TIÊU CHUẨN QUỐC GIA
TCVN 9645:2013
AN
TOÀN HẠT NHÂN - KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ KHÍ TƯỢNG, THỦY VĂN TRONG ĐÁNH GIÁ ĐỊA ĐIỂM
ĐỐI VỚI NHÀ MÁY ĐIỆN HẠT NHÂN
Nuclear Safety - Meteorological and hydrological
survey and assessment in site evaluation for nuclear power plant
Lời nói đầu
TCVN 9645:2013 do Cục An toàn bức xạ và hạt nhân
biên soạn, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thẩm định, Bộ Khoa học và
Công nghệ công bố.
AN TOÀN HẠT NHÂN - KHẢO SÁT,
ĐÁNH GIÁ KHÍ TƯỢNG, THỦY VĂN TRONG ĐÁNH GIÁ ĐỊA ĐIỂM CHO NMĐHN
Nuclear Safety -
Meteorological and hydrological survey and assessment in site evaluation for
nuclear power plant
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Tiêu chuẩn này đưa ra các hướng dẫn trong đánh giá các
hiểm họa có liên quan tới các hiện tượng khí tượng và thủy văn bên ngoài NMĐHN
(NMĐHN) trong suốt toàn bộ thời gian tồn tại của nó, từ giai đoạn khảo sát và
nghiên cứu chi tiết trong quá trình lựa chọn địa điểm để xác định các cơ sở thiết
kế cho tới khi kết thúc giai đoạn vận hành.
Tiêu chuẩn này cũng đưa ra các khuyến nghị về cách xác
định các cơ sở thiết kế tương ứng với các hiểm họa tự nhiên và các biện pháp bảo
vệ địa điểm trước các hiểm họa loại này.
Tiêu chuẩn này không đề cập đến vận chuyển của chất phóng xạ
trong khí quyển, nước bề mặt, nước ngầm và sự phát tán của chúng trong môi trường.
2 Các thuật ngữ và định nghĩa
Trong Tiêu chuẩn này, áp dụng các thuật ngữ và định
nghĩa sau:
2.1
Các nguồn chứa nước (các thủy vực) (water body)
Gồm hồ, sông, biển, cửa sông hay kênh.
2.2
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Nước ở độ sâu lớn hơn L/2, Trong đó L là bước sóng của sóng bề mặt được xem xét.
2.3
Vùng nước chuyển tiếp (transition water)
Nước ở độ sâu nhỏ hơn L/2 nhưng lớn hơn L/25, trong đó
L là bước sóng của sóng bề mặt được xem xét.
2.4
Vùng nước nông (shallow water)
Nước ở độ sâu nhỏ hơn L/25, trong đó L là bước sóng của
sóng bề mặt được xem xét.
2.5
Độ cao sóng có nghĩa Hs (the significant wave height Hs)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
2.6
Đới sóng vỗ bờ (swash zone)
Là vùng mà sóng tác động lên bãi biển trong đó mực nước biến đổi và mở rộng
giới hạn trên dưới của khu vực sóng leo.
2.7
Phản biện nhiều thành phần (participatory peer review)
Phản biện được thực hiện trong quá trình nghiên cứu,
cho phép những người phản biện góp ý giải quyết như là một quá trình đánh giá
hiểm họa khí tượng và thủy văn, và các vấn đề kỹ thuật phát sinh.
2.8
Phản biện giai đoạn cuối và tiếp theo (late stage and follow-up
peer review)
Phản biện được thực hiện ở giai đoạn cuối của nghiên cứu
đánh giá.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Nước dâng do sóng (sóng dềnh) (wave setup)
Mực nước dâng tức thời ở bãi biển do sóng đổ, nó được
bổ sung vào độ cao nước dâng do bão.
2.10
Đường thủy văn đơn vị (unit hydrograph)
Đường thủy văn đơn vị là biểu đồ dòng chảy tràn nhận
được từ một đơn vị lượng mưa phân bố đều trên lưu vực trong một đơn vị thời
gian
3 Những xem xét chung và khuyến nghị
3.1 Những xem xét chung
3.1.1 Tổng quan
Các hiện tượng khí tượng, thủy văn có thể là nguyên nhân của một số hiểm họa riêng lẻ hoặc kết
hợp với nhau ảnh hưởng đến NMĐHN. Các biện pháp thích hợp áp dụng khái niệm bảo
vệ theo chiều sâu cần được thực hiện để
bảo vệ NMĐHN chống lại những hiểm họa gây bởi các hiện tượng khí tượng thủy văn
ví dụ như: các hiện tượng liên quan đến gió, nước, hoặc mưa đá, các vật liệu bị
cuốn theo gió; các mức nước cực đoan (cao và/hoặc thấp) xung quanh hoặc tại địa
điểm; hiệu ứng động học của nước (như sóng, sóng thần, lũ quét); các giá trị cực
đoan của nhiệt độ không khí, độ ẩm, nhiệt độ nước và mực nước ngầm.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các hiện tượng khí tượng thủy văn cũng có thể ảnh hưởng
đến hệ thống thông tin liên lạc và hệ thống giao thông quanh vùng NMĐHN. Những ảnh
hưởng này có thể gây nguy hiểm cho việc thực hiện các biện pháp an toàn bởi nhà
vận hành và có thể gây cản trở đến việc ứng phó sự cố do chúng bịt các tuyến đường
sơ tán ra ngoài và cô lập địa điểm có sự cố bởi những khó khăn trong liên lạc
và nguồn tiếp tế. Ví dụ như lũ lụt ảnh hưởng đến đường đi xung quanh NMĐHN có
thể cản trở thực hiện kế hoạch ứng phó sự cố. Sét, mưa cũng có thể cản trở ứng
phó sự cố do làm chậm các biện pháp sơ tán hay tái định cư và/hoặc gây ảnh hưởng
đến hệ thống thông tin liên lạc và sự luân chuyển của các ca vận hành.
Những hiểm họa liên quan đến nhiệt độ của nước cao, điều
kiện mực nước thấp và tình trạng cạn kiệt được quan tâm trong tiêu chuẩn này, để
chỉ rõ các điều kiện có thể ảnh hưởng đến khả năng của các hệ thống liên quan đến
an toàn và đặc biệt là hệ tản nhiệt cuối cùng, để thực hiện các chức năng của
chúng một cách thích hợp. Trong một vài trường hợp, cần phải đánh giá đối với tốc
độ dòng chảy nhỏ và mức nước thấp do đợt hạn hán lớn nhất được xem là có thể có
trong khu vực. Nguyên nhân của tình
trạng này bao gồm sự bốc hơi của nước, thiếu hụt lượng mưa, sông suối bị tắc,
công trình điều khiển nước xuôi dòng không hoạt động và các ảnh hưởng do con
người gây ra như bơm nước ngầm. Trong các trường hợp khác, mực nước biển giảm
xuống có thể do nguyên nhân từ triều cường, triều giả hay sóng thần.
Khía cạnh khí tượng của những hiểm họa bên ngoài được
xem xét bao gồm các giá trị cực đoan của các thông số khí tượng, cũng như các
hiện tượng khí tượng nguy hiểm hiếm khi xuất hiện. Các hiện tượng khí tượng
nguy hiểm hiếm khi xuất hiện có thể tạo ra những giá trị cực đoan của một số
thông số quan trọng. Dải các giá trị thông thường của các thông số khí tượng và
tần suất thông thường của các hiện tượng khí tượng xuất hiện phụ
thuộc vào từng
khu vực. Chúng có thể được đánh giá bằng cách phân tích dữ liệu lịch
sử mà chúng đại diện cho địa điểm và vùng địa lý xung quanh.
3.1.2 Hiểm họa khí tượng
Cần đặc biệt chú ý các tham số khí tượng sau đây :
- Nhiệt độ không khí;
- Tốc
độ gió;
- Lượng mưa.
Những hiện tượng khí tượng nguy hiểm hiếm khi xuất hiện
được xem xét cho mục đích của tiêu chuẩn này gồm các hiện tượng sau:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Xoáy thuận nhiệt đới, bão;
- Lốc xoáy;
- Vòi
rồng.
Các hiện tượng khí tượng khác có tiềm năng làm tăng ảnh
hưởng bất lợi đến an toàn của NMĐHN bao gồm các hiện tượng sau:
- Bão bụi và bão cát;
- Mưa đá.
Giá trị cực trị
của các thông số khí tượng được xác định bằng cách phân tích thống kê các thông
số quan trắc định kỳ trên cơ sở thực tế diễn ra (ví dụ, nhiệt độ cực trị). Các
hiện tượng hiếm khi xuất hiện không chắc chắn đo được tại một vị trí cụ thể bởi
vì tần suất xuất hiện rất thấp, xuất hiện ở những nơi riêng lẻ và những ảnh hưởng
phá hoại của các hiện tượng này có thể dẫn đến phá hủy các thiết bị đo chuẩn.
Gió mạnh có thể có mối liên hệ
chính tới an toàn của NMĐHN và có thể dẫn đến sự kiện ban đầu được tính đến
trong các cấp độ gió có cường độ liên quan đến an toàn, đặc biệt trong trường hợp
bão và lốc xoáy có thể tạo ra những mảnh vỡ bay và bắn ra xung quanh.
3.1.3 Những hiểm họa thủy văn
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Nước dâng do bão;
- Sóng;
- Sóng thần;
- Triều giả;
- Lượng mưa cực đoan;
- Xả nước đột ngột từ hồ chứa tự nhiên hay nhân tạo.
Các hiện tượng thủy văn khác cũng có thể gây ra hiểm họa
cho NMĐHN bao gồm:
- Mực nước tăng ở thượng nguồn hoặc giảm ở hạ nguồn
gây bởi, ví dụ: sự tắc nghẽn lòng sông do lở đất cây cối, các mảnh vỡ;
- Lở đất vào các nguồn nước;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Sự hư hỏng hoặc không hoạt động của các công trình
trong hoặc gần địa điểm (ví dụ như kênh rạch, các công trình giữ nước hoặc ống
dẫn);
- Nước dâng lên ở các kênh do thay đổi đột ngột tốc độ
dòng chảy; nguồn gốc có thể do tự nhiên, ví dụ như triều lớn ở cửa sông, hay
nhân tạo như trường hợp đóng cửa nhà máy thủy điện;
- Sự thay đổi của các mức nước ngầm.
Thiệt hại đáng kể có thể gây ra cho các công trình, hệ
thống và các thiết bị liên quan đến an toàn bởi sự xâm nhập của nước vào những
vùng bên trong NMĐHN. Áp lực nước lên tường và nền móng có thể gây khó khăn cho
khả năng chịu đựng hay độ bền của công trình xây dựng. Nước ngầm có thể ảnh hưởng
đến độ ổn định của đất hay vùng đất lấp. Ảnh hưởng của nước đến tình trạng tới
hạn của các vật liệu phân hạch cũng cần được tính đến cho một số loại NMĐHN.
Sự thiếu hụt hay tắc nghẽn hệ thống thoát nước cũng có
thể là gây nên ngập lụt địa điểm. Lũ trên sông có thể vận chuyển trầm tích hay
các mảnh vỡ các loại mà chúng có thể phá hủy về mặt thực thể các công trình, cản
trở việc lấy nước hoặc phá hủy hệ thống thoát nước.
Ảnh hưởng động học của nước có thể phá hoại các công
trình và nền mỏng của NMĐHN cũng như nhiều hệ thống và các thiết bị bố trí trên
địa điểm. Trong trường hợp như vậy có thể có xói mòn tại biên địa điểm, tẩy sạch
xung quanh các công trình xây dựng hay gây xói mòn bên
trong lớp đất lấp do ảnh hưởng của nước ngầm.
Lũ lụt cũng có thể góp phần làm phát tán chất phóng xạ vào môi trường
trong trường hợp sự cố.
3.1.4 Thay đổi về các hiểm họa theo thời gian
Biến động thời tiết và biến đổi khí hậu có thể có ảnh
hưởng đến việc xuất hiện các điều kiện khí tượng và thủy văn cực đoan. Trên khoảng
thời gian tồn tại của NMĐHN, có thể khí hậu tại địa điểm sẽ chịu những thay đổi
đáng kể.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.1.5.1 Xử lý độ không đảm bảo
Đánh giá hiểm họa cần phải xử lý độ không đảm bảo
trong quy trình. Độ không đảm bảo tổng cộng sẽ bao gồm cả độ không đảm bảo khách quan (ví dụ độ
không đảm bảo mà nó là vốn có hay ngẫu nhiên về bản chất) cũng như độ không đảm bảo
chủ quan (ví dụ độ không đảm bảo mà nó từ bên ngoài về bản chất hay được gắn với
mô hình) xuất hiện do sự khác nhau trong cách giải thích của các chuyên gia tham
gia vào đánh giá hiểm họa. Mỗi khía cạnh của nhận diện, phân tích và mô tả các
nguồn hiện tượng quan tâm, đánh giá các hiểm họa tương ứng và các thông số liên
quan có thể đưa vào giải thích chủ quan của các chuyên gia. Chú ý tới yếu tố
này, những giải thích như vậy có thể được xử lý một cách thích hợp. Điều này tạo
ra một đại diện thích hợp các suy nghĩ hiện tại về chủ đề quan tâm tránh thiên
vị trong giải thích và cho phép đánh giá tất cả các giả thiết có thể được và
các mô hình sử dụng các dữ liệu đã thu thập. Sự suy diễn hình thức được thực hiện
để đánh giá ý nghĩa của độ không đảm bảo trong các mô hình và dữ liệu.
3.1.5.2 Phương pháp tất định
Phương pháp tất định dựa trên cơ sở sử dụng mô hình vật
lý hay thực nghiệm để mô tả tác động của một sự kiện trong kịch bản cụ thể tới
một hệ thống. Với một giá trị đầu vào đơn lẻ hoặc bộ giá trị đầu vào gồm các điều
kiện ban đầu và các điều kiện biên, mô hình sẽ đưa ra một giá trị duy nhất hoặc
bộ giá trị để mô tả trạng thái cuối cùng của
hệ thống. Trong trường hợp này, tàn suất vượt quá giới hạn hàng năm sẽ không được
tính đến một cách tường minh. Các giá trị cực đoan thích hợp hay giá trị dư của
các thông số đầu vào thường được sử dụng để tính đến độ không đảm bảo hoặc để
đưa ra đánh giá dư.
Trong một số trường hợp trong đó tồn tại giới hạn vật
lý (ví dụ như lượng hơi nước cần thiết để đạt bão hòa trong một thể tích không khí), những
phương pháp tất định có thể đưa ra các giới hạn hợp lý đối với ngoại suy thống
kê nhờ vào khái niệm của ‘giới hạn vật lý’: giới hạn trên của biến số quan tâm
ví dụ như mức nước lụt hay vận tốc gió, không quan tâm đến tần suất xuất hiện.
3.1.5.3 Phương pháp xác suất thống kê
Khi thực hiện phân tích thống kê, thường dựa trên phép
phân tích và tổng hợp chuỗi thời gian. Phương pháp này giả thiết rằng các chuỗi
miêu tả cả thành phần tất định và một số thành phần ngẫu nhiên chưa biết và cho
rằng các thành phần ngẫu nhiên này độc lập một cách hợp lý. Khi sử dụng phương
pháp này, khoảng trống, các số liệu thiếu và sai số của bộ số liệu có sẵn sẽ được
tính đến một cách thích hợp.
CHÚ THÍCH: Chuỗi thời gian trong trường hợp này là một
bảng theo thời gian của giá trị biến nhất định được đo liên tục hoặc ở một khoảng
thời gian nhất định.
Hai phương pháp khác nhau trong thống kê
phân tích các chuỗi số
liệu thường, được, sử dụng. Khi sử dụng những phương pháp này,
giá trị cực trị tương ứng với các tần số vượt quá khác nhau được lấy từ những số
liệu này cũng như khoảng tin cậy kèm theo. Trong phương pháp cực trị chung, sự
kiện cực trị trong năm được nhận biết và lập thành bảng cho mỗi năm theo thứ tự
để thực hiện tính toán thống kê cực trị. Cách khác, phương pháp đỉnh trên ngưỡng
giữ lại tất cả các giá trị trên một ngưỡng nhất định thay vì một giá trị cực đại
duy nhất cho mỗi năm để bù đắp cho độ không đảm bảo
lớn hơn do mẫu nhỏ hơn.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
CHÚ THÍCH: Giả thiết thường dùng trong phương pháp chuỗi
thời gian là số liệu dừng. Quá trình dừng là quá trình ngẫu nhiên mà phân bố xác
suất liên hợp của nó không thay đổi khi dịch chuyển theo thời gian hoặc không
gian. Quá trình như thế có tính chất là các thông số ví dụ như giá trị trung bình và phương sai không đổi theo thời gian hoặc vị trí. Tính chất
dừng có nghĩa là chuỗi thời gian phẳng,
không định hướng, với phương sai không đổi theo thời gian, một cấu trúc tự
tương quan không đổi theo thời gian và không có biến động theo chu kỳ.
Đánh giá hiểm họa xác suất sử dụng các miêu tả xác suất của tất cả những hiện tượng
liên quan để xác định tần suất vượt quá ngưỡng của các thông số, ví dụ chiều
cao sóng thần có tính đến độ không đảm bảo khách quan và độ không đảm bảo chủ
quan.
3.2 Khuyến nghị chung
Các đặc trưng khí tượng và thủy văn của vùng xung
quanh địa điểm đặt NMĐHN phải được khảo sát như mô tả trong tiêu chuẩn này.
Kích thước của khu vực được khảo sát, loại thông tin được thu thập, phạm vi và
chi tiết khảo sát phải được xác định dựa trên cơ sở bản chất, mức độ phức tạp của
môi trường khí tượng và thủy văn trong vùng đặt NMĐHN. Trong mọi trường hợp, phạm
vi và chi tiết của những thông tin thu thập và khảo sát được thực hiện phải đủ để
xác định những hiểm họa khí tượng và thủy văn. Liên quan đến các hiện tượng
sóng thần, các xem xét đặc biệt như là kích thước của vùng nghiên cứu được nêu
trong Điều 4 và Điều 6.
Khi khu vực được khảo sát mở rộng vượt qua biên giới
quốc gia hoặc khi địa điểm nằm trên bờ biển,
cơ sở dữ liệu phải bao gồm số liệu trong toàn bộ khu vực.
Khi phân tích thống kê được thực hiện, những chỗ trống,
xu hướng, chỗ thiếu dữ liệu và những số liệu nằm ngoài dải của bộ số liệu phải
được tính đến một cách thích hợp.
Trong đánh giá hiểm họa xác suất, khi một số mô hình
được đề xuất, chúng phải bao gồm tính toán xác suất các hiểm họa. Kết quả của
những phương pháp xác suất này phải được kiểm tra sự phù hợp với kết quả của
phương pháp phân tích tất định đơn giản hóa. Khi áp dụng phương pháp xác suất,
đối với mỗi hiểm họa cụ thể, sử dụng bất kỳ đánh giá kỹ thuật nào phải được nhận
dạng rõ ràng và tường minh và tất cả các độ không đảm bảo
liên quan phải được đánh giá, một cách thích hợp
Phương pháp chung cho đánh giá khí tượng thủy văn phải
hướng tới làm giảm độ không đảm bảo tại các giai đoạn khác nhau của quá trình
đánh giá để có được kết quả đáng tin cậy
từ dữ liệu. Cách hiệu quả nhất để
đạt được điều này là thu thập đủ các dữ liệu thích hợp và đáng tin cậy. Thông
thường cần cân đối giữa thời gian và nỗ lực cần thiết để biên soạn cơ sở dữ liệu
chi tiết, tin cậy và thích hợp với độ không đảm bảo mà các nhà phân tích phải
tính đến tại mỗi bước của quá trình. Thu thập số liệu tại địa điểm cụ thể có xu
hướng giảm độ không đảm bảo. Tuy nhiên, có một số dữ liệu được sử dụng trong
đánh giá hiểm họa khí tượng thủy văn không riêng cho địa điểm; độ không đảm bảo
của khảo sát địa điểm cụ thể do yếu tố này phải được đánh giá đúng.
Trong tất cả các trường hợp, bất kể phương pháp tất định, phương pháp thống
kê hay phương pháp xác suất được sử dụng, cần phải xác định định lượng độ không đảm bảo trong kết quả
của đánh giá hiểm họa. Bất cứ phương pháp nào được lựa chọn, đánh giá kỹ thuật
phải được thực hiện đối với sự lựa chọn phương pháp và các thông số thích hợp
được sử dụng và để xác định giá trị bằng số liên quan đến các thông số.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Trong phân tích hiểm họa xác suất, việc tính đến độ
không đảm bảo phải được bao gồm một cách tường minh trong quy trình. Độ không đảm
bảo tổng cộng sẽ bao gồm cả độ không đảm bảo khách quan cũng như độ không đảm bảo
chủ quan phát sinh do sự khác biệt trong giải thích các dữ liệu bởi các chuyên
gia tham gia trong quá trình đánh giá hiểm họa. Độ không đảm bảo này phải được
nhận biết và phải đưa vào xem xét một cách đúng đắn trong đánh giá hiểm họa.
Cách xử lý độ không đảm bảo cùng với xem xét đúng đắn các ý kiến chuyên gia phải
khách quan.
Biến đổi khí hậu cũng làm tăng thêm độ không đảm bảo
cho phân tích khí tượng và thủy văn và cần được xem xét. Độ không đảm bảo trong
việc mô hình hóa biến đổi khí hậu bao gồm những giả thiết đối với phát thải khí
nhà kính trong tương lai, mà chúng điều khiển sự biến đổi nhiệt độ toàn cầu,
trong các kịch bản kinh tế xã hội khác nhau và sự không thống nhất giữa các mô
hình khí hậu toàn cầu khác nhau.
Sự đánh giá các hiểm họa khí tượng và thủy văn cần được
thực hiện thông qua một đề án cụ thể mà mục tiêu được xác định là rõ ràng và
chi tiết và phù hợp với kế hoạch công việc như khuyến nghị trong Điều 11 .
4 Thông tin cần thiết và điều tra
thu thập cơ sở dữ liệu
4.1 Khuyến nghị chung cho
thu thập dữ liệu
Khi khảo sát địa điểm và thu thập dữ liệu, cần chú ý tất cả các thông tin cần thiết để phân tích và đánh
giá các giá trị thông số khí tượng, thủy văn nguy hiểm của địa điểm cụ thể. Tất
cả các thông tin thu thập phải được biên soạn thành danh mục hay cơ sở dữ liệu
cho mỗi loại hình nguy hiểm được khảo sát đối với địa điểm cụ thể. Để có thể xây
dựng cơ sở dữ liệu có khả năng mở rộng trong suốt thời gian hoạt động của
NMĐHN, cấu trúc cơ sở dữ liệu cần được chuẩn hóa bất cứ khi nào có thể được để có thể cho phép phân tích lặp lại bởi một bên
thứ ba. Cần chú ý rằng các hiệu ứng biến
đổi khí hậu có thể đòi hỏi các phân tích được sửa
đổi trong những năm tiếp theo và cần phải được so sánh với phép phân tích đường
nền ban đầu. Kết quả của việc đánh giá địa điểm phải được sử dụng trong thiết kế
NMĐHN.
Nghiên cứu và điều tra chi tiết phải được tiến hành để
thu thập tất cả các dữ liệu khí tượng thủy văn cần thiết và
thông tin liên quan đến các hiểm họa được thảo luận trong tiêu chuẩn an toàn
này. Nếu trong việc điều tra sơ bộ chỉ ra một cách chắc chắn rằng một hiểm họa
nào đó có thể không cần xem xét thêm thì lý do để làm như vậy phải được lập
thành hồ sơ.
Các dữ liệu chi tiết được thu thập phải được sử dụng để
xác định các thông số thiết kế cơ bản có liên quan cho NMĐHN. Dữ liệu được thu
thập bởi các hệ thống quan trắc tại địa điểm mà chúng được vận hành từ giai đoạn
đánh giá địa điểm sơ bộ - mặc dù thu được trong một khoảng thời gian ngắn - phải
được sử dụng để xác minh rằng các dữ liệu thu được từ mạng lưới trong khu vực
mà chúng được sử dụng để đánh giá các hiểm họa tại địa điểm là đại diện cho các
đặc điểm cụ thể trong vùng lân cận của địa điểm.
Trong mọi trường hợp, kích thước của khu vực điều tra,
phạm vi và chi tiết của thông tin được thu thập và các cuộc điều tra được thực
hiện phải đủ để xác định các căn cứ thiết kế cho việc bảo vệ NMĐHN chống lại
các hiểm họa khí tượng và thủy văn. Để
kết hợp các ảnh hưởng của các biến số đầu vào khác nhau một cách đúng đắn,
thông tin về phân bố thời gian của các biến này cũng phải được thu thập.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Thu thập dữ liệu và thông tin phải được tiếp tục trong
suốt thời gian hoạt động của NMĐHN và cho đến khi hoàn thành các nhiệm vụ liên
quan đến an toàn của giai đoạn tháo dỡ NMĐHN, để thực hiện đánh giá an toàn định
kỳ.
Dữ liệu phải được trình bày rõ ràng, bằng cách sử dụng
các bản đồ với thang tỷ lệ thích hợp, đồ thị và bảng biểu. Nói chung, tất cả
các dữ liệu có sẵn đã được thu thập trong giai đoạn đánh giá địa điểm nên được
tổ chức ngay từ đầu bằng công cụ của hệ thống thông tin địa lý. Hệ thống thông
tin địa lý nên được thiết lập để đưa ra một hệ thống số hóa cho tất cả các dữ
liệu liên quan tới địa điểm, bao gồm cả mô hình độ cao số mở rộng đến vùng
thích hợp xung quanh địa điểm vì điều này là cần thiết để đánh giá các hiểm họa.
Các dữ liệu lấy trong thời gian dài được sử dụng để
đánh giá các giá trị cực đoan của các biến khí tượng thủy văn cần bao gồm một
khoảng thời gian tương xứng với chu kỳ lặp lại được sử dụng để đánh giá cơ sở
thiết kế tương ứng.
CHÚ THÍCH: Ví dụ, đối với tần suất hàng năm vượt quá mức
rủi ro 10-2, thường được chấp nhận để xác định
các thông số thiết kế về khí tượng, thời gian tối thiểu của các quan sát liên tục
ít nhất là 30 năm, vì mối nguy hiểm không thể được
ước tính với độ chính xác đầy đủ cho các giá trị nhiều hơn 3-4 lần chiều dài của thời kỳ mẫu. Hơn nữa, đối với đặc
trưng biến đổi khí hậu, chuẩn được gọi là "khí hậu bình thường” được sử dụng bởi WMO, cho rằng 30 năm là đủ dài để loại bỏ
những thay đổi hàng năm với mục đích để thu được giá trị trung bình chính xác
và đánh giá biến đổi của nó.
