|
BỘ Y TẾ
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 9157/BYT-VPB
V/v trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Vĩnh
Long trước Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV
|
Hà Nội , ngày 26
tháng 12 năm 2025
|
Kính
gửi: Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Vĩnh Long
Bộ Y tế nhận được Công văn số
1691/UBDNGS15 ngày 28/10/2025 của Ủy ban Dân nguyện và Giám sát về việc trả lời
kiến nghị của cử tri trước kỳ họp thứ 10, Quốc hội Khóa XV, trong đó có một số
kiến nghị của cử tri tỉnh Vĩnh Long.
Bộ Y tế xin trả lời đối với kiến
nghị liên quan đến lĩnh vực quản lý của ngành Y tế, cụ thể như sau:
1. Đề nghị sớm ban hành Luật
Quản lý thiết bị y tế, vì hiện nay Nghị định số 98/2021/NĐ-CP ngày
08/11/2021 của Chính phủ về quản lý trang thiết bị y tế đang phát sinh nhiều bất
cập và chưa có hướng dẫn cụ thể về xây dựng định mức từ Bộ Y tế trong việc bảo
trì, bảo dưỡng, sửa chữa thiết bị y tế để tạo hành lang pháp lý cho các cơ sở y
tế trong tổ chức thực hiện.
Thực hiện Quyết định số
2114/QĐ-TTg ngày 16/12/2021 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch thực hiện
Kết luận số 19-KL/TW ngày 14/10/2021 của Bộ Chính trị và Đề án định hướng
Chương trình xây dựng pháp luật nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, Bộ Y tế đã ban hành
Quyết định số 2503/QĐ- BYT ngày 05/8/2025 về Kế hoạch triển khai lập hồ sơ
chính sách Dự án Luật Thiết bị y tế. Theo Kế hoạch, Bộ Y tế dự kiến lập hồ sơ
chính sách trình Chính phủ vào tháng 12/2026 và trình Quốc hội xem xét, thông
qua vào năm 2028.
Hiện nay, việc tổ chức thực hiện
bảo quản, bảo trì, bảo dưỡng, sử dụng, sửa chữa thiết bị y tế căn cứ quy định tại
khoản 2 Điều 63 Nghị định số 98/2021/NĐ- CP ngày 08/11/2021
của Chính phủ về quản lý trang thiết bị y tế: “Trang thiết bị y tế phải được
bảo quản, bảo trì, bảo dưỡng, sử dụng và tuân thủ các hướng dẫn kỹ thuật khác
theo quy định của nhà sản xuất và phải được kiểm định theo quy định tại Nghị định
này để bảo đảm chất lượng”. Do tính chất đa dạng, nhiều chủng loại, công
nghệ và hãng sản xuất của thiết bị y tế nên việc xây dựng định mức đối với việc
bảo trì, sửa chữa thiết bị y tế phức tạp và khó xác định được định mức phù hợp
chung; do đó, các đơn vị sử dụng thiết bị y tế có trách nhiệm căn cứ hướng dẫn
của nhà sản xuất để thực hiện việc sử dụng bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa thiết bị
y tế tại đơn vị mình phù hợp với các quy định của nhà sản xuất và yêu cầu cụ thể
trong quá trình sử dụng.
2. Đề nghị sớm ban hành
Thông tư hướng dẫn tổ chức mô hình y tế địa phương ở Trạm y tế tuyến xã, theo định
hướng của Bộ Y tế, Bộ Nội vụ sẽ chuyển Trạm y tế về UBND xã phường quản lý và
chức năng, nhiệm vụ có nhiều thay đổi, công tác trẻ em, công tác khám chữa bệnh,
quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm cũng chưa có quy định cụ thể, việc chuyển
Trạm y tế về UBND xã, phường gặp một số khó khăn do tại UBND lực lượng quản lý
y tế còn mỏng, nếu chuyển về Sở Y tế sẽ dễ dàng hơn trong công tác điều phối
nhân lực, hỗ trợ trang thiết bị và triển khai các hoạt động của ngành.
Ngày 15/11/2025, Bộ Y tế đã ban
hành Thông tư số 43/2025/TT-BYT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu
tổ chức của Trạm Y tế xã, phường, đặc khu, thay thế Thông tư số 33/2015/TT-BYT
ngày 27/10/2015 của Bộ Y tế hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ của Trạm Y tế xã, phường.
Theo quy định tại Thông tư số
43/2025/TT-BYT, Trạm Y tế là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Ủy ban nhân
dân cấp xã, có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng; đủ điều kiện ký hợp
đồng khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế với cơ quan Bảo hiểm xã hội theo quy định.
