|
VĂN PHÒNG QUỐC
HỘI
--------
|
CỘNG HÒA XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số:
63/VBHN-VPQH
|
Hà Nội, ngày
15 tháng 8 năm 2025
|
LUẬT
XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 ngày
20 tháng 6 năm 2012 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2013,
được sửa đổi, bổ sung bởi:
1. Luật Hải quan số 54/2014/QH13 ngày 23 tháng 6
năm 2014 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2015;
2. Luật Thủy sản số 18/2017/QH14 ngày 21 tháng
11 năm 2017 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2019;
3. Luật số 67/2020/QH14 ngày 13 tháng 11 năm
2020 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành
chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022;
4. Luật số 09/2022/QH15 ngày 09 tháng 11 năm
2022 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2023;
5. Luật Thanh tra số 11/2022/QH15 ngày 14 tháng
11 năm 2022 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2023;
6. Luật số 56/2024/QH15 ngày 29 tháng 11 năm
2024 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán, Luật Kế
toán, Luật Kiểm toán độc lập, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Quản lý, sử dụng
tài sản công, Luật Quản lý thuế, Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Dự trữ quốc
gia, Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm
2025;
7. Luật số 88/2025/QH15 ngày 25 tháng 6 năm 2025
của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số
51/2001/QH10;
Quốc hội ban hành Luật Xử lý vi phạm hành
chính[1].
Phần thứ nhất
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định về xử phạt vi phạm hành chính
và các biện pháp xử lý hành chính.
Điều 2. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu
như sau:
1. Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi
do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước
mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm
hành chính.
2. Xử phạt vi phạm hành chính là việc người
có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối
với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của
pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.
3. Biện pháp xử lý hành chính là biện
pháp được áp dụng đối với cá nhân vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an
toàn xã hội mà không phải là tội phạm, bao gồm biện pháp giáo dục tại xã, phường,
đặc khu[2]; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo
dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
4. Biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành
chính là biện pháp mang tính giáo dục được áp dụng để thay thế cho hình thức
xử phạt vi phạm hành chính hoặc biện pháp xử lý hành chính đối với người chưa
thành niên vi phạm hành chính, bao gồm biện pháp nhắc nhở, biện pháp giáo dục dựa
vào cộng đồng[3] và biện pháp quản lý tại gia đình.
5.[4] Tái phạm là việc
cá nhân, tổ chức đã bị ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng chưa hết
thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính mà lại thực hiện hành
vi vi phạm hành chính đã bị xử phạt; cá nhân đã bị ra quyết định áp dụng biện
pháp xử lý hành chính nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị áp dụng biện
pháp xử lý hành chính mà lại thực hiện hành vi thuộc đối tượng bị áp dụng biện
pháp xử lý hành chính đó.
6. Vi phạm hành chính nhiều lần là trường
hợp cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính mà trước đó đã thực
hiện hành vi vi phạm hành chính này nhưng chưa bị xử lý và chưa hết thời hiệu xử
lý.
7. Vi phạm hành chính có tổ chức là trường
hợp cá nhân, tổ chức câu kết với cá nhân, tổ chức khác để cùng thực hiện hành
vi vi phạm hành chính.
8. Giấy phép, chứng chỉ hành nghề là giấy
tờ do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền cấp cho cá nhân, tổ chức theo quy định
của pháp luật để cá nhân, tổ chức đó kinh doanh, hoạt động, hành nghề hoặc sử dụng
công cụ, phương tiện. Giấy phép, chứng chỉ hành nghề không bao gồm giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh, chứng chỉ gắn với nhân thân người được cấp không có mục
đích cho phép hành nghề.
9. Chỗ ở là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú. Chỗ
ở thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê,
cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật.
10. Tổ chức là cơ quan nhà
nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội
nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị
vũ trang nhân dân và tổ chức khác được thành lập theo quy định của pháp luật.
11. Tình thế cấp thiết là tình thế của cá
nhân, tổ chức vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa lợi ích của Nhà nước,
của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà không
còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.
12. Phòng vệ chính đáng là hành vi của cá
nhân vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính
đáng của mình hoặc của người khác mà chống trả lại một cách cần thiết người
đang có hành vi xâm phạm quyền, lợi ích nói trên.
13. Sự kiện bất ngờ là sự kiện mà cá
nhân, tổ chức không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của
hành vi nguy hại cho xã hội do mình gây ra.
14. Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy
ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc
dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.
15. Người không có năng lực trách nhiệm hành
chính là người thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong khi đang mắc bệnh
tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển
hành vi của mình.
16. Người nghiện ma túy là người sử dụng
chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và bị lệ thuộc vào các chất
này.
17. Người đại diện hợp pháp bao gồm cha mẹ
hoặc người giám hộ, luật sư, trợ giúp viên pháp lý.
Điều 3. Nguyên tắc xử lý vi
phạm hành chính
1. Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính bao gồm:
a) Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện,
ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do vi phạm hành
chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật;
b) Việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến
hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng,
đúng quy định của pháp luật;
c) Việc xử phạt vi phạm hành chính phải căn cứ
vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ,
tình tiết tăng nặng;
d)[5] Chỉ xử phạt vi phạm
hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định.
Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một
lần.
Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm
hành chính thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt về hành vi vi phạm hành chính
đó.
Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành
chính hoặc vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm,
trừ trường hợp hành vi vi phạm hành chính nhiều lần được Chính phủ quy định là
tình tiết tăng nặng;
đ) Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng
minh vi phạm hành chính. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc
thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính;
e) Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính
thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
2. Nguyên tắc áp dụng các biện pháp xử lý hành
chính bao gồm:
a) Cá nhân chỉ bị áp dụng biện pháp xử lý hành
chính nếu thuộc một trong các đối tượng quy định tại các điều
90, 92, 94 và 96 của Luật này;
b) Việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính
phải được tiến hành theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;
c) Việc quyết định thời hạn áp dụng biện pháp xử
lý hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, nhân thân người
vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng;
d) Người có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý
hành chính có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính. Cá nhân bị áp dụng biện
pháp xử lý hành chính có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp
chứng minh mình không vi phạm hành chính.
Điều 4. Thẩm quyền quy định
về xử phạt vi phạm hành chính và chế độ áp dụng các biện pháp xử lý hành chính[6]
1. Căn cứ quy định của Luật này, Chính phủ quy định
các nội dung sau đây:
a) Hành vi vi phạm hành chính; hành vi vi
phạm hành chính đã kết thúc và hành vi vi phạm hành chính đang thực hiện; hình
thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi
phạm hành chính; đối tượng bị xử phạt; thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể
theo từng chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối với vi phạm hành chính; việc
thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp khắc phục hậu
quả trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước;
b) Chế độ áp dụng các biện pháp xử lý hành
chính.
2. Biểu mẫu sử dụng trong xử lý vi phạm hành
chính được thực hiện theo quy định của Chính phủ.
3. Căn cứ quy định của Luật này, Ủy ban thường vụ
Quốc hội quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động kiểm toán nhà
nước và đối với hành vi cản trở hoạt động tố tụng.
Điều 5. Đối tượng bị xử lý
vi phạm hành chính
1. Các đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính
bao gồm:
a) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt
vi phạm hành chính về vi phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị
xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính.
Người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an
nhân dân vi phạm hành chính thì bị xử lý như đối với công dân khác; trường hợp
cần áp dụng hình thức phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc
đình chỉ hoạt động có thời hạn liên quan đến quốc phòng, an ninh thì người xử
phạt đề nghị cơ quan, đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân có thẩm quyền
xử lý;
b) Tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi
vi phạm hành chính do mình gây ra;
c) Cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành
chính trong phạm vi lãnh thổ, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế
và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trên tàu bay mang
quốc tịch Việt Nam, tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam thì bị xử phạt vi phạm
hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế
mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.
2. Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành
chính là cá nhân được quy định tại các điều 90, 92, 94 và 96 của Luật này.
Các biện pháp xử lý hành chính không áp dụng đối
với người nước ngoài.
Điều 6. Thời hiệu xử lý vi
phạm hành chính
1. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được quy
định như sau:
a)[7] Thời hiệu xử phạt vi
phạm hành chính là 01 năm, trừ các trường hợp sau đây:
Vi phạm hành chính về kế toán; hóa đơn; phí, lệ
phí; kinh doanh bảo hiểm; quản lý giá; chứng khoán; sở hữu trí tuệ; xây dựng;
thủy sản; lâm nghiệp; điều tra, quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài
nguyên nước; hoạt động dầu khí và hoạt động khoáng sản khác; bảo vệ môi trường;
năng lượng nguyên tử; quản lý, phát triển nhà và công sở; đất đai; đê điều; báo
chí; xuất bản; sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa; sản xuất,
buôn bán hàng cấm, hàng giả; quản lý lao động ngoài nước; khiếu nại, tố cáo, kiến
nghị, phản ánh thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 02 năm.
Vi phạm hành chính về thuế, kiểm toán độc lập
thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về quản lý
thuế, pháp luật về kiểm toán độc lập.
b) Thời điểm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm
hành chính quy định tại điểm a khoản 1 Điều này được quy định như sau:
Đối với vi phạm hành chính đã kết thúc thì thời
hiệu được tính từ thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm.
Đối với vi phạm hành chính đang được thực hiện
thì thời hiệu được tính từ thời điểm phát hiện hành vi vi phạm;
c)[8] Trường hợp xử phạt vi
phạm hành chính đối với cá nhân, tổ chức do cơ quan tiến hành tố tụng chuyển
đến thì thời hiệu xử phạt áp dụng theo quy định tại điểm a khoản này được kéo
dài thêm 01 năm. Thời gian cơ quan tiến hành tố tụng thụ lý, xem xét được tính
vào thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính;
d) Trong thời hạn được quy định tại điểm a và điểm
b khoản này mà cá nhân, tổ chức cố tình trốn tránh, cản trở việc xử phạt thì thời
hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính lại kể từ thời điểm chấm dứt hành vi
trốn tránh, cản trở việc xử phạt.
2. Thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính
được quy định như sau:
a)[9] Thời hiệu áp dụng biện
pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[10] là 01 năm, kể từ
ngày cá nhân thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều
90; 06 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 90; 06 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối
một trong các hành vi vi phạm quy định tại các khoản 3, 4 và 6
Điều 90; 03 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối hành vi vi phạm
quy định tại khoản 5 Điều 90 của Luật này;
b)[11] Thời hiệu áp dụng
biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng là 01 năm, kể từ ngày cá nhân thực hiện
hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 92; 06
tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện một trong các hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 92 của Luật này;
c) Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở
giáo dục bắt buộc là 01 năm, kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối một trong
các hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 94 của Luật này;
d) Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc là 03 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện hành vi[12] quy định tại khoản 1 Điều 96 của Luật
này;
đ)[13] Trong thời hạn được
quy định tại các điểm a, b, c và d khoản này mà cá nhân cố tình trốn tránh, cản
trở việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính thì thời hiệu được tính lại kể từ
thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, cản trở việc áp dụng biện pháp xử lý
hành chính.
Điều 7. Thời hạn được coi là
chưa bị xử lý vi phạm hành chính
1. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành
chính, nếu trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt
cảnh cáo hoặc 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính
khác hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính
mà không tái phạm thì được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.
2. Cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành
chính, nếu trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng
biện pháp xử lý hành chính hoặc 01 năm kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết
định áp dụng biện pháp xử lý hành chính mà không tái phạm thì được coi là chưa
bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
Điều 8. Cách tính thời gian,
thời hạn, thời hiệu trong xử lý vi phạm hành chính
1. Cách tính thời hạn, thời hiệu trong xử lý vi
phạm hành chính được áp dụng theo quy định của Bộ luật dân sự, trừ trường hợp
trong Luật này có quy định cụ thể thời gian theo ngày làm việc.
2. Thời gian ban đêm được tính từ 22 giờ ngày
hôm trước đến 06 giờ ngày hôm sau.
Điều 9. Tình tiết giảm nhẹ
Những tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ:
1. Người vi phạm hành chính đã có hành vi ngăn
chặn, làm giảm bớt hậu quả của vi phạm hoặc tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi
thường thiệt hại;
2. Người vi phạm hành chính đã tự nguyện khai
báo, thành thật hối lỗi; tích cực giúp đỡ cơ quan chức năng phát hiện vi phạm
hành chính, xử lý vi phạm hành chính;
3. Vi phạm hành chính trong tình trạng bị kích động
về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người khác gây ra; vượt quá giới hạn
phòng vệ chính đáng; vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;
4. Vi phạm hành chính do bị ép buộc hoặc bị lệ
thuộc về vật chất hoặc tinh thần;
5. Người vi phạm hành chính là phụ nữ mang thai,
người già yếu, người có bệnh hoặc khuyết tật làm hạn chế khả năng nhận thức hoặc
khả năng điều khiển hành vi của mình;
6. Vi phạm hành chính vì hoàn cảnh đặc biệt khó
khăn mà không do mình gây ra;
7. Vi phạm hành chính do trình độ lạc hậu;
8. Những tình tiết giảm nhẹ khác do Chính phủ
quy định.
Điều 10. Tình tiết tăng nặng
1. Những tình tiết sau đây là tình tiết tăng nặng:
a) Vi phạm hành chính có tổ chức;
b) Vi phạm hành chính nhiều lần; tái phạm;
c) Xúi giục, lôi kéo, sử dụng người chưa thành niên
vi phạm; ép buộc người bị lệ thuộc vào mình về vật chất, tinh thần thực hiện
hành vi vi phạm hành chính;
d) Sử dụng người biết rõ là đang bị tâm thần hoặc
bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi để vi phạm
hành chính;
đ) Lăng mạ, phỉ báng người đang thi hành công vụ;
vi phạm hành chính có tính chất côn đồ;
e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vi phạm hành
chính;
g) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, thiên tai, thảm
họa, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để vi phạm hành
chính;
h) Vi phạm trong thời gian đang chấp hành hình
phạt của bản án hình sự hoặc đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý
vi phạm hành chính;
i) Tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm hành chính
mặc dù người có thẩm quyền đã yêu cầu chấm dứt hành vi đó;
k) Sau khi vi phạm đã có hành vi trốn tránh, che
giấu vi phạm hành chính;
l) Vi phạm hành chính có quy mô lớn, số lượng hoặc
trị giá hàng hóa lớn;
m) Vi phạm hành chính đối với nhiều người, trẻ
em, người già, người khuyết tật, phụ nữ mang thai.
2. Tình tiết quy định tại khoản 1 Điều này đã được
quy định là hành vi vi phạm hành chính thì không được coi là tình tiết tăng nặng.
Điều 11. Những trường hợp
không xử phạt vi phạm hành chính
Không xử phạt vi phạm hành chính đối với các trường
hợp sau đây:
1. Thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong
tình thế cấp thiết;
2. Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do phòng
vệ chính đáng;
3. Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do sự kiện
bất ngờ;
4. Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do sự kiện
bất khả kháng;
5. Người thực hiện hành vi vi phạm hành chính
không có năng lực trách nhiệm hành chính; người thực hiện hành vi vi phạm hành
chính chưa đủ tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 5 của Luật này.
Điều 12. Những hành vi bị
nghiêm cấm
1. Giữ lại vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để xử
lý vi phạm hành chính.
2. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sách nhiễu,
đòi, nhận tiền, tài sản của người vi phạm; dung túng, bao che, hạn chế quyền của
người vi phạm hành chính khi xử phạt vi phạm hành chính hoặc áp dụng biện pháp
xử lý hành chính.
3. Ban hành trái thẩm quyền văn bản quy định về
hành vi vi phạm hành chính, thẩm quyền, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục
hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước
và biện pháp xử lý hành chính.
4. Không xử phạt vi phạm hành chính, không áp dụng
biện pháp khắc phục hậu quả hoặc không áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
5. Xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp
khắc phục hậu quả hoặc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính không kịp thời,
không nghiêm minh, không đúng thẩm quyền, thủ tục, đối tượng quy định tại Luật
này.
6.[14] Xác định hành vi vi
phạm hành chính không đúng; áp dụng hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp
khắc phục hậu quả không đúng, không đầy đủ đối với hành vi vi phạm hành chính.
7. Can thiệp trái pháp luật vào việc xử lý vi phạm
hành chính.
8. Kéo dài thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành
chính.
8a.[15] Không theo dõi,
đôn đốc, kiểm tra, tổ chức cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt, biện pháp khắc
phục hậu quả.
9. Sử dụng tiền thu được từ tiền nộp phạt vi phạm
hành chính, tiền nộp do chậm thi hành quyết định xử phạt tiền, tiền bán, thanh
lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu và các khoản tiền khác
thu được từ xử phạt vi phạm hành chính trái quy định của pháp luật về ngân sách
nhà nước.
10. Giả mạo, làm sai lệch hồ sơ xử phạt vi phạm
hành chính, hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
11. Xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân
phẩm của người bị xử phạt vi phạm hành chính, người bị áp dụng biện pháp xử lý
hành chính, người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành
chính, người bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử lý vi phạm
hành chính.
12. Chống đối, trốn tránh, trì hoãn hoặc cản trở
chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp
ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính, quyết định cưỡng chế thi hành
quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành
chính.
