Từ khoá: Số Hiệu, Tiêu đề hoặc Nội dung ngắn gọn của Văn Bản...

Đăng nhập

Quên mật khẩu?   Đăng ký mới
Đăng nhập bằng Google

Số hiệu: 01/2013/NQ-HĐTP Loại văn bản: Nghị quyết
Nơi ban hành: Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao Người ký: Trương Hòa Bình
Ngày ban hành: 06/11/2013 Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày công báo: Đã biết Số công báo: Đã biết
Tình trạng: Đã biết

Không xử án treo đối với tội phạm tham nhũng

Vừa qua, Hội đồng thẩm phán TAND tối cao đã ban hành Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP hướng dẫn việc áp dụng án treo theo quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự.

Nghị quyết nêu rõ không được áp dụng án treo đối với các loại tội phạm mà dư luận lên án, đặc biệt là tội phạm về chức vụ, dù có nhiều tình tiết giảm nhẹ.

Các trường hợp nếu áp dụng án treo mà gây ảnh hưởng xấu đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, đặc biệt là tội phạm tham nhũng thì cũng không được áp dụng hình phạt này.

Cơ quan xét xử không được tùy tiện giảm mức hình phạt tù để người phạm tội đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại khoản 1 Điều 60 BLHS.

Nghị quyết 01/2013 bắt đầu có hiệu lực từ ngày 25/12/2013, những bản án trước ngày này không được căn cứ Nghị quyết này để kháng nghị.

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 01/2013/NQ-HĐTP

Hà Nội, ngày 06 tháng 11 năm 2013

 

NGHỊ QUYẾT

HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG ĐIỀU 60 CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ ÁN TREO

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

- Căn cứ Luật tổ chức Tòa án nhân dân;

- Để áp dụng đúng và thống nhất quy định tại Điều 60 của Bộ luật hình sự;

- Sau khi có ý kiến thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Tư pháp;

QUYẾT NGHỊ:

Điều 1. Án treo

Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 3 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần buộc phải chấp hành hình phạt tù.

Điều 2. Việc xem xét cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo

1. Chỉ xem xét cho người bị xử phạt tù hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Bị xử phạt tù không quá 3 năm về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng theo phân loại tội phạm quy định tại khoản 3 Điều 8 của Bộ luật hình sự;

b) Có nhân thân tốt được chứng minh là ngoài lần phạm tội này họ luôn tôn trọng các quy tắc xã hội, chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú, công tác; không vi phạm các điều mà pháp luật cấm; chưa bao giờ bị kết án, bị xử lý vi phạm hành chính, bị xử lý kỷ luật.

Trường hợp người phạm tội có án tích nhưng đã được xóa án tích, được đương nhiên xóa án tích thì coi là chưa bị kết án; đã bị xử lý hành chính, xử lý kỷ luật nhưng đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật thì được coi là chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật, nhưng không phải là có nhân thân tốt. Việc cho hưởng án treo đối với những trường hợp này phải hết sức chặt chẽ. Chỉ có thể xem xét cho hưởng án treo khi thuộc một trong các trường hợp sau:

b1) Người bị kết án từ trên 3 năm tù đến 15 năm tù về tội do cố ý (kể cả trường hợp tổng hợp hình phạt của nhiều tội hoặc nhiều bản án) mà thời gian được xóa án tích tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 2 năm;

b2) Người bị kết án đến 3 năm tù về tội do cố ý mà thời gian được xóa án tích tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 1 năm;

b3) Người bị kết án về các hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ mà thời gian được xóa án tích tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 1 năm;

b4) Người bị kết án về các tội do vô ý mà đã được xóa án tích;

b5) Người đã bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc từ hai lần trở lên mà thời gian được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 2 năm;

b6) Người đã bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc một lần và có nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật mà thời gian được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 2 năm;

b7) Người đã bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc mà thời gian được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 18 tháng;

b8) Người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật từ hai lần trở lên mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 18 tháng;

b9) Người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật về hành vi có cùng tính chất với hành vi phạm tội lần này mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 1 năm;

b10) Người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 6 tháng;

b11) Người đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính;

c) Có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng;

d) Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự và có từ hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên trong đó có ít nhất một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự; nếu có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì phải có từ ba tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự.

