Giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định pháp luật dân sự của Việt Nam?

Nguyễn Ngọc Trầm 476 lượt xem
08:12 | 29/03/2025
Tìm hiểu về giao dịch dân sự vô hiệu? Giao dịch dân sự sẽ bị tuyên vô hiệu trong các trường hợp nào? Phân loại các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu?
Nội dung chính
  1. Tìm hiểu về giao dịch dân sự vô hiệu?
  2. Những trường hợp dẫn đến giao dịch dân sự vô hiệu?

Tìm hiểu về giao dịch dân sự vô hiệu?

Theo Điều 116 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch dân sự được hiểu là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Từ quy định này có thể thấy, việc xác lập giao dịch dân sự sẽ dẫn đến sự thay đổi trong mối quan hệ pháp lý dân sự giữa các chủ thể, tức là làm phát sinh, chuyển đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Giao dịch dân sự là một loại sự kiện pháp lý – có thể là hành vi đơn phương hoặc hành vi của nhiều bên – và kết quả của hành vi này là làm nảy sinh hậu quả pháp lý. Mỗi loại giao dịch cụ thể sẽ tạo ra những tác động khác nhau đến mối quan hệ pháp luật dân sự, có thể là phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ đó.

Bản chất của giao dịch là hành vi có ý chí của chủ thể nhằm đạt tới một mục tiêu xác định. Vì vậy, giao dịch dân sự mang tính ý chí của người tham gia với động cơ và mục đích cụ thể. Do đó, nếu không đáp ứng đầy đủ các điều kiện được nêu tại Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch dân sự có thể bị tuyên vô hiệu. Những điều kiện đó bao gồm:

Các chủ thể tham gia phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự phù hợp với loại giao dịch được xác lập;

- Việc tham gia giao dịch phải được thực hiện hoàn toàn trên cơ sở tự nguyện;

- Nội dung và mục đích của giao dịch không được vi phạm điều cấm của pháp luật, đồng thời không trái với đạo đức xã hội;

- Trong một số trường hợp do pháp luật quy định, hình thức của giao dịch dân sự cũng là một điều kiện để giao dịch có hiệu lực;

- Các trường hợp khác được quy định cụ thể trong Bộ luật Dân sự 2015.

Các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì trật tự xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và nhà nước, đồng thời đảm bảo sự an toàn pháp lý trong các quan hệ dân sự.

So với quy định trước đây tại Bộ luật Dân sự năm 2005, điểm mới trong Bộ luật Dân sự 2015 là bổ sung cụm từ “trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác”. Đây là một sự điều chỉnh cần thiết nhằm phản ánh sự mềm dẻo của pháp luật, cho phép áp dụng linh hoạt trong các trường hợp đặc biệt để vẫn đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Thực tế cho thấy, không phải giao dịch nào thiếu điều kiện tại Điều 117 cũng bị xem là vô hiệu. Ví dụ, theo điểm a khoản 2 Điều 125 Bộ luật Dân sự 2015, những giao dịch của người chưa đủ sáu tuổi hoặc người bị mất năng lực hành vi dân sự nếu nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày thì vẫn được coi là có hiệu lực. Quy định bổ sung này thể hiện sự linh hoạt, nhân văn trong cách tiếp cận của pháp luật dân sự hiện hành.

Giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định pháp luật dân sự của Việt Nam? (hình từ internet)

Những trường hợp dẫn đến giao dịch dân sự vô hiệu?

Các trường hợp giao dịch dân sự bị vô hiệu có thể được chia thành hai nhóm cơ bản: vô hiệu tuyệt đối (hay còn gọi là vô hiệu đương nhiên) và vô hiệu tương đối (còn gọi là vô hiệu theo tuyên bố). Cách phân loại này dựa trên những đặc điểm thể hiện bản chất của hai loại giao dịch vô hiệu nêu trên. Cụ thể:

Thứ nhất, xét về trình tự dẫn đến vô hiệu:

Giao dịch vô hiệu tuyệt đối mặc nhiên bị coi là không có giá trị pháp lý ngay từ thời điểm xác lập, không cần phải có quyết định của tòa án. Ngược lại, giao dịch vô hiệu tương đối chỉ trở thành vô hiệu khi có người có quyền và lợi ích liên quan yêu cầu, và được tòa án ra quyết định tuyên bố vô hiệu.

Thứ hai, xét về thời hạn yêu cầu tuyên bố vô hiệu:

Với giao dịch vô hiệu tuyệt đối, pháp luật không giới hạn thời gian để yêu cầu tòa án tuyên bố vô hiệu. Trong khi đó, với giao dịch vô hiệu tương đối, thời hiệu để yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu là hai năm kể từ ngày giao dịch được xác lập theo quy định tại Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015.

Thứ ba, về hiệu lực pháp lý và vai trò của tòa án:

Giao dịch vô hiệu tuyệt đối bị coi là không có hiệu lực pháp lý mà không cần có sự can thiệp hay xác nhận từ tòa án, bởi giao dịch này vi phạm nghiêm trọng pháp luật và không được Nhà nước bảo vệ. Trong khi đó, giao dịch vô hiệu tương đối chỉ bị coi là vô hiệu nếu có quyết định của tòa án, dựa trên đơn yêu cầu và chứng cứ do bên có quyền, lợi ích liên quan cung cấp. Quyết định của tòa án trong trường hợp này có tính chất phán xử.

Thứ tư, xét về mục tiêu pháp lý của việc tuyên bố vô hiệu:

Những quy định về vô hiệu tuyệt đối được đặt ra để bảo vệ lợi ích công, tức là lợi ích của Nhà nước hoặc lợi ích chung của xã hội. Trong khi đó, các quy định về vô hiệu tương đối chủ yếu hướng đến việc bảo vệ lợi ích của các bên tham gia giao dịch, khi một trong các bên bị xâm phạm quyền lợi hoặc không đạt được sự tự nguyện, minh bạch trong giao kết.

Nguyễn Ngọc Trầm
Nguyễn Ngọc Trầm Chuyên viên pháp lý

Bài viết này có hữu ích không?

  • - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
  • - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
  • - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
  • - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];

Bài viết mới nhất

Bài viết mới nhất

Thông tư 136 2026 TT BTC sửa đổi Thông tư 158 2025 về Thuế tiêu thụ đặc biệt như thế nào?
Thông tư 136 2026 TT BTC sửa đổi Thông tư 158 2025 về Thuế tiêu thụ đặc biệt như thế nào?

Thông tư 136/2026/TT-BTC đã sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 3 Thông tư 158/2025/TT-BTC về hồ sơ xác định đối tượng không chịu thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hóa do tổ chức, cá nhân sản xuất, gia công, thuê gia công bán hoặc ủy thác cho tổ chức, cả phân kinh doanh khác để xuất khẩu ra nước ngoài. Dưới đây là thông tin chi tiết.