TIÊU CHUẨN QUỐC GIA
TCVN 6313:2025
CÁC KHÍA CẠNH AN
TOÀN - HƯỚNG DẪN VỀ AN TOÀN CHO TRẺ EM TRONG TIÊU CHUẨN
Safety aspects - Guidelines
for child safety in standards
Lời nói đầu
TCVN 6313:2025 thay thế TCVN 6313:2008 (ISO/IEC Guide 50:2002).
TCVN 6313:2025 chấp nhận tương đương có sửa đổi ISO/IEC Guide 50:2014.
TCVN 6313:2025 do Ban kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia TCVN/TC 01 Vấn đề
chung về tiêu chuẩn hóa biên soạn, Viện Tiêu chuẩn Chất lượng Việt Nam đề
nghị, Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia thẩm định, Bộ Khoa học và
Công nghệ công bố.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
0.1 Đối tượng sử dụng tiêu chuẩn này
Tiêu chuẩn này đưa ra hướng dẫn cho những tổ chức xây dựng và sửa đổi
hoặc thay thế tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật và các tài liệu tương tự. Tiêu chuẩn
này bao gồm thông tin quan trọng, hữu ích làm thông tin cơ bản cho các nhà thiết
kế, kiến trúc sư, nhà sản xuất, nhà cung cấp dịch vụ, nhà giáo dục, truyền
thông, các nhà hoạch định chính sách...
Tiêu chuẩn này cung cấp thông tin hữu ích cho các chuyên gia đánh giá
và giám định an toàn trong trường hợp không có tiêu chuẩn cụ thể.
0.2 Lý do xây dựng tiêu chuẩn này
Việc ngăn ngừa thương tích là trách nhiệm chung của mọi người. Có một
thách thức là phát triển các sản phẩm, bao gồm các mặt hàng được sản xuất, kể cả
bao bì, quá trình, kết cấu, lắp đặt, dịch vụ, môi trường được tạo ra hoặc sự kết
hợp của bất kỳ trong số này nhằm giảm thiểu khả năng gây tử vong hoặc thương
tích nghiêm trọng cho trẻ em. Một khía cạnh quan trọng của thách thức này là
cân bằng giữa sự an toàn với nhu cầu của trẻ em được khám phá môi trường khích
lệ và học hỏi. Việc ngăn ngừa thương tích có thể được thực hiện thông qua thiết
kế, kỹ thuật, kiểm soát sản xuất, pháp lý, giáo dục và nâng cao nhận thức.
0.3 Các vấn đề liên quan đến an toàn trẻ em
An toàn trẻ em phải là mối quan tâm chính của xã hội vì các thương tích
ở trẻ em và thanh thiếu niên là nguyên nhân chính gây ra tử vong và tàn tật ở
nhiều nước. Báo cáo chung của WHO/UNICEF về Ngăn ngừa thương tích ở trẻ em
[26] xác định thương tích không chủ ý là nguyên
nhân hàng đầu gây tử vong cho trẻ em trên 5 tuổi. Hơn 830 000 trẻ em chết mỗi
năm do va chạm giao thông đường bộ, đuối nước, bỏng, ngã và ngộ độc.
Trẻ em được sinh ra trong thế giới của người lớn, chúng không có kinh
nghiệm hay nhận thức về các rủi ro nhưng lại có mong muốn tự nhiên là khám phá.
Chúng có thể sử dụng các sản phẩm hoặc tương tác với môi trường theo cách không
nhất thiết phải có chủ đích, không nhất thiết bị coi là “sử dụng sai”. Vì thế
nguy cơ thương tích là đặc biệt lớn trong giai đoạn thơ ấu. Việc giám sát có thể
không luôn ngăn ngừa hoặc làm giảm đáng kể thương tích. Do đó, cần thiết phải
có các biện pháp bổ sung nhằm ngăn ngừa thương tích.
Các biện pháp can thiệp nhằm bảo vệ trẻ em cần nhận thức rõ ràng trẻ
em không phải là người lớn thu nhỏ. Tính nhạy cảm của trẻ em đối với thương
tích và bản chất các thương tích của trẻ em khác với những thương tích của người
lớn. Các biện pháp can thiệp lý tưởng như vậy cũng phải xem xét việc sử dụng có
thể dự đoán trước một cách hợp lý về các sản phẩm hoặc môi trường xung quanh.
Trẻ em tương tác với sản phẩm theo cách phản ánh hành vi thông thường của một đứa
trẻ và các hành vi này sẽ thay đổi theo lứa tuổi và mức độ phát triển
của trẻ. Vì vậy, biện pháp can thiệp để bảo vệ trẻ em phải khác so với biện
pháp nhằm bảo vệ cho người lớn.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Tiêu chuẩn có thể giữ vai chủ đạo trong việc giảm thiểu và ngăn ngừa
thương tích vì chỉ tiêu chuẩn mới có các khả năng:
- sử dụng các kiến thức chuyên môn về kỹ thuật trong kiểm soát thiết kế,
kiểm soát sản xuất và thử nghiệm,
- quy định các yêu cầu an toàn quan trọng, và
- thông tin về hướng dẫn sử dụng, cảnh báo, hình minh họa, các ký hiệu,
v.v...
0.5 Cấu trúc của tiêu chuẩn
Tiêu chuẩn này cung cấp thông tin bổ sung cho TCVN 6844 (ISO/IEC
Guide 51). TCVN 6844 (ISO/IEC Guide 51) đưa ra cách tiếp cận có cấu trúc để giảm
thiểu rủi ro trong bối cảnh an toàn chung, còn tiêu chuẩn này tập trung vào các
mối quan hệ giữa sự phát triển của trẻ em và tổn hại từ thương tích không chủ ý
và đưa ra lời khuyên về cách giải quyết các mối nguy mà trẻ em có thể gặp phải.
Tiêu chuẩn này được cấu trúc như sau:
a) Điều 4 mô tả cách tiếp cận tổng quát về an toàn cho trẻ em, bao gồm
các nguyên tắc đề cập một cách có hệ thống đến các mối nguy;
b) Điều 5 trình bày mối quan hệ giữa sự phát triển và hành vi của trẻ
em và thương tích không chủ ý, bao gồm nhân trắc học ở trẻ em (xem 5.1.2), vận
động (xem 5.1.3), sinh lý (xem 5.1.4) và phát triển nhận thức (xem 5.1.5) và
các biện pháp khám phá (xem 5.1.6); tầm quan trọng của việc áp dụng kiến thức về
sự phát triển của trẻ em để ngăn ngừa tổn hại được đề cập ở 5.2; độ tuổi phát
triển của trẻ em so với độ tuổi theo thời gian được đề cập ở 5.3;
c) Điều 6 đề cập đến sự liên quan của môi trường thể chất và xã hội của
trẻ và những xem xét cụ thể liên quan đến môi trường ngủ của trẻ;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
e) Điều 8 mô tả phương pháp có cấu trúc để xem xét tính đầy đủ của các
biện pháp bảo vệ.
Ngoài ra, Phụ lục A còn có danh sách kiểm tra để đánh giá tiêu chuẩn.
Trong đó đưa ra cái nhìn khái quát về các mối nguy, các thương tích tiềm ẩn và
cách tiếp cận có cấu trúc với các giải pháp. Tuy nhiên, cần phải đọc phần này
cùng với phần chính của tiêu chuẩn, vì phụ lục chỉ đưa ra một vài ví dụ về cách
tiếp cận có cấu trúc.
0.6 Khác biệt so với ISO/IEC Guide 50:2014
Tiêu chuẩn này chấp nhận tương đương có sửa đổi ISO/IEC Guide 50:2014 Safety
aspects - Guidelines for child safety in standards với điểm khác biệt là:
ISO/IEC Guide 50:2014 quy định độ tuổi của trẻ em là người dưới 14 tuổi.
Trong tiêu chuẩn này quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi theo quy định của
pháp luật Việt Nam.
CÁC KHÍA CẠNH AN TOÀN - HƯỚNG DẪN VỀ AN TOÀN
CHO TRẺ EM TRONG TIÊU CHUẨN
Safety aspects - Guidelines for child safety in standards
1 Phạm vi áp dụng
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Tiêu chuẩn này không đưa ra hướng dẫn về ngăn ngừa tổn hại do cố tình
(ví dụ: lạm dụng trẻ em) hoặc các hình thức tổn hại phi vật chất như là tổn hại
về tâm lý (ví dụ: hăm dọa ngược đãi trẻ em).
Tiêu chuẩn này không đề cập đến hậu quả kinh tế của những vấn đề trên.
CHÚ THÍCH: Thuật ngữ 'sản phẩm” được định nghĩa ở 3.5.
2 Tài liệu viện dẫn
Trong tiêu chuẩn này không có tài liệu nào được viện dẫn.
3 Thuật ngữ và định nghĩa
Tiêu chuẩn này sử dụng thuật ngữ, định nghĩa dưới đây.
3.1
Người trông nom trẻ
(carer)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
VÍ DỤ: Cha mẹ; ông bà; anh chị em ruột được giao trách nhiệm hạn chế đối
với trẻ; họ hàng khác, người quen là người trưởng thành; người trông nom trẻ;
giáo viên; lãnh đạo thanh niên; huấn luyện viên thể thao; hướng dẫn viên cắm trại;
nhân viên chăm sóc ban ngày.
3.2
Trẻ em (child)
Người dưới 16 tuổi [41].
Chú thích 1: Độ tuổi có thể thay đổi tùy theo luật pháp; trong ISO/IEC
Guide 50:2014 là dưới 14 tuổi.
Chú thích 2: Xem 4.2 để biết thêm thông tin.
3.3
Tổn hại (harm)
Thương tích hoặc tổn thương đến sức khỏe của con người hoặc thiệt hại về
tài sản hay môi trường.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.4
Mối nguy (hazard)
Nguồn gây tổn hại tiềm ẩn (3.3).
[TCVN 6844 (ISO/IEC Guide 51:2014, 3.2].
3.5
Sản phẩm (product)
Mặt hàng được sản xuất, quá trình, kết cấu, lắp đặt, dịch vụ, môi trường
được tạo ra hoặc sự kết hợp của bất kỳ trong số này.
Chú thích 1: Trong trường hợp hàng tiêu dùng, bao bì (dù dự kiến hay
không dự kiến hoặc có khả năng được giữ lại như là một phần của sản phẩm) được
coi là một phần không thể thiếu của sản phẩm (xem thêm 7.1).
3.6
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Sự kết hợp của khả năng xảy ra tổn hại (3.3) và mức độ nghiêm trọng
của tổn hại đó.
[TCVN 6844 (ISO/IEC Guide 51:2014, 3.9, đã sửa đổi - bỏ Chú thích 1].
3.7
An toàn (safety)
Không có rủi ro
(3.6) không thể chấp nhận được.
[TCVN 6844 (ISO/IEC Guide 51:2014, 3.14].
3.8
Rủi ro có thể chấp nhận được (tolerable risk)
Mức độ rủi ro (3.6) được chấp nhận trong bối cảnh nhất định dựa trên
các giá trị hiện tại của xã hội.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
4 Tiếp cận chung về an toàn cho trẻ em
4.1 Khái quát
Khi xây dựng hoặc sửa đổi, thay thế một tiêu chuẩn đối với một sản phẩm,
tổ chức xây dựng tiêu chuẩn cần xem xét liệu trẻ em có khả năng tương tác với
các sản phẩm mà tiêu chuẩn đó đề cập đến hay không và bằng cách nào, bất kể sản
phẩm đó có nhằm dành riêng cho trẻ em hay không. Các khái niệm an toàn để phân
biệt an toàn cho trẻ em và an toàn nói chung được giải thích trong điều này.
Các khái niệm này là bổ sung cho nội dung của TCVN 6844 (ISO/IEC Guide 51).
4.2 Mô tả độ tuổi được sử dụng trong tiêu chuẩn
này
Một số thuật ngữ liên quan đến độ tuổi đề cập đến sự phát triển của trẻ
em đang được sử dụng phổ biến. Các thuật ngữ này không loại trừ lẫn nhau và phụ
thuộc vào ngữ cảnh, có thể được sử dụng một cách tương đối hoặc với ý nghĩa
chính xác như sau:
- Thuật ngữ “trẻ sơ sinh” thường dùng để chỉ những đứa trẻ chưa biết
đi.
- Thuật ngữ “trẻ mới biết đi” thường dùng để chỉ những đứa trẻ có thể
đi lại nhưng kỹ năng di chuyển chưa được phát triển đầy đủ và thể hiện hành vi
khám phá mạnh mẽ.
- Thuật ngữ “trẻ nhỏ” thường dùng để chỉ những đứa trẻ đã qua giai đoạn
chập chững biết đi, nhưng vẫn đang phát triển các kỹ năng cơ bản, như là trẻ từ
3 đến 8 tuổi. Chúng có thể có các kỹ năng vận động cơ bản phát triển tốt, đang
bắt đầu thực hiện một số nhiệm vụ cơ bản của người lớn và dần dần ít chịu sự
giám sát hơn, nhưng hành vi của những đứa trẻ này có thể vẫn bốc đồng và khó
đoán. Điều quan trọng cần lưu ý là sẽ có sự khác biệt đáng kể giữa các kỹ năng
và hành vi của trẻ ở độ tuổi này.
- Thuật ngữ “trẻ lớn” đề cập đến những trẻ em chưa phải là thanh niên:
giới hạn độ tuổi trên có thể khác nhau, vì vậy thuật ngữ này có thể đề cập đến
trẻ trong độ tuổi từ 9 đến dưới 16 tuổi. Đây là nhóm tuổi ngày càng độc lập, có
khả năng thực hiện hầu hết các nhiệm vụ của người lớn (dù với các mức độ năng lực
khác nhau) mặc dù trẻ có thể vẫn hành động không nhất quán
và có thể đoán được, có thể phản ứng trước áp lực từ bạn bè và có thể không hiểu
hết về những hậu quả trong hành động của mình. Đó là giai đoạn khi có thể có
xung đột cảm xúc vì mong muốn cả sự an toàn và độc lập. Ở giai đoạn cuối của
nhóm tuổi này, trẻ em có động lực mạnh mẽ đối với sự độc lập và có khả năng tìm
kiếm những trải nghiệm mới.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Đánh giá rủi ro là một bước quan trọng trong bất kỳ biện pháp ngăn ngừa
thương tích nào. Điều quan trọng là xác định tất cả các tình huống hoặc chuỗi
tình huống có thể gây tổn hại đối với từng mối nguy.
Cách tiếp cận chung được nêu trong TCVN 6844 (ISO/IEC Guide 51), xác định
các rủi ro liên quan đến một tình trạng nguy hại cụ thể là hàm số phụ thuộc mức
độ nghiêm trọng của tổn hại và xác suất xảy ra tổn hại đó. Cụ thể là, mức độ
nghiêm trọng của tổn hại và xác suất xảy ra cần được xác định một cách khách
quan và dựa trên các sự việc có liên quan chứng minh quan hệ nhân quả thay vì
ra quyết định tùy tiện và trực quan. Khi đề cập đến an toàn cho trẻ em, các yếu
tố dưới đây cần được đặc biệt chú ý liên quan đến các rủi ro đối với trẻ em:
a) các tương tác của chúng với con người và sản phẩm;
b) sự phát triển và hành vi của trẻ;
c) mức độ nhận thức, kiến thức và kinh nghiệm của trẻ và người trông
nom trẻ;
d) các yếu tố về xã hội, kinh tế và môi trường; khả năng bị thương tích
liên quan đến đặc điểm thể chất và hành vi của trẻ;
e) mức độ giám sát của người trông nom trẻ.
4.4 Ngăn ngừa và giảm tổn hại
4.4.1 Tổn hại có thể xảy ra do các mối nguy chẳng hạn
như thiếu nhu cầu thiết yếu (ví dụ: oxy, như đuối nước hoặc ngạt thở), truyền
năng lượng (ví dụ: cơ, nhiệt, điện, chất bức xạ), hay tiếp xúc với các tác nhân
(ví dụ: hóa học, sinh học) lớn hơn khả năng chịu đựng của cơ thể (xem Điều 7).
Có thể ngăn ngừa hay làm giảm nhẹ các tổn hại này bằng sự can thiệp vào một chuỗi
các tình huống dẫn đến tổn hại hoặc tiếp theo sự xuất hiện của chúng. Thiết kế
các sản phẩm an toàn thường mang lại kết quả phòng ngừa ban đầu.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- loại bỏ mối nguy và/hoặc tiếp xúc với mối nguy (ngăn ngừa ở cấp độ
1, ví dụ: thiết kế các sản phẩm an toàn hơn); ví dụ, thay thế chất lỏng dễ cháy
bằng chất lỏng không bắt cháy;
- loại bỏ sự tiếp xúc với mối nguy (ngăn ngừa ở cấp độ 1);
- làm giảm khả năng tiếp xúc với mối nguy (ngăn ngừa ở cấp độ 2, ví dụ:
sử dụng bao bì ngăn ngừa trẻ em);
- làm giảm mức độ nghiêm trọng của tổn hại (ngăn ngừa ở cấp độ 2, ví dụ:
sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân hoặc giảm nhiệt độ nước nóng sinh hoạt);
- làm giảm ảnh hưởng lâu dài của tổn hại thông qua việc cứu chữa, xử lý
hoặc phục hồi (ngăn ngừa ờ cấp độ 3).
CHÚ THÍCH: Cách tiếp cận làm giảm rủi ro cũng được trình bày trong TCVN
6844 (ISO/IEC Guide 51:2014, 6.3).
4.4.3 Ngoài
ra, các biện pháp có thể là bị động hay chủ động. Đối với các biện pháp bị động
thì các cá nhân không cần có hành động gì để được bảo vệ, còn các biện pháp chủ
động thì yêu cầu các cá nhân thực hiện một số hành động để làm giảm tổn hại.
Các biện pháp bị động loại bỏ hoặc đề phòng đối với mối nguy đảm bảo khả năng
thành công cao hơn các biện pháp chủ động.
Việc cải thiện an toàn sản phẩm, nghĩa là loại bỏ hoặc giảm thiểu rủi
ro có thể dẫn đến các thương tích nghiêm trọng, nên bắt đầu từ giai đoạn thiết
kế sản phẩm, nhằm kết hợp cách tiếp cập ngăn ngừa ở cấp độ 1, hoặc nếu không thể,
thì cách tiếp cận ngăn ngừa ở cấp độ 2. Ngăn ngừa ở cấp độ 2 có thể bao gồm việc
cung cấp thông tin cho những người sử dụng về rủi ro tồn dư, những rủi ro mà
người sử dụng có thể phải giải quyết. Bất cứ khi nào có thể, thiết kế sản phẩm
nên hướng tới việc kết hợp các biện pháp ngăn ngừa bị động.
CHÚ THÍCH: Cách tiếp cận làm giảm rủi ro cũng được nêu trong TCVN 6844
(ISO/IEC Guide 51:2014), 6.3.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- các dữ liệu thống kê về thương tích;
- thông tin chi tiết có sẵn từ các hệ thống giám sát thương tích;
- các kết quả nghiên cứu;
- dữ liệu thử nghiệm (mặc dù đã qua thử nghiệm nhưng không có nghĩa là
sản phẩm không có mối nguy).