Những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự là những tình tiết được hướng dẫn tại điểm c mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04-8-2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng một số quy định trong Phần chung của Bộ luật hình sự năm 1999”;

đ) Có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt họ đi chấp hành hình phạt tù thì không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, đặc biệt là các tội phạm về tham nhũng.

2. Không cho hưởng án treo nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Người phạm tội thuộc đối tượng cần phải nghiêm trị quy định tại khoản 2 Điều 3 của Bộ luật hình sự bao gồm: người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng; phạm tội đặc biệt nghiêm trọng;

b) Bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội;

c) Trong hồ sơ thể hiện là ngoài lần phạm tội và bị đưa ra xét xử, họ còn có hành vi phạm tội khác đã bị xét xử trong một vụ án khác hoặc đang bị khởi tố, điều tra, truy tố trong một vụ án khác;

d) Bị cáo tại ngoại bỏ trốn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã đề nghị cơ quan điều tra truy nã.

3. Khi xem xét, quyết định cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo, cần lưu ý:

a) Đối với trường hợp người bị xử phạt tù đã bị tạm giữ, tạm giam thì chỉ cho hưởng án treo khi thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam ngắn hơn thời hạn phạt tù;

b) Những trường hợp người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nếu có đủ điều kiện để áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự thì cũng phải xử trong khung hình phạt liền kề là đã thể hiện chính sách khoan hồng đối với họ; không được xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với các tội phạm mà dư luận xã hội lên án, đặc biệt là các tội phạm về chức vụ, để phục vụ đắc lực cho công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và phòng, chống tham nhũng nói riêng;

c) Những trường hợp có tình tiết định khung tăng nặng, nếu Viện kiểm sát không truy tố cũng phải áp dụng để xét xử đúng quy định của pháp luật; nếu còn có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật hình sự cũng phải được áp dụng đầy đủ; không được vì muốn cho hưởng án treo mà không áp dụng đầy đủ các tình tiết định khung tăng nặng và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 48 của Bộ luật hình sự;

d) Khi quyết định hình phạt phải tuân thủ nguyên tắc xử lý quy định tại Điều 3 của Bộ luật hình sự kết hợp với các căn cứ quyết định hình phạt quy định tại Điều 45 của Bộ luật hình sự; không được cho rằng án treo là một loại hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù để tăng hình phạt lên cao hơn các trường hợp khác không có căn cứ và cho hưởng án treo; không được tùy tiện giảm mức hình phạt tù không có căn cứ để đủ điều kiện về mức hình phạt tù quy định tại Điều 60 của Bộ luật hình sự và cho hưởng án treo.

Điều 3. Ấn định thời gian thử thách

Khi cho người bị xử phạt tù hưởng án treo, Tòa án phải ấn định thời gian thử thách bằng hai lần mức hình phạt tù, nhưng không được dưới 1 năm và không được quá 5 năm.

Điều 4. Thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách

Thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án đầu tiên cho hưởng án treo; cụ thể như sau:

1. Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm.

2. Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, Tòa án cấp phúc thẩm cũng cho hưởng án treo thì thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án sơ thẩm.

3. Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm không cho hưởng án treo, Tòa án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo thì thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án phúc thẩm.

4. Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, Tòa án cấp phúc thẩm không cho hưởng án treo, nhưng Tòa án cấp giám đốc thẩm hủy bản án phúc thẩm để xét xử phúc thẩm lại và Tòa án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

5. Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo, nhưng bản án sơ thẩm, bản án phúc thẩm bị hủy để điều tra lại và sau đó xét xử sơ thẩm lại, xét xử phúc thẩm lại, Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm vẫn cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm hoặc tuyên án phúc thẩm lần sau theo hướng dẫn tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này.

