|
BỘ Y TẾ
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 1482/QĐ-BYT
|
Hà Nội, ngày 22 tháng 5 năm 2026
|
QUYẾT
ĐỊNH
BAN HÀNH ĐỀ ÁN “CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH
SẢN, SỨC KHỎE TÌNH DỤC VỊ THÀNH NIÊN, THANH NIÊN GIAI ĐOẠN 2026-2030”
BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ
Căn
cứ Nghị định số 42/2025/NĐ-CP ngày 27 tháng
02 năm 2025 của Chính phủ Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ
chức của Bộ Y tế;
Theo
đề nghị của Cục trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em, Bộ Y tế.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm
theo Quyết định này Đề án “Chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục vị
thành niên, thanh niên giai đoạn 2026-2030”.
Điều 2. Quyết định này
có hiệu lực kể từ ngày ký, ban hành.
Điều 3. Các ông (bà):
Chánh Văn phòng Bộ; Cục trưởng, Vụ trưởng các Cục, Vụ thuộc Bộ Y tế; Giám đốc
các Viện, Bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế; Giám đốc các Học viện, Hiệu trưởng các
trường Đại học có đào tạo nhân lực y tế; Thủ trưởng y tế các ngành; Giám đốc Sở
Y tế các tỉnh, thành phố và các cơ quan, đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm
thi hành Quyết định này./.
|
Nơi nhận:
- Như Điều 3;
- Bộ trưởng (để báo cáo);
- Các Thứ trưởng;
- Cổng Thông tin điện tử Bộ Y tế;
- Lưu: VT, BMTE.
|
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Nguyễn Tri Thức
|
ĐỀ ÁN
CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN, SỨC KHỎE
TÌNH DỤC VỊ THÀNH NIÊN, THANH NIÊN GIAI ĐOẠN 2026 - 2030
(Phê duyệt kèm theo Quyết định số:1482/QĐ-BYT ngày 22 tháng 5 năm 2026 của Bộ
trưởng Bộ Y tế)
MỤC LỤC
DANH
MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ĐẶT
VẤN ĐỀ
1. Bối
cảnh
2. Sự
cần thiết của Đề án
3. Những
vấn đề ưu tiên
PHẦN
I. CƠ SỞ XÂYDỰNG ĐỀ ÁN
1. Cơ
sở chính trị
2. Cơ
sở pháp lý
PHẦN
II. NỘI DUNG ĐỀ ÁN
I. Mục
tiêu
1.1. Mục
tiêu chung
1.2. Mục
tiêu cụ thể và chỉ tiêu
II. Thời
gian thực hiện, phạm vi thực hiện và đối tượng của đề án
III.
Các nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm
1.
Nhóm giải pháp về quản lý điều hành
2.
Nhóm giải pháp về tuyên truyền vận động, truyền thông thay đổi hành vi và ứng dụng
công nghệ thông tin, chuyển đổi số
3.
Nhóm giải pháp về cung cấp dịch vụ
4.
Nhóm giải pháp về đào tạo và nghiên cứu khoa học
5.
Nhóm giải pháp về tăng cường phối hợp liên ngành
6.
Nhóm giải pháp về quản lý thông tin, theo dõi, giám sát, đánh giá
IV.
Kinh phí thực hiện
V. Tổ
chức thực hiện
5.1.
Trách nhiệm của các đơn vị tham gia
5.2.
Cơ chế phối hợp triển khai
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
|
Chữ viết tắt
|
Nội
dung đầy đủ
|
|
ASFR
|
Tỷ
suất sinh đặc hiệu theo tuổi (Age-Specific Fertility Rate)
|
|
CSE
|
Giáo
dục giới tính toàn diện (Comprehensive Sexuality Education)
|
|
CSSK
|
Chăm
sóc sức khỏe
|
|
HIV/AIDS
|
Vi
rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (Human
Immunodeficiency Virus/Acquired Immunodeficiency Syndrome)
|
|
HPV
|
Vi
rút u nhú ở người (Human Papillomavirus)
|
|
ICPD
|
Hội
nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển (International Conference on Population
and Development)
|
|
KHHGĐ
|
Kế
hoạch hóa gia đình
|
|
KPIs
|
Chỉ
số đo lường hiệu quả (Key Performance Indicators)
|
|
LTQĐTD
|
Lây
truyền qua đường tình dục
|
|
MICS
|
Điều
tra cụm đa chỉ số (Multiple Indicator Cluster Surveys)-Điều tra đánh giá các
mục tiêu về trẻ em và phụ nữ
|
|
NKĐSS
|
Nhiễm
khuẩn đường sinh sản
|
|
QHTD
|
Quan
hệ tình dục
|
|
SAVY
|
Điều
tra Quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam (Survey Assessment of
Vietnamese Youth)
|
|
SDGs
|
Mục
tiêu Phát triển Bền vững (Sustainable Development Goals)
|
|
SKSS
|
Sức
khỏe sinh sản
|
|
SKTD
|
Sức
khỏe tình dục
|
|
THCS
|
Trung
học cơ sở
|
|
THPT
|
Trung
học phổ thông
|
|
TN
|
Thanh
niên
|
|
VTN
|
Vị
thành niên
|
|
WHO
|
Tổ
chức Y tế Thế giới (World Health Organization)
|
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Bối cảnh
Giai
đoạn 2026-2030, vấn đề sức khỏe sinh sản (SKSS) của vị thành niên (VTN), thanh
niên (TN) vẫn là tâm điểm trong chương trình nghị sự của Tổ chức Y tế Thế giới
(WHO) và Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA). Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, nhưng các
chỉ số toàn cầu vẫn ở mức cần được ưu tiên quan tâm:
Tỷ
lệ sinh con ở tuổi vị thành niên: ước tính
mỗi năm vẫn có khoảng 12-13 triệu trẻ em gái độ tuổi 15-19 sinh con, chủ yếu tập
trung tại các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình. Đáng chú ý, tỷ lệ sinh ở
nhóm dưới 15 tuổi đang có xu hướng gia tăng tại một số khu vực do tác động của
đứt gãy hệ thống y tế sau đại dịch và các cuộc xung đột cục bộ[1].
Phá
thai không an toàn: Theo số liệu cập nhật
năm 2024, khoảng 45% các ca phá thai ở nữ VTN vẫn được thực hiện trong điều kiện
thiếu an toàn, dẫn đến những biến chứng nghiêm trọng về sức khỏe tâm thần và khả
năng sinh sản sau này[2].
Bệnh
lây truyền qua đường tình dục (STIs): WHO cảnh
báo về sự gia tăng của các ca nhiễm STIs kháng thuốc và sự bùng nổ của HIV
trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM) trẻ tuổi trên toàn cầu, chiếm tới
30% tổng số ca nhiễm mới trong độ tuổi dưới 25[3].
