|
BỘ Y TẾ
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 306/QĐ-BYT
|
Hà Nội, ngày 29 tháng 01 năm 2026
|
QUYẾT ĐỊNH
BAN HÀNH TÀI LIỆU “HƯỚNG DẪN CHUYÊN MÔN VỀ KỸ
NĂNG AN TOÀN TRONG MÔI TRƯỜNG NƯỚC VÀ DẠY BƠI AN TOÀN PHÒNG, CHỐNG ĐUỐI NƯỚC
TRẺ EM”
BỘ
TRƯỞNG BỘ Y TẾ
Căn cứ Luật Trẻ em năm 2016;
Căn cứ Nghị định số 42/2025/NĐ-CP ngày 27 tháng 02 năm 2025 của
Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y
tế;
Căn cứ Quyết định số 1248/QĐ-TTg ngày 19 tháng 7 năm 2021 của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phòng, chống tai nạn, thương tích trẻ em
giai đoạn 2021- 2030;
Theo đề nghị của Cục
trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em, Bộ Y tế.
QUYẾT
ĐỊNH
Điều 1. Ban
hành kèm theo Quyết định này tài liệu “Hướng dẫn chuyên môn về Kỹ năng an toàn
trong môi trường nước và dạy bơi an toàn phòng, chống đuối nước trẻ em”.
Điều 2. Tài
liệu “Hướng dẫn chuyên môn về Kỹ năng an toàn trong môi trường nước và dạy bơi
an toàn phòng, chống đuối nước trẻ em” được áp dụng trong phạm vi toàn quốc.
Điều 3. Quyết
định này có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành.
Điều 4. Các
ông, bà: Chánh Văn phòng Bộ, Cục trưởng và Vụ trưởng các Cục/Vụ thuộc Bộ Y tế;
Thủ trưởng các đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ Y tế; Giám đốc Sở Y tế các tỉnh, thành
phố; Thủ trưởng Y tế các ngành và các cơ quan, đơn vị có liên quan chịu trách
nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
Nơi nhận:
-
Như Điều 4;
- Bộ trưởng (để báo cáo);
- Các Thứ trưởng;
- Cổng Thông tin điện tử Bộ Y tế;
- Lưu: VT, BMTE.
|
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Nguyễn Tri Thức
|
TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN CHUYÊN MÔN
KỸ NĂNG AN TOÀN TRONG MÔI TRƯỜNG NƯỚC CHO TRẺ
EM DẠY BƠI AN TOÀN PHÒNG, CHỐNG ĐUỐI NƯỚC CHO TRẺ EM
(Ban hành kèm theo Quyết định số 306/QĐ-BYT, ngày 29/ 01/2026 của Bộ
trưởng Bộ Y tế)
DANH
SÁCH BAN SOẠN THẢO
(Ban
hành kèm theo Quyết định số 3379/QĐ-BYT ngày
30 tháng 10 năm 2025) của Bộ trường Bộ Y tế)
|
1. Ông Trần Đăng Khoa
|
Phó Cục Trưởng
Cục Bà mẹ và Trẻ em, Bộ Y tế, Trưởng ban;
|
|
2. Bà Châu Thị Minh Anh
|
Trưởng phòng
Phòng Chăm sóc Bà mẹ và Trẻ em, Cục Bà mẹ và Trẻ em, Bộ Y tế, Thành viên;
|
|
3. Bà Nguyễn Thị Mai Anh
|
Chuyên viên Phòng Chăm sóc Bà mẹ
và Trẻ em, Cục Bà mẹ và Trẻ em, Bộ Y tế, Thành
viên, kiêm Thư ký Ban soạn thảo;
|
|
4. Bà Lê Thị Hoàng Yến
|
Phó Cục trưởng, Cục Thể dục thể
thao Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;
|
|
5. Ông Lê Huy Trí
|
Phó Viện trưởng,
Viện khoa học cảnh sát, Học viện Cảnh sát Nhân dân, Thành viên;
|
|
6 Ông Lê Đức Long
|
Trường Bộ môn thể thao dưới nước,
Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh, Thành viên;
|
|
7. Ông Phạm Văn Tuân
|
Trường bộ môn thể thao dưới nước,
Trường Đại học Thể dục thể thao TP. Hồ Chí Minh, Thành viên;
|
|
8. Ông Lê Chí Hùng
|
Phó trưởng
khoa Giáo dục thể chất, Trường Đại học thể dục thể thao Đà Nẵng,
Thành viên;
|
|
9. Ông Tăng Việt Thành
|
Chuyên viên Phòng Thể dục thể
thao cho mọi người, Cục Thể dục thể thao Việt Nam, Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch, Thành viên.
|
I. Chỉ đạo soạn thảo
PGS.TS. Nguyễn Tri Thức, Thứ trưởng Bộ Y
tế
II. Ban soạn thảo
|
1. Ông Trần Đăng Khoa
|
Phó Cục Trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ
em, Bộ Y tế, Trưởng ban;
|
|
2. Bà Châu Thị Minh Anh
|
Trưởng phòng Phòng Chăm sóc Bà mẹ
và Trẻ em, Cục Bà mẹ và Trẻ em, Bộ Y tế, Thành viên;
|
|
3. Bà Nguyễn Thị Mai Anh
|
Chuyên viên Phòng Chăm sóc Bà mẹ
và Trẻ em, Cục Bà mẹ và Trẻ em, Bộ Y tế, Thành viên, kiêm Thư ký Ban soạn thảo;
|
|
4. Bà Lê Thị Hoàng Yến
|
Phó Cục trưởng, Cục Thể dục thể
thao Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;
|
|
5. Ông Lê Huy Trí
|
Phó Viện trưởng, Viện khoa học
cảnh sát, Học viện Cảnh sát Nhân dân, Thành viên;
|
|
6. Ông Lê Đức Long
|
Trưởng Bộ môn thể thao dưới nước,
Trường Đại học Thể dục thể thao Bắc Ninh, Thành viên;
|
|
7. Ông Phạm Văn Tuân
|
Trưởng bộ môn thể thao dưới nước,
Trường Đại học Thể dục thể thao TP. Hồ Chí Minh, Thành viên;
|
|
8. Ông Lê Chí Hùng
|
Phó trưởng khoa Giáo dục thể
chất, Trường Đại học thể dục thể thao Đà Nẵng, Thành viên;
|
|
9. Ông Tăng Việt Thành
|
Chuyên viên Phòng Thể dục thể
thao cho mọi người, Cục Thể dục thể thao Việt Nam, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du
lịch, Thành viên.
|
LỜI
NÓI ĐẦU
Bảo vệ chăm sóc trẻ em là một trong
những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Trong những năm qua với
sự nỗ lực của các cấp, các ngành và sự tham gia tích cực của toàn xã
hội, cùng với sự hỗ trợ có hiệu quả của các tổ chức quốc tế, nhiều trẻ
em đã được hưởng các quyền cơ bản của mình, được bảo vệ, chăm sóc giáo
dục tốt hơn. Tuy nhiên hiện nay, đuối nước là một trong những nguyên nhân
gây tử vong do tai nạn thương tích đối với trẻ em và trẻ vị thành niên tại
Việt Nam. Trong giai đoạn 2021-2025, trung bình mỗi năm có khoảng 1.800 trẻ
em tử vong do đuối nước, chiếm hơn 50% các trường hợp tử vong do tai nạn
thương tích gây ra. Tử vong do đuối nước ở Việt Nam đứng thứ 4 trong khu
vực Đông Nam Á, cao gấp 10 lần các nước có thu nhập cao. Đuối nước hiện
là mối đe dọa lớn nhất tới sự sống còn của trẻ em, là một trong những
nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ em. Tổn thất về xã hội và kinh tế do
đuối nước gây ra ở trẻ em và vị thành niên là rất lớn. Những nguyên nhân
chính dẫn đến tình trạng trẻ em bị đuối nước tại Việt Nam là: do nhận thức
của cộng đồng về công tác phòng tránh đuối nước trẻ em còn hạn chế; cha
mẹ, người chăm sóc trẻ và đặc biệt là bản thân trẻ thiếu kiến thức kỹ năng
về an toàn trong môi trường nước, do trẻ không biết bơi vì thực tế hiện
nay chỉ có khoảng có 30% trẻ em lứa tuổi tiểu học và trung học cơ sở biết
bơi. Bên cạnh đó, còn có rất nhiều nguyên nhân khác dẫn đến đuối nước ở
trẻ em như thiếu sự quản lý, giám sát của người lớn đối với trẻ em khi
sống trong môi trường không an toàn; do thiên tai bão lũ; do trẻ em chưa
thực hiện đúng các quy định khi tham gia giao thông đường thủy; môi
trường sống vẫn còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây đuối nước.
Nhằm cung cấp các kiến thức, kỹ năng
an toàn cơ bản trong môi trường nước, dạy bơi an toàn phòng, chống đuối
nước cho trẻ em và các kỹ năng xử lý tình huống đuối nước ở trẻ em cho
các cán bộ làm công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em, thầy cô giáo, cha mẹ,
người chăm sóc trẻ…, Cục Bà mẹ và Trẻ em, Bộ Y tế, với sự hỗ trợ của Quỹ
từ thiện Bloomberg, các chuyên gia của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Tổ
chức Vận động Chính sách Y tế toàn cầu của Hoa Kỳ (GHAI) và các tổ chức
quốc tế, các chuyên gia trong nước xây dựng Tài liệu hướng dẫn “Kỹ năng an
toàn trong môi trường nước cho trẻ em và dạy bơi an toàn phòng, chống đuối
nước cho trẻ em”. Tài liệu hướng dẫn gồm 2 phần:
Phần I. Kỹ năng an toàn trong môi
trường nước cho trẻ em
Phần II. Dạy bơi an toàn phòng, chống
đuối nước cho trẻ em
MỤC
LỤC
Phần
thứ nhất
HƯỚNG
DẪN KỸ NĂNG AN TOÀN TRONG MÔI TRƯỜNG NƯỚC CHO TRẺ EM
|
Chương 1
|
Nhận thức chung về
đuối nước
|
|
Chương 2
|
Bảo đảm an toàn và
phòng, chống đuối nước cho trẻ em
|
|
Chương 3
|
Kỹ năng cứu đuối an
toàn
|
|
Chương 4
|
Tập huấn hướng dẫn
kỹ năng an toàn trong môi trường nước
|
Phần
thứ hai
DẠY
BƠI AN TOÀN PHÒNG, CHỐNG ĐUỐI NƯỚC CHO TRẺ EM
|
Chương 5
|
Công tác tổ chức lớp dạy bơi an toàn
cho trẻ em
|
|
Chương 6
|
Nội dung dạy bơi an toàn cho trẻ em
|
|
Chương 7
|
Bài tập giảng dạy bơi an toàn cho trẻ
em
|
CHƯƠNG 1
NHẬN THỨC CHUNG VỀ ĐUỐI NƯỚC
I. NHẬN DIỆN MÔI TRƯỜNG
NƯỚC, TAI NẠN ĐUỐI NƯỚC VÀ TÌNH HÌNH ĐUỐI NƯỚC Ở TRẺ EM
1. Nhận diện môi trường
nước
Các môi trường nước mở trong tự
nhiên: sông, hồ, suối, biển…
Các môi trường nước trong cộng đồng:
ao, đập nước, mương nước, hố vôi, cống thoát nước, bể bơi…
Các môi trường nước tại gia đình: xô
chậu chứa nước, bồn tắm, bể cá, giếng, bể nước…
Vùng nước lũ, lụt…
2. Tai nạn đuối nước
Nước là một môi trường tiềm ẩn rất
nhiều mối nguy hiểm. Một em nhỏ có thể bị chết đuối trong một vài
cen-ti-mét nước dưới đáy một chiếc xô, trong bồn tắm hoặc trên cánh đồng
lúa.
Theo Tổ chức Y tế thế giới, đuối nước
được định nghĩa:
Đuối nước là quá trình trải qua suy
hô hấp do chìm/ ngâm trong chất lỏng. Hậu quả là tử vong hoặc không tử
vong, trong một vài trường hợp không tử vong gây tổn hại đáng kể cho hệ
thần kinh.
Dấu hiệu nhận biết người bị đuối nước:
- Nạn nhân bất ngờ bị ngã, rơi xuống
nước;
- Nạn nhân chới với, đầu ngập trong
nước;
- Nạn nhân vùng vẫy trong trạng thái
hoảng loạn;
- Nạn nhân la hét hoặc cố gắng la hét
để cầu cứu sự giúp đỡ;
- Trên mặt nước có sóng động, nổi bọt
bóng bóng nhiều.

Hình
1: (Nguồn: Fanpage “Phòng, chống đuối nước cho trẻ em Việt Nam”)
Tình trạng đuối nước được diễn biến
qua 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Bắt đầu chìm;
- Giai đoạn 2: Nạn nhân hít phải nước,
thanh quản sẽ có phản xạ, phổi vẫn còn khô;
- Giai đoạn 3: Cơ thể bị thiếu oxy do
đường thở bị tràn dịch, tăng tiêu thụ oxy, mô phổi bị tổn thương. Nếu không
được đưa lên bờ, nạn nhân sẽ bị ngạt và chết đuối.
Một người có thể bị đuối nước ngay cả
sau khi họ đã ra khỏi nước. Đây là một hiện tượng hiếm gặp được gọi là “đuối
nước cạn” hoặc “đuối nước thứ phát”, nếu không được phát hiện và
xử trí can thiệp kịp thời thì có thể tử vong. Tình trạng này xảy ra khi nạn
nhân trong quá trình bơi lội đã hít vào một lượng nước nhỏ lúc gắng sức
làm sặc nước, kích thích các cơ ở đường hô hấp gây nên hiện tượng co thắt
và tạo ra sự khó thở; một phần nước được tích tụ lại ở phổi có thể dẫn đến
phù phổi cấp sau đó. Theo các nhà khoa học, đuối nước cạn chiếm tỷ lệ nhỏ khoảng
1 - 2% các trường hợp bị đuối nước và thường xuất hiện trong thời gian từ 1
đến 24 giờ sau khi bị sặc nước lúc gắng sức do bơi lội ở trong nước.
Các triệu chứng khi bị đuối nước khô:
- Thanh quản bị co thắt nên sẽ ho không
kiểm soát được hoặc ho liên tục;
- Tức ngực, khó thở;
- Chóng mặt, choáng váng;
- Buồn ngủ, luôn trong trạng thái mơ
màng, không tỉnh táo;
- Cảm thấy khó khăn khi nói chuyện;
- Xuất hiện bọt ở miệng, mũi;
- Nhịp thở bất thường;
- Cáu kỉnh, mệt mỏi hoặc giảm năng
lượng vì não không nhận đủ oxy.
Đối với trẻ em, người chăm sóc phải
chú ý, quan sát kĩ các biểu hiện của trẻ sau khi đi bơi lội, tắm biển,
vui chơi trong môi trường nước. Nếu thấy có các biểu hiện triệu chứng như
trên thì phải tiến hành cấp cứu kịp thời.
3. Tình hình đuối nước
ở trẻ em
Tại Việt Nam, trong giai đoạn 2021 -
2025 trung bình mỗi năm có hơn 1.800 trẻ em tử vong do đuối nước. Mặc dù
số ca tử vong do đuối nước đã giảm dần qua các năm, song đuối nước vẫn
là một trong nguyên nhân chính gây tử vong do tai nạn, thương tích ở trẻ em
và người chưa thành niên. Tử vong do đuối nước ở trẻ em chiếm khoảng 50% các
ca tử vong do tai nạn, thương tích; Đuối nước ở trẻ em xảy ra chủ yếu tại
cộng đồng (76,6%), tại gia đình (22,4%) và tại trường học (1%);
Nhóm 0 - 4 tuổi có tỷ lệ tử vong do
đuối nước cao nhất. Trẻ dưới 5 tuổi bị đuối nước thường ở khu vực gần nhà,
trong các ao hồ, sông, suối, kênh rạch, các vũng nước hoặc bể chứa nước của
công trình đang thi công;
Trẻ 6 - 15 tuổi thường bị đuối nước
tại các vùng nước mở tự nhiên khi chơi đùa tại các khu vực sông, hồ, hay
khi đi tắm biển, bơi lội;
Số lượng trẻ nam đuối nước cao gấp
đôi trẻ nữ, đặc biệt nhiều em tử vong trong tình huống cứu bạn bị đuối
nước;
Trẻ em ở khu vực nông thôn có nguy
cơ bị đuối nước cao gấp 2 lần trẻ em ở khu vực thành thị và 55% trẻ em tử
vong do đuối nước thuộc các hộ gia đình nghèo ở nông thôn.
II. NGUYÊN NHÂN TÌNH
TRẠNG ĐUỐI NƯỚC Ở TRẺ EM
1. Nguyên nhân từ phía
trẻ em
Các nguyên nhân dẫn đến tình trạng
đuối nước ở trẻ em là do các em chưa ý thức đầy đủ được các nguy cơ đuối
nước và kỹ năng an toàn trong môi trường nước. Lý do của tình trạng trên
xuất phát từ các yếu tố đặc điểm tâm sinh lý ở lứa tuổi ở trẻ em, như:
- Độ tuổi, tâm lý và
sự phát triển.
Đa phần trẻ em hiếu động và rất thích
vui chơi với nước. Trẻ thích thú và có thể dành thời gian hàng giờ để tắm,
bơi lội, đùa nghịch dưới nước.
Trẻ nhỏ dưới 5 tuổi dễ bị thu hút bởi
vào các môi trường nước xung quanh gia đình như chậu nước, chum, vại, bồn
tắm, bể cá… Nếu trẻ không được giám sát cẩn thận, hoặc người giám sát
không đủ năng lực thì sẽ có nguy cơ trẻ bị ngã vào nước mà không có khả
năng thoát ra được, chỉ trong thời gian rất ngắn (tối đa 2 phút) sẽ dẫn
đến bị đuối nước.
Ở các nhóm tuổi lớn hơn, trẻ em
thường có xu hướng vận động nhiều hơn, hiếu kỳ, thích khám phá, có các
hành vi liều lĩnh trong khi không nhận thức đầy đủ được các hiểm hoạ từ
môi trường nước, không có các kỹ năng phòng tránh dẫn đến nguy cơ cao bị
đuối nước.
- Các vấn đề về bệnh
lý
Bệnh động kinh được thống kê là làm
tăng nguy cơ tử vong do đuối nước trong tất cả các nguồn nước, bao gồm: bồn
tắm, bể bơi, ao hồ và các vùng nước tự nhiên khác. Trẻ em bị động kinh có
nguy cơ chìm trong nước và đuối nước cao hơn nhiều so với những trẻ
không bị động kinh cả ở trong bồn tắm và bể bơi.
Những người bị bệnh loạn sản thất phải
ở tim, bao gồm hội chứng QT dài (bơi lội có thể gây ra rối loạn nhịp tim gây chết
đuối không rõ nguyên nhân ở những người mắc chứng rối loạn đó).
- Thiếu kiến thức, kỹ
năng an toàn trong môi trường nước
Để an toàn trong môi trường nước và
tránh được nguy cơ đuối nước đòi hỏi trẻ cần có các kiến thức nhất định
về các nguy cơ đuối nước ở các loại hình môi trường nước (ở bể bơi,
sông hồ, biển, khi có lũ, lụt...), nguyên tắc an toàn trong môi trường nước
và các kỹ năng khi vui chơi, tham gia các hoạt động dưới nước và kỹ năng
thoát hiểm trong các tình huống nguy cấp (như bị chuột rút, gặp vùng nước
xoáy…), kỹ năng cứu đuối an toàn, phù hợp với thể chất, khả năng của trẻ.
Tuy nhiên, do còn nhỏ tuổi các kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng ở trẻ em
hạn chế hơn rất nhiều so với người thành niên.
2. Thiếu sự giám sát
của người lớn
Trẻ em cần được giám sát bởi người
lớn nhằm bảo đảm an toàn trước nguy cơ bị đuối nước; tránh bị ngã, rơi vào
vùng nước và bị đuối nước.
Trong một số trường hợp trẻ em bị
đuối nước do người giám sát không đủ năng lực như: người giám sát là
anh, chị em còn nhỏ tuổi, người có những hạn chế nhất định về năng lực
hành vi, người giám sát trẻ em không biết bơi và không có kỹ năng cứu
đuối...
Ngoài ra, tai nạn đuối nước và nguy cơ
đuối nước tăng cao khi những người có trách nhiệm giám sát hoạt động của
trẻ trong học tập, vui chơi, làm việc ở môi trường nước; nhân viên cứu hộ ở
bể bơi, bãi biển; người kinh doanh vận tải đường thuỷ trong việc thực hiện
quy định an toàn khi tham gia giao thông đường thuỷ... không thực hiện tốt
các quy định của pháp luật và thiếu tinh thần trách nhiệm trong khi thực
hiện nhiệm vụ.
3. Môi trường xung
quanh trẻ không an toàn
Môi trường nước xung quanh trẻ em rất
đa dạng và không an toàn biểu hiện cụ thể như: chum, vại nước, chậu nước, lu,
phi nước, bể chứa nước không được che đậy cẩn thận; hố đào sâu của công
trình xây dựng không có biển cảnh báo và rào chắn; thành giếng không đủ
độ cao cần thiết; bể bơi, khu vực tắm biển không có người trông coi hoặc
người trông coi không biết bơi, thiếu thiết bị cứu hộ, không có kỹ năng
cứu đuối, không có biển cảnh báo nguy hiểm...

Hình
2: (Nguồn: Fanpage “Phòng, chống đuối nước cho trẻ em Việt Nam”)
4. Do tác động của các
hiện tượng thiên tai mưa bão, lũ lụt
Do thể lực, kiến thức, kỹ năng còn hạn
chế, đặc biệt khi có thiên tai bất ngờ như mưa lũ, trẻ em thường hoang mang,
lo lắng vì vậy có rất nhiều trường hợp trẻ em đã bị đuối nước do nước lũ
dâng nhanh, dâng cao, dòng nước xoáy chảy mạnh nhấn chìm hoặc cuốn trôi
xuống kênh rạch, sông suối, cống thoát nước.
Cá biệt, tại một số nơi, khi nước lũ
về, trẻ chủ quan đi thu vớt các tài sản có giá trị, vớt gỗ, đánh cá… nên
bị ngã vào nước lũ, dẫn đến đuối nước.
5. Trẻ em tham gia giao
thông đường thuỷ không bảo đảm an toàn
Phương tiện thuỷ không bảo đảm an toàn
kỹ thuật, thiếu thiết bị an toàn như áo phao, áo phao cho trẻ em, xuồng cứu
hộ, phương tiện chở quá tải là nguyên nhân mất an toàn khi chở trẻ em đi lại
trên sông nước.
Người giám sát trẻ, nhân viên trên
tàu, phà cũng chưa thật đề cao ý thức chấp hành các quy định an toàn khi
tham gia giao thông đường thuỷ, không nhắc nhở trẻ mặc áo phao đúng quy
định.
6. Công tác quản lý nhà
nước về phòng, chống đuối nước ở trẻ em chưa đạt hiệu quả cao
Thực hiện về phòng, chống đuối nước
ở trẻ em tại cơ sở, cộng đồng dân cư, nhà trường chưa được tốt.
Việc xóa bỏ các yếu tố nguy cơ dẫn
đến tai nạn đuối nước và tạo ra môi trường nước an toàn cho trẻ em tại các
gia đình, cộng đồng dân cư chưa triệt để... Các bể bơi, các bãi tắm, các
vùng nước mở không có người giám sát, lực lượng cứu hộ; các cây cầu bắc
qua kênh, mương, sông, suối không bảo đảm kỹ thuật, an toàn cho trẻ khi
đi lại...
Công tác giáo dục, đào tạo kiến thức,
kỹ năng về an toàn trong môi trường nước chưa đạt hiệu quả cao. Quan hệ
phối hợp giữa gia đình, nhà trường, tổ chức đoàn thể chính trị, xã hội
trong tuyên truyền, giáo dục, quản lý hoạt động của các em chưa chặt chẽ;
là một trong những yếu tố dẫn đến tình hình đuối nước ở nước ta vẫn ở
mức cao.
CHƯƠNG 2
BẢO ĐẢM AN TOÀN VÀ PHÒNG, CHỐNG ĐUỐI NƯỚC CHO
TRẺ EM
I. TẠO MÔI TRƯỜNG AN
TOÀN CHO TRẺ EM
1. Tại gia đình
Xung quanh ao, hố chứa nước, hố vôi,
cống thoát nước trong khu vực nhà ở phải có hàng rào chắc chắn bảo đảm an
toàn cho trẻ em;
Giếng nước, bể nước hoặc các đồ dùng
chứa nước khác phải có nắp đậy an toàn;
Khu vực nhà tắm, đặc biệt là nhà tắm
có thiết kế bồn tắm nằm và khu vệ sinh luôn được đóng cửa an toàn sau khi
sử dụng.
Tại nhà trường: Hệ thống ao, hồ, bể
bơi trong nhà trường (nếu có) phải được rào chắn và có biển cảnh báo nguy
hiểm.
2. Tại cộng đồng
Phát hiện, rà soát, lập bản đồ cảnh
báo kịp thời các địa điểm (hố nước, hồ, ao, sông ngòi, các khu vực nước
sâu, nguy hiểm, công trình chứa nước…) có nguy cơ gây tai nạn đuối nước
trên địa bàn;
Lắp đặt biển cảnh báo các khu vực
nước sâu nguy hiểm;
Xung quanh ao, hồ, hố chứa nước, hố
vôi, cống thoát nước trong khu vực phải có hàng rào chắc chắn đảm bảo an
toàn cho trẻ em, phải lấp hố nước ngay sau khi sử dụng.
Huy động sự tham gia của các cấp,
các ngành, đoàn thể và cộng đồng xã hội trong việc giám sát, cảnh giới, gia
cố, cải tạo các khu vực có nguy cơ gây tai nạn đuối nước.
3. Giám sát, trông giữ
trẻ an toàn
Trẻ em luôn có người trông giữ, giám
sát tại gia đình, cộng đồng... Người giám sát trẻ phải là người có đủ năng
lực trách nhiệm, hành vi.
Đối với trẻ nhỏ ở lứa tuổi mầm non,
phải thường xuyên có người giám sát mọi lúc, mọi nơi.. Với gia đình có trẻ
đang ở tuổi tập bò, tập đi khuyến cáo sử dụng cũi để trông chừng trẻ
nhỏ;
Không để trẻ nhỏ một mình trong khi
đi vệ sinh, rửa tay, chân trong nhà vệ sinh hoặc ở khu vực có vùng nước mở
(giếng, ao, hồ, khe rạch nước, …) khi ở gia đình, trường/lớp/nhóm trẻ mầm non;
Người lớn lưu ý không mải làm việc
khác (sử dụng điện thoại, nói chuyện với người khác, xem tivi, nấu ăn, bỏ
ra ngoài một lúc…) để trẻ nhỏ tự chơi một mình không có người quan sát;
Các khu vui chơi giải trí dưới nước,
các bể bơi phải có nhân viên cứu hộ, giám sát trẻ;
Các nhà trường cần đẩy mạnh hơn nữa
công tác phối hợp giữa nhà trường với gia đình để quản lý, giám sát học
sinh trong thời gian nghỉ học, nghỉ hè để bảo đảm an toàn, phòng, chống
đuối nước;
Các ngành, các tổ chức, đặc biệt là
đoàn thanh niên, hội phụ nữ, cá nhân tham gia quản lý chặt chẽ trẻ em trong
thời gian không đến trường, đặc biệt là dịp nghỉ hè, các thời gian bão,
lũ, thiên tai để bảo đảm an toàn, phòng, chống đuối nước cho trẻ em.
4. Giáo dục trẻ em kỹ
năng an toàn trong môi trường nước
Để trẻ em biết tự bảo vệ bản thân an
toàn trong môi trường nước và phòng, tránh đuối nước, người lớn cần hướng
dẫn cho trẻ em chú ý các vấn đề sau:
- Các kiến thức về môi trường nước,
các mối nguy hiểm có thể gặp phải khi vui chơi trong môi trường nước, có ý
thức cẩn thận, cảnh giác không được chủ quan khi tiếp cận môi trường
nước;
- Không xuống nước khi chưa biết bơi
hoặc khi chưa có sự đồng ý của người lớn, người có trách nhiệm;
- Kĩ năng xử lý các tình huống bất
ngờ khi đang bơi lội, tắm biển, vui chơi trong môi trường nước: bị chuột
rút, bị dòng chảy cuốn ra xa bờ…;
- Các biện pháp bảo đảm an toàn và
phòng, chống đuối nước khi tham gia giao thông đường thủy;
- Các biện pháp bảo đảm an toàn và
phòng, chống đuối nước vào mùa mưa bão, lũ, lụt, khi gặp thời tiết xấu;
- Kỹ năng cứu người đuối nước phù
hợp với lứa tuổi;
- Ghi nhớ số điện thoại của bố mẹ,
thầy cô giáo chủ nhiệm, số điện thoại 111 - Tổng đài bảo vệ quốc gia bảo
vệ trẻ em để liên lạc khi có việc cần thông báo, cấp báo, đề nghị hỗ trợ,
giúp đỡ.
5. Dạy cho trẻ độ tuổi
từ tiểu học trở lên kỹ năng bơi và kỹ năng an toàn trong môi trường nước
Học bơi theo trường lớp, khoá học với
các thầy cô giáo, huấn luyện viên và người lớn. Kiến thức, kỹ năng bơi cần
đạt được:
- Biết bơi từ 1 - 2 kiểu bơi và bơi
được ít nhất 25m;
- Kỹ năng nổi đứng dưới nước, kỹ năng
nổi ngửa trong nước được ít nhất 90 giây;
- Kỹ năng tự cứu (rơi xuống nước,
xoay tư thế thân người và bơi vào bờ);
- Kỹ năng cứu người bị đuối nước (cứu
đuối gián tiếp).

