Từ khoá: Số Hiệu, Tiêu đề hoặc Nội dung ngắn gọn của Văn Bản...

Đăng nhập

Dùng tài khoản LawNet
Quên mật khẩu?   Đăng ký mới

Đang tải văn bản...

Số hiệu: 05/VBHN-BXD Loại văn bản: Văn bản hợp nhất
Nơi ban hành: Bộ Xây dựng Người ký: Nguyễn Văn Sinh
Ngày ban hành: 13/02/2026 Ngày hợp nhất: Đã biết
Ngày công báo: Đã biết Số công báo: Đã biết
Tình trạng: Đã biết

BỘ XÂY DỰNG
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 05/VBHN-BXD

Hà Nội, ngày 13 tháng 02 năm 2026

 

THÔNG TƯ

QUY ĐỊNH ĐÁNH SỐ VÀ GẮN BIỂN SỐ NHÀ, CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG

Thông tư số 08/2024/TT-BXD ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng quy định đánh số và gắn biển số nhà, công trình xây dựng, có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 10 năm 2024, được sửa đổi, bổ sung bởi:

Thông tư số 09/2025/TT-BXD ngày 13 tháng 6 năm 2025 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp và phân cấp cho chính quyền địa phương.

Căn cứ Nghị định số 52/2022/NĐ-CP ngày 08 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Xây dựng;

Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản;

Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành Thông tư quy định đánh số và gắn biển số nhà, công trình xây dựng.[1]

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này quy định việc đánh số và gắn biển số nhà, công trình xây dựng (sau đây gọi tắt là nhà) tại khu vực đô thị, khu vực nông thôn, dự án đầu tư xây dựng nhà ở, đầu tư xây dựng khu đô thị, khu công nghiệp trên toàn quốc.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Các cơ quan quản lý Nhà nước và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc đánh số và gắn biển số đối với nhà, công trình xây dựng.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Thông tư này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. “Đánh số nhà” là việc xác định số nhà theo các nguyên tắc quy ước thống nhất.

2. “Gắn biển số nhà” là việc xác định để gắn biển vào vị trí lắp đặt biển số nhà theo nguyên tắc thống nhất.

3. “Nhóm nhà” là tập hợp nhiều ngôi nhà có vị trí gần nhau, được sắp xếp theo những nguyên tắc nhất định và cách biệt với những ngôi nhà khác bởi hàng rào, đường giao thông.

4. “Ngõ (kiệt)” là lối đi lại trong cụm dân cư, có ít nhất một đầu thông ra đường hoặc phố (nhánh của đường hoặc phố).

5. “Ngách (hẻm)” là lối đi lại trong cụm dân cư có một đầu thông ra ngõ, không trực tiếp thông ra đường, phố.

6. “Nhà mặt đường, phố” là nhà có cửa ra vào chính được mở ra đường, phố.

7. “Nhà trong ngõ'' là nhà có cửa ra vào chính được mở ra ngõ.

8. ''Nhà trong ngách” là nhà có cửa ra vào chính được mở ra ngách.

Điều 4. Yêu cầu của đánh số và gắn biển số nhà

1. Đảm bảo việc xác định địa chỉ nhà và tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức, cá nhân thực hiện yêu cầu tiếp nhận thông tin, liên lạc, giao dịch dân sự, giao dịch thương mại và các giao dịch khác.

2. Góp phần chỉnh trang đô thị, nông thôn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, dân cư, công tác phòng cháy, chữa cháy, an ninh, trật tự, theo quy định của pháp luật.

3. Việc đánh số và gắn biển số nhà được thống nhất với địa chỉ nhà trong hồ sơ xin Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

4. Đánh số và gắn biển số nhà đảm bảo việc quản lý thông tin, dữ liệu về địa chỉ của tổ chức, cá nhân; đảm bảo về việc tích hợp, kết nối, chia sẻ với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia, cơ sở dữ liệu khác có liên quan khi có yêu cầu.

Chương II

ĐÁNH SỐ NHÀ

Mục 1. ĐÁNH SỐ NHÀ TẠI KHU VỰC ĐÔ THỊ, KHU VỰC NÔNG THÔN

Điều 5. Thực hiện rà soát, đánh số nhà

Ủy ban nhân dân cấp xã rà soát và đề xuất phương án đánh số và gắn biển số nhà trên địa bàn theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 8 và Chương III của Thông tư này trình Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh[2] quyết định và tổ chức thực hiện, trừ các trường hợp được quy định tại mục 2, mục 3 Chương này.

Điều 6. Đánh số nhà mặt đường, phố

1. Đánh số nhà mặt đường, phố được sử dụng dãy số tự nhiên (1, 2, 3..., n) với thứ tự từ số nhỏ đến số lớn theo chiều quy định tại khoản 2 Điều này. Nhà bên trái lấy số lẻ (1, 3, 5, 7...), nhà bên phải lấy số chẵn (2, 4, 6, 8...).

Trường hợp một nhà có cửa mở ra hai đường, phố khác nhau thì nhà đó được đánh số theo đường, phố có mặt cắt ngang lớn hơn; nếu các đường, phố có mặt cắt ngang tương đương thì đánh số nhà theo đường, phố có cửa chính vào nhà hoặc đánh số theo đường, phố đã được đánh số liên tục.

2. Chiều đánh số nhà mặt đường, phố thực hiện theo quy định sau đây:

a) Chiều đánh số nhà được thực hiện theo hướng từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây, từ Đông Bắc sang Tây Nam, từ Đông Nam sang Tây Bắc;

b)[3] Trường hợp đường, phố đặc thù không thực hiện theo quy định tại điểm a khoản này thì chiều đánh số nhà do Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định (ví dụ: đường, phố dạng hướng tâm thì chiều đánh số nhà được thực hiện từ trung tâm tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, xã, phường, đặc khu hướng ra phía ngoài trung tâm;

c) Các đường, phố đã được đánh số nhà trước khi Thông tư này có hiệu lực thì giữ nguyên chiều đánh số nhà.

3. Đối với đường, phố chưa có nhà xây liên tục (còn đất trống), Ủy ban nhân dân cấp xã[4] căn cứ quy hoạch chi tiết xây dựng trên tuyến đường, phố được cấp có thẩm quyền phê duyệt để đánh số nhà và đảm bảo có số nhà dự phòng đối với nhà, công trình cho tuyến đường, phố đó; trường hợp chưa có quy hoạch chi tiết xây dựng về tuyến đường, phố thì Ủy ban nhân dân cấp xã[5] quyết định tổ chức thực hiện đánh số và gắn biển số nhà để đảm bảo phù hợp với điều kiện cụ thể của từng khu vực.

4. Trường hợp phát sinh nhà chưa được đánh số nằm giữa hai nhà đã được đánh số liên tục trên đường, phố thì các nhà mới phát sinh được lựa chọn đánh số theo một trong 02 cách sau:

a) Đánh số bằng tên ghép của số nhà nhỏ hơn và chữ cái in hoa tiếng Việt (A, B, C,...), bắt đầu từ chữ A (ví dụ: số nhà phát sinh giữa hai nhà số 20 và số 22 thì đánh số 20A, 20B, 20C, …);

b) Đánh số bằng tên ghép của số nhà nhỏ hơn và dấu gạch ngang và số tự nhiên, bắt đầu từ số 1 (ví dụ: số nhà phát sinh giữa hai nhà số 20 và số 22 thì đánh số 20-1, 20-2, 20-3,…, 20-24, 20-25,….,22).

