|
ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG TRỊ
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 3094/QĐ-UBND
|
Quảng Trị, ngày 12 tháng 12 năm 2025
|
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC BAN HÀNH ĐỀ ÁN “NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ PHONG TRÀO
TOÀN DÂN THAM GIA BẢO VỆ CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ, AN NINH BIÊN GIỚI QUỐC GIA GIAI ĐOẠN
2026 - 2030 VÀ NHỮNG NĂM TIẾP THEO”
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
Căn cứ Luật Tổ chức
chính quyền địa phương số 72/2025/QH15;
Căn cứ Luật Biên giới
quốc gia năm 2003;
Căn cứ Luật Biên phòng
Việt Nam số 66/2020/QH14 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 98/2025/QH15;
Căn cứ Kết luận số
99-KL/TW ngày 17/10/2024 của Bộ Chính trị về Đề án “Xây dựng nền biên phòng
toàn dân, thế trận biên phòng toàn dân trong nền quốc phòng toàn dân, thế trận
quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh Nhân dân, thế trận an ninh Nhân dân ở
khu vực biên giới”;
Căn cứ Chỉ thị số
01/CT-TTg ngày 09/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức phong trào “Toàn
dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình
hình mới”;
Căn cứ Hướng dẫn số
7210/HD-BQP ngày 13/8/2015 của Bộ Quốc phòng về tổ chức phong trào “Toàn dân
tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình
mới”;
Căn cứ Quyết định số
626/QĐ-UBND ngày 28/7/2025 của UBND tỉnh Quảng Trị về việc thành lập Ban Chỉ đạo
phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc
gia tỉnh Quảng Trị;
Xét đề nghị của Ban Chỉ
huy Bộ đội Biên phòng tại Tờ trình số 1711/TTr-BCH ngày 27 tháng 11 năm 2025.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Đề án “Nâng cao chất lượng,
hiệu quả phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên
giới quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 và những năm tiếp theo”.
Điều 2. Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh chủ trì, phối hợp với
các đơn vị, địa phương liên quan tổ chức thực hiện có hiệu quả Đề án này.
Điều 3. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký và thay thế Quyết
định số 1555/QĐ-UBND ngày 20/6/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị (cũ) về
việc ban hành Đề án “Nâng cao chất lượng, hiệu quả phong trào toàn dân tham gia
bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia giai đoạn 2019 - 2029”.
Điều 4. Chánh Văn phòng UBND tỉnh; Chỉ huy trưởng, Chính Ủy ban Chỉ
huy Bộ đội Biên phòng tỉnh; các cơ quan, đơn vị, địa phương liên quan chịu
trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
Nơi nhận:
- Bộ Quốc
phòng;
- Bộ Tư lệnh BĐBP;
- TT Tỉnh ủy, TT HĐND tỉnh;
- Đảng ủy UBND tỉnh;
- Chủ tịch; các PCT UBND tỉnh;
- UBMTTQ Việt Nam tỉnh;
- Ban Nội chính TU;
- Ban Chỉ huy BĐBP tỉnh;
- Các sở, ban, ngành;
- UBND các xã, phường, đặc khu;
- Lưu VT, NC
|
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Hoàng Nam
|
ĐỀ ÁN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ PHONG TRÀO TOÀN DÂN THAM GIA BẢO
VỆ CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ, AN NINH BIÊN GIỚI QUỐC GIA, GIAI ĐOẠN 2026 - 2030 VÀ NHỮNG
NĂM TIẾP THEO
(Ban hành kèm theo Quyết định số 3094/QĐ-UBND ngày 12/12/2025 của UBND tỉnh
Quảng Trị)
Phần thứ nhất
SỰ CẦN THIẾT VÀ CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
I. SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG
ĐỀ ÁN
1. Tình hình chung
Tỉnh Quảng Bình và tỉnh Quảng
Trị (cũ) sau khi sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh thành tỉnh Quảng Trị. Là tỉnh
thuộc khu vực Bắc Trung Bộ, có diện tích tự nhiên 12.700km2, quy mô
dân số 1.870.845 người; phía Bắc giáp tỉnh Hà Tĩnh; phía Nam giáp thành phố Huế;
phía Đông giáp Biển Đông; phía Tây giáp 3 tỉnh Khăm Muồn, Sa Vẳn Nạ Khẹt và Sa Lạ Văn, nước
CHDCND Lào. Vị trí địa lý của tỉnh có tầm chiến lược quan trọng trong quốc
phòng, an ninh; thuận lợi trong mở rộng hợp tác kinh tế, vận tải quốc tế, giao
thương hàng hóa, phát triển thương mại, dịch vụ và du lịch với các địa phương
trong nước và các nước trong khu vực.
Tuyến biên giới đất liền
tiếp giáp với 03 tỉnh (Khăm Muồn, Sa Vẳn Nạ Khẹt và Sa Lạ Văn) nước CHDCND Lào
dài 409,982km. Có 128 vị trí/134 mốc quốc giới (từ chân mốc 515 đến chân mốc
644; 36 cọc dấu và 02 cọc dấu không ghi số)[1]; 3 cặp cửa khẩu quốc tế; 5 cặp cửa khẩu phụ; 6 lối mở
truyền thống và nhiều đường mòn qua lại biên giới. Khu vực biên giới (KVBG) đất
liền, gồm 15 xã, diện tích 6.018,01 km2, dân số 37.580 hộ/ 163.115
khẩu (trong đó có 81 thôn, bản/ 10.230 hộ/ 46.085 khẩu giáp biên giới); 16 đồn
Biên phòng đóng quân trên địa bàn.
Tuyến biên giới biển dài
191,285km và 7,5km chu vi đường mép nước quanh đảo Cồn Cỏ (diện tích đảo 2,3km2),
03 cửa khẩu cảng biển. KVBG gồm 20 xã, phường và đặc khu Cồn Cỏ, diện tích
1.477,63 km2, dân số 147.459 hộ/ 622.976 khẩu (trong đó có 127 thôn, khu phố/ 35.813
hộ/ 149.527 khẩu giáp bờ biển); 10 đồn Biên phòng đóng quân trên địa bàn.
2. Tình hình khu vực
biên giới, biển, đảo tỉnh Quảng Trị
Trong những năm qua, chủ
quyền lãnh thổ, an ninh trật tự trên hai tuyến biên giới, biển, đảo trên địa
bàn tỉnh cơ bản ổn định; hệ thống đường biên, mốc quốc giới cơ bản đảm bảo nguyên
trạng; kinh tế, xã hội có nhiều chuyển biến tích cực, toàn diện, quốc phòng, an
ninh, đối ngoại được tăng cường. Nhân dân KVBG có truyền thống cách mạng, đoàn
kết, tương thân, tương ái, luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và sự nghiệp
đổi mới của đất nước, cơ bản chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cấp ủy đảng, chính quyền địa phương thường
xuyên được củng cố, kiện toàn, hoạt động nền nếp, có mối quan hệ phối hợp chặt
chẽ với các cơ quan, đơn vị, lực lượng vũ trang đứng chân trên địa bàn; triển
khai hiệu quả
các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo gắn với củng cố
quốc phòng, an ninh, nhiều chỉ tiêu đạt kết quả cao. Sau khi mô hình chính quyền
địa phương 2 cấp chính thức đi vào vận hành, cấp ủy, chính quyền các xã, phường
biên giới và đội ngũ cán bộ công chức được kiện toàn đầy đủ về số lượng, bố
trí, sắp xếp hợp lý, hài hòa và giữ vững mối quan hệ đoàn kết nội bộ; nhanh
chóng đi vào hoạt động, chỉ đạo, điều hành các hoạt động xây dựng đảng, phát
triển kinh tế - xã hội đảm bảo hiệu lực, hiệu quả; dư luận quần chúng Nhân dân ổn
định đồng thuận, đồng tình cao với chủ trương sáp nhập, tinh gọn bộ máy của
Trung ương. Đời sống Nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng lên, góp phần
quan trọng xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân (QPTD), an ninh Nhân dân
(ANND), biên phòng toàn dân (BPTD) và thế trận lòng dân ngày càng vững chắc.
Tuy nhiên, các thế lực thù
địch không từ bỏ âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ,
triệt để lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân quyền, những khó khăn ở KVBG để
tuyên truyền xuyên tạc, kích động, lôi kéo, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.
Kinh tế - xã hội vẫn còn khó khăn, hạ tầng đầu tư chưa đồng bộ, tỷ lệ hộ nghèo,
hộ cận nghèo còn cao, một bộ phận quần chúng trình độ nhận thức hiểu biết pháp
luật còn hạn chế, phong tục tập quán còn lạc hậu; tình trạng khiếu nại, khiếu
kiện, tụ tập đông người liên quan đến đền bù, giải phóng mặt bằng, gây cản trở
việc triển khai các công trình dự án trọng điểm; vấn đề người di cư tự do, kết
hôn không giá thú 2 bên biên giới chưa được giải quyết dứt điểm, tiềm ẩn nhiều
hệ lụy phức tạp
về hộ tịch, cư trú và an ninh trật tự; hoạt động của các loại tội phạm vi phạm
pháp luật, nhất là tội phạm ma túy, vật liệu nổ, pháo nổ, buôn lậu, gian lận
thương mại, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, xuất nhập cảnh trái
phép, vi phạm lĩnh vực lâm, thủy sản,... ngày càng tinh vi, phức tạp; thiên
tai, dịch bệnh, sự cố môi trường biển, đại dịch Covid-19. Công tác triển khai mô
hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp và sắp xếp tổ chức lại các cơ quan,
đơn vị bước đầu vẫn gặp một số vấn đề khó khăn, vướng mắc...đã ảnh hưởng đến
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đời sống Nhân dân và công tác quản lý, bảo
vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới trên địa bàn tỉnh.
Trên biển, có nhiều diễn
biến ngày càng phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ xung đột, đe dọa môi trường hoà bình, ổn
định, hợp tác và phát triển ở Biển Đông. Hoạt động của tàu thuyền nước ngoài
xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền khai thác thủy sản, tài nguyên trái phép; một
bộ phận ngư dân vì lợi ích kinh tế và do ý thức chấp hành pháp luật kém vẫn cố
tình tái diễn các hoạt động vi phạm vùng biển nước ngoài khai thác hải sản bất
hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), việc tranh chấp ngư trường,
khai thác hải sản tận diệt bằng hình thức giã cào, dùng thuốc nổ, xung điện làm
hủy hoại môi trường sinh thái biển... vẫn còn xảy ra làm ảnh hưởng đến lợi ích
của người dân và sự phát triển bền vững của ngành thủy sản.
3. Tình hình khu vực
biên giới 3 tỉnh Khăm Muồn, Sa Vẳn Nạ Khẹt và Sa Lạ Văn (CHDCND Lào)[2]
Nền kinh tế Lào sau thời
gian dài khủng hoảng, đã có dấu hiệu phục hồi, tỷ lệ lạm phát giảm dần. Chính phủ
Lào triển khai việc sắp xếp, tổ chức lại các cơ quan trực thuộc Chính phủ và
các tỉnh, thành phố; đồng thời có nhiều chủ trương, giải pháp phục hồi nền kinh
tế. Các tổ chức phản động tăng cường tuyên truyền, lôi kéo chống phá Bạn và
chia rẽ tình đoàn kết, hữu nghị Việt Nam - Lào.
Trên địa bàn 3 tỉnh của Bạn,
tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội KVBG cơ bản ổn định, cấp ủy
chính quyền, các lực lượng bảo vệ biên giới và Nhân dân phía Bạn luôn giữ gìn
và phát huy truyền thống quan hệ đoàn kết, hữu nghị đặc biệt với tỉnh Quảng Trị.