Trạm Y tế căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao và các quy định tại Nghị định số
120/2020/NĐ-CP ngày 07/10/2020 của Chính phủ quy định về thành lập, tổ chức lại,
giải thể đơn vị sự nghiệp công lập, đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số
283/2025/NĐ-CP ngày 31/10/2025, để xây dựng Đề án vị trí việc làm và cơ cấu tổ
chức, làm cơ sở cho công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức.
Bộ Y tế đề nghị Ủy ban nhân dân
tỉnh Vĩnh Long và Sở Y tế tỉnh Vĩnh Long căn cứ Thông tư số 43/2025/TT-BYT để tổ
chức sắp xếp, kiện toàn Trạm Y tế theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp;
trong đó Sở Y tế chịu trách nhiệm hướng dẫn và quản lý chuyên môn đối với Trạm
Y tế trên địa bàn.
3. Cử tri kiến nghị nghiên cứu,
ban hành Thông tư hướng dẫn trích chuyển, gửi dữ liệu, bệnh án điện tử bảo hiểm
y tế lên hệ thống để giám định, thanh quyết toán kinh phí khám, chữa bệnh bảo
hiểm y tế được dễ dàng hơn.
Ngày 28/12/2017, Bộ Y tế đã ban
hành Thông tư số 48/2017/TT-BYT quy định trích chuyển dữ liệu điện tử trong quản
lý và thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế (có hiệu lực từ
01/3/2018). Thông tư này đã được cơ quan Bảo hiểm xã hội và các cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh triển khai thực hiện trong thời gian qua, góp phần hình thành cơ sở dữ
liệu phục vụ công tác giám định, thanh quyết toán theo hướng công khai, minh bạch.
Ngày 06/6/2025, Bộ Y tế đã ban
hành Thông tư số 13/2025/TT-BYT hướng dẫn triển khai hồ sơ bệnh án điện tử; đến
nay, cả nước đã có hơn 1.183 bệnh viện triển khai hồ sơ bệnh án điện tử.
Trong thời gian tới, Bộ Y tế sẽ
tiếp tục rà soát, nghiên cứu xây dựng quy định về giám định, thanh quyết toán
chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế đối với hồ sơ bệnh án điện tử để các
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và cơ quan Bảo hiểm xã hội triển khai thống nhất. Đồng
thời, Bộ Y tế đang xây dựng Thông tư quy định về ứng dụng công nghệ thông tin,
chuyển đổi số và chia sẻ dữ liệu trong lĩnh vực bảo hiểm y tế để thay thế Thông
tư số 48/2017/TT-BYT, trong đó dự kiến quy định về giám định bảo hiểm y tế điện
tử trên nền hồ sơ bệnh án điện tử, ký số dữ liệu chi phí, ký số chứng từ thanh
toán, nhằm đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian và tăng tính minh bạch
trong giám định, thanh quyết toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế.
4. Về quy định đối tượng
“Người dân các xã ATK cách mạng” được hưởng 100% chi phí khám bệnh, chữa
bệnh mà không quy định loại trừ các nhóm đối tượng tại khoản 1,
2 và 3 Điều 12 của Luật BHYT như quy định tại khoản 1 Điều 1
Nghị định số 75/2023/NĐ-CP ngày 19/10/2023 của Chính phủ (hết hiệu lực từ
ngày 15/8/2025). Nhưng chưa có văn bản hướng dẫn chuyển đổi mã quyền lợi hưởng
của thẻ BHYT cho người đang tham gia BHYT thuộc đối tượng quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 12 Luật BHYT hiện đang thường trú tại các
xã an toàn khu đã được cập nhật thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân
cư, Cơ sở dữ liệu về cư trú mà có mức hưởng 95% và 80% chi phí khám bệnh, chữa
bệnh đổi mã quyền lợi 2 để được hưởng 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh như đối
tượng an toàn khu.
Kiến nghị Bộ Y tế sớm có văn
bản hướng dẫn cụ thể về vị trí ưu tiên của đối tượng “Người dân xã ATK” so với
các đối tượng được ngân sách nhà nước đóng khác. Hướng dẫn này là cơ sở quan trọng
để xác định đúng đối tượng, cấp thẻ đúng mã quyền lợi, đảm bảo chính sách an
sinh được thực hiện chính xác và kịp thời.
5. Theo khoản
11 Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT năm 2024 quy định
“Người đồng thời thuộc nhiều đối tượng tham gia BHYT khác nhau quy định tại Điều 12 của Luật này thì đóng BHYT theo đối tượng đầu tiên mà
người đó được xác định theo thứ tự của các đối tượng quy định tại Điều
12 của Luật này, trừ trường hợp quy định tại các điểm c, d,
đ, e và g khoản này”.
