|
|
Bản dịch này thuộc quyền sở hữu của
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Mọi hành vi sao chép, đăng tải lại mà không có sự đồng ý của
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT là vi phạm pháp luật về Sở hữu trí tuệ.
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT has the copyright on this translation. Copying or reposting it without the consent of
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT is a violation against the Law on Intellectual Property.
X
CÁC NỘI DUNG ĐƯỢC SỬA ĐỔI, HƯỚNG DẪN
Các nội dung của VB này được VB khác thay đổi, hướng dẫn sẽ được làm nổi bật bằng
các màu sắc:
: Sửa đổi, thay thế,
hủy bỏ
Click vào phần bôi vàng để xem chi tiết.
|
|
|
|
Đang tải văn bản...
|
Số hiệu:
|
3570/BKHCN-PC
|
|
Loại văn bản:
|
Công văn
|
|
Nơi ban hành:
|
Bộ Khoa học và Công nghệ
|
|
Người ký:
|
Phạm Đức Long
|
|
Ngày ban hành:
|
27/05/2026
|
|
Ngày hiệu lực:
|
Đã biết
|
|
Tình trạng:
|
Đã biết
|
|
Kính gửi:
|
- Bộ Tư pháp (qua Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật
và Trợ giúp pháp lý);
- UBND các tỉnh, thành phố: Quảng Ninh, Thái Nguyên, Cần Thơ, Đà Nẵng;
- Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT);
- Tổng Công ty Viễn thông Mobifone
|
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng
Chính phủ Lê Minh Hưng, Trưởng Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06; căn cứ Công văn số
3392/BTP-KTVB&TCTHPL ngày 19/5/2026 của Bộ Tư pháp, Bộ Khoa học và Công nghệ
(KH&CN) trả lời các kiến nghị, phản ánh đối với các nội dung thuộc phạm vi
trách nhiệm của Bộ KH&CN mà chưa được các Bộ, cơ quan ngang Bộ nhất trí với
nội dung kiến nghị, phản ánh (chi tiết trong Phụ lục kèm theo). Đồng thời,
trân trọng đề nghị Bộ Tư pháp (qua Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ
giúp pháp lý) hỗ trợ đăng tải nội dung trả lời tại Chuyên mục “Trả lời kiến
nghị, phản ánh về văn bản quy phạm pháp luật” trên Cổng Pháp luật quốc gia để
các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân có kiến nghị, phản ánh được biết.
Trân trọng./.
|
Nơi nhận:
- Như trên;
- Bộ trưởng (để b/c);
- Thứ trưởng Phạm Đức Long;
- Trung tâm Truyền thông (để p/h đăng tải trên cổng TTĐT);
- Lưu: VT, PC (VHQ).
|
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Phạm Đức Long
|
PHỤ LỤC
DANH MỤC KIẾN NGHỊ, PHẢN ÁNH CHƯA ĐƯỢC CÁC BỘ, CƠ QUAN
NGANG BỘ THỐNG NHẤT VỚI NỘI DUNG KIẾN NGHỊ, PHẢN ÁNH CẦN TRẢ LỜI, CÔNG KHAI Ý
KIẾN CHÍNH THỨC
(Kèm theo Công văn số 3570/BKHCN-PC ngày 27 tháng 5 năm 2026 của Bộ
Khoa học và Công nghệ)
Tổng số: 14 nội dung kiến
nghị, phản ánh đối với 07 văn bản (05 Nghị định; 01 Thông tư)[1]
|
STT
|
Điều, khoản, điểm, tên văn bản, nội dung đề xuất xử lý
|
Nội dung phản ánh, kiến nghị
|
Phương án xử lý được đề xuất
(nếu có)
|
Ghi chú
|
Lý do không thống nhất
|
|
(1)
|
(2)
|
(3)
|
(4)
|
(5)
|
(6)
|
|
1.
|
Chưa có quy định
|
Về thu thập, cập nhật, kết nối,
chia sẻ, quản lý, khai thác, sử dụng dữ liệu trên Hệ thống thông tin quốc gia
về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo: Ngày 17/10/2025, Bộ Khoa học và Công
nghệ đã ban hành Thông tư số 22/2025/TT-BKHCN quy định về thu thập, cập nhật,
kết nối, chia sẻ, quản lý, khai thác, sử dụng dữ liệu trên Hệ thống thông tin
quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Thực hiện yêu cầu của
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, Sở Khoa học và Công
nghệ Quảng Ninh đã chủ động phối hợp triển khai tạo lập dữ liệu ngành khoa học
công nghệ Quảng Ninh theo yêu cầu Thông tư số 22/2025/TT-BKHCN. Tuy nhiên quá
trình mời tư vấn triển khai thì xuất hiện khó khăn do chưa có văn bản ban
hành tiêu chuẩn đối với việc số hóa từng trường dữ liệu bảo đảm “đúng, đủ, sạch,
sống, thống nhất, dùng chung” của Bộ Khoa học và Công nghệ nên nhiệm vụ không
thể tiếp tục triển khai các bước tiếp theo.
|
Hướng dẫn áp dụng văn bản
QPPL theo quy định tại Điều 61 Luật Ban hành văn bản QPPL năm
2025
|
- Bộ, ngành có trách nhiệm chủ
trì, phối hợp nghiên cứu xử lý, tham mưu xử lý: Bộ Khoa học và Công nghệ,
Bộ Công an
- Cơ quan kiến nghị/ phản
ánh: UBND tỉnh Quảng Ninh
|
Cơ quan triển khai Hệ thống
thông tin quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (Cục Thông tin,
thống kê) đã có Công văn số 781/TTTK ngày 13/5/2026 về việc trả lời nội dung
kiến nghị, phản ánh đối với văn bản quy phạm pháp luật về khoa học công nghệ
và đổi mới sáng tạo năm 2025. Theo đó, Hệ thống thông tin quốc gia về khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo (nền tảng số quy định tại Luật Khoa học, công
nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025), dự kiến tháng 7/2026 đưa vào sử dụng
chung trên toàn quốc, các yêu cầu kỹ thuật về thu thập, cập nhật, kết nối dữ
liệu của Hệ thống này đã được quy định tại Thông tư số 22/2025/TT-BKHCN của Bộ
Khoa học và Công nghệ. Do vậy, Sở Khoa học và Công nghệ các tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương, trong đó có Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Ninh sẽ
dùng chung nền tảng số này, không cần phải triển khai xây dựng hệ thống tạo lập
dữ liệu mới. Sau khi Hệ thống đi vào hoạt động chính thức, sẽ có hướng dẫn bộ,
ngành, địa phương thu thập, số hoá, cập nhật thông tin cũng như khai thác, sử
dụng Hệ thống thông tin quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
phục vụ quản lý, điều hành của bộ, ngành, địa phương. Bộ KH&CN đã giao Cục
Thông tin Thống kê liên hệ trao đổi làm rõ và hướng dẫn địa phương.
|
|
2.
|
Điều 3 Nghị
định 249/2025/NĐ-CP ngày 19/9/2025 của
Chính phủ quy định cơ chế, chính sách thu hút chuyên gia khoa học, công nghệ,
đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số[2]
|
Điều 3 Nghị định
249/2025/NĐ-CP quy định tiêu chí thu hút chuyên gia quá cao, thiếu thực tế:
Các tiêu chí như phải có bằng Tiến sĩ từ top 200 đại học thế giới hoặc 10 bài
báo quốc tế mới được xem là “Chuyên gia” để hưởng chính sách đặc thù. Trong
lĩnh vực công nghệ số và AI, nhiều chuyên gia giỏi có kinh nghiệm thực chiến
tại các tập đoàn lớn nhưng có thể không đáp ứng đủ số lượng bài báo khoa học.
|
Đề nghị bổ sung tiêu chí tuyển
chọn chuyên gia có kinh nghiệm thực chiến không phụ thuộc vào bằng cấp hoặc
nghiên cứu khoa học để đảm bảo không bỏ lỡ nguồn nhân lực thực tiễn cần thiết
cho doanh nghiệp.
|
- Bộ, ngành có trách nhiệm chủ
trì, phối hợp nghiên cứu xử lý, tham mưu xử lý: Bộ Nội vụ, Bộ Khoa học và
Công nghệ.
