|
BỘ
NGOẠI GIAO
--------
|
|
|
Số:
07/2011/SL-LPQT
|
Hà
Nội, ngày 29 tháng 01 năm 2011
|
THÔNG BÁO HIỆU LỰC ĐIỀU ƯỚC QUỐC
TẾ
Thực hiện quy
định tại khoản 3 Điều 47 Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm
2005, Bộ Ngoại giao (Vụ Luật pháp và Điều ước quốc tế) trân trọng thông báo:
“Hiệp định giữa
Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Ả-rập
xê-út về tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại
thuế đánh vào thu nhập”,
ký tại Riyadh ngày 10 tháng 4 năm 2010, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 02 năm 2011;
và gửi kèm Bản
sao lục Hiệp định theo quy định Điều 68 Luật nêu trên./.
|
|
TL.
BỘ TRƯỞNG
KT. VỤ TRƯỞNG
VỤ LUẬT PHÁP VÀ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ
PHÓ VỤ TRƯỞNG
Nguyễn Thị Minh Nguyệt
|
HIỆP ĐỊNH
GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ
CHÍNH PHỦ VƯƠNG QUỐC A-RẬP XÊ-ÚT VỀ TRÁNH ĐÁNH THUẾ HAI LẦN VÀ NGĂN NGỪA VIỆC
TRỐN LẬU THUẾ ĐỐI VỚI CÁC LOẠI THUẾ ĐÁNH VÀO THU NHẬP
Chính phủ nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc A-rập Xê-út,
Mong muốn ký
kết một Hiệp định về việc tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế
đối với các loại thuế đánh vào thu nhập,
Đã thỏa thuận
dưới đây:
Điều 1. Đối tượng áp dụng
Hiệp định này
áp dụng đối với các đối tượng là những đối tượng cư trú của một hoặc của cả hai
Nước ký kết.
Điều 2. Các loại thuế bao gồm trong Hiệp định
1. Hiệp định này
áp dụng đối với các loại thuế do một Nước ký kết hoặc chính quyền địa phương của
Nước đó, đánh vào thu nhập, bất kể hình thức áp dụng của các loại thuế đó như
thế nào.
2. Tất cả các
loại thuế thu trên tổng thu nhập, hoặc những phần của thu nhập, bao gồm các khoản
thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng động sản hoặc bất động sản, các loại
thuế đánh trên tổng số tiền lương hoặc tiền công do doanh nghiệp chi trả, cũng
như các loại thuế đánh vào giá trị tài sản tăng thêm sẽ được coi là thuế đánh
vào thu nhập.
3. Các loại thuế
hiện hành được áp dụng trong Hiệp định này cụ thể là:
(a) trong trường
hợp của Việt Nam:
(i) thuế thu nhập
cá nhân;
(ii) thuế thu
nhập doanh nghiệp;
(sau đây gọi là
“thuế Việt Nam”); và
(b) trong trường
hợp của Vương quốc A-rập Xê-út:
(i) Zakat;
(ii) thuế thu
nhập bao gồm thuế đầu tư khí tự nhiên;
(sau đây gọi là
“thuế A-rập Xê-út”)
4. Hiệp định này
cũng sẽ được áp dụng đối với bất kỳ các loại thuế nào có tính chất tương tự hoặc
về cơ bản giống như các loại thuế trên được ban hành sau ngày ký Hiệp định này
để bổ sung, hoặc thay thế các loại thuế hiện hành. Các nhà chức trách có thẩm
quyền của hai Nước ký kết sẽ thông báo cho nhau những thay đổi quan trọng trong
các luật thuế của từng Nước.
Điều 3. Các định nghĩa chung
1. Theo nội dung
của Hiệp định này, trừ trường hợp ngữ cảnh đòi hỏi có sự giải thích khác:
(a) thuật ngữ
“Việt Nam” có nghĩa là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khi dùng theo nghĩa
địa lý, thuật ngữ này có nghĩa là lãnh thổ đất liền, các hải đảo, nội thủy,
lãnh hải và vùng trời phía trên đó, vùng biển ngoài lãnh hải, bao gồm cả đáy
biển và lòng đất dưới đáy biển mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực
hiện chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán phù hợp với pháp luật quốc
gia và luật pháp quốc tế;
(b) thuật ngữ
“Vương quốc A-rập Xê-út” có nghĩa là lãnh thổ của Vương quốc A-rập Xê-út kể cả vùng
nằm ngoài lãnh hải, nơi Vương quốc A-rập Xê-út thực hiện chủ quyền và các quyền
tài phán tại các vùng nước, đáy biển, lòng đất và các nguồn tài nguyên thiên
nhiên của A-rập Xê-út phù hợp với pháp luật của mình và luật pháp quốc tế;
(c) thuật ngữ
“Nước ký kết” và “Nước ký kết kia” có nghĩa là Việt Nam hoặc Vương quốc A-rập Xê-út,
tùy ngữ cảnh đòi hỏi;
(d) thuật ngữ
“đối tượng” bao gồm cá nhân, công ty và bất kỳ tổ chức của nhiều đối tượng nào khác,
kể cả Nhà nước hoặc chính quyền địa phương của Nước đó;
(e) thuật ngữ
“công ty” để chỉ bất kỳ tổ chức công ty hoặc bất kỳ một thực thể nào được coi là
tổ chức công ty dưới giác độ thuế;
(f) thuật ngữ
“doanh nghiệp của một Nước ký kết” và “doanh nghiệp của Nước ký kết kia” theo thứ
tự có nghĩa là một doanh nghiệp được điều hành bởi một đối tượng cư trú của một
Nước ký kết và một doanh nghiệp được điều hành bởi một đối tượng cư trú của Nước
ký kết kia;
(g) thuật ngữ
“vận tải quốc tế” có nghĩa là bất kỳ sự vận chuyển nào bằng tàu thủy hoặc máy bay
do một doanh nghiệp có trụ sở điều hành thực tế tại một Nước ký kết điều hành,
trừ trường hợp khi chiếc tàu thủy hoặc máy bay đó chỉ hoạt động giữa những địa
điểm trong Nước ký kết kia;
(h) thuật ngữ
“đối tượng mang quốc tịch” có nghĩa là:
(i) bất kỳ cá
nhân nào mang quốc tịch của một Nước ký kết;
(ii) bất kỳ pháp
nhân, công ty hợp danh hoặc hiệp hội có tư cách theo các luật có hiệu lực tại
Nước ký kết đó;
(i) thuật ngữ
“nhà chức trách có thẩm quyền” có nghĩa là:
(i) đối với Việt
Nam, là Bộ trưởng Bộ Tài chính hoặc người đại diện được ủy quyền của Bộ trưởng;
(ii) đối với Vương
quốc A-rập Xê-út, là Bộ Tài chính được đại diện bởi Bộ trưởng Tài chính hoặc
đại diện được ủy quyền của Bộ trưởng Tài chính.
2. Khi một Nước
ký kết áp dụng Hiệp định này vào bất kỳ thời điểm nào, các thuật ngữ chưa được
định nghĩa tại Hiệp định này sẽ có nghĩa theo như định nghĩa tại các luật của
Nước đó đối với các loại thuế mà Hiệp định này áp dụng vào thời điểm đó, bất kỳ
nghĩa nào theo các luật thuế được áp dụng của Nước đó sẽ có giá trị cao hơn
nghĩa của thuật ngữ đó theo các luật khác của nước đó, trừ trường hợp ngữ cảnh
đòi hỏi có sự giải thích khác.
Điều 4. Đối tượng cư trú
1. Theo nội dung
của Hiệp định này, thuật ngữ “đối tượng cư trú của một Nước ký kết” có nghĩa là
bất kỳ đối tượng nào, mà theo các luật của Nước đó, là đối tượng chịu thuế căn
cứ vào nhà ở, nơi cư trú, trụ sở đăng ký, trụ sở điều hành, hoặc bất kỳ tiêu
thức nào khác có tính chất tương tự. Thuật ngữ “đối tượng cư trú của một Nước
ký kết” cũng bao gồm cả Nước đó hoặc chính quyền địa phương của Nước đó hoặc
một pháp nhân được tổ chức theo các luật của một Nước ký kết và hoàn toàn được
miễn thuế tại Nước đó.