Hình
3: (Nguồn: Fanpage “Phòng, chống đuối nước cho trẻ em Việt Nam”)
6. Thực thi nghiêm các
quy định an toàn khi tham gia giao thông đường thủy
- Chỉ lên tàu, thuyền khi có đủ chỗ
ngồi cho mình và phải lắng nghe, thực hiện đúng theo hướng dẫn của người
có trách nhiệm về các biện pháp bảo đảm an toàn khi tham gia giao thông
đường thuỷ;
- Tuyệt đối không nô đùa, chen lấn
xô đẩy trên tàu, thuyền, phà;
- Trên tàu, thuyền phải trang bị các
thiết bị an toàn, phương tiện cứu hộ để ứng phó kịp thời với tình huống trẻ
em bị đuối nước.
7. Nâng cao hiệu quả
quản lý nhà nước về công tác phòng, chống đuối nước cho trẻ em
- Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về
công tác phòng, chống đuối nước cho trẻ em; Nâng cao năng lực về phòng,
chống tai nạn đuối nước cho đội ngũ làm công tác trẻ em của các cấp,
ngành, đoàn thể; Các cấp chính quyền tăng cường thanh tra, kiểm tra việc
thực hiện công tác phòng, chống đuối nước trẻ em tại địa bàn;
- Tăng cường công tác truyền thông
giáo dục, vận động xã hội nâng cao nhận thức, kiến thức, kỹ năng về
phòng, chống tai nạn đuối nước cho trẻ em. Xây dựng, phát triển các sản
phẩm truyền thông, đa dạng hoá các phương thức truyền thông về phòng,
chống tai nạn đuối nước trẻ em;
- Thí điểm và nhân rộng các mô hình
về tư vấn, giáo dục kiến thức, thực hành kỹ năng phòng, chống tai nạn
đuối nước, đặc biệt mô hình dạy bơi an toàn cho trẻ em tại cộng đồng,
trường học, cơ sở nuôi dưỡng trẻ em.
- Nguyên tắc bảo đảm an toàn và phòng,
chống đuối nước đối với trẻ em:
1) Đề cao cảnh giác khi vui chơi, sinh hoạt gần
các vùng nước mở, các khu vực tiềm ẩn nguy cơ gây đuối nước.
2) Không bơi lội một mình, bơi khi không có
người giám sát, cứu hộ
3) Không bơi lội khi cơ thể mệt mỏi.
4) Không bơi lội khi thời tiết đang hoặc sắp
chuyển biến xấu và trong vùng nước bẩn.
5) Chấp hành các quy định khi tham gia giao
thông đường thuỷ.
6) Không nhảy xuống cứu đuối trực tiếp.
II. CÁC NGUY CƠ VÀ BIỆN
PHÁPPHÒNG, CHỐNG ĐUỐI NƯỚC CHO VỚI TRẺ EM TẠI GIA ĐÌNH, CỘNG ĐỒNG
1. Các nguy cơ gây đuối
nước cho trẻ em
1.1. Tại gia đình
- Giếng nước, bể nước hoặc các đồ
dùng chứa nước (xô, chậu, chum, vại) không có nắp đậy an toàn là mối nguy
hiểm tiềm ẩn gây ra đuối nước cho trẻ em, đặc biệt cần chú ý các giếng
nước khoan của gia đình. Thành giếng không đủ độ cao an toàn có thể khiến
trẻ em chơi gần đó trượt chân ngã và rơi xuống giếng gây đuối nước.

Hình
4 và hình 5: (Nguồn: Internet)
- Khu vực nhà tắm, đặc biệt là nhà tắm
có thiết kế bồn tắm nằm và khu vệ sinh không có chốt cửa an toàn. Khu vực
nhà tắm thường xuyên ẩm ướt và trơn trượt, tiềm ẩn nguy cơ té ngã cho
trẻ em. Dù mực nước trong bồn tắm không cao nhưng nếu người lớn chủ quan để
trẻ em một mình trong bồn tắm thì nguy cơ dẫn tới đuối nước cho trẻ có thể
xảy ra bất cứ lúc nào.

Hình
6 và hình 7: (Nguồn: Internet)
- Bể cá trong khuôn viên của gia
đình thường là không gian mở, không có hàng rào chắn xung quanh nên trẻ em có
thể dễ dàng tiếp cận, từ đó chứa nhiều nguy cơ đuối nước cho trẻ em, đặc
biệt là trẻ em dưới 5 tuổi nếu người lớn chủ quan, bất cẩn, không giám
sát trẻ cẩn thận.

Hình
8 và hình 9: (Nguồn: Internet)
- Khu vực bể bơi tại gia đình có hàng
rào chắn không đủ độ cao so với trẻ em, không có chốt cửa tại bể bơi hay
khi trẻ em bơi không có người lớn đủ năng lực giám sát.

Hình
9 và hình 10: (Nguồn: Internet)
1.2. Tại cộng đồng
- Sông, hồ, ao, suối: Trẻ em có thể
đuối nước khi chơi đùa hoặc bơi lội ở sông, hồ, ao, suối khi không có
người lớn giám sát. Xung quanh ao, hồ chưa được rào chắn và không có biển
cảnh báo khu vực nguy hiểm luôn tiềm ẩn nguy cơ đuối nước cho trẻ em.

Hình
11 và hình 12: (Nguồn: Internet)
- Hồ xả nước thủy điện, đập nước
không có biển cảnh báo tại nơi nước sâu nguy hiểm

Hình
13 và hình 14: (Nguồn: Internet)
- Kênh mương, cống rãnh: Kênh mương,
cống rãnh có thể là mối nguy hiểm tiềm ẩn cho trẻ em, đặc biệt là trẻ có
thể bị trượt ngã khi trẻ em chơi đùa gần đó. Ngoài ra, môi trường nước ở
kênh mương, cống rãnh thường bẩn đục, chứa nhiều vi khuẩn gây bệnh cho
trẻ.

Hình
15 và hình 16: (Nguồn: Internet)
- Hố chứa nước, hố vôi không có biển
cảnh báo hoặc rào chắn, lấp bỏ khi hoàn thành các công trình xây dựng.

Hình
17 và hình 18: (Nguồn: Internet)
- Bể bơi công cộng: Trẻ em có thể
đuối nước trong bể bơi công cộng nếu không có người lớn giám sát hoặc nhân
viên cứu hộ không chú ý.
- Biển: Trẻ em có thể đuối nước khi tắm
biển, đặc biệt khi gặp sóng lớn hoặc có dòng chảy xa bờ.

Hình
19 và hình 20: (Nguồn: Internet)
- Vùng trũng, nơi ngập nước do thiên
tai, bão lũ thường thu hút trẻ em chơi đùa. Tuy nhiên, trẻ em thường không
nhận diện được các nguy cơ đuối nước tại các vùng ngập nước sau bão.
Đặc biệt nguy cơ sạt lở do bão, lũ gây ra cũng tiềm ẩn nhiều yếu tố
rủi ro cho trẻ em.

Hình
21 và hình 22: (Nguồn: Internet)
2. Biện pháp phòng,
chống đuối nước cho trẻ em
2.1. Tại gia đình
a) Nguyên tắc
- Tạo môi trường an toàn, tránh xa
nguồn nước mở cho trẻ em;
- Trẻ em luôn được giám sát bởi người
lớn và có đủ năng lực hành vi;
- Tạo rào chắn an toàn để kiểm soát việc
trẻ tiếp cận nguồn nước.
b) Các trường hợp cụ
thể
- Đối với các vật dụng chứa nước tại
gia đình (Xô, chậu, thùng nước):
+ Bỏ hết nước ra khỏi xô, chậu,
thùng nước ngay sau khi sử dụng.
+ Để xô, chậu, thùng nước tại nơi cao
ráo, xa tầm tay trẻ em.
+ Xô, chậu, thùng nước phải có nắp
đậy an toàn. Đồng thời, thường xuyên kiểm tra độ an toàn của các nắp đậy và
vật dụng che chắn.
- Giếng nước:
+ Luôn luôn đậy nắp giếng nước.
+ Sử dụng nắp đậy giếng nước an toàn
và chắc chắn (nên dùng nắp đậy bằng bê tông hoặc kim loại nặng để trẻ không
tự mở được).
+ Không bao giờ để trẻ em chơi đùa gần
giếng nước, đặc biệt với những giếng nước có thành giếng thấp.
|
- Tại nhà tắm:
+ Đóng cửa nhà tắm
ngay sau khi sử dụng.
+ Không bao giờ để
trẻ em một mình trong bồn tắm, ngay cả khi chỉ một thời gian rất ngắn.
+ Giữ sàn nhà tắm
khô ráo, sử dụng các miếng lót chống trượt trong bồn tắm để tránh nguy
cơ trơn trượt dẫn đến té ngã cho trẻ em.
+ Chỉ cho trẻ em tắm
trong bồn tắm có mực nước phù hợp với lứa tuổi, vóc dáng của trẻ.
|

Hình
23: (Nguồn: Fanpage “Phòng, chống đuối nước cho trẻ em VN”)
|
|

Hình
24: (Nguồn:
Fanpage “Phòng, chống đuối nước cho trẻ em VN”)
|
- Bể cá tại gia
đình:
+ Luôn giám sát trẻ
em khi ở gần bể cá.
+ Bể cá trong nhà
phải có nắp đậy chắc chắn.
+ Bể cá ngoài trời
phải có rào chắn ngăn cách trẻ tiếp xúc gần với bể.
|
Có thể xem video về cách phòng, chống
nguy cơ đuối nước cho trẻ em tại gia đình theo mã QR dưới đây:

(Nguồn:
Fanpage “Phòng, chống đuối nước cho trẻ em Việt Nam”)
- Tại bể bơi gia đình:
+ Luôn giám sát trẻ khi bơi, nên có ít
nhất 02 người lớn giám sát khi nhiều trẻ em bơi cùng lúc. Ngoài ra luôn
chú trọng dạy bơi và các kỹ năng an toàn trong môi trường nước cho trẻ em.
+ Lắp đặt hàng rào chắc chắn, các thanh
chắn đủ khít nhau để ngăn trẻ có thể lọt qua và độ cao hàng rào tối thiểu
1,2m.
+ Khóa cửa bể bơi khi không sử dụng,
đặc biệt vào buổi tối.
Có thể xem video về cách phòng, chống
nguy cơ đuối nước cho trẻ em tại bể bơi theo mã QR dưới đây:

Nguồn: Fanpage “Phòng,
chống đuối nước cho trẻ em Việt Nam”)
2.2. Tại cộng đồng
a) Nguyên tắc
- Tạo môi trường an toàn, tránh xa
nguồn nước mở cho trẻ em;
- Lắp đặt biển cảnh báo các khu vực
nguy hiểm;
- Không bơi lội một mình khi không
có người giám sát, cứu hộ.
b) Các trường hợp cụ
thể
- Sông, hồ, ao, suối:
+ Luôn luôn giám sát trẻ em khi trẻ ở
gần sông, hồ, ao, suối. Không để trẻ chơi đùa hoặc bơi lội ở sông, hồ,
ao, suối mà không có người lớn giám sát.
+ Dạy trẻ em biết bơi và các kỹ năng
an toàn trong môi trường nước.
+ Trang bị cho trẻ em áo phao phù hợp
với độ tuổi và vóc dáng của trẻ.
+ Đặt biển cảnh báo khu vực nguy hiểm,
khu vực nước sâu, khu vực có dòng chảy xiết để nâng cao ý thức cho người dân
và trẻ em.

Hình
25: (Nguồn: Internet)
- Kênh mương, cống rãnh:
+ Lắp đặt rào chắn xung quanh kênh
mương, cống rãnh.
+ Không để trẻ em chơi đùa gần kênh
mương, cống rãnh.
+ Không để trẻ em nghịch nước ở kênh
mương, cống rãnh để tránh nguy cơ bị đuối nước và nhiễm khuẩn.
- Bể bơi công cộng:
+ Tuân thủ các quy định an toàn của
bể bơi.
+ Luôn luôn giám sát trẻ em khi trẻ ở bể
bơi, nên có ít nhất 02 người lớn trở lên giám sát khi nhiều trẻ em bơi
cùng lúc.
+ Trang bị cho trẻ em áo phao phù hợp
với độ tuổi và vóc dáng của trẻ.
+ Cho trẻ em tham gia các lớp học bơi
an toàn.
- Biển:
+ Luôn luôn giám sát trẻ em khi trẻ tắm
ở biển.
+ Trang bị cho trẻ em áo phao phù hợp
với độ tuổi và vóc dáng của trẻ.
+ Không để trẻ em có vấn đề sức khỏe
xuống tắm biển hoặc vào thời điểm trời nắng gắt hay điều kiện thời tiết xấu.
+ Chỉ để trẻ em tắm biển ở những khu
vực cho phép theo thời gian quy định với sự có mặt của nhân viên cứu hộ.
Đặc biệt tuyệt đối không được tắm ở các vùng nước nguy hiểm có tín hiệu
cảnh báo.
- Vùng trũng, nơi ngập nước:
+ Lắp đặt các biển cảnh báo nguy hiểm
tại các khu vực ngập nước.
+ Không để trẻ em chơi đùa ở vùng
trũng, nơi ngập nước sau do bão, lũ lụt gây ra.
+ Dạy trẻ em các kỹ năng an toàn khi đi
qua vũng trũng, nơi ngập nước do bão, lũ lụt để lại.
Có thể xem video về cách phòng, chống
nguy cơ đuối nước cho trẻ em tại cộng đồng theo mã QR dưới đây:

(Nguồn:
Fanpage “Phòng, chống đuối nước cho trẻ em Việt Nam”)
2.3. Những điều trẻ em
cần biết để phòng, chống đuối nước tại gia đình, cộng đồng
- Không tắm tại bể bơi, bồn tắm tại gia
đình khi chỉ có một mình.
- Không tự ý mở nắp các dụng cụ chứa
nước tại gia đình như giếng, bể, chum, vại, xô…
- Không tắm tại các môi trường nước
công cộng (ao, hồ, sông, suối, biển…) khi không có người lớn đi cùng hoặc
tại nơi không có nhân viên cứu hộ trên bờ.
- Không chơi sát khu vực bờ ao, hồ,
sông có nguy cơ bị sạt lở đất.
- Không đùa nghịch trong môi trường
nước bẩn và bùn lầy như kênh mương, cống rãnh.
- Không chơi đùa tại vùng trũng,
nơi ngập nước do bão, lũ lụt gây ra.
III. ĐẢM BẢO AN TOÀN VÀ
PHÒNG, CHỐNG ĐUỐI NƯỚC CHO TRẺ EM KHI THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG THỦY
1. Các nguy cơ đuối
nước và các mối nguy hiểm đối với trẻ em khi tham gia giao thông đường thủy
1.1. Các nguy cơ đuối
nước
- Trẻ em đi trên các phương tiện thủy
không bảo đảm tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật như thuyền, thúng, bè nổi…
- Đi trên các phương tiện thủy chở
quá số người quy định hoặc người điều khiển phương tiện thủy không có chứng
chỉ chuyên môn hay chứng chỉ chuyên môn không phù hợp.
- Đi trên các phương tiện thủy gặp
điều kiện thời tiết xấu gây mất an toàn cho người và phương tiện thủy.
- Không được trang bị áo phao hoặc
mặc áo phao không phù hợp với độ tuổi, vóc dáng của trẻ em.
- Trẻ em không có người lớn giám sát
khi đi trên phương tiện thủy.
- Trẻ em không đủ độ tuổi nhưng vẫn
điều khiển các phương tiện thủy.
1.2. Các mối nguy hiểm
- Trẻ em có nguy cơ bị trượt ngã trên
phương tiện thủy do không gian chật hẹp và yếu tố dễ mất cân bằng của
phương tiện thủy trên mặt nước.
- Tiếp xúc với hệ thống dây điện, các
chất độc hại như xăng, dầu trên phương tiện thủy, tình trạng cháy, nổ trên
phương tiện thủy.
- Chịu phải tiếng ồn quá mức do động cơ
của phương tiện thủy gây ra.
2. Biện pháp phòng,
chống đuối nước cho trẻ em khi tham gia giao thông đường thủy
2.1. Đối với các cơ
quan chức năng
- Tăng cường kiểm tra định kỳ về tiêu
chuẩn an toàn của bến thủy nội địa và phương tiện thủy, về trang bị các
thiết bị an toàn bắt buộc khi đi trên phương tiện thủy cho người tham gia
giao thông như áo phao, dụng cụ nổi cứu sinh, đặc biệt phải bảo đảm đủ số
lượng áo phao cho trẻ em theo quy định.
- Tăng cường kiểm tra về chứng chỉ
chuyên môn của người điều khiển phương tiện thủy.
- Tích cực tiến hành hoạt động tuyên
truyền giáo dục pháp luật về an toàn giao thông đường thủy cho người dân
và trẻ em tại địa phương.
- Xử lý nghiêm các hành vi vi phạm quy
định về an toàn giao thông đường thủy, đặc biệt đối với người điều khiển
phương tiện thủy.
2.2. Đối với gia đình
- Nâng cao nhận thức cho người thân và
trẻ em về các nguy cơ tiềm ẩn mất an toàn khi tham gia giao thông đường
thủy.
- Nắm bắt lịch trình trước mỗi chuyến
đi trên phương tiện thủy của trẻ em.
- Theo dõi điều kiện thời tiết trước
mỗi chuyến đi trên phương tiện thủy của trẻ em. Nếu điều kiện thời tiết
xấu không để trẻ đi trên phương tiện thủy hoặc phải đi cùng trẻ em trong
trường hợp bắt buộc.
- Luôn giám sát trẻ em khi đi cùng trên
các phương tiện thủy.
2.3. Đối với trẻ em
- Cung cấp thông tin trước mỗi chuyến
đi trên phương tiện thủy cho người thân trong gia đình nắm được.
- Nắm thông tin liên lạc của người thân
để trao đổi trong trường hợp cần thiết hoặc các số điện thoại cần trợ
giúp trong trường hợp khẩn cấp như 114 (đầu số gọi cơ quan phòng cháy
chữa cháy, cứu hộ cứu nạn), 115 (đầu số gọi cấp cứu về y tế) hay 111 (tổng
đài quốc gia về bảo vệ trẻ em).
- Theo dõi thông tin về điều kiện thời
tiết trước mỗi chuyến đi. Trong trường hợp có khả năng bất lợi về điều
kiện thời tiết thì bắt buộc phải đi cùng người lớn.
- Chấp hành nghiêm chỉnh các quy định
an toàn giao thông trên phương tiện thủy: mặc sẵn áo phao phù hợp với độ
tuổi, vóc dáng của mình khi lên phương tiện thủy; ngồi trật tự tại ví
trí của mình, không thò tay ra bên ngoài, không nghịch các thiết bị trên
phương tiện thủy; không chen lấn, chạy nhảy, nô đùa trên phương tiện thủy;
buộc chặt dây giày để tránh việc bị vấp, ngã khi đi lại trên phương tiện
thủy; chỉ rời tàu khi có thông báo của người điều khiển phương tiện thủy.
Đặc biệt trong trường hợp xảy ra sự cố trên phương tiện thủy cần bình
tĩnh và chấp hành tuân thủ theo hướng dẫn của người điều khiển phương
tiện thủy và người lớn đi cùng. Cung cấp thông tin về vị trí chính xác của
tai nạn và mô tả chi tiết về tình trạng cần cứu giúp cho người thân hoặc
lực lượng cứu hộ khi xảy ra sự cố.
* Hướng dẫn cách mặc áo
phao đúng cách
|
Bước 1. Chọn áo phao đúng
kích cỡ với cơ thể của mình
|

|
|
Bước 2. Mặc vào người
|

|
|
Bước 3. Dùng hai tay ấn đầu
khóa lại và chỉnh dây đai cho chặt
|

|
|
Bước 4: Vòng hai dây qua đùi
và ấn khóa lại. Điều chỉnh dây cho vừa với đùi. Thực hiện cho cả 2 đùi
|

|
|
Chú ý: Mặt trong áo có túi
nhỏ đựng còi. Dùng còi thổi khi muốn kêu cứu trong trường hợp khẩn cấp.
|

|
* Lưu ý đối với phao
áo:
Phao áo phải có kết cấu sao cho:
- Tối thiểu 70 % số người hoàn toàn
chưa được làm quen với phao áo, có thể mặc nó đúng cách trong vòng 1 phút
mà không cần sự trợ giúp, hướng dẫn hoặc làm mẫu trước.
- Sau khi được xem làm mẫu cách mặc,
tất cả mọi người có thể mặc phao áo đúng cách trong vòng 1 phút mà không
cần sự trợ giúp.
*Yêu cầu kỹ thuật cơ
bản với áo phao (theo TCN 05:2004)
- Kiểu dáng: áo phao thiết kế dạng VEC.
- Khối lượng phao áo: 700 ± 100g.
- Vật liệu:
· Vải ngoài là polyeste, màu da cam,
tráng ngựa PU.
· Vải may trong là polyeste, màu da cam
(cùng cốt nền như vải ngoài).
· Vật nổi (ruột xốp trong) là xốp
LDPE-FOAM
- Ngoài ra áo phao còn phải đáp ứng
những yêu cầu khắt khe về cấu tạo, kích thước, độ nổi của phao, tính chịu
lửa…

* Cách bảo quản áo phao
đúng cách
- Thường xuyên kiểm tra lại vải, chỉ
may, tất cả các khóa và đảm bảo còi được gắn chắc chắn và hoạt động được.
- Không đặt vật nặng lên áo phao
hoặc sử dụng nó như một miếng đệm để ngồi vì sẽ gây phá vỡ kết cấu cốt phao,
làm hạn chế khả năng nổi của áo.
- Không để áo phao ở ngoài trời quá lâu
bởi sẽ làm ảnh hưởng tới chất lượng của sản phẩm.
- Khi sử dụng áo phao trong môi
trường nước mặn của biển, hãy xả áo với nước ngọt trước khi đem phơi phao
áo ngoài nắng nhẹ 1 - 2 giờ, sau đó để mát và cất đi như lúc ban đầu.
- Bảo quản áo phao nơi khô ráo,
thoáng mát.
Có thể xem video hướng dẫn các kiến
thức, kỹ năng an toàn khi tham gia giao thông đường thuỷ theo mã QR dưới
đây:

(Nguồn:
Fanpage “Phòng, chống đuối nước cho trẻ em Việt Nam”)
3. Kỹ năng xử trí khi
xảy ra tai nạn giao thông đường thủy
3.1. Khi có thuyền cứu
sinh
Khi xảy ra các sự cố hay tai nạn trên
phương tiện đường thủy, trong trường hợp có thuyền cứu sinh của các lực
lượng cứu hộ thì trẻ em cần phải tuân thủ một số nguyên tắc để bảo đảm an
toàn:
- Luôn bình tĩnh, tránh hoảng loạn
và rời phương tiện thủy để xuống thuyền cứu sinh theo sự hướng dẫn của
người người điều khiển phương tiện thủy khi xảy ra sự cố. Lưu ý thứ tự ưu
tiên xuống thuyền cứu sinh như sau: trẻ em, phụ nữ có thai, người ốm, người
già, phụ nữ và người khuyết tật.
- Cố gắng mang thêm chăn, quần áo,
nước uống và thực phẩm lên thuyền cứu sinh.
- Nếu buộc phải nhảy từ phương tiện
thủy xuống nước, ngậm miệng, bịt mũi bằng một tay và tay thứ hai giữ
chặt lấy áo phao.
3.2. Trong trường hợp
chưa có thuyền cứu sinh
Khi ở dưới nước, hãy huýt sáo hoặc giơ
cánh tay lên để gây sự chú ý đến người có thể giúp đỡ bạn hoặc các lực
lượng cứu hộ.