- Cơ quan kiến nghị/ phản
ánh: Tập đoàn VNPT
|
Cụ thể như sau: Tại điểm e khoản 3 Điều 3 Nghị định 249/2025/NĐ-CP quy định: “Trường
hợp ứng viên không đáp ứng tiêu chí quy định tại các điểm
a, b, c, d và đ khoản này thì cơ quan, tổ chức, đơn vị có nhu cầu tuyển
chọn chuyên gia quyết định việc tuyển chọn chuyên gia triển khai thực hiện
chương trình, nhiệm vụ, dự án khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển
đổi số và chịu trách nhiệm về quyết định đó”. Như vậy, trường hợp cần
chuyên gia giỏi trong lĩnh vực công nghệ số và AI, có kinh nghiệm thực tiễn
chuyên sâu tại các tập đoàn lớn nhưng không đáp ứng đủ tiêu chí quy định tại
các điểm a, b, c, d và đ khoản khoản 3 Điều 3 Nghị định
249/2025/NĐ-CP thì cơ quan có thẩm quyền căn cứ quy định tại điểm e khoản 3 Điều 3 Nghị định 249/2025/NĐ-CP nêu trên để
quyết định tuyển chọn. Do đó, Bộ Nội vụ đề nghị giữ nguyên như quy định hiện
hành.
|
|
3.
|
Điều 3 và Điều
4 Nghị định 249/2025/NĐ-CP ngày
19/9/2025 của Chính phủ quy định cơ chế, chính sách thu hút chuyên gia khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số[3]
|
Điều 3 quy
định tiêu chí tuyển chọn chuyên gia khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi số; Điều 4 Nghị định 249/2025/NĐ-CP ngày
19/9/2025 của Chính phủ quy định cơ chế, chính sách thu hút chuyên gia khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quy định quy trình tuyển chọn
chuyên gia. Tuy nhiên, một số tiêu chí đánh giá như “giàu kinh nghiệm trong
ngành, lĩnh vực”,…còn mang tính định tính, chưa quy định rõ tiêu chí cụ thể để
đánh giá thống nhất. Ngoài ra, quy trình tuyển chọn chưa quy định rõ thành phần
hội đồng đánh giá hoặc cơ chế lựa chọn chuyên gia trong trường hợp có nhiều hồ
sơ.
|
Đề nghị nghiên cứu hướng dẫn
chi tiết tiêu chí đánh giá chuyên gia và quy trình tuyển chọn nhằm bảo đảm
tính thống nhất khi triển khai tại các cơ quan, đơn vị ở địa phương.
|
- Bộ, ngành có trách nhiệm chủ
trì, phối hợp nghiên cứu xử lý, tham mưu xử lý: Bộ Nội vụ, Bộ Khoa học và
Công nghệ.
- Cơ quan kiến nghị/ phản
ánh: UBND tỉnh Thái Nguyên
|
Việc quy định tiêu chí mang
tính định tính là cần thiết dựa trên yêu cầu chương trình, nhiệm vụ, dự án
khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cụ thể; tạo sự chủ động,
linh hoạt để các bộ, ngành, địa phương được giao chủ trì các chương trình,
nhiệm vụ, dự án xác định tiêu chí cụ thể khi công bố nhu cầu tuyển chọn
chuyên gia và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Do đó, Bộ Nội vụ đề
nghị giữ nguyên như quy định hiện hành.
|
|
4.
|
Nghị định 265/2025/NĐ-CP
ngày 14/10/2025 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
một số điều của Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo về tài chính và
đầu tư trong khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo:
Điều 13.
Nội dung chi của quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp, tổ chức,
đơn vị sự nghiệp
- thực hiện các dự án trọng
điểm, dự án phát triển công nghệ chiến lược[4]
|
Chưa có quy định cụ thể hướng
dẫn quy trình thực hiện đối với dự án trọng điểm; dự án phát triển công nghệ
chiến lược.
|
Đề xuất có thông tư hướng dẫn
cụ thể
|
- Bộ, ngành có trách nhiệm chủ
trì, phối hợp nghiên cứu xử lý, tham mưu xử lý: Bộ Khoa học và Công nghệ
- Cơ quan kiến nghị/ phản
ánh: Tổng Công ty Viễn thông Mobifone
|
Tại khoản 3 Điều
66 Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quy định: “3. Ngoài nội
dung quy định tại khoản 2 Điều này, doanh nghiệp nhà nước
được sử dụng quỹ phát triển khoa học và công nghệ để thực hiện dự án trọng điểm,
dự án phát triển công nghệ chiến lược theo cơ chế đặc biệt quy định tại Điều 31 của Luật này.”
Khoản 2 Điều
31 Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quy định: “2. Doanh
nghiệp được sử dụng kinh phí từ quỹ phát triển khoa học và công nghệ hoặc chi
trực tiếp ngoài quỹ phát triển khoa học và công nghệ để giải mã công nghệ,
mua bí quyết công nghệ.
Đối với dự án trọng điểm,
dự án phát triển công nghệ chiến lược, doanh nghiệp nhà nước được áp dụng cơ
chế đặc biệt, bao gồm:
a) Chỉ định việc thuê
chuyên gia trong nước, nước ngoài và chi trả theo mức kinh phí thỏa thuận;
b) Được thực hiện chỉ định
nhà cung cấp và áp dụng hình thức đàm phán giá để thực hiện các việc sau: mua
trực tiếp công nghệ, sản phẩm, thiết bị nước ngoài nhằm giải mã công nghệ,
phát triển công nghệ chiến lược; mua trực tiếp bí quyết công nghệ. Sản phẩm,
thiết bị sau khi giải mã được coi là vật tư tiêu hao và không tính trong
giá trị tài sản của doanh nghiệp;
c) Triển khai nhiệm vụ, dự
án hợp tác nghiên cứu với nước ngoài để tiếp cận, làm chủ công nghệ;
d) Mua lại doanh nghiệp,
phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu và phát triển; sáp nhập doanh nghiệp để
sở hữu bí quyết công nghệ;
đ) Chi phí cần thiết khác
phục vụ nghiên cứu, tiếp cận, mua bí quyết công nghệ, giải mã công nghệ tiên
tiến của nước ngoài.” Như vậy, theo các quy định nêu trên, chưa có quy định
sử dụng Quỹ phát triển khoa học và công nghệ cho việc thực hiện đầu tư dự án
trọng điểm, dự án công nghệ chiến lược.
|
|
5.
