|
Kính gửi:
|
- Sở Y tế, Sở Giáo dục
và Đào tạo Thành phố Hà Nội;
- Ủy ban nhân dân các Phường, Xã;
- Quý Doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân hoạt động
trên địa bàn thành phố Hà Nội
|
Để hỗ trợ người nộp thuế
trên địa bàn thành phố Hà Nội cập nhập chính sách thuế về các khoản giảm trừ
thu nhập chịu thuế TNCN đối với các khoản chi cho y tế và giáo dục, Thuế Thành
phố Hà Nội tổng
hợp một số văn bản hướng dẫn gửi đến các đơn vị, cụ thể như sau:
1.
Quy định về các khoản giảm trừ thu nhập chịu thuế TNCN kể từ ngày 1/7/2026:
- Căn cứ Nghị định số
253/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật thuế TNCN:
+ Tại Khoản 2, Khoản 3,
Khoản 4, Điều 49 quy định các khoản giảm trừ:
“Điều 49. Giảm trừ đối
với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo và các khoản giảm trừ khác:
...2. Người nộp thuế là cá nhân cư trú được giảm trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ
tiền lương, tiền công các khoản chi cho y tế, giáo dục - đào tạo của người nộp thuế và người phụ thuộc của người nộp thuế, bao gồm:
a) Các khoản chi cho khám bệnh, chữa bệnh tại cơ
sở y tế trong
nước thuộc phạm
vi danh mục do
bảo hiểm y tế
chi trả tổng không quá 23 triệu đồng/năm;
b) Các khoản chi cho giáo dục - đào tạo tại cơ sở giáo dục - đào tạo trong nước tổng không quá 24 triệu đồng/năm, cụ thể: Khoản tiền học phí giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học theo
quy định của pháp luật về giáo dục - đào tạo và các kỹ năng chuyên môn khác tại
cơ sở giáo dục - đào tạo.
3. Các khoản chi phí mà người nộp thuế được giảm trừ quy định tại khoản 2 Điều này phải đáp ứng
các điều kiện sau:
a) Có hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật; riêng đối với khoản chi cho y tế phải có thêm Bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo
quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế;
b) Hóa đơn, chứng từ để được giảm trừ phải thể hiện thông tin của người nộp thuế hoặc người phụ thuộc của người nộp thuế;
c) Không được chi trả từ
các nguồn khác, kể cả từ nguồn tài trợ, hỗ trợ, trả thay của tổ chức, cá nhân, nguồn ngân sách nhà nước,
quỹ bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm chi trả dưới các hình thức.
4. Trường hợp áp dụng giảm thuế đối với các khoản
chi cho y tế tại Điều 40 của Nghị định này hoặc phát sinh các khoản chi cho y tế, giáo dục - đào tạo tại các điểm b, g và i khoản 4 Điều 8 của Nghị định này thì các khoản chi này không tính vào các khoản giảm trừ quy định tại khoản 2 Điều này.”
+ Các khoản thu nhập người
lao động nhận được do chi cho y tế, giáo dục - đào tạo tại các điểm b, g và i khoản 4 Điều
8 không mang tính chất tiền lương, tiền công bao gồm:
“b) Khoản tiền hỗ trợ của người
sử dụng lao động cho việc khám bệnh, chữa bệnh hiểm nghèo cho bản thân người lao động và thân nhân của người lao động
bao gồm: con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng; vợ hoặc chồng; cha đẻ, mẹ đẻ; cha vợ, mẹ vợ (hoặc cha chồng, mẹ chồng);
cha dượng, mẹ kế; cha nuôi, mẹ nuôi.
Mức hỗ trợ không tính
vào thu nhập chịu thuế là số tiền người sử dụng lao động hỗ trợ thực tế theo hóa đơn, chứng từ nhưng tối đa không quá số tiền trả viện phí của người lao động và thân nhân
người lao động sau khi đã trừ số tiền chi trả của tổ chức bảo hiểm (nếu có).
Việc xác định bệnh hiểm
nghèo theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế;
...g) Khoản tiền học
phí cho con của người lao động nước ngoài học tại Việt Nam, con của người lao động
Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài học tại nước ngoài theo bậc học từ mầm non
đến trung học phổ thông do người sử dụng lao động trả thay (hoặc thanh toán)
cho người lao động;
...i) Khoản chi do người
sử dụng lao động trả thay tiền đào tạo nâng cao trình độ, tay nghề cho người
lao động phù hợp với công việc chuyên môn, nghiệp vụ của người lao động hoặc
theo kế hoạch của người sử dụng lao động; ”
+ Tại Khoản 3, Điều 51 quy
định quyết toán thuế:
“3. Trường hợp trong kỳ tính thuế cá nhân có đề nghị giảm thuế
do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo quy định tại Điều
40 của Nghị định này hoặc có phát sinh các khoản giảm trừ quy định tại Điều 49 của Nghị định
này mà người nộp thuế có yêu cầu thực hiện giảm trừ vào thu nhập trước khi tính thuế thì người nộp thuế phải tự quyết toán thuế.”