Các quốc
gia tiên tiến hiện nay đang chuyển dịch mô hình từ "cung cấp dịch vụ thụ động"
sang "số hóa y tế toàn diện" (Digital Health), tích hợp giáo dục giới
tính vào trí tuệ nhân tạo để tiếp cận VTN một cách kín đáo và hiệu quả[4],[5].
Tại Việt
Nam hệ thống pháp luật và chính sách liên quan đến chăm sóc SKSS, sức khỏe tình
dục (SKTD), VTN, TN đã từng bước được hoàn thiện, tạo nền tảng quan trọng cho
việc triển khai các hoạt động thực tiễn. Nghị quyết số 72- NQ/TW của Bộ Chính trị năm 2025 về một số
giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân đã
khẳng định nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe toàn diện cho mọi lứa tuổi, trong đó có
nhóm VTN, TN. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV (2025) cũng đặt CSSK
trong mối liên hệ với chiến lược phát triển nguồn nhân lực, coi đây là yếu tố nền
tảng để nâng cao chất lượng dân số và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
Quyết
định 3261/QĐ-BYT của Bộ Y tế năm 2024 ban
hành tài liệu chuyên môn “hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe
sinh sản - nội dung chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên và thanh niên” tạo
khung chuyên môn chuẩn cho các cơ sở y tế triển khai dịch vụ thân thiện. Ngoài
ra, Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030 và Chương trình phát triển thanh
niên Việt Nam giai đoạn 2021- 2030 đều có nội dung liên quan trực tiếp đến việc
nâng cao kiến thức, kỹ năng sống, giáo dục giới tính và CSSKSS cho VTN, TN.
Mạng
lưới dịch vụ CSSKSS thân thiện đã được triển khai tại một số tỉnh, thành phố và
bệnh viện chuyên khoa bước đầu tạo môi trường tiếp cận thuận lợi cho thanh thiếu
niên. Giáo dục giới tính từng bước được lồng ghép vào chương trình học phổ
thông, giúp học sinh có thêm kiến thức cơ bản về sức khỏe sinh sản. Đồng thời,
sự phối hợp liên ngành giữa Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Đoàn Thanh niên đã
góp phần nâng cao nhận thức xã hội về CSSKSS.
Giai
đoạn 2021-2025 đã ghi nhận những bước tiến lớn về nhận thức, nhưng đồng thời
cũng bộc lộ những lỗ hổng về hành vi và thực hành trong bối cảnh mạng xã hội
bùng nổ. Tính đến 2024 tỷ suất sinh ở VTN là 30 trẻ sinh sống/1.000 phụ nữ.
Về
tuổi quan hệ tình dục: tuổi quan hệ tình dục
(QHTD) đang có xu hướng trẻ hóa, mặc dù tuổi trung bình QHTD lần đầu là 18,7 tuổi
(Kết quả giám sát sức khỏe quốc gia năm 2024). An toàn tình dục thấp, chỉ khoảng
54% sử dụng biện pháp tránh thai trong lần quan hệ đầu[6],
tỷ lệ dùng bao cao su ở nhóm trẻ quan hệ sớm còn thấp[7].
Tình
trạng phá thai ở tuổi vị thành niên/thanh
niên tuy có xu hướng giảm nhưng vẫn khá phổ biến, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến
sức khỏe và tương lai của các em. Kiến thức và kỹ năng về tình dục an toàn chưa
đồng đều; mạng lưới dịch vụ thân thiện chưa phủ rộng toàn quốc, nhân lực y tế
còn thiếu kỹ năng giao tiếp phù hợp với đặc thù tâm lý lứa tuổi vị thành niên.
Bên cạnh đó, nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất cho công tác CSSKSS còn hạn
chế, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa.
Về
mang thai, phá thai, sinh con ở vị thành niên: tỷ lệ VTN mang thai có xu hướng giảm nhưng bị gián đoạn và
tăng cao vào năm 2021 (4,4%) do tác động của đại dịch COVID-19. Đến năm 2024, tỷ
lệ giảm còn 2,92% nhưng vẫn chưa đạt mục tiêu 1,8% (năm 2025). Tỷ suất sinh: giảm
chậm (từ 35 xuống 30/1.000 phụ nữ giai đoạn 2019-2024). Có sự chênh lệch lớn giữa
nông thôn (59/1.000) và thành thị (18/1.000)[8],[9]. Tỷ lệ phá thai năm 2022 là 2,12%, 9 tháng đầu năm
2024 tỷ lệ phá thai ở VTN giảm còn 1,36% tuy nhiên ở mức vẫn cao hơn mục tiêu
1%. Tỷ lệ này ở vùng Đồng bằng Sông Hồng thấp nhất, cao nhất là Đông Nam Bộ và
Đồng bằng Sông Cửu Long (thường xuyên >2%).
Về
HIV và nhiễm khuẩn đường sinh sản: tỷ lệ
HIV nhóm tuổi 15-29 chiếm khoảng 50% các ca nhiễm mới. Tỷ lệ lây nhiễm tập
trung cao ở nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM) trẻ tuổi[10].
Nhiễm
khuẩn lây truyền qua đường tình dục: số ca
mắc ở thanh thiếu niên tăng mạnh (ví dụ tại Bệnh viện Da liễu Thành phố Hồ Chí
Minh tăng gấp đôi từ 2021 đến 2023). Các bệnh giang mai, lậu gia tăng do hành
vi có nhiều bạn tình và không dùng bao cao su.
Về
tìm kiếm và tiếp cận thông tin về SKSS, SKTD:
- Thiếu
thông tin nghiêm trọng: tỷ lệ VTN, TN biết địa chỉ cung cấp dịch vụ thân thiện
và có chất lượng rất thấp (nhiều nghiên cứu chỉ ra mức dưới 20- 30%)[11],[12], đặc biệt ở nhóm
dân tộc thiểu số và công nhân di cư[13],[14].
- Rào
cản: ngôn ngữ, văn hóa, chi phí, giờ giấc làm việc và tâm lý sợ phán xét.
- Chất
lượng dịch vụ hạn chế: cơ sở y tế tuyến dưới thiếu sự riêng tư, thiếu tài liệu
truyền thông và nhân lực được đào tạo bài bản về SKSS, SKTD vị thành niên (chỉ
khoảng 26,9% nhân viên được tập huấn)[15].
