|
ỦY BAN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 291/KH-UBND
|
Cần Thơ, ngày 19
tháng 6 năm 2026
|
KẾ HOẠCH
PHÒNG, CHỐNG BỆNH DẠI, GIAI ĐOẠN 2026 - 2030 TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thực hiện Quyết định số
2151/QĐ-TTg ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt
“Chương trình quốc gia phòng, chống bệnh Dại, giai đoạn 2022 - 2030”, Ủy ban
nhân dân thành phố ban hành Kế hoạch phòng, chống bệnh Dại, giai đoạn 2026 -
2030 trên địa bàn thành phố Cần Thơ, với nội dung cụ thể như sau:
I. MỤC TIÊU
1. Mục tiêu chung
Kiểm soát được bệnh Dại trên
đàn chó, mèo nuôi và phấn đấu không có người tử vong vì bệnh Dại vào năm 2030,
góp phần bảo vệ sức khỏe người dân và cộng đồng.
2. Mục tiêu cụ thể
2.1. Đối với phòng chống bệnh Dại
ở động vật
- Quản lý được trên 90% số hộ
nuôi chó, mèo và số chó, mèo nuôi trong giai đoạn 2026 - 2030.
- Tiêm vắc xin Dại cho 80% tổng
đàn chó, mèo nuôi trong giai đoạn 2026 - 2030 (tỷ lệ tiêm phòng tính theo số lượng
tổng đàn chó mèo thực tế thuộc diện tiêm phòng của thành phố).
- Trên 90% số xã, phường giám sát
được chó, mèo mắc và nghi mắc bệnh Dại trong giai đoạn 2026 - 2030.
- Xây dựng thành công ít nhất
05 vùng an toàn dịch bệnh Dại cấp xã, phường.
2.2. Đối với phòng, chống bệnh
Dại ở người
- 100% các xã, phường có điểm
tiêm vắc xin Dại.
- 100% các xã, phường thực hiện
truyền thông nguy cơ và nâng cao nhận thức về bệnh Dại ở cộng đồng, trường học.
- 100% số người tiêm vắc xin
phòng bệnh Dại do động vật cắn được báo cáo qua hệ thống báo cáo quốc gia.
- 90% số người bị phơi nhiễm với
bệnh Dại được điều trị dự phòng sau phơi nhiễm.
- Phấn đấu duy trì từ nay đến
năm 2030, thành phố thuộc vùng nguy cơ thấp về bệnh Dại trên người và không có
người tử vong vì bệnh Dại.
II. NHIỆM VỤ
VÀ GIẢI PHÁP
1. Quản lý
đàn chó mèo
1.1. Chủ nuôi chó, mèo
Chủ nuôi chó, mèo có trách nhiệm
đăng ký, khai báo nuôi chó, mèo với chính quyền cấp xã; cam kết nuôi nhốt chó,
mèo trong khuôn viên gia đình; chó, mèo khi đưa ra khỏi nhà phải được xích, rọ
mõm và có người dắt đề phòng cắn người; nếu để chó, mèo thả rông cắn người thì
phải chi trả những chi phí liên quan theo quy định; từng bước áp dụng việc đánh
dấu để nhận diện (Đeo vòng cổ) cho chó, mèo đã được tiêm vắc xin Dại.
1.2. Chính quyền các cấp
- Ủy ban nhân dân thành phố:
Giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chỉ đạo Chi cục Chăn nuôi và Thú y thành phố
thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong phòng, chống dịch bệnh
động vật, quản lý chó, mèo nuôi; tổ chức hướng dẫn sử dụng Hệ thống báo cáo trực
tuyến số liệu dịch bệnh, tổng đàn, báo cáo số liệu tiêm phòng vắc xin Dại đàn
chó, mèo, giám sát, vùng, cơ sở an toàn bệnh Dại; hướng dẫn việc quản lý, lập
danh sách hộ chăn nuôi chó hoặc sổ quản lý chó, mèo; cập nhật số liệu nuôi tại
địa phương trên Hệ thống báo cáo trực tuyến quản lý chó, mèo.
- Ủy ban nhân dân xã, phường:
+ Tổ chức quản lý, lập danh
sách hộ nuôi chó, mèo hoặc sổ quản lý chó, mèo; tổng hợp và cập nhật số liệu
chi tiết tại địa phương tối thiểu 02 lần/năm, gửi báo cáo số liệu tổng hợp về Sở
Nông nghiệp và Môi trường (Chi cục Chăn nuôi và Thú y thành phố) để cập nhật số
liệu vào Hệ thống báo cáo trực tuyến quản lý chó, mèo của Bộ Nông nghiệp và Môi
trường.
+ Bố trí đầy đủ kinh phí và nguồn
lực cần thiết để tổ chức triển khai kế hoạch tiêm phòng vắc xin Dại cho đàn
chó, mèo tại địa phương.
+ Căn cứ tình hình thực tiễn tại
địa phương để quyết định thành lập đội bắt chó, mèo thả rông, chó không đeo rọ
mõm, nghi mắc bệnh Dại, cưỡng chế tiêm vắc xin Dại cho chó, mèo.
+ Xử lý nghiêm các trường hợp
vi phạm hành chính trong quản lý nuôi chó, mèo, không tiêm vắc xin Dại cho chó,
mèo theo quy định của pháp luật.
2. Tiêm
phòng vắc xin Dại cho đàn chó, mèo
2.1. Yêu cầu chung về tiêm vắc
xin Dại
- Đối tượng và phạm vi tiêm
phòng: Toàn bộ đàn chó, mèo nuôi trong địa bàn cấp xã; chó, mèo đã tiêm vắc xin
Dại nên được đánh dấu để nhận diện (Vòng đeo cổ).
- Thời điểm và tần suất: Hàng
năm, ưu tiên tiêm vào trước thời điểm nắng nóng, trước mùa hè hoặc kết hợp với
kế hoạch tiêm phòng gia súc đợt 1 (Vào tháng 3 đến tháng 4) và tiếp tục tiêm bổ
sung cho đàn chó, mèo mới phát sinh trong đợt tiêm phòng gia súc đợt 2 (Vào
tháng 9 và tháng 10). Tổ chức tiêm vắc xin Dại cho trên 80% đàn chó, mèo đã hết
thời gian miễn dịch, mới nuôi, bảo đảm tối thiểu 1 lần/năm trong giai đoạn 2026
- 2030; thường xuyên rà soát, tiêm bổ sung cho đàn chó, mèo mới phát sinh.