Hình
26: (Nguồn: Internet)
Khi trong môi trường nước thì nên hạn
chế di chuyển để giữ ấm cho cơ thể. Trên thực tế cho thấy, mất nhiệt cơ thể
trong môi trường nước xảy ra nhanh hơn nhiều lần so với trong không khí.
Do đó, các chuyển động ngay cả trong nước ấm cũng nên được hạn chế để giữ
cho cơ thể nổi trên mặt nước. Luôn cố gắng giữ nhiệt độ cơ thể bằng cách
2 tay ôm chặt lấy áo phao, nâng cơ thể lên cao hơn so với mặt nước bằng
việc cong 2 đầu gối. Điều này sẽ giúp cho khả năng sống sót trong môi
trường nước tăng lên 50%. Đưa đầu bạn lên trên mặt nước nếu có thể vì khoảng
50% nhiệt độ cơ thể bị mất từ phần đầu.

Hình
27: (Nguồn: Internet)
Nếu bạn không có áo phao, hãy tìm một
số vật thể nổi ở gần bạn và bám lấy nó để dễ dàng giữ cho cơ thể nổi lên cho
đến khi có người giúp đỡ hoặc nhân viên cứu hộ đến. Đôi khi có thể cho cơ
thể bạn nghỉ ngơi trong một thời gian ngắn bằng việc nằm ngửa trên mặt
nước. Lưu ý: Không cố gắng bơi vào bờ khi cảm thấy khả năng không đủ sức.

Hình
28: (Nguồn: Internet)
Nếu thuyền của bạn bị lật và có
những người khác bị rơi xuống nước cùng với bạn, hãy cố gắng tiến sát và
vòng tay ôm lấy nhau. Điều này giúp tăng cơ hội giữ cơ thể trên mặt nước
và được lực lượng cứu hộ nhìn thấy dễ dàng hơn.

Hình
29: (Nguồn: Internet)
3.3. Khi ở trên thuyền
cứu sinh
Đối với trường hợp khi đã được cứu
lên thuyền cứu sinh thì cần chú ý đến các trường hợp sau:
- Luôn giữ bình tĩnh, không được
hoảng sợ.
- Việc bị mất nhiệt độ trong môi trường
nước là điều không thể tránh khỏi do đó khi trên thuyền hãy làm ấm cơ thể
nhanh hơn bằng việc ngồi sát lại với nhau.
- Cố gắng giữ chân của bạn càng khô
càng tốt. Cần cử động chúng để loại bỏ khả năng bị tê cứng chân do lạnh.
- Đối với các sự cố trên biển, tuyệt
đối không được uống nước biển vì nước biển sẽ làm cho quá trình mất nước
của cơ thể bạn nhanh hơn.
3.4. Những điều trẻ em
cần biết để phòng, chống đuối nước khi tham gia giao thông đường thuỷ
- Chỉ lên phương tiện thủy khi có đủ
chỗ ngồi cho mình.
- Cần mặc áo phao có kích cỡ phù hợp
với độ tuổi và vóc dáng của mình.
- Cần nhớ vị trí đặt dụng cụ nổi cứu
sinh để đề phòng trường hợp cần thiết cần sử dụng tới.
- Cần ngồi ngồi yên tại vị trí của
mình, không chạy nhảy, nô đùa và tuân thủ các quy định an toàn khi tham gia
giao thông đường thủy.
- Cần giữ bình tĩnh, tránh hoảng
loạn khi xảy ra sự cố trên phương tiện thủy và tuân thủ hướng dẫn của
người điều khiển phương tiện thủy hoặc người lớn đi cùng.
- Cần ghi nhớ các số điện thoại cần
liên lạc trong trường hợp khẩn cấp.
IV. BẢO ĐẢM AN TOÀN VÀ
PHÒNG, CHỐNG ĐUỐI NƯỚC CHO TRẺ EM TRONG MÙA MƯA BÃO, LŨ LỤT
1. Nguy cơ đuối nước và
các mối nguy hiểm đối với trẻ em trong mùa mưa
Vào mùa mưa bão thường xảy ra các hiện
tượng thiên tai khắc nghiệt, làm gia tăng nguy cơ đuối nước cho trẻ em là
lũ quét, lụt lội.
|
Lũ quét được hình
thành khi một khối lượng nước lớn được mang đến bởi những cơn mưa dông,
bão hoặc khi đập thuỷ điện bị vỡ hay xả lũ. Lũ quét xảy ra bất ngờ, tồn
tại trong một thời gian ngắn, cường độ lũ lên nhanh, biên độ lũ cao, dòng
chảy xiết và có sức tàn phá lớn, cuốn theo đất đá, cây cối và quét đi mọi
vật.
|

Hình
30:(Nguồn: Interne)t
|
|

Hình
31: (Nguồn: Internet)
|
Lụt là hiện tượng
xảy ra khi nước lũ dâng cao tràn qua bờ sông, suối vào các vùng trũng làm
ngập nhà cửa, cây cối, ruộng đồng..
|
Vùng nước lũ, lụt nguy hiểm và tiềm
ẩn rất nhiều nguy cơ đuối nước vì:
- Tốc độ nước chảy xiết, sức tàn phá
lớn, dễ dàng cuốn trôi tài sản cũng như con người;
- Nước sâu, gây ngập trên diện tích
rộng nên người lớn thường khó bao quát và giám sát trẻ em. Chỉ sơ sẩy trong
giây lát nếu trẻ bị ngã vào vùng nước lũ, lụt thì khả năng bị đuối nước rất
cao.
2. Biện pháp phòng,
chống đuối nước cho trẻ em trong mưa, bão, lũ lụt
2.1. Trước khi xảy ra
thiên tai
- Thường xuyên theo dõi thông tin, cảnh
báo mưa, bão, lũ, lụt;
- Chuẩn bị thuyền, phao, bè, máng,
vật nổi, đặc biệt, lưu ý việc huy động các loại dây buộc như dây dù, dây
chun, dây thép, dây phơi...;
- Gia cố nhà làm gác lửng, lối
thoát trên mái nhà để ở tạm, cất giữ đồ đạc đề phòng lũ;
- Bảo vệ nguồn nước sạch; dự trữ nước
uống, lương thực, thực phẩm, thuốc men, các vật dụng cần thiết đủ
dùng ít nhất trong 7 ngày;
- Tìm hiểu, nắm bắt các tuyến đường
sơ tán khẩn cấp đến nơi an toàn;
- Chủ động sơ tán khỏi vùng bãi
sông, vùng thấp trũng, vùng có nguy cơ sạt lở, lũ quét, các công
trường đang thi công. Dừng hoạt động tại các công trình đang thi công dở
dang;
- Lưu giữ các số điện thoại và địa
chỉ liên lạc trong trường hợp khẩn cấp.
2.2. Trong khi thiên
tai xảy ra
- Trú trong các khu nhà kiên cố, nơi
sơ tán và không được đi ra ngoài, tắt hết các thiết bị điện, tránh các
vị trí ở gần cửa sổ, cửa ra vào. Nếu đang ở bên ngoài, nhanh chóng tìm
nơi trú ẩn an toàn, tránh xa các gốc cây, cột điện;
- Nếu lũ đang cao, di chuyển đến nơi
cao, an toàn, đề phòng rắn rết;
- Tuyệt đối tránh các bờ sông, bờ
suối; không được chơi đùa, đi lại, bơi lội ở những nơi ngập lụt vì có
thể bị lũ cuốn rất nguy hiểm, không đi qua ngầm tràn khi lũ về;
- Mặc áo phao nếu có. Nếu không có
áo phao, có thể sử dụng các đồ vật nổi khác như săm (ruột) xe, can nhựa
rỗng, các chai nhựa rỗng buộc vào nhau hoặc thân cây chuối thay phao để
di chuyển trong vùng ngập lụt;
- Tránh xa khu vực sạt lở đất, lũ
quét vì nền đất vẫn chưa ổn định và có thể tiếp tục sạt lở;
- Không được đánh cá, vớt củi, đồ
vật trôi nổi khi lũ về;
- Không lội xuống nước nếu nhìn thấy
dây điện hoặc cột điện bị đổ;
- Không ăn các thức ăn bị ôi thiu
hoặc bị ngâm trong nước lụt vì có thể bị nhiễm bệnh.
2.3. Sau khi thiên tai
xảy ra
- Kiểm tra, gia cố nhà cửa, trường
học;
- Dọn dẹp vệ sinh, khơi thông cống
rãnh;
- Tiếp tục theo dõi thông tin cảnh báo
mưa lũ và các hiện tượng thiên tai.
3. Kỹ năng xử trí khi
rơi vào vùng nước lũ
3.1. Nguyên tắc

Hình
32: (Nguồn: Fanpage “Phòng, chống đuối nước cho trẻ em Việt Nam”)
Tuân thủ hướng dẫn của chính quyền
địa phương và những người có trách nhiệm;
Không đi vào vùng nước lũ, lụt. Người
lớn, trẻ nhỏ tuyệt đối không lội qua lũ, dù chỉ sâu 15cm. Độ sâu ấy, dòng
lũ có thể đẩy ta đến chỗ sâu hơn, nước xiết hơn. Bất cứ chỗ nào mực nước
chỉ cần ngập mắt cá chân đều nguy hiểm, nhất là khi thiên tai xảy ra vào
ban đêm, tầm nhìn hạn chế.
Nếu có việc phải đi lại, cần lội theo
nhóm. Cầm theo một gậy cứng để dò mực nước và khỏi tụt hố sâu hay vấp vật
cản lớn.
Luôn mặc áo phao khi ở trong môi
trường nước lũ, lụt.
Các phương án tạo vật nổi như sử
dụng can nhựa, có thể kết khoảng 4 cái loại 10 lít lại với nhau bằng những
thanh gỗ, tre... để tạo được 1 chiếc bè cho 1 người lớn và 1 trẻ em. Dùng
chai nhựa các loại, vặn chặt nút chai, cho vào bao tải và buộc chặt để kết
thành một cái bè. Dùng túi nylon loại dày, lấy đầy khí rồi buộc chặt; dùng
mảnh xốp... cho vào bao tải buộc lại cũng có tác dụng như khi dùng chai
nhựa.
Khi không có áo phao, ta có thể dùng
săm xe đạp, xe máy quàng quanh ngực và vai trẻ nhỏ thay cho áo phao cứu sinh.
Các cây tre, nứa, gỗ, chuối... kết thành bè. Nên dùng dây thép, đóng đinh
liên kết chặt chẽ cả bó lại bằng các thanh ngang tại 3 điểm đầu - giữa -
cuối.

Hình
33: (Nguồn: Internet)
Nếu không may rơi vào dòng nước lũ:
thả nổi bản thân.
THẢ NỔI ĐỂ SỐNG 
Bước có thể cứu sống sinh mạng của bạn khi
ở dưới nước.
Trấn tĩnh bản thân để tránh phản ứng bơi
bản năng của cơ thể.
Ngả người ra sau, dang rộng cánh tay và chân
Cử động chân và tay nhẹ nhàng để giúp cơ
thể thả nổi
Thả nổi cho đến khi điều hòa được nhịp thở
của mình
Kêu gọi sự trợ giúp hoặc bơi đến khu vực
an toàn
Nếu bị nước cuốn, hãy cố gắng bám chặt
hoặc leo lên ngay vật gì đó bên cạnh nếu có. Khi trôi theo dòng nước, hãy
chồm lên các vật nổi chứ không chui qua chúng. Miệng hét lớn và có thể giơ
một tay vẫy cho đến khi được cứu…
Có thể xem video hướng dẫn các kiến
thức đề phòng nguy cơ đuối nước trên đường phố bị ngập nước theo mã QR
dưới đây:

(Nguồn:
Fanpage “Phòng, chống đuối nước cho trẻ em Việt Nam”)
3.2. Những điều trẻ em
cần biết để phòng, chống đuối nước trong mùa mưa, bão, lũ lụt
- Không chơi đùa, bơi lội hoặc đi
lại trong nước lũ.
- Không vớt củi, đồ vật trôi trên
sông.
- Luôn mặc áo phao hoặc sử dụng các
dụng cụ nổi khi ở trong vùng nước lũ lụt.
- Nếu rơi vào dòng nước lũ: thực hiện
kỹ thuật thả nổi, kêu cứu.
V. BẢO ĐẢM AN TOÀN VÀ
PHÒNG, CHỐNG ĐUỐI NƯỚC CHO TRẺ EM KHI ĐI BƠI, TẮM BIỂN
1. Cách nhận biết môi
trường nước an toàn để bơi lội
1.1. Độ sâu của nước: Độ sâu gần bằng chiều
cao cằm hoặc cao hơn gây ra rủi ro đáng kể cho những người yếu, không
biết bơi hoặc chưa học cách tự chống đỡ khi ở vùng nước sâu. Luôn chọn
những khu vực có độ sâu đã biết, độ sâu nước ngang ngực trở xuống, lý
tưởng nhất là có đáy dốc thoải và các đường phao biểu thị phạm vi độ sâu.

Hình
34: (Nguồn: Internet)
1.2. Chất lượng nước: Không bơi trong vùng
nước dơ bẩn hoặc bùn lầy (vì không nhìn thấy đáy nước), tuân thủ các dấu
hiệu cảnh báo. Tránh những khu vực có bọt, váng, tảo hoặc rác thải).
1.3. Độ trong của nước:
Tầm
nhìn trong vùng nước tự nhiên dao động từ trong đến đục. Nước đục gây khó
khăn cho việc nhìn thấy độ sâu và các vật lơ lửng trong nước. Nên bơi ở
vùng nước nông, nước có độ trong nhìn thấy đáy.
1.4. Nhiệt độ nước: Chọn những khu vực có
nhiệt độ nước thoải mái nằm trong khoảng +23 ... + 25 ° C. Kiểm tra nhiệt độ
nước trước khi xuống bơi và cảnh giác khi nước có cảm giác lạnh.
+23 ... + 26°C - nhiệt độ nước biển
thoải mái nhất để bơi lội.
+28 ... + 30°C - duy trì trong các hồ
bơi giải trí ngoài trời hoặc trong nhà
+19 ... + 24°C - nhiệt độ bình thường
để bơi trên sông vào mùa hè
1.5. Các mối nguy hiểm
dưới nước: Sạt
lở đá, rác, mảnh vụn, cỏ dại, gốc cây và đáy bùn đe dọa sự an toàn. Bơi
vào vùng nước không xác định là cực kỳ nguy hiểm. Kiểm tra cẩn thận các
mối nguy hiểm trước khi bắt đầu hoạt động bơi. Chọn một khu vực bơi được
chỉ định là an toàn nhất.
1.6. Chuyển động của
nước: không
bơi lội ở những nơi có dòng chảy không ổn định, lúc nhanh, lúc chậm và có
lúc đảo chiều. Tình trạng khai thác cát trái phép khiến cho dòng chảy ở một số
khu vực trên sông thay đổi, gây nguy hiểm với những người bơi lội xung
quanh. Trên biển có những khu vực dòng chảy nguy hiểm như dòng chảy xa bờ,
dòng nước xoáy…
1.7. Địa hình vùng
nước: Không
phải bãi biển nào cũng bằng phẳng và trải dài. Hiện nay, do thời tiết thất
thường kèm với các hoạt động khai thác thuỷ hải sản, một số bãi biển có những
khu vực bị lõm xuống. Điều này dẫn tới một tình trạng là khi thuỷ triều
lên, khu vực biển này tiềm ẩn hiểm nguy cho người tắm không nắm rõ được các
kiến thức an toàn bơi, đặc biệt là tình hình.
Thềm địa hình cao-thấp khác nhau: Không
chỉ là nền gồ ghề, mà sự chênh lệch về độ thoải hoặc dốc cũng là một
yếu tố gây nguy hiểm. Một số bãi biển có đường bờ biển khá thoải, dù đi ra
xa nhưng chênh lệch về độ cao của nước là không lớn. Trong khi đó, ở một số
bãi biển, chúng ta chỉ cần bước ra vài mét là độ sâu đã chênh lệch một mức
đáng kể, gây bất ngờ cho những người không quen địa hình.

Hình
35: (Nguồn: Internet)
2. Khuyến cáo cho trẻ
em tắm, bơi lội tại các khu vực bơi được chỉ định
Các khu vực giải trí tư nhân, bể bơi
công cộng, các bãi biển được thiết kế đẹp, biển báo an toàn, độ sâu được
xác định, dây phao, thiết bị cứu hộ và các tiện nghi như ki-ốt cho mượn áo
phao, khu vực thay đồ, vòi hoa sen và nhà vệ sinh, có nhân viên cứu hộ.

Hình
36: (Nguồn: Fanpage “Phòng, chống đuối nước cho trẻ em Việt Nam”)
3. Nguyên tắc phòng,
chống đuối nước cho trẻ em khi bơi, tắm biển
- Biết rõ những hạn chế của bản thân,
bao gồm thể lực và khả năng biết bơi của bản thân;
- Không bao giờ bơi một mình, phải có
người lớn đi cùng hoặc bơi ở nơi có nhân viên cứu hộ giám sát;
- Luôn mặc áo phao khi bơi ở các
vùng nước khác nhau;
- Chỉ bơi trong khi sức khoẻ ổn định
và điều kiện thời tiết tốt;
- Hiểu được sự nguy hiểm của tình
trạng mất bình tĩnh khi gặp sự cố;
- Hiểu và nắm được các các rủi ro đặc
thù của môi trường nước sông, nước biển.
4. Kỹ năng xử lý các
tình huống nguy hiểm khi bơi, tắm biển
4.1. Kỹ năng xử lý khi
bị chuột rút
a) Khái niệm
Chuột rút là hiện tượng co thắt cơ đột
ngột, gây đau dữ dội ở bắp thịt, làm cho sự cử động khó khăn.
Chuột rút có thể xảy ra ở mọi khối cơ,
nhưng các vị trí thường có biểu hiện nhất là cẳng chân, bắp đùi, bàn tay,
bàn chân và cơ bụng. Nhìn chung vấn đề này không đe dọa đến tính mạng, tuy
nhiên nó sẽ rất nguy hiểm nếu người bị chuột rút ngồi gần bếp lửa, leo cầu
thang, đang lái xe hoặc đang bơi dưới nước.
b) Nguyên nhân và hậu
quả
Có 03 (ba) nguyên nhân chính gây chuột
rút:
- Cơ bắp không đủ sức mạnh và độ dẻo
hoặc teo cơ do tuổi tác;
- Khi bơi khởi động không kỹ hoặc
dùng sức không đúng, tập luyện thể thao làm cơ dễ bị co rút phản ứng với
những động tác đột ngột, dễ ứ đọng axit lactic trong cơ làm cơ mau mệt,
kích thích thần kinh tủy sống gây co rút cơ liên tục;
- Mất nước, chất điện giải (kali, magie,
canxi) và muối, đặc biệt khi hoạt động trong môi trường quá nóng ra nhiều
mồ hôi.
Trong bơi lội, có thể gặp phải chuột
rút do trước khi bơi chưa khởi động kỹ, dùng sức không đúng, các động tác
kỹ thuật bơi tốn quá nhiều sức, nước quá lạnh, động tác căng thẳng, không
nhịp nhàng, cơ thể yếu, mệt mỏi, ngâm mình dưới nước lạnh quá lâu; hoặc do
vận động quá sức nên cơ bắp không được cung cấp đủ canxi kịp thời, dễ bị
xảy ra chuột rút ở đùi, cẳng chân, ngón chân, thậm chí ngón tay, phần bụng là
những bộ phận thường xuất hiện chuột rút.
Chuột rút rất nguy hiểm khi bơi lội.
Cơn đau do chuột rút có thể làm giảm khả năng bơi lội. Nghiêm trọng hơn là
bị chết đuối.
c) Kỹ năng xử lý khi
bị chuột rút trong khi đang bơi

Hình
37: (Nguồn: Fanpage “Phòng, chống đuối nước cho trẻ em Việt Nam”)
- Cần bình tĩnh, tuyệt đối không
được giãy giụa kịch liệt vì càng giãy thì phần cơ bị chuột rút sẽ làm bạn
thêm đau đớn hơn bạn sẽ càng nhanh mất sức và dễ sặc nước;
- Trong trường hợp bạn gặp sự cố
lúc đang bơi, việc đầu tiên là phải báo cho người xung quanh biết nếu có, dù
đang bơi ở chỗ nông hay sâu;
- Hãy cố gắng thả nổi ngửa, thả lỏng
cơ bắp. Bản chất cơ thể bạn khi xuống nước là sẽ nổi lên. Nếu không nghiêm
trọng quá thì có thể vừa kêu cứu vừa bơi dịch chuyển vào chỗ an toàn hơn.
Khi bị chuột rút trong nước cần tìm cách kéo dài cơ bị chuột rút, làm cho
cơ bị co được thả lỏng và duỗi ra;
- Cần tìm cách lên bờ ngay, xoa bóp bộ
phận bị chuột rút, giữ ấm, không tiếp tục bơi nữa;
- Tự cứu khi bị chuột rút trong nước
là tự bản thân khắc phục kéo dài cơ bị chuột rút, làm cho cơ bị co được
thả lỏng và duỗi ra. Xử lý đối với từng trường hợp cụ thể sau:
+ Chuột rút ở ngón tay: nắm chặt bàn
tay, sau đó dùng sức xòe ra, làm lập lại vài lần là khỏi.

Hình
38: (Nguồn: Internet)
+ Chuột rút ở cánh tay: thực hiện động
tác co giật mạnh cánh tay. Cụ thể: nắm chặt tay lại, gập khuỷu tay hết cỡ,
dùng sức vung cánh tay thật mạnh ra phía trước. Sau đó thả lỏng 1 thời gian 5
- 10 giây, và tiếp tục gập đi gập lại cánh tay với tư thế thả lỏng hơn.
+ Chuột rút cẳng chân hoặc đùi:
Hít một hơi dài, để chuẩn bị hụp
xuống nước
Đứng tại chỗ, dùng tay với lấy ½ bàn
chân trên của chân bị chuột rút, dùng sức kéo ngược lên phía thân người khoảng
5-10 giây. Làm liên tục 2-3 lần sẽ hết.