- các điều tra liên quan đến các báo cáo vụ việc;
- các dữ liệu liên quan đến khiếu nại;
- ngoại suy dữ liệu liên quan về các đặc tính nguy hiểm từ các loại sản
phẩm khác. Dữ liệu giám sát, thu hồi và các hành động tương tự khác trong phạm
vi quyền hạn khác cần được xem xét.
THẬN TRỌNG: Việc không có các tổn hại được báo cáo không có
nghĩa là không có mối nguy nào.
Do các tổn hại của trẻ em nói chung có liên quan chặt chẽ đến giai đoạn
phát triển của trẻ và các tiếp xúc của chúng với các mối nguy ở các lứa tuổi
khác nhau, nên việc phân loại dữ liệu về thương tích của trẻ em theo nhóm tuổi
để xác định các kiểu tổn hại là rất quan trọng.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
VÍ DỤ 2: Các thương tích do bị ngã từ các thiết bị trong sân chơi cao
nhất ở lứa tuổi từ 5 đến 9 tuổi.
Ví DỤ 3: Các thương tích do bị ngã và các va đập liên quan đến các hoạt
động thể thao cao nhất ở lứa tuổi từ 10 đến 14 tuổi.
Việc xác định các biện pháp đối phó thích hợp là kết quả từ các nghiên
cứu và đánh giá, đặc biệt là được dựa trên dữ liệu thương tích, hành vi của trẻ
em, kỹ thuật và cơ chế sinh học. Phản hồi, ví dụ từ những người tiêu dùng có thể
cung cấp thông tin có giá trị về nhu cầu thiết kế lại sản phẩm.
Khi lựa chọn các biện pháp ngăn ngừa, cần nhận thức được rằng rủi ro chấp
nhận được cho người lớn có thể không áp dụng cho trẻ em. Khi đưa ra các biện
pháp thiết kế để bảo vệ cho người lớn thì cần phải xem xét các rủi ro gia tăng
và/hoặc bổ sung đối với trẻ em (ví dụ: túi khí bên hành khách trong ô tô).
4.5 Tính “vô hình” ở trẻ em
4.5.1 Trẻ em là “vô hình”, nghĩa là sự hiện diện của
chúng rất khó phát hiện, vì một số lý do:
- kích thước cơ thể nhỏ bé của trẻ khiến người lớn khó nhìn thấy;
- sự thiếu khả năng phán đoán để hiểu các mối nguy hiểm và
hành vi không thể đoán trước được của trẻ có thể đặt trẻ vào những tình huống
nguy hiểm mà người lớn không lường trước được.
4.5.2 Thị
lực của con người có những hạn chế, như hạn chế về tầm nhìn xa. Trẻ em ngoài tầm
quan sát của người lớn có mối nguy gặp phải những tai nạn nghiêm trọng. Ví dụ:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- trẻ có thể nhảy ra trước một phương tiện giao thông đang di chuyển và
bị đâm;
- trẻ có thể không được nhìn thấy khi một người khác mở hoặc
đóng cửa.
4.5.3 Cần xem xét các biện pháp khả thi để tránh hoặc
giảm thiểu rủi ro tại các điểm mù, ví dụ:
- ngăn ngừa trẻ đi vào các vị trí có rủi ro cao, như đường xe chạy, bằng
cách lắp đặt các rào chắn hoặc rào chắn tay xoay để ngăn trẻ vượt qua phía trước
xe buýt trường học mà tài xế xe buýt không nhìn thấy.
- loại bỏ các điểm mù trên phương tiện giao thông bằng cách lắp gương
hoặc hệ thống nhận dạng;
- mở rộng cửa sổ trong suốt ở cửa ra vào ở mức thấp hơn.
4.6 Nhu cầu của trẻ khuyết tật
Một tỷ lệ nhỏ nhưng đáng kể trẻ em bị khuyết tật. Một số trẻ em sinh ra
đã bị khuyết tật hoặc tình trạng sức khỏe suy giảm, trong khi các trẻ em khác bị
khuyết tật do bệnh tật, thương tích hoặc dinh dưỡng kém. Một số trẻ chỉ có một
khuyết tật duy nhất trong khi các trẻ khác lại có nhiều khuyết tật. Ví dụ, một
đứa trẻ bị bại não có thể bị suy giảm về khả năng vận động, giao tiếp và trí tuệ.
Sự tương tác phức tạp giữa tình trạng sức khỏe hoặc sự suy giảm sức khỏe với
các yếu tố môi trường và cá nhân có nghĩa rằng trải nghiệm của
mỗi đứa trẻ khuyết tật là khác nhau.
QUAN TRỌNG - Vì những lý do này, nên tham vẫn các chuyên gia.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Thuật ngữ "khuyết tật” bao gồm nhiều tình trạng khác nhau, khác
nhau về tính chất, mức độ nghiêm trọng và tác động của chúng.
Khuyết tật bao gồm, nhưng không giới hạn:
- sự suy giảm về hành vi và học tập;
- sự suy giảm về thể chất và phát triển;
- sự suy giảm về giác quan;
- sự suy giảm về kỹ năng vận động.
Tiêu chuẩn này không đưa ra khuyến nghị chi tiết về cách thức giảm thiểu
rủi ro và/hoặc mức độ nghiêm trọng của những thương tích không chủ ý ở trẻ khuyết
tật.
CHÚ THÍCH: TCVN 11457 (ISO/IEC Guide 71) đề cập đến nhu cầu của người
khuyết tật theo nghĩa rộng, nhưng không đề cập cụ thể đến hướng dẫn liên quan đến
trẻ khuyết tật.
5 Xem xét về an toàn: sự phát triển, hành vi và tổn hại
không chủ ý của trẻ em
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
5.1.1 Khái quát
Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ. Các đặc điểm vốn gắn liền với
trẻ em, bao gồm các giai đoạn phát triển cùng với việc tiếp xúc với các mối
nguy làm cho trẻ có thể gặp rủi ro theo cách khác với cách xảy ra cho người lớn.
Giai đoạn phát triển bao gồm nhiều yếu tố như kích thước của trẻ, hình dáng, chức năng
sinh lý, khả năng về thể chất và tri thức, sự phát triển về cảm xúc và hành vi.
Các đặc tính này thay đổi rất nhanh khi trẻ lớn lên. Vì vậy cha mẹ hay người
trông nom trẻ khác thường đánh giá quá cao hoặc đánh giá thấp các khả năng của
trẻ em tại các giai đoạn phát triển khác nhau, do đó khiến trẻ phải tiếp xúc với
các mối nguy. Tình trạng này còn xấu hơn bởi một thực tế là phần lớn môi trường
xung quanh trẻ em được thiết kế để dành cho người lớn.
Tất cả các đặc điểm của giai đoạn thơ ấu được mô tả dưới đây cần phải
được xem xét để xác định các mối nguy tiềm ẩn gắn liền với các sản phẩm, cần phải
lưu ý rằng các đặc điểm này có thể tác động cùng nhau và làm tăng rủi ro gây tổn
hại cho trẻ em. Ví dụ:
- hành vi muốn khám phá có thể dẫn đến việc trẻ trèo lên thang;
- các kỹ năng hạn chế về tri thức có thể làm trẻ không nhận thức được rằng
cái thang có thể quá cao hay không đứng vững;
- khả năng kiểm soát vận động hạn chế có thể dẫn đến hậu quả trẻ bị tuột
tay và ngã.
Cách mà trẻ em sử dụng và tương tác với các sản phẩm này phải được coi
là hành vi bình thường của giai đoạn thơ ấu. Thuật ngữ “sử dụng sai” có thể bị
hiểu sai lệch và có thể dẫn đến việc đưa ra các quyết định không phù hợp liên
quan đến các mối nguy cho trẻ. Bằng chứng khảo sát cho thấy trẻ em thường sử dụng
các sản phẩm không được thiết kế để dành cho trẻ, ví dụ lò vi sóng. Khi trẻ em
tương tác với một sản phẩm, rất khó để phân biệt giữa việc chúng đang chơi,
đang học một cách tích cực hay việc sử dụng đúng mục đích. Vì các lý do an
toàn, việc cố gắng phân biệt giữa các tương tác như vậy có thể không mang lại lợi
ích gì.
Khi xem xét về mặt an toàn cần đưa ra một sự cân bằng phù hợp giữa rủi
ro và tự do để trẻ khám phá một môi trường đầy kích thích và học tập. Mục đích
là để làm giảm rủi ro tổn hại bằng thiết kế phù hợp với mức độ phát
triển của trẻ.
5.1.2 Kích thước cơ
thể của trẻ em và các dữ liệu về nhân trắc học
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Kích thước của trẻ em liên quan tới môi trường xung quanh khiến nên cần
phải kiểm tra các phép đo nhân trắc học của trẻ, bao gồm chiều
cao tổng thể cũng như chiều dài, chiều rộng của các bộ phận và số đo các
vòng của cơ thể. Các dữ liệu về nhân trắc học cần được tham khảo để thiết lập
các phân bổ thông thường và các giới hạn an toàn. Trẻ em, giống
như người lớn không nhất thiết phải có số đo nhất quán đối với các bộ phận khác
nhau trên cơ thể. Ví dụ, một đứa trẻ có chiều cao ở phân vị thứ 95 có thể có đầu
ở phân vị thứ 50 và chiều dài tay ở phân vị thứ 25. Trẻ em trong một
nhóm tuổi có thể có sự khác biệt khá lớn về sự phát triển và kích thước. Giới
tính trải qua giai đoạn tăng trưởng bùng nổ ở các độ tuổi khác nhau.
CHÚ THÍCH: Các tài liệu tham khảo hữu ích về dữ liệu nhân trắc học, xem
trong Thư mục tài liệu tham khảo.
Dưới đây là các ví dụ mà kích thước cơ thể và sự phân bổ khối lượng là
các yếu tố gây thương tích khi so sánh với người lớn.
a) Trong trường hợp thương tích do nhiệt, một vùng tiếp xúc nhất định
thường chiếm tỷ lệ lớn hơn trên vùng tiếp xúc bề mặt của trẻ so với trường hợp
của người lớn. Ngoài ra, tỷ lệ diện tích bề mặt trên khối lượng cơ thể của trẻ
em lớn hơn có thể dẫn đến tỷ lệ chất lỏng cơ thể bị mất đi từ vùng bị bỏng lớn
hơn.
b) Trẻ nhỏ có kích thước đầu lớn so với kích thước cơ thể của trẻ. Trọng
tâm ở cao làm tăng khả năng trẻ bị ngã, ví dụ từ bàn ghế hay từ các kết cấu
mà trẻ có thể ngồi, trèo hoặc đứng lên. Trẻ em khi ngã thường đập đầu trực tiếp
xuống.
c) Ảnh hưởng khác của trọng tâm cao cũng làm tăng rủi ro bị ngã
vào các hồ bơi, thùng chứa, bồn cầu, bồn tắm v.v...khi trẻ dựa hay bám vào đó,
do đó làm tăng rủi ro bị chết đuối.
d) Kích thước tương đối lớn của đầu có nghĩa là đầu cần không gian lớn
hơn để lọt qua so với phần còn lại của cơ thể. Việc bị kẹt có thể xảy ra khi cơ
thể đã lọt qua khe hở do đưa chân vào trước nhưng lại không thể đưa đầu qua.
e) Khối lượng tương đối lớn của đầu làm tăng khả năng và mức độ nghiêm
trọng của tổn hại ở cổ.
f) Trẻ em có thể nhét ngón tay, bàn tay hay các phần khác của cơ thể
vào các khe và lỗ nhỏ để tiếp xúc với các chi tiết quay và chuyển động hay điện
và các mối nguy khác.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
5.1.3 Phát triển vận động
Sự phát triển vận động liên quan đến quá trình hoàn thiện của các vận động
thô và tinh cũng như sự phối hợp. Cần hiểu được sự phát triển các kỹ năng vận động
của trẻ để thiết kế các sản phẩm nhằm loại bỏ hay giảm nhẹ tổn hại.
Quá trình phát triển này bao gồm những thay đổi từ các hành động phản xạ
tự nhiên cơ bản đến các hành động có tính toán, có mục tiêu trực
tiếp. Những mốc quan trọng trong quá trình này bao gồm việc có được sức mạnh và
kỹ năng để hỗ trợ đầu, cúi xuống, ngồi dậy, lăn tròn, bò, đứng, trèo, đi chập
chững, đi và chạy và khả năng điều khiển các vật bằng tay và các ngón tay. Đến
giai đoạn sự cân bằng, sự kiểm soát và sức mạnh đã được phát triển đầy đủ, thì
trẻ em thường không thể tránh khỏi rủi ro bị ngã và rơi vào các vị trí không an
toàn mà chúng không thể tự thoát ra được.
VÍ DỤ 1: Khi nằm, trẻ nhỏ có thể di chuyển đến mép của một bề mặt
và rơi xuống nhưng không thể tự nâng mình lên được. Hậu quả là trẻ có thể
bị mắc kẹt giữa các vật dụng và bị ngạt do tư thế hay do bị chèn ép.
VÍ DỤ 2: Trẻ nhỏ mới biết đứng hay tập đi có thể bị vướng vào các dây,
ruy băng hay rèm cửa ở trong tầm với của trẻ. Khi trẻ ngồi hay ngồi
thụp xuống, các dây này có thể xiết quanh cổ và làm trẻ bị nghẹt thở.
VÍ DỤ 3: Khi trẻ leo trèo có thể bị vướng quần áo, phụ kiện và bất cứ
thứ gì trẻ mặc (ví dụ: ba lô, phụ kiện tóc) có thể bị vướng vào các đồ vật hay
các chi tiết nhô ra. Nếu trẻ không thể tự gỡ ra được, trẻ sẽ bị treo lơ lửng.
VÍ DỤ 4: Trẻ bị rơi từ trên cao do chúng bị mất thăng bằng hay tuột
tay.
VÍ DỤ 5: Từ khoảng ba tháng tuổi, trẻ sơ sinh được đặt nằm ngửa khi ngủ
có thể bị lật và ngạt thở nếu nệm hoặc ga trải giường quá mềm.
5.1.4 Phát triển tâm sinh lý
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Sự phát triển giác quan ở trẻ em diễn ra theo thời gian. Phát triển thị
giác chậm hơn phát triển các giác quan khác. Ngay cả ở giai
đoạn khi hầu hết trẻ em có tầm nhìn tương tự như người lớn, trẻ có thể có tầm
nhìn hẹp hơn hay gặp khó khăn trong việc nhận thức chiều sâu. Kết quả là trẻ em
sẽ gặp khó khăn trong việc nhận biết các tình huống nguy hiểm.
Dưới đây là một số ví dụ về việc phát triển tâm sinh lý chưa đầy đủ có
thể là một yếu tố gây thương tích:
a) kích thước cơ thể nhỏ và nhịp thở nhanh hơn của trẻ em khiến trẻ đặc
biệt dễ bị ảnh hưởng bởi các chất độc hại tiềm ẩn như thuốc, hóa chất và thực vật;
b) đặc điểm hóa sinh của trẻ em khiến chúng dễ bị nhiễm độc bởi hóa chất,
thuốc và thực vật không độc hại đối với người lớn;
c) đặc điểm của da trẻ em, bao gồm cả độ mỏng của da, khiến da dễ
bị thương tích do nhiệt hơn;
d) xương của trẻ em chưa phát triển hoàn toàn làm chúng có các phản ứng
khác với các tác động cơ học;
e) trẻ em dễ bị tổn hại hơn từ các nguồn ánh sáng mạnh;
f) trẻ em nhạy cảm hơn với áp suất âm thanh.
5.1.5 Phát triển về nhận thức
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Tại một vài giai đoạn đầu tiên của tuổi thơ ấu, các kinh nghiệm ban đầu
và chỉ dẫn của cha mẹ và người trông nom trẻ khác sẽ bắt đầu
ảnh hưởng đến các hành vi của trẻ em, nhưng không nên dựa vào điều này khi phát
triển một sản phẩm.
5.1.6 Biện pháp khám phá
Ngay từ khi còn nhỏ, trẻ em đã được thôi thúc bởi bản năng khám phá bẩm
sinh. Hành vi khám phá của trẻ em có thể được phân loại theo các biện pháp cơ bản
tương ứng với khả năng mới xuất hiện của chúng. Vì trẻ em trải qua một trình tự
có thể dự đoán được một phần nào đó về sự trưởng thành của thể chất và tinh thần,
trẻ cũng sử dụng các kiểu hành vi khám phá có thể dự đoán được. Các hành vi
khám phá này có thể dẫn đến việc trẻ sử dụng các sản phẩm theo các cách không
như nhà sản xuất mong muốn.
Một trong những biện pháp khám phá được quan sát thường xuyên nhất là sử
dụng đồ vật. Ở giai đoạn sơ sinh, điều này thường liên quan đến việc cầm và ngậm
đồ vật cùng một lúc. Khám phá bằng cách đưa đồ vật vào miệng không chỉ là để ăn
uống. Miệng của trẻ em tương đối nhạy cảm và việc đưa đồ vào miệng mang lại cho
trẻ em cảm giác thích thú cũng như giảm cơn đau khi mọc răng. Hoạt động khám
phá bằng cách đưa đồ vật vào miệng đòi hỏi sự phối hợp vận động cơ bản (ví dụ:
đưa tay lên miệng). Trẻ em bắt đầu khám phá các đồ vật theo cách cho phép chúng
tìm hiểu về các đặc điểm vật lý của chúng. Với sự xuất hiện của phối hợp hai
tay phức tạp hơn và các biện pháp khám phá khác như xoay, thả, đập và ném đồ vật,
khám phá bằng cách đưa đồ vật vào miệng sẽ giảm đi tương ứng. Tuy nhiên, một số
hành vi đưa vào miệng vẫn tiếp tục diễn ra sau giai đoạn đầu khám phá.
Khi các kỹ năng giác quan, vận động và nhận thức của trẻ em được cải
thiện, việc khám phá môi trường dần trở lên phức tạp hơn. Trẻ em tiếp tục khám
phá các đồ vật bao gồm cả cơ thể của chính chúng. Việc nhét mình vào một đồ vật
lớn hoặc nhét các đồ vật nhỏ vào các bộ phận cơ thể là chuyện thường gặp. Theo
thời gian, trò chơi xã hội trở thành biện pháp khám phá cơ bản đối với nhiều
trẻ em. Những lựa chọn do bạn cùng lứa trở thành các yếu tố thúc đẩy quan trọng
hình thành nên sự khám phá.
Người lớn hiểu rằng khám phá là một quá trình “khám phá những điều chưa
biết” có liên quan đến rủi ro. Trẻ em ở mọi lứa tuổi đều phải đối mặt với rủi ro, do
nhận thức rủi ro và khả năng ra quyết định hạn chế, hiểu biết kém về những hạn
chế của bản thân và sự non nớt về thể chất và nhận thức, tất cả đều ảnh
hưởng đến khả năng tránh nguy hiểm của chúng. Trong khi trẻ em có thể nhận thức
được một số rủi ro, chúng không thể đánh giá rủi ro liên quan đến tình huống
nguy hiểm tiềm ẩn cho đến khi trẻ có khả năng hiểu được những hậu quả (nguyên
nhân và kết quả) vào độ tuổi khoảng từ 7 đến 8 tuổi.
