Những tài sản cố định nào không được thực hiện trích khấu hao?
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 9 Thông tư 45/2013/TT-BTC có đưa ra nguyên tắc tất cả tài sản cố định hiện có của doanh nghiệp đều phải trích khấu hao, trừ một số tài sản cố định sau:
- Tài sản cố định đã khấu hao hết giá trị nhưng vẫn đang sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Tài sản cố định khấu hao chưa hết bị mất.
- Tài sản cố định khác do doanh nghiệp quản lý mà không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp (trừ tài sản cố định thuê tài chính).
- Tài sản cố định không được quản lý, theo dõi, hạch toán trong sổ sách kế toán của doanh nghiệp.
- Tài sản cố định sử dụng trong các hoạt động phúc lợi phục vụ người lao động của doanh nghiệp (trừ các tài sản cố định phục vụ cho người lao động làm việc tại doanh nghiệp như: nhà nghỉ giữa ca, nhà ăn giữa ca, nhà thay quần áo, nhà vệ sinh, bể chứa nước sạch, nhà để xe, phòng hoặc trạm y tế để khám chữa bệnh, xe đưa đón người lao động, cơ sở đào tạo, dạy nghề, nhà ở cho người lao động do doanh nghiệp đầu tư xây dựng).
- Tài sản cố định từ nguồn viện trợ không hoàn lại sau khi được cơ quan có thẩm quyền bàn giao cho doanh nghiệp để phục vụ công tác nghiên cứu khoa học.
- Tài sản cố định vô hình là quyền sử dụng đất lâu dài có thu tiền sử dụng đất hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất lâu dài hợp pháp.
Như vậy, theo quy định thì không phải mọi tài sản cố định của doanh nghiệp đều được trích khấu hao, một số tài sản cố định trong trường hợp liệt kê trên sẽ không thực hiện trích khấu hao được.

Xe nâng đã qua sử dụng hết thời gian trích khấu hao khi doanh nghiệp khác mua lại thì có được ghi nhận tài sản cố định không? (Hình từ internet)
Xe nâng đã qua sử dụng hết thời gian trích khấu hao khi doanh nghiệp khác mua lại thì có được ghi nhận tài sản cố định không?
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 3 Thông tư 45/2013/TT-BTC về tiêu chuẩn và nhận biết tài sản cố định, cụ thể tư liệu lao động là những tài sản hữu hình có kết cấu độc lập, hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định mà nếu thiếu bất kỳ một bộ phận nào thì cả hệ thống không thể hoạt động được, nếu thoả mãn đồng thời cả ba tiêu chuẩn dưới đây thì được coi là tài sản cố định:
- Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó;
- Có thời gian sử dụng trên 1 năm trở lên;
- Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy và có giá trị từ 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) trở lên.
Căn cứ quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 10 Thông tư 45/2013/TT-BTC xác định thời gian trích khấu hao của tài sản cố định hữu hình. Đối với tài sản cố định đã qua sử dụng, thời gian trích khấu hao của tài sản cố định được xác định như sau:
Thời gian trích khấu hao của tài sản cố định = (Giá trị hợp lý của tài sản cố định : Giá bán của tài sản cố định cùng loại mới 100% (hoặc của tài sản cố định tương đương trên thị trường)) x Thời gian trích khấu hao của tài sản cố định mới cùng loại xác định theo Phụ lục 1 (ban hành kèm theo Thông tư này)
Trong đó: Giá trị hợp lý của tài sản cố định là giá mua hoặc trao đổi thực tế (trong trường hợp mua bán, trao đổi), giá trị còn lại của TSCĐ hoặc giá trị theo đánh giá của tổ chức có chức năng thẩm định giá (trong trường hợp được cho, được biếu, được tặng, được cấp, được điều chuyển đến ) và các trường hợp khác.
Hoặc trường hợp doanh nghiệp muốn xác định thời gian trích khấu hao của tài sản cố định đã qua sử dụng khác so với khung thời gian trích khấu hao quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này, doanh nghiệp phải lập phương án thay đổi thời gian trích khấu hao tài sản cố định trên cơ sở giải trình rõ các nội dung sau:
- Tuổi thọ kỹ thuật của TSCĐ theo thiết kế;
- Hiện trạng TSCĐ (thời gian TSCĐ đã qua sử dụng, thế hệ tài sản, tình trạng thực tế của tài sản);
- Ảnh hưởng của việc tăng, giảm khấu hao TSCĐ đến kết quả sản xuất kinh doanh và nguồn vốn trả nợ các tổ chức tín dụng.
- Đối với các tài sản hình thành từ dự án đầu tư theo hình thức B.O.T, B.C.C thì doanh nghiệp phải bổ sung thêm Hợp đồng đã ký với chủ đầu tư.
Ngoài ra Phương án này phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt và phải thông báo với cơ quan thuế trực tiếp quản lý để theo dõi, quản lý.
Căn cứ các quy định trên, trường hợp xe nâng được bán thanh lý mà có đủ các tiêu chuẩn liệt kê nêu trên thì được ghi nhận là tài sản cố định. Xe nâng này được xác định là đã qua sử dụng chứ không thuộc trường hợp "TSCĐ đã khấu hao hết giá trị nhưng vẫn đang sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh", quy định này chỉ đang áp dụng cho doanh nghiệp bán xe nâng, còn đối với doanh nghiệp mua xe nâng thì đủ tiêu chuẩn vẫn tiến hành trích khấu hao bình thường, việc xác định thời gian trích khấu hao đối với xe nâng đã qua sử dụng này theo nguyên tắc trên.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];