NGHỊ QUYẾT
PHIÊN
HỌP CHUYÊN ĐỀ VỀ XÂY DỰNG PHÁP LUẬT THÁNG 8 NĂM 2025
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức
Chính phủ ngày 18 tháng 02 năm 2025;
Căn cứ Nghị định số 39/2022/NĐ-CP
ngày 18 tháng 6 năm 2022 của Chính phủ ban hành Quy chế làm việc của Chính phủ;
Trên cơ sở thảo luận của các Thành viên Chính phủ
và kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Phiên họp Chính phủ, tổ chức vào ngày
04 tháng 9 năm 2025,
QUYẾT NGHỊ:
Trong không khí cả nước hướng về lễ kỷ niệm 80 năm
Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã tập trung chỉ đạo các Bộ,
cơ quan bám sát quan điểm, chủ trương đường lối, quyết sách của Đảng, phát huy
tinh thần tích cực chủ động, trách nhiệm cao, đẩy mạnh công tác xây dựng, hoàn
thiện thể chế, nhất là đối với các dự án Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết để trình
Quốc hội xem xét, chú trọng nâng cao chất lượng trong hoạt động xây dựng văn bản
quy phạm pháp luật, bảo đảm cơ sở pháp lý để kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn về
thể chế, pháp luật, tạo thuận lợi cho các hoạt động sản xuất, thương mại, đầu
tư, công tác an sinh xã hội và người dân, doanh nghiệp.
Tại Phiên họp Chính phủ chuyên đề xây dựng pháp luật
tháng 8 năm 2025, Chính phủ đã thảo luận, cho ý kiến đối với 08 dự án luật và
01 hồ sơ chính sách dự án luật để trình Quốc hội nhằm kịp thời thể chế hóa chủ
trương, đường lối của Đảng trong các lĩnh vực liên quan; tháo gỡ kịp thời một số
vướng mắc, bất cập có nguyên nhân từ quy định của pháp luật; tiếp tục đẩy mạnh
phân cấp, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính; củng cố cơ sở pháp lý
cho hoạt động quản lý nhà nước trên môi trường mạng, liên thông dữ liệu điện tử,
bảo đảm nhanh chóng vận hành ổn định, hiệu quả của tổ chức chính quyền địa
phương 2 cấp, đáp ứng yêu cầu thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và đạt được
mục tiêu tăng trưởng đã đề ra của năm 2025.
Chính phủ ghi nhận, đánh giá cao các Bộ: Tư pháp; Y
tế; Công an; Khoa học và Công nghệ; Tài chính; Nông nghiệp và Môi trường và
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã khẩn trương chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ
quan liên quan chuẩn bị, trình Chính phủ các dự án: (1) dự án Luật Giám định tư
pháp (sửa đổi); (2) dự án Luật Phòng bệnh; (3) dự án Luật Dân số (sửa đổi); (4)
dự án Luật Bảo hiểm tiền gửi (sửa đổi); (5) dự án Luật Tiết kiệm, chống lãng
phí; (6) dự án Luật Chuyển đổi số; (7) dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Địa chất và Khoáng sản; (8) dự án Luật An ninh mạng và (9) Hồ sơ chính
sách xây dựng Luật Quản lý thuế (sửa đổi); đồng thời ghi nhận sự tích cực, chủ
động của các bộ, cơ quan liên quan trong việc tham gia ý kiến, hoàn thiện dự án
luật, nghị quyết với tinh thần trách nhiệm cao, bảo đảm tiến độ và chất lượng.
Trên cơ sở xem xét hồ sơ trình của các bộ, cơ quan
và các ý kiến phát biểu tại Phiên họp, Chính phủ thống nhất quyết nghị đối với
các dự án luật nêu trên.
I. Dự án Luật Giám định tư pháp
(sửa đổi)
1. Chính phủ đánh giá cao Bộ Tư pháp đã chủ trì, phối
hợp với các bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu, xây dựng dự án Luật Giám định tư
pháp (sửa đổi) theo quy định của Luật Ban hành
văn bản quy phạm pháp luật.
2. Chính phủ thống nhất về sự cần thiết sửa đổi
toàn diện Luật Giám định tư pháp hiện hành để
soạn thảo luật thay thế nhằm tiếp tục thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng,
Nhà nước về cải cách tư pháp, đấu tranh, phòng, chống tham nhũng, lãng phí[1]; khắc phục những hạn chế, bất cập
trong tổ chức, hoạt động giám định tư pháp, góp phần giải quyết các vụ án kịp
thời, khách quan, nâng cao chất lượng hoạt động tố tụng.
3. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan
liên quan nghiên cứu, tiếp thu tối đa ý kiến của các Thành viên Chính phủ, đại
biểu dự họp, tiếp tục rà soát hoàn thiện dự án Luật bảo đảm yêu cầu sau:
- Thể chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về cải
cách tư pháp, đổi mới tổ chức và hoạt động giám định tư pháp; phù hợp với Hiến pháp, pháp luật có liên quan. Nghiên cứu, kế
thừa những chính sách, quy định trong Luật hiện hành đã được thực tế chứng
minh, áp dụng có hiệu quả; bổ sung các quy định để xử lý bất cập, vướng mắc
phát sinh trên thực tiễn.
- Rà soát, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với các
quy định pháp luật có liên quan, như: Bộ luật Dân
sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, ...; phù hợp với các điều
ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Tham khảo kinh nghiệm quốc tế, lựa chọn
tiếp thu phù hợp với đặc điểm, điều kiện của Việt Nam. Tham vấn các chuyên gia,
nhà khoa học, người làm công tác thực tiễn; đẩy mạnh truyền thông chính sách để
tạo sự đồng thuận; phối hợp hiệu quả với các bộ, ngành, cơ quan của Đảng, cơ
quan của Quốc hội, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
hoàn thiện Hồ sơ chính sách Luật.
- Tiếp tục rà soát, cắt giảm tối đa thủ tục hành
chính, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong thực hiện thủ tục hành chính; tiếp tục
rà soát, đề xuất phân cấp, phân quyền triệt để cho các cơ quan, địa phương trực
tiếp quản lý, thực hiện (gắn với cơ chế kiểm soát, giám sát; bảo đảm rõ người,
rõ việc, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ kết quả) nhằm khắc phục
tình trạng đùn đẩy, né tránh trong tiếp nhận và thực hiện giám định, gây ảnh hưởng
đến tiến độ giải quyết các vụ án, đồng thời bảo đảm phù hợp với khả năng chuyên
môn của tổ chức giám định đối với vụ việc khó, phức tạp.
- Tiếp tục nghiên cứu, rà soát, bổ sung các chế độ,
chính sách ưu đãi để giữ và thu hút người làm giám định trong các lĩnh vực giám
định chuyên trách; tiếp tục nghiên cứu cơ chế bảo vệ, miễn trừ trách nhiệm đối
với giám định viên. Quy định rõ, khả thi nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả
công tác quản lý nhà nước và nâng cao trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền
tiến hành tố tụng đối với công tác giám định tư pháp, bảo đảm phối hợp hiệu quả
giữa cơ quan quản lý nhà nước về giám định tư pháp với cơ quan tiến hành tố tụng
các cấp.
- Về lĩnh vực giám định pháp y tại địa phương (Điều
15 dự thảo Luật): Bộ Tư pháp tiếp tục nghiên cứu quy định theo hướng Phòng kỹ
thuật hình sự thuộc Công an tỉnh, thành phố được thực hiện giám định pháp y tử
thi và giám định pháp y thương tích vì khả năng chuyên môn đã đáp ứng yêu cầu,
tạo thuận lợi cho cơ quan trưng cầu giám định tư pháp trong trường hợp vụ việc,
vụ án cần giám định cả về giám định pháp y thương tích và giám định pháp y tử
thi, đồng thời cần nghiên cứu tổ chức lại các cơ quan giám định pháp y công lập
tại địa phương nhằm tránh chồng chéo, lãng phí.
- Về mở rộng phạm vi xã hội hóa giám định tư pháp
(Điều 18 dự thảo Luật): Bộ Tư pháp tiếp tục rà soát, nghiên cứu quy định theo
hướng mở rộng phạm vi giám định đối với Văn phòng giám định tư pháp như dự thảo
Luật nhằm phục vụ nhu cầu của hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, nhu
cầu của tổ chức, cá nhân trong xã hội; riêng các chuyên ngành ADN, tài liệu, kỹ
thuật số và điện tử, dấu vết đường vân thì việc giám định phục vụ hoạt động tố
tụng hình sự phải do tổ chức giám định tư pháp công lập thực hiện, bảo đảm đáp ứng
được yêu cầu, tính chất của hoạt động tố tụng, đồng thời phù hợp với chủ trương
của Đảng về xã hội hóa lĩnh vực giám định tư pháp.
- Về thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên
tư pháp của Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Viện Kiểm sát nhân
dân tối cao (Điều 9 dự thảo Luật): Thống nhất nội dung dự thảo Luật quy định
theo hướng Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư
pháp đối với người làm việc tại cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ở lĩnh vực chuyên môn thuộc
thẩm quyền quản lý nhằm tạo sự chủ động cho Bộ, ngành chủ quản gắn với trách
nhiệm quản lý, sử dụng và giám sát đội ngũ giám định viên do mình bổ nhiệm;
tránh tình trạng Cơ quan quản lý sử dụng giám định viên nhưng không có thẩm quyền
bổ nhiệm vì bản chất đây là hoạt động công vụ.