Hình
39: (Nguồn: Internet)
+ Chuột rút ở bụng: Đây là hiện tượng
chuột rút hiếm gặp hơn các trường hợp khác, chuột rút ở bụng do co thắt bất
ngờ hoặc do nghiêng người quá giới hạn trong lúc bơi. Chuột rút ở bụng nếu
xử lý không đúng cách sẽ rất nguy hiểm. Cách xử lý: Bình tĩnh, hít một hơi
dài, gập bụng xuống sao cho đầu gần với đầu gối nhất, lấy sức vươn thẳng
người lên và hóp bụng lại khoảng 5 - 10 giây. Sau đó thả lỏng từ từ và hít
thở nhẹ nhàng. Thực hiện như vậy 3 - 5 lần thì các nhóm cơ ở vùng bụng sẽ
được thả lỏng.
d) Cách phòng, chống
chuột rút trong khi bơi
Sau đây là một số phương pháp đơn
giản mà chúng ta hoàn toàn có thể thực hiện được để phòng, chống chuột rút:
- Trước khi xuống nước:
Chú ý uống đủ nước khi trời nắng nóng
(nên pha ít muối, hay nhất là chuẩn bị sẵn ở nhà theo tỉ lệ: 1 muỗng cà phê
muối/1 lít nước), càng cẩn thận nếu trước đó bạn nôn mửa say xe hay bị mất
nước do một nguyên nhân khác.
Nhất thiết phải dành khoảng 15 phút để
khởi động cơ thể:
+ Làm các động tác nhằm khởi động làm
nóng cơ thể, khởi động kỹ các khớp và làm dãn căng các nhóm cơ. Có thể áp
dụng các bài tập buổi sáng, nên tập 2 lần với cường độ khác nhau.
+ Tiếp theo khởi động các khớp theo thứ
tự: khớp các đốt sống cổ, thắng lưng, khớp hông (háng), các khớp gối, cổ
chân, ngón bàn chân, các khớp vai, khuỷu, cổ tay, các ngón tay. Thực hiện
vận động vặn xoay vòng các khớp theo chiều kim đồng hồ và ngược lại.
+ Chạy cự ly ngắn (100m) chậm - nhanh
dần - chậm dần và trở về trạng thái cân bằng
- Khi xuống nước:
Lúc tiếp xúc với môi trường nước, trong
cơ thể sẽ diễn ra quá trình phản ứng với 3 giai đoạn:
+ Ức chế (khoảng 10-15 phút): Mặc dù
đã được khởi động để sẵn sàng thực hiện hoạt động bơi lội nhưng khi tiếp
xúc với nước, cơ thể vẫn có phản xạ co mạch ngoại vi, huyết áp tăng nhẹ, tim
đập nhanh lên, nhịp thở tăng và mạch cũng nhanh hơn. Nên bước xuống nước
từ từ hoặc té nước lên người đê thích nghi xong đó mới xuống nước.
+ Thích nghi: Đây là giai đoạn tiêu hao
năng lượng, kéo dài khoảng 1-3 giờ tùy theo sức khỏe và sự rèn luyện của
mỗi người. Lúc này, cơ thể đã bắt đầu thích nghi với môi trường nước, các
biểu hiện ức chế dần dần hết; nhịp tim, mạch, nhịp thở và huyết áp ổn định và
trở về trạng thái ban đầu. Trong giai đoạn này, các động tác cần được phối
hợp nhẹ nhàng, chính xác, thoải mái. Khi bơi, cần chú ý quan sát để tránh
các vùng nước xoáy hoặc dòng nước chảy xiết. Không bơi quá xa bờ, xa các
phương tiện cứu hộ;
+ Hồi phục (bù đắp): Lúc này, cơ thể
đã tiêu hao nhiều năng lượng, cần được bù đắp phần năng lượng đã mất đi.
Trên thực tế, người bơi sẽ thấy mỏi cơ, các động tác phối hợp rời rạc,
không còn nhịp nhàng, báo hiệu cơ thể cần được nghỉ ngơi. Việc cố tiếp tục
bơi sẽ dẫn đến hiện tượng chuột rút.
Khi cảm thấy mỏi cơ, người bơi cần
giảm dần tốc độ, bơi vào gần bờ hoặc gần phương tiện cứu hộ, sau đó thả
lỏng toàn thân trong tư thế nổi 3-5 phút rồi lên bờ. Trường hợp cảm thấy rét
lạnh thì phải lên bờ ngay, tìm nơi kín gió hoặc có lửa để sưởi ấm; có thể
uống một ít nước trà đường nóng.
- Khi lên bờ:
Tắm rửa lại bằng nước ấm trong phòng
kín gió 5-10 phút. Lau khô người và mặc quần áo ấm ngay trong phòng. Chú ý
lau khô tai, mũi, mắt. Sau đó nghỉ ngơi, thư giãn nếu mệt, nên uống một
cốc trà đường nóng.
Có thể xem video hướng dẫn các kiến
thức, kỹ năng xử lý khi bị chuột rút theo mã QR dưới đây:

(Nguồn:
Fanpage “Phòng, chống đuối nước cho trẻ em Việt Nam”)
4.2. Kỹ năng xử lý khi
đang bơi gặp vùng nước xoáy
a) Nhận thức về vùng
nước xoáy
Dòng nước xoáy là hiện tượng thiên
nhiên do hai dòng nước ngược chiều gặp nhau và cuốn vòng. Dòng nước xoáy
là nguyên nhân hàng đầu gây ra đuối nước ở trẻ em. Vì vậy hiểu biết nguyên
nhân, cơ chế hình thành và kỹ năng thoát khỏi xoáy nước khi bơi là cách
bảo vệ tính mạng hiệu quả nhất cho trẻ em.
Có 2 cách tạo nên dòng nước xoáy:
|
- Do nước chảy thành
2 dòng ngược nhau. Chỗ giao nhau sẽ tạo thành xoáy nước (hình minh họa).

Hình
40: (Nguồn: Internet)
|
- Có thể do dưới đáy
sông có một cái lỗ thông qua một dòng chảy khác, khu vực này sẽ tạo thành
một vùng xoáy có lực hút rất mạnh tất cả các vật trên mặt nước xuống tận
dưới đáy sông. Đây là một vùng xoáy cực kỳ nguy hiểm (hình minh họa).

Hình
41: (Nguồn: Internet)
|
b) Kỹ năng thoát
hiểm khi gặp dòng nước xoáy

Hình
42:
(Nguồn: Fanpage “Phòng, chống đuối nước cho trẻ em Việt Nam”)
Nguyên tắc: Người bơi phải bình
tĩnh để quan sát hướng ra ngoài của vòng xoáy nước để tìm cách vượt
khỏi ảnh hưởng của vòng xoáy.
Kỹ năng bơi thoát vùng xoáy nguy
hiểm:
Khi đang bơi, nếu gặp vùng nước
xoáy, người bơi cần bình tĩnh, nằm ngửa, dang rộng tay và chân để đề
phòng sự cuốn hút xuống sâu của xoáy nước.
Khi ở vị trí ngoài vòng xoáy nước lập
tức bơi sải (trườn sấp) để thoát ra xa vòng xoáy.
Sau khi thoát khỏi xoáy nước vận dụng
bơi ếch đứng để thở hồi sức chờ cấp cứu hoặc bơi ếch nhẹ nhàng vào
chỗ nông.
* Trong trường hợp thứ
nhất,
nếu gặp phải dòng nước xoáy do 2 dòng nước chảy ngược nhau tạo thành thì cần
bình tĩnh, tỉnh táo để nhận biết hướng xoáy.
|
Ta không được bơi
theo chiều mũi tên A cắt ngang hoặc bơi ngược vòng xoáy, mà phải bơi
vòng theo mũi tên B nghĩa là theo vòng xoáy và ra xa dần theo chiều hướng
xa dần tâm xoáy. Người ta thường nghĩ đường A là đường ngắn nhất, nhưng đó
là đường khó thực hiện. Cho dù bạn bơi đến kiệt sức, nhưng khoảng cách
giữa bạn đến tâm xoáy vẫn không đổi. Thậm chí bạn càng bơi, càng đi vào
tâm xoáy mà không biết.
|

Hình
43:
(Nguồn: Internet)
|
* Trường hợp thứ hai, nếu chúng ta gặp
vùng xoáy mà do dưới dưới đáy sông có một cái lỗ thông qua một dòng chảy
khác, khu vực này sẽ tạo thành một vùng xoáy có lực hút rất mạnh tất cả các
vật trên mặt nước xuống tận dưới đáy sông. Đây là một vùng xoáy cực kỳ
nguy hiểm.
Lúc này, người bơi phải bình tĩnh
hít một hơi dài và lặn hẳn xuống cho chìm và tìm cách bơi thoát ra
khỏi chỗ xoáy bằng hết sức lực có được của mình. Cần lưu ý xoáy hút tuy
nguy hiểm nhưng cũng có nguyên tắc là càng xuống sâu tâm xoáy càng nhỏ lại,
vùng nguy hiểm sẽ càng hẹp dần. Ta sẽ thoát ra dễ dàng hơn là ở trên mặt
nước, là nơi có tâm xoáy to hơn.
4.3. Kỹ năng xử lý khi
đang bơi gặp dòng chảy cuốn trôi ra xa bờ
a) Nhận thức về dòng
chảy cuốn trôi ra xa bờ
Khái niệm: Là một dòng nước mạnh chảy
từ bờ hướng ra biển. Sóng sẽ đánh và đưa nước biển vào bờ, nhưng khi nước
biển được liên tục đưa vào bờ thì chúng tập hợp lại thành một dòng đi ngược
ra biển. Dòng nước biển đi từ bờ ra biển này được gọi là dòng chảy cuốn trôi
ra xa bờ.
Nơi
có dòng chảy xa bờ là vùng nước lặng, hầu như không có sóng.

Hình
44: (Nguồn: Internet)
Hình ảnh trên cho thấy một dòng chảy xa
bờ. Trong thí nghiệm này, người ta rắc chất màu sát bờ biển, chất màu bị kéo ra
xa bờ, chứng tỏ nơi đó dòng nước đi ngược từ bờ ra biển.Dòng nước ngược
này có thể ổn định không thay đổi trong suốt cả tháng, cả năm. Tuy nhiên,
chúng cũng có thể liên tục thay đổi mỗi vài giờ. Ở một số bãi biển, dòng
nước ngược này không đi hướng ra biển mà chạy dọc theo bờ biển.
b) Sự nguy hiểm của
dòng chảy xa bờ
Dòng chảy xa bờ được xem là một trong
những nguy hiểm hàng đầu trên bờ biển. Nó là nguyên nhân của 80% các trường
hợp cứu nạn và chết đuối khi tắm biển. Dòng chảy xa bờ có thể cực kỳ nguy
hiểm vì nó kéo người biết bơi ra xa bờ làm cho người biết bơi kiệt sức khi
cố bơi ngược dòng chảy xa bờ, rồi chết đuối. Bên cạnh đó, sự hoảng loạn
khiến người bơi không còn khả năng phán đoán chính xác. Đối với người
không biết bơi, dòng chảy xa bờ có thể kéo người đó ra chỗ sâu hơn dù
người đó đang đứng ở mực nước ngang hông. Khi đó người không biết bơi sẽ
hoảng loạn và có thể chết đuối.

Hình
45: (Nguồn: Internet)
Trong hình trên đây, nơi có sóng bạc
đầu là nơi dòng nước đi từ biển vào gần bờ. Nếu chúng ta tắm biển nơi có
sóng bạc đầu thì chúng ta sẽ được sóng đánh đưa vào bờ. Tuy nhiên nếu chúng
ta di chuyển vào tắm chỗ lặng sóng (giữa hai mũi tên) là chúng ta rơi vào
dòng chảy xa bờ. Dòng sông nhỏ này sẽ lập tức kéo phăng chúng ta ra xa
khỏi bờ và đưa thẳng chúng ta ra biển. Như vậy, vùng có sóng là vùng nước an
toàn, còn vùng lặng sóng chính là vùng nguy hiểm.
c) Cách nhận biết dòng
chảy xa bờ
Dòng chảy xa bờ có một số dấu hiệu đặc
trưng mà nếu quan sát cẩn thận, các nhân viên cứu hộ và người đi biển có thể
dễ dàng nhận ra. Do vậy, trước khi xuống biển, chúng ta nên đứng từ trên
cao và dành khoảng 5 -10 phút để nhận dạng dòng chảy xa bờ ngay trên bờ biển
mà chúng ta sắp xuống tắm.
Dòng chảy xa bờ có màu khác biệt so với
vùng nước xung quanh, thường là sậm màu hơn và đục hơn tùy theo góc chiếu
của ánh mặt trời.

Hình
46: (Nguồn: Internet)
Dòng chảy xa bờ có mặt nước phẳng lặng
hơn và ít sóng hơn. Nếu di chuyển vào chỗ lặng sóng thì chúng ta sẽ rơi
vào dòng chảy xa bờ. Ngược lại, nơi biển có sóng bạc đầu thì chúng ta sẽ
được sóng đánh đưa vào bờ.
Đôi khi chúng ta có thể thấy các mảnh
vỡ hay bọt nước nổi trên mặt dòng chảy cuốn ra xa bờ và trôi ra biển. Trong
khi đó, sóng bạc đầu sẽ đẩy các mảnh vỡ này vào bờ biển.
d) Kỹ năng thoát
hiểm khi bị dòng chảy cuốn trôi ra xa bờ
- Đối với những người tắm biển, đặc
biệt đối với khách du lịch ở các nơi xa đến tắm biển, do chưa hiều biết về
dòng chảy xa bờ và các đặc điểm của bãi tắm, cho nên cần tìm hiểu các tiêu
chuẩn an toàn của một bãi tắm, có thể bằng cách hỏi những người dân địa
phương sống xung quanh bãi tắm, các nhân viên của đội cứu hộ cứu nạn hoặc
đọc kỹ các biển cảnh báo được lắp đặt tại các điểm có khả năng dòng chảy
xa bờ thường xuyên xuất hiện.
- Đối với những người khi bị dòng chảy
xa bờ cuốn trôi thì cần phải nắm được các phương pháp phòng, chống theo
các bước thực hiện sau đây:
(1) Không nên hoảng sợ và phải hết sức
bình tĩnh.
(2) Cố gắng bơi thả trôi tự do xuôi
theo dòng chảy xa bờ để tiết kiệm năng lượng, cấm không bơi ngược dòng
chống lại dòng chảy xa bờ theo hướng ngược vào bờ.
(3) Để thoát khỏi sự ảnh hưởng của
dòng chảy xa bờ, cần bơi thả lỏng để tìm thời cơ bơi lách qua trục của
dòng chảy xa bờ về hai phía. Sau khi thoát khỏi dòng chảy xa bờ sẽ tìm cách
bơi từ từ vào bờ.

Hình
47: (Nguồn: Internet)
(4) Nếu không bơi thoát khỏi dòng
chảy xa bờ do dòng chảy xa bờ có độ xoáy, thì phải sử dụng phương pháp bơi
thả nổi hoặc bơi đứng, đồng thời kêu cứu sự giúp đỡ của những người trên
bờ hoặc nhân viên đội cứu hộ, cứu nạn bờ biển.
(5) Người bị nạn, nếu cảm thấy đuối sức
không có thể bơi được vào bờ thì phải kêu to và vẫy tay yêu cầu sự cứu hộ
khẩn cấp từ trên bờ. Nếu người bị nạn sau khi lấy lại được sự bình tĩnh
hoặc sau khi dòng chảy xa bờ đã yếu dần ở khu vực xa bờ, thì cố gắng bơi
lách qua dòng chảy xa bờ và sau đó theo hướng thẳng vào bờ. Không nên hoảng
sợ, vì biết rằng dòng chảy xa bờ sẽ chấm dứt và tiêu tán ở vùng nước sâu xa
bờ.
- Đối với những người đang ở trên bờ
hoặc chưa bị dòng chảy xa bờ tấn công cần phải thực hiện những điều sau
đây:
(1) Phải thận trọng để mình không phải
là nạn nhân tiếp theo của dòng chảy xa bờ.
(2) Cần tìm ngay đội tuần tra, cứu hộ
cứu nạn bãi biển để giúp đỡ những người gặp nạn.
(3) Nếu không không liên lạc được với
đội tuần tra cứu hộ cứu nạn bãi biển, thì tìm người biết bơi giỏi hoặc
người có kinh nghiệm đi biển nhiều để giúp đỡ cứu hộ người gặp nạn.
(4) Kêu to nói với nạn nhân về cách
bơi thả lỏng, bơi đứng, không hoảng sợ sẽ có người giúp đỡ.
(5) Nếu có phao cứu sinh thì có thể ném
phao xuống biển để hỗ trợ cho nạn nhân.
(6) Gọi khẩn cấp đến số điện thoại
chuyên nghiệp của đội cứu hộ cứu nạn để giúp đỡ
CHƯƠNG 3
KỸ NĂNG CỨU ĐUỐI AN TOÀN
I. KỸ NĂNG TỰ CỨU
Trẻ cần nhanh chóng thực hiện các hành
động sau:
- Kêu cứu thật to (nếu có thể), nắm 1
bàn tay và giơ lên.
- Bình tĩnh nín thở để không bị sặc,
đợi nước đẩy nổi lên.
- Thực hiện kỹ thuật thả nổi để duy
trì trạng thái an toàn và tiếp tục kếu cứu. Nếu không có ai, cần chủ động
thực hiện kỹ thuật bơi tự cứu, tự thoát khỏi vùng nước nguy hiểm để
bơi vào bờ. Tuỳ theo khả năng, sức khoẻ để chọn kiểu bơi tự cứu hay bơi
ếch, bơi sải phù hợp với bản thân để thực hiện việc tự cứu.
II. KỸ NĂNG CỨU ĐUỐI
GIÁN TIẾP
Là sử dụng các dụng cụ cứu đuối sẵn có
(phao, dây, gậy, quần áo, các vật có thể nổi trên nước,…) để cứu người bị
đuối nước khi họ vẫn còn đang tỉnh. Tùy theo tình hình, tính chất của mỗi
trường hợp cụ thể mà người cứu đuối lựa chọn phương án cứu để phù hợp, an
toàn và hiệu quả.
1. Trình tự cứu đuối, 5
bước cần học:
Bước 1. Hô, gọi, tìm người giúp đỡ
(Cứu; Có người đang bị đuối nước…)
Bước 2: Trấn an, động viên nạn nhân
(Tôi có thể giúp gì? Tôi sẽ cứu bạn…)
Bước 3: Tìm, lấy dụng cụ cứu đuối
(Gậy, sào, phao, các vật nổi…)
Bước 4: Cứu người bị nạn vào bờ.
Bước 5: Giúp người bị nạn ra khỏi mặt
nước và chăm sóc nạn nhân.
2. Các kỹ thuật cứu
đuối
- Cứu đuối bằng cách đưa vật nối
(cây, gậy, sào, quần áo...)
- Cứu đuối bằng cách ném vật nổi
(phao, can, bóng…)
- Cứu đuối bằng cách ném dây…
2.1. Cứu đuối bằng cách
đưa vật nối
Bạn thấy ai đó đang hoảng loạn ở dưới
nước, sát mép nước hoặc cách mép nước khoảng 2m; các bước (viết tắt B1,
B2…).
B1: Hô, gọi, tìm người giúp đỡ (Có
người đang gặp đuối nước…)
B2. Hét lên: ‘Nhìn tôi này, Giữ
bình tĩnh, Đạp chân.'
B3: Bạn có thể giúp đỡ bằng cách: Tìm
kiếm một vật để tiếp cận nạn nhân, một cây sào, một cành cây, một phao ống
tại bể bơi, quần hoặc áo…
B4. Nằm xuống gần mép nước, Hét lên:
‘Hãy nắm lấy sào/gậy/phao ống… của tôi bằng hai tay'. Đưa vật cứu hộ về
phía một bên của nạn nhân để người đó có thể thấy và kéo nạn nhân vào bờ an
toàn.
B5. Giúp người bị nạn ra khỏi mặt
nước, sau đó chăm sóc nạn nhân (Hình 48)

Hình
48
2.2. Cứu đuối bằng cách
ném vật nổi
Bạn thấy ai đó đang hoảng loạn ở dưới
nước, cách mép nước khoảng 5 mét.
B1: Hô, gọi, tìm người giúp đỡ (Có
người đang gặp đuối nước…)
B2. Hét lên: ‘Nhìn tôi này, Giữ
bình tĩnh, Đạp chân'
B3. Bạn có thể giúp đỡ bằng cách: Tìm
kiếm một vật nổi để ném, một quả bóng, một can nhựa, một phao ở bể bơi.
B4. Đứng cách mép nước một bước, Hét
lên: ‘Hãy nắm lấy quả bóng/can/phao bằng hai tay và ôm chặt vào ngực của
bạn'. Ném quả bóng/can/phao về trước mặt nạn nhân, Hét lên: ‘Hãy đạp chân
và bơi về phía tôi'.
B5. Giúp người bị nạn ra khỏi mặt
nước, sau đó chăm sóc nạn nhân (Hình 49).

Hình
49
2.3. Cứu đuối bằng cách
ném dây
Bạn thấy ai đó đang hoảng loạn ở dưới
nước, cách mép nước khoảng 5-6 mét.
B1: Hô, gọi, tìm người giúp đỡ (Có
người đang gặp đuối nước…)
B2. Hét lên: ‘Nhìn tôi này, Giữ
bình tĩnh, Đạp chân.'
B3. Bạn có thể giúp đỡ bằng cách: Tìm
kiếm một vật để ném, bạn nhìn thấy một sợi dây.
B4. Đứng cách mép nước một bước. Cuộn
sợi dây vào một tay của bạn, tay kia giữ đầu còn lại của sợi dây. Hét
lên: ‘Hãy nắm dây bằng hai tay’ và ném phần dây đã cuộn qua vai nạn nhân.
Hét lên: ‘Đạp chân và giữ đầu trên mặt nước’, sau đó quỳ một gối xuống và
kéo nạn nhân vào bờ an toàn.
B5. Giúp người bị nạn ra khỏi mặt
nước, sau đó chăm sóc nạn nhân (Hình 50a và 50b).

Hình
50a và hình 50b

(Nguồn:
Fanpage “Phòng, chống đuối nước cho trẻ em Việt Nam”)
3. Kỹ năng cứu đuối
trực tiếp an toàn
Cứu đuối trực tiếp là một hành động
khó, nguy hiểm đặc biệt khi gặp tình huống người bị đuối nước ở vùng nước
sâu, vùng nước xoáy, vùng nước chảy xiết.
Việc cứu đuối trực tiếp chỉ dành cho
đội cứu hộ chuyên nghiệp được đào tạo bài bản, có đủ sức khỏe, kiến thức kỹ
năng mới có thể thực hiện thành công việc cứu đuối trực tiếp ở tình huống
vụ đuối nước phức tạp, nguy hiểm. Vì vậy, hành động cứu đuối trực tiếp
được khuyến cáo đối với những người không đủ năng lực, khả năng, đặc
biệt là học sinh. Học sinh thì tuyệt đối không được thực hiện việc cứu
đuối trực tiếp trong những tình huống mà bản thân cảm thấy nguy hiểm, không
an toàn tính mang của bản thân.
3.1. Cứu đuối trực tiếp
trong trường hợp an toàn cho bản thân
Trong một số trường hợp, người bình
thường chưa được đào tạo chuyên nghiệp về cứu hộ, cứu nạn hoặc học sinh từ
17 tuổi trở lên, biết các kiến thức, kỹ năng về bơi, cứu đuối vẫn có thể
thực hiện việc cứu đuối trực tiếp ở một số tình huống và nếu an toàn, ví
dụ:
- Khi thấy trẻ nhỏ ngã trong các chum,
lu, vại, xô, chậu đựng nước,…
- Khi thấy học sinh, người bị đuối nước
ở vùng nước nông, mức nước chỉ ở ngang ngực người thực hiện việc cứu đuối
trực tiếp (vùng nước mà bản thân người thực hiện cứu đuối hiểu rõ về
địa hình như ao trong gia đình, hoặc ao, hố chứa nước gần nhà), có thể lội
ra để túm, bắt kéo người bị đuối nước đưa lên bờ.
3.2. Cảnh bảo nguy hiểm
Học sinh, học sinh tuyệt đối không
được tự ý thực hiện việc cứu đuối trực tiếp ở những tình huống người bị
đuối nước xa bờ, bị đuối nước ở vùng nước nguy hiểm.
4. Quy trình sơ cấp cứu
ban đầu
Có nhiều trường hợp người bị nạn đuối
nước hoặc gặp các tai nạn, thương tích khác ở mức độ nặng như không còn
thở, ngừng tim, ngừng mạch, tuy nhiên vẫn còn trong khoảng thời gian vàng
cấp cứu, nếu việc cấp cứu ban đầu được thực hiện kịp thời, đúng cách có thể
giành lại sự sống cho người bị nạn. Việc sơ cấp cứu là hành động khó, tuy
nhiên nếu được trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng thì giáo viên, học sinh
trong các tình huống cụ thể vẫn có thể thực hiện việc sơ cấp cứu ban đầu
đạt được hiệu quả. Khi đã đưa trẻ bị đuối nước lên bờ an toàn:
- Nếu trẻ tỉnh táo thì đặt trẻ nằm
đầu thấp, nghiêng sang một bên, kiểm tra và lấy dị vật trong miệng (nếu có),
sau đó ủ ấm cho trẻ, trấn an tinh thần và chuyển đến cơ sở y tế để theo dõi.
(Hình 51)

Hình
51
- Nếu trẻ bất tỉnh, thở yếu hoặc
ngừng thở, ngừng tim: Tiến hành hồi sức tim, phổi đúng kỹ thuật và kiên
trì, Sau khi trẻ hồi tỉnh cần ủ ấm và chuyển cơ sở y tế để theo dõi.
Việc thực hiện sơ cấp cứu ban đầu
khuyến cáo không được thực hành thử trên người, đặc biệt các em học sinh
không được thực hành với nhau, mà chỉ được thực hành trên hình mô phỏng.
Việc thực hiện trên người thật chỉ khi có người đó gặp tai nạn.
Trong khuôn khổ, giới hạn nhất định,
tài liệu này chỉ giới thiệu một số nội dung chính, cơ bản để quý thầy, cô
nghiên cứu, thực hành và truyền tải, hướng dẫn cho học sinh của mình.
4.1. Mục đích và tầm
quan trọng của sơ cấp cứu
- Mục đích
+
Cứu sống nạn nhân.
+
Ngăn khống cho tình trạng xấu đi.
+
Thúc đẩy quá trình hồi phục
- Tầm quan trọng của sơ cấp cứu
+
Quyết định sự sống chết của người bị nạn
+
Phục hồi chức năng hay tàn tật vĩnh viễn
+
Thời gian là tối quan trọng trong sơ cấp cứu.
- Khi ta là người đầu tiên có mặt ở
hiện trường, ta phải làm gì?
+
Sơ cấp cứu nạn nhân.
+
Gọi người trợ giúp.
+
Gọi cấp cứu 115.
4.2. Nhận biết dấu hiệu
ngừng tim, ngừng thở
- Mất ý thức: xuất hiện sau khoảng 10
giây sau khi ngừng tuần hoàn, giãn cơ hoàn toàn làm cho nạn nhân ngã vật
xuống.
- Ngừng thở xuất hiện sau khi ngừng
tim khoảng 20-60 giây.
- Mất mạch cảnh và mạch bẹn.
- Đồng tử hai bên giãn và không có phản
xạ với ảnh sáng. Xuất hiện từ vài giây đến một phút sau khi ngừng tuần hoàn.
- Mất tiếng tim.
4.3. Các bước tiến hành
sơ cấp cứu
Sau khi làm cho hiện trường an toàn và
đưa nạn nhân ra khỏi nơi nguy hiểm, người sơ cấp cứu thực hiện các bước
hồi sức theo 3 chữ cái đầu tiên là ABC:
A - Air ways: Khai thông đường thở,
kiểm tra hơi thở (tuyệt đối không được vác, sốc ngược người bị đuối nước
trên vai chạy).
B - Breathing: Hô hấp nhân tạo (thổi 2
hơi).
C - Circulation: Tuần hoàn (ép tim ngoài
lồng ngực - ép tim 30 lần).
Cụ thể như sau:
Bước 1: A - Khai thông
đường thở
Trước tiên phải đưa nạn nhân vào nơi
bằng phẳng không có gió lạnh, ít người, thoáng khí, nới lỏng quần áo, sau đó
kiểm tra phản hồi xem nạn nhân còn thở hay không, bằng cách áp má mình vào gần
mũi nạn nhân, 1 tay đặt nên bụng nạn nhân kiểm tra phản ứng. (Hình 52)

Nếu nạn nhân ngừng thở tiến hành mở
đường thở: Dùng ngón tay cuốn băng hoặc dùng khăn móc sạch dị vậy, đờm nhớt
ở miệng và mũi ra, nếu miệng ngậm chặt quá thì phải cậy miệng, dùng hai
ngón tay cái đẩy từ sau ra trước, cùng lúc đó hai ngón trỏ và ngón cái
đẩy cằm dưới để mở rộng hai hàm răng của người bị đuối, sau đó móc sạch dị
vậy, đờm nhớt. (Hình 53)
Bước 2: B - Hô hấp nhân
tạo
- Thứ nhất: Sau khi thực hiện bước
1 khai thông đường thở xong, người cứu hộ quỳ gối trước mặt bên đầu nạn
nhân, luồn một tay dưới cổ để nâng đầu nạn nhân. Sau đó đặt ngón tay cái vào
góc miệng và kéo hàm dưới vừa nhấc lên cao. Tay trái đẩy đỉnh đầu nạn nhân
ngửa ra phía sau theo thế “cằm chỉ thiên”. Có thể lót dưới bả vai nạn nhân
gối cao hoặc mền cuốn tròn. (Hình 54)
Ghi chú: “cằm chỉ thiên” sẽ làm cho
đường khí quản không bị gấp khúc tạo cho công việc cấp cứu được dễ dàng.