|
Điều 10 Nghị
định số 268/2025/NĐ-CP ngày
14/10/2025 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật
Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về đổi mới sáng tạo; khuyến khích hoạt
động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp; công nhận
trung tâm đổi mới sáng tạo, hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo; công nhận cá nhân,
doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; hạ tầng mạng lưới và hệ sinh thái khởi
nghiệp sáng tạo
|
Điều 10
chỉ quy định các nội dung: Thông báo, kêu gọi đề xuất nhiệm vụ; thời hạn và địa
chỉ nhận hồ sơ; xử lý hồ sơ đề xuất nhiệm vụ nhưng chưa quy định thành phần hồ
sơ đề xuất nhiệm vụ.
|
Bổ sung quy định thành phần hồ
sơ đề xuất nhiệm vụ.
|
- Bộ, ngành có trách nhiệm chủ
trì, phối hợp nghiên cứu xử lý, tham mưu xử lý: Bộ Khoa học và Công nghệ
- Cơ quan kiến nghị/ phản
ánh: UBND thành phố Cần Thơ
|
Thành phần hồ sơ đã được quy
định tại Điều 11 Nghị định 268/2025/NĐ-CP[5].
|
|
6.
|
Điều 10 đến
Điều 14 Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày
14/10/2025 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật
Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về đổi mới sáng tạo; khuyến khích hoạt
động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp; công nhận
trung tâm đổi mới sáng tạo, hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo; công nhận cá nhân,
doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; hạ tầng mạng lưới và hệ sinh thái khởi
nghiệp sáng tạo[6]
|
- Điểm g,
khoản 2, Điều 7 Nghị định số 265/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ
Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khoa học, công
nghệ và đổi mới sáng tạo về tài chính và đầu tư trong khoa học, công
nghệ và đổi mới sáng tạo quy định lập dự toán cho hoạt động khoa học công
nghệ và đổi mới sáng tạo là “Việc lập dự toán kinh phí chi thường xuyên
ngân sách nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ quy định tại điểm
a và điểm b khoản này được thực hiện theo nguyên tắc không trùng lắp; các
Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương, Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm quyết định phê
duyệt số lượng nhiệm vụ dự kiến trên cơ sở danh mục nhiệm vụ khoa
học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đề xuất ; hoạt động hỗ trợ dự kiến; hoạt
động quản lý dự kiến và dự toán kinh phí dự kiến cần thiết để thực hiện quy định
tại các điểm a, b, c, d và đ khoản này đảm bảo đúng quy định
của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;” (cả nhiệm vụ khoa
học công nghệ, đổi mới sáng tạo tài trợ và đặt hàng đều phải thực hiện quy
trình trên).
- Tại khoản 7
Điều 19 Nghị định số 268/2025/NĐ-CP: Đối với nhiệm vụ đổi mới sáng tạo đặt
hàng đã có quy trình bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ,
cơ quan khác thuộc trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt danh mục
nhiệm vụ
- Tuy nhiên, từ Điều 10 đến Điều 14 Nghị định số 268/2025/NĐ-CP: Đối với nhiệm
vụ đổi mới sáng tạo tài trợ mới chỉ quy định từ giai
đoạn thông báo kêu gọi đề xuất đến phê duyệt nhiệm vụ đề xuất, không
có giai đoạn “quyết định phê duyệt số lượng nhiệm vụ dự kiến trên cơ sở danh
mục nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đề xuất” như Nghị định
số 265/2025/NĐ-CP đã quy định ở trên.
- Như vậy, theo điểm g, khoản 2, Điều 7 Nghị định số 265/2025/NĐ-CP, tất
cả các nhiệm vụ khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trước khi lập dự
toán phải có bước “Bộ, cơ quan ngang Bộ, UBND cấp tỉnh phê duyệt số lượng
nhiệm vụ dự kiến trên cơ sở danh mục nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo đề xuất” trong khi đó với nhiệm vụ đổi mới sáng tạo tài trợ từ
Điều 10 đến Điều 14 Nghị định số 268/2025/NĐ-CP lại không
quy định quy trình này là không thống nhất.
|
Hướng dẫn áp dụng văn bản
QPPL theo quy định tại Điều 61 Luật Ban hành văn bản QPPL năm
2025
|
- Bộ, ngành có trách nhiệm chủ
trì, phối hợp nghiên cứu xử lý, tham mưu xử lý: Bộ Khoa học và Công nghệ
- Cơ quan kiến nghị/ phản
ánh: UBND tỉnh Quảng Ninh
|
Tại điểm g,
khoản 2, Điều 7 Nghị định số 265/2025/NĐ-CP quy định “…các Bộ, cơ quan
ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương, Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh có trách nhiệm quyết định phê duyệt số lượng nhiệm vụ dự kiến trên
cơ sở danh mục nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đề xuất; hoạt
động quản lý dự kiến và dự toán kinh phí dự kiến …” là việc cơ quan quản
lý nhà nước xác định dự kiến số lượng, loại hình nhiệm vụ ĐMST, hoạt động
ĐMST, hoạt động quản lý và dự toán kinh phí dự kiến trong một kỳ kế hoạch và
dự toán ngân sách nhà nước.
Việc quy định này phù hợp với
đặc thù của nhiệm vụ ĐMST, hoạt động ĐMST thường do doanh nghiệp, tổ chức thực
hiện là hình thành nhu cầu cấp thiết, xẩy ra quanh năm.
Trong khi đó, quy định từ Điều 10 đến Điều 14 Nghị định số 268/2025/NĐ-CP là trình tự,
thủ tục xác định nhiệm vụ ĐMST từ khâu đề xuất đến xét duyệt, thẩm định và
phê duyệt.
Do vậy, không có sự mâu thuẫn,
không thống nhất.
|
|
7.
|
Khoản 9 Điều
19 Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày
14/10/2025 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật
Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về đổi mới sáng tạo; khuyến khích hoạt
động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp; công nhận
trung tâm đổi mới sáng tạo, hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo; công nhận cá nhân,
doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; hạ tầng mạng lưới và hệ sinh thái khởi
nghiệp sáng tạo[7]
|
Nội dung tại khoản
9 Điều 19 nêu: “Việc thông báo, xét duyệt để giao trực tiếp và tổ chức
thực hiện nhiệm vụ đổi mới sáng tạo đặt hàng thực hiện theo quy định tại các Điều 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17 và Điều 18 Nghị định này” là chưa thống nhất với Điều 10, vì Điều 10 quy định về thông báo,
kêu gọi đề xuất nhiệm vụ đổi mới sáng tạo, không phải thông báo kêu gọi doanh
nghiệp, tổ chức đăng ký thực hiện nhiệm vụ đổi mới sáng tạo đặt hàng.
|
Đề nghị điều chỉnh nội dung tại
khoản 9 Điều 19 cho thống nhất và phù hợp với trình tự
các Điều của Nghị định.
|
- Bộ, ngành có trách nhiệm chủ
trì, phối hợp nghiên cứu xử lý, tham mưu xử lý: Bộ Khoa học và Công nghệ
- Cơ quan kiến nghị/ phản
ánh: UBND thành phố Cần Thơ
|
Điều 10 Nghị
định số 268/2025/NĐ-CP quy định về việc thông báo, kêu gọi đề xuất nhiệm
vụ đổi mới sáng tạo từ tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân có nhu cầu được tài trợ,
hỗ trợ từ ngân sách nhà nước (nhiệm vụ ĐMST hình thành từ nhu cầu của doanh
nghiệp - Bottom-up).
