|
ỦY
BAN NHÂN DÂN
THÀNH
PHỐ ĐÀ
NẴNG
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số:
482/QĐ-UBND
|
Đà
Nẵng, ngày 02
tháng 02 năm 2026
|
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN “BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ
NGHỆ THUẬT CHẾ TÁC THỦ CÔNG TRONG ĐIÊU KHẮC
ĐÁ MỸ NGHỆ NON NƯỚC GẮN VỚI QUẢNG BÁ VÀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH
TẠI DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ QUỐC GIA NGHỀ ĐIÊU
KHẮC MỸ NGHỆ ĐÁ NON NƯỚC ĐẾN NĂM 2030, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2045”
ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Căn cứ Luật Tổ chức chính
quyền địa phương ngày 16 tháng 6 năm 2025;
Căn cứ Nghị quyết số
202/2025/QH15 ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Quốc
hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh;
Căn cứ Nghị quyết số
1659/NQ-UBTVQH15
ngày 16 tháng 6 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc
sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của thành phố Đà Nẵng
năm 2025;
Căn cứ Nghị định số
150/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ
quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và UBND xã,
phường, đặc khu thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
Căn cứ Quyết định số
1248/QĐ-UBND ngày 17 tháng 6 năm 2024 của UBND thành phố Đà Nẵng
về việc ban hành Danh mục đề án, dự án, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội
trên địa bàn thành phố Đà Nẵng năm
2024;
Theo Công văn số
327/UBND-KGVX ngày 15 tháng 01 năm 2025 của UBND thành phố Đà Nẵng
về việc ý kiến đối với Đề cương và dự toán kinh phí xây dựng đề án;
Theo đề nghị của UBND
phường Ngũ Hành Sơn tại Tờ trình số
121/TTr-UBND ngày 18 tháng 12 năm 2025 về việc phê duyệt Đề án “Bảo tồn và phát
huy giá trị nghệ thuật chế tác thủ công trong điêu
khắc đá mỹ nghệ Non Nước gắn với quảng bá và phát triển sản phẩm du lịch tại Di
sản văn hóa phi vật thể quốc gia Nghề điêu
khắc mỹ nghệ đá Non Nước đến năm 2030, tầm
nhìn đến năm 2045 ”; ý kiến của thành viên UBND thành phố.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều
1. Phê duyệt Đề án “Bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật chế
tác thủ công trong điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước gắn với quảng
bá và phát triển sản phẩm du lịch tại Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Nghề điêu
khắc mỹ nghệ đá Non Nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” (kèm theo Đề án).
Điều
2. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
Điều
3. Giao UBND phường Ngũ Hành Sơn chủ trì, phối hợp với các sở,
ban, ngành, UBND các xã, phường, đặc khu và các đơn vị liên quan tổ chức triển
khai Đề án. Trong quá trình triển khai thực hiện và thực tiễn phát sinh, nếu
có vướng mắc hoặc vấn đề cần bổ sung, điều chỉnh, UBND
phường Ngũ Hành Sơn có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo UBND thành phố xem xét, điều
chỉnh cho phù hợp.
Điều
4. Chánh Văn phòng UBND thành phố; Chủ tịch UBND phường Ngũ
Hành Sơn; Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị liên quan chịu trách nhiệm thi hành
Quyết định này./.
|
Nơi nhận:
- Như Điều 4;
- Chủ tịch UBND TP (b/c);
- Các Sở: VHTTDL, Tài chính, KHCN, GDĐT; NN&MT; Công Thương; Ngoại vụ;
- UBND các xã, phường, đặc khu;
- Báo và phát thanh, truyền hình ĐN;
- BQL Dự án đầu tư xây dựng các công trình dân
dụng, công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật Đà Nẵng;
- CVP, các PCVP UBND TP;
- Lưu: VT, UBND phường NHS.
|
TM.
ỦY BAN NHÂN DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Nguyễn Thị Anh Thi
|
ĐỀ ÁN
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT CHẾ TÁC THỦ CÔNG TRONG
ĐIÊU KHẮC ĐÁ MỸ NGHỆ NON NƯỚC GẮN VỚI
QUẢNG BÁ VÀ PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH TẠI DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ QUỐC GIA
NGHỀ ĐIÊU KHẮC MỸ NGHỆ ĐÁ NON NƯỚC ĐẾN NĂM 2030, TẦM
NHÌN ĐẾN NĂM 2045
(Kèm theo Quyết định số 482/QĐ-UBND
ngày 02 tháng 02
năm 2026 của UBND thành phố Đà Nẵng)
Phần
thứ nhất
CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
I. SỰ
CẦN THIẾT LẬP ĐỀ ÁN
Di sản văn hóa phi vật
thể quốc gia Nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước được hình thành
từ những năm đầu thế kỷ 18, trải qua quá trình phát triển
và trở thành Làng nghề điêu khắc đá mỹ nghệ truyền thống. Làng nghề
hiện nay có hàng trăm nghệ nhân điêu khắc,
hơn 380 cơ sở chế tác, sản xuất, chuyên doanh các sản phẩm
điêu khắc từ đá; chính những bàn tay nghệ
nhân này đã từng bước phát triển, tạo dựng thương hiệu, nét đẹp văn hóa và quảng
bá, giới thiệu nghề điêu khắc thủ công đá mỹ nghệ Non Nước đến với du khách
trong và ngoài nước. Tuy nhiên, với xu hướng chung của thị trường về các dòng sản
phẩm đá mỹ nghệ được tạo tác bằng công nghệ, máy móc tự động hóa dần làm phai mờ
đi yếu tố nghệ thuật sáng tạo trong điêu khắc thủ công mỹ nghệ của Làng nghề và
theo thời gian kỹ thuật chế tác thủ công của lớp lớp thế hệ
nghệ nhân kế cận tại Làng nghề cũng dần mai một.
Bên cạnh đó, rất ít du
khách và người dân địa phương có cơ hội được thưởng lãm
quá trình chế tác độc đáo, công phu của Nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước, bằng
óc sáng tạo và bàn tay hoa mỹ của các nghệ nhân điêu khắc, kết hợp với các công
cụ hỗ trợ, những khối đá tự nhiên vô tri dần tạo hình nên những tác phẩm nghệ
thuật giá trị cao. Đồng thời, hiện nay công tác quảng bá các sản phẩm thủ công
mỹ nghệ được điêu khắc từ đá tại Làng nghề Non Nước vẫn còn mang tính đơn lẻ,
chưa đồng bộ với sự phát triển. Chính vì vậy, việc phục dựng và tổ chức các hoạt
động sáng tác nghệ thuật trong điêu khắc đá mỹ nghệ sẽ từng bước khôi phục quá
trình tạo tác thủ công truyền thống của địa phương, gắn với các không gian trải
nghiệm trực tiếp đến du khách sẽ góp phần quảng bá và giới thiệu đến cộng đồng
về hình ảnh Làng nghề truyền thống điêu khắc đá mỹ nghệ
Non Nước, phường Ngũ Hành Sơn đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp
quốc gia. Đó là lý do để xây dựng Đề án “Bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật
chế tác thủ công trong điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước
gắn với quảng bá và phát triển sản phẩm du lịch tại Di sản văn hóa phi vật thể
quốc gia Nghề điêu khắc mỹ nghệ đá Non Nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm
2045”.
II.
CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
- Luật Di sản văn hóa
ngày 23/11/2024.
- Nghị quyết số
08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành
kinh tế mũi nhọn.
- Nghị quyết số
33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng
và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất
nước.
- Nghị quyết số
43-NQ/TW ngày 24/01/2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố
Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
- Kết luận số 76-KL/TW
ngày 04/6/2020 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 33-NQ/TW của
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng
và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của phát triển bền vững
đất nước.
- Nghị quyết số
26-NQ/TW ngày 03/11/2022 của Bộ Chính trị về “Phát triển kinh tế - xã hội và bảo
đảm quốc phòng, an ninh vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ đến năm 2030, tầm
nhìn đến năm 2045”.
- Nghị
định 113/2013/NĐ-CP ngày 02/10/2013 của Chính phủ về hoạt động mỹ thuật.
- Nghị định số
215/2025/NĐ-CP ngày 04/8/2025 của Chính phủ quy định các biện pháp quản lý, bảo
vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, di sản văn hóa
dưới nước, di sản văn hóa phi vật thể trong các Danh sách của UNESCO và Danh mục
quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể và chính sách đối với nghệ nhân, chủ thể
di sản văn hóa phi vật thể.
- Quyết định số
1909/QĐ-TTg ngày 12/11/2021 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Chiến lược phát
triển văn hóa đến năm 2030.
- Quyết định số
801/QĐ-TTg ngày 07/07/2022 của Thủ tướng Chính phủ Chương trình Bảo tồn và phát
triển Làng nghề Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030.
- Quyết định số
822/QĐ-TTg ngày 11/7/2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch bảo
quản, tu bổ, phục hồi Danh lam thắng cảnh quốc gia đặc biệt Ngũ Hành Sơn.
- Quyết định số
2684/QĐ-BVHTTDL ngày 25/08/2014 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về
việc công nhận Nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước là Di sản văn hóa phi vật thể
cấp quốc gia.
- Thông tư số
01/2018/TT-BVHTTDL ngày 18/01/2018 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
quy định chi tiết thi hành một số điều tại Nghị định 113/2013/NĐ-CP ngày
02/10/2013 của Chính phủ về hoạt động mỹ thuật.
- Kết luận số 175-KL/TU
ngày 25/01/2022 của Ban Thường vụ Thành ủy về xây dựng và phát triển quận Ngũ
Hành Sơn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030.
- Quyết định số
3072/UBND-QĐ ngày 27/9/2021 của UBND thành phố về ban hành Đề án “Bảo tồn và
phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
giai đoạn 2021-2025”.
- Quyết định số
63/2023/QĐ-UBND ngày 28/12/2023 của UBND thành phố Đà Nẵng
về việc ban hành Quy chế quản lý kiến trúc thành phố Đà Nẵng.
- Quyết định số
1248/QĐ-UBND ngày 17/6/2024 của UBND thành phố về việc ban hành Danh mục đề án,
dự án, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
năm 2024.
- Quyết định số
670/QĐ-UBND ngày 28/02/2025 của UBND thành phố phê duyệt định hướng tổ chức
không gian phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng
trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn đến năm 2030, tầm nhìn
đến năm 2050.
- Các tài liệu, văn bản
khác có liên quan.
Phần
thứ hai
NỘI DUNG ĐỀ ÁN
I. TỔNG
QUAN VỀ NGHỀ ĐIÊU
KHẮC ĐÁ MỸ NGHỆ NON NƯỚC
Làng nghề điêu khắc đá
mỹ nghệ Non Nước ngày nay là sự tiếp nối và phát triển của
Làng nghề điêu khắc đá truyền thống Quán Khái, rồi Quán Khái Đông xưa, tọa lạc
tại phường Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng; là
một trong những Làng nghề truyền thống có bề dày lịch sử lâu đời ở Việt Nam.
Theo các nguồn tư liệu văn bia kết hợp với truyền khẩu
dân gian, nghề điêu khắc đá tại đây đã hình thành từ khoảng nửa đầu thế kỷ XVII
với sự di cư của một bộ phận cư dân từ vùng Thanh - Nghệ theo chính sách Nam tiến
của triều Lê đến vùng núi Ngũ Hành Sơn lập làng, lập nghiệp. Với truyền thống gần
400 năm, các thế hệ nghệ nhân điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước đã sáng tạo ra nhiều
sản phẩm mỹ nghệ độc đáo không những chỉ phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt hằng
ngày mà còn đáp ứng các giá trị tinh thần tại vùng đất Ngũ Hành Sơn. Dòng họ Huỳnh
Bá được xem là những người đầu tiên khai sinh nghề đá tại Quán Khái Đông - tiền
thân của Làng nghề Non Nước ngày nay.
Trong suốt tiến trình lịch
sử, Làng nghề không chỉ tồn tại bền vững mà còn đóng vai trò quan trọng trong đời
sống chính trị - văn hóa của quốc gia. Theo Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn thì
Làng nghề được hình thành từ giữa thế kỷ
XVII đến đầu thế kỷ XVIII, ông tổ nghề
là một người quê gốc Thanh Hóa. Ban đầu sản
phẩm làm ra chủ yếu để phục vụ cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của người dân địa
phương đến khoảng đầu thế kỷ XIX, khi triều Nguyễn cho xây dựng nhiều
cung điện, lăng tẩm...
nghề đá ở đây có điều kiện phát triển, nhiều nghệ nhân của làng được tuyển
dụng ra kinh đô Huế để xây dựng các công trình lăng tẩm,
miếu, điện. Một số thợ đá xuất sắc được phong
hàm Cửu phẩm (chức này người thợ có thể
được giao quản lý thợ, giám sát công trường, điều chỉnh chế độ sản xuất và
lương bổng), như cụ Huỳnh Bá Triêm, Huỳnh Văn
Nên - minh chứng cho vị thế đặc biệt của Làng nghề
trong hệ thống thủ công truyền thống Việt Nam. Điều này cho
thấy, tay nghề và kỹ nghệ của các nghệ nhân Non Nước đã đạt đến trình độ cao, điêu
luyện, có khả năng đáp ứng những yêu cầu khắt khe về kỹ thuật và thẩm mỹ của triều
đình phong kiến.
Bước sang thế kỷ XX,
Làng nghề tiếp tục khẳng định vị thế trong không gian văn hóa quốc tế thông qua
việc tham gia các hội chợ như: Hội chợ thuộc địa Marseille năm 1922. Theo tác
giả J.L.Fontana trong tác phẩm “L’Annam, ses province, ses resources” (các tỉnh
Trung Kỳ và nguồn tài nguyên) xuất bản tại Hà Nội năm 1925, ông Nguyễn Diên là
người đã được đem sản phẩm của Làng nghề qua trưng bày lúc bấy giờ. Cuối những
năm 20 của thế kỉ XX, Bảo tàng Chăm được người Pháp xây dựng tại Đà Nẵng.
Nghệ nhân Nguyễn Chất là người có công mở đường cho sản phẩm theo mô típ tượng
Chăm của Nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước. Từ đây Nghề điêu khắc đá có bước
phát triển đa dạng về sản phẩm, đồng thời tay nghề của
người thợ cũng có bước phát triển vượt bậc. Làng nghề cũng đã đóng góp đá quý để
xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Sau năm 1975, khi đất
nước hoàn toàn thống nhất, Hợp tác xã đá mỹ nghệ Non Nước được thành lập và
chính thức đi vào hoạt động với 130 hộ xã viên. Trong tổng số lao động, đội ngũ
thợ điêu khắc khoảng 150 người, số còn lại chủ yếu là lao động phổ thông tham
gia các khâu khai thác, vận chuyển và
gia công thô. Ở giai đoạn này, hoạt động sản xuất của Hợp tác xã chủ yếu tập
trung vào vật liệu xây dựng, sử dụng nguồn nguyên liệu khai thác tại chỗ, phương
thức sản xuất vẫn mang đậm tính thủ công, dựa trên kinh nghiệm truyền thống được
truyền lại qua nhiều thế hệ.
Các sản phẩm mỹ nghệ thời kỳ này còn quy mô nhỏ, kiểu
dáng đơn giản, số lượng hạn chế, chủ yếu phục vụ nhu cầu làm quà lưu niệm cho
du khách trong nước và quốc tế đến tham quan Di tích quốc gia đặc biệt Danh thắng
Ngũ Hành Sơn.
Làng nghề điêu khắc đá
mỹ nghệ Non Nước còn lưu giữ cả một hệ thống di tích như đình làng, miếu tổ,
văn bia, mộ chí... Đây là những minh chứng sống động cho tiến
trình phát triển liên tục, gắn liền với lịch sử địa phương và quốc gia, đồng
thời góp phần khẳng định
vai trò của nghề truyền thống trong cấu trúc di
sản văn hóa phi vật thể Việt Nam.