2.
Quy định về hóa đơn, chứng từ:
- Căn cứ Nghị định số
254/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 của Chính Phủ:
+ Tại Khoản 1, Điều 4,
Chương I quy định nguyên tắc lập, quản lý, sử dụng hóa đơn, chứng từ điện tử:
“Điều 4. Nguyên tắc lập, quản lý, sử dụng hóa đơn, chứng từ điện
tử
1. Khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, người bán phải lập hóa đơn điện tử để giao cho người mua (bao gồm cả các trường hợp hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến
mại, quảng cáo,
hàng mẫu; hàng
hóa, dịch vụ dùng để cho, biếu, tặng, trao đổi, trả thay lương cho người lao động và tiêu dùng nội bộ; xuất
hàng hóa dưới các hình thức cho vay, cho mượn) và các trường hợp lập hóa đơn
theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính, trừ các trường hợp không phải sử dụng
hóa đơn điện tử
theo quy định tại Điều 7 Nghị định này.”
+ Tại Khoản 2, Khoản 4, Điều
9, Chương II quy định thời điểm lập hóa đơn:
“Điều 9. Thời điểm lập hóa đơn:
...2. Thời điểm lập hóa đơn đối với cung cấp dịch vụ là thời điểm hoàn
thành việc cung cấp dịch vụ (bao gồm cả cung cấp dịch vụ cho tổ chức, cá nhân nước ngoài) không
phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền. Trường hợp người cung cấp dịch vụ có thu tiền trước
hoặc trong khi
cung cấp dịch vụ thì thời điểm lập hóa đơn là thời điểm thu
tiền (không bao gồm trường hợp thu tiền đặt
cọc theo quy định Bộ luật Dân sự để đảm bảo thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ).
...4. Thời điểm lập hóa đơn đối với một số trường
hợp cụ thể như sau:
...m) Đối với cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh có sử dụng phần mềm quản lý khám bệnh, chữa bệnh và quản
lý viện phí, từng
giao dịch khám bệnh, chữa bệnh và thực hiện các dịch vụ chụp, chiếu, xét nghiệm
có in phiếu thu tiền (thu viện phí hoặc tiền khám, chụp, chiếu, xét nghiệm) và có lưu trên hệ thống công nghệ
thông tin, nếu khách hàng (người đến khám, chữa bệnh) không có nhu cầu lấy hóa đơn thì cuối ngày cơ sở khám bệnh, chữa bệnh căn cứ thông tin khám, chữa bệnh và thông tin
từ phiếu thu tiền để tổng hợp lập hóa đơn điện tử cho các dịch vụ y tế thực hiện trong ngày, trường hợp khách hàng yêu cầu lập hóa đơn điện tử thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh lập hóa đơn điện tử giao cho khách hàng.
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh lập hóa đơn cho cơ quan bảo hiểm xã hội tại thời điểm được cơ quan bảo hiểm xã hội thanh, quyết toán chi
phí khám bệnh,
chữa bệnh cho
người có thẻ bảo hiểm y tế:”
+ Tại tiết b, Khoản 4, Phụ
lục nội dung hóa đơn kèm theo Nghị định số 254/2026/NĐ-CP:
“b) Trường hợp người mua là người tiêu dùng cung cấp tên, địa chỉ, số định danh cá nhân thì trên hóa đơn phải thể hiện tên, địa chỉ, số định danh cá nhân (đối với người mua là người nước ngoài cung cấp thông tin để lập hóa đơn
thì thông tin về địa chỉ, số định danh cá nhân có thể được thay thế bằng thông tin về
số hộ chiếu hoặc giấy tờ xuất nhập cảnh và quốc tịch của khách hàng): trường
hợp người mua không cung cấp tên, địa chỉ, số định danh cá nhân thì trên hóa đơn thể hiện rõ “Bán cho người tiêu dùng”. Một số trường hợp bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ đặc thù cho người tiêu dùng
là cá nhân quy định tại điểm 9 Phụ lục này thì trên hóa đơn không phải thể hiện tên, địa chỉ, số định danh cá nhân của người
mua.
Hóa đơn không có
thông tin người
mua hoặc hóa
đơn xuất cho người
tiêu dùng thì không có giá trị để tổ chức kinh tế, cơ quan, tổ chức khác, hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh sử dụng vào mục đích hạch toán chi phí hoặc quyết toán thuế theo quy định pháp luật
về thuế.”
