư trú xác nhận lần đầu tiên hoặc
khi có sự thay đổi về người thân thích.
Người
thân thích đến thăm gặp trại viên phải chấp hành đúng quy định của pháp luật, nội
quy nhà thăm, gặp và theo sự hướng dẫn của cán bộ cơ sở giáo dục bắt buộc;
đ) Đối
với cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đến thăm gặp trại viên do Giám đốc cơ sở
giáo dục bắt buộc quyết định, phải có: Công văn đề nghị của cơ quan, tổ chức hoặc
đơn đề nghị của cá nhân có xác nhận của Ủy ban nhân dân nơi cư trú hoặc cơ
quan, tổ chức nơi làm việc nêu rõ lý do; khi đến thăm gặp phải xuất trình Căn
cước hoặc Căn cước công dân hoặc Hộ chiếu hoặc sử dụng ứng dụng VNeID để làm thủ
tục;
g)
Trại viên vi phạm Nội quy cơ sở giáo dục bắt buộc đang bị cách ly tại buồng kỷ luật
hoặc trại viên đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì không được
thăm gặp người thân thích.
2.
Chế độ liên lạc
a)
Trại viên được gửi thư và nhận thư qua đường bưu chính; thư được kiểm duyệt trước
khi nhận, gửi; trại viên không được gửi, nhận thư nếu nội dung không phù hợp,
không đúng với thuần phong mỹ tục, không mang tính chất giáo dục;
b)
Trại viên được liên lạc với người thân thích bằng điện thoại hoặc kết nối hình ảnh,
âm thanh bằng phương tiện điện tử mỗi tháng 02 lần, mỗi lần không quá 10 phút.
Trường hợp trại viên có nhu cầu trao đổi với người thân thích để giải quyết những
vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích chính đáng của trại viên hoặc vì công tác
giáo dục thì Giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc cho tăng thêm số lần, thời gian
liên lạc với người thân thích. Trước khi liên lạc với người thân thích, trại
viên phải đăng ký theo quy định của cơ sở giáo dục bắt buộc; trường hợp cán bộ
cơ sở giáo dục bắt buộc phát hiện nội dung liên lạc không đúng với nội dung đã
đăng ký sẽ bị chấm dứt liên lạc;
c)
Trại viên vi phạm Nội quy cơ sở giáo dục bắt buộc đang bị cách ly tại buồng kỷ luật
hoặc trại viên đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì không được
liên lạc điện thoại hoặc kết nối hình ảnh, âm thanh bằng phương tiện điện tử, gửi
thư với người thân thích.”
Điều 11. Bổ sung khoản 5 Điều 51 như sau:
“5.
Phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính xây dựng quy chế phối hợp
liên ngành trong công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chế độ, chính sách
đối với học sinh, trại viên.”
Điều 12. Sửa đổi Điều 53 như sau:
“Điều
53. Trách nhiệm của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Phối
hợp với Bộ Công an xây dựng các nội dung sau:
1.
Xây dựng chương trình giáo dục cho trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc;
chỉ đạo Sở Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn, kiểm tra chất lượng học tập, tổ chức
thi và cấp văn bằng, chứng chỉ hoặc bằng tốt nghiệp tương ứng với chương trình
học cho học sinh, trại viên và hỗ trợ sách giáo khoa, tập huấn giáo viên giảng
dạy cho trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc; tạo điều kiện cho học sinh
khi ra trường được tiếp tục học tập tại nơi cư trú của họ.
2.
Xây dựng chương trình giáo dục hướng nghiệp, hướng dẫn tổ chức đào tạo nghề
nghiệp và thực hiện các chế độ bảo hiểm lao động cho học sinh, trại viên theo
quy định của pháp luật; việc hòa nhập cộng đồng cho học sinh, trại viên.”
Điều 13. Sửa đổi, bổ sung Điều 55 như sau:
“Điều
55. Trách nhiệm của Bộ Tài chính
1. Tổng
hợp, cân đối, bố trí kinh phí quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành
chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộc trình cấp có thẩm
quyền phê duyệt; gửi Bộ Công an để theo dõi, thực hiện theo thẩm quyền.