- Sử dụng vắc xin: Theo hướng dẫn
của nhà sản xuất vắc xin hoặc theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Môi trường,
Cục Chăn nuôi và Thú y.
2.2. Tổ chức tiêm vắc xin Dại
- Sở Nông nghiệp và Môi trường
(Chi cục Chăn nuôi và Thú y thành phố) tham mưu xây dựng kế hoạch tiêm phòng,
giám sát và xây dựng vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh động vật trên địa bàn thành
phố, trong đó triển khai đến UBND xã, phường công tác tiêm vắc xin Dại cho đàn
chó, mèo đồng loạt vào cùng một thời điểm; ưu tiên tập trung tiêm vắc xin Dại
cho đàn chó, mèo vào trước thời điểm các tháng có nguy cơ cao (Nắng nóng); thường
xuyên rà soát tiêm phòng bổ sung cho đàn chó, mèo mới phát sinh hoặc chưa được
tiêm phòng trước đó. Hướng dẫn UBND xã, phường cấp Giấy chứng nhận tiêm phòng bệnh
Dại theo quy định và định kỳ đánh giá kết quả triển khai tiêm phòng.
- Ủy ban nhân dân xã, phường: Bố
trí đầy đủ kinh phí và các nguồn lực cần thiết để triển khai tiêm phòng vắc xin
Dại cho đàn chó, mèo tại địa phương. Có trách nhiệm tuyên truyền, vận động chủ
nuôi chó, mèo tích cực phối hợp với Chi Chăn nuôi và Thú y thành phố để triển
khai tiêm phòng vắc xin Dại cho đàn chó, mèo đảm bảo đạt yêu cầu; tổ chức hướng
dẫn, giám sát việc tiêm phòng và cấp Giấy chứng nhận tiêm phòng bệnh Dại, đánh
giá kết quả tiêm phòng, thực hiện vệ sinh, khử trùng tiêu độc theo quy định.
- Thú y xã, phường, những người
có chứng chỉ hành nghề thú y, các cơ sở có đủ điều kiện hành nghề khám chữa bệnh
cho chó, mèo thực hiện tiêm phòng vắc xin Dại cho chó, mèo và cấp Giấy chứng nhận
tiêm phòng (Hoặc sổ tiêm phòng) theo quy định, thực hiện việc báo cáo số liệu
tiêm phòng theo hướng dẫn của Chi cục Chăn nuôi và Thú y thành phố.
3. Điều trị
dự phòng sau phơi nhiễm cho người
3.1 Yêu cầu chung đối với điều trị
dự phòng sau phơi nhiễm
Tất cả những người bị chó, mèo
cắn, cào, phơi nhiễm, có nguy cơ nhiễm với bệnh Dại phải được điều trị dự phòng
theo đúng hướng dẫn của Ngành Y tế.
3.2 Tổ chức điều trị dự phòng
Sở Y tế chỉ đạo Trung tâm Kiểm
soát bệnh tật thành phố theo dõi, tổng hợp nhu cầu, phối hợp điều phối và bảo đảm
khả năng tiếp cận vắc xin phòng Dại, huyết thanh kháng Dại tại các cơ sở tiêm
chủng; hướng dẫn, hỗ trợ chuyên môn nhằm tiếp tục duy trì các điểm tiêm vắc xin
phòng dại tại các Trung tâm Y tế khu vực; đồng thời, củng cố, mở rộng mạng lưới
điểm tiêm vắc xin và huyết thanh kháng Dại, đáp ứng nhu cầu điều trị dự phòng
sau phơi nhiễm, đặc biệt tại các khu vực có nguy cơ cao. Phối hợp với Ủy ban
nhân dân xã, phường và các sở ngành có liên quan xây dựng kế hoạch phòng chống
bệnh dại trên người, hỗ trợ điều trị dự phòng cho người nghèo tại các khu vực đồng
bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, người có công
với cách mạng, người tham gia công tác phòng chống dịch và các đối tượng đặc biệt
khác.
4. Rà soát,
hoàn thiện thể chế, chính sách về phòng, chống bệnh Dại
- Rà soát, đề xuất góp ý hoàn
thiện các văn bản quy định, hướng dẫn về phòng, chống bệnh Dại; quy định cụ thể
việc bắt, nhốt giữ, xử lý chó, mèo thả rông; các quy định về xử phạt vi phạm
hành chính đối với hành vi đưa chó không có rọ mõm ra nơi công cộng, không thực
hiện tiêm phòng vắc xin Dại cho chó, mèo...
- Nghiên cứu, xây dựng chính
sách hỗ trợ mua vắc xin Dại và tổ chức tiêm phòng miễn phí cho đàn chó, mèo tại
các ổ dịch, khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa,..; hỗ trợ xây
dựng và duy trì vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh đối với bệnh Dại.
- Xây dựng, sửa đổi, góp ý bổ
sung chính sách mua vắc xin Dại cho người; chính sách hỗ trợ vắc xin Dại, tiêm
phòng miễn phí cho nhân viên thú y, nhân viên y tế, người tham gia phòng, chống
dịch bệnh Dại; điều trị, chăm sóc trong trường hợp rủi ro nghề nghiệp; chính
sách hỗ trợ vắc xin Dại, huyết thanh kháng Dại, điều trị dự phòng cho người
nghèo/cận nghèo tại các khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng
xa,....; chính sách thanh toán bảo hiểm tai nạn do động vật cắn đảm bảo tất cả
những người dân được tiếp cận với dịch vụ tiêm vắc xin phòng Dại.
- Xây dựng quy chế phối hợp giữa
cơ quan thú y và cơ quan y tế, bảo đảm kịp thời chia sẻ thông tin bệnh Dại và
triển khai nhanh nhất, hiệu quả nhất các biện pháp phòng, chống bệnh Dại.
5. Giải
pháp về thông tin, tuyên truyền nâng cao nhận thức, thái độ và thay đổi hành vi
trong phòng chống bệnh Dại
5.1. Nội dung thông tin, tuyên
truyền
- Đặc điểm và tính chất nguy hiểm
của bệnh Dại, cách nhận biết người và động vật mắc bệnh Dại, nghi mắc bệnh Dại
và biện pháp xử lý, phòng, chống bệnh Dại ở người và động vật; chủ trương,
chính sách và quy định về quản lý nuôi chó, mèo và tiêm vắc xin Dại chó, mèo;
các biện pháp phòng, chống bệnh Dại, xây dựng vùng an toàn bệnh Dại; xử lý vi
phạm các trường hợp vi phạm, không tuân thủ các quy định về quản lý chó, mèo
nuôi, tiêm vắc xin Dại cho chó, mèo, không tuân thủ các biện pháp phòng, chống
bệnh Dại.