Hình
54
- Thứ hai: Dùng ngón cái và ngón
trỏ của bàn tay trái bịt chặt mũi nạn nhân lại. Có thể dùng một miếng vải
mỏng đặt lên miệng nạn nhân cho người cứu hộ cảm thấy yên tâm hơn.
- Thứ ba: Cách hà hơi thổi
ngạt. (Hình 55)
+ Người cứu hộ hít sâu không khí vào
ngực và áp miệng mình thổi vào miệng nạn nhân cho đến khi thấy lồng ngực nạn
nhân nhô lên (khoảng 5 giây)
+ Khi lồng ngực nạn nhân nhô lên cao,
ta lấy miệng ra để không khí từ phổi thoát ra ngoài
+ Thực hiện 20 lần trong 1 phút, đối
với trẻ em thì số lần nhiều hơn, thời gian hà hơi thổi ngạt từ 3-5 phút
tùy theo tình hình hồi phục của nạn nhân

Hình
55
Bước 3: C - Tuần hoàn
Người cứu hộ đặt hai bàn tay chồng lên
nhau (khoảng 1/3 dưới) trên xương ức của nạn nhân, quỳ gối, hai cánh tay
thẳng. Vai - cánh tay - bàn tay, hợp thành một đoạn thẳng vuông góc với lồng
ngực của nạn nhân. (Hình 56, 57)

Hình
56

Hình
57
- Ép mạnh lồng ngực bằng sức nặng
của cơ thể người cứu hộ xuống xương ức của nạn nhân, làm cho xương ức
cùng lồng ngực của nạn nhân bị lún xuống khoảng từ 2 - 3cm.Mỗi đợt ấn là
15 cái trong 10 giây. (Hình 57; 58)