Điều 13. Bồi thường thiệt hại
1. Người vi phạm hành chính nếu gây ra thiệt hại
thì phải bồi thường. Việc bồi thường thiệt hại được thực hiện theo quy định của
pháp luật về dân sự.
2. Người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính,
cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc xử lý vi phạm hành chính gây
thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Điều 14. Trách nhiệm đấu
tranh phòng, chống vi phạm hành chính
1. Cá nhân, tổ chức phải nghiêm chỉnh chấp hành
quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Các tổ chức có nhiệm vụ
giáo dục thành viên thuộc tổ chức mình về ý thức bảo vệ và tuân theo pháp luật,
quy tắc của cuộc sống xã hội, kịp thời có biện pháp loại trừ nguyên nhân, điều
kiện gây ra vi phạm hành chính trong tổ chức mình.
2. Khi phát hiện vi phạm hành chính, người có thẩm
quyền xử lý vi phạm hành chính có trách nhiệm xử lý vi phạm theo quy định của
pháp luật.
3. Cá nhân, tổ chức có trách nhiệm phát hiện, tố
cáo và đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính.
Điều 15. Khiếu nại, tố cáo
và khởi kiện trong xử lý vi phạm hành chính
1. Cá nhân, tổ chức bị xử lý vi phạm hành chính
có quyền khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định xử lý vi phạm hành chính theo
quy định của pháp luật.
2. Cá nhân có quyền tố cáo đối với hành vi vi phạm
pháp luật trong việc xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
3. Trong quá trình giải quyết khiếu nại, khởi kiện
nếu xét thấy việc thi hành quyết định xử lý vi phạm hành chính bị khiếu nại, khởi
kiện sẽ gây hậu quả khó khắc phục thì người giải quyết khiếu nại, khởi kiện phải
ra quyết định tạm đình chỉ việc thi hành quyết định đó theo quy định của pháp
luật.
Điều 16. Trách nhiệm của
người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính
1. Trong quá trình xử lý vi phạm hành chính, người
có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính phải tuân thủ quy định của Luật này và
quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính
mà sách nhiễu, đòi, nhận tiền, tài sản khác của người vi phạm, dung túng, bao
che, không xử lý hoặc xử lý không kịp thời, không đúng tính chất, mức độ vi phạm,
không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm quy định khác tại Điều 12 của
Luật này và quy định khác của pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi
phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều 17. Trách nhiệm quản
lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
1. Chính phủ thống nhất quản lý công tác thi
hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong phạm vi cả nước.
2. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ
thực hiện quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, có
nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Chủ trì hoặc phối hợp trong việc đề xuất, xây
dựng và trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền văn
bản quy phạm pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;
b) Theo dõi chung và báo cáo công tác thi hành
pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; thống kê, xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu
quốc gia về xử lý vi phạm hành chính;
c) Chủ trì, phối hợp hướng dẫn, tập huấn, bồi dưỡng
nghiệp vụ trong việc thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;
d) Kiểm tra, phối hợp với các bộ, ngành hữu quan
tiến hành thanh tra việc thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;
đ)[16] Quy định chế độ báo
cáo, biểu mẫu thống kê số liệu trong xử lý vi phạm hành chính.
3. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình,
các bộ, ngành có trách nhiệm thực hiện hoặc phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện nhiệm
vụ quy định tại khoản 2 Điều này; kịp thời cung cấp thông tin cho Bộ Tư pháp về
xử lý vi phạm hành chính để xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia; định kỳ[17] hằng năm báo cáo Bộ Tư pháp về công tác xử lý vi phạm
hành chính trong phạm vi quản lý của cơ quan mình.
4.[18] Trong phạm vi nhiệm
vụ, quyền hạn của mình, Tòa án nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước thực hiện
quy định tại khoản 2 Điều này và định kỳ hằng năm gửi báo cáo đến Bộ Tư pháp về
công tác xử lý vi phạm hành chính trong phạm vi quản lý của cơ quan mình; chỉ đạo
Tòa án nhân dân các cấp, cơ quan thuộc Kiểm toán nhà nước thực hiện việc báo
cáo, cung cấp thông tin về xử lý vi phạm hành chính.
5. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Ủy
ban nhân dân các cấp quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành
chính tại địa phương, có trách nhiệm sau đây:
a) Chỉ đạo việc tổ chức thực hiện văn bản quy phạm
pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật về
xử lý vi phạm hành chính;
b) Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm và giải
quyết theo thẩm quyền khiếu nại, tố cáo trong việc thực hiện pháp luật về xử lý
vi phạm hành chính;
c) Kịp thời cung cấp thông tin cho Bộ Tư pháp về
xử lý vi phạm hành chính để xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia; định kỳ[19] hằng năm báo cáo Bộ Tư pháp về công tác xử lý vi phạm
hành chính trên địa bàn.
6.[20] Cơ quan của người
có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, Tòa án nhân dân có thẩm quyền quyết định
áp dụng biện pháp xử lý hành chính, cơ quan thi hành quyết định xử phạt, thi
hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt, cơ quan thi hành quyết định
áp dụng biện pháp xử lý hành chính có trách nhiệm cung cấp, cập nhật thông tin,
kết quả xử lý vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền, phạm vi quản lý đến Cơ sở dữ
liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính.
7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 18. Trách nhiệm của thủ
trưởng cơ quan, đơn vị trong công tác xử lý vi phạm hành chính
1. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình,
thủ trưởng cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính có trách nhiệm
sau đây:
a) Thường xuyên kiểm tra, thanh tra và kịp thời
xử lý đối với vi phạm của người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính thuộc phạm
vi quản lý của mình; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong xử lý vi phạm hành
chính theo quy định của pháp luật;
b) Không được can thiệp trái pháp luật vào việc
xử lý vi phạm hành chính và phải chịu trách nhiệm liên đới về hành vi vi phạm của
người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính thuộc quyền quản lý trực tiếp của
mình theo quy định của pháp luật;
c) Không được để xảy ra hành vi tham nhũng của
người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính do mình quản lý, phụ trách;
d) Trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.
2. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ
trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Tổng Kiểm
toán nhà nước,[21] Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có
trách nhiệm sau đây:
a) Thường xuyên chỉ đạo, kiểm tra việc xử lý vi
phạm hành chính của người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính thuộc phạm vi
quản lý của mình;
b) Xử lý kỷ luật đối với người có sai phạm trong
xử lý vi phạm hành chính thuộc phạm vi quản lý của mình;
c) Giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo về xử
lý vi phạm hành chính trong ngành, lĩnh vực do mình phụ trách theo quy định của
pháp luật;
d) Trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.
3.[22] Trong phạm vi nhiệm
vụ, quyền hạn của mình, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban
nhân dân các cấp, thủ trưởng cơ quan, đơn vị của người có thẩm quyền xử lý vi
phạm hành chính có trách nhiệm phát hiện quyết định về xử lý vi phạm hành chính
do mình hoặc cấp dưới ban hành có sai sót và kịp thời đính chính, sửa đổi, bổ
sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới theo thẩm quyền.
Chính phủ quy định chi tiết khoản này.
Điều 18a. Xử lý vi phạm
hành chính trên môi trường điện tử[23]
1. Việc xử lý vi phạm hành chính trên môi trường
điện tử được thực hiện khi bảo đảm điều kiện về cơ sở hạ tầng, kỹ thuật, thông
tin.
2. Việc xử lý vi phạm hành chính trên môi trường
điện tử phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:
a) Tuân thủ quy định của pháp luật về xử lý vi
phạm hành chính, pháp luật về giao dịch điện tử và pháp luật có liên quan;
b) Việc thu thập, lưu trữ, khai thác, sử dụng dữ
liệu phải bảo đảm tính toàn vẹn, xác thực, an toàn, đúng mục đích, phạm vi theo
quy định của pháp luật;
c) Kết nối hệ thống, chia sẻ dữ liệu, cung cấp
thông tin chính xác, kịp thời phục vụ quản lý nhà nước và giám sát của cơ quan,
tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 19. Giám sát công tác
xử lý vi phạm hành chính
Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Hội đồng
nhân dân các cấp, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và mọi công dân giám sát hoạt động
của cơ quan, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính; khi phát hiện hành
vi trái pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính thì
có quyền yêu cầu, kiến nghị với cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, giải quyết,
xử lý theo quy định của pháp luật.
Cơ quan, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành
chính phải xem xét, giải quyết và trả lời yêu cầu, kiến nghị đó theo quy định của
pháp luật.
Điều 20. Áp dụng Luật xử lý
vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm hành chính ở ngoài lãnh thổ nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Công dân, tổ chức Việt Nam vi phạm pháp luật
hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngoài lãnh thổ Việt Nam
có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của Luật này.
Phần thứ hai
XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH
CHÍNH
Chương I
CÁC HÌNH THỨC XỬ PHẠT VÀ
BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC HẬU QUẢ
Mục 1. CÁC HÌNH THỨC XỬ PHẠT
Điều 21. Nguyên tắc quy định
các hình thức xử phạt[24]
1. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính bao
gồm:
a) Cảnh cáo;
b) Phạt tiền;
c) Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành
nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;
d) Tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương
tiện được sử dụng để vi phạm hành chính (sau đây gọi chung là tang vật, phương
tiện vi phạm hành chính);
đ) Trục xuất.
2. Hình thức xử phạt quy định tại điểm a và điểm
b khoản 1 Điều này chỉ được quy định và áp dụng là hình thức xử phạt chính.
Hình thức xử phạt quy định tại các điểm c, d và
đ khoản 1 Điều này có thể được quy định là hình thức xử phạt bổ sung hoặc hình
thức xử phạt chính.
3.[25] Mỗi vi phạm hành
chính được quy định một hình thức xử phạt chính, có thể quy định một hoặc nhiều
hình thức xử phạt bổ sung kèm theo.
Hình thức xử phạt bổ sung được áp dụng kèm theo
hình thức xử phạt chính, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều
65 của Luật này.
Điều 22. Cảnh cáo
Cảnh cáo được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức
vi phạm hành chính không nghiêm trọng, có tình tiết giảm nhẹ và theo quy định
thì bị áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo hoặc đối với mọi hành vi vi phạm hành
chính do người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện. Cảnh
cáo được quyết định bằng văn bản.
Điều 23. Phạt tiền
1. Mức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành
chính từ 50.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 100.000 đồng đến
2.000.000.000 đồng đối với tổ chức, trừ trường hợp quy định tại khoản
3 Điều 24 của Luật này.
Đối với khu vực nội thành của thành phố[26] thì mức phạt tiền có thể cao hơn, nhưng tối đa không
quá 02 lần mức phạt chung áp dụng đối với cùng hành vi vi phạm trong các lĩnh vực
giao thông đường bộ; bảo vệ môi trường; an ninh trật tự, an toàn xã hội.
2. Chính phủ quy định khung tiền phạt hoặc mức
tiền phạt đối với hành vi vi phạm hành chính cụ thể theo một trong các phương thức
sau đây, nhưng khung tiền phạt cao nhất không vượt quá mức tiền phạt tối đa quy
định tại Điều 24 của Luật này:
a) Xác định số tiền phạt tối thiểu, tối đa;
b) Xác định số lần, tỷ lệ phần trăm của giá trị,
số lượng hàng hóa, tang vật vi phạm, đối tượng bị vi phạm hoặc doanh thu, số lợi
thu được từ vi phạm hành chính.
3.[27] Căn cứ vào hành vi,
khung tiền phạt hoặc mức tiền phạt được quy định tại nghị định của Chính phủ và
yêu cầu quản lý kinh tế - xã hội đặc thù của địa phương, Hội đồng nhân dân
thành phố[28] có quyền quyết định khung tiền phạt hoặc mức
tiền phạt cụ thể đối với hành vi vi phạm trong các lĩnh vực quy định tại khoản
1 Điều này nhưng không vượt quá mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng
quy định tại Điều 24 của Luật này.
4.[29] Mức tiền phạt cụ thể
đối với một hành vi vi phạm hành chính là mức trung bình của khung tiền phạt được
quy định đối với hành vi đó; nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể
giảm xuống nhưng không được thấp hơn mức tối thiểu của khung tiền phạt; nếu có
tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên nhưng không được vượt quá
mức tối đa của khung tiền phạt.
Chính phủ quy định chi tiết khoản này.
Điều 24. Mức phạt tiền tối
đa trong các lĩnh vực
1.[30] Mức phạt tiền tối
đa trong các lĩnh vực quản lý nhà nước đối với cá nhân được quy định như sau:
a)[31] Phạt tiền đến
30.000.000 đồng: hôn nhân và gia đình; bình đẳng giới; bạo lực gia đình; lưu trữ;
tín ngưỡng, tôn giáo; thi đua, khen thưởng; hành chính tư pháp; dân số; vệ sinh
môi trường; thống kê; đối ngoại; khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh;
b) Phạt tiền đến 40.000.000 đồng: an ninh trật tự,
an toàn xã hội; cản trở hoạt động tố tụng; thi hành án dân sự; phá sản doanh
nghiệp, hợp tác xã; giao dịch điện tử; bưu chính;
c) Phạt tiền đến 50.000.000 đồng: phòng cháy, chữa
cháy; cứu nạn, cứu hộ; bổ trợ tư pháp; y tế dự phòng; phòng, chống HIV/AIDS;
văn hóa; thể thao; du lịch; quản lý khoa học, công nghệ; chuyển giao công nghệ;
bảo vệ, chăm sóc trẻ em; bảo trợ, cứu trợ xã hội; phòng, chống thiên tai; bảo vệ
và kiểm dịch thực vật; quản lý và bảo tồn nguồn gen (trừ nguồn gen giống vật
nuôi); trồng trọt (trừ phân bón); thú y; kế toán;[32]
phí, lệ phí; quản lý tài sản công; hóa đơn; dự trữ quốc gia; hóa chất; khí tượng
thủy văn; đo đạc và bản đồ; đăng ký doanh nghiệp; kiểm toán nhà nước;
d) Phạt tiền đến 75.000.000 đồng: cơ yếu; quản
lý và bảo vệ biên giới quốc gia; quốc phòng, an ninh quốc gia; lao động; giáo dục;
giáo dục nghề nghiệp; giao thông đường bộ; giao thông đường sắt; giao thông đường
thủy nội địa; bảo hiểm y tế; bảo hiểm xã hội; bảo hiểm thất nghiệp; phòng, chống
tệ nạn xã hội;
đ)[33] Phạt tiền đến
100.000.000 đồng: đê điều; khám bệnh, chữa bệnh; mỹ phẩm; dược, trang thiết bị
y tế; chăn nuôi; phân bón; quảng cáo; đặt cược và trò chơi có thưởng; quản lý
lao động ngoài nước; giao thông hàng hải; hoạt động hàng không dân dụng; quản
lý và bảo vệ công trình giao thông; công nghệ thông tin; viễn thông; tần số vô
tuyến điện; an ninh mạng; an toàn thông tin mạng; dữ liệu; công nghiệp công nghệ
số; xuất bản; in; thương mại; hải quan, thủ tục thuế; kinh doanh xổ số;
kinh doanh bảo hiểm; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; quản lý vật liệu nổ;
điện lực;
e) Phạt tiền đến 150.000.000 đồng: quản lý giá;
khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ
thuật; quản lý, phát triển nhà và công sở; đấu thầu; đầu tư;
g) Phạt tiền đến 200.000.000 đồng: sản xuất,
buôn bán hàng cấm, hàng giả; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
h) Phạt tiền đến 250.000.000 đồng: điều tra, quy
hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước; thủy lợi; sở hữu trí
tuệ; báo chí;
i)[34] Phạt tiền đến
500.000.000 đồng: xây dựng; lâm nghiệp; đất đai; quản lý tổng hợp tài nguyên và
bảo vệ môi trường biển và hải đảo; kinh doanh bất động sản;
k) Phạt tiền đến 1.000.000.000 đồng: quản lý các
vùng biển, đảo và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; quản
lý hạt nhân và chất phóng xạ, năng lượng nguyên tử; tiền tệ, kim loại quý, đá
quý, ngân hàng, tín dụng; hoạt động dầu khí và hoạt động khoáng sản khác; bảo vệ
môi trường; thủy sản.
2. Mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực quản lý
nhà nước quy định tại khoản 1 Điều này đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền
đối với cá nhân.
3.[35] Mức phạt tiền tối
đa trong các lĩnh vực: thuế; đo lường; an toàn thực phẩm; chất lượng sản phẩm,
hàng hóa; chứng khoán; cạnh tranh; kiểm toán độc lập; bảo vệ dữ liệu cá nhân được
thực hiện theo quy định tại các luật tương ứng.
4. Mức phạt tiền tối đa đối với lĩnh vực mới
chưa được quy định tại khoản 1 Điều này do Chính phủ quy định sau khi được sự đồng
ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Điều 25. Tước quyền sử dụng
giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn
1. Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành
nghề có thời hạn là hình thức xử phạt được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi
phạm nghiêm trọng các hoạt động được ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề.
Trong thời gian bị tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, cá nhân,
tổ chức không được tiến hành các hoạt động ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành
nghề.