Tuy nhiên, thuật
ngữ này không bao gồm bất kỳ đối tượng nào là đối tượng chịu thuế tại Nước đó
chỉ đối với thu nhập từ các nguồn tại Nước đó.
2. Trường hợp
theo các quy định tại khoản 1 của Điều này, khi một cá nhân là đối tượng cư trú
của cả hai Nước ký kết, thì thân phận cư trú của cá nhân đó sẽ được xác định
như sau:
(a) cá nhân đó
sẽ chỉ được coi là đối tượng cư trú chỉ của Nước ký kết mà tại đó cá nhân đó có
nhà ở thường trú; nếu cá nhân đó có nhà ở thường trú ở cả hai Nước ký kết, cá
nhân đó sẽ được coi là đối tượng cư trú chỉ của Nước ký kết mà cá nhân đó có các
quan hệ cá nhân và kinh tế chặt chẽ hơn (trung tâm của các quyền lợi chủ yếu);
(b) nếu không
thể xác định được Nước ký kết mà ở đó, cá nhân đó có trung tâm của các quyền lợi
chủ yếu, hoặc nếu cá nhân đó không có nhà ở thường trú ở cả hai Nước ký kết thì
cá nhân đó sẽ được coi là đối tượng cư trú chỉ của Nước ký kết mà cá nhân đó thường
sống;
(c) nếu cá nhân
đó thường xuyên sống ở cả hai Nước ký kết hoặc không thường xuyên sống ở Nước
nào thì cá nhân đó sẽ được coi là đối tượng cư trú chỉ của Nước ký kết mà cá
nhân đó mang quốc tịch;
(d) nếu cá nhân
đó là đối tượng mang quốc tịch của cả hai Nước ký kết hoặc không mang quốc tịch
của cả hai Nước này thì các nhà chức trách có thẩm quyền của hai Nước ký kết sẽ
giải quyết vấn đề đó bằng thỏa thuận chung.
3. Trường hợp
theo các quy định tại khoản 1 của Điều này, khi một đối tượng không phải là cá nhân,
là đối tượng cư trú của cả hai Nước ký kết, khi đó đối tượng trên sẽ chỉ được
coi là đối tượng cư trú của Nước nơi có trụ sở điều hành thực tế của đối tượng
đó.
Điều 5. Cơ sở thường trú
1. Theo nội
dung của Hiệp định này, thuật ngữ “cơ sở thường trú” có nghĩa là một cơ sở kinh
doanh cố định mà qua đó doanh nghiệp thực hiện toàn bộ hoặc một phần hoạt động kinh
doanh của mình.
2. Thuật ngữ “cơ
sở thường trú” chủ yếu bao gồm:
(a) trụ sở điều
hành;
(b) chi
nhánh;
(c) văn
phòng;
(d) nhà máy;
(e) xưởng;
(f) kho hàng;
và
(g) bất kỳ địa
điểm thăm dò hoặc khai thác tài nguyên thiên nhiên nào.
3. Thuật ngữ “cơ
sở thường trú” cũng bao gồm:
(a) một địa điểm
xây dựng, công trình xây dựng, dự án lắp ráp hoặc lắp đặt hoặc các hoạt động
giám sát liên quan, nhưng chỉ khi địa điểm, công trình hoặc các hoạt động đó
kéo dài trên sáu tháng; và
(b) việc cung
cấp các dịch vụ, bao gồm cả dịch vụ tư vấn, do một doanh nghiệp thực hiện thông
qua những người làm công hoặc những đối tượng khác được doanh nghiệp giao thực hiện
các hoạt động trên, nhưng chỉ khi các hoạt động mang tính chất nêu trên kéo dài
(trong cùng một dự án hoặc một dự án có liên quan) tại một Nước ký kết trong
một giai đoạn hoặc nhiều giai đoạn gộp lại trên sáu tháng trong bất kỳ giai
đoạn mười hai tháng nào.
4. Mặc dù có các
quy định trên của Điều này, thuật ngữ “cơ sở thường trú” sẽ được coi là không
bao gồm:
(a) việc sử dụng
các phương tiện chỉ với mục đích lưu kho hoặc trưng bày hàng hóa hay tài sản
của doanh nghiệp;
(b) việc duy trì
kho hàng hóa hoặc tài sản của doanh nghiệp chỉ với mục đích lưu kho hay trưng
bày;
(c) việc duy trì
kho hàng hóa hoặc tài sản của doanh nghiệp với mục đích chỉ để cho doanh nghiệp
khác gia công;
(d) việc duy trì
một cơ sở kinh doanh cố định chỉ nhằm mục đích mua hàng hóa hoặc tài sản hoặc
để thu thập thông tin cho doanh nghiệp đó; và
(e) việc duy trì
một cơ sở kinh doanh cố định chỉ với mục đích tiến hành bất kỳ hoạt động nào
khác có tính chất chuẩn bị hoặc phụ trợ cho doanh nghiệp.
5. Mặc dù có các
quy định tại khoản 1 và 2 của Điều này, trường hợp một đối tượng - trừ đại lý
có tư cách độc lập được điều chỉnh tại khoản 6 - hoạt động tại một Nước ký kết
thay mặt cho một doanh nghiệp của Nước ký kết kia, doanh nghiệp đó sẽ được coi
là có cơ sở thường trú tại Nước ký kết thứ nhất đối với các hoạt động mà đối
tượng trên thực hiện cho doanh nghiệp, nếu đối tượng đó:
(a) có và thường
xuyên thực hiện tại Nước đó thẩm quyền ký kết các hợp đồng đứng tên doanh nghiệp,
trừ khi các hoạt động của đối tượng đó chỉ giới hạn trong phạm vi các hoạt động
nêu tại khoản 4 mà những hoạt động đó nếu được thực hiện thông qua một địa điểm
kinh doanh cố định thì sẽ không làm cho địa điểm kinh doanh cố định đó trở
thành một cơ sở thường trú theo những quy định tại khoản đó; hoặc
(b) không có thẩm
quyền nêu trên, nhưng thường xuyên duy trì tại Nước thứ nhất một kho hàng hóa,
qua đó đối tượng này thường xuyên thực hiện giao hàng hóa thay mặt cho doanh
nghiệp.
6. Một doanh nghiệp
của một Nước ký kết sẽ không được coi là có một cơ sở thường trú tại Nước ký
kết kia chỉ vì doanh nghiệp đó chỉ thực hiện hoạt động kinh doanh tại Nước ký
kết đó thông qua một đại lý môi giới, một đại lý hoa hồng hoặc bất kỳ một đại
lý nào khác có tư cách độc lập, với điều kiện các đối tượng này hoạt động trong
khuôn khổ kinh doanh thông thường của họ. Tuy nhiên, khi các hoạt động của đại
lý đó dành toàn bộ hoặc hầu như toàn bộ thay mặt cho doanh nghiệp đó và điều
kiện được xác lập hoặc áp đặt giữa doanh nghiệp đó và đại lý đó trong các quan
hệ thương mại và quan hệ tài chính khác với điều kiện được tạo ra giữa các
doanh nghiệp độc lập, đại lý đó sẽ không được coi là đại lý có tư cách độc lập
theo nghĩa của khoản này.
7. Việc một công
ty là đối tượng cư trú của một Nước ký kết kiểm soát hoặc chịu sự kiểm soát bởi
một công ty là đối tượng cư trú của Nước ký kết kia hoặc tiến hành hoạt động
kinh doanh tại Nước ký kết kia (có thể thông qua một cơ sở thường trú hoặc dưới
hình thức khác), sẽ không làm cho bất kỳ công ty nào trở thành cơ sở thường trú
của công ty kia.
Điều 6. Thu nhập từ bất động sản
1. Thu nhập mà
một đối tượng cư trú của một Nước ký kết thu được từ bất động sản (kể cả thu nhập
từ nông nghiệp hoặc lâm nghiệp) có tại Nước ký kết kia có thể bị đánh thuế tại
Nước ký kết kia.