Hình
58
Như vậy, cứ mỗi 15 giây, người cứu hộ
sẽ thực hiện một chu kỳ gồm 2 hơi thổi và 30 cái ấn tim. Tiếp tục thực
hiện thêm 3 chu kỳ nữa rồi kiểm tra nạn nhân trở lại. Nếu chưa hồi phục cứ
tiếp tục kiên trì thực hiện việc hô hấp và cứ vài phút kiểm tra lại một lần.
Ấn tim phải đều và nhịp nhàng, khoảng
60 đến 80 lần trong 1 phút và xen kẽ với việc thổi ngạt. Tức là cứ 2 lần thổi
là 30 lần ấn tim (ấn tim thì không thổi và ngược lại: thổi thì không ấn
tim). Sau mỗi lần ấn tim, nhấc nhẹ tay lên cho lồng ngực trở lại vị trí
bình thường.
Một cấp cứu viên: Ta thực hiện các bước
sau:
- Đặt nạn nhân nằm ngửa, cấp cứu viên
quỳ thẳng gối bên hông nạn nhân chân ngang vai nạn nhân, dùng tay kiểm tra
xương ức.
- Đặt ngón tay áp út lên chỗ thấp nhất
của xương ức, kế tiếp ngón giữa và ngón trỏ. Sau khi kiểm tra chính xác vị
trí đặt gót bàn tay kia kế bên ngón trỏ, rút tay kiểm tra vị trí và đặt
gót bàn tay đó lên mu bàn tay kia, các ngón tay lồng vào nhau.
- Giữ cánh tay thẳng, vuông góc với
xương ức, ấn sâu khoảng 4cm - 5cm, khi ấn không được nhấn tay lên (nếu trong
quá trình thực hiện lỡ nhấc tay lên thì cấp cứu viên phải kiểm tra lại vị đặt
tay cho chính xác như ban đầu).
- Sau đó cấp cứu viên thực hiện như
sau: Ấn ngực 30 lần thổi 2 hơi và tiếp tục kiểm tra lại mạch và nhịp thở,
lúc này có thể xảy ra 2 trường hợp như sau:
+ Nếu không thở thì tiếp tục thổi hơi
(thổi 1 đếm 5).
+ Nếu không mạch thì tiếp tục ép tim (ấn
30 thổi 2).
Cả hai trường hợp trên, sau khi thực
hiện 1 phút nên kiểm tra lại nếu vẫn chưa hồi phục thì ta tiếp tục thực hiện
cho đến khi nhân viên y tế đến. Nếu có thở, có mạch thì kiểm tra lại toàn thân
và trả nạn nhân về tư thế hồi phục.
Hai cấp cứu viên:
Tư thế thực hiện: Hai người ngồi đối
diện nhau, người thổi ngạt quỳ ngang vai, người ép tim quỳ ngang ngực nạn
nhân.
Thực hiện: Ấn ngực 30 lần thổi hơi 2
lần
- Người ấn tim vừa ấn vừa đếm:
1,2,3,4,5,…30 Thổi 2 hơi (Người thổi hơi thổi). Sau đó kiểm tra lại mạch
và thở, nếu vẫn không mạch không thở thì 2 cấp cứu viên có thể hoán đổi vị
trí và tiếp tục thực hiện.
+ CPR cho trẻ em trên 12 tuổi: Tiến
hành thực hiện như người lớn.
+ CPR cho trẻ em dưới 12 tuổi: Tiến
hành thực hiện như người lớn nhưng khi ấn ngực chỉ dùng 1 tay và ấn sâu khoảng
2,5cm- 3,5cm.
+ CPR cho trẻ sơ sinh đến 1 tuổi: Tiến
hành thực hiện như người lớn nhưng khi ấn ngực chỉ dùng 2 ngón tay (ngón
trỏ và ngón giữa) ấn sâu khoảng 1,5cm- 2,5cm và ấn ngực 5 lần thổi hơi 1
lần.
* Tư thế hồi phục: Tư thế này bảo vệ
lưỡi không tụt xuống thành sau họng và giúp dịch chảy từ miệng ra làm giảm
nguy cơ hít phải dịch dạ dày.
+ Co 1 chân của nạn nhân lên, tay cùng
bên gấp lại, bàn tay đặt lên ngực , tay còn lại ( phía bên cấp cứu viên) gập
tạo thành 1 góc so với thân người lòng bàn tay để lên.
+ Cấp cứu viên quỳ đối diện bên tay
gấp của nạn nhân dùng hai tay đặt trên vai và hông nạn nhân lật qua phía
bên cấp cứu viên.
+ Nâng cằm, ngửa đầu để thông đường
thở, lấy bàn tay đặt trên ngực lúc ban đầu để sát cằm, điều chỉnh tay chân
cho phù hợp.
+ Theo dõi, kiểm tra mạch và nhịp thở
của nạn nhân trong khi chờ nhân viên y tế
Lưu ý khi hô hấp nhân
tạo:
- Đừng mất can đảm, đừng nản lòng.
Phải kiên nhẫn làm trong nhiều giờ, nếu cảm thấy còn có hy vọng cứu sống
được. Trường hợp nếu thấy các phần môi, vai, lưng, bụng, ngón tay… bị bầm
tím thì đành chịu, coi như hết hy vọng cứu sống. Đừng hô hấp nữa! vô ích.
- Nếu có nhiều người đứng chung quanh,
hãy nhờ họ cởi quần áo cho nạn nhân, xoa bóp và đắp ấm cho nạn nhân, nhưng vẫn
phải tiếp tục hô hấp bình thường.
- Không nên cho nạn nhân uống nước,
chỉ khi nào nạn nhân có dấu hiệu tỏ ra rằng nạn nhân đã được cứu sống thì
có thể cho nạn nhân uống một chút nước nóng, nhưng phải thật từ từ. Cấm
tuyệt đối không được cho nạn nhân uống rượu.
- Cho người đi gọi ngay cấp cứu hoặc
chuyển đến bệnh viện đa khoa càng sớm càng tốt.
CHƯƠNG 4
TẬP HUẤN HƯỚNG DẪN KỸ NĂNG AN TOÀN TRONG MÔI
TRƯỜNG NƯỚC CHO TRẺ EM
I. XÁC ĐỊNH ĐỐI TƯỢNG
TẬP HUẤN
- Giảng viên (cán bộ quản lý giáo dục,
cán bộ tuyên truyền, giáo viên các nhà trường, đoàn thanh niên… là những
người sẽ trực tiếp giảng dạy cho trẻ em tại cộng đồng hoặc trong các nhà trường).
- Trẻ em tại cộng đồng dân cư, trong
các trường học.
- Người có trách nhiệm quản lý, giám
sát, chăm sóc, bảo vệ trẻ em.
Mỗi đối tượng khác nhau sẽ lựa chọn
phương pháp, khối lượng kiến thức, kỹ năng truyền đạt khác nhau.
II. XÁC ĐỊNH MỤC TIÊU,
YÊU CẦU CẦN ĐẠT ĐƯỢC CỦA KHOÁ TẬP HUẤN
1. Mục tiêu, yêu cầu
chung cho mọi đối tượng
- Giảng viên phải chuẩn bị kỹ giáo án,
tài liệu trước khi lên tập huấn.
- Đối tượng tập huấn nắm chắc được
kiến thức, kỹ năng về phòng, chống đuối nước.
- Có khả năng vận dụng các kiến thức,
kỹ năng đã được tập huấn trong phòng, chống đuối nước.
- Đối tượng tập huấn tham gia tích
cực, trách nhiệm, được bảo đảm các điều kiện tham gia khoá tập huấn hiệu
quả.
2. Mục tiêu cụ thể
2.1. Với cán bộ được
đào tạo trở thành giảng viên
- Hiểu đúng về tai nạn đuối nước và
phương pháp phòng, chống đuối nước.
- Có kỹ năng cơ bản, khoa học trong
xử lý các tình huống đuối nước.
- Nắm được phương pháp và có khả năng
tổ chức các hoạt động trong buổi lên lớp.
2.2. Với trẻ em tại
cộng đồng dân cư, trong các trường học
- Giúp các em nhận thức đúng, đầy đủ
về các nguy cơ khi vui chơi, hoạt động trong các môi trường nước.
- Hình thành ở trẻ những hiểu biết cơ
bản về kỹ năng an toàn trong môi trường nước và tuân thủ các quy định khi
vui chơi giải trí, học tập bơi lội, tham gia giao thông đường thuỷ nội địa.
- Giúp trẻ học được một số kỹ năng
vận động để sống sót trong môi trường nước như khả năng nín thở, điều hòa
nhịp thở, thở trong nước.
- Phát triển bước đầu một số tố chất
tinh thần và thể lực cho trẻ, không sợ nước, nhanh nhẹn, khả năng phối hợp
vận động, linh hoạt, mềm dẻo.
- Góp phần giáo dục các phẩm chất tâm
lý: Bạo dạn, tự tin, vượt khó, tính kỷ luật, ham thích vận động của trẻ.
2.3. Với người có trách
nhiệm quản lý, giám sát, chăm sóc, bảo vệ trẻ em
- Trang bị các kiến thức cơ bản về
đuối nước và phòng, chống đuối nước, đặc biệt là các nguy cơ đuối nước ở
trẻ em và những vấn đề cần lưu ý trong công tác phòng, chống đuối nước cho
trẻ em.
- Đề cao vai trò trách nhiệm của gia
đình, nhà trường, cơ quan tổ chức nhà nước, tổ chức xã hội và người lớn
trong việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em nói chung và phòng, chống đuối nước cho
trẻ em.
III. XÁC ĐỊNH THỜI
GIAN, ĐỊA ĐIỂM TỔ CHỨC CHƯƠNG TRÌNH TẬP HUẤN
Tuỳ theo mục đích yêu cầu của khoá
tập huấn, Ban tổ chức sẽ lựa chọn thời gian, địa điểm tập huấn phù hợp. Để
bảo đảm chất lượng đào tạo, cần xây dựng các biểu mẫu đánh giá trước và sau
đối với học viên. Lưu ý:
- Đào tạo trở thành giảng viên.
Mỗi bài giảng cần tối thiểu 45 phút
để giúp họ có thời gian trao đổi với giảng viên chính về các kiến thức liên
quan, hình thành kỹ năng sư phạm và rèn luyện các kỹ năng thực hành đạt chuẩn.
Địa điểm tập huấn: cần tổ chức trong
hội trường dưới hình thức lớp học đối với giờ giảng lý thuyết. Đối với phần
thực hành các kỹ năng, cần không gian đủ rộng để thực tập như bãi đất
trống, sân trường… bảo đảm an toàn.
- Với trẻ em tại cộng đồng dân cư, trong
các trường học.
Thời gian tổ chức là ban ngày, ngày
cuối tuần hoặc thời gian học ngoại khoá ở trường. Thời lượng tập huấn tối
thiểu 45 phút theo yêu cầu của từng bài học và điều kiện thời gian cho phép.
Địa điểm tập huấn: có thể trong lớp
học, trong nhà, khu đất rộng hoặc tại các bể bơi. Tuy nhiên, nếu tổ chức
ngoài lớp học, tại khu vực bể bơi cần tăng thêm cán bộ để quản lý, giám sát
các em. Thông thường nhóm 10 -15 em cần có một người lớn giám sát.
- Với người có trách nhiệm quản lý,
giám sát, chăm sóc, bảo vệ trẻ em.
Thời gian tổ chức là ban ngày, ngày
cuối tuần, buổi tối. Thời lượng tập huấn tối thiểu 45 phút theo yêu cầu
của từng bài học và điều kiện thời gian cho phép.
Địa điểm tập huấn: có thể trong nhà,
trong trường học, khu vực sinh hoạt cộng đồng.
IV. XÂY DỰNG DANH MỤC
CÁC NỘI DUNG CẦN CHUẨN BỊ VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ TỔ CHỨC KHOÁ TẬP HUẤN
- Giáo án, bài giảng điện tử, tư liệu
cần thiết cho bài giảng (tranh ảnh, phim tư liệu, video hướng dẫn của chương
trình, tài liệu, số liệu).
- Triệu tập học viên.
- Chuẩn bị giáo cụ: máy chiếu, màn
chiếu, máy tính, micro, loa đài, giấy, bút dạ, bút điều khiển slide
powerpoint, bảng viết hoặc bảng trắng, thể di chuyển để treo, dán các ý kiến
của học viên, áo phao, vật nổi, ma nơ canh để thực hành hồi sức cấp cứu,
gậy, dây thừng….
- Bảo đảm âm thanh, ánh sáng cho lớp học
- Bàn, ghế, nước uống, đồ ăn giữa giờ
(nếu làm nửa ngày).
- Dự kiến nguồn nhân lực tham gia khoá
tập huấn như ban tổ chức, giảng viên, trợ giảng.
- Dự kiến nguồn kinh phí cần thiết cho
khoá tập huấn.
- Xác định các chủ thể cần phối hợp
để tổ chức khoá tập huấn thành công và trao đổi, thống nhất với các chủ
thể về quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ, đối tượng, nội dung, hình thức,
phương pháp, thời gian, địa điểm, các điều kiện bảo đảm cho khoá tập huấn.
- Dự kiến thời gian phù hợp (ngày,
giờ), địa điểm tập huấn (trong nhà, ngoài trời). Lưu ý cần kiểm tra thông tin
dự báo thời tiết vào thời điểm dự kiến tổ chức, tránh trùng lặp với các sự
kiện lớn khác của địa phương.
- Xây dựng kế hoạch và trình lãnh đạo
có thẩm quyền phê duyệt.
V. XÂY DỰNG KẾ HOẠCH
TẬP HUẤN
Kế hoạch cần bảo đảm đúng thể thức của
một văn bản hành chính theo quy định của Nhà nước.
Nội dung bản Kế hoạch:
- Tên kế hoạch: “Tập huấn Kỹ năng an
toàn trong môi trường nước dành cho....”.
- Mục đích, yêu cầu: cần bám sát đối
tượng cần tập huấn và mục tiêu cần đạt được của khoá tập huấn.
- Nội dung cụ thể của khoá tập huấn:
nêu rõ nội dung lý thuyết và thực hành.
- Đối tượng tập huấn: số lượng học
viên mỗi khoá và đặc điểm đối tượng tham gia khoá tập huấn cần triệu tập
(độ tuổi, nghề nghiệp, mối quan hệ với trẻ em…), tổng số học viên cho
chương trình (nếu tổ chức nhiều khoá).
- Thời gian, địa điểm khoá tập huấn:
số khoá tập huấn, thời lượng mỗi khoá tập huấn, thời gian cụ thể diễn ra
khoá tập huấn. Lưu ý, để chương trình có sự tham gia đầy đủ và hiệu quả,
thời gian tổ chức tập huấn và thời gian ban hành kế hoạch cần đủ dài để các
bên sắp xếp công việc, lên kế hoạch tham gia chu đáo.
- Thành lập Ban Tổ chức
- Tổ chức thực hiện
+ Nêu rõ trách nhiệm, phần công việc
của các chủ thể tham gia tổ chức khoá tập huấn.
+ Nêu rõ các cơ quan thông tin
truyền thông mời dự đưa tin bài và nhiệm vụ của cơ quan thông tin truyền
thông. Lưu ý, để hoạt động thông tin, truyền thông đạt được mục tiêu, yêu
cầu đề ra, ban tổ chức cần chuẩn bị tờ thông tin để cung cấp cho cơ quan
thông tin truyền thông tại buổi lễ khai mạc.
+ Cử cán bộ làm đầu mối tiếp nhận
các thông tin để báo cáo ban tổ chức trong quá trình chuẩn bị, triển khai
khoá tập huấn.
VI. TRÌNH TỰ TRIỂN KHAI
CHƯƠNG TRÌNH TẬP HUẤN
1. Chương trình khai
mạc
- Đón tiếp đại biểu, học viên và cung
cấp tờ thông tin (nếu có báo chí tham gia) về khoá tập huấn: kéo dài 30 - 60
phút trước khi bắt đầu chương trình khai mạc.
- Ổn định tổ chức lớp đại biểu, học
viên về dự khoa tập huấn.
- Tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu, mục
đích của Khóa tập huấn.
- Phát biểu khai mạc của Ban Tổ chức.
- Phát biểu của đại biểu khách mời.
- Chụp ảnh lưu niệm Ban tổ chức, đại
biểu khách mời và học viên.
- Thời gian khai mạc: 15-30 phút.
2. Chương trình tập
huấn
- Chia học viên thành các nhóm 6-10
người/nhóm (đối với khoá tập huấn dành cho giảng viên và trẻ em với số
lượng 20 - 40 người/khoá).
- Phân công giảng viên và trợ giảng phụ
trách nhóm: tuỳ theo số nhóm để bố trí giảng viên, trong đó 01 giảng viên
phụ trách một nhóm không quá 10 người.
- Kiểm tra hiểu biết của học viên về
nội dung tập huấn thông qua đặt các câu hỏi và phát phiếu hỏi đã được
chuẩn bị trước.
- Tiến hành tập huấn theo kịch bản đã
xây dựng. Lưu ý đối với lớp đào tạo đối tượng học viên là trẻ em.
+ Dạy trẻ em lý thuyết: dùng tranh ảnh, các
hình ảnh động để minh hoạ, thực hành sử dụng áo phao, vật nổi, đặt tình
huống khi trẻ bị tụt chân xuống hỗ nước, ngã xuống ao, hồ .... hướng dẫn
kỹ năng và giải thích các nội dung cần giáo dục trẻ em.
Đưa ra các tình huống cụ thể nhằm
kích thích suy nghĩ dựa trên vốn kinh nghiệm hiểu biết của mình để giải
quyết vấn đề đặt ra có liên quan đến nội dung cần giáo dục trẻ.
Ngoài việc trò chuyện, quan sát tranh
ảnh, nghe kể chuyện, đọc thơ, làm thơ, hát múa... giáo viên/ trợ giảng
cần đặc biệt chú ý tổ chức tốt các trò chơi cho học viên, hoặc thông qua
diễn kịch, báo tường.... Đặc biệt qua trò chơi đóng vai các em có thể học
kĩ năng cần thiết nhanh chóng.
Thảo luận, đặt câu hỏi, giải đáp
thắc mắc.
+ Dạy trẻ em thực hành: kiểm tra động tác và
cả lớp góp ý. Cần bảo đảm đủ số lượng giảng viên và phụ trách giám sát,
hướng dẫn các em để bảo đảm chất lượng và an toàn cho lớp học.
Kết thúc tập huấn: có
nhận xét đánh giá (qua hỏi - đáp hoặc bảng đánh giá được in sẵn phát cho học
viên); Cảm
ơn, khen thưởng hoặc tuyên dương điển hình (nếu có). Đồng thời, giảng
viên cần có thông điệp chốt, dặn dò, nhắc nhở và kết thúc chương trình./.
CHƯƠNG 5
CÔNG TÁC TỔ CHỨC LỚP DẠY BƠI AN TOÀN CHO TRẺ EM
I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
KHI TỔ CHỨC DẠY BƠI AN TOÀN CHO TRẺ EM
1. Mục đích
- Phổ biến, tuyên truyền cho học kiến
thức an toàn trong môi trường nước lợi ích, tác dụng của học bơi.
- Hướng dẫn cho trẻ em kỹ năng bơi an
toàn, kỹ năng xử lý khi gặp tình huống nguy hiểm trong nước.
- Hướng dẫn cho trẻ em ý thức tự bảo
vệ mình và cứu người khác bị nguy hiểm trong môi trường nước cũng như sự
kiên trì, nỗ lực, quyết tâm, sự hứng thú, ham thích hoạt động dưới nước, góp
phần giáo dục các phẩm chất, tâm lý như: mạnh dạn, tự tin, vượt khó, tính kỷ
luật, yêu thích vận động, rèn luyện kỹ năng sống,...
2. Yêu cầu
- Trẻ em nắm vững được các kiến thức
an toàn trong môi trường nước để phòng tránh đuối nước; Biết bơi an toàn,
thực hành các kỹ năng an toàn trong môi trường nước; Biết kỹ năng cứu đuối
an toàn.
- Lớp dạy bơi phải được tổ chức khoa
học, đúng quy định đảm bảo yêu cầu về chuyên môn, an toàn tuyệt đối cho trẻ
em, tiết kiệm, hiệu quả, đạt mục tiêu về nâng cao sức khỏe và phòng tránh
đuối nước.
- Kế hoạch tổ chức lớp phải được thể
hiện rõ ràng, cụ thể về nội dung, phương pháp, hình thức và điều kiện
thực hiện.
II. CƠ SỞ VẬT CHẤT,
THIẾT BỊ VÀ NỘI QUY KHU VỰC DẠY BƠI
1. Bể bơi
- Kích thước không nhỏ hơn 6m x 12m
hoặc có diện tích tương đương. Đảm bảo mật độ ít nhất 01 học sinh/1m2 ở
khu vực nước nông (độ sâu dưới 01m) hoặc 01 học sinh/2m2 ở khu vực nước sâu
(độ sâu từ 1m trở lên).
- Đáy bể có độ dốc đều, không gấp
khúc, chênh lệch độ sâu không quá 1m đối với bể bơi có chiều dài từ 25m trở
lên hoặc không quá 0,5m đối với bể bơi có chiều dài nhỏ hơn 25m.
- Thành bể, đáy bể có bề mặt nhẵn,
mịn, dễ làm sạch. Mặt sàn khu vực bể bơi và khu vực xung quanh bằng phẳng,
không đọng nước, không trơn trượt.
- Nước không quá lạnh hoặc quá nóng,
nhiệt độ đảm bảo khoảng 30 độ C, mức nước có độ sâu phù hợp (mức nước trên
thắt lưng và không sâu quá vai của phần đông trẻ), nước đảm bảo các tiêu
chí an toàn về độ trong (nước trong nhìn thấy đáy bể), độ pH nước, độ dư
Chlorine theo quy định của chương trình (theo phụ lục đảm bảo chất lượng
nước bể bơi). Không gian khu vực bể bơi thoáng, đảm bảo ánh sáng.
2. Vùng nước mở (ao,
hồ, sông, bãi biển)
- Tổ chức dạy bơi ở vùng nước mở là
sử dụng hồ, ao (ao bơi) và bãi biển để tổ chức dạy bơi. Đảm bảo nguồn nước
sạch, trong không bị ô nhiễm, nước không chảy xiết.
- Hồ, ao bơi đảm bảo đáy bằng phẳng,
không có bùn, không có các dị vật gây nguy hiểm cho học sinh và giáo viên. Có
thể gia công các vật dụng như lồng tre, lưới… nhằm đảm bảo đáy hồ, ao bơi
bằng phằng và ổn định mực nước phù hợp cho từng độ tuổi, chiều cao của
học sinh (mực nước hồ, ao bơi không quá vai của học sinh). Có khoảng đất rộng,
bằng phẳng, thoáng mát cạnh hồ, ao bơi để khởi động và tập các động tác
trên cạn.
- Bãi biển rộng, độ dốc nhỏ, thoải
đều, đảm bảo mực nước khu vực dạy bơi không quá vai học sinh; dùng phao
nổi đánh dấu vùng nước an toàn và vùng nước nguy hiểm (nước sâu); có lưới
(rào chắn) xung quanh khu vực bơi và thường xuyên kiểm tra để đảm bảo hàng
rào chắc chắn giúp học sinh không bị trôi xa hoặc có rắn, cá bơi vào ở vùng
nước học sinh học bơi.
3. Thiết bị hỗ trợ tổ
chức dạy bơi
- Dụng cụ hỗ trợ dạy bơi: phao tập
nổi, chân vịt, phao tay, phao cầm tay, ván xốp…
- Trang phục học bơi của học sinh học
gọn, dễ vận động dưới nước. Tuy nhiên, giáo viên cũng nên cho học sinh mặc
trang phục hằng ngày khi học bơi và học kỹ năng an toàn trong môi trường
nước, nhằm giúp các em làm quen các tình huống đuối nước bất ngờ xảy ra.
- Thiết bị, phướng án quản lý, vận hành
hoạt động của bể bơi đảm bảo quy định về vệ sinh, an toàn, đảm bảo các yêu
cầu chuyên môn.
- Chuẩn bị các dụng cụ, thuốc cấp cứu
để kịp thời xử lý các tình huống học sinh tai nạn, rủi ro xảy ra.
4. Công tác cứu hộ
- Nhân viên cứu hộ: Nhân viên cứu hộ
thường trực khi có người tham gia bơi, học bơi. Số lượng nhân viên cứu hộ
phải bảo đảm ít nhất 200m2 mặt nước bể bơi/01 nhân viên, trường hợp có đông
người tham gia học bơi phải bảo đảm ít nhất 50 người bơi/01 nhân viên cứu hộ
trong cùng một thời điểm. Đối với lớp dạy học sinh học bơi ban đầu, số
lượng nhân viên cứu hộ được bố trí nhiều hơn tỉ lệ nêu trên để đảm bảo an
toàn cho học sinh.
- Sào cứu hộ được đặt trên thành bể ở
các vị trí thuận lợi dễ quan sát và sử dụng, có độ dài 2,5m, sơn màu đỏ -
trắng. Mỗi bể bơi phải có ít nhất 06 sào.
- Phao cứu sinh được đặt trên thành bể
ở vị trí thuận lợi khi sử dụng. Mỗi bể bơi phải có ít nhất 06 phao.
- Ghế cứu hộ được đặt trên thành bể ở
vị trí thuận lợi cho nhân viên cứu hộ dễ quan sát, có chiều cao ít nhất 1,5m
so với mặt bể.
5. Quy định an toàn khu
vực dạy bơi
Tại bể bơi và địa điểm dạy bơi ở vùng
nước mở, bắt buộc phải có bảng nội quy và được phổ biến cho học sinh. Căn cứ
vào đặc thù của từng địa phương, vùng, nhà trường để xây dựng nội quy bể
bơi phù hợp theo gợi ý sau:
- Quy định về đối tượng tham gia.
- Quy định về thời gian làm việc của
bể.
- Quy định về trách nhiệm, quyền lợi
của người tham gia.
- Quy định trang phục hồ bơi.
- Quy định các hành vi cấm thực hiện để
đảm bảo an toàn.
- Các thông tin về giá vé, giá thuê
đồ,…
Ngoài ra cần nhấn mạnh các quy định
khác, cụ thể:
- Không tổ chức dạy bơi vào thời điểm
từ 11h - 13h trong ngày. Thời gian tối đa mỗi buổi dạy 90 phút, trong đó
thời gian dưới nước không quá 60 phút.
- Có biển cảnh báo khu vực dành cho
người không biết bơi (có độ sâu từ 1m trở xuống), khu vực dành cho những
người biết bơi, khu vực cấm nhảy cắm đầu (có độ sâu ít hơn 1,4m)
- Có hướng dẫn quy trình hoạt động
trong trường hợp khẩn cấp
- Trước khi bơi phải tiến hành khởi
động theo quy định.
III. TỔ CHỨC LỚP DẠY
BƠI AN TOÀN CHO TRẺ EM
1. Quy định về số lượng
giáo viên, học sinh
- Đảm bảo 01 giáo viên phụ trách từ 7
đến 10 học sinh. Mỗi lớp học bơi khuyến khích tuyển sinh từ 20 - 30 học
sinh, đảm bảo có từ 2 - 3 giáo viên.
- Trong lớp học bơi cần phân thành các
nhóm đảm bảo phù hợp, nâng cao hiệu quả giảng dạy, thường có 2 cách phân nhóm:
Cách 1. Phân nhóm hỗn hợp:
Bao gồm học sinh khá và học sinh yếu để các em học tập lẫn nhau. Tận dụng
những học sinh có tố chất, kỹ thuật tốt hỗ trợ các học sinh yếu.
Cách 2. Phân nhóm theo trình
độ kỹ thuật: Giúp học sinh thích ứng với bài tập và lượng vận động khác
nhau. Ngoài ra cần dựa vào mức độ tiếp thu kỹ thuật nhanh hay chậm của học
sinh để định kỳ điều chỉnh các nhóm nhằm phát huy tính tích cực của học
sinh.
Cách phân chia nhóm trên có mặt tích
cực và hạn chế nhất định, vì vậy cần căn cứ vào tình hình cụ thể về số
lượng và đặc điểm học sinh để vận dụng linh hoạt. Nếu tổ chức theo nhóm
tuổi, nên phân theo các độ tuổi: 7- 8; 8 - 9; 9 - 10.. Nếu lớp có nhiều lứa
tuổi chênh lệch nên phân tổ nhóm theo tuổi, theo khả năng vận động của học
sinh.
2. Tuyển sinh, lập danh
sách
- Nhà trường (đơn vị) xây dựng kế
hoạch tổ chức dạy bơi và thông báo cho phụ huynh học sinh để tự nguyện
đăng ký cho con, em tham gia các lớp học bơi do trường tổ chức hoặc phối
hợp tổ chức.
- Khi đăng ký cho học sinh học bơi cần
khai đầy đủ thông tin về tính trạng sức khẻo, bệnh lý để đảm bảo tuyệt đối
an toàn trong quá trình học bơi và tham gia các hoạt động vận động, vui
chơi, bơi lặn trong môi trường nước.
- Học sinh có tiền sử về bệnh tim,
lao phổi, bệnh hô hấp mãn tính, bệnh viêm thận, động kinh, viêm tai, viêm da
cần có chỉ định của bác sĩ khi tham gia lớp học bơi.
- Đăng ký học bơi bằng hình thức nộp
đơn và cam kết tự nguyện cho con em mình tham gia học bơi. (theo mẫu đơn
tại Phụ lục).
3. Các bước tiến hành
tổ chức lớp dạy bơi an toàn
3.1. Trước khi lên lớp
- Hướng dẫn học sinh các biện pháp đảm
bảo vệ sinh, an toàn.
- Kiểm tra sức khỏe của học sinh trước
khi vào buổi học, chú ý theo dõi sức khỏe học sinh để có phương án xử trí
phù hợp.
- Chuẩn bị đầy đủ các thiết bị, dụng
cụ và phương án sơ cấp cứu, đồng thời giáo viên nêu các tình huống phát
hiện đuối nước có thể xảy ra và biện pháp khắc phục để học sinh có những hiểu
biết về kỹ thuật cứu đuối an toàn cần thiết.
3.2. Trước khi xuống
nước
- Kiểm tra kỹ bể bơi và các điều
kiện đảm bảo vệ sinh, an toàn.
- Tổ chức phân nhóm tập luyện và phân
công giáo viên phụ trách từng nhóm.
- Hướng dẫn học sinh khởi động trước
khi xuống nước, hướng dẫn cách xuống nước và lên bờ, thực hiện nghiêm túc
các nguyên tắc an toàn.
- Chuẩn bị nhân lực, phương tiện và
phương án cứu đuối.
3.3. Trong quá trình tổ
chức dạy bơi
- Tùy thuộc chiều cao, sức khỏe, tình
trạng (mức độ sợ nước của học sinh) và mực nước trong bể để phân nhóm tổ
chức dạy bơi phù hợp đối tượng.
- Thường xuyên kiểm tra sĩ số lớp học,
phát hiện, xử lý kịp thời nếu sự cố xảy ra.
- Giáo viên dạy bơi chọn vị trí phù
hợp, thuận tiện cho việc quan sát toàn bộ học sinh trong lớp. Đặc biệt là
học sinh cá biệt, có thể chỉ định số học sinh khá giúp đỡ học sinh yếu. Chú
ý ngăn ngừa các sự cố có thể xảy ra tai nạn ở ranh giới mực nước nông và
sâu.
- Tổ chức lớp học một
cách nghiêm túc, chặt chẽ, kỷ luật và trật tự.
3.4. Kết thúc giờ học
Kiểm tra sĩ số, nắm bắt tình hình sức
khỏe, khả năng tiếp thu kỹ thuật, đánh giá nhận xét giờ học, giao nhiệm vụ
về nhà cho các em.
4. Nội dung kiểm tra
- Kiểm tra kiến thức an toàn nước - kỹ
năng cứu hộ
- Kiểm tra kỹ năng bơi 25m.
- Kiểm tra kỹ năng nổi ngửa/đứng nước
chân không chạm đáy 90s.
5. Quy trình kiểm tra
- Khóa học bơi sẽ tiến hành kiểm tra
kiến thức và kỹ năng của tất cả các em trước và sau khi kết thúc khóa học.
Với những em chưa đạt, sẽ phải học học bổ sung và tổ chức kiểm tra lại lần
2.
|
|
Kiểm
tra trước khi
giảng dạy
|
Kiểm
tra sau khi kết
thúc khóa học
|
Kiểm
tra lần 2
|
|
Số lần
|
01
|
01
|
01
|
|
Thời điểm
|
Buổi học đầu tiên, trước khi bắt đầu
giảng dạy
|
Sau khi kết thúc khóa
học 15 buổi
|
Sau khi đã học bổ
sung
|
|
Số lượng
|
Tất cả học sinh trong
danh sách lớp
|
Tất cả học sinh trong
danh sách lớp
|
Các em học bổ sung
|
|
Phương thức tiến hành
|
Kiểm tra lần lượt
từng em, gọi theo danh sách
|
Kiểm tra lần lượt
từng em, gọi theo danh sách
|
Kiểm tra lần lượt
từng em, gọi theo danh sách
|
|
Biểu mẫu
|
Biểu mẫu 1, phần “Kiểm tra đầu khóa
học”
|
Biểu mẫu 1, phần “Kiểm tra cuối khóa”
|
Biểu mẫu 1, phần “Kiểm tra lần 2”
|
|
Tiêu chí
|
Đạt các tiêu chí về
lý thuyết và thực hành bơi tối thiểu 25m và nổi ngửa 90 giây
|
Căn cứ vào kết quả kiểm tra lần 1, giáo
viên có nhiệm vụ tổng hợp các em chưa tham gia kiểm tra lần 1 (nguyên nhân
ốm đau, bận việc gia đình, đi học, đi thi… và các em chưa đạt các tiêu chí
nội dung kiểm tra của lần 1). Thông báo cho phụ huynh và nhà trường trước khi
kết thúc khóa học và có kế hoạch tổ chức cho các em học bổ sung và tham gia
đợt kiểm tra lần 2. Thời gian kiểm tra lần 2 cách lần 1 khoảng 02 tuần.
- Kết thúc khóa học cấp giấy chứng nhận
cho học sinh.
CHƯƠNG 6
NỘI DUNG DẠY BƠI AN TOÀN CHO TRẺ EM
I. NỘI DUNG GIẢNG DẠY
LÝ THUYẾT
1. Kiến thức về nội quy
khi học bơi
- Tắm tráng trước khi xuống bể bơi.
- Giữ gìn vệ sinh khi ở dưới nước và
xung quanh khu vực bể bơi.
- Không chạy nhảy, đùa giỡn, xô đẩy
quanh khu vực bể bơi.
- Không mang đồ ăn, thức uống vào khu
vực bể bơi.
- Không nhảy xuống nước hoặc lặn sâu
khi chưa được hướng dẫn.
- Tuân thủ nội quy cứu hộ và không
được sử dụng thiết bị cứu hộ tùy tiện.
2. Kiến thức về lợi ích
và tác dụng của học bơi an toàn đối với học sinh
- Lợi ích về sức khỏe thể chất: Giúp
phát triển toàn diện hệ cơ, xương khớp và chiều cao; Tăng cường hệ hô hấp,
tim mạch và sức bền; Giảm nguy cơ béo phì, cải thiện sức khỏe tổng thể;
Rèn luyện khả năng phối hợp vận động linh hoạt.
- Lợi ích về tinh thần: Giúp giảm căng
thẳng, tạo cảm giác thư giãn; Tự tin, đặc biệt với học sinh nhút nhát; Rèn
luyện ý chí, tính kỷ luật và sự kiên trì.
- Lợi ích bảo vệ tính mạng: Khi có kỹ
năng bơi an toàn sẽ giúp phòng, chống đuối nước (nhận biết và phòng ngừa
khi gặp khu vực có nguy cơ đuối nước; biết cách xử lý, thoát hiểm khi gặp
tình huống nguy hiểm dưới nước; biết cách hỗ trợ cứu hộ cơ bản cho người gặp
nạn). Là một kỹ năng sinh tồn quan trọng bảo vệ tính mạng bản thân.
3. Kiến thức về đuối
nước, nguyên nhân đuối nước
3.1. Khái niệm
Đuối nước là tình trạng cơ thể bị ngạt
do nước tràn vào đường hô hấp, khiến nạn nhân không thể thở và dẫn đến thiếu
oxy. Nếu không được cấp cứu kịp thời, đuối nước có thể gây tổn thương não
nghiêm trọng và dẫn đến tử vong hoặc để lại di chứng lâu dài.
3.2. Nguyên nhân
- Không biết hoặc yếu về kỹ năng bơi
an toàn: Không biết bơi hoặc bơi yếu dễ bị chìm khi rơi xuống nước.
- Thiếu sự giám sát: Chơi đùa gần
ao, hồ, sông, suối hoặc bể bơi (đặc biệt đối với học sinh tiểu học) mà
không có người lớn giám sát dễ gặp tai nạn.
- Chủ quan khi bơi: Tự tin quá mức
khi bơi, bơi xa bờ hoặc bơi ở khu vực nguy hiểm mà không có phương án
an toàn.
- Dòng nước chảy xiết, thời tiết xấu:
Bơi ở sông, biển có dòng chảy mạnh hoặc thời tiết bất lợi (mưa to, gió lớn,
sóng cao, trời tối) dễ bị mất kiểm soát.
- Tai nạn khi tham gia giao thông đường
thủy: Di chuyển bằng thuyền, đò, cano, tàu thủy… mà không mặc áo phao,
khi phương tiện bị lật, chìm dễ gây đuối nước.
- Co rút cơ, kiệt sức khi bơi: Bơi
lâu, gặp nước lạnh đột ngột, vận động quá sức hay không khởi động trước khi
bơi có thể bị chuột rút, mất sức và chìm.
- Tai nạn bất ngờ: Bất ngờ bị trượt
chân ngã xuống nước, gạp tai nạn giao thông đường thủy, rơi xuống nước
cũng dẫn đến đuối nước.
- Sử dụng rượu bia hoặc chất kích
thích: Sử dụng rượu bia, chất kích thích có thể bị mất kiểm soát, phản xạ
chậm và bị rơi xuống nước.
4. Kiến thức về nhận
biết nơi nguy hiểm gây đuối nước cho học sinh
4.1. Nguy cơ đuối nước
ở sông, suối, ao, hồ
- Sông, suối có dòng chảy xiết: Dòng
nước mạnh có thể cuốn trôi ngay cả những người bơi giỏi.
- Hồ, ao tù: Tuy có vẻ tĩnh lặng nhưng
thường có đáy bùn lầy, dễ bị sụt lún.
- Hồ thủy điện, hồ chứa nước: Những
nơi này có mực nước thay đổi thất thường, nhiều khu vực nước sâu và dòng
chảy bất ngờ do xả lũ.
4.2. Nguy cơ đuối nước
ở trên biển và khu vực ven biển
- Vùng có dòng chảy xa bờ (rip current):
Là dòng nước mạnh kéo người bơi ra xa bờ, rất nguy hiểm nếu không biết cách
thoát ra.
- Sóng lớn và vùng nước xoáy: Có thể
cuốn người xuống đáy biển hoặc làm mất kiểm soát khi bơi.
- Khu vực gần bãi đá ngầm: Sóng đánh
mạnh có thể làm người bơi va đập vào đá.
- Bơi khi ở khu vực không có nhân viên
cứu hộ hoặc bơi một mình khi trời tối, hoặc thời tiết xấu có nguy cơ đuối
nước cao.
4.3. Nguy cơ đuối nước
ở kênh, rạch và cống thoát nước
- Dòng chảy mạnh và hẹp: Dễ cuốn người
vào lòng cống.
- Cống nước sau mưa: Dễ gây trơn
trượt và cuốn trôi người nếu bị ngã vào cống.
4.4. Nguy cơ đuối nước
ở bể bơi
- Bể bơi không có nhân viên cứu hộ:
Khi xảy ra sự cố, không có người ứng cứu kịp thời.
- Bể bơi gia đình không có rào chắn:
Trẻ nhỏ dễ bị rơi xuống nước mà không ai phát hiện.
- Nguy cơ đuối nước ở giếng nước và
hố công trình.
- Giếng nước sâu: Trẻ em dễ rơi xuống
nếu không có nắp đậy an toàn.
- Hố nước ở công trình xây dựng:
Thường có bùn lầy, rác thải và nước sâu, nguy hiểm nếu vô tình rơi vào.
5. Kiến thức giáo dục
phòng, chống đuối nước cho học sinh
5.1. Lựa chọn địa điểm
bơi an toàn
- Ưu tiên chọn bơi tại các bể bơi có
nhân viên cứu hộ và trang bị đầy đủ thiết bị an toàn.
- Khi bơi ở sông, hồ, biển,… cần chọn
khu vực có biển báo an toàn và có người giám sát.
- Không bơi ở nơi có dòng chảy xiết,
vùng nước sâu nguy hiểm hoặc khu vực có cảnh báo cấm bơi.
5.2. Kiểm tra sức khỏe
trước khi bơi
- Không bơi khi đang mệt mỏi, căng
thẳng, vừa ăn no hoặc khi cơ thể cảm thấy không khỏe.
- Nếu có bệnh lý về tim mạch, huyết áp
hoặc hô hấp, cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi bơi.
5.3. Khởi động trước
khi xuống nước
- Thực hiện các động tác khởi động làm
nóng cơ thể, giúp cơ thể dễ thích nghi với môi trường nước và giảm nguy cơ
chuột rút khi bơi.
- Chú ý làm quen với nhiệt độ nước để
tránh sốc nhiệt.
5.4. Tuân thủ các quy
định an toàn
- Luôn tuân theo hướng dẫn của nhân
viên cứu hộ và các quy định tại bể bơi hoặc khu vực bơi.
- Không chạy nhảy, xô đẩy ở khu vực
bể bơi.
- Không lặn sâu hoặc bơi xa nếu kỹ
năng bơi còn yếu.
- Tuyệt đối không trực tiếp cứu bạn bị
đuối nước để tránh đuối nước tập thể.
5.5. Không bơi một mình
ở nơi vắng người
- Khi đi bơi, nên có bạn bè hoặc người
thân đi cùng để hỗ trợ trong trường hợp khẩn cấp.
- Học sinh nhỏ tuổi khi bơi luôn cần
người lớn giám sát trong suốt thời gian bơi.
- Không tự ý rủ nhau đi bơi, tắm khi không
có sự đồng ý và giám sát của người lớn.
5.6. Biết cách xử lý
khi gặp sự cố dưới nước
- Giữ bình tĩnh khi gặp tình huống
nguy hiểm, không vùng vẫy hoảng loạn.
- Nếu cảm thấy đuối sức, hãy tìm cách
nổi lên mặt nước, hít thở sâu và kêu gọi sự giúp đỡ.
- Học cách cứu hộ cơ bản nhưng không
nên cứu người khi không có kỹ năng, thay vào đó hãy tìm cách gọi người trợ
giúp.
5.7. Sử dụng trang bị
hỗ trợ khi cần thiết
- Sử dụng phao bơi hoặc áo phao để
đảm bảo an toàn khi kỹ năng bơi còn yếu.
- Mặc áo phao khi bơi ở biển hoặc
sông hồ.
5.8. Chú ý đến thời
tiết và môi trường nước
- Không bơi khi có dấu hiệu thời tiết
xấu như giông bão, sóng lớn hoặc nước đục ngầu.
- Không bơi vào buổi trưa nắng gắt để
tránh bị mất nước hoặc say nắng.
II. NỘI DUNG GIẢNG DẠY
THỰC HÀNH
1. Làm quen môi trường
nước
Trước khi tiến hành dạy bơi, dạy các
kỹ năng an toàn trong môi trường nước giáo viên cần dạy các em các bước làm
quen an toàn với môi trường nước, vì phần nhiều học sinh ban đầu thường sợ
nước, do đó việc hướng dẫn, giúp các em tập làm quen với nước, đùa nghịch,
ngụp lặn được trong môi trường nước sẽ hỗ trợ hiệu quả trong việc dạy bơi
và các kỹ năng an toàn cho học sinh.
2. Dạy kỹ thuật bơi
- Bơi ếch và bơi trườn sấp là một
trong hai kỹ thuật bơi phổ thông áp dụng cho các đối tượng bắt đầu học
bơi. Trong Chương trình này sẽ tập trung vào nội dung hướng dẫn giảng dạy
kỹ thuật bơi ếch, vì đây là kỹ thuật bơi tương đối đơn giản giúp học
sinh dễ tiếp thu, thực hiện.
- Nhịp độ các chu kỳ động tác bơi ếch
có sự giãn cách rõ rệt và tiết kiệm sức, học sinh có thể nhanh chóng bơi
được dài hơn... Ngoài ra, việc phối hợp động tác giữa chân, tay, tư thế
thân người và cách thở của kiểu bơi ếch là nền tảng tốt nhất để các em có
khả năng sáng tạo thực hành nhiều kiểu bơi tự do khác.
Hoàn thành khóa học, các em sẽ đạt được
yêu cầu:
- Biết kỹ thuật bơi và bơi được ít
nhất 25m
- Biết kỹ năng đứng nước, nổi ngửa
được ít nhất 90 giây
Đây được coi là biết bơi ban đầu. Để
nâng cao kỹ năng bơi cũng như thành thạo các kỹ năng an toàn trong môi
trường nước thì các em có thể tham gia học bơi ở các khóa học bơi nâng cao
tiếp theo.
3. Dạy kỹ năng đứng
nước, nổi nước
- Thực tế, khi đã thực hành tốt kỹ
thuật bơi, nhưng không có nghĩa học sinh có thể đứng hoặc nổi được trong
nước khoảng thời gian dài và có thể đứng và nổi được với mọi tư thế thân
người (nổi ngửa hoặc nổi sấp).
- Đứng nước và nổi ngửa là hai kỹ
năng cần thiết và an toàn nhất khi học bơi, bởi vì hai tư thế nổi nước này
giúp học sinh vừa quan sát được xung quanh, vừa kiểm soát được hơi thở
của mình và chịu đựng được dưới nước trong khoảng thời gian nhất định để chờ
người đến cứu khi gặp sự cố.
- Kỹ năng nổi nước là một hình thức
nghỉ ngơi tích cực, không mất sức như khi bơi, giúp người bơi nghỉ
ngơi giữa quãng, rồi lại có thể tiếp tục bơi sau khi đã thấy hết mệt. Thời
gian thực hiện kỹ năng đứng nước, nổi ngửa được ít nhất 90 giây là điều
kiện tối thiểu giúp học sinh chờ người đến hỗ trợ ứng cứu khi gặp tai nạn,
rủi do trong môi trường nước.
- Trong nhiều tình huống không có sự
hỗ trợ, ứng cứu kịp thời, để thoát hiểm các em phải có kỹ năng thuần thục
hơn, do đó giáo viên cần khuyến khích các em tích cực, thường xuyên luyện
tập để nâng cao khả năng đứng nước, nổi ngửa trong nước.
4. Dạy kỹ năng lặn nước
- Lặn dưới nước là kỹ năng cần thiết
trong quá trình dạy bơi cho học sinh, giúp các em tự biết cách thoát hiểm,
phòng, chống đuối nước. Bởi vì, khi bất ngờ bị rơi xuống nước, toàn thân
người sẽ bị chìm xuống nước, học sinh sẽ bị mất phương hướng, có thể dẫn đến
hoảng loạn, hô hấp cũng trở nên khó khăn. Vì vậy dạy cho học sinh tập kỹ
năng lặn nước chính là giúp các em làm quen với độ sâu của nước và làm quen
với tình huống bị rơi xuống nước, giúp các em chủ động trong việc thoát
hiểm.
- Hướng dẫn kỹ năng lặn nước trong
chương trình dạy bơi ban đầu được thực hiện từ những động tác ngụp nước,
làm quen với nước ở độ sâu tăng dần (mức nước ngang ngực, tăng dần lên mực
nước cao ngang vai,…). Khi học sinh biết bơi thì học lặn nước ở mực nước
sâu ngập đầu và di chuyển dưới nước.
5. Dạy kỹ năng di
chuyển xoay tư thế thân người trong nước
Dạy học sinh kỹ năng xoay chuyển tư thế
thân người từ tư thế sấp sang tư thế ngửa và ngược lại; từ tư thế nổi
ngửa, nổi sấp sang tư thế đứng nước và ngược lại, kỹ năng này giúp cho học
sinh linh hoạt vận dụng các tư thế phù hợp, an toàn trong môi trường nước
để xử lý các tính huống xảy ra trong khi bơi như: gặp chướng ngại vật, xử
lý khi bị người khác bấu víu, khi bơi quay vòng (quay lại), gặp sóng to,
nước xoáy… Đặc biệt, trong trường hợp bất ngờ bị rơi xuống nước, nếu học sinh
đã thuần thục kỹ năng di chuyển tư thế thân người trong nước sẽ không bị
hoảng loạn, không bị sặc nước mà tự tin xoay tư thế thân người để nổi ngửa
hoặc đứng nước.
6. Dạy kỹ năng thoát
hiểm trong môi trường nước
- Môi trường nước là môi trường đặc
thù, vì vậy khi học sinh tham gia bơi, lội dưới nước tiềm ẩn nhiều rủi
ro, có thể xảy ra tai nạn từ các nguyên nhân như: bị chuột rút, khi cơ thể
nhiễm lạnh, mệt mỏi quá sức, bị chấn thương, khi gặp sóng to, gặp vùng
nước xoáy, bị bạn bơi cùng bấu víu, .…nếu các em không có kiến thức, kỹ
năng thoát hiểm sẽ dẫn đến nguy cơ tử vong đuối nước rất cao, kể cả khi
biết bơi giỏi. Vì vậy, cùng với việc học kỹ thuật bơi, giáo viên cần dạy
cho học sinh thực hành các kỹ năng an toàn thoát hiểm từ đơn giản đến phức
tạp tùy thuộc vào trình độ, khả năng thực hành kỹ năng bơi của các em.
- Dạy các em kỹ năng tự cứu thông qua
việc kết hợp các kỹ năng đứng nước, nổi ngửa, lặn nước kết hợp với kỹ
năng di chuyển tư thế thân người và học bơi tự cứu để có thể xử lý tình
huống bất ngờ xảy ra khi đang bơi hoặc bất ngờ bị rơi xuống nước để giúp
các em có thể tự cứu mình.
7. Dạy kỹ năng cứu đuối
an toàn
- Trong thực tế, có rất nhiều học sinh
tự tin vào bản thân vì nghĩ mình bơi giỏi, nên khi gặp tình huống bạn
bị đuối nước đã vội vàng nhảy xuống nước cứu bạn. Đây là một trong những
sai lầm và là nguyên nhân dẫn đến nhiều vụ đuối nước tập thể làm tử vong
nhiều người.
- Cứu đuối an toàn giáo viên cần phải
chú trọng, trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng giúp học sinh đảm bảo tuyệt
đối an toàn cho chính mình khi thực hiện hành động cứu đuối người khác. Vì
khi bị đuối nước, người đuối nước thường hoảng loạn, giãy giụa, bấu víu rất
mạnh, nếu thực hiện cứu đuối trực tiếp hoàn toàn có thể dẫn đến cả người bị
đuối và người cứu đuối cùng kéo nhau chìm dưới nước. Hoặc ngay cả khi
thực hiện việc cứu đuối gián tiếp từ trên bờ nhưng không đúng phương
pháp người cứu đuối cũng có thể bị kéo theo xuống nước. Vậy nên, việc dạy
cho học sinh cách cứu đuối an toàn là nội dung quan trọng trong chương trình
dạy bơi an toàn cho học sinh.
- Trong chương trình dạy bơi ban đầu
chủ yếu tập trung dạy học sinh kỹ năng cứu đuối an toàn: Biết cách hô hoán,
tìm kiếm, kêu gọi người xung quanh trợ giúp, chỉ thực hiện cứu đuối gián
tiếp (dùng các vật nổi, vật nối một cách phù hợp), tuyệt đối không trực
tiếp nhảy xuống nước cứu.
CHƯƠNG 7
BÀI TẬP GIẢNG DẠY BƠI AN TOÀN CHO TRẺ EM
Trình tự giảng dạy

