|
|
Bản dịch này thuộc quyền sở hữu của
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Mọi hành vi sao chép, đăng tải lại mà không có sự đồng ý của
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT là vi phạm pháp luật về Sở hữu trí tuệ.
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT has the copyright on this translation. Copying or reposting it without the consent of
THƯ VIỆN PHÁP LUẬT is a violation against the Law on Intellectual Property.
X
CÁC NỘI DUNG ĐƯỢC SỬA ĐỔI, HƯỚNG DẪN
Các nội dung của VB này được VB khác thay đổi, hướng dẫn sẽ được làm nổi bật bằng
các màu sắc:
: Sửa đổi, thay thế,
hủy bỏ
Click vào phần bôi vàng để xem chi tiết.
|
|
|
|
Đang tải văn bản...
|
Số hiệu:
|
166/2001/QĐ-TTg
|
|
Loại văn bản:
|
Quyết định
|
|
Nơi ban hành:
|
Thủ tướng Chính phủ
|
|
Người ký:
|
Nguyễn Công Tạn
|
|
Ngày ban hành:
|
26/10/2001
|
|
Ngày hiệu lực:
|
Đã biết
|
|
Ngày công báo:
|
Đã biết
|
|
Số công báo:
|
Đã biết
|
|
Tình trạng:
|
Đã biết
|
|
THỦ
TƯỚNG CHÍNH PHỦ
********
|
CỘNG
HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********
|
|
Số:
166/2001/QĐ-TTg
|
Hà
Nội, ngày 26 tháng 10 năm 2001
|
QUYẾT ĐỊNH
CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ SỐ 166/2001/QĐ-TTG NGÀY 26 THÁNG 10
NĂM 2001 VỀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI LỢN XUẤT KHẨU
GIAI ĐOẠN 2001-2010
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ
ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1.
Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi lợn hàng hoá nhắm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ thịt lợn
trong nước và xuất khẩu, tạo việc làm cho người lao động, tăng thu nhập cho
nông dân. Đến năm 2005 xuất khẩu 80.000 tấn/năm, tiến tới mỗi năm xuất khẩu
trên 100.000 tấn thịt lợn các loại.
Điều 2.
Phát triển chăn nuôi lợn xuất khẩu ở các vùng có điều kiện thuận lợi đảm bảo an
toàn vệ sinh môi trường khi chăn nuôi với qui mô phù hợp. Giai đoạn đầu
(2002-2005) tập trung ở một số vùng như: Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung bộ,
duyên hải Nam Trung bộ và Đông Nam Bộ.
Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương rà soát lại quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai, dành
một số diện tích đất đai phù hợp, xa các khu dân cư cho các tổ chức, cá nhân, hộ
gia đình thuê đất làm chuồng trại, trồng và sản xuất thức ăn, xây dựng cơ sở giết
mổ, chế biến thịt lợn xuất khẩu đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng để hỗ trợ các
cơ sở chăn nuôi và chế biến thịt lợn xuất khẩu theo quy định của Nhà nước.
Điều 3.
Khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân, hộ gia đình thuộc các thành phần kinh tế,
các nhà đầu tư nước ngoài phát triển chăn nuôi lợn giống đạt tiêu chuẩn xuất khẩu.
Ở vùng chăn nuôi lợn xuất khẩu
phải có đủ cơ sở chăn nuôi lợn giống ông bà (quy mô 300-500 con) và lợn giống bố
mẹ để nhân đủ giống cung cấp cho nhu cầu chăn nuôi lợn xuất khẩu trong vùng.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn phải chỉ đạo quản lý các cơ sở nuôi giống cụ kỵ do Nhà nước đầu tư vốn,
đảm bảo nguồn gen của đàn giống này dược cải thiện, có hiệu quả.
Điều 4.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo các cơ quan chuyên môn bảo đảm đủ
thuốc tiêm phòng và chữa bệnh, nhất là một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, bảo
đảm công tác an toàn dịch bệnh cho đàn lợn.