2. Thuật ngữ “bất
động sản” sẽ có nghĩa theo như luật của Nước ký kết nơi có bất động sản đó.
Thuật ngữ này trong mọi trường hợp sẽ bao gồm cả những phần tài sản phụ kèm theo
bất động sản, đàn gia súc và thiết bị sử dụng trong nông nghiệp và lâm nghiệp,
các quyền lợi được áp dụng theo như các quy định tại luật chung về điền sản,
quyền hưởng lợi từ bất động sản và các quyền được hưởng các khoản thanh toán cố
định hoặc không cố định trả cho việc khai thác hoặc quyền khai thác các mỏ,
nguồn khoáng sản và các tài nguyên thiên nhiên khác; các tàu thủy và máy bay sẽ
không được coi là bất động sản.
3. Các quy định
tại khoản 1 của Điều này sẽ áp dụng đối với thu nhập phát sinh từ việc trực
tiếp sử dụng, cho thuê, hoặc sử dụng dưới bất kỳ hình thức nào khác của bất
động sản.
4. Các quy định
tại các khoản 1 và 3 của Điều này cũng sẽ áp dụng đối với thu nhập từ bất động
sản của một doanh nghiệp và đối với thu nhập từ bất động sản được sử dụng để
thực hiện các dịch vụ cá nhân độc lập.
Điều 7. Lợi nhuận kinh doanh
1. Lợi nhuận của
một doanh nghiệp của một Nước ký kết sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước đó, trừ trường
hợp doanh nghiệp có tiến hành hoạt động kinh doanh tại Nước ký kết kia thông
qua một cơ sở thường trú tại Nước ký kết kia. Nếu doanh nghiệp có hoạt động
kinh doanh theo cách trên, thì các khoản lợi nhuận của doanh nghiệp có thể bị
đánh thuế tại Nước ký kết kia nhưng chỉ trên phần lợi nhuận phân bổ cho: (a) cơ
sở thường trú đó; (b) việc bán tại Nước ký kết kia những hàng hóa cùng loại hoặc
tương tự như những hàng hóa bán qua cơ sở thường trú đó; hoặc (c) các hoạt động
kinh doanh khác được thực hiện tại Nước ký kết kia cùng loại hoặc tương tự với
những hoạt động được thực hiện thông qua cơ sở thường trú đó.
2. Thể theo các
quy định tại khoản 3 của Điều này, khi một doanh nghiệp của một Nước ký kết tiến
hành hoạt động kinh doanh tại Nước ký kết kia, thông qua một cơ sở thường trú
tại Nước ký kết kia, thì tại mỗi Nước ký kết sẽ có những khoản lợi nhuận được
phân bổ cho cơ sở thường trú nói trên mà cơ sở thường trú đó có thể thu được
nếu nó là một doanh nghiệp riêng và tách biệt cùng tham gia vào các hoạt động
như nhau hoặc tương tự trong cùng các điều kiện như nhau hoặc tương tự và có
quan hệ hoàn toàn độc lập với doanh nghiệp mà cơ sở đó được coi là cơ sở thường
trú.
3. Trong khi xác
định lợi nhuận của một cơ sở thường trú, cơ sở thường trú này sẽ được phép khấu
trừ các khoản chi phí phát sinh phục vụ cho mục đích kinh doanh của cơ sở thường
trú này, bao gồm cả chi phí điều hành và chi phí quản lý chung cho dù chi phí
đó phát sinh tại Nước nơi cơ sở thường trú đó đóng hoặc ở bất kỳ nơi nào khác.
Tuy nhiên, sẽ không cho phép tính vào các khoản chi phí được trừ bất kỳ khoản
tiền nào, nếu có, do cơ sở thường trú trả cho (trừ khi là khoản thanh toán các
chi phí thực tế) trụ sở chính của doanh nghiệp hoặc bất kỳ văn phòng nào khác
của doanh nghiệp dưới hình thức tiền bản quyền, các khoản phí hoặc bất kỳ khoản
thanh toán tương tự nào khác để được phép sử dụng bằng sáng chế hoặc các quyền
khác, hoặc dưới hình thức tiền hoa hồng trả cho việc thực hiện các dịch vụ
riêng biệt hoặc trả cho công việc quản lý, hoặc dưới hình thức lãi tính trên
tiền cho cơ sở thường trú vay, trừ trường hợp tiền lãi của tổ chức ngân hàng.
Tương tự như vậy, khi xác định lợi nhuận của cơ sở thường trú sẽ không tính đến
các khoản tiền (trừ các khoản tiền thanh toán các chi phí thực tế) do cơ sở
thường trú thu từ trụ sở chính của doanh nghiệp hoặc bất kỳ văn phòng nào khác
của doanh nghiệp, dưới hình thức tiền bản quyền, các khoản phí hoặc các khoản
thanh toán tương tự để cho phép sử dụng bằng sáng chế hoặc các quyền khác, hoặc
dưới hình thức tiền hoa hồng trả cho việc thực hiện các dịch vụ riêng biệt hoặc
trả cho công việc quản lý, hoặc dưới hình thức lãi tính trên tiền cho trụ sở
chính của doanh nghiệp hoặc bất kỳ văn phòng nào của doanh nghiệp vay, trừ
trường hợp lãi từ tiền cho vay của tổ chức ngân hàng.
4. Mặc dù có các
quy định khác, lợi nhuận kinh doanh do một doanh nghiệp của một Nước ký kết thu
được từ hoạt động xuất khẩu hàng hóa sang Nước ký kết kia sẽ không bị đánh thuế
tại Nước ký kết kia. Trường hợp các hợp đồng xuất khẩu bao gồm các hoạt động
khác được thực hiện tại Nước ký kết kia thông qua một cơ sở thường trú, lợi
nhuận thu được từ các hoạt động đó có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết kia.
5. Thuật ngữ “lợi
nhuận kinh doanh” bao gồm, nhưng không giới hạn, thu nhập phát sinh từ việc sản
xuất, thương mại, ngân hàng, bảo hiểm và cung cấp dịch vụ.
Tuy nhiên, thu
nhập phát sinh từ dịch vụ cá nhân độc lập sẽ được áp dụng theo các quy định của
Điều 14.
6. Trường hợp
tại một Nước ký kết vẫn thường xác định các khoản lợi nhuận được phân bổ cho cơ
sở thường trú trên cơ sở phân chia tổng các khoản lợi nhuận của doanh nghiệp thành
những phần khác nhau, không có nội dung nào tại khoản 2 ngăn cản Nước ký kết đó
xác định lợi nhuận chịu thuế theo cách phân chia theo thông lệ trên; tuy nhiên,
phương pháp phân chia được áp dụng như vậy phải đưa ra kết quả phù hợp với
những nguyên tắc nêu tại Điều này.
7. Theo nội dung
của các khoản trên, các khoản lợi nhuận được phân bổ cho cơ sở thường trú sẽ
được xác định theo cùng một phương pháp giữa các năm trừ khi có đủ lý do chính
đáng để xác định theo phương pháp khác.
8. Không có quy
định nào tại Điều này sẽ ảnh hưởng tới việc áp dụng của bất kỳ luật nào của một
Nước ký kết liên quan đến thuế đánh trên thu nhập do các đối tượng không cư trú
có được từ các hoạt động bảo hiểm với điều kiện nếu luật có liên quan của Nước
ký kết này hoặc Nước ký kết kia có hiệu lực tại ngày ký Hiệp định này thay đổi
(trừ những khía cạnh không quan trọng nên không ảnh hưởng tới đặc điểm chung
của nó) thì các Nuớc ký kết sẽ tham vấn lẫn nhau để thỏa thuận đối với bất kỳ
sự bổ sung nào của khoản này khi thích hợp.
9. Khi lợi nhuận
bao gồm các khoản thu nhập được đề cập riêng tại các Điều khác của Hiệp định
này, thì các quy định của các Điều đó không bị ảnh hưởng bởi các quy định của
Điều này.
Điều 8. Vận tải biển và vận tải hàng không
1. Lợi nhuận từ
hoạt động của tàu thủy hoặc máy bay trong vận tải quốc tế sẽ chỉ bị đánh thuế
tại Nước ký kết nơi có trụ sở điều hành thực tế của doanh nghiệp.