2. Sự cần thiết của Đề án
Việt
Nam đang ở trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng, với hơn một phần tư dân số là VTN,
TN. Theo báo cáo Điều tra Dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024, tỷ lệ này là
27,99%. Việc quan tâm đến sức khỏe của nhóm VTN, TN đặc biệt về SKSS và SKTD
không chỉ là vấn đề y tế đơn thuần mà còn là yếu tố nền tảng quyết định chất lượng
nguồn nhân lực và sự phát triển bền vững của quốc gia. Do đó, việc đầu tư cho
công tác CSSKSS, SKTD VTN, TN trong thời gian tới là rất quan trọng và cần thiết
nhằm củng cố và mở rộng mạng lưới dịch vụ thân thiện, nâng cao kiến thức và kỹ
năng cho VTN, TN, đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và các mục tiêu
phát triển bền vững.
Giai
đoạn 2020-2025, Bộ Y tế đã ban hành Đề án Chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe
tình dục VTN, TN (Quyết định số 5914/QĐ-BYT
ngày 29/12/2021). Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện cho thấy bên cạnh những
kết quả đạt được, Đề án giai đoạn 2020-2025 cũng còn những hạn chế như: sự phối
hợp chưa đồng bộ giữa các ngành, nguồn lực đầu tư còn hạn chế, đặc biệt ở vùng
sâu vùng xa; tỷ suất sinh ở VTN chưa có xu hướng giảm rõ rệt, đặc biệt tại các
vùng dân tộc thiểu số; công tác theo dõi, đánh giá chưa thường xuyên và thiếu hệ
thống dữ liệu đầy đủ, thiếu số liệu thống kê phân tách theo độ tuổi để theo
dõi, giám sát; hệ thống dịch vụ thân thiện với VTN, TN còn hạn chế, thiếu kinh
phí duy trì tại địa phương; tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết có giảm,
nhưng vẫn còn tồn tại, chủ yếu ở các vùng miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số;
một số vấn đề mới như sức khỏe tâm thần, ảnh hưởng của mạng xã hội chưa được
quan tâm đúng mức.
Trong
bối cảnh thực hiện Nghị quyết 72-NQ/TW của Bộ
Chính trị năm 2025 về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và
nâng cao sức khỏe nhân dân, đây là cơ hội vàng để các địa phương chủ động tạo
ra những bứt phá trong việc bảo vệ thế hệ tương lai trước những thách thức của
thời đại số. Với những yếu tố nêu trên, việc xây dựng Đề án Chăm sóc sức khỏe
sinh sản, sức khỏe tình dục vị thành niên, thanh niên giai đoạn 2026 - 2030 là
vô cùng cần thiết nhằm phát huy thành quả của giai đoạn trước, khắc phục những
điểm tồn tại, hạn chế, huy động nguồn lực tài chính bền vững tập trung cho những
vấn đề ưu tiên trong giai đoạn hiện nay.
3. Những vấn đề ưu tiên
Việc
xây dựng Đề án giai đoạn 2026-2030 sẽ tập trung cho những ưu tiên sau đây:
- Tăng
cường vai trò, nâng cao nhận thức của cấp ủy và chính quyền các cấp, các ban
ngành và bản thân VTN, TN trong chăm sóc SKSS, SKTD của VTN, TN.
- Tăng
cường chất lượng và đa dạng hóa mô hình cung cấp dịch vụ thân thiện CSSKSS,
SKTD với VTN, TN: phát triển các mô hình cung cấp dịch vụ phù hợp cho các nhóm
đối tượng ưu tiên: VT, TN người đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; công
nhân lao động khu công nghiệp; VTN, TN trong trường học, trường nghề.
- Đầu
tư chiến lược cho y tế số: xây dựng một nền tảng số quốc gia (website/ứng dụng
di động) cung cấp thông tin chính xác, tư vấn ẩn danh (chatbot/tổng đài), bản đồ
các cơ sở cung cấp dịch vụ thân thiện.
- Đảm
bảo nguồn tài chính: bố trí dòng ngân sách riêng cho việc thực hiện Đề án
CSSKSS, SKTD cho VTN, TN trong kế hoạch ngân sách hằng năm của các bộ, ngành, địa
phương. Khuyến khích các mô hình đồng tài trợ (nhà nước - doanh nghiệp - quốc tế).
- Cải
thiện hệ thống thông tin và nâng cao trách nhiệm giải trình: tích hợp bộ chỉ số
tối thiểu về SKSS, SKTD cho VTN, TN vào hệ thống báo cáo thống kê y tế thường
quy. Xây dựng và triển khai hệ thống giám sát quốc gia: xây dựng bộ chỉ số theo
dõi hiệu quả (KPIs) rõ ràng, khả thi và tích hợp vào hệ thống thông tin y tế quốc
gia. Công khai hóa kết quả thực hiện của các địa phương theo định kỳ để thúc đẩy
trách nhiệm giải trình.
Phần I
CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN
I. Cơ sở chính trị
- Nghị
quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị
lần thứ Sáu Ban chấp hành Trung ương Khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ,
chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới nêu rõ trong phần mục
tiêu cụ thể đến năm 2030: "..... Chiều cao trung bình thanh niên 18 tuổi
đối với nam đạt 167 cm, nữ 156 cm". Trong phần nhiệm vụ và giải pháp:
"..... Cấp uỷ, chính quyền các cấp tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác
bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân, coi đây là một trong những nhiệm
vụ chính trị quan trọng hàng đầu.....".
- Nghị
quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị
lần thứ Sáu Ban Chấp hành Trung ương Khóa XII về công tác dân số trong tình
hình mới nêu rõ trong phần mục tiêu đến năm 2030: "..... giảm 2/3 số vị
thành niên và thanh niên có thai ngoài ý muốn. ..... Tỷ lệ nam, nữ thanh niên
được tư vấn, khám sức khoẻ trước khi kết hôn đạt 90%". Phần nhiệm vụ
và giải pháp có nội dung: "... Đổi mới toàn diện nội dung, chương
trình, phương pháp giáo dục dân số, sức khoẻ sinh sản trong và ngoài nhà trường.
Hình thành kiến thức và kỹ năng về dân số, sức khoẻ sinh sản đúng đắn, có hệ thống
ở thế hệ trẻ....".
- Nghị
quyết số 72-NQ/TW ngày 09/09/2025 của Bộ
Chính trị về một số giải pháp, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ
nhân dân trong phần mục tiêu đến năm 2030: “Nâng cao thể lực, trí lực, tầm
vóc và tuổi thọ khỏe mạnh của Nhân dân. Đến năm 2030, tăng chiều cao trung bình
của trẻ em và thanh thiếu niên từ 01 - 18 tuổi thêm tối thiểu 1,5cm.....”.