Bảng 1 đưa ra ví dụ về các biện pháp khám phá điển hình của trẻ em.
Bảng 1 - Ví dụ về các biện pháp khám phá điển
hình của trẻ em
Biện pháp khám phá
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Độ tuổi tối đa
Ví dụ minh họa
Cho đồ vật vào miệng
Cắn, mút, gặm, nhai, liếm
Từ sơ sinh đến 3 tuổi
Vú cao su (hoặc núm vú giả), khối gỗ, khăn lau, quần áo, thực phẩm
làm bằng vật liệu không ăn được, ngậm nướu, đồ chơi, pin cúc áo/đồng xu, đồ nội
thất, bệ cửa sổ.
Xoay
Trẻ em xoay một đồ vật khi chúng kiểm tra nó bằng mắt
Từ 6 tháng đến 2 tuổi
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Chuyển từ tay này sang tay khác
Với sự phối hợp vận động tăng lên, trẻ em có thể sử dụng cả hai tay để
xoay một đồ vật. Biện pháp này cho phép trẻ em xoay đồ vật xung quanh hoàn
toàn bằng cách truyền từ tay này sang tay kia.
Từ 9 tháng đến 2 tuổi
Quả bóng, dùi trống, khối, đồ chơi xếp chồng, khối xây dựng bằng nhựa.
Mắc (cơ thể vào đồ vật)
Bắt đầu khi trẻ em có khả năng tách một ngón tay. Đó là khi trẻ có thể
duỗi một ngón tay mà không cần duỗi tất cả các ngón tay khác. Sau đó trẻ bắt
đầu khám phá các đồ vật bằng cách đặt ngón tay của chúng vào trong các đồ vật
hoặc di chuyển ngón tay của chúng dọc theo bên ngoài đồ vật. Khi trẻ lớn lên,
chúng sẽ bắt đầu đưa các bộ phận cơ thể khác (tay, chân, đầu, v.v...) và toàn
bộ cơ thể của chúng vào các đồ vật khi chúng khám phá.
Từ 6 tháng đến 10 tuổi
Khóa kéo, vòng dây thắt, ổ cắm điện, ống nhựa, lỗ mở
chai, hộp các tông, chuồng chó, lan can và thanh chắn.
Mắc (đồ vật vào cơ thể)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Từ 2 đến 6 tuổi
Hạt, nhãn dán, đậu, tăm bông, nút/núm, đất nặn, chất nặn, các phần nhỏ từ đồ
chơi.
Đập
Trẻ em có thể đập đồ vật để nghe những âm thanh mà các đồ vật khác
nhau có thể tạo ra. Nó cũng có thể đưa ra phản hồi cho trẻ em về trọng lượng của
đồ vật.
Từ 9 tháng đến 5 tuổi
Nồi và chảo có thìa gỗ, khối, bút màu, đồ chơi xếp chồng, đồ chơi
phát ra tiếng động khi đập vào nhau hay trên bề mặt cứng.
Thả
Thả đồ vật bắt đầu từ rất sớm trong cuộc đời của một đứa trẻ. Kiểu
khám phá này cho phép trẻ em bắt đầu học được rằng các đồ vật tiếp tục tồn tại
ngay cả khi nằm ngoài tầm mắt và trẻ có thể có mức độ kiểm soát nhất định về
những hành động của cha mẹ chúng hay người trông nom trẻ.
Từ 6 tháng đến 3 tuổi
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Ném
Trẻ em bắt đầu ném bất cứ thứ gì chúng có thể nắm được. Biện pháp này
có thể cung cấp thông tin cho trẻ em về trọng lượng, cũng như bài tập về các
kỹ năng vận động và báo cáo năng lực.
Từ 1 đến 4 tuổi
Quả bóng, đĩa nhựa nhẹ, đồ chơi vải lông, đồ chơi vừa với tay trẻ, đồ
vật bất kỳ khi trẻ tức giận hoặc nản chí.
Trò chơi tưởng tượng
Khi trẻ không còn hài lòng với việc sử dụng các đồ vật theo ý muốn nữa,
chúng bắt đầu tách ra và khám phá tất cả các khả năng khác nhau của đồ vật.
Điều này có thể dẫn đến việc thử nghiệm với tất cả các biện pháp trước đó về
một đồ vật nhất định khi trẻ cố gắng vượt qua các giới hạn của đồ vật và có
được sự bắt chước tối ưu.
Từ 3 đến 10 tuổi
Quần áo hóa trang, búp bê, đồ chơi khủng long, ô tô, xe lửa, thế giới
thu nhỏ (lâu đài, nhà búp bê, nhà bếp, v.v.), đóng vai y tá hoặc bác sĩ
Kiểm tra giới hạn
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Từ 3 đến 10 tuổi
Thiết bị sân chơi, xe đẩy và đồ chơi cưỡi ngựa, thiết bị thể thao, giữ
thăng bằng trên tường hoặc trèo cây, thử các động tác aerobic bằng xe đạp hoặc
ván trượt.
5.2 Áp dụng kiến thức về sự phát triển của trẻ
em để ngăn ngừa tổn hại
Khi xây dựng hay soát xét một tiêu chuẩn sản phẩm, cần xem xét đến việc
sử dụng hợp lý có thể dự đoán được của trẻ em. Các đặc điểm mô tả trong 5.1
giúp dự đoán cách trẻ sẽ tương tác với một sản phẩm.
VÍ DỤ 1: Thiết kế thiết bị lưu trữ: trẻ em thích khám phá kích thước cơ
thể so với vật chứa, ví dụ: túi đựng đồ hoặc tủ lạnh. Nếu khoảng trống cho phép
phần thân dưới lọt vào thiết bị mà không lọt đầu thì trẻ có thể bị tổn hại. Nếu
toàn bộ cơ thể có thể lọt vào thì cần có đường thở nếu không trẻ có rủi ro
bị ngạt. Nếu thiết bị trữ nước, trẻ có rủi ro bị chết đuối.
VÍ DỤ 2: Thiết kế thiết bị điện: trẻ em sẽ bị
thu hút bởi đèn nhấp nháy, âm thanh và các nút bấm. Do đó điều quan trọng là phải
loại bỏ các thành phần nguy hiểm, ví dụ: các cạnh sắc, các vật vướng, các bộ phận
nhỏ, các bộ phận chuyển động và tiếp cận với pin.
VÍ DỤ 3: Trẻ em thường bắt chước người lớn, trẻ lớn hơn và các
nhân vật truyền thông: điều này dẫn đến việc trẻ em sử dụng các sản phẩm
mà người lớn thường sử dụng, không dành cho trẻ. Hành vi này nguy hiểm khi trẻ
em không hiểu được ý nghĩa hành động của chúng. Ví dụ, chúng có thể cho em nhỏ
hơn uống thuốc, mở khóa và bật các thiết bị.
VÍ DỤ 4: Bao bì, đặc biệt nếu nó có nhiều màu sắc và thu hút
trẻ em (ví dụ: hình thù đồ chơi), có khả năng dẫn đến việc trẻ sử dụng sản phẩm
đó một cách tưởng tượng.
Không thể mong đợi trẻ em nhận ra sự khác biệt giữa đồ vật thật
và đồ mô phỏng hoặc mô hình, cả hai đều có thể gây tổn hại. Việc sử dụng hình ảnh
trên các sản phẩm có thể thu hút trẻ em, chẳng hạn như các các nhân vật hoạt
hình hoặc các sản phẩm được thiết kế trông giống nhân vật hoạt hình, ví dụ: máy
sấy tóc, đèn lồng và bật lửa có thể khiến trẻ coi chúng như đồ chơi. Điều này
có thể dẫn đến việc sử dụng không thích hợp và không an toàn.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Khi xem xét các rủi ro mà trẻ em gặp phải, cần lưu ý rằng tuổi đời
không phải lúc nào cũng phù hợp với tuổi phát triển, nghĩa là trẻ em cùng tuổi
có thể phát triển khác nhau đáng kể.
Ví dụ, trong phạm vi độ tuổi hẹp, một số trẻ 12 tháng tuổi có thể biết
đi trong khi những đứa trẻ khác vẫn đang bò; một tỷ lệ nhỏ trẻ 4 tuổi có thể mở các hộp
đựng được chứng nhận là an toàn cho trẻ em trong khi phần lớn trẻ không thể mở
được và một số trẻ 8 tuổi sẽ thực hiện có ý thức các kỹ năng khi băng qua đường trong
khi những trẻ khác có thể hành động không thể đoán trước được.
5.4 Từ 16 tuổi trở lên
Trong tiêu chuẩn này, trẻ em được xác định là dưới 16 tuổi. Tuy nhiên,
mặc dù ngoài phạm vi áp dụng của tiêu chuẩn này, điều quan trọng cần lưu ý là sự
phát triển không dừng lại ở 16 tuổi. Nhu cầu độc lập có thể dẫn đến hành vi mạo
hiểm. Sự phát triển và trưởng thành của não thường vẫn tiếp tục sau tuổi 20.
6 Môi trường an toàn cho trẻ em
6.1 Khái quát
Ngoài sự phát triển của trẻ, môi trường tự nhiên và xã hội cũng ảnh hưởng
đến cách trẻ tương tác với sản phẩm. Môi trường tự nhiên và môi trường được tạo
ra, khí hậu, ngôn ngữ, thói quen, các quan điểm và niềm tin, kiến thức và kinh
nghiệm của người sử dụng đều ảnh hưởng đến an toàn sản phẩm.
Khả năng và mức độ nghiêm trọng của thương tích có thể tăng lên khi có
sự hiện diện và sự tham gia của nhiều hơn một đứa trẻ.
VÍ DỤ 1: Thương tích trên giàn nhún thường xảy ra do một đứa trẻ va vào
đứa trẻ khác khi đang ở trên đó.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
VÍ DỤ 3: Một đứa trẻ có thể khuyến khích hành vi nguy hiểm ở những
đứa trẻ khác thông qua áp lực từ bạn bè.
CHÚ THÍCH: Tỷ lệ thương tích đáng kể có liên quan đến sự tham gia của đứa
trẻ thứ hai.
6.2 Môi trường vật lý
Việc sản xuất và bảo quản nguyên liệu thô và các sản phẩm trong môi trường
không vệ sinh có thể dẫn đến ô nhiễm.
Cần phải xem xét việc sử dụng các sản phẩm trong nhiều môi trường. Sản
phẩm có thể được sử dụng trong môi trường khác ngoài dự kiến. Ví dụ như:
- lều cắm trại bật lên được dựng trong nhà như nhà chơi của trẻ em;
- giàn nhún được dùng trong nhà;
- thiết bị điện trong nhà được dùng bên ngoài;
- máy phát điện ngoài trời được dùng trong nhà;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- các thiết bị y tế được sử dụng trong môi trường gia đình, ví dụ: bình
oxy, máy khử rung tim, giường bệnh;
- pháo hoa dùng ngoài trời đôi khi được sử dụng trong nhà hoặc không gian kín một
phần.
6.3 Môi trường xã hội
Các nhà thiết kế sản phẩm cần nhận thức và giải quyết các vấn đề do sự
phát triển công nghệ và xuất hiện các mối nguy, bao gồm cả các sản phẩm hiện
đang được trẻ em sử dụng bất kể mục đích ban đầu của nhà sản xuất. Cũng có một
số ví dụ về sản phẩm dự kiến cho trẻ em sử dụng, nhưng lại được các nhóm tuổi
nhỏ hơn sử dụng so với dự kiến ban đầu. Các sản phẩm đó có thể thiếu các tiêu
chuẩn phù hợp phản ánh độ tuổi của người sử dụng hiện tại.
Có xu hướng “trẻ hóa”; điều này thường được gọi là trẻ em “già trước
tuổi”. Xu hướng là cho trẻ nhỏ sử dụng quần áo và giày dép, đồ trang sức,
khuyên tai mô phỏng, đồ trang điểm và các thiết bị điện tử kỹ thuật số mà người
lớn đã từng sử dụng.
Mối quan hệ giữa cha mẹ và những người trông nom trẻ khác và trẻ em có
thể thay đổi tùy theo sự khác biệt về địa lý, văn hóa/dân tộc và kinh tế xã hội.
Các chuẩn mực văn hóa khác nhau về kỷ luật, giám sát và nhận thức an toàn cần
được công nhận. Lối sống của trẻ em không ngừng thay đổi, với sự khác biệt giữa
các hoàn cảnh địa lý, văn hóa/dân tộc và kinh tế xã hội. Ví dụ, trẻ em đang
ngày càng được đưa đến trường nhiều hơn, hoặc các hoạt động giải trí và xã hội
tập trung nhiều hơn vào các hoạt động ít vận động như máy tính và trò chơi điện
tử.
Khi trẻ bước vào tuổi dậy thì, áp lực từ bạn bè và việc chấp nhận
rủi ro có thể ảnh hưởng đến việc sử dụng hoặc tiêu thụ sản phẩm. Các hoạt động
giải trí có thể gắn với hành vi rủi ro cao hơn liên quan đến sự bảo vệ được cho
là tăng cường từ thiết bị “an toàn”, hành vi hung hăng vốn có trong tính chất cạnh
tranh của thể thao và rủi ro lớn hơn liên quan đến hành vi tạo sự chú ý.
6.4 Môi trường ngủ
Trẻ em cần một khoảng thời gian đáng kể để ngủ. Trẻ dành nhiều thời
gian trong phòng ngủ và không có sự giám sát kéo dài khiến phòng ngủ trở thành
một môi trường khác thường và đặc biệt. Cũng có thể có trẻ em khác ở cùng
phòng làm tăng khả năng tổn hại.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Môi trường ngủ an toàn không chỉ là một chiếc cũi/giường an toàn. Các sản
phẩm thường được sử dụng kết hợp với cũi/giường: đồ nội thất và phụ kiện và các
vật dụng khác như quần áo và đồ chơi cũng cần được xem xét. Nhiều mối nguy tiềm
ẩn trong môi trường ngủ được nêu trong Điều 7.
Nhu cầu lắp ráp, bảo dưỡng và kiểm tra thích hợp để đảm bảo các sản phẩm
duy trì kết cấu chắc chắn và không bị hỏng cũng rất quan trọng. Cần
ghi nhãn và hướng dẫn rõ ràng cho người tiêu dùng để hỗ trợ các vấn đề này. Các
sản phẩm ngủ cần được thiết kế để ngăn ngừa việc lắp ráp sai hay gây nguy hiểm,
hoặc làm cho tình trạng đó trở nên rõ ràng ngay lập tức.
Vị trí của đồ đạc, bao gồm cả cũi và giường cũng cần được xem xét, để
cho trẻ em không thể rơi vào các tình trạng nguy hại, ví dụ: mở cửa sổ cũng như
với tới các đồ vật nguy hiểm, như sợi dây trên rèm che cửa sổ hay
thiết bị giám sát trẻ em. Điều này có thể đòi hỏi thiết kế các phòng để tạo ra
các bố trí an toàn trong phòng ngủ.
Nhiều sản phẩm dành cho trẻ em không thích hợp để ngủ khi dùng cho trẻ
dưới 12 tháng tuổi, ví dụ: ghế xe ô tô, xe đẩy, giường nước hoặc giường có
thành giường, dây treo, võng. Cha mẹ và những người trông nom trẻ khác hầu như
không biết đến rủi ro ngạt thở do tư thế.
Các sản phẩm ngủ cần phải có hướng dẫn rõ ràng và dễ thực hiện để đảm bảo
lắp ráp, sử dụng và bảo dưỡng đúng cách và bao gồm cả các hướng dẫn cảnh báo có
liên quan, đặc biệt là thời điểm bắt đầu và ngừng sử dụng các sản phẩm.
Giấc ngủ an toàn không chỉ đơn thuần là đặt trẻ nằm ngửa để ngăn ngừa hội
chứng đột tử ở trẻ sơ sinh (SIDS). Các vấn đề như nhiệt độ phòng và hút thuốc
trong môi trường có em bé đều có liên quan. Hướng dẫn chi tiết về cách ngăn ngừa
SIDS nằm ngoài phạm vi của tiêu chuẩn này. Hướng dẫn về vấn đề này có thể nhận
được từ các chuyên gia y tế và các tổ chức liên quan đến sức khỏe và sự phát
triển của trẻ sơ sinh.
7 Các mối nguy liên quan đến trẻ em
7.1 Khái quát
Khi xem xét đến các thực tế nêu trong Điều 6, các rủi ro gắn với sản phẩm
có thể rất cao đối với trẻ em. Các mối nguy liên quan đến sản phẩm và những
nguy cơ tiềm ẩn gây thương tích cho trẻ em sẽ được thảo luận dưới đây. Các ví dụ
dựa trên loại thương tích được báo cáo sẽ được cung cấp để người sử dụng tiêu
chuẩn này hiểu về các mối nguy. Một điều rất quan trọng là cần nhận thức được rằng
các mối nguy riêng biệt có thể kết hợp với nhau và gây ra các thương tích có thể
khác hay nặng nề hơn so với tổn hại do từng mối nguy gây ra.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Nói chung, cần phải xem xét tất cả các nhóm tuổi trong việc đánh giá
các mối nguy. Nhiều mối nguy sẽ áp dụng cho người lớn cũng như trẻ em, mặc dù
trẻ em thường sẽ nhạy cảm với những tổn hại gây ra, ví dụ: từ các mối nguy về
hóa học và các mối nguy về nhiệt.
Khi xem xét đến tính an toàn của sản phẩm, cần xem xét đến các điều kiện
trong đó sản phẩm sẽ được sử dụng. Ví dụ, nếu sản phẩm được thử nghiệm trong
tình trạng mà thông thường nó không được sử dụng trên thực tế thì đặc tính
hoạt động của nó thực tế sẽ khác biệt. Tương tự, khi một sản phẩm được dự định
hoặc có thể được sử dụng kết hợp với một sản phẩm khác, như ghế cho trẻ
sơ sinh trong bồn tắm hay ghế an toàn cho trẻ trong ô tô, thì cần phải kiểm tra
hiệu suất của cả hai hệ thống kết hợp để giảm thiểu rủi ro và đảm bảo không có
mối nguy mới nào xuất hiện.
Một sản phẩm có thể gây tử vong hay gây thương tích ở các giai đoạn
khác nhau của vòng đời, bao gồm cả khi thời gian sử dụng hữu ích hoặc dự kiến của
nó. Điều quan trọng là khi một sản phẩm đã đến lúc bị bỏ đi thì nó không gây ra
các mối nguy mới. Ví dụ, trẻ em có thể lấy viên pin lithium hoặc pin cúc áo đã
qua sử dụng ra và nuốt chúng. Tương tự, thiết kế để giảm thiểu nhu cầu bảo dưỡng,
cùng với việc bảo dưỡng sản phẩm đúng cách và kịp thời, có thể làm giảm việc
hình thành các mối nguy.
Bao bì dự kiến được giữ lại như một phần của sản phẩm cần phải được coi
là một phần không tách rời của sản phẩm, ví dụ: khối lắp ghép dành cho trẻ em
được để trong hộp đựng. Ngay cả khi không có ý định giữ lại, bao bì có thể hấp
dẫn trẻ em vì vậy bất kỳ yếu tố an toàn nào cũng cần được đánh giá.