Đến năm 2025, Làng nghề
đá mỹ nghệ Non Nước có diện tích 35,5 ha với 385 cơ sở đang hoạt động trong
Làng nghề, đóng góp rất lớn vào việc giải quyết tình trạng thất nghiệp, tạo
thêm nhiều việc làm và một nguồn lực quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội
cho địa phương. Việc tập trung hầu hết các cơ sở điêu khắc đá vào Làng nghề đá
mỹ nghệ Non Nước bước đầu đã giải quyết được tình trạng ô nhiễm
môi trường tại các khu dân cư nơi các hộ sản xuất tại nhà như trước đây, góp phần
vào việc duy trì và phát triển nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống và độc đáo điêu
khắc đá Non Nước. Nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước được Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia vào tháng 8 năm 2014. Làng nghề có 01 nghệ nhân được phong
tặng danh hiệu nghệ nhân nhân dân, 03 nghệ nhân được phong tặng danh hiệu nghệ
nhân ưu tú, 04 nghệ nhân được phong tặng danh hiệu nghệ nhân Đà Nẵng.
II.
CÁC GIÁ TRỊ CỦA NGHỀ ĐIÊU KHẮC ĐÁ MỸ NGHỆ NON NƯỚC
1.
Giá trị văn hóa - nghệ thuật
Nghề điêu khắc đá mỹ
nghệ Non Nước không chỉ là hoạt động sản xuất mang tính kinh tế, mà còn kết
tinh các giá trị văn hóa - nghệ thuật đặc sắc, là sự giao thoa giữa truyền thống
dân gian, tín ngưỡng bản địa và tinh hoa mỹ thuật dân tộc. Với lịch sử gần 400
năm, Làng nghề đã hình thành một không gian văn hóa đặc thù, nơi bảo tồn và lan
tỏa các giá trị vật thể lẫn phi vật thể qua nhiều thế hệ. Chính từ nền tảng
lịch sử - văn hóa bền vững ấy, các giá trị của nghề được thể
hiện rõ nét trên nhiều phương diện khác nhau.
Về phương diện văn hóa,
nghề phản ánh mối quan hệ gắn bó giữa con người và môi trường tự nhiên, thể hiện
qua sự liên kết bền chặt của cộng đồng Quán Khái Đông với cụm núi Ngũ Hành Sơn
- nguồn nguyên liệu và cảm hứng sáng tác chủ đạo. Hệ sản phẩm
đa dạng từ đồ dùng sinh hoạt (bia mộ, cối xay, chày, vật dụng gia đình) đến
trang sức nhỏ (vòng, nhẫn, chuỗi hạt, chặn giấy) và các tác phẩm thờ tự - tín ngưỡng
(tượng Phật, linh vật, phù điêu mang ý nghĩa bảo hộ,
hướng thiện). Giá trị văn hóa của Làng nghề vì thế được biểu đạt rõ nhất qua
chính sản phẩm - nơi tinh hoa và truyền thống được “thổi
hồn” bởi bàn tay nghệ nhân.
Tuy nhiên, không chỉ dừng
lại ở chức năng văn hóa - tín ngưỡng, các sản phẩm đá Non Nước còn mang giá trị
thẩm mỹ đặc sắc, được thể hiện rõ qua phương diện nghệ thuật. Tác phẩm điêu khắc
đá Non Nước là sự hòa quyện giữa kỹ thuật thủ công điêu
luyện và mỹ cảm truyền thống. Dưới bàn tay và trí tưởng tượng của nghệ nhân, khối
đá vô tri trở thành hình tượng giàu biểu cảm, phản ánh
“hơi thở thời đại”, đặc trưng Làng nghề và phong cách cá nhân. Phong cách sáng
tạo biến đổi theo thời gian, vừa kế thừa dòng điêu khắc cổ truyền, vừa tiếp biến
với mô-típ Chăm và các nguồn cảm hứng khác, qua đó làm phong phú kho tàng mỹ
thuật dân gian Việt Nam. Những giá trị nghệ thuật này không tồn
tại rời rạc, mà được nuôi dưỡng và bảo lưu trong một không gian văn hóa - xã hội
đặc thù của Làng nghề.
Không gian nghề gắn với
thiết chế cộng đồng như đình làng, nhà thờ Tổ, nghi lễ cúng Tổ và mô hình truyền
nghề thầy - trò, tạo nên cấu trúc văn hóa nghề bền
vững. Yếu tố này định hình bản sắc riêng của nghệ thuật điêu khắc đá Non Nước
trong dòng chảy văn hóa Việt Nam, đồng thời khẳng định vai trò của Làng nghề
như một thiết chế văn hóa - nghệ thuật sống
động, liên tục thích ứng với bối cảnh hiện đại. Từ hệ
giá trị vật thể và cấu trúc văn hóa nghề đó, có thể thấy rằng giá trị của nghề điêu
khắc đá Non Nước còn được kết tinh sâu sắc trong các yếu
tố phi vật thể.
Bên cạnh giá trị vật thể,
nghề còn chứa đựng hệ giá trị phi vật thể phong phú - di
sản cho hiện tại và tương lai. Năm 2014, nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước được
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc
gia (Làng nghề đầu tiên của Đà Nẵng).
Theo Luật Di sản văn hóa, di sản này đáp ứng bốn tiêu chí: (1) tính đại diện,
thể hiện bản sắc cộng đồng - địa phương; (2)
phản ánh sự đa dạng văn hóa và sức sáng tạo của con người, được
truyền nối qua nhiều thế hệ; (3) có khả năng phục hồi và tồn
tại bền vững; (4) được cộng đồng đồng thuận đề cử và cam kết
bảo vệ.

2.
Giá trị kinh tế
Nghề điêu khắc đá mỹ
nghệ Non Nước không chỉ là một di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu, mà còn
mang lại giá trị kinh tế đáng kể cho địa phương. Nghề này đã và đang góp phần
giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động, đặc biệt là cư dân sinh sông quanh
khu vực Ngũ Hành Sơn và địa bàn lân cận. Với nhiều hộ gia đình, điêu khắc đá
không chỉ là nghề truyền thống mà còn là nguồn sinh kế chính, đảm bảo đời sống ổn
định và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của cộng đồng. Trên nền tảng
sinh kế truyền thống đó, giá trị kinh tế của Làng nghề ngày càng được mở rộng
và khẳng định trong bối cảnh đổi
mới và hội nhập. Sản phẩm của Làng nghề không chỉ đáp ứng nhu cầu thị trường
trong nước mà còn xuất khẩu sang nhiều quốc gia, mang lại nguồn ngoại
tệ quan trọng. Việc đầu tư trang
thiết bị hiện đại đã nâng cao năng suất, cải thiện chất lượng và đa dạng hóa mẫu
mã sản phẩm, qua đó gia tăng sức cạnh tranh trên thị trường.
Quá trình mở rộng thị
trường và hiện đại hóa sản xuất đã tạo điều kiện để Làng nghề phát triển với
quy mô ngày càng lớn, thể hiện rõ qua các chỉ số sản xuất - kinh
doanh cụ thể.
Hiện nay, làng nghề có
385 cơ sở sản xuất - kinh doanh đang hoạt động, với sản lượng ước tính khoảng
1,2 tỷ sản phẩm/năm với doanh thu bình quân đạt 460 tỷ đồng/năm; trong đó, giai
đoạn 2021 - 2025, tổng giá trị hàng hóa ước đạt khoảng 1.380 tỷ
đồng (cụ thể: năm 2023 đạt 660 tỷ, năm 2024 đạt 420 tỷ và năm 2025 đạt 300 tỷ).
Những con số này phản ánh trực tiếp hiệu quả kinh tế của nghề, đồng thời cho thấy
mức độ đóng góp thực chất vào đời sống của người lao động tại địa phương.
Kết
quả khảo sát cho thấy có 71% người lao động đồng ý rằng thu nhập từ nghề đủ đảm
bảo cuộc sống gia đình (16% rất đồng ý, chỉ 13% không đồng ý), 69% cho rằng thu
nhập ổn định qua các mùa vụ (48% đồng ý, 21%
rất đồng ý), trong khi 31% cho biết vẫn có biến động; 64% có thêm nguồn thu bổ
sung liên quan đến nghề hoặc sản phẩm thủ công. Các kết quả khảo sát này cho thấy
nghề điêu khắc đá không chỉ tạo việc làm, mà còn mang lại mức thu nhập tương đối
ổn
định và bền vững cho người lao động.
Thu nhập bình quân của
lao động trong Làng nghề đạt khoảng 12 triệu đồng/tháng,
cao hơn mức trung bình của nhiều ngành tiểu thủ
công nghiệp tại Đà Nẵng. Điều này khẳng định nghề điêu khắc đá
là một sinh kế chính, tương đối ổn định. Không dừng lại ở tác động đối với từng
hộ gia đình, giá trị kinh tế của Làng nghề còn lan tỏa mạnh mẽ ở cấp độ địa
phương và thành phố.
Ngoài đóng góp trực tiếp
vào thu nhập của người dân, nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước còn góp phần
đáng kể vào nguồn thu ngân sách địa phương, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá
trị sản xuất của ngành Công nghiệp - Tiểu
thủ công nghiệp phường Ngũ Hành Sơn. Nhiều cơ sở đã xây dựng được thương hiệu
uy tín như: Tiến Hiếu, Nguyễn Hùng, Xuất Ánh, Nguyễn Việt Minh, Tý Nhựt, Long Bửu,
Út
Lan... Sản phẩm của họ được thương nhân và khách du lịch quốc tế (Hồng Kông, Nhật
Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Australia, Pháp, Canada, Hà Lan, Mỹ...) đặt mua, có hợp
đồng trị giá hàng trăm nghìn USD. Nhờ đó, sản phẩm của Làng nghề trở thành mặt
hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao, đóng góp đáng kể vào
tiềm lực kinh tế của thành phố Đà Nẵng.
III.
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO TỒN GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT NGHỀ ĐIÊU
KHẮC ĐÁ MỸ NGHỆ NON NƯỚC
1.
Những kết quả đạt được
Nghề điêu khắc đá mỹ
nghệ Non Nước đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản
văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2014, trở thành Làng nghề đầu
tiên của Đà Nẵng đạt danh hiệu này. Thành phố đã đầu tư
xây dựng Khu quy hoạch tập trung Làng nghề, triển khai Đề án mở rộng Làng
nghề giai đoạn 2019 - 2022 với kinh phí gần 45 tỷ đồng. Nhiều
lễ hội gắn với nghề được duy trì và mở rộng quy mô,
tiêu biểu là Lễ hội Thạch nghệ Tổ sư (16/3 âm lịch) và Lễ hội Quán Thế Âm,
kết hợp phần lễ truyền thống (cúng Tiên linh, tế Tổ sư)
với phần hội (thi Cờ làng, biểu diễn tuồng, trưng bày ảnh). Bộ phận quản lý tại
Làng nghề đã tham gia diễu hành xe hoa, biểu diễn
điêu khắc thủ công, tham gia hội chợ triển lãm và đã bước đầu ứng dụng công nghệ
trong quảng bá sản phẩm. Kết quả khảo sát du khách cho thấy 90% đánh giá sản phẩm
tinh xảo hoặc rất tinh xảo, chứng tỏ tay nghề của thợ thủ công đang được duy
trì ở mức cao. Nghề đóng góp ổn định vào thu nhập của người dân, tạo việc làm
và giữ vai trò là sinh kế chính của nhiều hộ gia đình tại địa phương.
Về bảo tồn nghề thủ
công, theo kết quả khảo sát, 51% cho rằng nghề đang được gìn giữ tốt, 29% nhận
định đang mai một và 20% lo ngại nguy cơ mai một nghiêm trọng; 73% sử dụng máy
khoan hoặc cắt, 19% dùng dụng cụ thô sơ và
8% sử dụng thiết bị hiện đại khác, trong đó 86% quy trình có tỷ lệ dùng máy
từ 30% trở lên. Mặc dù vậy, 80% vẫn thường xuyên
dùng công cụ truyền thống, 73% khẳng định
kỹ năng thủ công quyết định chất lượng sản phẩm và 95% tự tin với kỹ thuật chạm
khắc phức tạp, đồng thời 89% đồng thuận kết hợp thủ công và
công nghệ để phát triển bền
vững.
2.
Tồn tại, hạn chế
Công tác bảo tồn giá trị
nghệ thuật Nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước vẫn tồn tại một số hạn chế như:
- Không gian và cảnh
quan Làng nghề: Quá trình đô thị hóa làm thu hẹp diện tích và thay đổi cảnh
quan truyền thống; một số công trình lịch sử (đình làng, miếu Tổ,
chợ cổ, khu khai thác đá xưa) chưa được phục dựng
hoặc bảo tồn đúng mức.
- Việc cấm khai thác đá
tại Ngũ Hành Sơn để bảo vệ di tích là cần thiết, nhưng gây khó khăn cho việc
duy trì truyền thống khai thác tại chỗ - một yếu tố cấu thành bản sắc nghề.
- Các phương
pháp chế tác thủ công tinh xảo (như khắc bia ma nhai, đục tượng Chăm theo lối
cổ) chỉ còn được lưu giữ bởi một số ít nghệ
nhân cao tuổi; thế hệ kế cận chưa được đào tạo bài bản, chủ yếu học qua truyền
khẩu. Nghi lễ cúng Tổ
nghề và sinh hoạt cộng đồng tuy còn duy trì nhưng thiếu tính thường xuyên và
chưa thu hút lớp trẻ; các giá trị phi vật thể như câu
ca, tục ngữ, lễ thức nghề nghiệp chưa được hệ thống hóa và truyền dạy đầy đủ.
- Dù du khách đánh giá
cao chất lượng sản phẩm, nhưng 50% chưa nhận biết rõ giá trị
của công đoạn thủ công, cho thấy hoạt động trải nghiệm như workshop, tour “theo
dấu nghệ nhân”... chưa được khai thác hiệu quả.
- Còn thiếu sự phối hợp
chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, các tổ chức văn hóa - du lịch - giáo dục và cộng
đồng nghệ nhân; nguồn lực tài chính và chiến lược bảo tồn dài hạn vẫn còn hạn
chế.
f
Để đánh giá một cách
toàn diện hiệu quả công tác quản lý, khai thác và phát huy giá trị nghệ thuật của
Nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước, trước hết cần xem xét thực trạng tổ chức sản
xuất, cơ cấu các cơ sở hoạt động và nguồn lực lao động của Làng nghề trong giai
đoạn hiện nay.
Hiện nay, tại Làng nghề
có 385 cơ sở đang hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó: Xưởng cắt đá: 11 cơ
sở; xưởng có máy gia công tự động hóa (CNC): 40 cơ sở; còn lại 334 cơ sở sản xuất
thủ công. Số lượng công nhân trong
Làng nghề đến tháng 6/2025 là 1.250 thợ lành nghề và người lao động. Cơ cấu này
cho thấy hoạt động sản xuất tại Làng nghề vẫn chủ yếu dựa trên nền tảng thủ
công truyền thống, đồng thời từng bước tiếp cận cơ giới hóa và công nghệ hiện đại.
Song song với quy mô cơ
sở và nguồn nhân lực, việc bảo đảm nguồn cung nguyên liệu là yếu
tố then chốt, có tác động trực tiếp đến hiệu quả quản lý, khai thác và phát triển
bền vững của Làng nghề.
