Sĩ quan Công an, Quân đội, cán bộ có thể là luật sư công từ 01/10/2026 (đề xuất)
Bộ Tư pháp đã công bố Dự thảo Nghị quyết về việc thực hiện thí điểm chế định luật sư công. https://cdn.thuvienphapluat.vn/uploads/DanLuat-BanAn/2026/3/du-thao-nghi-quyet-thuc-hien-thi-diem-luat-su-cong.pdf
Dự thảo Nghị quyết quy định về việc thí điểm chế định luật sư công, gồm: Tiêu chuẩn, điều kiện luật sư công; quyền, nghĩa vụ của luật sư công; phạm vi hoạt động của luật sư công; sử dụng, quản lý nhà nước đối với luật sư công.
Việc thí điểm luật sư công được thực hiện tại các cơ quan, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, gồm: Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Bộ Công Thương, Bộ Ngoại giao, Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Ủỵy ban nhân dân tỉnh, thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ, Quảng Ninh, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Đồng Nai, Bắc Ninh.
Thời gian thí điểm từ ngày 01 tháng 10 năm 2026 đến hết ngày 30 tháng 9 năm 2028.
Theo đó, tại Điều 5 Dự thảo Nghị quyết đề xuất tiêu chuẩn của luật sư công như sau:
Điều 5. Tiêu chuẩn của luật sư công
1. Là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Công an nhân dân, sĩ quan Quân đội nhân dân, cán bộ doanh nghiệp Nhà nước.
2. Trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh chính trị vũng vàng, liêm chính.
3. Có trình độ cử nhân luật trở lên.
4. Có ít nhất 05 năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực pháp luật hoặc kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn pháp luật luật hoặc giải quyết vụ việc pháp lý phức tạp.
5. Đã được đào tạo luật sư công, trừ trường hợp được miễn đào tạo theo quy định của Nghị quyết này thì có thể trở thành luật sư công.
Bên cạnh đó, tại Điều 6 Dự thảo Nghị quyết đề xuất quy định điều kiện hoạt động của luật sư công như sau:
Điều 6. Điều kiện hoạt động của luật sư công
Người đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 5 của Nghị quyết này và được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư thì được thực hiện các công việc thuộc phạm vi hoạt động của luật sư công theo quy định tại Điều 10 của Nghị quyết này.
Như vậy, nếu Dự thảo Nghị quyết được thông qua, cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Công an nhân dân, sĩ quan Quân đội nhân dân, cán bộ doanh nghiệp Nhà nước có thể trở thành luật sư công nếu đáp ứng đủ tiêu chuẩn tại Điều 5 Dự thảo Nghị định và được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư.

Sĩ quan Công an, Quân đội, cán bộ có thể là luật sư công từ 01/10/2026 (đề xuất) (Hình từ Internet)
Những người nào được miễn đào tạo luật sư công theo đề xuất?
Tại Điều 8 Dự thảo Nghị quyết về việc thực hiện thí điểm chế định luật sư công đề xuất những người sau đây được miễn đào tạo luật sư công:
- Người đã được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư theo quy định của Luật Luật sư;
- Người đã có Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề luật sư tại Học viện Tư pháp;
- Giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sỹ luật;
- Người đang là chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp trong lĩnh vực pháp luật.
Tuy nhiên, người được miễn đào tạo luật sư công phải tham gia bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp của luật sư công tối thiểu là 176 giờ (tương đương 22 ngày làm việc/tháng) trước khi được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư.
Quốc hội ban hành Nghị quyết để quy định những gì?
Căn cứ Điều 10 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025 như sau:
Điều 10. Luật, nghị quyết của Quốc hội
1. Quốc hội ban hành luật để quy định:
a) Tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước, chính quyền địa phương, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;
b) Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân mà theo Hiến pháp phải do luật định; việc hạn chế quyền con người, quyền công dân; tội phạm và hình phạt; tố tụng tư pháp;
c) Chính sách cơ bản về kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, môi trường, tài chính, tiền tệ quốc gia, ngân sách nhà nước; quy định các thứ thuế, về huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước;
d) Chính sách cơ bản về quốc phòng, an ninh quốc gia; hàm, cấp trong lực lượng vũ trang nhân dân; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia;
đ) Chính sách cơ bản về đối ngoại; hàm, cấp ngoại giao; hàm, cấp nhà nước khác;
e) Chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước;
g) Trưng cầu ý dân;
h) Cơ chế bảo vệ Hiến pháp;
i) Vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội theo quy định của Hiến pháp và luật.
2. Quốc hội ban hành nghị quyết để quy định:
a) Thực hiện thí điểm một số chính sách mới thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội khác với quy định của luật hiện hành;
b) Tạm ngưng, điều chỉnh hiệu lực hoặc kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần luật, nghị quyết của Quốc hội đáp ứng yêu cầu cấp bách về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quyền con người, quyền công dân;
c) Vấn đề khác do Quốc hội quyết định.
Theo đó, Quốc hội ban hành Nghị quyết để quy định:
- Thực hiện thí điểm một số chính sách mới thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội khác với quy định của luật hiện hành;
- Tạm ngưng, điều chỉnh hiệu lực hoặc kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần luật, nghị quyết của Quốc hội đáp ứng yêu cầu cấp bách về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quyền con người, quyền công dân;
- Vấn đề khác do Quốc hội quyết định.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];