2. Đình chỉ hoạt động có thời hạn là hình thức xử
phạt được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong các trường
hợp sau:
a) Đình chỉ một phần hoạt động gây hậu quả
nghiêm trọng hoặc có khả năng thực tế gây hậu quả nghiêm trọng đối với tính mạng,
sức khỏe con người, môi trường của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ mà theo
quy định của pháp luật phải có giấy phép;
b) Đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc hoạt động khác mà theo quy định của pháp luật
không phải có giấy phép và hoạt động đó gây hậu quả nghiêm trọng hoặc có khả
năng thực tế gây hậu quả nghiêm trọng đối với tính mạng, sức khỏe con người,
môi trường và trật tự, an toàn xã hội.
3.[36] Thời hạn tước quyền
sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, đình chỉ hoạt động quy định tại khoản 1
và khoản 2 Điều này từ 01 tháng đến 24 tháng, kể từ ngày quyết định xử phạt có
hiệu lực thi hành. Người có thẩm quyền xử phạt giữ giấy phép, chứng chỉ hành
nghề trong thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề.
Thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ
hành nghề, đình chỉ hoạt động cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính là
mức trung bình của khung thời gian tước, đình chỉ được quy định đối với hành vi
đó; nếu có tình tiết giảm nhẹ thì thời hạn tước, đình chỉ có thể giảm xuống
nhưng không được thấp hơn mức tối thiểu của khung thời gian tước, đình chỉ; nếu
có tình tiết tăng nặng thì thời hạn tước, đình chỉ có thể tăng lên nhưng không
được vượt quá mức tối đa của khung thời gian tước, đình chỉ.
Chính phủ quy định chi tiết khoản này.
Điều 26. Tịch thu tang vật,
phương tiện vi phạm hành chính
Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành
chính là việc sung vào ngân sách nhà nước vật, tiền, hàng hóa, phương tiện có
liên quan trực tiếp đến vi phạm hành chính, được áp dụng đối với vi phạm hành
chính nghiêm trọng do lỗi cố ý của cá nhân, tổ chức.[37]
Điều 27. Trục xuất
1. Trục xuất là hình thức xử phạt buộc người nước
ngoài có hành vi vi phạm hành chính tại Việt Nam phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Chính phủ quy định chi tiết việc áp dụng hình
thức xử phạt trục xuất.
Mục 2. CÁC BIỆN PHÁP KHẮC
PHỤC HẬU QUẢ
Điều 28. Các biện pháp khắc
phục hậu quả và nguyên tắc áp dụng
1. Các biện pháp khắc phục hậu quả bao gồm:
a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu;
b) Buộc phá dỡ[38] công
trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với
giấy phép;
c) Buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng
ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh;
d) Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện;
đ) Buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho
sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường, văn hóa phẩm có nội dung
độc hại;
e) Buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây
nhầm lẫn;
g) Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hóa,
bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, vật phẩm;
h) Buộc thu hồi sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm
chất lượng;
i) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do
thực hiện vi phạm hành chính hoặc buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật,
phương tiện vi phạm hành chính đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định
của pháp luật;
k) Các biện pháp khắc phục hậu quả khác do Chính
phủ quy định.
2. Nguyên tắc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Đối với mỗi vi phạm hành chính, ngoài việc bị
áp dụng hình thức xử phạt, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính có thể bị áp dụng
một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng độc
lập trong trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 65 của Luật này.
Điều 29. Buộc khôi phục lại
tình trạng ban đầu
Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải khôi phục
lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính của mình gây ra; nếu
cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không tự nguyện thực hiện thì bị cưỡng chế
thực hiện.
Điều 30. Buộc phá dỡ[39] công trình, phần
công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép
Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải phá dỡ[40] công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép
hoặc xây dựng không đúng với giấy phép; nếu cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính
không tự nguyện thực hiện thì bị cưỡng chế thực hiện.
Điều 31. Buộc khắc phục
tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh
Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải thực hiện
biện pháp để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh; nếu cá
nhân, tổ chức vi phạm hành chính không tự nguyện thực hiện thì bị cưỡng chế thực
hiện.
Điều 32. Buộc đưa ra khỏi
lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng hóa, vật phẩm,
phương tiện
Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải đưa ra
khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng hóa, vật
phẩm, phương tiện được đưa vào lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, nhập khẩu trái với quy định của pháp luật hoặc được tạm nhập, tái xuất
nhưng không tái xuất theo đúng quy định của pháp luật.
Biện pháp khắc phục hậu quả này cũng được áp dụng
đối với hàng hóa nhập khẩu, quá cảnh xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, hàng hóa giả
mạo quyền sở hữu trí tuệ, phương tiện, nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu được sử
dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ sau khi
đã loại bỏ yếu tố vi phạm; nếu cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không tự
nguyện thực hiện thì bị cưỡng chế thực hiện.
Điều 33. Buộc tiêu hủy hàng
hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường,
văn hóa phẩm có nội dung độc hại
Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải tiêu hủy
hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi
trường, văn hóa phẩm có nội dung độc hại hoặc tang vật khác thuộc đối tượng bị
tiêu hủy theo quy định của pháp luật; nếu cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính
không tự nguyện thực hiện thì bị cưỡng chế thực hiện.
Điều 34. Buộc cải chính
thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn
Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải cải
chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn đã được công bố, đưa tin trên
chính phương tiện thông tin đại chúng, trang thông tin điện tử đã công bố, đưa
tin; nếu cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không tự nguyện thực hiện thì bị
cưỡng chế thực hiện.
Điều 35. Buộc loại bỏ yếu tố
vi phạm trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, vật phẩm
Cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa
hoặc sử dụng phương tiện kinh doanh, vật phẩm chứa yếu tố vi phạm trên hàng
hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, vật phẩm thì phải loại bỏ các yếu
tố vi phạm đó; nếu cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không tự nguyện thực hiện
thì bị cưỡng chế thực hiện.
Điều 36. Buộc thu hồi sản
phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng
Cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh sản phẩm,
hàng hóa không bảo đảm chất lượng đã đăng ký hoặc công bố và hàng hóa khác
không bảo đảm chất lượng, điều kiện lưu thông thì phải thu hồi các sản phẩm,
hàng hóa vi phạm đang lưu thông trên thị trường; nếu cá nhân, tổ chức vi phạm
hành chính không tự nguyện thực hiện thì bị cưỡng chế thực hiện.
Điều 37. Buộc nộp lại số lợi
bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính hoặc buộc nộp lại số tiền
bằng trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã bị tiêu thụ, tẩu tán,
tiêu hủy trái quy định của pháp luật
Cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp lại số lợi bất
hợp pháp là tiền, tài sản, giấy tờ và vật có giá có được từ vi phạm hành chính
mà cá nhân, tổ chức đó đã thực hiện để sung vào ngân sách nhà nước hoặc hoàn trả
cho đối tượng bị chiếm đoạt; phải nộp lại số tiền bằng với giá trị tang vật,
phương tiện vi phạm hành chính nếu tang vật, phương tiện đó đã bị tiêu thụ, tẩu
tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật; nếu cá nhân, tổ chức vi phạm hành
chính không tự nguyện thực hiện thì bị cưỡng chế thực hiện.
Chương II
THẨM QUYỀN XỬ PHẠT VI
PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC HẬU QUẢ
Điều 37a. Thẩm quyền xử
phạt vi phạm hành chính[41]
1. Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành
chính theo quy định của Luật này bao gồm:
a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp;
b) Thủ trưởng tổ chức thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ
giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước
theo ngành, lĩnh vực; Thủ trưởng tổ chức thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ được giao
chức năng, nhiệm vụ kiểm tra trong phạm
vi quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ, trừ trường hợp Bộ, cơ quan ngang
Bộ có các chức danh quy định tại điểm đ khoản này;
c) Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh; Thủ trưởng Chi cục thuộc Cục thuộc Bộ và tương đương; Thủ
trưởng Chi cục thuộc cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và tương
đương;
d) Thanh tra viên; Trưởng đoàn Thanh tra trong
thời hạn thanh tra;
đ) Chánh Thanh tra của cơ quan thanh tra trong
Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
e) Chánh Thanh tra của cơ quan thanh tra Cơ yếu;
Thủ trưởng cơ quan Thanh tra được thành lập theo điều ước quốc tế mà nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
g) Trưởng đoàn kiểm tra của Bộ, cơ quan ngang Bộ
trong thời hạn kiểm tra;
h) Người có thẩm quyền thuộc các cơ quan, lực lượng:
Công an nhân dân; Bộ đội Biên phòng; Cảnh sát biển; Hải quan; Thuế; Quản lý thị
trường; Lâm nghiệp và Kiểm lâm; Thủy sản và Kiểm ngư; Thi hành án dân sự;
i) Giám đốc, Trưởng đại diện Cảng vụ Hàng hải, Cảng
vụ Đường thủy nội địa, Cảng vụ Hàng không; Giám đốc Trung tâm Tần số vô tuyến
điện khu vực; Giám đốc Bảo hiểm xã hội khu vực, Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt
Nam; Giám đốc Kho bạc Nhà nước, Giám đốc Kho bạc Nhà nước khu vực;
k) Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng
Quốc gia; Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước; Trưởng Ban cơ yếu Chính phủ;
người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan khác được ủy
quyền thực hiện chức năng lãnh sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở
nước ngoài;
l) Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, trừ trường
hợp Luật Cạnh tranh có quy định khác về thẩm quyền xử phạt đối với hành vi thỏa
thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị
trí độc quyền, tập trung kinh tế, cạnh tranh không lành mạnh;
m) Người có thẩm quyền thuộc Tòa án nhân dân;
n) Người có thẩm quyền thuộc Viện kiểm sát nhân
dân;
o) Trưởng đoàn kiểm toán trong thời hạn kiểm
toán, Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước.
2. Căn cứ quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e,
g, h, i, k và l khoản 1 Điều này, Chính phủ quy định chi tiết các chức danh có
thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính; thẩm quyền áp dụng các hình thức xử phạt,
biện pháp khắc phục hậu quả của từng chức danh.
3. Căn cứ quy định tại các điểm m, n và o khoản
1 Điều này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định chi tiết các chức danh có thẩm
quyền xử phạt vi phạm hành chính; thẩm quyền áp dụng các hình thức xử phạt, biện
pháp khắc phục hậu quả của từng chức danh.
4. Trường hợp thành lập mới các cơ quan, lực lượng
chưa được quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e, g, h, i, k và l khoản 1 Điều
này, mà không thuộc trường hợp quy định tại Điều 53 của Luật
này, thì thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các chức danh thuộc các
cơ quan, lực lượng được thành lập mới do Chính phủ quy định sau khi được sự đồng
ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chính phủ có trách nhiệm báo cáo Quốc hội tại
kỳ họp gần nhất.
Điều 38.[42] (được bãi bỏ)
Điều 39.[43] (được bãi bỏ)
Điều 40.[44] (được bãi bỏ)
Điều 41.[45] (được bãi bỏ)
Điều 42.[46] (được bãi bỏ)
Điều 43.[47] (được bãi bỏ)
Điều 43a.[48] (được bãi bỏ)
Điều 44.[49] (được bãi bỏ)
Điều 45.[50] (được bãi bỏ)
Điều 45a.[51] (được bãi bỏ)
Điều 46.[52] (được bãi bỏ)
Điều 47.[53] (được bãi bỏ)
Điều 48.[54] (được bãi bỏ)
Điều 48a.[55] (được bãi bỏ)
Điều 49.[56] (được bãi bỏ)
Điều 50.[57] (được bãi bỏ)
Điều 51.[58] (được bãi bỏ)
Điều 52. Nguyên tắc xác định
và phân định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục
hậu quả
1.[59] Thẩm quyền xử phạt
vi phạm hành chính của một chức danh là thẩm quyền áp dụng đối với một
hành vi vi phạm hành chính; trong trường hợp phạt tiền, thẩm quyền xử phạt đối
với tổ chức gấp 02 lần thẩm quyền xử phạt đối với cá nhân.
Trong trường hợp phạt tiền đối với vi phạm hành
chính trong khu vực nội thành của thành phố thuộc các lĩnh vực quy định tại khoản 1 Điều 23 của Luật này, thì các chức danh có thẩm quyền
phạt tiền đối với các hành vi vi phạm hành chính do Chính phủ quy định cũng có
thẩm quyền xử phạt tương ứng với mức tiền phạt cao hơn đối với các hành vi vi
phạm hành chính do Hội đồng nhân dân thành phố quy định.
2. Thẩm quyền phạt tiền quy định tại khoản 1 Điều
này được xác định căn cứ vào mức tối đa của khung tiền phạt quy định đối với từng
hành vi vi phạm cụ thể.
3.[60] Chủ tịch Ủy ban
nhân dân các cấp có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản
lý nhà nước ở địa phương.
Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
quy định tại các điểm b, c, d, đ, e, g, h, i, k và l khoản
1 Điều 37a của Luật này có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thuộc
lĩnh vực, ngành mình quản lý.
Trong trường hợp hành vi vi phạm hành chính thuộc
thẩm quyền xử phạt của nhiều người, thì việc xử phạt vi phạm hành chính do người
thụ lý đầu tiên thực hiện.
4. Trường hợp vụ việc vi phạm hành chính có nhiều
hành vi vi phạm thì thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính được xác định theo
nguyên tắc sau đây:[61]
a) Nếu hình thức, mức xử phạt, trị giá tang vật,
phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu, biện pháp khắc phục hậu quả được
quy định đối với từng hành vi đều thuộc thẩm quyền của người xử phạt vi phạm
hành chính thì thẩm quyền xử phạt vẫn thuộc người đó;
b) Nếu hình thức, mức xử phạt, trị giá tang vật,
phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu, biện pháp khắc phục hậu quả được
quy định đối với một trong các hành vi vượt quá thẩm quyền của người xử phạt vi
phạm hành chính thì người đó phải chuyển vụ vi phạm đến cấp có thẩm quyền xử phạt;
c) Nếu hành vi thuộc thẩm quyền xử phạt vi phạm
hành chính của nhiều người thuộc các ngành khác nhau, thì thẩm quyền xử phạt
thuộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền xử phạt nơi xảy ra vi phạm.
Điều 53.
Thay đổi tên gọi, nhiệm vụ, quyền hạn của chức danh có thẩm quyền xử phạt vi
phạm hành chính[62]
1. Trường hợp chức danh có thẩm quyền xử phạt vi
phạm hành chính theo quy định của Chính phủ có sự thay đổi về tên gọi nhưng
không thay đổi về nhiệm vụ, quyền hạn, thì thẩm quyền xử phạt vi phạm hành
chính của chức danh đó được giữ nguyên.
2. Trường hợp chức danh có thẩm quyền xử phạt vi
phạm hành chính theo quy định của Chính phủ có sự thay đổi về nhiệm vụ, quyền hạn
do sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, thì thẩm quyền xử phạt được tiếp tục thực
hiện bởi chức danh tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đó tương ứng với từng
lĩnh vực quản lý nhà nước.
Điều 54.
Giao quyền xử phạt[63]
1.[64]
Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính là cấp trưởng, người đứng đầu cơ
quan, đơn vị được quy định tại Điều 37a của Luật này có thể
giao cho cấp phó thực hiện thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.
2. Việc giao quyền xử phạt vi
phạm hành chính được thực hiện thường xuyên hoặc theo vụ việc, đồng thời với việc
giao quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính quy
định tại các khoản 2, 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 119 của Luật này.
Việc giao quyền phải được thể hiện bằng quyết định, trong đó xác định rõ phạm
vi, nội dung, thời hạn giao quyền.
3. Cấp phó được giao quyền xử phạt vi phạm hành
chính phải chịu trách nhiệm trước cấp trưởng và trước pháp luật về việc thực hiện
quyền được giao. Người được giao quyền không được giao quyền cho người khác.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Chương III
THỦ TỤC XỬ PHẠT, THI
HÀNH QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT VÀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT
Mục 1. THỦ TỤC XỬ PHẠT
Điều 55. Buộc chấm dứt hành
vi vi phạm hành chính
Buộc chấm dứt hành vi vi phạm hành chính được
người có thẩm quyền đang thi hành công vụ áp dụng đối với hành vi vi phạm hành
chính đang diễn ra nhằm chấm dứt ngay hành vi vi phạm. Buộc chấm dứt hành vi vi
phạm hành chính được thực hiện bằng lời nói, còi, hiệu lệnh, văn bản hoặc hình
thức khác theo quy định của pháp luật.
Điều 56. Xử phạt vi phạm
hành chính không lập biên bản[65]
1. Xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản
được áp dụng đối với các trường hợp sau:
a) Xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 500.000 đồng
đối với cá nhân, 1.000.000 đồng đối với tổ chức;
b) Hành vi vi phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng hình sự chuyển đến theo quy định tại khoản 1 Điều
63 của Luật này.
2. Trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện
bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ, thì phải lập biên bản.
3. Trường hợp xử phạt vi phạm hành chính không lập
biên bản quy định tại điểm a khoản 1 Điều này, thì người có thẩm quyền xử phạt
ra quyết định xử phạt tại chỗ.