- Về cơ chế thanh toán chi phí giám định tư pháp
(Điều 38 dự thảo Luật): Thống nhất với dự thảo Luật quy định theo hướng, chuyển
việc lập dự toán thanh toán sang cho cơ quan, tổ chức thực hiện giám định (đối
với các cơ quan, tổ chức nhà nước được ngân sách nhà nước bố trí kinh phí hoạt
động) vì cơ quan thực hiện giám định trực tiếp quản lý người thực hiện giám định,
nắm rõ các công việc cũng như chi phí phát sinh; góp phần khắc phục tình trạng
thanh toán không kịp thời, phải thông qua cơ quan trưng cầu, trong khi hoạt động
giám định trong tố tụng là hoạt động công vụ, đều chi từ ngân sách nhà nước; cơ
quan trưng cầu chỉ lập dự toán thanh toán chi trả cho người thực hiện giám định
không được bố trí từ ngân sách nhà nước.
4. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp các bộ, cơ quan
liên quan hoàn thiện Hồ sơ dự án Luật Giám định tư pháp (sửa đổi) theo quy định
của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Bộ trưởng Bộ Tư pháp thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ
ký Tờ trình Quốc hội dự án Luật này tại Kỳ họp thứ X Quốc hội khóa XV.
5. Phân công Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long
tiếp tục chỉ đạo hoàn thiện dự án Luật này.
II. Dự án Luật Phòng bệnh
1. Chính phủ đánh giá cao Bộ Y tế đã chủ trì, phối
hợp với các Bộ, cơ quan liên quan trong việc xây dựng, hoàn thiện dự án Luật
Phòng bệnh theo quy định của Luật Ban hành văn
bản quy phạm pháp luật.
2. Chính phủ thống nhất về sự cần thiết xây dựng dự
án Luật Phòng bệnh nhằm khắc phục những vướng mắc, bất cập trong quá trình triển
khai thi hành Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm
năm 2007, bảo đảm thể chế hóa kịp thời các đường lối, chủ trương của Đảng đối
với công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân trong tình hình mới[2]; sắp xếp tổ chức, tinh gọn bộ máy, hoạt động hiệu lực, hiệu
quả; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp, cải cách
hành chính; đáp ứng kịp thời với việc sắp xếp tổ chức bộ máy của các bộ, ngành,
địa phương; đồng thời, hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm soát các hoạt động
phòng, chống dịch bệnh; tiêm chủng và sử dụng vaccine, sinh phẩm; phòng, chống
các bệnh không lây nhiễm, rối loạn sức khỏe tâm thần, ...
3. Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan
liên quan nghiên cứu, tiếp thu tối đa ý kiến của các Thành viên Chính phủ, đại
biểu dự họp, tiếp tục rà soát, hoàn thiện dự thảo Luật theo hướng:
- Tiếp tục rà soát, đánh giá kỹ tác động đối với
các chính sách mới để cụ thể hóa đầy đủ các chủ trương, quan điểm của Đảng[3] về chăm sóc, bảo vệ, nâng cao sức
khỏe nhân dân; xử lý, giải quyết các vướng mắc, bất cập đã được tổng kết thi
hành Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm
2007 cũng như các ý kiến góp ý của các cơ quan, bộ ngành và đối tượng chịu
sự tác động.
- Kế thừa các quy định còn phù hợp, khắc phục những
khó khăn, vướng mắc của Luật phòng, chống bệnh
truyền nhiễm năm 2007, đáp ứng yêu cầu thực tiễn công tác chăm sóc, bảo vệ,
nâng cao sức khỏe Nhân dân; tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm pháp luật quốc tế
của một số quốc gia trên thế giới bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tế của Việt
Nam.
- Nội dung dự thảo theo hướng Luật khung, mang tính
nguyên tắc, chỉ quy định thuộc thẩm quyền của Quốc hội, giao Chính phủ quy định
về những nội dung cụ thể, chi tiết, chuyên ngành; nghiên cứu sửa trực tiếp các luật
khác có liên quan theo quy định của Luật Ban
hành văn bản quy phạm pháp luật; rà soát kỹ các điều khoản chuyển tiếp phù
hợp với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật,
bảo vệ quyền và lợi ích của cá nhân, tổ chức, tránh tạo khoảng trống pháp
lý sau khi Luật này có hiệu lực thi hành.
- Tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với đề cao
trách nhiệm người đứng đầu, xác định rõ nội dung quản lý nhà nước cho các chính
quyền địa phương; cải cách triệt để thủ tục hành chính và đẩy mạnh áp dụng công
nghệ, chuyển đổi số trong công tác quản lý nhà nước về Y tế.