Có kế hoạch đầu tư nâng cấp các
cơ sở sản xuất vacxin tiêm phòng, trước mắt đầu tư nâng cấp Xí nghiệp thuốc thú
y Trung ương (Hoài Đức, Hà Tây) và cơ sở sản xuất thuốc thú y thuộc Công ty vật
tư thú y II; triển khai giai đoạn 2 dự án Liên doanh VIRBAC-VIETNAM, để tiến tới
tự sản xuất đủ vacxin tiêm phòng không phải nhập khẩu.
Định kỳ hàng năm Uỷ ban nhân dân
các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo cơ quan thú y tổ chức tiêm
phòng bắt buộc một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm theo quy định của Pháp lệnh
Thú y, tiến tới hình thành vùng an toàn dịch bệnh chăn nuôi lợn xuất khẩu ở địa
phương.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn xúc tiến việc đàm phán để ký kết thoả thuận hoặc Hiệp định thú y với
các nước nhập khẩu thịt lợn của Việt Nam.
Điều 5.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì phối hợp với Uỷ ban nhân dân các
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các Bộ ngành có liên quan rà soát, đánh
giá hiện trạng sản xuất thức ăn gia súc trên phạm vi cả nước, có quy hoạch, kế
hoạch sử dụng hết công suất của các cơ sở hiện có, đầu tư mới ở những nơi cần
thiết gắn với vùng nguyên liệu tại chỗ.
Nhanh chóng mở rộng diện tích trồng
giống ngô có độ đạm cao làm nguyên liệu cho sản xuất thức ăn gia súc, nhằm giảm
giá thành sản xuất.
Hướng dẫn nông dân kỹ thuật chăn
nuôi bao gồm cả việc chế biến thức ăn từ các nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước.
Điều 6.
Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có cơ chế chính sách
và tạo điều kiện thuận lợi về địa điểm, thủ tục đầu tư, hỗ trợ vốn,... để các tổ
chức, cá nhân cải tạo nâng cấp cơ sở chế biến hiện có, đầu tư xây dựng mới các
cơ sở giết mổ, chế biến thịt lợn xuất khẩu.
Các cơ sở chăn nuôi, giết mổ, chế
biến thịt lợn xuất khẩu phải thực hiện các quy định hiện hành của pháp luật về
môi trường.
Các cơ sở giết mổ, chế biến thịt
lợn xuất khẩu phải được trang thiết bị tiên tiến hiện đại, cơ sở vật chất kỹ
thuật bảo đảm theo yêu cầu của quy trình sản xuất, tiêu chuẩn về an toàn vệ
sinh thực phẩm. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sớm có hướng dẫn và ban
hành tiêu chuẩn ngành cụ thể để các doanh nghiệp thực hiện.
Điều 7. Bộ
Thương mại hỗ trợ các tổ chức, cá nhân xuất khẩu thịt lợn duy trì thị trường xuất
khẩu đã có, tiếp tục tìm kiếm thị trường mới tiêu thụ thịt lợn; chỉ đạo các
tham tán kinh tế của nước ta ở nước ngoài thông tin đầy đủ và kịp thời về mức
nhu cầu, thị hiếu, mẫu mã, giá cả, phương thức thanh toán..., cho các tổ chức,
cá nhân xuất khẩu thịt lợn và người chăn nuôi lợn.
Khuyến khích và tạo điều kiện
thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia nghiên
cứu, thông tin thị trường xuất khẩu thịt lợn, tổ chức các hoạt động xúc tiến
thương mại.
Các cơ sở giết mổ, chế biến thịt
lợn xuất khẩu phải ký hợp đồng mua lợn trực tiếp với các tổ chức, cá nhân, hộ
gia đình chăn nuôi lợn và cam kết rõ trách nhiệm, quyền lợi của cả hai bên.
Khuyến khích các hình thức hợp đồng theo hướng cung ứng giống, thức ăn, thú y,
kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm.
Bộ Thương mại, Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn cùng Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí
Minh và một số tỉnh xây dựng thí điểm chợ bán đấu giá lợn giống và lợn thịt nhằm
giúp người chăn nuôi không bị ép giá.