7.2 Mối nguy cơ học và ngã
7.2.1 Khoảng trống và khe hở
Các khoảng trống và khe hở có thể tiếp cận được có thể làm
tăng các rủi ro bị kẹt hoặc vướng toàn bộ hay một phần cơ thể
và vướng quần áo hay các phụ kiện. Việc bị kẹt và vướng không chỉ giới hạn ở các
sản phẩm dạng cứng mà còn có thể xuất hiện ở các
vòng dây thắt hay lưới. Hình 1 đưa ra ví dụ minh họa về các tình huống bị kẹt
và vướng. Khi đánh giá khoảng trống và khe hở, nên sử dụng các đầu dò khả năng tiếp cận
ngón tay có liên quan và các thiết bị kiểm tra thân và đầu được xác định trong
các tiêu chuẩn hiện hành. Các thương tích tiềm ẩn bao gồm vết bầm tím, cắt đứt
chi và bị siết cổ (xem 7.6). Đầu hoặc cơ thể có thể bị mắc kẹt
trong những tình huống khi trẻ không có khả năng nâng trọng lượng cơ thể lên để
giảm bớt áp lực. Với trường hợp đầu bị vướng, đặc biệt nếu chân của trẻ không
thể chạm tới bề mặt đứng thì có rủi ro cao gây thương tích nghiêm trọng hoặc
tử vong.
Xe đẩy, xe ngựa, thiết bị di động nhỏ và các thiết bị tương tự có thể
có khoảng trống thay đổi khi trẻ em bước vào hoặc ra khỏi chúng (hoặc khi được
chuyển đổi từ hình dạng này sang hình dạng khác, chẳng hạn như bằng cách gấp lại
hoặc mở ra). Chúng cần phải được thiết kế để loại bỏ những khoảng trống nguy hiểm
gây ra mối nguy bị vướng hoặc xiết cổ do vướng
vào quần áo hoặc mối nguy dập nát hoặc cắt đứt ngón tay/chân trong các di chuyển
đó. Vấn đề này cũng liên quan đến các chi tiết nhô ra (xem 7.2.2) cũng như các
cạnh và đầu nhọn (xem 7.2.3).
Đối với khe hở có thể thay đổi theo cỡ, xem thêm 7.2.6.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
a) đưa đầu qua trước, ví dụ: qua các chấn song của ban công hoặc lưới
leo trèo, và
b) đưa chân qua trước, ví dụ: qua các song chắn của giường.
Khoảng cách giữa thanh để của cũi và giường và giữa các thanh chắn của
cũi cần phải đảm bảo tránh rủi ro bị kẹt đầu nếu cơ thể có thể lọt qua các khe
hở.
Bị kẹt phần thân hoặc cổ có thể làm ngạt thở.
VÍ DỤ 1: Hàm bị mắc kẹt trong các khe hở nhỏ có giới hạn.
VÍ DỤ 2: Các ngón tay có thể bị kẹt trong cơ cấu lò xo, dây xích trên
xích đu sân chơi, các cơ cấu gấp, v.v.... gây ra gãy xương, bị tróc da hay làm cho
máu không cung cấp được đến đầu các ngón tay.
VÍ DỤ 3: Dây hoặc ruy băng lỏng lẻo trên quần áo trẻ em bị rơi vào các
khe hở hoặc khoảng trống hình chữ V có chiều rộng đủ cho dây nhưng lại quá hẹp
cho nút hay nút buộc ở cuối. Khi nút hay nút buộc bị vướng, hoạt động của trẻ bị
dừng đột ngột. Khi các dây này nằm ở phần cổ áo, trẻ có thể bị xiết cổ.
VÍ DỤ 4: Khe hở hoạt động giống như cửa sập, nghĩa là cho phép vào tự
do và không bị cản trở theo một hướng và tự động khép lại khi chuyển động theo
hướng ngược lại, chẳng hạn như cửa nắp trên một số hộp thư. Điều này có thể dẫn
đến việc các chi bị kẹt.
VÍ DỤ 5: Dây trên rèm cửa sổ và rèm cửa có thể gây nghẹt thở, đặc biệt là
trong phòng ngủ của trẻ em.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- tránh các khoảng trống;
- quy định kích thước cho các khoảng trống và khe hở liên
quan đến dữ liệu nhân trắc học của trẻ đang phát triển.
7.2.2 Chi tiết nhô ra
Các chi tiết nhô ra có thể tạo ra các vùng bị va đập hay làm quần áo và
các phụ kiện vướng vào. Các thương tích gây ra có thể là bị kẹp, bị rách da thịt,
bị đâm vào da thịt hay các vết thương ở ngoài da. Các vòng trên các dây (quần
áo) hay vòng cổ v.v...có thể quấn xung quanh các chi tiết nhô ra có thể
làm trẻ bị xiết cổ.
VÍ DỤ 1: Quần áo của trẻ em, đặc biệt là dây và mũ liền có thể mắc vào
các cọc ở góc của nôi cũi, các cọc ở trên đỉnh cầu trượt hay các bu lông nhô
ra, gây nghẹt thở.
VÍ DỤ 2: Các cọc nhô ra theo phương ngang ở độ cao gần bằng độ cao của
đầu trong các thiết bị sân chơi dẫn đến đến các thương tích ở đầu.
VÍ DỤ 3: Trẻ bị ngã hoặc ngồi lên đồ chơi trong bồn tắm, gậy lặn hoặc đầu
trục của đồ chơi có bánh xe khi các đầu nhô ra ngoài mặt bánh xe, gây thương
tích đâm xuyên hoặc đâm thủng.
VÍ DỤ 4: Các đai ốc và bu lông nhô ra trong thiết bị sân chơi có thể
gây ra vết rách trên cơ thể và đầu.
Các biện pháp để tránh hoặc làm giảm rủi ro do các chi tiết nhô ra bao
gồm:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- đảm bảo rằng các chi tiết nhô ra có hình dạng được làm tròn và nhô ra
khỏi bề mặt càng ít càng tốt. Các dây, xích hay thiết bị thử nghiệm khác có thể
được sử dụng để đánh giá mối nguy.
7.2.3 Các cạnh sắc và đầu nhọn
Việc tiếp xúc với các cạnh, đầu và góc nhọn có thể dẫn đến vết rách, vết
thương đâm thủng hoặc vết thương do cùn. Nhiều sản phẩm mà trẻ tiếp cận ở trong
nhà hay trong môi trường học tập được làm cho sắc hay nhọn để đáp ứng các yêu cầu
chức năng của sản phẩm (ví dụ; dao, kim, thiết bị nhà bếp hay các dụng cụ làm
vườn hay trong gara).
Các cạnh sắc và đầu nhọn có thể phát sinh khi đồ vật bị vỡ. Thủy tinh sử
dụng trong các sản phẩm gia dụng (bình nước, bàn, đồ gia dụng khác) và các chi
tiết kiến trúc (ví dụ: cửa ra vào, cửa sổ, các tấm chắn) gây ra mối nguy đặc biệt
khi chúng bị vỡ. Các gờ sắc và ba via không được cắt gọt trên các vật liệu cứng
như nhựa đúc và tấm kim loại bị cắt cũng là những cạnh sắc phổ biến.
Hành vi thông thường của trẻ em là đưa một vật sắc nhọn vào miệng và đi
hay chạy khi mang đồ vật theo cách này.
VÍ DỤ 1: Các vết rách trên mặt, bị thương ở răng
hay mắt có thể là hậu quả của sự va chạm với góc bàn có độ cong nhỏ ở nhà
hay các bề mặt làm việc ở bếp.
VÍ DỤ 2: Đã có trường hợp trẻ bị rơi xuống bàn có mặt kính không “an
toàn” đã bị tử vong do bị đứt động mạch chủ. Các va chạm với
các bề mặt bằng thủy tinh thẳng đứng loại không “an toàn” ở cửa
hay các đồ vật khác cũng có thể dẫn đến thương tích đe dọa tính mạng.
VÍ DỤ 3: Bị ngã khi đang ngậm đồ vật trong miệng, ví dụ: bàn chải đánh
răng hay dĩa, có thể dẫn đến bị thương do bị đồ vật xuyên vào vòm miệng hoặc tắc
nghẽn đường thở.

...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các biện pháp để tránh hay làm giảm các rủi ro do các góc, cạnh và đầu
nhọn bao gồm:
- tránh, bảo vệ hoặc uốn các mép của các cạnh nhô ra để làm giảm rủi ro
bị rách da;
- sử dụng loại kính khó vỡ hoặc vỡ theo cách mà các mảnh vỡ không gây
các thương tích nghiêm trọng (kính “an toàn”). Ở một số vị trí có rủi ro cao ở nhà hay
một số nơi có trẻ chạy nhảy tự do, cần cân nhắc việc sử dụng các vật liệu khác
thay cho kính trong kiến trúc;
- hạn chế việc tiếp xúc của trẻ em với các đồ vật có đầu nhọn như bút,
bút chì hay kim đan;
- hạn chế việc tiếp xúc của trẻ em với các bộ phận sắc của các dụng cụ
bằng cách bảo vệ thích hợp hay gây ra khó khăn cho trẻ khi sử dụng dụng cụ;
- dạy trẻ sử dụng các dụng cụ sắc khi chúng có thể làm điều đó dưới sự
giám sát chặt chẽ, trong những lần đầu dạy trẻ nên sử dụng các dụng cụ có mức độ
nguy hiểm ít hơn (ví dụ: kéo không có đầu nhọn).
7.2.4 Độ ổn định
Một sản phẩm không ổn định có thể bị đổ và làm cho trẻ đang ở bên
trong, trèo lên hay ở bên cạnh bị thương. Tính chất của tổn hại có thể thay đổi
tùy thuộc vào chức năng của sản phẩm đó. Ví dụ:
a) bị bỏng bởi chất lỏng nóng khi nồi đun bị đổ;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
c) bị bỏng do đèn dầu đặt tự do không chắc chắn.
VÍ DỤ 1: Đồ nội thất cao, quá nặng hay có bánh xe, như các kệ để ti vi,
gây ra rủi ro khi trẻ em kéo hay đẩy chúng
VÍ DỤ 2: Các bàn có chân đế có thể bị đổ khi gắn
ghế vào.
VÍ DỤ 3: Các cánh cửa mở của máy rửa chén hay lò nướng, hay các ngăn
kéo trong tủ đựng đồ có thể gây ra các tình huống nguy hiểm khi nó được
dùng để làm vật trèo lên.
VÍ DỤ 4: Cột khung thành có thể di chuyển và thiết bị sân chơi đứng tự
do không được cố định chắc chắn vào mặt đất đã bị lật đổ và gây tử vong.
VÍ DỤ 5: Một vài loại bếp sử dụng nhiên liệu dầu mỏ không ổn định và đặc
biệt nguy hiểm do sự có mặt của nhiên liệu và lửa ở bên trong.
Các biện pháp để tránh hay làm giảm rủi ro do không đảm bảo về độ ổn định
bao gồm:
- thiết kế các sản phẩm có các đặc điểm như trọng
tâm thấp, vị trí của các điểm tiếp xúc với bề mặt đỡ làm chúng có
thể chịu được các tải trọng làm mất thăng bằng có thể dự đoán trước;
- cung cấp các thiết bị neo cho sản phẩm có khả
năng không ổn định (ví dụ: các cột khung thành có thể di chuyển, đồ nội thất);
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
7.2.5 Tính toàn vẹn về kết cấu (độ bền cơ học)
Tính toàn vẹn về kết cấu không đạt có thể dẫn đến gãy sản
phẩm, có thể làm các chi tiết nhỏ rời ra và dẫn đến các mối nguy khác. Điều này
có thể gây ra nhiều thương tích như gãy xương, bị thương ở bên
trong, vết rách và nghẹt thở vì những chi tiết nhỏ.
Sản phẩm cũng có thể bị hỏng trong vòng đời của nó do việc bảo trì
không đầy đủ hay không thích hợp.
Một số sản phẩm được dự kiến lắp ráp hay lắp đặt chỉ một lần (ví dụ: tủ
quần áo, xe đạp hay các cấu trúc của môi trường xây dựng như hàng rào), hay nhiều
lần (ví dụ: xe đẩy gấp). Tính an toàn các sản phẩm tự lắp ráp phụ thuộc vào thiết
kế của sản phẩm, tính đầy đủ của hướng dẫn và kỹ năng của người lắp ráp. Các sản
phẩm được lắp ráp mỗi lần sử dụng thường bao gồm các cơ cấu khóa nên có thể
không khóa được một các đúng đắn. Ngoài ra, trẻ em có thể tiếp cận và tháo
chúng ra. Cần có các biện pháp bảo vệ để đảm bảo bất cứ khi nào cơ cấu khóa
không thể tiếp cận được đối với trẻ em hay cản trở trẻ em tác động đến. Cần cho
người dùng thấy rõ khi cơ cấu khóa không được gài đúng cách.
VÍ DỤ 1: Bàn uống cà phê có mặt kính, mà trẻ em và người lớn tưởng là
chắc chắn, đã bị vỡ khi trẻ đứng hoặc ngồi lên bàn, gây ra rách da nghiêm trọng.
VÍ DỤ 2: Thiết bị dùng cho sân chơi có thể bị hỏng do lắp ráp, kiểm tra
hay bảo trì không đầy đủ. Đã xảy ra tử vong khi xích đu bị gãy.
VÍ DỤ 3: Các ghế đẩy bị đổ khi có trẻ ngồi bên trong do khóa không cẩn
thận, dẫn đến đứt rời các ngón tay.
VÍ DỤ 4: Sự xuống cấp của các chi tiết chính của sản phẩm có thể dẫn đến
hư hỏng về cấu trúc, chẳng hạn như lưới hoặc tấm bạt lò xo nhiều năm tiếp xúc với
ánh nắng mặt trời.
Các biện pháp để tránh hay làm giảm các rủi ro do không đảm bảo về tính
toàn vẹn về kết cấu bao gồm:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- thiết kế sản phẩm phải sao cho khi xảy ra sai sót thì ít có khả
năng gây nguy hại;
- đảm bảo rằng nếu các sản phẩm ở tình trạng mà một hoặc nhiều trẻ em hay người lớn
có thể ngồi lên, đứng lên hay trèo lên, thì sản phẩm thực sự có thể chịu
được khối lượng.
- dán nhãn sản phẩm để tư vấn cho người tiêu dùng cách sử dụng hợp lý,
bao gồm, ví dụ, tải trọng tối đa;
- thiết kế sản phẩm để làm giảm nhu cầu bảo trì. Nếu cần bảo trì, cần
phải cung cấp các hướng dẫn đầy đủ;
- thiết kế và bảo trì cần xem xét đến các điều kiện môi trường địa
phương để làm giảm tác động xuống cấp của sản phẩm;
- việc lắp ráp không đầy đủ hoặc không chính xác, bao gồm cả việc sử dụng
cơ cấu khóa, hầu như không thể thực hiện được hay hiển nhiên rõ ràng (ví dụ: nếu
lắp ráp không đúng cách, sản phẩm sẽ không thể sử dụng được, xem thêm 8.2);
- đảm bảo rằng các sản phẩm đa dụng hay đa chế độ có các vị
trí điều chỉnh hay phụ tùng không gây nguy hiểm trong quá trình chuyển từ cấu
hình này sang cấu hình khác.
- đảm bảo rằng cơ cấu khóa dẫn đến việc sập đổ của sản phẩm không thể
được vận hành bởi trẻ em.
Sản phẩm phải có khả năng chịu được quá tải mà không bị sập.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
7.2.6 Vật phóng và vật thể chuyển động/quay
Va chạm với các vật thể chuyển động có thể dẫn đến bị kẹp, nội thương,
gãy xương, v.v... Mức độ nghiêm trọng của thương tích phụ thuộc vào khối lượng
và tốc độ của các vật thể đó. Các yếu tố, ví dụ như hình dạng và vật liệu của vật
thể, cũng có thể ảnh hưởng.
Thương tích do xe mô tô gây ra cho hành khách và người đi bộ là nguyên
nhân quan trọng gây tử vong ở trẻ em. Một số cố gắng nhằm làm giảm khả năng gây
chết và thương tích do xe cộ gây ra đã được nhắm đến bằng các biện pháp can thiệp
thứ cấp như các hệ thống ghế an toàn cho trẻ em và túi khí tốt hơn. Không nên
quá trông chờ vào các biện pháp bảo vệ sơ cấp. Các biện pháp này bao gồm nhưng
không giới hạn ở việc thiết kế các con đường để định tuyến giao thông an toàn
hơn, giảm tốc độ ở những khu vực có trẻ em, cung cấp ánh sáng tốt hơn và xây dựng
những con đường nhỏ được bảo vệ cho người đi bộ và người đi xe đạp.
Việc tiếp xúc với các vật thể chuyển động và quay (ví dụ các cánh quạt,
lưỡi dao của máy xay thực phẩm và các cơ cấu bản lề) có thể dẫn đến việc bị
rách da thịt, đứt rời các chi hay các thương tích nghiêm trọng khác. Các tiếp
xúc kiểu này cũng có thể làm tóc, quần áo, các phụ kiện bị quấn vào, ví dụ như
trong thang cuốn, tháp trượt, thang máy và cửa xe buýt, gây ra việc bị nghẹt thở,
lột da đầu hay bị kéo lê đi. Cũng cần đặc biệt chú ý sự tiếp xúc của các bộ phận
cơ thể trong các khoảng trống làm thay đổi kích thước trong quá trình hoạt động,
ví dụ: đóng cửa gara hoặc cửa kính ô tô điều khiển bằng điện và khung xe đẩy/xe
đẩy gấp.
Vật phóng có thể đặc biệt nguy hiểm vì đường đi của chúng
không phải lúc nào cũng có thể đoán trước được và năng lượng của chúng khi va
chạm có xu hướng tập trung ở một khu vực tương đối nhỏ.
VÍ DỤ 1: Trẻ em đã phải chịu cảnh bị rụng tóc và tróc da đầu khi tóc của
chúng bị cuốn vào máy nông nghiệp có bộ phận quay.
VÍ DỤ 2: Một vài dụng cụ nhà bếp có các chi tiết chuyển động và quay.
Việc bị rách và đứt rời các ngón tay đã xảy ra với các máy xay, máy trộn và các
thiết bị tương tự.
VÍ DỤ 3: Chân và tay của trẻ em bị kẹt trong các thiết bị sân chơi chuyển
động, như đu quay.
VÍ DỤ 4: Các thang cuốn và thang máy làm kẹt các ngón tay, bàn tay,
chân, quần áo và các phụ kiện của trẻ.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
VÍ DỤ 6: Cửa có bản lề đã gây ra nhiều thương tích cho trẻ em, đặc biệt
là ở bản lề.
VÍ DỤ 7: Khi kích thước của các khoảng trống thay đổi, trẻ
hoặc các chi của trẻ có thể bị đè lên, ví dụ cửa gara hoặc cửa kính ô tô điều khiển
bằng điện.
VÍ DỤ 8: Trẻ em bị kéo lê khi dây thắt lưng vướng vào cửa xe, thang máy
và thang cuốn.
VÍ DỤ 9: Bỏng do ma sát và trầy xước có thể xảy ra khi
tiếp xúc với các vật thể chuyển động hay quay như máy chạy bộ.