Duy trì tốt mối quan hệ thân tộc, dân tộc giữa Nhân dân hai bên biên giới đã có
từ lâu đời; tập trung xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở, phát triển
kinh tế xã hội ở KVBG, xây dựng biên giới hòa bình, ổn định và phát triển. Tuy
nhiên, còn nổi lên một số vấn đề đáng chú ý như: Phân bố dân cư thưa thớt, kinh
tế phát triển chậm, chủ yếu dựa vào khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên hiện
có và nguồn đầu tư nước ngoài; sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp; hàng hóa sản
xuất trong nước hạn chế, chính sách quản lý thuế đối với một số mặt hàng có nhiều
điểm khác biệt so với Việt Nam; hạ tầng chưa được đầu tư đồng bộ; hệ thống
chính trị cơ sở hoạt động hiệu quả thấp; đời sống còn nhiều khó khăn. Hoạt động
của các loại tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn
giáo, mua bán, vận chuyển, sử dụng trái phép các chất ma túy diễn biến phức tạp.
Hoạt động của các loại tội phạm xâm phạm trật tự an toàn xã hội ngày càng gia
tăng. Tình hình trên đã gây ra nhiều khó khăn, thách thức cho nhiệm vụ bảo vệ
chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia của lực lượng bảo vệ biên giới của
hai nước.
4. Đánh giá 10 năm thực
hiện Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 09/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức
phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc
gia trong tình hình mới
4.1. Công tác lãnh đạo,
chỉ đạo
Thực hiện Chỉ thị số
01/CT-TTg ngày 09/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ (Chỉ thị số 01/CT-TTg) và Hướng
dẫn số 7210/HD-BQP ngày 13/8/2015 của Bộ Quốc phòng (Hướng dẫn số 7210/HD-BQP)
về việc tổ chức phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh
biên giới quốc gia trong tình hình mới. Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân
(UBND) tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị (cũ), đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và ban
hành nhiều văn bản cụ thể hoá tiền khai thực hiện Phong trào “Toàn dân tham gia
bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới” trên
địa bàn 2 tỉnh.
Các cấp ủy đảng, chính quyền,
các ngành, đoàn thể địa phương tổ chức quán triệt sâu sắc đường lối, chủ trương
của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về nhiệm vụ xây dựng, quản lý, bảo
vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới... ban hành các
chương trình, đề án, kế hoạch hành động cụ thể, phù hợp với đặc điểm tình hình
của từng địa phương, nhất là các xã biên giới đất liền; đồng thời, tập trung đầu
tư phát triển kết cấu hạ tầng, hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội ở KVBG, góp phần ổn định đời sống
nhân dân. Công tác phối hợp giữa các sở, ban, ngành với lực lượng Bộ đội Biên
phòng (BĐBP), Công an, Quân sự và chính quyền địa phương ở cơ sở được tăng cường,
đảm bảo thống nhất, đồng bộ, hiệu quả.
Qua 10 năm triển khai thực
hiện Chỉ thị số 01/CT-TTg đã đạt nhiều kết quả quan trọng, nổi bật. Chủ quyền
lãnh thổ được giữ vững; hệ thống chính trị ở khu vực biên giới (KVBG) được củng
cố; sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong quản lý, bảo
vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia được phát huy; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã
hội, củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng khu vực biên giới vững mạnh; qua đó
thế trận biên phòng toàn dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận
an ninh nhân dân được củng cố vững chắc.
4.2. Công tác tuyên
truyền, phổ biến, quán triệt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước về nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ biên giới
Các cơ quan, ban, ngành,
các lực lượng đã chủ động tham mưu cho cấp ủy, chính quyền và Hội đồng phối hợp
tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật của 2 tỉnh tổ chức học tập, quán triệt
các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Chính phủ, của Tỉnh ủy, các chỉ thị, kế hoạch
của UBND tỉnh, các văn bản pháp luật Nhà nước về biên giới; đồng thời đẩy mạnh
công tác tuyên truyền giáo dục, quán triệt cho cán bộ, đảng viên, mọi tầng lớp
Nhân dân các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
liên quan đến nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia,
xây dựng KVBG vững mạnh, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, huyện vững chắc, với
nhiều nội dung, hình thức, biện pháp đa dạng, phong phú như[3]. Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về Luật Biên giới quốc
gia, Luật Biển Việt Nam, Luật Biên phòng Việt Nam[4]... Qua đó tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách
nhiệm, hành động trong thực hiện phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền
lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia; mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị đặc biệt
Việt Nam - Lào, nhất là giữa cán bộ và Nhân dân hai bên biên giới, tiếp tục được
củng cố và tăng cường; góp phần xây dựng khu vực biên giới hòa bình, ổn định, hợp
tác và phát triển.
4.3. Kết quả 10 năm thực
hiện Chỉ thị số 01/CT-TTg
a) Công tác phối hợp tổ chức
phong trào
Bộ Chỉ huy BĐBP 2 tỉnh
(cũ) đã phát huy tốt vai trò của cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo thực hiện Chỉ
thị số 01/CT-TTg của tỉnh, trực tiếp tham mưu cho UBND tỉnh đồng thời phối hợp
chặt chẽ với UBMTTQ Việt Nam tỉnh, các sở, ban, ngành, các tổ chức chính trị -
xã hội và chính quyền địa phương ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn triển
khai thực hiện phong trào phù hợp với đặc điểm tình hình của từng địa bàn, trên
hai tuyến biên giới. Đảng ủy, Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh đã cụ thể hoá nội dung Chỉ
thị số 01/CT-TTg, các chủ trương của Tỉnh ủy, UBND tỉnh vào Chương trình phối hợp
với các sở, ban, ngành, tổ chức chính trị-xã hội, huyện ủy. Đồng thời, chỉ đạo
các đồn Biên phòng tham mưu cho UBND các huyện thành lập Ban Chỉ đạo, ban hành
các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn và phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương
các xã biên giới triển khai thực hiện.
Đã phát động các thôn, bản
giáp biên giới tham gia “Tự quản đường biên, mốc quốc giới”, các thôn, bản
tham gia “Tự quản an ninh trật tự thôn, bản”. Ở khu vực biên giới biển
đã phát động, xây dựng được các ban và tổ “Tự quản tàu thuyền, bến bãi an
toàn”, “Tổ tàu thuyền đoàn kết trên biển”[5]; các thuyền viên trên các tàu thuyền đánh bắt xa bờ đăng
ký tham gia đấu tranh trên biển và đăng ký sẵn sàng làm nhiệm vụ đấu tranh chống
“NN” hạ đặt giàn khoan, hỗ trợ giúp đỡ nhau đánh bắt hải sản đồng thời tham gia
phối hợp bảo vệ chủ quyền vùng biển. Các tổ tự quản đã phát huy vai trò nòng cốt
trong công tác tuyên truyền, vận động Nhân dân chấp hành chủ trương, đường lối
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về biên giới quốc gia và các quy định
về an ninh, trật tự tại địa phương. Chủ động phối hợp với Đồn Biên phòng, Công
an xã, chính quyền địa phương trong việc nắm tình hình, trao đổi thông tin, kịp
thời phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật trên địa bàn; tích cực
phối hợp tham gia cùng lực lượng BĐBP tuần tra, kiểm soát đường biên, mốc quốc
giới.
Hàng năm, vào dịp Ngày
biên phòng toàn dân (03/3) UBMTTQ Việt Nam tỉnh đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Chỉ
huy BĐBP tỉnh chỉ đạo, hướng dẫn chính quyền địa phương cấp xã phối hợp với các
đồn Biên phòng tổ chức tốt các hoạt động “Ngày hội Biên phòng toàn dân”, gắn với
sơ kết, đánh giá kết quả thực hiện Phong trào “Toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền
lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia” với nhiều nội dung, hình thức phong phú,
đa dạng.
b) Tham gia công tác quản
lý, bảo vệ biên giới quốc gia
Cấp ủy, chính quyền, các
đơn vị lực lượng vũ trang chủ động triển khai thực hiện đồng bộ, nghiêm túc các
chủ trương, giải pháp, chính sách của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc
phòng, Tỉnh ủy, UBND tỉnh về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. BĐBP tỉnh đã bám sát
chức năng, nhiệm vụ, phát huy tốt vai trò là lực lượng nòng cốt chuyên trách,
đã triển khai đồng bộ các biện pháp quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, chủ động
nắm, phân tích, đánh giá tình hình toàn diện và có chiều sâu, kịp thời phát hiện,
đấu tranh, ngăn chặn mọi âm mưu, thủ đoạn hoạt động của địch và các loại đối tượng,
nhất là các hành vi lợi dụng tôn giáo, dân tộc để chống phá Đảng và Nhà nước,
chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn
xã hội ở KVBG; phát huy mạnh mẽ sự vào cuộc của các cấp, các ngành, các lực lượng
và Nhân dân tham gia hoạt động tuần tra bảo vệ đường biên, mốc quốc giới, vùng
biển; thực hiện
nghiêm Nghị định thư về biên giới và mốc quốc giới, Hiệp định về Quy chế quản
lý biên giới và cửa khẩu biên giới Việt Nam - Lào, Hiệp định phân định Vịnh Bắc
bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng
công nghệ thông tin, phương tiện kỹ thuật hiện đại vào quá trình kiểm tra, kiểm
soát tại cửa khẩu, cửa lạch, cảng biển, bảo đảm chặt chẽ, tạo môi trường thông
thoáng, thuận lợi cho người, phương tiện, hàng hóa lưu thông qua lại biên giới,
phát triển kinh tế, xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh trên địa bàn 2 tỉnh.
Các lực lượng Công an,
Quân sự, Biên phòng thực hiện nghiêm túc Nghị định 03/2019/NĐ-CP ngày 05/9/2019
của Chính phủ về phối hợp giữa Bộ Quốc phòng và Bộ Công an trong thực hiện nhiệm
vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng,
chống tội phạm và nhiệm vụ quốc phòng, kịp thời tham mưu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh
xử lý hiệu quả các vụ việc ở KVBG.
Các hoạt động giao lưu, đối
ngoại Nhân dân hai bên biên giới thường xuyên được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo.
Duy trì có hiệu quả hoạt động kết nghĩa cụm dân cư cấp xã, cụm bản, thôn, bản
hai bên biên giới Việt Nam - Lào[6];
kết nghĩa Đồn, Trạm Biên phòng với lực lượng bảo vệ biên giới phía Bạn. Duy trì
hiệu quả Hội đàm thường niên, trao đổi thông tin, phối hợp tuần tra chung, đấu
tranh phòng, chống tội phạm, tuyên truyền vận động nhân dân hai bên biên giới
chấp hành nghiêm các hiệp định, quy chế biên giới, các văn kiện pháp lý đã ký kết.
Tham mưu cho lãnh đạo hai bên thường xuyên tổ chức trao đổi, phối hợp giải quyết
các vấn đề về biên giới giữa hai tỉnh và xử lý các vấn đề xảy ra trên biên giới
theo đúng nguyên tắc, quy định. Phối hợp hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong phát triển
kinh tế - xã hội, phòng chống thiên tai, dịch bệnh và tổ chức các hoạt động văn
hóa, thể dục thể thao, giao lưu hữu nghị biên giới, giao lưu sĩ quan trẻ BĐBP
Việt Nam - Lào. Qua đó, thắt chặt mối quan hệ đoàn kết giữa cấp ủy, chính quyền
địa phương, các đơn vị lực lượng vũ trang và Nhân dân hai bên biên giới, góp phần
tăng cường mối quan hệ hữu nghị đặc biệt, hợp tác toàn diện, cùng nhau bảo vệ,
xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.
Phong trào quần chúng tham
gia giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở KVBG được duy trì và thực
hiện có hiệu quả. Ý thức trách nhiệm tham gia quản lý, bảo vệ đường biên, cột mốc,
dấu hiệu vành đai KVBG, biển báo KVBG, bảo vệ tài nguyên, khoáng sản của người
dân được nâng lên rõ rệt. Nhân dân đã tích cực tham gia cùng lực lượng BĐBP tuần
tra bảo vệ đường biên, cột mốc. Qua phong trào, quần chúng Nhân dân đã cung cấp
cho nhiều nguồn tin có giá trị liên quan đến hoạt động của tội phạm phục vụ
công tác phát hiện và đấu tranh ngăn chặn.
c) Xây dựng khu vực biên
giới vững mạnh toàn diện
Tỉnh ủy, UBND tỉnh và các
cấp, các ngành đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện có hiệu quả
các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với KVBG, đặc biệt là nhiệm vụ
xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở các xã, phường, thị trấn biên giới.