Lượng
đá nguyên liệu nhập vào Làng nghề giai đoạn 2020 - 2025 khoảng
52.000 tấn, trong đó:
Đá trong nước, tổng lượng đá nhập vào Làng nghề ước khoảng
48.000 tấn các loại trong 01 năm; cả giai đoạn 2020
- 2025 ước khoảng 240.000 tấn; đá nhập khẩu:
Ước tổng lượng đá nhập vào trong 01 năm là 800 tấn
các loại, chủ yếu từ Afghanistan, Pakistan, Ấn Độ... cả giai đoạn 2020 - 2025 ước
khoảng 4.000 tấn. Thực trạng này phản ánh sự phụ thuộc ngày càng lớn vào nguồn
nguyên liệu bên ngoài, đồng thời đặt ra những yêu cầu
mới đối với công tác quản lý tài nguyên, kiểm soát chất lượng và định hướng
phát triển lâu dài của Nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước.
Không chỉ chịu tác động
từ nguồn cung nguyên liệu, hiệu quả quản lý, khai thác và phát huy giá trị nghệ
thuật của Làng nghề còn gắn chặt với dòng khách du lịch - yếu tố cầu quan trọng
quyết định khả năng tiêu thụ, quảng bá và lan tỏa giá trị sản phẩm.
Bảng 1. Số lượt du
khách đến tham quan Danh thắng Ngũ Hành Sơn và mua sắm tại làng nghề (2019 -
2024)
Đơn
vị tính: Lượt khách
|
Năm
|
2019
|
2020
|
2021
|
2022
|
2023
|
2024
|
2025
|
|
Khách quốc tế
|
1.331.738
|
244.190
|
12.403
|
112.036
|
1.115.882
|
1.256.740
|
1.548.684
|
|
Khách nội địa
|
772.558
|
124.180
|
73.051
|
569.530
|
570.570
|
672.409
|
695.786
|
|
Tổng
số
|
2.104.296
|
368.370
|
85.454
|
681.566
|
1.686.452
|
1.929.149
|
2.244.470
|
(Nguồn:
Trung tâm Cung ứng dịch vụ sự nghiệp công phường, 2025)
Căn cứ số liệu tại Bảng
1 cho thấy, năm 2019, Danh thắng Ngũ Hành Sơn đón trên 2,1 triệu lượt khách.
Giai đoạn 2020 - 2021, lượng khách tham quan sụt giảm
nghiêm trọng, đặc biệt năm 2021 chỉ đạt hơn 85 nghìn lượt khách, chủ yếu do tác
động của đại dịch COVID-19 và các biện pháp hạn chế
đi lại trong và ngoài nước.
Từ năm 2022, hoạt động
du lịch tại Danh thắng Ngũ Hành Sơn từng bước phục hồi;lượng khách tăng dần qua
các năm, trong đó khách quốc tế có xu hướng phục hồi rõ nét. Đến năm 2024, tổng
lượt khách đã tiệm cận mức trước đại dịch, đạt hơn 1,9 triệu lượt. Năm 2025, lượng
khách tiếp tục tăng và vượt mức cao nhất của năm 2019, đạt trên 2,2 triệu lượt
khách.
Xu hướng phục hồi và
tăng trưởng nêu trên cho thấy Danh thắng Ngũ
Hành Sơn vẫn giữ vai trò là điểm đến trọng điểm của
thành phố Đà Nẵng; đồng thời
đặt ra yêu cầu cấp thiết trong việc nâng cao chất lượng quản lý, khai thác và
phát huy giá trị di sản theo hướng bền vững, gắn với bảo tồn và phát triển
du lịch trong giai đoạn tiếp theo.
1.
Về công tác đào tạo, nâng cao trình độ nguồn nhân lực điêu khắc đá và phục dựng,
bảo tồn các hoạt động chế tác thủ công tại Làng nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non
Nước
Trên cơ sở thực trạng
quy mô sản xuất và dòng khách du lịch, một yếu tố quyết định chất lượng giá trị
nghệ thuật được khai thác và phát huy chính là nguồn nhân lực và năng lực
duy trì kỹ thuật thủ công truyền thống.
Lực lượng lao động tại
Làng nghề chủ yếu là lao động tại chỗ (gần 80%), hầu hết là tự học nghề. Trong
khi đó, số lượng lao động lâu năm, có kinh nghiệm (từ 10 năm trở lên) chỉ chiếm
khoảng 20%, còn đa số chỉ từ 2 - 10 năm (chiếm 80%). Những khó khăn về nguồn
nhân lực, đặc biệt là thiếu đội ngũ thợ được đào tạo bài bản, có tay nghề và
kinh nghiệm, số lượng thợ vừa học vừa làm thường không ổn định (do công việc vất
vả, đòi hỏi phải kiên trì, chịu khó nên lứa tuổi thanh niên ít duy trì được việc
học nghề lâu dài, gây khó khăn cho các chủ cơ sở sản xuất). Do vậy vấn đề nguồn
nhân lực đòi hỏi sự quan tâm, định hướng của các ngành chức năng và các cấp chính
quyền địa phương.
Từ thực trạng phân bố
kinh nghiệm và tính ổn định lao động nêu trên, có thể thấy
yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo và củng cố lực
lượng kế cận trở thành nội dung mang tính chiến lược.
Trong bối cảnh hội nhập
và cạnh tranh ngày càng gay gắt của thị trường thủ công mỹ nghệ, việc nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực và bảo tồn các hoạt động chế tác thủ công truyền thống
tại Làng nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước là vấn đề
có ý nghĩa chiến lược, không chỉ đối với phát triển kinh tế địa phương mà còn
trong bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể
quốc gia. Đặt trong bối cảnh đó, công tác đào tạo cần được xem
xét đồng thời ở hai khía cạnh: Mô hình truyền nghề hiện hữu và mức độ liên kết
với hệ thống đào tạo chính quy.
Về công tác đào tạo và
nâng cao chất lượng nhân lực điêu khắc đá, hiện nay đội ngũ nghệ nhân tại Làng
nghề phần lớn vẫn duy trì theo mô hình truyền
thống “cha truyền con nối”, thiếu hệ thống đào tạo bài bản và
chính quy. Trong khi đó, thế hệ
nghệ nhân cao tuổi - những người nắm giữ kỹ thuật chế tác tinh xảo - đang dần
mai một, còn thế hệ trẻ ít người đam mê với nghề truyền thống hoặc lựa chọn nghề
nghiệp theo hướng khác. Việc liên kết giữa Làng nghề với các cơ sở giáo dục nghề
nghiệp, trường đại học mỹ thuật, thiết kế công nghiệp vẫn còn hạn chế.
Một số nghệ nhân đã chủ
động mở lớp dạy nghề tại chỗ hoặc đào tạo học việc cho lao động địa phương,
song vẫn mang tính nhỏ lẻ, không được tích hợp
thành chương trình giảng dạy nghề toàn diện, bao gồm lịch sử Làng nghề, mỹ thuật
ứng dụng, kỹ thuật chế tác và tư duy thiết kế sáng tạo. Điều này dẫn đến nguy
cơ đứt - gãy truyền nghề và suy giảm chất lượng lao động thủ công có tay nghề
cao.
Song song với câu chuyện
nhân lực, vấn đề bảo tồn kỹ thuật chế tác thủ công là hệ thống giá trị nghệ thuật
cần được phục dựng và tư liệu hóa để tránh
mai một theo thời gian.
Về phục dựng và bảo tồn
hoạt động chế tác thủ công, nhiều kỹ thuật thủ công truyền thống như đục Ma
nhai, khắc tượng Chăm, làm công cụ bằng tay (mũi xó, mũi ngô, cưa đá, bàn mài
thủ công...) đang dần bị thay thế bởi máy móc, cơ giới hóa. Dù ứng dụng công
nghệ là cần thiết trong xu thế hiện đại, nhưng nếu không song song phục dựng và
lưu trữ kỹ thuật thủ công truyền thống dưới dạng tư liệu, hình ảnh, phim tư liệu
hay đào tạo truyền nghề thì sẽ dẫn
đến mai một, mất
mát nghiêm trọng về tri thức nghề truyền thống. Từ yêu cầu bảo tồn tri thức nghề,
thời gian qua đã có một số hoạt động triển khai bước đầu; tuy
nhiên, hiệu quả lâu dài phụ thuộc đáng kể vào mức
độ phối hợp giữa các chủ thể liên quan.
Hiện nay, một số hoạt động
đáng ghi nhận đã và đang được triển khai như: Phục dựng nhà thờ tổ nghề, tổ chức
lễ hội cúng tổ và các cuộc thi tạc tượng, mời nghệ nhân truyền thống hướng dẫn
kỹ thuật tại các sự kiện văn hóa - du lịch. Tuy nhiên, các hoạt động này vẫn
thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền, cơ sở đào tạo và cộng đồng nghệ
nhân để tạo thành một hệ sinh thái bảo tồn - đào tạo - phát triển bền vững.
Để
nhìn rõ hơn điểm mạnh và các thách thức trong đào tạo và tiếp cận công nghệ, kết
quả khảo sát là căn cứ quan trọng phản ánh trạng thái hiện hành của lực lượng
lao động.
Theo kết quả khảo sát,
trình độ thợ thủ công điêu khắc đá hiện ở mức cao, 88% đánh giá có đủ năng lực
hoàn thiện sản phẩm, 93% thường xuyên cập nhật kỹ thuật mới và 97% vẫn duy trì
các kỹ thuật truyền thống một cách cẩn trọng,
chuẩn xác. Về hoạt động truyền nghề, 97% xác nhận quá trình này trong gia đình
được tổ chức bài bản, 91% dành thời gian hướng dẫn thế hệ kế cận và 97% cho rằng
người học nghề trong làng được đào tạo tốt. Tuy
nhiên, khả năng tiếp cận công nghệ mới còn hạn chế khi chỉ 69% từng tiếp xúc,
70% nhận thấy công nghệ giúp tăng năng suất nhưng 84% gặp khó khăn do thiếu kiến
thức và tài chính, trong khi 96% mong muốn được đào tạo và hỗ trợ áp dụng công
nghệ hiện đại.
2.
Về công tác quản lý, phát huy tính sáng tạo nghệ thuật và đổi mới trong chế tác
tác phẩm thủ công mỹ nghệ Non Nước đảm bảo theo xu hướng
thương mại dịch vụ và giữ gìn bản sắc nghề thủ công địa
phương
Trên nền tảng nguồn
nhân lực và năng lực bảo tồn kỹ thuật, công tác quản lý
đóng vai trò “định hướng” để cân bằng giữa mục tiêu
thương mại hóa và yêu cầu giữ gìn bản sắc nghệ thuật của nghề.
Trước hết, công tác quản
lý nhà nước đã bước đầu có những điều chỉnh phù
hợp, trong đó bao gồm việc xây dựng quy hoạch phát triển
Làng nghề gắn với không gian du lịch tại Danh thắng Ngũ Hành Sơn; ban hành các
chính sách hỗ trợ đầu tư máy móc, xúc tiến thương mại và đào tạo nguồn nhân lực.
Tuy nhiên, vẫn còn thiếu các cơ chế cụ thể về bảo
tồn mẫu mã truyền thống, tiêu chuẩn nghệ
thuật trong sản phẩm và bảo hộ bản quyền thiết kế - những yếu tố có vai trò
quan trọng trong việc duy trì bản sắc sáng tạo.
Thứ hai, việc phát huy
tính sáng tạo nghệ thuật được thúc đẩy thông qua các chương trình hỗ trợ nghệ
nhân sáng tác, tổ chức cuộc thi thiết kế sản phẩm mỹ nghệ mang dấu ấn văn hóa địa
phương. Bộ phận quản lý tại Làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước phối hợp với các đơn
vị liên quan tham mưu địa phương tổ chức Hội thi điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước
năm 2023, 2024, qua đó đã góp phần phát huy những tinh hoa của Làng nghề đá mỹ
nghệ Non Nước, làm cho Làng nghề không những hướng đến những giá trị to lớn về
mặt kinh tế mà còn là những giá trị về thẩm mỹ,
hướng đến sự hoàn hảo trong cái đẹp, trong
cách chế tác sản phẩm bằng đá để Làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước ngày càng bay
cao hơn, xa hơn trong tương lai. Thông qua cuộc thi, địa phương giới thiệu đến
du khách thưởng lãm về quá trình chế tác, tạo hình nghệ thuật và chiêm ngưỡng
tác phẩm hoàn thành từ bàn tay tài hoa của những nghệ nhân điêu khắc tại Làng
nghề truyền thống điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước. Đây là sản
phẩm mới và độc đáo mà phường Ngũ Hành Sơn đang triển khai đánh giá, nghiên cứu
và xây dựng đề án tổ chức hằng năm để tạo sản phẩm du lịch đặc thù, mang bản sắc
địa phương gắn với hoạt động tham quan Bảo tàng Ký ức điêu khắc đá mỹ nghệ Non
Nước và các sản phẩm du lịch khác có liên quan. Tiếp tục phát huy những kết quả
đạt được trong công tác bảo tồn, gìn giữ, phát huy
các giá trị văn hóa tại Làng nghề, năm 2024, Bộ phận quản lý tại Làng nghề đã phối
hợp với các tổ chức công đoàn địa phương tổ chức Hội thi điêu khắc cho công
nhân và thợ lành nghề nhằm tôn vinh và phát huy hoạt động nghệ thuật điêu khắc
đá mỹ nghệ Non Nước, góp phần gìn giữ, kế thừa
và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc của địa phương đã được
công nhận Di sản văn hóa phi vật thể cấp
quốc gia. Đồng thời, góp phần định hướng phát triển, gìn giữ phát huy và kế thừa
hoạt động điêu khắc, chế tác đá mỹ nghệ Non Nước đáp ứng nhu cầu, thị hiếu
lành mạnh của các tầng lớp Nhân dân, khách du lịch
trong và ngoài nước.
Hằng năm việc tổ chức
giỗ Thạch nghệ Tổ sư diễn ra vào ngày 16/3 Âm lịch, với sự tham gia của hàng
nghìn người dân, du khách và phần lớn là các thợ điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước,
các thợ điêu khắc các nơi đã từng học nghề tại Làng nghề đá Non Nước. Họ về đây
dự lễ giỗ Tổ nghề thể hiện sự tưởng nhớ tri ân bậc tiền
nhân khai sáng nghề điêu khắc đá. Lễ giỗ Thạch nghệ Tổ sư diễn ra từ năm 1971 đến
nay (từ năm 1971 khi xây dựng lại đền thờ tổ nghề tại tổ 92, phường
Hòa Hải (cũ), trước kia do bị chiến tranh tàn phá) đây là lễ
giỗ truyền thống của Làng nghề đá Non Nước, gắn với một địa
danh nổi tiếng là Danh thắng Ngũ Hành Sơn. Trong bối cảnh đó, sự thay đổi
của phương thức học nghề, truyền nghề và tư duy sản xuất cũng là một biểu
hiện quan trọng của quá trình thích ứng mà vẫn phải bảo toàn bản sắc nghề.
Với sự đổi mới toàn diện,
trên nhiều khía cạnh từ việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất
cho đến tư duy, nhận thức của người thợ trong việc truyền nghề, học nghề. Hình
thức học nghề và truyền nghề đã thoát ra khỏi quy ước “cha truyền con nối” mà
đã có sự mở rộng trong việc truyền lại di sản kiến thức về điêu khắc đá cho thế
hệ mai sau. Nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước đã và đang phát triển
theo hướng sản xuất hàng hóa để phù hợp với xu thế
“giao lưu và hội nhập”. Năng lực cá nhân do vậy có điều kiện phát triển; kỹ
năng, kỹ thuật mới đã giúp họ thổi hồn
nghệ thuật vào những phiến đá vô tri vô giác trở thành những tác phẩm nghệ thuật
để đời.
Để đánh giá mức độ dịch
chuyển giữa xu hướng truyền thống - hiện đại trong sáng tạo, các số liệu khảo
sát giúp lượng hóa xu hướng chủ đề, tiêu chí thẩm mỹ
và ưu tiên của các nhóm chủ thể.