Tiếp tục thực hiện thưởng xuất
khẩu thịt lợn các loại đến năm 2003. Điều chỉnh mức thưởng kim ngạch xuất khẩu
đối với mặt hàng thịt lợn choai là 450 đồng/1 USD xuất khẩu; giao Bộ Tài chính
bổ sung mặt hàng này vào danh mục các mặt hàng được thưởng xuất khẩu quy định tại
Quyết định số 65/2001/QĐ-BTC ngày 29 tháng 6 năm 2001 của Bộ Tài chính.
Điều 8.
Chính sách đầu tư và tín dụng.
1. Về đầu tư: Ngân sách (bao gồm
cả ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương) đầu tư cho:
- Cấp miễn phí các loại vacxin
phòng bệnh nguy hiểm trong vùng an toàn dịch bệnh để nuôi lợn xuất khẩu;
- Đầu tư nâng cấp Xí nghiệp thuốc
thú y Trung ương (Hoài Đức, Hà Tây), cơ sở sản xuất vacxin của Công ty Vật tư
Thuốc thú y II.
2. Về tín dụng theo kế hoạch Nhà
nước.
Các cơ sở giết mổ và chế biến lợn
xuất khẩu được vay vốn tín dụng đầu tư theo kế hoạch nhà nước từ Quỹ Hỗ trợ
phát triển theo Nghị định số 43/1999/NĐ-CP ngày 29 tháng 6 năm 1999 của Chính
phủ và Quyết định số 02/2001/QĐ-TTg ngày 2 tháng 1 năm 2001 của Thủ tướng Chính
phủ về việc chính sách hỗ trợ đầu tư từ Quỹ Hỗ trợ phát triển đối với các dự án
sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu và các dự án sản xuất nông nghiệp; được vay vốn
tín dụng Quỹ Hỗ trợ xuất khẩu theo Quyết định số 133/2001/QĐ-TTg ngày 10 tháng
9 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ.
Tăng thêm nguồn vốn cho Ngân
hàng phục vụ người nghèo, Chương trình mục tiêu quốc gia giải quyết việc làm để
cho các hộ nghèo, hộ chăn nuôi lợn và giết mổ, chế biến thịt lợn vay vốn.
3. Về tín dụng thương mại.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ
đạo các ngân hàng thương mại bảo đảm đủ vốn, thủ tục vay vốn thuận lợi để cho hộ
gia đình, cá nhân chăn nuôi lợn được vay vốn của ngân hàng. Phối hợp với Hội
nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam mở rộng hình thức xây dựng tổ tương hỗ,
tổ vay vốn tiết kiệm để giúp người chăn nuôi lợn có điều kiện vay được vốn của
ngân hàng.
Khuyến khích các doanh nghiệp, tổ
chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế thực hiện hình thức ký hợp đồng với người
chăn nuôi lợn về tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ vốn, thức ăn, thuốc thú y.
Điều 9.
Các cơ sở chăn nuôi lợn giống, lợn xuất khẩu, cơ sở giết mổ, chế biến thịt lợn
xuất khẩu được áp dụng các chính sách ưu đãi đầu tư theo Nghị định số
51/1999/NĐ-CP ngày 8 tháng 7 năm 1999 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành
Luật khuyến khích đầu tư trong nước.
Thực hiện mức thuế suất: 0% đối
với khô dầu nhập khẩu để sản xuất thức ăn chăn nuôi.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn phối hợp với Bộ Tài chính điều chỉnh ở mức thấp nhất các loại phí có
liên quan tới kiểm dịch thú y đối với thịt lợn xuất khẩu phải kiểm dịch theo
yêu cầu của khách hàng hoặc Hiệp định thú y hoặc hiệp ước quốc tế đã ký kết.
Hình thành quỹ bảo hiểm chăn
nuôi lợn xuất khẩu trên cơ sở đóng góp của người chăn nuôi và các nhà xuất khẩu
và có sự hỗ trợ ban đầu từ nguồn ngân sách nhà nước để hỗ trợ rủi ro về giá hoặc
dịch bệnh cho người sản xuất và xuất khẩu. Quỹ do Hiệp hội xuất khẩu thịt lợn
quản lý sử dụng theo quy chế và hướng dẫn của Bộ Tài chính.
