Kính
gửi: Độc giả Trần Thị Dạ Thảo
Chi cục Thuế Khu vực XVIII có
nhận phiếu chuyển số 373/PC-CT ngày 19 tháng 5 năm 2025 của Cục Thuế về việc
trả lời vướng mắc về chính sách thuế của độc giả Trần Thị Dạ Thảo trên Cổng
thông tin điện tử - Bộ Tài chính.
Chi cục Thuế Khu vực XVIII có ý
kiến như sau:
Tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 1
Thông tư 111/2013/TT-BTC ngày 15/08/2013 của Bộ Tài chính, quy định:
“…Điều 1. Người nộp thuế
1. Cá nhân cư trú là người
đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:
a) Có mặt tại Việt Nam từ 183
ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ
ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam, trong đó ngày đến và ngày đi được tính là một
(01) ngày. Ngày đến và ngày đi được căn cứ vào chứng thực của cơ quan quản lý
xuất nhập cảnh trên hộ chiếu (hoặc giấy thông hành) của cá nhân khi đến và khi
rời Việt Nam. Trường hợp nhập cảnh và xuất cảnh trong cùng một ngày thì được
tính chung là một ngày cư trú.
Cá nhân có mặt tại Việt Nam
theo hướng dẫn tại điểm này là sự hiện diện của cá nhân đó trên lãnh thổ Việt
Nam.
b) Có nơi ở thường xuyên tại
Việt Nam theo một trong hai trường hợp sau:
b.1) Có nơi ở thường xuyên
theo quy định của pháp luật về cư trú:
b.1.1) Đối với công dân Việt
Nam: nơi ở thường xuyên là nơi cá nhân sinh sống thường xuyên, ổn định không có
thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú theo quy định của
pháp luật về cư trú.
b.1.2) Đối với người nước ngoài:
nơi ở thường xuyên là nơi ở thường trú ghi trong Thẻ thường trú hoặc nơi ở tạm
trú khi đăng ký cấp Thẻ tạm trú do cơ quan có thẩm quyền thuộc Bộ Công an cấp.
b.2) Có nhà thuê để ở tại Việt
Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở, với thời hạn của các hợp đồng thuê từ
183 ngày trở lên trong năm tính thuế, cụ thể như sau:
b.2.1) Cá nhân chưa hoặc không
có nơi ở thường xuyên theo hướng dẫn tại điểm b.1, khoản 1, Điều này nhưng có
tổng số ngày thuê nhà để ở theo các hợp đồng thuê từ 183 ngày trở lên trong năm
tính thuế cũng được xác định là cá nhân cư trú, kể cả trường hợp thuê nhà ở
nhiều nơi.
b.2.2) Nhà thuê để ở bao gồm
cả trường hợp ở khách sạn, ở nhà khách, nhà nghỉ, nhà trọ, ở nơi làm việc, ở
trụ sở cơ quan,... không phân biệt cá nhân tự thuê hay người sử dụng lao động thuê
cho người lao động.
Trường hợp cá nhân có nơi ở
thường xuyên tại Việt Nam theo quy định tại khoản này nhưng thực tế có mặt tại
Việt Nam dưới 183 ngày trong năm tính thuế mà cá nhân không chứng minh được là
cá nhân cư trú của nước nào thì cá nhân đó là cá nhân cư trú tại Việt Nam.
Việc chứng minh là đối tượng
cư trú của nước khác được căn cứ vào Giấy chứng nhận cư trú. Trường hợp cá nhân
thuộc nước hoặc vùng lãnh thổ đã ký kết Hiệp định thuế với Việt Nam không có
quy định cấp Giấy chứng nhận cư trú thì cá nhân cung cấp bản chụp Hộ chiếu để
chứng minh thời gian cư trú.
2. Cá nhân không cư trú là
người không đáp ứng điều kiện nêu tại khoản 1, Điều này…”
Tại Điểm c, Khoản 2, Điều 2,
Thông tư 111/2013/TT-BTC ngày 15/08/2013 của Bộ Tài chính, quy định:
“…Điều 2. Các khoản thu
nhập chịu thuế
…
2. Thu nhập từ tiền lương,
tiền công
…
c) Tiền thù lao nhận được dưới
các hình thức như: tiền hoa hồng đại lý bán hàng hóa, tiền hoa hồng môi giới;
tiền tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học, kỹ thuật; tiền tham gia các dự
án, đề án; tiền nhuận bút theo quy định của pháp luật về chế độ nhuận bút; tiền
tham gia các hoạt động giảng dạy; tiền tham gia biểu diễn văn hoá, nghệ thuật,
thể dục, thể thao; tiền dịch vụ quảng cáo; tiền dịch vụ khác, thù lao khác…”
Tại Khoản 1, Điều 18, Thông tư
111/2013/TT-BTC ngày 15/08/2013 của Bộ Tài chính, quy định:
“…Điều 18. Đối với thu
nhập từ tiền lương, tiền công
1. Thuế thu nhập cá nhân đối
với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân không cư trú được xác
định bằng thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công nhân (×) với thuế suất
20%...”
Tại Khoản 4, Điều 2, Thông tư
103/2014/TT-BTC ngày 06/08/2014 của Bộ Tài chính, quy định:
“…Điều 2. Đối tượng không
áp dụng
4. Tổ chức, cá nhân nước ngoài
thực hiện cung cấp dịch vụ dưới đây cho tổ chức, cá nhân Việt Nam mà các dịch
vụ được thực hiện ở nước ngoài:
…
Môi giới: bán hàng hóa, cung
cấp dịch vụ ra nước ngoài…”
Căn cứ những quy định nêu trên,
trường hợp Công ty của độc giả có ký hợp đồng môi giới bán hàng đối với cá nhân
đang làm việc và sinh sống tại Lào không đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 1
Điều 1 Thông tư 111/2013/TT- BTC thì được xác định là cá nhân không cư trú tại
Việt Nam theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Thông tư 111/2013/TT-BTC của Bộ Tài
chính. Đối với cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền
công thì áp dụng mức thuế suất thuế TNCN là 20% theo quy định tại Khoản 1, Điều
18 Thông tư 111/2013/TT-BTC.
Trường hợp Công ty ký hợp đồng với
cá nhân về môi giới bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ ra nước ngoài đáp ứng điều
kiện theo quy định tại khoản 4 Điều 2 Thông tư số 103/2014/TT-BTC thì khoản thu
nhập từ môi giới bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ của cá nhân thuộc đối tượng
không áp dụng thuế nhà thầu.
Chi cục Thuế Khu vực XVIII
thông báo đến độc giả Trần Thị Dạ Thảo biết và thực hiện theo đúng quy định tại
các văn bản quy phạm pháp luật đã được trích dẫn tại văn bản này./.
|
Nơi nhận:
- Như trên;
- Website Chi cục Thuế;
- Phòng NV-DT-PC (để biết);
- Lưu: VT, QLDN2. H(4).
|
KT. CHI CỤC
TRƯỞNG
PHÓ CHI CỤC TRƯỞNG
Huỳnh Minh Giám
|