2. Các quy định
tại khoản 1 của Điều này cũng sẽ áp dụng cho các khoản lợi nhuận từ việc tham
gia vào một tổ hợp, một liên doanh hoặc một hãng hoạt động quốc tế.
Điều 9. Các doanh nghiệp liên kết
1. Khi
(a) một doanh
nghiệp của một Nước ký kết tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành,
kiểm soát hoặc góp vốn vào một doanh nghiệp của Nước ký kết kia, hoặc
(b) các đối tượng
cùng tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát hoặc góp
vốn vào một doanh nghiệp của một Nước ký kết và vào một doanh nghiệp của Nước
ký kết kia,
và trong cả hai
trường hợp, trong các mối quan hệ thương mại hoặc quan hệ tài chính giữa hai doanh
nghiệp trên có những điều kiện được xác lập hoặc áp đặt khác với điều kiện được
đưa ra giữa các doanh nghiệp độc lập, lúc đó mọi khoản lợi nhuận mà một doanh
nghiệp có thể thu được nếu không có các điều kiện trên, nhưng nay vì những điều
kiện này mà doanh nghiệp đó không thu được, sẽ vẫn được tính vào các khoản lợi
nhuận của doanh nghiệp đó và bị đánh thuế tương ứng.
2. Khi một Nước
ký kết tính vào các khoản lợi nhuận của một doanh nghiệp tại Nước đó - và đánh
thuế tương ứng - các khoản lợi nhuận mà một doanh nghiệp tại Nước ký kết kia đã
bị đánh thuế ở Nước kia và những khoản lợi nhuận được tính vào như vậy là những
khoản lợi nhuận lẽ ra thuộc về doanh nghiệp tại Nước thứ nhất nếu như những
điều kiện đặt ra giữa hai doanh nghiệp trên là những điều kiện được xác lập
giữa các doanh nghiệp độc lập, khi đó Nước kia sẽ điều chỉnh các khoản thuế tại
Nước mình đối với các khoản lợi nhuận trên cho phù hợp. Trong khi xác định sự
điều chỉnh trên sẽ xem xét đến các quy định khác của Hiệp định này và khi cần
thiết các nhà chức trách có thẩm quyền của các Nước ký kết sẽ tham khảo ý kiến
của nhau.
Điều 10. Tiền lãi cổ phần
1. Tiền lãi cổ
phần do một công ty là đối tượng cư trú của một Nước ký kết trả cho một đối tượng
cư trú của Nước ký kết kia có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết kia.
2. Tuy nhiên,
những khoản tiền lãi cổ phần đó cũng có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết nơi công
ty trả tiền lãi cổ phần là đối tượng cư trú và theo các luật của Nước đó, nhưng
nếu đối tượng thực hưởng tiền lãi cổ phần là đối tượng cư trú của Nước ký kết
kia, thì thuế được tính khi đó sẽ không vượt quá:
(a) 5 phần trăm
tổng số tiền lãi cổ phần nếu đối tượng thực hưởng là một công ty (không phải là
một tổ chức hùn vốn) nắm giữ trực tiếp ít nhất 50 phần trăm vốn của công ty trả
lãi cổ phần, hoặc đã đầu tư từ 20 triệu đô la Mỹ trở lên, hoặc bằng các loại
tiền tệ tương ứng, trong số vốn của công ty trả lãi cổ phần;
(b) 12,5 phần
trăm tổng số tiền lãi cổ phần trong tất cả các trường hợp khác.
Khoản này sẽ không
ảnh hưởng tới việc đánh thuế công ty đối với lợi nhuận dùng để chia lãi cổ phần.
3. Thuật ngữ “tiền
lãi cổ phần” được sử dụng tại Điều này có nghĩa là thu nhập từ cổ phần, cổ phần
“jouissance” hoặc các quyền lợi “jouissance”, cổ phần khai thác mỏ, cổ phần
sáng lập hoặc các quyền lợi khác, không phải là các khoản cho vay, được hưởng
lợi tức, cũng như thu nhập từ các quyền lợi khác trong công ty cùng chịu sự
điều chỉnh của chính sách thuế đối với thu nhập từ cổ phần theo các luật của Nước
nơi công ty chia lãi cổ phần là đối tượng cư trú.
4. Các quy định
tại khoản các khoản 1 và 2 của Điều này sẽ không áp dụng trong trường hợp đối
tượng thực hưởng các khoản tiền lãi cổ phần là đối tượng cư trú của một Nước ký
kết có tiến hành hoạt động kinh doanh tại Nước ký kết kia, nơi công ty trả tiền
lãi cổ phần là đối tượng cư trú, thông qua một cơ sở thường trú nằm tại Nước
đó, hoặc tiến hành tại Nước ký kết kia các hoạt động dịch vụ cá nhân độc lập
thông qua một cơ sở cố định nằm tại Nước ký kết kia, và quyền nắm giữ các cổ
phần được hưởng tiền lãi cổ phần, có sự liên hệ thực tế đến cơ sở thường trú
hoặc cơ sở cố định nói trên. Trong trường hợp như vậy các quy định tại Điều 7
hoặc Điều 14, tùy từng trường hợp, sẽ được áp dụng.
5. Khi một công
ty là đối tượng cư trú của một Nước ký kết nhận được lợi nhuận hoặc thu nhập
phát sinh từ Nước ký kết kia thì Nước ký kết kia có thể không đánh thuế đối với
những khoản tiền lãi cổ phần do công ty này trả, trừ trường hợp các khoản tiền
lãi cổ phần này được trả cho một đối tượng cư trú của Nước ký kết kia hoặc việc
nắm giữ mà theo đó các khoản tiền lãi cổ phần được trả có sự liên hệ thực tế
với một cơ sở thường trú hoặc một cơ sở cố định tại Nước ký kết kia, đồng thời
Nước ký kết kia cũng không buộc các khoản lợi nhuận không chia của công ty trên
phải chịu thuế đối với những khoản lợi nhuận không chia của công ty, cho dù các
khoản tiền lãi cổ phần được chia hoặc các khoản lợi nhuận không chia bao gồm
toàn bộ hoặc một phần các khoản lợi nhuận hoặc thu nhập phát sinh tại Nước ký
kết kia.
Điều 11. Thu nhập từ các khoản cho vay
1. Thu nhập từ
các khoản cho vay phát sinh tại một Nước ký kết và được trả cho đối tượng cư trú
của Nước ký kết kia có thể bị đánh thuế tại Nước kia.
2. Tuy nhiên,
thu nhập từ các khoản cho vay này cũng có thể bị đánh thuế ở Nước ký kết nơi phát
sinh thu nhập và theo các luật của Nước ký kết đó, nhưng nếu đối tượng thực
hưởng thu nhập từ các khoản cho vay này là đối tượng cư trú của Nước ký kết
kia, thì mức thuế khi đó được tính sẽ không vượt quá 10 phần trăm tổng số thu
nhập từ các khoản cho vay.
3. Mặc dù có các
quy định tại khoản 2, thu nhập từ các khoản cho vay phát sinh tại một Nước ký
kết và do Chính phủ của Nước ký kết kia, chính quyền địa phương và Ngân hàng trung
ương của Nước đó, bất kỳ thể chế tài chính hoặc bất kỳ quỹ hưu trí thuộc sở hữu
toàn bộ của Chính phủ của Nước đó nhận được, sẽ được miễn thuế tại Nước ký kết
thứ nhất.
4. Thuật ngữ “thu
nhập từ các khoản cho vay” được sử dụng ở Điều này có nghĩa là thu nhập từ các
khoản cho vay dưới bất kỳ hình thức nào, có hoặc không được đảm bảo bằng thế
chấp và có hoặc không có quyền được hưởng lợi nhuận của người đi vay, và đặc
biệt là khoản thu nhập từ chứng khoán của Chính phủ và thu nhập từ trái phiếu
hoặc trái phiếu công ty, bao gồm cả tiền thưởng và giải thưởng đi liền với các
chứng khoán, trái phiếu hoặc trái phiếu công ty đó. Các khoản phạt trả chậm sẽ
không được coi là thu nhập từ các khoản cho vay theo quy định của Điều này.