5. Đối với đoạn đường, phố mới xây dựng kéo dài phía cuối của đường, phố thì thực hiện đánh số nhà tiếp theo số nhà cuối cùng đã đánh của đường, phố đó theo quy định của Thông tư này.

Điều 7. Đánh số nhà trong ngõ, ngách

1. Đánh số nhà trong ngõ được thực hiện theo quy định sau đây:

a) Trường hợp ngõ chưa có tên riêng: tên ngõ được đặt tên theo số nhà mặt đường, phố nằm kề ngay trước đầu ngõ (có số nhà nhỏ hơn);

b) Nguyên tắc đánh số áp dụng tương tự quy định tại khoản 1, khoản 3, khoản 4 và khoản 5 Điều 6 của Thông tư này;

c) Chiều đánh số nhà trong ngõ: trường hợp ngõ nối thông giữa hai đường, phố và đã đặt tên thì lấy chiều từ nhà đầu ngõ sát với đường, phố mà ngõ mang tên đến cuối ngõ.

Trường hợp ngõ nối thông giữa hai đường, phố và chưa được đặt tên thì chiều đánh số nhà từ nhà đầu ngõ sát với đường, phố có mặt cắt ngang lớn hơn đến cuối ngõ.

Trường hợp ngõ chỉ có một đầu thông ra đường, phố thì chiều đánh số nhà được thực hiện từ nhà đầu ngõ sát với đường, phố đến nhà cuối ngõ.

2. Đánh số nhà trong ngách được thực hiện theo quy định sau đây:

a) Trường hợp ngách chưa có tên riêng: tên ngách được đặt tên theo số nhà mặt ngõ nằm kề ngay trước đầu ngách (có số nhà nhỏ hơn);

b) Nguyên tắc đánh số áp dụng tương tự quy định tại khoản 1, khoản 3, khoản 4 và khoản 5 Điều 6 của Thông tư này;

c) Chiều đánh số nhà trong ngách: trường hợp ngách nối thông giữa hai ngõ và đã đặt tên thì lấy chiều từ nhà đầu ngách sát với ngõ mà ngách mang tên đến cuối ngách; trường hợp ngách nối thông giữa hai đường và chưa được đặt tên thì chiều đánh số nhà từ nhà đầu ngách sát với đường có mặt cắt ngang lớn hơn đến cuối ngách. Trường hợp ngách chỉ có một đầu thông ra ngõ thì chiều đánh số nhà được thực hiện từ nhà đầu ngách sát với ngõ đến nhà cuối ngách.

3. Trường hợp nhà trong ngõ, ngách có tính chất đặc thù thì Ủy ban nhân dân cấp xã[6] quyết định việc đánh số.

Điều 8. Đánh tên nhóm nhà, tên ngôi nhà trong một nhóm nhà, số căn hộ của nhà chung cư

Đánh tên nhóm nhà, tên ngôi nhà trong một nhóm nhà, số căn hộ của nhà chung cư được thực hiện theo quy định tại Điều 11, Điều 12, Điều 13 của Thông tư này.

Mục 2. ĐÁNH SỐ NHÀ TẠI DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NHÀ Ở, ĐẦU TƯ XÂY DỰNG KHU ĐÔ THỊ

Điều 9. Thực hiện lập phương án và đánh số

1. Chủ đầu tư dự án lập phương án và thực hiện đánh số và gắn biển số nhà trong phạm vi khu vực của dự án; thực hiện việc đặt tên đường làm cơ sở đánh số và gắn biển số nhà trong phạm vi khu vực của dự án.

Trường hợp, chủ đầu tư đã có phương án đánh số và gắn biển số nhà trong phạm vi khu vực của dự án trong đồ án quy hoạch chi tiết 1/500 hoặc hồ sơ thiết kế đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt chấp thuận thì thực hiện theo phương án đã được phê duyệt, chấp thuận.

2. Chủ đầu tư đặt tên, đổi tên đường, phố trong phạm vi dự án thực hiện theo quy định pháp luật về đặt tên, đổi tên đường, phố và công trình công cộng và quy định khác của pháp luật có liên quan.

3. Trước khi thực hiện đánh số và gắn biển số nhà trong phạm vi khu vực của dự án, Chủ đầu tư dự án có văn bản gửi[7] Ủy ban nhân dân cấp xã về các nội dung thực hiện theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này để báo cáo và quản lý, cập nhật việc đánh số và gắn biển số nhà trong phạm vi khu vực dự án.

Điều 10. Đánh số nhà trong phạm vi khu vực của dự án

1. Đánh số nhà trong phạm vi khu vực của dự án theo nguyên tắc quy định tại Điều 6 của Thông tư này.

2. Đánh tên nhóm nhà, tên ngôi nhà trong một nhóm nhà, số căn hộ của nhà chung cư trong phạm vi khu vực của dự án được thực hiện theo quy định tại Điều 11, Điều 12, Điều 13 của Thông tư này.

Điều 11. Đánh tên nhóm nhà

Trong một khu có nhiều nhà tạo thành các nhóm nhà mà các lối đi giữa các nhóm nhà không được đặt tên (đường, phố, ngõ, ngách) thì cần phải đánh tên nhóm nhà theo quy định sau:

1. Việc đánh tên nhóm nhà áp dụng chữ cái in hoa của tiếng Việt (A, B, C,…) sắp xếp theo thứ tự trong bảng chữ cái tiếng Việt với chiều đánh tên nguyên tắc sắp xếp của các nhóm nhà trong khu vực đó.

2. Trường hợp khu nhà có nhiều nhóm nhà thì chiều đánh tên nhóm nhà được bắt đầu từ nhóm nhà nằm gần lối vào khu nhà đi dần vào phía cuối khu nhà. Trường hợp các nhóm nhà nằm 2 bên trục đường giao thông nội bộ thì chiều đánh tên nhóm nhà cũng xác định theo phương pháp này, các nhóm nhà nằm phía bên trái đường nội bộ đánh tên A, C, Đ, G, I,…, các nhóm nhà phía bên phải đường nội bộ đánh tên B, D, E, H, K....

Điều 12. Đánh tên ngôi nhà trong một nhóm nhà

1. Tên ngôi nhà trong nhóm nhà được lựa chọn theo một trong 02 cách sau:

a) Viết bằng tên ghép của tên nhóm nhà và số thứ tự của ngôi nhà trong nhóm nhà đó (ví dụ: A10, B15, C4.....);

b) Viết bằng tên ghép của viết tắt của tên đường, tên nhóm nhà và số thứ tự của ngôi nhà trong nhóm nhà đó (ví dụ số nhà thuộc đường Bằng lăng, đường Hoa phượng…: BL.A-10, HP.B-15, ĐN.C-4,...).

2. Số thứ tự của ngôi nhà được dùng là các số tự nhiên (1, 2, 3..., n). Chiều đánh số thứ tự của ngôi nhà trong mỗi nhóm nhà được xác định theo nguyên tắc sắp xếp các ngôi nhà trong nhóm nhà đó.