Trong một số trường hợp, khi mà mạng lưới hiện có để thu thập dữ liệu trong
khu vực là không đầy đủ, nên thành lập và vận hành các trạm quan trắc bổ sung sớm
nhất có thể. Mặc dù thời gian có sẵn để thu thập dữ liệu bổ sung thường tương đối
ngắn, các thông tin có thể thu được như vậy rất có giá trị.
Đối với việc đánh giá hiểm họa của sóng thần, các quan
trắc có sẵn nói chung là không đủ. Do đó các phương pháp tiếp cận khác, ví dụ
như phân tích cổ lũ lụt của khu vực, nên được xem xét.
Cần xem xét đến lịch sử và giai thoại thường cung cấp
các thông tin quan trọng và chưa được biết, thiết để cải thiện tính toàn diện và độ tin cậy
của các đánh giá nguy hiểm. Cần thận trọng trong
việc thu thập và phân tích thông tin đó bằng cách tìm kiếm kỹ lưỡng các nguồn
thông tin, ví dụ như, báo chí, các dữ liệu lịch sử, các danh mục đã công bố và
chưa được công bố, tường thuật cá nhân, các phép đo nước dâng và các phép đo tại
vùng ngập lụt, các báo cáo điều tra hiện trường, việc sửa đổi các kênh sông,
video, phim và các lưu trữ khác. Từ các dữ liệu loại này và bằng cách sử dụng một
hệ thống phân loại thực nghiệm cho mỗi hiện tượng, một tập hợp các sự kiện và
cường độ liên quan tới chúng có thể được thu thập cho khu vực. Đánh giá chỉ dựa
trên những dữ liệu này chắc chắn bị thiên lệch. Điều này là do sự khan hiếm của
các dữ liệu trong phạm vi của các sự kiện cường độ thấp, sự phụ thuộc của các dữ
liệu vào mật độ dân số tại thời điểm đó (ví dụ như hiện tượng có thể không được
quan sát ở các vùng nông thôn). Các dữ liệu cũng có thể được phân loại một cách
chủ quan và không thích hợp vào thời điểm đó, do vậy khó chỉ định một mức độ cường
độ phù hợp với một phương pháp phân loại tiêu chuẩn. Dữ liệu lịch sử có thể được
sử dụng để kiểm tra một số giả định của một ước tính xác định hoặc như là một cơ
sở cho một ước tính xác suất.
Hành động cần thiết để ứng phó với các tác động quan sát được của biến đổi khí hậu
là theo dõi liên tục lâu dài các dữ liệu môi trường và sự tương quan của dữ liệu
với các xu hướng trong khu vực.
4.2 Dữ liệu khí tượng
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Để
đánh giá các giá
trị cực đoan của các biến khí tượng và hiện tượng khí tượng nguy hiểm hiếm khi
xảy ra, thông tin cụ thể và chi tiết phải được thu thập, về vấn đề này, cần phải
xem xét các vấn đề sau đây:
a) Giá trị của các thông số khí hậu bình thường và cực
đoan, chẳng hạn như áp suất không khí, nhiệt độ không khí (hoặc nhiệt độ bầu khô) và độ ẩm, tốc độ và
hướng gió đặc trưng cho môi trường khí tượng. Chúng được đo thường xuyên bởi
các trung tâm khí tượng quốc gia, các tổ chức quốc tế, địa phương hoặc tư nhân.
Các phép đo được thực hiện, thu thập, lưu trữ và cung cấp bởi các trung tâm khí
tượng quốc gia cũng được trao đổi trên toàn thế giới và được điều phối bởi tổ chức khí tượng thế giới WMO.
Thông tin khí tượng 'cần thiết' được lưu trữ và có sẵn tại các trung tâm dữ liệu
trên thế giới. WMO duy trì các tiêu chuẩn và hướng dẫn vận hành tốt nhất cho
các thiết bị, lựa chọn địa điểm cho chúng và các phép đo (ví dụ như đo nhiệt độ
không khí môi trường và tốc độ gió). Tất cả những dữ liệu này, tiêu chuẩn và thực
hành có thể được sử dụng với chú ý tới các mục tiêu an toàn hạt nhân cụ thể và
các tiêu chuẩn và phương pháp được khuyến nghị để đánh giá các hiểm họa cho các
NMĐHN. Các thông số được thu thập để mô tả đặc điểm môi trường khí tượng bao gồm
nhiệt độ bầu ướt mà nó có thể được tính như là một hàm của nhiệt độ bầu khô, điểm sương (hoặc độ ẩm tương đối) và áp
suất không khí. Những dữ liệu này thường được sử dụng để đưa ra các số liệu thống kê sau đây:
- Các giá trị cực trị hàng năm của tốc độ gió, lượng mưa liên quan tới tần suất vượt
quá hàng năm để đánh giá tài thiết kế cho các công trình, hệ thống và các thiết
bị quan trọng đến an toàn.
- Tần suất mà điều kiện nhiệt độ không khí nhất định xảy
ra, bằng số giờ mỗi năm để thiết lập tải nhiệt cho thiết kế hệ thống tản nhiệt
cho NMĐHN, hệ thống để thoát nhiệt thùng
lò sau sự cố và hệ thống thông gió sưởi NMĐHN và hệ thống điều hòa không khí. Số
liệu thống kê nhiệt độ bầu ướt là cần thiết cho mục đích này.
- Trường hợp xấu nhất trong lịch sử, các điều kiện khí
tượng đại diện cho bay hơi tối đa và mất dòng chảy, cũng như làm mát bằng nước
nhỏ nhất được dùng để thiết kế các loại tản nhiệt cuối cùng.
CHÚ THÍCH 1: Nhiệt độ bầu khô dùng để chỉ nhiệt độ không khí môi trường
xung quanh.
CHÚ THÍCH 2: Nhiệt độ bầu ướt, điểm sương và độ ẩm tương đối là các chỉ
số của độ ẩm không khí. Nhiệt độ bầu ướt là nhiệt độ thấp nhất có thể đạt được
bằng cách làm bay hơi nước vào không khí. Điểm sương là nhiệt độ ở đó không khí
phải được làm lạnh để đạt độ bão hòa, khi coi rằng áp suất không khí và độ ẩm
không đổi. Độ ẩm tương đối là tỷ lệ số lượng ẩm có trong khí quyển với lượng ẩm
có trong không khí khi không khí bão hòa.
b) Hiện tượng khí tượng nguy hiểm hiếm khi xảy ra được
đánh giá tốt nhất dựa trên cơ sở dữ liệu khí tượng khu vực và các nguồn thông
tin. Cường độ của các hiện tượng như vậy thường được định thang bằng mức độ
nghiêm trọng hoặc bản chất của những tác động (thiệt hại) đối với một tham số
khí tượng đã cho (ví dụ như tốc độ gió trong lốc xoáy).
Số liệu thống kê khí hậu, bao gồm cả giá trị cực trị,
trong phạm vi có thể phải được xác định từ các quan trắc trong điều kiện tiêu
chuẩn và tuân thủ các quy trình chuẩn.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
4.2.2 Nguồn dữ liệu và thông tin ngoài địa điểm
Để đánh giá giá trị cực đoan của các biến khí tượng,
các dữ liệu phải được thu thập không bị gián đoạn tại các khoảng thời gian
thích hợp trong một thời gian dài. Do dữ liệu ghi nhận tại địa phương thông thường
không có sẵn đối với hầu hết các địa điểm, đánh giá phải được thực hiện từ các
dữ liệu có sẵn tại các trạm khí tượng được xây dựng và vận hành trong khu vực
xung quanh địa điểm và hoạt động bởi Trung tâm khí tượng quốc gia, mà nó phải
được tham vấn đầu tiên. Kích thước của khu vực được điều tra phải được xác định
trên cơ sở các đặc điểm cụ thể của môi trường khí tượng và địa lý của khu vực
chứa địa điểm. Dữ liệu được lấy trong thời gian dài từ trạm đại diện nhất cho
các thông số liên quan hoặc có thể lựa chọn các lưu trữ của các trạm khí tượng lân cận khác nhau thuộc
về cùng một vùng khí hậu cần được xử lý để cung cấp các đánh giá
chắc chắn hơn các
thông số thống
kê cần thiết. Phương pháp tiếp cận đầu tiên có thể được thực hiện bằng cách so
sánh với dữ liệu tương tự thu được trong chương trình thu thập dữ liệu khí tượng
tại địa điểm.
Nói chung, thường lựa chọn ngày khởi đầu cho khoảng thời
gian hàng năm để phân tích dữ liệu là tại thời điểm trong năm khi biến khí tượng
quan tâm không ở giá trị cực đại hay cực tiểu của một chu kỳ.
Báo cáo về kết quả phân tích phải bao gồm mô tả của mỗi
trạm khí tượng và chương trình quan trắc, bao gồm: các loại thiết bị, lịch sử
hiệu chuẩn, vị trí địa lý, phơi chiếu của thiết bị và độ cao, thời gian ghi dữ
liệu và chất lượng dữ liệu.
Các mô hình số quy mô vừa với độ phân giải không gian
phù hợp để giải quyết các đặc tính địa
vật lý địa phương và khu vực của địa điểm là hữu ích để mô phỏng hoàn lưu khí quyển và các
thông số khí tượng địa phương khác ở quy mô khu vực và địa phương. Nếu các mô
hình như vậy có sẵn, được kiểm nghiệm và hỗ trợ đầy đủ, chúng nên được sử dụng
như là một phần của việc đánh giá địa điểm khí tượng, bao gồm cả đánh giá để cải
thiện sự hiểu biết về các điều kiện khí tượng tại địa điểm liên quan đến khu vực.
4.2.3 Chương trình quan trắc tại địa điểm
Càng sớm càng tốt sau khi chọn địa điểm ứng cử viên
cho NMĐHN, cần phải thiết lập chương trình quan trắc khí tượng tại địa điểm đó.
Việc thực hiện một chương trình thu thập và quan trắc dữ liệu phải được phối hợp
với Trung tâm khí tượng quốc gia về các tiêu chuẩn có liên quan và hướng dẫn vận
hành tốt nhất đối với thiết bị, thu thập dữ liệu và quan trắc, cũng như để trao
đổi bộ dữ liệu. Các thông số khí tượng phải bao gồm nhiệt độ không khí, tốc độ
gió và hướng gió, lượng mưa và độ ẩm, đo ở độ cao và phơi chiếu tiêu chuẩn đối
với các thông số thu thập.
Chương trình quan trắc khí tượng tại địa điểm cần bao
gồm cả việc theo dõi profile thẳng đứng để đánh giá sự phát tán của khí quyển ở
địa điểm.
Có thể có bằng chứng gián tiếp rằng các phép đo trong thời
gian dài được thực hiện tại các trạm khí tượng gần đó có thể được coi là đại diện
cho địa điểm. Tuy nhiên, dữ liệu thu được tại địa điểm trong thời gian ngắn
trong hồ sơ đánh giá địa điểm phải được sử dụng để phân tích và đánh giá ảnh hưởng
có thể có của các điều kiện cụ thể ở địa điểm trong sự kết hợp với các giá trị
cực đoan của các thông số khí tượng được đánh giá trên cơ sở dữ liệu từ các trạm
gần đó.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các sự kiện được xem là hiện tượng khí tượng nguy hiểm
hiếm khi xảy ra không chắc được ghi nhận tại một vị trí nào đó hoặc bởi mạng lưới
đo đạc tiêu chuẩn do tần số xuất hiện thấp của chúng. Ngoài ra, các sự kiện như
vậy có thể gây hỏng hóc các thiết bị đo tiêu chuẩn hoặc đưa ra các kết quả đo
không đáng tin cậy. Đối với hiện tượng hiếm khi xảy ra, ví dụ hiện tượng tạo ra
tốc độ gió cực đoan, đánh giá về cường độ của hiện tượng này phải được xác định
trên cơ sở các mô hình khái niệm hoặc mô hình số của hiện tượng, cùng với các
phương pháp thống kê phù hợp với tỷ lệ xuất hiện và cường độ của sự kiện tại địa
điểm. Kích thước của khu vực điều tra nên được xác định trên cơ sở các đặc điểm
cụ thể của môi trường khí tượng và địa lý của khu vực chứa địa điểm và hiểm họa
được khảo sát (ví dụ như lốc xoáy hoặc những cơn bão).
Hai loại dữ liệu, thường là có sẵn từ dịch vụ khí tượng
quốc gia, phải được thu thập cho các hiện tượng khí tượng hiếm:
(a) Dữ liệu và thông tin thu thập có hệ thống, xử lý
và phân tích trong những năm gần đây có thể bao gồm sự xuất hiện nhiều hơn những
sự kiện có cường độ thấp hơn và có thể đáng tin cậy hơn so với dữ liệu lịch sử
(giai thoại).
(b) Các dữ liệu lịch sử.
Vào thời điểm ngay sau khi xuất hiện một sự kiện khí
tượng hiếm có thể có thu thập toàn diện các dữ liệu và thông tin. Điều này có
thể bao gồm các giá trị đo của các biến, các nhân chứng, hình ảnh, mô tả thiệt
hại và thông tin định tính khác có ngay sau sự kiện này. Nghiên cứu chi tiết
các sự kiện khí tượng thực tế hiếm hoi như vậy phải được sử dụng để xây dựng một
mô hình cho sự xuất hiện của chúng và phải đóng góp vào việc xác định sự kiện
cơ bản trong thiết kế cho khu vực đó trong sự kết hợp với khí hậu đã biết của
vùng. Thông thường diện tích thực tế bị ảnh hưởng bởi một số hiện tượng khí tượng
hiếm (ví dụ như lốc xoáy) là tương đối nhỏ, làm cho việc tích lũy các dữ liệu
có liên quan và đầy đủ khó đạt được trong một số trường hợp.
Sau khi thu thập dữ liệu về các hiện tượng khí tượng
hiếm, cần phải biên soạn một danh mục chuyên biệt cụ thể có kiểm tra thích hợp
về tính đầy đủ.
4.2.5 Viễn thám
Mạng lưới radar thời tiết, hoặc các hệ thống khác có
thể được sử dụng để thu nhận các quan trắc về các thông số khí tượng bề mặt từ
không gian. Một số các tập hợp dữ liệu này có thể có khoảng thời gian quan trắc
dài đáng kể và có thể bao gồm các đánh giá tốc độ gió bề mặt và nhiệt độ không
khí và lượng mưa. cần sử dụng những dữ liệu này một cách thích hợp.
4.3 Dữ liệu thủy văn
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Dữ liệu thủy văn nên bao gồm những điều thích hợp cho địa
điểm sau đây:
- Các đặc điểm thủy văn của nước ngầm, tất cả các nguồn
nước liên quan và các vị trí của các nguồn nước mặt. Ngoài ra, phải thu thập
thông tin về điều kiện địa chất liên quan đến nước ngầm.
- Các vị trí và mô tả các công trình điều khiển nước
hiện có và dự định, cả thượng nguồn và hạ nguồn của địa điểm mà chúng có thể ảnh
hưởng đến điều kiện địa điểm.
Dải mức thủy triều phải được xác định cho các địa điểm
đặt tại các khu vực ven biển bị ảnh hưởng bởi thủy triều đại dương và biển. Dải
này có thể khác nhau rất nhiều từ nơi này đến nơi khác. Phân tích hàm điều hòa,
trong đó các dao động thủy triều được tách thành các thành phần điều hòa, được
sử dụng trong tính toán thủy triều. Hằng số điều hòa để dự báo thủy triều được
rút ra từ các dữ liệu thu được tại các trạm đo ven biển gần địa điểm và có thể
được lấy từ các cơ quan quản lý quốc gia.
Dải mực nước đối với hiện tượng không phải là thủy triều
phải thu thập, tùy thuộc vào những cân nhắc sau đây:
- Các số liệu về mực nước phải có cho tất cả các nguồn
nước liên quan tại địa điểm và / hoặc tại tất cả các trạm đo đại diện cho điều
kiện địa điểm đối với hiện tượng có thể xảy ra. Cần thu thập các số liệu mực nước
với khoảng thời gian lớn nhất, cần chú ý đến tần suất thu thập dữ liệu để đảm bảo
rằng các phép đo mức nước được thu thập ở quy mô thời gian thích hợp. Ví dụ,
phép đo mức nước liên quan tới triều giả và hiện tượng sóng thần có thể trên
quy mô thời gian chục giây đến vài phút, trong khi đo mức nước liên quan tới lũ
sông có thể trên quy mô thời gian giờ đến ngày.
CHÚ THÍCH: Một mô hình thủy văn có thể được sử dụng để
xác định dữ liệu thủy văn cho một địa điểm bằng cách sử dụng dữ liệu có sẵn đối
với một địa điểm khác.
- Đặc tính của sóng (hướng, biên độ và chu kỳ, số lượng
sóng và khoảng thời gian) phải được báo cáo. Các phép đo sóng ven biển và ngoài
khơi phải thu được bằng cách sử dụng thiết bị đo thủy triều, thiết bị đo sóng
thần hoặc phao sóng và/hoặc từ dữ liệu có nguồn gốc vệ tinh.
- Khảo sát hiện trường sau các sự kiện ngập lụt đáng kể
phải bao gồm việc thu thập dữ liệu về chiều cao sóng, mức dâng nước đột ngột, mức
nước rút và ngập lụt ngang, chu kỳ và khoảng thời gian. Ngoài ra, tác động của
sự kiện ngập lụt trên khu vực (bán kính 50 km) phải được thu thập cùng với ngày
tháng, vị trí và thông tin về công trình bị ảnh hưởng (ví dụ như tàu thuyền,
nhà ở, bến tàu).
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Cần phải xem xét đặc biệt đối với các quan trắc nước
triều lớn. Nước triều lớn xảy ra tại một số cửa sông, sông và các kênh do những
thay đổi của thủy triều, sóng thần hoặc mức dâng đột ngột khi xả thông qua các
công trình dẫn nước.
- Các số liệu về xả nước đối với tất cả các nguồn nước
gần địa điểm và/hoặc tại tất cả các trạm đo đại diện cho điều kiện địa điểm.
- Đường cong mức độ, mà nó liên hệ mực nước với xả nước đối với các máy đo gần địa điểm.
Các mô hình số cũng có thể được sử dụng để liên hệ mực nước với xả nước, cần
chú ý đến ngày tháng mà dựa vào đó đường cong mức độ được xây dựng, bởi vì những
thay đổi do con người, độ sâu và / hoặc địa hình có thể làm thay đổi đáng kể mối quan hệ giữa mực nước và xả nước.
Dữ liệu địa chất thủy văn có nguồn gốc từ thông tin địa
chất và quá trình lấp đất, chẳng hạn như dữ liệu về độ thấm và độ xốp phải được
thu thập trong vùng lân cận của địa điểm. Đo nước ngầm cần thu được như sau:
- Thiết bị đo áp suất nên được lắp đặt tại địa điểm để
quan trắc mực nước ngầm và áp lực trong các tầng chứa nước thích hợp. Thời gian
thu thập dữ liệu phải đủ dài để nắm bắt cả biến động theo mùa và hàng năm. Bộ dữ
liệu tần suất cao là có ích để quan sát ảnh hưởng của bão, đặc biệt là đối với
tầng nước tạo ra từ các hệ thống đứt gãy hoặc đá vôi.
- Phải thu thập thông tin tác động của con người, chẳng
hạn như vị trí và độ lớn của khai thác nước ngầm, nạp nước nhân tạo. Dự đoán xu
hướng trong tương lai trên cơ sở những thay đổi dân số và phát triển phải được
xem xét.
- Dữ liệu được lấy trong thời gian dài về mực nước ngầm
phải được lấy từ dữ liệu về mực nước của các giếng trong khu vực và trong các
tình huống so sánh địa chất thủy văn để đánh giá tác động của điều kiện khí tượng
cực đoan đến mực nước ngầm và để kiểm tra xu hướng trong thời gian dài ví dụ
như xu hướng do khai thác nước ngầm quy mô lớn.
Các đo đạc và thông tin khác phải được thu thập từ nguồn
sau đây:
- Các phép đo dòng gần bờ biển và dọc theo bờ biển do
thủy triều và gió.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Cần xem xét hai bộ khác nhau của dữ liệu địa vật lý và
địa chất:
(a) địa chất địa điểm cụ thể và
(b) nguồn của hiện tượng sóng thần, nếu phù hợp với địa
điểm.
Các dữ liệu địa chất cụ thể mà phải thu thập trong
vùng lân cận của địa điểm là các dữ liệu sau đây:
- Sự ổn định và "xói mòn" của dải ven bờ;
- Đặc điểm trầm tích chẳng hạn như phân bố kích thước
hạt và thành phần hóa học, đặc biệt gần các công trình lấy nước của NMĐHN;
- Đặc điểm địa chất thủy văn như độ thấm và độ xốp;
- Tiềm năng sạt lở đất.
Ba loại nguồn sóng thần, cả gần bờ và dưới nước, phải
được xem xét và nhận biết như sau:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Lở đất;
- Hoạt
động núi lửa.
Các tham số
nguồn sóng thần và dữ liệu về tiềm năng sóng thần phải được thu thập đối với
các nguồn nước có liên quan tại địa điểm có NMĐHN. Các dữ liệu địa vật lý, địa
chất và địa chấn sau đây phải được thu thập để sử dụng trong việc xác định các đặc điểm của nguồn phát ra
sóng thần nghiêm trọng tiềm năng, cả nguồn địa phương vì nguồn xa, cùng với đánh giá tần suất xảy ra hàng
năm của chúng:
- Đối với trận động đất gây ra sóng thần: ngày và thời
gian gốc, vị trí tâm chấn, chiều sâu, độ lớn, thời điểm địa chấn, cơ chế trọng
tâm (đập vào, nhúng và góc quét của mặt phẳng
đứt gẫy) và các thông số khu vực bị vỡ (chiều rộng, chiều dài, đứt gãy, cứng, vận
tốc, thời gian tăng ).
- Đối với sạt lở đất gây ra sóng thần: lở đất và đặc
điểm vách đá bao gồm loại, vị trí và biến dạng của các lớp địa chất, hình học
(ví dụ như độ dốc, kích thước, thể tích).
- Đối với hiện tượng núi lửa gây ra sóng thần: các đặc
tính đầy đủ của núi lửa mà nó có thể gây ra sóng thần.
Tất cả các dữ liệu có liên quan để đánh giá tiềm năng
các hiểm họa sóng thần và xác định các thông số của hiểm họa sóng thần phải được
lập thành một danh mục sóng thần riêng cho địa điểm. Tất cả các thông tin lịch
sử và bằng chứng cổ của sóng thần từ địa tầng và nghiên cứu địa chất khác phải
được xem xét trong danh mục này.
4.3.3 Dữ liệu địa hình và độ sâu
Các dữ liệu địa hình sau đây phải được thu thập:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Địa hình chung trong vùng lân cận của địa điểm (điển
hình có bán kính 5 km), với khoảng đường đồng mức 5 m -10 m.
- Địa hình chi tiết của khu vực địa điểm và khu vực
ngay sát địa điểm mà chúng có thể bị ngập, kể cả trong quá trình trước và sau
xây dựng NMĐHN, với khoảng đường đồng mức 1 m, với độ chính xác thích hợp.
- Ranh giới của lưu vực.
- Các đặc điểm thông thường của lũ, bao gồm độ nhám kết
hợp với sử dụng đất, thảm thực vật, vv
- Hiện tượng lịch sử của di chuyển kênh, bao gồm cắt
ngắn, lún sụt và nâng lên. Dữ liệu địa hình khu vực phải
được kiểm tra để đánh giá khả năng nắn kênh trong tương lai.
- Độ cao và mô tả của các con đê và công trình bảo vệ
bờ khác trong vùng lân cận của địa điểm.
- Sự thay đổi địa hình gần đây do, ví dụ, động đất lớn.
Các dữ liệu độ sâu được thu thập đối với địa điểm
NMĐHN nên bao gồm:
- Mốc tham chiếu chung theo chiều dọc và chiều ngang đối
với các dữ liệu, địa hình.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Mạng lưới thoát nước gồm các kênh và các điểm đặc
trưng thoát nước (cả tự nhiên và nhân tạo) nên được mô tả gồm độ dốc của các
bên, độ rộng và độ sâu của kênh chính, độ nhám của đáy và các đặc tính trầm
tích.
- Các dữ liệu về xói mòn trong thời gian ngắn và trong
thời gian dài và/hoặc lắng đọng (từ các nguồn như các khảo sát trước đây, các bản
đồ, ảnh hàng không và ảnh vệ tinh).
- Sự thay đổi địa hình gần đây do, ví dụ, động đất lớn.
Đặc biệt phải chú ý khi khớp bộ dữ liệu địa hình và độ
sâu.
4.3.4 Dữ liệu về các hoạt động con người
Dữ liệu có liên quan phải được thu thập để đánh giá tiềm
năng cho các hoạt động do con người gây ảnh hưởng đến các hiểm họa thủy văn. Dọc
bờ biển, tác động của các công trình ngoài khơi và gần bờ như bến cảng, đê chắn
sóng, đê biển và cửa nước và sử dụng đất (ví dụ như nhà ở, lâm nghiệp và nông
nghiệp), cả hiện tại và lập kế hoạch, phải được xem xét. Đối với những công trình này, cần thu thập các
thông tin ngày, tháng, năm xây dựng, kích thước nói chung và/hoặc kế hoạch xây
dựng và trách nhiệm kiểm soát hành chính và
/ hoặc vận hành.
Trong lưu vực sông, các hoạt động con người gây trở ngại
cho quá trình thủy văn chủ yếu là do hai dạng thay đổi về hoạt động: những thay
đổi trong sử dụng đất và việc thay đổi các kênh và các thung lũng hiện tại gắn
liền với với công trình dẫn nước hiện có hoặc mới. Thông tin phải được thu thập
về các hoạt động của con người trong quá khứ và có thể xảy ra trong tương lai
bao gồm:
- Thay đổi sử dụng đất trong lưu vực sông, đặc biệt là
thay đổi về thảm thực vật, các khu vực trang trại và các hoạt động nông nghiệp;
các khu vực và hoạt động chặt phá rừng, khu vực đô thị hóa; việc thoát nước khi
có bão; mạng lưới giao thông và đặc điểm; hoạt động khai thác mỏ, khai thác đá
và bồi lắng liên quan của chúng.