Điều 57. Xử phạt vi phạm
hành chính có lập biên bản, hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính
1. Xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản được
áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của cá nhân, tổ chức vi phạm hành
chính không thuộc trường hợp quy định tại[66] khoản 1 Điều 56 của Luật này.
2. Việc xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản
phải được người có thẩm quyền xử phạt lập thành hồ sơ xử phạt vi phạm hành
chính. Hồ sơ bao gồm biên bản vi phạm hành chính, quyết định xử phạt hành
chính, các tài liệu, giấy tờ có liên quan và phải được đánh bút lục.
Hồ sơ phải được lưu trữ theo quy định của pháp
luật về lưu trữ.
Điều 58. Lập
biên bản vi phạm hành chính[67]
1.[68]
Khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực quản lý của mình, người
có thẩm quyền đang thi hành công vụ phải kịp thời lập biên bản vi phạm hành
chính, trừ trường hợp xử phạt không lập biên bản theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật này.
Vi phạm hành chính xảy ra trên
biển, đường thủy nội địa hoặc tàu bay, tàu biển, phương tiện thủy nội địa, tàu
hỏa, thì người có thẩm quyền hoặc chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng, trưởng tàu có
trách nhiệm tổ chức lập biên bản và chuyển cho người có thẩm quyền xử phạt vi
phạm hành chính khi tàu bay, tàu biển, phương tiện thủy nội địa, tàu hỏa về đến
sân bay, bến cảng, nhà ga.
2. Biên bản vi phạm hành chính
phải được lập tại nơi xảy ra hành vi vi phạm hành chính. Trường hợp biên bản vi
phạm hành chính được lập tại trụ sở cơ quan của người có thẩm quyền lập biên bản
hoặc địa điểm khác thì phải ghi rõ lý do vào biên bản.
3. Biên bản vi phạm hành chính
có nội dung chủ yếu sau đây:
a) Thời gian, địa điểm lập biên
bản;
b)[69]
Thông tin về người lập biên bản, cá nhân, tổ chức vi phạm và cơ quan, tổ chức,
cá nhân có liên quan.
Trường hợp không xác định được
chủ thể thực hiện hành vi vi phạm, thì ghi không xác định được cá nhân, tổ chức
vi phạm;
c) Thời gian, địa điểm xảy ra
vi phạm; mô tả vụ việc, hành vi vi phạm;
d) Lời khai của người vi phạm
hoặc đại diện tổ chức vi phạm, người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện
tổ chức bị thiệt hại;
đ) Biện pháp ngăn chặn và bảo đảm
xử lý vi phạm hành chính;
e) Quyền và thời hạn giải
trình.
4. Biên bản vi phạm hành chính
phải được lập thành ít nhất 02 bản, phải được người lập biên bản và người vi phạm
hoặc đại diện tổ chức vi phạm ký, trừ trường hợp biên bản được lập theo quy định
tại khoản 7 Điều này.
Trường hợp người vi phạm, đại
diện tổ chức vi phạm không ký vào biên bản thì biên bản phải có chữ ký của đại
diện chính quyền cấp xã nơi xảy ra vi phạm hoặc của ít nhất 01 người chứng kiến
xác nhận việc cá nhân, tổ chức vi phạm không ký vào biên bản; trường hợp không
có chữ ký của đại diện chính quyền cấp xã hoặc của người chứng kiến thì phải
ghi rõ lý do vào biên bản.
5.[70]
Biên bản vi phạm hành chính lập xong phải được giao cho cá nhân, tổ chức vi phạm
hành chính 01 bản; trường hợp vi phạm hành chính không thuộc thẩm quyền xử phạt
của người lập biên bản thì biên bản và các tài liệu khác phải được chuyển kịp
thời cho người có thẩm quyền xử phạt, trừ trường hợp vi phạm hành chính xảy ra
trên biển, đường thủy nội địa hoặc tàu bay, tàu biển, phương tiện thủy nội địa,
tàu hỏa.
6. Trường hợp biên bản vi phạm
hành chính có sai sót hoặc không thể hiện đầy đủ, chính xác các nội dung quy định
tại khoản 3 và khoản 4 Điều này thì phải tiến hành xác minh tình tiết của vụ việc
vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 59 của Luật này để
làm căn cứ ra quyết định xử phạt. Việc xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm
hành chính được lập thành biên bản xác minh. Biên bản xác minh là tài liệu gắn
liền với biên bản vi phạm hành chính và được lưu trong hồ sơ xử phạt.
7. Biên bản vi phạm hành chính
có thể được lập, gửi bằng phương thức điện tử đối với trường hợp cơ quan của
người có thẩm quyền xử phạt, cá nhân, tổ chức vi phạm đáp ứng điều kiện về cơ sở
hạ tầng, kỹ thuật, thông tin.
8. Biên bản vi phạm hành chính
phải được lập đúng nội dung, hình thức, thủ tục theo quy định của Luật này và
là căn cứ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, trừ trường hợp xử phạt vi
phạm hành chính không lập biên bản quy định tại khoản 1 Điều
56, khoản 2 Điều 63 của Luật này và trường hợp Luật Quản lý thuế có quy định
khác.
9. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 59. Xác minh tình tiết
của vụ việc vi phạm hành chính
1. Khi xem xét ra quyết định xử phạt vi phạm
hành chính, trong trường hợp cần thiết người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm
hành chính hoặc[71] người có thẩm quyền xử phạt có trách
nhiệm xác minh các tình tiết sau đây:
a) Có hay không có vi phạm hành chính;
b) Cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm
hành chính, lỗi, nhân thân của cá nhân vi phạm hành chính;
c) Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ;
d) Tính chất, mức độ thiệt hại do vi phạm hành
chính gây ra;
đ) Trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm
hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 65 của Luật này;
e) Tình tiết khác có ý nghĩa đối với việc xem
xét, quyết định xử phạt.
Trong quá trình xem xét, ra quyết định xử phạt,
người có thẩm quyền xử phạt có thể trưng cầu giám định. Việc trưng cầu giám định
được thực hiện theo quy định của pháp luật về giám định.
2. Việc xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm
hành chính phải được thể hiện bằng văn bản.
3.[72] Người có thẩm quyền
quy định tại khoản 1 Điều này tự mình hoặc phân công, phối hợp thực hiện xác
minh và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả xác minh.
Điều 60. Xác định giá trị
tang vật, phương tiện[73] vi phạm hành chính để làm căn cứ xác định khung tiền phạt,
thẩm quyền xử phạt
1. Trong trường hợp cần xác định giá trị tang vật,
phương tiện[74] vi phạm hành chính để làm căn cứ xác định
khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt, người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc
phải xác định giá trị tang vật, phương tiện[75] và phải
chịu trách nhiệm về việc xác định đó.
2. Tùy theo loại tang vật, phương tiện[76] cụ thể, việc xác định giá trị dựa trên một trong các
căn cứ theo thứ tự ưu tiên sau đây:
a) Giá niêm yết hoặc giá ghi trên hợp đồng hoặc
hóa đơn mua bán hoặc tờ khai nhập khẩu;
b) Giá theo thông báo của cơ quan tài chính địa
phương; trường hợp không có thông báo giá thì theo giá thị trường của địa
phương tại thời điểm xảy ra vi phạm hành chính;
c) Giá thành của tang vật, phương tiện[77] nếu là hàng hóa chưa xuất bán;
d) Đối với tang vật, phương tiện[78]
là hàng giả thì giá của tang vật, phương tiện[79] đó là
giá thị trường của hàng hóa thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng, kỹ thuật,
công dụng tại thời điểm nơi phát hiện vi phạm hành chính.
3.[80] Trường hợp không thể
áp dụng quy định tại khoản 2 Điều này làm căn cứ xác định giá trị tang vật,
phương tiện vi phạm hành chính để xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt,
thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc có thể ra quyết định tạm giữ
tang vật, phương tiện vi phạm và thành lập Hội đồng định giá. Hội đồng định giá
gồm có người ra quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành
chính là Chủ tịch Hội đồng, đại diện cơ quan tài chính cùng cấp và đại diện cơ
quan chuyên môn có liên quan là thành viên.
Thời hạn tạm giữ để xác định giá trị tang vật,
phương tiện vi phạm hành chính không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra
quyết định tạm giữ. Mọi chi phí liên quan đến việc tạm giữ, định giá và thiệt hại
do việc tạm giữ gây ra do cơ quan của người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ
chi trả.
4. Căn cứ để xác định giá trị và các tài liệu
liên quan đến việc xác định giá trị tang vật, phương tiện[81]
vi phạm hành chính phải thể hiện trong hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính.
Điều 61.
Giải trình[82]
1. Đối với hành vi vi phạm hành
chính mà pháp luật có quy định hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép,
chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc quy định
mức tối đa của khung tiền phạt đối với hành vi đó từ 15.000.000 đồng trở lên đối
với cá nhân, từ 30.000.000 đồng trở lên đối với tổ chức thì cá nhân, tổ chức vi
phạm có quyền giải trình trực tiếp hoặc bằng văn bản với người có thẩm quyền xử
phạt vi phạm hành chính. Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm xem xét ý
kiến giải trình của cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính để ra quyết định xử phạt,
trừ trường hợp cá nhân, tổ chức không yêu cầu giải trình.
2. Đối với trường hợp giải trình bằng văn bản,
cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải gửi văn bản giải trình cho người có thẩm
quyền xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày lập
biên bản vi phạm hành chính.
Trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp
thì người có thẩm quyền xử phạt có thể gia hạn nhưng không quá 05 ngày làm việc
theo đề nghị của cá nhân, tổ chức vi phạm. Việc gia hạn của người có thẩm quyền
xử phạt phải bằng văn bản.
Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính tự mình hoặc
ủy quyền cho người đại diện hợp pháp của mình thực hiện việc giải trình bằng
văn bản.
3. Đối với trường hợp giải trình trực tiếp, cá
nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải gửi văn bản yêu cầu được giải trình trực
tiếp đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong thời hạn 02 ngày
làm việc, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính.
Người có thẩm quyền xử phạt phải thông báo bằng
văn bản cho người vi phạm về thời gian và địa điểm tổ chức phiên giải trình trực
tiếp trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu của người vi
phạm.
Người có thẩm quyền xử phạt tổ chức phiên giải
trình trực tiếp và có trách nhiệm nêu căn cứ pháp lý, tình tiết, chứng cứ liên
quan đến hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu
quả dự kiến áp dụng đối với hành vi vi phạm. Cá nhân, tổ chức vi phạm hành
chính, người đại diện hợp pháp của họ có quyền tham gia phiên giải trình và đưa
ra ý kiến, chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Việc giải trình trực tiếp được lập thành biên bản
và phải có chữ ký của các bên liên quan; trường hợp biên bản gồm nhiều trang
thì các bên phải ký vào từng trang biên bản. Biên bản phải được lưu trong hồ sơ
xử phạt vi phạm hành chính và giao cho cá nhân, tổ chức vi phạm hoặc người đại
diện hợp pháp của họ 01 bản.
4. Trường hợp cá nhân, tổ chức vi phạm hành
chính không yêu cầu giải trình nhưng trước khi hết thời hạn quy định tại khoản
2 hoặc khoản 3 Điều này lại có yêu cầu giải trình thì người có thẩm quyền xử phạt
vi phạm hành chính có trách nhiệm xem xét ý kiến giải trình của cá nhân, tổ chức
vi phạm.
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 62. Chuyển hồ sơ vụ vi
phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự
1.[83] Trong quá trình xem
xét, xử lý vụ vi phạm, nếu xét thấy hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm, thì
người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải chuyển hồ sơ liên quan đến
hành vi có dấu hiệu tội phạm cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự.
Việc chuyển tang vật, phương tiện vi phạm hành
chính liên quan đến hành vi có dấu hiệu tội phạm thực hiện theo quy định của
Chính phủ.
2. Trong quá trình thi hành quyết định xử phạt
vi phạm hành chính, nếu hành vi vi phạm được phát hiện có dấu hiệu tội phạm mà
chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì người đã ra quyết định xử
phạt vi phạm hành chính phải ra quyết định tạm đình chỉ thi hành quyết định đó
và trong thời hạn 05 ngày làm việc[84], kể từ ngày tạm
đình chỉ phải chuyển hồ sơ vụ vi phạm cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng[85] hình sự; trường hợp đã thi hành xong quyết định xử phạt
thì người đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải chuyển hồ sơ vụ vi
phạm cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng[86] hình
sự.
3. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng[87] hình sự có trách nhiệm xem xét, kết luận vụ việc và trả
lời kết quả giải quyết bằng văn bản cho người có thẩm quyền đã chuyển hồ sơ
trong thời hạn theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự; trường hợp không khởi
tố vụ án hình sự thì trong thời hạn 05 ngày làm việc[88],
kể từ ngày quyết định không khởi tố vụ án hình sự có hiệu lực[89],
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng[90] phải trả hồ
sơ vụ việc cho người có thẩm quyền xử phạt đã chuyển hồ sơ đến.
Trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, nếu cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng[91] hình sự có quyết
định khởi tố vụ án thì người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải hủy
bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính và chuyển toàn bộ tang vật, phương tiện
vi phạm hành chính và tài liệu về việc thi hành quyết định xử phạt cho cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng[92] hình sự.
4. Việc chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội
phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự phải được thông báo bằng văn bản cho cá
nhân, tổ chức[93] vi phạm.
Điều 63. Chuyển hồ sơ vụ vi
phạm để xử phạt hành chính
1.[94] Đối
với vụ việc do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải quyết,
nhưng sau đó ban hành một trong các quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết
định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra, quyết
định đình chỉ vụ án, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, miễn trách nhiệm
hình sự theo bản án, nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính thì người có thẩm
quyền của cơ quan đang thụ lý vụ án phải xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm
quyền. Trường hợp không có thẩm quyền xử phạt, thì phải chuyển quyết định
kèm theo hồ sơ (bản sao y), tang vật, phương tiện vi phạm liên
quan đến hành vi vi phạm hành chính trong vụ việc, trừ trường hợp tang vật,
phương tiện là vật chứng và văn bản đề nghị xử phạt vi phạm hành chính cho người
có thẩm quyền xử phạt trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày quyết định có
hiệu lực.
2.[95] Việc xử phạt vi phạm
hành chính được căn cứ vào hồ sơ vụ vi phạm do cơ quan quy định tại khoản 1 Điều
này chuyển đến. Trường hợp cần thiết phải xác minh thêm tình tiết để có căn cứ
ra quyết định xử phạt, người có thẩm quyền xử phạt có thể lập biên bản xác minh
tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính theo quy định tại Điều
59 của Luật này.
3. Thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành
chính là 30 ngày, kể từ ngày nhận được các quyết định quy định tại khoản 1 Điều
này kèm theo hồ sơ vụ vi phạm. Trong trường hợp cần xác minh thêm quy định tại
khoản 2 Điều này thì thời hạn tối đa không quá 45 ngày.
Điều 64.
Phát hiện vi phạm hành chính bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ[96]
1. Cơ quan, người có thẩm quyền
xử phạt vi phạm hành chính, cá nhân, tổ chức được giao quản lý phương tiện, thiết
bị kỹ thuật nghiệp vụ được sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để
phát hiện vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông, bảo vệ môi trường,
phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ, phòng, chống ma túy, phòng, chống tác hại
của rượu, bia, tần số vô tuyến điện[97] và lĩnh vực khác
do Chính phủ quy định sau khi được sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
2. Việc quản lý, sử dụng và quy
định danh mục phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phải bảo đảm các yêu cầu,
điều kiện sau đây:
a) Tôn trọng quyền tự do, danh
dự, nhân phẩm, bí mật đời tư của công dân, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của
cá nhân và tổ chức;
b) Tuân thủ đúng quy trình, quy
tắc về sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ;
c) Kết quả thu thập được bằng
phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phải được ghi nhận bằng văn bản và chỉ
được sử dụng trong xử phạt vi phạm hành chính;
d) Phương tiện, thiết bị kỹ thuật
nghiệp vụ phải bảo đảm đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và đã được kiểm định,
hiệu chuẩn, thử nghiệm theo quy định của pháp luật; tiêu chuẩn, quy chuẩn
kỹ thuật phải được duy trì trong suốt quá trình sử dụng và giữa hai kỳ kiểm định,
hiệu chuẩn, thử nghiệm.
3. Việc sử dụng, bảo quản kết
quả thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phải bảo đảm
các yêu cầu, điều kiện sau đây:
a) Kết quả thu thập được bằng
phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ là bản ảnh, hình ảnh, phiếu in, chỉ số
đo, dữ liệu lưu trong bộ nhớ của phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ theo
quy định của Luật này;
b) Kết quả thu thập được bằng
phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ chỉ được sử dụng để xử phạt vi phạm
hành chính khi bảo đảm các yêu cầu, điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này;
c) Khi có kết quả thu được bằng
phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm
hành chính phải nhanh chóng xác định tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính và
thông báo bằng văn bản đến tổ chức, cá nhân vi phạm.