5. Các quy định
tại các khoản 1 và 2 của Điều này sẽ không áp dụng nếu đối tượng thực hưởng thu
nhập từ các khoản cho vay là đối tượng cư trú của một Nước ký kết, tiến hành
hoạt động kinh doanh tại Nước ký kết kia nơi phát sinh thu nhập từ các khoản
cho vay thông qua một cơ sở thường trú tại Nước ký kết kia, hoặc thực hiện tại
Nước ký kết kia các hoạt động dịch vụ cá nhân độc lập thông qua một cơ sở cố
định tại Nước ký kết kia, và khoản nợ có các khoản thu nhập được trả có sự liên
hệ thực tế với (a) cơ sở thường trú hoặc cơ sở cố định đó, hoặc với (b) các
hoạt động kinh doanh nêu tại điểm (c) khoản 1 Điều 7. Trong trường hợp này, các
quy định tại Điều 7 hoặc Điều 14, tùy từng trường hợp, sẽ được áp dụng.
6. Thu nhập từ
các khoản cho vay sẽ được coi là phát sinh tại một Nước ký kết khi đối tượng trả
thu nhập là đối tượng cư trú của Nước đó. Tuy nhiên, khi đối tượng trả thu nhập
có ở một Nước ký kết một cơ sở thường trú hoặc một cơ sở cố định liên quan đến
các khoản nợ đã phát sinh các khoản thu nhập này, và khoản thu nhập đó do cơ sở
thường trú hoặc cơ sở cố định đó chịu thì dù đối tượng có là đối tượng cư trú
của một Nước ký kết hay không, khoản thu nhập này sẽ vẫn được coi là phát sinh
ở Nước nơi có cơ sở thường trú hoặc cơ sở cố định đó.
7. Trường hợp
do mối quan hệ đặc biệt giữa đối tượng trả và đối tượng thực hưởng hoặc giữa cả
hai đối tượng trên và các đối tượng khác, thu nhập từ các khoản cho vay được trả
cho khoản nợ có liên quan, vượt quá khoản tiền được thỏa thuận giữa đối tượng
trả thu nhập và đối tượng thực hưởng khi không có mối quan hệ này, thì khi đó,
các quy định tại Điều này sẽ chỉ áp dụng đối với các khoản tiền thanh toán khi
không có mối quan hệ đặc biệt trên. Trong trường hợp này, phần thanh toán vượt
sẽ bị đánh thuế theo các luật của từng Nước ký kết, có xem xét thích đáng đến
các quy định khác của Hiệp định này.
Điều 12. Tiền bản quyền
1. Tiền bản quyền
phát sinh tại một Nước ký kết và được trả cho một đối tượng cư trú của Nước ký
kết kia có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết kia.
2. Tuy nhiên,
các khoản tiền bản quyền đó cũng có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết nơi phát sinh
tiền bản quyền và theo các luật của Nước ký kết đó, nhưng nếu đối tượng thực
hưởng tiền bản quyền đó là một đối tượng cư trú của Nước ký kết kia thì mức
thuế được tính sẽ không vượt quá:
(a) 7,5 phần trăm
tổng số tiền bản quyền trả cho việc thực hiện các dịch vụ hoặc hỗ trợ có tính
chất kỹ thuật hoặc quản lý.
(b) 10 phần trăm
tổng số tiền bản quyền trong tất cả các trường hợp khác.
3. Thuật ngữ “tiền
bản quyền” được sử dụng tại Điều này có nghĩa là các khoản thanh toán dưới bất
kỳ hình thức nào được trả cho việc sử dụng, hoặc quyền sử dụng, bất kỳ bản
quyền tác giả nào của một tác phẩm văn học, nghệ thuật hoặc khoa học kể cả phim
điện ảnh, và các loại phim hoặc các loại băng dùng trong phát thanh hoặc truyền
hình, bằng sáng chế, nhãn hiệu, thiết kế hoặc mẫu, đồ án, công thức hoặc quy
trình bí mật, hoặc trả cho việc sử dụng, hoặc quyền sử dụng thiết bị công nghiệp,
thương mại hoặc khoa học, hoặc trả cho thông tin liên quan đến các kinh nghiệm
công nghiệp, thương mại hoặc khoa học hoặc cho việc thực hiện các dịch vụ hoặc
hỗ trợ có tính chất kỹ thuật hoặc quản lý.
4. Các quy định
tại các khoản 1 và 2 của Điều này sẽ không áp dụng nếu đối tượng thực hưởng các
khoản tiền bản quyền là đối tượng cư trú của một Nước ký kết tiến hành hoạt
động kinh doanh tại Nước ký kết kia nơi có khoản tiền bản quyền phát sinh,
thông qua một cơ sở thường trú đặt tại đó, hoặc tiến hành tại Nước ký kết kia
các hoạt động dịch vụ cá nhân độc lập thông qua một cơ sở cố định đặt tại đó,
và quyền hoặc tài sản có các khoản tiền bản quyền được trả có sự liên hệ thực tế
với (a) cơ sở thường trú hoặc với cơ sở cố định đó, hoặc (b) các hoạt động kinh
doanh được nêu tại điểm (c) khoản 1 Điều 7. Trong trường hợp này, các quy định
tại Điều 7 hoặc Điều 14, tùy từng trường hợp, sẽ được áp dụng.
5. Tiền bản quyền
sẽ được coi là phát sinh tại một Nước ký kết khi đối tượng trả tiền bản quyền
là một đối tượng cư trú của Nước đó. Tuy nhiên, khi đối tượng trả tiền bản
quyền, cho dù có là đối tượng cư trú của một Nước ký kết hay không, có ở một
Nước ký kết một cơ sở thường trú hoặc một cơ sở cố định liên quan đến trách nhiệm
trả tiền bản quyền đã phát sinh và tiền bản quyền đó do cơ sở thường trú hoặc
cơ sở cố định đó chịu thì khoản tiền bản quyền này sẽ vẫn được coi là phát sinh
ở Nước nơi có cơ sở thường trú hoặc cơ sở cố định đó.
6. Trường hợp
do mối quan hệ đặc biệt giữa đối tượng trả và đối tượng thực hưởng hoặc giữa cả
hai đối tượng trên và các đối tượng khác, khoản tiền bản quyền được trả cho việc
sử dụng, quyền hoặc thông tin có số tiền bản quyền được trả, vượt quá khoản
tiền được thỏa thuận giữa đối tượng trả và người thực hưởng khi không có mối
quan hệ đặc biệt này, thì các quy định của Điều này sẽ chỉ áp dụng đối với khoản
tiền thanh toán khi không có mối quan hệ trên. Trong trường hợp này, phần thanh
toán vượt sẽ bị đánh thuế theo các luật của từng Nước ký kết, có xem xét thích
đáng đến các quy định khác của Hiệp định này.
Điều 13. Thu nhập từ chuyển nhượng tài sản
1. Thu nhập do
một đối tượng cư trú của một Nước ký kết thu được từ chuyển nhượng bất động sản
được nêu tại Điều 6 và bất động sản đó nằm tại Nước ký kết kia có thể bị đánh
thuế tại Nước kia.
2. Thu nhập từ
chuyển nhượng động sản là một phần của tài sản kinh doanh của một cơ sở thường
trú mà một doanh nghiệp của một Nước ký kết có tại Nước ký kết kia, hoặc động
sản thuộc một cơ sở cố định của một đối tượng cư trú của một Nước ký kết có tại
Nước ký kết kia để tiến hành hoạt động dịch vụ cá nhân độc lập, kể cả thu nhập
từ việc chuyển nhượng cơ sở thường trú đó (chuyển nhượng riêng cơ sở thường trú
đó hoặc cùng với toàn bộ doanh nghiệp) hoặc cơ sở cố định đó có thể bị đánh
thuế tại Nước kia.