Đã ban hành nhiều Đề án, quy định về tăng cường cán bộ BĐBP đảm nhiệm chức danh
phó bí thư đảng ủy phụ trách cơ sở; tham gia sinh hoạt tại một số chi bộ thôn,
bản; tăng thêm cấp ủy viên tham gia cấp ủy cấp huyện, cấp xã biên giới, biên, đảo;
quy hoạch, tạo nguồn, khuyến khích, thu hút cán bộ cho các xã biên giới khó
khăn. Bộ Chỉ huy BĐBP 2 tỉnh đã phối hợp với các sở, ban, ngành, các huyện biên
giới, biên, đảo và các đơn vị liên quan tiến hành ký kết quy chế, chương trình
phối hợp đồng thời điều chỉnh, bổ sung quy chế, chương trình phối hợp sát với
tình hình thực tế và yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Định kỳ, đột xuất tổ
chức giao ban rút kinh nghiệm và giải quyết các vấn đề phát sinh; hàng năm tổ
chức sơ kết để điều chỉnh, bổ sung quy chế phối hợp.
UBND 2 tỉnh đã tập trung
chỉ đạo triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả chủ trương, giải pháp về phát
triển kinh tế - xã hội, gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh, xây dựng KVBG vững
mạnh; thực hiện có hiệu quả các chương trình, đề án phát triển kinh tế - xã hội;
triển khai các công trình, dự án xây dựng hạ tầng, phát triển kinh tế - xã hội
(hệ thống điện - đường - trường - trạm, hệ thống thủy lợi, công trình nước sạch,
các công trình dân sinh...); quy hoạch hệ thống dân cư, tái định cư các bản
biên giới đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ biên giới quốc gia; hỗ trợ ngư dân
đóng mới, cải hoán, nâng cấp công suất tàu, thuyền vươn xa đánh bắt, khai thác
hải sản giúp ngư dân đầu tư, nâng cấp công suất tàu, thuyền, trang bị ngư lưới
cụ và phương tiện đánh bắt theo hướng hiện đại, chuyển dịch cơ cấu nghề, khai
thác dài ngày các ngư trường xa bờ trên địa bàn tỉnh, tạo cơ sở phát triển thủy
hải sản và tham gia bảo vệ chủ quyền biển đảo; chuyển giao khoa học kỹ thuật,
công nghệ, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, phát huy thế mạnh tại chỗ; xây
dựng các phong trào thi đua làm kinh tế hộ gia đình, sản xuất kinh doanh giỏi;
tiến hành giao rừng, khoán bảo vệ rừng, quy hoạch vùng sản xuất nương rẫy cho
người đồng bào dân tộc thiểu số bảo vệ và hưởng lợi lâu dài; quan tâm đầu tư
xây dựng các công trình lưỡng dụng trên địa bàn biên giới vừa phục vụ cho phát
triển kinh tế - xã hội của địa phương, vừa phục vụ cho nhiệm vụ quốc phòng, an
ninh.... Các cấp, các ngành trong tỉnh đã tích cực, chủ động phát huy mọi nguồn
lực hướng về biên giới, vùng biển để giúp đỡ Nhân dân phát triển kinh tế - xã hội,
xoá đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới với nhiều mô hình, chương trình, việc
làm hiệu quả, thiết thực, tạo sức lan toả rộng khắp.
Công tác xây dựng BĐBP,
các đơn vị lực lượng vũ trang ở biên giới, biển, đảo được các cấp ủy Đảng,
chính quyền, UBMTTQ, các ban, ngành, đoàn thể tỉnh quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo
và triển khai thực hiện với nhiều chủ trương, biện pháp cụ thể, thiết thực.
Hàng năm HĐND, UBND tỉnh, các huyện, xã biên giới đã quan tâm dành một phần
ngân sách để hỗ trợ các hoạt động thường xuyên, đầu tư tu sửa, xây dựng các đồn,
trạm, tổ công tác Biên phòng và mua sắm các phương tiện phục vụ công tác; triển
khai đầu tư các dự án đường tuần tra biên giới kết nối liên xã, thôn, bản vừa
phục vụ nhiệm vụ bảo vệ biên giới, vừa phát triển kinh tế - xã hội, các đường
giao thông nối vành đai biên giới, càng cá và khu neo đậu tàu thuyền, các công
trình điện, nước phục vụ sinh hoạt, trạm quân dân y kết hợp, sắp xếp, bố trí
dân cư dọc tuyến biên giới; trang cấp các thiết bị văn hóa phục vụ đời sống tinh thần; tổ chức thăm hỏi,
giao lưu văn hóa, văn nghệ... cấp ủy, chỉ huy các đơn vị lực lượng vũ trang thường
xuyên làm tốt công tác chính trị tư tưởng, xây dựng bản lĩnh chính trị, ý chí
quyết tâm thực hiện nhiệm vụ cho cán bộ, chiến sỹ; tích cực triển khai thực hiện
các khâu đột phá về tổ chức biên chế, chấp hành kỷ luật, pháp luật và đổi mới,
nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, trình độ kỹ, chiến thuật,
nghiệp vụ; xây dựng đầy đủ các quyết tâm, phương án chiến đấu, thường xuyên tổ chức tập luyện đảm bảo thực
hiện thắng lợi nhiệm vụ khi có tình huống xảy ra. Công tác tuyên truyền, giáo dục,
động viên, tuyển chọn tạo nguồn con em các dân tộc nhập ngũ vào lực lượng BĐBP
được triển khai thực hiện hiệu quả. Chính sách quân đội và hậu phương quân đội
luôn được quan tâm thực hiện mang lại ý nghĩa và hiệu quả thiết thực.
d) Công tác biểu dương,
khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích tiêu biểu trong tham gia bảo vệ
chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia luôn được lãnh đạo tỉnh quan tâm
và lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quyết liệt, ý nghĩa thiết thực.
Qua 10 năm thực hiện Chỉ
thị số 01/CT-TTg, đã có nhiều tập thể, cá nhân tiêu biểu, có nhiều đóng góp cho
sự nghiệp quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trên địa
bàn 2 tỉnh đã được các cấp ghi nhận, biểu dương[7]. Hằng năm, vào dịp tổ chức “Ngày hội Biên phòng toàn dân”
gắn với sơ kết 01 năm thực hiện Chỉ thị số 01/CT-TTg, UBND các huyện, xã biên
giới đã tặng nhiều giấy khen cho các tập thể, cá nhân có nhiều đóng góp trong
công tác tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới trên địa bàn...
góp phần cổ vũ, động viên các lực lượng và bà con Nhân dân trong công tác quản
lý bảo vệ biên giới.
e) Công tác quản lý, sử dụng
các nguồn kinh phí triển khai phong trào
Trong 10 năm qua, HĐND,
UBND 2 tỉnh và UBND các huyện, xã biên giới, biển, đảo đã quan tâm phân bổ kinh
phí cho các hoạt động phong trào “Toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ,
an ninh biên giới quốc gia” với số tiền là 15.622.290.000 đồng. Bộ Chỉ huy BĐBP
2 tỉnh đã hướng dẫn quản lý, sử dụng kinh phí và thanh quyết toán theo quy định
hiện hành.
* Đánh giá chung:
Qua 10 năm tổ chức triển khai thực hiện Chỉ thị 01/CT-TTg trên địa bàn tỉnh đã
đạt nhiều kết quả quan trọng góp phần xây dựng KVBG vững mạnh toàn diện, bảo vệ
vững chắc chủ quyền lãnh thổ, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội
ở KVBG. Đã xây dựng, thực hiện nhiều mô hình, chương trình, việc làm với nhiều
hoạt động ý nghĩa, hiệu quả thiết thực giúp dân phát triển kinh tế - xã hội, giữ
gìn an ninh trật tự thôn, bản; phát huy được các nội dung ký cam kết nhất là việc
phối hợp chặt chẽ với lực lượng BĐBP trong quản lý, bảo vệ đường biên, mốc quốc
giới. Các cơ quan, ban, ngành, địa phương đã nêu cao tinh thần trách nhiệm
trong đầu tư, xây dựng KVBG về mọi mặt. Đời sống vật chất và tinh thần của Nhân
dân được nâng lên rõ rệt; nhận thức về trách nhiệm và nghĩa vụ trong quản lý bảo
vệ biên giới của các cấp, các ngành và Nhân dân được nâng cao; mối quan hệ đoàn
kết hữu nghị đặc biệt với nước bạn Lào ngày càng phát triển bền chặt; khối đại
đoàn kết toàn dân tộc được củng cố vững chắc, phát huy được sức mạnh tổng hợp của
cả hệ thống chính trị, toàn dân tích cực tham gia quản lý, bảo vệ vững chắc chủ
quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trên địa bàn tỉnh được giữ vững.
4.4. Tồn tại, hạn chế nguyên nhân
a) Tồn tại, hạn chế
Việc triển khai thực hiện Chỉ
thị số 01/CT-TTg ở một số cơ quan, ban, ngành, địa phương có mặt chưa toàn diện,
hiệu quả chưa cao. Công tác phối hợp giữa các ngành với BĐBP có lúc, có thời điểm
chưa được chủ động; chất lượng, hoạt động của các tổ tự quản có nơi chưa hiệu
quả, còn hình thức; việc nhân rộng phong trào chưa được thực hiện thường xuyên
Công tác phối hợp xây dựng
các mô hình tự quản và triển khai các chính sách ưu tiên, hỗ trợ đối với các tập
thể, hộ gia đình, cá nhân tham gia phong trào chưa phát huy hết hiệu quả, có mặt
còn hình thức.
Tính chủ động, sáng tạo của
một số địa phương KVBG chưa được phát huy. Công tác tuyên truyền vận động cán bộ
và Nhân dân ở KVBG chưa sát với tình hình thực tế; việc rà soát, đề xuất khen
thưởng cho các tập thể, cá nhân tiêu biểu trong thực hiện phong trào có lúc
chưa kịp thời.
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo,
tham mưu, đề xuất, phối hợp thực hiện của cơ quan chủ trì và các địa phương
chưa thường xuyên, thiếu đồng bộ, chặt chẽ; tiến độ triển khai công tác quy hoạch
bố trí, ổn định dân cư các xã biên giới Việt Nam - Lào còn chậm.
b) Nguyên nhân
- Nguyên nhân khách quan
Thời tiết khắc nghiệt, thất
thường mưa, lũ kéo dài gây sạt lở, chia cắt, ảnh hưởng đến hệ thống kết cấu cơ
sở hạ tầng, nhất là đường giao thông ở vùng sâu, vùng xa. Trình độ dân trí không
đồng đều, một số tập quán lạc hậu vẫn còn tồn tại, đời sống của một bộ phận đồng bào các dân
tộc còn gặp nhiều khó khăn, nguồn lực của tỉnh còn hạn chế.
Tình hình an ninh biên giới,
an ninh nông thôn, tôn giáo, trật tự an toàn xã hội diễn biến phức tạp. Địa bàn
KVBG còn nhiều khó khăn, ngân sách địa phương hạn hẹp; một số chương trình phát
triển kinh tế xã hội đã được triển khai nhưng chưa được bố trí vốn; một số
chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với Nhân dân KVBG còn thấp, không phù hợp với
tình hình thực tế; thiếu mặt bằng các dự án tái định cư, đất sản xuất cho các hộ
dân ở miền núi.
- Nguyên nhân chủ quan
Nhận thức về trách nhiệm,
nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới, vùng biển, đảo của một số
ban, ngành đoàn thể, một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng Nhân dân chưa
đầy đủ, sâu sắc.
Công tác phối hợp giữa các
cơ quan, đơn vị, địa phương trong quá trình tổ chức thực hiện phong trào có lúc
chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ, chất lượng hiệu quả còn hạn chế. Hệ thống chính
trị cơ sở ở các xã biên giới chưa thật sự vững mạnh; trình độ, năng lực, trách
nhiệm của một bộ phận cán bộ nhất là cán bộ thôn, bản vùng sâu, vùng xa còn hạn
chế; vai trò, trách nhiệm của Tổ trưởng các tổ tự quản chưa được nâng cao.
