Tìm hiểu quy định pháp luật về hiệu lực đối kháng của biện pháp bảo đảm với người thứ ba

14:05 | 11/07/2025
Tìm hiểu về nội dung quy định hiệu lực đối kháng với người thứ ba? Khái niệm và thời điểm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba được quy định như thế nào?
Nội dung chính
  1. Tổng quan về điều khoản "hiệu lực đối kháng với người thứ ba" trong giao dịch bảo đảm?
  2. Khái niệm và thời điểm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba?

Tổng quan về điều khoản "hiệu lực đối kháng với người thứ ba" trong giao dịch bảo đảm?

Khái niệm hiệu lực đối kháng với người thứ ba được quy định rõ ràng tại Điều 297 Bộ luật Dân sự 2015. Đây là điểm mới so với Bộ luật Dân sự 2005, nhưng thực chất đã kế thừa và phát triển từ khoản 3 Điều 323 Bộ luật Dân sự 2005 và khoản 1 Điều 11 Nghị định 163/2006/NĐ-CP - đều có đề cập đến hiệu lực pháp lý của giao dịch bảo đảm đối với người thứ ba, đặc biệt trong trường hợp đăng ký giao dịch bảo đảm.

Tuy nhiên, điểm nổi bật của Bộ luật Dân sự 2015 là sự chuẩn hóa và hệ thống hóa khái niệm “hiệu lực đối kháng”, không chỉ dừng lại ở các giao dịch đăng ký, mà còn mở rộng đến trường hợp bên nhận bảo đảm nắm giữ hoặc chiếm giữ tài sản bảo đảm.

Một cải tiến quan trọng khác là Bộ luật Dân sự 2015 đã thiết lập rõ ràng thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên nhận bảo đảm, tạo điều kiện để phân chia tài sản bảo đảm một cách công bằng và minh bạch khi có nhiều chủ thể cùng có quyền, góp phần củng cố tính an toàn pháp lý trong các quan hệ giao dịch (xem thêm Điều 308 Bộ luật Dân sự 2015).

Tìm hiểu quy định pháp luật về hiệu lực đối kháng của biện pháp bảo đảm với người thứ ba (hình từ internet) 

Khái niệm và thời điểm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba?

Hiệu lực đối kháng với người thứ ba được quy định tại Điều 297 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:

“Điều 297. Hiệu lực đối kháng với người thứ ba

1. Biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba từ khi đăng ký biện pháp bảo đảm hoặc bên nhận bảo đảm nắm giữ hoặc chiếm giữ tài sản bảo đảm.

2. Khi biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì bên nhận bảo đảm được quyền truy đòi tài sản bảo đảm và được quyền thanh toán theo quy định tại Điều 308 của Bộ luật này và luật khác có liên quan”.

Mặc dù Bộ luật Dân sự 2015 không đưa ra định nghĩa cụ thể về “hiệu lực đối kháng với người thứ ba”, nhưng từ nội dung Điều 297 và các quy định liên quan, có thể hiểu rằng: đây là hiệu lực pháp lý mà giao dịch bảo đảm không chỉ ràng buộc giữa các bên tham gia trực tiếp, mà còn có giá trị bắt buộc đối với người thứ ba – tức là các chủ thể không trực tiếp tham gia giao dịch nhưng có quyền, nghĩa vụ liên quan đến tài sản bảo đảm.

Hiệu lực đối kháng này phát sinh từ thời điểm đăng ký giao dịch bảo đảm hoặc từ thời điểm bên nhận bảo đảm nắm giữ hoặc chiếm giữ tài sản bảo đảm. Điều này giúp đảm bảo quyền ưu tiên cho bên nhận bảo đảm khi xử lý tài sản, ngay cả khi chưa đăng ký, miễn là tài sản đang thuộc quyền chiếm giữ của họ. Cụ thể, nội dung này đã được hướng dẫn chi tiết tại Điều 23 Nghị định 21/2021/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ như sau:

“Điều 23. Hiệu lực đối kháng của biện pháp bảo đảm với người thứ ba

….

2. Trường hợp biện pháp bảo đảm phải đăng ký theo quy định của Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan hoặc được đăng ký theo thỏa thuận hoặc được đăng ký theo yêu cầu của bên nhận bảo đảm thì thời điểm đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật liên quan là thời điểm biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba.

3. Trường hợp không thuộc khoản 2 Điều này thì hiệu lực đối kháng với người thứ ba của biện pháp cầm cố tài sản, đặt cọc, ký cược phát sinh từ thời điểm bên nhận bảo đảm nắm giữ tài sản bảo đảm.

Nắm giữ tài sản bảo đảm quy định tại khoản này là việc bên nhận bảo đảm trực tiếp quản lý, kiểm soát, chi phối tài sản bảo đảm hoặc là việc người khác quản lý tài sản bảo đảm theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật nhưng bên nhận bảo đảm vẫn kiểm soát, chi phối được tài sản này.

….”.

Theo đánh giá của tác giả, khái niệm hiệu lực đối kháng với người thứ ba có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn giao dịch, nhất là đối với giao dịch bảo đảm bằng bất động sản hoặc tài sản có giá trị lớn. Khi một tài sản đã được đem đi thế chấp và giao dịch có hiệu lực đối kháng, người thứ ba (chẳng hạn người mua tài sản sau đó) sẽ phải chấp nhận các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng thế chấp, dù họ không biết hoặc không tham gia vào giao dịch ban đầu (trừ các trường hợp phát sinh đặc biệt trong thực tiễn xét xử).

Điều này có thể bảo vệ lợi ích hợp pháp của các tổ chức tín dụng, ngân hàng – những chủ thể thường xuyên nhận thế chấp tài sản để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ. Đồng thời, quy định này cũng khuyến khích người mua tài sản tra cứu thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản trước khi giao dịch, giúp tăng tính minh bạch và an toàn trong thị trường dân sự.

Logo Thư viện Pháp luật
Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Bài viết mới nhất

Bài viết mới nhất