Điều 19 Nghị
định số 268/2025/NĐ-CP quy định xây dựng đề xuất đặt hàng nhiệm vụ đổi mới
sáng tạo do nhà nước có nhu cầu đặt hàng để giải quyết bài toán của Bộ,
ngành, địa phương (Nhiệm vụ ĐMST hình thành từ yêu cầu quản lý nhà nước – Top
- down).
Về trình tự, thủ tục xác định
nhiệm vụ ĐMST là giống nhau.
Do vậy, không có mâu thuẫn
trong quy định này.
|
|
8.
|
- Mẫu số IV.3.4 Mẫu giấy công
nhận doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo Phụ lục IV Nghị định số 268/2025/NĐ-CP
ngày 14/10/2025 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn
một số điều của Luật khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về đổi mới
sáng tạo; khuyến khích hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
trong doanh nghiệp; công nhận trung tâm đổi mới sáng tạo, hỗ trợ khởi nghiệp
sáng tạo; công nhận cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; hạ tầng, mạng
lưới và hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo
- Điều 10 Nghị
quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội về một số cơ chế,
chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân[8]
|
Việc xét công nhận doanh nghiệp
khởi nghiệp sáng tạo được xét theo dự án khởi nghiệp sáng tạo đã được trình
bày trong thuyết minh, tuy nhiên tại biểu mẫu Giấy công nhận doanh nghiệp khởi
nghiệp sáng tạo (mẫu số IV.3.4) chỉ ghi tên doanh nghiệp, mã số thuế/giấy chứng
nhận đăng ký doanh nghiệp và trụ sở chính, không ghi thông tin về tên dự án
khởi nghiệp sáng tạo (như mẫu số IV.3.3 đối với trường hợp công nhận cá nhân,
nhóm cá nhân).
Trong khi đó, theo quy định tại
khoản 1 Điều 10 Nghị quyết số 198/2025/QH15 về một số cơ
chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp
sáng tạo được “…miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời hạn 02 năm và
giảm 50% số thuế phải nộp trong 04 năm tiếp theo đối với thu nhập từ hoạt động
khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo…”.
Tuy nhiên, chưa có hướng dẫn
cụ thể cơ sở xác định “hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo” được miễn thuế.
Trong trường hợp doanh nghiệp được miễn thuế từ các hoạt động từ dự án khởi
nghiệp sáng tạo, đề nghị xem xét bổ sung tên dự án khởi nghiệp sáng tạo vào mẫu
Giấy công nhận doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo để thuận lợi hơn cho doanh
nghiệp khi làm việc với cơ quan thuế.
|
Sửa đổi, bổ sung Nghị định số
268/2025/NĐ-CP
|
- Bộ, ngành có trách nhiệm chủ
trì, phối hợp nghiên cứu xử lý, tham mưu xử lý: Bộ Khoa học và Công
nghệ
- Cơ quan kiến nghị/ phản ánh
(nếu có): UBND thành phố Đà Nẵng
|
- Luật KH,CN&ĐMST đã định
nghĩa đầy đủ “khởi nghiệp sáng tạo” là quá trình hình thành và phát triển mô hình
kinh doanh sáng tạo dựa trên công nghệ, ý tưởng đột phá hoặc mô hình kinh
doanh mới. Trên cơ sở đó, Nghị định số 268/2025/NĐ-CP đã cụ thể hóa bằng việc
sử dụng tiêu chí “dự án khởi nghiệp sáng tạo” như một hình thức thể hiện cụ
thể và có thể kiểm chứng của quá trình này. Do vậy, doanh nghiệp có “dự án khởi
nghiệp sáng tạo” và "khả năng tăng trưởng doanh thu" theo quy định
tại Điều 35 Nghị định 268/2025/NĐ-CP được hiểu là đang thực
hiện hoạt động khởi nghiệp sáng tạo.
- Nghị định số 268/2025/NĐ-CP
quy định những nội dung tối thiểu cần có trong Giấy công nhận doanh nghiệp khởi
nghiệp sáng tạo, vì vậy, ngoài những nội dung quy định tại Giấy công nhận, cơ
quan có thẩm quyền của địa phương có thể ghi bổ sung tên dự án khởi nghiệp
sáng tạo hoặc những nội dung phù hợp khác vào Giấy công nhận (có thể tại phần
“Ghi chú” hoặc thể hiện trong tài liệu kèm theo hồ sơ).
|
|
9.
|
Điều 9, khoản
2 Điều 10 Nghị định số 319/2025/NĐ-CP ngày
12/12/2025 của Chính phủ quy định chi tiết nội dung, trình tự, thủ tục, thẩm
quyền để triển khai các cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt về phát triển
khoa học, công nghệ, nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ đối với công
trình trọng điểm, dự án quan trọng quốc gia lĩnh vực đường sắt theo các Nghị
quyết của Quốc hội
|
Khoản 2 Điều
10 có quy định hồ đăng ký giao nhiệm vụ hoặc đặt hàng nhận chuyển giao
công nghệ gồm:
a) Văn bản đề nghị được lựa
chọn giao nhiệm vụ hoặc đặt hàng nhận chuyển giao công nghệ phục vụ dự án đường
sắt theo Mẫu số 01 của Phụ lục kèm theo Nghị định này;
b) Hồ sơ, tài liệu minh chứng
việc đáp ứng các tiêu chí quy định tại Điều 9 của Nghị định
này;
c) Các tài liệu khác có liên
quan (nếu có).
Quy định tại điểm
b, điểm c là những nội dung mang tính chất định tính, không bảo đảm sự thống
nhất, đầy đủ thông tin trong hồ sơ của các tổ chức, doanh nghiệp tham gia lựa
chọn giao nhiệm vụ hoặc đặt hàng nhận chuyển giao. Bên cạnh đó, việc chưa cụ
thể hóa thành phần hồ sơ gắn với từng điều kiện tại điều 9
Nghị định sẽ không bảo đảm nguyên tắc khách quan trong việc đánh giá của
Hội đồng tư vấn.
|
Ban hành Thông tư hướng dẫn,
xác định rõ thành phần hồ sơ, tài liệu chứng minh việc đáp ứng các tiêu chí
quy định tại Điều 9 Nghị định này theo yêu cầu tại mẫu số
01 phụ lục kèm theo
|
- Bộ, ngành có trách nhiệm chủ
trì, phối hợp nghiên cứu xử lý, tham mưu xử lý: Bộ Khoa học và Công nghệ
chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng
- Cơ quan kiến nghị/ phản
ánh: Bộ Tư pháp
|
(1) Công nghệ trong dự án đường
sắt rất đa dạng, mỗi loại hình đường sắt lại có các loại công nghệ đặc thù khác
nhau, do đó, chuyển giao công nghệ đối với mỗi dự án đường sắt đòi hỏi các
tiêu chí cụ thể khác nhau.
Mỗi dự án có quy mô, phạm vi,
yêu cầu khác nhau, thậm chí cùng một công nghệ phục vụ dự án đường sắt nhưng
yêu cầu của mỗi dự án cũng khác nhau xuất phát từ yêu cầu của chủ đầu tư từng
dự án.
Vì vậy, khoản
2 Điều 9 Nghị định số 319/2025/NĐ-CP quy định chủ đầu tư dự án đường
sắt xác định yêu cầu cụ thể đối với các tiêu chí quy định tại khoản
1 Điều 9 Nghị định số 319/2025/NĐ-CP để bảo đảm phù hợp với loại công nghệ
nhận chuyển giao phục vụ dự án đường sắt tương ứng..