Công tác quản lý nhà nước
về biên giới có mặt chưa chặt chẽ, tình trạng vi phạm quy chế KVBG, vùng biển,
đảo tiếp tay cho buôn lậu, gian lận thương mại, xuất nhập cảnh trái phép, tội
phạm ma túy... của người dân vẫn còn xảy ra; huy động các nguồn lực trong việc
tổ chức phong trào, duy trì hoạt động tự quản có lúc, có nơi chưa thật sự chủ động,
thiếu đồng bộ.
Công tác phối hợp tuyên
truyền, vận động của một số địa phương, nhất là cấp cơ sở và một số đồn Biên
phòng có thời điểm tiến hành chưa kịp thời, nội dung, hình thức, biện pháp còn
đơn điệu, ít đổi mới; công tác theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc tổ chức, hướng
dẫn Nhân dân hoạt động tự quản, tham gia giải quyết các vụ việc phức tạp ở
KVBG, vùng biển chưa có chiều sâu.
Nhiều nội dung chi, mức
chi đã có sự thay đổi, điều chỉnh theo quy định của Chính phủ và Bộ Tài chính về
chế độ quản lý, sử dụng ngân sách. Kinh phí thực hiện Phong trào chưa đáp ứng với
yêu cầu nhiệm vụ nhất là các đơn vị thuộc BĐBP tỉnh Quảng Bình (cũ).
5.5. Những khó khăn, vướng
mắc sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, triển khai tổ chức chính quyền địa
phương 2 cấp và sắp xếp tổ chức quân sự địa phương
a) Những khó khăn, vướng mắc
sau khi sắp xếp đơn vị hành chính, triển khai tổ chức chính quyền địa phương 2
cấp
Việc triển khai Chỉ thị số
01/CT-TTg trên địa bàn 2 tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị (cũ) có nhiều nội dung,
hình thức, kinh phí tổ chức thực hiện chưa thống nhất.
Sau khi kết thúc hoạt động
của chính quyền cấp huyện và triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, ở
một số xã KVBG, bộ máy mới đi vào hoạt động, trụ sở làm việc đã hư hỏng, xuống
cấp, trang thiết bị còn thiếu, hệ thống hạ tầng thông tin còn chưa đảm bảo, điều
kiện ăn ở, đi lại gặp nhiều khó khăn, khối lượng công việc lớn, trình độ, năng
lực của một bộ phận chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ mới.... ảnh hưởng lớn đến
chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ.
Sau khi sắp xếp đơn vị
hành chính cấp xã của tỉnh Quảng Trị, địa giới hành chính các xã, phường KVBG
được mở rộng, dân số đông (một số xã KVBG đất liền và KVBG biển tiếp giáp nhau)
gây khó khăn cho công tác tổ chức phong trào, nhất là về đối tượng tham gia
theo quy định của Hướng dẫn số 7210/HD-BQP ngày 13/8/2015 của Bộ Quốc phòng.
b) Những khó khăn, vướng mắc
sau khi sắp xếp
tổ chức quân sự địa phương
Sau khi sắp xếp đơn vị
hành chính, triển khai tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp và sắp xếp, tổ chức thành Ban Chỉ
huy BĐBP trực thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, KVBG được mở rộng, trong khi chức
năng, nhiệm vụ của BĐBP, tổ chức biên chế của các đồn Biên phòng không thay đổi.
Vì vậy, sẽ tác động, ảnh hưởng đến thực hiện các nhiệm vụ nhất là việc chủ trì,
duy trì an ninh, trật tự an toàn ở KVBG, cửa khẩu và tổ chức phong trào toàn
dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình
hình mới trên địa bàn tỉnh.
II. CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ
ÁN
1. Chủ trương của Đảng,
Nhà nước
- Nghị quyết số 16-NQ/TW
ngày 10/10/2017 của Bộ Chính trị (Khóa XII) về phát triển kinh tế - xã hội các
xã biên giới đất liền kết hợp với tăng cường và củng cố quốc phòng, an ninh, đối
ngoại;
- Nghị quyết số 33-NQ/TW
ngày 28/9/2018 của Bộ Chính trị (Khóa XII); Nghị quyết số 16/NQ-CP ngày
29/4/2020 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số
33-NQ/TW về Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia;
- Nghị quyết số 44-NQ/TW
ngày 24/11/2023 của Bộ Chính trị (Khóa XIII) về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong
tình hình mới;
- Kết luận số 99-KL/TW
ngày 17/10/2024 của Bộ Chính trị; Đề án số 704-ĐA/QUTW ngày 9/8/2024 của Quân ủy
Trung ương; Quyết định số 89/QĐ-TTg ngày 19/5/2025 của Thủ tướng Chính phủ về Đề
án “Xây dựng nền biên phòng toàn dân, thế trận biên phòng toàn dân trong nền quốc
phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh Nhân dân, thế
trận an ninh Nhân dân ở khu vực biên giới”;
- Luật Tổ chức chính quyền
địa phương ngày 16/6/2025;
- Luật Biên giới quốc gia
năm 2003;
- Luật Biên phòng Việt Nam
năm 2020 và Luật sửa đổi, bổ sung 11 Luật về quân sự, quốc phòng năm 2025;
- Chỉ thị số 01/CT-TTg
ngày 09/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức phong trào toàn dân
tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình
mới.
2. Văn bản các bộ
ngành, Tỉnh ủy, UBND tỉnh
- Hướng dẫn số 7210/HD-BQP
ngày 13/8/2015 của Bộ Quốc phòng thực hiện Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 09/01/2015
của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ
quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới;
- Kế hoạch số 5897/KH-BQP
ngày 19/9/2025 của Bộ Quốc phòng về triển khai thực hiện Quyết định số
89/QĐ-TTg ngày 19/5/2025 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch thực hiện Kết
luận số 99-KL/TW ngày 17/10/2024 của Bộ Chính trị về Đề án “Xây dựng nền biên
phòng toàn dân, thế trận biên phòng toàn dân trong nền quốc phòng toàn dân, thế
trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh Nhân dân, thế trận an ninh Nhân
dân ở khu vực biên giới”;
- Nghị quyết số
28/2023/NQ-HĐND ngày 28/3/2023 của HĐND tỉnh Quảng Trị (cũ) quy định một số mức
chi, nội dung chi đối với phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ,
an ninh biên giới quốc gia trên địa bàn tỉnh Quảng Trị;
- Quyết định số
626/QĐ-UBND ngày 28/7/2025 của UBND tỉnh Quảng Trị về việc thành lập Ban Chỉ đạo
phong trào “Toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc
gia” tỉnh Quảng Trị.
- Công văn số 36-CV/TU
ngày 6/8/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Công văn số 116/UBND-NC ngày
11/9/2025 của UBND tỉnh về việc tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo công tác biên
phòng trong tình hình mới;
- Báo cáo số 121/BC-UBND
ngày 29/4/2025 của UBND tỉnh Quảng Bình (cũ) và Báo cáo số 81/BC-UBND ngày
23/4/2025 của UBND tỉnh Quảng Trị (cũ) về tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số
01/CT-TTg ngày 09/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức phong trào
toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong
tình hình mới.
Phần thứ hai
QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU; NỘI DUNG, PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG; GIẢI PHÁP
THỰC HIỆN
I. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU
1.
Quan điểm
a) Quán triệt, thể chế
quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia; tinh gọn tổ chức
trong hệ thống chính trị nhằm xây dựng bộ máy nhà nước tinh, gọn, hiệu năng, hiệu
lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế
tạo nền tảng vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới; xây dựng lực lượng vũ trang và BĐBP
“tinh, gọn, mạnh” đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Việc xây dựng Đề
án phải đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ trên toàn tỉnh, phù hợp với các đề án,
dự án đã và đang triển khai xây dựng, thực hiện ở KVBG, vùng biển, đảo.
b) Giữ vững, tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy sức
mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân; với sự tham gia tích cực của
các sở, ban ngành, địa phương; củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc;
xây dựng nền BPTD, thế trận BPTD vững mạnh, ổn định lâu dài trong nền QPTD, thế
trận QPTD gắn với thế trận ANND và “thế trận lòng dân” vững chắc là nhân tố quyết
định thắng lợi của sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc
gia.
c) Quản lý, bảo vệ chủ quyền
lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của
toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và của cả hệ thống chính trị; dựa vào dân, lấy
dân làm gốc, Nhân dân là chủ thể, “mỗi người dân biên giới là một cột mốc sống”;
lực lượng vũ trang Nhân dân làm nòng cốt; BĐBP là chuyên trách, cùng với công
an các xã địa bàn biên giới là trước hết, trọng yếu, thường xuyên.
d) Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh
tế - xã hội với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh đối ngoại, trong đó phát triển kinh tế
- xã hội là trung tâm; giữa xây dựng, quản lý với bảo vệ biên giới quốc gia, lấy
xây dựng là trung tâm, quản lý, bảo vệ là trọng yếu,
thường xuyên; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị
và toàn dân để quản lý, bảo vệ và phòng thủ vững chắc biên giới quốc gia, không
ngừng xây dựng biên giới quốc gia hoà bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác và phát
triển bền vững.
e) Phong trào toàn dân
tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia là một nội dung
quan trọng trong công tác tổ chức vận động quần chúng ở KVBG; có mối quan hệ biện
chứng với các phong trào cách mạng khác đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, thống nhất
điều hành, quản lý của Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở.
f) Phát huy tối đa nguồn lực
tại chỗ, đặc biệt là vai trò làm chủ, ý thức tự giác và ý chí vươn lên của Nhân
dân; đảm bảo tính khả thi, kế thừa, phát triển, có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp
với từng đối tượng, địa bàn, lĩnh vực, hướng về cơ sở, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
chính trị và nhu cầu của Nhân dân để tạo sự đồng thuận trong thực hiện. Phát
triển phong trào theo hướng xã hội hoá, “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm
tra”, hướng tới cuộc sống của người dân; lấy phương châm “tự phòng, tự
quản, tự bảo vệ” để triển khai thực hiện đến từng địa phương, cơ quan, đơn
vị, từng tổ chức, hộ gia đình và người dân.
2. Mục tiêu
a) Mục tiêu tổng quát
Xây dựng nền BPTD và thế
trận BPTD vững mạnh, ổn định lâu dài trong nền QPTD, thế trận QPTD gắn với nền
ANND, thế trận ANND ở KVBG, nhằm giữ vững độc lập, chủ quyền thống nhất, toàn vẹn
lãnh thổ và an ninh biên giới quốc gia trên địa bàn tỉnh, bảo đảm hoà bình, hữu
nghị, hợp tác, cùng phát triển với các tỉnh giáp biên giới, phục vụ sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế của tỉnh.
Huy động sức mạnh của Nhân
dân trong phòng
ngừa, phát hiện, đấu tranh ngăn chặn các loại tội phạm, đảm bảo an ninh chính
trị, trật tự an toàn xã hội ở KVBG, góp phần xây dựng, quản lý, bảo vệ vững chắc
chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia và sự nghiệp phát triển kinh tế
- xã hội và hội nhập quốc tế của tỉnh.
Tạo sự chuyển biến về nhận
thức và hành động trong toàn xã hội, nhất là cán bộ, Nhân dân ở KVBG, biển, đảo
về phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc
gia. Phát huy truyền thống yêu nước, nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng của
Nhân dân trước những âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” và bạo loạn lật đổ
của các thế lực thù địch, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Nhân dân.
Vận động toàn dân tham gia bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã
hội; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tài sản, lợi ích hợp pháp của tập thể, cá
nhân.
Xây dựng hệ thống chính trị
ở KVBG tinh gọn và bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Xây
dựng nền tảng chính trị, tinh thần, “thế trận lòng dân” vững chắc ở KVBG. Xây dựng
khối đại đoàn kết toàn dân làm nền tảng cho sự nghiệp củng cố, tăng cường quốc
phòng, an ninh và quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia.