3. Thu nhập từ
chuyển nhượng tàu thủy hoặc máy bay hoạt động trong vận tải quốc tế, hoặc từ chuyển
nhượng động sản gắn liền với hoạt động của tàu thủy hoặc máy bay, sẽ chỉ bị
đánh thuế tại Nước ký kết nơi doanh nghiệp có trụ sở điều hành thực tế.
4. Thu nhập từ
chuyển nhượng các cổ phần hoặc các quyền cấu thành một cổ phần trong một công
ty là một đối tượng cư trú của một Nước ký kết có thể bị đánh thuế tại Nước đó.
5. Thu nhập
từ chuyển nhượng bất kỳ tài sản nào khác với những tài sản được nêu tại các
khoản 1, 2, 3 và 4 sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước ký kết nơi đối tượng chuyển
nhượng là đối tượng cư trú.
Điều 14. Dịch vụ cá nhân độc lập
1. Thu nhập do
một cá nhân là một đối tượng cư trú của một Nước ký kết thu được từ các dịch vụ
ngành nghề hoặc các hoạt động khác có tính chất độc lập sẽ chỉ bị đánh thuế tại
Nước đó trừ các trường hợp sau, khi đó các thu nhập này cũng có thể bị đánh thuế
tại Nước ký kết kia:
(a) Nếu đối tượng
đó thường xuyên có tại Nước ký kết kia một cơ sở cố định để thực hiện các hoạt
động này; trong trường hợp đó, chỉ phần thu nhập phân bổ cho cơ sở cố định đó
có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết kia; hoặc
(b) Nếu đối tượng
đó có mặt tại Nước ký kết kia trong một khoảng thời gian hoặc nhiều khoảng thời
gian gộp lại đến hoặc vượt quá 183 ngày trong bất kỳ giai đoạn mười hai tháng
nào bắt đầu hoặc kết thúc trong năm tài chính có liên quan; trong trường hợp
đó, chỉ phần thu nhập phát sinh từ các hoạt động của đối tượng đó được thực
hiện tại Nước ký kết kia có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết kia.
2. Thuật ngữ “dịch
vụ ngành nghề” bao gồm chủ yếu những hoạt động khoa học, văn học, nghệ thuật,
giáo dục hoặc giảng dạy mang tính chất độc lập như các hoạt động độc lập của
các thầy thuốc, bác sĩ, luật sư, kỹ sư, kiến trúc sư, nha sĩ và kế toán viên.
Điều 15. Dịch vụ cá nhân phụ thuộc
1. Thể theo quy
định tại các Điều 16, 17, 18, 19, 20 và 21 của Hiệp định này, các khoản tiền
lương, tiền công và các khoản tiền thù lao tương tự khác do một đối tượng cư
trú của một Nước ký kết thu được từ lao động làm công sẽ chỉ bị đánh thuế tại
Nước đó, trừ khi lao động làm công của đối tượng đó được thực hiện tại Nước ký
kết kia. Nếu lao động làm công được thực hiện như vậy, số tiền công trả cho lao
động làm công đó có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết kia.
2. Mặc dù có các
quy định tại khoản 1 của Điều này, tiền công do một đối tượng cư trú của một
Nước ký kết thu được từ lao động làm công tại Nước ký kết kia sẽ chỉ bị đánh thuế
tại Nước thứ nhất nếu:
(a) người nhận
tiền công hiện có mặt tại Nước ký kết kia trong một khoảng thời gian hoặc nhiều
khoảng thời gian gộp lại không quá 183 ngày trong bất kỳ giai đoạn mười hai
tháng liên tục bắt đầu hoặc kết thúc trong năm tính thuế có liên quan, và
(b) chủ lao động
hoặc đối tượng đại diện chủ lao động trả tiền công lao động không phải là đối
tượng cư trú tại Nước kia, và
(c) tiền công
không phải phát sinh tại một cơ sở thường trú hoặc cơ sở cố định mà chủ lao động
có tại Nước kia.
3. Mặc dù có những
quy định trên của Điều này, tiền công thu được từ lao động làm trên tàu thủy
hoặc máy bay hoạt động trong vận tải quốc tế sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước nơi
doanh nghiệp có trụ sở điều hành thực tế.
Điều 16. Thù lao Giám đốc
Các khoản thù
lao cho giám đốc và các khoản thanh toán tương tự khác do một đối tượng cư trú của
một Nước ký kết nhận được với tư cách là thành viên của Ban giám đốc của một
công ty là một đối tượng cư trú của Nước ký kết kia có thể bị đánh thuế tại Nước
ký kết kia.
Điều 17. Nghệ sĩ và vận động viên
1. Mặc dù có những
quy định tại các Điều 14 và 15 của Hiệp định này, thu nhập của một đối tượng cư
trú của một Nước ký kết thu được với tư cách người biểu diễn như diễn viên sân
khấu, diễn viên điện ảnh, nghệ sĩ phát thanh, truyền hình, hoặc nhạc công, hoặc
với tư cách là vận động viên từ những hoạt động cá nhân của người đó thực hiện
tại Nước ký kết kia, có thể bị đánh thuế tại Nước kia.
2. Trường hợp
thu nhập liên quan đến các hoạt động trình diễn cá nhân của người biểu diễn hoặc
vận động viên nhưng không được trả cho bản thân người biểu diễn hoặc vận động
viên mà trả cho đối tượng khác, thì thu nhập này có thể bị đánh thuế tại Nước
ký kết nơi diễn ra những hoạt động trình diễn của người biểu diễn hoặc vận động
viên, mặc dù đã có những quy định tại các Điều 7, 14 và 15.
3. Mặc dù có các
quy định tại các khoản 1 và 2 của Điều này, thu nhập do các nghệ sỹ hoặc vận
động viên là những đối tượng cư trú của một Nước ký kết thu được từ các hoạt
động tại Nước ký kết kia theo một thỏa thuận, chương trình hoặc kế hoạch trao
đổi văn hóa giữa Chính phủ của cả hai Nước ký kết sẽ được miễn thuế tại Nước ký
kết kia.
Điều 18. Tiền lương hưu
1. Thể theo các
quy định tại khoản 2 của Điều 19 của Hiệp định này, tiền lương hưu và các khoản
thù lao tương tự khác được trả cho một đối tượng cư trú của một Nước ký kết do
các công việc đã làm trước đây sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước đó.
2. Mặc dù có các
quy định tại khoản 1 của Điều này, tiền lương hưu và các khoản tiền thanh toán
khác được trả theo một chương trình công cộng là một phần của hệ thống bảo hiểm
xã hội của một Nước ký kết hoặc chính quyền địa phương sẽ chỉ bị đánh thuế tại
Nước đó.
Điều 19. Phục vụ Chính phủ
1. (a) Các khoản
tiền lương, tiền công và các khoản tiền thù lao tương tự khác, trừ tiền lương
hưu, do một Nước ký kết hoặc chính quyền địa phương của Nước đó trả cho một cá
nhân đối với các công việc phục vụ cho Nhà nước hoặc chính quyền cơ sở hoặc
chính quyền địa phương đó sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước đó.
(b) Tuy nhiên,
khoản tiền lương, tiền công và các khoản tiền thù lao tương tự khác này sẽ chỉ
bị đánh thuế tại Nước ký kết kia nếu việc phục vụ này được thực hiện tại Nước
ký kết kia và nếu cá nhân này là đối tượng cư trú của Nước ký kết kia, đồng
thời:
(i) là đối tượng
mang quốc tịch của Nước ký kết kia; hoặc
(ii) không trở
thành đối tượng cư trú của Nước ký kết kia chỉ đơn thuần vì thực hiện các công
việc trên.
2. (a) Bất kỳ
một khoản tiền lương hưu nào do một Nước ký kết hoặc một chính quyền địa phương
của Nước đó, hoặc do các quỹ của những cơ quan này lập ra trả cho một cá nhân đối
với các công việc phục vụ cho Nhà nước hoặc chính quyền cơ sở hoặc chính quyền
địa phương tại Nước đó sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước đó.
(b) Tuy nhiên,
những khoản tiền lương hưu này sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước ký kết kia nếu cá
nhân này là đối tượng cư trú, và là đối tượng mang quốc tịch của Nước ký kết
kia.