Tầm nhìn đến năm 2045: “Phấn đấu môi trường sống có chất lượng tốt; các chỉ
số sức khỏe của người dân, chỉ số bao phủ dịch vụ chăm sóc sức khỏe thiết yếu
ngang tầm các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới. ......, tầm vóc,
thể lực, chiều cao trung bình của thanh niên tương đương các quốc gia có cùng mức
phát triển....”. Trong phần nhiệm vụ và giải pháp: “Triển khai thường
xuyên công tác tuyên truyền, giáo dục, tư vấn, phổ biến kiến thức về bảo vệ,
chăm sóc và nâng cao sức khỏe, đặc biệt là đối với trẻ em, thanh niên, ......”.
- Nghị
quyết số 28/NQ-CP ngày 03/3/2021 của Chính phủ
Ban hành Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021 - 2030 tại mục
tiêu 4, Chỉ tiêu 3: “Tỷ suất sinh ở vị thành niên giảm từ 23 ca sinh/1.000 phụ
nữ xuống 18/1.000 vào năm 2025 và dưới 18/1.000 vào năm 2030”.
II. Cơ sở pháp lý
- Luật Trẻ em năm 2016, Khoản 2, Điều 43: "Nhà nước bảo đảm
thực hiện các biện pháp theo dõi sức khỏe định kỳ cho phụ nữ mang thai và trẻ
em theo độ tuổi; chăm sóc dinh dưỡng, sức khỏe ban đầu và tiêm chủng cho trẻ
em; ... ; tư vấn và hỗ trợ trẻ em trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe
tình dục phù hợp với độ tuổi theo quy định của pháp luật".
- Luật Thanh niên năm 2020, Khoản 2, Điều 19: “Đảm bảo cho
thanh niên được cung cấp thông tin, tiếp cận dịch vụ thân thiện về bảo vệ, chăm
sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục….”.
- Luật Phòng bệnh năm 2025, Khoản 1, Điều 4: "Phòng bệnh
chủ động là chính, người dân là chủ thể trung tâm; chú trọng bảo vệ, chăm sóc,
nâng cao sức khỏe toàn diện", Khoản 3, Điều 4: "Ưu
tiên trong tiếp cận dịch vụ phòng bệnh đối với người khuyết tật, người cao tuổi;
người dân tộc thiểu số, phụ nữ, trẻ em ...".
- Luật Dân số năm 2025, Khoản 8, Điều 7: "Bảo đảm nguồn lực
thực hiện công tác dân số; hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các chương
trình, đề án, dự án về dân số và phát triển. Có chính sách củng cố hệ thống,
tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực của đội ngũ làm công tác dân số;
phát triển mạng lưới dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản". Khoản 2, Điều 10: "Ưu tiên truyền thông, vận động, giáo
dục nội dung phù hợp về dân số cho các đối tượng: Người chưa thành niên; Người
trong độ tuổi sinh sản...".
- Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Khoản 4,
Điều 2: "Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ
trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia
đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện
kế hoạch hóa gia đình".
-
Thông tư số 33/2017/TT-BYT ngày 01/8/2017 quy
định về tư vấn, hỗ trợ trẻ em chăm sóc sức khỏe sinh sản phù hợp với độ tuổi.
- Quyết
định số 1331/QĐ-TTg ngày 24/7/2021 của Thủ tướng
Chính phủ ban hành Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2021-
2030.
- Quyết
định số 23/QĐ-TTg ngày 07/1/2021 phê duyệt
Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2021-2030.
- Quyết
định số 3472/QĐ-BYT ngày 07/11/2025 về việc
Ban hành Hướng dẫn chuyên môn về tư vấn và khám sức khỏe trước khi kết hôn.
- Quyết
định số 1679/QĐ-TTg ngày 22/11/2019 của Thủ
tướng Chính phủ về Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030.
- Quyết
định số 2616/QĐ-BYT ngày 04/9/2024 của Bộ Y tế
ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình sức khoẻ học đường và Y tế trường học
đến 2026.
- Quyết
định số 2899/QĐ-BYT ngày 30/9/2024 phê duyệt
Đề án Tư vấn và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản cho công nhân lao động
tại các khu công nghiệm, khu chế xuất giai đoạn 2024-2030.
- Quyết
định số 2885/QĐ-BYT ngày 22/10/2022 về Hướng
dẫn truyền thông trực tiếp về chăm sóc SKSS vị thành niên.
- Quyết
định số 3261/QĐ-BYT ngày 04/11/2024 Quyết định
ban hành tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe
sinh sản - nội dung chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên và thanh niên”.
- Quyết
định số 1113/QĐ-BNV ngày 07/10/2021 ban hành
Kế hoạch thực hiện Chiến lược phát triển Thanh niên Việt Nam giai đoạn
2021-2030.
- Chiến
lược toàn cầu về sức khỏe phụ nữ, trẻ em và vị thành niên giai đoạn 2016-2030 của
Liên hợp quốc.
-
Tuyên bố Nairobi 2019 của Liên hợp quốc 25 năm sau Hội nghị quốc tế về Dân số
và Phát triển: thúc đẩy sự cam kết của các Quốc gia trong việc thực hiện Chương
trình hành động của ICPD cũng như thực hiện các Mục tiêu Phát triển bền vững
SDGs vào năm 2030.
- Kết
quả thực hiện Đề án và Kế hoạch hành động Quốc gia về Chăm sóc sức khoẻ sinh sản,
sức khoẻ tình dục cho vị thành niên và thanh niên (Báo cáo đánh giá năm 2025)[16].
Phần II
NỘI DUNG ĐỀ ÁN
I. Mục tiêu
1.1.
Mục tiêu chung
Nâng
cao tình trạng sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục của vị thành niên, thanh
niên thông qua việc xây dựng cơ chế tài chính bền vững tại địa phương, mở rộng
tiếp cận dịch vụ y tế thân thiện, chất lượng và thúc đẩy chuyển đổi số trong quản
lý, đồng thời trang bị kiến thức, kỹ năng giúp thay đổi hành vi, góp phần nâng
cao chất lượng dân số và nguồn nhân lực cho phát triển đất nước.
Chỉ
tiêu đến 2030:
- Tỷ
suất sinh đặc trưng lứa tuổi 15-19 (ASFR, 15-19 tuổi) giảm xuống dưới 18 trẻ đẻ
sống/1.000 phụ nữ trong nhóm tuổi.
- Tỷ lệ
% phá thai ở vị thành niên trên tổng số ca phá thai dưới 1%.
1.2.
Mục tiêu cụ thể và chỉ tiêu
Mục
tiêu cụ thể 1: Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước và đảm bảo nguồn lực tài
chính bền vững
Chỉ
tiêu đến 2030:
- 100%
tỉnh/thành phố ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án.
- 100%
tỉnh/thành phố bố trí ngân sách địa phương để thực hiện Đề án.