Kết
quả khảo sát cho thấy yếu tố sáng tạo nghệ thuật trong chế
tác sản phẩm đã được thừa nhận nhưng vẫn chưa chiếm ưu thế so với giá trị truyền
thống. Ở nhóm thợ thủ công, 43,0% lựa chọn chủ đề văn
hóa dân gian, 25,0% chọn tín ngưỡng - tâm linh, 10,0% hướng đến biểu
tượng truyền thống Việt, trong khi chỉ 22,0% ưu tiên phong cách hiện đại theo
đơn đặt hàng, về những yếu tố tạo nên giá trị nghệ thuật, 73,0% thợ thủ công nhấn
mạnh đường nét thủ công tinh xảo, 17,0% coi trọng hình khối chuẩn,
5,0% đánh giá cao câu chuyện hay ý nghĩa tác phẩm, 3,0% chú trọng màu sắc hoặc
vân đá và 2,0% tập trung vào phong cách riêng. Ở nhóm hộ kinh doanh, xu hướng
tương tự được thể hiện khi 75,2% coi đường nét thủ công tinh xảo là giá trị cốt
lõi, 17,6% ưu tiên yếu tố văn hóa - tâm linh, 4,0% xem màu hoặc chất đá là điểm
mạnh và 3,2% chú trọng kiểu dáng cân đối. Những số liệu này phản ánh rằng đổi mới
và sáng tạo trong thiết kế hiện vẫn giữ vai trò bổ trợ,
trong khi bản sắc tay nghề truyền thống tiếp tục được đặt ở vị trí trung tâm.
Các số liệu này cho thấy ưu tiên của cả bên cung và bên cầu vẫn đặt trọng tâm
vào tay nghề - chuẩn mực truyền thống, do đó tỷ trọng sản phẩm mới/đột phá về
thiết kế thường chưa cao.
Trên cơ sở xu hướng lựa
chọn chủ đề và tiêu chí thẩm mỹ nêu trên, tỷ lệ sản phẩm mới/được thay đổi mẫu
mã trong một giai đoạn là chỉ báo quan trọng phản ánh mức độ đổi mới thiết kế của
Làng nghề.
Tỷ lệ sản phẩm mới hoặc
sản phẩm được thay đổi mẫu mã trong một giai đoạn phản ánh trực tiếp mức độ đổi
mới sáng tạo trong hoạt động chế tác đá mỹ nghệ tại Làng nghề Non Nước. Các số
liệu khảo sát cho thấy, mặc dù hoạt động sáng tạo đã được ghi nhận và có sự dịch
chuyển nhất định theo nhu cầu thị trường, song tỷ lệ sản phẩm mới hoặc cải tiến
mẫu mã vẫn chưa chiếm ưu thế so với các dòng sản phẩm truyền thống. Cụ thể,
43,0% lựa chọn chủ đề văn hóa dân gian, 25,0%
chọn tín ngưỡng - tâm linh, 10,0% hướng đến biểu tượng truyền thống Việt; trong
khi chỉ 22,0% ưu tiên phong cách hiện đại theo đơn đặt
hàng. Cơ cấu lựa chọn này cho thấy hoạt động đổi mới mẫu mã hiện vẫn chủ yếu diễn
ra trong xu thế truyền thống, thiên về biến thể và tùy biến
theo nhu cầu, hơn là phát triển dòng sản phẩm hoàn toàn mới. Phần lớn cơ sở và
thợ thủ công vẫn ưu tiên duy trì các mẫu mã quen thuộc, đã được thị trường chấp
nhận, đặc biệt là các sản phẩm mang tính tín ngưỡng - tâm linh và văn hóa dân
gian.
Thực trạng này cho thấy
đổi mới mẫu mã hiện nay chủ yếu mang tính điều chỉnh,
biến thể trên
nền mẫu cũ, hơn là phát triển các dòng sản phẩm
hoàn toàn mới có giá trị nghệ thuật cao hoặc định danh rõ ràng như tác phẩm
sáng tác. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ tâm lý sản xuất an toàn, phụ thuộc
vào đơn đặt hàng, hạn chế về nguồn lực đầu tư cho sáng tác, cũng như thiếu
cơ chế hỗ trợ thử nghiệm mẫu mã mới trong bối cảnh thị trường cạnh tranh.
Ở góc độ tích cực, việc
duy trì tỷ lệ cao các sản phẩm truyền thống góp phần bảo tồn
bản sắc nghề, giữ vững hàm lượng thủ công và giá
trị văn hóa đặc trưng của Làng nghề. Tuy nhiên, nếu tỷ lệ
sản phẩm mới và sản phẩm được cải tiến mẫu
mã không được nâng dần theo thời gian, Làng nghề sẽ đối
mặt với nguy cơ chậm thích ứng với xu hướng tiêu dùng, hạn chế khả năng mở rộng
thị trường và phát triển các phân khúc sản phẩm có giá trị gia tăng cao gắn
với du lịch văn hóa và thị trường nghệ thuật.
Do đó, tỷ lệ sản phẩm mới/được
thay đổi mẫu mã trong giai đoạn hiện nay cho thấy dư địa
đổi mới sáng tạo của Làng nghề còn lớn, đòi
hỏi sự định hướng và hỗ trợ từ công tác quản lý nhà nước, thông qua các chính
sách khuyến khích sáng tác, đào tạo tư duy thiết kế,
bảo hộ bản quyền mẫu mã và tạo môi trường thử nghiệm sản phẩm mới. Đây là cơ sở
quan trọng để vừa thúc đẩy đổi mới sáng tạo, vừa đảm bảo hài hòa giữa
yêu cầu thương mại hóa và bảo tồn bản sắc nghệ thuật của Nghề điêu khắc đá mỹ
nghệ Non Nước.
Về đổi mới kỹ thuật, khảo
sát cho thấy sự kết hợp giữa phương pháp thủ công và công nghệ đã trở nên phổ
biến. Ở nhóm thợ thủ công
có 73,0% sử dụng máy khoan hoặc cắt, 19,0% vẫn dùng dụng cụ thô
sơ và 8,0% tiếp cận với các thiết bị hiện đại khác; 86% cho biết tỷ lệ sử dụng
máy chiếm từ 30% quy trình sản xuất trở lên. Về khả năng tiếp cận công nghệ mới,
69,0% đã áp dụng máy CNC hoặc hệ thống cắt
tự động, 70,0% đồng thuận rằng
công nghệ giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, song 84,0% vẫn gặp
khó khăn do hạn chế về kiến thức và tài
chính. Đáng chú ý có 96,0% mong muốn được
đào tạo và hỗ trợ trong quá trình áp dụng công nghệ, đồng thời 89,0% tin rằng
việc kết hợp hài hòa giữa thủ công và công nghệ sẽ thúc đẩy
phát triển bền vững. Những kết quả này cho thấy tiềm năng lớn trong đổi mới quy
trình sản xuất, nhưng để hiện thực hóa cần có các chính sách hỗ trợ
về đào tạo và đầu tư nhằm vượt qua những rào cản hiện hữu.
3.
Về công tác tổ chức phát huy hoạt động sáng tác nghệ thuật điêu khắc đá mỹ nghệ
Non Nước gắn với hoạt động thương mại
dịch vụ, sản phẩm du lịch
và ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý, quảng bá và thương mại
Trên cơ sở quản lý và đổi
mới nêu trên, nội dung tổ chức phát huy hoạt động sáng tác cần
được đặt trong mối quan hệ trực tiếp với thị trường du lịch, kênh phân phối và
năng lực truyền thông - số hóa.
Hiện nay, Nghề điêu khắc
đá mỹ nghệ Non Nước đã vươn tới đỉnh cao nghệ thuật, không chỉ điêu khắc văn
bia mà còn tạo tác các tượng đài, các nhân vật lịch sử, các danh nhân văn hóa,
các linh vật Long, Lân, Quy, Phụng, các tượng Phật, Thánh, Tiên, Thần mang tính
chất văn hóa tín ngưỡng tâm linh, tại các đền, chùa, lăng,
miếu. Tạo tác khá phong phú các hình tượng, cảnh vật của tứ thời Xuân, Hạ, Thu,
Đông, hay mai, lan, cúc, trúc... Quy mô sản xuất của Làng nghề ngày càng được mở
rộng, thu hút hàng ngàn lao động có tay nghề khá; nhiều gia đình có tới bảy,
tám thế hệ làm nghề điêu khắc đá. Nhiều sản phẩm
được lưu truyền từ đời này sang đời khác, mỗi tác phẩm điêu khắc là một thành
quả lao động kỳ công của những bàn tay tài hoa và cần
mẫn. Từng mũi khoan, nét đục đẽo của các nghệ nhân đều thể
hiện một tình yêu sâu sắc với nghề truyền thống bao đời của cha ông. Từ kỹ thuật
chế tác đá Non Nước - Ngũ Hành Sơn theo hình thức truyền nghề chủ yếu
dựa theo kinh nghiệm và trí nhớ, đến nay, nhiều nghệ nhân đã mở các lớp đào tạo
tại chỗ, nhiều người con của Làng nghề theo học các trường đại học mỹ thuật
trong nước; nhiều nghệ sĩ đã chuyên sâu sáng tác kết hợp giữa cổ truyền và hiện
đại. Điều này tạo tiền đề quan trọng để Làng nghề tham gia sâu hơn vào chuỗi
giá trị du lịch văn hóa; tuy nhiên, hiệu quả phát huy còn phụ thuộc vào cách thức
tổ chức, định danh sản phẩm nghệ thuật và kết nối thị trường.
Trong quá trình phát
triển du lịch bền vững gắn với văn hóa bản địa, các Làng nghề truyền thống ngày
càng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo lập sản phẩm du lịch đặc thù, thúc
đẩy sinh kế địa phương và bảo tồn di sản văn
hóa phi vật thể. Như vậy, Làng nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước (phường Ngũ
Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng) không chỉ là nơi lưu giữ kỹ thuật thủ
công độc đáo mà còn là cái nôi nuôi dưỡng các hoạt động sáng tác nghệ thuật điêu
khắc. Tuy nhiên, để phát huy hiệu quả giá trị nghệ thuật trong
bối cảnh hiện đại, công tác tổ chức cần được định hướng theo hướng gắn kết với
thương mại dịch vụ và phát triển sản phẩm du lịch. Tuy nhiên, phần lớn các sản
phẩm vẫn tập trung vào thị trường tiêu dùng, sản xuất theo mẫu, thiếu điều kiện
phát triển sáng tác chuyên sâu hoặc định danh tác
phẩm nghệ thuật. Hoạt động sáng tác còn mang
tính cá nhân, thiếu môi trường kết nối giữa
nghệ nhân, nhà thiết kế và thị trường nghệ thuật chuyên nghiệp. Từ yêu cầu kết
nối thị trường, việc nhận diện kênh phân phối và phương thức bán hàng hiện hành
là căn cứ để xác định điểm mạnh - điểm hạn chế trong khai thác thương mại.
Hình thức phân phối sản
phẩm đá mỹ nghệ Non Nước hiện nay được thể hiện dưới 2 phương diện sau:
- Thứ nhất, đó là hình
thức bán lẻ, bán trực tiếp cho khách hàng, khách du lịch. Đây là hình thức cơ bản,
người mua trả tiền ngay sau khi thỏa thuận giá, không
cần chứng từ hoặc hóa đơn (tùy vào yêu cầu của khách hàng).
- Thứ hai, đó là hình
thức đặt hàng. Đây là hình thức mới hình thành và phát triển trong những năm trở
lại đây, nhất là kể từ khi các cơ sở thực hiện việc đưa thông tin Internet phục
vụ sản xuất kinh doanh. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quảng
bá và thương mại đã đem lại nhiều thuận lợi cho cả khách hàng và người sản xuất,
kinh doanh. Điều này bước đầu đã mang lại những hiệu quả tích cực như giảm bớt
thời gian đi lại, chi phí, không phải qua khâu trung gian. Buôn bán sản phẩm bằng
hình thức thông qua việc chuyển khoản, thanh toán qua
tài khoản sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho
việc kinh doanh, liên kết diễn ra một cách thuận tiện và dễ dàng hơn. Sự liên kết
này từng bước được thực hiện một cách đồng bộ
và khoa học nên sẽ là nhân tố góp phần quan trọng trong việc mở rộng thị trường
tiêu thụ sản phẩm đá mỹ nghệ Non Nước cũng như việc phát triển Nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước trong tương lai. Tuy nhiên, Làng nghề
chỉ mới có logo chung, nhưng chưa có quy chế sử dụng logo này nên tác dụng quảng
bá, xúc tiến thương mại còn nhiều hạn chế. Ngoài logo chung của Làng nghề, hiện
chỉ có một ít cơ sở có đăng ký sở hữu trí tuệ đối với thương hiệu riêng, logo
riêng của mình. Song song với kênh bán hàng truyền thống, ứng dụng công nghệ hiện
đại đang mở ra hướng đi mới nhằm gia tăng năng lực quảng bá, bảo hộ tác quyền
và kể chuyện sản phẩm.
Về ứng dụng công nghệ
hiện đại để quảng bá sản phẩm: Năm 2023 cuộc thi Điêu
khắc đá mỹ nghệ Non Nước, UBND quận Ngũ Hành Sơn (nay là phường Ngũ Hành Sơn)
đã chọn ra 10 tác phẩm xuất sắc đạt giải. Những tác phẩm này đang được đặt tại
công viên vườn hoa phường Ngũ Hành Sơn để du khách tham quan thưởng lãm. Đặc biệt
hơn, 10 tác phẩm này đã được công ty
Phygital Labs tài trợ gắn chip công nghệ blockchain (công nghệ chuỗi
khối) để quảng bá, đưa sản phẩm đến với Nhân dân, du khách.
Năm 2023, sau khi tổ chức
cuộc thi Điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước, Ngũ Hành Sơn
đã chọn ra 10 tác phẩm xuất sắc đạt giải. Sở Thông tin và Truyền thông (nay là
Sở Khoa học và Công nghệ), UBND quận Ngũ Hành Sơn đã phối hợp với các đơn vị
liên quan tổ chức ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác, thúc đẩy
chuyển đổi số ở Làng nghề đá mỹ nghệ Non nước Ngũ Hành Sơn. Trong
đó, Công ty Phygital Labs phối hợp với quận UBND Ngũ Hành Sơn, Ban Quản lý Làng
nghề đá mỹ nghệ Non Nước áp dụng công nghệ blockchain 4.0 đối với các sản phẩm
đá mỹ nghệ Non Nước, dựa trên thực tế để tạo “câu chuyện văn hóa” mang đặc
trưng của từng sản phẩm và số hóa sản phẩm tiếp cận mạng toàn cầu. Việc ứng dụng
của công nghệ blockchain 4.0 với sản phẩm Làng nghề đá rất hữu ích, vừa hỗ trợ
cơ sở sản xuất về khâu quảng bá sản phẩm suốt đời không giới hạn, vừa bảo hộ
quyền tác phẩm, tác giả, giúp người làm nghề điêu khắc đá an tâm lao động giữ
nghề. Dù có công dụng giới thiệu sản phẩm đi khắp toàn cầu nhưng đây là công
nghệ bảo mật không thể sao chép.
Các hoạt động thương mại
- dịch vụ trong lĩnh vực điêu khắc đá hiện vẫn tập trung mạnh vào trải nghiệm
trực tiếp, trong khi việc ứng dụng kênh số và thương mại điện tử còn khá hạn chế.