Điều 13. Đánh số căn hộ của nhà chung cư

1. Đánh số căn hộ được sử dụng dãy số tự nhiên với thứ tự từ số nhỏ đến số lớn theo chiều quy định tại khoản 2 Điều này để đánh số căn hộ. Ghi số tầng trước số căn hộ được ghi tách riêng bằng dấu gạch ngang (ví dụ: 21 – 05).

2. Chiều đánh số căn hộ được thực hiện theo quy định sau đây:

a) Theo chiều quay kim đồng hồ, bắt đầu từ căn hộ đầu tiên phía bên trái của lối đi chính (thang máy hoặc thang bộ);

b) Trường hợp ngôi nhà chung cư có nhiều lối đi, thì lối đi chính do chủ đầu tư xác định. Chiều đánh số thực hiện theo nguyên tắc quy định tại điểm a khoản này.

3. Việc đánh số tầng nhà chung cư được thực hiện theo quy định sau đây:

a) Đánh số tầng nhà theo nguyên tắc lấy chiều từ tầng dưới lên tầng trên, bắt đầu từ tầng 1 của ngôi nhà (không tính tầng hầm). Dùng các số tự nhiên (1, 2, 3,..., n với n là tổng số tầng của ngôi nhà) để đánh số tầng và được lấy từ số nhỏ đến số lớn;

b) Trường hợp không đánh số liên tục có thể dùng số tầng trước đó kết hợp thêm ký tự (ví dụ: 4 thành 3A; 7 thành 6A...). Có thể đặt tên tầng trệt thay cho tầng 1, khi đó các tầng tiếp theo từ dưới lên được đánh số là tầng 1, tầng 2,... tầng n-1;

c) Trường hợp nhà có tầng hầm thì đánh số tầng hầm theo nguyên tắc lấy chiều từ tầng hầm ở trên cùng xuống hầm phía dưới, bắt đầu từ tầng hầm gần nhất với tầng 1 hoặc tầng trệt của ngôi nhà. Dùng các số tự nhiên (1, 2, 3,..., n với n là tổng số tầng hầm của ngôi nhà) để đánh số tầng hầm, lấy từ số nhỏ đến số lớn. Để phân biệt với tầng nhà thì viết thêm ký hiệu chữ do chủ đầu tư quyết định vào trước số tầng hầm (ví dụ: B1, B2, B3,...hoặc H1, H2, H3…).

4. Việc đánh số cầu thang nhà chung cư (từ 2 cầu thang sử dụng chung trở lên) được thực hiện theo nguyên tắc lấy chiều từ lối đi chính vào nhà, cầu thang đầu tiên từ bên trái đánh số 1, những cầu thang tiếp theo được đánh số 2, 3,...n.

Mục 3. ĐÁNH SỐ NHÀ TẠI DỰ ÁN KHU CÔNG NGHIỆP

Điều 14. Thực hiện lập phương án và đánh số

1. Chủ đầu tư dự án khu công nghiệp lập phương án, thực hiện việc đánh số và gắn biển số nhà trong phạm vi khu vực của dự án; thực hiện việc đặt tên đường làm cơ sở đánh số và gắn biển số nhà trong phạm vi khu vực của dự án.

Trường hợp, chủ đầu tư dự án khu công nghiệp đã có phương án đánh số và gắn biển số nhà trong phạm vi khu vực của dự án trong đồ án quy hoạch chi tiết 1/500 hoặc hồ sơ thiết kế đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt chấp thuận thì thực hiện theo phương án đã được phê duyệt, chấp thuận.

2. Chủ đầu tư thực hiện quy định tại khoản 2 Điều 9 của Thông tư này.

3. Trước khi thực hiện đánh số và gắn biển số nhà trong phạm vi khu vực của dự án, Chủ đầu tư dự án có văn bản gửi[8] Ủy ban nhân dân cấp xã, Ban quản lý khu công nghiệp về các nội dung thực hiện theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này để báo cáo và quản lý, cập nhật việc đánh số và gắn biển số nhà trong phạm vi khu vực dự án.

Điều 15. Đánh số nhà trong dự án khu công nghiệp

1. Đánh số nhà trong phạm vi khu vực của dự án theo nguyên tắc quy định tại Điều 6 của Thông tư này.

2. Trường hợp dự án khu công nghiệp có hình thành nhóm nhà thì thực hiện đánh tên nhóm nhà, tên ngôi nhà trong nhóm nhà được thực hiện theo quy định tại Điều 11, Điều 12 của Thông tư này.

3. Đối với một ô đất khu công nghiệp có nhiều nhà, xưởng, công trình xây dựng có chức năng khác nhau của tổ chức (doanh nghiệp trong khu công nghiệp) chỉ đánh số cho ô đất đó; việc đánh số thực hiện theo ký hiệu của bản vẽ quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 của dự án khu công nghiệp đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt hoặc đánh số theo số tự nhiên gắn với đường tiếp giáp theo nguyên tắc quy định tại Điều 6 của Thông tư này.

4. Việc đánh số nhà trong ô đất thì tổ chức (doanh nghiệp trong khu công nghiệp) tự thực hiện.

Chương III

GẮN BIỂN SỐ NHÀ

Điều 16. Gắn biển số nhà tại đường, phố, ngõ, ngách

1. Mỗi nhà mặt đường, nhà trong ngõ, nhà trong ngách được gắn một biển số nhà. Trường hợp một nhà có nhiều cửa ra vào từ nhiều đường, phố, ngõ, ngách khác nhau thì biển số nhà được gắn ở cửa đi chính. Nếu nhà có cửa đi chính ở tại góc hai đường, phố, ngõ, ngách thì nhà đó được đánh số và gắn biển theo đường, phố, ngõ, ngách lớn hơn.

2. Biển số nhà được gắn tại vị trí dễ quan sát, bên trái hoặc trên giữa cửa đi chính. Trường hợp nhà có hàng rào sát hè hoặc lòng đường thì biển số nhà được gắn tại cột trụ cổng chính, phía bên trái (theo chiều từ phía ngoài vào nhà).

Điều 17. Gắn biển số căn hộ của nhà chung cư

Mỗi căn hộ được gắn một biển số. Biển số căn hộ được viết bằng tên ghép của ký hiệu tòa, số tầng với số căn hộ được xác định theo nguyên tắc quy định tại Điều 13 của Thông tư này. Biển số căn hộ được gắn tại vị trí dễ quan sát, bên trái hoặc trên giữa cửa đi chính của căn hộ.

Điều 18. Gắn biển tên nhóm nhà, ngôi nhà, số tầng nhà, cầu thang

1. Biển tên nhóm nhà được đặt tại một góc của nhóm nhà đó, trên vỉa hè gần với đường phố lớn nhất.

2. Biển tên ngôi nhà được đặt tại mặt đứng và hai bức tường đầu hồi của ngôi nhà. Tại mặt đứng, biển được đặt tại vị trí tầng 1 trong trường hợp nhà một tầng, tại tầng 2 trong trường hợp nhà nhiều tầng.