Xây dựng lực lượng bảo vệ
biên giới toàn dân rộng khắp, Nhân dân là chủ thể, lực lượng vũ trang làm nòng
cốt, BĐBP là chuyên trách, cùng với công an các xã địa bàn biên giới là trước hết,
trọng yếu, thường xuyên; đoàn kết, phối hợp chặt chẽ thực hiện tốt nhiệm vụ quản
lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia.
b) Mục tiêu cụ thể
Thường xuyên củng cố, xây
dựng, nâng cao chất lượng toàn diện của hệ thống chính trị ở cơ sở đủ khả năng
lãnh đạo, quản lý, điều hành thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế
- xã hội, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh và đối ngoại của địa phương,
xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống xảy ra ở KVBG. Kết hợp chặt chẽ, đồng bộ,
phát huy hiệu quả phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an
ninh biên giới quốc gia thông qua chương trình, mô hình như “Đảng viên đồn Biên
phòng tham gia sinh hoạt chi bộ thôn, bản”, “Phân công đảng viên đồn Biên phòng
phụ trách hộ gia đình ở KVBG” và cán bộ đồn Biên phòng tham gia cấp ủy các xã,
phường biên giới...
Thành lập, duy trì hoạt động
thường xuyên, hiệu quả mô hình “Tổ tự quản an ninh, trật tự” ở 100% các thôn, bản, khu dân
cư giáp biên giới, bờ biển thuộc xã, phường KVBG (đất liền, biển) và đặc khu Cồn
Cỏ; mô hình “Tự quản đường biên, mốc quốc giới”, mô hình “Kết nghĩa cụm dân cư
hai bên biên giới”, ở các thôn, bản, xã hai bên ở KVBG đất liền; mô hình “Tổ tự
quản tàu thuyền an toàn” ở 100% xã, phường KVBG biển và đặc khu Cồn Cỏ.
Các cơ quan, tổ chức, hộ
gia đình, cá nhân thực hiện đầy đủ trách nhiệm được giao; xây dựng và nhân rộng
các mô hình, cách làm mới, hiệu quả, phù hợp với từng nhóm đối tượng, địa bàn
và nhu cầu của Nhân dân; chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số,
hiện đại hoá trong công tác quản lý phong trào.
Có chế độ chính sách đối với
các tập thể, hộ gia đình, cá nhân tham gia phong trào theo quy định của pháp luật;
đưa ra khỏi phong trào các tập thể, hộ gia đình, cá nhân không đủ điều kiện; tổ
chức công bố quyết định công nhận đối với các đối tượng đăng ký tham gia phong
trào, khen thưởng các tập thể, hộ gia đình, cá nhân có thành tích xuất sắc nhân
dịp “Ngày Biên phòng toàn dân” hàng năm.
Hoàn thành Chương trình hỗ
trợ, tạo điều kiện di giãn dân ra sát biên giới và quy hoạch tổng thể, bố trí sắp
xếp, ổn định dân cư các xã biên giới Việt Nam - Lào trên địa bàn tỉnh; giải quyết
di cư tự do, kết hôn không giá thú trong vùng biên giới Việt Nam - Lào; xây dựng,
hình thành các cụm dân cư thôn, bản biên giới ổn định, phát triển bền vững;
Chương trình xoá nhà tạm, nhà dột nát cho hộ nghèo vùng biên giới. Thực hiện hiệu
quả các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 và các dự án phát
triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; giúp dân xoá
đói giảm nghèo theo hướng bền vững.
Khuyến khích các sở, ban,
ngành, xã, phường thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các doanh nghiệp
lớn kết nghĩa, hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội đối với các xã biên giới, biển,
đảo, các đồn Biên phòng và các lực lượng chức năng đóng quân trên địa bàn; bảo
đảm 100% số xã biên giới đều có sở, ban ngành, đoàn thể, doanh nghiệp đỡ đầu hoặc
hỗ trợ.
II. NỘI DUNG, PHẠM VI,
ĐỐI TƯỢNG CỦA ĐỀ ÁN
1. Nội dung nâng cao chất
lượng, hiệu quả
a) Các hoạt động tham gia
quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, dấu hiệu đường
biên giới quốc gia trên đất liền, mốc quốc giới, các đảo, vùng nước lịch sử,
vùng nội thủy, lãnh hải; quyền chủ quyền, quyền tài phán trên vùng tiếp giáp
lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam.
b) Các hoạt động tham gia
đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, lợi ích quốc gia và bảo vệ chủ quyền, quyền
chủ quyền trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc.
c) Các hoạt động tham gia
đấu tranh, phòng, chống tội phạm, xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã
hội KVBG, vùng biển, đảo của Tổ quốc; vi phạm Hiệp định về Quy chế quản lý biên giới và cửa khẩu
biên giới trên đất liền Việt Nam - Lào; vi phạm quy chế KVBG; xuất nhập cảnh
trái phép; khai thác hải sản bất hợp phát, không báo cáo và không theo quy định
(IUU)...
d) Các hoạt động tham gia
phòng, chống thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, bảo vệ
tài nguyên, môi trường sinh thái, bảo vệ lợi ích quốc gia ở KVBG, vùng biển.
e) Các hoạt động giao lưu,
đối ngoại Nhân dân hai bên biên giới, góp phần xây dựng biên giới hòa bình, ổn
định, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển.
2. Phạm vi: Đề án triển khai tại 35 xã, phường KVBG và 01 đặc khu, tỉnh
Quảng Trị (sau đây viết gọn là xã biên giới):
a) Khu vực biên giới đất liền (15 xã): Tuyên
Lâm; Dân Hóa; Kim Phú; Kim Điền; Thượng Trạch; Trường Sơn; Kim Ngân; Hướng Lập;
Hướng Phùng; Lao Bảo; Lìa; A Dơi; Đakrông; Tà Rụt; La Lay.
b) Khu vực biên giới biển
(20 xã, phường và 01 đặc khu): Phú Trạch; Hoà Trạch; Quảng Trạch; Bắc Gianh; Bắc
Trạch; Đông Trạch; Nam Trạch; Hoàn Lão; Đồng Thuận; Đồng Hới; Ninh Châu; Cam Hồng;
Sen Ngư; Cửa Tùng; Vĩnh Hoàng; Cửa Việt; Bến Hải; Nam Cửa Việt; Triệu Cơ; Mỹ Thủy
và đặc khu Cồn Cỏ.
3. Đối tượng
a) Tập thể là tổ chức cơ sở
của các đoàn thể chính trị - xã hội; doanh nghiệp; thôn, bản, khóm, tổ dân phố;
hợp tác xã; nghiệp đoàn nghề cá, tổ, đội sản xuất, tổ, đội tàu thuyền cùng sinh
hoạt, cùng làm việc chung với nhau được tập hợp có tổ chức ở KVBG, ven biển và
hải đảo do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định thành lập.
b) Hộ gia đình là tập hợp
các thành viên cùng chung sống, có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt
động kinh tế chung, là chủ thể trong các quan hệ sản xuất, kinh doanh, có hộ khẩu
tại KVBG (hoặc có hộ khẩu ở xã) được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định
giao đất, giao rừng, giao diện tích sản xuất diêm nghiệp, nuôi trồng thủy, hải
sản ven biển và hải đảo.
c) Cá nhân là công dân Việt
Nam được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định huy động tham gia phong
trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia; bảo
vệ tài nguyên, môi trường, lợi ích quốc gia; phòng chống thiên tai, hỏa hoạn, dịch
bệnh, tìm kiếm, cửu hộ, cứu nạn ở KVBG, vùng biển, đảo của Tổ quốc.
III. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1. Công tác lãnh đạo,
chỉ đạo
a) Nâng cao hiệu lực, hiệu
quả lãnh đạo, chỉ đạo
Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện
có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị,
Quân ủy Trung ương, Đảng ủy BĐBP, Tỉnh ủy Quảng Trị về xây dựng nền BPTD, thế
trận BPTD, xây dựng, quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia; tinh gọn tổ chức trong
hệ thống chính trị nhằm xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực,
hiệu quả; xây dựng tổ chức quân sự địa phương “tinh, gọn, mạnh” đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ trong tình hình mới; công tác biên phòng, xây dựng lực lượng BĐBP và
cơ chế lãnh đạo, chỉ huy, chỉ đạo, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Chỉ
huy BĐBP thuộc Bộ CHQS tỉnh. Xác định rõ mục tiêu thực hiện phong trào “Toàn
dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia” trong nghị
quyết của các cấp ủy Đảng, kế hoạch của các cấp chính quyền hàng năm để tập
trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện.
Tăng cường sự lãnh đạo của
Tỉnh ủy, UBND tỉnh đối với công tác biên phòng và xây dựng lực lượng BĐBP, nhất
là xử lý giải quyết các vụ việc, sự kiện biên giới. Đảm bảo hiệu quả, thống nhất,
xuyên suốt, không bị gián đoạn, chồng chéo, xử lý kịp thời các tình huống, vụ
việc, không để bị động, bất ngờ trong công tác quản lý, bảo vệ biên giới quốc
gia, duy trì an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở KVBG, cửa khẩu, công
tác đối ngoại biên phòng, ngoại giao Nhân dân.
Thực hiện nghiêm túc, hiệu
quả quy định về đồng chí Phó Bí thư Đảng ủy xã (nơi có biên giới) tham gia Đảng
Ủy ban Chỉ huy BĐBP và tăng thêm cấp ủy viên là cán bộ Đồn Biên phòng tham gia
Đảng ủy xã (nơi có biên giới) tỉnh; Quy chế phối hợp giữa Đảng ủy BĐBP với Tỉnh
ủy Quảng Trị; Chủ trương của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về Đảng viên các đồn Biên
phòng tham gia sinh hoạt tại các chi bộ thôn, bản biên giới và Đảng viên đồn Biên
phòng phụ trách các hộ gia đình ở KVBG, cán bộ đồn tham gia HĐND, MTTQ và các tổ
chức chính trị - xã hội tại các xã biên giới. Nhằm củng cố và nâng cao chất lượng
hệ thống chính trị các xã biên giới vững mạnh, xây dựng các tổ chức Đảng trong
sạch vững mạnh, nội bộ đoàn kết thống nhất; MTTQVN và các đoàn thể quần chúng
các xã biên giới vững mạnh, thực sự là lực lượng nòng cốt xây dựng khối đại
đoàn kết dân tộc.
Rà soát, hoàn chỉnh, ký kết
quy chế, chương trình phối hợp giữa Đảng ủy, Ban Chỉ huy BĐBP tỉnh với Đảng ủy
các xã biên giới, UBMTTQ Việt Nam tỉnh, các sở, ban ngành, đoàn thể và các lực
lượng chức năng có liên quan. Định kỳ, đột xuất tổ chức sơ, tổng kết, kịp thời
điều chỉnh, bổ sung phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Thực hiện hiệu quả Nghị định số
03/2019/NĐ-CP ngày 05/9/2019 của Chính phủ về phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc
phòng thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đấu
tranh phòng, chống tội phạm và nhiệm vụ quốc phòng.
Phát huy vai trò, trách nhiệm
của cơ quan chủ trì (BĐBP tỉnh); tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn
việc triển khai thực hiện phong trào, đảm bảo phát huy hiệu quả, thiết thực.
b) Nâng cao hiệu quả hoạt
động của Ban Chỉ đạo phong trào
Phát huy hiệu quả chức
năng, nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo phong trào “Toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền
lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia” tỉnh Quảng Trị. Thành lập Ban Chỉ đạo
phong trào “Toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc
gia” ở các xã biên giới. Thường xuyên kiện toàn về tổ chức, hoạt động và bảo đảm
điều kiện để Ban Chỉ đạo phong trào ở các cấp hoạt động liên tục, hiệu quả.