Mục
tiêu cụ thể 2: Nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi trong chăm sóc SKSS, SKTD
VTN, TN
Chỉ
tiêu đến 2030:
- 85%
VTN, TN (15-24 tuổi) có hiểu biết đúng và đầy đủ về dự phòng mang thai ngoài ý
muốn và các bệnh lây truyền qua đường tình dục.
- 100%
trường THCS, THPT, giáo dục nghề nghiệp đưa nội dung giáo dục giới
tính/SKSS/SKTD vào chương trình đào tạo chính khóa, ngoại khóa.
- 50%
trường phổ thông dân tộc nội trú có triển khai mô hình góc truyền thông về chăm
sóc sức khỏe sinh sản VTN, TN.
Mục
tiêu cụ thể 3: Tăng cường tiếp cận và nâng cao chất lượng dịch vụ thân thiện với
VTN-TN
Chỉ
tiêu đến 2030:
- 50%
cơ sở y tế công lập (cấp cơ bản trở lên) đạt tiêu chuẩn thân thiện với VTN, TN
theo Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc SKSS cho VTN, TN.[17]
- 60%
khu công nghiệp (quy mô >2.000 lao động) có triển khai hoạt động tư vấn/cung
cấp dịch vụ CSSKSS, SKTD cho thanh niên công nhân.
- 80%
nhu cầu về các biện pháp tránh thai hiện đại ở phụ nữ độ tuổi 15-24 được đáp ứng.
II. Thời gian thực hiện, phạm vi thực hiện và đối tượng của
đề án
1.
Thời gian thực hiện: từ năm 2026 đến hết
năm 2030.
2.
Phạm vi thực hiện: trên toàn quốc.
3.
Đối tượng can thiệp
- Các
nhà hoạch định chính sách và các đối tượng liên quan.
- Vị
thành niên và thanh niên, trong đó bao gồm các nhóm đối tượng ưu tiên sau: nhóm
VTN trong độ tuổi từ 10 đến 13 tuổi; TN chưa kết hôn; nhóm VTN, TN khuyết tật;
nhóm VTN, TN di cư; nhóm VTN, TN là người dân tộc thiểu số; nhóm thanh niên kể
cả người trẻ dưới 30 tuổi lao động tại các khu công nghiệp; nhóm đồng giới.
- Nhân
viên y tế tại các cơ sở chăm sóc SKSS.
- Cha
mẹ, thầy cô giáo, cán bộ Đoàn thanh niên.
III. Các nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm
1. Nhóm giải pháp về quản lý, điều hành
Nghiên
cứu, đề xuất xây dựng hoàn thiện hệ thống chính sách về chăm sóc SKSS, SKTD đối
với VTN, TN:
- Rà
soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các hướng dẫn chuyên môn về chăm sóc
SKSS, SKTD VTN, TN phù hợp với các nhóm đối tượng ưu tiên. Chú trọng việc phát
hiện các bằng chứng để đề xuất các giải pháp can thiệp phù hợp với tình hình,
điều kiện thực tiễn đáp ứng nhu cầu cần chăm sóc của VTN, TN.
- Xây
dựng bộ chỉ số theo dõi khả thi và tích hợp vào hệ thống thông tin y tế. Công
khai kết quả thực hiện của các địa phương theo định kỳ để thúc đẩy trách nhiệm
giải trình.
- Hội
đồng nhân dân các tỉnh/thành phố đưa chỉ tiêu SKSS VTN, TN vào Nghị quyết phát
triển kinh tế - xã hội của địa phương, bố trí ngân sách riêng (hoặc đối ứng).
Khuyến khích các mô hình đồng tài trợ (nhà nước - doanh nghiệp - quốc tế).
2. Nhóm giải pháp về tuyên truyền vận động, truyền thông
thay đổi hành vi và ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số
- Tuyên
truyền, vận động về tầm quan trọng của việc chăm sóc SKSS, SKTD đối với VTN, TN
cho các nhà hoạch định chính sách và các đại biểu dân cử, các nhà lãnh đạo, nhà
quản lý các lĩnh vực liên quan như giáo dục, doanh nghiệp thông qua các phương
tiện truyền thông đại chúng; hội nghị, hội thảo chuyên đề hoặc lồng ghép; gặp gỡ
vận động trực tiếp nhằm nâng cao hiểu biết của lãnh đạo cấp ủy, chính quyền,
các Bộ, ban, ngành liên quan về những thách thức của việc bảo vệ, chăm sóc và
nâng cao SKSS, SKTD cho VTN, TN.
- Tăng
cường truyền thông nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, gia đình, cộng đồng
về chăm sóc SKSS, SKTD, VTN, TN, chú trọng cung cấp thông tin, kiến thức về
CSSKSS, SKTD cho VTN, TN, cha mẹ, giáo viên, nhân viên làm công tác CSSKSS,
SKTD nói chung.
- Rà
soát, sửa đổi bổ sung hoặc ban hành mới các tài liệu truyền thông về chăm sóc
SKSS, SKTD VTN, TN như sổ tay, tờ rơi, video clip về kiến thức chăm sóc SKSS,
SKTD VTN, TN.
- Nội
dung truyền thông, tư vấn cần phù hợp với độ tuổi và nhóm đối tượng, trong đó
chú trọng: Kiến thức về chăm sóc SKSS, SKTD của VTN, TN, đặc biệt là kiến thức
và thực hành đúng về tình dục an toàn, phòng tránh mang thai ngoài ý muốn,
phòng chống nhiễm khuẩn đường sinh sản và các bệnh LTQĐTD; tính sẵn có và địa
chỉ các cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS, SKTD cho VTN, TN.
- Đa dạng
hóa các hình thức truyền thông: truyền thông trực tiếp thông qua các chiến dịch
truyền thông, các buổi tọa đàm, nói chuyện chuyên đề; truyền thông qua các
phương tiện truyền thông đại chúng (báo, đài phát thanh, đài truyền hình), truyền
thông trên các nền tảng mạng xã hội, truyền thông theo chuyên đề.
- Xây
dựng một nền tảng số quốc gia (website/ứng dụng di động) cung cấp thông tin
chính xác, tư vấn ẩn danh (chatbot/tổng đài) và bản đồ các cơ sở cung cấp dịch
vụ thân thiện, nhằm phá vỡ các rào cản về thông tin và tâm lý.
- Thiết
kế các gói can thiệp truyền thông phù hợp cho nhóm đối tượng đặc thù: VTN, TN đồng
bào dân tộc thiểu số, thanh niên là công nhân khu công nghiệp, khu chế xuất
(truyền thông giờ tan ca, qua mạng lưới Công đoàn, Đoàn Thanh niên).