- Thay đổi các kênh và các thung lũng gắn liền tới các
loại công trình sau đây: đập và hồ chứa; đập nước và cửa cống, đê điều và các
công trình phòng chống lụt bão khác ven sông; nắn vào hoặc ra khỏi lưu vực, các
con đường lũ lụt; cải thiện và thay đổi kênh; cầu, kè vận tải.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Thời gian xây dựng, vận hành thử và bắt đầu hoạt động;
-Trách nhiệm quản lý hành chính và điều khiển vận
hành;
- Bản chất và loại của các công trình chính và các
công trình phụ có ý nghĩa;
- Đặc điểm tích nước, số liệu về thiết kế lũ, các yếu tố an toàn được xem xét
trong đánh giá độ cao bể chứa cực đại, bình thường
và trung bình và độ tích nước;
- Kiểm soát lũ và sự chuẩn bị cho các hoạt động ứng
phó sự cố;
- Đường thủy văn đối với dòng chảy vào thiết kế;
- Cơ sở thiết kế địa chấn;
- Kích thước và vị trí các khu vực được bảo vệ;
- Ảnh hưởng đến dòng chảy, trầm tích và các mảnh vụn;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
5 Đánh giá mối hiểm họa khí tượng
5.1 Quy trình chung
Quy trình chung dùng trong đánh giá hiểm họa liên quan
đến giá trị cực trị của các yếu tố khí tượng hoặc các hiện tượng nguy hiểm hiếm
khi xảy ra được thực hiện theo các bước sau:
a) Nghiên cứu các chuỗi dữ liệu đại diện sẵn có cho
vùng cần phân tích và đánh giá chất lượng của chúng (tính đại diện, tính đầy đủ,
tính hiệu quả của chương trình đảm bảo chất lượng và tính đồng nhất);
b) Lựa chọn phân bố thống kê thích hợp nhất cho bộ dữ
liệu;
c) Xử lý dữ liệu để ước lượng các đặc trưng của hàm
phân bố xác suất của các yếu tố được xem xét (kỳ vọng, độ lệch chuẩn và những đặc
trưng khác nếu cần), từ đó có thể ước lượng được khoảng thời gian lặp lại trung
bình và các giới hạn tin cậy liên quan.
Giá trị cực trị hàng năm của các yếu tố khí tượng tạo
thành tập mẫu của các biến ngẫu nhiên được đặc trưng bởi các phân bố xác suất
riêng, về nguyên tắc, các bộ dữ liệu nên được phân tích nhờ các hàm phân bố xác
suất phù hợp. Trong số đó, các hàm phân bố được sử dụng
rộng rãi là phân bố Fisher-Tippett Loại I (Gumbel), Loại II (Fréchet) và loại
III (Weibull).
Cần thận trọng khi thử nghiệm sự phù hợp của hàm phân
bố các đại lượng cực trị với bộ dữ liệu đại diện chỉ đo được trong một vài năm.
Nếu thực hiện các phép ngoại suy bằng kỹ thuật thống kê cho các khoảng thời
gian dài cần lưu ý đến sự hạn chế vật lý của các yếu tố được xem xét. Cũng cần
phải thận trọng khi thực hiện phép ngoại suy thời gian nằm ngoài khoảng thời
gian có dữ liệu (chẳng hạn như thời kỳ lặp lại (chu kỳ) lớn hơn bốn lần khoảng thời
gian lấy mẫu). Phương pháp ngoại suy nên được văn bản hóa.
5.2 Hiện tượng khí tượng cực
đoan
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các biến khí tượng mà các giá trị cực trị được xác định
gồm:
- Nhiệt độ không khí;
- Tốc độ gió;
- Lượng mưa (lượng nước tương đương);
Tất cả các dữ liệu phải đi kèm với thông tin giải
thích về dữ liệu đó (trích yếu dữ liệu).
Trong quá trình xử lý dữ liệu, cần phải tính đến thuộc
tính không dừng có thể có của quá trình ngẫu nhiên được xét, vì nó có thể phản
ánh sự dao động và biến đổi của khí hậu hoặc các hiện tượng khác. Trước khi hiện
tượng nóng lên toàn cầu được quan tâm chú ý, xu thế biến đổi của các yếu tố khí
tượng chưa được xem xét tới. Tiêu chí cho mục đích thiết kế nên mô tả tính chất
không dừng có thể có này.
5.2.2 Nhiệt độ không khí
5.2.2.1 Đánh giá hiểm họa
Thông qua việc thực hiện chương trình quan trắc tại địa
điểm, số liệu tại địa điểm cụ thể được thu thập và sau đó được so sánh với dữ
liệu thu được từ các trạm khí tượng đã có trong khu vực và nằm ngoài địa điểm.
Bằng cách so sánh như vậy có thể chỉ ra được các trạm có điều kiện khí tượng
tương tự với địa điểm có chuỗi thời gian dài các số liệu quan trắc. Sự tương tự
này cần được thẩm định lại nhờ chương trình quan trắc tại địa điểm.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Bộ dữ liệu hàng giờ của nhiệt độ không khí và điểm sương của môi trường xung quanh địa điểm được thu thập thông qua chương
trình quan trắc bên ngoài địa điểm nên được sử dụng để xác định các phân vị năm
khác nhau của nhiệt độ đo được bằng nhiệt biểu khô và nhiệt biểu ướt vượt quá
giá trị trung bình cho bởi tỷ lệ phần trăm tổng số giờ trong một năm (tức là
8760). Những giá trị phân vị hàng năm này cần thiết cho mục đích thiết kế NMĐHN
(ví dụ, cho việc thiết kế các thiết bị sưởi, thông gió, điều hòa không khí và
thiết bị khử (hút) ẩm). Ước tính khoảng thời gian
nhiệt độ của nhiệt biểu khô và nhiệt biểu ướt duy trì ở mức trên hoặc dưới những
giá trị cho trước (tức là tính tồn lưu) cũng có thể là cần thiết cho các mục
đích thiết kế NMĐHN và cần được tính đến trong phân tích dữ liệu.
CHÚ THÍCH 1: Nhiệt độ của nhiệt biểu ướt hàng giờ có
thể được tính từ số liệu đo đồng thời nhiệt độ bằng nhiệt biểu khô, điểm sương
(hoặc độ ẩm tương đối) và khí áp.
CHÚ THÍCH 2: Ví dụ, 1 % và 2 % giá trị vượt quá trung
bình cho 88 và 175 giờ trong một năm đối với thời gian phân tích số liệu là các
điều kiện thiết kế điển hình.Tương tự như vậy, 98 % và 99 % các giá trị là các thông
số thời tiết lạnh, tương ứng với các yếu tố thời tiết thấp hơn so với điều kiện
thiết kế ở 175 và 88 giờ.
Đối với các NMĐHN sử dụng thiết kế bay hơi để tản nhiệt tối đa (ví dụ như tháp làm
mát thông gió cơ học), bộ dữ liệu về giá trị nhiệt độ môi trường xung quanh của
nhiệt biểu khô và nhiệt biểu ướt hàng giờ thu thập từ chương trình quan trắc bên ngoài địa điểm
nên được sử dụng để xác định các điều kiện khí tượng mô tả:
a) bốc hơi tiềm năng cực đại; và
b) khả năng làm mát bằng nước tối thiểu (ví dụ như khả
năng làm mát của tháp làm mát).
Những điều kiện khí tượng này cần thiết để đảm bảo rằng thiết kế dựa trên hiện
tượng bay hơi để tản nhiệt tối đa có đủ nguồn nước làm mát và nhiệt độ cơ bản
trong thiết kế của các hạng mục trong thiết bị liên quan đến an toàn không bị
vượt quá.
Báo cáo phân tích dùng trong đánh giá hiểm họa nên bao
gồm việc mô tả từng trạm khí tượng và môi trường địa lý của trạm mà số liệu được
sử dụng
5.2.2.2 Giá trị các thông số có được từ việc đánh giá hiểm họa
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
5.2.3 Tốc độ gió
Gió mạnh có thể gây nên bởi một số hiện tượng khí tượng
khác nhau, như các hệ thống khí áp mở rộng, sự hình thành những đám mây vũ tích
(dông và các dòng dáng), dải front các đường tố, bão tuyết, phơn, các dòng khí gây ra do trọng trường (ví dụ
như dòng giáng do địa hình) và các
hiện tượng qui mô địa phương khác.
CHÚ THÍCH: Tùy thuộc vào các nguồn và điều kiện thực tế
của quốc gia hoặc tùy theo quy định, hệ thống khí áp mở rộng cũng có thể được
chọn như các cơn bão “ngoại nhiệt đới”, ấp
thấp “ngoại nhiệt đới” hoặc lốc xoáy “ngoại nhiệt đới”.
5.2.3.1 Đánh giá hiểm họa
Từ chương trình quan trắc tại địa điểm đã chỉ dẫn, số
liệu tại địa điểm cụ thể cần được thu thập và so sánh với số liệu thu được từ
các trạm khí tượng đã có nằm ngoài địa điểm (ví dụ như số liệu tháng hoặc mùa
và phân bố tần suất đồng thời hàng năm của tốc độ gió và hướng gió). Bằng cách
so sánh như vậy, có thể tìm ra các trạm có điều kiện khí tượng tương tự với địa
điểm đặt NMĐHN và chuỗi số liệu lưu trữ dài.
Việc xử lý số liệu để ước lượng thống kê gió cực trị nên được chuẩn hóa dưới dạng
sau:
(a) thống nhất các khoảng thời gian lấy trung bình,
(b) thống nhất về chiều cao và độ gồ ghề, nếu có thể được,
(c) hiệu chỉnh hiệu ứng địa hình địa phương.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Không phải tất cả số liệu về gió đều được thu thập tại cùng một độ
cao so với mặt đất. Độ cao có thể khác nhau giữa các trạm; thậm chí tại cùng một
trạm, số liệu có thể được thu thập ở các độ cao khác nhau trong các giai đoạn
khác nhau. Trong những trường hợp này, các số liệu cần được chuẩn hóa về một độ
cao tiêu chuẩn (thường là 10 m so với mặt đất) sử dụng các profile tốc độ gió với
hệ số điều chỉnh phù hợp với độ gồ ghề của khu vực.
Bộ dữ liệu về các giá trị tốc độ gió thu được từ
chương trình quan trắc bên ngoài địa điểm nên được sử dụng để xác định các giá
trị cực trị hàng năm. Nên sử dụng các phương pháp thống kê để xác định những
giá trị này.
5.2.3.2 Giá trị các thông số có được từ việc đánh giá mối nguy hiểm
Các kết quả đánh giá hiểm họa đối với tốc độ gió cực
trị bao gồm việc xác định tốc độ gió lớn nhất tương ứng với tần suất vượt ngưỡng
hàng năm đã được định nghĩa với khoảng tin cậy phù hợp với mục đích xác định
các thông số thiết kế NMĐHN. Những giá trị cực trị này rất cần thiết cho mục
đích thiết kế NMĐHN (ví dụ như để phân tích cấu trúc tải trọng gió trên các tòa
nhà và công trình).
5.2.4 Lượng mưa (lượng nước tương đương)
5.2.4.1 Đánh giá hiểm họa
Việc đánh giá chế độ mưa của khu vực cần được thực hiện
để đảm bảo chắc chắn địa điểm NMĐHN có khí hậu tương tự với các địa điểm của
các trạm khí tượng xung quanh hay không. Việc đánh giá như vậy nhằm lựa chọn
các trạm khí tượng thích hợp nhất có thể cung cấp chuỗi số liệu dài năm phục vụ
công tác phân tích. Quá trình lựa chọn nên bao gồm (nhưng không hạn chế) các đặc
điểm vi khí tượng, các hệ thống quy mô vừa và ảnh hưởng địa hình. Cũng cần chú
ý đến những dữ liệu bổ sung được thu thập từ chương trình quan trắc tại địa điểm.
Khi đánh giá hiểm họa đối với lượng mưa lớn nhất nên sử
dụng dữ liệu từ những trạm đặt ngoài địa điểm được trang bị thiết bị đo mưa tự
ghi liên tục, như các thiết bị đo ghi theo nguyên lý khối lượng hoặc loại chao
lật. Những số liệu này có thể được bổ sung từ các số liệu radar thời tiết. Bộ dữ
liệu hoàn chỉnh về các giá trị
lượng mưa được
thu thập từ chương trình quan trắc bên ngoài địa điểm nên được sử dụng để xác định
các giá trị cực trị. Nên sử dụng các phương pháp thống kê để xác định những giá
trị cực trị cần thiết cho mục đích thiết kế NMĐHN (ví dụ như cho các hệ thống
thoát nước của địa điểm).
Trong trường hợp không có mạng lưới ghi dữ liệu tự động
trong khu vực lân cận, nhưng tổng lượng mưa trong khoảng thời gian cố định có tại
các trạm quan trắc về điều kiện khí hậu không khác so với địa điểm, khi đó có
thể sử dụng phương pháp tương tự. Bằng phương pháp này, mối quan hệ thống kê
chung được áp dụng để ước lượng sự kiện cực đại sẽ xảy ra trong một khoảng thời
gian trung bình cụ thể, chẳng hạn trong 24 h, từ một tập hợp của các phép đo
liên tiếp được thực hiện trên một khoảng thời gian trung bình khác, ví dụ như 3
h, 6 h hoặc 12 h, khi sử dụng các mối quan hệ lượng mưa - thời gian.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Lịch sử đầy đủ về điều kiện thiếu nước tại địa điểm
cũng như của các vùng lân cận địa điểm phải
được biên soạn. Nên liệt kê tỉ mỉ các loại hiện tượng, vị trí và khoảng thời
gian của các sự kiện này và mô tả các đặc điểm khí tượng thủy văn kèm theo những
sự kiện này. Những danh mục và mô tả này phải đầy đủ để thiết lập lịch sử hạn
hán trong vùng lân cận địa điểm.
5.2.4.2 Giá trị các thông số có được từ việc đánh giá hiểm họa
Các kết quả đánh giá hiểm họa đối với lượng mưa cực đại
bao gồm việc xác định lượng mưa tích lũy lớn nhất qua các khoảng thời gian khác
nhau, thường là các khoảng từ 5 min đến 24 h hoặc hơn. Cho mục đích thiết kế
NMĐHN, tổng lượng mưa cực đại thích hợp đối với mỗi khoảng thời gian nên được đặc
trưng bởi tần suất hàng năm vượt quá ngưỡng cho trước với một khoảng tin cậy
kèm theo.
Trong kết quả đánh giá hiểm họa đối với lượng mưa cực
tiểu cũng nên đưa vào kết quả nhận định tình trạng hạn hán tồi tệ nhất có thể
có một cách hợp lý trong khu vực.
5.3 Hiện tượng khí tượng hiếm
5.3.1 Sét
5.3.1.1 Mô tả chung về hiện tượng
Sét là hiện tượng phóng điện có thể nhìn thấy, được
hình thành phố biến trong các cơn dông. Các tia sét xuất hiện trong thời gian rất
ngắn nhưng có điện áp và cường độ dòng
điện rất lớn. Sét có thể gây ra các thiệt hại trực tiếp hoặc gián tiếp. Điện
trường cực lớn sinh ra trong những hoàn cảnh nhất định được phát ra từ một điểm
và có thể đánh thủng (theo một đường dẫn) mọi vật chất, đặc biệt là đối với chất
cách điện. Khi đường dẫn đã được hình thành, thì cường độ dòng điện phóng ngược
lại có thể từ hàng chục đến hàng trăm kiloampe (kA).
Trong khi chúng ta không thể dự đoán địa điểm và thời
gian xảy ra sét thì những thông tin thống kê có thể cung cấp một số dấu hiệu
cho thấy các khu vực hay bị sét đánh cũng như các mùa và thời gian trong ngày
có thể xảy ra. cần lưu ý rằng sét là một hiện tượng không thể đoán trước với
các đặc trưng biến đổi rất nhiều giữa các tia và rất khó để đo được.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Tần suất sét đánh trong một khoảng thời gian nhất định,
là tích của diện tích thu nhận tương đương của công trình hoặc vật thể (được định nghĩa là hàm của chiều
dài, chiều rộng và chiều cao của công trình) và mật độ tia chớp trong khu vực
trong thời gian nhất định đó tại vị trí xây dựng công trình.
Phương pháp thường dùng để xác định mật độ sét là sử dụng
bản đồ mật độ sét lấy từ mạng lưới phát hiện sét đang hoạt động tại một vài quốc
gia. Nếu không có sẵn bản đồ mật độ sét thì có thể sử dụng phương pháp khác
thay thế để thu được dữ liệu về sự xuất
hiện của sét, ví dụ như sử dụng bản đồ Isokeraunic.
5.3.1.3 Giá trị các thông số có được từ việc đánh giá hiểm họa
Trong đánh giá hiểm họa đối với sét, nên đưa ra kết quả
đánh đánh giá tần suất vượt ngưỡng hàng năm đối với hiện tượng sét đánh vào
NMĐHN.
5.3.2 Xoáy thuận nhiệt đới, bão
5.3.2.1 Mô tả chung về hiện tượng
Xoáy thuận nhiệt đới là khái niệm để chỉ một vùng có
lõi ấm, có khí áp thấp ở tâm và xung quanh là hoàn lưu gió quy mô lớn. Bão là
xoáy thuận nhiệt đới có tốc độ gió cực đại từ 17 m/s trở lên. Bão có thể tạo ra
gió rất mạnh kèm theo mưa lớn cũng như gây nên những đợt sóng cao và triều cường.
5.3.2.2 Đánh giá hiểm họa
Khả năng xảy ra các hiện tượng khí tượng loại này tại
địa điểm cần được đánh giá. Nếu địa điểm bị ảnh hưởng bởi xoáy thuận nhiệt đới
thì cần phải sử dụng kết hợp phương pháp tiếp cận thống kê và phương pháp tiếp
cận tất định để xây dựng tốc độ gió cơ bản trong thiết kế gây bởi xoáy thuận
nhiệt đới. Trong phương pháp tiếp cận thống kê - tất định, cần chú ý xem xét cả gió mạnh gây nên bởi xoáy thuận nhiệt
đới vào thuyết minh các hiểm họa do cực trị gió gây ra. Các thuộc tính thống kê
của xoáy thuận nhiệt đới được kết hợp với các mô hình số tất định để tạo ra hàng ngàn mô phỏng
quĩ đạo bão để xác định phân bố xác suất tốc độ gió cho một vị trí cụ thể.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Hiện tại những đặc điểm chuyển động của xoáy thuận nhiệt
đới và ảnh hưởng của chúng trên đất liền và trên biển đã được hiểu biết khá tốt. Tuy
nhiên, cần chú ý rằng các quan trắc khí tượng tại bề mặt và các lớp khí quyển
trên cao trong xoáy thuận nhiệt đới ở một số vùng vẫn chưa đầy đủ về qui mô
không gian bao phủ cũng như thời gian có số liệu quan trắc. Khi xoáy thuận nhiệt
đới di chuyển trên mặt đất cũng là giai đoạn chúng đã bị suy yếu, chính vì vậy
việc sử dụng một mạng lưới quan trắc trên mặt đất, mặc dù dày đặc, vẫn có thể
không đủ đại diện cho giai đoạn xoáy thuận nhiệt đới mạnh nhất khi chúng di
chuyển qua bờ biển.
Các dữ liệu sau đây liên quan đến các thông số của
xoáy thuận nhiệt đới cần được thu thập:
- Khí áp nhỏ nhất
tại tâm;
- Tốc độ gió lớn nhất;
- Profile gió bề mặt theo phương ngang;
- Hình dạng và kích thước mắt bão;
- Profile nhiệt độ và độ ẩm thẳng đứng bên trong mắt
bão;
- Đặc điểm đỉnh tầng đối lưu phía trên mắt bão;
- Tọa độ bão tại các khoảng thời gian cách đều nhau, tốt
nhất là từng 6 giờ một;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Để xác định các giá trị "cực đoan" của một số
biến cần phải xác định các giá trị "lớn nhất" và "nhỏ nhất"
trong số các dữ liệu đã được quan trắc. Vì quan trắc synop được thực hiện tại
các thời điểm rời rạc, một số giá trị này có thể được xác định khi sử dụng số
liệu quan trắc thời tiết đặc biệt từ các trạm trên mặt đất, trên tàu biển hoặc
thông tin bổ sung lấy tờ bản đồ synop.
Bức tranh tổng thể
phải thu được từ các điều kiện bình thường thịnh hành trong vùng khi xoáy thuận
nhiệt đới xuất hiện. Muốn vậy, các biểu đồ hoặc các phân tích khí hậu mô tả các thông số sau đây phải được khảo
sát:
- Khí áp mực biển;
- Nhiệt độ bề mặt biển;
- Nhiệt độ không khí, độ cao và độ ẩm (điểm sương) ở
các mức khí áp tiêu chuẩn và ở đỉnh tầng đối lưu.
Hầu hết các dữ liệu được sử dụng để ước tính các thông
số của xoáy thuận nhiệt đới có liên quan tới những cơn bão trên các vùng biển thoáng hay nói một cách chính xác,
những phương pháp này chỉ thích hợp cho các địa điểm ven biển hở. Đối với các vị
trí trên đất liền, ảnh hưởng của địa hình và ma sát bề mặt cần được khảo sát và
định lượng hóa. Ngoài ra, kinh nghiệm cho thấy khi cơn bão di chuyển về phía cực
của trái đất thì nói chung chúng bị mất đi đặc điểm nhiệt đới tựa đối xứng và phát
triển theo hướng cấu trúc của hệ thống khí áp tăng cường có sự tương phản nhiệt
rõ ràng. Nên có những điều chỉnh khi xem xét đánh giá địa điểm cho các NMĐHN được
đặt tại vị trí có địa hình cao, so với các tiêu chí được xây dựng cho địa điểm
có địa hình thấp hơn.
Mặc dù đã có nhiều số liệu thu được từ thám sát máy
bay tích lũy trong hơn 20 năm qua, nhưng sự biến động trong khoảng vài giờ của
một vài thông số xoáy thuận nhiệt đới thích hợp vẫn còn ít được biết đến. Những
biến đổi đáng kể của vùng tâm bão từ giờ này sang giờ khác đã được ghi nhận
trong một số xoáy thuận nhiệt đới trưởng
thành và chúng cần được tính đến.
Để xác định khả năng áp dụng của một mô hình cho một địa
điểm NMĐHN cụ thể thì các đặc điểm địa phương, đặc thù của địa điểm và các dữ
liệu lịch sử cần được đánh giá cẩn thận. Bất cứ khi nào có thể, nên tiến hành nghiên cứu để xác định
các đặc tính của xoáy thuận nhiệt đới đã từng di chuyển qua các vùng lân cận.
Toàn bộ thông tin về xoáy thuận nhiệt đới đã từng đi qua khu vực nằm trong phạm
vi bán kính từ 300 km đến 400 km xung quanh địa điểm nên được đưa vào nghiên cứu.
5.3.2.3 Giá trị các thông số có được từ việc đánh giá hiểm họa
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
5.3.3 Lốc xoáy (vòi rồng cạn)
5.3.3.1 Mô tả chung về hiện tượng
Lốc xoáy thông thường được mô tả là cột không khí quay
với tốc độ rất lớn, thường đi kèm với dông. Nếu lốc xoáy tấn công các tòa nhà
hoặc các công trình của NMĐHN thì thiệt hại có thể do một số yếu tố sau:
(a) Hiệu ứng đập của gió có tốc độ rất lớn;
(b) Sự sụt giảm áp suất đột ngột tại tâm của lốc xoáy;
(c) Tác động của vật bị lốc xoáy bốc lên va đập vào
công trình và thiết bị.
Hơn nữa, lốc xoáy có thể gây nên lũ và do đó có thể là
nguyên nhân gián tiếp gây ra thêm một số thiệt hại.
5.3.3.2 Đánh giá hiểm họa
Nên thu thập các thông tin về lốc xoáy trong khoảng thời
gian dài nhất có thể để xác định khả
năng xuất hiện của lốc xoáy trong khu vực.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Nên lựa chọn sơ đồ phân loại cường độ tương tự với sơ
đồ được phát triển bởi Fujita-Pearson hoặc gần đây là thang Fujita mở rộng. Hệ
thống này là sự kết hợp của thang Fujita định mức cho tốc độ gió, thang Pearson
định mức cho chiều dài và chiều rộng đường
đi của lốc xoáy. Có thể phân loại lốc xoáy dựa trên
dạng lốc xoáy và theo mức độ thiệt hại. Bản mô tả và hình ảnh của các khu vực bị
thiệt hại sẽ cung cấp hướng dẫn bổ sung giúp cho việc phân loại lốc xoáy.
Tần suất hàng năm vượt ngưỡng tại đó địa điểm NMĐHN cụ
thể chịu tốc độ gió của lốc xoáy vượt quá một giá trị ấn định nên được đưa ra từ
việc kiểm kê khảo sát lốc xoáy. Khu vực đồng nhất có tâm tại địa điểm phải được
khảo sát để thực hiện việc kiểm kê này. Nói chung, diện tích thích hợp của khu
vực tiến hành kiểm kê là khoảng 100 000 km2.
5.3.3 Giá trị các thông số có được từ việc đánh giá hiểm họa
Các kết quả đánh giá hiểm họa đối với lốc xoáy là tần
suất vượt ngưỡng hàng năm trong đó một địa điểm cụ thể sẽ phải chịu tốc độ gió
của lốc xoáy vượt quá giá trị quy định.
Nên lựa chọn một mô hình lốc xoáy để xác định mức độ
giảm áp dự kiến lớn nhất và tốc độ giảm áp lớn nhất sau khi xác định lốc xoáy
cơ sở trong thiết kế mà nó được định thang bằng tốc độ gió. Các vật bị cuốn đi do lốc xoáy cũng
nên được quy định cụ thể về khối lượng và vận tốc của chúng.
5.3.4 Vòi rồng
5.3.4.1 Mô tả chung về hiện tượng
Vòi rồng thường được chia thành hai loại: vòi rồng
trong điều kiện thời tiết có bão và vòi rồng trong điều kiện thời tiết tốt.
- Vòi rồng trong điều kiện thời tiết có bão là lốc
xoáy hình thành trên mặt nước hoặc di chuyển từ đất liền sang khu vực có mặt nước.
Chúng có đặc điểm giống như lốc xoáy trên đất liền. Chúng xuất hiện trong các
cơn dông mạnh và thường kèm theo gió lớn, nước biển, mưa đá lớn và sấm sét nguy hiểm xuất hiện.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Vòi rồng có thể vận chuyển một lượng lớn nước từ các
nguồn nước gần kề lên đất liền.
5.3.4.2 Đánh giá hiểm họa
Khả năng xuất hiện vòi rồng tại địa điểm cần được đánh
giá. Thông tin về vòi rồng cần được thu thập từ nhiều nguồn thông tin khác
nhau, như tàu thủy, máy bay, người theo dõi thời tiết, bảo vệ bờ biển và công chúng nói chung. Nên xây dựng
một mạng lưới giám sát đầy đủ để báo cáo về sự xuất hiện của hiện tượng này.
5.3.4.3 Giá trị các thông số có được từ việc đánh giá hiểm họa
Nếu trong khu vực có ghi chép lại lịch sử về sự xuất
hiện của vòi rồng, thì việc đánh giá hiểm họa đối với vòi rồng nên được sử dụng
để xác định tần suất vượt ngưỡng hàng năm và phạm vi cường độ qua chúng. Trong quá
trình thiết kế hệ thống thoát nước cũng cần tính đến lượng mưa kèm theo.