Việc gắn biển tên ngôi nhà tại bức tường đầu hồi hoặc các vị trí khác do đơn vị thực hiện gắn biển quyết định để đảm bảo phù hợp với điều kiện cụ thể và đảm bảo dễ nhận biết, dễ quan sát.

3. Việc gắn biển số tầng nhà, biển số cầu thang do đơn vị thực hiện gắn biển quyết định để đảm bảo phù hợp với điều kiện cụ thể và đảm bảo dễ nhận biết, dễ quan sát.

Chương IV

CẤU TẠO CÁC LOẠI BIỂN SỐ

Điều 19. Các loại biển số

Các loại biển số theo quy định của Thông tư này gồm 07 loại sau đây:

1. Biển số nhà mặt đường, phố.

2. Biển số nhà trong ngõ, nhà trong ngách.

3. Biển số căn hộ của nhà chung cư.

4. Biển tên nhóm nhà.

5. Biển tên ngôi nhà.

6. Biển số tầng nhà.

7. Biển số cầu thang.

Điều 20. Cấu tạo các loại biển số

1. Màu sắc và chất liệu của biển số nhà đảm bảo các yêu cầu sau:

a) Chất liệu đảm bảo bền, chắc, sử dụng lâu dài;

b) Màu sắc dễ nhận biết, dễ quan sát;

c) Đảm bảo tính đồng bộ, thẩm mỹ chung.

2. Kích thước (chiều rộng x chiều cao) tối thiểu của từng loại biển được quy định như sau:

a) Biển số nhà mặt đường, phố, biển số nhà trong ngõ, nhà trong ngách: 200 mm x 150 mm;

b) Biển số căn hộ (hoặc phòng): 150 mm x 100 mm;

c) Biển tên nhóm nhà: 200 mm x 300 mm;

d) Biển tên ngôi nhà: 850 mm x 650 mm;

đ) Biển số tầng, biển số cầu thang: 300 mm x 300 mm.

Chương V

TỔ CHỨC THỰC HIỆN VÀ HIỆU LỰC THI HÀNH[9]

Điều 21. Xử lý tồn tại về đánh số và gắn biển số nhà

1. Việc đánh số và gắn biển số nhà theo quy định tại Thông tư này áp dụng đối với những khu vực mới xây dựng, khu vực chưa đánh số nhà. Đối với phố cổ, phố cũ, khu vực đã có số nhà trước đây thì Ủy ban nhân dân cấp xã[10] quyết định để đảm bảo phù hợp với điều kiện cụ thể;

2. Trường hợp nhà xây mới xen trên đất của khuôn viên nhà cũ thì đánh số nhà đó bằng tên ghép của số nhà cũ và một chữ cái in hoa của tiếng Việt (ví dụ: A). Nếu có nhiều nhà mới thì việc ghi chữ cái in hoa tiếng Việt theo thứ tự A,B,C,..,M và xác định chiều theo nguyên tắc quy định tại Điều 6 Thông tư này;

3. Trường hợp nhà được xây dựng lại trên đất khuôn viên nhiều nhà cũ thì nhà được mang số của nhà cuối cùng của dãy nhà cũ bị phá dỡ của đường, phố (hoặc ngõ, ngách) đó;

4. Đối với các trường hợp khác thì Ủy ban nhân dân cấp xã[11] rà soát xem xét, quyết định việc tổ chức thực hiện đánh số và gắn biển số nhà để đảm bảo tính tổng thể, đồng bộ, hiệu quả, ổn định chính trị, xã hội, không gây xáo trộn trong đời sống sinh hoạt của nhân dân và thực hiện theo nguyên tắc quy định tại Chương II của Thông tư này.

Điều 22. Kinh phí đánh số và gắn biển số nhà

1. Việc lập dự toán, quản lý sử dụng, quyết toán kinh phí về đánh số và gắn biển số nhà thực hiện theo quy định pháp luật về Ngân sách.

2. Chủ sở hữu nhà hoặc người đại diện chủ sở hữu có trách nhiệm nộp kinh phí cấp biển số nhà. Trường hợp không xác định được chủ sở hữu thì người đang sử dụng có trách nhiệm nộp kinh phí cấp biển số nhà.

3. Kinh phí để đánh số nhà, gắn biển tên ngõ, ngách sử dụng ngân sách địa phương.

Kinh phí gắn biển số (bao gồm biển số nhà, biển số căn hộ; biển tên nhóm nhà, ngôi nhà; biển số tầng nhà, cầu thang) do tổ chức, cá nhân có nhà, công trình xây dựng được gắn biển chi trả. Trừ các trường hợp được quy định tại quy định tại khoản 4, khoản 5 Điều này.

4. Kinh phí về việc đánh số và gắn biển số nhà trong phạm vi khu vực của dự án đầu tư xây dựng nhà ở, đầu tư xây dựng khu đô thị dự án do chủ đầu tư chi trả.

5. Kinh phí về việc đánh số và gắn biển số nhà trong phạm vi khu vực của dự án đầu tư xây dựng khu công nghiệp do chủ đầu tư dự án chi trả.

Điều 23. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp[12]

1. Trách nhiệm Ủy ban nhân dân cấp tỉnh:

a) Chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp xã xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện đánh số và gắn biển số nhà trên địa bàn theo quy định của Thông tư này;

b) Chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp xã, các cơ quan, đơn vị có liên quan thực hiện quản lý thông tin, dữ liệu về địa chỉ số nhà của tổ chức, cá nhân; đảm bảo tích hợp, kết nối, chia sẻ với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia, cơ sở dữ liệu khác có liên quan theo quy định.

2. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã:

a) Rà soát và đề xuất phương án đánh số và gắn biển số nhà trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tổ chức thực hiện việc đánh số và gắn biển số nhà trên địa bàn; trao chứng nhận biển số nhà cho tổ chức, cá nhân trên địa bàn;

b) Cấp chứng nhận số nhà cho các hộ được gắn biển theo quy định của Thông tư này để chủ sở hữu (hoặc người sử dụng) dùng khi cần thiết. Mẫu chứng nhận số nhà được quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này. Chứng nhận số nhà không thay thế cho việc công nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng;

c) Báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về kết quả thực hiện đánh số và gắn biển số nhà trên địa bàn khi có yêu cầu;

d) Kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm quy định về đánh số và gắn biển số nhà trên địa bàn theo pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; báo cáo và kiến nghị xử lý với cơ quan có thẩm quyền những trường hợp vượt thẩm quyền;

đ) Quản lý và thực hiện việc cập nhật thông tin, dữ liệu về đánh số và gắn biển số nhà tại các khu vực đô thị, khu vực nông thôn, dự án đầu tư xây dựng nhà ở, đầu tư xây dựng khu đô thị, khu công nghiệp để quản lý và rà soát việc đồng bộ với cơ sở dữ liệu đất đai trên địa bàn;

g) Tuyên truyền, phổ biến và đôn đốc tổ chức, cá nhân trên địa bàn chấp hành quy định về đánh số và gắn biển số nhà;

h) Phối hợp với cơ quan công an cấp xã trong việc triển khai thực hiện đánh số và gắn biển số nhà bảo đảm thông tin, dữ liệu về số nhà kết nối, chia sẻ với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư theo quy định.