Đổi mới nội dung, phương
thức hoạt động của Ban Chỉ đạo các cấp. Chú trọng công tác sơ, tổng kết, đánh
giá, rút kinh nghiệm công tác xây dựng và duy trì hoạt động của phong trào. Các
cơ quan thành viên Ban Chỉ đạo phong trào tăng cường công tác chỉ đạo, hướng dẫn
và phối hợp với các địa phương triển khai thực hiện phong trào; xây dựng và thực
hiện nghiêm quy chế làm việc, quy chế phối hợp nhằm bảo đảm sự chỉ đạo tập
trung, thống nhất
của Ban Chỉ đạo, gắn với việc phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của các cơ
quan, tổ chức thành viên; chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số,
hiện đại hoá trong công tác quản lý phong trào.
2. Đẩy mạnh công tác
tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, tạo sự đồng thuận, thống
nhất cao về tư tưởng và hành động của cán bộ và Nhân dân đối với phong trào
Làm tốt công tác tuyên
truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ và Nhân dân về đường lối, chủ
trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, luật pháp quốc tế và các điều
ước quốc tế có liên quan đến biên giới quốc gia (nhất là 2 văn kiện pháp lý về
biên giới Việt Nam-Lào năm 2016); nhận thức đúng âm mưu, thủ đoạn chống phá, hoạt
động xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ, xâm hại lợi ích quốc gia, dân tộc ở KVBG;
các chương trình phát triển kinh tế, xã hội; thực hiện nếp sống vãn minh gắn với
giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, xóa bỏ phong tục, tập quán lạc hậu, mê tín dị
đoan; truyền thống quan hệ đặc biệt giữa 2 nước Việt Nam-Lào, xây dựng đường
biên giới hoà bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển (tuyến biên giới đất liền)...
Tăng cường bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh, pháp luật về biên giới quốc
gia cho đội ngũ cán bộ.
Thường xuyên tiếp xúc, gặp
gỡ trực tiếp quần chúng để tọa đàm, trao đổi, giải thích, thuyết phục, đồng thời
tranh thủ những người có uy tín trong cộng đồng dân cư để tạo sự đồng thuận.
Xác định nội dung, hình thức,
phương pháp tuyên truyền phù hợp, đa dạng với từng địa bàn, lĩnh vực, điều kiện
và nhận thức của từng nhóm đối tượng; bám sát nhiệm vụ chính trị của địa
phương, tâm tư nguyện vọng của Nhân dân. Nội dung tuyên truyền được biên tập
thành đề cương, ngắn gọn, dễ nói, dễ hiểu, dễ nhớ. Chú trọng công tác tuyên
truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng và tại cộng đồng trong các dịp
như: “Ngày hội quốc phòng toàn dân”; “Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”;
“Ngày hội biên phòng toàn dân”....
3. Xây dựng và nhân rộng
các phong trào, mô hình tự quản, điển hình tiên tiến hoạt động có chiều sâu, hợp
lòng dân, vừa sức dân, vì lợi ích và cuộc sống của Nhân dân
Tập trung đổi mới nội
dung, hình thức, phương pháp hoạt động của các mô hình tự quản ở KVBG, biển, đảo.
Chủ động rà soát, khảo sát địa bàn để xây dựng mới các mô hình; lấy các tổ chức,
lực lượng quần chúng làm nòng cốt, hạt nhân để xây dựng phong trào. Trong đó
quan tâm đặc biệt đến khu vực tập trung đồng bào tôn giáo, dân tộc thiểu số; địa
bàn trọng điểm, phức tạp về an ninh trật tự, an ninh nông thôn, khiếu kiện liên
quan đến đất đai, giải phóng mặt bằng; địa bàn đầu tư các dự án trọng điểm phát triển
kinh tế - xã hội; các thôn, bản giáp với đường biên giới, bờ biển.
Tăng cường công tác phối hợp
giữa các lực lượng, các ngành, các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội ở địa
phương để tổ chức vận động toàn dân tham gia phong trào. Đổi mới công tác vận động
quần chúng và tuyên truyền đặc biệt. Làm tốt công tác hướng dẫn cán bộ, quần
chúng Nhân dân về các nội dung, nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh
biên giới quốc gia; công tác hướng dẫn trao đổi tình hình giữa Đồn, xã, thôn (bản)
với các Tổ tự quản, hộ gia đình, cá nhân tham gia phong trào. Định kỳ, đột xuất
tổ chức giao ban, họp dân để đánh giá kết quả, phổ biến tình hình, thống nhất nội
dung công việc thời gian tới....
Phát huy vai trò của già
làng, trưởng thôn, bản, người có uy tín, Tổ trưởng các tổ tự quản trong công
tác tuyên truyền, vận động quần chúng Nhân dân. Đăng ký, quản lý, huy động nguồn
nhân lực, phương tiện tham gia bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài
phán các vùng biển của Việt Nam theo đúng quy định. Thường xuyên làm tốt công
tác xây dựng, tuyên truyền, phổ biến, nhân rộng các điển hình tiên tiến trong
phong trào. Định kỳ tổ chức Hội nghị để tuyên dương, biểu dương các cá nhân, tập
thể xuất sắc ở các cấp vào “Ngày hội Biên phòng toàn dân” hàng năm.
Rà soát, đánh giá đưa ra
khỏi phong trào các cá nhân, hộ gia đình hoạt động kém hiệu quả, chất lượng thấp.
4. Đẩy mạnh các hoạt động
ngoại giao Nhân dân giữa các cấp chính quyền và Nhân dân 2 bên biên giới
Tiếp tục thực hiện tốt
công tác đối ngoại Nhân dân; duy trì và phát huy hiệu quả mô hình “Kết nghĩa cụm
dân cư hai bên biên giới”, nghiên cứu phát triển, nâng cấp ký kết nghĩa từ cấp thôn,
bản lên cấp xã, phường hai bên biên giới theo Nghị định số 64/2021/NĐ-CP ngày
30/6/2021 của Chính phủ. Xây dựng kế hoạch giao lưu Nhân dân cấp thôn, cấp xã
biên giới hằng năm với nội dung phong phú, gắn với kỷ niệm các ngày lễ lớn,
ngày truyền thống hai nước; tăng cường kết nối giữa các tổ chức chính trị - xã
hội, đoàn thể hai bên biên giới và hoạt động hợp tác trong lĩnh vực giáo dục,
đào tạo nghề, y tế, du lịch cộng đồng... nhằm gắn kết và nâng cao đời sống người
dân khu vực biên giới. Nghiên cứu triển khai mới mô hình “Đỡ đầu cụm bản biên
giới” tại các cụm bản đối diện của Lào; tiếp tục mở rộng nhận hỗ trợ, giúp đỡ
các cháu học sinh người Lào có hoàn cảnh khó khăn trong thực hiện Chương trình
“Nâng bước em tới trường - con nuôi đồn Biên phòng”. Tăng cường hoạt động ở các
cấp nhằm trao đổi thông tin tình hình, hợp tác đầu tư, học hỏi kinh nghiệm,
giúp đỡ nhau phát triển kinh tế - xã hội...
Mở rộng và tăng cường quan
hệ hợp tác với lực lượng bảo vệ biên giới của các tỉnh đối diện phía Lào. Triển
khai thực hiện toàn diện, đồng bộ, chặt chẽ, có chiều sâu, thực chất và hiệu quả
các hoạt động đối ngoại biên giới; thiết lập, duy trì cơ chế phối hợp giữa
chính quyền địa phương biên giới, Quân sự, Công an, BĐBP với chính quyền và lực
lượng biên giới phía Lào. Duy trì và thực hiện tốt quy chế kết nghĩa giữa các đồn
Biên phòng của Việt Nam với Đồn, Trạm Công an, Đại đội Biên phòng của Bạn.
Thường xuyên tổ chức tốt
các hoạt động giao lưu văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao cho Nhân dân và các lực
lượng hai bên biên giới.
5. Các giải pháp về
nghiệp vụ
Thường xuyên tổ chức tập
huấn, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ các xã biên giới, đồn Biên phòng, Tổ tự quản
về trình độ nhận thức, kỹ năng, phương pháp tổ chức triển khai thực hiện phong
trào. Tổ chức triển khai các mục tiêu, chương trình, đề án quốc gia phòng chống
ma tuý, phòng chống tội phạm, phòng chống mua bán người... nghiêm túc, hiệu quả.
Nắm chắc tình hình, chủ động,
kịp thời đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù
địch, đối tượng phản động; ngăn chặn kịp thời hoạt động lợi dụng vấn đề dân tộc,
tôn giáo để chống phá, lôi kéo di cư tự do; tích cực đấu tranh ngăn chặn kịp thời
âm mưu, thủ đoạn kích động, chia rẽ Nhân dân với cấp ủy, chính quyền địa
phương, chia rẽ đồng bào dân tộc và khối đại đoàn kết toàn dân.
Tổ chức tốt việc nghiên cứu,
tổng kết, điều tra xã hội học về hiệu quả thực hiện phong trào “Toàn dân tham
gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia”; kịp thời bổ sung, sửa
đổi về nội dung, giải pháp thực hiện phong trào phù hợp với thực tiễn ở các
KVBG, biển, đảo.
Triển khai thực hiện tốt
Cơ sở dữ liệu quốc gia dân cư ở KVBG, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số; giải
quyết dứt điểm vấn đề người di cư tự do, kết hôn không giá thú trong vùng biên
giới Việt Nam - Lào nhằm quản lý chặt chẽ về hộ tịch, hộ khẩu, cư trú, cũng như
đảm bảo các quyền, nghĩa vụ hợp pháp của công dân và chuyển đổi số trong công
tác quản lý phong trào.
Tích cực tham mưu cho các
cấp ủy Đảng, chính quyền; tham mưu cho Đảng và Nhà nước ban hành các chủ trương,
chính sách, pháp luật về phát triển phong trào “Toàn dân tham gia bảo vệ chủ
quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia”.
6. Xây dựng, củng cố hệ
thống chính trị vững mạnh ở khu vực biên giới
Nâng cao chất lượng, hiệu
lực hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở KVBG; thường xuyên củng cố, kiện toàn xây dựng các tổ chức
Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và tổ chức chính trị - xã hội vững mạnh, nội
bộ đoàn kết thống nhất, giữ vững nguyên tắc trong tổ chức và sinh hoạt. Thực hiện
tốt công tác xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ tổ chức chính trị-xã hội, đảng
viên ờ KVBG, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tiếp tục thực
hiện chủ trương cán bộ đồn Biên phòng tham gia cấp ủy các xã, phường biên giới;
mô hình “Đảng viên đồn Biên phòng tham gia sinh hoạt chi bộ thôn, bản” và Chỉ
thị 681-CT/ĐU của Đảng ủy BĐBP về việc phân công đảng viên đồn Biên phòng phụ
trách hộ gia đình ở KVBG kết hợp chặt chẽ, đồng bộ, phát huy hiệu quả phong
trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia
trong tình hình mới. Làm tốt công tác bồi dưỡng, nâng cao trình độ hiểu biết
pháp luật và năng lực quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia cho đội ngũ cán bộ các
cấp.
Xây dựng Mặt trận Tổ quốc
và các tổ chức chính trị - xã hội vững mạnh, thực sự là lực lượng nòng cốt xây
dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thực hiện dân chủ, phát huy sức mạnh tổng
hợp của nền BPTD trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia.
Phát huy vai trò các già làng, trường bản, những người có uy tín cao trong họ tộc,
những người có chức sắc tôn giáo trong tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân
dân tham gia phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh
biên giới quốc gia.
Cấp ủy, chính quyền xã,
phường biên giới thường xuyên quan tâm chăm lo, bảo vệ lợi ích chính đáng của
Nhân dân; sâu sát nắm bắt và kịp thời giải quyết những tâm tư, nguyện vọng
chính đáng của Nhân dân; nâng cao đời sống vật chất tinh thần của Nhân dân, thực
hiện giảm nghèo bền vững; xây dựng niềm tin vững chắc của Nhân dân đối với Đảng,
chính quyền các cấp. Chú trọng giáo dục tinh thần, hoạt động chống phá của các
thế lực thù địch, nhất là chiến lược “diễn biến hoà bình”, không để “tự diễn biến”,
“tự chuyển hoá” xảy ra trên địa bàn.