Như vậy, các tiêu chí nêu tại
Điều 9 bao gồm tiêu chí chung (quy định tại khoản 1) và tiêu chí cụ thể sẽ do chủ đầu tư dự án đường sắt
xác định phù hợp với từng dự án. Do đó không thể quy định cụ thể tiêu chí của
từng dự án. Hồ sơ, tài liệu chứng minh đáp ứng tiêu chí quy định tại Điều 9 Nghị định vì thế không thể xác định được đầy đủ các
thành phần theo cả 2 nhóm tiêu chí chung và tiêu chí cụ thể với các luận giải
nêu trên.
(2) Thực tế hiện nay chưa có
dự án đường sắt nào được triển khai nên chưa có đủ cơ sở thực tiễn để Bộ Xây
dựng, UBND các tỉnh, thành phố xác định thành phần hồ sơ, tài liệu làm minh
chứng cho việc đáp ứng tiêu chí. Vì vậy, việc giao cho chủ đầu tư dự án quy định
cụ thể các tiêu chí nêu tại khoản 1 Điều 9 Nghị định là
phù hợp. Thành phần hồ sơ, tài liệu minh chứng việc đáp ứng các tiêu chí phải
dựa trên nội dung cụ thể hoá tiêu chí. Việc quy định cứng các vấn đề này có
thể làm cản trở sự tham gia của các doanh nghiệp vào hoạt động CGCN phục vụ dự
án đường sắt.
Vì vậy, Bộ KH&CN đề xuất
việc cụ thể hóa thành phần hồ sơ đáp ứng theo các điều kiện tại Điều 9 của Nghị định số 319/2025/NĐ-CP tùy theo từng dự án
đường sắt cụ thể và do cơ quan có thẩm quyền thực hiện TTHC hướng dẫn cụ thể.
Việc ban hành Thông tư để quy
định thống nhất thành phần hồ sơ nêu tại Điều 9 tại thời
điểm này chưa đủ cơ sở thực tiễn và chưa đánh giá được tác động, có thể gây
khó khăn, cản trở khi thực thi chính sách tạo điều kiện để các doanh nghiệp
tham gia hoạt động CGCN phục vụ dự án đường sắt
|
|
10.
|
Điều 16 Nghị
định số 353/2025/NĐ-CP ngày
31/12/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức,
hướng dẫn thi hành Luật Công nghiệp công nghệ số[9]
|
Thẩm quyền cấp phép thử nghiệm
được phân chia: UBND tỉnh cấp nếu phạm vi trong tỉnh; Bộ chuyên ngành cấp nếu
phạm vi từ 02 tỉnh trở lên. Tuy nhiên, quy định lại nêu “Trường hợp có khó
khăn vướng mắc về thẩm quyền cấp phép thử nghiệm, Bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định”. Việc
thiếu một cơ quan đầu mối duy nhất cho các sản phẩm công nghệ số liên ngành
(ví dụ: AI trong y tế hoặc tài chính) có thể khiến doanh nghiệp phải thực hiện
nhiều thủ tục hành chính tại nhiều nơi, dẫn đến sự chồng chéo hoặc đùn đẩy
trách nhiệm.
Đồng thời, cũng có thể hiểu
trong trường hợp có vướng mắc, UBND cấp tỉnh có thể báo cáo trực tiếp Thủ tướng
Chính phủ, điều này có phù hợp không khi bỏ qua vai trò quản lý nhà nước của
Bộ quản lý ngành.
|
Sửa đổi, bổ sung Nghị định
353/2025/NĐ-CP theo trình tự, thủ tục rút gọn, quy định rõ thẩm quyền, cơ
quan đầu mối cho các sản phẩm công nghệ số liên ngành
|
- Bộ, ngành có trách nhiệm chủ
trì, phối hợp nghiên cứu xử lý, tham mưu xử lý: Bộ Khoa học và Công nghệ
- Cơ quan kiến nghị/ phản
ánh: Bộ Tư pháp
|
Điều 16 Nghị
định số 353/2025/NĐ-CP đã quy định rõ cơ quan có thẩm quyền chủ trì tiếp
nhận, xem xét, quyết định cấp phép thử nghiệm theo phạm vi, lĩnh vực thử nghiệm,
cụ thể:
- Trường hợp sản phẩm, dịch vụ
ứng dụng công nghệ số thử nghiệm trong 1 tỉnh thì cơ quan có thẩm quyền
tiếp nhận, phối hợp với bộ chuyên ngành, các cơ quan liên quan xem xét, quyết
định cấp phép thử nghiệm là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (khoản 1
Điều 16 Nghị định số 353/2025/NĐ-CP).
- Trường hợp thử nghiệm từ
02 tỉnh trở lên thì Bộ, cơ quan ngang bộ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tiếp nhận,
phối hợp với các cơ quan liên quan xem xét, quyết định cấp phép thử nghiệm sản
phẩm, dịch vụ ứng dụng công nghệ số thuộc lĩnh vực quản lý (khoản 2 Điều 16 Nghị định số 353/2025/NĐ-CP).
Như vậy, khi sản phẩm, dịch vụ
thử nghiệm là sản phẩm, dịch vụ ứng dụng công nghệ số vào ngành, lĩnh vực nào
thì cơ quan có thẩm quyền cấp phép thử nghiệm sẽ là UBND cấp tỉnh (khi thử
nghiệm trong tỉnh đó) hoặc là Bộ quản lý ngành, lĩnh vực đó (là ngành, lĩnh vực
mà sản phẩm, dịch vụ của ngành, lĩnh vực đó ứng dụng công nghệ số để đổi mới
sáng tạo, đem lại lợi ích, giá trị gia tăng, thúc đẩy sự phát triển của công
nghệ). Sản phẩm, dịch vụ thử nghiệm đã được quy định tại Điều
15 của Nghị định số 353/2025/NĐ-CP.
Việc thử nghiệm sản phẩm, dịch
vụ mới sẽ có những vấn đề phát sinh khi cần sự phối hợp của nhiều ngành, lĩnh
vực, do vậy, khoản 3 Điều 16 Nghị định số 353/2025/NĐ-CP
đã quy định trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương trong việc phối hợp cho
ý kiến đối với việc thử nghiệm. Đồng thời, khoản này cũng quy định: nếu có
khó khăn vướng mắc về thẩm quyền cấp phép thử nghiệm, Bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định nhằm để
xử lý trường hợp khi các Bộ, địa phương nhận được các đề nghị thử nghiệm của
tổ chức, doanh nghiệp mà trong quá trình xử lý hồ sơ thấy có vướng mắc về thẩm
quyền thì báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định để bảo đảm giải quyết
khó khăn, vướng mắc nếu có, tạo thuận lợi cho hoạt động thử nghiệm.
Ví dụ thực tiễn đang triển
khai về thẩm quyền cho phép thử nghiệm: đối với việc thử nghiệm thiết bị
bay không người lái để vận chuyển sản phẩm nông sản có thể liên quan đến lĩnh
vực quản lý của nhiều bộ, ngành như Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Xây dựng, Bộ
Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Khoa học và Công nghệ… và địa phương thử nghiệm:
- Trường hợp thử nghiệm tại
01 tỉnh, UBND cấp tỉnh sẽ tiếp nhận, phối hợp với bộ chuyên ngành, các cơ
quan liên quan (Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Xây dựng, Bộ Khoa học và Công
nghệ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường…) xem xét, quyết định cấp phép thử nghiệm.