5.4 Các hiện tượng khí tượng
khác
5.4.1 Bão bụi và bão cát
5.4.1.1 Mô tả chung về hiện tượng
Bão bụi và bão cát xuất hiện phổ biến ở các vùng khô hạn
và bán khô hạn. Chúng xuất hiện khi lực gió vượt quá giá trị ngưỡng tại đó cát
và bụi trên các bề mặt khô bị gió cuốn đi và bay trong không khí. Thuật ngữ
"bão bụi" thường được sử dụng nhất khi các hạt có kích thước nhỏ bị
cuốn đi một khoảng cách dài, trong khi đó thuật ngữ "bão cát" thường
được sử dụng khi các hạt mịn tạo thành các khối có khả năng che khuất tầm nhìn,
một lượng lớn hạt cát có kích thước lớn hơn bị hút vào không khí và được thổi gần
bề mặt.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Khả năng xảy ra các hiện tượng khí tượng loại này tại địa
điểm nên được đánh giá. Nên ghi lại tần suất xuất hiện của bão bụi và bão cát dựa
trên việc quan sát thời tiết hàng giờ khi tầm nhìn xa là 10 km hoặc ít hơn, tốc
độ gió vượt quá giá trị ngưỡng (ví dụ: 5,8 m/s) và độ ẩm tương đối thấp hơn giá
trị ngưỡng (ví dụ: nhỏ hơn 70 %). Giá trị nồng độ bụi hay cát phù hợp nên được tính
toán dựa trên cơ sở các mối quan hệ thực nghiệm bằng cách sử dụng tầm nhìn xa.
5.4.1.3 Giá trị các thông số có được từ việc đánh giá hiểm họa
Nếu có liên quan đến đánh giá địa điểm, các kết quả
đánh giá hiểm họa đối với bão bụi và bão cát sẽ là tải trọng bụi hoặc cát
(mg.h/m3), khoảng thời gian (h) và khối lượng bụi hoặc cát trung
bình (mg/m3) đối với các trận bão bụi hoặc bão cát lịch sử có lượng
bụi hoặc cát tích phân theo thời gian là lớn nhất.
5.4.2 Mưa đá
5.4.1.2 Mô tả chung về hiện tượng
Mưa đá là một dạng của giáng thủy, bao gồm các cục
băng có kích thước không đều (các viên mưa đá). Những viên mưa đá bao gồm chủ yếu
là nước đá có đường kính đo được từ 5 mm đến 150 mm. Vận tốc ở điểm cuối cùng của
mưa đá (tốc độ của các cục băng tại thời điểm chúng chạm mặt đất) khác nhau tùy
theo đường kính của những viên mưa đá, ma sát với không khí và tốc độ gió. Mưa
đá gây thiệt hại cho ô tô, làm đổ cây cối, có thể là nguyên nhân dẫn đến làm mất nguồn điện bên ngoài
NMĐHN.
5.4.2.2 Đánh giá hiểm họa
Khả năng xảy ra các hiện tượng khí tượng loại này tại
địa điểm nên được đánh giá. Nên thu thập các thông tin như tần suất xảy ra mưa
đá và kích thước lớn nhất của viên mưa đá trong khu vực địa điểm từ các hồ sơ dữ
liệu được lưu giữ tại các cơ quan khí tượng quốc gia.
5.4.2.3 Giá trị các thông số có được từ việc đánh giá hiểm họa
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
6 Đánh giá các hiểm họa thủy văn
6.1 Nước dâng do bão
6.1.1 Khuyến nghị chung
Nước dâng do bão là sự dâng cao bất thường của nước bề
mặt ở những vùng gần bờ biển. Hiện tượng nước dâng do bão gây ra bởi gió lớn kết hợp với sự giảm
áp suất không khí xảy ra ở vùng giáp
ranh với một nhiễu động khí tượng mạnh. Đánh giá hiểm họa thường được chia làm
ba loại: vùng biển, cửa biển/cửa sông và vịnh, ở vùng biển,
sự dâng mực nước thường được biểu diễn bởi đường giản đồ có một
đỉnh nước dâng tương ứng với khi nhiễu động khí tượng đi qua điểm nghiên cứu. Ở vùng cửa biển/cửa
sông hoặc vịnh, chẳng hạn như hồ hoặc
cảng, nhiễu động khí tượng có thể gây ra sự dao động của mặt nước và kết quả sẽ
có nhiều đỉnh nước dâng trên giản đồ. Sự dao động mặt nước diễn ra trong thời
gian dài được gọi là dao động mực nước hồ (hay triều giả ở hồ).
Khi tính toán hiểm họa của nước dâng do bão, mức nước
tham chiếu ví dụ như độ cao nước lớn hoặc
độ cao mực nước hồ được giả định xuất hiện đồng thời với nước dâng do bão.
Khả năng nước dâng do bão tại một điểm được đánh giá
trên cơ sở các thông tin về khí tượng và thủy văn. Nếu một điểm nào đó có thể xảy
ra nước dâng do bão, nên đánh giá sơ bộ về mức độ nước dâng do bão. Nên sử dụng
các nghiên cứu thực tế về bão rất mạnh ở khu vực đó để xác định các đặc trưng sau đây của một cơn
bão chuẩn mà có thể gây ra sóng lớn tại điểm đó với một tần số cho trước vượt
ngưỡng (đủ nhỏ).
- Áp suất cực tiểu tại tâm và áp suất ngoại vi có liên
quan;
- Tốc độ gió cực đại được duy trì liên tục và hướng
gió;
- Vùng sinh sóng gió;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Hướng và tốc độ di chuyển của bão;
- Đường đi của cơn bão và đặc biệt là vị trí mà quỹ đạo
bão gần nhất hoặc đi vào bờ biển.
CHÚ THÍCH: Trong mối quan hệ với gió sinh ra sống,
vùng sinh sóng gió là khoảng cách không có chướng ngại vật lớn nhất mà sóng có
thể di chuyển trên vùng nước với hướng gió không đổi.
6.1.2 Đánh giá hiểm họa
6.1.2.1 Phương pháp xác suất
Nên sử dụng phương pháp xác suất để ước tính cột nước đứng yên khi đánh
giá hiểm họa của nước dâng do bão. Phương pháp này phụ thuộc vào độ tin cậy của
số liệu về nước dâng do bão (đối với sự khác nhau giữa mức nước thủy triều và mức
nước cuối cùng) đã có trong một khoảng thời gian đủ dài và đối với số lượng, các trạm đo thích hợp trong
khu vực đó. Cần phải có số liệu về nước
dâng như các mực nước đứng yên, trong đó không bao gồm ảnh hưởng của sóng tần số cao và thủy triều thiên văn. Đây thường
là trường hợp khi số liệu đo nước dâng ở một khu vực nào đó là có sẵn.
CHÚ THÍCH: sử dụng thuật ngữ “nước đứng yên’ không ngụ
ý là nước yên lặng. Đúng hơn là, thuật ngữ được sử dụng để xác định kết quả
đánh giá mối nguy hiểm trước gió-sóng hoặc là ảnh hưởng mối nguy hiểm
khác đã tổ hợp để đưa ra tham số cơ sở thiết kế cho nhà máy xây dựng tại địa điểm
đề xuất.
Trong trường hợp này, chuỗi thời gian ghi đo dữ liệu từ
một số vị trí cần có sự tương quan với nhau, miễn là cơ sở để phát triển các chuỗi thời gian tổng hợp có hiệu
lực trong một khoảng thời gian dài hơn khoảng thời gian quan sát tại địa
phương. Việc sử dụng các chuỗi thời gian từ các trạm thủy văn đại diện khác sẽ
mở rộng cơ sở phân tích và làm cho bộ dữ liệu trở nên đáng tin cậy hơn.
Bằng cách sử dụng mức nước dâng thực tế như là các thông
số cơ bản, các nhân tố khác nhau liên quan đến cường độ, đường đi và thời gian
xảy ra bão được tính đến không tường minh nếu như các bản ghi có được trong khoảng
thời gian đủ dài. Cách tiếp cận này có nhiều ưu điểm và nên áp dụng ở phạm vi tối
đa có thể. Đặc biệt là áp dụng trong
vùng có khả năng xuất hiện bão ngoại nhiệt đới. Bởi vì bão ngoại nhiệt đới có
thể diễn ra trên phạm vi rộng và phức tạp và rất khó để mô hình hóa theo một dạng
nên cần một dữ liệu đầu vào thích hợp cho phương pháp tất định.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Cũng có thể sử dụng phương pháp tất định để ước tính cột
nước đứng yên cao nhất khi đánh giá hiểm họa của nước dâng do bão. Để tính cột
nước đứng yên cao nhất sử dụng phương pháp tất định, là một tập hợp các cơn bão
giả định lớn nhất được xây dựng dựa trên những thông tin, sự hiểu biết và kết quả đánh giá hiểm họa
khí tượng. Các cơn bão giả thuyết này cần đặt ở những vị trí mà có thể gây ra mực
nước cao nhất tại địa điểm đề xuất. Việc áp dụng phương pháp tất định không phải
là một tiến trình duy nhất mà là sự kết hợp các thuật toán tối đa hóa, chuyển vị và dự đoán trong đó nhà khí tượng
học và thủy văn học cần áp dụng các kiến thức chuyên gia. Thuật toán này có thể
áp dụng cho bão nhiệt đới nhưng sẽ có một số khó khăn khi áp dụng cho bão ngoại
nhiệt đới. Cần phải lựa chọn cơn bão lớn nhất có khả năng xảy ra để đánh giá mực
nước dâng tại các vùng biển cũng như cửa biển và vùng vịnh.
Phân tích bao gồm lựa chọn những tham số bão thích hợp
và các tham số khác có liên quan (ví dụ, vận tốc gió lớn nhất, sự chênh lệch áp suất khí quyển, hệ số ma sát
đáy, hệ số ứng suất gió) để làm dữ liệu đầu vào cho mô hình tính toán nước dâng
một chiều hoặc hai chiều mà có khả năng gây ra ngập lụt lớn nhất. Tất cả các tham
số này nên đánh giá theo phương pháp đánh giá dư và cần phải chứng minh.
Phân tích nước dâng do bão cần đưa ra các kết quả sau
đây:
- Trường gió trên mặt nước và gradien áp suất đối với
vị trí ban đầu của mỗi cơn bão và đối với thời gian ấn định sau đó.
- Tổng kết những tính toán về nước dâng do bão bao gồm
sự gia tăng tổng cộng về chiều sâu mực nước tại mỗi một chiều sâu cắt ngang được
ấn định, bắt đầu từ vùng nước sâu và tiếp tục tới bờ biển tại thời điểm ban đầu
và thời điểm được ấn định sau đó.
- Bảng tóm tắt và giản đồ nước dâng do bão tại các vị trí cụ thể.
6.1.2.3 Vùng biển khơi
Nên lựa chọn mô hình thích hợp đã được thẩm định để tính toán độ cao của nước dâng do
bão. Kinh nghiệm đã chỉ ra rằng mô hình hai chiều thích hợp hơn mô hình một chiều.
Kết quả của phân tích khí tượng là trường gió cực đại và gradien áp suất. Tiếp
theo là xác định nước dâng cực đoan nhất tại vị trí cụ thể dựa vào sự chuyển vị
của trường gió cực đoan này dọc theo các hướng đi khác nhau với vận tốc tối ưu để
tạo ra nước dâng.
Xoáy thuận hoặc bão ngoại nhiệt đới có thể tạo ra mực
nước đỉnh đại diện cho độ cao nước dâng do bão có thể không đặc trưng cho các
điều kiện tới hạn để làm thiết kế. Các xoáy thuận hoặc bão khác có thể sinh ra mức nước cực đại
thấp hơn nhưng lại gây ra mực nước cao trong thời gian dài, hoặc có thể tạo ra
tốc độ gió cao hơn và sóng lớn hơn. Mức độ hoạt động của sóng gắn liền với những
xoáy thuận hoặc cơn bão này có thể tạo ra mực nước làm cơ sở thiết kế cao hơn.
Hơn nữa, đối với những vị trí ở trong vịnh, lốc xoáy hoặc bão tạo ra đỉnh nước
dâng thấp hơn nhưng thời gian dài hơn ở ngoài khơi có thể tạo ra đỉnh nước dâng
cao hơn và các điều kiện sóng nghiêm trọng hơn trong vùng vịnh, dẫn đến mực nước
thiết kế sẽ cao hơn. Vì vậy, lốc xoáy và bão khác với các cơn bão sinh ra đỉnh
nước dâng khác ở ngoài biển khơi nhưng tạo ra ảnh hưởng tương tự như vừa miêu tả
phải được xem xét.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Sử dụng mô hình số để phân tích nước dâng do bão tại cửa
biển, trước tiên là đánh giá nước dâng ở vùng biển khơi và tiếp theo là đánh
giá mức nước dâng xuyên qua cửa biển và trên vịnh hoặc sông rồi di chuyển tới địa
điểm đặt NMĐHN. Sự kết hợp các tham số tạo ra nước dâng lớn nhất ở vùng bờ biển
khơi không có nghĩa là tạo ra mực nước lớn nhất tại địa điểm nằm gần vịnh hay cửa
sông; tuy nhiên, đây sẽ là bộ tham số chuẩn, đặc biệt là hướng đi của bão, tốc
độ tịnh tiến của bão khi di chuyển trên vịnh hay sông gây ra mực nước dâng tại
điểm đó. Để đánh giá sự dịch chuyển của
nước trong vùng vịnh, phân tích thủy động lực tức thời hai chiều là cần thiết để
nắm bắt sự thay đổi độ sâu và phản xạ sóng trong lưu vực. Các tham số được lựa
chọn sử dụng trong mô hình số nên được lựa chọn thận trọng hoặc đánh giá theo
phương pháp đánh giá dư.
Đối với địa điểm nằm trên vịnh với đê chắn sóng thấp
và đầm lầy thấp, sóng tràn qua đê và gây ngập lụt là có thể xảy ra. Nước dâng ở
biển khơi với thời gian dài hơn, nhưng đỉnh sóng thấp hơn có thể sinh ra cột nước
lớn nhất tại địa điểm. Sự xói mòn đê biển và cửa vịnh có thể gây ngập lụt trầm
trọng hơn, do đó cũng phải tính đến khi xem xét nước dâng tại cửa biển.
Kết quả phân tích nước dâng tại cửa biển nên bao gồm lịch
sử thời gian được tính toán về nước dâng ở ngoài khơi có liên quan, xả nước qua
cửa biển, mức nước dâng trong vịnh hoặc sông, sự đóng góp điều chỉnh sóng sinh
ra do gió thổi qua và nếu có thể sự
đóng góp do chảy tràn và lưu lượng sông.
6.1.2.5 Nguồn nước kín
Đối với nước dâng do bão tại nguồn nước kín thường là
do sự dao động của mặt nước (triều giả). Phương pháp miêu tả ở Mục 6.4 trong
tiêu chuẩn này có thể sử dụng để tính toán mối nguy hiểm cho cả nước dâng lên
và triều giả trong các nguồn nước kín.
6.1.3 Giá trị các tham số rút ra từ đánh giá hiểm họa
Kết quả phân tích nước dâng nên bao gồm ước tính độ
cao sóng đứng yên cực đại (theo phương pháp tất định) hoặc là sự phân bố cột nước
đứng yên tương ứng với tần suất vượt ngưỡng hàng năm (theo phương pháp xác suất).
6.2. Gió sinh ra sóng
6.2.1 Miêu tả chung hiện tượng
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
6.2.2 Những khuyến nghị chung
Gió sinh ra sóng phải được đề cập đồng thời với các hiểm
họa của thủy triều, sóng cồn, triều giả và sóng thần bởi vì quá trình là phi
tuyến tính và không thích hợp khi thêm vào các hiệu ứng riêng phần một cách tuyến
tính.
6.2.3 Đánh giá hiểm họa
Để xác định ảnh hưởng của sóng gió gần vị trí nào đó, phổ sóng ở ngoài khơi trước tiên
nên được xác định trên cơ sở trường gió được tạo ra hoặc là nghiên cứu xác suất
về sóng ngoài khơi quan sát được. Tiếp theo là xác định phổ sóng gần bờ, là kết
quả của sự biến đổi sóng ngoài khơi. Các phổ sóng này, cùng với các lực do sóng
sinh ra sau đó được tính về độ an toàn liên quan đến các công trình ở điểm đó.
Phổ sóng được miêu tả qua các số hạng độ cao sóng và chu kỳ sóng, Trong đó độ
cao thường được đặc trưng bởi độ cao sóng có ý nghĩa (Hs) và độ cao sóng 1 % (H1) Độ cao sóng cực đại và chu kỳ sóng cực đại sẽ khác nhau tùy
thuộc vào tốc độ gió, thời gian gió di chuyển và đà sóng.
Khi tính toán hiểm họa của sóng gió, mức nước tham chiếu
ví dụ như độ cao nước lớn hoặc độ cao mực nước hồ nên giả định xuất hiện đồng thời với sự kiện
sóng gió.
Đánh giá ảnh hưởng của sóng gió tại địa điểm nên đánh
giá lực gây ra bởi sóng cũng như khả năng xuất hiện lũ. Ngoài ra, nguy cơ tràn
đê bảo hộ và hoặc/và đê chống lũ nên xem xét trong thiết kế.
6.2.3.1 Trường gió
Để đánh giá sóng gió, trường gió sinh ra sóng nên đặc
trưng bởi tốc độ, hướng gió và thời gian xảy ra.
Nên sử dụng phương pháp xác suất để đánh giá tốc độ
gió. Nên đánh giá vùng sinh sóng gió
và hướng gió phù hợp bằng nghiên cứu khí tượng khu vực và những đặc trưng của
bão để xác định các giá trị bảo toàn tại địa điểm. Nếu xem xét sóng gió cùng với
hiện tượng nước dâng, có thể sử dụng các tham số phù hợp của một cơn bão tương
tự gây ra nước dâng có liên quan đến trường gió để đánh giá về sóng gió và nước
dâng.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Đối với địa điểm đặt tại bờ biển, hiểm họa của sóng gió được xem là chủ yếu liên quan đến ngập
lụt. Trong trường hợp này, cần phải lựa chọn cẩn thận các đặc trưng đầu vào của
cơn bão để tính ảnh hưởng lớn nhất tại địa
điểm.
6.2.3.2 Sự hình thành sóng ngoài khơi
Các đặc trưng của sóng ngoài khơi có thể xác định từ
trường gió đã lựa chọn. Áp dụng phương pháp đơn giản,
ví dụ giả định rằng gió là đẳng hướng. Phương pháp này dựa vào mối quan hệ bán
thực nghiệm và sử dụng dữ liệu đầu vào là vùng sinh gió, tốc độ gió và thời
gian di chuyển. Nếu các giả thiết này không thỏa mãn thì nên áp dụng mô hình
sóng phổ hai chiều, cần phải xem xét các dữ liệu
trong lịch sử (dữ liệu quan sát, dữ liệu dự báo trong quá khứ) và/hoặc dữ liệu
ghi đo được (bao gồm cả dữ liệu đo từ vệ tinh) về sóng cực đoan trong vùng để
đánh giá kết quả phân tích các đặc trưng sóng ở ngoài khơi.
Các đặc trưng của sóng ngoài khơi nên tính theo phương
pháp xác suất nếu đã có dữ liệu đáng tin cậy và bao trùm trong khoảng thời gian
đủ dài. Nên tích hợp các dữ liệu ghi chép (từ phao tiêu thủy triều, từ vệ
tinh,...) về phổ sóng ở vùng gần địa điểm quan tâm vào trong phân tích. Nên sử
dụng phương pháp ngoại suy để tính toán độ cao sóng có ý nghĩa với tần suất xảy
ra hàng năm được chọn. Vì độ cao sóng và chu kỳ sóng có tương quan, một phương
pháp thực nghiệm có thể sử dụng để xác định chu kỳ sóng dựa trên độ cao sóng
cho tần số xuất hiện hàng năm đã được chọn.
6.2.3.3 Sóng gần bờ và sự tác động tới cơ sở hạ tầng
Khi sóng ngoài khơi di chuyển tới khu vực gần bờ sẽ bị
tiêu tán và những ảnh hưởng của sóng sẽ thay đổi khi chúng di chuyển qua vùng
nước sâu, khi sóng gió đi vào đất liền và tương tác với các cấu trúc và các yếu
tố khác và được cung cấp thêm năng lượng từ gió. Sự biến đổi và lan truyền của
sóng ngoài khơi khi đi vào khu vực gần bờ biển cần phải được đánh giá. Đối với
độ sâu bình thường và dọc bờ biển, nên sử dụng mô hình bán thực nghiệm. Tuy
nhiên, đối với địa thế phức tạp hơn, nên sử dụng mô hình số hai chiều hoặc mô
hình vật lý.
Đặc biệt, các hiện tượng sóng liên quan đến đánh giá
này và nên được xem xét bao gồm ma sát, hiệu ứng nước nông, sự khúc xạ, sự nhiễu
xạ, sự phản xạ, sự gián đoạn và sự phục hồi. Tính toán sóng nên bao gồm xem xét
về cấu trúc dòng chảy địa phương, gió địa phương, những thay đổi có thể về độ
sâu gây ra bởi các hoạt động của sóng.
Sóng gần bờ rất quan trọng đối với thiết kế NMĐHN nên
xác định bằng cách so sánh bản ghi độ cao sóng khác nhau của sóng nước sâu,
sóng chuyển tiếp, sóng nước nông và sóng phá vỡ giới hạn và có tính đến biểu đồ
nước đứng yên của nước dâng do bão.
Dữ liệu lịch sử đã quan sát được về sóng cực đoan
trong vùng cần xem xét để kiểm tra kết quả phân tích sóng gần bờ.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
a) Lựa chọn phổ thích hợp của sóng tới, giới hạn trên
của sóng (độ cao sóng, chu kỳ), thời gian sóng tương tác với các cấu trúc và
nghiên cứu độ nhạy của các tham số mô hình số bao gồm hướng gió;
b) Đánh giá sự gia tăng mức nước tĩnh được tính toán
trong trường hợp nước dâng do bão từ ảnh hưởng của điều chỉnh sóng và sóng lừng. Điều chỉnh sóng
bổ sung sẽ tăng thêm độ cao sóng.
Ảnh
hưởng của sóng gió nên xem xét trong quá trình đánh giá hiểm họa bao gồm xem
xét ảnh hưởng của sóng tràn lên các cấu trúc, sóng tràn bờ đê chắn sóng. Những ảnh
hưởng này có thể ước tính bằng cách sử dụng phương pháp bán thực nghiệm; tuy
nhiên, khả năng áp dụng phương pháp nên kiểm
nghiệm với các đặc trưng của địa điểm, bao gồm cả sử dụng mô hình vật lý.
Nên đánh giá tải thủy động lực và tải thủy tĩnh lên các cấu trúc quan trọng
về mặt an toàn. Đối với các điều kiện địa điểm đã cho, toàn bộ phạm vi của độ
cao nước dự kiến xuất hiện nên đánh giá vì có thể sẽ xuất hiện điều kiện tải cực
đại tại thời điểm khác với thời điểm xuất hiện đỉnh lũ cực đại. Cũng nên tính
toán khoảng thời gian sóng tác dụng lên các cấu trúc khi xem xét thiết kế.
6.2.4 Giá trị tham số rút ra từ đánh giá hiểm họa
Kết quả từ phân tích sóng gió bao gồm ước tính mức nước
tăng lên do hoạt động của sóng gió làm tăng mức nước đứng yên. Cần phải ước
tính độ cao sóng tràn vào bờ biển và/hoặc cấu trúc có liên quan như là một phần
của đánh giá hiểm họa. Độ cao sóng này phụ thuộc vào các đặc trưng sóng (ví dụ
tốc độ gió, hướng gió, thời gian di chuyển, độ sâu nước và chiều dài vùng sinh
sóng), độ sâu của đáy biển và địa hình của bờ biển và/hoặc cấu trúc. Các tham số có liên quan (ví dụ động học
sóng) gắn liền với các hiệu ứng động lực học của tương tác giữa sóng gió và cấu
trúc của NMĐHN cần phải xem xét.
6.3 Sóng thần
6.3.1 Miêu tả chung hiện tượng
Sóng thần là một chuỗi các đợt sóng với bước sóng dài (từ
hàng chục đến hàng trăm kilomét) và chu kỳ từ vài phút đến vài chục phút và thậm
chí hàng giờ, được sinh ra bởi sự
biến dạng hoặc rối loạn đáy biển (hoặc là thềm lục địa). Hiện tượng động đất, núi lửa, sạt lở đáy biển và bờ biển,
sạt lở đá, hoặc vách đá có thể sinh ra
sóng thần. Thiên thạch lớn có thể ảnh hưởng tới đại dương và sinh ra sóng thần.
Tất cả các đại dương và bồn biển trên thế giới và thậm chí các vịnh hẹp và các
hồ lớn có thể bị ảnh hưởng bởi sóng thần.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Khi
sóng thần tiến đến
gần vùng bờ biển, chúng sẽ gây ra ảnh hưởng nguy hiểm ở gần hoặc trên bờ biển;
Thật vậy, tốc độ sóng giảm và độ dài sóng ngắn hơn khi độ sâu giảm, sóng thần trở
nên dốc hơn và tăng độ cao sóng khi sóng thần tiến đến
vùng nước nông, ở vùng ven biển, địa hình và độ sâu khu vực ví dụ như bán đảo hoặc là hẻm núi dưới
biển có thể làm tăng thêm độ cao sóng. Độ cao sóng cũng có thể tăng lên khi
sóng thần đi vào vịnh, cửa sông, cảng hoặc vùng
biển như là sóng thần di
chuyển trong đất liền. Một vài đợt sóng có
thể quan sát được; đợt sóng đầu tiên không phải là lớn nhất. Mực nước xuống có
thể được quan sát trước sóng thứ nhất và giữa mỗi một trận ngập lụt liên tiếp.
Sóng thần có thể gây ra ngập lụt trong đất liền, bởi vì bước sóng của sóng thần
lớn và một khối lượng nước khổng lồ sẽ được cuốn lên bờ.
Hiệu ứng nguy hiểm khác của sóng thần có thể là gây ra
dòng chảy mạnh tại bến cảng và vịnh, triều lớn ở cửa sông, vùng ven biển và lực
sóng. Hiện tượng trầm tích bao gồm lắng đọng và xói mòn cũng có thể xảy ra do
các lực đứt lớn tại đáy biển.
Động đất là nguồn thường xuyên nhất gây ra sóng thần.
Sóng thần gây bởi động đất được phát ra do sự biến dạng đáy biển có liên quan đến
động đất dưới đáy biển và động đất ở gần bờ biển với độ sâu nhỏ hơn 50 km, độ lớn
trên 6.5 và cơ chế là hút chìm - trượt. Dịch chuyển đứt gẫy va đập - trượt gây ra sự biến dạng nhỏ đáy biển
theo chiều thẳng đứng và kết quả là sinh ra sóng thần với độ cao sóng thường là
nhỏ hơn.