7. Ưu tiên đầu tư tập
trung trọng điểm từng vùng, từng địa bàn biên giới, tạo sự ổn định, phát triển
làm thay đổi căn bản kinh tế - xã hội; xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng, bố
trí các cụm dân cư đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc
phòng, an ninh ở khu vực biên giới
Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả
giữa kinh tế với quốc phòng an ninh trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh
biên giới quốc gia. Tập trung đầu tư trọng điểm từng vùng, từng địa bàn biên giới,
tạo sự ổn định, phát triển làm thay đổi căn bản kinh tế - xã hội ở KVBG. Đẩy mạnh
phát triển kinh tế biển, gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh phù hợp với chiến
lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm
2045; tiếp tục triển khai quán triệt các biện pháp phòng, chống khai thác hải sản
bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) tăng cường hợp tác
trên các lĩnh vực với các tỉnh trong nước, đặc biệt là các tỉnh nội địa; xây dựng
phong trào hướng về biên giới.
Xây dựng hệ thống kết cấu
hạ tầng, cải thiện hệ thống hạ tầng giao thông, góp phần tăng cường giáo thương, lưu
thông hàng hóa và đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân. Phát triển hạ tầng lưới
điện, hệ thống cung cấp nước sạch, hạ tầng số, các dịch vụ thông tin liên lạc,
góp phần quan trọng thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, nâng cao đời sống hóa, tinh thần
cho Nhân dân. Phát triển hệ thống giáo dục, đào tạo cơ sở, quan tâm xây dựng
trường học, phát triển nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, ưu tiên đào tạo
giáo viên là người dân tộc thiểu số đối với vùng dân tộc thiểu số, đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ giáo dục, đào tạo trong tình hình mới.
Tiếp tục đầu tư, quy hoạch
các khu di cư giãn dân ra biên giới gắn với nhiệm vụ BVBG quốc gia, kết hợp với
các biện pháp hỗ trợ đồng bộ, sát thực tế để Nhân dân yên tâm định cư; cần chú
trọng phong tục, tập quán, các yếu tố về thổ nhưỡng và môi trường; có giải pháp
khuyến khích,
đưa dân ra đặc khu Cồn Cỏ để khai thác hiệu quả kinh tế biển kết hợp với bảo vệ
chủ quyền, an ninh KVBG biển. Thực hiện có hiệu quả các chính sách, biện pháp
khuyến khích đầu
tư, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; đào tạo nghề gắn với thực hiện
chính sách việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số, khai thác thế mạnh và điều
kiện tự nhiên, phù hợp với tập quán, văn hóa và nhu cầu phát triển nghề của người
dân, bảo tồn, phát huy các ngành, nghề truyền thống của đồng bào các dân tộc
thiểu số ở KVBG.
Đầu tư, nâng cấp trang thiết
bị và bổ sung cán bộ cho trạm y tế các xã, trạm quân dân y kết hợp và trung tâm
y tế cụm xã biên giới, xây dựng mạng lưới y tế cơ sở, cung ứng thuốc, vật tư y
tế thiết yếu đảm bảo chất lượng khám và chữa bệnh cho Nhân dân. Tăng cường phối
hợp giữa hệ thống y tế với quân y BĐBP thực hiện chương trình quân dân y kết hợp;
chú trọng đầu tư xây dựng bệnh viện chuyên khoa ở vùng biên giới, nâng cao khả
năng khám chữa bệnh cho Nhân dân, củng cố, nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh
của hệ thống y tế cộng đồng, y tế cơ sở.
Tiếp tục thực hiện quy hoạch
phát triển hệ thống cửa khẩu biên giới trên đất liền Việt Nam - Lào giai đoạn
2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Mở rộng thị trường, phát triển các khu kinh
tế gắn với các cửa khẩu, cảng biển, tạo sức hút giao lưu hàng hóa, thúc đẩy
phát triển nông, lâm, ngư nghiệp; phát triển sản xuất, du lịch, dịch vụ,
logictis.... Khuyến khích các xã biên giới đất liền tăng cường hợp tác, trao đổi
hàng hóa với các địa phương của nước bạn Lào.
Thực hiện tốt các Chương
trình mục tiêu quốc gia ở KVBG và Chương trình xoá nhà tạm, nhà dột nát cho hộ
nghèo vùng biên giới. Duy trì hiệu quả, nhân rộng các mô hình, chương trình,
phong trào việc làm đã có.
Thực hiện tốt chính sách đối
với các tập thể, hộ gia đình, cá nhân tham gia phong trào theo quy định. Huy động
các nguồn lực của Trung ương, địa phương và xã hội hóa để thực hiện tốt các nội
dung của Đề án.
IV. KINH PHÍ THỰC HIỆN
ĐỀ ÁN
1. Kinh phí thực hiện Đề án nâng cao chất lượng, hiệu quả
phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc
gia, giai đoạn 2026 - 2030 và những năm tiếp theo được đảm bảo bằng ngân sách
nhà nước được cấp cho Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng và các nguồn kinh phí khác.
Việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí cho triển khai Đề án
thực hiện theo quy định của pháp luật. Dự toán, nội dung, phân kỳ kinh phí thực
hiện Đề án (Phụ lục kèm theo).
2. Căn cứ các quy định hiện hành của Bộ Tài chính về nội dung,
chế độ, định mức chi và khả năng ngân sách địa phương, hàng năm, Ban Chỉ huy
BĐBP báo cáo kinh phí cụ thể, trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định. Đồng
thời ngoài nguồn lực ngân sách địa phương hỗ trợ, cần huy động thêm các nguồn
kinh phí khác để thực hiện hiệu quả Đề án.
Phần thứ ba
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Ban Chỉ huy BĐBP tỉnh
- Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo phong trào “Toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền
lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia”
a) Chủ trì, phối hợp với
các sở, ban ngành cấp tỉnh liên quan, UBND các xã biên giới triển khai thực hiện
Đề án. Chịu trách nhiệm theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, tham mưu UBND tỉnh giải
quyết các khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện, đề xuất sửa
đổi, bổ sung khi cần thiết; tổng hợp đề xuất UBND tỉnh quyết định khen thưởng
thường xuyên, định kỳ hoặc đột xuất cho các đối tượng tham gia quản lý, bảo vệ
chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia; thực hiện chế độ báo cáo định kỳ,
đột xuất với Tỉnh ủy, UBND tỉnh theo quy định;
b) Lập dự toán sử dụng
ngân sách các nội dung Đề án của ngành mình; tổng hợp kinh phí của các cơ quan,
đơn vị được phân công thực hiện Đề án gửi Sở Tài chính thẩm định, trình UBND tỉnh
xem xét, quyết định; chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng và tổng hợp báo cáo quyết
toán kinh phí thực hiện Đề án theo quy định hiện hành.
c) Chỉ đạo các đồn Biên
phòng căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao và địa bàn được phân công quản lý:
Chủ trì tham mưu cho UBND
các xã biên giới thành lập Ban Chỉ đạo phong trào “Toàn dân tham gia bảo vệ chủ
quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia”. Hàng năm chủ động rà soát, thống
kê tập thể, hộ gia đình, cá nhân đăng ký tham gia phong trào “Toàn dân tham gia
bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia” báo cáo, tham mưu UBND
các xã biên giới ra quyết định công nhận và giao nhiệm vụ cho các Tổ tự quản, hộ
gia đình, cá nhân tham gia tự quản đường biên, mốc quốc giới.
Chủ trì quản lý hồ sơ đăng
ký của các tập thể, cá nhân, hộ gia đình tham gia quản lý, bảo vệ chủ quyền
lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia; đề xuất Ban Chỉ huy BĐBP và UBND xã khen
thưởng và công nhận các tập thể, cá nhân, hộ gia đình tham gia phong trào.
Chủ trì, phối hợp với
UBMTTQ Việt Nam xã biên giới mở các lớp bồi dưỡng, tập huấn cho cán bộ nòng cốt
của phong trào; tổ chức các hoạt động giao lưu, nhân rộng tại địa phương; phát
huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong thực hiện
phong trào.
Tham mưu cho UBND xã biên giới định kỳ 01
năm một lần tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cho các đối tượng và tổ chức sơ, tổng kết
theo quy định.
2. Đề nghị UBMTTQ Việt
Nam tỉnh
Chủ trì, phối hợp với Ban
Chỉ huy BĐBP tỉnh, các tổ chức chính trị - xã hội, các hội cấp tỉnh, các sở,
ban, ngành liên quan hướng dẫn nội dung, phương pháp xây dựng phong trào và các
mô hình tham gia quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia
gắn với Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn
minh”. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến sâu rộng chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về nhiệm vụ quản
lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia và xây dựng nền BPTD vững mạnh,
tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động trong toàn Đảng, toàn dân, toàn
quân.
Hướng dẫn UBMTTQ Việt Nam
các xã biên giới phối hợp với các đồn Biên phòng trên địa bàn tổ chức ký cam kết
đối với các tập thể, hộ gia đình, cá nhân tham gia quản lý, bảo vệ chủ quyền
lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia; tổ chức có hiệu quả “Ngày hội Biên phòng
toàn dân” hằng năm, gắn với kỷ niệm Ngày truyền thống BĐBP, “Ngày Biên phòng
toàn dân” và các chương trình, phong trào hướng về biên giới bảo đảm thiết thực,
ý nghĩa.
Phối hợp với Bộ Chỉ huy
Quân sự tỉnh, Công an tỉnh, Ban Chỉ huy BĐBP định kỳ hàng quý ra bản tin thông
báo tình hình có liên quan, làm cơ sở cho công tác tuyên truyền vận động Nhân
dân. Huy động các nguồn lực để thực hiện các nội dung của Đề án.
3. Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh
Chỉ đạo Ban Chỉ huy BĐBP
và các đơn vị trực thuộc tích cực tuyên truyền cho cán bộ, chiến sỹ các đơn vị,
khu vực phòng thủ, quân sự các xã, phường, lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động
viên và Nhân dân KVBG thực hiện tốt nội dung Chỉ thị số 01/CT-TTg; tổ chức
phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc
gia gắn với xây dựng nền BPTD, thế trận BPTD trong nền QPTD, thế trận QPTD gắn
với nền ANND, thế trận ANND ở KVBG; đồng thời chỉ đạo Ban Chỉ huy BĐBP thực hiện
nhiệm vụ quân sự, quốc phòng địa phương và phòng thủ tác chiến đảm bảo hiệu quả,
theo đúng quy định của pháp luật.
Chủ trì triển khai thực hiện
có hiệu quả Đồ án “Phát huy vai trò của lực lượng Quân đội Nhân dân tham gia
công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, vận động Nhân dân chấp hành pháp luật tại
cơ sở giai đoạn 2021 - 2027”. Đề án số 2036 “Nâng cao chất lượng, hiệu quả công
tác dân vận của lực lượng vũ trang Quân khu 4 ở vùng đặc thù trên địa bàn Quân
khu giai đoạn 2023 - 2030 và những năm tiếp theo”.
4. Công an tỉnh
Chủ trì, tham mưu Tỉnh ủy,
UBND tỉnh thực hiện có hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết, chương trình hành động
đối với phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc gắn với phong trào toàn dân
tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia. Triển khai thực
hiện tốt Cơ sở quốc gia về dữ liệu dân cư ở KVBG.
Chỉ đạo Công an các xã
biên giới phối hợp với các Đồn Biên phòng tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa
phương tăng cường công tác tuyên truyền cho cán bộ và Nhân dân KVBG thực hiện tốt
các nội dung Chỉ thị số 01/CT-TTg.
5. Sở Tài chính: Hàng năm, cùng với thời gian lập dự toán chi ngân sách địa
phương, Sở Tài chính thẩm định kinh phí thực hiện Đề án, báo cáo UBND tỉnh
thông qua và trình Hội đồng nhân dân tỉnh quyết nghị; Hướng dẫn quản lý, sử dụng
kinh phí và quyết toán theo quy định hiện hành.