Các biện pháp để tránh hay làm giảm các rủi ro do các vật thể chuyển động
và quay bao gồm:
- giữ cho trẻ cách xa sản phẩm;
- giới hạn khối lượng hay tốc độ của vật thể chuyển động;
- cung cấp phương thức đầy đủ để dừng hoặc đảo chiều chuyển động của
các vật thể;
- cung cấp phương thức phù hợp để hấp thụ năng lượng nếu xảy ra va đập;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- đảm bảo rằng khoảng cách giữa các bộ phận chuyển động đủ lớn hoặc đủ
nhỏ để ngăn ngừa thương tích, các khoảng cách này phải dựa trên các dữ liệu
nhân trắc học;
- lắp các khóa an toàn hay các biện pháp an toàn khác mà trẻ không thể
tháo ra được.
7.3 Ngã và các thương tích do va đập khác
Thương tích do bị ngã xảy ra khi trẻ sơ sinh có thể di chuyển. Trẻ em
thường sẽ leo lên các bề mặt cao, thậm chí trước khi chúng có thể đi được. Trò
chơi và môn thể thao tích cực có thể gây ra những tác động có thể gây tổn hại.
Ngã từ trên cao và các tác động khác có thể dẫn đến thương tích ở bên
trong (não và các cơ quan nội tạng khác) và gãy xương, đặc biệt là ở đầu, tay
và chân. Loại và mức độ tổn hại phụ thuộc vào độ cao rơi, các các vật thể gặp
phải trong khi rơi, hướng mà trẻ tiếp đất, trọng lượng của trẻ và bản chất của
bề mặt mà trẻ rơi xuống. Ở những nơi khác, thương tích nghiêm trọng
có thể xảy ra do ngã từ tường, mái nhà, vách đá và các môi trường ngoài trời
khác.
VÍ DỤ 1: Tại nhà, các cú ngã nghiêm trọng nhất là từ những khoảng trống
có thể tiếp cận được (cửa sổ và cửa ra vào) và từ cầu thang.
VÍ DỤ 2: Ban công có các thanh chắn mà trẻ có thể chui xuống dưới hay
trèo qua có thể gây ra những cú ngã chết người.
VÍ DỤ 3: Trẻ em có thể bị ngã ở các sân chơi khi sử dụng thiết bị
không phù hợp với năng lực của trẻ.
VÍ DỤ 4: Việc bị gãy xương liên quan đến thể thao và giải trí tăng theo
độ tuổi của trẻ em và sự tham gia vào các hoạt động nơi bị ngã do va chạm.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
VÍ DỤ 6: Bị ngã có thể xảy ra do trẻ em mang giày dép không phù hợp, ví
dụ: giầy cao gót.
Các biện pháp để tránh hay làm giảm các rủi ro do độ cao nguy hiểm bao
gồm cả việc ngăn ngừa bị ngã và làm giảm hậu quả của việc bị ngã.
Có thể ngăn ngừa ngã bằng cách:
- thiết kế bảo vệ ban công hiệu quả;
- giảm khả năng trẻ em trèo lên, bằng cách thiết kế, ví dụ: bằng cách sử
dụng các chi tiết thiết kế theo chiều thẳng đứng hơn là theo chiều ngang (loại
bỏ chỗ bám chân và ngón chân) và kết hợp các rào chắn;
- ngăn cản việc tiếp cận đầu và cuối cầu thang;
- lắp các tấm chắn ở cửa sổ và các cơ cấu khóa trong các tòa nhà;
- sử dụng các cấu trúc có kích thước sao cho trẻ có thể có được chỗ bám
tay an toàn;
- cung cấp các lan can và rào chắn có chiều cao thích hợp xung quanh
các sản phẩm như cũi và giường cao và thiết bị sân chơi;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Có thể làm giảm hậu quả của việc bị ngã bằng cách:
- giảm độ cao rơi tiềm ẩn, thiết kế và lắp đặt sản phẩm để tránh việc
tiếp xúc với các mối nguy nếu trẻ bị ngã hay cung cấp các bề mặt bằng vật
liệu hấp thụ năng lượng;
- thiết kế các thiết bị và môi trường an toàn phù hợp;
- đảm bảo các quy định về các hoạt động thể thao hay giải trí phản ánh
khả năng và mức độ phát triển của những người tham gia.
7.4 Mối nguy do đuối nước
Trẻ em bị nước thu hút nhưng khả năng thể chất của chúng không
phù hợp với sở thích nước của chúng. Chúng thường không kêu lên hay gây tiếng động
lớn khi đuối nước; trong thực tế sự việc có thể hoàn toàn trong
im lặng. Trẻ sơ sinh và trẻ mới biết đi dễ bị đuối nước; thậm chí một lớp nước
nông cũng có thể gây tử vong nếu mặt trẻ bị tiếp xúc.
Môi trường, mức độ phát triển và năng lực của trẻ sẽ tác động đến rủi
ro và địa điểm đuối nước. Trọng tâm cao của trẻ làm tăng rủi ro rơi vào bể bơi,
xô, bồn cầu, bồn tắm, v.v., do đó làm tăng rủi ro chết đuối. Trẻ em
cũng có thể bị chết đuối khi tóc hay bộ phận cơ thể của chúng bị cuốn xuống cống
thoát của bể bơi/spa.
VÍ DỤ 1: Trẻ em có thể bị chết đuối khi chúng cố đi qua
các tấm đậy bể nước và ngã xuống bể chứa nước hay khi trẻ bị ngã xuống
ao trong vườn khi ranh giới giữa mặt đất và nước bị cây cỏ che phủ.
VÍ DỤ 2: Trẻ nhỏ bắt chước người trông trẻ của mình giặt quần
áo và bị ngã vào máy giặt cửa trên.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
VÍ DỤ 4: Trẻ em bị chết đuối trong các thùng chứa nước.
VÍ DỤ 5: Trẻ em bị chết đuối khi bị bỏ lại trong
nước mà không được giám sát, ví dụ: trên ghế tắm.
Các biện pháp để tránh và làm giảm rủi ro do đuối nước bao gồm:
- ngăn ngừa trẻ em, đặc biệt là trẻ mới biết đi và trẻ nhỏ tiếp cận với
nước ở trong và xung quanh nhà, như hồ/bể bơi, ao vườn và thùng đựng nước;
- đậy các bể nước, giếng nước và các chỗ chứa nước khác bằng nắp đậy mà
trẻ em không thể mở được;
- đóng các bể nước, giếng nước và các chỗ chứa nước khác bằng nắp đậy,
v.v...
- đưa ra các cảnh báo không bao giờ để trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ một mình
trong bồn tắm và nhấn mạnh thực tế rằng ghế tắm không phải là thiết bị an toàn;
- thiết kế môi trường nước dễ giám sát;
- thiết kế các hệ thống cảnh báo, như chuông, các thanh chắn hỗ trợ;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- đảm bảo trẻ em mặc áo phao đã được phê duyệt trong các môn thể thao
dưới nước phù hợp với kích thước và trọng lượng của trẻ.
- khi ở dưới hay xung quanh nước, trẻ em cần phải ở trong tầm nhìn và tầm
với của người trông trẻ;
- những người không biết bơi cần phải đeo các thiết bị nổi được
phê duyệt khi ở dưới và xung quanh nước.
Ngoài ra, các biện pháp liên quan đến bể bơi, bồn tắm nước nóng, công
viên nước và các tình huống tương tự bao gồm:
a) giảm lực hút thông qua việc tăng diện tích bề mặt;
b) lắp đặt nhiều lỗ hút;
c) giảm tốc độ dòng chảy hiệu dụng qua cống;
d) định cỡ lưới thoát nước sao cho các đồ vật như đồ trang sức, ngón
tay, ngón chân, quần áo hay tóc không thể bị vướng vào;
e) lắp đặt công tắc an toàn để tắt lỗ hút khi bị tắc;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
7.5 Mối nguy ngạt thở
7.5.1 Khái quát
Trẻ em khám phá môi trường xung quanh chúng bằng cách đưa toàn bộ hoặc
một phần cơ thể vào các đồ vật. Chúng có thể bao bọc toàn bộ hoặc một phần cơ
thể bằng những vật liệu không thấm khí, làm hạn chế khả năng thở hoặc hạn chế
lượng oxy hấp thụ. Ngoài ra, ngạt thở có thể xảy ra do tư thế của trẻ.
Vì chúng có đầu nặng và cổ yếu tương ứng, đầu của trẻ không được đỡ khi đang ngồi
có thể chuyển sang tư thế khiến trẻ khó thở. Điều này cũng
có thể xảy ra nếu chúng ngủ trên bề mặt không thích hợp, chẳng hạn như bề mặt
quá mềm hay nghiêng quá mức.
7.5.2 Vật liệu mềm dẻo
Các vật liệu không cho không khí đi qua có mối nguy gây ngạt thở, đặc
biệt đối với trẻ nhỏ. Trong khi chơi, trẻ có thể úp vật liệu hoặc đồ vật đó lên
mặt, đầu hoặc nằm lên trên.
Các sản phẩm có thể góp phần gây ra rủi ro này là các vật liệu mềm dẻo
có hình dạng tạo khuôn mặt và do đó che mũi và miệng.
VÍ DỤ: Nghẹt thở và thương tích não không thể phục hồi có thể
xảy ra khi trẻ em đặt các túi nhựa chùm lên đầu hay mặt của chúng.
Các biện pháp để tránh hay làm giảm rủi ro do các vật liệu mềm dẻo bao
gồm:
- giới hạn kích thước của các vật liệu mềm dẻo để chúng không thể che
được mũi và miệng;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- hạn chế sử dụng và tiếp cận với giường, gối mềm và đồ chơi mềm đặc biệt
đối với trẻ dưới 12 tháng tuổi;
- đảm bảo đệm chắc chắn và vừa khít với cũi;
- sử dụng vật liệu kém mềm dẻo hơn.
7.5.3 Không gian kín
Các không gian kín không cho không khí đi qua có mối nguy gây ngạt thở.
Trong khi chơi, trẻ em có thể ẩn mình hoàn toàn trong sản phẩm.
Các sản phẩm có thể gây ra rủi ro bao gồm tủ đồ chơi, tủ lạnh cũ, các hộp
cách nhiệt di động, cốp xe và túi đựng đồ.
Các biện pháp để tránh hay làm giảm rủi ro do không gian kín bao gồm:
- giới hạn kích thước không gian để trẻ không thể vào được;
- cung cấp các lỗ thông gió để đảm bảo thông gió đầy đủ cho không gian
kín;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
7.5.4 Mặt nạ và các đồ vật hình bán cầu và tương tự
Trẻ em sẽ đeo mặt nạ và các đồ vật hình bán cầu lên mặt của chúng như một
phần của trò chơi tưởng tượng, dẫn đến tắc nghẽn luồng không khí.
Ví dụ như hộp đựng thực phẩm dùng một lần, vật liệu đóng gói, mặt nạ trò chơi
và mũ bảo vệ giả.
Các biện pháp để tránh hay làm giảm rủi ro do tắc nghẽn đường hô hấp ở
miệng và mũi hay hút da mặt bao gồm:
- giới hạn kích thước của đồ vật để không thể che cả mũi và miệng;
- cung cấp các lỗ thông gió để cung cấp luồng không khí thích hợp;
- thay đổi hình dạng để ngăn ngừa việc bịt kín mũi và miệng.
7.5.5 Nghẹt thở do tư thế
Khi đặt trẻ nhỏ ở các tư thế ngồi hay đứng thẳng, đầu của chúng có thể
ngã về phía trước, khiến đường thở của chúng bị hạn chế.
VÍ DỤ 1: Nôi tựa, ghế ngồi ô tô cho trẻ sơ sinh, địu trẻ em và ghế đẩy có thể
không cung cấp đủ sự hỗ trợ cho đầu đặc biệt đối với các trẻ sơ sinh, khiến đầu
của trẻ ngã về phía trước trong thời gian dài.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
VÍ DỤ 2: Ví dụ về các bề mặt mềm là đệm nước và ghế túi nệm.
Các biện pháp để tránh hay làm giảm rủi ro do nghẹt thở
tư thế bao gồm:
- thiết kế các sản phẩm sao cho được đỡ đầu;
- cung cấp thông tin cho các chuyên gia y tế và người trông nom trẻ;
- đưa ra các cảnh báo trên các sản phẩm để chỉ ra rằng không nên sử dụng
chúng khi ngủ.
7.6 Mối nguy bị nghẹt thở
Bị nghẹt thở có thể dẫn đến hai kết quả khác nhau. Một là hạn
chế cung cấp không khí cho phổi. Hai là can thiệp vào quá trình oxy hóa não.
Nguyên nhân thường là do dây mềm, khoảng trống hình chữ V, quai mũ bảo vệ, các
khoảng trống cổ quần áo, dải rút trên các vật dụng như quần áo và túi xách, đồ
trang sức hay các vật dụng khác đeo vòng quanh cổ, lưới leo núi và rèm cửa sổ
buộc bằng dây. Bị nghẹt thở thường là kết quả của sự kết hợp nhiều yếu tố: hoạt
động và khám phá của trẻ em, sự thiếu nhận thức của người trông nom trẻ về các
mối nguy bị nghẹt thở và thiết kế sản phẩm không phù hợp.
VÍ DỤ 1: Dây hay ruy băng không chặt trên quần áo của trẻ em rơi vào
các khoảng trống hay khe hở hình chữ V đủ rộng cho dây nhưng lại quá hẹp cho
nút bật hay nút thắt ở cuối. Khi nút bật hay nút thắt bị vướng, chuyển động
của trẻ sẽ đột ngột dừng lại. Khi dây quấn vào cổ áo, trẻ em bị nghẹt thở.
VÍ DỤ 2: Quần áo của trẻ em, đặc biệt là các dây và mũ trùm đầu, có thể
vướng vào các cột ở góc cũi, các cột ở đầu cầu trượt và các bu lông nhô
ra, dẫn đến bị nghẹt thở.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
VÍ DỤ 4: Trẻ em đội mũ bảo vệ xe đạp bị dây mũ bảo hiểm thắt cổ khi sử
dụng thiết bị sân chơi mà cơ thể của chúng lọt qua một khe hở nhưng
đầu đội mũ bảo vệ thì không lọt.
Các biện pháp có thể bao gồm:
- sản xuất nôi, cũi, giường tầng và thiết bị sân chơi không có phần nhô
ra có thể vướng vào quần áo;
- sử dụng các tấm che cửa sổ không có dây hay không có vòng dây hay chiều
dài nguy hiểm;
- sản xuất các thiết bị an toàn để ngăn ngừa các vòng dây hay chiều dài
nguy hiểm của cửa sổ che các dây mà trẻ em có thể tiếp cận được;
- sản xuất quần áo trẻ em không có dây, đặc biệt ở cổ;
- tạo ra những chiếc vòng cổ sẽ bị gãy khi bị tác dụng lực;
- giáo dục người trông nom trẻ hay áp dụng các cảnh báo về các mối nguy
bị nghẹt thở của sản phẩm được đeo quanh cổ;
- nâng cao nhận thức về các mối nguy khi gắn dây vào thiết bị sân chơi
(ví dụ: cầu trượt).
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
7.7.1 Các đồ vật nhỏ
Các đồ vật nhỏ và các chi tiết của sản phẩm thể hiện những mối nguy
nghiêm trọng tiềm ẩn, đặc biệt đối với trẻ mới biết đi và trẻ nhỏ. Các đồ vật nhỏ
có thể xâm nhập vào đường thở, khí quản và thực quản, làm tắc nghẽn luồng khí
đi vào phổi. Các đồ vật tròn (ví dụ: hình cầu) có thể chặn đường thở ở phía
sau miệng, cũng gây ngạt. Các đồ vật như bóng bay cao su đặc biệt nguy hiểm.
Trẻ em thường hít hay nuốt nhiều chi tiết cùng một lúc.
Các tình huống nguy hiểm sau có thể xảy ra:
a) các đồ vật có thể bị nuốt hay hít vào, mắc kẹt trong khí quản
hay sâu hơn trong đường thở, gây ra ngạt thở;
b) các đồ vật có thể bị ăn vào bụng, mắc kẹt trong thực quản ở quai động
mạch chủ, gây tắc nghẽn đường thở có thể dẫn đến ngạt thở;
c) pin cúc áo trong thực quản làm tan các mô cục bộ, đây là mối nguy bổ
sung;
d) pin cúc áo có thể gây tắc nghẽn, rò rỉ, ăn mòn hay dẫn đến
các phản ứng điện hóa có hại cục bộ khi đưa vào một lỗ trên cơ thể, như mũi hay
khi nuốt phải;
e) nam châm có thể bị nuốt vào gây tổn hại các cơ quan nội tạng, có thể
gây tử vong;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
g) các đồ vật có thể bị nuốt vào, gây rủi ro tắc nghẽn hay thủng thực
quản, dạ dày hoặc ruột;
h) các đồ vật có thể được đưa vào các lỗ khác của cơ thể, dẫn đến đau,
sưng tấy, tắc nghẽn hay gây bệnh.
VÍ DỤ 1: Các đồ vật thay đổi kích thước, hình dạng hoặc kết cấu khi hòa
với nước bọt có thể làm tắc đường thở.
VÍ DỤ 2: Thực phẩm có chứa các sản phẩm không ăn được, như là đồ chơi,
dẫn đến việc hít vào hoặc nuốt phải các bộ phận nhỏ trong khi ăn, ngay cả với
trẻ em 12 tuổi.
VÍ DỤ 3: Các đồ vật mềm dẻo như bóng bay cao su nguyên vẹn hay vỡ bị lọt
vào đường thở.
VÍ DỤ 4: Nắp bút thường được trẻ lớn ngậm trong miệng và do hình dạng của
chúng có thể bị nuốt vào.
VÍ DỤ 5: Trẻ em đôi khi nuốt cả trái cây nhỏ, cả hạt của trái cây và bị
mắc kẹt trong cổ họng.
Các biện pháp để tránh hay làm giảm rủi ro do các bộ phận nhỏ bao gồm:
- cần loại bỏ các chi tiết nhỏ, đặc biệt là các hình dạng như là hình cầu
và hình nón;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- đưa ra hướng dẫn và các cảnh báo phù hợp với lứa tuổi cho người tiêu
dùng về những mối nguy đối với trẻ nhỏ;
- áp dụng các biện pháp ngăn ngừa thứ cấp như cung cấp đường dẫn khí
liên tục, sao cho nếu chi tiết đó bị nuốt vào thì trẻ vẫn có thể thở;
- ngăn ngừa trẻ em tiếp cận với pin;
- thay đổi hình dạng bên ngoài của các đồ vật nhỏ không ăn được để
tránh việc trông giống thức ăn và do đó làm giảm các rủi ro nghẹt thở cho trẻ
nhỏ vì có thể cố gắng ăn chúng.
7.7.2 Sự hút/mút vào
Đầu mút trên các sản phẩm, ví dụ: đồ chơi tắm, mũi tên hay phi tiêu đồ
chơi, có thể gây ra các vết thâm tím khi tác động lên các bộ phận cơ thể. Khi mắt
bị tổn thương, thương tích có thể nghiêm trọng và dẫn đến mù lòa.
VÍ DỤ 1: Trẻ em đã bị rách bụng khi bị mắc lại trong tư thế ngồi xổm/ngồi trên
các cống thoát nước của bể bơi.