Sóng thần có thể được sinh ra do hiện tượng núi lửa
khi một khối lượng lớn đất đá, dòng nham thạch (từ 106 đến 109 m3) đổ xuống biển hoặc hồ lớn hoặc là do sự phun trào
của núi lửa dưới đáy biển. Sự phun trào núi lửa hoặc là động đất có thể dẫn đến
sự dịch chuyển lớn các đồi và điều này gây ra sóng thần ở các nguồn nước lân cận.
Do núi lửa có thành thẳng đứng là cấu trúc không ổn định, vì vậy tất cả núi lửa
nằm ở gần mặt nước hoặc dưới nước đều là nguồn tiềm năng sinh ra hiện tượng
trên. Ngoài ra, khảo sát độ sâu cho thấy rằng núi lửa hình khiên trong lòng đại
dương là những nơi có lở đá dưới đại dương. Hiện tượng này có khả năng gây ra
sóng thần trên một vùng lưu vực rộng lớn. Thậm chí sự phun trào của một núi lửa
trung bình tại hòn đảo cũng sinh ra sóng thần, mặc dù nói chung đó là những
phun trào như vụ nổ, lớn hơn mà chúng gây ra các hiệu ứng này trong các trường
hợp cực đoan. Những nguyên nhân thường gặp nhất của sóng thần gây ra do hiện tượng
núi lửa là do dòng nham thạch và sạt lở đất. Cơ chế sinh ra sóng thần nguy hiểm
nhất từ hiện tượng núi lửa là sự sụp đổ miệng núi lửa. Khi miệng núi lửa sụp đổ,
dòng nham thạch ban đầu được phun lên cao hàng trăm mét rồi đột ngột đổ xuống,
gây ra chìm nước đột ngột và cuốn nước xung quanh vào trong hốc đó. Sự phun
trào núi lửa Santorini (Hy Lạp) ở vùng biển Aegean (1650 BC) và núi lửa
Krakatoa tại Indonesia (AD 1883) đã tạo ra sự sụp đổ mà nó hình thành sóng thần
trên diện rộng gây ảnh hưởng đến bờ biển và bến cảng ở rất xa so với vị trí núi lửa.
Hiện tượng sạt lở đất ở đáy biển và bờ biển (gần mặt đất
hoặc là gần nước ngầm), lở đá và vách núi cũng có thể gây
ra sóng thần, mà một vài trong số chúng gây
ra sóng thần quy mô địa phương thảm khốc hơn do sóng thần gây bởi động đất. Các
hiện tượng sạt lở này có thể là do hoặc không phải do động đất hoặc là hoạt động
của núi lửa.
Sóng thần cũng có thể phân loại thành sóng thần “gần”
hoặc sóng thần “xa”. Sóng thần được gọi là “gần” khi nó chỉ ảnh hưởng ở khu vực gần với nguồn sinh
ra sóng thần. Sóng thần “gần” có thể được sinh ra từ động đất, hoạt động núi lửa và sạt lở đất đá. Sóng thần “gần”
gây bởi động đất là loại thường gặp nhất của sóng thần tàn phá. Ít gặp hơn
nhưng ảnh hưởng đến một vùng rộng hơn là sóng thần đại dương hay là sóng thần
“xa”, chúng tới từ những nơi cách rất xa so với nguồn
sinh ra sóng thần sau khi đi qua vùng biển hoặc là bồn chũng biển. Sự sạt lở đất khổng lồ và sụp đổ núi lửa như những hiện
tượng gắn liền với các sườn của các núi lửa hoạt động, có thể gây ra sóng thần
“xa”.
6.3.2 Khuyến nghị chung
6.3.2.1 Đánh giá ban đầu
Với đánh giá ban đầu, đề nghị nên có tiêu chí sàng lọc
đơn giản (xem Hình 1). Việc sử dụng thông tin đã được công bố, các bằng chứng của
các trận sóng thần xảy ra trong quá khứ nên xem xét trong vùng địa điểm. Với mục
đích này, thông tin thu thập được cần
được tổ chức và lập thành danh sách các đợt
sóng thần cụ thể mà có liên quan đến địa điểm. Không cần phải khảo sát thêm và
có những nghiên cứu cần thiết để phân tích mối nguy hiểm do
sóng thần gây ra tại địa điểm, nếu địa điểm nằm trong khu vực mà không có bằng
chứng xuất hiện sóng thần trong quá khứ và là vị trí mà:
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Nằm ở độ cao hơn 50 m so với mực nước trung bình.
Trong mọi trường hợp, thể tích nước làm mát cần thiết
phải được đảm bảo trong trường hợp xuất hiện sóng thần, bởi vì khả năng mức nước
thấp sẽ ảnh hưởng đến hệ thống lấy nước đầu vào trong vài giờ.
Trong tất cả các tình huống khác so với các tình huống
đã miêu tả trong phần trên, đánh giá mối nguy hiểm của sóng thần một cách chi
tiết nên thực hiện như hướng dẫn dưới đây.
6.3.2.2 Đánh giá chi tiết
Bước đầu tiên thực hiện đánh giá chi tiết mối nguy hiểm
của sóng thần tại địa điểm là biên soạn bảng
liệt kê các trận sóng thần cụ thể và/hoặc cơ sở dữ liệu có liên quan đến địa điểm.
Bước đầu tiên này nên được thực hiện cùng với việc thu thập số liệu địa vật lý,
địa chất và địa chấn (xem 4.3.2) để
xác lập xem có hay không các trận sóng thần đã xảy ra trong quá khứ hoặc trong thời
gian gần đây trong vùng địa điểm và nếu có mô tả đặc trưng các trận sóng thần
này (xem Hình 1).
Nên khảo sát tiềm năng của cả hai loại sóng thần “gần”
và “xa”. Sự xuất hiện động đất ở dưới đáy biển và gần bờ biển hoặc hoạt động núi lửa
trong vùng địa điểm (khoảng 1000 km) là dấu hiệu cho thấy tiềm năng xuất hiện
sóng thần “gần” tại địa điểm. Ngoài ra, khi cho rằng một trận sóng thần lớn có
thể được sinh ra ở vùng xa thì nên thực hiện đánh giá tiềm năng sinh ra sóng thần
“xa” từ tất cả các nguồn động đất hiện có và xung quanh vùng biển cụ thể hoặc là
vịnh hẹp nơi mà NMĐHN sẽ xây dựng.
Nếu các nghiên cứu cụ thể và khảo sát đã được thực hiện
và biên soạn thành cơ sở dữ liệu địa chất, địa vật lý, địa chấn và sóng thần chứng
minh rằng không có khả năng xuất hiện sóng thần tại địa điểm thì không cần đánh
giá thêm về hiểm họa sóng thần.
Tuy nhiên, nếu tiềm năng xuất hiện sóng thần tại địa
điểm được giả định và chứng minh như ở bước hai thì phân tích hiểm họa sóng thần
nên thực hiện bao gồm mô phỏng số
chi tiết để đưa ra dữ liệu sóng thần làm
cơ sở thiết kế.
Để đánh giá mối nguy hiểm sóng thần cho tất cả các loại
nguồn gây ra sóng thần, mô phỏng số nên bao gồm nguồn sinh ra sóng thần, lan
truyền sóng và diễn biến sóng thần ở trên bờ biển; phù hợp với các điều kiện
ban đầu, các điều kiện biên và dữ liệu về địa hình, độ sâu.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Giai đoạn đánh giá ban đầu: Khảo sát
thông tin đã công bố

Hình 1 - Sơ đồ đánh giá ban đầu
và đánh giá chi tiết ngập lụt gây ra từ sóng thần
Lý thuyết về sóng dài hoặc sóng nước nông, được tính từ
đáy biển tới mặt nước có thể áp dụng cho sự lan truyền sóng, bao gồm cả nước
dâng và nước rút. Số hạng ma sát phi tuyến và ma sát đáy có thể bỏ qua khi xem
xét vùng nước sâu (trên 100 m). Đối với các nguồn qui mô nhỏ hoặc là khoảng cách lan truyền
sóng dài, hiệu ứng phân tán với tần số
sóng có thể cần được xem xét.
Độ phân giải và độ chính xác của dữ liệu về địa hình
và độ sâu gần bờ có ảnh hưởng quan trọng đến kết quả tính toán. Kích thước lưới
theo không gian nên đủ nhỏ để
biểu diễn đúng
cho hình thái dưới nước và bờ biển ở gần địa điểm. Kích thước lưới theo không
gian, bước thời gian và biên kết nối giữa các mắt lưới có kích thước khác nhau
nên được ấn định để tạo sự ổn định cho việc tính toán số.
Cần phải tính đến mức thủy triều lên và xuống trong mô
phỏng số.
6.3.3 Đánh giá hiểm họa
6.3.3.1 Phương pháp đánh giá hiểm họa đối với trường hợp động đất gây ra sóng thần
Đối với động đất gây ra sóng thần, nên sử dụng phương
pháp phân tích tất định hoặc phương pháp phân tích xác suất hoặc tốt nhất là cả
hai phương pháp để đánh giá hiểm họa sóng thần. Việc lựa chọn cách tiếp cận sẽ phụ thuộc vào một số các nhân tố.
Dù sử dụng phương pháp nào, nên đánh giá định lượng tính bất định trong kết quả
đánh giá hiểm họa sóng thần.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Thu thập dữ liệu tại địa điểm có xu hướng làm giảm sai
số. Tuy nhiên, một phần dữ liệu sử dụng gián tiếp trong đánh giá mối nguy hiểm
sóng thần có thể không phải là dữ liệu tại địa điểm; ví dụ, dữ liệu địa chấn được
sử dụng để đặc trưng cho cơ chế sinh sóng thần nguồn xa. Vì vậy, có thể có một phần sai số không thể giảm
được đối với các khảo sát riêng cho địa điểm.
6.3.3.2 Phương pháp tất định
Mô phỏng số có thể thực hiện bằng
cách sử dụng cách tiếp cận tất định dựa theo các bước sau đây:
a) Xây dựng và đánh giá mô hình mô phỏng số dựa vào hồ sơ ghi chép về sóng thần
quan sát được trong quá khứ:
- Lựa chọn trận sóng thần lớn nhất đã xảy ra trong lịch
sử ở phạm vi trường gần và trường xa mà có ảnh hưởng đến vùng địa điểm;
- Xác định và đánh giá độ cao sóng leo tương ứng trong
vùng bờ biển gần với địa điểm;
- Xác định các tham số đứt gãy địa chấn tương ứng;
- Xây dựng và thực hiện mô hình số cho tất cả các trận
sóng thần xảy ra trong lịch sử có tính đến nguồn sinh sóng thần, sự lan truyền sóng, các quá trình ven bờ
biển;
- So sánh kết quả mô phỏng với độ cao sóng leo đã xảy ra trong lịch sử;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
b) Áp dụng mô hình số để ước tính nguồn địa chấn và
tham số đứt gẫy liên quan để đánh giá hiểm họa sóng thần:
- Lựa chọn nguồn sóng thần trong trường cục bộ và trường
xa; xác định các tham số đứt gẫy liên quan và phạm vi biến đổi trong trường cục
bộ phù hợp với đánh giá mối nguy hiểm địa chấn;
- Thực hiện tính toán số đối với tất cả các nguồn địa
chấn có thể để kiểm tra khoảng biến đổi độ
cao của sóng thần;
- Lựa chọn mực nước lớn nhất và nhỏ nhất.
Cần phải tính đến sai số dưới đây; sai số ngẫu nhiên
và chủ quan khi cần thiết:
a) Sai số đối với nguồn gây ra sóng thần;
b) Sai số trong tính toán số;
c) Sai số trong dữ liệu địa hình dưới đáy biển và đường
bờ biển.
Rất khó để
ước tính định lượng cho từng loại sai số này. Và cũng rất khó để lựa chọn một nguồn gây ra sóng thần
trong số các trận sóng thần tiềm năng được xem xét. Vì vậy phải thực hiện một số
lượng lớn các tính toán trong các điều kiện khác nhau với một dải tham số hợp
lý (nghiên cứu giới hạn) để tính sai số.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Bước cuối cùng, cần kiểm tra rằng độ cao sóng leo lớn
nhất và nhỏ nhất nằm trong giới hạn khi so sánh với độ cao sóng leo mà chúng
tương ứng với các trận sóng thần đã xảy ra trong lịch sử và trận sóng thần tiềm
năng.
6.3.3.3 Phương pháp xác suất
Kết quả của đánh giá hiểm họa sóng thần theo phương
pháp xác suất thường được hiển thị như là tần suất vượt
ngưỡng hàng năm trung bình (hoặc trung vị) của giá trị độ cao nước dâng thông
qua cách tiếp cận cây logic. Phương pháp tiếp cận chung để đánh giá hiểm họa
sóng thần gây ra nên hướng theo cách làm giảm dần sai số ở các giai đoạn khác
nhau của quá trình đánh giá để nhận được kết quả tin cậy. Cách thức thực hiện
hiệu quả nhất để đạt được điều này là thu thập đầy đủ dữ liệu tin cậy và các dữ
liệu có liên quan. Nói chung nên cân đối giữa thời gian và nỗ lực cần thiết để
biên tập cơ sở dữ liệu một cách chi tiết, đáng tin cậy với mức độ sai số mà các
chuyên gia phân tích muốn có trong mỗi bước của quá trình đánh giá.
6.3.3.4 Phương pháp đánh giá hiểm họa của hiện tượng sạt lở đất gây
ra sóng thần
Sạt lở đất gây ra sóng thần phải được mô tả bằng cách
sử dụng tham số thể tích lớn nhất, được xác định từ bản đồ đáy biển hoặc là xác
định tuổi địa chất của trận sạt lở
đất lịch sử. Phân tích tính ổn định độ dốc nên thực hiện để xác định tiềm năng xảy ra sóng thần do
các nguồn sạt lở đất thích hợp.
Do dữ liệu không đầy đủ để sử dụng phương pháp phân
tích xác suất thường xảy ra trong nhiều vùng, nên phương pháp tất định thường được sử dụng để đánh giá hiểm
họa sóng thần gây bởi sạt lở đất. Các tham số chính bao gồm kích thước và hình
dạng của sạt lở đất; tốc độ và lưu biến của khối lượng đất đá đổ xuống biển. Mô hình số nên kết hợp giữa sạt lở
đất với chuyển động của nước.
Do kích thước nguồn nhỏ hơn kích thước nguồn sóng thần
gây bởi động đất, ảnh hưởng của sóng thần do sạt lở đất gây ra bị giới hạn gần nguồn và
nói chung không quan sát thấy ở khoảng
cách lớn hơn vài chục km cách nguồn.
6.3.4 Các giá trị của tham số rút ra từ đánh giá hiểm họa
Kết quả đánh giá hiểm họa đối với ngập lụt do sóng thần
nên là các giá trị biên của mức nước cao nhất tại bờ biển, độ cao sóng leo, phạm
vi ngập lụt, mức nước tối đa tại địa điểm, mức nước tối thiểu tại bờ biển và thời gian mực nước hạ
thấp dưới mức nước cấp vào NMĐHN. Một vài
tham số chỉ ra trong Hình 2.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Hình 2 - Các tham số rút ra từ
đánh giá mối nguy hiểm của sóng thần
6.4 Dao động mực nước hồ
(Triều giả)
6.4.1 Khuyến nghị chung
Dao động tự do của nguồn nước (triều giả) có thể bị
kích thích bởi hiện tượng nước dâng do bão, thay đổi tốc độ gió, thay đổi trường
áp suất không khí, tương tác sóng, sóng thần do động đất, sạt lở đất đá đỗ xuống nước, phun trào núi
lửa dưới nước và các sự nhiễu động khác (ví dụ sự dịch chuyển địa chấn cục bộ
mà có thể gây ra cú đánh cực lớn toàn lưu vực). Dao động cưỡng bức của nguồn nước
có thể sinh ra bởi sự tác dụng liên tục lực kích thích tới cột nước tại cửa vịnh
hay kênh hoặc là từ gió chu kỳ tại mặt nước. Một ví dụ đơn giản là chuỗi sóng
chu kỳ dài lan truyền tới cửa vịnh, gây ra sự dao động với chu kỳ tương tự. Nếu
chu kỳ sóng tới phù hợp với một trong các kiểu dao động cục bộ trong Vịnh, sự
khuyếch đại cộng hưởng của độ cao sóng dọc theo bờ
biển có thể xuất hiện và điều này cũng có thể sinh ra các dòng nước lớn. Chuyển
động dao động mực nước trong một số nguồn nước có thể lên đến 1 m.
6.4.2 Đánh giá hiểm họa
Đối với ngập lụt gây ra bởi triều giả, cần phải sử dụng phương pháp phân tích
hiểm họa tất định hoặc xác suất hoặc tốt nhất là cả hai phương pháp để đánh giá
nguy cơ ngập lụt.
Mô hình dao động phụ thuộc vào dạng hình học bề mặt, độ
sâu của nguồn nước và biên độ dao động phụ thuộc vào độ lớn lực kích thích và lực
ma sát. Với điều kiện là tác động cưỡng bức được nhận biết đúng thì có thể tính
toán các mode và biên độ dao động. Trừ trường hợp dạng hình học và độ sâu rất
đơn giản, tính toán phải được thực
hiện bằng mô hình số cho lưu vực.
Khi địa điểm NMĐHN nằm ở bờ sông hoặc là gần vinh, khả
năng có triều giả nên được xem xét. Việc xem
xét này được thực hiện thông qua phân tích mức nước quan sát được, từ dữ liệu
thu thập ở thang thời gian thích hợp, tiêu biểu là thang đơn vị phút.
Khả năng sinh ra triều giả và gây ra ngập lụt tại địa
điểm nên được đánh giá đồng thời cùng với nguy cơ ngập lụt do hiện tượng khác
gây ra. Đặc biệt, sóng cồn, các hiện tượng gió lớn và sóng thần phải được khảo
sát đối với tiềm năng của chúng kích thích triều giả gần địa điểm. Tuy nhiên, đánh giá
triều giả không chỉ giới hạn cho những hiện tượng được thảo luận trong hướng dẫn
này. Trong thực tế các hiện tượng có cường độ nhỏ hơn có thể tạo ra sự dao động
mực nước lớn hơn. Đánh giá triều giả vì thế nên được thực hiện cả đánh giá
riêng và đánh giá trong sự liên hệ với các đánh giá hiểm họa khác gây ra ngập lụt
tại đa điểm.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Phương pháp thống kê nên được thực hiện để đánh giá mối
nguy hiểm của hiện tượng này nếu các phép đo theo thời gian sự dao động mực nước
xung quanh lưu vực là có. Xử lý thống kê dữ liệu chỉ có thể được thực hiện nếu
tất cả các tác động cưỡng bức có tiềm năng trong lưu vực được đại diện đầy đủ
trong bộ dữ liệu.
6.4.3 Giá trị các tham số rút ra từ đánh giá hiểm họa
Cần phải đánh giá độ cao nước leo lớn nhất và nhỏ nhất
rút ra từ đánh giá hiểm họa của triều giả.
6.5 Hiện tượng lượng mưa cực
lớn
6.5.1 Khuyến nghị chung
Mối nguy hiểm tiềm năng đối với địa điểm do ngập lụt
gây bởi mưa phải được rút ra từ mô hình khí tượng và thủy văn.
6.5.2 Đánh giá hiểm họa
6.5.2.1 Lượng mưa lớn cục bộ và hệ thống thoát nước tại địa điểm
Cường độ lượng mưa tại địa điểm nên được sử dụng làm
cơ sở để tính toán cho hệ thống thoát
nước tại địa điểm. Hệ thống thoát nước nên được thiết kế để điều tiết mưa lớn kết
hợp với tuyết hoặc mưa đá, nếu có. Hồ nước có thể được tạc ra tại địa điểm
trong thời gian xảy ra lượng mưa lớn cục bộ vì khả năng rút nước không phù hợp
và vì vậy khi thiết kế hệ thống thoát nước cần phải tính đến khả năng này và sự
biến đổi mực nước ngầm trong vùng lân cận địa điểm.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Mặt khác, cần phải nghiên cứu ảnh hưởng của lượng mưa
cục bộ lên các mái nhà và các công trình quan trọng về mặt an toàn. Hệ thống
thoát nước trên các mái nhà thường được thiết kế để xả lượng mưa có cường độ nhỏ
hơn lượng mưa làm cơ sở thiết kế. Hệ thống thoát nước mái nhà có thể bị tắc nghẽn
do lá cây hoặc các mảnh vỡ, các tòa nhà có lan can có thể chứa một lượng nước
nhiều đến mức vượt quá tải trọng thiết kế cho mái nhà. Một vài phương pháp có
thể sử dụng để chống lại hiện tượng này bằng cách bỏ đi các lan can ở một hoặc
nhiều bên của tòa nhà, hạn chế độ cao của lan
can sao cho lượng nước dư sẽ được chảy tràn.
6.5.2.2 Tính toán thoát nước lưu vực
6.5.2.2.1 Phương pháp xác suất
Phương pháp xác suất có thể phù hợp để ước lượng sự
thoát nước ra sông cực đại gần địa điểm xây dựng NMĐHN. Phương pháp này đòi hỏi
chuỗi thời gian ghi đo dài (điển hình lớn hơn 50 năm) các số liệu thoát nước được
quan trắc từ các thiết bị đo đặt gần
địa điểm và đặt trên sông quan tâm. Bộ dữ liệu này phải được tăng lên bởi các dữ
liệu về lũ trong quá khứ như các dấu mốc nước cao mà chúng có thể được quy đổi
về mức thoát nước cực đại gần đúng. Khi mức nước lịch sử đã được chuyển đổi
thành mức thoát nước sông, cần chú ý những thay đổi về hình thái của bãi bồi
ven sông. Bộ dữ liệu về thoát nước cũng có thể tăng thêm bằng cách chuyển đổi
các dữ liệu quan sát được từ thiết bị ghi đo mức thoát nước ở thượng nguồn hoặc
hạ nguồn dọc trên cùng một con sông. Vì cần xây dựng bộ dữ liệu đồng nhất, nên
những thay đổi do con người gây ra tại lưu vực sông, ví dụ xây dựng đập, hoặc là
thay đổi quy trình hoạt động của bể chứa đối với con đập hiện có trong thời
gian ghi đo dữ liệu nên được đánh giá cẩn thận trong khi xử lý dữ liệu thoát nước.
Dự báo những thay đổi, bao gồm xây dựng các con đập trong tương lai hoặc là kế hoạch thay đổi quy trình hoạt
động của các bể chứa nước cũng là những yếu tố cần đưa vào trong phân tích.
Khi bộ dữ liệu đã được xây dựng, tần suất vượt ngưỡng
hàng năm của các trận lũ lớn (ví dụ tần suất là 10-3/năm hoặc nhỏ hơn) nên tính thông qua
phép ngoại suy bằng cách sử dụng mô hình xác suất. Để cho phép có độ không đảm
bảo trong việc lấy mẫu, giá trị thoát nước được lựa chọn thường là giới hạn
trên của mức độ tin cậy chứ không phải là giá trị trung bình đối với khoảng thời
gian lặp lại đã chọn. Yếu tố an toàn thường được đưa vào bù trừ cho một vài sai
số. Nên bổ sung yếu tố an toàn vào mực thoát nước sông hơn là bổ sung nó vào độ
cao mực nước tĩnh.
6.5.2.2.2 Phương pháp tất định
Phương pháp tất định có thể sử dụng để tính mức thoát
nước sông cực đại gần địa điểm. Theo phương pháp này, mối nguy hiểm của ngập lụt được suy ra từ lượng
mưa làm cơ sở thiết kế. Các điều kiện sinh ra dòng chảy được đánh giá dựa trên
phân tích các đặc trưng khí tượng, thủy văn và địa lý tự nhiên tại lưu vực.
Phương pháp đường đơn vị thủy văn có thể sử dụng để tính toán mối nguy hiểm ngập
lụt từ lượng mưa làm cơ sở thiết kế. Nên đánh giá lượng mưa làm cơ sở thiết kế
và các điều kiện sinh ra dòng chảy dựa trên tập hợp các trận bão chứ không dựa
vào một cơn bão riêng lẻ, bằng cách sử dụng sự hoán vị cơn bão, làm tăng cực đại
cơn bão và đánh giá những hệ số trong đó các nhà thủy văn và khí tượng cùng áp
dụng trong đánh giá của họ. Trong công việc này, sự đóng góp của các chuyên gia
có kinh nghiệm nên được chú ý để giảm sai số tới mức có thể chấp nhận được.
Các vị trí của cơn bão trên lưu vực dòng chảy nên được
lựa chọn theo cách để dòng chảy lớn nhất (theo thể
tích hoặc mực nước cực đại) có thể xảy ra.
Trong lưu vực nơi mà tuyết tan có thể đóng góp vào mối nguy cơ ngập lụt, một sự chú
ý đặc biệt phải được tính đến đối với sự tăng cực đại của sự kiện tổ hợp mưa cộng
với tuyết tan. Để tính đóng góp cực đại của tuyết tan vào ngập lụt trong lưu vực,
tích lũy tuyết theo mùa nên được cực đại hóa và chuỗi tan chảy nên được lựa chọn.
Hiện tượng lượng mưa làm cơ sở thiết kế thích hợp với thời gian trong năm nên
được bổ sung vào hiện tượng tan chảy tuyết cực đại và tan chảy tuyết bổ sung do
mưa (nếu trời mưa) nên được bao gồm.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Khi giả định hai cơn bão xảy ra liên tiếp, lượng nước
thất thoát của cơn bão thứ hai nên được xem là nhỏ hơn bởi vì độ bão hòa của đất
tăng lên dẫn đến khả năng thẩm thấu giảm. Trong nhiều trường hợp sự thất thoát
này được bỏ qua, đó là cách tiếp cận bảo toàn nhất.
Đường thủy văn đơn vị là biểu đồ dòng chảy nhận được từ
một đơn vị lượng mưa phân bố đều trên lưu vực trong một đơn vị thời gian. Một
cách điển hình, đường thủy văn đơn vị có thể biểu diễn đường thủy văn do độ
tăng lượng mưa vượt thấm 10 mm trong một giờ. Gia số thời gian có thể giảm hoặc tăng tùy thuộc vào
phạm vi của khu vực thoát nước. Thực tế, nên xây dựng đường thủy văn đơn vị từ
mô hình mưa không đồng nhất. Nơi mà yếu tố địa hình núi ổn định nhưng hình dạng
không đồng nhất, đường thủy văn đơn vị nên được xây dựng theo mô hình điển hình
cho các cơn bão lớn xảy ra trong lưu vực. Đường thủy văn đơn vị nên suy ra từ
các giản đồ ngập lụt được ghi nhận và lượng mưa liên quan của chúng.