- Trường hợp thử nghiệm trên
địa bàn từ 02 tỉnh trở lên, Bộ Quốc phòng là cơ quan quản lý nhà ngành, lĩnh
vực đối với thiết bị bay không người lái sẽ là cơ quan có thẩm quyền cho phép
thử nghiệm sẽ tiếp nhận, phối hợp với các cơ quan liên quan (Bộ Công an, Bộ
Xây dựng, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các địa
phương thử nghiệm, …) xem xét, quyết định cấp phép thử nghiệm.
Như vậy, quy định về thẩm quyền
cấp phép thử nghiệm tại Điều 16 Nghị định số 353/2025/NĐ-CP
là rõ ràng và chưa có vướng mắc trong thực tiễn triển khai. Bộ Khoa học và
Công nghệ khẳng định hiện chưa có vướng mắc trong triển khai các quy định này
và sẽ tiếp tục theo dõi sát sao hoạt động thử nghiệm theo quy định của Nghị định
này, báo cáo Chính phủ điều chỉnh kịp thời nếu có các bất cập, vướng mắc phát
sinh trong quá trình triển khai các quy định về thử nghiệm có kiểm soát sản
phẩm, dịch vụ ứng dụng công nghệ số.
|
|
11.
|
Điểm b, c khoản
2 Điều 6 Nghị định số 353/2025/NĐ-CP ngày
31/12/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức,
hướng dẫn thi hành Luật Công nghiệp công nghệ số[10]
|
Để được xác nhận là nhân lực
chất lượng cao (để hưởng quyền cấp thẻ tạm trú 05 năm và ưu đãi thuế), người
nước ngoài phải chứng minh thu nhập bình quân 02 năm gần nhất đạt mức tối thiểu
so với GDP bình quân đầu người tại quốc gia họ làm việc. Việc xác minh mức
GDP theo công bố của LHQ/World Bank và đối soát thu nhập thực tế từ nước
ngoài qua các thủ tục hành chính (hợp pháp hóa lãnh sự, dịch thuật) là quy
trình rườm rà, gây khó khăn cho việc thu hút nhân tài. Đồng thời, việc không
có một cơ quan xác nhận có thể dẫn đến tuỳ tiện trong triển khai, khó khăn
cho người thực hiện
Đồng thời, cần nghiên cứu lại
về tiêu chí này, do đang mang tính suy diễn từ thu nhập cao sang chất lượng
cao, không thể hiện nhân lực được đánh giá bằng năng lực, trình độ.
|
Sửa đổi, bổ sung Nghị định
353/2025/NĐ-CP theo trình tự, thủ tục rút gọn, quy định cụ thể thành phần hồ
sơ, thủ tục xác nhận nhân lực trình độ cao; đánh giá lại sự phù hợp của tiêu
chí để thể hiện năng lực, trình độ của nhân lực trình độ cao
|
- Bộ, ngành có trách nhiệm chủ
trì, phối hợp nghiên cứu xử lý, tham mưu xử lý: Bộ Khoa học và Công nghệ
- Cơ quan kiến nghị/ phản
ánh: Bộ Tư pháp
|
Khoản 1 Điều
19 Luật CNCNS giao Chính phủ quy định chi tiết tiêu chí nhân lực công
nghiệp công nghệ số chất lượng cao.
Từ Điều 5 đến
Điều 10 Nghị định số 353/2025/NĐ-CP đã quy định tiêu chí nhằm xác lập căn
cứ nhận diện đối tượng để làm cơ sở áp dụng các chính sách theo quy định của
pháp luật có liên quan. Cụ thể, đối với chính sách miễn thuế thu nhập cá
nhân, Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 quy định trường hợp miễn thuế đối với
nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao trong một số lĩnh vực. Hồ
sơ, trình tự, thủ tục miễn thuế thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về thuế
và thẩm quyền hướng dẫn của cơ quan quản lý thuế. Khoản 6 Điều
19 Luật Quản lý thuế giao Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết về hồ
sơ miễn thuế, giảm thuế, không thu thuế, không chịu thuế; trách nhiệm tiếp nhận,
giải quyết và phản hồi thông tin hồ sơ miễn thuế, giảm thuế, không thu thuế của
cơ quan quản lý thuế; trình tự, thủ tục giải quyết miễn thuế, giảm thuế,
không thu thuế, thu hồi tiền miễn thuế, thu hồi tiền giảm thuế.
Trong quá trình triển khai,
trường hợp có khó khăn vướng mắc, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ phối hợp với
các bộ, ngành liên quan để giải đáp, hỗ trợ doanh nghiệp, bảo đảm thống nhất
trong tổ chức thực hiện và phù hợp với quy định của pháp luật chuyên ngành.
Về việc nghiên cứu lại tiêu
chí về thu nhập cao: Tiêu chí về thu nhập bình quân tại Nghị định số
353/2025/NĐ-CP được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và thực
tiễn tại Việt Nam. Trong quá trình xây dựng, Nghị định đã được gửi xin ý kiến
các bộ ngành, địa phương, tổ chức, doanh nghiệp. Do đó, Bộ Khoa học và Công
nghệ bảo lưu tiêu chí này tại Nghị định.
|
|
12.
|
Khoản 4, 5 Điều
4 và Điều 6 Thông tư số 30/2025/TT-BKHCN ngày
14/11/2025 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành tiêu chí đối với
dây chuyền công nghệ, thiết bị, máy móc, công cụ đã qua sử dụng được nhập khẩu
phục vụ trực tiếp dự án sản xuất, đóng gói, kiểm thử sản phẩm chip bán dẫn và
hoạt động đào tạo, nghiên cứu và phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghệ số[11]
|
Thiết bị đã qua sử dụng phải
đạt công suất còn lại từ 85% trở lên và mức tiêu hao năng lượng không quá 15%
so với thiết kế. Doanh nghiệp phải tự cam kết và chịu trách nhiệm. Tuy nhiên,
việc đo kiểm các chỉ số này đối với dây chuyền bán dẫn hoặc thiết bị công nghệ
số cực kỳ tinh vi là rất khó thực hiện.
Đồng thời, nội dung này chưa
được quy định cụ thể về thủ tục hành chính, hay có một cơ quan cụ thể thực hiện
việc xác nhận, nên có thể hiểu doanh nghiệp được quyền chủ động nhập thiết bị,
máy móc, dây chuyền về theo đánh giá chủ quan của doanh nghiệp.
Điều này có thể tạo thuận lợi
cho doanh nghiệp trong việc nhập khẩu trang thiết bị, máy móc, dây chuyền,
nhưng cũng đồng thời tạo ra rủi ro nếu thiết bị đã qua sử dụng sau khi nhập
khẩu không đáp ứng tiêu chí theo đánh giá của cơ quan quản lý nhà nước, doanh
nghiệp phải tái xuất, gây thiệt hại lớn về chi phí.
|
Sửa đổi, bổ sung Thông tư số
30/2025/TT-BKHCN theo quy trình, thủ tục rút gọn, bảo đảm quy định thống nhất
tiêu chí đánh giá đối với dây truyền công nghệ đã sử dụng được nhập khẩu.
|
- Bộ, ngành có trách nhiệm chủ
trì, phối hợp nghiên cứu xử lý, tham mưu xử lý: Bộ Khoa học và Công nghệ
- Cơ quan kiến nghị/ phản
ánh: Bộ Tư pháp
|
Khoản 5 Điều
39 Luật Công nghiệp công nghệ số quy định: “Doanh nghiệp tự chứng minh
việc đáp ứng các tiêu chí quy định tại khoản 4 Điều này để
được hưởng các cơ chế hỗ trợ, ưu đãi tại Điều này và chịu trách nhiệm về tính
chính xác đối với thông tin cung cấp.”. Do vậy, doanh nghiệp tiếp nhận,
nhập khẩu tự chứng minh đáp ứng các tiêu chí theo một trong các phương án dưới
đây:
- Có tài liệu minh chứng để
chứng minh việc thiết bị, máy móc, công cụ đã qua sử dụng được nhập khẩu đáp ứng
quy định tại Điều 5 Thông tư số 30/2025/TT-BKHCN. Tài liệu
minh chứng có thể bao gồm nhưng không giới hạn những thông tin như số liệu;
hình ảnh; bài đo, phương pháp đo, kết quả đo (nếu có) để minh chứng đáp ứng.