2.
Hướng dẫn, kiểm tra việc quản lý, sử dụng kinh phí quy định chế độ áp dụng biện
pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộc.”
Điều 14. Bãi bỏ Điều 54.
Điều 15. Bãi bỏ Điều 56.
Điều 16. Bãi bỏ cụm từ
“Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội” tại khoản 4 Điều 51
Điều 17. Thay thế một
số cụm từ tại một số điều, khoản sau đây:
1.
Thay thế cụm từ “Thân nhân” bằng cụm từ “Người thân thích” tại khoản
5, 8 Điều 3, khoản 1 Điều 4, khoản 3 Điều 12, khoản 3 Điều 20, khoản 1 Điều 25, khoản 1, 2 Điều 26, khoản 7 Điều 34, khoản 1,2 Điều 38, khoản 3 Điều 39, khoản 1 Điều 40, Điều 41, khoản 4 Điều 42, khoản 1, 2 Điều 43 và các biểu mẫu
trong áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo
dục bắt buộc quy định tại Điều 58;
2.
Thay thế cụm từ “Công an cấp huyện” bằng cụm từ “Công an cấp xã” tại khoản 1 Điều 5, khoản 5 Điều 6, khoản 1 Điều 9, khoản 1, 4 Điều 10,
khoản 1, 3, 5, 6 Điều 12, khoản 1, 2, 3 Điều 13, khoản 2 Điều
14, khoản 1 Điều 25, khoản 2 Điều 28, khoản 1 Điều 40, khoản 1,2 Điều 42, khoản 1, 2 Điều 43 và khoản 1 Điều 44 và
các biểu mẫu trong áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng,
cơ sở giáo dục bắt buộc quy định tại Điều 58;
3.
Thay thế cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện” bằng cụm từ “cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản trở lên” tại khoản 3, 4 Điều 3,
khoản 3 Điều 12, khoản 1 Điều 14, khoản 1, 3, 4, 5 Điều 15,
khoản 1 Điều 25, khoản 1 Điều 28, khoản 1, 3, 4, 5 Điều 29,
khoản 4,7 Điều 34 và khoản 1 Điều 40;
4.
Thay thế cụm từ “Tòa án nhân dân cấp huyện” bằng cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực”
tại Điều 5, khoản 5 Điều 6, khoản 3, 4, 6 Điều 12, khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 1 Điều 25, khoản
1 Điều 28, Điều 29, khoản 1 Điều 40, khoản 1, 2 Điều 42 và khoản 1, 2 Điều 43
và các biểu mẫu trong áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng,
cơ sở giáo dục bắt buộc quy định tại Điều 58;
5.
Thay thế cụm từ “Phòng Giáo dục và Đào tạo” bằng cụm từ “Sở Giáo dục và Đào tạo”
tại khoản 1 Điều 20;
6.
Thay thế cụm từ “Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội” bằng cụm từ “Bộ Giáo dục
và Đào tạo” tại khoản 2 Điều 20 và khoản 3 Điều 36;
7.
Thay thế cụm từ “Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện” bằng cụm từ “Viện kiểm sát
nhân dân khu vực” tại khoản 1 Điều 25, khoản 1 Điều 40.
8.
Thay thế cụm từ “Chứng minh nhân dân” bằng cụm từ “Căn cước” ở các biểu mẫu
trong áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo
dục bắt buộc quy định tại Điều 58.
Điều 18. Điều khoản thi hành
1.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 5 năm 2026.
2. Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan
chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
|
Nơi nhận:
- Ban Bí thư
Trung ương Đảng;
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
- HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Tổng Bí thư;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
- Văn phòng Quốc hội;
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Kiểm toán nhà nước;
- Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- Cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội;
- VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTg, TGĐ Cổng TTĐT, các Vụ, Cục, đơn vị trực
thuộc, Công báo;
- Lưu: VT, NC (2).
|
TM. CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG
Phạm Minh Chính
|