Ở
nhóm hộ kinh doanh, 48,8% ưu tiên tổ chức
tour tham quan kết hợp kể chuyện về sản phẩm, 22,4% lựa chọn
workshop chế tác, 17,6% mở không gian trưng bày và bán
hàng cao cấp, chỉ 6,4% triển khai gian hàng thương mại điện tử và 4,8% hợp tác
thiết kế mẫu mới. Về kênh quảng bá, 75,2% sử dụng
Zalo hoặc Facebook cá nhân, 17,6% dựa vào truyền miệng, 4,8% qua nền
tảng thương mại điện tử và 2,4% thông qua website, song hiệu quả tự đánh giá chủ
yếu ở mức trung bình (56,0%). Đáng chú ý, có tới 33,6% số hộ chưa từng tham gia
bất kỳ hoạt động quảng bá nào. Ở phía cầu, khách du lịch
thể hiện sự ưu tiên đối với các hình thức trải
nghiệm thực tế kết hợp truyền thông (33,3%), kênh YouTube giới
thiệu nghề (26,7%), video kể chuyện về nghệ nhân (20,0%) và gian hàng ảo
(13,3%); đồng thời 56,7% cho biết sẵn sàng theo dõi thông tin qua các sàn
thương mại số. Sự chênh lệch giữa kỳ vọng của khách hàng và mức độ
triển khai từ phía hộ kinh doanh cho thấy cần đẩy
mạnh năng lực thương mại số và áp dụng chiến lược
quảng bá hiện đại để đáp ứng xu hướng thị trường.
V. TÁC
ĐỘNG CỦA NGHỀ ĐIÊU KHẮC
ĐÁ MỸ NGHỆ NON NƯỚC ĐẾN KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG NGŨ HÀNH
SƠN NÓI RIÊNG VÀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG NÓI
CHUNG
1.
Tác động kinh tế
Nghề điêu khắc đá mỹ
nghệ Non Nước hiện nay đã vượt ra ngoài phạm vi quốc gia, nhiều
sản phẩm đã được xuất khẩu đến các quốc gia trên thế giới. Hiện nay Làng nghề
áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sáng tác, điêu khắc với công nghệ
hiện đại như công nghệ nhuộm màu, quét màu, đánh bóng sản phẩm được áp dụng bằng
phương pháp tiên tiến nên sản phẩm làm ra ngày càng đẹp và tinh xảo, sản phẩm
đa dạng hơn, hiệu quả sản xuất ngày càng cao, tạo ra nhiều
sản phẩm đem lại lợi ích kinh tế cao. Có thể nói Nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non
Nước đã góp phần vào nguồn thu ngân sách địa phương, sản phẩm tạo ra chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng giá trị sản xuất ngành công nghiệp -
tiểu thủ công nghiệp toàn phường. Nhiều cơ sở
nổi tiếng sản xuất kinh doanh hàng đá mỹ nghệ với các thương hiệu như: Cơ sở điêu
khắc đá mỹ nghệ Tiến Hiếu, cơ sở điêu khắc đá mỹ nghệ Nguyễn Hùng, cơ sở điêu
khắc đá mỹ nghệ Xuất Ánh, cơ sở điêu khắc đá mỹ nghệ Nguyễn Việt Minh, Tý Nhựt,
Long Bửu, Út Lan... đã tạo nên diện mạo mới cho đội ngũ doanh nhân thành đạt. Từ
nền tảng ứng dụng công nghệ và sự hình thành các thương hiệu, đóng góp kinh tế
của Làng nghề được phản ánh rõ hơn qua quy mô sản xuất, sản lượng và tác động đến
việc làm tại địa phương.
Đóng góp của làng nghề
đá mỹ nghệ Non Nước đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở phường Ngũ Hành
Sơn là rất lớn. Với 385 cơ sở sản xuất sản phẩm đá mỹ nghệ Non Nước, mỗi năm
làng nghề đã tạo ra khoảng 1,2 tỷ sản phẩm/năm các loại, giải quyết việc làm
cho hàng nghìn lao động địa phương và các vùng lân cận, đem lại doanh thu bình
quân khoảng 460 tỷ đồng/năm; chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị công nghiệp
- tiểu thủ công nghiệp của địa phương; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của
phường theo đúng định hướng du lịch, dịch vụ, công, nông nghiệp. Tuy nhiên,
cùng với những thành tựu nêu trên, quá trình khai thác giá trị nghệ thuật của
Làng nghề trong không gian du lịch vẫn còn những khoảng
trống nhất định, đặc biệt ở khía cạnh trải nghiệm và truyền thông.
Trên thực tế, có rất ít
du khách và chính người dân địa phương được trải nghiệm quá trình chế tác độc
đáo, công phu từ những khối đá tự nhiên và bàn tay của các nghệ nhân điêu khắc.
Đồng thời, hiện nay công tác quảng bá các sản phẩm thủ công mỹ nghệ được điêu
khắc từ đá tại Làng nghề Non Nước vẫn còn mang tính đơn lẻ, chưa đồng
bộ với sự phát triển. Hạn chế về trải nghiệm và quảng
bá cũng liên quan trực tiếp đến hệ thống dịch vụ hỗ trợ tại điểm đến, bởi dịch
vụ là điều kiện để kéo dài thời gian lưu trú và tăng mức chi tiêu của du khách.
Một vấn đề liên quan nữa
là Làng nghề có rất ít dịch vụ du lịch phục vụ khách du lịch và khách tới thăm
quan, ví dụ như nhà hàng, nơi nghỉ ngơi, dừng chân và các hoạt động khác. Dịch
vụ mà Làng nghề hiện cung cấp chủ yếu cho du khách là khám phá Ngũ Hành Sơn và
tham quan các sản phẩm đá nghệ thuật trong các cửa hàng.
Từ các tác động kinh tế
và những hạn chế trong khai thác dịch vụ - trải nghiệm, có thể thấy rằng ảnh hưởng
của Làng nghề không chỉ dừng ở thu nhập, mà còn ảnh hưởng đến các chiều
cạnh xã hội, văn hóa và môi trường của cộng đồng địa phương.
2.
Tác động xã hội
Làng nghề là một cộng đồng
có sự liên kết bền chặt bởi những mối liên hệ chằng chịt về: Lãnh thổ (nơi cư
trú), huyết thống (dòng họ), kinh tế (sản xuất hàng hóa có tính chuyên môn),
văn hóa và tâm linh (phong tục tập quán, nếp sống và đặc biệt là cùng có sự bảo
hộ của thành hoàng làng và vị tổ nghề). Họ
xây nơi thờ vọng Tổ nghề ngay tại nơi sinh sống, buôn bán hằng
ngày. Bên cạnh đó, họ cũng đóng góp xây dựng các công trình công cộng, hỗ trợ tổ
chức các hoạt động cộng đồng tại làng.
Hội Làng nghề tuy đã được
thành lập nhưng lại đang thiếu nguồn lực nên hoạt động chưa thực sự hiệu quả. Về
quy mô sản xuất, Làng nghề chỉ phát triển đơn
thuần, theo kiểu truyền
thống, làm ăn nhỏ lẻ, thiếu sự liên kết với nhau. Trong bối
cảnh Làng nghề đã chuyển vào khu sản xuất tập trung, việc thiếu một
điểm trung gian giới thiệu tổng
thể càng làm giảm khả năng kết nối giữa du lịch
và không gian sản xuất mới của Làng nghề.
Hiện tại, Làng nghề đã
chuyển vào khu sản xuất tập trung để đảm bảo không gây tiếng
ồn
và bụi bặm tại khu Danh thắng Ngũ Hành Sơn, nên cần một nơi
trung gian để giới thiệu chung về lịch sử và sản phẩm điêu khắc làm cầu nối giữa
du
lịch và Làng nghề. Theo quy hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết
định 822/QĐ-TTg ngày 11/7/2023 về quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Danh lam
thắng cảnh quốc gia đặc biệt Ngũ Hành Sơn đã có vị trí để xây dựng Bảo tàng đá
(Nhà trưng bày), do đó cần sớm triển khai nhằm để giới thiệu truyền
thống Làng nghề và liên kết khách tham quan với các sản phẩm của Làng nghề. Bên
cạnh định hướng quy hoạch, thực tiễn xã hội hóa trong thời
gian gần đây cho thấy đã xuất hiện các mô hình bổ trợ quan trọng,
góp phần lấp đầy khoảng trống kết nối và giáo dục di sản.
Năm 2023, Bảo tàng Ký ức
Điêu khắc Đá mỹ nghệ Non Nước - Ngũ Hành Sơn
tư nhân được thành lập, đã tổ chức nhiều chương trình ý nghĩa, các hoạt động
giáo dục bổ ích, thu hút hàng nghìn lượt khách tham quan trong nước và quốc tế.
Bảo tàng tự hào là nơi chia sẻ những giá trị lịch sử, văn
hóa đặc sắc của Làng nghề đến nhiều
người hơn. Do đó, rất cần chính sách xã hội hoá, tạo điều kiện cho tư nhân tham
gia vào lĩnh vực này để bảo tồn, gìn giữ và phát huy tối đa các giá trị của
Làng nghề cho thế hệ hôm nay và mai sau.
Từ các yếu tố xã hội -
tổ chức cộng đồng nêu trên, có thể thấy tác động xã hội của Làng nghề vừa thể
hiện ở sự ghi nhận chính thức của Nhà nước, vừa bộc lộ các thách thức về chuẩn
hóa thương hiệu và bảo vệ bản sắc.
3.
Tác động văn hóa
Trong năm 2014, UBND
thành phố đã có Quyết định công nhận nghề điêu khắc đá mỹ nghệ là nghề truyền
thống và Làng nghề điêu khắc đá mỹ nghệ là Làng nghề truyền thống. Chủ tịch nước
trao tặng danh hiệu nghệ nhân Làng nghề cho 03 vị đó là: Nguyễn Việt Minh, Lê Bền,
Nguyễn Long Bửu. Cũng trong thời gian này Làng nghề đá mỹ nghệ Non Nước được
công nhận là sản phẩm văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.
Tình
trạng tranh mua, tranh bán, nhái kiểu dáng, chất lượng sản phẩm bị lai tạp đang
làm giảm giá trị sản phẩm và uy tín của Làng nghề. Bên cạnh đó, nhận thức về
thương hiệu, nhãn hiệu hàng hóa, sở hữu công nghiệp của nhiều hộ sản xuất kinh
doanh tại đây còn hạn chế. Làng nghề chỉ mới có logo chung, nhưng chưa có quy
chế sử dụng logo này nên tác dụng quảng bá, xúc tiến thương mại chưa hiệu quả.
Ngoài logo chung của Làng nghề, hiện chỉ có một ít cơ sở có đăng ký sở hữu trí tuệ
đối với thương hiệu riêng, logo riêng của mình.
Bên cạnh các tác động về
kinh tế - xã hội - văn hóa, hoạt động sản xuất tại Làng nghề còn kéo theo những
hệ quả môi trường ngày càng rõ nét, đặc biệt trong bối
cảnh đô thị hóa và phát triển du lịch tại khu vực Ngũ Hành Sơn.
4.
Tác động môi trường
Bên cạnh những giá trị
kinh tế, xã hội và văn hóa, hoạt động sản xuất đá mỹ nghệ tại Non Nước đang tạo
ra áp lực đáng kể đối với môi trường tự nhiên. Sự phát triển
của Làng nghề hiện nay chưa mang tính hệ thống và thiếu sự liên kết, khi các cơ
sở sản xuất - kinh doanh mọc lên ồ ạt, thiếu kiểm soát và không theo quy hoạch.
Hoạt động sản xuất vẫn chủ yếu ở quy mô nhỏ lẻ, quy trình chưa khép kín, phân
tán, thiếu hệ thống thu gom nước thải cũng như các giải pháp xử lý ô nhiễm môi
trường hiệu quả, đặt Làng nghề trước nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng,
đặc biệt là ô nhiễm không khí và tiếng ồn. Các công đoạn cắt, mài, chạm khắc phát
sinh bụi đá mịn, tiếng ồn và rung động; nếu không được kiểm soát sẽ làm suy giảm
chất lượng không khí, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng. Nước thải từ
quá trình gia công chứa bùn đá và tạp chất, khi xả thẳng ra môi trường có thể
gây lắng đọng, tắc nghẽn hệ thống thoát nước và ô nhiễm nguồn nước mặt. Việc
khai thác nguyên liệu đá tự nhiên, đặc biệt trong giai đoạn trước đây khi còn
khai thác tại chỗ, đã từng gây nguy cơ xói mòn và biến dạng
cảnh quan ở một số khu vực thuộc quần thể Ngũ
Hành Sơn. Ngoài ra, việc sử dụng axít để tẩy
rửa sản phẩm trong khi hệ thống bể lọc, thu gom và xử
lý chưa hợp lý, thiếu đồng bộ tiếp tục tác động tiêu cực đến môi trường sinh
thái, môi trường du lịch và cảnh quan đô thị. Với vị trí nằm trong khu vực phát
triển đô thị và du lịch, hoạt động sản xuất đá mỹ nghệ có nguy cơ gây xung đột
về sử dụng không gian và ảnh hưởng trải
nghiệm du khách nếu tiếng ồn và bụi không được kiểm
soát, trong khi mật độ xe vận chuyển nguyên liệu và sản phẩm trong khu dân cư
làm gia tăng áp lực giao thông, tiềm ẩn nguy
cơ mất an toàn và ô nhiễm cục bộ. Tuy nhiên, nếu được quy hoạch hợp
lý và tích hợp với các tuyến du lịch, Làng nghề hoàn toàn có
thể trở thành một điểm đến xanh - sạch - đẹp, góp phần nâng cao hình ảnh thành
phố Đà Nẵng như một trung tâm du lịch văn hóa - nghệ
thuật. Kết quả khảo sát 100 thợ thủ công tại Làng nghề cho thấy 87% (gồm 61% đồng
ý và 26% rất đồng ý) thừa nhận bụi đá và hóa chất ảnh hưởng đến sức khỏe, là chỉ
báo rõ ràng về nguy cơ bệnh nghề nghiệp liên quan đến hệ hô hấp.
Để tăng độ tin cậy
cho đánh giá tác động môi trường, các nhận định chuyên gia tiếp tục cung cấp bằng
chứng củng cố và giúp định vị mức độ nghiêm trọng của
các vấn đề phát sinh.
Ở góc độ chuyên môn, có
92,3% chuyên gia nhận định hoạt động khai thác và chế
tác đá tác động đến môi trường, trong đó 61,5% đánh giá mức độ rất nghiêm trọng.
Các tác động chính bao gồm phát tán bụi và tiếng ồn từ máy móc, nước thải chưa
xử lý chứa bùn đá, cùng chất thải rắn như mảnh đá vụn và bột đá chưa được thu
gom triệt để.
VI. ĐIỂM
MẠNH, ĐIỂM YẾU, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC TRONG BẢO TỒN,
QUẢN LÝ, KHAI THÁC VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT NGHỀ
ĐIÊU KHẮC ĐÁ MỸ NGHỆ NON NƯỚC
|
Yếu
tố
|
Nội
dung phân tích
|
|
Điểm
mạnh
|
- Nghề có giá trị lịch
sử và nghệ thuật đặc sắc, được Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể
quốc gia tạo nền tảng pháp lý cho công tác quản lý và bảo tồn.
- Sản phẩm kết hợp
kỹ thuật chế tác tinh xảo với yếu tố mỹ thuật truyền thống.
- Có đội ngũ nghệ
nhân lành nghề, giàu kinh nghiệm, am hiểu truyền thống và kỹ thuật.
- Địa phương đã có
các chính sách, dự án hỗ trợ bảo tồn Làng nghề, khu vực sản xuất được quy hoạch
ổn định.
- Danh tiếng Làng nghề
được biết đến trong và ngoài nước, thu hút du khách tham quan, mua sắm.
|
|
Điểm
yếu
|
- Thiếu đội ngũ kế thừa
trẻ, dẫn đến nguy cơ mai một kỹ thuật truyền thống.
- Nguồn nguyên liệu
đá tự nhiên ngày càng khan hiếm, có giá thành
cao.
- Hoạt động bảo tồn
chưa có chiến lược dài hạn, khoa học.
- Một số sản phẩm
chưa đa dạng về mẫu mã để đáp ứng nhu cầu thị trường quốc tế.
- Chưa có chiến lược
thương hiệu mạnh để quảng bá toàn cầu.