Điều 24. Trách nhiệm của Sở Xây dựng

1. Hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp xã[13], chủ đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở, đầu tư xây dựng khu đô thị, khu công nghiệp thực hiện đánh số và gắn biển số nhà trên địa bàn theo quy định của Thông tư này.

2. Theo dõi, tổng hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ Xây dựng về việc đánh số và gắn biển số nhà trên địa bàn khi có yêu cầu.

3. Thanh tra, kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm quy định về đánh số và gắn biển số nhà trên địa bàn; báo cáo và kiến nghị xử lý với Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh những trường hợp vượt thẩm quyền.

Điều 25. Hiệu lực thi hành

1. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 10 năm 2024.

2. Bãi bỏ Quyết định số 05/2006/QĐ-BXD ngày 08/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành Quy chế đánh số và gắn biển số nhà;

3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm rà soát các quy định về đánh số và gắn biển số nhà đã ban hành trước đây để kịp thời bãi bỏ hoặc sửa đổi, bổ sung các văn bản có nội dung trái với quy định của Thông tư này./.

 

 

XÁC THỰC VĂN BẢN HỢP NHẤT

Nơi nhận:
- Bộ trưởng (để báo cáo);
- Văn phòng Chính phủ (để đăng Công báo);
- Cổng TTĐT Chính phủ (để đăng tải);
- Cổng TTĐT Bộ Xây dựng (để đăng tải);
- Lưu: VT, PC, QLN.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG




Nguyễn Văn Sinh

 

MẪU CHỨNG NHẬN SỐ NHÀ

Tỉnh (thành phố).........

UBND..........

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: /UB-CN

 

 

CHỨNG NHẬN SỐ NHÀ

Căn cứ Thông tư số…/2024/TT-BXD ngày….tháng…năm 2024 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng quy định đánh số và gắn biển số nhà;

Căn cứ Quyết định số… /… /QĐ-UB của UBND tỉnh (thành phố) . . . quy định về việc đánh số và gắn biển số nhà trên địa bàn,

Ủy ban nhân dân ........................................................................ Chứng nhận ngôi nhà (căn hộ) của ông/bà hoặc cơ quan, tổ chức: ............................................................................................... được mang số: ................................................................................................... thay cho số nhà cũ ( ........................................................................)

Giấy chứng nhận này được sử dụng khi cơ quan, tổ chức, cá nhân làm các thủ tục liên quan đến địa chỉ.

 

………., ngày ... tháng ... năm ..…...

TUQ. Chủ tịch UBND Xã[14] ..........

Trưởng phòng..........

 

 

 



[1] Thông tư số 09/2025/TT-BXD sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp và phân cấp cho chính quyền địa phương, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025, có căn cứ ban hành như sau:

“Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 19 tháng 02 năm 2025;

Căn cứ Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Quốc hội quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước;

Căn cứ Nghị định số 33/2025/NĐ-CP ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Xây dựng;

Nghị định số 140/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng;

Nghị định số 144/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ quy định về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng; Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Pháp chế;

Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp và phân cấp cho chính quyền địa phương.”

[2] Cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp huyện” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh” theo quy định tại khoản 3 Điều 3 của Thông tư số 09/2025/TT-BXD sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp và phân cấp cho chính quyền địa phương, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[3] Điểm này được sửa đổi theo quy định tại khoản 1 Điều 3 của Thông tư số 09/2025/TT-BXD sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp và phân cấp cho chính quyền địa phương, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[4] Cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp huyện” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 4 Điều 3 của Thông tư số 09/2025/TT-BXD sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp và phân cấp cho chính quyền địa phương, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[5] Cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp huyện” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 4 Điều 3 của Thông tư số 09/2025/TT-BXD sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp và phân cấp cho chính quyền địa phương, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[6] Cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp huyện” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 4 Điều 3 của Thông tư số 09/2025/TT-BXD sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp và phân cấp cho chính quyền địa phương, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[7] Cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp huyện” được bãi bỏ theo quy định tại khoản 5 Điều 3 của Thông tư số 09/2025/TT-BXD sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp và phân cấp cho chính quyền địa phương, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[8] Cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp huyện” được bãi bỏ theo quy định tại khoản 5 Điều 3 của Thông tư số 09/2025/TT-BXD sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp và phân cấp cho chính quyền địa phương, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[9] Điều 31, Điều 32 và khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 33 của Thông tư số 09/2025/TT-BXD sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp và phân cấp cho chính quyền địa phương, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025 quy định như sau:

Điều 31. Hiệu thi hành

1. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

Điều 32. Trách nhiệm của các cơ quan

1. Bộ Xây dựng

a) Hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của Thông này;

b) Thực hiện việc kiểm tra, giám sát đối với các nhiệm vụ đã được phân cấp cho chính quyền địa phương theo quy định của pháp luật.

2. Ủy ban nhân dân các cấp

a) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm bố trí nguồn lực, các điều kiện để tổ chức thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của Thông này; chỉ đạo, hướng dẫn Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định. Trường hợp phát sinh vướng mắc, bất cập trong quá trình triển khai thi hành báo cáo Bộ Xây dựng để kịp thời xử lý, tháo gỡ;

b) Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo quy định tại Thông tư này.

Điều 33. Quy định chuyển tiếp

1. Văn bản, giấy tờ đã được cơ quan, chức danh có thẩm quyền ban hành, cấp trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 mà chưa hết hiệu lực hoặc chưa hết thời hạn sử dụng thì tiếp tục được áp dụng, sử dụng theo quy định của pháp luật cho đến khi hết thời hạn hoặc được sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ, hủy bỏ, thu hồi bởi cơ quan, chức danh tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn hoặc cơ quan, người có thẩm quyền.

2. Đối với các công việc, hồ sơ thủ tục hành chính liên quan đến chính quyền hai cấp:

Các công việc, hồ sơ thủ tục hành chính của các cơ quan, đơn vị thuộc chính quyền địa phương cấp huyện đang giải quyết cho cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp nếu đến thời điểm ngày 01 tháng 7 năm 2025 mà vẫn chưa hoàn thành hoặc đã hoàn thành trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 nhưng sau đó phát sinh vấn đề liên quan cần giải quyết thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền và trách nhiệm phân công cơ quan, đơn vị thuộc chính quyền địa phương cấp xã nơi cư trú của cá nhân hoặc nơi đặt trụ sở giao dịch của tổ chức, doanh nghiệp đang có công việc, hồ sơ thủ tục hành chính cần giải quyết để tiếp tục giải quyết bảo đảm không làm gián đoạn công việc, không ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của xã hội, người dân, doanh nghiệp; trường hợp nội dung công việc, hồ sơ thủ tục hành chính đó liên quan đến từ 02 đơn vị hành chính cấp xã mới hình thành sau sắp xếp trở lên hoặc có nội dung phức tạp thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền và trách nhiệm trực tiếp giải quyết hoặc phân công cơ quan chuyên môn, cơ quan hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp mình tiếp tục giải quyết bảo đảm không làm gián đoạn công việc, không ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của xã hội, người dân, doanh nghiệp.