- Nâng cao nhận thức cộng đồng
về tính chất nguy hiểm của bệnh Dại và các biện pháp phòng chống bệnh Dại ở người;
hướng dẫn người bị chó, mèo cắn xử lý y tế ban đầu ngay sau khi bị chó, mèo cắn
và đến các cơ sở y tế để được điều trị dự phòng kịp thời. Không sử dụng thuốc
đông y (Thuốc nam, thuốc bắc) hoặc các loại thuốc khác không theo quy định của
ngành y tế thay thế vắc xin để điều trị dự phòng bệnh Dại khi bị chó, mèo cắn.
- Các nội dung và tổ chức thực
hiện Chương trình quốc gia phòng, chống bệnh Dại, giai đoạn 2026 - 2030 với mục
tiêu quan trọng không có người tử vong vì bệnh Dại vào năm 2030.
5.2. Phương thức thông tin,
tuyên truyền
- Truyền thông qua các chương
trình truyền hình, phát thanh của thành phố, xã, phường, bảng tin công cộng tại
nơi đông người, các điểm sinh hoạt văn hóa, sinh hoạt cộng đồng của người dân;
báo giấy, báo mạng, trang thông tin điện tử của các cơ quan, tổ chức có liên
quan.
- Tổ chức thông tin, tuyên truyền
lưu động ở cơ sở; tuyên truyền, vận động thông qua các báo cáo viên, tuyên truyền
viên, cán bộ y tế, thú y cơ sở; xây dựng, in ấn, phát miễn phí các tài liệu
tuyên truyền (Tờ rơi, pa nô, sách sổ tay, poster...); truyền thông học đường về
phòng, chống bệnh Dại; phát động hưởng ứng Ngày “Thế giới phòng chống bệnh Dại”
vào ngày 28/9 hàng năm; tổ chức các hội thảo, hội nghị, tập huấn chuyên đề, các
buổi tọa đàm, nói chuyện, giao lưu trực tuyến, tổ chức sự kiện,...
5.3. Thời điểm và tần suất
tuyên truyền
Thông tin, tuyên truyền về các
nội dung phòng, chống bệnh Dại phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, đặc
biệt trước thời điểm mùa nắng nóng, thời điểm tổ chức tiêm vắc xin Dại cho chó,
mèo nhất là tại các khu vực đông dân cư và có nuôi nhiều chó, mèo, khu vực có
nguy cơ cao về bệnh Dại, khu vực ổ dịch.
6. Điều
tra, ứng phó, xử lý ổ dịch Dại
Điều tra, xử lý dịch bệnh Dại
trên động vật và người bảo đảm tuân thủ các quy định của pháp luật về thú y và
y tế, cụ thể như sau:
6.1. Chủ nuôi chó, mèo
Chủ nuôi chó, mèo có trách nhiệm
báo cáo, cung cấp thông tin chính xác cho chính quyền địa phương, cán bộ thú y,
y tế gần nhất khi phát hiện động vật mắc bệnh, nghi mắc bệnh, chết do Dại; cách
ly theo dõi động vật có dấu hiệu nghi mắc bệnh Dại, tiêu hủy động vật mắc bệnh
Dại theo hướng dẫn của Chi cục Chăn nuôi và Thú y thành phố; nghiêm cấm mua
bán, giết mổ, sử dụng sản phẩm động vật nghi mắc bệnh Dại; không vứt xác động vật
ra môi trường; thực hiện vệ sinh, khử trùng, tiêu độc, tiêu hủy bắt buộc động vật
nghi mắc bệnh, mắc bệnh, chết do bệnh Dại.
6.2. Sở Nông nghiệp và Môi trường
chủ trì, phối hợp với Sở Y tế và UBND xã, phường
Chỉ đạo Chi cục Chăn nuôi và
Thú y thành phố hướng dẫn thực hiện tiêu hủy ngay động vật mắc bệnh; tiến hành
điều tra ổ dịch và lấy mẫu động vật để xét nghiệm bệnh Dại; thực hiện tiêm vắc
xin Dại để phòng, chống dịch bệnh; hướng dẫn thực hiện vệ sinh, khử trùng, tiêu
độc, tiêu hủy bắt buộc động vật mắc bệnh, nghi mắc bệnh, chết do bệnh Dại; theo
dõi nuôi cách ly động vật nghi mắc Dại cắn người theo quy định; trình cấp có thẩm
quyền xem xét, quyết định công bố dịch, công bố hết dịch theo quy định; tham
mưu cho Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo các ban ngành chức năng có liên quan
tổ chức triển khai phòng, chống bệnh Dại theo quy định; báo cáo dịch bệnh theo
quy định của Bộ Nông nghiệp và Môi trường; lập biên bản vi phạm hành chính và
trình cấp có thẩm quyền ra quyết định xử phạt các trường hợp vi phạm trong
phòng, chống dịch bệnh Dại; thông báo cho Sở Y tế để giám sát, phòng chống bệnh
Dại.
6.3. Sở Y tế chủ trì, phối hợp
với Sở Nông nghiệp và Môi trường và UBND xã, phường.
Chỉ đạo Trung tâm Kiểm soát bệnh
tật thành phố hướng dẫn xử lý bệnh nhân tử vong do bệnh Dại, tổ chức mai táng
theo quy định của bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm nhóm B. Người trong gia
đình tiếp xúc trực tiếp, cán bộ y tế tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân cần được
điều trị dự phòng; phối hợp với Chi cục Chăn nuôi và Thú y thành phố và chính
quyền địa phương để xác định người cần đi điều trị dự phòng, hướng dẫn người bị
chó, mèo cắn đi điều trị dự phòng tại các cơ sở y tế; thông báo, chia sẻ kịp thời
thông tin người bị chó, mèo cắn phải đi điều trị dự phòng tại cơ sở y tế (trong
vòng 24 giờ) cho Chi cục Chăn nuôi và Thú y thành phố để giám sát, phòng chống
bệnh Dại trên động vật; truyền thông, hướng dẫn người bị phơi nhiễm đến các cơ
sở y tế để được điều trị dự phòng; phối hợp với Chi cục Chăn nuôi và Thú y
thành phố và chính quyền cơ sở để xác định người cần đi điều trị dự phòng, hướng
dẫn người bị chó, mèo cắn đi điều trị dự phòng tại các cơ sở y tế; thực hiện
các biện pháp chống dịch khác theo quy định hiện hành; thông báo, chia sẻ kịp
thời thông tin người bị chó, mèo cắn phải đi điều trị dự phòng tại cơ sở y tế
cho Chi cục Chăn nuôi và Thú y thành phố để giám sát, phòng chống bệnh Dại trên
động vật.