Điều 10.
Hình thức tổ chức chăn nuôi lợn xuất khẩu chủ yếu là hộ trang trại và doanh
nghiệp tư nhân. Khuyến khích các hộ trang trại nuôi từ 50 lợn nái hoặc 100 lợn
thịt thường xuyên trở lên, các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư chăn nuôi lợn xuất
khẩu quy mô phù hợp không gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến nguồn nước ngầm.
Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường ban hành quy định cụ thể và quy mô cho
phép bảo đảm an toàn vệ sinh môi trường và nguồn nước ngầm để định hướng cho
các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Khuyến khích việc hình thành các
hình thức kinh tế hợp tác, hợp tác xã làm dịch vụ giống, thú y, kỹ thuật, vốn
và tiêu thụ sản phẩm.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn sớm hình thành Hiệp hội xuất khẩu thịt lợn gồm những người chăn nuôi,
giết mổ, chế biến và một số nhà khoa học, hỗ trợ và bảo vệ quyền lợi cho nhau
trong sản xuất, tiêu thụ, xuất khẩu thịt lợn.
Điều 11.
Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày ký.
Điều 12.
Bộ trưởng các Bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài chính, Thương mại,
Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Lao động - Thương binh và Xã hội và Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Tổng giám đốc Quỹ Hỗ trợ phát triển, Chủ tịch Uỷ
ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Thủ trưởng các cơ quan
liên quan chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
Quyết định 166/2001/QĐ-TTg về biện pháp và chính sách phát triển chăn nuôi lợn xuất khẩu giai đoạn 2001-2010 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
|
THE
PRIME MINISTER OF GOVERNMENT
-------
|
SOCIALIST
REPUBLIC OF VIET NAM
Independence - Freedom - Happiness
|
|
No:
166/2001/QD-TTg
|
Hanoi,
October 26, 2001
|
DECISION ON A NUMBER OF
MEASURES AND POLICIES TO DEVELOP PIG FARMING FOR EXPORT IN THE 2001-2010 PERIOD THE PRIME MINISTER Pursuant to the Law on Organization of the
Government of September 30, 1992;
At the proposal of the Minister of Agriculture and Rural Development, DECIDES: Article 1.- To boost the
development of commodity pig farming in order to meet the domestic pork
consumption and export demands, create jobs for laborers and increase income
for peasants. To export 80,000 tons of pork/year by 2005, then proceed to
export more than 100,000 tons of assorted pork a year. Article 2.- To develop
the export-oriented pig farming in regions endowed with favorable conditions to
ensure environmental safety and sanitation, on a suitable farming scale. In the
first period (2002-2005), the pig farming shall concentrate in some regions
like the Red River delta, northern Central Vietnam, coastal southern Central
Vietnam and eastern Southern Vietnam. The People’s Committees of the provinces and
centrally-run cities shall revise their land use planning and plans, so as to
reserve a number of adequate land areas far from population quarters for lease
to organizations, individuals and family households for building piggeries,
planting and producing feeds, building slaughterhouses and export pork-processing
establishments, and invest in development of infrastructure facilities in
support of pig farming and export pork-processing establishments according to
the State’s regulations. ... ... ... Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh. Export-oriented pig farming regions must have
enough stations for rearing grandparent breed pigs (of a scale of 300-500 pigs)
and parent breed pigs for producing sufficient breeds to meet the
export-oriented pig farming demands in such regions. The Ministry of Agriculture and Rural
Development shall have to direct the management stations which rear pigs of
prototype breeds with capital invested by the State, thus ensuring that the
genetic source of such breeding stock is improved and effectively used. Article 4.- The Ministry
of Agriculture and Rural Development shall direct the professional bodies to
supply sufficient inoculative and curative drugs, especially those for
controlling dangerous contagious diseases, thus ensuring the epidemic immunity
for pigs. To work out plans for investment in upgrading
vaccine-producing establishments, first of all the Central Veterinary Drug
Enterprise (Hoai Duc district, Ha Tay province) and the veterinary
drug-producing establishment under Veterinary Supplies Company II; and to