- Công tác quản lý
còn phân tán, thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ
quan văn hóa, du lịch và kinh tế.
- Thiếu nguồn lực tài
chính ổn định và mô hình quản trị phù hợp trong điều hành, kiểm
soát và phát triển Làng nghề theo định hướng chuyên nghiệp,
gắn với mục tiêu phát triển bền vững.
- Một số sản phẩm chạy
theo thị hiếu thương mại, giảm tính tinh xảo.
- Thiếu chương trình
đào tạo nghệ nhân trẻ và tư liệu hóa kỹ thuật truyền thống.
- Công tác tư liệu
hóa, số hóa và quảng bá giá trị nghệ thuật còn hạn chế.
- Tình trạng ô nhiễm
môi trường trong khu vực sản xuất.
- Chưa có khu vực
chuyên biệt dành cho việc lưu trữ nguyên liệu và xử lý phế phẩm (đặc biệt là
bột đá).
- Vẫn còn tình trạng ỷ
lại và thiếu trách nhiệm trong việc tuân thủ nghĩa vụ pháp lý của một số cơ sở
sản xuất trong Làng nghề.
|
|
Cơ
hội
|
- Nhu cầu du lịch trải
nghiệm văn hóa và tìm hiểu Làng nghề ngày càng tăng.
- Khả năng kết hợp với
công nghệ số (3D scanning, AR/VR) để lưu giữ và giới thiệu nghệ thuật chế
tác, bán hàng toàn cầu.
- Hợp tác với các trường
mỹ thuật, bảo tàng, tổ chức văn hóa quốc tế để
đào tạo và trưng bày.
- Cơ hội tham gia các
hội chợ, triển lãm mỹ thuật quốc tế.
- Chính sách bảo tồn
và phát triển Làng nghề truyền thống của Nhà nước.
- Khả năng kết hợp với
thiết kế hiện đại để mở rộng thị trường cao cấp.
- Chính sách quốc gia
và địa phương khuyến khích bảo tồn di sản phi vật thể.
- Khả năng liên kết với
các tour du lịch Ngũ Hành Sơn, Hội An, Huế để tăng lượng khách.
- Cơ hội hợp tác với
các tổ chức quốc tế về bảo tồn và phát triển nghề
thủ công truyền thống.
|
|
Thách
thức
|
- Sự cạnh tranh từ sản
phẩm mỹ nghệ công nghiệp giá rẻ làm giảm giá trị và sức tiêu thụ sản phẩm truyền
thống.
- Biến đổi khí hậu và
đô thị hóa làm thay đổi môi trường sản xuất và khai thác nguyên liệu.
- Nguy cơ thương mại
hóa quá mức khiến giá trị nghệ thuật bị giản lược thành sản phẩm lưu niệm rẻ
tiền.
- Nguy cơ mất dần bí
quyết nghề do thiếu thợ trẻ kế thừa.
- Biến
đổi khí hậu, khai thác đá quá mức ảnh hưởng nguồn nguyên liệu.
- Thị hiếu khách hàng
thay đổi nhanh, đòi hỏi sự sáng tạo và cải tiến liên tục.
|
VII.
QUAN ĐIỂM VÀ MỤC
TIÊU XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
1.
Quan điểm
a) Về bảo tồn Nghề điêu
khắc đá mỹ nghệ Non Nước
- Đối với
các kỹ thuật điêu khắc hoàn toàn thủ công, ưu tiên tập trung mọi nguồn lực để bảo
tồn, truyền dạy. Đồng thời, do Nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước thuộc loại
hình tri thức dân gian nên cần phải chú trọng bảo tồn các di sản vật thể và
phi vật thể gắn liền với nghề như: Nhà thờ Thạch nghệ
Tổ sư; các truyền thuyết; phong tục tập
quán; lễ hội dân gian...
- Đối với các kỹ thuật điêu
khắc sử dụng máy móc thì hỗ trợ, tạo điều kiện để phát triển.
b) Truyền nghề cho thế
hệ trẻ là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất. Do đó, cần có các chương trình
truyền nghề, chính sách hỗ trợ nhằm thu hút thế hệ trẻ tham gia học tập và thực
hành nghề điêu khắc đá mỹ nghệ như hỗ trợ tài chính, đưa các khóa học vào giáo
dục cộng đồng, có chương trình trải nghiệm và truyền dạy kiến
thức cho học sinh địa phương.
c) Bảo tồn các giá trị văn
hóa Làng nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước gắn với
phát triển kinh tế du lịch. Khơi dậy tiềm năng, lợi thế,
giá trị truyền thống mang dấu ấn,
thương hiệu của địa phương và quốc gia thông qua phát triển sản phẩm của Làng
nghề, gắn với việc phong tặng, tôn vinh và phát triển đội ngũ các nghệ nhân, thợ
giỏi, lành nghề và người lao động.
d) Phát triển Nghề điêu
khắc đá mỹ nghệ Non Nước gắn với thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, đẩy mạnh
xuất khẩu, phù hợp với chiến lược và định hướng
phát triển kinh tế - xã hội bền vững, tăng trưởng xanh, phát triển mô hình sản
xuất tuần hoàn khép kín tiết kiệm nguyên liệu, bảo vệ môi trường và thích ứng với
biến đổi khí hậu; ứng dụng công nghệ số trong quản lý, quảng bá, xúc tiến
thương mại sản phẩm của Làng nghề.
đ) Huy động tối đa các
nguồn lực xã hội và sự hỗ trợ của Nhà nước để bảo tồn
và phát triển nghề.
2.
Mục tiêu
a) Mục tiêu chung
- Bảo tồn và phát huy
giá trị nghệ thuật của Nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước trong đời sống đương
đại, gắn với Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục
hồi Danh lam thắng cảnh quốc gia đặc biệt Ngũ Hành Sơn.
Đến năm 2030, nghệ thuật điêu khắc đá mỹ nghệ thủ công truyền thống thoát khỏi
tình trạng mai một. Đến năm 2045, Làng nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước trở
thành điểm đến du lịch hấp dẫn, nổi bật của thành phố Đà Nẵng,
cả nước và khu vực.
- Tập trung phát triển
một loạt các sản phẩm điêu khắc mỹ nghệ tinh xảo mang bản sắc
văn hóa Đà Nẵng nói chung và Ngũ Hành Sơn nói riêng;
nâng cao năng lực kế thừa và tái sáng tạo của nghề, năng lực cạnh
tranh thị trường và thu nhập của người lao động.
b) Mục tiêu cụ thể
- Giai đoạn 2026 - 2030
+ Củng cố và nâng cao
năng lực Bộ phận quản lý tại Làng nghề thuộc đơn vị Trung tâm Cung ứng dịch vụ
sự nghiệp công phường Ngũ Hành Sơn.
+ Hoàn thành việc
nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn tài liệu, giáo trình, xuất bản các ấn phẩm phục vụ
công tác quảng bá và truyền dạy.
+ Tổ chức 04 lớp truyền
dạy từ cơ bản đến nâng cao cho khoảng 120 học viên.
+ 100% chuẩn hóa kỹ thuật
và quy trình điêu khắc đá mỹ nghệ truyền thống Non Nước, nhằm bảo tồn tri thức,
kỹ thuật và phương thức điêu khắc truyền thống (chọn nguyên liệu, tạo tác, hoàn
thiện...) gắn với các giá trị văn hóa, phong tục tập quán của cộng đồng. Đồng
thời đảm bảo các điều kiện làm việc cho các nghệ nhân và hộ sản xuất.
+ Hoàn thành việc
nghiên cứu, tư liệu hóa và bảo tàng hóa Nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước.
+ Hoàn thành các dự án
xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ bảo tồn và phát huy giá trị Nghề điêu khắc đá mỹ
nghệ Non Nước trong Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Danh lam thắng cảnh quốc
gia đặc biệt Ngũ Hành Sơn.
+ Có 03 nghệ nhân đạt
Danh hiệu “Nghệ nhân ưu tú” và “Nghệ nhân nhân dân” trong lĩnh vực nghề thủ
công mỹ nghệ.
+ Xây dựng Bộ nhận diện
thương hiệu, tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, chỉ dẫn địa lý và đăng ký bảo hộ
thương hiệu cho sản phẩm điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước.
+ Tổ chức các cuộc thi
sáng tác, thiết kế mẫu mã sản phẩm Nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước theo định
kỳ 2 năm/lần và sự kiện Lễ hội Thạch nghệ Tổ sư 3
năm/lần.
- Giai đoạn 2030 - 2045
+ Duy trì và khuyến
khích tiêu thụ sản phẩm Nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước tại địa phương và cộng
đồng: 80-100% các resort, khách sạn trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
trưng bày giới thiệu sản phẩm Làng nghề; 50-70% các nhà hàng, khách sạn sử dụng
các sản phẩm của Làng nghề (sản phẩm gia dụng, trang trí nghệ thuật); 100% các
bảo tàng hỗ trợ địa điểm, một phần kinh
phí cho các hoạt động truyền dạy, giới thiệu và trải nghiệm điêu khắc đá mỹ nghệ.
+ Nâng tầm sự kiện Lễ hội
Thạch nghệ Tổ sư Ngũ Hành Sơn là sự kiện quy mô quốc tế, diễn ra thường niên.
+ 100% phục hồi kỹ thuật
điêu khắc đá thủ công truyền thống gắn với phát triển du
lịch Làng nghề.
+ 100% nghệ nhân, người
có công bảo tồn, gìn giữ và truyền dạy nghệ thuật điêu khắc đá mỹ nghệ được tôn
vinh và hưởng chế độ đãi ngộ theo quy định.
+ 100% cơ sở, hộ gia
đình sản xuất đáp ứng các quy định về bảo vệ môi
trường, chuyển đổi số.
+ Có các dự án hợp tác,
giao lưu quốc tế quảng bá nghệ thuật điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước.
VIII.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI XÂY DỰNG ĐỀ
ÁN
1. Đối tượng nghiên cứu
của đề án
Đối tượng nghiên cứu của
Đề án là Nghề điêu khắc đá thủ công mỹ nghệ Non Nước, trong đó tập trung vào
nghệ thuật sáng tạo trong tổng thể phát triển
Làng nghề.
2. Phạm vi xây dựng đề
án
- Về không gian: Làng
nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước tại phường Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.
- Về thời gian: Từ năm
2025 đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
IX.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.
Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp
Kế thừa thành tựu
nghiên cứu của các chuyên gia, nhà nghiên cứu về lý luận, thực tiễn để phân
tích các giá trị của Nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước, công tác bảo tồn, quản
lý, phát huy các giá trị của nghề, nhất là giá trị nghệ thuật nhằm đề xuất các
nhiệm vụ, giải pháp gìn giữ và phát huy tối đa các giá trị của nghề.
2.
Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp xã hội học
là phương pháp nhằm khảo sát đặc điểm xã hội của các đối
tượng của Đề án, dùng để điều tra, phân tích về tình hình sản xuất,
kinh doanh của các hộ kinh doanh, về kĩ thuật của người thợ thủ công, chất lượng
nguồn nhân lực, thực trạng thị trường, công tác quản lý... Tiến hành lấy
ý kiến bằng phiếu khảo sát của 125 phiếu hộ kinh doanh, 100
phiếu thợ thủ công, 30 phiếu khách du lịch, 12
chuyên gia, 18 công ty du lịch nhằm đánh giá thực trạng bảo tồn,
quản lý, khai thác, phát huy giá trị nghệ thuật của Nghề điêu khắc đá Non Nước,
đồng thời tổ chức
lấy ý kiến của các chuyên gia độc lập, đơn vị
sở, ban, ngành liên quan về đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác phát huy giá trị Di
sản văn hóa phi vật thể quốc gia Nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
3.
Phương pháp phân tích SWOT
Phương pháp phân tích
SWOT (Strengths (Điểm mạnh), Weaknesses (Điểm yếu), Opportunities (Cơ hội) và
Threats (Thách thức)) được sử dụng để đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội
và thách thức của thực trạng bảo tồn, quản lý và khai thác các giá trị di sản
nói chung và giá trị nghệ thuật nói riêng của Nghề điêu khắc đá Non Nước.
4.
Phương pháp phân tích, thống kê
Phương pháp này được sử
dụng để phân tích thông tin, dữ liệu thu thập được từ các đối tượng khảo sát của
Đề án; sử dụng phần mềm SPSS và excel để phân
tích, xử lý số liệu phục vụ Đề án.
X.
CÁC NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ ÁN
1.
Tổ chức phục dựng và phát huy các giá trị nghệ thuật sáng tác trong điêu khắc
thủ công đá mỹ nghệ Non Nước
- Tổ chức Cuộc thi điêu
khắc đá thủ công mỹ nghệ dành cho các nghệ nhân thủ công và nghệ nhân sử dụng
máy móc điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước nhằm tìm kiếm, tôn vinh những nghệ nhân,
thợ lành nghề và tạo sân chơi, cơ hội để các
thợ Làng nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước có thể học hỏi kinh nghiệm, trao đổi
kiến thức và kỹ năng, từ đó tạo thêm động lực để rèn luyện, nâng cao tay nghề,
đáp ứng nhu cầu của thị trường.
- Xây dựng chương trình
truyền dạy và tổ chức các lớp truyền dạy điêu khắc đá trình độ cơ bản và nâng
cao.
- Nâng tầm sự kiện Lễ hội
Thạch nghệ Tổ sư Ngũ Hành Sơn.
- Tổ chức Cuộc thi thiết
kế văn hóa - sáng tạo “Non Nuoc Stone+”.
2.
Phục dựng, phát huy các giá trị nghệ thuật chế tác thủ công đá mỹ nghệ Non Nước
báo sát theo định hướng quy hoạch bảo quản, tu bổ,
phục hồi Danh lam thắng cảnh quốc gia đặc biệt Ngũ Hành Sơn tại Quyết định số
822/QĐ-TTg ngày 11/7/2023 của Thủ tướng Chính phủ
Căn cứ Kế hoạch số
174/KH-UBND ngày 13/9/2023 của UBND thành phố về thực hiện Quyết định số
822/QĐ-TTg ngày 11/7/2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch bảo
quản, tu bổ, phục hồi Danh lam thắng cảnh quốc gia đặc
biệt Ngũ Hành Sơn, Kế hoạch số 162/KH-UBND
ngày 12/11/2025 của UBND thành phố về việc điều chỉnh Kế hoạch số 174/KH-UBND
ngày 13/9/2023 của UBND thành phố về thực hiện Quyết định số 822/QĐ-TTg ngày
11/7/2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy
hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Danh lam thắng cảnh quốc gia đặc biệt Ngũ Hành
Sơn
nghiên cứu triển khai
thực hiện các nhiệm vụ như sau:
- Xây dựng Nhà triển
lãm nghề đá truyền thống;
- Đầu tư không gian Lễ
hội Thạch nghệ Tổ sư;
- Đầu tư tái hiện không
gian chế tác đá truyền thống;
- Tổ chức sự kiện “Làng
quê Quán Khái” là sản phẩm du lịch đặc trưng, nhằm quảng bá bản sắc văn hóa địa
phương và tinh hoa nghề đá, lan tỏa giá trị của
các nghệ nhân và sản phẩm thủ công mỹ nghệ tới cộng đồng và du
khách trong, ngoài nước.
3.
Công tác quảng bá hoạt động sáng tác nghệ thuật điêu khắc đá gắn với phát triển
sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ điêu khắc đá
- Xây dựng Bộ nhận diện
thương hiệu nghề điêu khắc đá Non Nước và thực hiện các thủ tục đăng ký bảo hộ
thương hiệu trong nước và ngoài nước.
- Đẩy mạnh truyền thông
sáng tạo đa nền tảng đối với sản phẩm từ Nghề điêu khắc đá Non Nước. Tăng cường
nhận diện thương hiệu Làng nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước trên các kênh
truyền thông đại chúng, mạng xã hội và nền tảng số, góp phần nâng tầm giá trị
văn hóa - kinh tế của sản phẩm Làng nghề.
