Đề xuất mới về thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng đặt cọc như thế nào?
TAND Tối cao đang lấy ý kiến góp ý Dự thảo Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về đặt cọc https://cdn.thuvienphapluat.vn/uploads/DanLuat-BanAn/2026/4/du-thao-nq.pdf
Theo đó, Dự thảo Nghị quyết đề xuất quy định về thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng đặt cọc trong 3 trường hợp như sau:
(1) Thời hiệu khởi kiện tranh chấp về hợp đồng đặt cọc được thực hiện theo Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015 và quy định khác có liên quan, trừ trường hợp quy định tại Mục (4).
(2) Thời hiệu khởi kiện tranh chấp về tuyên bố giao dịch đặt cọc vô hiệu được thực hiện theo Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015.
(3) Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thỏa thuận đặt cọc được thực hiện theo Điều 588 Bộ luật Dân sự 2015.
(4) Không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu trả lại tài sản đặt cọc theo quy định tại khoản 2 Điều 155 Bộ luật Dân sự 2015.
Theo Tờ trình Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về đặt cọc https://cdn.thuvienphapluat.vn/uploads/DanLuat-BanAn/2026/4/to-trinh-nghi-quyet.pdf thì hiện nay đang có hai quan điểm khác nhau về thời hiệu khởi kiện để bên đặt cọc yêu cầu bên nhận đặt cọc trả lại tài sản đặt cọc cho mình căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Dân sự khi hợp đồng được bảo đảm không được giao kết, thực hiện.
Quan điểm thứ nhất cho rằng, yêu cầu đòi lại tài sản đặt cọc của bên đặt cọc là yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu nên căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 155 của Bộ luật Dân sự thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện.
Tài sản đặt cọc khi được giao cho bên nhận đặt cọc nắm giữ thì quyền sở hữu vẫn thuộc về bên đặt cọc và phải có những điều kiện cụ thể theo Luật định (bên đặt cọc từ chối giao kết, thực hiện hợp đồng hoặc vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng đặt cọc; hợp đồng được giao kết, thực hiện và tài sản đặt cọc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền) hoặc theo thỏa thuận thì quyền sở hữu tài sản đặt cọc mới được chuyển giao cho bên nhận đặt cọc.
Có thể hiểu một cách đơn giản rằng người đặt cọc chỉ "gửi tạm" tài sản của mình cho bên nhận đặt cọc nắm giữ để đảm bảo cho việc ký kết và thực hiện hợp đồng và khi hợp đồng không được ký kết, thực hiện mà không phải do lỗi của bên đặt cọc thì họ hoàn toàn có quyền yêu cầu đòi lại tài sản thuộc quyền sở hữu chính đáng và thuộc trường hợp bảo vệ quyền sở hữu theo quy định tại khoản 2 Điều 155 của Bộ luật Dân sự.
Quan điểm thứ hai cho rằng, yêu cầu đòi lại tài sản đặt cọc của bên đặt cọc là yêu cầu chỉ được chấp nhận dựa trên việc xem xét, giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng nên cần áp dụng quy định tại Điều 429 của Bộ luật Dân sự, cụ thể thời hiệu khởi kiện trong trường hợp này là 03 năm kể từ ngày bên đặt cọc biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
Cần phải lưu ý rằng, không phải lúc nào khi hợp đồng được bảo đảm bởi đặt cọc không được giao kết, thực hiện là nghiễm nhiên bên đặt cọc có quyền yêu cầu đòi lại tài sản đặt cọc mà Tòa án cần xem xét, đánh giá một cách toàn diện hợp đồng, các tài liệu, chứng cứ có liên quan để đưa ra quyết định bên nhận đặt cọc có phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc hay không, quyền sở hữu tài sản đặt cọc của bên đặt cọc không phải là quyền sở hữu "tuyệt đối" nên không áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 155 của Bộ luật Dân sự về không áp dụng thời hiệu khởi kiện trong trường hợp bảo vệ quyền sở hữu.
Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học đang dự thảo theo quan điểm thứ nhất như đã nêu trên.

Đề xuất mới về thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng đặt cọc như thế nào? (Hình từ Internet)
Tuyển tập bản án về tranh chấp hợp đồng đặt cọc ban hành trong năm 2026 mới nhất?