deploy the second phase of VIRBAC-VIETNAM joint-venture project, then proceed
to produce sufficient vaccines to substitute for imports. Annually, the People’s Committees of the
provinces and centrally-run cities shall direct the veterinary offices to
organize compulsory vaccinations against a number of dangerous contagious
diseases according to the provisions of the Veterinary Ordinance, then proceed
to form epidemic-free areas for export-oriented pig farming in their
localities. The Ministry of Agriculture and Rural
Development shall negotiate signing of veterinary agreements or treaties with
countries importing Vietnamese pork. Article 5.- The Ministry
of Agriculture and Rural Development shall assume the prime responsibility and
coordinate with the People’s Committees of the provinces and centrally-run
cities, and concerned ministries and branches in revising and appraising the
actual situation of livestock feed production in the whole country, working out
planning and plans to fully exploit the capacity of the existing feed-producing
establishments, and making new investments in necessary places in association with
on-the-spot raw materials areas. To quickly expand areas for planting
high-protein maize varieties for use as raw materials for the livestock feed
production, with a view to reducing production costs. To provide peasants with guidance on pig farming
techniques, including the processing of feed from sources of raw materials
available in the country. ... ... ... Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh. Establishments farming and slaughtering pigs and
processing pork for export shall have to comply with the current law provisions
on the environment. The establishments slaughtering pigs and
processing pork for export must be furnished with advanced and modern equipment
and have material and technical foundations meeting requirements of production
process as well as food safety and hygiene standards. The Ministry of
Agriculture and Rural Development shall soon guide and promulgate specific
branch standards for application by enterprises. Article 7.- The Ministry
of Trade shall help pork- exporting organizations and individuals maintain the
existing export markets and continue seeking new markets for their pork; direct
Vietnamese economic counselors in foreign countries in supplying adequate and
timely information on demand, taste, packing models, prices, payment modes,
etc., to pork-exporting organizations and individuals, and pig farmers. To encourage and create favorable conditions for
organizations and individuals of all economic sectors to participate in pork
export market research and information, and to organize trade promotion
activities. Establishments slaughtering pigs and processing
pork for export must sign pig purchase contracts directly with pig farming
organizations, individuals and family households, whereby responsibilities and
rights of both parties are clearly stated. To encourage the contractual forms
of supplying breeds, feed, veterinary drugs, technical services and sale of
products. The Ministry of Trade, the Ministry of
Agriculture and Rural Development shall, together with the People’s Committees
of Hanoi, Ho Chi Minh City and a number of other provinces, experimentally
build markets for auctioning breed pigs and porkers, with a view to helping pig
farmers not be imposed with unfair prices. To continue giving rewards for export of
assorted pork till 2003. To readjust the export value reward level for pork
from not-fully-grown pigs to 450 VND/1 USD. To assign the Ministry of Finance
to add this commodity item to the list of commodity items eligible for export
rewards specified in the Finance Ministry’s Decision No.65/2001/QD-BTC of June
29, 2001. Article 8.- Investment
and credit policies 1. Regarding investment: Budgets (including the
central budget and local budgets) shall be invested in: ... ... ... Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh. - Upgrading of the Central Veterinary Drug
Enterprise (Hoai Duc district, Ha Tay province) and the vaccine-producing
establishment of Veterinary Drug Supplies Company II. 2. Regarding credit under the State’s plans: Establishments slaughtering pigs and processing
pork shall be entitled to borrow investment credit capital under the State’s
plans from the Development Assistance Fund according to the Government’s Decree
No. 43/1999/ND-CP of June 29, 1999 and the Prime Minister’s Decision No.