- Thiết lập liên kết mạng
lưới đối tác chiến lược với các trường đại học, viện nghiên cứu chuyên ngành mỹ
thuật, kiến trúc; và thực hiện các thủ tục đăng ký trở
thành thành viên chính thức của các hiệp hội thủ công mỹ nghệ trong nước như Hiệp
hội Xuất khẩu hàng thủ công
mỹ nghệ Việt Nam (VIETCRAFT), qua đó kết nối
với các mạng lưới thủ công quốc tế như ASEAN Handicraft Promotion and
Development Association (AHPADA) nhằm nâng cao khả năng tham gia các hội chợ,
triển lãm chuyên ngành quốc tế, từng bước khẳng định vị thế trên bản đồ thủ
công thế giới.
XI. HỆ
THỐNG GIẢI PHÁP TRIỂN KHAI ĐỀ ÁN
1.
Giải pháp về nâng cao năng lực và chính sách đãi ngộ cho các nghệ nhân
a) Chương trình đào tạo
và nâng cao kỹ thuật điêu khắc đá truyền thống
- Tổ chức
thường xuyên các khóa đào tạo truyền nghề với chương trình đào tạo chuẩn, có sự
tham gia của các nghệ nhân và chuyên gia trong
các lĩnh vực mỹ thuật, thương mại.
- Khuyến khích nghệ
nhân trẻ và người kế thừa tham gia học nghề miễn phí hoặc có học bổng toàn phần
cho thanh niên địa phương, gắn với cơ hội nghề nghiệp rõ ràng.
- Khuyến khích nghệ
nhân kỳ cựu tham gia xây dựng thư viện ký ức Làng nghề qua hình thức ghi âm,
ghi hình và chia sẻ trên nền tảng số.
- Xây dựng bộ tài liệu
hướng dẫn thực hành Nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non
Nước bao gồm các nội dung: quy trình tạo tác, an toàn lao động, đăng ký quyền
sở hữu trí tuệ, thương mại số...
- Xây dựng bộ tiêu chuẩn
kỹ năng Nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước, tổ chức đánh giá và cấp chứng chỉ
tay nghề để bảo đảm chất lượng đầu ra và tăng giá trị
thương hiệu cá nhân cho nghệ nhân.
- Tổ chức các cuộc tọa
đàm, giao lưu giữa nghệ nhân và cộng đồng để lan tỏa tri thức, câu chuyện và
giá trị văn hóa của nghề đá Non Nước, qua đó khơi dậy niềm tự hào và ý thức gìn
giữ di sản trong Nhân dân.
b) Xây dựng hồ sơ tài
liệu hóa di sản
Thực hiện nghiên cứu một
cách bài bản, có hệ thống về kỹ thuật, phong cách, đặc trưng của nghệ thuật điêu
khắc đá mỹ nghệ Non Nước. Việc tài liệu hóa này có thể bao gồm việc quay phim,
ghi âm, chụp ảnh và ghi chép lại các quy trình, công đoạn điêu khắc từ các nghệ
nhân. Bên cạnh đó, cần phỏng vấn trực tiếp các nghệ nhân lâu năm để
lưu giữ những tri thức dân gian, câu chuyện truyền nghề, phong cách sáng tác đặc
trưng và giá trị văn hóa phi vật thể gắn với
từng sản phẩm. Đồng thời, việc ghi nhận và phân loại các
công cụ, vật liệu, kỹ thuật cổ truyền có nguy cơ mai một là một phần không thể
thiếu trong tiến trình này.
c) Đưa nghệ thuật điêu
khắc đá mỹ nghệ Non Nước vào chương trình giáo dục, trải nghiệm cộng đồng và
trường học
- Lồng ghép giới thiệu
Làng nghề vào chương trình giáo dục địa phương.
- Tổ chức các hoạt động
thực hành trải nghiệm cho người dân và du khách.
d) Chính sách đãi ngộ
và hỗ trợ tài chính cho các nghệ nhân
- Hỗ trợ, hướng dẫn nghệ
nhân xây dựng hồ sơ đề nghị phong tặng Danh hiệu “Nghệ nhân ưu tú” và “Nghệ
nhân nhân dân” trong lĩnh vực nghề thủ công mỹ nghệ.
- Xây dựng quỹ hỗ trợ
phát triển Làng nghề, trong đó dành một phần ngân sách cho việc bảo trợ nghệ
nhân.
- Đề xuất chính sách hỗ
trợ thu nhập, bảo hiểm và vinh danh thường niên đối với nghệ nhân tích cực truyền
nghề và đóng góp cho việc bảo tồn bản sắc nghề.
đ) Củng cố và nâng cao
năng lực Hội Làng nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước
- Kiện toàn và hoàn thiện
cơ cấu tổ chức, quy chế hoạt động của Hội Làng nghề.
- Nâng cao năng lực quản
lý và điều hành của Hội thông qua việc tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng quản
lý, ứng dụng công nghệ thông tin, lập kế hoạch hoạt động...
- Phát huy tối đa vai
trò của Hội Làng nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước trong công tác quản lý và hỗ
trợ phát triển Làng nghề.
2.
Giải pháp đẩy mạnh liên kết doanh nghiệp và xuất khẩu hàng hóa điêu khắc đá
- Kết nối sâu với doanh
nghiệp - nơi có năng lực về thị trường, phân phối, thiết kế và xuất khẩu - nhằm
thúc đẩy nghề truyền thống bước vào chuỗi giá trị kinh tế
hiện đại, đặc biệt là lĩnh vực quà tặng cao cấp, nội thất thủ công, nghệ thuật
phong thủy và sản phẩm sáng tạo phục vụ thị trường quốc tế.
- Thành lập tổ công tác
kết nối doanh nghiệp trong lĩnh vực nội thất, kiến trúc cảnh quan, quà tặng cao
cấp và du lịch - lữ hành nhằm đặt hàng nghệ nhân Non Nước theo hướng cá nhân
hóa sản phẩm.
- Đẩy mạnh phát triển
dòng sản phẩm quà tặng doanh nghiệp - quà lưu niệm xuất khẩu, với các bộ sản phẩm
kích thước nhỏ, dễ đóng gói, khắc biểu tượng văn hóa hoặc logo doanh nghiệp
theo yêu cầu. Học hỏi từ mô
hình “Korea Gift Hall” của Hàn Quốc - nơi các Làng nghề truyền thống sản xuất
quà tặng cho chính phủ và tập đoàn - làng đá Non Nước hoàn toàn có thể đóng vai
trò tương tự trong hệ sinh thái quà tặng ngoại giao, sự kiện quốc gia, hội nghị
quốc tế.
- Xúc tiến ký kết hợp
tác với các ngân hàng, hãng hàng không, tập đoàn du lịch - nghỉ dưỡng để
đặt hàng dòng sản phẩm độc bản từ nghệ nhân địa phương, gắn kèm chứng nhận nghề
thủ công, hồ sơ nghệ nhân và nguồn gốc văn hóa.
- Đẩy mạnh xuất khẩu sản
phẩm nghề đá thông qua nền tảng thương mại điện tử xuyên biên giới và chuỗi
triển lãm thủ công toàn cầu. Xây dựng gian hàng chính thức “Vietnam Stone Art” trên
các nền tảng như Etsy, Amazon Handmade, Alibaba (phân khúc cao cấp), đồng thời
tổ chức huấn luyện kỹ năng vận hành thương mại điện tử, đóng gói, giao hàng quốc
tế cho các nghệ nhân trẻ và tổ hợp tác Làng nghề.
- Phối hợp cùng Bộ Công
Thương và các đơn vị liên quan tham gia các hội chợ chuyên ngành: Maison &
Objet (Pháp), Tokyo Gift Show (Nhật), Ambiente Frankfurt
(Đức)... với tư cách gian hàng quốc gia.
3.
Giải pháp đẩy mạnh quảng bá hoạt động sáng tác nghệ thuật điêu khắc đá gắn với
phát triển sản phẩm thủ công mỹ nghệ
- Xây dựng bộ nhận diện
thương hiệu ngành nghề cho sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ đá, trong đó xác định
slogan, biểu tượng, câu chuyện thương hiệu và định vị giá trị cốt lõi mang bản
sắc Non Nước.
- Phát triển các nền tảng
truyền thông số (website, fanpage, YouTube, Instagram, TikTok...) để
quảng bá quá trình sáng tác, giới thiệu nghệ nhân tiêu biểu,
lan tỏa giá trị nhân văn và văn hóa của từng tác phẩm
điêu khắc. Ưu tiên ứng dụng công nghệ kể chuyện
(storytelling) kết hợp với hình ảnh, video sáng tạo và ngôn ngữ gần gũi để tiếp
cận khách hàng trẻ, khách quốc tế.
- Tổ chức các chiến dịch
truyền thông chuyên đề theo mùa, ví dụ như “Mùa đá nở hoa”, “Đá kể
chuyện làng”, “Tinh hoa đá Việt”, phối hợp giữa nghệ nhân - chuyên gia truyền
thông - KOL/Influencer
du lịch để tạo độ phủ sóng.
- Tích cực tham gia các
hội chợ, triển lãm quốc tế về thủ công mỹ nghệ, du lịch và sáng tạo, mang sản
phẩm điêu khắc đá Việt ra thế giới, đồng thời kết nối với các tổ chức xúc tiến
thương mại, văn hóa và du lịch.
- Kết nối quảng bá với
các tour du lịch văn hóa và giáo dục trải
nghiệm tại Làng nghề, lồng ghép hoạt động giới thiệu quy trình sáng tác, giao
lưu với nghệ nhân và thực hành chế tác
đá. Đây không chỉ là cách quảng bá sản phẩm mà còn tạo giá trị trải
nghiệm độc đáo cho du khách, đặc biệt là thế hệ trẻ.
- Xây dựng các video
tài liệu, phim ngắn và sách ảnh về Làng nghề Non Nước và nghệ nhân tiêu biểu,
phục vụ mục tiêu lưu trữ - quảng bá trong nước và quốc tế.
4.
Giải pháp về huy động và đầu tư kinh phí
a) Huy động đầu tư từ
khu vực tư nhân và doanh nghiệp
- Khuyến khích các
doanh nghiệp văn hóa và du lịch đầu tư vào việc phát triển sản phẩm và tổ chức
các hoạt động sự kiện, lễ hội phát huy giá trị nghề
điêu khắc đá Non Nước.
- Áp dụng mô hình hợp
tác công - tư (PPP): Mô hình PPP có thể giúp kết nối các doanh nghiệp với cộng
đồng Làng nghề, hỗ trợ về vốn, công nghệ và phát triển thị trường cho sản phẩm
đá mỹ nghệ, trong khi vẫn đảm bảo giá trị văn hóa và bản sắc truyền thống của
di sản.
- Vận dụng
linh hoạt các cơ chế, chính sách huy động vốn của mọi thành phần kinh tế vào đầu
tư, đặc biệt là thu hút đầu tư cơ sở hạ tầng Làng nghề phục vụ cho phát triển
Làng nghề và phục vụ thương mại dịch vụ và du lịch.
- Tìm kiếm các doanh
nghiệp, các nhà đầu tư lớn trong và ngoài nước có năng lực đầu tư các ngành nghề,
lĩnh vực mà đề án đặt ra ưu tiên để tiếp cận, mời gọi
đầu tư.
b) Xây dựng Quỹ bảo trợ
và phát triển Nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước dựa vào cộng đồng và nguồn tài
trợ cá nhân
Vận động thành lập Quỹ
bảo trợ và phát triển Nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước do doanh nghiệp, hộ
kinh doanh, nghệ nhân, tổ chức và cá nhân yêu thích đá mỹ nghệ Non Nước đóng
góp, để hỗ trợ nghệ nhân, cơ sở hạ tầng và tổ chức các sự kiện văn hóa.
c) Tận dụng nguồn thu từ
du lịch văn hóa và dịch vụ trải nghiệm
Phát triển các tour du
lịch trải nghiệm tại Làng nghề: Mở rộng các hoạt động du lịch văn hóa tại Làng
nghề, cho phép du khách tham gia trải nghiệm điêu khắc đá và mua các sản phẩm
trực tiếp từ nghệ nhân. Nguồn thu từ hoạt động du lịch này sẽ được trích lại để
đầu tư vào bảo tồn.
d) Xây dựng chính sách
ưu đãi về thuế và tín dụng cho nghệ nhân và doanh nghiệp đầu tư vào nghề điêu
khắc đá mỹ nghệ
- Miễn giảm thuế cho
các doanh nghiệp đầu tư vào phát triển các sản phẩm điêu
khắc đá mỹ nghệ.
- Hỗ trợ vay vốn với
lãi suất ưu đãi cho nghệ nhân: Các nghệ nhân cần được hỗ trợ vay vốn với lãi suất
thấp hoặc nhận các khoản tài trợ đặc biệt từ ngân hàng, giúp họ cải thiện cơ sở
hạ tầng sản xuất và phát triển các dòng sản phẩm mới.
- Xây dựng cơ chế hỗ trợ
tiếp cận vốn - đào tạo chuyên môn - kết
nối thị trường cho nghệ nhân muốn khởi nghiệp hoặc phát triển quy mô sản xuất.
Có thể đề xuất thành lập Quỹ phát triển sản phẩm đá thủ
công gắn với doanh nghiệp, tài trợ từ các chương trình hỗ trợ Làng nghề truyền
thống, chương trình OCOP, các quỹ CSR của tập đoàn lớn và đối tác quốc tế
(UNESCO, UNDP). Quỹ này sẽ hỗ trợ thử nghiệm thiết kế
mới, cải tiến quy trình sản xuất, xây dựng gian hàng điện tử và kết nối đơn
hàng quốc tế.
5. Giải
pháp ứng dụng công nghệ 4.0 vào phát triển nghề
- Xây dựng một thư viện
số 3D lưu trữ mẫu tác phẩm tiêu biểu, quy trình chế
tác và câu chuyện di sản bằng công nghệ quét 3D và công nghệ thực tế ảo VR360.
Đồng thời, đầu tư vào hệ thống CNC và in 3D cho các công đoạn chế tác sản phẩm
phức tạp, giúp rút ngắn thời gian gia công mà vẫn đảm bảo độ tinh xảo.
- Xây dựng bản đồ Làng
nghề đá điêu khắc bằng công nghệ GIS, trong đó các điểm sản xuất được tích hợp
các thông tin cụ thể về nghệ nhân, sản phẩm.
- Thiết lập một nền tảng
thương mại điện tử chuyên biệt cho sản phẩm thủ công mỹ nghệ đá Non Nước, tích
hợp công nghệ thực tế tăng cường (AR) cho
phép khách hàng trải nghiệm sản phẩm từ xa. Ngoài ra, triển khai hệ thống quản
lý khách hàng (CRM) và chiến dịch quảng bá digital marketing đa ngôn ngữ (Anh,
Nhật, Hàn) để mở rộng tệp khách hàng toàn cầu.
- Thử nghiệm các lớp học
ảo (Virtual Workshop) với nội dung học nghề cơ bản qua nền
tảng AR/VR, hợp tác với các trường nghề và các nền tảng học trực tuyến quốc tế
(như Coursera, EdX) để giới thiệu khóa
học về điêu khắc đá
Việt Nam ra thế giới.
- Phát triển ứng dụng
di động “Non Nuoc Stone Art” cung cấp thông tin về lịch sử nghề, kỹ thuật chế
tác, sản phẩm mới, các sự kiện Làng nghề, đồng thời
cho phép khách hàng quốc tế đặt mua sản phẩm tùy chỉnh trực tuyến, theo dõi tiến
độ sản xuất qua AR/VR, tăng sự tương tác và trải nghiệm khách hàng.