6. Các Sở, ban ngành cấp
tỉnh
Căn cứ chức năng, nhiệm vụ,
lĩnh vực được giao quản lý và mục tiêu, giải pháp thực hiện Đề án để chủ động
triển khai thực hiện đảm bảo tiến độ, hiệu quả, chất lượng. Phối hợp chặt chẽ,
hiệu quả với Ban Chỉ huy BĐBP tỉnh trong thực hiện nhiệm vụ biên phòng, xây dựng
nền BPTD, thế trận BPTD vững mạnh, toàn diện. Kịp thời báo cáo UBND tỉnh xem
xét giải quyết những khó khăn, vướng mắc (nếu có).
Tổ chức sơ kết định kỳ
hàng năm, tổ chức tổng kết vào năm 2030 việc thực hiện Đề án này và gửi về Ban
Chỉ huy BĐBP tỉnh trước ngày 31/12 hàng năm để tổng hợp, báo cáo theo quy định.
7. UBND các xã biên giới
Chủ trì, phối hợp với Ban
Chỉ huy BĐBP tỉnh chỉ đạo trực tiếp, toàn diện việc tổ chức thực hiện Đề án tại
địa phương; hàng năm chủ động ban hành Kế hoạch tổ chức thực hiện phù hợp với
điều kiện thực tiễn, đảm bảo có trọng tâm, trọng điểm.
Lập dự toán, phân cấp, sử
dụng, thanh quyết toán ngân sách được bố trí theo đúng quy định của pháp luật
hiện hành.
Chỉ đạo các các đồn Biên
phòng trên địa bàn tổ chức thực hiện đầy đủ các nội dung, giải pháp của Đề án gắn
chặt với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh tại
địa phương.
Phần thứ tư
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
Đề án “Nâng cao chất lượng,
hiệu quả phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên
giới quốc gia” giai đoạn 2026 - 2030 và những năm tiếp theo nhằm cụ thể hóa i)
Các nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội các xã
biên giới đất liền kết hợp với tăng cường và củng cố quốc phòng, an ninh, đối
ngoại; Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; Chiến lược bảo vệ biên giới
quốc gia; Đề án “Xây dựng nền BPTD, thế trận BPTD trong nền QPTD, thế trận QPTD
gắn với nền ANND, thế trận ANND ở khu vực biên giới”; tinh gọn tổ chức trong hệ
thống chính trị nhằm xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu
quả; ii) Chủ trương của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương về xây
dựng tổ chức quân sự địa phương “tinh, gọn, mạnh” đáp ứng yêu cầu nhiệm,vụ
trong tình hình
mới... Là một giải pháp nhằm tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 01/CT-TTg; Chỉ đạo của
Ban Thường vụ Tỉnh ủy, UBND tỉnh về công tác biên phòng và xây dựng lực lượng BĐBP trong tình
hình mới. Quá trình thực hiện phải quán triệt sâu sắc quan điểm, mục tiêu, giải
pháp của Đề án; Phát huy vai trò của cơ quan chủ trì, phối hợp chặt chẽ giữa
các sở, ban ngành, địa phương trong quá trình tổ chức thực hiện.
Để triển khai thực hiện tốt
Đề án, UBND tỉnh Quảng Trị kính đề nghị:
1. Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành Trung ương quan tâm đầu tư,
hỗ trợ các chương trình, dự án nhằm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng
cao đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân KVBG; bố trí ngân sách hàng năm để
duy trì và nhân rộng phong trào; tổ chức các hoạt động thiết thực, hiệu quả hướng
về đồng bào, chiến sỹ nơi biên giới.
2. Bộ Quốc phòng nghiên cứu, hoàn thiện nội dung, phương pháp
xây dựng phong trào, các mô hình tập thể, hộ gia đình, cá nhân tham gia quản
lý, bảo chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia để thực hiện thống nhất
trong toàn quốc; tham mưu cho Chính phủ ban hành Nghị định về kết nghĩa cụm dân
cư hai bên biên giới.
3. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Trị quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo cấp ủy,
chính quyền, MTTQ các cấp trong tỉnh thực hiện tốt các nội dung của Đề án này.
4. Hội đồng nhân dân tỉnh quan tâm bố trí ngân sách hàng năm để
thực hiện Đề án./.
Phụ lục
NỘI DUNG, PHÂN KỲ
Triển khai phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền
lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới trên địa bàn tỉnh,
giai đoạn 2026 - 2030 và những năm tiếp theo
(Kèm theo Đề án ban hành theo Quyết định số: 3094/QĐ-UBND ngày
12/12/2025)
Đvt: 1.000 đồng
|
TT
|
NỘI DUNG SỬ DỤNG
|
THEO TỪNG NĂM
|
PHÂN KỲ THỰC HIỆN
|
TỔNG CỘNG
|
|
Số
lượng
|
ĐVT
|
Dự toán
|
Thành tiền
|
2026
|
2027
|
2028
|
2029
|
2030
|
|
1
|
Chi các hoạt động chỉ đạo triển khai thực hiện (26 đồn BP x 2 lần/ năm)
|
52
|
Lần
|
3.474
|
180.648
|
180.648
|
180.648
|
180.648
|
180.648
|
180.648
|
903.240
|
|
2
|
Chi hỗ trợ nhiên liệu phục vụ điều tra, khảo sát (26 đồn BP x 1 lần/
năm)
|
26
|
Đợt
|
3.960
|
102.960
|
102.960
|
102.960
|
102.960
|
102.960
|
102.960
|
514.800
|
|
3
|
Chi hoạt động tuyên truyền (35 xã phường + 1 đặc khu Cồn Cỏ)
|
36
|
Xã
|
20.000
|
720.000
|
720.000
|
720.000
|
720.000
|
720.000
|
720.000
|
3.600.000
|
|
4
|
Chi hoạt động sơ kết, tổng kết phong trào và “Ngày Biên phòng toàn dân”
cấp cơ sở hàng năm cấp xã
|
36
|
Lần
|
42.500
|
1.530.000
|
1.530.000
|
1.530.000
|
1.530.000
|
1.530.000
|
1.530.000
|
7.650.000
|
|
5
|
Chi tập huấn, bồi dưỡng (36 xã, phường x 2 lần)
|
36
|
Lớp
|
47.190
|
1.698.840
|
1.698.840
|
1.698.840
|
1.698.840
|
1.698.840
|
1.698.840
|
8.494.200
|
|
6
|
Chi hỗ trợ giao ban kết nghĩa bản bản (29 cặp bản x 4 quý)
|
116
|
Lần
|
4.700
|
545.200
|
545.200
|
545.200
|
545.200
|
545.200
|
545.200
|
2.726.000
|
|
7
|
Hỗ trợ
nhân dân tham gia tuần tra bảo vệ đường biên, mốc quốc giới, biển, đảo (26 đồn
BP; dự kiến tuần tra 2 đợt/ tháng, 10 người/ đợt)
|
624
|
Đợt
|
1.500
|
936.000
|
936.000
|
936.000
|
936.000
|
936.000
|
936.000
|
4.680.000
|
|
8
|
Hỗ trợ hoạt động của các Tổ tự quản an ninh trật tự ở khu vực biên giới,
biển, đảo
|
208
|
Tổ
|
3.000
|
624.000
|
624.000
|
624.000
|
624.000
|
624.000
|
624.000
|
3.120.000
|
|
9
|
Hỗ trợ Tổ tự quản tàu thuyền an toàn
|
127
|
Tổ
|
6.000
|
762.000
|
762.000
|
762.000
|
762.000
|
762.000
|
762.000
|
3.810.000
|
|
|
Cộng
|
|
|
|
7.099.648
|
7.101.674
|
7.101.675
|
7.101.676
|
7.101.677
|
7.101.678
|
35.498.240
|
* Ghi chú: Kinh phí tại Khoản 7, 8, 9 Phụ lục này thực hiện theo Nghị
quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh./.
[1] Mốc
515 do tỉnh Hà Tĩnh quản lý; Mốc 644 do thành phố Huế quản lý. Là điểm xác định
địa giới hành chính giữa tỉnh Quảng Trị với tỉnh Hà Tĩnh và thành phố Huế. Tỉnh
Quảng Trị chỉ quản lý đến chân 2 mốc này.
[2]
KVBG 3 tỉnh Khăm Muồn, Sa Vẳn Nạ Khẹt và Sa Lạ Văn (CHDCND Lào) giáp với tỉnh
Quảng Trị gồm 5 huyện Nakai, Bunlapha (tỉnh Khăm Muồn); Sê Pôn, Noong (Tỉnh Sa Vẳn
Nạ Khẹt); Sa muội (Tỉnh Sa Lạ Văn), có 35 cụm bản, dân số 2.399 hộ/ 14.433 khẩu
đa số là người dân tộc Pa cô và Vân Kiều.
[3]
Tuyên truyền, PBGDPL được 9.680 buổi/219.170 lượt cán bộ, đảng viên và quần
chúng Nhân dân tham gia; cấp phát trên 180.000 tờ rơi, tờ gấp các loại. Bộ Chỉ
huy BĐBP tỉnh và các Đồn Biên phòng tổ chức 34 hội nghị gặp mặt 1.215 già làng,
trưởng bản, người có uy tín trong đồng bào DTTS.
[4] Bộ
đội Biên phòng (BĐBP) tỉnh đã phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam
(UBMTTQ Việt Nam) tỉnh, Báo Quảng Trị (cũ), Tỉnh đoàn tổ chức cuộc thi với
52.450 bài dự thi.
[5] Tỉnh Quảng Bình
(cũ): Duy trì 59 tổ/1.532 hộ/3.884 thành viện tham gia tự quản 222,118 km đường
biên, 61 mốc quốc giới; 523 tổ/3.569 thành viện tham gia tự quản an ninh trật tự
thôn, bản; 01 tổ/32 thành viên tham gia tự quản khu vực cửa khẩu; 133 tổ/920
tàu thuyền/6.205 thuyền viên tham gia tổ tàu thuyền đoàn kết an toàn; 41 tổ/1.707
thành viên tổ tự quản bến bãi an toàn.
Tỉnh QuảngTrị (cũ): Duy trì 215 Tổ tự quản
ANTT/1.270 thành viên; 1.020 hộ/ 1.395 cá nhân đăng ký tham gia tự quản đường
biên, mốc quốc giới, với chiều đài đường biên giới 177,929 km và 73 cột mốc, 35
cọc dấu; Tổ tự quản tàu thuyền an toàn 47 Tổ/ 928 tàu thuyền/ 2.508 thuyền
viên; Tổ tự quản bến bãi an toàn 08 tổ/46 thành viên; Mô hình “Kết nghĩa cụm
dân cư hai bên biên giới” 27 cặp bản - bản/ 9.524 người tham gia; Mô hình
“Thôn, bản không có tội phạm về ma túy” 98 thôn, bản/ 6.491 hộ gia đình tham
gia.
[6] Kết
nghĩa 27 cặp bản - bản; 02 cặp xã (Việt Nam) - cụm bản (Lào), xã Dân Hoá (Quảng
Trị, Việt Nam) - Cụm bản Lẵng Khăng (Khăm Muồn, Lào), xã Thượng Trạch (Quảng Trị,
Việt Nam) - Cụm bản Noỏng Mạ (Khăm Muồn, Lào).
[7] Bằng
khen của Thủ tướng Chính phủ cho 01 tập thể; Bằng khen của Bộ quốc phòng cho 03
tập thể, 02 cá nhân; Bằng khen của Tổng cục Chính trị QĐNDVN cho 01 tập thể; Bằng
khen Bộ Tư lệnh BĐBP cho 04 tập thể, 10 cá nhân; Bộ Tư lệnh BĐBP tặng Kỷ niệm
chương “Vì chủ quyền an ninh biên giới quốc gia” cho 1.660 cá nhân; Bằng khen
UBND tỉnh cho 71 tập thể, 97 cá nhân được tặng; Bằng khen của Ủy ban MTTQ tỉnh
cho 15 tập thể, 15 cá nhân; Giấy khen của Bộ Chỉ huy BĐBP tỉnh, UBND huyện,
UBND xã cho 305 tập thể và 478 cá nhân.