Tuy nhiên, Nghị
định số 188/2025/NĐ-CP (Khoản 2, Điều 5) ngày 01/7/2025 của Chính phủ
Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHYT có quy
định “Người dân các xã an toàn khu cách mạng trong kháng chiến chống Pháp hoặc
chống Mỹ hiện đang thường trú tại các xã an toàn khu cách mạng trong kháng chiến
chống Pháp hoặc chống Mỹ đã được cập nhật thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc
gia về dân cư, Cơ sở dữ liệu về cư trú tham gia BHYT theo nhóm do ngân sách nhà
nước đóng quy định tại khoản 3 Điều 12 của Luật BHYT.”
Vấn đề thực tiễn là: Nghị định
chưa quy định rõ vị trí cụ thể của nhóm “Người dân xã ATK” trong thứ tự các đối
tượng được ngân sách nhà nước đóng (khoản 3 Điều 12). Việc
này gây khó khăn khi một người đồng thời thuộc cả nhóm ATK (Mã quyền lợi 2) và
nhóm Hưu trí xã hội (Mã quyền lợi 4). Nếu áp dụng nguyên tắc thứ tự (Luật BHYT
2024), nhưng không rõ vị trí ATK, địa phương không thể xác định chính xác người
đó được cấp thẻ theo đối tượng nào để đảm bảo quyền lợi tối ưu. Đề nghị xem xét
giải quyết vấn đề này.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 188/2025/NĐ-CP ngày 15/8/2025 quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế, người
dân các xã an toàn khu cách mạng trong kháng chiến chống Pháp hoặc chống Mỹ hiện
đang thường trú tại các xã an toàn khu cách mạng trong kháng chiến chống Pháp
hoặc chống Mỹ đã được cập nhật thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân
cư, Cơ sở dữ liệu về cư trú tham gia bảo hiểm y tế theo nhóm do ngân sách nhà
nước đóng quy định tại khoản 3 Điều 12 của Luật Bảo hiểm y tế.
Cũng theo quy định tại khoản 4 Điều 17 Nghị định số 188/2025/NĐ-CP, trong trường hợp
người tham gia bảo hiểm y tế thuộc nhiều trường hợp có mức hưởng khác nhau quy
định tại khoản 1 Điều 22 của Luật Bảo hiểm y tế thì áp dụng
theo trường hợp có mức hưởng cao nhất. Trường hợp áp dụng mức hưởng quy định tại
các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 22 của Luật Bảo hiểm y tế
thì không áp dụng mức hưởng theo đối tượng quy định tại các điểm
đ và e khoản 1 Điều 22 của Luật Bảo hiểm y tế.
Như vậy Luật và Nghị định hoàn
toàn thống nhất và quy định đầy đủ quyền lợi khi bổ sung thêm các đối tượng do
Chính phủ quy định.
6. Cử tri đề nghị xem xét hỗ
trợ cho các đảng viên có 30 năm tuổi Đảng được hỗ trợ bảo hiểm y tế.
Hiện nay, các chính sách về bảo
hiểm y tế được thực hiện theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế và Nghị định số
188/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế, trong đó đã xác định các nhóm đối tượng
được ngân sách nhà nước hỗ trợ hoặc hỗ trợ một phần mức đóng bảo hiểm y tế, bao
gồm người nghèo, người cận nghèo, học sinh, sinh viên, hộ gia đình làm nông,
lâm, ngư, diêm nghiệp có mức sống trung bình và một số đối tượng chính sách xã
hội khác.
Đối với nhóm đối tượng người
dân là đảng viên có 30 năm tuổi Đảng, nếu không thuộc các đối tượng nêu trên,
công dân có thể tham gia bảo hiểm y tế theo hộ gia đình để hưởng mức đóng giảm
dần theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế như sau: (1) Người thứ nhất đóng bằng
4,5% mức lương cơ sở; (2) Người thứ hai, thứ ba, thứ tư đóng lần lượt bằng 70%,
60%, 50% mức đóng của người thứ nhất; (3) Từ người thứ năm trở đi đóng bằng 40%
mức đóng của người thứ nhất.
Đồng thời, theo quy định tại
Nghị định số 188/2025/NĐ-CP, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương căn cứ khả năng ngân sách địa phương và các nguồn kinh phí hợp pháp khác để
trình Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định mức hỗ
trợ đóng bảo hiểm y tế cho các đối tượng cao hơn mức hỗ trợ tối thiểu, bảo đảm
phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.
Bộ Y tế trân trọng kính gửi
Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Vĩnh Long để biết, thông tin tới cử tri.
Xin trân trọng cảm ơn./.
|
Nơi nhận:
- Như trên;
- Ủy ban Dân nguyện và Giám sát;
- VPCP: QHĐP, TH;
- VPQH;
- Các đ/c Thứ trưởng BYT;
- BYT: BH, K2ĐT, KCB, HTTB, TCCB;
- Cổng TTĐT Bộ Y tế (để đăng tải);
- Lưu: VT, VPB1.
|
BỘ TRƯỞNG
Đào Hồng Lan
|