- Từ năm 2030 -2045,
công nghệ số phải được tích hợp sâu rộng vào toàn bộ
chuỗi giá trị nghề, từ thiết kế ý tưởng (sử dụng
AI trong sáng tạo mẫu sản phẩm), sản xuất (robot hỗ trợ chế tác chi tiết nhỏ),
đến phân phối (ứng dụng Blockchain truy xuất nguồn gốc đá và quá trình chế
tác).
6. Giải
pháp cải thiện môi trường và an toàn lao động
- Thu gom và xử lý nước
thải từ hoạt động đánh bóng và làm mát đá trước khi thải ra môi trường. Sử dụng
công nghệ ít phát thải, máy móc mới có độ ồn thấp, tiết
kiệm năng lượng và giảm rung lắc.
- Thực hiện trồng cây
xanh, tạo vành đai xanh trong khu Làng nghề để giảm bụi,
tiếng ồn và cải thiện vi khí hậu.
- Tăng cường trang bị
và tổ chức đào tạo định kỳ về an toàn lao động. Trang bị đầy
đủ thiết bị bảo hộ cá nhân cho thợ thủ công như khẩu
trang lọc bụi mịn, kính chắn bụi, nút tai chống ồn, găng tay và giày chống trượt.
Thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn về kỹ năng
làm việc an toàn, sử dụng thiết bị đúng cách, sơ cứu tai nạn, và phòng cháy chữa
cháy tại chỗ.
- Thiết lập cơ chế kiểm
soát an toàn kỹ thuật và điều kiện làm việc tại xưởng. Tiến hành kiểm định định
kỳ máy móc, thiết bị sản xuất, đặc biệt là các
thiết bị cắt, mài, nâng hạ đá. Thiết lập quy trình làm việc chuẩn, phân bổ thời
gian nghỉ giữa ca hợp lý, lắp đặt hệ thống cảnh báo rủi ro và biển chỉ dẫn an
toàn tại các khu vực nguy hiểm.
- Tăng cường giám sát,
minh bạch hóa thông tin và ứng dụng công nghệ trong quản lý. Thiết lập cơ chế
kiểm tra định kỳ - đột xuất đối
với các cơ sở sản xuất có dấu hiệu vi phạm quy định
về môi trường và an toàn. Xây dựng hệ thống quản lý số hóa thông tin về môi trường
làm việc và tình trạng sức khỏe thợ thủ công,
nhằm theo dõi, cảnh báo và điều chỉnh kịp thời.
XII.
KINH PHÍ THỰC HIỆN
Nguồn ngân sách nhà nước
(ngân sách thành phố và ngân sách phường) và nguồn xã hội hóa. Nội dung chi:
Chi thường xuyên; trong đó lưu ý thực hiện lồng
ghép với các kế hoạch, chương trình công tác, nhiệm vụ khác của đơn vị, địa
phương nhằm sử dụng hiệu quả kinh phí, tiết kiệm thời gian và đảm bảo tính thiết
thực đối với hoạt động của đơn vị, tránh trùng lắp, chồng chéo nội dung chi gây
lãng phí ngân sách nhà nước.
XIII.
LỘ TRÌNH THỰC HIỆN
1.
Giai đoạn 2026 - 2030
- Rà soát, hoàn thiện
các văn bản quy định cơ chế, chính sách hỗ trợ bảo tồn, phát triển nghề, Làng
nghề phù hợp với quan điểm, chủ trương, chỉ đạo, quy định từ Trung ương và của
Thành ủy, HĐND, UBND thành phố trong giai đoạn mới.
- Xây dựng các nhiệm vụ,
chương trình, kế hoạch, dự án trong Đề án “Bảo tồn và
phát huy giá trị nghệ thuật chế tác thủ công trong điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước
gắn với quảng bá và phát triển
sản phẩm du lịch tại Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Nghề điêu khắc mỹ nghệ
đá Non Nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.
- Tổ chức thực hiện 03
nhóm nhiệm vụ, 06 nhóm giải pháp chính của Đề án sau khi được phê duyệt, bảo đảm
hoàn thành đúng tiến độ, có chất lượng, hiệu quả, đạt các mục tiêu cụ thể đã đề
ra.
- Tập trung phát triển
một loạt các sản phẩm điêu khắc mỹ nghệ
tinh xảo mang bản sắc văn hóa Đà Nẵng
nói chung và Ngũ Hành Sơn nói riêng.
- Thực hiện tổng kết,
đánh giá, đề xuất giải pháp trong giai đoạn tiếp theo, tập
trung vào phát triển bền vững, gắn kết chặt chẽ với du lịch và kinh tế
xanh, nhằm đảm bảo thực hiện hiệu quả Đề án.
2.
Giai đoạn 2031 - 2045
- Tiếp tục thực hiện đồng
bộ các nhiệm vụ và giải pháp của Đề án; điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện các nội
dung, dự án, các chính sách hỗ trợ phù hợp với bối cảnh và tình hình mới.
- Nâng tầm quốc gia và
quốc tế các hoạt động sự kiện quảng bá và phát triển Làng nghề.
- Đẩy mạnh xây dựng mối
liên kết, hợp tác quốc tế, tham gia các hội chợ, triển lãm, cuộc thi chuyên
ngành trong và ngoài nước.
- Tập trung ưu tiên
chuyển đổi số, đầu tư công nghệ, phát triển các mô hình sản xuất Làng nghề theo
hướng xanh, bền vững, tuần hoàn, giảm
phát thải.
- Hoàn thiện hệ thống
quản lý và phát triển Làng nghề, đảm bảo Làng nghề có thể tự duy trì và phát
triển một cách bền vững.
XIV.
TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ ÁN
1.
UBND phường Ngũ Hành Sơn
a) Là cơ quan thường trực
giúp UBND thành phố triển khai thực hiện Đề án, định kỳ báo cáo UBND thành phố
kết quả thực hiện, tích cực chủ động, nắm bắt
thông tin về những thuận lợi, khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực
hiện các nội dung của Đề án và kịp thời tổng hợp, báo cáo UBND
thành phố.
b) Chủ trì, phối hợp với
các đơn vị có liên quan lập kế hoạch và tổ chức thực hiện các nội dung của Đề
án, kiểm tra quá trình thực hiện xây dựng các hạng
mục, kịp thời phản ánh, đề xuất với các cơ quan chức năng những vấn đề thiết thực,
vượt thẩm quyền.
c) Đẩy mạnh công tác
tuyên truyền vận động doanh nghiệp, cơ sở sản
xuất, nghệ nhân và người dân tích cực hưởng ứng, đầu tư, tham gia các nội dung
của Đề án. Huy động vốn
xã hội hóa từ doanh nghiệp, tổ chức phi chính phủ và các quỹ văn hóa để
đầu tư vào Làng nghề. Thu hút đầu tư từ các dự án hợp tác công - tư (PPP).
d) Hằng
năm, chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng dự toán kinh phí triển
khai thực hiện Đề án gửi Sở Tài chính (đối với các nguồn chi thường xuyên) để tổng hợp, báo cáo UBND thành phố trình HĐND thành phố quyết định.
đ) Định kỳ tổ chức sơ kết,
tổng kết kết quả việc triển khai thực hiện Đề án và tổng hợp, báo cáo HĐND,
UBND thành phố về tình hình, kết quả thực hiện Đề án.
2.
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
a) Thực hiện chức năng
quản lý nhà nước đối với Di sản văn hóa phi vật thể Nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước và hoạt động mỹ thuật; hỗ trợ UBND
phường Ngũ Hành Sơn trong việc định hướng, thẩm định nội dung các hoạt động bảo
tồn, phục dựng và phát huy giá trị
Làng nghề; nghiên cứu, tư liệu hóa kỹ thuật điêu
khắc đá mỹ nghệ Non Nước.
b) Hỗ trợ xây dựng mối
quan hệ kết nối giữa UBND phường Ngũ Hành Sơn với Hiệp hội Du lịch, Hội Lữ
hành, Hội Khách sạn, Hội Hướng dẫn viên... để quảng
bá và phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm Làng nghề.
c) Chỉ đạo triển khai
các nhiệm vụ, giải pháp liên kết với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ
hành, du lịch xây dựng các tuyến, điểm, phát triển các sản phẩm du lịch, xúc tiến
du lịch gắn với Làng nghề.
d) Đào tạo kỹ năng dịch
vụ du lịch cho người dân Làng nghề, đội ngũ hướng dẫn viên du lịch chuyên nghiệp.
đ) Phối hợp tham gia tổ
chức các sự kiện, Lễ hội Thạch nghệ Tổ sư. Kết nối với các nghệ sĩ đương đại để
sáng tạo các sản phẩm điêu khắc đá mang giá trị hiện đại nhưng vẫn giữ được bản
sắc truyền thống.
e) Hướng dẫn, kiểm tra
việc thực hiện các quy định về cung cấp, hợp tác, đặt hàng, sử dụng và đảm bảo
quyền tác giả đối với tác phẩm điêu khắc đá mỹ
nghệ.
g) Phối hợp với UBND
phường Ngũ Hành Sơn và đơn vị liên quan cung cấp thông tin hướng dẫn các cơ
quan báo chí thành phố, cơ quan báo chí Trung ương, địa phương phối hợp và chỉ
đạo hệ thống thông tin cơ sở thông tin, tuyên truyền, phổ
biến và hướng dẫn thực hiện các nội dung của Đề án; hỗ trợ, phối hợp xây dựng
các kế hoạch, chương trình, đề án về chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông
tin góp phần hỗ trợ phát triển nghề và Làng nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước
tiêu thụ sản phẩm thông qua các nền tảng số.
3.
Sở Công Thương
a) Chủ trì rà soát, thực
hiện chính sách, quy định, hướng dẫn phong tặng nghệ nhân trong lĩnh vực nghề
thủ công mỹ nghệ.
b) Đánh giá nhu cầu, thị
hiếu tiêu dùng và định hướng xuất khẩu các sản phẩm Làng nghề sang các thị trường
tiềm năng.
c) Phối hợp với các cơ
quan, đơn vị, doanh nghiệp liên quan nghiên cứu xây
dựng và triển khai hoạt động xúc tiến thương mại, ứng dụng thương mại số, xây dựng
và phát triển thương hiệu cho các sản phẩm Làng
nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước, hướng dẫn các cơ sở sản xuất sản phẩm đáp ứng
các tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc tế.
d) Tham mưu UBND thành
phố có các cơ chế, chính sách hỗ trợ, đãi ngộ đối với các nghệ nhân và chính
sách ưu đãi, khuyến khích, hỗ trợ phát triển sản xuất,
kinh doanh ngành nghề điêu khắc đá mỹ nghệ.
đ) Hỗ
trợ, tạo điều kiện để các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất tham gia
các hội chợ, triển lãm giới thiệu sản phẩm, kết nối giao
thương.
e) Hỗ trợ ứng dụng máy
móc, thiết bị tiên tiến, chuyển giao công nghệ, tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản
xuất để tạo ra các sản phẩm mới, vừa giữ được bản
sắc, vừa đáp ứng nhu cầu thị trường.
4.
Sở Tài chính
a) Căn cứ dự toán ngân
sách hằng năm, trên cơ sở đề nghị của các cơ quan đơn vị, địa phương, căn cứ khả
năng cân đối ngân sách, Sở Tài chính tổng hợp,
báo cáo UBND thành phố trình HĐND thành phố xem xét, quyết định bố trí dự toán
kinh phí (nhiệm vụ chi thường xuyên) thực hiện Đề án nay theo đúng quy
định của Luật Ngân sách Nhà nước và các văn bản hướng dẫn hiện hành có
liên quan. Phối hợp vận động nguồn xã hội hóa; khuyến khích các nhà đầu tư tham
gia phát triển cơ sở hạ tầng, tổ chức các hoạt động phục dựng và du lịch trải
nghiệm, khám phá Làng nghề.
c) Chủ trì phối hợp với
UBND phường Ngũ Hành Sơn, các đơn vị liên quan cân đối nguồn vốn
và tham mưu UBND thành phố phân bổ vốn đầu tư đối với các nhiệm vụ, chương
trình, kế hoạch, dự án thực hiện Đề án theo quy định.
5.
Sở Khoa học và Công nghệ
a) Xây dựng, đăng ký bảo
hộ, quản lý và phát triển nhãn hiệu chứng nhận đá mỹ nghệ Non Nước.
b) Hướng dẫn các thủ tục
xác lập bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (kiểu dáng công nghiệp) đối với các sản phẩm
đá mỹ nghệ Non Nước.
c) Chuyển giao các công
trình và sản phẩm nghiên cứu khoa học công nghệ về Nghề điêu khắc đá mỹ nghệ
Non Nước để hỗ trợ cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất
đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo thêm giá
trị gia tăng làm cơ sở phát triển bền vững.
6.
Sở Giáo dục và Đào tạo
Lồng ghép các nội dung
giới thiệu Nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước vào Chương trình giáo dục địa
phương. Tổ chức, tạo điều kiện cho học sinh tham gia học tập ngoại khóa, trải
nghiệm thực tế tại Làng nghề.
7. Sở
Ngoại vụ
a) Chủ trì trao đổi, hợp
tác với Bộ Ngoại giao và các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, các cơ
quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam trong việc quảng bá, giới thiệu Làng nghề
điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước, sản phẩm Làng nghề.
b) Phối hợp với Sở Công
Thương hỗ trợ triển khai các nhiệm vụ về xúc tiến đầu tư, thương mại, đầu tư,
du lịch Làng nghề và sản phẩm Làng nghề ra thị trường thế
giới.
c) Phối hợp cung cấp
thông tin về các hội chợ, triển lãm Làng
nghề quốc tế có uy tín; hỗ trợ về thủ tục đăng ký, tham gia hội
chợ, triển lãm của Làng nghề.
8. Sở
Nông nghiệp và Môi trường
a) Hướng dẫn biện pháp
xử lý chất thải, nước thải, bảo vệ môi trường đối với Làng nghề.
b) Tăng cường công tác
kiểm tra, giám sát, hướng dẫn việc thực hiện các quy định của pháp luật về bảo
vệ môi trường tại Làng nghề.
9. Đề
nghị Báo và phát thanh, truyền hình Đà Nẵng
a) Tăng cường công tác
tuyên truyền, quảng bá về giá trị của Nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước trên
các phương tiện thông tin đại chúng và nền tảng mạng xã hội nhằm đưa hình ảnh,
hoạt động của Làng nghề đến với đông đảo người dân, du khách.
b) Phối hợp
với UBND phường Ngũ Hành Sơn, các cơ quan, đơn vị liên quan xây dựng kế hoạch triển
khai các nội dung có liên quan trong Đề án; tăng cường công tác quảng bá, tuyên
truyền đến người dân, du khách nâng cao hơn nữa nhận thức bảo tồn
và phát huy giá trị di sản.
10. Ban
Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp và hạ tầng kỹ
thuật Đà Nẵng
Chủ trì, thực hiện các
dự án có liên quan được phân công tại Kế hoạch số 174/KH-UBND ngày 13/9/2023 của
UBND thành phố về thực hiện Quyết định số 822/QĐ-TTg ngày 11/7/2023 của Thủ tướng
Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Danh lam thắng
cảnh quốc gia đặc biệt Ngũ Hành
Sơn, Kế hoạch số 162/KH-UBND ngày 12/11/2025 của UBND thành
phố về việc điều chỉnh Kế
hoạch số 174/KH-UBND ngày 13/9/2023 của UBND thành phố, đảm bảo chất lượng và
tiến độ.
Trên đây là nội dung Đề
án “Bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật chế tác thủ công trong điêu khắc đá
mỹ nghệ Non Nước gắn với quảng bá và phát triển sản phẩm du lịch tại Di sản văn
hóa phi vật thể quốc gia Nghề điêu khắc mỹ nghệ đá Non Nước đến năm 2030, tầm
nhìn đến năm 2045”, đề nghị các cơ quan, đơn vị có liên quan căn cứ nội dung
triển khai thực hiện./.