- Triển
khai giáo dục giới tính toàn diện (CSE) trong nhà trường theo lộ trình chuẩn
hóa, phù hợp lứa tuổi: tăng cường giáo dục giới tính, giáo dục kỹ năng sống
liên quan đến SKSS, SKTD cho VTN, TN; xây dựng góc tư vấn về SKSS, SKTD với nội
dung phù hợp với từng bậc học, trong nhà trường; lồng ghép các nội dung chăm
sóc SKSS, SKTD trong các hoạt động sinh hoạt tập thể, các cuộc thi trong nhà
trường (như thi kiến thức, thi hùng biện, ngày hội mỹ thuật); khuyến khích các
hình thức giáo dục đồng đẳng như nhóm bạn, câu lạc bộ.
- Tổ
chức các hoạt động ngoại khóa truyền thông, giáo dục theo chủ đề về SKSS, SKTD
cho VTN, TN trong trường học theo hướng dẫn của Bộ Y tế [18].
- Tại
cộng đồng/trường học: thành lập, nhân rộng mô hình Câu lạc bộ SKSS tích hợp tư
vấn viên đồng đẳng. Truyền thông và tư vấn cho phụ huynh học sinh/người chăm
sóc VTN, TN về CSSKSS, SKTD VTN, TN.
- Truyền
thông vận động, khuyến khích nam, nữ thanh niên kết hôn, sinh con để đạt và duy
trì mức sinh thay thế trên toàn quốc.
-
Trong công tác truyền thông các cơ quan, đơn vị cần đảm bảo an toàn thông tin
và bảo vệ dữ liệu cá nhân.
3. Nhóm giải pháp về cung cấp dịch vụ
- Củng
cố các dịch vụ chăm sóc SKSS, SKTD thân thiện với VTN, TN sẵn có; phát triển
các cơ sở dịch vụ mới thân thiện với VTN, TN.
- Kết
nối hệ thống y tế học đường với trạm y tế xã/phường/đặc khu để xử lý các ca cần
can thiệp chuyên sâu.
- Mô
hình hóa dịch vụ: phát triển các mô hình cung cấp dịch vụ chuyên biệt; xây dựng
và nhân rộng các gói dịch vụ được xây dựng cho các nhóm ưu tiên:
+ Mô
hình phòng khám SKSS tại các khu công nghiệp; thí điểm và nhân rộng mô hình
“Gói dịch vụ SKSS thiết yếu" cho thanh niên là công nhân lao động di cư.
+
Thành lập đội y tế lưu động và cộng tác viên người dân tộc thiểu số cung cấp dịch
vụ cho các vùng sâu, vùng xa và tăng cường tích hợp dịch vụ tư vấn tâm lý -
SKSS trong các trường học, trường nghề. Tổ chức các đợt chăm sóc lưu động về
SKSS, SKTD thân thiện và toàn diện, kết hợp với các chương trình truyền thông,
đảm bảo tính thuận tiện về thời gian và địa điểm cho VTN, TN tại cộng đồng và
khu công nghiệp/khu chế xuất.
+ Tại
cơ sở y tế: thiết lập “Góc thân thiện” hoặc luồng khám riêng đảm bảo sự riêng
tư cho cung cấp các dịch vụ SKSS cho VTN, TN. Ưu tiên mô hình “Góc dịch vụ thân
thiện với VTN, TN” tại trạm y tế với yêu cầu tối giản, tập trung vào thái độ phục
vụ, quy trình bảo mật và tư vấn không phán xét, phù hợp với điều kiện nguồn lực
của các tỉnh.
+
Nghiên cứu xây dựng mô hình dịch vụ tư vấn SKSS, SKTD thân thiện với VTN, TN tại
cơ sở cung cấp dịch vụ cấp tỉnh: thí điểm triển khai giai đoạn đầu tại 02 tỉnh,
sau đó nhân rộng ra các tỉnh khác (tùy thuộc vào điều kiện thực tế).
+ Tại
khu công nghiệp: phối hợp với doanh nghiệp bố trí phòng tư vấn SKSS tại nơi làm
việc.
+ Phối
hợp các Bộ/Ngành liên quan như Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trung ương Đoàn Thanh
niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động
Việt Nam xây dựng các mô hình điểm cung cấp thông tin, tư vấn kết hợp với cung
cấp dịch vụ tại các địa điểm thích hợp như nhà trường, cộng đồng, khu công nghiệp,
khu chế xuất.
- Phát
triển mô hình nhà thuốc thân thiện với VTN, TN.
- Khuyến
khích cung cấp bao cao su tránh thai tại các cửa hàng tiện ích, siêu thị.
-
Trong quá trình triển khai Đề án các địa phương có thể lựa chọn linh hoạt các
mô hình dịch vụ về chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục VTN, TN phù hợp
với điều kiện thực tế tại địa phương mình.
4. Nhóm giải pháp về đào tạo và nghiên cứu khoa học
- Rà
soát, chuẩn hóa các tài liệu tập huấn sẵn có; nghiên cứu ban hành mới tài liệu
tập huấn về chăm sóc SKSS, SKTD cho VTN, TN, trong đó chú trọng nhóm VTN, TN ưu
tiên, có lồng ghép các nội dung về giới, bạo lực giới và phòng chống bạo lực giới,
hướng đến cung cấp dịch vụ thân thiện dựa trên các khuyến nghị thực hành tốt
trong nước và quốc tế.
- Tăng
cường nguồn nhân lực cung cấp dịch vụ SKSS, SKTD cho VTN, TN, đặc biệt là ở tuyến
cơ sở và vùng nông thôn theo hướng hợp tác y tế công - tư, theo đó có thể tận dụng
một số nguồn nhân lực có tiềm năng như các cán bộ y tế có chuyên môn cao đã nghỉ
chế độ, sự tham gia của y tế tư nhân.
- Tổ
chức và đa dạng hóa hình thức đào tạo liên tục, tập huấn, bồi dưỡng nhằm nâng cao
năng lực cho nhân viên y tế (công lập và tư nhân) đang làm công tác chăm sóc
SKSS, SKTD đối với VTN, TN, đặc biệt là nhóm VTN, TN ưu tiên (như đào tạo trực
tuyến), bao gồm cả nhân viên y tế tại các doanh nghiệp.
- Tổ
chức đào tạo tại chỗ, đào tạo, tập huấn, hỗ trợ chuyên môn kỹ thuật theo nhu cầu
bằng phương pháp cầm tay chỉ việc về chăm sóc SKSS, SKTD đối với VTN, TN.
-
Nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ mới, phù hợp trong chăm sóc SKSS, SKTD
VTN, TN, đánh giá hiệu quả nhằm rút kinh nghiệm, nhân rộng trên toàn quốc.