3. Các quy định
của các Điều 15, 16, 17 và 18 sẽ áp dụng đối với những khoản tiền lương, tiền
công và các khoản tiền thù lao tương tự khác và tiền lương hưu đối với các công
việc liên quan đến một hoạt động kinh doanh được tiến hành bởi một Nước ký kết
hoặc chính quyền cơ sở hoặc chính quyền địa phương của Nước đó.
Điều 20. Sinh viên
Những khoản tiền
mà một sinh viên hoặc một học viên hoặc một thực tập sinh, nhận được để trang
trải các khoản chi phí sinh hoạt, học tập hoặc đào tạo mà người sinh viên, học
viên hoặc thực tập sinh này ngay trước khi đến một Nước ký kết đang và đã là
đối tượng cư trú của Nước ký kết kia và hiện có mặt tại Nước thứ nhất chỉ với
mục đích học tập hoặc đào tạo, sẽ không bị đánh thuế tại Nước đó, với điều kiện
những khoản thanh toán đó có nguồn gốc từ bên ngoài Nước đó.
Điều 21. Giáo viên, giáo sư và nhà nghiên cứu
1. Một cá nhân
hiện là hoặc ngay trước khi sang một Nước ký kết đã là đối tượng cư trú của
Nước ký kết kia và cá nhận đó, theo thư mời của Chính phủ của Nước ký kết thứ
nhất hoặc của một trường đại học, cao đẳng, trường hoặc cơ sở giáo dục hoặc cơ
sở nghiên cứu khoa học được Chính phủ của Nước ký kết thứ nhất công nhận, sẽ được
miễn thuế tại Nước ký kết thứ nhất đối với khoản tiền công từ việc giảng dạy,
thuyết trình hay nghiên cứu đó trong thời hạn hai năm kể từ ngày đầu tiên cá
nhân đó đến Nước ký kết thứ nhất.
2. Điều này sẽ
chỉ áp dụng đối với thu nhập từ hoạt động nghiên cứu nếu việc nghiên cứu đó do
một cá nhân thực hiện vì lợi ích công cộng và ngay từ đầu không phải vì lợi ích
riêng của một hoặc nhiều đối tượng khác.
Điều 22. Thu nhập khác
1. Các khoản thu
nhập của một đối tượng cư trú của một Nước ký kết, cho dù phát sinh ở đâu, chưa
được đề cập đến tại những Điều trên của Hiệp định này, sẽ chỉ bị đánh thuế tại
Nước đó.
2. Các quy định
tại khoản 1 của Điều này sẽ không áp dụng đối với thu nhập, trừ thu nhập từ bất
động sản được định nghĩa tại khoản 2 Điều 6 của Hiệp định này, nếu đối tượng
thực hưởng thu nhập là đối tượng cư trú của một Nước ký kết, có tiến hành hoạt
động kinh doanh tại Nước ký kết kia thông qua một cơ sở thường trú nằm tại Nước
kia, hoặc thực hiện tại Nước kia những hoạt động dịch vụ cá nhân độc lập thông
qua một cơ sở cố định tại Nước kia, và quyền hoặc tài sản liên quan đến số thu
nhập được trả có sự liên hệ thực tế với cơ sở thường trú hoặc cơ sở cố định như
trên.
Trong trường hợp
đó những quy định tại Điều 7 hoặc Điều 14 của Hiệp định này, tùy từng trường
hợp, sẽ được áp dụng.
3. Mặc dù có những
quy định tại các khoản 1 và 2 của Điều này, các khoản thu nhập của một đối
tượng cư trú của một Nước ký kết chưa được đề cập đến tại các Điều trên của Hiệp
định này và phát sinh tại Nước ký kết kia cũng có thể bị đánh thuế tại Nước ký
kết kia.
Điều 23. Các biện pháp xóa bỏ việc đánh thuế hai lần
1. Trường hợp
một đối tượng cư trú của một Nước ký kết nhận được thu nhập mà theo các quy định
của Hiệp định này, có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết kia, Nước ký kết thứ
nhất sẽ cho phép khấu trừ vào số thuế tính trên thu nhập của đối tượng cư trú
đó một khoản tiền bằng số thuế thu nhập đã nộp tại Nước kia.
Tuy nhiên, số
thuế khấu trừ đó sẽ không vượt quá phần thuế thu nhập được tính trước khi cho phép
khấu trừ, được phân bổ cho khoản thu nhập có thể bị đánh thuế tại Nước kia.
2. Trong trường
hợp thu nhập do một đối tượng cư trú của một Nước ký kết thu được, được miễn
thuế tại Nước đó theo bất kỳ quy định nào của Hiệp định này, Nước này có thể
xét đến phần thu nhập được miễn thuế khi tính số thuế đối với thu nhập còn lại
của đối tượng cư trú đó.
3. Theo các quy
định tại khoản 1 của Điều này, trường hợp thuế tính trên lợi nhuận kinh doanh
phát sinh tại một Nước ký kết được miễn hoặc được giảm theo các luật và quy
định tại Nước đó nhằm xúc tiến đầu tư nước ngoài để phát triển kinh tế, số thuế
được miễn hoặc được giảm sẽ được xem là đã được nộp.
4. Trong trường
hợp của Vương quốc A-rập Xê-út, biện pháp tránh đánh thuế hai lần sẽ không làm
ảnh hưởng tới các quy định của chế độ thu Zakat đối với các đối tượng mang quốc
tịch A-rập Xê-út.
Điều 24. Thủ tục thỏa thuận song phương
1. Trường hợp
một đối tượng là đối tượng cư trú của một Nước ký kết nhận thấy rằng việc giải quyết
của nhà chức trách có thẩm quyền của một hoặc cả hai Nước ký kết làm cho hoặc
sẽ làm cho đối tượng đó phải nộp thuế không đúng với các quy định của Hiệp định
này, khi đó đối tượng này có thể giải trình trường hợp của mình với nhà chức
trách có thẩm quyền của Nước ký kết nơi đối tượng đó đang cư trú, mặc dù trong
các luật trong nước của hai Nước ký kết đã quy định các chế độ xử lý khiếu nại.
Trường hợp đó phải được giải trình trong thời hạn 3 năm kể từ lần thông báo
giải quyết đầu tiên dẫn đến hình thức thuế áp dụng không đúng với các quy định
của Hiệp định.
2. Nhà chức trách
có thẩm quyền sẽ cố gắng, nếu như việc khiếu nại là hợp lý và nếu bản thân nhà
chức trách đó không thể đi đến một giải pháp thỏa đáng, phối hợp với nhà chức
trách có thẩm quyền của Nước ký kết kia để cùng giải quyết trường hợp khiếu nại
bằng thỏa thuận chung, nhằm mục đích tránh đánh thuế không phù hợp với quy định
của Hiệp định này. Mọi thỏa thuận đạt được sẽ được thực hiện không căn cứ vào
những giới hạn thời gian quy định tại luật trong nước của hai Nước ký kết.
3. Nhà chức trách
có thẩm quyền của hai Nước ký kết sẽ cố gắng giải quyết bằng thỏa thuận chung
mọi khó khăn hoặc vướng mắc nảy sinh trong quá trình giải thích hoặc áp dụng
Hiệp định này. Nhà chức trách có thẩm quyền của hai Nước cũng có thể trao đổi
với nhau nhằm xóa bỏ việc đánh thuế hai lần trong các trường hợp không được quy
định tại Hiệp định.
4. Nhà chức trách
có thẩm quyền của hai Nước ký kết có thể liên hệ với nhau, nhằm đạt được một
thỏa thuận theo nội dung của các khoản trên đây.
Điều 25. Trao đổi thông tin
1. Nhà chức trách
có thẩm quyền của hai Nước ký kết sẽ trao đổi với nhau các thông tin cần thiết
cho việc triển khai thực hiện các quy định của Hiệp định này hoặc của các luật
trong nước liên quan đến các loại thuế mà Hiệp định này áp dụng sao cho việc
đánh thuế theo các luật trong nước sẽ không trái với Hiệp định này.