I. BÀI TẬP GIẢNG DẠY
LÀM QUEN VỚI NƯỚC
1. Khởi động (thực hiện
trong tất cả các buổi học bơi)
1.1. Mục đích
- Giúp linh hoạt các
khớp, đề phòng chấn thương, chuột rút…
- Giúp học sinh thích ứng
dần với các hoạt động trong môi trường nước; khắc phục tâm lý sợ nước, xây
dựng hứng thú khi học bơi.
1.2. Nội dung
- Khởi động chung: Sử dụng các bài tập
phát triển toàn diện các bộ phận cơ thể thực hiện từ 7 - 8 động tác (3 - 4
x 8 nhịp). (Hình 1)
- Khởi động chuyên môn: Sử dụng các bài
tập nhằm linh hoạt khớp, các bài tập có hình thức gần giống với các hoạt
động, vận động dưới nước. Thực hiện quay các khớp từ nhỏ đến lớn, từ trên
xuống dưới, từ ngoài vào trong.
- Bài tập ép dẻo: Ép vai, cổ chân,
xoạc ngang, xoạc dọc…
- Bài tập tay, chân các kiểu bơi trườn
sấp, bơi ngửa, bơi ếch (3 x 30 đến 40 lần).
- Các bài tập chạy, nhảy nhẹ nhàng (hình
1 và hình 2).

2. Lên, xuống (ra vào)
bể an toàn
2.1. Lên, xuống bể bằng
cầu thang
- Xuống bể: Khi bước
xuống bể hay lên khỏi bể, học sinh luôn chú ý hướng mắt nhìn cầu thang, hai
tay nắm lấy tay vịn cầu thang hoặc dang tay để lấy thăng bằng, thận trọng đi
chậm, chân rà theo mép bậc thang, bước từng bước chậm theo các bậc.
- Lên bể: Tay bám vào cầu thang, học
sinh đi chậm từng bước, vừa đi vừa quan sát các bậc thang thận trọng bước
lên thành bể (hình 3 và hình 4).

2.2. Xuống bể, lên bể
an toàn ở tư thế ngồi từ mép nước
Hai tay đạt về một bên, gần nhau trên
thành bể, xoay để úp hướng bụng vào thành bể và từ từ hạ người xuống nước.
Nếu nước ngập đến cổ mà chân vẫn chưa chạm đáy thì lên lại thành bể bằng
cách đá mạnh hai chân, đẩy thẳng hai tay và xoay lưng hướng vào thành bể để
đặt mông lên thành bể (hình 5 và 6).

3. Bài tập làm quen với
nước (buổi tập 01 đến 05)
Làm quen với môi trường nước là những
kỹ năng đầu tiên trẻ phải thực hiện khi học bơi. Kỹ năng tuy đơn giản,
nhưng lại giúp học sinh tự tin khi tiếp xúc với môi trường nước, là nền tảng
cho việc học thực hành các động tác kỹ năng bơi sau này.
Có nhiều cách để dạy học sinh“làm
quen với nước”, các bài tập sau đây giúp các em dễ tiếp cận với nước,
thích nghi chuyển từ trạng thái tĩnh sang trạng thái động, chuyển từ vận
động trên cạn xuống vận động trong nước và từng bước thích nghi với các bài
tập đòi hỏi sự nỗ lực của cơ bắp.
3.1. Nhóm bài tập di
chuyển trong nước
Bài tập 1: Ngồi thành
bể đập chân trong nước: Đây là bài học đầu tiên cần chú trọng khi dạy các em làm
quen với nước (Hình 7).

Hình
7
Bài tập 2: Tay bám
thành đi quanh bể:
Hướng dẫn các em bám tay vào thành bể bước đi bằng cách trượt dài giúp các
em dần làm quen với nước, bớt lo sợ khi ở dưới nước (hình 8).

Hình
8
Bài tập 3: Nắm tay nhau
đi trong nước:
Nắm tay nhau thành hàng ngang hoặc thành vòng tròn đi trong nước, di chuyển
tiến lùi, sang phải, sang trái. Đi một mình hai tay xoa nước để tạo sự cân
bằng của cơ thể trong nước hoặc một tay quạt nhẹ nhàng, (hình 9).

Hình
9
Thực hành:
- Học sinh xếp thành một hàng ngang và điểm
số 1-2, nắm tay nhau, số 1 nằm úp hoặc ngửa để số 2 kéo đi sau đó làm
ngược lại.
- Di chuyển vòng tròn: Học sinh nắm tay
nhau tạo thành vòng tròn và di chuyển trong nước.
Bài tập 4: Đi lại trong
nước cùng với phao: Ban
đầu cho học sinh đi lại trong nước với hai phao, sau khi quen dần, giáo viên
cho các em thực hiện với một phao và cuối cùng đi trong nước không cần phao
(hình 10 và hình 11).

Bài tập 5: Tiến, lùi,
nhào vào trong nước:
Đi trong nước, tiến về phía trước, sau đó là đi lùi lại, thực hiện ở khu
vực nước ngang ngực nâng dần nước cao ngang vai (hình 12 và hình 13).

Bài tập 6: Tạo hứng thú
với nước: Cho
các em đập, vẫy tay trong nước để làm tung tóe nước hoặc múc nước đổ lên
đầu, tạo trò chơi giúp các em hứng thú, dần làm quen với nước, không sợ
nước và yêu thích vận động trong nước hơn.
Bài tập 7: Nhảy lên
nhảy xuống tay vẫn giữ trên thành bể hoặc cầm phao: Cho học sinh bám hai
tay vào thành bể, hoặc cầm phao, giáo viên hướng dẫn để các em nhảy lên,
xuống cho chìm đến phần vai, sau đó là chìm toàn bộ phần đầu sẽ giúp cá em
dễ dàng ngụp lặn, đi, di chuyển trong nước.
3.2. Nhóm bài tập thở
cơ bản dưới nước
- Thở trong nước là kỹ thuật không thể
thiếu trong việc dạy bơi, giúp các em phối hợp nhịp nhàng với động tác kỹ
thuật bơi, duy trì được nhịp thở trong quá trình bơi để có thể bơi
được trong quãng thời gian dài.
- Cách thở cơ bản và tư thế thân người
phải được ưu tiên dạy đầu tiên. Khi bơi có thể thở ra bằng mũi hoặc bằng
miệng nhưng hít vào chỉ bằng miệng. Hít vào miệng phải ở trên mặt nước, nhờ
động tác ngẩng đầu, nghiêng đầu phối hợp với động tác tay và chân.
- Cách thở ở dưới nước khi bơi có giai
đoạn nhịn thở khác với bình thường là: Hít vào thở ra liên tục, thì khi bơi:
Hít vào- nhịn thở - thở ra - hít vào. Thời gian nhịn thở nhanh hay chậm phụ
thuộc khả năng phối hợp và tốc độ bơi.
Hướng dẫn các bài tập thở cơ bản:
Bài tập 1: Động tác giả
vờ rửa mặt bằng tay: Học sinh chụm hai bàn tay lấy nước và rửa mặt trong bể
bơi hoặc dùng ca nước đổ nước từ trên đầu xuống (hình 14 và hình 15).

Bài tập 2: Úp mặt xuống
nước thở ra bong bóng: Cho học sinh úp mặt xuống nước thổi ra bong bóng hoặc
thổi một quả bóng (vật nổi trên mặt nước) để làm quen, từng nước thở được
trong nước. Đối với học sinh sợ nước, cho úp mặt xuống nước và nín thở 5
-10 giây, (hình 16 và hình 17a; 17b).

Bài tập 3: Ngụp xuống
nước và thở trong nước
- Hụp xuống nước thổi
bong bóng và mở mắt
- Hụp xuống tập thở nước lên xuống
nhiều lần, nhanh dần.
- Hụp xuống nước thổi bong bóng 5 -10
giây.
- Thi xem bạn nào ngồi xuống đáy hồ
thổi bong bóng lâu nhất.

Hình
17b
Bài tập 4: Thở kiểu
bơi ếch và hoàn thiện cách thở dưới nước
- Thở kiểu bơi ếch tại
chỗ.
- Vừa di chuyển vừa thở kiểu bơi ếch
dưới nước.
- Hoàn thiện cách thở dưới nước, (hình
18).

Hình
18
* Lưu ý: Trong trường hợp học
sinh bị lạnh và không có hứng thú, giáo viên cho học sinh tập thở kết hợp với
di chuyển để cơ thể ấm lên và buổi học thêm sinh động, hấp dẫn, nâng dần độ
tự tin của các em.
3.3. Nhóm bài tập nổi
người trong nước
Nước có thể làm cơ thể mất thăng bằng.
Vì vậy, việc dạy học sinh kỹ năng đứng nước, nổi sấp, nổi ngửa và di
chuyển tư thế thân người trong nước giúp các em tự tin dưới nước trước khi học
các bài tập khác. Đồng thời khi bị rơi xuống nước các em sẽ bình tĩnh
thực hiện các kỹ năng đứng nước, nổi sấp, nổi ngửa và di chuyển tư thế
thân người để bơi vào bờ hoặc đẩy cơ thể lên mặt nước, đầu nhô lên trên
mặt nước giúp kiểm soát hơi thở và kêu cứu.
a. Kỹ năng nổi sấp
Bài tập 1: Tập nổi
sấp có điểm tựa: Đầu
tiên cho học sinh bám tay vào thành bể hoặc tập ở vùng nước nông, thả nổi
người ở tư thế nằmsấp. Bên cạnh đó sử dụng các biện pháp hỗ trợ từ người
khác hoặc phao (Hình 19)

Hình
19
Bài tập 2: Tập nổi
sấp không có điểm tựa
- Từ từ thả tay ra khỏi thành bể nổi
người ở tư thế nằm sấp.
- Thả nổi sấp 05 giây có trợ giúp của
giáo viên (phao).
- Động tác nổi sấp tư thế hình ngôi
sao.
- Động tác nổi sấp tư thế hình cây bút
chì.
- Động tác nổi sấp tư thế hình cây nấm.
(hình 20).

Hình
20
Bài tập 3: Lướt nước ở
tư thế nổi sấp
- Hai tay, hai chân duỗi thẳng tạo
thành hình thoi nhọn, hít sâu, hạ thấp người và nhẹ nhàng đạp chân lướt sấp
người trên mặt nước, khi cơ thể nổi ổn định thì bắt đầu thở ra chậm.
- Lúc lướt nước, tay chân và thân người
thẳng, không đập hoặc đạp chân. Có thể bắt đầu tập động tác với phao ở lưng
và phao ở tay.
- Thực hiện đúng động tác khi không có
phao.
- Thi xem ai nổi được lâu hơn và lướt
được xa nhất, (Hình 21).

Hình
21
* Lưu ý: Khi lần đầu học nổi
sấp, giáo viên cần chỉ dẫn cho học sinh cách đứng lên (Phục hồi) bằng cách
gập đầu gối, nâng đầu và đẩy tay xuống dưới. Tiếp tục lặp lại quá trình
này cho tới khi học sinh thực hiện thành công khi nổi sấp trên mặt trong
nước. (Hình 22).

Hình
22
b. Kỹ năng nổi ngửa
Bài tập 1: Bài tập nổi
ngửa ở vùng nước nông: Bắt đầu ở tư thế ngồi, hai tay để sau hông, hít thở sâu.
Bước đầu nhẹ nhàng (cố gắng không làm nước gợn sóng) để tránh nước tràn lên
mặt và giảm lực đẩy của nước theo chiều dọc sẽ cản trở việc nổi cơ thể
trên mặt nước. Ngả người ra sau cho đến khi vai và phía sau đầu ngập dưới
nước, đẩy hông lên phía mặt nước, mắt nhìn lên trời. Giáo viên có thể giúp
đỡ hoặc có sự hỗ trợ của phao để học sinh thực hiện động tác trong giai
đoạn này (hình 23).

Hình
23
Bài tập 2: Nổi ngửa có
phao hỗ trợ (Hình
24)

Hình
24
Bài tập 3: tập với các
tư thế nổi ngửa có phao hỗ trợ khác nhau (Hình 25)

Hình
25
Bài tập 4: Bài tập nổi
ngửa khi tăng dần độ sâu của nước: Thân người ở tư thế cằm nâng lên, cổ giữ
thẳng, mắt nhìn lên trời, bụng và hông nâng lên hướng mặt nước, tư thế cơ
thể hình ngôi sao, sau đó học sinh có thể làm động tác thoải mái với hai tay
đặt dọc theo thân người. Đầu tiên cho học sinh hai tay cầm phao, tiếp theo sau
đó cầm một phao. Các em không cần hỗ trợ của phao khi có thể tự làm nổi
toàn bộ cơ thể ở vùng nước sâu.
Bài
tập 5: Lấy lại thăng bằng từ quá trình làm nổi ngửa, (Hình 26)


Hình
26
Bài tập 6: Thực hiện
nổi ngửa không có điểm tựa
- Thả nổi không có điểm tựa: từ từ
thả tay ra khỏi thành bể nổi người ở tư thế nằm ngửa.
- Thả nổi ngửa 05 giây có trợ giúp
của giáo viên hoặc phao.
- Động tác nổi ngửa tư thế hình ngôi
sao.
- Động tác nổi ngửa tư thế hình cây
bút chì, (hình 27)

Hình
27
Bài tập 7: Động tác
lướt nước ngửa
Hai tay bám thành bể, co hai chân đặt
vào thành bể. Ngửa người, nâng hông sau đó đạp chân vào thành bể đẩy cơ thể
lướt ra, hai tay thẳng đặt dọc theo thân người, hai chân khép lại và duỗi
thẳng.
Khi mới tập lướt nước ở thư thế nổi
ngửa, giáo viên cho học sinh được sử dụng phao hỗ trợ đặt ở phần bụng
hoặc có thể dùng hai tay cầm phao, (hình 28).

Hình
28
4. Trò chơi thực hành
làm quen với nước
4.1. Trò chơi “Tên lửa”
Trò chơi này giúp học sinh rèn luyện
kỹ năng làm quen với nước, kỹ năng nổi và thăng bằng trên mặt nước. Khắc
phục tình trạng sợ nước ở học sinh mới học bơi, làm nền tảng cho kỹ thuật động
tác chân các kiểu bơi (nhất là kiểu đập chân trườn sấp). Giúp buổi học sinh
động, các em hứng thú trong quá trình học bơi.
- Chuẩn bị trò chơi: Giáo viên cho học sinh
đứng thành hàng ngang, hướng lưng vào thành bể, mặt hướng ra bể cách nhau một
sải tay, giáo viên đứng ngang hồ và quan sát.

Hình
29
- Luật chơi: Khi cơ thể bắt đầu rời
thành bể, yêu cầu tư thế toàn bộ thân người phải duỗi thẳng (tay duỗi thẳng
phía trên đầu, thân và chân cũng ở tư thế duỗi thẳng), không đập chân
hoặc quạt tay trong quá trình cơ thể di chuyển trong nước. Thành tích
được tính từ thành bể đến vị trí tay học viên dừng lại. Học sinh nào di
chuyển được khoảng cách xa nhất là người thắng cuộc.
- Tổ chức chơi: Giáo viên ra hiệu lệnh
chuẩn bị, tất cả học sinh co một chân đặt vào thành bể, đồng thời 2 tay chắp
hình mũi tên để thẳng phía trên đầu và hít 1 hơi dài. Sau đó giáo viên
thổi hồi còi thì tất cả học viên úp mặt, nín thở và co chân đạp mạnh để cơ
thể trôi theo lực đẩy, cho đến khi cơ thể hoàn toàn dừng lại. Giáo viên sẽ
xác định thành tích và công bố kết quả cho học sinh thắng cuộc. (Hình 29).
4.2. Trò chơi “Đi tìm
kho báu”
Giúp các em làm quen với nước, kiểm soát
hơi thở, ngụp lặn trong môi trường nước (Hình 30)

Hình
30
- Chuẩn bị
Sử dụng 50 vật nổi và 49 vật chìm
(để tránh trường hợp bằng điểm nhau). Các vật chìm, nổi có các hình thù và
màu sắc sinh động, tạo sự hứng thú cho học sinh (gọi là vật báu) được để ở
giữa bể, đảm bảo khoảng cách từ các vật báu đến vị trí 2 đội bằng nhau.
Mỗi đội cử từ 5 - 6 học sinh trở lên, khả năng bơi lặn của các em tương
đương nhau.
Đối với học sinh bắt đầu học bơi, kỹ
năng bơi còn yếu kho báu cần đặt ở khu vực có mực nước ngang ngực học sinh
Đối với học sinh có kỹ năng bơi tốt
kho báu có thể đặt ở vị trí nước sâu phù hợp để tập cho các em khả năng
bơi, ngụp, lặn dưới nước.
Trang phục: quần áo bơi. Để dễ phân
biệt được thành viên các đội, nên cho thành viên mỗi đội đội mũ bơi có mầu
khác nhau (không bắt buộc).
- Luật chơi
Trong quá trình chơi, chỉ khi đồng
đội của mình mang được báu vật về đích thì thành viên kế tiếp mới được
xuất phát để tiếp tục lấy vật báu mang về. Thành viên nào vi phạm luật
chơi thì vật báu thành viên đó mang về sẽ không được tính vào thành tích
của độ.
Khi nghe tín hiệu hết thời gian, các
đội phải dừng kết thúc cuộc chơi, trọng tài (giáo viên) sẽ kiểm đếm số vật
báu mỗi đội lấy được. Mỗi vật báu có thể được tính theo điểm để thuận
lợi trong việc phân định thành tích khi tổ chức từ 03 đội trở lên.
- Tổ chức chơi
Khi giáo viên hiệu lệnh bắt đầu, thành
viên của hai đội lần lượt di chuyển đến kho báu để lấy vật báu mang về đội
của mình. Hai đội thực hiện lần lượt trong khoảng thời gian 03 phút (tùy
theo trọng tài quy định) hoặc khi hai đội đã lấy hết vật báu trong kho. Giáo
viên ra hiệu dừng cuộc chơi và kiểm đếm số lượng vật báu của các đội,
đội nào có nhiều vật báu được công bố thắng cuộc.
4.3. Trò chơi “Đua
thuyền”:
Giúp học sinh rèn luyện kỹ năng nổi
ngửa, bơi ngửa trong môi trường nước.
- Chuẩn bị:
Chuẩn bị 20 phao dài.
Học sinh được chia ra các đội, mỗi
đội từ 8- 10 người trở lên xếp theo một hàng dài nối vào nhau.
Học sinh dùng phao kẹp vào hai bên nách
và nối vào nhau thành hàng dọc ở tư thế nổi ngửa. Người phía sau dùng một
bàn tay bám vào giữa phao sau lưng của người phía trước cho đến người cuối
cùng trong hàng của đội.
- Luật chơi: Trong quá trình di
chuyển cả đội phải giữ nguyên một hàng không được tách đội (trong trường
hợp bi bị tách rời, các thành viên nối lại mới được tiếp tục di chuyển). Đội
nào về đích trước đội đó thắng cuộc.
- Tổ chức chơi: Sau khi có hiệu lệnh
bắt đầu của giáo viên, các đội bắt đầu di chuyển bằng hình thức sử dụng
một bàn tay quạt nước và hai chân đạp chếch xuống đáy bể để di chuyển từ về
đích. Đội nào về đích trước sẽ được công bố thắng cuộc.
II. BÀI TẬP GIẢNG DẠY
KỸ THUẬT BƠI ẾCH
Bơi ếch là một trong những kỹ thuật
bơi dễ học và có nhiều ưu thế được các giáo viên lựa chọn giảng dạy cho
những người học bơi ban đầu. Để đảm bảo khoa học và đạt được hiệu quả trong
dạy bơi, các bài tập giảng dạy kỹ thuật động tác bơi kiểu ếch được
trình bày theo trình tự như sau:
1. Dạy kỹ thuật động
tác chân
1.1. Bài tập trên cạn
Bài tập 1: Bài tập kỹ
thuật động tác chân bơi ếch theo 4 nhịp.
- Tư thế chuẩn bị: Ngồi hai tay chống
sau, hai chân khép sát duỗi thẳng phía trước, thân người ngả về phía sau.
- Cách thực hiện:
+ Nhịp 1: Nâng chân duỗi thẳng
+ Nhịp 2: Thu, bẻ chân
+ Nhịp 3: Đạp, khép chân
+ Nhịp 4: Duỗi thẳng, hạ xuống, (hình
31).

Hình
31
Bài tập 2: Bài tập kỹ
thuật động tác chân bơi ếch theo 2 nhịp.
- Cách thực hiện:
+ Nhịp 1: Thu, bẻ chân
+ Nhịp 2: Đạp, khép chân
- Yêu cầu: Học sinh nắm được và thực
hiện đúng nhịp điệu động tác chân bơi ếch (Thu, bẻ chân chậm; Đạp, khép chân
nhanh).
Bài tập 3: Bài tập nằm
sấp thực hiện động tác đạp chân ếch
- Cho học sinh nằm sấp trên ghế hoặc
bục xuất phát thực hiện động tác đạp chân ếch, (hình 32).