Trường hợp xác định được tổ chức,
cá nhân vi phạm, người có thẩm quyền phải tiến hành lập biên bản vi phạm hành
chính theo quy định tại Điều 58 của Luật này và kết quả
thu được bằng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được lưu theo biên bản
vi phạm hành chính;
d) Kết quả thu được bằng phương
tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ phải được bảo quản chặt chẽ, lưu vào hồ sơ xử
phạt vi phạm hành chính.
4. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền
sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ và các biện pháp nghiệp vụ
khác nhằm xác định thông tin, dữ liệu được thu thập từ phương tiện, thiết bị kỹ
thuật do cá nhân, tổ chức cung cấp để phát hiện vi phạm hành chính.
5. Chính phủ quy định việc quản lý, sử dụng, đối
tượng được trang bị phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ, danh mục phương
tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ được sử dụng để phát hiện vi phạm hành chính
và việc sử dụng, bảo quản kết quả thu thập được bằng phương tiện, thiết bị kỹ
thuật nghiệp vụ; quy trình thu thập, sử dụng dữ liệu thu được từ phương tiện,
thiết bị kỹ thuật do cá nhân, tổ chức cung cấp.
Điều 65. Những trường hợp
không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính
1. Không ra quyết định xử phạt vi phạm hành
chính trong những trường hợp sau đây:
a) Trường hợp quy định tại Điều
11 của Luật này;
b) Không xác định được đối tượng vi phạm hành
chính;
c) Hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính quy
định tại Điều 6 hoặc hết thời hạn ra quyết định xử phạt quy
định tại khoản 3 Điều 63 hoặc khoản 1 Điều 66 của Luật này;
d) Cá nhân vi phạm hành chính chết, mất tích, tổ
chức vi phạm hành chính đã giải thể, phá sản trong thời gian xem xét ra quyết định
xử phạt;
đ) Chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm
theo quy định tại Điều 62 của Luật này.
2.[98] Đối
với trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này, người có thẩm
quyền không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng vẫn phải ra quyết định
tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính nếu tang vật, phương tiện vi
phạm hành chính thuộc loại cấm tàng trữ, cấm lưu hành hoặc tang vật,
phương tiện mà pháp luật có quy định hình thức xử phạt tịch thu và áp dụng biện
pháp khắc phục hậu quả được quy định đối với hành vi vi phạm hành chính đó.
Quyết định phải ghi rõ lý do
không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính; tang vật, phương tiện vi phạm hành
chính bị tịch thu; biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng, trách nhiệm và thời
hạn thực hiện.
Việc tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành
chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản này không bị coi
là đã bị xử phạt vi phạm hành chính.
Điều 66.
Thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính[99]
1. Thời hạn ra quyết định xử phạt
vi phạm hành chính được quy định như sau:
a) Đối với vụ việc không thuộc
trường hợp quy định tại điểm b và điểm c khoản này, thời hạn ra quyết định xử
phạt là 07 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính; vụ việc
thuộc trường hợp phải chuyển hồ sơ đến người có thẩm quyền xử phạt thì thời hạn
ra quyết định xử phạt là 10 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành
chính, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 63 của Luật này;
b) Đối với vụ việc mà cá nhân,
tổ chức có yêu cầu giải trình hoặc phải xác minh các tình tiết có liên quan quy
định tại Điều 59 của Luật này thì thời hạn ra quyết định xử
phạt là 01 tháng, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính;
c) Đối với vụ việc thuộc trường
hợp quy định tại điểm b khoản này mà đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết
phức tạp, cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì thời hạn ra
quyết định xử phạt là 02 tháng, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính.
2. Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành
chính, cá nhân, tổ chức liên quan nếu có lỗi trong việc để quá thời hạn mà
không ra quyết định xử phạt thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều 67. Ra quyết định xử
phạt vi phạm hành chính
1. Trường hợp một cá nhân, tổ chức thực hiện nhiều
hành vi vi phạm hành chính mà bị xử phạt trong cùng một lần thì chỉ ra 01 quyết
định xử phạt, trong đó quyết định hình thức, mức xử phạt đối với từng hành vi
vi phạm hành chính.
2. Trường hợp nhiều cá nhân, tổ chức cùng thực
hiện một hành vi vi phạm hành chính thì có thể ra 01 hoặc nhiều quyết định xử
phạt để quyết định hình thức, mức xử phạt đối với từng cá nhân, tổ chức.
3. Trường hợp nhiều cá nhân, tổ chức thực hiện
nhiều hành vi vi phạm hành chính khác nhau trong cùng một vụ vi phạm thì có thể
ra 01 hoặc nhiều quyết định xử phạt để quyết định hình thức, mức xử phạt đối với
từng hành vi vi phạm của từng cá nhân, tổ chức.
4. Quyết định xử phạt có hiệu lực kể từ ngày ký,
trừ trường hợp trong quyết định quy định ngày có hiệu lực khác.
Điều 68. Nội dung quyết định
xử phạt vi phạm hành chính
1. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải
bao gồm các nội dung chính sau đây:
a) Địa danh, ngày, tháng, năm ra quyết định;
b) Căn cứ pháp lý để ban hành quyết định;
c) Biên bản vi phạm hành chính, kết quả xác
minh, văn bản giải trình của cá nhân, tổ chức vi phạm hoặc biên bản họp giải
trình và tài liệu khác (nếu có);
d) Họ, tên, chức vụ của người ra quyết định;
đ) Họ, tên, địa chỉ, nghề nghiệp của người vi phạm
hoặc tên, địa chỉ và họ tên, chức vụ của người đại diện theo pháp luật[100] của tổ chức vi phạm;
e) Hành vi vi phạm hành chính; tình tiết giảm nhẹ,
tình tiết tăng nặng;
g) Điều, khoản của văn bản pháp luật được áp dụng;
h) Hình thức xử phạt chính; hình thức xử phạt bổ
sung, biện pháp khắc phục hậu quả (nếu có);
i) Quyền khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định
xử phạt vi phạm hành chính;
k) Hiệu lực của quyết định, thời hạn và nơi thi hành
quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nơi nộp tiền phạt;
l) Họ tên, chữ ký của người ra quyết định xử phạt
vi phạm hành chính;
m) Trách nhiệm thi hành quyết định xử phạt vi phạm
hành chính và việc cưỡng chế trong trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm
hành chính không tự nguyện chấp hành.
2. Thời hạn thi hành quyết định là 10 ngày, kể từ
ngày nhận quyết định xử phạt; trường hợp quyết định xử phạt có ghi thời hạn thi
hành nhiều hơn 10 ngày thì thực hiện theo thời hạn đó.
3. Trường hợp ban hành một quyết định xử phạt vi
phạm hành chính chung đối với nhiều cá nhân, tổ chức cùng thực hiện một hành vi
vi phạm hoặc nhiều cá nhân, tổ chức thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính
khác nhau trong cùng một vụ vi phạm thì nội dung hành vi vi phạm, hình thức, mức
xử phạt đối với từng cá nhân, tổ chức phải xác định cụ thể, rõ ràng.
Mục 2. THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH
XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
Điều 69. Thi hành quyết định
xử phạt không lập biên bản
1. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính không lập
biên bản phải được giao cho cá nhân, tổ chức bị xử phạt 01 bản. Trường hợp người
chưa thành niên bị xử phạt cảnh cáo thì quyết định xử phạt còn được gửi cho cha
mẹ hoặc người giám hộ của người đó.
2. Cá nhân, tổ chức vi phạm nộp tiền phạt tại chỗ
cho người có thẩm quyền xử phạt. Người thu tiền phạt có trách nhiệm giao chứng
từ thu tiền phạt cho cá nhân, tổ chức nộp tiền phạt và phải nộp tiền phạt trực
tiếp tại Kho bạc Nhà nước hoặc nộp vào tài khoản của Kho bạc Nhà nước trong thời
hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày thu tiền phạt.
Trường hợp cá nhân, tổ chức vi phạm không có khả
năng nộp tiền phạt tại chỗ thì nộp tại Kho bạc Nhà nước hoặc nộp vào tài khoản
của Kho bạc Nhà nước ghi trong quyết định xử phạt trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 78 của Luật này.
Điều 70. Gửi quyết định
xử phạt vi phạm hành chính để thi hành[101]
1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày
ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, người đã ra quyết định xử phạt phải gửi
cho cá nhân, tổ chức bị xử phạt, cơ quan thu tiền phạt, cơ quan liên quan khác
(nếu có) để thi hành.
2. Việc gửi quyết định xử phạt có thể thực hiện
bằng một trong các hình thức sau đây:
a) Giao trực tiếp cho cá nhân, tổ chức bị xử phạt;
b) Gửi qua dịch vụ bưu chính bằng hình thức bảo
đảm;
c) Gửi bằng phương thức điện tử;
d) Trường hợp không thể thực hiện được các hình
thức quy định tại các điểm a, b và c khoản này, thì niêm yết công khai quyết định
xử phạt tại nơi cư trú của cá nhân hoặc nơi đặt trụ sở của tổ chức bị xử phạt
hoặc gửi quyết định xử phạt đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của cá nhân
hoặc nơi đặt trụ sở của tổ chức bị xử phạt để thực hiện niêm yết.
3. Việc gửi quyết định xử phạt vi phạm hành
chính để thi hành được thực hiện theo quy định của Chính phủ.
Điều 71.
Chuyển quyết định xử phạt để tổ chức thi hành
1.[102] Trường hợp cá
nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính không có điều kiện chấp hành quyết
định xử phạt tại nơi cơ quan của người ra quyết định xử phạt đóng trụ sở, thì
quyết định được chuyển đến cơ quan cùng cấp nơi cá nhân cư trú, tổ chức đóng trụ
sở để tổ chức thi hành; nếu nơi cá nhân cư trú, tổ chức đóng trụ sở không có cơ
quan cùng cấp thì quyết định xử phạt được chuyển đến Ủy ban nhân dân cấp xã để
tổ chức thi hành.
2.[103] (được
bãi bỏ)
3.[104]
Cơ quan của người đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các trường
hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này có trách nhiệm chuyển toàn bộ bản
gốc hồ sơ, giấy tờ liên quan đến cơ quan tiếp nhận quyết định xử phạt để thi
hành theo quy định của Luật này. Tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm
giữ, tịch thu (nếu có) được chuyển đến cơ quan tiếp nhận quyết định xử phạt để
thi hành, trừ trường hợp tang vật là động vật, thực vật sống, hàng hóa, vật phẩm
dễ bị hư hỏng, khó bảo quản theo quy định của pháp luật và một số loại tài sản
khác do Chính phủ quy định.
Cá nhân, tổ chức vi phạm phải trả chi phí chuyển
hồ sơ, tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.
Điều 72. Công bố công khai
trên các phương tiện thông tin đại chúng việc xử phạt đối với cá nhân, tổ chức
vi phạm hành chính
1. Trường hợp vi phạm hành chính về an toàn thực
phẩm; chất lượng sản phẩm, hàng hóa; dược; khám bệnh, chữa bệnh; lao động; xây
dựng; bảo hiểm xã hội; bảo hiểm y tế; bảo vệ môi trường; thuế; chứng khoán; sở
hữu trí tuệ; đo lường; sản xuất, buôn bán hàng giả mà gây hậu quả lớn hoặc gây ảnh
hưởng xấu về dư luận xã hội thì cơ quan của người có thẩm quyền xử phạt vi phạm
hành chính có trách nhiệm công bố công khai về việc xử phạt.
2. Nội dung công bố công khai bao gồm cá nhân, tổ
chức vi phạm hành chính, hành vi vi phạm, hình thức xử phạt và biện pháp khắc
phục hậu quả.
3. Việc công bố công khai được thực hiện trên
trang thông tin điện tử hoặc báo của cơ quan quản lý cấp bộ, cấp sở hoặc của Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra vi phạm hành chính.
Điều 73. Thi hành quyết định
xử phạt vi phạm hành chính
1. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành
chính phải chấp hành quyết định xử phạt trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận
quyết định xử phạt vi phạm hành chính; trường hợp quyết định xử phạt vi phạm
hành chính có ghi thời hạn thi hành nhiều hơn 10 ngày thì thực hiện theo thời hạn
đó.
Trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt khiếu nại,
khởi kiện đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính thì vẫn phải chấp hành
quyết định xử phạt, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 15
của Luật này. Việc khiếu nại, khởi kiện được giải quyết theo quy định của
pháp luật.
2. Người có thẩm quyền xử phạt đã ra quyết định
xử phạt có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra việc chấp hành quyết định xử phạt của
cá nhân, tổ chức bị xử phạt và thông báo kết quả thi hành xong quyết định cho cơ
quan quản lý cơ sở dữ liệu về xử lý vi phạm hành chính của Bộ Tư pháp, cơ quan
tư pháp địa phương.
Điều 74. Thời hiệu thi hành
quyết định xử phạt vi phạm hành chính
1.[105] Thời hiệu thi
hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm, kể từ ngày ra quyết định,
quá thời hạn này thì không thi hành quyết định đó nữa, trừ trường hợp quyết định
xử phạt có áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm
hành chính, biện pháp khắc phục hậu quả thì vẫn phải tịch thu tang vật, phương
tiện, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.
2. Trong trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt
cố tình trốn tránh, trì hoãn thì thời hiệu nói trên được tính kể từ thời điểm
chấm dứt hành vi trốn tránh, trì hoãn.
Điều 75. Thi hành quyết định
xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp người bị xử phạt chết, mất tích, tổ
chức bị xử phạt giải thể, phá sản
Trường hợp người bị xử phạt chết, mất tích, tổ
chức bị xử phạt giải thể, phá sản thì không thi hành quyết định phạt tiền nhưng
vẫn thi hành hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành
chính và biện pháp khắc phục hậu quả được ghi trong quyết định.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 76.
Hoãn thi hành quyết định phạt tiền[106]
1. Việc hoãn thi hành quyết định
phạt tiền được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Cá nhân bị phạt tiền từ
2.000.000 đồng trở lên, tổ chức bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng trở lên;
b) Cá nhân đang gặp khó khăn về
kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn;
tổ chức đang gặp khó khăn đặc biệt hoặc đột xuất về kinh tế do thiên tai, thảm
họa, hỏa hoạn, dịch bệnh.
Trường hợp cá nhân gặp khó khăn
về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, mắc bệnh hiểm nghèo,
tai nạn thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc
cơ quan, tổ chức nơi người đó học tập, làm việc; trường hợp cá nhân gặp khó
khăn về kinh tế do mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn thì phải có thêm xác nhận của
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản[107] trở lên.
Trường hợp tổ chức đang gặp khó
khăn về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh thì phải có xác nhận
của Ủy ban nhân dân cấp xã, Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công
nghệ cao, khu kinh tế, cơ quan Thuế quản lý trực tiếp hoặc cơ quan cấp trên trực
tiếp.
2. Cá nhân, tổ chức phải có đơn
đề nghị hoãn chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính kèm theo văn bản
xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều này
gửi người đã ra quyết định xử phạt trong thời hạn quy định tại khoản
2 Điều 68 của Luật này. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được
đơn, người đã ra quyết định xử phạt xem xét, quyết định hoãn thi hành quyết định
xử phạt đó.
Thời hạn hoãn thi hành quyết định
xử phạt không quá 03 tháng, kể từ ngày có quyết định hoãn.
3. Cá nhân, tổ chức được hoãn chấp hành quyết định
xử phạt được nhận lại giấy tờ, tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đang bị
tạm giữ theo quy định tại khoản 6 Điều 125 của Luật này.
Điều 77.
Giảm, miễn tiền phạt[108]
1. Việc giảm một phần tiền phạt
ghi trong quyết định xử phạt đối với cá nhân, tổ chức đã được hoãn thi hành quyết
định phạt tiền theo quy định tại Điều 76 của Luật này được
quy định như sau:
a) Cá nhân tiếp tục gặp khó
khăn về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, mắc bệnh hiểm
nghèo, tai nạn và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc
cơ quan, tổ chức nơi người đó học tập, làm việc;
b) Tổ chức tiếp tục gặp khó
khăn đặc biệt hoặc đột xuất về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh
và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế
xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, cơ quan Thuế quản lý trực tiếp hoặc cơ
quan cấp trên trực tiếp.
2. Cá nhân được miễn phần tiền
phạt còn lại ghi trong quyết định xử phạt do không có khả năng thi hành quyết định
nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Đã được giảm một phần tiền
phạt theo quy định tại khoản 1 Điều này mà tiếp tục gặp khó khăn về kinh tế do
thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn và có
xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức
nơi người đó học tập, làm việc;
b) Đã nộp tiền phạt lần thứ nhất
hoặc lần thứ hai trong trường hợp được nộp tiền phạt nhiều lần theo quy định tại
Điều 79 của Luật này nhưng gặp khó khăn đặc biệt hoặc đột
xuất về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, mắc bệnh hiểm
nghèo, tai nạn và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc
cơ quan, tổ chức nơi người đó học tập, làm việc; trường hợp gặp khó khăn đột xuất
về kinh tế do mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn phải có thêm xác nhận của cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản[109] trở lên.