6.4. Ủy ban nhân dân xã, phường
- Có trách nhiệm tổ chức xử lý ổ
dịch, tiêu hủy động vật mắc bệnh, nghi mắc bệnh Dại; thực hiện các biện pháp
phòng, chống bệnh Dại theo quy định; lập chốt kiểm soát tạm thời trên các trục
đường giao thông chính ra vào vùng dịch, vùng khống chế để ngăn chặn không đưa
chó, mèo ra ngoài vùng dịch; phối hợp, điều tra xác định hộ nuôi có chó, mèo mắc,
nghi mắc bệnh Dại; thành lập tổ giám sát, bắt và xử lý chó, mèo thả rông, chó,
mèo chưa được tiêm vắc xin Dại trong vùng đang có ổ dịch Dại; đặt biển báo khu
vực có dịch, hướng dẫn người, phương tiện tránh đi qua vùng dịch; phun khử
trùng các phương tiện vận chuyển từ vùng dịch đi ra ngoài; xử lý động vật mắc bệnh
trong vùng dịch theo quy định; xử lý các trường hợp vi phạm hành chính theo quy
định.
- Căn cứ thực tế tình hình dịch
bệnh Dại, tại địa phương tổ chức tiêm phòng khẩn cấp vắc xin Dại cho chó, mèo bảo
đảm đạt 80% tổng đàn trở lên.
7. Giám sát
bệnh Dại trên động vật
7.1. Giám sát lâm sàng (giám
sát bị động)
- Chủ nuôi động vật có trách
nhiệm thường xuyên theo dõi chó, mèo, nếu phát hiện động vật có biểu hiện nghi
mắc bệnh Dại phải báo ngay cho chính quyền cơ sở, thú y xã, phường hoặc cơ quan
thú y, y tế nơi gần nhất; thực hiện các biện pháp ứng phó, xử lý ổ dịch Dại.
- Ủy ban nhân dân xã, phường có
trách nhiệm tổ chức kiểm tra ngay khi nhận được thông tin; tổ chức điều tra,
xác minh, phối hợp với Chi cục Chăn nuôi và Thú y thành phố lấy mẫu xét nghiệm,
xử lý các trường hợp động vật mắc bệnh, nghi mắc bệnh Dại. Tổ chức xử lý ổ dịch,
tiêu hủy động vật mắc bệnh, nghi mắc bệnh Dại; tổ chức các biện pháp phòng, chống
bệnh Dại theo quy định.
7.2. Giám sát lưu hành vi rút
và giám sát sau tiêm phòng (Giám sát chủ động)
Hàng năm, Chi cục Chăn nuôi và
Thú y tham mưu Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố xây dựng kế hoạch, trình
UBND thành phố phê duyệt, bố trí kinh phí tổ chức triển khai giám sát lưu hành
vi rút, giám sát sau tiêm phòng vắc xin Dại ở động vật; kết quả giám sát có thể
sử dụng để chứng minh cơ sở, vùng an toàn bệnh Dại trên động vật.
7.3. Tập huấn nâng cao năng lực
giám sát
- Chuẩn hóa chương trình, tài
liệu tập huấn phòng, chống bệnh Dại cho hệ thống y tế, thú y các cấp.
- Tập huấn các nội dung về quản
lý đàn chó, mèo; kỹ năng bắt, xử lý chó, mèo thả rông. Thực hiện đúng các quy định
về bảo quản và vận chuyển vắc xin, theo dõi sau tiêm, đảm bảo an toàn trong và
sau khi tiêm vắc xin Dại; kỹ thuật thu thập, bảo quản và vận chuyển mẫu động vật
nghi mắc bệnh Dại, bảo đảm an toàn cho người lấy mẫu và chất lượng của mẫu; kỹ
năng điều tra, giám sát, chẩn đoán xác định bệnh Dại trên động vật, phân tích
tình hình dịch tễ, xác định vùng có nguy cơ lây truyền bệnh Dại, để tiêm vắc
xin Dại cho chó, mèo; phối hợp liên ngành y tế trong việc giám sát, lấy mẫu động
vật để xét nghiệm bệnh Dại; kỹ năng truyền thông nguy cơ, truyền thông cộng đồng
trong công tác phòng, chống bệnh Dại; kỹ năng, phương pháp xây dựng, triển khai
kế hoạch xây dựng cơ sở, vùng an toàn dịch bệnh Dại.
8. Giám sát
bệnh Dại trên người
8.1. Giám sát người bị phơi nhiễm
đi tiêm vắc xin phòng dại
- Người bị chó, mèo cắn phải rửa
ngay vết thương và đến các cơ sở y tế để được tiêm vắc xin phòng Dại. Các điểm
tiêm đảm bảo đủ vắc xin để người dân có thể tiếp cận với việc điều trị dự phòng
bệnh dại sau phơi nhiễm; trường hợp nhiều người bị chó, mèo cắn và có biểu hiện
nghi mắc bệnh Dại phải báo ngay cho cơ quan thú y địa phương thực hiện các biện
pháp ứng phó, xử lý ổ dịch bệnh Dại.
- Tổ chức tiêm phòng bệnh Dại
cho người và báo cáo trên hệ thống theo quy định của Chương trình quốc gia
phòng chống bệnh Dại trên người.
- Hàng năm, Sở Y tế (Trung tâm
Kiểm soát bệnh tật thành phố) căn cứ tình hình thực tế tiêm điều trị dự phòng của
thành phố, xã, phường có báo cáo ca tử vong về bệnh Dại để xây dựng kế hoạch,
trình UBND thành phố phê duyệt, bố trí kinh phí triển khai giám sát tiêm phòng
vắc xin cho người bị phơi nhiễm bệnh Dại do bị động vật cắn.