Điều 5. Giao người được hưởng án treo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách

1. Khi cho người bị xử phạt tù được hưởng án treo, Tòa án phải ghi rõ trong bản án việc giao người được hưởng án treo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

2. Khi giao người được hưởng án treo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách, Tòa án phải ghi rõ tên Ủy ban nhân dân cấp xã; tên huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; tên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, đồng thời ghi rõ trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

3. Khi giao người được hưởng án treo cho đơn vị quân đội để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách, Tòa án phải ghi rõ tên và địa chỉ đầy đủ của đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, đồng thời ghi rõ trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Điều 6. Tổng hợp hình phạt trong trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách

Trường hợp người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm đó và tổng hợp với hình phạt tù của bản án trước theo quy định tại Điều 50 và Điều 51 của Bộ luật hình sự; nếu họ đã bị tạm giam, tạm giữ thì thời gian họ đã bị tạm giam, tạm giữ về tội phạm bị đưa ra xét xử lần này cũng như thời gian tạm giam, tạm giữ về tội phạm đã bị xét xử ở bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.

Điều 7. Trường hợp người được hưởng án treo bị đưa ra xét xử về một tội phạm khác thực hiện trước khi được hưởng án treo

Trường hợp một người đang được hưởng án treo mà sau đó lại phát hiện trước khi được hưởng án treo họ đã thực hiện một tội phạm khác, thì Tòa án xét xử, quyết định hình phạt đối với tội phạm đó và không cho hưởng án treo một lần nữa. Người phạm tội đồng thời phải chấp hành hai bản án. Việc thi hành án trong trường hợp này do các cơ quan được giao trách nhiệm thi hành án hình sự phối hợp thực hiện theo quy định tại Điều 5 của Luật thi hành án hình sự.

Ví dụ: Ngày 15-12-2011, Bùi Văn B phạm tội đánh bạc. Ngày 20-3-2012, Bùi Văn B bị Tòa án nhân dân thành phố V xử phạt 6 tháng tù về tội đánh bạc, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 1 năm. Sau khi bị kết án về tội đánh bạc và bản án có hiệu lực pháp luật, Cơ quan cảnh sát điều tra lại phát hiện trước đó, ngày 10-10-2011, Bùi Văn B còn phạm tội trộm cắp tài sản và bị truy tố ra Tòa án huyện M. Đối với trường hợp này, khi xét xử Tòa án huyện M không cho Bùi Văn B hưởng án treo một lần nữa. Nếu bản án của Tòa án huyện M không bị kháng cáo, kháng nghị và có hiệu lực pháp luật thì Bùi Văn B phải chấp hành đồng thời hai bản án (bản án của Tòa án nhân dân thành phố V và bản án của Tòa án nhân dân huyện M).

Điều 8. Hiệu lực thi hành

1. Nghị quyết này đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 14 tháng 10 năm 2013 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25 tháng 12 năm 2013.

2. Các hướng dẫn trước đây của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về án treo trái với hướng dẫn của Nghị quyết này đều bãi bỏ.

3. Trường hợp người phạm tội đã bị xét xử trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực theo đúng các văn bản hướng dẫn trước đây và bản án đã có hiệu lực pháp luật thì không căn cứ vào Nghị quyết này để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, trừ trường hợp có những căn cứ kháng nghị khác.

4. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc cần phải giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung thì đề nghị phản ánh cho Tòa án nhân dân tối cao để có sự giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung kịp thời.

 

 

Nơi nhận:
- Ủy  ban thường vụ Quốc hội; (để giám sát)
- Ủy ban pháp luật của Quốc hội; (để giám sát)
- Ủy  ban tư pháp của Quốc hội; (để giám sát)
- Ban Nội chính Trung ương; (để báo cáo)
- Văn phòng Trung ương Đảng; (để báo cáo)
- Văn phòng Chủ tịch nước; (để báo cáo)
- Văn phòng Chính phủ 02 bản (để đăng Công báo);
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao; (để phối hợp)
- Bộ Tư pháp; (để phối hợp)
- Bộ Công an; (để phối hợp)
- Các TAND và TAQS các cấp; (để thực hiện)
- Các Thẩm phán và các đơn vị TANDTC; (để thực hiện)
- Lưu: VT (Viện KHXX, TANDTC).

