Nhà được bố mẹ chồng cho, khi ly hôn có phải chia đôi?

15:59 | 03/01/2024
Tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng của vợ, chồng.

Hai vợ chồng cưới nhau năm 2017 và có một người con chung. Sau khi cưới, gia đình chồng cho vợ chồng tôi một căn nhà nhưng đứng tên người chồng. Tiền xây nhà, tiền đất đều là của bên nhà chồng. Chúng tôi không có thỏa thuận gì về việc phân chia tài sản cả. Trước và sau khi kết hôn tôi chỉ làm công việc nội trợ, hiện tại vợ chồng tôi đang ly thân. Xin hỏi, nếu ly hôn thì căn nhà trên có được chia đôi hay không?

Luật sư Lê Văn Bình, Đoàn Luật sư TP.HCM, trả lời: Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình quy định tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân. Bên cạnh đó, tài sản chung của vợ chồng còn gồm tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Điều 43 luật này cũng quy định tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

Do đó, căn cứ vào các quy định trên thì nguồn gốc hình thành căn nhà là từ sự tặng cho riêng của gia đình nhà chồng, trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng chỉ đứng tên người chồng.

Mặt khác, trong thời kỳ hôn nhân hai vợ chồng cũng không có thỏa thuận đưa tài sản này vào làm tài sản chung của vợ chồng, cho nên căn nhà trên là tài sản riêng của người chồng.

Về khối tài sản chung còn lại theo Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình thì sẽ được chia đôi nhưng sẽ xem xét đến các yếu tố như:

Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng.

- Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung.

- Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập.

- Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Nguồn: Theo PLO

Logo Thư viện Pháp luật
Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Bài viết mới nhất

Bài viết mới nhất

Công văn 6938 CT QLNT: Nghĩa vụ thuế với doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký và thực hiện thủ tục chấm dứt hiệu lực MST thế nào?
Công văn 6938 CT QLNT: Nghĩa vụ thuế với doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký và thực hiện thủ tục chấm dứt hiệu lực MST thế nào?

Tại Công văn 6938/CT-QLNT ngày 18/9/2026 của Cục Thuế trả lời công văn 2313/AGI-NVDTPC, Cục Thuế có nêu nghĩa vụ của doanh nghiệp bị cơ quan thuế thông báo không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký và trường hợp doanh nghiệp thực hiện thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế. Dưới đây là thông tin chi tiết.

Nghị định 364 2026 NĐ CP hướng dẫn Nghị quyết 24/2026 thí điểm chế định luật sư công chi tiết thế nào?
Nghị định 364 2026 NĐ CP hướng dẫn Nghị quyết 24/2026 thí điểm chế định luật sư công chi tiết thế nào?

Nghị định 364/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Nghị quyết 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công có hiệu lực từ ngày 01/10/2026 đến ngày Nghị quyết 24/2026/QH16 hết hiệu lực thi hành. Dưới đây là thông tin chi tiết Nghị định 364/2026/NĐ-CP.