- Phối hợp các bộ, cơ quan liên quan rà soát kỹ nội
dung sửa đổi, bổ sung, lược bỏ bảo đảm phù hợp với quy định về phân định thẩm
quyền, phân cấp, phân quyền, tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp; bảo đảm thống
nhất, không chồng chéo với các văn bản pháp luật có liên quan;
4. Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ liên quan
bám sát các ý kiến thảo luận của các Thành viên Chính phủ, ý kiến chỉ đạo của
Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long và báo cáo của Bộ Tư
pháp về việc tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định đối với dự án Luật, trong đó
bổ sung các biện pháp đối với phòng, chống bệnh không lây nhiễm, rối loạn sức
khỏe tâm thần, dinh dưỡng và các yếu tố nguy cơ khác để chỉnh lý, hoàn thiện dự
thảo Luật theo quy định của Luật Ban hành văn bản
quy phạm pháp luật. Bộ trưởng Bộ Y tế thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ,
thay mặt Chính phủ ký Tờ trình của Chính phủ về dự án Luật, trình Quốc hội tại
Kỳ họp thứ X, Quốc hội khóa XV.
5. Phân công Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long
chỉ đạo việc hoàn thiện dự án Luật này, bảo đảm chất lượng và tiến độ theo quy
định.
III. Dự án Luật Dân số (sửa đổi)
1. Chính phủ đánh giá cao Bộ Y tế đã chủ trì, phối
hợp với các Bộ, cơ quan liên quan trong việc xây dựng, hoàn thiện dự án Luật
Dân số theo quy định của Luật Ban hành văn bản
quy phạm pháp luật.
2. Chính phủ thống nhất về sự cần thiết xây dựng dự
án Luật Dân số nhằm khắc phục những vướng mắc, bất cập trong quá trình triển
khai thi hành Pháp lệnh Dân số, bảo đảm thể chế hóa kịp thời các đường lối, chủ
trương của Đảng đối với công tác Dân số và phát triển[4]; đáp ứng kịp thời với việc sắp xếp tổ chức bộ máy của các
bộ, ngành, địa phương; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách
tư pháp, cải cách hành chính; đồng thời, hoàn thiện cơ sở pháp lý về kiểm soát
các biện pháp tăng mức sinh và duy trì mức sinh thay thế, giảm mất cân bằng giới
tính khi sinh, nâng cao chất lượng dân số...
3. Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ liên
quan bám sát các ý kiến thảo luận của các Thành viên Chính phủ, ý kiến chỉ đạo
của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long và báo cáo của Bộ
Tư pháp về việc tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định đối với dự án Luật, trong
đó lưu ý 04 vấn đề then chốt của công tác dân số trong tình hình mới là: (i) chất
lượng dân số; (ii) khuyến sinh (không thu hẹp các biện pháp khuyến khích sinh
con tại các quy định về mức sinh thay thế); (iii) già hóa dân số; (iv) bảo đảm
các nguồn lực để thực hiện sau khi Luật được ban hành. Tiếp tục rà soát, hoàn
thiện dự thảo Luật theo hướng:
- Đánh giá kỹ tác động đối với chính sách mới để cụ
thể hóa đầy đủ chủ trương, quan điểm về dân số của Đảng[5]; xử lý, giải quyết các vướng mắc, bất cập đã được tổng kết
thi hành Pháp lệnh Dân số năm 2003; đồng thời,
tăng cường việc hoàn thiện sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy nhằm nâng cao hiệu
quả công tác Dân số và Phát triển.
- Cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền
công dân, phù hợp với các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là thành viên, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của dự án Luật trong hệ thống
pháp luật.
- Kế thừa các quy định còn phù hợp của Pháp lệnh Dân số năm 2003, tham khảo có chọn lọc
kinh nghiệm pháp luật quốc tế của một số quốc gia trên thế giới để xây dựng quy
định mới phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.
- Nội dung dự thảo theo hướng Luật khung, mang tính
nguyên tắc, chỉ quy định thuộc thẩm quyền của Quốc hội, giao Chính phủ quy định
về những nội dung cụ thể, chi tiết, chuyên ngành; nghiên cứu sửa trực tiếp các luật
khác có liên quan theo quy định của Luật Ban
hành văn bản quy phạm pháp luật; rà soát kỹ các điều khoản chuyển tiếp phù
hợp với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật,
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, tránh tạo khoảng trống
pháp lý sau khi Luật này có hiệu lực thi hành.
- Tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với đề cao
trách nhiệm người đứng đầu, xác định rõ nội dung quản lý nhà nước cho các chính
quyền địa phương; cải cách triệt để thủ tục hành chính và đẩy mạnh áp dụng công
nghệ, chuyển đổi số trong công tác quản lý nhà nước về dân số.