Cần chú ý đến một thực tế là đường thủy văn đơn vị suy
ra từ các con lũ nhỏ có thể không đại diện cho những đặc trưng ngập lụt đúng của
lưu vực khi áp dụng nó cho các cơn bão lớn. Điều này là do giả thiết tuyến tính
sử dụng trong mô hình đường thủy văn đơn vị không phải lúc nào cũng đúng vì hệ
số thủy lực của lưu vực tăng khi dòng chảy tăng tới một giới hạn xác định và
cũng bởi vì những thay đổi có thể xuất hiện trong kênh chảy từ trong lưu vực
ven sông ra ngoài lưu vực. Hiệu ứng phi tuyến tính thường làm tăng mức thoát nước
cực đại và giảm thời gian đối với đỉnh của
đường thủy văn đơn vị. Cũng có thể ước tính hiệu ứng phi tuyến tính của các trận
lũ lớn bằng cách so sánh đường thủy văn đơn vị rút ra từ các trận lũ với quy mô
khác nhau. Nếu dữ liệu quan sát tại hiện trường từ các trận lũ lớn không đủ, đường thủy văn đơn vị điều chỉnh ở mức độ 5 % đến 20 % Mức thoát nước cực đại và/hoặc giảm thời
gian đối với đỉnh lũ 33 % có thể thấy trong tài liệu kỹ thuật.
6.5.2.3 Phân tuyến lũ tại địa điểm
Nên sử dụng mô hình số để tính mực nước, vận tốc nước
và các tham số khác trong thời gian xảy ra lũ tại khu vực gần địa điểm. Nên xây
dựng lịch sử thời gian lũ và bản đồ ngập lụt chính xác. Phạm vi của mô hình số
nên bao gồm khoảng cách đủ xa từ địa điểm tới thượng nguồn và hạ nguồn sao cho
các điều kiện biên ấn định bởi người mô phỏng không ảnh hưởng đến những kết quả
đánh giá tại địa điểm NMĐHN.
Mô hình số mà nó thường là mô hình một chiều hoặc hai
chiều, nên mô tả chính xác sự biến thiên địa hình và độ nhám ở cả sông và đồng
bằng ngập lũ. Lưới mô hình cơ bản nên được chi tiết hơn gần địa điểm NMĐHN. Mô
hình cần phải xử lý được sự gián đoạn đột ngột trong giai đoạn lũ và khi xả lũ
gây bởi đê, đập tràn, cầu và các công trình khác nằm ở gần địa điểm.
Hiệu ứng nước xoáy ngược có thể tạo ra bởi cửa sông,
công trình thủy lực và các hệ thống khác nên được tính đến trong điều kiện biên
dưới hạ lưu. Người lập mô hình nên đánh giá điều kiện biên dưới hạ lưu không
gây ảnh hưởng đến kết quả tại địa điểm và mọi sai số đã được tính đến bằng các
giả thiết bảo toàn.
Mô hình số cần phải được hiệu chỉnh và đánh giá đối với
các bộ dữ liệu sẵn có về lũ đã được quan sát và ghi đo. Các bộ dữ liệu này nên
bao gồm các giá trị đo về mức thoát nước, mực nước và nếu có thể là vận tốc nước.
Với các con lũ có tốc độ thay đổi mực nước tương đối
nhỏ, phân lũ trạng thái dừng có thể là phù hợp (ví dụ phân lũ chảy vào bể chứa lớn). Tuy nhiên, nên áp dụng
phân dòng chảy không dừng khi sự thay đổi mực nước theo thời gian là đáng kể hoặc
khi cần thiết mô tả chính xác hơn mực
nước lũ cực đại (ví dụ phân lũ qua sông chảy tự do).
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Dòng nước cơ bản trong một con sông nên là đại diện của
mùa trong năm và của khoảng thời gian mà lũ tham chiếu có thể xảy ra. Vì dòng
nước cơ bản thường chiếm tỷ lệ
nhỏ của mức thoát nước sông trong
các trận lũ, nên đánh giá dòng nước cơ bản nói chung là đủ đối với hầu hết những
đánh giá hiểm họa.
Lũ lụt có thể làm cho dòng sông bị uốn khúc. Tiềm năng
uốn khúc ra xa địa điểm NMĐHN có thể gây ra mất nước làm mát liên quan đến an
toàn. Tương tự như vậy, uốn khúc tới địa điểm có thể gây ra ngập lụt tại địa điểm.
Nên phân tích sự ổn định kênh sông gần địa điểm trong đánh giá mối nguy hiểm và
nếu cần thiết nên thực hiện thiết kế thích hợp và các biện pháp vận hành để bảo vệ bờ sông.
6.5.2.4 Lực thủy động, trầm tích và xói mòn
Ngoài việc gây ra ngập lụt, lũ có thể gây ra ảnh hưởng
đến an toàn của NMĐHN do làm xói mòn chân các hàng rào bảo vệ lũ, do tác động
trực tiếp lực thủy động lên các công trình bị ngập, do trầm tích và/hoặc tắc
nghẽn các hệ thống có liên quan đến
an toàn tại địa điểm
hoặc do xói mòn và làm mất ổn định các công trình.
Mô hình số/mô hình vật lý ba chiều chi tiết có thể là cần
thiết để ước tính vận tốc nước và các
lực thủy động tác dụng lên các công trình bị ngập nước. Nếu sự gia tăng các hệ
số nhám được xem xét để đánh giá dư mực nước, việc điều chỉnh các hệ số nhám này để nhận được
các giá trị đánh giá dư vận tốc nước cần phải được tính đến.
Nên kết hợp mô hình vật lý và mô hình số để nghiên cứu
hiện tượng trầm tích, xói mòn và xối nước.
6.5.3 Giá trị các thông số có được từ việc đánh giá hiểm họa
Các kết quả đánh giá hiểm họa dựa trên phân tích ngập
lụt do mưa gây ra cần bao gồm:
a) Tốc độ dòng chảy: tốc độ dòng chảy cực đại và quá
trình thoát nước theo thời gian trong toàn bộ hiện tượng lũ (đường thủy văn do
lũ) tại địa điểm xây dựng NMĐHN.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
c) Vận tốc nước: Vận tốc nước trung bình gần địa điểm.
Trong nhiều trường hợp, ước tính vận tốc nước tại những phần thiết diện cụ thể
là cần thiết để phân tích ảnh hưởng thủy động lên các công trình và để đánh giá
sự bồi đắp trầm tích và khả năng xói mòn tại gần địa điểm.
d) Sự ổn định của lòng sông và bờ sông: nguy cơ thay đổi
dòng chảy, sự bồi đắp và sự xói mòn của lòng sông và bờ sông trong suốt thời
gian xảy ra lũ và sau khi lũ đi qua.
e) Sự vận chuyển trầm tích: tải trầm tích dạng huyền
phù và đáy sông.
6.6 Lũ do xả đột ngột nước
tích tụ
6.6.1 Giới thiệu chung
Nước có thể được tích tụ bởi các công trình nhân tạo
ví dụ như đập ngăn nước, bể chứa hoặc do các nguyên nhân tự nhiên như giam băng hay các mảnh vụn tụ lại như
con đập làm tắc nghẽn dòng sông. Sự phá hủy các kết cấu giữ nước như thế có thể
gây ra lũ trong khu vực có địa điểm xây dựng. Sự phá hủy có thể xảy ra do địa
chấn, thủy văn hoặc các nguyên nhân khác. Các sự kiện khởi đầu có thể gồm:
- Sự xuống cấp của bê tông hoặc của hệ thống bảo vệ kè
theo thời gian;
- Lún quá mức hoặc không đều dẫn đến đứt gẫy;
- Sự xuống cấp của hệ thống ống dẫn và rỉ thấm;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Sự rò rỉ
xuyên qua nền móng vành kè hoặc qua “ống dẫn” do động vật
đào hang hoặc do rễ cây;
- Sai hỏng chức năng ví dụ như sai hỏng cửa đập;
- Sự tích tụ phù sa hoặc các mảnh vỡ về phía thượng
nguồn;
- Sạt lở đất đá xuống hồ chứa;
- Xói mòn bên trong các con đập đất.
Lỗi vận hành của các công trình đập có thể gây ra lũ
mà đôi khi có thể vượt quá lũ do thiên nhiên gây ra. Liên quan đến vấn đề này,
nên tiến hành kiểm tra khảo sát các con đập ở thượng nguồn và đặc biệt là những
con đập có cửa điều khiển dòng chảy lớn để đánh giá lưu lượng xả nước có thể và
để khảo sát khả năng có thao tác sai.
Phá hủy thủy văn của các công trình điều tiết nước có
thể xảy ra do công suất đầu ra không đủ (cửa tràn đối với đập) so với lưu lượng
nước chảy vào hồ chứa, bất kể là do thao tác sai hoặc là do lưu lượng
nước chảy vào hồ vượt quá giá trị thiết kế. Điều này làm tăng mực nước và tràn
đập. Với con đập đất hay đập đá, hiện tượng tràn đập có thể dẫn đến phá hủy đập.
Sự khác nhau quan trọng giữa lũ do mưa và lũ do phá hủy
công trình điều tiết nước là ở chỗ phá hủy công trình điều tiết nước có thể tạo
ra sóng có độ cao lớn di chuyển về phía hạ nguồn với một tốc độ lớn mà nó có thể
đến địa điểm NMĐHN chỉ trong thời gian cảnh báo ngắn. Hiệu ứng động đáng kể có
thể tác động lên địa điểm NMĐHN và các công trình xây dựng trên đó.
6.6.2 Đánh giá hiểm họa
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các con đập trên các nhánh sông phụ, dù là các nhánh
sông phụ ở dưới hạ lưu của địa điểm, nên tại địa điểm.
Không nên chắc chắn là mực nước lũ tại địa điểm giảm
do con đập ở hạ nguồn bị phá hủy trừ khi có thể chứng minh chắc chắn rằng đập sẽ
bị phá hủy.
Có thể thừa nhận con đập bị phá hủy trừ khi khả năng tồn
tại của nó với tần suất vượt ngưỡng yêu cầu được chứng minh bằng phương pháp
tính toán kỹ thuật. Bởi vì nói chung là rất khó, rất tốn kém và mất nhiều thời gian
để chứng minh sự an toàn và ổn định của
công trình điều tiết nước, nên sẽ hiệu quả hơn khi thực hiện phân tích dư đơn
giản bằng cách giả định công trình này bị phá hủy. Nếu kết quả của phân tích dư
và đơn giản hóa này không chỉ ra ảnh hưởng của ngập lụt tại địa điểm NMĐHN, thì
các phân tích chi tiết trong đó cho rằng phá hủy một phần hoặc chứng minh sự tồn
tại của công trình là không cần thiết.
Nên khảo sát khả năng phá hủy hai hay nhiều con đập do
cùng một sự kiện gây ra, ví dụ như lũ hoặc động đất. Mặt khác con đập an toàn
trong sự kiện lũ làm cơ sở thiết kế nhưng lại có thể bị phá hủy do con đập ở thượng
nguồn bị phá. Nguy cơ phá hủy tất cả các con đập nằm dọc đường dẫn tới địa điểm
nên được đánh giá trừ khi có thể chứng minh sự tồn tại của chúng. Lỗi vận hành
của hai hay nhiều con đập xảy ra cùng một lúc cũng nên được tính đến, nếu có lư
do hợp lư cho thấy các lỗi vận hành này có thể liên quan tới nhau. Nếu một vải
con đập nằm ở các nhánh sông khác nhau, khả năng vật lý và, ở những nơi thích hợp,
tần suất và hậu quả của sóng lũ tới địa điểm NMĐHN đồng thời nên được tính đến.
6.6.2.1 Phân tích sự ổn định và tồn tại của các công trình điều tiết nước
Phá hủy các con đập do các trận mưa khác với các trận
mưa gây ngập lụt địa phương cực đại tại địa điểm NMĐHN. Nên nghiên cứu một số
trận mưa, bao gồm các trận mưa trong đó các đường đẳng lượng mưa được tập trung ở lưu vực
vùng thượng nguồn của con đập (tức là lũ cực đại tại con đập) hoặc trong đó các
đường đẳng lượng mưa được tập trung trong toàn lưu vực trên địa điểm (tức là ngập
lụt cực đại tại địa điểm).
Khả năng phá hủy thủy lực các con đập và đê nên được
đánh giá bằng mức nước đánh giá dư sau công trình và khoảng thời gian duy trì mức
nước được tính đến này.
Phân tích địa chấn đối với các công trình điều tiết nước
đòi hỏi tính đến tải động lực. Sóng do
địa chấn gây ra và những ảnh hưởng của nó lên các thành phần của đập nên được
phân tích với việc quan tâm tới khả năng phá hủy đập do nước tràn. Phá hủy cửa
đập đột ngột do sự dịch chuyển địa chấn cũng nên được khảo sát.
Phân tích chi tiết về sự ổn định công trình đòi hỏi phải
có hồ sơ chính xác về điều kiện của công trình. Nên sử dụng các báo cáo thanh
tra của các cơ quan kỹ thuật quốc gia để phân tích sự ổn định. Các dữ liệu bổ
sung nên bao gồm các kết quả kiểm tra sức bền của khu vực nền móng công trình,
dữ liệu khảo sát hiện trường và báo cáo kiểm tra từ các tổ chức khác, cùng với
các dữ liệu thích hợp được thu thập bởi các thiết bị lắp đặt tại vị trí công
trình. Đối với mỗi công trình, nên thực hiện đánh giá địa chấn hợp lý.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
6.6.2.2 Các điều kiện xảy ra phá hủy và phân lũ hạ nguồn
Nếu không thể chứng minh sự tồn tại của các công trình điều
tiết nước, hình thức và mức độ phá hủy công trình nên được giả định bằng cách sử dụng đánh
giá dư dựa trên cơ sở phân tích độ ổn
định. Trong giả định hình thức phá hủy, cần
xem xét đến vật liệu xây dựng (ví dụ bê tông hay đất) và địa hình ngay phía hạ nguồn của công trình.
Các con đập làm bằng bê tông nên được phân tích đối với
hiện tượng lật úp và trượt; hình thức và mức độ phá hủy có thể nên được đánh
giá cùng với các vị trí tới hạn nhất và lượng đá, mảnh vỡ có thể sinh ra. Từ
phân tích này, khi áp dụng đối với đoạn phá hủy giả định, có khả năng ước tính với
độ chính xác hợp lý dòng chảy và mối quan hệ giữa độ cao mực nước và lưu lượng.
Đối với con đập hình vòng cung có khả năng sẽ bị phá hủy
tức thời và có thể bị phá hủy hoàn toàn. Do đó, nếu không thể chứng minh sự tồn tại của con đập, thì nên giả
định con đập hình vòng cung này bị phá hủy hoàn toàn và tức thời mà không cần sự
tích tụ những mảnh vỡ và tảng đá.
Phá hủy thường xảy ra từ từ hơn đối với con đập làm bằng
đất hoặc đá so với những con đập bằng bê tông. Thời gian để phá hủy toàn bộ
công trình có thể từ vài chục phút đến vài giờ. Trong tính toán sự xói mòn để
xác định thời gian, tốc độ và kích thước lỗ hổng phá hủy, khe hoặc ống dẫn ban đầu được hình thành do sự xói
mòn bên trong có thể được giả định. Những tính toán này nên đưa ra đường thủy
văn nước thoát ra. Nếu không thể xác định được khoảng thời gian phá hủy đập,
nên giả định dư là con đập sẽ bị phá hủy tức thời.
Hầu hết các quy trình được miêu tả ở các phần trên có
thể áp dụng cho sự phá hủy gây ra bởi địa chấn.
Tuy nhiên, các mô hình phá hủy cho phá hủy thủy văn các con đập được giả thiết
là nước tràn đập trong khi đó đối với phá hủy do địa chấn điều này không nhất
thiết xảy ra. Hình thức và mức độ phá hủy nên được giả định bằng cách sử dụng
đánh giá dư dựa trên phạm vi có thể khi phân tích độ ổn định.
Lượng nước được tích trữ bởi công trình điều tiết nước
tại thời điểm bị phá hủy nên được xem là lớn nhất có thể. Tuy nhiên, đối với
phá hủy do địa chấn thì mực nước thông thường có thể được xem xét, vì động đất
và lũ là những sự kiện không liên quan.
Tốc độ xả nước từ các công trình bị phá hủy phụ thuộc
vào mức độ và hình thức phá hủy, mối quan hệ giữa dòng chảy và nước thượng nguồn
được sinh ra, hình học và thể tích của hồ chứa. Nên sử dụng phương pháp dòng chảy
không dừng để đánh giá dòng chảy hạ nguồn của sóng lũ do phá hủy.
6.6.2.3 Sự tắc nghẽn do mảnh vụn trôi nổi
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
(a) Hiệu ứng nước bị ngăn lại do các mảnh vỡ;
(b) Lực tác dụng lên đập, hệ thống lấy nước, cửa đập
và thiết bị điều khiển do các mảnh vỡ gây
ra;
(c) Tắc nghẽn rào chắn, bơm, van và thiết bị điều khiển
do các mảnh vỡ.
Ngoài việc gây ra tắc nghẽn tại hệ thống lấy nước và ảnh
hưởng đến mực nước lũ, các mảnh vỡ có thể gây
ra lực động và lực tĩnh lên các công trình. Nên kiểm tra dữ liệu để thiết lập
tiềm năng của các mảng nổi lớn như các khối gỗ và tắc nghẽn bởi các khối gỗ.
Các công trình nên được thiết kế để có đủ khả năng chống đỡ tải trọng công
trình từ các mảnh vỡ, khắc phục được sự mất nước làm mát do tắc nghẽn tại hệ thống
lấy nước có liên quan đến an toàn
và ngập lụt do hiệu ứng nước ngược gây ra bởi sự tắc nghẽn của các mảnh vỡ.
6.6.3 Giá trị các thông số có được từ việc đánh giá hiểm họa
Các tham số nên được tính toán như một phần của phân
tích lũ gồm:
a) Lưu lượng đỉnh và quá trình thoát lũ theo thời gian
của toàn bộ một trận lũ (đường thủy văn ngập lụt) tại địa điểm NMĐHN;
b) Mực nước đỉnh lũ và quá trình thời gian của độ cao
mặt nước tại địa điểm;
c) Tắc nghẽn hệ thống lấy nước do các mảnh vụn;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
6.7 Triều cửa sông và sóng
cơ học
6.7.1 Giới thiệu chung
Sóng triều cửa sông là hiện tượng thủy lực mà trong đó
triều dâng (ngập lụt) gây ra sóng trong sông. Những sóng này di chuyển về phía
thượng nguồn và ngược với hướng thông thường của dòng sông. Sóng thủy lực có
nguồn gốc cơ học có thể tạo thành trong kênh dẫn hoặc hồ chứa ở gần đập hoặc công
trình điều tiết thoát nước.
Sóng được tạo ra khi việc thoát nước qua công trình bị
dừng lại đột ngột (ví dụ do sự loại bỏ tải của nhà máy thủy điện). Cũng như
trên, sóng di chuyển về phía thượng nguồn qua kênh dẫn hoặc hồ chứa nước và ngược
với hướng thông thường của dòng sông. Độ cao sóng có thể được khuyếch đại bởi
giảm thiết diện kênh dẫn và sự phản xạ từ các công trình và đường bờ.
Nên Kiểm tra dữ liệu quan trắc về độ cao bề mặt nước để
xác định bằng chứng về triều cửa sông hoặc sóng có nguồn gốc cơ học. Trong trường
hợp sóng cơ học, tất cả các con đập và công trình điều tiết thoát nước trong
vùng lân cận địa điểm NMĐHN nên được xem xét về tiềm năng sinh ra các sóng có
thể ảnh hưởng đến địa điểm.
6.7.2 Phân tích hiểm họa
Nếu có khả năng triều cửa sông hoặc sóng có độ cao
đáng kể xuất hiện gần địa điểm, hoặc
từ các công trình điều tiết nước tới địa điểm NMĐHN dọc theo hồ chứa hoặc các
kênh lấy nước/xả nước, thì một số kịch bản tất định nên được xem xét trong việc
đánh giá hiểm họa của lũ. Sự kiện khởi phát triều cửa sông hoặc sóng cơ học nên
được nhận biết rõ ràng trong đánh giá. Việc phân tích cũng nên tính đến dải mực
nước trong hồ chứa hoặc trong kênh và dải thoát nước ra sông hoặc kênh.
Đối với địa điểm có độ sâu phức tạp, mô hình số (một
chiều, hai chiều hoặc ba chiều) hoặc mô hình vật lý nên được sử dụng để xác định
sự lan truyền sóng từ các công trình điều tiết nước tới địa điểm NMĐHN.
6.7.3 Giá trị các thông số có được từ việc đánh giá hiểm họa
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
6.8 Mực nước ngầm cao
6.8.1 Giới thiệu chung
Sự tăng cao mực nước ngầm trong thành tạo địa chất lớp
trên cùng thường là hệ quả từ hiện tượng khác. Đối với các địa điểm NMĐHN đặt gần
sông hoặc bờ biển, sự dâng lên của mực nước ngầm thường có liên quan đến sự gia
tăng mực nước của các nguồn nước mặt mà chúng được kết nối thủy lực tới tầng chứa
nước ngầm. Các hiện tượng bổ sung như mưa lớn hoặc là sự phá hủy công trình điều
tiết nước cũng có thể làm gia tăng mực nước ngầm. Sự biến đổi mực nước ngầm phụ
thuộc vào tính chất của đất và đá, chủ yếu là độ thấm và độ xốp của môi trường
địa chất. Phạm vi biến đổi hàng năm của mực nước ngầm có thể biến đổi từ vài cm
đến vài chục mét do sự đa dạng rộng của môi trường địa chất.
6.8.2 Phân tích hiểm họa
Tần suất mực nước ngầm cao đáng kể có thể được xác định trên cơ sở nghiên cứu địa
chất thủy văn tại địa điểm NMĐHN để chỉ rõ chế độ và phạm vi của các nguồn nước
ngầm. Nên đánh giá hiểm họa hoặc là bằng phân tích tất định hoặc bằng phân tích
thống kê hiểm họa. Trong việc sử dụng cách tiếp cận thống kê cần chú ý đặc biệt
đến độ tin cậy và tính đầy đủ của số liệu đo áp suất, ở những nơi các phép đo mực
nước ngầm tại địa điểm bị hạn chế về số lượng hoặc khoảng thời gian đo đạc, nên
xem xét mở rộng dữ liệu thống kê bằng cách lập tương quan mực nước nước ngầm
quan trắc với, ví dụ, dữ liệu của các giếng nước được quan trắc trong thời gian
dài hơn và các dữ liệu khí tượng.
Nên xem xét sử dụng mô hình hóa địa chất thủy văn.
Trong một số trường hợp nhất định, các điều kiện địa chất thủy văn làm cho nó
có thể xác định theo cách đơn giản và đánh giá dư các giới hạn vật lý của mực nước ngầm, mà
không cần dùng đến các mô hình phức tạp. Các mô hình thường được hiệu chỉnh
theo cách sử dụng mực nước quan trắc, mà chúng
có thể không đại diện cho các mực nước có thể đạt được trong sự kiện cực đoan.
Vì vậy, cần thiết phải đánh giá tính dư của các giả thiết của mô hình liên quan
đến các thành tạo phía trên tầng nước.
Tất cả các nguyên nhân có thể làm tăng mực nước ngầm
liên quan tới địa điểm nên được nhận biết bằng cách xem xét tất cả các hiện tượng
thủy văn được mô tả trong tiêu chuẩn này. Các nguyên nhân chiếm ưu thế nên được
nhận biết trong phân tích và mực nước ngầm cực đoan nên được rút ra từ các điều
kiện cực đoan liên quan tới nguồn. Trong quá trình này, các giả định dư nên được
xem xét để chỉ định các điều kiện ban đầu (ví dụ mực nước ban đầu).
6.8.3 Các giá trị thông số có được từ việc đánh giá hiểm họa
Các mực nước ngầm cực đoan tại địa điểm và áp suất
tương ứng lên các công trình nên được mô tả.
Nếu mực nước ngầm được dự tính dâng lên đến bề mặt đất hoặc mực của hệ thống
thoát nước ngầm thì tốc độ thoát nước dư tính nên được mô tả cùng với các cách
trong đó nước được xả ra. Nhu cầu tiềm năng cho việc thoát nước nên được nhận
biết ở những nơi thích hợp.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
7.1 Các thông số thiết kế cơ
bản về khí tượng
Đối với các hiểm họa khí tượng khác nhau đã xét ở Điều
5, các giá trị cực đoan được xác định bằng các phương pháp đánh giá đã nêu
trong Điều 3. Thông thường, mỗi hiểm họa về khí tượng được xác định một cách
riêng biệt ngay cả khi chúng xảy ra đồng thời, trừ khi chúng tương quan với
nhau và làm tăng mức độ nguy hiểm nhất định (ví dụ: lượng mưa đá và gió). Các
thông số thiết kế cơ bản cho mỗi hiểm họa khí tượng là như sau:
- Nhiệt độ lớn nhất đo bằng nhiệt biểu khô và nhiệt độ
đo bằng nhiệt biểu ướt trùng nhau.
- Nhiệt độ lớn nhất đo bằng nhiệt biểu ướt không trùng
với nhiệt độ đo bằng nhiệt biểu khô
- Nhiệt độ nhỏ nhất đo bằng nhiệt biểu khô.
- Tốc độ gió lớn nhất.
- Lượng lượng mưa cực đại lớn nhất.
- Lượng lượng mưa cực tiểu nhỏ nhất.
- Tần suất vượt ngưỡng hàng năm đối với sét đánh.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
• Tốc độ gió lớn nhất;
• Profile vận tốc gió theo chiều thẳng đứng;
• Khoảng thời gian cường độ gió trên mức quy định;
• Vật thể cuốn theo gió.
- Lốc xoáy:
• Tốc độ gió lớn nhất;
• Khoảng thời gian cường độ gió trên mức quy định;
• Khí áp giảm tối đa;
• Tốc độ giảm khí áp tối đa;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các hiện tượng khí tượng như lượng mưa chi phối các hiện
tượng thủy văn như dòng chảy phải được đề cập tới trong một mối liên kết. Giá
trị của các thông số thiết kế cơ bản cho các mục tiêu thiết kế được rút ra từ xử
lý thống kê, hoặc kết hợp chúng với tần số vượt hàng năm (hoặc chu kỳ lặp lại)
đã cho đối với mỗi hiểm họa khác nhau
liên quan tới tác động tiềm năng của chúng đến NMĐHN.
Nếu thích hợp với địa điểm, các thông số thiết kế cơ bản
đối với hiện tượng khí tượng đặc thù của địa điểm khác - như bão bụi và bão
cát, mưa đá, mưa băng và các hiện tượng liên quan tới băng giá - mà đã được xác
định và đánh giá làm cơ sở thiết kế NMĐHN, là như sau:
- Bão bụi và bão cát:
• Tổng tải trọng bụi hoặc cát (mg-h/m3);
• Khoảng thời gian (h);
• Tải trọng trung bình (mg/m3).