TM. HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN
CHÁNH ÁN




Trương Hòa Bình 

 

 

THE JUDGES' COUNCIL OF THE SUPREME PEOPLE'S COURT
---------

SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM
Independence - Freedom - Happiness
---------------

No. 01/2013/NQ-HDTP

Hanoi, November 06, 2013

 

RESOLUTION

GUIDING THE APPLICATION OF ARTICLE 60 OF THE PENAL CODE REGARDING SUSPENDED SENTENCE

Pursuant to the Law on Organization of People’s Courts;

In order to apply properly and uniformly Article 60 of the Penal Code;

After reaching agreement with the Chairperson of the Supreme People’s Procuracy and the Minister of Justice,

RESOLVES:

Article 1. Suspended sentence

Suspended sentence means the conditional exemption from execution of the penalty of imprisonment which is applied by the court to an offender who is sentenced to termed imprisonment not more than 3 years, when the court, based on the personal background of the offender and extenuating circumstances, sees it unnecessary to compel the execution of the imprisonment.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

1. A person sentenced to imprisonment may­be considered the application of suspended sentence only when fully satisfying the following conditions:

a) He/she is sentenced to imprisonment not more than 3 years for a less serious crime, serious crime or very serious crime as classified in Clause 3, Article 8 of the Penal Code;

b) He/she has a good personal background as proved that he/she, except the commission of this crime, has always respected the public rules, properly observed law and policies, fulfilled civil obligations in his/ her residence place and workplace; never violated law-prescribed prohibitions; and never been convicted, administratively handled or disciplined.

Offenders who had previous convictions already been removed or automatically been removed will be regarded as having never been convicted; or offenders who had been administratively handled or disciplined are now regarded as having never been administratively handled or disciplined because the duration after which they will be regarded as so has expired or the statute of limitations for administratively handling or disciplining them has expired but their personal backgrounds will not be regarded as good. The application of suspended sentence to these persons must be taken into careful consideration. Only those who fall into any of the following cases may be considered the application of suspended sentence:

b1) Those who had been sentenced to between over 3 and 15 years of imprisonment for a crime committed intentionally (including the case of augmentation of penalties for many crimes or under many judgments) and have had such conviction removed for more than 2 years by the date of committing this new crime;

b2) Those who had been sentenced to up to 3 years of imprisonment for a crime committed intentionally and have had such conviction removed for more than 1 year by the date of committing this new crime;

b3) Those who had been convicted of a crime and subjected to caution, fine or non-custodial reform and have had such conviction removed for over 1 year by the date of committing this new crime;

b4) Those who had been convicted of a crime committed unintentionally and have had such conviction removed;

b5) Those who had been sent to compulsory education establishments twice or more and have been regarded as having never been applied the measures of administrative handling for more than 2 years by the date of committing this new crime;

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

b7) Those who had been sent to compulsory education establishments and have been regarded as having never been administratively handled for more than 18 months by the date of committing this new crime;

b8) Those who had been administratively handled or disciplined twice or more and have been regarded as having never been administratively handled or disciplined for more than 18 months by the date of committing this new crime;

b9) Those who had been administratively sanctioned or disciplined for an act of the same nature with this new crime and have been regarded as having never been administratively sanctioned or disciplined for more than 1 year by the date of committing this crime;

b10) Those who had been administratively sanctioned or disciplined and have been regarded as having never been administratively sanctioned or disciplined for more than 6 months by the date of committing this new crime;

b11) Those who have been subject to the administrative handling measure of education in communes, wards or townships or sending to compulsory detoxification establishments and are now regarded as having never been administratively handled after the prescribed duration expires;

c) He/she has a place of residence with a specific and clear address;

d) He/she has no circumstance aggravating his/her penal liability specified in Clause 1, Article 48 of the Penal Code and has two or more circumstances extenuating his/her penal liability, including at least one extenuating circumstance specified in Clause 1, Article 46 of the Penal Code. If he/she has one aggravating circumstance, he/she must have three or more extenuating circumstances, including at least two ones specified in Clause 1, Article 46 of the Penal Code.