- Phối hợp các bộ, cơ quan liên quan rà soát kỹ nội
dung sửa đổi, bổ sung, lược bỏ bảo đảm phù hợp với quy định về phân định thẩm
quyền, phân cấp, phân quyền, tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp; bảo đảm thống
nhất, không chồng chéo với các văn bản pháp luật có liên quan.
4. Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ liên
quan, hoàn thiện Hồ sơ dự án Luật theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Bộ
trưởng Bộ Y tế thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký Tờ
trình của Chính phủ về dự án Luật, trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ X, Quốc hội
khóa XV.
5. Phân công Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long
chỉ đạo việc hoàn thiện dự án Luật này, bảo đảm chất lượng và tiến độ theo quy
định.
IV. Hồ sơ chính sách xây dựng Luật
Quản lý thuế (sửa đổi)
1. Chính phủ thống nhất sự cần thiết xây dựng hồ sơ
chính sách dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi) để thể chế hóa các chủ trương, đường
lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; đồng thời nhằm hoàn thiện mô hình tổ chức
bộ máy quản lý thuế, tạo hành lang pháp lý cho chuyển đổi số, đẩy mạnh cải cách
thủ tục hành chính, tăng cường phân cấp và chống thất thu thuế, đáp ứng yêu cầu
thực tiễn và các yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn tới.
2. Chính phủ thống nhất nội dung 08 chính sách do Bộ
Tài chính đề xuất (tại Tờ trình số 481/TTr-BTC ngày 10 tháng 8 năm 2025 và Tờ
trình số 482/TTr-BTC ngày 10 tháng 8 năm 2025). Bộ Tài chính xem xét lồng ghép
nội dung về ứng dụng công nghệ thông tin tại chính sách 8 vào các nhóm chính
sách khác.
3. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ
quan liên quan nghiên cứu, tiếp thu tối đa ý kiến Thành viên Chính phủ, đại biểu
dự họp, tiếp tục rà soát hoàn thiện dự án Luật bảo đảm yêu cầu sau:
- Nội dung xây dựng chính sách theo hướng Luật
khung, mang tính nguyên tắc, chỉ quy định những nội dung thuộc thẩm quyền của
Quốc hội, giao Chính phủ quy định về những nội dung cụ thể, chi tiết, chuyên
ngành.
- Rà soát kỹ các nội dung chính sách Luật bảo đảm
phù hợp, thống nhất với quy định của Hiến pháp
và các quy định của Luật khác liên quan như: Luật
Đất đai, Luật Giao dịch điện tử, Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thanh tra...
- Về quản lý hộ kinh doanh, cần đánh giá tác động kỹ
lưỡng hơn đối với nhóm đối tượng này, đảm bảo các giải pháp thay thế (kê khai,
hóa đơn điện tử) có tính khả thi cao, lộ trình chuyển đổi hợp lý, tránh gây xáo
trộn lớn cho hoạt động kinh doanh của người dân.
- Rà soát, hoàn thiện quy định về tiền chậm nộp bảo
đảm hiệu quả, khả thi, phù hợp thực tiễn triển khai.
- Tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với đề cao
trách nhiệm người đứng đầu; rà soát kỹ nội dung được đề xuất sửa đổi, bổ sung,
lược bỏ để bảo đảm phù hợp với quy định về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm
quyền, tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp và xác định rõ nội dung quản lý
nhà nước cho các chính quyền địa phương.
- Rà soát kỹ để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành
chính; nghiên cứu quy định áp dụng công nghệ thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu...
để đơn giản, hiện đại hóa các quy trình quản lý thuế.
4. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ
quan liên quan hoàn thiện nội dung chính sách; trên cơ sở đó, chủ động tổ chức
việc soạn thảo dự án Luật, trình Chính phủ tại Phiên họp Chuyên đề xây dựng
pháp luật tháng 9 năm 2025.
5. Phân công Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Đức Phớc chỉ
đạo việc xây dựng, hoàn thiện dự án Luật.
V. Dự án Luật Bảo hiểm tiền gửi
(sửa đổi)
1. Chính phủ đánh giá cao Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan xây dựng, trình Chính phủ
dự án Luật theo quy định của Luật Ban hành văn
bản quy phạm pháp luật. Dự án Luật đã bám sát (nội dung) chính sách đã được
Chính phủ thông qua tại Nghị quyết số 191/NQ-CP
ngày 26 tháng 6 năm 2025.
2. Chính phủ thống nhất sự cần thiết xây dựng dự án
Luật Bảo hiểm tiền gửi (sửa đổi) nhằm tiếp tục thể chế hóa đường lối, chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo hiểm tiền gửi.
3. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với
các bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu, tiếp thu tối đa ý kiến Thành viên Chính
phủ, đại biểu dự họp, hoàn thiện dự án Luật, bảo đảm các yêu cầu: (1) Thực hiện
phân cấp mạnh mẽ, giao Ngân hàng Nhà nước quy định hạn mức chi trả bảo hiểm tiền
gửi; phí bảo hiểm tiền gửi; phương thức đầu tư, quy trình kiểm soát, quản lý rủi
ro trong hoạt động đầu tư của tổ chức bảo hiểm tiền gửi, đảm bảo yêu cầu về
phân cấp, phân quyền; (2) Giao Bộ Tài chính hướng dẫn quản lý vốn, tài sản theo
quy định của pháp luật; (3) Về nội dung liên quan đến thuế của tổ chức bảo hiểm
tiền gửi không quy định tại dự thảo Luật mà thực hiện theo pháp luật về thuế.
4. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với
các bộ, cơ quan liên quan, hoàn thiện dự án Luật theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; Thống
đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt
Chính phủ ký Tờ trình Quốc hội dự án Luật Bảo hiểm tiền gửi (sửa đổi) tại Kỳ họp
thứ X, Quốc hội khóa XV.
5. Phân công Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Đức Phớc chỉ
đạo việc chỉnh lý, hoàn thiện dự án Luật này.
VI. Dự án Luật Tiết kiệm, chống
lãng phí
1. Chính phủ đánh giá cao Bộ Tài chính đã chủ động,
tích cực trong việc chuẩn bị, xây dựng dự án Luật Tiết kiệm, chống lãng phí
trình Chính phủ theo quy định của Luật Ban
hành văn bản quy phạm pháp luật.
2. Chính phủ thống nhất sự cần thiết xây dựng dự án
Luật theo hướng nâng cao tính chủ động, tự nguyện, tự giác trong công tác tiết
kiệm, chống lãng phí để xây dựng văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí trong toàn
xã hội; có cơ chế nhận diện hành vi gây lãng phí, hành vi vi phạm trong tổ chức
thực hiện phòng, chống lãng phí và chế tài xử lý đối với các hành vi này; đảm bảo
đầy đủ cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho giám sát, kiểm tra, thanh tra, phát hiện,
xử lý đối với các hành vi lãng phí.
3. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ
quan liên quan nghiên cứu, tiếp thu tối đa ý kiến của các Thành viên Chính phủ,
đại biểu dự họp, tiếp tục rà soát, hoàn thiện dự thảo Luật theo hướng:
- Thể chế hóa đầy đủ các nhóm hành vi gây lãng phí
cần tập trung xử lý mà Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng
phí, tiêu cực đã chỉ ra tại Hướng dẫn số 63-HD/BCĐTW
ngày 28/4/2025 của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí,
tiêu cực.
- Đảm bảo đầy đủ cơ sở pháp lý về quyền cung cấp
thông tin, phản ánh về các hành vi gây lãng phí và có cơ chế để bảo vệ các chủ
thể cung cấp, phản ánh thông tin theo Quy định số 231-QĐ/TW
ngày 17/01/2025 của Ban Chấp hành trung ương về bảo vệ người đấu tranh chống
tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Đảm bảo tính công khai, minh bạch các thông tin
quản lý, sử dụng các nguồn lực của nền kinh tế để mọi tổ chức, cá nhân có cơ sở
theo dõi, giám sát, phản ánh cung cấp thông tin về các hành vi gây lãng phí cho
cơ quan có thẩm quyền kịp thời xử lý.
- Đảm bảo quy định đầy đủ, đồng bộ các giải pháp để
xây dựng văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí trong toàn xã hội; đưa thực hành tiết
kiệm, chống lãng phí trở thành “tự giác”, “tự nguyện” như “cơm ăn nước uống, áo
mặc hằng ngày”.
- Rà soát và nghiên cứu kỹ các quy định pháp luật bảo
đảm sự phù hợp, tính thống nhất, đồng bộ với các Luật chuyên ngành khác có liên
quan, đảm bảo tính khả thi, tránh vướng mắc phát sinh khi thực hiện.
4. Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ
quan liên quan nghiên cứu, tiếp thu đầy đủ ý kiến Thành viên Chính phủ và kết
luận của Thủ tướng Chính phủ để chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo Luật; giao Bộ trưởng
Bộ Tài chính thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay mặt Chính phủ ký Tờ trình của
Chính phủ về dự án Luật Tiết kiệm, chống lãng phí trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ
10, Quốc hội khóa XV.
5. Phân công Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Đức Phớc chỉ
đạo việc chỉnh lý, hoàn thiện dự án Luật.
VII. Dự án Luật Chuyển đổi số
1. Chính phủ đánh giá cao Bộ Khoa học và Công nghệ
đã chủ động, tích cực phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan xây dựng, hoàn thiện
dự án Luật Chuyển đổi số một cách khẩn trương, nghiêm túc theo trình tự thủ tục
rút gọn, bám sát các nội dung theo Nghị quyết số 217/NQ-CP ngày 25/7/2025 của
Chính phủ.