8.2. Giám sát bệnh nhân tử vong
để phát hiện sự lưu hành của vi rút Dại
- Cán bộ y tế dự phòng có trách
nhiệm phối hợp với bệnh viện tổ chức điều tra ngay khi nhận được thông tin, xác
minh, lấy mẫu xét nghiệm bệnh nhân lâm sàng lên cơn dại gửi đến Viện Vệ sinh Dịch
tễ/Pasteur để chẩn đoán xác định và tìm sự lưu hành của chủng vi rút Dại.
- Tại khu vực có bệnh nhân tử
vong do Dại, phối hợp với chính quyền địa phương tiến hành khử khuẩn và phối hợp
với Chi cục Chăn nuôi và Thú y thành phố điều tra xử lý ổ dịch Dại trên đàn
chó, mèo tại địa phương (Nếu có).
8.3. Nâng cao năng, lực giám
sát bệnh Dại trên người
- Chuẩn hóa chương trình, tài
liệu tập huấn phòng chống bệnh Dại cho hệ thống y tế các cấp.
- Tập huấn các kỹ năng tư vấn,
chỉ định và tiêm vắc xin Dại cho cán bộ y tế ở các điểm tiêm vắc xin phòng Dại
cho người; kỹ thuật bảo quản và vận chuyển vắc xin, theo dõi sau tiêm; kỹ thuật
thu thập, bảo quản và vận chuyển mẫu của người nghi mắc bệnh Dại, bảo đảm an
toàn cho người lấy mẫu và chất lượng của mẫu; kỹ năng điều tra, giám sát, chẩn
đoán xác định bệnh Dại, phân tích tình hình dịch tễ, xác định vùng, nhóm người
có nguy cơ lây truyền bệnh Dại, tiêm phòng vắc xin Dại cho người có nguy cơ
cao, xử trí vết cắn, điều trị dự phòng cho người bị chó, mèo cắn, xử lý ổ dịch;
phối hợp liên ngành thú y trong việc giám sát, lấy mẫu bệnh Dại trên động vật dựa
vào người bị cắn đi tiêm phòng; kỹ năng truyền thông nguy cơ, cách hạn chế bị động
vật cắn, truyền thông cộng đồng trước, trong và sau ổ dịch bệnh Dại.
9. Tăng cường
năng lực xét nghiệm: Đầu tư, tăng cường năng lực Phòng Chẩn đoán
bệnh động vật hiện có, bảo đảm an toàn sinh học, an ninh sinh học phù hợp với việc
lấy mẫu xét nghiệm bệnh Dại trên động vật theo quy định; tăng số lượng lấy mẫu
xét nghiệm chủ động trên động vật.
10. Xây dựng
cơ sở, vùng an toàn dịch bệnh Dại: Ủy ban nhân dân xã, phường
căn cứ nhu cầu, nguồn lực của địa phương, đẩy mạnh việc tổ chức xây dựng vùng,
cơ sở an toàn đối với bệnh Dại theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Môi trường,
khuyến cáo của Tổ chức Thú y thế giới (OIE).
11. Kiểm
soát vận chuyển chó, mèo: Tổ chức theo dõi, giám sát, ngăn chặn,
xử lý tiêu hủy chó, mèo sản phẩm chó, mèo vận chuyển trái phép vào thành phố; xử
lý nghiêm các hành vi vận chuyển chó, mèo không đúng quy định; tổ chức kiểm
soát vận chuyển chó, mèo trong nước theo quy định của Luật Thú y, Luật số
146/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 luật thuộc lĩnh vực Nông nghiệp
và Môi trường các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Thú y, Luật số 146/2025/QH15;
tổ chức lấy mẫu giám sát lưu hành vi rút Dại đối với chó, mèo được vận chuyển.
12. Nghiên
cứu khoa học: Tham gia nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ, đặc điểm
sinh học phân tử của vi rút Dại tại Việt Nam, các phương pháp chẩn đoán, xét
nghiệm bệnh Dại, nhận thức, thái độ, thực hành trong quản lý chó, mèo tiêm vắc
xin phòng bệnh Dại cho chó, mèo; đánh giá thực trạng người bị chó, mèo cắn và
đi tiêm vắc xin phòng bệnh Dại; cải tiến phác đồ điều trị cho người mắc bệnh Dại,
giảm đau cho người mắc bệnh Dại.
13. Hợp
tác quốc tế: Phối hợp với các tổ chức quốc tế, các nước thực hiện
các chương trình, dự án hợp tác quốc tế về phòng, chống bệnh Dại; nghiên cứu
chuyên sâu về vi rút, dịch tễ bệnh Dại, vắc xin phòng bệnh và kiểm dịch vận
chuyển động vật; thực hiện giám sát, phát hiện mầm bệnh Dại trên động vật nuôi
và động vật hoang dã.
14. Hợp
tác nghiên cứu, sản xuất và cung ứng vắc xin: Phối hợp, hỗ trợ
các doanh nghiệp để tổ chức nghiên cứu, sản xuất, cung ứng vắc xin Dại trên người
và động vật, bảo đảm phù hợp, hiệu quả theo yêu cầu của Bộ nông nghiệp và Môi
trường, Cục Chăn nuôi và Thú y.
III. KINH
PHÍ THỰC HIỆN
1. Ngân
sách nhà nước
1.1. Ngân sách địa phương đảm bảo
kinh phí cho các hoạt động của địa phương, bao gồm những nội dung chính:
- Tổ chức quản lý đàn chó, mèo
tổ chức bắt, xử lý chó, mèo chạy rông, chó, mèo không đeo rọ mõm, không tiêm vắc
xin Dại;
- Hỗ trợ mua vắc xin (hàng năm
tùy theo khả năng ngân sách nhà nước), tổ chức tiêm vắc xin Dại cho đàn chó,
mèo của địa phương đảm bảo đạt trên 80% tổng đàn thuộc diện tiêm phòng trong
giai đoạn 2026 - 2030;
- Hỗ trợ mua vắc xin Dại để
tiêm phòng khẩn cấp miễn phí cho đàn chó, mèo tại các khu vực có dịch, khu vực
vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn,...;
- Hỗ trợ điều trị dự phòng cho
người nghèo tại các khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng
đặc biệt khó khăn, người có công với cách mạng, người tham gia công tác phòng
chống dịch và các đối tượng đặc biệt khác.