- Căn cứ Quyết định số
697/QĐ-BYT ngày 19/3/2026 của Bộ Y tế ban hành mẫu bảng kê chi phí khám bệnh,
chữa bệnh sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh:
“Điều 2. Hướng dẫn kỹ
thuật
1. Trong một lượt khám bệnh, chữa bệnh đối với mỗi người bệnh, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh lập 01 bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh để lưu cùng với hồ sơ khám bệnh,
chữa bệnh của người bệnh đó và 01 bảng kê để cung cấp cho người bệnh.
2. Trường hợp cơ sở
khám bệnh, chữa
bệnh đã triển
khai bệnh án điện tử thì thực hiện lập bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh bản điện tử để lưu trữ cùng hồ sơ bệnh án điện tử của người bệnh và cung
cấp bảng kê cho người bệnh qua phương tiện, thiết bị điện tử, không phải lập bảng kê giấy. Bảng kê điện tử có ký số đầy đủ theo quy định thì có giá trị tương đương bản
giấy. Trường hợp bảng kê giấy có chữ ký trực tiếp (ký tay) của người bệnh được
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chuyển thành file điện tử (scan) và có ký số xác thực
của cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh thì có giá trị như bản điện tử để lưu trữ cùng bệnh án điện tử của người bệnh, thay thế
cho bản giấy.”
Căn cứ các quy định nêu
trên, để đảm bảo quyền lợi của người lao động là các cá nhân có thu nhập từ tiền
lương, tiền
công được tính giảm trừ thu nhập chịu thuế TNCN, Thuế Thành phố Hà Nội đề nghị:
- Các đơn vị hoạt động
trong lĩnh vực y tế, giáo dục thực hiện đúng quy định về việc lập, sử dụng hóa
đơn, thời điểm xuất hóa đơn và lập bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo quy định tại Nghị định số
254/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 của Chính Phủ và Quyết định số 697/QĐ-BYT ngày 19/3/2026 của Bộ Y tế.
- Các doanh nghiệp, tổ chức
sử dụng lao động: Phổ biến, tuyên truyền đến toàn bộ người lao động về việc giảm
trừ thu nhập chịu thuế TNCN đối với các khoản chi cho y tế, giáo dục - đào tạo
của người nộp thuế và người phụ thuộc của người nộp thuế. Cụ thể:
+ Điều kiện để giảm trừ thu nhập: Có đầy đủ hóa đơn, chứng từ
hợp pháp (đối với chi phí y tế có thêm bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh
theo mẫu); hóa đơn thể hiện đầy đủ thông tin của người nộp thuế hoặc người phụ
thuộc của người nộp thuế; các khoản chi này không được đồng thời thanh toán từ
các nguồn được hỗ trợ khác mà không phải do người lao động trực tiếp chi trả.
+ Các khoản thu nhập người
lao động nhận được do chi cho y tế, giáo dục - đào tạo tại các điểm b, g và i khoản 4 Điều
8, Nghị định số 253/2026/NĐ-CP do được xác định là các khoản thu nhập không mang tính chất tiền
lương, tiền công không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN nên sẽ không được tính
vào các khoản giảm trừ khi tính thu nhập chịu thuế TNCN.
+ Các khoản chi cho y tế (bệnh hiểm nghèo) theo Điều
40, Nghị định số 253/2026/NĐ-CP thuộc trường hợp giảm thuế nên không được tính
vào các khoản giảm trừ khi tính thu nhập chịu thuế TNCN.
+ Trường hợp người lao động
có yêu cầu thực hiện giảm trừ vào thu nhập đối với các khoản chi phí giáo dục, y tế nêu trên khi tính
thuế thì người nộp thuế không được ủy quyền quyết toán cho cơ quan chi trả, phải
tự quyết toán thuế thu nhập cá nhân.
- Sở Y tế, Sở Giáo dục và
Đào tạo; Ủy ban
nhân dân các Phường, Xã quan tâm, phối hợp chỉ đạo các cơ sở y tế, giáo dục hoạt
động trên địa bàn thành phố Hà Nội thực hiện đúng các quy định về việc lập, sử
dụng hóa đơn và lập bảng kê chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo các quy định nêu
trên.
Trong quá trình thực hiện
nếu có vướng mắc đề nghị người nộp thuế liên hệ với cơ quan thuế quản lý trực
tiếp để được hướng dẫn và hỗ trợ./.
|
Nơi nhận:
- Như
trên;
- Các Phòng QLDN; CNTK (để t/h);
- Thuế cơ sở (để t/h);
- Đ/c Trưởng Thuế thành phố (để b/c);
- Các đ/c Phó trưởng thuế TP (để chỉ đạo);
- Lưu: VT, QLDN5_NTHang.
|
KT. TRƯỞNG THUẾ THÀNH PHỐ
PHÓ TRƯỞNG THUẾ THÀNH PHỐ
Vũ Hồng Long
|