2. Chính phủ thống nhất sự cần thiết xây dựng dự án
Luật Chuyển đổi số nhằm tiếp tục thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng và
chính sách, pháp luật của Nhà nước về chuyển đổi số, đặc biệt là Nghị quyết số 57/NQ-CP ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột
phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia.
3. Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với
các bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu, tiếp thu tối đa ý kiến Thành viên Chính
phủ và ý kiến các đại biểu tại Phiên họp Chính phủ để hoàn thiện dự án Luật, bảo
đảm các yêu cầu sau:
- Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất,
đồng bộ trong hệ thống pháp luật; không chồng chéo, mâu thuẫn với các quy định
về chuyển đổi số trong các luật, pháp lệnh hiện hành; tập trung vào những vấn đề
lớn, cốt lõi thuộc thẩm quyền của Quốc hội.
- Rà soát, chuẩn hóa các khái niệm, nội hàm để định
nghĩa rõ ràng, chính xác, dễ hiểu; bổ sung cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong
hoạt động chính phủ số; quy định trách nhiệm pháp lý của cơ quan nhà nước khi
vi phạm.
- Các quy định của Luật phải bảo đảm tính khả thi,
sát thực tiễn; cắt giảm tối đa giấy tờ, thực hiện tái sử dụng hồ sơ đã số hóa
và dữ liệu đã được kết nối, chia sẻ trong cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu
chuyên ngành khi giải quyết thủ tục hành chính, bảo đảm thực hiện dịch vụ công
trực tuyến toàn trình cho người dân và doanh nghiệp; giảm chi phí tuân thủ; đẩy
mạnh phân cấp, phân quyền để thúc đẩy phát triển chính phủ số, kinh tế số, xã hội
số; tăng cường hợp tác quốc tế và hội nhập.
- Xử lý triệt để các vướng mắc, bất cập phát sinh
trong thực tiễn; khắc phục được những tồn tại, hạn chế, khoảng trống pháp lý về
chuyển đổi số hiện nay.
- Tiếp tục tổng hợp, nghiên cứu ý kiến của các cơ
quan, tổ chức, cá nhân để chỉnh lý, hoàn thiện dự án Luật.
- Tham khảo, kế thừa chọn lọc kinh nghiệm quốc tế,
có đánh giá, phân tích các xu hướng lớn trên thế giới trong quá trình xây dựng
dự thảo Luật, bảo đảm phù hợp thực tiễn Việt Nam.
4. Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ
Tư pháp, Văn phòng Chính phủ và các cơ quan liên quan tiếp thu đầy đủ ý kiến của
các đại biểu tham dự, ý kiến của thành viên Chính phủ, ý kiến thẩm định của Bộ
Tư pháp; khẩn trương chỉnh lý, hoàn thiện dự án Luật Chuyển đổi số theo quy định
của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật
năm 2025, trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội Khóa XV (tháng 10/2025);
Giao Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ thừa ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, thay
mặt Chính phủ, ký Tờ trình gửi Quốc hội theo quy định.
5. Phân công Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Chí
Dũng chỉ đạo việc chỉnh lý, hoàn thiện dự án Luật.
VIII. Dự án Luật An ninh mạng
1. Chính phủ đánh giá cao Bộ Công an đã xây dựng,
hoàn thiện dự thảo Luật An ninh mạng trên cơ sở việc hợp nhất Luật An ninh mạng năm 2018 và Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 (sửa đổi, bổ
sung năm 2018). Dự án Luật được chuẩn bị công phu, khẩn trương theo quy trình
thủ tục rút gọn, bám sát các nội dung đã được Chính phủ thông qua tại Nghị quyết
số 169/NQ-CP ngày 11 tháng 6 năm 2025.
2. Chính phủ thống nhất sự cần thiết xây dựng dự án
Luật An ninh mạng nhằm tiếp tục thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước về an ninh mạng, quản lý và bảo vệ không
gian mạng.
3. Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan
liên quan nghiên cứu, tiếp thu tối đa ý kiến Thành viên Chính phủ và ý kiến của
các đại biểu tại Phiên họp Chính phủ để hoàn thiện dự án Luật, bảo đảm một số
yêu cầu sau:
- Bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống
pháp luật, loại bỏ sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa hai luật hiện hành, tạo khung
pháp lý rõ ràng, minh bạch, đáp ứng yêu cầu quản lý và bảo vệ không gian mạng.
- Nâng cao hiệu quả của hoạt động bảo đảm an ninh mạng,
kết hợp chặt chẽ các biện pháp bảo vệ hệ thống thông tin, dữ liệu cá nhân,
phòng chống tấn công mạng với các giải pháp bảo đảm an ninh quốc gia trên không
gian mạng.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, doanh nghiệp
và cá nhân trong việc tuân thủ pháp luật, giảm thiểu thủ tục hành chính, đồng
thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp, thúc đẩy môi trường số an toàn, phát triển kinh
tế số bền vững.