Extenuating circumstances as prescribed in Clause 2, Article 46 of the Penal Code are ones guided at Point c, Section 5 of Resolution No. 01/2000/NQ-HDTP dated August 04, 2000, of the Judges’ Council of the Supreme People’s Court, guiding the application of a number of provisions in the General Part of the 1999 Penal Code;

e) He/she can reform himself/herself and his/her exemption from execution of the imprisonment penalty will not adversely affect the prevention and combat of crimes, especially corruption.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

a) He/she is an offender that must be severely punished as defined in Clause 2, Article 3 of the Penal Code, including conspirator, ringleader, commander, die-hard oppositionist, scoundrel, hooligan, dangerous recidivist, one who has abused his/her position and powers to commit the crime, one who has committed the crime with treacherous ploys, in an organized and professional manner, or with the intention to cause serious consequences; he/she commits a particularly serious crime;

b) He/she is tried at a time for more than one crime;

c) His/her record shows that in addition to having committed this crime and being brought to trial, he/she had also committed another crime for which he/she has been tried in another case or he/she is currently subject to the institution of, investigated or prosecuted in another case;

d) He/she is an on-bail defendant absconding in the stage of preparation for trial and the Court has requested the investigative agency to hunt for him/her.

3. When considering and deciding application of suspended sentence to a person sentenced to imprisonment, attention must be paid to the following:

a) If he/she has been held in custody or temporary detention, suspended sentence may be applied only when the period of custody or temporary detention is shorter than the imprisonment term;

b) If an offender has many extenuating circumstances and fully satisfies the conditions for application of Article 47 of the Penal Code, it is the lenience policy that he/she is sentenced to the next lighter penalty bracket. He/she may not be sentenced to imprisonment and enjoy suspended sentence for a crime which is condemned by the public opinion, especially  position-related crimes, with the aim to intensifying the prevention and combat of crimes in general and the prevention and combat of corruption in particular;

c) If there is a circumstance determining the penalty bracket in aggravating direction which is not prosecuted by the procuracy, such circumstance must still be applied in the adjudication of his/her case in accordance with law; if he/she has any circumstance aggravating his/her penal liability as prescribed in Article 48 of the Penal Code, such circumstance must be applied fully. All circumstances determining the penalty bracket in aggravating direction and aggravating the penal liability specified in Article 48 of the Penal Code must be applied, whether or not suspended sentence is be considered;

d) When deciding on penalties, the court must adhere to the handling principles specified in Article 3 of the Penal Code combined with the bases for deciding penalties specified in Article 45 of the Penal Code. The court shall neither regard suspended sentence as a penalty lighter than the penalty of imprisonment so as to groundlessly impose more heavy penalties in other cases and hand down suspended sentence, nor arbitrarily reduce the penalty of imprisonment to satisfy the condition related to duration of imprisonment specified in Article 60 of the Penal Code and apply suspended sentence.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

When applying suspended sentence to a person sentenced to imprisonment, the court must set a test period which is twice as long the imprisonment term but must be between one year and five years.

Article 4. Starting time of test period

The starting time of a test period is the first date of judgment declaration to apply suspended sentence, specifically as follows:

1. If the first-instance court hands down suspended sentence, the judgment is not appealed or protested against according to the appellate procedures, the starting time of the test period will be the date of first-instance judgment declaration.

2. If both the first-instance and appellate courts hand down suspended sentence, the starting time of the test period will be the date of first-instance judgment declaration.

3. If the first-instance court does not hand down suspended sentence but the appellate court hands down suspended sentence, the starting time of the test period will be the date of appellate judgment declaration.

4. If the first-instance court hands down suspended sentence, the appellate court does not hand down suspended sentence, but the cassation court quashes the appellate judgment for retrial according to appellate procedures and hands down suspended sentence, the test period will be counted from the date of first-instance judgment declaration.

