Tải Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5746:2024 về phân loại đất, đá xây dựng mới nhất
Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5746:2024 do Viện Khoa học công nghệ xây dựng (Bộ Xây dựng) biên soạn, Bộ Xây dựng đề nghị, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thẩm định, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố và có hiệu lực từ ngày 24/12/2024.
Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5746:2024: https://cdn.thuvienphapluat.vn/uploads/DanLuat-BanAn/2025/5/TCVN5746_2024_921439.doc
Theo đó, Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5746:2024 áp dụng để phân loại cho tất cả các loại đất, đá xây dựng, phục vụ công tác khảo sát, thiết kế và xây dựng các loại công trình dân dụng và công nghiệp.
Đồng thời, các tài liệu viện dẫn cho việc áp dụng Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5746:2024 được quy định như sau:
Đối với các tài liệu viện dẫn ghi năm công bố thì áp dụng phiên bản được nêu. Đối với các tài liệu viện dẫn không ghi năm công bố thì áp dụng phiên bản mới nhất, bao gồm cả các sửa đổi, bổ sung (nếu có).
- TCVN 4197, Đất xây dựng - Phương pháp xác định giới hạn chảy và giới hạn dẻo trong phòng thí nghiệm;
- TCVN 10324, Đá xây dựng - Phương pháp xác định độ bền nén một trục trong phòng thí nghiệm.
Như vậy, Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5746:2024 chính thức có hiệu lực từ ngày 24/12/2024 và thay thế TCVN 5746:1993, áp dụng cho việc phân loại đất, đá xây dựng phục vụ khảo sát, thiết kế và thi công các công trình dân dụng, công nghiệp.

Tải Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5746:2024 về phân loại đất, đá xây dựng mới nhất (hình từ internet)
Nhận dạng và gọi tên đất, đá xây dựng theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5746:2024 thế nào?
Theo theo tiểu mục 4.3 Mục 4 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5746:2024 quy định về nhận dạng và gọi tên đất, đá xây dựng như sau:
Theo đó, nguyên tắc nhận dạng và gọi tên đất, đá xây dựng:
- Phụ thuộc vào mục đích sử dụng và mức độ nghiên cứu về điều kiện địa chất công trình tương ứng, đất, đá xây dựng được nhận dạng, phân chia, gọi tên và biểu diễn theo các mức độ chi tiết khác nhau: khái quát nhất là đến Nhóm đất, đá và chi tiết nhất là đến Dạng đất, đá.
- Đối với mục đích xây dựng, sử dụng làm thông số đầu vào cho thiết kế nền móng, đất, đá xây dựng cần được phân chia, gọi tên và biểu diễn đến đơn vị Loại và trong nhiều trường hợp, đến đơn vị Dạng đất, đá.
Nhận dạng đất, đá xây dựng có thể sơ bộ dựa trên các dấu hiệu quan sát trực tiếp ở hiện trường và sau đó chính xác hóa theo các chỉ tiêu tính chất thí nghiệm được.
(1) Nhận dạng đá
Nhận dạng gọi tên các đá cần dựa vào các yếu tố sau:
- Nguồn gốc và tuổi: Đá magma, biến chất, trầm tích, v.v.;
- Thành phần khoáng vật: thạch anh, felspat và các khoáng vật silicat có liên quan; khoáng vật màu sẫm (như Biotit, Amfibon, Piroxen); khoáng vật sét; khoáng vật cacbonat (như canxi, đôlomit); khoáng vật oxit (như manhêtit); khoáng vật không định hình silic; khoáng vật chứa cacbon (như than đá, than chì); muối (như muối mỏ (đá muối), thạch cao); khoáng vật trương nở (như Anhydrit, khoáng vật sét); khoáng vật Sulfua;
- Kích thước hạt;
- Kiến trúc, cấu tạo: phân lớp, dạng phiến, tấm hoặc khối; tính đẳng hướng và bất đẳng hướng;
- Đặc điểm tồn tại, mức độ phong hóa;
- Các đặc trưng cơ lý;
- Các đặc điểm khác.