3. Đối với các công việc, hồ sơ thủ tục hành chính liên quan phân cấp nhiệm vụ, thẩm quyền

Các công việc, hồ sơ thủ tục hành chính đã được cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 thì cơ quan có thẩm quyền đã tiếp nhận hồ sơ tiếp tục thực hiện theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ. Trường hợp trả lại hồ sơ để hoàn thiện thì gửi hồ sơ đến cơ quan được phân cấp theo quy định tại Thông tư này để tiếp tục giải quyết thủ tục hành chính theo quy định của Thông tư này.

[10] Cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp huyện” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 4 Điều 3 của Thông tư số 09/2025/TT-BXD sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp và phân cấp cho chính quyền địa phương, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[11] Cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp huyện” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 4 Điều 3 của Thông tư số 09/2025/TT-BXD sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp và phân cấp cho chính quyền địa phương, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[12] Điều này được sửa đổi theo quy định tại khoản 2 Điều 3 của Thông tư số 09/2025/TT-BXD sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp và phân cấp cho chính quyền địa phương, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[13] Cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp huyện” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 4 Điều 3 của Thông tư số 09/2025/TT-BXD sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp và phân cấp cho chính quyền địa phương, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

[14] Cụm từ “TUQ. Chủ tịch UBND quận” được thay thế bởi cụm từ “TUQ. Chủ tịch UBND xã” theo quy định tại khoản 6 Điều 3 của Thông tư số 09/2025/TT-BXD sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp và phân cấp cho chính quyền địa phương, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.

MINISTRY OF CONSTRUCTION OF VIETNAM
-------

SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM
Independence – Freedom – Happiness
----------------

No. 05/VBHN-BXD

Hanoi, February 13, 2026

 

CIRCULAR

ON NUMBERING AND INSTALLATION OF NUMBER PLATES OF HOUSES AND CONSTRUCTION WORKS

Circular No. 08/2024/TT-BXD dated August 30, 2024 of the Minister of Construction on numbering and installation of number plates of houses and construction work comes into force from October 15, 2024 and is amended by:

Circular No. 09/2025/TT-BXD dated June 13, 2025 of the Minister of Construction on amendment to Circulars under governance of the Ministry of Construction relating to arrangement and implementation of two-level local government structures and decentralization of local governments.

Pursuant to Decree No. 52/2022/ND-CP dated August 8, 2022 of the Government on functions, tasks, powers, and organizational structures of Ministry of Construction;

At request of Director of Housing and Real Estate Market Management Agency;

The Minister of Construction promulgates Circular on numbering and installation of number plates of houses and construction works.[1]

Chapter I

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 1. Scope

This Circular prescribes number and number plate installation of houses and construction works (hereinafter referred to as “houses”) in urban areas, rural areas, residential construction projects, urban area construction projects, and industrial parks nationwide.

Article 2. Regulated entities

Regulatory agencies, organizations, and individuals related to the numbering and number plate installation of houses and construction works.

Article 3. Definitions

In this Circular, the terms below are construed as follows:

1. “House numbering” refers to the process of assigning a unique number to each house based on standardized conventions.

2. “Plate installation” refers to the process of installing a numbered plate at a designated location on a house in accordance with established standards

3. “Housing group” refers to a cluster of houses located in close proximity, arranged according to specific planning principles and separated from other groups by fences or roads.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



5. “Dead-end alley” refers to a narrow passageway within a residential area, with one end opening onto an alley, not directly connected to a road or street.

6. “Street-facing house” refers to a house with its main entrance directly opening onto a street or road.

7. “Alley house” refers to a house with its main entrance opening onto an alley.

8. “Dead-end alley house” refers to a house with its main entrance opening onto a dead-end alley.

Article 4. Requirements for house numbering and number plate installation

1. Ensure the accurate identification of house addresses and facilitate the receipt of information, communication, civil transactions, commercial transactions, and other transactions by organizations and individuals.

2. Contribute to urban and rural beautification and enhance the efficiency and effectiveness of administrative management, population management, fire prevention, fire fighting, security, and order, in accordance with the law.

3. House numbering and number plate installation must be consistent with the house address as stated in the application for a certificate of land use right, housing ownership right and other property on land.

4. House numbering and number plate installation must ensure the management of information and data on the addresses of organizations and individuals; ensure integration, connection, and sharing with the national population database, the national land database, and other relevant databases when required.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



HOUSE NUMBERING

Section 1. HOUSE NUMBERING IN URBAN AREAS AND RURAL AREAS

Article 5. Review and house numbering

Commune-level People's Committees shall review, propose, and submit plans for house numbering and number plate installation in their communes in accordance with Articles 6, 7, and 8 and Chapter III of this Circular to provincial People's Committees[2] for decision and arrangement of implementation, except in cases specified in Section 2 and Section 3 of this Chapter.

Article 6. Numbering street-facing houses

1. Street-facing houses shall be numbered using consecutive natural numbers (1, 2, 3, ..., n) starting from the smallest number and increasing in the direction specified in Clause 2 of this Article. Houses on the left side shall be assigned odd numbers (1, 3, 5, 7, ...), and those on the right side shall be assigned even numbers (2, 4, 6, 8, ...).

Where a house has entrances facing two different streets or roads, the house shall be numbered according to the street or road with a wider cross-section; if the cross-sections of the streets or roads are similar, the house shall be numbered according to the street or road with the main entrance or according to the street or road that has already been assigned consecutive numbers.

2. The direction in which street-facing houses are numbered shall be determined as follows:

a) The direction in which houses are numbered shall proceed from North to South, East to West, Northeast to Southwest, or Southeast to Northwest;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



c) Streets and roads on which houses have been numbered before the effective date hereof shall have the assigned numbers maintained.

3. For streets or roads where houses are not built continuously (there are vacant lands), commune-level People's Committees[4] shall, based on the detailed construction planning approved by competent authority for the street or road, assign house numbers and ensure availability of reserved numbers for future houses or construction works on that street or road. Where detailed construction planning for the street or road is not available, commune-level People's Committees[5] shall decide on implementation of house numbering and number plate installation in order to comply with specific conditions of each administrative division.

4. Where a new unnumbered house is built between two existing houses that have been numbered consecutively on the same street or road, the new house can be numbered using one of the following methods:

a) By combining the smaller house number with a capital Vietnamese letter (A, B, C, ...), starting with A (e.g., a new house located between houses numbered 20 and 22 shall be numbered 20A, 20B, 20C, ...);

b) By combining the smaller house number with a hyphen and a natural number, starting with 1 (e.g. a new house located between houses numbered 20 and 22 shall be numbered 20-1, 20-2, 20-3, ..., 20-24, 20-25, ..., 22).

5. Where a new street segment is built as an extension from the end of an existing street, houses on this new street segment shall be numbered consecutively from the last number assigned to houses on that street in accordance with this Circular.

Article 7. Numbering houses in alleys and dead-end alleys

1. Houses in alleys shall be numbered as follows:

a) If an alley does not have a specific name: the alley shall be named after number of the house on the street or road adjacent to the alley entrance (the house with the smaller house number);

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



c) The direction in which houses in alleys are numbered: If an alley connects two streets or roads and has a name, numbering shall start from the house at the beginning of the alley closest to the street or road which the alley is named after name and continue to the end of the alley.