- Tổ chức phòng, chống bệnh Dại
ở người và động vật; hỗ trợ chi trả công tiêu hủy chó, mèo mắc bệnh, công cho
cán bộ y tế, thú y và các lực lượng tham gia công tác phòng, chống dịch;
- Chi trả kinh phí chủ động, bị
động lấy mẫu giám sát vi rút Dại, lấy mẫu giám sát sau tiêm phòng và phí xét
nghiệm;
- Đào tạo, tập huấn; mua vật
tư, dụng cụ, trang thiết bị triển khai Chương trình; thông tin, tuyên truyền;
- Tổ chức tập huấn, xây dựng
vùng, cơ sở an toàn dịch bệnh Dại;
- Mua và tiêm phòng vắc xin,
huyết thanh kháng Dại cho người; kinh phí xây dựng các điểm tiêm phòng vắc xin
và huyết thanh kháng Dại cho người bị chó, mèo cắn, cán bộ thú y, đội bắt chó
có nguy cơ cao tiếp xúc với bệnh Dại, cán bộ y tế tiếp xúc với bệnh nhân nghi mắc
bệnh dại và đi điều tra, xử lý ổ dịch Dại;
- Tổ chức hội nghị sơ kết, tổng
kết.
1.2. Trường hợp dịch bệnh bùng
phát, có chiều hướng lây lan diện rộng, thành phố không đảm bảo đủ lượng vắc
xin, hóa chất để kịp thời phòng, chống dịch bệnh, báo cáo Bộ Nông nghiệp và Môi
trường trình Thủ tướng Chính phủ quyết định xuất cấp hỗ trợ từ nguồn dự trữ quốc
gia theo quy định của Luật Dự trữ quốc gia.
1.3. Hỗ trợ tiêm vắc xin Dại miễn
phí hoặc hỗ trợ một phần vắc xin Dại sau phơi nhiễm cho các đối tượng người
nghèo, người cận nghèo, người dân tộc thiểu số, người có công với cách mạng, những
người tham gia phòng, chống dịch trong vùng nguy cơ cao và các trường hợp đặc
biệt khác.
1.4. Kinh phí hỗ trợ tiêu hủy
chó, mèo mắc bệnh, chết do bệnh Dại; khử khuẩn và mai táng người chết do bệnh Dại
được thực hiện theo các quy định hiện hành.
Hàng năm, UBND thành phố quyết
định bố trí kinh phí cho các hoạt động của kế hoạch này; chính sách hỗ trợ
phòng, chống dịch bệnh Dại theo các quy định của pháp luật.
2. Kinh
phí do người dân tự đảm bảo
- Đối với chủ nuôi chó, mèo
không được hỗ trợ, phải tự bảo đảm kinh phí mua vắc xin Dại, đánh dấu nhận dạng
đã tiêm phòng (Vòng đeo cổ) và tiền công tiêm phòng cho đàn chó, mèo theo hướng
dẫn của Chi cục Chăn nuôi và Thú y. Khi dịch bệnh xảy ra, chủ động tiêm vắc xin
Dại, vệ sinh, khử trùng tiêu độc.
- Tổ chức, cá nhân vận chuyển,
buôn bán chó, mèo, sản phẩm chó, mèo phải chi trả kinh phí lấy mẫu, xét nghiệm
bệnh Dại.
- Kinh phí do người bị chó, mèo
cắn chi trả cho điều trị y tế dự phòng.
3. Các
nguồn vốn hợp pháp khác: Kinh phí do các tổ chức quốc tế, nhà
tài trợ, xã hội hóa và từ các nguồn vốn hợp pháp khác.
IV. TỔ CHỨC
THỰC HIỆN
1. Sở
Nông nghiệp và Môi trường
- Chủ trì, phối hợp với Sở Y tế,
UBND xã, phường và các đơn vị liên quan chỉ đạo tổ chức thực hiện kế hoạch, bảo
đảm đúng tiến độ và hiệu quả.
- Hàng năm, xây dựng kế hoạch
chi tiết, dự toán kinh phí (lồng ghép chung với Kế hoạch phòng, chống dịch bệnh
gia súc, gia cầm) gửi Sở Tài chính thẩm định và trình UBND thành phố phê duyệt
theo quy định để tổ chức triển khai thực hiện.
- Chủ trì rà soát, góp ý hoàn
thiện các văn bản quy định, hướng dẫn về phòng, chống bệnh Dại và quy định cụ
thể việc bắt, nhốt giữ, xử lý chó, mèo thả rông.
- Chủ trì, phối hợp với Sở Nội
vụ tham mưu UBND thành phố kiện toàn, củng cố, nâng cao năng lực hệ thống cơ
quan quản lý chuyên ngành chăn nuôi và thú y trên địa bàn thành phố theo đúng
chủ trương của Đảng, quy định của Luật Thú y, các văn bản chỉ đạo của Quốc hội,
Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bảo đảm tinh gọn, hiệu quả, hiệu lực, phù hợp với
thực tiễn, đáp ứng công tác phòng, chống dịch bệnh động vật tại địa phương.
- Chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc,
giám sát, kiểm tra các xã, phường thực hiện các giải pháp kỹ thuật, chế độ báo
cáo kết quả thực hiện theo quy định của kế hoạch;
- Thường xuyên cập nhật các văn
bản chỉ đạo, hướng dẫn của Bộ ngành Trung ương và tình hình dịch bệnh tại các địa
phương tham mưu UBND thành phố điều chỉnh, bổ sung kế hoạch và chỉ đạo, hướng dẫn
các biện pháp kỹ thuật trong phòng, chống dịch bệnh Dại nhằm bảo đảm thực hiện
có hiệu quả kế hoạch này.
- Chỉ đạo Chi cục Chăn nuôi và
Thú y thành phố:
+ Tổ chức triển khai quyết liệt,
có hiệu quả kế hoạch liên quan đến quản lý chó, mèo nuôi, phối hợp, hướng dẫn
triển khai công tác tiêm vắc xin Dại ở các xã, phường, giám sát bệnh Dại trên động
vật; bảo đảm nguồn cung ứng vắc xin tiêm phòng Dại cho động vật.
+ Xây dựng các tài liệu truyền
thông về phòng, chống bệnh Dại; tổ chức tập huấn, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra,
giám sát quản lý tổng đàn chó mèo nuôi và công tác tiêm phòng vắc xin, xử lý đối
với các trường hợp vi phạm các quy định về phòng, chống bệnh Dại theo thẩm quyền.
+ Hàng năm, chủ động tổ chức
giám sát vi rút Dại (Bao gồm cả giám sát sau tiêm phòng); điều tra, xác định
nguyên nhân dịch bệnh; tổ chức xây dựng cơ sở, vùng an toàn dịch bệnh đối bệnh
Dại trên động vật; tập huấn, thẩm định, đánh giá cơ sở, vùng an toàn dịch bệnh
đối với bệnh Dại.