02/2001/QD-TTg of January 2, 2001 on policies on investment assistance from the
Development Assistance Fund for export goods manufacturing or processing
projects and agricultural production projects; and entitled to borrow credit
capital from the Export Assistance Fund according to the Prime Minister’s
Decision No. 133/2001/QD-TTg of September 10, 2001. To increase capital sources for the Bank for the
Poor and the national target program on employment, so that they can provide
loans to poor households and households farming and slaughtering pigs and
processing pork. 3. Regarding commercial credit: The State Bank of Vietnam shall direct
commercial banks to ensure sufficient capital sources and carrying out
convenient procedures for pig farming family households and individuals to
borrow capital from banks; coordinate with the Peasants’ Association and Vietnam
Women’s Union in expanding the form of mutual assistance groups and
saving-lending groups in order to help pig farmers borrow capital from banks. To encourage enterprises, organizations and
individuals of all economic sectors to sign contracts with pig farmers for sale
of products, capital services, feed and veterinary drug supply. Article 9.-
Establishments raising breed pigs or pigs for export, slaughtering pigs or
processing pork for export shall enjoy investment preference policies provided
for in the Government’s Decree No. 51/1999/ND-CP of July 8, 1999 detailing the
implementation of the Law on Domestic Investment Promotion. To apply the tax rate of 0% to imported oil
cakes for livestock feed production. ... ... ... Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh. To set up the insurance fund for export pig
farming on the basis of contributions from farmers and exporters as well as
initial support from the State budget to offset the price or epidemic risks
incurred by producers and exporters. The fund shall be managed and used by the
Pork Export Association according to the regulation and guidance of the
Ministry of Finance. Article 10.- Pig
farming for export shall be organized mainly in forms of farm households and
private enterprises. To encourage each farm household to raise constantly 50
sows or 100 porkers or more, foreign investors to invest in pig farming for
export on a suitable scale, without causing environmental pollution and harms
to underground water sources. The Ministry of Science, Technology and
Environment shall promulgate specific regulations and permitted farming scales
in order to ensure the safety and sanitation of the environment and underground
water sources, which shall serve as basis for domestic and foreign investors to
plan their activities. To encourage various forms of cooperative
economy, including cooperatives providing breeding, veterinary, technical,
capital and product consumption services. The Ministry of Agriculture and Rural
Development shall set up as soon as possible the Pork Export Association
consisting of pig farmers, slaughterers, processors as well as a number of
scientists, who shall support and protect one another in the pork production,
consumption and export. Article 11.- This
Decision takes effect 15 days after its signing. Article 12.- The
Ministers of: Agriculture and Rural Development; Finance; Trade; Science,
Technology and Environment; Labor, War Invalids and Social Affairs; and the
Governor of the State Bank of Vietnam, the General Director of the Development
Assistance Fund, the presidents of the People’s Committees of the provinces and
centrally-run cities and the heads of the concerned agencies shall have to
implement this Decision. FOR THE PRIME MINISTER
DEPUTY PRIME MINISTER
Nguyen Cong Tan ... ... ... Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.
Quyết định 166/2001/QĐ-TTg ngày 26/10/2001 về biện pháp và chính sách phát triển chăn nuôi lợn xuất khẩu giai đoạn 2001-2010 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
Văn bản liên quan
Ban hành:
21/03/2011
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
02/08/2011
Ban hành:
10/09/2001
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
22/12/2009
Ban hành:
29/06/2001
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
03/05/2011
Ban hành:
02/01/2001
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
22/12/2009
Ban hành:
08/07/1999
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
17/09/2012
Ban hành:
20/05/1998
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
17/09/2012
Ban hành:
30/09/1992
Hiệu lực: Đã biết
Tình trạng: Đã biết
Cập nhật:
17/09/2012
5.742
|
NỘI DUNG SỬA ĐỔI, HƯỚNG DẪN
Văn bản bị thay thế
Văn bản thay thế
Chú thích
Chú thích:
Rà chuột vào nội dụng văn bản để sử dụng.
<Nội dung> = Nội dung hai
văn bản đều có;
<Nội dung> =
Nội dung văn bản cũ có, văn bản mới không có;
<Nội dung> = Nội dung văn
bản cũ không có, văn bản mới có;
<Nội dung> = Nội dung được sửa đổi, bổ
sung.
Click trái để xem cụ thể từng nội dung cần so sánh
và cố định bảng so sánh.