Tài liệu minh chứng đáp ứng được thực hiện tại thời điểm gần nhất, khi thiết
bị, máy móc, công cụ đang hoạt động, trước khi nhập khẩu. Doanh nghiệp nhập
khẩu cam kết và chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với tính chính xác của
các thông tin, tài liệu cung cấp theo quy định tại khoản 2,
Điều 6 Thông tư số 30/2025/TT-BKHCN.
- Việc minh chứng đáp ứng
cũng có thể được thực hiện bởi bên thứ ba, theo đó, doanh nghiệp nhập khẩu
cũng có thể thực hiện hoạt động giám định máy móc, thiết bị, dây chuyền công
nghệ đã qua sử dụng theo quy định tại Điều 10, 11 Quyết định
số 18/2019/QĐ-TTg
- Bộ Khoa học và Công nghệ (Cục
Công nghiệp công nghệ thông tin) có văn bản hướng dẫn Đại học Quốc gia Hà Nội;
Ban Quản lý Khu CNC Thành phố Hồ Chí Minh về việc việc nhập khẩu máy móc, thiết
bị đã qua sử dụng phục vụ hoạt động đào tạo, nghiên cứu và phát triển; Công
ty TNHH Amkor Technology Việt Nam về việc việc tiếp nhận, nhập khẩu dây chuyền
công nghệ, thiết bị, máy móc, công cụ đã qua sử dụng phục vụ trực tiếp dự án
đóng gói, kiểm thử sản phẩm chip bán dẫn. Hiện tại các cơ quan, tổ chức này
đã thực hiện quá trình nhập khẩu theo quy định tại Thông tư 30/2025/TT-BKHCN
và hướng dẫn của Bộ Khoa học và Công nghệ. Bộ Khoa học và Công nghệ chưa ghi
nhận các khó khăn vướng mắc khác sau khi các doanh nghiệp được Bộ Khoa học và
Công nghệ hướng dẫn. Trong trường hợp Bộ Khoa học và Công nghệ có ghi nhận vướng
mắc khác trong triển khai, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ có phương án điều chỉnh
kịp thời.
|
|
13.
|
Chưa có quy định
|
Nghiên cứu thiết lập Sàn giao
dịch Tài sản Trí tuệ quốc gia (có tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) để định giá
thời gian thực. Nghiên cứu thí điểm cơ chế "Tín dụng dựa trên sở hữu trí
tuệ", nơi Nhà nước bảo lãnh 50-70% giá trị khoản vay cho các startup nắm
giữ công nghệ lõi
|
Hướng dẫn áp dụng văn bản
QPPL theo quy định tại Điều 61 Luật Ban hành văn bản QPPL năm
2025
|
- Bộ, ngành có trách nhiệm chủ
trì, phối hợp nghiên cứu xử lý, tham mưu xử lý: Bộ Khoa học và Công nghệ
- Cơ quan kiến nghị/
phản ánh: Bộ Tư pháp tổng hợp từ các nguồn thông tin
|
Luật Sở hữu trí tuệ đã quy định
về cơ sở dữ liệu giá giao dịch tài sản trí tuệ tại khoản 1 Điều
11b, trên cơ sở đó Nghị định số 65/2023/NĐ-CP ngày 23/8/2023 của Chính phủ
quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về sở
hữu công nghiệp, bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng
và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số
15/2026/NĐ-CP ngày 14/01/2026, Nghị định số 33/2026/NĐ-CP ngày 21/01/2026 và
Nghị định số 100/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026 của Chính phủ) cũng đã quy định
chi tiết về cơ sở dữ liệu về giá giao dịch tài sản trí tuệ tại Điều
9d. Hiện nay đang xây dựng kế hoạch, đề xuất nhiệm vụ để xin nguồn lực,
phối hợp với các đơn vị liên quan triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu này theo
quy định.
|
|
14.
|
Chưa có quy định
|
Rút ngắn thủ tục giao quyền sở
hữu tài sản trí tuệ xuống tối đa 6 tháng và tăng tỷ lệ chia lợi ích cho nhà
khoa học.
|
Hướng dẫn áp dụng văn bản
QPPL theo quy định tại Điều 61 Luật Ban hành văn bản QPPL năm
2025
|
- Bộ, ngành có trách nhiệm chủ
trì, phối hợp nghiên cứu xử lý, tham mưu xử lý: Bộ Khoa học và Công nghệ
- Cơ quan kiến nghị/
phản ánh: Bộ Tư pháp tổng hợp từ các nguồn thông tin
|
Về giao quyền quản lý, sử dụng,
sở hữu kết quả nhiệm vụ KH,CN&ĐMST: Theo Điều 25 của Luật
KH,CN&ĐMST, trừ một số trường hợp đặc biệt, tổ chức chủ trì được Nhà
nước giao tự động quyền quản lý, sử dụng, quyền sở hữu phần kết quả nhiệm vụ
KH,CN&ĐMST tương ứng với kinh phí từ NSNN (không phải thực hiện thủ tục
giao quyền quản lý, sử dụng, quyền sở hữu và không phải bồi hoàn chi phí cho
Nhà nước). Quy định này cũng được hướng dẫn chi tiết theo Điều
32 của Nghị định số 267/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ quy định
chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật KH,CN&ĐMST về chương trình,
nhiệm vụ KH,CN&ĐMST và một số quy định về thúc đẩy hoạt động nghiên cứu
khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo, theo đó việc giao quyền
quản lý, sử dụng, quyền sở hữu phần kết quả nhiệm vụ KH,CN&ĐMST từ NSNN đều
hoàn toàn tự động, không cần qua thủ tục hành chính. Do đó, ý kiến “đề nghị Bộ
KH&CN nghiên cứu rút ngắn thủ tục giao quyền sở hữu tài sản để bảo đảm
phù hợp với tình hình thực tiễn” trong trường hợp này là chưa phù hợp.
|
[1]
Tính đến ngày 14/5/2026, có 55/70 nội dung kiến nghị, phản ánh đã trả lời
bằng văn bản, công khai trên Cổng Pháp luật quốc gia, Cổng Thông tin điện tử của
các Bộ, cơ quan ngang Bộ, còn 15/70 nội dung kiến nghị, phản ánh cần trả
lời bằng văn bản, công khai trên Cổng Pháp luật quốc gia, Cổng Thông tin điện tử
của các Bộ, cơ quan ngang Bộ do các cơ quan mới thống nhất ý kiến.
[2]
Chuyển từ số thứ tự 2 mục B Phụ lục III kèm theo Báo cáo số 207/BC-BTP.
[3]
Chuyển từ số thứ tự 3 mục B Phụ lục III kèm theo Báo cáo số 207/BC-BTP.