VÍ DỤ 2: Trẻ nhỏ bị ngạt thở khi các đồ chơi lõm, có hình vòm hay hình
bán cầu dính chặt vào mũi hay miệng.
VÍ DỤ 3: Trẻ em úp các cốc hút lên các bộ phận của cơ thể.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
7.8 Mối nguy cháy
7.8.1 Ngọn lửa hở
Trong khi các ngọn lửa hở, ví dụ: từ lò sưởi và nến, là mối nguy rõ
ràng đối với người lớn thì chúng lại có thể lôi cuốn trẻ em. Trong quá khứ, đã
từng có trẻ 2 tuổi bị hỏa hoạn và bị thương do chơi diêm hoặc bật lửa. Hành vi
chơi này có thể gắn với mối quan tâm đối với lửa hay bật lửa hay do cố gắng bắt
chước người lớn.
Các rào chắn cần phải ngăn trẻ tiếp cận hay ném một đồ vật vào lửa, cũng
như ngăn than hồng văng ra khỏi đám cháy.
VÍ DỤ 1: Vì trẻ nhỏ dễ bị lôi cuốn bởi ánh sáng rực rỡ và ngọn lửa
dùng để nướng thịt và ngọn lửa hở, trẻ có thể bị bỏng.
VÍ DỤ 2: Bình xịt thường còn để lại vết
dung môi dễ bắt cháy nếu phun gần ngọn lửa hở.
VÍ DỤ 3: Trẻ em bị bỏng nặng và gây cháy nhà khi nghịch bật lửa.
Các biện pháp để tránh hay làm giảm rủi ro do ngọn lửa hở bao gồm:
- kết hợp các đặc trưng gây khó khăn cho trẻ khi sử dụng (tức là ngăn
ngừa trẻ em) vào thiết kế bật lửa và các nguồn tạo lửa khác;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- sử dụng các thanh chắn ở nơi có ngọn lửa tại gia đình;
- cảnh báo người trông nom trẻ về những mối nguy ít rõ ràng hơn liên
quan đến nguồn gây cháy (ví dụ: trẻ em bị thu hút bởi ngọn
lửa, ngọn lửa có thể không dễ dàng nhìn thấy, quần áo rộng có thể có rủi ro bắt
lửa, trẻ em dễ bị bỏng hơn).
7.8.2 Tính dễ cháy và các đặc tính cháy
Lửa là một rong các nguyên nhân hàng đầu dẫn đến việc bị thương tích
hay tử vong. Các vật liệu dễ cháy có thể bắt cháy khi tiếp xúc với ngọn lửa hở,
nhiệt độ cao, các tia lửa hay tự cháy. Tính dễ bắt lửa, tốc độ cháy và đặc tính
tự tắt là các yếu tố gây ảnh hưởng đến việc ngọn lửa sẽ lan truyền hoặc bị kìm
lại.
VÍ DỤ 1: Quần áo rộng có rủi ro bắt lửa cao hơn so với mặc quần áo bó sát.
VÍ DỤ 2: Trẻ lớn hơn, đặc biệt là bé trai, thực nghiệm đốt lửa bằng
cách sử dụng các chất dễ bắt cháy. Khi các chất lỏng này đổ ra quần áo của
chúng thì có thể gây ra bỏng nặng nếu chúng ở gần nguồn cháy.
Các biện pháp để tránh hay làm giảm rủi ro do tính dễ cháy và các vật
liệu cháy bao gồm:
- hạn chế khả năng dễ bắt lửa bằng cách lựa chọn và thiết kế vật liệu;
- hạn chế sự lan truyền của lửa bằng cách lựa chọn các vật liệu có khả
năng
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- có tốc độ lan truyền ngọn lửa thấp;
- khống chế đám cháy bằng cách sử dụng các bình chữa cháy.
CHÚ THÍCH: Các phụ gia chống cháy có thể gây ra các mối nguy khác do
các tính chất hóa học của chúng (xem thêm 7.10). Việc sử dụng phụ gia như vậy
có thể bị hạn chế bởi các quy định liên quan.
7.9 Mối nguy do nhiệt
7.9.1 Nguy cơ do các bề mặt
nóng và lạnh
Tiếp xúc với các bề mặt nóng và lạnh có thể dẫn đến các thương tích do
nhiệt. Các bề mặt có thể trở nên nóng hay lạnh do các bộ phận ở bên
trong (ví dụ: động cơ, pin, chất làm lạnh) hoặc do tiếp xúc bên ngoài với ánh nắng
mặt trời hay giá lạnh. Các đặc tính hấp thụ/phản xạ nhiệt của vật liệu sẽ xác định
nhiệt độ của bề mặt và độ dẫn nhiệt quyết định sự truyền năng lượng nhiệt. Một
số bề mặt được thiết kế để làm nóng (ví dụ: bếp điện/mặt bếp) hay lạnh (ví dụ:
tủ đông). Trẻ em thường hay sờ vào các bề mặt nóng/lạnh do khả năng hạn chế
nhận biết các thương tích tiềm ẩn gắn liền với các bề mặt này. Các sản phẩm và
vật dụng nóng hay lạnh mà không có các dấu hiệu về điều đó thường gây ra rủi
ro.
CHÚ THÍCH: IEC Guide 117 cung cấp thêm thông tin về truyền năng lượng
nhiệt.
VÍ DỤ 1: Cầu trượt ở sân chơi hướng về phía mặt trời có thể bị làm
nóng đến mức có thể gây thương tích khi tiếp xúc.
VÍ DỤ 2: Các vật dụng làm nóng, như bếp/mặt bếp bằng sứ, vẫn tiếp tục
nóng sau khi tắt đi; mặc dù điều này có thể không rõ ràng đối với một đứa trẻ.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
VÍ DỤ 4: Trẻ nhỏ bị hấp dẫn một cách tự nhiên bởi các thanh nung đỏ của
lò sưởi điện.
VÍ DỤ 5: Trẻ nhỏ bị bỏng khi liếm các thanh chắn, các chi tiết bằng
kim loại của địu trẻ em rất lạnh và thực phẩm đông lạnh lấy ra từ ngăn đá.
VÍ DỤ 6: Chăn điện hay đệm sưởi có thể không phù hợp đối với trẻ em vì
da của trẻ nhạy cảm hơn da của người lớn và tỷ lệ bề mặt cơ thể trẻ dễ dàng hấp
thụ nhiệt quá mức.
Các biện pháp để tránh hay làm giảm rủi ro do bề mặt nóng và lạnh bao gồm:
- cung cấp các bộ phận tự động tắt và hẹn giờ trong các vật dụng tích
nhiệt;
- sử dụng các vật liệu ít hấp thụ nóng/lạnh hoặc ít có khả năng truyền
năng lượng hơn trong các sản phẩm có tiếp xúc với môi trường (ví dụ: thiết bị
sân chơi, bề mặt sàn bể bơi, cửa, ghế ngồi cho trẻ em trong xe ô tô và vật dụng
ngoài trời): việc lắp ráp phù hợp, như cung cấp bóng mát và sử dụng sản phẩm với
hướng dẫn đầy đủ có thể làm giảm thương tích;
- giảm tiếp xúc có thể gây bỏng từ các bề mặt nóng/lạnh bằng cách làm
giảm/tăng nhiệt độ của bề mặt; thêm vào các thanh chắn hay thêm các dấu hiệu trực
quan về thay đổi nhiệt độ (mặc dù các dấu hiệu này không có ý nghĩa gì đối với
trẻ còn nhỏ và dấu hiệu đó không được thu hút trẻ em);
- tránh lôi kéo sự chú ý của trẻ em đối với các bề mặt nóng;
- đảm bảo rằng các bề mặt cần phải nóng do chức năng sẽ nhanh chóng nguội
đi sau khi sử dụng;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
7.9.2 Mối nguy do các chất lỏng nóng
Chất lỏng nóng, kể cả hơi nước, có thể gây bỏng. Trẻ em đặc biệt cóc
nguy cơ chịu các rủi ro do bị bỏng trong khu vực bếp/bàn ăn và phòng tắm do đặc
điểm thích khám phá.
VÍ DỤ 1: Cốc chứa đồ uống nóng rất dễ bị đổ.
VÍ DỤ 2: Trẻ em kéo các đồ vật đang treo rủ xuống, như khăn trải bàn
hay dây của các thiết bị treo trên bàn hay các bề mặt, do đó cũng kéo theo các
vật chứa chất lỏng ở phía trên đó.
VÍ DỤ 3: Trẻ nhỏ với lấy cốc do người trông nom trẻ đang cầm.
VÍ DỤ 4: Bỏng trong bồn tắm xảy ra do trẻ bị rơi
vào bồn tắm chứa nước nóng hay bản thân chúng hay các anh chị của chúng mở nước
nóng khi không được giám sát. Trẻ nhỏ có thể không nhận ra nguy hiểm cho đến
khi quá muộn để có thể ra khỏi bồn mà không có sự hỗ trợ của người lớn.
VÍ DỤ 5: Nồi cơm điện tạo ra đủ hơi nước để làm bỏng.
VÍ DỤ 6: Lò vi sóng có thể làm nóng chất lỏng đến mức không thấy dấu hiệu
nào cho thấy nó đang sôi.
VÍ DỤ 7: Lò vi sóng có thể được đặt ờ độ cao làm tăng rủi ro trẻ làm đổ
thức ăn nóng lên người khi lấy đồ ra khỏi lò vi sóng.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- sử dụng cốc uống trà và cà phê chống tràn hoặc thêm nắp đậy để chống
tràn;
- gia tăng độ ổn định của các vật chứa như ấm đun nước, bình cà phê và
nồi chiên ngập dầu;
- cung cấp ấm đun nước có dây không treo trên mép của mặt bếp hay dễ
tháo ra;
- giới hạn lượng chất lỏng nóng sẵn có;
- đặt lại nhiệt độ của thiết bị làm nóng nước ở mức an
toàn;
- sử dụng thiết bị pha trộn có thể kiểm soát nhiệt độ của nước chảy ra
từ vòi;
- hướng dẫn cho người sử dụng về nguy cơ bị bỏng do nước nóng từ vòi.
7.9.3 Mối nguy do hiện tượng nóng chảy
Một vài sản phẩm ở dạng rắn, như một số loại nhựa, bị mềm ra khi
chịu nhiệt trong khi một số khác có thể chuyển sang dạng lỏng. Bất kỳ sự tiếp
xúc nào với da của các chất rắn bị mềm ra hay các chất lỏng nóng thường dẫn đến
các thương tích nghiêm trọng vì vùng da tiếp xúc và thời gian sẽ kéo dài. Người
lớn có thể biết các mối nguy liên quan đến các loại thay đổi này nhưng trẻ em
thì có thể không biết.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
VÍ DỤ 2: Các loại vải tổng hợp, như là vải dùng cho lều trại hay quần
áo, có thể bị chảy ra khi cháy và nhỏ giọt hoặc dính vào người bị
cháy. Các biện pháp để tránh hay làm giảm rủi ro do nóng chảy bao gồm các vật
liệu chứa có thể bị chảy ra hoặc làm mềm hoặc sử dụng các vật liệu thay thế.
7.9.4 Mối nguy do thân nhiệt cao và giảm nhiệt của cơ
thể
Thân nhiệt cao (tăng nhiệt độ cơ thể) có thể xuất hiện khi trẻ ở trong
môi trường có nhiệt độ cao (ví dụ: trong phòng hay ô tô). Sự kết hợp giữa nhiệt
độ phòng và các sản phẩm làm cho sức nóng tích tụ lại (ví dụ: chăn lông vịt hay
chăn điện dùng cho trẻ sơ sinh) tạo thành mối nguy. Đây là yếu tố gắn liền với
hội chứng trẻ nhỏ bị chết đột ngột.
Trẻ em hấp thụ hay mất nhiệt nhanh hơn và dễ bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ
nóng hay lạnh hơn người lớn, trẻ thường không nhận ra điều này và không có khả
năng phản ứng lại nó.
Sự giảm thân nhiệt có thể xảy ra do bị kẹt trong kho lạnh hay do không thể trở
về nhà được trong thời tiết quá lạnh. Một số sản phẩm cũng có thể có khả năng
làm giảm nhiệt độ cơ thể xuống dưới mức an toàn (ví dụ: trang phục thể thao mạo
hiểm).
VÍ DỤ: Trẻ em bị bỏ quên trong ô tô dưới ánh nắng mặt trời đã chết vì
thân nhiệt cao.
Các biện pháp để tránh hay làm giảm rủi ro thân nhiệt cao và giảm quá mức
bao gồm:
- dùng các thiết bị để giới hạn nhiệt độ trong phòng, xem xét việc thiết
kế các sản phẩm (ví dụ: ô tô, ghế an toàn cho trẻ em) theo cách làm giảm
khả năng trẻ em bị bỏ quên trong môi trường nóng hay lạnh.
- cung cấp các cảnh báo về sự gia tăng nhiệt độ quá mức của chăn và các
sản phẩm tương tự.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Sự tiếp xúc với các hóa chất độc hại có thể là mạn tính thường xảy ra
sau một khoảng thời gian dài và ảnh hưởng của hóa chất độc hại có thể là mạn
tính hay mạn tính. Sự tiếp xúc có thể xảy ra trong vòng đời của sản phẩm, kể cả
sau khi sản phẩm đã bị loại bỏ. Nó cũng có thể xảy ra trong quá trình sửa chữa,
dọn dẹp nhà cửa, v.v...
Việc tiếp cận bao gồm nhưng không giới hạn với: sự nhiễm độc, bỏng hóa
chất ở bên trong hay bên ngoài, bị dị ứng, bệnh mạn tính và tổn hại nội tạng,
ung thư, viêm phổi do hóa chất và rối loạn khả năng sinh sản.
VÍ DỤ 1: Nhà bị cháy thường tạo ra các chất khí độc hại có thể gây tử
vong.
VÍ DỤ 2: Trẻ em cần được thường xuyên chăm sóc về y tế sau khi uống hay
hít phải các hóa chất gia dụng, các loại thuốc hay thuốc trừ dịch hại.
VÍ DỤ 3: Trẻ em bị bỏng hóa chất do tiếp xúc hoặc nuốt phải các sản phẩm
tẩy rửa mạnh và pin.
VÍ DỤ 4: Cao su và niken tiếp xúc với da có thể gây dị ứng.
VÍ DỤ 5: Các tiếp xúc lâu dài với một số kim loại nặng có thể gây ra những
ảnh hưởng xấu đến sức khỏe.
VÍ DỤ 6: Trẻ em tiếp cận các sản phẩm và đồ uống có cồn không được để
đúng chỗ.
VÍ DỤ 7: Hóa chất nguy hiểm được đựng trong các vật dụng
chứa không phù hợp như các chai nước ngọt.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
VÍ DỤ 9: Trẻ em đã tiếp xúc với bụi hay khói có khả năng độc hại khi tiến
hành sửa chữa lại nhà.
VÍ DỤ 10: Các thiết bị tạo ra lửa như lò sưởi trong nhà dùng ga và dầu
sẽ tạo ra monoxit nếu thiết bị không được bảo trì đúng cách và
không có hệ thống thông gió phù hợp.
VÍ DỤ 11: Một số chất phụ gia hóa chất trong nệm, đồ nội thất bọc nệm
và quần áo có thể độc hại.
VÍ DỤ 12: Hơi nước hữu cơ từ các sản phẩm tẩy rửa gia dụng, thuốc trừ dịch
hại, mỹ phẩm, v.v... có thể còn sót
lại gần sàn nơi trẻ em ngồi hay nằm.
VÍ DỤ 13: Khí thải từ các bãi rác, lửa nấu ăn, thực vật cháy, nhà máy
công nghiệp, v.v... có thể ảnh hưởng xấu đến trẻ em sống hay đi học
gần đó. Một số trẻ em có thể chơi hay nhặt những vật có giá trị từ các bãi rác
này.
Các biện pháp để tránh hay làm giảm rủi ro do các hóa chất độc hại bao
gồm:
- giới hạn lượng hóa chất sẵn có trong tiếp xúc một lần hay lặp đi lặp
lại;
- sử dụng các rào chắn vật lý, như là các vỏ bọc chống sự
tiếp cận của trẻ em, đưa vào các thùng chứa thích hợp hay các dụng cụ lưu giữ
an toàn;
- thay thế bằng các hóa chất ít độc hơn hay sử dụng lượng hóa chất ít
hơn;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- sử dụng các vật liệu khi cháy tạo ra sản phẩm cháy ít hơn và/hoặc ít
độc hơn
- đảm bảo rằng khi các vật liệu hữu cơ bị cháy một cách có chủ ý, có hệ
thống thông gió đầy đủ để làm giảm việc giải phóng và tích tụ carbon monoxide;
- cấm sử dụng các chất gây đột biến, chất gây ung thư và chất độc hại
cho sinh sản bị nghi ngờ hay đã biết;
- tránh các chất gây dị ứng và ăn mòn đã biết;
- tránh các hóa chất có ngoại quan, mùi vị lôi cuốn
trẻ em;
- hóa chất gây đắng có thể bổ sung cho các biện pháp khác để làm giảm rủi
ro nhiễm độc;
- đưa ra các cảnh báo và thông tin sản phẩm thích hợp, bao gồm các
thành phần, mối nguy cụ thể, hướng dẫn sử dụng, lưu trữ và loại bỏ an toàn, các
biện pháp sơ cứu, nhận biết nhà sản xuất và thông tin liên hệ khẩn cấp;
- đưa ra các cảnh báo khi cần thiết về nhu cầu giặt quần áo tiếp xúc với
da trước khi sử dụng lần đầu, để làm giảm rủi ro dị ứng;
- xác định và kiểm soát một cách thích hợp việc tiếp cận các vị trí
nguy hiểm nơi chất thải có thể gây hại.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Bị điện giật có thể gây ra thương tích hay tử vong. Trẻ em không thể
“nhìn thấy” hay nhận thức được mối nguy này nên điều đó rất nguy
hiểm.
VÍ DỤ 1: Mấy sấy tóc có hình dạng bên ngoài (ví dụ như
hình con vịt) lôi cuốn trẻ em có thể dẫn đến việc trẻ em mang chúng vào bồn tắm.
VÍ DỤ 2: Đèn cắm ở ổ điện có hình dáng lôi cuốn có thể làm
trẻ coi ổ điện là vô hại.
VÍ DỤ 3: Hướng của ổ cắm cần phải sao cho không lôi
cuốn trẻ em. Một số ổ cắm có thể trông giống như một khuôn mặt thân thiện với
trẻ nhỏ.