Hình
32
1.2. Bài tập dưới nước
Bài tập 1: Bài tập ngồi
trên thành bể tập kỹ thuật động tác chân kiểu bơi ếch.
- Theo 2 nhịp (nhịp 1: thu, bẻ chân;
nhịp 2: đạp, khép chân)
- Theo 1 nhịp (đếm 1 nhịp thực hiện
toàn bộ động tác), (hình 33).

Hình
33
Bài tập 2: Bài tập nằm
sấp trên thành bể tập kỹ thuật động tác chân kiểu bơi ếch
- Theo 2 nhịp ( nhịp 1: thu, bẻ chân;
nhịp 2: đạp, khép chân)
- Theo 1 nhịp (đếm 1 nhịp thực hiện
toàn bộ động tác chân), (hình 34).

Hình
34
Bài tập 3: Bài tập đứng
bám 2 tay vào thành bể tập từng chân một động tác đạp chân bơi ếch:
- Đứng chống 2 tay vào
thành bể (có thể bám vào vai bạn tập); thực hiện đạp một chân theo trình tự:
Thu chân, bẻ bàn chân, đạp, khép và duỗi bàn chân, dừng lướt. Chú ý khi đạp
nước duỗi trình tự từ khớp hông, khớp gối cuối cùng là khớp cổ chân. Mỗi
bên 3 x 15 lần. (Hình 35)

Hình
35
Bài tập 4: Bài tập nằm
sấp bám 2 tay vào thành bể có giáo viên giúp đỡ, đạp chân bơi ếch
Giáo viên đỡ nâng bụng, học sinh thực
hiện nằm trên nước bám 2 tay vào thành bể thực hiện đạp chân.
- Theo 2 nhịp (nhịp 1: thu, bẻ chân;
nhịp 2: đạp, khép chân)
- Theo 1 nhịp (đếm 1 nhịp
thực hiện toàn bộ động tác chân), (hình 36).

Hình
36
Bài tập 5: Bài tập nằm
sấp bám 2 tay vào thành bể, đạp chân bơi ếch: Học sinh bám 2 tay vào
thành bể thực hiện đạp chân.
Bài tập 6: Bài tập tay
bám phao, đạp chân bơi ếch ngang bể (10 -15m): Học sinh tay cầm phao,
đạp lướt sau đó đạp chân ếch ngang bể (cự ly ngắn 10- 15m). Yêu cầu nhịp điệu
đúng (Thu bẻ chậm, đạp khép nhanh và dừng lướt) giúp cơ thể lướt được
quãng đường dài nhất có thể, (hình 37).

Hình
37
Bài tập 7: Bài tập duỗi
tay thẳng trước đầu đạp chân bơi ếch ngang bể (10 -15m): Học sinh
hai tay khép sát, duỗi thẳng tự nhiên trước đầu, thực hiện động tác đạp
chân ếch, (hình 38).

Hình
38
Bài tập 8: Bài tập dạy
thở kết hợp đạp chân bơi ếch
Đứng tại chỗ tập tay kết hợp với thở:
Tư thế chuẩn bị, cúi đầu nhịn thở hai tay khép sát phía trước: Nhịp 1- tách
tay tỳ nước thở ra đồng thời ngẩng đầu há miệng hít vào; Nhịp 2 khép chụm tay
nhịn thở cúi đầu. Sau khi thuần thục tập kết hợp nhịp 1 và nhịp 2 thành một
nhịp.
Bơi chân kết hợp với thở: Đạp lướt ra,
cúi đầu nhịn thở hai tay khép sát phía trước: Đạp 2 -3 lần chân, thực hiện
một lần thở theo cách trên (Lưu ý: Lúc thở, chân khép sát, giữ nguyên)
* Lưu ý khi dạy động tác chân bơi ếch:
Khi dạy động tác chân bơi ếch cần chú ý nhịp điệu co, bẻ chân chậm và đạp,
khép nhanh. Mặt khác, cần chú ý đến tính liên hoàn của động tác, tránh có
độ dừng ở giữa các giai đoạn co, bẻ; đạp khép, dừng. Sau khi đạp khép, chân
cần có độ dừng để lướt nước. Tiêu chuẩn để đánh giá động tác chân có hiệu
quả hay không là cự ly cơ thể tiến về phía trước được bao xa sau mỗi lần
đạp chân (một chu kỳ bơi).
2. Dạy kỹ thuật động
tác tay
2.1. Bài tập trên cạn
Bài tập 1: Bài tập kỹ
thuật động tác tay bơi ếch theo 4 nhịp.
- Tư thế chuẩn bị: Hai chân đứng rộng
bằng vai, gập thân trên, hai tay khép sát duỗi thẳng phía trước, cánh tay
úp áp sát tai.
- Cách thực hiện
+ Nhịp 1: Quạt tay
+ Nhịp 2: Thu tay
+ Nhịp 3: Duỗi tay
+ Nhịp 4: Giữ nguyên, (Hình 39).

Hình
39
Bài tập 2: Bài tập kỹ
thuật động tác tay bơi ếch theo 1 nhịp: Đếm 1 nhịp học sinh thực hiện toàn bộ động tác
tay.
2.2. Bài tập dưới nước
Bài tập 1: Bài tập nằm
sấp trên thành bể tập quạt tay bơi ếch: Giáo viên hướng dẫn học sinh nằm sấp
trên thành bể, tay đưa vào trong nước và thực hiện động tác quạt tay bơi ếch.
(Hình 40)

Hình
40
Bài tập 2: Bài tập đứng
khom dưới mức nước ngang vai, tại chỗ quạt tay bơi ếch: Học sinh đứng tư thế
khom lưng, hai chân rộng bằng vai (hoặc chân trước chân sau), hai tay khép
sát vào nhau, duỗi thẳng, lòng bàn tay úp, thực hiện động tác tay bơi ếch
theo 4 nhịp. Sau khi thuần thục động tác, giáo viên sẽ hướng dẫn cho học sinh
thực hiện theo 1 nhịp, (Hình 41).

Hình
41
Bài tập 3: Bài tập đi
bộ quạt tay bơi ếch: Học
sinh đứng tư thế khom lưng dưới nước, người cúi thấp thực hiện động tác quạt
tay bơi ếch 15-20m, lặp lại 2-3 lần. Khi thực hiện động tác quạt tay ếch,
chân sẽ chủ động bước đi chậm, động tác tay quạt nhẹ theo các giai đoạn của
kỹ thuật.
3. Dạy kỹ thuật động
tác thở và phối hợp tay với thở
3.1. Bài tập trên cạn
Bài tập 1: Bài tập thở
cơ bản bơi ếch:
Đứng 2 chân rộng bằng vai, người cúi, 2
tay chống gối.
- Nhịp 1: Thở ra, ngửa đầu hít vào
- Nhịp 2: Cúi đầu, nhịn thở.
Bài tập 2: Bài tập kỹ thuật
động tác tay phối hợp với thở bơi ếch theo 4 nhịp.
- Tư thế chuẩn bị: Hai chân đứng rộng
bằng vai, gập thân trên, hai tay khép sát duỗi thẳng phía trước, cánh tay
áp sát tai.
- Cách thực hiện:
+ Nhịp 1: Thở ra hết cùng với quạt tay
đến ngang vai ngẩng đầu lên hít vào
+ Nhịp 2: Khép tay, cúi đầu nhịn thở
+ Nhịp 3: Duỗi tay, nhịn thở
+ Nhịp 4: Thẳng tay lướt nước, từ từ
thở ra (Hình 42).

Hình
42
Bài tập 3: Bài tập kỹ
thuật động tác tay phối hợp với thở bơi ếch theo 1 nhịp: Giáo viên đếm một
nhịp, học sinh thực hiện toàn bộ kỹ thuật động tác tay phối hợp với thở
bơi ếch.
3.2. Bài tập dưới nước
Bài tập 1: Bài tập tại
chỗ chống tay vào gối tập động tác thở bơi ếch: Đứng hai chân rộng
bằng vai gập thân về trước 2 tay chống gối, đầu cúi cho mức nước ngang
trán. Thở ra từ từ, ngẩng đầu lên, khi miệng lên khỏi nước thở ra hết há
miệng hít vào. Hít vào xong, cúi đầu nhịn thở.
Bài tập 2: Bài tập tại
chỗ quạt tay phối hợp với thở theo 4 nhịp: Học sinh đứng hai chân rộng bằng vai
gập thân về trước, đầu cúi cho mức nước ngang trán, quạt tay theo 4 nhịp
phối hợp với thở.
- Nhịp 1: Thở ra hết cùng với quạt tay
đến ngang vai ngẩng đầu lên hít vào
- Nhịp 2: Khép tay, cúi đầu nhịn thở
- Nhịp 3: Duỗi tay, nhịn thở
- Nhịp 4: Từ từ thở ra tay thẳng lướt
nước.
Bài tập 3: Bài tập đi
bộ, quạt tay phối hợp với thở: Học sinh thực hiện động tác đi bộ gập thân
về trước, đầu cúi cho mức nước ngang trán quạt tay phối hợp với thở.
* Lưu ý khi dạy động
tác tay phối hợp với thở bơi ếch: Bắt đầu học bơi, hướng dẫn học sinh tập quạt
tay nhỏ, chủ yếu quạt bằng bàn tay, sau đó kết hợp quạt cả cẳng tay và bàn
tay. Động tác này giúp học sinh nắm vững động tác quạt nước cao khuỷu tay và
tăng cảm giác tiếp nước, còn quạt nước lớn thường dễ bị phá vỡ “cảm giác” của
tay và nhịp điệu phối hợp tay chân. Đối với người mới học bơi cần được hướng
dẫn học cách thở sớm, đúng nhịp độ để thuận lợi cho việc kết hợp động tác
tay với nhịp thở trong bơi. Cần nhấn mạnh thở ra khi ngẩng đầu, đồng thời cần
nắm vững thời cơ hít vào.
4. Dạy kỹ thuật phối
hợp tay với chân
4.1. Bài tập trên cạn
Bài tập 1: Bài tập kỹ
thuật phối hợp tay với chân ở tư thế đứng lên ngồi xuống theo 4 nhịp.
- Tư thế chuẩn bị: Đứng thẳng hai chân
rộng hơn vai, hai tay khép sát vào nhau duỗi thẳng, lòng bàn tay hướng về
phía trước, cánh tay áp sát tai, mắt nhìn thẳng.
- Cách thực hiện:
+ Nhịp 1: Quạt tay - chân thẳng
+ Nhịp 2: Thu tay - thu chân
+ Nhịp 3: Duỗi tay; đạp chân
+ Nhịp 4: Giữ nguyên (lướt nước)
Bài tập 2: Bài tập kỹ
thuật phối hợp tay với chân ở tư thế đứng lên ngồi xuống theo 1 nhịp.
- Tư thế chuẩn bị: Giống bài tập theo
4 nhịp
- Cách thực hiện: Giáo viên đếm một
nhịp học sinh thực hiện toàn bộ động tác phối hợp tay với chân.
4.2. Bài tập dưới nước
Bài tập 1: Bài tập bơi
phối hợp tay với chân 1chu kỳ: Đạp lướt nước bơi phối hợp tay chân 1 chu kỳ.
Bài tập 2: Bài tập bơi
phối hợp tay với chân 15m: Bơi chậm lặp lại nhiều lần cự ly 15m, 25m.
5. Dạy kỹ thuật phối
hợp hoàn chỉnh
5.1. Bài tập trên cạn
Bài tập 1: Bài tập kỹ
thuật phối hợp hoàn chỉnh bơi ếch ở tư thế đứng lên ngồi xuống theo 4 nhịp.
- Tư thế chuẩn bị: Đứng thẳng hai chân
rộng hơn vai, hai tay khép sát vào nhau duỗi thẳng, lòng bàn tay hướng về
phía trước, cánh tay áp sát tai, mắt nhìn thẳng.
- Cách thực hiện:
+ Nhịp 1: Quạt tay, ngửa đầu, thở ra -
chân thẳng
+ Nhịp 2: Thu tay, cúi đầu, nhịn thở -
thu chân
+ Nhịp 3: Duỗi tay - đạp chân
+ Nhịp 4: Giữ nguyên (lướt nước), (hình
43).

Hình
43
Bài tập 2: Bài tập kỹ
thuật phối hợp hoàn chỉnh bơi ếch ở tư thế đứng lên ngồi xuống theo 1 nhịp.
- Tư thế chuẩn bị: Giống bài tập theo
4 nhịp.
- Cách thực hiện: Giáo viên đếm một
nhịp học sinh thực hiện toàn bộ động tác phối hợp hoàn chỉnh bơi ếch.
5.2. Bài tập dưới nước
Bài tập 1: Bài tập bơi
phối hợp hoàn chỉnh 1 chu kỳ: Đạp lướt nước bơi phối hợp 1 chu kỳ, 3-4
lần.
Bài tập 2: Bài tập bơi
phối hợp hoàn chỉnh 15m: Bơi chậm lặp lại nhiều lần cự ly 15m, 25m.
* Một số lưu ý khi dạy động tác phối
hợp hoàn chỉnh bơi ếch:
- Phối hợp hoàn chỉnh: Trước hết cần
phối hợp hai lần động tác chân thì thực hiện một lần động tác tay và một lần
thở - phối hợp 2-1-1, sau đó tập phối hợp 1-1-1.
- Để học sinh bơi được xa và tiết kiệm
sức, cần nhấn mạnh: Thực hiện nhẹ nhàng các động tác, đặc biệt là tay phối
hợp với thở, chỉ dùng sức ở động tác đạp chân.
- Khi đã bơi được khoảng 15m mà động
tác phối hợp không rối loạn thì có thể kéo dài cự ly bơi. Yêu cầu người
mới học bơi muốn tiến bộ nhanh cần chú ý nhịp thở và kiên trì tập luyện
không ngừng cải tiến kỹ thuật động tác. (Hình 44).

Hình
44
III. BÀI TẬP GIẢNG DẠY
CÁC KỸ NĂNG AN TOÀN TRONG MÔI TRƯỜNG NƯỚC
1. Kỹ năng đứng nước
Đứng dưới nước rất quan trọng và cần
thiết, giúp học sinh tự tin và an toàn hơn khi bơi ở nơi nước sâu, đồng
thời đứng dưới nước giúp học sinh có thể bơi ngược dòng, cứu đuối hoặc
không bị chìm dưới nước khi gặp sự cố dưới nước. Khi đứng nước cần thực
hiện các động tác chân và tay chuyển động liên tục để giữ đầu nổi trên mặt
nước.
Bài tập 1: Bài tập động
tác tay
Bắt đầu học đứng nước giáo viên cho học
sinh tập ở vùng nước nông quạt tay từ trước ra sau, giữ cổ tay khi thực
hiện động tác này và có cảm giác nước xung quanh cơ thể, khi tay thành thạo
sẽ chuyển sang động tác chân, (hình 45).

Hình
45
Bài tập 2: Bài tập đứng
nước đạp chân kiểu bơi ếch
- Tập động tác chân bơi ếch bằng
cách ngồi lên thành bể hoặc trên ghế.
- Tập đứng nước ở khu vực nước ngập
đến vai.
- Tập đứng nước ở khu vực nước sâu,
sử dụng phao tay hoặc phao dài (noodle).
- Tập đứng nước hoàn chỉnh ở khu vực
nước sâu (lưu ý cho học sinh luyện tập sát thành bể để tránh chế rủi ro),
(hình 46).

Hình
46
Bài tập 3: Bài tập đứng
nước chân cắt kéo kiểu bơi sải
Học sinh dùng hai tay bám vào thành bể ở
vị trí nước sâu và thực hiện động tác đá chân cắt kéo. Hai chân luôn
phiên đá lên xuống, mũi chân giữ thẳng. Khi thực hiện thuần thục thả tay
khỏi thành bể và sử dụng hai chân đá chân cắt kéo, hai tay quạt nước. Giai
đoạn đầu tập đứng dưới nước có thể mang phao để tập luyện.
Bài tập 4: Bài tập đứng
nước kiểu chân đạp đạp xe đạp
Học sinh thực hiện ở tư thế đầu nhô
khỏi mặt nước, hai tai trong nước, mắt nhìn lên trời, hai tay để bên cạnh
hông vẩy nhẹ, đạp chân như động tác đạp xe đạp.
2. Bơi ngửa sinh tồn
Bơi ngửa sinh tồn là tư thế thân người
nằm ngửa, toàn thân thẳng, tạo thành tư thế lướt nước tốt nhất có thể, giữ
mặt nổi trên mặt nước, mắt nhìn lên trời, tai chìm một phần trong nước.
Trong suốt quá trình bơi, giữ đầu cố định, tư thế cơ thể nằm ngang,
hơi dốc xuống chiều từ đầu cho đến chân sao cho khi thực hiện động tác
bàn chân không nhô ra khỏi mặt nước. Trong lúc bơi, có thể xoay theo trục
dọc 60 độ, không được bơi chệch, nghiêng ngả sang 2 bên.
Bài tập 1: Bài tập động
tác chân: Động
tác chân bơi ngửa sinh tồn gần giống như động tác chân bơi ếch, chủ yếu
là co đạp thẳng chân. Bước đầu có thể tập có sự hỗ trợ của giáo viên hoặc
ôm phao trên ngực, khi đã thực hiện được không cần sự hỗ trợ của phao.
Bài tập 2: Bài tập động
tác tay:
- Cho học sinh đứng nghiêm tại chỗ,
dùng hai tay kéo dọc sát cơ thể; đến nách, tách hai cánh tay duỗi ra ngoài
và hướng lòng bàn tay xuống, đẩy mạnh hai tay về phía chân.
- Tiếp the hai tay quạt nước ở tư thế
ngửa tại chỗ có hỗ trợ của phao. Khi làm tốt hai tay quạt nước ở tư thế
ngửa tại chỗ không có hỗ trợ của phao.
Bài tập 3: Bài tập hoàn
thiện toàn bộ động tác:
- Chân và hai cách tay di chuyển cùng
một lúc, khi gập chân thì đồng thời kéo tay.
- Khi đạp chân thì kết hợp đẩy tay
xuống chân.
- Toàn bộ cơ thể giống động tác lướt
nước ngửa, khi tốc độ chậm lại thì thực hiện chu kỳ tiếp theo (hoặc đếm
từ 1 đến 3 và thực hiện tiếp), (hình 47).

Hình
47
3. Kỹ năng lặn nước
Lặn nước có thể tập làm quen ở khu
vực nước nông, sau đó tăng dần ở khu vực nước sâu.
Bài tập 1: Bài tập gập
đầu gối và đi dưới nước
Học sinh lặn xuống nước, chân chạm
đáy ở tư thế ngồi xổm và bước đi trong nước. Giáo viên có thể nắm tay học
sinh nếu học sinh đang lo lắng, không thả lỏng.
Bài tập 2: Bài tập học
lặn đúng cách
Khi lặn, đầu hướng xuống, cằm chạm
ngực, mở mắt trong nước, sử dụng hai tay quạt sang hai bên cùng lúc, chân
duỗi thẳng và đập lên - xuống nhịp nhàng.
4. Di chuyển tư thế
thân người trong nước
Bài tập 1: Bài tập
chuyển tư thế từ nổi sấp sang nổi ngửa
Từ vị trí nổi sấp, kéo/vòng tay sang
phía đối diện để lật ngửa người đồng thời thở mạnh qua mũi, ngửa đầu,
nâng cằm lên cao.
Bài tập 2: Bài tập
chuyển tư thế từ nổi ngửa sang nổi sấp
Từ vị trí nổi ngửa, hít một hơi
thật mạnh, kéo/vòng tay qua phía đối diện xoay về vị trí nổi sấp, mắt
nhìn thẳng xuống đáy bể và thở ra từ từ.
Bài tập 3: Bài tập từ
tư thế nổi sấp trở về tư thế đứng lên
Co đầu gối vào ngực, cho chân xuống
nước đồng thời kéo (quạt) tay trong nước về phía sau, ngẩng đầu lên và đứng
lên.
Bài tập 4: Bài tập từ
tư thế nổi ngửa trở về tư thế đứng lên
Nâng đầu, co hai đầu gối xuống, quạt
nước xuống bằng 2 bàn tay và quay người cho đến khi chân chạm đáy bể.
5. Kỹ năng thoát hiểm
khi bị rơi xuống nước
Sau khi đã thực hiện thuần thục kỹ
năng đứng nước, nổi sấp, nổi ngửa và làm quen với kỹ năng lặn nước, học
sinh tập tình huống tự cứu khi bị rơi xuống nước từ trên bờ.
Bài tập 1: Bài tập xoay
tư thế thân người từ nổi sấp trở về tư thế đứng nước
Cho học sinh sử dụng hai phao đeo ở hai
bên cánh tay, sau đó ấn phao xuống để đứng thẳng lên.
Bài tập 2: Bài tập tình
huống bất ngờ bị rơi xuống nước
Cho học sinh mang phao lưng, phao tay,
đứng trên thành bể lần lượt từng em tập tình huống bất ngờ bị rơi xuống
nước, di chuyển tư thế người, đạp chân kiểu bơi ếch lướt nước vào bờ.
Bài tập 3: Bài tập
thực hành tình huống bất ngờ bị rơi xuống nước
- Cho học sinh thực hiện tình huống
bất ngờ bị rơi xuống nước, di chuyển tư thế thân người, đạp chân kiểu bơi
ếch lướt nước vào bờ (không có hỗ trợ của phao).
- Cho học sinh thực hiện tình huống
bất ngờ bị rơi xuống nước, di chuyển tư thế thân người, đạp chân kiểu bơi
ếch lướt nước vào bờ (không có hỗ trợ của phao và mặc quần áo thường ngày)
6. Kỹ năng tự cứu
- Ngồi trên thành bể bơi, lăn xuống
bể, nổi ngửa hình sao, trở lại tư thế đứng và quay trở lại thành bể bơi và
trèo ra ngoài (thử với một phao ống phía sau lưng và sau đó không dùng phao
ống).
- Ngồi trên thành bể bơi, lăn sang một
bên xuống bể, nổi sấp hình sao, trở về tư thế đứng và quay trở lại thành bể
bơi và trèo ra ngoài (thử với một phao ống trước bụng và sau đó không dùng
phao ống).
- Ngồi trên thành bể bơi, lăn sang một
bên xuống bể, nổi ngửa hình sao, trở về tư thế đứng và quay trở lại thành
bể bơi và trèo ra ngoài (thử với một phao ống sau lưng và sau đó không
dùng phao ống).
- Ngồi trên thành bể bơi, lăn ngược
xuống bể, nổi ngửa hình sao, trở lại tư thế đứng và quay trở lại thành bể
bơi và trèo ra ngoài (thử với một phao ống trước bụng và sau đó không dùng
phao ống).
- Đứng trên thành bể bơi, bước vào bể,
nổi sấp hình sao, trở về tư thế đứng và quay trở lại thành bể và trèo ra
ngoài (thử với một phao ống trước bụng và sau đó không dùng phao ống).
- Đứng trên thành bể bơi, bước vào bể,
lăn người thành tư thế nổi ngửa hình sao, trở về tư thế đứng và quay trở lại
thành bể và trèo ra ngoài (thử với một phao ống sau lưng và sau đó không
dùng phao ống).
- Đứng trên thành bể bơi, bước vào bể,
nổi sấp hình sao, lăn ngược ra nổi ngửa, trở về tư thế đứng và quay trở
lại thành bể và trèo ra ngoài (thử với một phao ống trước bụng và sau đó
không dùng phao ống).
- Đứng trên thành bể bơi, nhảy vào
vùng nước sâu, mở người làm thành tư thế hình sao thẳng đứng khi ở dưới nước,
đứng nước, bơi trở lại thành bể và trèo ra ngoài (thử với một phao ống ở
giữa hai chân và sau đó không dùng phao ống).
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Quyết định số 1248/QDD-TTg ngày
19/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phòng, chống
đuối nước trẻ em giai đoạn 2021-2030
2. Thông tư số 18/2023/TT-BGDĐT, ngày 26/10/2023 của Bộ Giáo
dục & Đào tạo hướng dẫn xây dựng trường học an toàn, phòng, chống tai
nạn thương tích trong cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường
xuyên
3. WHO (2021), Báo cáo toàn cầu về
phòng chống đuối nước, 2021. WHO Guideline on the prevention of drowning
through provision of day-care and basic swimming and water safety skills.
Geneva: World Health Organization; 2021. Licence: CC BY-NC-SA 3.0 IGO.
4. PGS. TS Lê Huy Trí và cộng sự, Tài
liệu Hướng dẫn Dạy kỹ năng an toàn phòng, chống đuối nước trẻ em (tại các
tỉnh triển khai dự án năm 2019)
5. TS. Nguyễn Ngọc Anh và cộng sự, Tài
liệu tập huấn Dạy bơi an toàn phòng, chống đuối nước trẻ em (Dành cho hướng
dẫn viên năm 2022)
6. WHO (2023), Hidden depths: the global
investment case for drowning prevention. Geneva: World Health Organization;
2023. Licence: CC BY- NC-SA 3.0 IGO.
7. Một số hình ảnh minh họa trong tài
liệu được sử dụng từ cuốn Sổ tay phòng tránh và xử lý tai nạn đuối nước
cho trẻ em và một số website sau:
8. https://moh.gov.vn/web/phong-chong-tai-nan-thuong-tich/thong-tin-tuyen-
truyen-dao-tao/-/asset_publisher/y1HBDqztr86t/content/-uoi-can-nguy- hiem-the-nao-?inheritRedirect=false
9. https://vnexpress.net/so-tre-em-duoi-nuoc-o-viet-nam-giam-4632685.html
10. Fanpage “Phòng, chống đuối nước
cho trẻ em Việt Nam”
11. https://phongchongduoinuoc.com.vn