5. If both the first-instance and appellate courts have handed down suspended sentence but the first-instance and appellate judgments are quashed for reinvestigation, then the first- instance and appellate courts again still hand down suspended sentence during retrial according to first-instance and appellate procedures, the test period will be counted from the date of subsequent first-instance or appellate judgment declaration as guided in Clauses 1, 2, 3 and 4 of this Article.

Article 5. Handover of persons entitled to suspended sentence to the commune-level People’s Committees or Army units for supervision and education during the test period

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

2. When handing over a person enjoyed suspended sentence to the commune-level People’s Committee where he/she resides for supervision and education during the test period, the court must clearly indicate the name of the commune-level People’s Committee; the name of the district, town or provincial-level city; the name of the province or centrally-run city assigned to supervise and educate such person, and concurrently clearly indicate that in case such person changes his/her residence place, Clause 1, Article 69 of the Law on Execution of Criminal Judgments must be complied with.

3. When handing over a person enjoyed suspended sentence to an Army unit for supervision and education during the test period, the court must clearly indicate the name and full address of such Army unit, and concurrently state that in case such person changes his/her workplace, Clause 2, Article 69 of the Law on Execution of Criminal Judgments must be complied with.

Article 6. Augmentation of penalties in case where the person enjoyed suspended sentence commits a new crime during the test period

If a person enjoyed suspended sentence commits a new crime during the test period, the court shall decide on a penalty for such crime and augment it and the penalty of imprisonment in the previous judgment according to Articles 50 and 51 of the Penal Code. If such person has been held in custody or temporary detention, the period of custody or temporary detention for the crime tried in this time and that for the previously tried crime in the previous judgment may be cleared against the term of execution of imprisonment.

Article 7. Case in which a person enjoyed suspended sentence for a crime is brought to trial for another crime committed before the suspended sentence is handed down to him/her

In case where it is detected that a person currently enjoyed suspended sentence for a crime has committed another crime before the suspended sentence is handed down to him/her, the court shall adjudicate and decide on a penalty for such crime but may not hand down suspended sentence to him/her once again. The offender shall execute both judgments. The judgment in this case is executed by agencies assigned responsibility for criminal judgment execution in coordination with one another as prescribed in Article 5 of the Law on Execution of Criminal Judgments.

Example: On December 15, 2011. Bui Van B committed the crime of gambling. On March 20, 2012, he was sentenced by the People’s Court of city V to 6 months of imprisonment for gambling but applied to suspended sentence with a test period of 1 year. After being convicted for gambling and the judgment takes legal effect, the investigative police agency detects that earlier on October 10, 2011 he also committed the crime of stealing property and was prosecuted before the court of district M. In this case, the court of district M would not hand down suspended sentence to him once again. If the judgment of the court of district M is not appealed or protested against and takes legal effect, he shall execute both the judgments (one of the People’s Court of city V and one of the People’s Court of district M).

Article 8. Effect

1. This Resolution was adopted by the Judges’ Council of the Supreme People’s Court on October 14, 2013, and takes effect on December 25, 2013.

...

...

...

Bạn phải đăng nhập hoặc đăng ký Thành Viên TVPL Pro để sử dụng được đầy đủ các tiện ích gia tăng liên quan đến nội dung TCVN.

Mọi chi tiết xin liên hệ: ĐT: (028) 3930 3279 DĐ: 0906 22 99 66

3. For offenders tried before the effective date of this Resolution in accordance with the previous guiding documents with judgments having taken legal effect, this Resolution does not serve as the base for making protests against such judgments according to the cassation or reopening procedures, unless there is another ground for protest.

4. In the course of implementation, any problems arising which need to be additionally explained or guided should be reported to the Supreme People’s Court for timely additional explanation or guidance.

 

 

ON BEHALF OF THE JUDGES’ COUNCIL
CHIEF JUSTICE OF THE SUPREME PEOPLE’S COURT




Truong Hoa Binh

 

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 hướng dẫn áp dụng Điều 60 của Bộ Luật hình sự về án treo do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


134.413

DMCA.com Protection Status
IP: 3.236.18.161