If an alley connects two streets or roads but does not have a name, numbering shall start from the house at the beginning of the alley closest to the street or road with the wider cross-section and continue to the end of the alley.

If an alley only has one end connecting to a street or road, numbering shall start from the house at the beginning of the alley closest to the street or road and continue to the end of the alley.

2. Houses in dead-end alleys shall be numbered as follows:

a) Where a dead-end alley does not have a specific name: the dead-end alley shall be named after house number of the house on the alley adjacent to the beginning of the dead-end alley (the house with the smaller house number);

b) Numbering principles shall be the same as those specified in Clauses 1, 3, 4, and 5 of Article 6 hereof;

c) The direction in which houses in a dead-end alley are numbered: If a dead-end alley connects two alleys and has a name, numbering shall start from the house at the beginning of the dead-end alley closest to the alley which the dead-end alley is named after and continue to the end of the dead-end alley. If a dead-end alley connects two streets and does not have a name, numbering shall start from the house at the beginning of the dead-end alley closest to the street with the wider cross-section and continue to the end of the dead-end alley. If a dead-end alley only has one end connecting to an alley, numbering shall start from the house at the beginning of the dead-end alley closest to the alley and continue to the end of the dead-end alley.

3. In respect of houses in alleys or dead-end alleys with special characteristics, commune-level People’s Committees[6] shall decide on numbering.

Article 8. Naming housing groups, individual houses within a group, and numbering apartment units in apartment buildings

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Section 2. NUMBERING HOUSES IN RESIDENTIAL CONSTRUCTION PROJECTS, URBAN AREA CONSTRUCTION PROJECTS

Article 9. Development of numbering plan and numbering

1. Project developers shall develop numbering plans and carry out house numbering and plate installation within project area; name roads within project area which serve as the basis for numbering and installing house number plates in the project area.

Where project developers have already developed numbering and plate installation plans in project area in detailed 1/500 scale planning scheme or design dossiers approved by competent authority, the approved solutions shall prevail.

2. Project developers shall name or re-name roads and streets in project area in accordance with regulations of the law on naming and re-naming roads, streets, public structures, and other relevant law provisions.

3. Prior to numbering and installing house number plates in project area, project developers shall file[7] documents on actions taken in accordance with Clause 1 and Clause 2 of this Article to commune-level People’s Committees in order to report, manage, and update house numbering and house number plate installation in project area.

Article 10. Numbering houses in project area

1. Houses in project area shall be numbered in accordance with Article 6 hereof.

2. Housing groups, individual houses within a group in project area shall be named in accordance with Articles 11, 12, and 13 of this Circular; apartment units in apartment buildings in project area shall be numbered in accordance with Articles 11, 12, and 13 of this Circular.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Where an area consists of multiple housing groups where passageways between the groups are not named (roads, streets, alleys, dead-end alleys), housing groups shall be named as follows:

1. Housing groups shall be named using uppercase Vietnamese letters (A, B, C, etc.) in alphabetical order and in the order in which houses in housing groups are arranged.

2. Where an area consist of multiple housing groups, housing groups shall be named in order where housing groups closest to the area entrance are named first and housing groups furthest from from the area entrance are named last. Where housing groups are located on both sides of internal roads, the direction in which housing groups are named shall also be determined in this method where housing groups on the left of internal roads are named A, C, Đ, G, I, etc. and housing groups on the right of internal roads are named B, D, E, H, K, etc.

Article 12. Naming individual houses in a housing group

1. Name of individual houses in a housing group shall be selected via any of the methods below:

a) By combining group name and house number within the group (e.g., A10, B15, C4, etc.);

b) By combining abbreviation of street name, group name, and house number within the group (e.g., for houses on Bang Lang Street, Hoa Phuong Street: BL.A-10, HP.B-15, ĐN.C-4,...).

2. House number shall be natural numbers (1, 2, 3..., n). The order in which individual houses in a housing group are numbered shall be determined by the arrangement of the individual houses in that group.

Article 13. Numbering apartment units in apartment buildings

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



2. The direction in which apartment units are numbered is regulated as follows:

a) Apartment units shall be numbered in clockwise direction, starting from the first apartment unit to the left of main passage (elevator or staircase);

b) Where an apartment building consists of multiple passages, main passage shall be determined by project developers. The direction in which apartment units are numbered shall conform to Point a of this Clause.

3. Floors in apartment buildings shall be numbered as follows:

a) Floors are numbered from the bottom to the top, starting from the first floor (excluding the basement). Floors are numbered using natural number (1, 2, 3, ..., n where n is the total number of floors) in numerical order;

b) Where floors are not numbered consecutively, a floor can be numbered using the previous floor number combined with a letter (e.g. 4 becomes 3A; 7 becomes 6A, etc.). It is possible to refer to the first floor as the ground floor in which case subsequent floors are numbered as 1st floor, 2nd floor, ... n-1 floor;

c) Where a building has basements, basements shall be numbered in order where the basement closest to the first floor or the ground floor is numbered first. Basements are numbered using natural number (1, 2, 3, ..., n where n is the total number of basements) in numerical order. In order to distinguish from regular floors, a letter prefix decided by project developers shall be added to basement number (e.g. B1, B2, B3, etc. or H1, H2, H3, etc.).

4. Staircases in apartment buildings (with 2 common staircases or more) shall be numbered sequentially from the main entrance, starting with the first staircase on the left as number 1, and subsequent staircases are numbered 2, 3, and so on.

Section 3. NUMBERING HOUSES IN INDUSTRIAL PARK PROJECTS

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



1. Project developers of industrial park projects shall develop numbering plans and carry out house numbering and plate installation within project area; name roads within project area which serve as the basis for numbering and installing house number plates in the project area.

Where project developers of industrial park projects have already developed numbering and plate installation plans in project area in detailed 1/500 scale planning scheme or design dossiers approved by competent authority, the approved solutions shall prevail.

2. Project developers shall conform to Clause 2 Article 9 hereof.

3. Prior to numbering and installing house number plates in project area, project developers shall file[8] documents on actions taken in accordance with Clause 1 and Clause 2 of this Article to commune-level People’s Committees and industrial park management board in order to report, manage, and update house numbering and house number plate installation in project area.

Article 15. Numbering houses in industrial park projects

1. Houses in project area shall be numbered in accordance with Article 6 hereof.

2. Where housing groups are formed in industrial park projects, individual houses in housing groups shall be named in accordance with Article 11 and Article 12 hereof.

3. In respect of a plot of land in an industrial park that contains multiple construction works, factories, or other structures with different functions belonging to the same organization (enterprise in the industrial park), only the plot shall be numbered. The numbering shall be done in accordance with symbols in the detailed 1/500 construction planning drawing of industrial park projects approved by competent authority or natural numbers associated with adjacent roads according to principles under Article 6 of this Circular.

4. Houses in the plot shall be numbered by organizations (enterprises in industrial parks) at their discretion.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



INSTALLATION OF HOUSE NUMBER PLATES

Article 16. Installing number plates for street-facing houses, houses in alleys and dead-end alleys

1. Each street-facing house and house in alley, dead-end alley shall be affixed with a house number plate. Where a house has multiple entrances from multiple streets, alleys, and/or dead-end alleys, the number plate shall be affixed to the main entrance. Where main entrance is located at the corner of two streets, alleys, or dead-end alleys, the house shall be numbered and affixed with a plate according to the larger street, alley, or dead-end alley.