Dưới đây là tuyển tập bản án về tranh chấp hợp đồng đặt cọc ban hành trong năm 2026 mới nhất:
|
STT |
Tên bản án |
Tòa án xét xử |
Ngày xét xử |
|
1 |
Bản án về tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 215/2026/DS-PT ngày 05/03/2026 |
Tòa án nhân dân Vĩnh Long |
05/03/2026 |
|
2 |
Bản án về tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 144/2026/DS-PT ngày 04/03/2026 |
Tòa án nhân dân Đồng Nai |
04/03/2026 |
|
3 |
Bản án về tranh chấp hợp đồng đặt cọc số 140/2026/DS-ST ngày 03/02/2026 |
Tòa án nhân dân Quận 6 - Hồ Chí Minh |
03/02/2026 |
|
4 |
Bản án về tranh chấp hợp đồng đặt cọc số 67/2026/DS-PT ngày 23/01/2026 |
Tòa án nhân dân Đồng Nai |
23/01/2026 |
|
5 |
Bản án về tranh chấp hợp đồng đặt cọc số 26/2026/DS-PT ngày 14/01/2026 |
Tòa án nhân dân Bắc Ninh |
14/01/2026 |
|
6 |
Bản án về tranh chấp hợp đồng đặt cọc số 22/2026/DS-PT ngày 07/01/2026 |
Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh |
07/01/2026 |
|
7 |
Bản án về tranh chấp hợp đồng đặt cọc số 21/2026/DS-PT ngày 07/01/2026 |
Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh |
07/01/2026 |
Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng đặt cọc như thế nào?
Theo Điều 38 Nghị định 21/2021/NĐ-CP, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng đặt cọc như sau:
(1) Bên đặt cọc có quyền, nghĩa vụ:
- Yêu cầu bên nhận đặt cọc ngừng việc khai thác, sử dụng hoặc xác lập giao dịch dân sự đối với tài sản đặt cọc; thực hiện việc bảo quản, giữ gìn để tài sản đặt cọc không bị mất giá trị hoặc giảm sút giá trị;
- Trao đổi, thay thế tài sản đặt cọc hoặc đưa tài sản đặt cọc tham gia giao dịch dân sự khác trong trường hợp được bên nhận đặt cọc đồng ý;
- Thanh toán cho bên nhận đặt cọc chi phí hợp lý để bảo quản, giữ gìn tài sản đặt cọc.
Chi phí hợp lý quy định tại điểm này là khoản chi thực tế cần thiết, hợp pháp tại thời điểm chi mà trong điều kiện bình thường bên nhận đặt cọc phải thanh toán để đảm bảo tài sản đặt cọc không bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng;
- Thực hiện việc đăng ký quyền sở hữu tài sản hoặc thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật để bên nhận đặt cọc được sở hữu tài sản đặt cọc quy định tại điểm b khoản 2 Điều 38 Nghị định 21/2021/NĐ-CP;
- Quyền, nghĩa vụ khác theo thỏa thuận hoặc do Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan quy định.
(2) Bên nhận đặt cọc có quyền, nghĩa vụ:
- Yêu cầu bên đặt cọc chấm dứt việc trao đổi, thay thế hoặc xác lập giao dịch dân sự khác đối với tài sản đặt cọc khi chưa có sự đồng ý của bên nhận đặt cọc;
- Sở hữu tài sản đặt cọc trong trường hợp bên đặt cọc vi phạm cam kết về giao kết, thực hiện hợp đồng;
- Bảo quản, giữ gìn tài sản đặt cọc;
- Không xác lập giao dịch dân sự, khai thác, sử dụng tài sản đặt cọc khi chưa có sự đồng ý của bên đặt cọc;
- Quyền, nghĩa vụ khác theo thỏa thuận hoặc do Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan quy định.
Bài viết này có hữu ích không?
- - Nội dung nêu trên là phần giải đáp, tư vấn của chúng tôi dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc, vui lòng gửi về Email [email protected];
- - Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo;
- - Điều khoản được áp dụng có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm bạn đang đọc;
- - Mọi ý kiến thắc mắc về bản quyền của bài viết vui lòng liên hệ qua địa chỉ mail [email protected];