Việc trao đổi
thông tin không bị giới hạn bởi Điều 1 của Hiệp định này. Mọi thông tin do một Nước
ký kết nhận được sẽ được giữ bí mật giống như thông tin thu nhận theo các luật
trong nước của Nước này và thông tin đó sẽ chỉ được cung cấp cho các đối tượng
hoặc các cơ quan chức năng (bao gồm tòa án và các cơ quan hành chính) có liên
quan đến việc tính toán hoặc thu, cưỡng chế hoặc truy tố hoặc xác định các khiếu
nại về các loại thuế mà Hiệp định này áp dụng. Các đối tượng hoặc các cơ quan
chức năng này sẽ chỉ sử dụng các thông tin đó vào các mục đích nêu trên. Các
đối tượng và các cơ quan đó có thể cung cấp các thông tin này trong quá trình
tố tụng công khai của tòa án hoặc trong các quyết định của tòa án.
2. Không có trường
hợp nào mà những quy định tại khoản 1 và khoản 2 được giải thích là buộc nhà
chức trách có thẩm quyền của một Nước ký kết có nghĩa vụ:
(a) thực hiện
các biện pháp hành chính khác với luật pháp hoặc thông lệ về quản lý hành chính
của Nước ký kết đó hoặc của Nước ký kết kia;
(b) cung cấp các
thông tin không thể tiết lộ được theo các luật hoặc theo như quá trình quản lý
hành chính thông thường của Nước ký kết đó hoặc của Nước ký kết kia;
(c) cung cấp các
thông tin có thể làm tiết lộ bí mật về mua bán, kinh doanh, công nghiệp, thương
mại hoặc bí mật nghề nghiệp hoặc các quy trình kinh doanh, hoặc các thông tin
mà việc tiết lộ chúng có thể trái với chính sách công cộng.
3. Nếu thông tin
do một Nước ký kết yêu cầu phù hợp với Điều này, Nước ký kết kia sẽ sử dụng các
biện pháp thu thập thông tin của mình để có được các thông tin theo yêu cầu,
mặc dù Nước ký kết kia có thể không cần các thông tin như vậy cho mục đích thuế
của mình. Nghĩa vụ được quy định tại câu trên phụ thuộc vào các giới hạn tại
khoản 2 của Điều này nhưng trong mọi trường hợp các giới hạn này không có nghĩa
là cho phép một Nước ký kết từ chối việc cung cấp thông tin chỉ vì Nước ký kết
đó không có lợi ích từ các thông tin như vậy.
4. Trong mọi trường
hợp, các quy định tại khoản 2 của Điều này sẽ không cho phép một Nước ký kết từ
chối việc cung cấp thông tin chỉ vì thông tin do ngân hàng, tổ chức tài chính,
tổ chức được chỉ định hoặc đối tượng với tư cách đại lý hoặc đối tượng được ủy
thác nắm giữ hoặc chỉ vì thông tin có liên quan tới các lợi ích về sở hữu trong
một đối tượng. Tuy nhiên, thông tin đó sẽ chỉ được sử dụng đối với các vấn đề
về thuế bao gồm trong Hiệp định.
Điều 26. Các thành viên cơ quan đại diện ngoại giao và cơ
quan đại diện lãnh sự
Không nội dung
nào tại Hiệp định này ảnh hưởng đến các ưu đãi về thuế của thành viên cơ quan
đại diện ngoại giao và cơ quan đại diện lãnh sự theo các quy tắc chung của pháp
luật quốc tế hoặc các quy định tại các hiệp định đặc biệt.
Điều 27. Các quy định khác
Không nội dung
nào tại Hiệp định này sẽ ảnh hưởng đến việc áp dụng các quy định trong nước
nhằm ngăn ngừa việc trốn thuế và tránh thuế.
Điều 28. Hiệu lực
1. Mỗi Nước ký
kết, thông qua đường ngoại giao, sẽ thông báo cho nhau biết bằng văn bản việc
hoàn tất các thủ tục theo yêu cầu của pháp luật nước mình để Hiệp định có hiệu
lực. Hiệp định này sẽ có hiệu lực vào ngày đầu tiên của tháng thứ hai tiếp theo
tháng nhận được thông báo gần nhất trong số các thông báo này.
2. Các quy định
của Hiệp định này sẽ có hiệu lực thi hành:
(a) trong trường
hợp của Việt Nam:
(i) đối với các
khoản thuế khấu trừ tại nguồn, liên quan đến các khoản thu nhập chịu thuế thu được
vào ngày hoặc sau ngày đầu tiên của tháng 1 tiếp sau năm Hiệp định có hiệu lực,
và trong các năm dương lịch tiếp theo;
(ii) đối với các
khoản thuế khác của Việt Nam, liên quan đến thu nhập, lợi nhuận, giá trị tăng
thêm hoặc tài sản phát sinh vào ngày hoặc sau ngày đầu tiên của tháng 1 tiếp
sau năm Hiệp định có hiệu lực, và trong các năm dương lịch tiếp theo; và
(b) trong trường
hợp của Vương quốc A-rập Xê-út:
(i) đối với các
khoản thuế khấu trừ tại nguồn, số tiền được chi trả vào ngày hoặc sau ngày đầu
tiên của tháng 1 tiếp theo ngày Hiệp định có hiệu lực; và
(ii) đối với các
khoản thuế khác, các năm tính thuế bắt đầu vào ngày hoặc sau ngày đầu tiên của
tháng 1 tiếp theo ngày Hiệp định có hiệu lực.
Điều 29. Chấm dứt hiệu lực
1. Hiệp định này
sẽ có hiệu lực vô thời hạn, nhưng từng Nước ký kết có thể chấm dứt Hiệp định
bằng việc gửi cho Nước ký kết kia thông qua con đường ngoại giao văn bản thông báo
chấm dứt Hiệp định trước ngày 30 tháng 6 của bất kỳ năm dương lịch nào sau thời
hạn 5 năm kể từ năm Hiệp định có hiệu lực.
2. Trong trường
hợp đó Hiệp định sẽ hết hiệu lực thi hành:
(a) trong trường
hợp của Việt Nam:
(i) đối với các
khoản thuế khấu trừ tại nguồn, liên quan đến các khoản thu nhập chịu thuế thu
được vào ngày hoặc sau ngày đầu tiên của tháng 1 tiếp sau năm dương lịch nhận
được thông báo kết thúc hiệu lực, và trong bất kỳ các năm dương lịch tiếp theo;
và
(ii) đối với các
khoản thuế khác của Việt Nam, liên quan đến thu nhập, lợi nhuận, giá trị tăng
thêm hoặc tài sản phát sinh vào ngày hoặc sau ngày đầu tiên của tháng 1 tiếp
sau năm dương lịch nhận được thông báo kết thúc hiệu lực, và trong bất kỳ các
năm dương lịch tiếp theo; và
(b) trong trường
hợp của Vương quốc A-rập Xê-út:
(i) đối với các
khoản thuế khấu trừ tại nguồn, số tiền được chi trả sau khi kết thúc năm dương
lịch mà thông báo kết thúc hiệu lực được gửi đi; và
(ii) đối với các
khoản thuế khác, các năm tính thuế bắt đầu sau khi kết thúc năm dương lịch mà
thông báo kết thúc hiệu lực được gửi đi.
ĐỂ LÀM BẰNG những
người có tên dưới đây, được sự ủy quyền hợp thức của Chính phủ nước mình, đã ký
vào Hiệp định này.
HIỆP ĐỊNH LÀM
tại Riyadh ngày 10 tháng 4 năm 2010 thành hai bản mỗi bản bằng tiếng Việt, tiếng
A-rập và tiếng Anh, tất cả các bản đều có giá trị ngang nhau. Trường hợp có sự
giải thích khác nhau, văn bản tiếng Anh sẽ có giá trị quyết định./.
|
THAY
MẶT CHÍNH PHỦ
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VIỆT NAM
THỨ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH
Phạm Sỹ Danh
|
THAY
MẶT CHÍNH PHỦ
VƯƠNG QUỐC
A-RẬP XÊ-ÚT
BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH
Ibrahim A. Al-Assaf
|