(2) Nhận dạng đất
*Các đặc trưng nhận dạng và gọi tên
Đối với đất, tên và cách biểu diễn được dựa vào các đặc trưng như sau đây:
- Thành phần hạt;
- Thành phần vật chất;
- Một số đặc trưng tính chất đặc biệt,
trong đó, phương thức gọi tên và biểu diễn theo thành phần hạt là phương thức cơ bản, tổng quát. Các phương thức khác là các phương thức bổ sung, phụ trợ với mục đích mô tả rõ thêm các đất nghiên cứu.
*Nhận dạng đất theo thành phần hạt
Hầu hết đất là đất hỗn hợp, được hợp thành từ nhiều nhóm hạt, trong đó phân biệt các nhóm hạt chính và nhóm hạt phụ.
Đất được nhận dạng bằng một tập hợp các ký hiệu sau:
- Ký hiệu mô tả nhóm hạt chính và viết hoa;
- Ký hiệu mô tả các nhóm hạt phụ bằng một hoặc nhiều tính từ (thành phần bổ nghĩa) đặt trước tên gọi nhóm hạt chính theo thứ tự tăng dần hàm lượng của chúng và viết thường. Khi nhiều nhóm hạt phụ có khối lượng như nhau, giữa các ký hiệu biểu diễn chúng có các gạch chéo;
- Ký hiệu mô tả các nhóm hạt xen kẹp bằng chữ viết thường có gạch dưới và đứng ngay sau thành phần chính.
VÍ DỤ: Sét lẫn bụi được ký hiệu là siCl, sét lẫn sỏi sạn grCl, sỏi sạn lẫn cát saGr, sét lẫn sỏi sạn xen kẹp cát grClsa, sét lẫn cát/sỏi sạn gr/saCl, sỏi sạn nhỏ lẫn cát thô (csaFGr); Bụi lẫn cát vừa (msaSi); cát thô lẫn sỏi sạn nhỏ: fgrCSa; cát mịn lẫn bụi: siFSa; bụi lẫn cát thô và sỏi sạn nhỏ: fgrcsaSi; sét lẫn cát vừa: msaCl.
Tên đất được gọi theo thứ tự sau: tên nhóm hạt chính, tên nhóm hạt phụ, các đặc điểm nhận dạng quan tâm khác (tính dẻo, hình dạng hạt đất...). Nếu các nhóm hạt phụ có mặt với một lượng quá nhỏ hoặc quá lớn, các trạng từ “ít” hoặc “nhiều” sẽ được đi kèm trước danh từ chỉ tên của chúng.
*Tên gọi và biểu diễn đất theo thành phần vật chất
Các đất được gọi tên theo thành phần vật chất trong trường hợp thành phần vật chất là yếu tố quyết định các tính chất xây dựng của chúng như đất hữu cơ, đất nhiễm muối. Các đất này được gọi tên theo thành phần vật chất của chúng (hữu cơ, muối) và được phân loại theo lượng chứa các thành phần vật chất của đất.
*Tên gọi và biểu diễn các đất theo một số đặc trưng tính chất đặc biệt
Một số đất thể hiện một số tính chất cơ lý đặc biệt, ảnh hưởng lớn tới phương thức nghiên cứu, sử dụng chúng trong thực tế xây dựng. Trong trường hợp này, chúng được gọi tên theo đặc trưng tính chất đặc biệt đó và được phân loại theo độ lớn của các đặc trưng tính chất đó. Đó là:
- Đất trương nở;
- Đất lún ướt;
- Đất xốp;
- Đất bùn, than bùn, v.v.
Xem chi tiết tại TCVN 5746:2024: https://cdn.thuvienphapluat.vn/uploads/DanLuat-BanAn/2025/5/TCVN5746_2024_921439.doc
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];