- Thực
hiện nghiên cứu/điều tra định kỳ để có số liệu thực chứng về hành vi, làm cơ sở
điều chỉnh chính sách.
5. Nhóm giải pháp về tăng cường phối hợp liên ngành
- Tại
Trung ương:
Bộ Y tế
chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, các đoàn thể, tổ chức chính trị xã hội,
các cơ quan truyền thông đại chúng, các đơn vị liên quan tham gia vào xây dựng,
vận động và thực thi các chính sách về chăm sóc SKSS, SKTD cho VTN, TN; điều phối
liên ngành trong việc xây dựng, triển khai và hỗ trợ kỹ thuật các hoạt động
chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục VTN, TN.
Bộ
Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu, đề xuất chuẩn hóa các tài liệu chính khóa và
ngoại khóa về chăm sóc SKSS, SKTD trong trường học; tổ chức tập huấn về kỹ năng
truyền thông, giáo dục về chăm sóc SKSS, SKTD VTN, TN cho các thầy cô giáo; hướng
dẫn tổ chức các chiến dịch truyền thông nâng cao nhận thức cho học sinh, giáo
viên về chăm sóc SKSS, SKTD VTN, TN thông qua các hoạt động ngoại khóa như tọa
đàm, sinh hoạt chuyên đề về chăm sóc SKSS, SKTD cho học sinh, sinh viên, xây dựng,
phát triển mô hình câu lạc bộ SKSS trong trường học.
- Tại
địa phương:
Sở Y tế
các tỉnh, thành phố là đơn vị đầu mối triển khai thực hiện Đề án tại địa
phương, có trách nhiệm phối hợp với các đơn vị liên quan triển khai các hoạt động
truyền thông, triển khai các mô hình can thiệp đối với các nhóm đặc thù (thanh
niên dân tộc thiểu số, lao động di cư…) trên địa bàn.
Liên
đoàn lao động các cấp, đặc biệt là Công đoàn cơ sở tại doanh nghiệp, khu công
nghiệp phối hợp với ngành y tế và Ban Quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất tổ
chức các chiến dịch truyền thông kết hợp cung ứng dịch vụ chăm sóc SKSS, SKTD
phù hợp với công nhân lao động, đặc biệt là thanh niên lao động di cư tại các
khu công nghiệp, khu chế xuất.
6. Nhóm giải pháp về quản lý thông tin, theo dõi, giám sát,
đánh giá
- Đưa
chỉ số báo cáo về SKSS, SKTD VTN, TN vào báo cáo thường niên của Bộ Y tế. Hoàn
thiện bộ chỉ số, công cụ theo dõi, đánh giá về chăm sóc SKSS, SKTD VTN, TN theo
các nhóm: độ tuổi, dân tộc, khu vực, trình độ học vấn, kinh tế và lồng ghép vào
hệ thống thống kê báo cáo và cơ sở dữ liệu về SKSS; huấn luyện/đào tạo cho đội
ngũ làm công tác thống kê, báo cáo nhằm nâng cao chất lượng báo cáo.
- Cải
thiện hệ thống thông tin y tế: tích hợp bộ chỉ số tối thiểu về SKSS, SKTD cho
VTN, TN vào hệ thống báo cáo thống kê y tế thường quy. Cập nhật biểu mẫu báo
cáo thống kê trong đó phân tổ số liệu theo nhóm tuổi (10-14, 15-19, 20-24) và
giới tính.
- Tăng
cường phối hợp chia sẻ dữ liệu giữa ngành Y tế và Thống kê để theo dõi các biến
động về dân số/SKSS VTN.
- Tăng
cường thu thập, phân tích dữ liệu và sử dụng các các thông tin đã phân tích
theo độ tuổi, giới, trình độ, nơi học tập/làm việc, tôn giáo, vùng địa lý và loại
hình dịch vụ liên quan tới SKSS, SKTD VTN, TN.
- Tăng
cường theo dõi tiến độ, giám sát, hỗ trợ nhằm nâng cao chất lượng cung cấp
thông tin, dịch vụ CSSK thân thiện với VTN, TN.
IV. Kinh phí thực hiện
1.
Ngân sách Nhà nước (Trung ương và Địa phương).
2. Nguồn
Bảo hiểm y tế.
3. Nguồn
vốn viện trợ, hợp tác quốc tế.
4. Nguồn
xã hội hóa và các nguồn hợp pháp khác.
V. Tổ chức thực hiện
5.1.
Trách nhiệm của các đơn vị tham gia
5.1.1.
Cục Bà mẹ và Trẻ em
Đầu mối
điều phối, hướng dẫn triển khai và tổ chức thực hiện, theo dõi, giám sát, đánh
giá các hoạt động của Đề án.
5.1.2.
Cục Quản lý Khám, chữa bệnh
Phối hợp
với Cục Bà mẹ và Trẻ em xây dựng các hướng dẫn về chuyên môn kỹ thuật trong
lĩnh vực chăm sóc SKSS, SKTD cho VTN, TN áp dụng trong hệ thống khám bệnh, chữa
bệnh.
5.1.3.
Cục Phòng bệnh
Phối hợp
với Cục Bà mẹ và Trẻ em tham mưu, phối hợp: triển khai kết nối hệ thống y tế học
đường với trạm y tế xã/phường.
Phối hợp
triển khai các hoạt động phòng, chống bệnh truyền nhiễm, bệnh lây truyền qua đường
tình dục, bệnh không lây nhiễm ở VTN, TN.
5.1.4.
Cục Dân số
Phối hợp
với Cục Bà mẹ và Trẻ em lồng ghép hoạt động tuyên truyền vận động; truyền thông
giáo dục sức khỏe, nâng cao nhận thức, thái độ và thay đổi hành vi trong
CSSKSS, SKTD cho VTN, TN.
5.1.5.
Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo
Phối hợp
với Cục Bà mẹ và Trẻ em trong việc xây dựng, rà soát, bổ sung và trình Lãnh đạo
Bộ Y tế phê duyệt kết quả thẩm định các chương trình tài liệu đào tạo về chăm
sóc SKSS, SKTD cho VTN, TN.
Phối hợp
với Cục Bà mẹ và Trẻ em xây dựng, trình Lãnh đạo Bộ Y tế phê duyệt các hướng dẫn
về nghiên cứu, điều tra trong lĩnh vực chăm sóc SKSS, SKTD cho VTN-TN
5.1.6.
Vụ Kế hoạch - Tài chính
Huy động
và điều phối các nguồn lực của Chính phủ và các tổ chức trong và ngoài nước cho
công tác chăm sóc SKSS, trong đó có chăm sóc SKSS, SKTD cho VTN, TN đảm bảo nhu
cầu ngân sách cho các mục tiêu của Đề án.