+ Rà soát, xây dựng ứng dụng điện
tử và tổ chức hướng dẫn sử dụng hệ thống trực tuyến quốc gia để phục vụ việc
đăng ký, báo cáo số liệu quản lý tổng đàn, số liệu tiêm phòng vắc xin và dịch bệnh,...
+Tổ chức triển khai có hiệu quả
chương trình, dự án ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác
thú y, đặc biệt trong phòng, chống dịch bệnh động vật và dịch bệnh Dại; tham
gia thực hiện nghiên cứu khoa học; xây dựng bản đồ dịch tễ và hợp tác quốc tế.
+ Hàng năm, xây dựng các tài liệu
truyền thông về phòng chống bệnh Dại, giám sát, xử lý ổ dịch, tập huấn và đào tạo,
nghiên cứu khoa học; tổ chức hội nghị, hội thảo, báo cáo thống kê số lượng chó,
mèo nuôi, tiêm phòng bệnh Dại, đánh giá việc thực hiện quản lý đàn chó, mèo và
kết quả tổ chức thực hiện kế hoạch trên địa bàn thành phố gửi về cấp trên theo
quy định.
- Chủ trì, phối hợp với Sở Y tế
chỉ đạo các địa phương và đề xuất UBND thành phố tổ chức hội nghị tổng kết (Vào
năm 2030) việc triển khai và thực hiện Chương trình quốc gia phòng, chống bệnh
Dại theo chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
2. Sở Y tế
- Chỉ đạo tổ chức triển khai
quyết liệt, có hiệu quả các hoạt động của kế hoạch liên quan đến lĩnh vực y tế.
Chủ trì tham mưu, đề xuất, xây dựng các chiến lược, chính sách về phòng chống bệnh
Dại trên người.
- Xây dựng kế hoạch hoạt động,
dự toán kinh phí triển khai các nội dung của kế hoạch về phòng, chống bệnh Dại
trên người.
- Chỉ đạo, hướng dẫn, theo dõi,
giám sát các đơn vị, địa phương trong việc thực hiện các hoạt động của phòng,
chống bệnh Dại trên người, đảm bảo đúng mục tiêu, đúng tiến độ; kịp thời phát
hiện và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện kế hoạch.
- Hướng dẫn kỹ thuật về công
tác tiêm vắc xin phòng Dại và huyết thanh kháng Dại. Tổ chức thực hiện, kiểm
tra, giám sát việc thực hiện công tác tiêm phòng vắc xin Dại và huyết thanh
kháng Dại cho người trên địa bàn thành phố.
- Tham gia thực hiện các nghiên
cứu khoa học về bệnh Dại và các lĩnh vực có liên quan; đánh giá, tổng hợp và
báo cáo kết quả thực hiện theo quy định hiện hành.
- Hàng năm tổ chức đánh giá,
báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch trên người; phối hợp với Sở Nông nghiệp và
Môi trường chỉ đạo các địa phương và đề xuất UBND thành phố tổ chức hội nghị tổng
kết (Vào năm 2030) việc triển khai và thực hiện kế hoạch phòng, chống bệnh Dại
theo chỉ đạo của Bộ ngành trung ương.
3. Sở Văn
hóa, Thể thao và Du lịch
Phối hợp với Sở Nông nghiệp và
Môi trường, Sở Y tế, các Sở, ngành có liên quan tuyên truyền trên các cơ quan
thông tấn, báo chí và hệ thống thông tin cơ sở về phòng, chống bệnh Dại, giai
đoạn 2026 - 2030; nguy cơ dịch bệnh Dại, các biện pháp phòng, chống dịch bệnh để
người dân hiểu rõ sự nguy hiểm của bệnh Dại, chủ động áp dụng các biện pháp
phòng, chống bệnh.
4. Sở
Giáo dục và Đào tạo
Chủ trì, phối hợp với Sở Nông
nghiệp và Môi trường, Sở Y tế tổ chức xây dựng, thực hiện kế hoạch truyền thông
học đường về phòng, chống bệnh Dại.
5. Sở Tài
chính
Chủ trì, phối hợp với Sở Nông
nghiệp và Môi trường, Sở Y tế tham mưu UBND thành phố bố trí kinh phí thường
xuyên hàng năm theo khả năng cân đối ngân sách địa phương, theo phân cấp và
theo quy định quy định của Luật Ngân sách nhà nước.
6. Sở
Khoa học và Công nghệ
Phối hợp với Sở Nông nghiệp và
Môi trường và Sở Y tế tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức triển khai các nhiệm
vụ khoa học và công nghệ ứng dụng trong công tác phòng, chống bệnh Dại.
7. Công
an thành phố
Phối hợp với các lực lượng chức
năng liên quan, Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Công Thương, Sở Y tế và chính
quyền các địa phương trong công tác kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp kinh
doanh, vận chuyển chó, mèo không rõ nguồn gốc. Chỉ đạo lực lượng cảnh sát giao
thông và công an các địa phương tham gia các Đoàn kiểm tra liên ngành phòng, chống
dịch bệnh động vật các cấp; điều tra, xử lý các trường hợp chó, mèo cắn người
gây tử vong.
8. Báo và
Phát thanh, Truyền hình Cần Thơ
Chủ động phối hợp với Sở Nông
nghiệp và Môi trường, Sở Y tế xây dựng kế hoạch và bố trí kinh phí của các đơn
vị để tổ chức thông tin, tuyên truyền về các biện pháp phòng, chống bệnh Dại và
thực hiện các nội dung Kế hoạch phòng chống, bệnh Dại, giai đoạn 2026 - 2030
trên địa bàn thành phố.
9. Ủy ban
nhân dân xã, phường
- Phối hợp với Sở Nông nghiệp
và Môi trường, Sở Y tế và các đơn vị liên quan triển khai thực hiện tốt kế hoạch
này. Chỉ đạo Phòng chuyên môn xây dựng kế hoạch phòng, chống bệnh Dại của địa
phương và trình phê duyệt thực hiện kế hoạch và trong kế hoạch cần có sự phân
công trách nhiệm cụ thể cho từng đơn vị, tổ chức, cá nhân nuôi chó, mèo để có
cơ sở thực hiện có hiệu quả công tác phòng, chống bệnh Dại.