Click phải để xem những nội dung sửa đổi, bổ sung.
Double click để xem tất cả nội dung không có thay
thế tương ứng.
Tắt so sánh [X] để
trở về trạng thái rà chuột ban đầu.
FILE ĐƯỢC ĐÍNH KÈM THEO VĂN BẢN
FILE ATTACHED TO DOCUMENT
|
|
|
|
|
Địa chỉ:
|
17 Nguyễn Gia Thiều, P. Xuân Hòa, TP.HCM
|
|
Điện thoại:
|
(028) 3930 3279 (06 lines)
|
|
E-mail:
|
inf[email protected]
|
|
Mã số thuế:
|
0315459414
|
|
|
|
TP. HCM, ngày 31/05/2021
Thưa Quý khách,
Đúng 14 tháng trước, ngày 31/3/2020, THƯ VIỆN PHÁP LUẬT đã bật Thông báo này, và nay 31/5/2021 xin bật lại.
Hơn 1 năm qua, dù nhiều khó khăn, chúng ta cũng đã đánh thắng Covid 19 trong 3 trận đầu. Trận 4 này, với chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, chắc chắn chúng ta lại thắng.
Là sản phẩm online, nên 250 nhân sự chúng tôi vừa làm việc tại trụ sở, vừa làm việc từ xa qua Internet ngay từ đầu tháng 5/2021.
Sứ mệnh của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT là:
sử dụng công nghệ cao để tổ chức lại hệ thống văn bản pháp luật,
và kết nối cộng đồng Dân Luật Việt Nam,
nhằm:
Giúp công chúng “…loại rủi ro pháp lý, nắm cơ hội làm giàu…”,
và cùng công chúng xây dựng, thụ hưởng một xã hội pháp quyền trong tương lai gần;
Chúng tôi cam kết dịch vụ sẽ được cung ứng bình thường trong mọi tình huống.
THÔNG BÁO
về Lưu trữ, Sử dụng Thông tin Khách hàng
Kính gửi: Quý Thành viên,
Nghị định 13/2023/NĐ-CP về Bảo vệ dữ liệu cá nhân (hiệu lực từ ngày 01/07/2023) yêu cầu xác nhận sự đồng ý của thành viên khi thu thập, lưu trữ, sử dụng thông tin mà quý khách đã cung cấp trong quá trình đăng ký, sử dụng sản phẩm, dịch vụ của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT.
Quý Thành viên xác nhận giúp THƯ VIỆN PHÁP LUẬT được tiếp tục lưu trữ, sử dụng những thông tin mà Quý Thành viên đã, đang và sẽ cung cấp khi tiếp tục sử dụng dịch vụ.
Thực hiện Nghị định 13/2023/NĐ-CP, chúng tôi cập nhật Quy chế và Thỏa thuận Bảo về Dữ liệu cá nhân bên dưới.
Trân trọng cảm ơn Quý Thành viên.
Tôi đã đọc và đồng ý Quy chế bảo vệ dữ liệu cá nhân
Tiếp tục sử dụng

Cảm ơn đã dùng ThuVienPhapLuat.vn
- Bạn vừa bị Đăng xuất khỏi Tài khoản .
-
Hiện tại có đủ người dùng cùng lúc,
nên khi người thứ vào thì bạn bị Đăng xuất.
- Có phải do Tài khoản của bạn bị lộ mật khẩu
nên nhiều người khác vào dùng?
- Hỗ trợ: (028) 3930.3279 _ 0906.229966
- Xin lỗi Quý khách vì sự bất tiện này!
Tài khoản hiện đã đủ người
dùng cùng thời điểm.
Quý khách Đăng nhập vào thì sẽ
có 1 người khác bị Đăng xuất.
Tài khoản của Quý Khách đẵ đăng nhập quá nhiều lần trên nhiều thiết bị khác nhau, Quý Khách có thể vào đây để xem chi tiết lịch sử đăng nhập
Có thể tài khoản của bạn đã bị rò rỉ mật khẩu và mất bảo mật, xin vui lòng đổi mật khẩu tại đây để tiếp tục sử dụng
|
|