Thực tiễn xét xử: Người dân được đòi UBND trả lãi do chậm bồi thường khi thu hồi đất

08:02 | 03/11/2025
Khi UBND thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội và chậm trả tiền bồi thường khi thu hồi đất thì người dân được kiện ra Tòa để đòi UBND trả lãi do chậm bồi thường khi thu hồi đất hay không?
Nội dung chính
  1. Thời gian chi trả tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là bao lâu?
  2. Ủy ban nhân dân có thẩm quyền thu hồi đất trong trường hợp nào?
  3. Thực tiễn xét xử: Người dân được đòi UBND trả lãi do chậm bồi thường khi thu hồi đất

Thời gian chi trả tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là bao lâu?

Theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 94 Luật Đất đai 2024 về kinh phí và chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư như sau:

Điều 94. Kinh phí và chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư do Nhà nước bảo đảm. Kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bao gồm: tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; chi phí bảo đảm cho việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và chi phí khác.

...

3. Việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được thực hiện như sau:

a) Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có hiệu lực thi hành, cơ quan, đơn vị, tổ chức thực hiện bồi thường phải chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản;

…

Như vậy, trong vòng 30 ngày kể từ ngày quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có hiệu lực thi hành, cơ quan, đơn vị, tổ chức thực hiện bồi thường phải chi trả tiền bồi thường cho người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản.

Thực tiễn xét xử: Người dân được đòi UBND trả lãi do chậm bồi thường khi thu hồi đất (Hình từ internet)

Ủy ban nhân dân có thẩm quyền thu hồi đất trong trường hợp nào?

Theo Chương 6 Luật Đất đai 2024, Nhà nước quyết định thu hồi đất trong 04 trường hợp sau đây:

- Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; 

- Thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích của quốc gia, cộng đồng.

- Thu hồi đất do có vi phạm pháp luật.

- Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo quy định pháp luật hoặc tự nguyện trả đất, có nguy cơ đe doạ đến tính mạng của con người, không còn khả năng tiếp tục sử dụng.

Thẩm quyền thu hồi đất của cá nhân, tổ chức được quy định tại Điều 83 Luật Đất đai 2024.

Theo đó, UBND cấp tỉnh và cấp huyện (từ ngày 01/7/2025 thẩm quyền của UBND cấp huyện chuyển giao cho Chủ tịch UBND cấp xã thực hiện) là cơ quan có thẩm quyền thu hồi đất, cụ thể như sau:

- UBND cấp tỉnh có thẩm quyền thu hồi đất đối với: tổ chức trong nước, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thuộc các trường hợp: 

- Bị thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai quy định tại Điều 81; và 

- Bị thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người, không còn khả năng tiếp tục sử dụng quy định tại Điều 82.

- UBND cấp huyện (từ ngày 01/7/2025 thẩm quyền của UBND cấp huyện chuyển giao cho Chủ tịch UBND cấp xã thực hiện) có thẩm quyền thu hồi đất đối với các trường hợp:

+ Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng an ninh quy định tại Điều 78 và thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng theo Điều 79 mà không phân biệt người sử dụng đất, tổ chức, cá nhân đang quản lý, chiếm hữu đất;

+ Thu hồi đất đối với các hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư bị thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai quy định tại Điều 81; và bị thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người, không còn khả năng tiếp tục sử dụng theo Điều 82.

Thực tiễn xét xử: Người dân được đòi UBND trả lãi do chậm bồi thường khi thu hồi đất

Tại bản án về khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai số 42/2025/HC-ST, ông Nguyễn L khởi kiện hành vi hành chính của Ủy ban nhân dân thành phố P vì không chi trả

Tóm tắt nội dung vụ án: 

UBND TP P ban hành Quyết định phê duyệt phương án bồi thường hơn 2 tỷ đồng cho hộ ông L từ ngày 20/12/2016. Tuy nhiên, tiền bồi thường được chi trả thành hai đợt vào 02/02/2018 và 22/10/2018, tức là chậm so với thời hạn quy định. UBND TP P cho rằng việc chậm trả là do chưa thuộc nhóm ưu tiên theo văn bản của UBND tỉnh, và Trung tâm Phát triển quỹ đất mới là cơ quan chi trả, không phải UBND TP P.

Nhận định của Tòa án:

Tòa án nhận định theo Khoản 2 Điều 93 Luật Đất đai 2013, cơ quan có trách nhiệm bồi thường chậm chi trả thì người có đất thu hồi được thanh toán thêm khoản tiền bằng mức tiền chậm nộp theo Luật Quản lý thuế.

Yêu cầu khởi kiện của ông L về việc đòi khoản tiền lãi chậm trả là có căn cứ pháp luật và được chấp nhận.

Thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật cho người có đất thu hồi khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng là một trong các trách nhiệm của Nhà nước đối với người sử dụng đất theo quy định hiện hành tại khoản 3 Điều 15 Luật Đất đai 2024.

Hành vi của UBND không thực hiện hành vi thanh toán khoản tiền do chậm chi trả theo quy định của pháp luật là hành vi làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của người có đất bị thu hồi.

Theo đó, theo quy định hiện hành tại điểm b khoản 3 Điều 94 Luật Đất đai 2024 quy định về kinh phí và chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư như sau:

Điều 94. Kinh phí và chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

...

3. Việc chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được thực hiện như sau:

...

b) Trường hợp cơ quan, đơn vị, tổ chức thực hiện bồi thường chậm chi trả thì khi thanh toán tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản, ngoài tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng mức tiền chậm nộp theo quy định của Luật Quản lý thuế tính trên số tiền chậm trả và thời gian chậm trả.

Cơ quan có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có trách nhiệm phê duyệt phương án chi trả bồi thường chậm cho người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản. Kinh phí chi trả bồi thường chậm được bố trí từ ngân sách của cấp phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Như vậy, người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản sẽ nhận được thêm một khoản tiền bằng mức tiền chậm nộp theo quy định của Luật Quản lý thuế tính trên số tiền chậm trả và thời gian chậm trả (chưa tính tiền bồi thường theo phương án bồi thường được cấp có thẩm quyền phê duyệt) khi cơ quan, đơn vị, tổ chức thực hiện bồi thường chậm chi trả thanh toán tiền bồi thường.

Nếu rơi và trường hợp tương tự là bị chậm chi trả tiền bồi thường do thu hồi đất thì người dân có thể khiếu nại, yêu cầu, đề nghị chi trả tiền lãi do chậm chi trả tiền bồi thường. Trong trường hợp vẫn không được giải quyết theo quy định thì người dân có quyền gửi yêu cầu tại Tòa án để khiếu kiện hành vi hành chính, thời hạn khởi kiện theo Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.

Bùi Thị Như Ý
Bùi Thị Như Ý Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Bài viết mới nhất

Bài viết mới nhất