5.1.7.
Trung tâm Truyền thông Giáo dục sức khỏe Trung ương
Phối hợp
với Cục Bà mẹ và Trẻ em lồng ghép hoạt động tuyên truyền vận động, truyền thông
giáo dục sức khỏe, nâng cao nhận thức, thái độ và thay đổi hành vi về chăm sóc
SKSS, SKTD cho VTN, TN.
5.1.8.
Các bệnh viện chỉ đạo tuyến về sản phụ khoa, nhi khoa
Chịu
trách nhiệm phối hợp triển khai hoạt động đào tạo liên tục và giám sát sau đào
tạo về chăm sóc SKSS, SKTD cho VTN, TN.
5.1.9.
Sở Y tế các tỉnh, thành phố
- Căn
cứ vào nhu cầu chăm sóc SKSS, SKTD cho VTN, TN của địa phương cũng như điều kiện
về nguồn lực, tham mưu xây dựng Đề án cấp tỉnh/thành phố về chăm sóc SKSS, SKTD
cho VTN, TN giai đoạn 2026-2030, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt để bố trí
nguồn lực, chỉ đạo thực hiện và triển khai lồng ghép vào các chương trình hiện
có tại địa phương. Huy động nguồn lực, triển khai thực hiện hiệu quả kế hoạch của
địa phương. Định kỳ báo cáo kết quả thực hiện về Ủy ban nhân dân tỉnh/thành phố
và Bộ Y tế.
- Phối
hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo tập huấn nâng cao năng lực về giáo dục giới tính
cho giáo viên.
- Phối
hợp với Liên đoàn Lao động vận động Ban quản lý các Khu công nghiệp tổ chức
chăm sóc SKSS cho công nhân.
5.2.
Cơ chế phối hợp triển khai
5.2.1.
Tại Trung ương
Cục Bà
mẹ và Trẻ em, Bộ Y tế là đơn vị đầu mối và điều phối hoạt động giữa các ngành,
các đơn vị, chương trình/dự án, các tổ chức trong và ngoài nước tham gia vào
công tác chăm sóc SKSS, SKTD cho VTN, TN nhằm tăng cường phối hợp hiệu quả và
tránh trùng lắp. Phối hợp với các ban/ngành/đoàn thể/hội nghề nghiệp xây dựng
các chương trình can thiệp, các mô hình điểm trong truyền thông, cung cấp dịch
vụ chăm sóc SKSS, SKTD thân thiện với VTN, TN.
5.2.2.
Tại các tỉnh, thành phố
Sở Y tế
các tỉnh, thành phố có trách nhiệm:
- Chỉ
đạo các đơn vị thuộc, trực thuộc tại địa phương phối hợp với các Sở, ngành liên
quan tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp của Đề án phù hợp với
tình hình thực tế của địa phương.
- Ưu
tiên bố trí nguồn lực để triển khai thực hiện Đề án.
- Tham
mưu xây dựng Kế hoạch/Đề án cấp tỉnh/thành phố về chăm sóc SKSS, SKTD cho
VTN-TN và kế hoạch triển khai thực hiện Đề án tại địa phương; đồng thời điều phối
các hoạt động về chăm sóc SKSS, SKTD cho VTN, TN giữa các đơn vị, tổ chức trên
địa bàn tỉnh/thành phố nhằm tăng cường hiệu quả phối hợp và tránh trùng lắp./.
[1] Báo cáo Thường niên
UNFPA (UNFPA Annual Report 2024 & 2025) tháng 5/2025
[2] Thống kê Y tế Thế giới 2025
(World Health Statistics 2025), 15/05/2025
[3] Báo cáo Tiến độ Toàn cầu
về HIV, Viêm gan siêu vi và STI giai đoạn 2022-2030: Ngày ban hành: Phiên bản cập
nhật lớn dự kiến công bố tại Đại hội đồng Y tế Thế giới lần thứ 79 (WHA79) vào
đầu năm 2026.
Nội dung: Đánh giá giữa kỳ (Mid-term review) các
chiến lược y tế toàn cầu, trong đó tập trung vào việc giảm tỷ lệ nhiễm mới STI
và HIV trong nhóm thanh niên.
[4] Hướng dẫn Hành động
Toàn cầu Tăng tốc vì Sức khỏe Vị thành niên (AA-HA! Guidance - Phiên bản 2, Cập
nhật gần nhất: Cuối năm 2023 và định hướng triển khai giai đoạn 2026-2030.
[5] Chiến lược Sức khỏe và
Phúc lợi Trẻ em và Vị thành niên 2026-2030 (WHO & UNICEF): Công bố chính thức
vào tháng 01/2026
[6] UNFPA (2017). Điều tra
quốc gia năm 2016 về sức khoẻ sinh sản và sức khoẻ tình dục của thanh thiếu
niên Việt Nam độ tuổi 10-24.
[7] WHO (2020). Report of the 2019 global school-based student
health survey in Viet Nam
[8] Tổng cục thống kê,
UNICEF (2021). Báo cáo kết quả Điều tra các Mục tiêu Phát triển bền vững về trẻ
em và phụ nữ Việt Nam 2020-2021
[9]
https://databank.worldbank.org/reports.aspx?source=2&type=metadata&series=SP.ADO.TFRT
[10] https://sustainability.unaids.org/wp-content/uploads/2024/08/Viet-Nam-Executive-Summary-May-
2024.pdf
[11]
https://www.tandfonline.com/doi/full/10.1080/02673843.2024.2353207?
[12] Save the Children UK
(2022). Research on Adolescent Sexucal and Reproductive Health in Viet Nam
(ASRH)
[13]
https://www.frontiersin.org/journals/reproductive-health/articles/10.3389/frph.2021.775375/full?
[14]
https://www.frontiersin.org/journals/reproductive-health/articles/10.3389/frph.2021.775375/full?
[15] UNFPA, MOH (2021).
Assessment to establish baseline indicators and identify needs for maternal
health interventions for women of ethnic minority groups living in 6 Northern
mountains and Central Highland provinces.
[16] Cục Bà mẹ và Trẻ em
(2025). Báo cáo đánh giá Kết quả thực hiện Đề án và Kế hoạch Quốc gia về Chăm
sóc Sức khoẻ sinh sản, sức khoẻ tình dục cho vị thành niên, thanh niên.
[17] Quyết định số 3261/QĐ-BYT ngày 04/11/2024 về việc Ban hành
tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn Quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản
- nội dung chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên và thanh niên”
[18] Quyết định 2885/QĐ-BYT ngày 22/10/2022 của Bộ Y tế ban
hành tài liệu “Hướng dẫn truyền thông trực tiếp về chăm sóc sức khỏe sinh sản vị
thành niên”.