2. House number plates shall be installed in a visible location, on the left side or above the center of the main entrance. Where a house’s fence is close to the sidewalk or the road, the house number plate shall be installed on the left of the main gate post (when viewed from outside the house).

Article 17. Installation of apartment unit number plate

Each apartment unit shall be affixed with a number plate. Apartment unit number plate shall be presented in form of a combination of the building code, floor number, and apartment unit number in accordance with principles specified in Article 13 hereof. Apartment unit number plate shall be installed at a visible location, to the left or above the center of the main entrance of the apartment unit.

Article 18. Installation of name plate of housing groups, individual houses, floors, staircases

1. Name plate of a housing group shall be installed at a corner of the housing group on the sidewalk nearest to the main street.

2. House name plate shall be placed on the front wall and two gable walls of the house. On the front wall, the plate shall be placed at the first-floor level for single-story houses and at the second-floor level for multi-story houses.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



3. Installation of floor number plates and staircase number plates shall be determined by installation units to ensure suitability to specific conditions and ease of identification and observation.

Chapter IV

STRUCTURE OF NUMBER PLATES

Article 19. Types of plates

Number plates prescribed hereunder include the following 7 types:

1. Number plates of street-facing houses.

2. Number plates of alley houses, dead-end alley houses.

3. Number plates of apartment units in apartment buildings.

4. Name plates of housing groups.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



6. Number plates of floors.

7. Number plates of staircases.

Article 20. Structure of number plates

1. Color and material of house number plates must meet the following requirements:

a) Material must be durable, sturdy, and suitable for long-term use;

b) Color must be highly visible and recognizable;

c) Overall design must be consistent and aesthetically pleasing.

2. Minimum dimensions (width x height) of each type of number plate are as follows:

a) Number plates of street-facing houses, alley houses, dead-end alley houses: 200 mm x 150 mm;

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



c) Name plates of housing groups: 200 mm x 300 mm;

d) Name plates of houses: 850 mm x 650 mm;

dd) Floor number plates, staircase number plates: 300 mm x 300 mm.

Chapter V

IMPLEMENTATION AND ENTRY INTO FORCE [9]

Article 21. Handling of existing problems in house numbering and plate installation

1. House numbering and plate installation specified in this Circular shall apply to newly developed areas and areas where houses have not been previously numbered. In case of old quarters, old streets or areas where houses have been numbered, commune-level People's Committees[10] shall decide to ensure suitability to specific conditions;

2. Where a new house is built on a plot of an old house, the new house shall be numbered by combining number of the existing house and an uppercase Vietnamese letter (e.g. A). Where multiple new houses are built on a plot of an old house, the new houses shall be numbered by combining number of the existing house and an uppercase Vietnamese letter in alphabetical order and in the direction specified under Article 6 hereof.

3. Where a house is rebuilt on a plot of multiple old houses, the new house shall be numbered by number of the last house to be demolished on that road, street (alley, dead-end alley);

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



Article 22. Funding for house numbering and plate installation

1. Preparation of estimates, management and use, and finalization of the budget for house numbering and plate installation shall be carried out in accordance with the law on the budget.

2. House owners or house owner’s representatives have the responsibility to pay the fee for issuance of house number plate. Where house owners cannot be identified, house users have the responsibility to pay the fee for issuance of house number plate.

3. Budget for numbering houses and installation of dead-end alley or alley name plates shall be covered by local government budget.

Costs for installing number plates (including house number plates, apartment unit number plates, housing group name plates, house name plates, floor number plates, and staircase number plates) shall be incurred by organizations or individuals whose houses or constructions are to be numbered, except in cases as prescribed in Clauses 4 and 5 of this Article.

4. Costs for house numbering and plate installation within a residential development project or an urban development project shall be incurred by the project developer.

5. Costs for house numbering and plate installation within a residential development project or an urban development project shall be incurred by the project developer.

Article 23. Responsibilities of People’s Committees of all levels [12]

1. Provincial People’s Committees have the responsibility to:

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



b) direct commune-level People's Committees, other relevant agencies, and entities to manage information and data on the addresses of organizations and individuals; ensure integration, connection, and sharing with the national population database, the national land database, and other relevant databases as per the law.

2. Commune-level People’s Committees have the responsibility to:

a) review and propose house numbering and plate installation solutions to provincial People’s Committees for implementation in local administrative division; issue certificate of house number plate to local organizations and individuals;

b) issue house number certificates to households that have been assigned numbers in accordance with this Circular for the use of the owner (or user) when necessary. Format of house number certificate is specified in the Appendix attached hereto. House number certificate does not replace the recognition of ownership of houses or constructions;

c) file reports on results of numbering and number plate installation in local administrative divisions to provincial People’s Committees;

d) examine and take actions against violations of regulations on house numbering and plate installation in local administrative divisions in accordance with regulations on administrative penalties; report and request competent authorities to handle cases that exceed their authority;

dd) manage and update information and data on house numbering and plate installation in urban areas, rural areas, housing development projects, urban development projects, and industrial parks to ensure consistency with the land database in local administrative divisions;

g) communicate, popularize, and encourage local organizations and individuals to comply with regulations on on house numbering and number plate installation;

h) cooperate with commune-level police in numbering and installing number plates in a manner ensuring house number information and data is connected to and shared with national population database as per the law.

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



1. Guide commune-level People’s Committees[13], project developers of residential investment projects, urban investment projects, industrial park investment projects to number and install number plate in local administrative divisions in accordance with this Circular.

2. Monitor, consolidate, and file reports on house numbering and number plate installation in their jurisdiction to provincial People’s Committees and Ministry of Construction when requested.

3. Inspect, examine, take actions against violations in house numbering and house number plate installation in local administrative; report to and request provincial People’s Committees to handle cases that exceed their authority.

Article 25. Entry into force

1. This Circular comes into force from October 15, 2024.

2. Repeal Decision No. 05/2006/QD-BXD dated March 8, 2006 of the Minister of Construction;

3. Chairpersons of People’s Committees of provinces and central-affiliated cities have the responsibility to review previous regulations on house numbering and house number plate installation in order to repeal or amend documents that contradict this Circular./.

 

 

...

...

...

Hãy đăng nhập hoặc đăng ký Thành viên Pro tại đây để xem toàn bộ văn bản tiếng Anh.



 

PP. MINISTER
DEPUTY MINISTER




Nguyen Van Sinh

 

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Văn bản hợp nhất 05/VBHN-BXD ngày 13/02/2026 hợp nhất Thông tư quy định đánh số và gắn biển số nhà, công trình xây dựng do Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Văn bản liên quan

Ban hành: 28/11/2013

Hiệu lực: Đã biết

Tình trạng: Đã biết

Cập nhật: 10/12/2013

Ban hành: 22/03/2012

Hiệu lực: Đã biết

Tình trạng: Đã biết

Cập nhật: 12/04/2012

1.332

DMCA.com Protection Status
IP: 2804:29b8:5039:14c0:3515:15ac:74dd:5985