3. Tổ chức được miễn phần tiền
phạt còn lại ghi trong quyết định xử phạt khi đáp ứng đủ điều kiện sau đây:
a) Đã được giảm một phần tiền
phạt theo quy định tại khoản 1 Điều này hoặc đã nộp tiền phạt lần thứ nhất hoặc
lần thứ hai trong trường hợp được nộp tiền phạt nhiều lần theo quy định tại Điều 79 của Luật này;
b) Đã thi hành xong hình thức xử
phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả được ghi trong quyết định xử phạt;
c) Tiếp tục gặp khó khăn đặc biệt
hoặc đột xuất về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh và có xác
nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu
công nghệ cao, khu kinh tế, cơ quan Thuế quản lý trực tiếp hoặc cơ quan cấp
trên trực tiếp.
4. Cá nhân không có khả năng
thi hành quyết định được miễn toàn bộ tiền phạt ghi trong quyết định xử phạt nếu
thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Đã được hoãn thi hành quyết
định phạt tiền theo quy định tại Điều 76 của Luật này mà tiếp
tục gặp khó khăn về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, mắc bệnh
hiểm nghèo, tai nạn và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư
trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó học tập, làm việc;
b) Bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng
trở lên, đang gặp khó khăn đặc biệt hoặc đột xuất về kinh tế do thiên tai, thảm
họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, mắc bệnh hiểm nghèo, tai nạn và có xác nhận của Ủy
ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó học
tập, làm việc; trường hợp gặp khó khăn đột xuất về kinh tế do mắc bệnh hiểm
nghèo, tai nạn phải có thêm xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản[110] trở lên.
5. Tổ chức được miễn toàn bộ tiền
phạt ghi trong quyết định xử phạt khi đáp ứng đủ điều kiện sau đây:
a) Đã được hoãn thi hành quyết
định phạt tiền theo quy định tại Điều 76 của Luật này;
b) Đã thi hành xong hình thức xử
phạt bổ sung, biện pháp khắc phục hậu quả được ghi trong quyết định xử phạt;
c) Tiếp tục gặp khó khăn đặc biệt
hoặc đột xuất về kinh tế do thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh và có xác
nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu
công nghệ cao, khu kinh tế, cơ quan Thuế quản lý trực tiếp hoặc cơ quan cấp
trên trực tiếp.
6. Cá nhân, tổ chức phải có đơn
đề nghị giảm, miễn tiền phạt kèm theo xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này gửi người đã ra quyết định
xử phạt. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn, người đã ra
quyết định xử phạt xem xét, quyết định việc giảm, miễn và thông báo cho người
có đơn đề nghị giảm, miễn biết; nếu không đồng ý với việc giảm, miễn thì phải
nêu rõ lý do.
7. Cá nhân, tổ chức được giảm, miễn tiền phạt được
nhận lại giấy tờ, tang vật, phương tiện đang bị tạm giữ theo quy định tại khoản 6 Điều 125 của Luật này.
Điều 78. Thủ tục nộp tiền
phạt
1.[111] Trong thời hạn
thi hành quyết định xử phạt theo quy định tại khoản 2 Điều 68
hoặc khoản 2 Điều 79 của Luật này, cá nhân, tổ chức bị xử phạt phải nộp tiền
phạt tại Kho bạc Nhà nước hoặc nộp vào tài khoản của Kho bạc Nhà nước được ghi
trong quyết định xử phạt, trừ trường hợp đã nộp tiền phạt theo quy định tại khoản
2 Điều này. Nếu quá thời hạn nêu trên sẽ bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt
và cứ mỗi ngày chậm nộp tiền phạt thì cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp thêm
0,05% tính trên tổng số tiền phạt chưa nộp.
2. Tại vùng sâu, vùng xa, biên giới, miền núi mà
việc đi lại gặp khó khăn thì cá nhân, tổ chức bị xử phạt có thể nộp tiền phạt
cho người có thẩm quyền xử phạt. Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm thu
tiền phạt tại chỗ và nộp tại Kho bạc Nhà nước hoặc nộp vào tài khoản của Kho bạc
Nhà nước trong thời hạn không quá 07 ngày, kể từ ngày thu tiền phạt.
Trường hợp xử phạt trên biển hoặc ngoài giờ hành
chính, người có thẩm quyền xử phạt được thu tiền phạt trực tiếp và phải nộp tại
Kho bạc Nhà nước hoặc nộp vào tài khoản của Kho bạc Nhà nước trong thời hạn 02
ngày làm việc, kể từ ngày vào đến bờ hoặc ngày thu tiền phạt.
3. Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính bị phạt
tiền phải nộp tiền phạt một lần, trừ trường hợp quy định tại Điều
79 của Luật này.
Mọi trường hợp thu tiền phạt, người thu tiền phạt
có trách nhiệm giao chứng từ thu tiền phạt cho cá nhân, tổ chức nộp tiền phạt.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 79. Nộp tiền phạt nhiều
lần
1.[112] Việc nộp tiền phạt
nhiều lần được áp dụng khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Bị phạt tiền từ 15.000.000 đồng trở lên đối với
cá nhân và từ 150.000.000 đồng trở lên đối với tổ chức;
b) Đang gặp khó khăn đặc biệt về kinh tế và có
đơn đề nghị nộp tiền phạt nhiều lần. Đơn đề nghị của cá nhân phải được Ủy ban
nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó học tập,
làm việc xác nhận hoàn cảnh khó khăn đặc biệt về kinh tế. Đơn đề nghị của tổ chức
phải được Ủy ban nhân dân cấp xã, Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất,
khu công nghệ cao, khu kinh tế, cơ quan Thuế quản lý trực tiếp hoặc cơ quan cấp
trên trực tiếp xác nhận hoàn cảnh khó khăn đặc biệt về kinh tế.
2. Thời hạn nộp tiền phạt nhiều lần không quá 06
tháng, kể từ ngày quyết định xử phạt có hiệu lực; số lần nộp tiền phạt tối đa
không quá 03 lần.
Mức nộp phạt lần thứ nhất tối thiểu là 40% tổng
số tiền phạt.
3. Người đã ra quyết định phạt tiền có quyền quyết
định việc nộp tiền phạt nhiều lần. Quyết định về việc nộp tiền phạt nhiều lần
phải bằng văn bản.
Điều 80. Thủ tục tước quyền
sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có
thời hạn
1. Trường hợp tước quyền sử dụng giấy phép, chứng
chỉ hành nghề có thời hạn được ghi trong quyết định xử phạt, người có thẩm quyền
xử phạt thu giữ, bảo quản giấy phép, chứng chỉ hành nghề và thông báo ngay cho
cơ quan đã cấp giấy phép, chứng chỉ hành nghề đó biết. Khi hết thời hạn tước
quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề ghi trong quyết định xử phạt, người
có thẩm quyền xử phạt giao lại giấy phép, chứng chỉ hành nghề cho cá nhân, tổ
chức đã bị tước giấy phép, chứng chỉ hành nghề đó.
2. Trường hợp đình chỉ hoạt động có thời hạn, cá
nhân, tổ chức vi phạm phải đình chỉ ngay một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác được ghi trong quyết định xử phạt.
3. Trong thời gian bị tước quyền sử dụng giấy
phép, chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn, cơ sở sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ không được tiến hành các hoạt động ghi trong quyết định xử
phạt.
4. Đối với các trường hợp
quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, nếu cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ có khả năng thực tế gây hậu quả tới tính mạng, sức khỏe con người, môi trường
thì người có thẩm quyền phải thông báo bằng văn bản việc tước giấy phép, chứng
chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn cho các cơ quan
có liên quan.
5.[113] Trường hợp phát
hiện giấy phép, chứng chỉ hành nghề được cấp không đúng thẩm quyền hoặc có nội
dung trái pháp luật thì người có thẩm quyền xử phạt phải tạm giữ và ra quyết định
thu hồi ngay theo thẩm quyền; trường hợp không thuộc thẩm quyền thu hồi thì tạm
giữ và trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày phát hiện, phải chuyển giấy
phép, chứng chỉ hành nghề đó cho cơ quan, người có thẩm quyền đã cấp để xử lý
theo quy định của pháp luật và thông báo cho cá nhân, tổ chức vi phạm biết.
Điều 81. Thủ tục tịch thu
tang vật, phương tiện vi phạm hành chính
1. Khi tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm
hành chính theo quy định tại Điều 26 của Luật này, người có
thẩm quyền xử phạt phải lập biên bản. Trong biên bản phải ghi rõ tên, số lượng,
chủng loại, số đăng ký (nếu có), tình trạng, chất lượng của vật, tiền, hàng
hóa, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu và phải có chữ ký của người tiến
hành tịch thu, người bị xử phạt hoặc đại diện tổ chức bị xử phạt và người chứng
kiến; trường hợp người bị xử phạt hoặc đại diện tổ chức bị xử phạt vắng mặt thì
phải có hai người chứng kiến. Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính
cần được niêm phong thì phải niêm phong ngay trước mặt người bị xử phạt, đại diện
tổ chức bị xử phạt hoặc người chứng kiến. Việc niêm phong phải được ghi nhận
vào biên bản.
Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính
đang bị tạm giữ, người có thẩm quyền xử phạt thấy tình trạng tang vật, phương
tiện có thay đổi so với thời điểm ra quyết định tạm giữ thì phải lập biên bản về
những thay đổi này; biên bản phải có chữ ký của người lập biên bản, người có
trách nhiệm tạm giữ và người chứng kiến.
2. Tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch
thu phải được quản lý và bảo quản theo quy định của Chính phủ.
3.[114] Tang vật, phương
tiện vi phạm hành chính đã có quyết định tịch thu được xử lý theo quy định của
pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công.
Điều 82.[115] (được bãi bỏ)
Điều 83. Quản lý tiền thu từ
xử phạt vi phạm hành chính, chứng từ thu, nộp tiền phạt
1. Tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính gồm tiền
nộp phạt vi phạm hành chính; tiền nộp do chậm thi hành quyết định xử phạt tiền;
tiền bán, thanh lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu và các
khoản tiền khác.
2. Tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính phải nộp
toàn bộ vào ngân sách nhà nước và được quản lý, sử dụng theo đúng quy định của
pháp luật về ngân sách nhà nước.
Chứng từ thu, nộp tiền phạt được quản lý theo
quy định của Chính phủ.
Điều 84. Thủ tục trục xuất
1. Quyết định trục xuất phải được thông báo trước
khi thi hành cho Bộ Ngoại giao, cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của
nước mà người bị trục xuất là công dân hoặc nước mà người đó cư trú trước khi đến
Việt Nam.
2. Cơ quan Công an có thẩm quyền có trách nhiệm
tổ chức thi hành quyết định trục xuất, áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử
lý vi phạm hành chính quy định tại Chương I Phần thứ tư của Luật này.
Điều 85. Thi hành biện pháp
khắc phục hậu quả
1. Thời hạn thi hành biện pháp khắc phục hậu quả
được thực hiện theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc trong quyết định
áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm b
khoản 2 Điều 28 của Luật này.
2. Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính có trách
nhiệm thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả được ghi trong quyết định theo quy
định của pháp luật và phải chịu mọi chi phí cho việc thực hiện biện pháp khắc
phục hậu quả đó.
3. Người có thẩm quyền ra quyết định có trách
nhiệm theo dõi, đôn đốc và kiểm tra việc thi hành biện pháp khắc phục hậu quả
do cá nhân, tổ chức thực hiện.
4. Trường hợp không xác định được đối tượng vi
phạm hành chính theo quy định tại khoản 2 Điều 65 của Luật này
hoặc cá nhân chết, mất tích hoặc tổ chức bị giải thể, phá sản mà không có tổ chức
nào tiếp nhận chuyển giao quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều
75 của Luật này thì cơ quan nơi người có thẩm quyền xử phạt đang thụ lý hồ
sơ vụ vi phạm hành chính phải tổ chức thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả
quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật này.
Chi phí cho việc tổ chức thi hành biện pháp khắc
phục hậu quả do cơ quan của người có thẩm quyền xử phạt ra quyết định thực hiện
được lấy từ nguồn ngân sách dự phòng cấp cho cơ quan đó.
5. Trong trường hợp khẩn cấp, cần khắc phục ngay
hậu quả để kịp thời bảo vệ môi trường, bảo đảm giao thông thì cơ quan nơi người
có thẩm quyền xử phạt đang thụ lý hồ sơ vụ vi phạm hành chính tổ chức thi hành
biện pháp khắc phục hậu quả. Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải hoàn trả
kinh phí cho cơ quan đã thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả, nếu không hoàn
trả thì bị cưỡng chế thực hiện.
Mục 3. CƯỠNG CHẾ THI HÀNH
QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
Điều 86. Cưỡng chế thi hành
quyết định xử phạt vi phạm hành chính
1.[116] Cưỡng chế thi
hành quyết định xử phạt được áp dụng trong các trường hợp sau đây:
a) Cá nhân, tổ chức bị xử phạt
vi phạm hành chính không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt theo quy định tại
Điều 73 của Luật này;
b) Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không tự
nguyện hoàn trả kinh phí cho cơ quan đã thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả
theo quy định tại khoản 5 Điều 85 của Luật này.
2. Các biện pháp cưỡng chế bao gồm:
a) Khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập,
khấu trừ tiền từ tài khoản của cá nhân, tổ chức vi phạm;
b) Kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số
tiền phạt để bán đấu giá;
c) Thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng
chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính do cá nhân, tổ chức khác đang
giữ trong trường hợp cá nhân, tổ chức sau khi vi phạm cố tình tẩu tán tài sản.
d) Buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả
quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật này.
3. Chính phủ quy định cụ thể về cưỡng chế thi
hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Điều 87.
Thẩm quyền quyết định cưỡng chế[117]
1. Những người sau đây có thẩm quyền ra quyết định
cưỡng chế:
a) Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm
hành chính là cấp trưởng hoặc người đứng đầu cơ quan, đơn vị được quy định tại
các điểm a, b, c, đ, e, h, i, k, l, m và n khoản 1 Điều 37a của
Luật này và Kiểm toán trưởng Kiểm toán nhà nước có thẩm quyền cưỡng chế đối
với quyết định xử phạt vi phạm hành chính của mình hoặc của cấp dưới ban hành.
Thẩm quyền cưỡng chế đối với quyết định xử phạt
vi phạm hành chính của Trưởng đoàn kiểm toán được thực hiện theo quy định của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội;
b) Người có thẩm quyền thuộc cơ quan tiếp nhận
quyết định xử phạt để tổ chức thi hành ra quyết định cưỡng chế hoặc báo cáo cấp
trên của mình ra quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành
chính.
2. Người có thẩm quyền cưỡng chế quy định tại
khoản 1 Điều này có thể giao quyền cho cấp phó. Việc giao quyền được thể hiện bằng
quyết định, trong đó xác định rõ phạm vi, nội dung, thời hạn giao quyền. Cấp
phó được giao quyền phải chịu trách nhiệm trước cấp trưởng và trước pháp luật về
việc thực hiện quyền được giao. Người được giao quyền không được giao quyền cho
người khác.
Điều 88. Thi hành quyết định
cưỡng chế
1.[118] Trong thời hạn 02
ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt
vi phạm hành chính, người ra quyết định phải gửi quyết định cho cá nhân, tổ chức
bị cưỡng chế, cơ quan, tổ chức thực hiện việc cưỡng chế và cá nhân, tổ chức có
liên quan.
Người ra quyết định cưỡng chế tổ chức thực hiện
việc cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt của mình và của cấp dưới.
Việc gửi quyết định cưỡng chế
cho các cá nhân, tổ chức liên quan được thực hiện theo quy định tại Điều 70 của Luật này.
Quyết định cưỡng chế phải được thi hành ngay khi
cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế nhận được quyết định cưỡng chế.
2. Cá nhân, tổ chức nhận được quyết định cưỡng
chế phải nghiêm chỉnh chấp hành quyết định cưỡng chế và phải chịu mọi chi phí về
việc tổ chức thực hiện các biện pháp cưỡng chế.
2a.[119] Thời hiệu thi
hành quyết định cưỡng chế được tính kể từ ngày ra quyết định cưỡng chế cho đến
thời điểm chấm dứt hiệu lực thi hành của quyết định xử phạt vi phạm hành chính
quy định tại khoản 1 Điều 74 của Luật này; quá thời hạn này
thì không thi hành quyết định cưỡng chế đó, trừ trường hợp quyết định xử phạt
có áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính,
áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả thì vẫn phải cưỡng chế tịch thu tang vật,
phương tiện, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đó.
3. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong việc
phối hợp thi hành quyết định cưỡng chế:
a) Cá nhân, tổ chức liên quan có nghĩa vụ phối hợp
với người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế triển khai các biện pháp nhằm
thực hiện các quyết định cưỡng chế;
b) Lực lượng Cảnh sát nhân dân có trách nhiệm bảo
đảm trật tự, an toàn trong quá trình thi hành quyết định cưỡng chế của Chủ tịch
Ủy ban nhân dân cùng cấp hoặc quyết định cưỡng chế của các cơ quan nhà nước
khác khi được yêu cầu;
c)[120] Tổ chức tín dụng,
Kho bạc Nhà nước, chi nhánh ngân hàng nước ngoài nơi cá nhân, tổ chức bị cưỡng
chế thi hành mở tài khoản có trách nhiệm cung cấp thông tin về điều kiện thi
hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế
trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ khi nhận được yêu cầu bằng văn bản của
người có thẩm quyền cưỡng chế; tiến hành phong tỏa số tiền trong tài khoản
tương đương với số tiền mà cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế phải nộp hoặc phong tỏa
toàn bộ số tiền trong tài khoản trong trường hợp số dư trong tài khoản tiền gửi
ít hơn số tiền mà cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế phải nộp; thực hiện việc trích
chuyển số tiền phải nộp theo yêu cầu của người có thẩm quyền ra quyết định cưỡng
chế. Trong thời hạn 05 ngày làm việc trước khi trích chuyển, tổ chức tín dụng,
Kho bạc Nhà nước, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có trách nhiệm thông báo cho
cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế biết việc trích chuyển; việc trích chuyển không cần
sự đồng ý của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế.
Chính phủ quy định chi tiết điểm này.
Phần thứ ba
ÁP DỤNG CÁC BIỆN
PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH
Chương I
CÁC BIỆN PHÁP XỬ
LÝ HÀNH CHÍNH
Điều 89. Biện pháp giáo dục
tại xã, phường, đặc khu[121]
1. Giáo dục tại xã, phường, đặc khu[122] là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với các đối
tượng quy định tại Điều 90 của Luật này để giáo dục, quản
lý họ tại nơi cư trú trong trường hợp nhận thấy không cần thiết phải cách ly họ
khỏi cộng đồng.
2. Thời hạn áp dụng biện pháp giáo dục tại xã,
phường, đặc khu[123] từ 03 tháng đến 06 tháng.
Điều 90. Đối tượng bị áp dụng
biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[124]
1. Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện
hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ
luật Hình sự.
2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện
hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật
Hình sự.
3. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi đã 02 lần
bị xử phạt vi phạm hành chính và bị lập biên bản vi phạm hành chính tại lần vi
phạm thứ ba trong thời hạn 06 tháng về một trong các hành vi gây rối trật tự
công cộng, trộm cắp tài sản, đánh bạc, lừa đảo, đua xe trái phép.
4. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi đã 02 lần
bị xử phạt vi phạm hành chính và bị lập biên bản vi phạm hành chính tại lần vi
phạm thứ ba trong thời hạn 06 tháng về một trong các hành vi xúc phạm nhân phẩm,
danh dự của người khác, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác, chiếm giữ trái phép tài sản, hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của
người khác, gây rối trật tự công cộng, trộm cắp tài sản, đánh bạc, lừa đảo, đua
xe trái phép nhưng không phải là tội phạm.
5. Người từ đủ 14 tuổi trở lên đã 02 lần bị xử
phạt vi phạm hành chính và bị lập biên bản vi phạm hành chính tại lần vi phạm
thứ ba trong thời hạn 06 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
6. Người từ đủ 18 tuổi trở lên đã 02 lần bị xử
phạt vi phạm hành chính và bị lập biên bản vi phạm hành chính tại lần vi phạm
thứ ba trong thời hạn 06 tháng về một trong các hành vi xúc phạm nhân phẩm,
danh dự của người khác, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác, chiếm giữ trái phép tài sản, hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của
người khác, gây rối trật tự công cộng, trộm cắp tài sản, đánh bạc, lừa đảo, đua
xe trái phép, ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc
người có công nuôi dưỡng mình nhưng không phải là tội phạm.
7. Người quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và
người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi quy định tại khoản 5 Điều này mà không có
nơi cư trú ổn định thì được giao cho cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở trợ giúp
trẻ em để quản lý, giáo dục trong thời gian chấp hành biện pháp giáo dục tại
xã, phường, đặc khu[125].
Người từ đủ 18 tuổi trở lên quy định tại khoản 5
Điều này mà không có nơi cư trú ổn định thì giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi
phát hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy lần thứ ba tổ chức quản lý.
Điều 91. Biện pháp đưa vào
trường giáo dưỡng
1. Đưa vào trường giáo dưỡng là biện pháp xử lý
hành chính áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật quy định tại Điều 92 của Luật này nhằm mục đích giúp họ học văn hóa, học
nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự quản lý, giáo dục của nhà trường.
2. Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào trường
giáo dưỡng từ 06 tháng đến 24 tháng.
Điều 92. Đối tượng bị áp dụng
biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng[126]
1. Người từ đủ 12
tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng quy định tại Bộ luật Hình sự.
2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới
16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc một
tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Bộ luật Hình sự, trừ những tội phạm
quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật Hình sự.
3. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới
16 tuổi thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 2,
khoản 3 Điều 90 của Luật này và trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại
xã, phường, đặc khu[127].
4. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới
18 tuổi thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 4 Điều 90 của Luật này nhưng không phải là tội
phạm và trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[128].
5. Không áp dụng biện pháp đưa
vào trường giáo dưỡng đối với các trường hợp sau đây:
a) Người không có năng lực
trách nhiệm hành chính;
b) Người đang mang thai có chứng
nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ cấp cơ bản[129]
trở lên;
c) Phụ nữ hoặc người duy nhất
đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó
cư trú xác nhận.
Điều 93. Biện pháp đưa vào
cơ sở giáo dục bắt buộc
1. Đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc là biện pháp
xử lý hành chính áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật quy định tại
Điều 94 của Luật này để lao động, học văn hóa, học nghề,
sinh hoạt dưới sự quản lý của cơ sở giáo dục bắt buộc.
2. Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo
dục bắt buộc từ 06 tháng đến 24 tháng.
Điều 94. Đối tượng áp dụng
biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc
1.[130] Đối tượng bị áp dụng
biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc bao gồm:
a) Người từ đủ 18 tuổi trở lên đã 02 lần bị xử
phạt vi phạm hành chính và bị lập biên bản vi phạm hành chính tại lần vi phạm
thứ ba trong thời hạn 06 tháng về một trong các hành vi quy định tại khoản 6 Điều 90 của Luật này nhưng không phải là tội phạm và
không có nơi cư trú ổn định;
b) Người từ đủ 18 tuổi trở lên thực hiện một
trong các hành vi quy định tại khoản 6 Điều 90 của Luật này nhưng không phải là tội phạm và trước đó
đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[131].
2. Không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở
giáo dục bắt buộc đối với các trường hợp sau đây:
a) Người không có năng lực trách nhiệm hành
chính;
b) Người chưa đủ 18 tuổi;
c) Nữ trên 55 tuổi, nam trên 60 tuổi;
d) Người đang mang thai có chứng nhận của cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh từ cấp cơ bản[132] trở lên[133];
đ) Phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ
dưới 36 tháng tuổi được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.
Điều 95. Biện pháp đưa
vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
1. Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là biện
pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người có hành vi vi phạm quy
định tại Điều 96 của Luật này để chữa bệnh, lao động, học văn hóa,
học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc.
2. Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ
sở cai nghiện bắt buộc từ 12 tháng đến 24 tháng.
Điều 96. Đối tượng áp
dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
1.[134] Người nghiện ma
túy từ đủ 18 tuổi trở lên thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở
cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy.
2. Không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc đối với các trường hợp sau đây:
a) Người không có năng lực trách nhiệm hành
chính;
b) Người đang mang thai có chứng nhận của cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh từ cấp cơ bản[135] trở lên[136];
c) Phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ
dưới 36 tháng tuổi được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.
Chương II
THỦ TỤC LẬP HỒ SƠ
ĐỀ NGHỊ ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH
Điều 97. Lập hồ sơ đề nghị
áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[137]
1. Trưởng Công an cấp xã nơi người vi phạm
thuộc đối tượng quy định tại Điều 90 của Luật này cư trú hoặc nơi họ
có hành vi vi phạm pháp luật tự mình hoặc theo đề nghị của Chủ tịch Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc cấp xã hoặc đại diện cơ quan, tổ chức, đơn vị dân cư ở cơ sở lập hồ
sơ đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[138].
2. Trong trường hợp người vi phạm do cơ quan[139] Công an cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, điều
tra, thụ lý trong các vụ vi phạm pháp luật, nhưng chưa đến mức truy
cứu trách nhiệm hình sự mà thuộc đối tượng quy định tại Điều 90
của Luật này thì cơ quan Công an đang thụ lý vụ việc tiến hành xác
minh, thu thập tài liệu và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp giáo
dục tại xã, phường, đặc khu[140] đối với người đó.
3. Hồ sơ đề nghị gồm có bản tóm tắt lý lịch, tài
liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người đó, bệnh án (nếu có), bản
tường trình của người vi phạm và các tài liệu khác có liên quan.
Đối với người chưa thành niên bị xem xét áp dụng
biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[141] thì hồ
sơ phải có nhận xét của nhà trường, cơ quan, tổ chức nơi người chưa thành
niên đang học tập, làm việc (nếu có), ý kiến của cha mẹ hoặc người giám
hộ.
4.[142] Cơ quan lập hồ sơ
đề nghị quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này phải chịu trách nhiệm về tính
pháp lý của hồ sơ đề nghị. Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị, cơ quan lập
hồ sơ phải thông báo bằng văn bản cho người bị đề nghị áp dụng hoặc người đại
diện hợp pháp của họ về việc lập hồ sơ; đối với người chưa thành niên thì còn
phải thông báo cho cha mẹ hoặc người giám hộ về việc lập hồ sơ. Những người này
có quyền đọc hồ sơ và ghi chép các nội dung cần thiết trong thời hạn 03 ngày
làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo.
Điều 98.
Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[143]
1.[144]
Trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn đọc hồ sơ theo quy định
tại khoản 4 Điều 97 của Luật này, cơ quan lập hồ sơ đề nghị
quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 97 của Luật này gửi hồ
sơ cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã.
Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận
được hồ sơ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức và chủ trì cuộc họp tư vấn
với sự tham gia của Trưởng Công an cấp xã, công chức tư pháp - hộ tịch, đại diện
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và một số tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức
xã hội cùng cấp có liên quan, đại diện dân cư ở cơ sở. Người bị đề nghị áp dụng
biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[145], người đại
diện hợp pháp của họ, cha mẹ, người giám hộ của người chưa thành niên phải được
mời tham gia cuộc họp và phát biểu ý kiến của mình về việc áp dụng biện pháp.
2. Trong thời hạn 02 ngày làm việc[146], kể từ ngày kết thúc cuộc họp tư vấn quy định tại khoản
1 Điều này, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét, quyết định áp dụng biện
pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[147]. Tùy từng đối
tượng mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định giao người được giáo dục cho
cơ quan, tổ chức, gia đình quản lý, giáo dục; nếu đối tượng không có nơi cư trú
ổn định thì giao cho cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở trợ giúp trẻ em để quản lý,
giáo dục.
3. Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã,
phường, đặc khu[148] phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết
định; họ, tên, chức vụ của người ra quyết định; họ, tên, ngày, tháng, năm sinh,
nơi cư trú của người được giáo dục; hành vi vi phạm pháp luật của người đó; điều,
khoản của văn bản pháp luật được áp dụng; thời hạn áp dụng; ngày thi hành quyết
định; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình được giao giáo dục, quản lý
người được giáo dục; quyền khiếu nại, khởi kiện theo quy định của pháp luật.
4. Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã,
phường, đặc khu[149] có hiệu lực kể từ ngày ký và phải
được gửi ngay cho người được giáo dục, gia đình người đó, Hội đồng nhân dân cấp
xã và các cơ quan, tổ chức có liên quan.
5. Hồ sơ về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại
xã, phường, đặc khu[150] phải được đánh bút lục và được
lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ.
Điều 99. Lập hồ sơ đề
nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng[151]
1. Việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện
pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với đối tượng quy định tại Điều 92
của Luật này được thực hiện như sau:
a) Đối với người dưới 18 tuổi vi phạm có nơi cư
trú ổn định thì Trưởng Công an cấp xã nơi người đó cư trú lập hồ sơ đề nghị áp
dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng.
Hồ sơ đề nghị gồm có: bản tóm tắt lý lịch; tài
liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người vi phạm; biện pháp giáo dục đã
áp dụng; bản tường trình của người vi phạm, ý kiến của cha mẹ hoặc người đại diện
hợp pháp khác của họ, ý kiến của nhà trường, cơ quan, tổ chức nơi người dưới 18
tuổi đang học tập hoặc làm việc (nếu có) và các tài liệu khác có liên quan;
b) Đối với người dưới 18 tuổi vi phạm không có
nơi cư trú ổn định thì Trưởng Công an cấp xã nơi người đó có hành vi vi phạm
pháp luật lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng.
Hồ sơ đề nghị gồm có: biên bản vi phạm; bản tóm
tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người đó; kết quả
xác minh tiền án, tiền sự; biện pháp giáo dục đã áp dụng (nếu có); bản tường
trình của người vi phạm, ý kiến của cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp khác của
họ.
2. Trường hợp hồ sơ do cơ quan, đơn vị thuộc
Công an cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, điều tra, thụ lý vụ vi phạm pháp luật,
nhưng người vi phạm dưới 18 tuổi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, mà
thuộc đối tượng đưa vào trường giáo dưỡng theo quy định tại Điều
92 của Luật này thì cơ quan, đơn vị đang thụ lý vụ việc, vụ án hoàn
thiện hồ sơ vi phạm và chuyển hồ sơ cho Công an cấp xã có thẩm quyền để lập hồ
sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với người đó.
Trường hợp hồ sơ vi phạm do cơ quan, đơn vị thuộc
Công an cấp tỉnh chuyển chưa đầy đủ thì Trưởng Công an cấp xã chuyển lại hồ sơ
cho cơ quan, đơn vị đó bổ sung; thời hạn bổ sung là 02 ngày làm việc, kể từ
ngày nhận lại hồ sơ. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đầy đủ hồ
sơ, Trưởng Công an cấp xã hoàn thiện hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân khu vực áp dụng
biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng.
Hồ sơ đề nghị gồm có: bản tóm tắt lý lịch; tài
liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người đó; biện pháp giáo dục đã áp dụng;
bản tường trình của người vi phạm, ý kiến của cha mẹ, người giám hộ hoặc người
đại diện hợp pháp khác của họ.
3. Cơ quan, đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh và
Công an cấp xã có thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường
giáo dưỡng phải chịu trách nhiệm về tính pháp lý của tài liệu, hồ sơ đề nghị.
Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị, Công an cấp xã lập hồ sơ phải thông
báo bằng văn bản cho người bị đề nghị áp dụng, cha mẹ hoặc người đại diện hợp
pháp khác của họ về việc lập hồ sơ. Những người này có quyền đọc hồ sơ và ghi
chép các nội dung cần thiết trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được
thông báo.
Điều 100. Xem xét, quyết định
việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân khu vực áp dụng biện pháp đưa vào trường
giáo dưỡng[152]
1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày hết
thời hạn đọc hồ sơ quy định tại khoản 3 Điều 99 của Luật
này, Trưởng Công an cấp xã quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân
dân khu vực để quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng.
2. Hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân khu vực xem
xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng bao gồm:
a) Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường
giáo dưỡng quy định tại Điều 99 của Luật này;
b) Văn bản của Trưởng Công an cấp xã về việc đề
nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng.
3. Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường
giáo dưỡng phải được đánh bút lục và được lưu trữ theo quy định của pháp luật về
lưu trữ.
Điều 101. Lập hồ sơ đề
nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc[153]
1. Việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện
pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với đối tượng quy định tại Điều
94 của Luật này được thực hiện như sau:
a) Đối với người vi phạm có nơi cư trú ổn định
thì Trưởng Công an cấp xã nơi người đó cư trú lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện
pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.
Hồ sơ đề nghị gồm có: bản tóm tắt lý lịch; tài
liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người đó; biện pháp giáo dục đã áp dụng;
bản tường trình của người vi phạm hoặc người đại diện hợp pháp của họ; các tài
liệu khác có liên quan;
b) Đối với người không cư trú tại nơi có hành vi
vi phạm pháp luật thì Trưởng Công an cấp xã phải xác minh; trường hợp xác định
được nơi cư trú thì có trách nhiệm chuyển người đó kèm theo biên bản vi phạm về
địa phương để xử lý; trường hợp không xác định được nơi cư trú thì Trưởng Công
an cấp xã nơi người đó có hành vi vi phạm pháp luật lập hồ sơ đề nghị áp dụng
biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.
Hồ sơ đề nghị gồm có: biên bản vi phạm; bản tóm
tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người đó; kết quả
xác minh tiền án, tiền sự; biện pháp giáo dục đã áp dụng (nếu có); bản tường
trình của người vi phạm hoặc người đại diện hợp pháp của họ.
2. Trường hợp Trưởng cơ sở cai nghiện bắt buộc
tiến hành lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc theo quy định tại khoản 3 Điều 118 của Luật này thì hồ sơ bao gồm: hồ sơ
cai nghiện bắt buộc hiện có; biên bản về hành vi vi phạm mới; văn bản của Trưởng
cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày lập biên
bản về hành vi vi phạm mới, Trưởng cơ sở cai nghiện bắt buộc gửi hồ sơ cho Trưởng
Công an cấp xã có thẩm quyền. Trường hợp hồ sơ vi phạm do Trưởng cơ sở cai nghiện
bắt buộc chuyển chưa đầy đủ thì Công an cấp xã chuyển lại hồ sơ cho Trưởng cơ sở
cai nghiện bắt buộc đó bổ sung; thời hạn bổ sung là 02 ngày làm việc, kể từ
ngày nhận lại hồ sơ. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đầy đủ hồ
sơ, Công an cấp xã hoàn thiện hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân khu vực áp dụng biện
pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.