Các biện pháp để tránh hay làm giảm rủi ro do bị điện giật bao gồm:
- bảo vệ để tránh tiếp xúc với các bộ phận mang điện, vị trí và kích
thước của các lỗ cắm cần phải xem xét nhân trắc học của trẻ em, như cỡ ngón
tay. Môi trường ẩm làm tăng rủi ro bị điện giật;
- dùng các biện pháp cách điện hiệu quả (bao gồm cơ cấu chắn, công tắc
hay các vật chắn khác) nếu do chức năng của sản phẩm, các lỗ cắm này cần phải
được tiếp cận một cách dễ dàng, như trong trường hợp ổ cắm điện;
- dùng các thiết bị ngắt dòng điện, như các thiết bị ngắt mạch khi chạm
đất (còn được gọi là thiết bị dòng dư). Khi được đưa vào như một phần của sản
phẩm, chúng cần phải được đánh giá theo khía cạnh sinh lý của trẻ em;
- làm đồ chơi và các sản phẩm lôi cuốn trẻ em hoạt động ở các mức
năng lượng an toàn (nghĩa là: sự kết hợp giữa điện áp và dòng điện phù hợp) ví
dụ: bằng cách chạy bằng pin.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
7.12 Mối nguy bức xạ
7.12.1 Bức xạ ion hóa
Trẻ em có thể được tiếp xúc với bức xạ ion hóa, nghĩa là bức xạ từ các
nguồn xuất hiện tự nhiên (ví dụ: radon) hay từ các sản phẩm như máy phát hiện
khói, ti vi tia cực âm và thiết bị y tế. Việc tiếp cận với bức xạ ion hóa của
trẻ em cần phải được kiểm soát rất chặt chẽ.
VÍ DỤ 1: Một số loại sơn phủ bề mặt và men gốm trên bát đĩa có chứa hàm
lượng chất màu bức xạ có hại.
VÍ DỤ 2: Một số thép không gỉ được sản xuất có chứa coban bức xạ từ các
sản phẩm tái chế.
Các biện pháp để tránh hay làm giảm rủi ro có thể bao gồm:
- thiết kế những ngôi nhà mới để làm giảm sự xâm nhập của bức xạ xuất
hiện tự nhiên; cách tiếp cận này thường được hỗ trợ bởi các
quy định;
- sửa các ngôi nhà hiện có để ngăn khí bức xạ vào hay loại bỏ nó bằng hệ
thống thông gió;
- làm cho các nguồn bức xạ trong các sản phẩm gia dụng không thể tiếp cận
được, ngay cả khi đang thải bỏ;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
7.12.2 Bức xạ do tia cực tím
Tiếp xúc với bức xạ do tia cực tím (UV) từ mặt trời là tiếp xúc bức xạ
phổ biến nhất. Khi tiếp xúc trong khoảng thời gian ngắn thì có thể
bị cháy nắng hay bỏng võng mạc. Tiếp xúc trong khoảng thời gian dài có thể gây
ung thư da hay đục thủy tinh thể. Tiếp xúc với tia UV cũng có thể phát sinh từ
các sản phẩm như sản phẩm thuộc da, ánh sáng và thậm chí một số đồ chơi.
Trẻ em nhạy cảm với tác hại từ bức xạ UV hơn là người lớn.
VÍ DỤ 1: Tiếp xúc với ánh sáng mặt trời vào buổi trưa khi ánh sáng mặt
trời gay gắt nhất.
VÍ DỤ 2: Trẻ em sử dụng giường tắm nắng.
VÍ DỤ 3: Việc sử dụng bức xạ UV cho mục đích khử trùng trong một số sản
phẩm gia dụng, như chất tẩy rửa bàn chải đánh răng.
VÍ DỤ 4: Đưa tia UV vào đồ chơi “bộ dụng cụ gián điệp”.
Các biện pháp để tránh hay làm giảm rủi ro do tiếp xúc với bức xạ do
tia cực tím bao gồm:
- hạn chế tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, đặc biệt khi nó gay gắt
nhất, thông qua việc nâng cao nhận thức của người trông nom trẻ để đảm bảo tạo
môi trường râm mát ở nơi trẻ chơi và sử dụng đủ biện pháp bảo vệ cá nhân
khỏi mặt trời, như mũ và kem chống nắng;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- không khuyến khích việc sử dụng kính râm giả có chức năng bảo vệ
không phù hợp với trẻ em (xem 8.1);
- cảnh báo trên các thiết bị tạo ra bức xạ do tia cực tím, như giường tắm
nắng, cần phải nêu rõ ràng rằng trẻ em không được sử dụng những sản phẩm này;
- che chắn nguồn ánh sáng cực tím có thể tiếp cận từ các hệ thống chiếu
sáng và các sản phẩm như các hệ thống khử trùng bàn chải đánh răng;
- cấm trẻ em sử dụng giường tắm nắng theo quy định.
7.12.3 Ánh sáng cường độ cao, tập trung hay nhấp
nháy
Phản ứng tự nhiên của con người là rời khỏi chỗ quá nóng hay che mắt
khi bị sáng quá, bao gồm cả tia laser và điot phát sáng (đèn LED). Tuy nhiên trẻ
nhỏ, đặc biệt là trẻ sơ sinh, có thể sẽ không có khả năng có
bất cứ phản ứng tự vệ nào như vậy. Nguồn sáng cường độ cao có thể gây tổn hại mắt
nhanh hơn mức người ta có thể phản ứng.
Ánh sáng chu kỳ (nghĩa là ánh sáng nhấp nháy hay nhấp nháy thường
xuyên) có thể ảnh hưởng đến trẻ em bị động kinh.
Ánh sáng nhấp nháy tiềm ẩn mối nguy, chẳng hạn như đèn LED hoặc đèn nhấp
nháy xenon, có thể ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của trẻ. Ảnh
hưởng đáng kể nhất là gây ra chứng động kinh nhạy với ánh sáng (co giật do ánh
sáng nhấp nháy). Hiệu ứng nhấp nháy (trong đó máy móc quay hay di chuyển dường
như đang chuyển động chậm hoặc đứng yên), đau nửa đầu, tăng tỷ lệ hành vi lặp
đi lặp lại ở người tự kỷ và giảm hiệu suất trong các chức năng thị giác như đọc
cũng có thể phát sinh. Các ảnh hưởng khác bao gồm mỏi mắt, mệt mỏi, mờ mắt và
đau đầu thông thường. Tần số nhấp nháy, tính đều đặn và sự thay đổi độ sáng đều
có thể ảnh hưởng đến khả năng xảy ra những hiệu ứng này.
VÍ DỤ 1: Bút chỉ laser được trẻ em sử dụng có thể làm hỏng thị lực của
chúng hay thị giác của người khác.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
VÍ DỤ 3: Ánh sáng nhìn thấy có cường độ cao, tập trung bao gồm cả chùm
tia laser (bút), có thể nhanh chóng gây thương tích da và mắt.
Các biện pháp để tránh hay làm giảm rủi ro bao gồm:
- hạn chế tiếp xúc với ánh sáng cường độ cao, tập trung thông qua quy định
sản phẩm và giáo dục người trông nom trẻ;
- hạn chế tiếp xúc với ánh sáng nhấp nháy;
- tránh các tần số được biết là gây hại.
7.12.4 Bức xạ điện từ
Có hai vấn đề an toàn liên quan đến bức xạ điện từ:
- trường điện từ (EMF), nghĩa là tác động của bức xạ điện từ lên cơ thể
con người, và
- tương thích điện từ (EMC), nghĩa là tác động của bức xạ điện từ của một
sản phẩm này lên sản phẩm khác.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- bức xạ rộng đến mức cản trở các sản phẩm khác hoạt động bình thường
hay gây ra sự kích thích ngoài ý muốn, và/hoặc
- dễ bị nhiễm bức xạ từ các sản phẩm khác khiến cho chức năng hoạt động
bình thường của chính nó bị cản trở hay xảy ra hoạt động ngoài ý muốn.
Cả hai trường hợp đều có thể dẫn đến tình huống không an toàn, cần phải
tránh.
Ngày càng có nhiều sản phẩm phát ra bức xạ điện từ, hoặc cố ý (ví dụ:
công nghệ không dây, máy phát sóng vô tuyến, thiết bị vi sóng) hoặc vô tình (ví
dụ: máy thu sóng vô tuyến, thiết bị gia dụng) trong môi trường của trẻ em, khiến
chúng tiếp xúc với các bức xạ này.
Một số quy định và tiêu chuẩn xác định các giá trị giới hạn tiếp xúc để
bảo vệ khỏi việc tiếp xúc với EMF. Tác dụng đầy đủ của trường điện từ có thể
chưa được biết đến.
Hoạt động chính xác của các sản phẩm có thể bị ảnh hưởng bởi bức xạ EMC
từ các sản phẩm khác, dẫn đến các điều kiện không an toàn, ví dụ: bằng cách làm
xáo trộn hoạt động bình thường của các thiết bị hay bắt đầu hoạt động không chủ
ý.
VÍ DỤ 1: Hoạt động không chủ ý của các thiết bị gia dụng, chẳng hạn
như dụng cụ mở cửa gara hay bếp, do bức xạ điện từ phân tán.
VÍ DỤ 2: Hoạt động bất ngờ của các sản phẩm dành
cho trẻ em như đồ chơi cưỡi ngựa.
VÍ DỤ 3: Rò rỉ năng lượng tần số vô tuyến từ lò vi sóng.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- hạn chế lượng bức xạ điện từ từ các sản phẩm;
- tăng khoảng cách giữa nguồn bức xạ điện từ và trẻ;
- che chắn các phần tử mạch nhạy cảm liên quan đến an toàn để ngăn ngừa
các hoạt động nguy hiểm tiềm ẩn.
7.13 Mối nguy từ tiếng ồn (áp suất âm thanh)
Mối nguy do tiếng ồn đã được thừa nhận từ lâu. Thương tích đã xảy ra
khi các cơ quan thính giác nhạy cảm trong tai phải chịu mức áp suất âm quá cao
trong một khoảng thời gian nhất định. Những thương tích gây tổn hại đến thính
giác có thể không thể phục hồi được.
Trẻ em nhạy cảm hơn người lớn trong việc mất khả năng nghe. Tổn hại
thính giác do tiếng ồn ở trẻ em có thể khó phát hiện, vì chúng có thể
không nhận biết được hay không thể nêu ra vấn đề của mình. Điều này thường chỉ được phát
hiện ra khi trẻ có biểu hiện khó khăn đặc biệt trong việc nghe hay có vấn đề về
ngôn ngữ hay xã hội. Tổn hại từ tiếng ồn tỷ lệ thuận với cả mức áp suất âm
thanh và thời gian tiếp xúc. Những tiếng ồn rất lớn dù chỉ diễn ra trong thời
gian ngắn cũng có thể gây tổn hại tai ngay lập tức.
Việc tiếp xúc có thể diễn ra trong thời gian ngắn (ví dụ: tiếng súng,
túi khí bung ra, chất nổ, tiếng lách cách) hoặc lâu hơn (ví dụ: âm nhạc, tiếng
bíp của sản phẩm, tiếng động cơ). Khoảng cách giữa nguồn tiếng ồn và tai cũng cần
được xem xét khi xác định rủi ro.
Tiếng ồn liên tục sẽ gây ra các thương tích sau một khoảng thời gian nhất
định. Việc đánh giá rủi ro cần xem xét đến cả mức áp suất âm thanh và thời gian
tiếp xúc. Hầu hết các sản phẩm phát ra âm thanh sẽ thuộc loại này.
Trẻ em sử dụng các sản phẩm gây ra tiếng ồn mà không nhận thức được các
mối nguy cho bản thân và cho trẻ em khác. Hậu quả gián tiếp của mức tiếng ồn
cao, ví dụ: đi bộ hay đi xe đạp đeo tai nghe, có thể gây tai nạn giao thông hoặc
các mối nguy khác. Tuy nhiên, mức độ tiếng ồn thấp cũng có thể vô tình tạo ra
các mối nguy, chẳng hạn như chuông báo cháy kêu không đủ to hoặc xe điện chạy
không tiếng động.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
VÍ DỤ 2: Trẻ tiếp xúc với tiếng ồn từ đồ chơi bóp, tiếng bíp, tiếng lạch
cạch, hộp nhạc, chuông báo thức, v.v. Trẻ nhỏ thông thường không thể tự vận hành đồ chơi.
Người thứ ba, như anh chị hay người trông nom chúng thường xác định khoảng cách
giữa nguồn tiếng ồn và tai của trẻ nhỏ và trong một số trường hợp cả mức áp suất
âm thanh.
VÍ DỤ 3: Trẻ em tự mình tiếp xúc với tiếng ồn, ví dụ: tiếng nhạc lớn
trong tai nghe hay nút tai hoặc khi chơi trò chơi điện tử.
Các biện pháp để tránh hay làm giảm rủi ro do tiếng ồn bao gồm:
- giảm mức tiếng ồn tối đa mà sản phẩm có thể phát ra và/hoặc thời gian
tiếp xúc;
- tự động điều chỉnh về âm thanh thấp khi sản phẩm được bật lên;
- làm cho bớt ồn;
- ghi nhãn kiểm soát âm thanh một cách rõ ràng;
- thông tin hay cảnh báo người tiêu dùng về mối nguy.
7.14 Mối nguy sinh học
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Ngoài ra, sự hiện diện của côn trùng, lông động vật và phân có thể là nguồn
gây ô nhiễm sinh học.
VÍ DỤ 1: Các kẽ hở hoặc hình dạng kỳ lạ trong các sản phẩm hạn chế khả
năng tiếp cận để làm sạch.
VÍ DỤ 2: Vi khuẩn Legionella đã được tìm thấy trong hệ thống điều
hòa không khí, bồn tạo sóng và vòi hoa sen. Các biện pháp để tránh hay làm giảm
tiếp xúc với các nhiễm bẩn sinh học bao gồm:
- thiết kế các sản phẩm để tạo thuận lợi cho việc làm sạch kỹ lưỡng,
bao gồm hướng dẫn làm sạch toàn diện nếu cần thiết;
- thiết kế các ống dẫn nước để tránh sự phát triển của vi khuẩn Legionella;
- bảo quản nguyên vật liệu một cách hợp vệ sinh, ví dụ: hàng dệt may,
nguyên liệu nhồi, kể cả trong quá trình vận chuyển;
- cung cấp bao bì thích hợp để ngăn ngừa ô nhiễm;
- đảm bảo rằng chất lỏng, chất bán rắn và bột có trong sản phẩm dành
cho trẻ em (ví dụ: đồ chơi) không
bị ô nhiễm và được bảo vệ đầy đủ
khỏi sự phát triển của vi sinh vật.
7.15 Mối nguy do nổ và tia lửa
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
VÍ DỤ 1: Pháo hoa nếu không được hoàn thiện tốt có thể sẽ nổ sớm hay nổ
muộn hơn. Các vụ nổ thường kèm theo các hạt bắn ra và tia sáng có thể làm hỏng
mắt và bỏng da.
VÍ DỤ 2: Tiếng ồn do vụ nổ tạo ra có thể gây hại cho tai của trẻ.
VÍ DỤ 3: Pin và bình sơn khí tiếp xúc với nhiệt hay ném vào lửa có thể
phát nổ.
VÍ DỤ 4: Pin lắp không đúng chiều có thể gây ra nổ.
VÍ DỤ 5: Việc cho gel hay chất lỏng dễ cháy vào thùng chứa nóng hay đám
cháy chưa được dập tắt sẽ gây ra tia lửa.
Các biện pháp để tránh hay làm giảm các rủi ro do nổ và tia lửa bao gồm:
- hạn chế (càng nhiều càng tốt) để trẻ em tiếp xúc với các vật liệu nổ
và dễ bay hơi;
- đưa ra các hướng dẫn và nhãn cảnh báo thích hợp trên bao bì, giới hạn
thiết kế theo lượng vật liệu cháy bay ra và khoảng cách mà các hạt bắn đến;
- đóng gói các sản phẩm dễ bay hơi và dễ nổ để giảm thiểu rủi
ro do tự phát nổ;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- sử dụng hay hướng dẫn sử dụng, thiết bị bảo vệ cá nhân, như tấm che mặt
và găng tay với các yêu cầu tính năng phù hợp, khi trẻ em thực hành với các vật
liệu có thể phát nổ, ví dụ: trong giờ hóa học ở trường.
Pháo hoa không thể được coi là an toàn cho trẻ em nếu không có sự
giám sát. Một số nước cấm bán pháo hoa cho người dân (với một số ngoại lệ) và
yêu cầu chỉ những người lớn được cấp phép mới được phép bắn pháo hoa.
8 Sự đầy đủ của chức năng bảo vệ
8.1 Khái quát
Chức năng bảo vệ có thể được áp dụng cho sản phẩm, hệ thống lắp đặt nội
bộ hay con người, hoặc có thể là hành vi được học hoặc được chỉ dẫn (ví
dụ: xuất phát từ chức năng bảo vệ của hướng dẫn) nhằm giảm khả năng xảy ra gây
tổn hại cho trẻ em. Do đó, chức năng bảo vệ bao gồm không chỉ là thiết bị bảo vệ
mà có thể bao gồm một hay nhiều biện pháp và/hoặc hành vi. Nhìn chung, thứ tự
ưu tiên cung cấp các chức năng bảo vệ là
- bảo vệ của sản phẩm, vì chúng không yêu cầu bất kỳ kiến thức hay hành
động nào của những người tiếp xúc với sản phẩm;
- bảo vệ khi lắp đặt (bao gồm lắp ráp và bảo trì) khi các đặc tính an
toàn chỉ có thể được cung cấp sau khi lắp đặt (ví dụ: sản phẩm phải được bắt
vít vào sàn để có độ ổn định);
- bảo vệ cá nhân và hành vi khi chức năng hoạt động cần khả năng tiếp cận
nguồn năng lượng;
- bảo vệ của hướng dẫn để cảnh báo người dùng về nguồn năng lượng nguy
hiểm hay để hướng dẫn một hành vi cụ thể khi hành vi đó thường không được mong
đợi có sẵn.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Chức năng bảo vệ của sản phẩm là một phần vật lý của sản phẩm. Vì chức
năng này không yêu cầu bất kỳ hoạt động hay kiến thức cụ thể nào từ người sử dụng,
nên chúng là phương pháp ưu tiên để ngăn ngừa thương tích xảy ra. Điều này đặc
biệt đúng đối với các sản phẩm mà trẻ em có thể tiếp cận, vì các chức năng bảo
vệ cá nhân hay hướng dẫn ít hiệu quả hơn đối với trẻ em.
VÍ DỤ 1: Trên đồ chơi cưỡi ngựa, phanh tự động được sử dụng
khi trẻ bỏ chân ra khỏi chân ga.
Đôi khi thiết bị bảo vệ được thiết kế cho các bộ phận người dân không bao gồm trẻ
em. Khi các thiết bị này hoạt động, chúng có thể gây nguy hiểm cho trẻ sơ sinh
và trẻ nhỏ.
VÍ DỤ 2: Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ đã bị thương hoặc tử vong khi túi khí
hành khách bung ra trong khi trẻ ngồi trên ghế hành khách và do đó cần phải sử
dụng chức năng tắt hoặc giảm lực của túi khí khi trẻ ngồi vào ghế.
8.3 Chức năng bảo vệ khi lắp đặt
Chức năng bảo vệ khi lắp đặt là một phần vật lý của môi trường nhân tạo.
Chức năng bảo vệ khi lắp đặt thường không được kiểm soát bởi nhà sản xuất sản
phẩm, mặc dù trong một số trường hợp, chức năng bảo vệ có thể được quy định
trong các hướng dẫn lắp đặt.
VÍ DỤ: Hệ thống tiếp đất bảo vệ được bố trí một phần
trong sản phẩm và một phần trong lắp đặt. Cả hai yếu tố đều cần thiết để hệ thống
có hiệu quả.