[4] Chuyển
từ số thứ tự 1 mục C Phụ lục III kèm theo Báo cáo số 207/BC-BTP.
[5]
Chuyển từ số thứ tự 5 mục D Phụ lục I kèm theo Báo cáo số 207/BC-BTP.
[6]
Chuyển từ số thứ tự 3 mục A Phụ lục III kèm theo Báo cáo số 207/BC-BTP.
[7]
Chuyển từ số thứ tự 4 mục A Phụ lục III kèm theo Báo cáo số 207/BC-BTP.
[8]
Chuyển từ số thứ tự 5 mục B Phụ lục III kèm theo Báo cáo số 207/BC-BTP.
[9]
Chuyển từ số thứ tự 6 mục D Phụ lục III kèm theo Báo cáo số 207/BC-BTP.
[10]
Chuyển từ số thứ tự 7 mục D Phụ lục III kèm theo Báo cáo số 207/BC-BTP.
[11]
Chuyển từ số thứ tự 6 mục D Phụ lục I kèm theo Báo cáo số 207/BC-BTP.
Công văn 3570/BKHCN-PC năm 2026 công khai ý kiến trả lời các phản ánh, kiến nghị trên Cổng Pháp luật quốc gia (lần 2) do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành
Văn bản này chưa cập nhật nội dung Tiếng Anh
Công văn 3570/BKHCN-PC ngày 27/05/2026 công khai ý kiến trả lời các phản ánh, kiến nghị trên Cổng Pháp luật quốc gia (lần 2) do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành
Văn bản liên quan
Ban hành:
04/09/2026
Hiệu lực: Đã biết
Cập nhật:
07/09/2026
Ban hành:
30/07/2026
Hiệu lực: Đã biết
Cập nhật:
21/08/2026
Ban hành:
31/03/2026
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
03/04/2026
Ban hành:
03/03/2026
Hiệu lực: Đã biết
Cập nhật:
06/03/2026
Ban hành:
29/01/2026
Hiệu lực: Đã biết
Cập nhật:
13/03/2026
Ban hành:
26/01/2026
Hiệu lực: Đã biết
Cập nhật:
07/03/2026
Ban hành:
21/01/2026
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
22/01/2026
Ban hành:
14/01/2026
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
15/01/2026
Ban hành:
31/12/2025
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
10/01/2026
10
Nghị định 319/2025/NĐ-CP hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục, thẩm quyền để triển khai các cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt về phát triển khoa học, công nghệ, nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ đối với công trình trọng điểm, dự án quan trọng quốc gia lĩnh vực đường sắt theo các Nghị quyết của Quốc hội
Tiếng Anh
|
Lược đồ
|
Liên quan hiệu lực
|
Tải về
Ban hành:
12/12/2025
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
16/12/2025
187
|
NỘI DUNG SỬA ĐỔI, HƯỚNG DẪN
Văn bản bị thay thế
Văn bản thay thế
Chú thích
Chú thích:
Rà chuột vào nội dụng văn bản để sử dụng.
<Nội dung> = Nội dung hai
văn bản đều có;
<Nội dung> =
Nội dung văn bản cũ có, văn bản mới không có;
<Nội dung> = Nội dung văn
bản cũ không có, văn bản mới có;
<Nội dung> = Nội dung được sửa đổi, bổ
sung.
Click trái để xem cụ thể từng nội dung cần so sánh
và cố định bảng so sánh.
Click phải để xem những nội dung sửa đổi, bổ sung.
Double click để xem tất cả nội dung không có thay
thế tương ứng.
Tắt so sánh [X] để
trở về trạng thái rà chuột ban đầu.
FILE ĐƯỢC ĐÍNH KÈM THEO VĂN BẢN
FILE ATTACHED TO DOCUMENT
|
|
|
|
|
Địa chỉ:
|
17 Nguyễn Gia Thiều, P. Xuân Hòa, TP.HCM
|
|
Điện thoại:
|
(028) 3930 3279 (06 lines)
|
|
E-mail:
|
inf[email protected]
|
|
Mã số thuế:
|
0315459414
|
|
|
|
TP. HCM, ngày 31/05/2021
Thưa Quý khách,
Đúng 14 tháng trước, ngày 31/3/2020, THƯ VIỆN PHÁP LUẬT đã bật Thông báo này, và nay 31/5/2021 xin bật lại.
Hơn 1 năm qua, dù nhiều khó khăn, chúng ta cũng đã đánh thắng Covid 19 trong 3 trận đầu. Trận 4 này, với chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, chắc chắn chúng ta lại thắng.
Là sản phẩm online, nên 250 nhân sự chúng tôi vừa làm việc tại trụ sở, vừa làm việc từ xa qua Internet ngay từ đầu tháng 5/2021.
Sứ mệnh của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT là:
sử dụng công nghệ cao để tổ chức lại hệ thống văn bản pháp luật,
và kết nối cộng đồng Dân Luật Việt Nam,
nhằm:
Giúp công chúng “…loại rủi ro pháp lý, nắm cơ hội làm giàu…”,
và cùng công chúng xây dựng, thụ hưởng một xã hội pháp quyền trong tương lai gần;
Chúng tôi cam kết dịch vụ sẽ được cung ứng bình thường trong mọi tình huống.
THÔNG BÁO
về Lưu trữ, Sử dụng Thông tin Khách hàng
Kính gửi: Quý Thành viên,
Nghị định 13/2023/NĐ-CP về Bảo vệ dữ liệu cá nhân (hiệu lực từ ngày 01/07/2023) yêu cầu xác nhận sự đồng ý của thành viên khi thu thập, lưu trữ, sử dụng thông tin mà quý khách đã cung cấp trong quá trình đăng ký, sử dụng sản phẩm, dịch vụ của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT.
Quý Thành viên xác nhận giúp THƯ VIỆN PHÁP LUẬT được tiếp tục lưu trữ, sử dụng những thông tin mà Quý Thành viên đã, đang và sẽ cung cấp khi tiếp tục sử dụng dịch vụ.
Thực hiện Nghị định 13/2023/NĐ-CP, chúng tôi cập nhật Quy chế và Thỏa thuận Bảo về Dữ liệu cá nhân bên dưới.
Trân trọng cảm ơn Quý Thành viên.
Tôi đã đọc và đồng ý Quy chế bảo vệ dữ liệu cá nhân
Tiếp tục sử dụng

Cảm ơn đã dùng ThuVienPhapLuat.vn
- Bạn vừa bị Đăng xuất khỏi Tài khoản .
-
Hiện tại có đủ người dùng cùng lúc,
nên khi người thứ vào thì bạn bị Đăng xuất.
- Có phải do Tài khoản của bạn bị lộ mật khẩu
nên nhiều người khác vào dùng?
- Hỗ trợ: (028) 3930.3279 _ 0906.229966
- Xin lỗi Quý khách vì sự bất tiện này!
Tài khoản hiện đã đủ người
dùng cùng thời điểm.
Quý khách Đăng nhập vào thì sẽ
có 1 người khác bị Đăng xuất.
Tài khoản của Quý Khách đẵ đăng nhập quá nhiều lần trên nhiều thiết bị khác nhau, Quý Khách có thể vào đây để xem chi tiết lịch sử đăng nhập
Có thể tài khoản của bạn đã bị rò rỉ mật khẩu và mất bảo mật, xin vui lòng đổi mật khẩu tại đây để tiếp tục sử dụng
|
|