- Mưa đá:
• Kích thước hạt mưa đá lớn nhất trong lịch sử;
• Vận tốc chạm đất đồng thời của các hạt mưa đá.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Để thu được mức lũ thiết kế cơ
bản cho địa điểm NMĐHN, cần xem xét các sự kiện tổ hợp cũng như các sự kiện đơn
lẻ (nước dâng do bão, sóng, sóng thần, dao động mực nước, mưa cực trị, xả đột
ngột nước từ khu chứa tự nhiên hay nhân tạo) và đối với chúng các hiểm họa tương
ứng phải được đánh giá theo Điều 6. Lũ thiết kế cơ bản cho một địa điểm nhất định
có thể xảy ra không do một sự kiện cực trị,
mà do sự xảy ra đồng thời của nhiều sự kiện nghiêm trọng, mỗi trong số chúng tự
bản thân nó lại ít nghiêm trọng hơn sự kiện cực
trị kết quả đã được kết hợp. Sự phụ thuộc lẫn nhau hay độc lập của các hiện tượng
tiềm năng gây lũ phải được xem xét trong mối quan hệ với những đặc điểm đặc thù
của địa điểm. Ngoài ra phải thực hiện phân tích độ nhạy phù hợp để đảm bảo rằng lũ thiết kế cơ bản kết hợp
tất cả những điều chưa chắc chắn liên quan đến các sự kiện tự nhiên. Trong nhiều
tổ hợp các sự kiện gây lũ thì sự khác biệt giữa các sự kiện phụ thuộc và sự kiện
độc lập là không rõ nét. Ví dụ, các sự kiện khí tượng nối tiếp nhau chỉ phụ thuộc một phần hoặc độc lập hoàn toàn với sự kiện khác. Ngược lại, các sự
kiện địa chấn và gió là hoàn toàn độc lập.
Tiêu chuẩn để đánh giá xác suất đồng thời có hai hay
nhiều sự kiện đòi hỏi phải phát triển mô hình các hiện tượng được quan tâm như
các quá trình ngẫu nhiên. Nếu các quá trình có thể coi là độc lập, thì sự xuất
hiện đồng thời của chúng phải được biểu diễn bằng tích của các hàm xác suất
riêng lẻ của chúng. Tổ hợp các sự kiện phải được phân tích cẩn thận có tính đến
bản chất ngẫu nhiên và phi tuyến của các hiện tượng liên quan, cũng như các yêu
cầu pháp quy hoặc hướng dẫn áp dụng cho các trường hợp như thế. Hơn nữa, các điều
kiện xung quanh liên quan tới sự kiện gây lũ quan trọng, hoặc liên quan đến mỗi
sự kiện của tổ hợp đã chọn cũng phải được tính đến.
Các tổ hợp phù hợp của các sự kiện
cực trị đối với sóng gió và mực nước tham chiếu phải được xét đến bằng cách khảo
sát:
a) Các sự kiện cực trị (như nước dâng do bão, lũ sông,
địa chấn và sóng thần);
b) Sóng gió liên quan hoặc không liên quan tới các sự
kiện cực trị;
c) Mực nước tham chiếu (bao gồm cả thủy triều nếu nó
đáng kể).
Phải đánh
giá tần suất vượt ngưỡng hàng năm đối với mỗi tổ hợp.
Mặc dù dữ liệu có thể không đủ để đánh giá tần suất vượt
hàng năm đối với một mức độ nghiêm trọng nhất định của tác động vượt quá trong
mỗi sự kiện riêng biệt hoặc trong tổ hợp các sự kiện, cần đánh giá các giá trị
bảo toàn hợp lý cho các đại lượng sau:
a) Tần suất vượt ngưỡng hàng năm đối với từng sự kiện
riêng biệt;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Trong đánh giá này, cần thận trọng khi đánh giá khoảng
thời gian xuất hiện mức độ nghiêm trọng đối với mỗi sự kiện.
Để đánh giá ảnh hưởng của sự kiện tổ hợp, đối với mỗi
sự kiện độc lập phải tính đến khả năng liên quan tới thời gian có mức độ nghiêm
trọng của sự kiện nếu chúng xảy ra trong điều kiện mà những
ảnh hưởng của chúng được tích lũy. Số lượng các sự kiện độc lập hoặc sự kiện tổ
hợp ít phụ thuộc và mức độ nghiêm trọng của mỗi sự kiện càng lớn, thì tần suất
vượt hàng năm của sự kiện tổ hợp càng nhỏ. Tần suất vượt hàng năm của sự kiện tổ
hợp lớn hơn tích tần suất vượt hàng năm của từng sự kiện.
Các sự kiện tổ hợp cần được lựa chọn phù hợp, không chỉ
tính đến tần suất xuất hiện hàng năm nhận được mà còn tính đến ảnh hưởng liên
quan của mỗi sự kiện thứ cấp đối với độ nghiêm trọng nhận được của sự kiện lũ.
Ví dụ, đối với các địa điểm cửa sông, tổ hợp cần xét phải bao gồm cả điều kiện
biển và sông cũng như lượng mưa cục bộ. Nếu hệ quả của việc kết hợp này là đáng
kể và tần suất vượt hàng năm tổ hợp từ các kết quả không quá thấp, thì chúng cần
được tính đến. Cần sử dụng nhiều đánh giá kỹ
thuật để lựa chọn những tổ hợp thích hợp.
Cần thiết lập giá trị chấp nhận được đối với giới hạn
của tần số vượt hàng năm cho tổ hợp các sự kiện cực trị phù hợp với những yêu cầu
điều hành và các mức nước tham chiếu liên quan được tính đến khi dẫn ra cơ sở
thiết kế chống lũ cho NMĐHN. Các tổ hợp cụ thể của các sự kiện có thể không cần
xem xét với điều kiện sau:
- Sự kết hợp giả định không phát sinh ảnh hưởng kết hợp
đối với bộ phận nào của NMĐHN.
Tần suất vượt ngưỡng hàng năm của sự kiện tổ hợp bằng hoặc nhỏ
hơn giới hạn đã thiết lập cho tần suất vượt hàng năm được chấp nhận.
- Sự kết hợp không thể xảy ra về mặt vật lý.
Phải xem xét hoạt động của sóng gió cùng với toàn bộ
diễn biến của lũ lụt. Trong nước dâng hoặc sóng lắc, sóng gió là sự kiện phụ
thuộc và phải xét đến các sóng phát sinh do bão tạo ra nước dâng. Trong một số
vùng duyên hải, sóng gió có thể tạo nên ngập
lụt chủ yếu và thành phần nước dâng liên quan có thể ít quan trọng hơn. Trong
các trường hợp này, cần đặc biệt chú trọng đánh giá sự ảnh hưởng của sóng gió
và lựa chọn các tổ hợp phù hợp của các sự kiện gây ra ngập lụt. Sóng thần và lũ
sông thường là các sự kiện độc lập và có thể bỏ qua việc xảy ra đồng thời sóng
gió lớn; chỉ các sóng gió có thời gian lặp ngắn hơn phải xem xét trong tổ hợp.
Nói chung phải chú ý đến khả năng gió
là biến phụ thuộc kèm theo lũ sông cao hoặc các điều kiện khí
tượng sinh ra lũ.
Sóng lắc có thể bị kích thích bởi các nguyên nhân như
thăng giáng áp suất khí quyển, nước dâng do bão, sự thay đổi tốc độ gió và nền
sóng ngẫu nhiên. Vì vậy sự kích thích sóng lắc có thể phụ thuộc vào các sự kiện
gây ra lũ khác được thảo luận trong tiêu chuẩn này. Yếu tố này phải được tính đến
trong lựa chọn các tổ hợp phù hợp đối với địa điểm NMĐHN, nơi mà sóng lắc có thể
quan trọng.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Độ cao mực nước tĩnh lớn nhất mà mặt nước đạt được
trong một sự kiện thủy văn đơn lẻ hay một tổ hợp các sự kiện thủy văn, kể cả sự
tăng mực nước tĩnh do hiện tượng sóng gió đồng thời, tạo nên các thông số lũ lụt
thiết kế cơ bản. Khi cần đối với sóng thần hay sóng gió, độ cao sóng leo liên
quan và vùng ngập lụt theo chiều ngang phải được xét đến trong các thông số thiết
kế cơ bản đối với hiện tượng đó. Các thông số lũ thiết kế cơ bản cũng phải bao
gồm các thông số này, liên quan đến việc xác định những ảnh hưởng động lực sóng
có liên quan (ví dụ như động học sóng).
Độ cao mực nước thấp nhất mà mặt nước đạt được trong một
sự kiện thủy văn đơn lẻ hay tổ hợp nhiều sự kiện thủy văn như sóng thần, sóng lắc
và khoảng thời gian rút nước liên quan, lập nên các thông số mức nước thấp thiết
kế cơ bản.
Các điều kiện phát sinh từ mực nước ngầm kém nhất tại
địa điểm lập nên các thông số nước ngầm thiết kế cơ bản.
8 Các biện pháp bảo vệ địa điểm
8.1 Tổng quan
Thiết kế NMĐHN phải bao gồm các xem xét sau:
- Đánh giá các tham số thiết kế cho các công trình xây
dựng để bảo vệ khu vực địa điểm, như đê và đê bối;
- Đánh giá ảnh hưởng của việc nâng cao khu vực địa điểm
lên trên mức nước lũ tính toán;
- Lựa chọn các vật liệu tốt nhất có thể để chống lại
các tác động ăn mòn của nước;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Nghiên cứu sự tương hỗ có thể giữa các công trình bảo vệ
và các công trình của NMĐHN;
- Đánh giá các quy trình vận hành và các cơ chế giảm
thiểu để giảm tối đa các hiểm họa khí tượng và thủy văn.
Vì lý do thực tế, hầu hết các biện pháp bảo vệ địa điểm
đối phó với các hiểm họa lũ lụt nhiều
hơn là đối với hiểm họa mức nước thấp hoặc hiểm họa khí tượng.
Cả rào chắn bên ngoài và các đảo
NMĐHN tự nhiên hay nhân tạo phải được coi là các đặc điểm quan trọng đến sự an
toàn và phải được thiết kế, xây dựng và duy trì một cách tương ứng.
Phải thực hiện nghiên cứu các biện pháp bảo vệ khi có
hiểu biết đầy đủ về môi trường thủy văn và địa chất của địa điểm.
8.2 Các dạng bảo vệ địa điểm
NMĐHN phải được bảo vệ để chống lại mức lũ cơ sở trong
thiết kế bằng một trong các phương pháp sau:
a) Khái niệm “địa điểm khô”: Trong trường hợp
này, tất cả các hạng mục quan trọng
đối với sự an toàn cần được xây dựng trên mức lũ thiết kế cơ bản, chú ý đến tác
động của sóng gió và tác động của tiềm năng tích tụ băng và các mảnh vỡ. Nếu cần
thiết, điều này có thể thực hiện bằng cách đặt NMĐHN tại độ cao đủ lớn hoặc bằng
các biện pháp xây dựng nâng mức nền tại địa điểm. Một số phần lắp đặt (ví dụ trạm
bơm cho NMĐHN) phải lộ thiên hơn so với ngập lụt và điều này chắc sẽ đòi hỏi
các đặc điểm bảo vệ bổ sung. Ranh giới địa điểm phải được giám sát và duy tu. Đặc
biệt, nếu việc đắp nền là cần thiết để nâng cao NMĐHN ở trên mức lũ thiết kế cơ
bản, hạng mục kỹ thuật này của NMĐHN cần được xem xét như một hạng mục quan trọng
đến tính an toàn và do đó phải được thiết kế và duy tu thích hợp.
b) Rào chắn cố định bên ngoài như đê bối, tường chắn
sóng và vách ngăn:
Trong trường hợp này, cần thận trọng trong việc lựa chọn các cơ sở thiết kế phù
hợp (ví dụ đối với mức độ địa chấn ở những nơi có liên quan) để thiết kế rào chắn.
Các giá trị của thông số thiết kế đối với lũ cho cấu trúc rào chắn có thể khác
nhau và thậm chí khắt khe hơn các giá trị của thông số được xác định để thiết kế
cấu trúc, hệ thống và các thành phần của NMĐHN. Cũng cần tiến hành kiểm tra định
kỳ, giám sát và duy tu các rào chắn bên ngoài, thậm chí nếu các rào chắn đó không thuộc trách nhiệm của tổ chức
vận hành NMĐHN. Đê bối, tường chắn sóng và vách ngăn phải được kiểm tra để đảm
bảo rằng có thể xả nước khỏi địa điểm và để
đảm bảo rằng những rào chắn bên ngoài này không tác động như một con đập để ngăn cản thoát nước ra sông hay ra các bồn nước khác. Các rào chắn cố định bên ngoài
phải được coi là những hạng mục quan trọng đối với
tính an toàn.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Đối với cả hai phương pháp chỉ ra trên, các điều kiện
sau đây cần được đáp ứng:
a) Cần cung cấp một hệ thống cảnh
báo để có thể phát hiện các tình trạng thể
hiện khả năng tiềm tàng xảy ra lũ lụt trong địa điểm với thời gian đủ để hoàn tất việc dập lò an toàn cùng việc
thực hiện các các quy trình khẩn cấp. Các quy trình vận hành đặc biệt phải được
xác định trên sơ sở số liệu quan trắc thời gian thực về các nguyên nhân lũ lụt
được nhận biết;
b) Tất cả các hạng mục quan trọng đối với tính an toàn
(kể cả hệ thống cảnh báo được cấp điện bởi nguồn cấp điện được bảo vệ ngoài cơ sở) phải được thiết kế
để chịu được các điều kiện do lũ lụt sinh ra (ví dụ gió và sạt lở đất, nhưng
không bao gồm các tổ hợp khó xảy ra), được xem như đặc trưng của khu vực địa lý
đặt địa điểm.
8.3 Phân tích sự bảo vệ địa điểm
Tác động của nước đối với các công trình xây dựng có
thể là tác động tĩnh hoặc động hoặc có thể là sự kết hợp của các tác động.
Trong nhiều trường hợp, ảnh hưởng của băng và các mảnh vỡ vận chuyển theo dòng
lũ là các biến số quan trọng trong việc đánh giá áp lực. Xói mòn do lũ lụt cũng
có thể ảnh hưởng đến tính an toàn.
Các yếu tố khác liên quan đến vấn đề thủy văn cần được
xem xét trong đánh giá địa điểm, chủ yếu là những ảnh hưởng tiềm năng của chúng
đến các điểm lấy nước vào và do đó đến các hạng mục liên quan đến an toàn:
- Lắng đọng vật liệu trôi theo dòng chảy;
- Xói
mòn;
- Tắc nghẽn các điểm lấy nước vào NMĐHN do các mảnh vỡ;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
-
Sự ăn mòn do muối (trong môi trường biển,
sau sự trào nước mạnh).
Nhiều sự cố đã được ghi nhận việc kéo nước không mong
muốn vào trong những công trình liên quan đến an toàn (dò rỉ), chủ yếu qua khớp kết cấu nối hoặc
các đường dẫn cáp và chỗ mở để kiểm tra. Các dự phòng để ngăn chặn các dò rỉ như vậy chủ yếu
là các thiết kế có liên quan, nhưng cần quan tâm một cách cẩn thận đối với khả năng tăng lên của
mực nước ngầm do hậu quả của lũ lụt, động đất hay núi
lửa, hoặc những thay đổi phát sinh do con người đối với khu vực.
Trong một số trường hợp việc bảo vệ có thể thực hiện bằng
cách kết hợp các phương pháp này. Tuy nhiên, cần phân tích cần thận sự can thiệp
mà bất cứ công việc nào ở trên hoặc xung quanh địa điểm (chẳng hạn như thi công) có thể là nguyên
nhân làm thay đổi mức nước lũ tại địa điểm.
Trong khuôn khổ này, các công trình để bảo vệ khỏi lũ
lụt phải được phân tích theo cách tương tự như đối với các hạng mục công trình
khác quan trọng đối với tính an toàn
8.4 Tính ổn định của đường bờ
Tính ổn định của đường bờ là một yếu tố quan trọng
trong việc xác định khả năng có thể chấp nhận của địa điểm đặt NMĐHN, đặc biệt
đối với các địa điểm nằm trên bờ những bồn nước lớn, hoặc trong châu thổ của
các con sông, nơi những thay đổi về dòng chảy chính có thể xảy ra. Sự ổn định của đường bờ gần địa điểm cần
được khảo sát cùng những tác động của NMĐHN trong tương lai lên sự ổn định của
đường bờ. Những thay đổi có thể ảnh hưởng đến sự thoát nước của các con sông,
chẳng hạn như việc xây dựng đập hoặc cầu, phải được xét trong các mô hình dòng
chảy của nước từ cả sông và biển.
Đối với địa điểm ở sông, sự ổn định của lòng sông
trong lũ cực lớn cần được xem xét.
Ngay từ đầu trong quá trình chọn địa điểm, việc khảo
sát phải bao gồm thu thập và phân tích tất cả các dữ liệu lịch sử có sẵn về sự ổn
định của đường bờ địa phương. Đối với những
bãi biển cát hoặc bùn, theo thông lệ
phải đánh giá sự ổn định của đường bờ dựa trên giả thiết của cả chuyển động vào bờ - ra khơi và cả vận chuyển ven biển của vật liệu
bãi. Khi bờ biển hình thành bởi những vách đá, những thay đổi có thể xảy ra ở
đường bờ trong khoảng thời gian dài và có thể suy luận điều này từ bản đồ lịch
sử.
Hai khía cạnh cần được đặc biệt chú ý: sự ổn định lâu
dài của đường bờ và sự ổn định của nó chống lại các cơn bão mạnh. Để khảo sát sự
ổn định do bão, thường là không đủ
khi chỉ xem xét cơn bão gây ra nước dâng có thể là cực đại, bởi vì có thể nó
không đưa ra các điều kiện nguy hiểm đối với xói mòn. Các cơn bão có khoảng thời
gian dài hơn, hoặc trường gió với nhiều hướng có thể gây
ra sóng cao hơn với chu kỳ dài hơn tại địa điểm, thường được chấp nhận để xem xét khi phân tích những tác động
của hiện tượng xói mòn lên đường bờ và lên các công trình của NMĐHN.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
a) Bồi tụ ’’thượng nguồn” và xói mòn hạ nguồn như một kết
quả của việc chặn dòng chảy ven bờ;
b) Xói mòn bãi biển do sự can thiệp của các công trình
xây dựng trên khu vực sóng xô bờ của bãi biển cát, với sự vận chuyển vật liệu
vào bờ-ra khơi.
8.4.1 Phân tích tính ổn định của đường bờ
Phải thực hiện phân tích để xác định tiềm năng bất ổn
định của đường bờ tại địa điểm NMĐHN và hậu quả bất kỳ có thể đối với những hạng mục quan trọng cần an toàn.
Những cơn bão mạnh có thể gây ra thay đổi đáng kể vùng duyên hải, đặc biệt đến
mặt cắt của bãi biển. Mặc dù, mặt cắt lâu dài của bãi biển trong trạng thái cân
bằng thường được xác định bởi tiếp xúc của nó
với gió, sóng và dòng thủy triều tương đối mạnh, thay vì bởi những sự kiện có
cường độ lớn ít khi xảy ra, phải xem xét cả hai loại sự kiện. Phân tích phải
theo đề cương sau:
- Khảo sát để xác định hình dạng đường bờ, bao gồm cả
trắc diện của nó (ví dụ các đụn cát, các công trình do con người xây dựng và độ
sâu tại chỗ);
- Khảo sát để xác định phân bố điển hình của kích thước hạt hoặc thành
phần vật liệu bãi biển theo chiều ngang và chiều dọc;
- Nghiên cứu chuyển động thủy triều (theo chiều dọc và
chiều ngang, kể cả những thay đổi mức nước biển),
điều kiện sóng và khí hậu;
- Đánh giá các điều kiện vận chuyển dọc bờ tại địa điểm
và tại đáy biển trước mặt;
- Đánh giá phạm vi chuyển động của cát;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
- Xác định hướng và tốc độ chuyển động của trầm tích
vào bờ-ra khơi, hình dạng dự kiến của trắc diện bãi biển và những thay đổi dự kiến về hình dạng
của chúng;
- Đánh giá tác động của NMĐHN, kể cả các công trình lấy
nước làm mát, lên hình dạng của đường bờ.
8.4.2 Đánh giá vận chuyển dọc bờ
Vận chuyển cát dọc bờ trong vùng duyên hải phải được
đánh giá bằng cách nghiên cứu các dòng thủy triều và chế độ sóng khi chúng xảy
ra trong một đoạn đã biết của bãi biển, với sự hiểu biết về cách sóng tương tác
với bờ biển và di chuyển cát. Cần xem xét các khía cạnh sau đây để nghiên cứu
điều kiện sóng gần bờ; đó là: độ cao sóng, chu kỳ và hướng lan truyền của
chúng:
a) Quan trắc sóng trên tầu trong vùng biển tiếp giáp với
bờ;
b) Dữ liệu gió địa phương từ các bản đồ khí hậu của
khu vực;
c) Dữ liệu chi tiết và tin cậy hơn nhận được bằng cách
ghi điều kiện sóng bằng thiết bị đo sóng ít nhất trong một năm;
d) Trường sóng được ngoại suy từ một vị trí tương tự gần
đó nếu không có sẵn dữ liệu tại chỗ.
Tính toán thực tế vận chuyển dọc bờ để xác định sự ổn
định lâu dài của đường bờ và sự ổn định của nó trong tình trạng lũ lụt nghiêm
trọng đòi hỏi phải có dữ liệu về độ cao, chu kỳ và hướng của sóng vỡ, được đánh
giá bằng các biểu đồ khúc xạ sóng và số liệu dựa trên đặc điểm trầm tích bãi biển.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
8.5 Thoát nước của địa điểm
Địa điểm phải được phân cấp phù hợp để thoát nước mưa
lớn cục bộ khỏi các công trình, hệ thống và các thành phần liên quan đến an
toàn. Ngập lụt từ mưa lớn cục bộ có thể xảy ra bởi:
- Nước tràn qua các công trình sử dụng để bảo vệ địa điểm;
- Dòng
chảy mặt trên những khu vực liền kề các
công trình, hệ thống và các thành phần liên quan tới an toàn;
- Thoát
nước quá mức từ các khu vực cao hơn chảy
về phía NMĐHN;
- Tràn suối hoặc kênh trong vùng địa điểm;
- Sự tích lũy nước trong khu vực NMĐHN (như ao, hồ) do
địa hình của khu vực NMĐHN và khả năng thấm nước không tốt và thiếu hệ thống
thoát nước hiệu quả;
- Tắc nghẽn cống và các công trình thoát nước do các mảnh
vỡ.
Hệ thống thoát nước của địa điểm phải đảm bảo đường
vào địa điểm, kể cả đường vào cho các hoạt động cần thiết của nhân viên trong thời
gian lũ lụt. Lũ lụt do mưa lớn cục bộ phải được giảm thiểu bởi một hệ thống
thoát nước đầy đủ và hiệu quả cho địa điểm.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Kinh nghiệm vận hành chỉ rõ những hiểm họa phổ biến
thường liên quan đến tính không sẵn sàng của các tuyến đường giao thông và
thông tin liên lạc trong địa điểm và giữa địa điểm với các vùng xung quanh để sử
dụng trong liên lạc với các đội ứng phó sự cố,
sự thay ca của các ca vận hành và cung cấp thông tin cho công chúng. Dự phòng
thích hợp bởi ban quản lý NMĐHN, khi có thể,
phải được thực hiện để bảo vệ gia đình của những nhân viên NMĐHN trong thời
gian lũ lụt và các sự kiện khí tượng nghiêm trọng để đảm bảo tính hiệu quả của
nhân viên trong ứng phó khẩn cấp. Trách nhiệm này phải được đảm bảo trong và
sau lũ lụt và/hoặc một sự kiện khí tượng.
Tính sẵn sàng của các tuyến thông tin liên lạc bên
ngoài địa điểm trong và sau lũ lụt và/hoặc một sự kiện khí tượng nghiêm trọng
có thể không thuộc sự chỉ đạo trực tiếp của tổ chức vận hành. Vì sự sẵn sàng của
các tuyến thông tin như là một phần quan trọng của kế hoạch ứng phó khẩn cấp, phân tích chuyên môn về lũ lụt
hay kịch bản cho các hiện tượng khí tượng nghiêm trọng cần được thực hiện cùng
với các cơ quan có đủ thẩm quyền như là một phần đánh giá hiểm họa cho địa điểm.
9 Sự biến đổi của các hiểm họa theo
thời gian
9.1 Các nguyên nhân
Các hiểm họa khí tượng và thủy văn có thể thay đổi
theo thời gian do các nguyên nhân khác nhau, cụ thể là:
- Biến đổi khí hậu khu vực liên quan tới biến đổi khí hậu toàn cầu;
- Các thay đổi về địa vật lý của lưu vực thoát nước, kể
cả các cửa sông và các thay đổi độ sâu ngoài khơi, mặt cắt bờ biển và diện tích
lưu vực; hoặc các thay đổi về độ gồ ghề bề mặt của khu vực xung quanh địa điểm,
mà có thể ảnh hưởng đến tác động của gió lên NMĐHN;
- Các thay đổi sử dụng đất trên khu vực xung quanh địa
điểm.
9.2 Những biến đổi do diễn biến khí hậu
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Xu hướng thay đổi theo khu vực có thể khác với các dự
báo toàn cầu. Do đó nếu có thể, thì các mô hình khu vực sẽ được ưu tiên. Các kết
quả dự đoán cho tương lai xa vẫn có thể bị ảnh hưởng bởi sai số lớn từ các kịch
bản phát thải khí nhà kính lẫn các mô hình khí hậu. Phải sử dụng các quan trắc
địa phương đối với phân tích thống kê để tính đến các xu hướng được quan trắc
và có thể sử dụng ngoại suy để đánh giá các thông số cực trị trong thời gian ngắn
(ví dụ: một vài thập kỷ).
Các ảnh hưởng chính liên quan đến các hiểm họa đối với
NMĐHN, gồm:
a) Thay đổi nhiệt độ không khí và nước;
b) Thay đổi mực nước biển;
c) Thay đổi tần suất xảy ra và cường độ của một vài hiện
tượng khí tượng và thủy văn được xem xét trong tiêu
chuẩn này (ví dụ: xoáy thuận nhiệt đới có cường độ lớn, nước dâng do bão, lưu
lượng sông).
Để lưu ý tới sự biến đổi khí hậu
trong tương lai, một giới hạn an toàn bổ sung phải được xem xét khi thiết kế
các NMĐHN. Phải thực hiện định kỳ đánh giá lại các thông số thiết kế, vì sai số
ảnh hưởng tới các đánh giá về khí hậu cực trị trong tương lai sẽ giảm, hoặc vì
các xu hướng đã quan trắc chỉ ra bằng chứng của các cực trị khí hậu nhiều hơn.