- Hoàn thiện cơ chế phòng thủ, giám sát, cảnh báo
và ứng phó với các nguy cơ, sự cố an ninh mạng, bảo vệ hệ thống thông tin quan
trọng quốc gia, tăng cường năng lực phòng ngừa và khắc phục hậu quả của các cuộc
tấn công mạng.
- Đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, phù hợp với các
cam kết, chuẩn mực quốc tế về an ninh mạng, thúc đẩy nghiên cứu, phát triển
công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong lĩnh vực an ninh mạng.
4. Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan
liên quan khẩn trương nghiên cứu, tiếp thu ý kiến Thành viên Chính phủ; chỉnh
lý, hoàn thiện hồ sơ dự án Luật An ninh mạng theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; báo
cáo Thủ tướng Chính phủ trước khi trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội
khóa XV.
5. Phân công Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Hòa
Bình chỉ đạo việc chỉnh lý, hoàn thiện dự án Luật.
IX. Dự án Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Địa chất và khoáng sản
1. Chính phủ đánh giá cao Bộ Nông nghiệp và Môi trường
đã chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu, xây dựng dự án Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và khoáng sản theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
2. Chính phủ cơ bản thống nhất sự cần thiết xây dựng
dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và khoáng sản do Bộ
Nông nghiệp và Môi trường trình tại Tờ trình số 142/TTr-BNNMT ngày 28 tháng 8
năm 2025.
3. Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với
các bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu, tiếp thu tối đa ý kiến Thành viên Chính
phủ và ý kiến tại Phiên họp Chính phủ, khẩn trương hoàn thiện hồ sơ dự án Luật,
bảo đảm sát thực tiễn, giải quyết các vướng mắc phát sinh, giải phóng nguồn lực,
tài nguyên khoáng sản để phục vụ phát triển kinh tế xã hội, đồng thời quản lý,
sử dụng bền vững, bảo vệ môi trường sinh thái, trong đó lưu ý một số nguyên tắc,
yêu cầu sau:
- Rà soát quy định trong cấp phép khai thác khoáng
sản để thống nhất với quy định của pháp luật về đầu tư, bảo vệ môi trường, quy
hoạch, đất đai..., bảo đảm không vướng mắc và thuận lợi trong thực hiện.
- Rà soát, quy định các tiêu chí khu vực không đấu
giá quyền khai thác khoáng sản bảo đảm khả thi, rõ ràng, minh bạch.
- Rà soát lược bỏ các quy định cụ thể về quy trình,
thủ tục tại dự thảo Luật để quy định chi tiết tại Nghị định của Chính phủ.
- Nghiên cứu bổ sung đầy đủ quy định về điều khoản
chuyển tiếp để tránh vướng mắc khi Luật được thông qua.
4. Bộ Nông nghiệp và Môi trường khẩn trương chủ
trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan, nghiên cứu tiếp thu, giải trình đầy
đủ ý kiến của thành viên Chính phủ, kết luận của Chính phủ tại cuộc họp này để
chỉnh lý, hoàn thiện dự án Luật theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Giao Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường thừa ủy quyền Thủ tướng, thay mặt
Chính phủ ký Tờ trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến đối với dự án Luật này tại Kỳ
họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đảm bảo chất lượng, tiến độ.
5. Phân công Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà
chỉ đạo việc chỉnh lý, hoàn thiện dự án Luật.
Thực hiện quy định số 178-QĐ/TW
ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực, phòng, chống
tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025,
các cơ quan chủ trì soạn thảo dự án luật, nghị quyết phải rà soát những nội
dung quan trọng, còn ý kiến khác nhau, vượt thẩm quyền để báo cáo Ban Thường vụ
Đảng ủy Chính phủ trao đổi, thống nhất với Ban Thường vụ Đảng ủy Quốc hội. Trường
hợp không thống nhất, báo cáo Bộ Chính trị xem xét, quyết định./.
|
Nơi nhận:
- Ban Bí thư Trung ương Đảng;
- TTgCP, các PTTgCP;
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP;
- Văn phòng TW và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Văn phòng Quốc hội;
- Hội đồng Dân tộc và các UB của Quốc hội;
- VPCP: BTCN, các PCN,
Trợ lý, Thư ký TTg, các PTTg;
TGĐ Cổng TTĐT, các Vụ, Cục;
- Lưu: VT, PL (3b).
|
TM. CHÍNH PHỦ
KT. THỦ TƯỚNG
PHÓ THỦ TƯỚNG
Lê Thành Long
|