8.4 Chức năng bảo vệ cá nhân
Chức năng bảo vệ cá nhân thường là thiết bị vật lý được đeo trên người.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Một số sản phẩm, như mũ bảo vệ, kính râm, áo phao, cổng và rào chắn “an
toàn” nhằm mục đích giảm khả năng tử vong và thương tích hay giảm thiểu mức độ
nghiêm trọng của thương tích. Điều quan trọng là các sản phẩm như vậy thực sự
cung cấp các mức độ bảo vệ chấp nhận được. Một vấn đề có thể phát sinh khi các
sản phẩm giống với các thiết bị bảo vệ nhưng lại không có chút khả năng bảo vệ
nào. Các sản phẩm này thường là đồ chơi, ví dụ: đồ chơi mũ bảo vệ hay kính chống
nắng.
Nhiều thiết bị bảo vệ dành cho người lớn không cung cấp sự bảo vệ đầy đủ
cho trẻ em. Ví dụ, mũ bảo hiểm dành cho người lớn có thể không cung cấp sự hấp
thụ va đập thích hợp cho trẻ em do đội mũ không vừa vặn.
Đôi khi các thiết bị bảo vệ gây ra vấn đề khi được sử dụng trong những trường hợp
không dự đoán trước được. Ví dụ, trẻ em vẫn đội mũ bảo vệ xe đạp khi dừng chơi ở sân
chơi. Thiết bị sân chơi thường được thiết kế để làm cho đầu không bị mắc kẹt lại
bằng cách tạo ra các khoảng hở hoặc quá nhỏ để không đưa đầu vào được hoặc đủ
lớn để đầu có thể chui qua một cách an toàn. Khi trẻ đội mũ bảo vệ, kích thước
đầu sẽ tăng lên một cách đáng kể, gây ảnh hưởng đến việc đầu có thể
chui qua chui lại dễ dàng.
Vì dây buộc mũ của mũ bảo vệ người đi xe đạp được thiết kế để không
bung ra khi ngã từ xe đạp, chúng cũng không bung ra khi trẻ bị mắc kẹt trong
thiết bị dùng cho sân chơi. Đứa trẻ có thể chết. Những thay đổi về thiết kế cho
phép để mũ bảo vệ rời ra trong trường hợp mắc kẹt trong sân chơi cũng được cho
là mang lại sự bảo vệ đầy đủ cho người lái xe, ngoại trừ trường hợp xảy ra sự cố
giao thông nghiêm trọng.
VÍ DỤ 1: Mũ bảo vệ đồ chơi mà người đi xe đạp đội sẽ không bảo vệ được
đầu khỏi bị thương tích khi bị ngã.
VÍ DỤ 2: Miếng bịt bảo vệ đầu gối đồ chơi sẽ không bảo vệ được người
trượt băng hay trượt bằng ván trượt trong trường hợp bị ngã.
VÍ DỤ 3: Các thiết bị nổi đồ chơi cần phải được dán nhãn đầy đủ để
không bị hiểu lầm là chúng có chức năng như phao cứu sinh hoặc
áo phao thực sự.
VÍ DỤ 4: Thanh chắn để ngăn việc tiếp cận các môi trường nhất định,
nhưng có kết hợp với chỗ đặt chân, có thể trèo qua được.
Các biện pháp để tránh hay làm giảm rủi ro với chức năng bảo vệ không đầy
đủ bao gồm:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- thiết kế lại sản phẩm để chúng được phép sử dụng cho môi trường mà
chúng được sử dụng trong thực tế.
8.5 Chức năng bảo vệ của hành vi
Chức năng bảo vệ của hành vi là hành vi tự nguyện hay được hướng dẫn nhằm
giảm khả năng xảy ra tổn hại. Chức năng này chỉ có thể được sử dụng bởi những người
có trình độ kinh nghiệm nhất định trong việc xử lý các mối nguy. Vì các chức
năng bảo vệ của hành vi cho trẻ nhỏ là không sẵn có và không thể tin cậy được
nhưng sẽ trở nên phù hợp hơn khi trẻ lớn và tích lũy kinh nghiệm.
Ví dụ, trẻ biết rằng kính vỡ rất sắc và có thể làm trẻ bị thương.
8.6 Chức năng bảo vệ của hướng dẫn
Chức năng bảo vệ của hướng dẫn là một phương tiện cung cấp thông tin.
Chức năng này có thể bao gồm các báo động và cảnh báo, mô tả sự tồn tại và vị
trí của một hay nhiều mối nguy và nhằm mục đích khơi gợi hành vi cụ thể một người
để làm giảm khả năng bị tổn hại.
Cần đưa ra thông tin để tránh những hậu quả của các mối nguy liên quan
đến sản phẩm có thể xảy ra mà không thể khắc phục được, hoặc được kiểm soát đầy
đủ bằng cách bảo vệ hay che chắn.
Thông tin phải rõ ràng, dễ hiểu và sẵn có trong thời gian hoặc
trường hợp khi mối nguy tương ứng có thể xuất hiện, ví dụ bằng cách cung cấp hướng
dẫn sử dụng có thể tải xuống từ trang web của nhà cung cấp. Những vật mang
thông tin không được tạo ra những rủi ro mới cho trẻ em (ví dụ rủi ro bị hóc do
nhãn rời ra).
Nghiên cứu chỉ ra rằng các nhãn cảnh báo có hiệu quả hạn chế hơn so với
việc phòng ngừa các mối nguy ban đầu. Các cảnh báo và thông tin không có
khả năng ảnh hưởng đến hành vi của trẻ em và cần được chuyển trực tiếp đến người
trông nom trẻ.
Nếu sử dụng thông tin sản phẩm dành cho trẻ em, thì thông tin đó phải
được viết và/hoặc mô tả theo cách thích hợp với mức độ phát triển nhận thức của
trẻ. Hiệu quả của thông tin này cần được kiểm tra. Khi có khả năng trẻ em sẽ sử
dụng sản phẩm ngay cả khi sản phẩm đó không dành cho chúng sử dụng, thông tin sản
phẩm thiết yếu phải được cung cấp để chúng có thể sử dụng sản phẩm một cách an
toàn.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
VÍ DỤ 1: Đồ chơi hóa học (bộ đồ chơi hóa học) có thể chứa hóa chất độc
hại đã biết (ví dụ: đồng sunphat) là chất cần thiết cho hoạt động của đồ chơi.
Thực tế điều này phải được thông báo trên nhãn và có hướng dẫn sử dụng phù hợp.
VÍ DỤ 2: Ví dụ về cảnh báo trong soạn thảo tiêu chuẩn an toàn của pin
lithium có thể là “tránh xa tầm với của trẻ em. Nuốt phải có thẻ dẫn đến bỏng
hóa chất, thủng mô mềm và tử vong. Bỏng nặng có thể xảy ra trong vòng 2 h sau
khi uống, cần tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức”.
CHÚ THÍCH 1: Hướng dẫn chung về hướng dẫn sử dụng và thông tin trước
khi mua được đưa ra trong TCVN 10426 (ISO/IEC Guide 14 và TCVN 10430 (ISO/IEC
37).
CHÚ THÍCH 2: TCVN 10428 (ISO/IEC Guide 74) đề cập đến việc sử dụng các
ký hiệu bằng hình vẽ. Nguồn bổ sung cho các ký hiệu đồ họa là ISO 7000 và ISO
7001.
Phụ lục A
(tham khảo)
Danh sách
kiểm tra
Để tuân theo cách tiếp cận có cấu trúc, tổ chức xây dựng tiêu chuẩn và
người sử dụng khác cần sử dụng danh sách cho trong Bảng A.1 để xác định rằng tất
cả các khía cạnh về an toàn trẻ em đã được xem xét khi đề xuất một dự án xây dựng
tiêu chuẩn mới.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Bảng A.1 - Danh sách kiểm tra
TT
Câu hỏi
Có
Không
Không liên quan
1
Sự tương tác tiềm ẩn của trẻ em với sản phẩm, dịch vụ, quá trình, lắp
đặt đã được xem xét chưa?a
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
2
Các chuyên gia về an toàn trẻ em (những người có hiểu biết về sinh lý
trẻ em, sự phát triển của trẻ, dịch tễ học, v.v...) có tham gia vào quá trình
thiết kế hay tiêu chuẩn hóa không?
3
Những mối nguy dưới đây đã được xem xét chưa?
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- cơ học và ngã (xem 7.2)
- ngã và các thương tích do va đập khác (xem 7.3)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- đuối nước (xem 7.4)
- nghẹt thở (xem 7.5)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- nghẹt thở (xem 7.6)
- các đồ vật nhỏ và sự hút/mút (xem 7.7)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- cháy (xem 7.8)
- nhiệt (xem 7.9)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- hóa chất (xem 7.10)
- điện giật (xem 7.11)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- bức xạ (xem 7.12)
- tiếng ồn (áp suất âm thanh) (xem 7.13)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- sinh học (xem 7.14)
- nổ và tia lửa (xem 7.15)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
4
Các mối nguy có được đánh giá trên cơ sở các đặc điểm thể chất và
phát triển của trẻ em hay không?
- kích thước cơ thể (xem 5.1.2)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- sự phát triển khả năng vận động (xem 5.1.3)
- sự phát triển tâm lý (xem 5.1.4)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- sự phát triển nhận thức và hành vi (xem 5.1.5)
- biện pháp khám phá (xem 5.1.6)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
5
Các chức năng bảo vệ dưới đây đã được xem xét để làm giảm rủi ro hay
chưa (theo thứ tự ưu tiên)?
- bảo vệ của sản phẩm (xem 8.2)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- bảo vệ khi lắp đặt (xem 8.3)
- bảo vệ cá nhân (xem 8.4)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- bảo vệ của hành vi (xem 8.5)
- bảo vệ của hướng dẫn (xem 8.6)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
a
Nếu trả lời Câu hỏi 1 là “không”, các câu hỏi khác có thể bỏ qua.
Sau khi hoàn thành bản liệt kê nêu trên, cần chắc chắn rằng mọi mối
nguy được đánh dấu “Có” trong Câu hỏi 3 là đã được thảo luận kỹ. Kiểm tra xem bất kỳ yêu
cầu chức năng phát sinh từ thảo luận này có bao gồm các rủi ro do các đặc tính
đề cập trong Câu hỏi 4 hay không.
Thư mục tài liệu tham khảo
[1] TCVN 4898 (ISO 7001), Biểu trưng bằng hình vẽ - Biểu trưng thông
tin công cộng
[2] TCVN 6238-1 (ISO 8124-1), An toàn đồ chơi trẻ em - Phần 1: Các yêu
cầu an toàn liên quan đến tính chất cơ lý
[3] TCVN 6238-8 (ISO/TR 8124-8), An toàn đồ chơi trẻ em - Phần 8: Hướng
dẫn xác định tuổi sử dụng
[4] TCVN 6844 (ISO/IEC Guide 51:2014), Các khía cạnh an toàn - Hướng dẫn
đề cập khía cạnh an toàn trong tiêu chuẩn
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[6] TCVN 10427 (ISO/IEC Guide 41), Bao bì - Khuyến nghị đáp ứng nhu cầu
của người tiêu dùng
[7] TCVN 10428 (ISO/IEC Guide 74), Ký hiệu bằng hình vẽ - Hướng dẫn kỹ
thuật cho việc xem xét nhu cầu của người tiêu dùng
[8] TCVN 10430 (ISO/IEC Guide 37), Hướng dẫn sử dụng sản phẩm cho người
tiêu dùng
[9] TCVN 10578 (ISO 10377), An toàn sản phẩm tiêu dùng - Hướng dẫn người
cung ứng
[10] TCVN 11332 (IEC 62115), Đồ chơi sử dụng điện - An toàn
[11] TCVN 11457 (ISO/IEC Guide 71), Hướng dẫn đề cập đến khả năng tiếp
cận trong tiêu chuẩn
[12] ISO 7000, Graphical symbols for use on equipment - Registered
symbols (Ký hiệu đồ họa cho sử dụng trên thiết bị - Ký hiệu đã đăng ký)
[13] ISO 9186, Graphical symbols - Test methods for judged
comprehensibility and for comprehension (Ký hiệu đồ họa - Phương pháp thử cho
khả năng hiểu và sự nhận thức được đánh giá)
[14] IEC Guide 117, Electrotechnical equipment - Temperatures of
touchable hot surfaces (Thiết bị kỹ thuật điện - Nhiệt độ của bề mặt nóng có thể
chạm tới)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[16] IEC 61032, Protection of persons and equipment by enclosures -
Probes for verification (Bảo vệ con người và thiết bị bằng vỏ bọc - Đầu dò để
xác minh)
[17] IEC 62368-1, Audio/video, information and communication technology
equipment - Part 1. Safety Requirements (Thiết bị công nghệ âm
thanh/video, thông tin và truyền thông - Phần 1: Yêu cầu an toàn)
[18] EN 71-1, Safety of toys - Part 1: Mechanical and physical properties
(An toàn đồ chơi trẻ em - Phần 1: Các tính chất cơ lý)
[19] EN 563, Safety of machinery - Temperatures of touchable surfaces -
Ergonomics data to establish temperature limit values for hot surfaces (An toàn
máy - Nhiệt độ của các bề mặt có thể chạm vào - Dữ liệu ecgônômi để thiết lập
các giá trị giới hạn nhiệt độ cho các bề mặt nóng)
[20] CEN/CENELEC Guide 14, Child safety - Guidance for its inclusion in
standards1)) (An toàn trẻ em - Hướng dẫn đưa nội
dung này vào các tiêu chuẩn)
[21] CR 13387, Child use and care articles - General and common safety
guidelines (Các sản phẩm chăm sóc và sử dụng của trẻ em - Tổng quan và hướng dẫn
an toàn chung)
[22] CR 14379, Classification of toys - Guidelines (Phân loại đồ chơi -
Hướng dẫn)
[23] ASTM F 963-11, Standard Consumer Safety Specification on Toy
Safety (Quy định kỹ thuật tiêu chuẩn an toàn cho người tiêu dùng về an toàn đồ
chơi)
[24] Handbook for Public Playground Safety. US Consumer Product Safety
Commission, Publication No. 325, 1997 (Sổ tay an toàn sân chơi công cộng, Ủy ban an
toàn sản phẩm tiêu dùng Hoa Kỳ)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[26] WHO/UNICEF World Report on Child Injury Prevention (Báo cáo về
ngăn ngừa thương tích ở trẻ)
[27] KUTNER L. and OLSON C.K.. Grand Theft Childhood. Simon &
Schuster, 2008
[28] PHILLIPS D.. Early childhood development and disability:
Discussion paper. WHO/UNICEF, Geneva, 2012 (Sự phát triển và khuyết tật ở trẻ
nhỏ)
[29] PEDEN M. et al. World report on child injury prevention.
WHO/UNICEF, Geneva, 2008 (Báo cáo thế giới về ngăn ngừa thương tích ở trẻ)
[30] BJORKLUND D.. Children’s Thinking: Developmental Function and
Individual Differences Wadsworth/Thomson Learning, Belmont, CA, Fourth Edition,
2005 (Chức năng phát triển và sự khác biệt cá nhân)
[31] DAVIES D.. Child Development: A Practitioner’s Guide. The Guilford
Press, New York, 1999
[32] ELIOT. L.. What’s Going On. In: There? How the Brain and Mind
Develop In the First Five Years of Life. Bantam Books, New York, 1999 (Não và
trí tuệ phát triển như thế nào trong 5 năm đầu đời)
[33] GOPNIK A., MELTZOFF A.N. and KUHL P.K.. The Scientist in the Crib:
Minds, Brains, and how Children Learn. William Morrow and Company, New York,
1999
[34] HEALY J.M.. Your Child’s Grown Mind: Brain Development and
Learning from Birth to Adolescence. Broadway Books, New York, 2004 (Phát triển
trí não và học tập từ khi sinh ra đến tuổi thiếu niên)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
[36] SINGER J.L.. Imaginative play and adaptive development. In: Toys,
Play and Child Development, (Goldstein J.H. ed.). Cambridge University Press,
Cambridge, 1994 (Trò chơi tưởng tượng và phát triển thích ứng)
[37] U.S. Consumer Product Safety Commission (CPSC): Relating
Children’s Ages to Toy Characteristics and Play Behaviour, September 2002 (Mối
liên hệ giữa độ tuổi của trẻ với đặc tính đồ chơi và hành vi trò chơi)
[38] GOLDSTEIN J.H.. (ed). Toys, Play and Child Development (pp. 6-26).
Cambridge University Press, Cambridge, 1994 (Đồ chơi trẻ em, trò chơi và sự
phát triển của trẻ)
[39] ISO Catalogue of standards:
http://www.iso.org/iso/home/store/catalogue_ics.htm
[40] Consumer Product Safety Commission, http://www.cpsc.gov/
[41] Luật trẻ em 2016.
MỤC LỤC
0 Lời giới thiệu
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
2 Tài liệu viện dẫn
3 Thuật ngữ và định nghĩa
4 Tiếp cận chung về an toàn cho trẻ em
4.1 Khái quát
4.2 Mô tả độ tuổi được sử dụng trong tiêu chuẩn
này
4.3 Đánh giá rủi ro
4.4 Ngăn ngừa và giảm tổn hại
4.5 Tính “vô hình” ở trẻ em
4.6 Nhu cầu của trẻ khuyết tật
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
5.1 Sự phát triển và hành vi của trẻ em
5.2 Áp dụng kiến thức về sự phát triển của trẻ em
để ngăn ngừa tổn hại
5.3 Độ tuổi theo thời gian so với độ tuổi phát triển
5.4 Từ 16 tuổi trở lên
6 Môi trường an toàn cho trẻ em
6.1 Khái quát
6.2 Môi trường vật lý
6.3 Môi trường xã hội
6.4 Môi trường ngủ
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
7.1 Khái quát
7.2 Mối nguy cơ học và ngã
7.3 Ngã và các thương tích do va đập khác
7.4 Mối nguy do đuối nước
7.5 Mối nguy ngạt thở
7.6 Mối nguy bị nghẹt thở
7.7 Các đồ vật nhỏ và mối nguy do hút/mút
7.8 Mối nguy cháy
7.9 Mối nguy do nhiệt
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
7.11 Mối nguy bị điện giật
7.12 Mối nguy bức xạ
7.13 Mối nguy từ tiếng ồn (áp suất âm thanh)
7.14 Mối nguy sinh học
7.15 Mối nguy do nổ và tia lửa
8 Sự đầy đủ của chức năng bảo vệ
8.1 Khái quát
8.2 Chức năng bảo vệ của sản phẩm
8.3 Chức năng bảo vệ khi lắp đặt
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
8.5 Chức năng bảo vệ của hành vi
8.6 Chức năng bảo vệ của hướng dẫn
Phụ lục A (tham khảo) Danh sách kiểm tra
Thư mục tài liệu tham khảo
1) Bao gồm danh mục tài liệu tham khảo mở
rộng về sự phát triển của trẻ em và nguy cơ tiếp xúc với nguy hiểm, hành vi dễ
bị nguy hiểm và nguy cơ bị thương, các biện pháp phòng ngừa tiềm năng và các ấn
phẩm dành riêng cho sản phẩm/dịch vụ dành cho trẻ em dưới 14 tuổi.