9.3 Những biến đổi khác của các hiểm họa theo thời gian
Đối với các lưu vực sông, lũ thiết kế cơ bản phụ thuộc
vào bản chất vật lý của lưu vực ở phạm vi lớn. Đối với cửa sông, lũ thiết kế cơ
bản có thể thay đổi theo thời gian do các thay đổi về địa lý hay các thay đổi
khác như việc xây dựng các rào chắn nước dâng do bão.
Phải kiểm tra liên tục tính xác thực của lũ thiết kế cơ
bản bằng cách khảo sát định kỳ điều kiện lưu vực có thể liên quan tới lũ (ví dụ:
cháy rừng, đô thị hóa, thay đổi trong sử dụng đất, chặt phá rừng, đóng các lạch
triều, xây dựng các đập và đê ngăn nước dâng và các thay đổi của bồi tụ và xói
mòn). Những khảo sát về điều kiện lưu vực này cần được tiến hành ở những khoảng
cách thích hợp, chủ yếu bằng giám sát đường không được bổ sung các khảo sát dưới
mặt đất nếu cần thiết. Phải thực hiện các khảo
sát đặc biệt khi có các thay đổi đặc biệt quan trọng (ví dụ: các vụ cháy rừng lớn)
xảy ra. Trong trường hợp kích thước của lưu vực không cho phép việc thực hiện
khảo sát đường không thường xuyên, phải xem xét sử dụng các dữ liệu nhận được từ
ảnh và cảm biến vệ tinh.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các chỉ thị về sự thay đổi đặc điểm lũ lụt của các lưu
vực thoát nước phải được sử dụng để
chỉnh sửa một cách phù hợp các giá trị lũ thiết kế cơ bản và để cải thiện các hệ thống bảo vệ, các
công trình, các hệ thống dự báo và giám sát và các biện pháp ứng phó sự cố. Các mô hình dự báo cần được cập nhật
nếu cần thiết.
Ở một số khu vực đất sụt lún ven biển (do tự nhiên hoặc
con người gây ra, liên quan tới sự hút dầu, khí và nước) có thể cần tính đến
trong việc đánh giá chiều cao nước biểu kiến tại địa điểm đó, để kết hợp với các hiện tượng sinh ra do
biến đổi khí hậu.
Sự nâng lên vĩnh viễn của bề mặt trái đất do động đất có
thể dẫn tới một kịch bản làm giảm mực nước vĩnh viễn trong các khu vực gần với
các đới đứt gãy lớn do động đất. Tương tự như vậy, sự lún xuống vĩnh viễn của bề
mặt trái đất do động đất có thể dẫn tới ngập nước vĩnh viễn trong các khu vực gần
với các đới đứt gãy lớn do động đất.
10 Hệ thống giám sát và cảnh báo để
bảo vệ các công trình
10.1 Các khuyến nghị chung
Khi một sự kiện khí tượng hoặc thủy văn bất kỳ chứng tỏ
là một hiểm họa đáng kể đối với địa điểm có
NMĐHN, thì việc giám sát liên tục địa điểm đó là yêu cầu thiết yếu cần được thực
hiện, từ giai đoạn nghiên cứu với mục đích lựa chọn địa điểm và tiếp tục trong
suốt thời gian tồn tại của
NMĐHN, với các mục đích như sau:
- Để xác nhận các thông số thiết kế cơ bản, đặc biệt
là trong các trường hợp có rất ít các dữ liệu lịch sử.
- Để hỗ trợ việc chỉnh sửa định kỳ về các hiểm họa tại
địa điểm trong sự hiểu biết về đánh giá an toàn định
kỳ; mối quan tâm này đang trở nên ngày càng cấp bách do hệ quả của biến đổi khí
hậu toàn cầu.
- Để cung cấp các tín hiệu báo động cho nhân viên vận
hành và những người quản lý ứng phó sự cố.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các dữ liệu sử dụng cho việc giám sát trong thời gian
dài và các dữ liệu sử dụng cho hệ thống cảnh báo cần được chọn dựa trên các
tiêu chuẩn khác nhau, vì mục đích của việc giám sát và của hệ thống cảnh báo là không giống nhau. Mục đích của việc
giám sát trong thời gian dài là để đánh giá và đánh giá lại các thông số thiết
kế cơ bản, ví dụ khi thực hiện việc thẩm định an toàn định kỳ. Mục đích của hệ
thống cảnh báo là dự báo sự kiện cực trị có thể tác động đến an toàn trong quá
trình vận hành. Đối với hệ thống cảnh báo, cần phải có những quan tâm đặc biệt
đến khả năng của hệ thống để phát hiện các sự kiện cực trị
trong thời gian đủ để cho phép cơ sở hoạt động trở về điều kiện an toàn. Một hệ thống cảnh báo phải được đặt tại
các địa điểm có hiểm họa đáng kể trong thiết kế của cơ sở.
Hệ thống cảnh báo phải được sử dụng cùng với các mô
hình dự báo bởi vì khoảng thời gian cần thiết để các hành động vận hành đưa cơ
sở về trạng thái an toàn có thể đòi hỏi hành động dựa trên các ngoại suy các xu
hướng hiện tượng mà không cần phải chờ xảy ra thực tế sự kiện nguy hiểm.
Trong trường hợp xảy ra sự kiện mà nhân viên vận hành
dựa vào các mô hình dự báo được tạo sẵn bởi các tổ chức ngoài cơ quan vận hành,
cần thực hiện việc phê chuẩn các mô hình và các kênh thông tin với các tổ chức
đó để đảm bảo tính tin cậy và sẵn sàng của chúng trong suốt sự kiện.
Cần thực hiện quản lý chất lượng đặc thù hoặc các hoạt
động của hệ thống quản lý đề làm rõ năng lực và trách nhiệm đối với việc lắp đặt
hệ thống giám sát, sự vận hành của chúng, quá trình xử lý dữ liệu liên quan và
cảnh báo phù hợp
cho hoạt động vận
hành. Các hoạt động này phải bao gồm việc lập kế hoạch và thực hiện diễn tập kỹ
năng trong những khoảng thời gian nhất định cho tất cả các bên liên quan.
Nói chung, các mạng lưới giám sát và cảnh báo dưới đây
cần được xem xét:
- Hệ thống giám sát
khí tượng đối với các biến đổi khí quyển cơ bản;
- Hệ thống cảnh báo khí tượng đối với các hiện tượng
khí tượng hiếm gặp (ví dụ: bão tố, bão, vòi rồng);
- Hệ thống đo mức nước;
- Hệ thống cảnh báo sóng thần;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
10.2 Các hệ thống giám sát và cảnh báo đối với các hiểm họa khí tượng
và thủy văn
10.2.1 Các hệ thống giám sát khí tượng
Nếu khu vực, trong đó có NMĐHN, được kiểm soát bởi một
hệ thống cảnh báo các sự kiện khí tượng và lũ lụt, thì việc chuẩn bị về mặt
hành chính cần được thực hiện để nhận được các cảnh báo tin cậy và kịp thời. Mặt
khác, cần phải xem xét có hay không để thiết lập hệ thống giám sát và cảnh báo
chuyên dụng. Phạm vi của hệ thống giám sát và tần suất quan trắc phải phù hợp với
các điều kiện thủy văn khu vực.
Các chuẩn bị tương tự có thể thực hiện bởi các dịch vụ
khí tượng và thủy văn quốc gia, do hầu hết chúng cũng đưa ra các theo dõi và cảnh
báo (thường là trong hai ngày tiếp theo) về khả năng xảy ra thời tiết khắc nghiệt,
như là xoáy thuận nhiệt đới, mưa lớn với hiểm họa lũ lụt, dông bão dữ dội với
hiểm họa vòi rồng hoặc
mưa đá, gió mạnh
(từ cấp 7 đến 10), sóng nhiệt và kì lạnh, tuyết, băng, triều cường ven biển, nước dâng do bão, lở đất, lở tuyết, cháy rừng, sương mù và bão
cát. Thông tin và tư vấn bổ sung thường được đưa ra dựa vào mức nghiêm trọng và
cường độ của hiểm họa, khoảng thời gian dự kiến xảy ra đối với các sự kiện đó,
tác động có thể có của nó và các hành động phải thực hiện. Thông tin và các tư
vấn như thế thường được chuẩn bị sẵn bằng các phương tiện thông tin khác nhau.
Ví dụ, các thông báo cụ thể được gửi tới người dùng chuyên nghiệp có đăng ký, với
các cập nhật định kỳ (thường là 2 lần mỗi ngày)
và sử dụng các hệ thống thông tin khác nhau (Hệ thống Viễn thông toàn cầu của tổ
chức khí tượng thế giới WMO và Internet) và các phương
tiện truyền thông (truyền hình, truyền thanh và báo giấy).
Việc có thường xuyên các ảnh rađa và ảnh vệ tinh thời tiết có
thể cung cấp các thông tin hữu ích về vị trí và sự dịch chuyển của các nhiễu động
khí quyển nguy hiểm. Thông tin như vậy cần được thu thập để cung cấp cảnh báo sớm
về các hiểm họa tiềm tàng sắp tới và cảnh báo về gió và lượng mưa khi có thể.
10.2.2 Các hệ thống cảnh báo sóng thần
Khi sóng thần là một hiểm họa đáng kể đối với địa điểm,
tổ chức vận hành cơ sở cần phải thiết lập liên hệ với các trung tâm cảnh báo và
theo dõi sóng thần, ở những nơi đã có hệ thống cảnh báo sóng thần, tổ chức vận
hành cần liên hệ với điểm liên lạc quốc gia hoặc trung tâm cảnh báo để nhận các
thông báo phát hành từ trung tâm cảnh báo và theo dõi quốc gia hoặc khu vực. Tổ
chức vận hành cần thiết lập các quy trình vận hành chuẩn để sử dụng có sự lường trước về thời
gian tới và độ cao ước tính của sóng thần và sau khi hủy bỏ cảnh báo sóng thần
của địa phương hoặc quốc gia.
Ở những vùng không có hệ thống cảnh báo sóng thần của
khu vực, quốc gia hay địa phương, tổ chức vận hành cần nhận các thông báo từ
các trung tâm giám sát địa chấn của khu vực, quốc gia hoặc toàn cầu về việc xảy
ra các trận động đất chính.
Ở những nơi các trạm quan trắc mực nước biển được thiết
lập sẵn dọc theo bờ biển, tổ chức vận hành NMĐHN cần liên hệ với cơ quan chịu
trách nhiệm giám sát để thỏa thuận thu nhận các dữ liệu theo thời gian thực, trực
tiếp từ tất cả các trạm đặt trong vùng.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Một trạm giám sát mực nước biển cần được thiết lập gần
địa điểm cơ sở nhất có thể. Ở những nơi NMĐHN được đặt
bên cạnh một con sông, cần thiết lập thêm trạm giám sát khác ở cửa sông.
Mỗi quốc gia cần đánh giá mức báo động đối với bờ biển
của mình, dựa trên cơ sở dữ liệu sóng thần và các kết quả mô hình hóa số trị. Nếu
các nghiên cứu này chưa được thực hiện ở khu vực có NMĐHN, hiểm họa đó đối với
địa điểm cần được đánh giá.
Một số núi lửa được giám sát bởi các đài quan trắc đặc
biệt. Một vài trong số các đài quan trắc đó đã thực hiện các nghiên cứu và giám
sát đặc trưng về sóng thần sinh ra do các nguồn núi lửa. Nếu địa điểm đặt NMĐHN
gần với núi lửa, cần thực hiện liên hệ với đài quan trắc để thu nhận các thông
tin về tình trạng của các hệ thống giám sát và cảnh báo.
10.2.3 Các hệ thống giám sát và cảnh báo đối với đập và các khu chứa
nước
Các đặc tính thủy văn và kết cấu của các công trình
dùng trong kiểm soát nước, kể cả điểm lấy nước vào, phải được giám sát đối với
các thông số như mực nước, tốc độ nước, tốc độ trầm tích, tốc độ thấm bên dưới
các công trình, ứng suất và sức căng và độ dịch chuyển. Dữ liệu của phần nhiều
các thông số này cần phải luôn sẵn sàng có từ những nhân viên vận hành công
trình. Các hệ thống cảnh báo phải được thiết lập giữa những nhân viên vận hành
công trình và nhân viên vận hành NMĐHN.
Khi vận hành một hệ thống liên quan tới an toàn được
khởi động liên kết với sự vận hành của một hệ thống cảnh báo, các khía cạnh hoạt
động của sự liên kết cần được phân tích và cần được thực hiện các hành động để
đảm bảo rằng mức an toàn nội tại của hệ thống liên quan tới an toàn không bị giảm bởi tính không tin cậy có thể có
trong hệ thống cảnh báo.
10.2.4 Các hệ thống giám sát và cảnh báo đối với sông và hồ
Các mạng lưới sau đây cần được xem xét đối với sông và
hồ:
- Mô hình dự báo lũ lụt và hệ thống giám sát;
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Nếu có một hệ thống quan trắc và một mô hình dự báo lũ
lụt trong vùng, NMĐHN cần được kết nối với hệ thống đó. Nếu không có hệ thống giám sát và dự
báo lũ lụt, cần thiết lập một hệ thống thu thập và truyền dữ liệu về những
thông số thích hợp tới cơ sở. Các mô hình dự báo thủy văn phù hợp cũng cần được
xây dựng. Phải sử dụng các dữ liệu vệ tinh, ảnh
vệ tinh và ảnh rađa khí tượng. Các điều
kiện trong lưu vực thoát nước cần được giám sát thường xuyên sao cho các thay đổi
trong sử dụng đất, cháy rừng và đô thị hóa của các khu vực lớn có thể được ghi
nhận. Sự biến đổi của các yếu tố này có thể làm thay đổi đáng kể các đặc tính về
lũ lụt của lưu vực.
11 Hệ thống quản lý đối với các đánh
giá hiểm họa
11.1 Các khía cạnh cụ thể của tổ chức dự án
Một kế hoạch dự án cần được chuẩn bị trước và sử dụng
làm cơ sở cho việc thực hiện dự án đối với việc đánh giá các hiểm họa khí tượng
và thủy văn. Kế hoạch dự án phải truyền tải đầy đủ các yêu cầu chung của dự án,
kể cả các yêu cầu quản lý được áp dụng. Tài liệu này phải được cơ quan quản lý
thẩm định trước khi nghiên cứu để đánh giá các hiểm họa khí tượng và thủy văn.
Ngoài các yêu cầu chung như thế, kế hoạch dự án cho việc đánh giá hiểm họa khí
tượng và thủy văn phải bao gồm các yếu tố cụ thể sau: nhân viên và trách nhiệm của họ; mô tả chi
tiết các nhiệm vụ của dự án; tiến độ và các mốc thực hiện; sản phẩm và các báo
cáo.
Một chương trình hệ thống quản lý phải được thiết lập
và thực hiện để bao gồm tất cả các hoạt động thu thập dữ liệu và xử lý số liệu,
khảo sát thực địa và nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, các phân tích và đánh
giá trong phạm vi tiêu chuẩn này. Các vị trí lấy mẫu ngoài thực địa phải được
tham chiếu tới một hệ tọa độ được chuẩn hóa. Các kết quả đánh giá hiểm họa khí
tượng và thủy văn phải bao gồm tất cả các đầu ra được chỉ ra trong kế hoạch dự
án. Báo cáo đánh giá hiểm họa khí tượng và thủy văn phải được quy định đủ chi
tiết trong kế hoạch làm việc.
Để việc đánh giá hiểm họa có thể theo dõi được và dễ
hiểu đối với người sử dụng, các chuyên gia đánh giá, người được cấp phép và cơ
quan quản lý, tài liệu đánh giá hiểm họa khí tượng và thủy văn phải cung cấp
các nội dung sau đây: mô tả tất cả các yếu tố của quá trình đánh giá hiểm họa khí
tượng thủy văn; lý lịch của những người tham gia nghiên cứu và vai trò của họ;
tài liệu cơ sở bao gồm các phân tích, kể cả dữ liệu thô và dữ liệu đã xử lý, phần
mềm máy tính, các tập tin đầu vào và đầu ra, tài liệu tham khảo, các kết quả
tính toán trung gian và các nghiên cứu độ nhạy.
Tài liệu này phải được bảo quản dưới hình thức dễ tiếp
cận, sử dụng và có thể kiểm tra được bởi người bảo trợ nghiên cứu. Tài liệu hoặc
tài liệu tham khảo sẵn có ở nơi khác phải được trích dẫn tại nơi thích hợp. Tất
cả các yếu tố liên quan đến đánh giá các hiểm họa khí tượng và thủy văn phải được
đề cập trong tài liệu.
Tài liệu cần xác định rõ tất cả các nguồn thông tin được
sử trong đánh giá hiểm họa khí tượng
và thủy văn, bao gồm thông tin về nơi tìm các trích dẫn quan trọng mà có
thể khó có được. Số liệu chưa được công
bố được sử dụng trong phân tích phải bao gồm trong tài liệu dưới dạng tiếp cận
và sử dụng thích hợp.
Tài liệu về đánh giá các hiểm họa về khí tượng và thủy
văn cần nhận biết phần mềm máy tính được sử dụng. Nó phải bao gồm các chương
trình sử dụng trong xử lý số liệu và các chương trình sử dụng để thực hiện các
tính toán đánh giá các hiểm họa khí tượng và thủy văn, cùng với các tập tin đầu
và đầu ra có liên quan.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Các cuộc điều tra khác nhau được thực hiện (tại hiện
trường, phòng thí nghiệm và văn phòng) và cần thiết sử dụng ý kiến của chuyên
gia trong quá trình đưa ra quyết định. Các quy trình kỹ thuật riêng cho dự án
phải được xây dựng để tạo điều kiện thuận lợi cho thực hiện và kiểm tra các nhiệm
vụ và thẩm định các quá trình đó.
Như một phần của chương trình hệ thống quản lý tổng thể
của cơ sở, một chương trình quản lý chất lượng dự án phải được thiết lập và thực
hiện để bao gồm tất cả các hoạt động thu thập dữ liệu và xử lý dữ liệu, các khảo
sát hiện trường và trong phòng thí nghiệm, các phân tích
và đánh giá trong phạm vi của tiêu chuẩn này.
Các yêu cầu để thực hiện một chương trình hệ thống quản
lý chính thức phải được thiết lập bởi người bảo trợ nghiên cứu. Người bảo trợ sẽ
xác định các tiêu chuẩn quản lý chất lượng phải đáp ứng. Các điều khoản đặc biệt
phải được chỉ rõ để xử lý các hoạt động kiểm soát tài liệu, kiểm soát phân tích,
phần mềm, so sánh và kiểm định, mua bán và kiểm toán, các hành động không đúng
và các tác động khắc phục.
Đặc biệt, kế hoạch dự án phải mô tả các dự phòng cho
việc thu thập các dữ liệu mới mà có thể quan trọng cho việc tiến hành đánh giá
hiểm họa khí tượng và thủy văn và/ hoặc đáp ứng các yêu cầu của chuyên gia, kể cả các dữ liệu trên cơ sở cân đối
các nhu cầu mâu thuẫn một cách tiềm năng của dự án.
11.2 Kỹ thuật sử dụng và đặc điểm kỹ thuật đầu ra
Kế hoạch dự án cho việc đánh giá hiểm họa khí tượng và
thủy văn cần xác định rõ kỹ thuật dự định sử dụng và mục tiêu của các kết quả
nghiên cứu. Cũng phải kết hợp đặc điểm kỹ thuật đầu ra cho việc đánh giá các hiểm
họa về khí tượng và thủy văn mà diễn tả tất cả các kết quả cụ thể cần thiết để
thực hiện việc sử dụng kỹ thuật dự định và mục đích nghiên cứu, bổ sung cho các
yêu cầu chung đã được nhận biết. Trong phạm vi có thể, đặc điểm kỹ thuật đầu ra
đối với đánh giá các hiểm họa khí tượng và thủy văn hoàn thiện; tuy nhiên, đặc
điểm kỹ thuật đầu ra có thể cập nhật khi cần thiết để cung cấp các
............... bổ sung, để tăng mức xử lý kết quả và/hoặc giảm phạm vi của
các kết quả.
......hẩm định độc lập
....
tạp của các nghiên cứu để đánh giá hiểm họa khí tượng và thủy văn, cần thực hiện
thẩm
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
.....
hiểm họa khí tượng và thủy văn và họ không nên có lợi ích từ những hoạt động
này. Mức độ
......
thẩm định có thể thay đổi phụ thuộc vào việc áp dụng đánh giá các
hiểm họa khí tượng và
......
Người thẩm định phải xử lý tất cả các phần của đánh giá hiểm họa khí tượng và
thủy văn, kể
.......quá trình đánh giá hiểm họa khí tượng và thủy văn, tất cả các yếu
tố kỹ thuật và tài liệu. Nhóm thẩm
định phải có chuyên môn nhiều lĩnh vực, cần thiết để xử lý tất cả các khía cạnh
kỹ thuật và quá trình liên quan của nghiên cứu.
Mục đích của việc thẩm định là đưa ra sự đảm bảo rằng
một quá trình đúng đã được sử dụng để
tiến hành đánh giá các hiểm họa khí tượng và thủy văn, rằng các phân tích đã đề
cập và độ không đảm bảo được đánh giá một cách có hiểu biết và rằng tài liệu là
đầy đủ và có thể theo dõi được.
Có thể sử dụng hai phương pháp thẩm
định sau:
1) có sự tham gia ngay từ giai đoạn đầu;
2) giai đoạn sau và sau đó.
Thực hiện thẩm định ngay trong giai đoạn đầu sẽ giảm bớt
khả năng hủy bỏ nghiên cứu ở giai đoạn sau.
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
Thư mục tài liệu tham khảo
[1] Meteorological and Hydrological Hazards in Site
Evaluation for Nuclear Installations, IAEA Specific Safety Guide No. SSG-18, IAEA, Vienna (2011).
Mục lục
Lời nói đầu
1 Phạm
vi áp dụng
2 Các
thuật ngữ và định nghĩa
3 Những
xem xét chung và khuyến nghị
3.1 Những
xem xét chung
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
3.1.2 Những
hiểm họa khí tượng
3.1.3 Những
hiểm họa thủy văn
3.1.4 Những
thay đổi về các hiểm họa theo thời gian
3.1.5 Những
phương pháp đánh giá hiểm họa
3.2 Những
khuyến nghị chung
4. Thông tin cần thiết và điều tra thu thập cơ sở dữ
liệu
4.1 Khuyến
nghị chung cho thu thập dữ liệu
4.2 Dữ
liệu khí tượng
4.2.1 Các
khuyến nghị chung
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
4.2.3 Chương
trình quan trắc tại địa điểm
4.2.4 Các
hiện tượng khí tượng hiếm
4.2.5 Viễn
thám
4.3 Dữ
liệu thủy văn
4.3.1 Các
khuyến nghị chung
4.3.2 Dữ
liệu địa vật lý, địa chất và địa chấn
4.3.3 Dữ
liệu địa hình và độ sâu
4.3.4 Dữ
liệu về các hoạt động con người
5 Đánh
giá mối hiểm họa khí tượng
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
5.2 Hiện
tượng khí tượng cực đoan
5.2.1 Tổng
quan
5.2.2 Nhiệt
độ không khí
5.2.3 Tốc độ gió
5.2.4 Lượng
mưa (lượng nước tương đương)
5.3 Hiện
tượng khí tượng hiếm
5.3.1 Sét
5.3.2 Xoáy
thuận nhiệt đới, bão
5.3.3 Lốc
xoáy (vòi rồng cạn)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
5.4 Các
hiện tượng khí tượng khác
5.4.1 Bão
bụi và bão cát
5.4.2 Mưa
đá
6 Đánh
giá các hiểm họa thủy văn
6.1 Nước
dâng do bão
6.1.1 Khuyến
nghị chung
6.1.2 Đánh
giá hiểm họa
6.1.3 Giá
trị các tham số rút ra từ đánh giá hiểm họa
6.2. Gió
sinh ra sóng
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
6.2.2 Những
khuyến nghị chung
6.2.3 Đánh
giá hiểm họa
6.2.4 Giá
trị tham số rút ra từ đánh giá hiểm họa
6.3 Sóng
thần
6.3.1 Miêu
tả chung hiện tượng
6.3.2 Khuyến
nghị chung
6.3.3 Đánh
giá hiểm họa
6.3.4 Các giá trị của tham số rút ra từ
đánh giá hiểm họa
6.4 Dao
động mực nước hồ (Triều giả)
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
6.4.2 Đánh
giá hiểm họa
6.4.3 Giá
trị các tham số rút ra từ đánh giá hiểm họa
6.5
Hiện tượng lượng
mưa cực lớn;
6.5.1 Khuyến
nghị chung
6.5.2 Đánh
giá hiểm họa
6.5.3 Giá
trị các thông số có được từ việc đánh giá hiểm họa
6.6 Lũ
do xả đột ngột nước tích tụ
6.6.1 Giới
thiệu chung
6.6.2 Đánh
giá hiểm họa
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
6.7 Triều
cửa sông và sóng cơ học
6.7.1 Giới
thiệu chung
6.7.2 Phân
tích hiểm họa
6.7.3 Giá
trị các thông số có được từ việc đánh giá hiểm họa
6.8 Mực
nước ngầm cao
6.8.1 Giới
thiệu chung
6.8.2 Phân
tích hiểm họa
6.8.3 Các
giá trị thông số có được từ việc đánh giá hiểm họa
7 Xác
định các thông số thiết kế cơ bản
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
7.2 Các
thông số thiết kế cơ bản về thủy văn
8 Các
biện pháp bảo vệ địa điểm
8.1 Tổng
quan
8.2 Các
dạng bảo vệ địa điểm
8.3 Phân
tích sự bảo vệ địa điểm
8.4 Tính
ổn định của đường bờ
8.4.1 Phân
tích tính ổn định của đường bờ
8.4.2 Đánh
giá vận chuyển dọc bờ
8.5 Thoát
nước của địa điểm
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
9 Sự
biến đổi của các hiểm họa theo thời gian
9.1 Các
nguyên nhân
9.2 Những
biến đổi do diễn biến khí hậu
9.3 Những
biến đổi khác của các hiểm họa theo thời gian
10 Hệ
thống giám sát và cảnh báo để bảo vệ các công trình
10.1 Các
khuyến nghị chung
10.2 Các
hệ thống giám sát và cảnh báo đối với các hiểm họa khí tượng và thủy văn
10.2.1 Các
hệ thống giám sát khí tượng
10.2.2 Các
hệ thống cảnh báo sóng thần
...
...
...
Bạn phải
đăng nhập hoặc
đăng ký Thành Viên
TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.
Mọi chi tiết xin liên hệ:
ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66
10.2.4 Các
hệ thống giám sát và cảnh báo đối với sông và hồ
11 Hệ
thống quản lý đối với các đánh giá hiểm họa
11.1 Các
khía cạnh cụ thể của tổ chức dự án
11.2 Kỹ
thuật sử dụng và đặc điểm kỹ thuật đầu ra
11.3 Thẩm
định độc lập
Tài liệu tham khảo