- Hàng năm cân đối, ưu tiên bố
trí kinh phí trong phạm vi dự toán được giao để thực hiện kế hoạch; bố trí nguồn
lực, vật tư, phương tiện, quỹ đất để chống dịch, tiêu hủy động vật mắc bệnh khi
có dịch; tổ chức tuyên truyền, phổ biến (Bằng nhiều hình thức khác nhau như Đài
truyền thanh của địa phương, niêm yết nhà thông tin khu vực, ấp,...) về các quy
định quản lý đàn chó, mèo nuôi và các chính sách hỗ trợ trong phòng chống bệnh
Dại đến người chăn nuôi.
- Chỉ đạo Phòng chuyên môn phối
hợp với Chi cục Chăn nuôi và Thú y thành phố hàng năm, báo cáo thống kê: số lượng
chó, mèo nuôi và chịu trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch tiêm
phòng vắc xin Dại cho đàn chó, mèo tại địa phương đảm bảo tỷ lệ tiêm phòng theo
kế hoạch được giao; báo cáo kết quả tổ chức thực hiện kế hoạch của địa phương gửi
Sở Nông nghiệp và Môi trường (Chi cục chăn nuôi và Thú y thành phố) để tổng hợp,
phân tích, đánh giá và đề xuất các giải pháp phòng, chống dịch bệnh.
- Tổ chức giám sát, thành lập
các đoàn kiểm tra xử lý đối với chủ nuôi chó, mèo vi phạm các quy định về
phòng, chống bệnh Dại và để chó, mèo cắn người; giám sát, đánh giá kết quả tổ
chức thực hiện công tác quản lý đàn chó, mèo, tổ chức tiêm phòng, kết quả tiêm
phòng, xử phạt vi phạm hành chính của chính quyền địa phương.
- Tổ chức và hỗ trợ chi phí điều
trị dự phòng sau phơi nhiễm bệnh Dại cho người nghèo, người cận nghèo, người
đàn tộc thiểu số, người ở vùng sâu, vùng xa, trẻ em dưới 6 tuổi trong vùng dịch,
người có công với cách mạng, cán bộ thú y và y tế nguy cơ cao, những người tham
gia phòng, chống dịch và các trường hợp đặc biệt khác.
- Tổ chức xây dựng cơ sở, vùng
an toàn dịch bệnh đối với bệnh Dại trên động vật.
- Kiện toàn, củng cố, nâng cao
năng lực Thú y xã, phường theo đúng chủ trương của Đảng, quy định của Luật Thú
y, các văn bản chỉ đạo của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bảo đảm
tinh gọn, hiệu quả, hiệu lực, phù hợp với thực tiễn, đáp ứng công tác phòng, chống
dịch bệnh động vật tại địa phương.
- Hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra
việc triển khai các nội dung, giải pháp của kế hoạch trên địa bàn; đồng thời
báo cáo Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Y tế kết quả thực hiện theo quy định.
10. Tổ
chức, cá nhân nuôi chó, mèo
Tổ chức, cá nhân nuôi chó, mèo
thực hiện: Đăng ký việc nuôi chó, mèo; nuôi nhốt chó, mèo trong khuôn viên gia
đình. Chó, mèo khi đưa ra khỏi nhà phải được xích, rọ mõm và có người dắt đề
phòng cắn người; đảm bảo vệ sinh thú y, vệ sinh môi trường; tiêm vắc xin phòng
Dại cho chó, mèo và phải thanh toán các khoản chi phí quản lý đàn chó, mèo, tiêm
phòng theo quy định; theo dõi vật nuôi, khi phát hiện có dấu hiệu bất thường,
phải nhốt con vật đó để theo dõi và báo cho thú y xã, phường UBND xã, phường hoặc
cơ quan thú y nơi gần nhất. Không được vận chuyển hoặc bán động vật mắc bệnh,
nghi mắc bệnh Dại; khi động vật được xác định mắc bệnh Dại, chủ nuôi phải chấp
hành tiêu hủy con vật, thực hiện vệ sinh khử trùng tiêu độc toàn bộ chuồng
nuôi, dụng cụ nuôi, phương tiện vận chuyển, môi trường, thức ăn, chất thải và
các vật dụng khác đã tiếp xúc với con vật mắc bệnh. Những con vật nghi mắc bệnh
Dại phải nhốt để theo dõi trong 10 ngày, tiêm vắc xin Dại cho chó, mèo khỏe mạnh
trong ổ dịch, vùng dịch; chủ nuôi có chó, mèo mắc bệnh Dại hoặc nghi Dại cắn,
cào người khác phải bồi thường theo quy định của pháp luật; tổ chức, cá nhân
buôn bán, vận chuyển, giết mổ chó, mèo, sản phẩm chó, mèo phải chi trả kinh phí
lấy mẫu, xét nghiệm mẫu bệnh Dại theo quy định.
11. Tổ
chức, cá nhân hành nghề khám, chữa bệnh chó, mèo
Thực hiện tiêm vắc xin phòng bệnh
Dại, đánh dấu để nhận diện chó, mèo đã tiêm vắc xin, cấp sổ tiêm phòng và định
kỳ hàng tháng báo cáo tổng hợp số liệu tiêm phòng vắc xin Dại cho chó, mèo đến
cơ quan thú y địa phương; trong trường hợp khám và điều trị nếu phát hiện chó,
mèo mắc, nghi mắc bệnh Dại phải báo cáo ngay cho thú y xã, UBND cấp xã hoặc cơ
quan thú y nơi gần nhất để xử lý kịp thời.
Trên đây là nội dung Kế hoạch
phòng, chống bệnh Dại, giai đoạn 2026 - 2030 trên địa bàn thành phố Cần Thơ.
Trong quá trình triển khai thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc vượt thẩm quyền,
các cơ quan, đơn vị kịp thời phản ánh về Sở Nông nghiệp và Môi trường (Chi cục
Chăn nuôi và Thú y thành phố) để tổng hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân thành phố
xem xét, quyết định./.
|
Nơi nhận:
- Bộ NN&MT;
- CT, các PCT UBND thành phố;
- Sở: NN&MT, YT, VH, TT&DL, GD&ĐT, TC, KH&CN, CT;
- Công an thành phố;
- VP. UBND thành phố (2I, 3B);
- Báo và Phát thanh, Truyền hình Cần Thơ;
- UBND xã, phường;
- Lưu: VT, CT.
28 KH
|
TM. ỦY BAN NHÂN
DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Trần Chí Hùng
|