3. Trường hợp người vi phạm do cơ quan, đơn vị
thuộc Công an cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, điều tra, thụ lý trong các vụ vi phạm
pháp luật, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự mà thuộc đối tượng
đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc theo quy định tại Điều 94
của Luật này thì cơ quan, đơn vị đang thụ lý vụ việc, vụ án hoàn thiện
hồ sơ vi phạm và chuyển hồ sơ cho Công an cấp xã có thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị
áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với người đó. Trường hợp
hồ sơ vi phạm do cơ quan, đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh chuyển chưa đầy đủ thì
Công an cấp xã chuyển lại hồ sơ cho cơ quan, đơn vị đó bổ sung; thời hạn bổ
sung là 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận lại hồ sơ. Trong thời hạn 02 ngày làm
việc, kể từ ngày nhận đầy đủ hồ sơ, Công an cấp xã hoàn thiện hồ sơ đề nghị Tòa
án nhân dân khu vực áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.
Hồ sơ đề nghị gồm có: bản tóm tắt lý lịch; tài
liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người đó; biện pháp giáo dục đã áp dụng;
bản tường trình của người vi phạm hoặc người đại diện hợp pháp của họ.
4. Trưởng cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ quan,
đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh quy định tại khoản 3 Điều này và Công an cấp xã lập
hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc phải chịu trách
nhiệm về tính pháp lý của tài liệu, hồ sơ đề nghị. Sau khi hoàn thành việc lập
hồ sơ đề nghị, Công an cấp xã lập hồ sơ phải thông báo bằng văn bản cho người bị
đề nghị áp dụng hoặc người đại diện hợp pháp của họ về việc lập hồ sơ. Những
người này có quyền đọc hồ sơ và ghi chép các nội dung cần thiết trong thời hạn
03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo.
Điều 102. Xem xét, quyết định
việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân khu vực áp dụng biện pháp đưa vào cơ
sở giáo dục bắt buộc[154]
1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày hết
thời hạn đọc hồ sơ quy định tại khoản 4 Điều 101 của Luật
này, Trưởng Công an cấp xã quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân
dân khu vực áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.
2. Hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân khu vực xem
xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc gồm có:
a) Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở
giáo dục bắt buộc quy định tại Điều 101 và Điều 118 của Luật
này;
b) Văn bản của Trưởng Công an cấp xã về việc đề
nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.
3. Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở
giáo dục bắt buộc phải được đánh bút lục và được lưu trữ theo quy định của pháp
luật về lưu trữ.
Điều 103. Lập hồ sơ đề nghị
áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc[155]
1. Việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa
vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma túy quy định tại Điều 96 của Luật này được thực hiện như sau:
a) Trường hợp người nghiện ma túy có nơi cư trú ổn
định thì Trưởng Công an cấp xã nơi người đó cư trú lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện
pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
b) Trường hợp người nghiện ma túy không có nơi
cư trú ổn định thì Trưởng Công an cấp xã nơi người đó có hành vi vi phạm pháp
luật lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
c) Trường hợp người nghiện ma túy do cơ quan,
đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, điều tra, thụ lý trong các vụ
vi phạm pháp luật mà thuộc đối tượng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc quy định
tại Điều 96 của Luật này thì cơ quan, đơn vị đang
thụ lý vụ việc, vụ án hoàn thiện hồ sơ vi phạm và chuyển hồ sơ cho Công an cấp
xã có thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt
buộc đối với người đó. Trường hợp hồ sơ vi phạm do cơ quan, đơn vị thuộc Công
an cấp tỉnh chuyển chưa đầy đủ thì Công an cấp xã chuyển lại hồ sơ cho cơ quan,
đơn vị đó bổ sung; thời hạn bổ sung là 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận lại hồ
sơ. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đầy đủ hồ sơ, Công an cấp
xã hoàn thiện hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân khu vực áp dụng biện pháp đưa vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc;
d) Hồ sơ đề nghị quy định tại các điểm a, b và c
khoản này gồm có: biên bản vi phạm; bản tóm tắt lý lịch; tài liệu chứng minh
tình trạng nghiện ma túy hiện tại của người đó; bản tường trình của người nghiện
ma túy hoặc người đại diện hợp pháp của họ và các tài liệu khác có liên quan;
đ) Trường hợp người nghiện ma túy tự đến Công an
cấp xã để khai báo về tình trạng nghiện của mình và có đơn xin đi cai nghiện tại
cơ sở cai nghiện bắt buộc thì hồ sơ đề nghị gồm có: đơn tự nguyện xin đi cai
nghiện; bản tóm tắt lý lịch; tài liệu chứng minh tình trạng nghiện ma túy hiện
tại của người đó; bản tường trình của người nghiện ma túy hoặc người đại diện hợp
pháp của họ và các tài liệu khác có liên quan.
Tài liệu chứng minh tình trạng nghiện ma túy hiện
tại của người đó được thực hiện như sau: nếu người đó có phiếu xác định tình trạng
nghiện của cơ quan có thẩm quyền còn trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày cấp thì
sử dụng phiếu này; nếu người đó không có phiếu xác định tình trạng nghiện hoặc
có phiếu xác định tình trạng nghiện của cơ quan có thẩm quyền cấp đã quá thời hạn
06 tháng kể từ ngày cấp thì Công an cấp xã hướng dẫn họ thực hiện việc xác định
tình trạng nghiện.
2. Cơ quan, đơn vị thuộc Công an cấp tỉnh và
Công an cấp xã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt
buộc phải chịu trách nhiệm về tính pháp lý của tài liệu, hồ sơ đề nghị. Sau khi
hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị, Công an cấp xã lập hồ sơ phải thông báo bằng
văn bản cho người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
hoặc người đại diện hợp pháp của họ về việc lập hồ sơ. Những người này có quyền
đọc hồ sơ và ghi chép các nội dung cần thiết trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể
từ ngày nhận được thông báo.
Điều 104. Xem xét, quyết định
việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân khu vực áp dụng biện pháp đưa vào cơ
sở cai nghiện bắt buộc[156]
1. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày hết
thời hạn đọc hồ sơ quy định tại khoản 2 Điều 103 Luật này,
Trưởng Công an cấp xã quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân khu
vực áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
2. Hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân khu vực xem
xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc bao gồm:
a) Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở
cai nghiện bắt buộc quy định tại Điều 103 của Luật này;
b) Văn bản của Trưởng Công an cấp xã về việc đề
nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở
cai nghiện bắt buộc phải được đánh bút lục và được lưu trữ theo quy định của
pháp luật về lưu trữ.
Chương III
THẨM QUYỀN, THỦ
TỤC XEM XÉT, QUYẾT ĐỊNH ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH
Điều 105. Thẩm quyền quyết
định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính
1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền
quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[157].
2. Tòa án nhân dân khu vực[158]
có thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa
vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Điều 106. Trình tự, thủ
tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính
Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định trình tự,
thủ tục Tòa án nhân dân xem xét, quyết định việc áp dụng các biện
pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở
cai nghiện bắt buộc.
Chương IV
THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH
ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH
Điều 107. Gửi quyết định
áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc
và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để thi hành[159]
Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày quyết định áp
dụng biện pháp xử lý hành chính có hiệu lực, Tòa án nhân dân đã ra quyết định
phải gửi quyết định cho người bị áp dụng, cơ quan đã gửi hồ sơ đề nghị áp dụng
biện pháp xử lý hành chính[160], Ủy ban nhân dân cấp xã
nơi người đó cư trú và các cơ quan hữu quan để thi hành theo quy định của pháp
luật; quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng còn được gửi cho
cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của họ.
Điều 108. Thời hiệu thi
hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính
1. Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã,
phường, đặc khu[161] và quyết định áp dụng biện pháp đưa
vào trường giáo dưỡng hết thời hiệu thi hành sau 06 tháng, kể từ ngày quyết định
có hiệu lực pháp luật.
2. Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở
giáo dục bắt buộc và quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện
bắt buộc hết thời hiệu thi hành sau 01 năm, kể từ ngày quyết định có hiệu lực
pháp luật.
3. Trong trường hợp người phải chấp hành quyết định
cố tình trốn tránh việc thi hành, thì thời hiệu quy định tại khoản 1 và
khoản 2 Điều này được tính kể từ thời điểm hành vi trốn tránh chấm dứt.
Điều 109. Thi hành quyết định
áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[162]
1. Sau khi nhận được quyết định áp dụng biện
pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[163], cơ quan, tổ
chức được giao giáo dục, quản lý có trách nhiệm:
a) Tổ chức việc thực hiện biện pháp giáo dục tại
xã, phường, đặc khu[164] đối với người được giáo dục;
b) Phân công người trực tiếp giúp đỡ người được
giáo dục;
c) Ghi sổ theo dõi và định kỳ báo cáo Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp xã về việc thực hiện quyết định giáo dục tại xã, phường, đặc
khu[165];
d) Giúp đỡ, động viên người được giáo dục, đề xuất
với Ủy ban nhân dân cấp xã tạo điều kiện cho họ tìm kiếm việc làm.
2. Người được phân công giúp đỡ phải có kế hoạch
quản lý, giáo dục, giúp đỡ người được giáo dục và được hưởng khoản kinh phí hỗ
trợ cho việc quản lý, giáo dục, giúp đỡ theo quy định của pháp luật.
3. Người được giáo dục phải cam kết bằng văn bản
về việc chấp hành quyết định giáo dục tại xã, phường, đặc khu[166].
4. Gia đình có người được giáo dục có trách nhiệm
phối hợp chặt chẽ với người được phân công giúp đỡ trong việc quản lý, giáo dục
người được giáo dục.
Điều 110. Thi hành quyết định
đưa vào trường giáo dưỡng, quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, quyết định
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
1.[167] Trong thời hạn 05
ngày, kể từ ngày nhận được quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, quyết định
đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt
buộc, cơ quan Công an lập đề nghị đưa người phải chấp hành quyết định vào trường
giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.
2. Thời hạn chấp hành quyết định được tính từ
ngày người phải chấp hành quyết định bị tạm giữ để đưa đi trường giáo dưỡng, cơ
sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Chính phủ quy định chi tiết việc thi hành
quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc,
quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Điều 111. Hoãn hoặc miễn
chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở
cai nghiện bắt buộc
1. Người phải chấp hành quyết định nhưng chưa
đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc
được hoãn chấp hành quyết định trong các trường hợp sau đây:
a) Đang ốm nặng có chứng nhận của cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh từ cấp cơ bản[168] trở lên[169];
b) Gia đình đang có khó khăn đặc biệt được Chủ tịch
Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.
Khi điều kiện hoãn chấp hành quyết định không
còn thì quyết định được tiếp tục thi hành.
2. Người phải chấp hành quyết định nhưng chưa
đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc
được miễn chấp hành quyết định trong các trường hợp sau đây:
a) Mắc bệnh hiểm nghèo có chứng nhận của cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện trở lên[170];
b) Trong thời gian hoãn chấp hành quyết
định quy định tại khoản 1 Điều này mà người đó có tiến bộ rõ rệt
trong việc chấp hành pháp luật hoặc lập công hoặc không còn nghiện ma
túy;
c) Đang mang thai có chứng nhận của cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh từ tuyến huyện trở lên[171].
3. Tòa án nhân dân[172]
nơi đã ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở
giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc xem xét, quyết định việc
hoãn hoặc miễn chấp hành trên cơ sở đơn đề nghị của người phải chấp hành quyết
định hoặc người đại diện hợp pháp của họ; trong trường hợp cần thiết thì đề nghị
cơ quan đã gửi hồ sơ đề nghị có ý kiến trước khi quyết định.
Quyết định miễn hoặc hoãn chấp hành phải được gửi
cho cơ quan thi hành quyết định, người phải chấp hành quyết định; trường hợp
người chưa thành niên được hoãn, miễn chấp hành quyết định đưa vào trường giáo
dưỡng thì quyết định được gửi cho cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của họ.
Điều 112. Giảm thời hạn, tạm
đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại trường giáo dưỡng, cơ sở
giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc
1. Người đang chấp hành quyết định tại trường
giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc đã chấp hành một
nửa thời hạn, nếu có tiến bộ rõ rệt hoặc lập công, thì được xét giảm một phần
hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại.
2. Trong trường hợp người đang chấp hành quyết định
tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc bị ốm
nặng mà được đưa về gia đình điều trị thì được tạm đình chỉ chấp hành quyết định;
thời gian điều trị được tính vào thời hạn chấp hành quyết định; nếu sau khi sức
khỏe được phục hồi mà thời hạn chấp hành còn lại từ 03 tháng trở lên thì người
đó phải tiếp tục chấp hành; nếu trong thời gian tạm đình chỉ mà người đó có tiến
bộ rõ rệt hoặc lập công thì được miễn chấp hành phần thời gian còn lại. Đối với
người mắc bệnh hiểm nghèo, phụ nữ mang thai thì được miễn chấp hành phần thời
gian còn lại.
3. Tòa án nhân dân khu vực[173]
nơi có trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc
quyết định việc giảm thời hạn tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành quy định tại khoản
1 và khoản 2 Điều này trên cơ sở đề nghị của Hiệu trưởng trường giáo dưỡng,
Giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc, Trưởng cơ sở cai nghiện bắt buộc[174].
Quyết định tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành quyết
định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc,
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được gửi cho Tòa án nhân dân nơi ra quyết định,
cơ quan đã gửi hồ sơ đề nghị, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú, trường
giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc, người được tạm
đình chỉ hoặc miễn và gia đình người đó.
4. Đối tượng ốm nặng, mắc bệnh hiểm nghèo mà
không xác định được nơi cư trú thuộc trường hợp được tạm đình chỉ chấp
hành quyết định hoặc được miễn chấp hành phần thời gian còn lại quy
định tại khoản 2 Điều này thì được đưa về cơ sở y tế tại địa phương nơi
trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc đóng trụ
sở để điều trị.
Điều 113. Quản lý người được
hoãn hoặc được tạm đình chỉ chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào
trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt
buộc
1. Người được hoãn hoặc được tạm đình chỉ chấp
hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa
vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có trách nhiệm trình diện với Ủy ban nhân dân cấp
xã[175] nơi họ cư trú.
2. Trong thời gian được hoãn hoặc được tạm đình
chỉ chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt
buộc mà người đó tiếp tục có hành vi vi phạm đã bị xử lý hoặc có căn cứ cho rằng
người đó bỏ trốn thì Tòa án nhân dân[176] đã ra quyết
định hoãn hoặc tạm đình chỉ hủy bỏ quyết định đó và ra quyết định buộc chấp
hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt
buộc.
Trong thời gian được hoãn hoặc được tạm đình chỉ
chấp hành quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mà người đó tiếp tục sử
dụng ma túy hoặc có căn cứ cho rằng người đó bỏ trốn thì Tòa án nhân dân[177] đã ra quyết định hoãn hoặc tạm đình chỉ hủy bỏ quyết
định đó và ra quyết định buộc chấp hành quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt
buộc.
3. Quyết định buộc chấp hành quyết định
đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc được gửi cho cơ quan Công an[178] nơi
Tòa án đã ra quyết định. Ngay sau khi nhận được quyết định, cơ quan Công an phải
tổ chức áp giải đối tượng.
Điều 114. Hết thời hạn chấp
hành quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính
1. Khi người vi phạm đã chấp hành xong quyết định
giáo dục tại xã, phường, đặc khu[179] thì Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp xã cấp giấy chứng nhận cho người đã chấp hành xong và gửi bản
sao cho gia đình người đó.
2. Khi người vi phạm đã chấp hành xong quyết định
đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc thì Hiệu trưởng trường giáo dưỡng, Giám đốc cơ sở giáo dục bắt
buộc, Trưởng cơ sở cai nghiện bắt buộc[180] cấp giấy chứng
nhận cho người đã chấp hành xong và gửi bản sao cho gia đình người đó, Tòa án
nhân dân[181] nơi đã ra quyết định, cơ quan quản lý trường
giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc, Ủy ban nhân dân
cấp xã nơi người đó cư trú.
3. Đối tượng không xác định được nơi cư trú là
người chưa thành niên hoặc người ốm yếu không còn khả năng lao động
thì sau khi hết hạn chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục
bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc được đưa về cơ sở bảo trợ xã hội tại địa
phương nơi trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc
đóng trụ sở.
Chương V
CÁC QUY ĐỊNH KHÁC LIÊN
QUAN ĐẾN VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH
Điều 115. Tạm thời đưa người
đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt
buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ra khỏi nơi chấp hành biện pháp xử lý
hành chính theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự
1. Theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng
hình sự có thẩm quyền, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng, Giám đốc cơ sở giáo dục bắt
buộc, Trưởng cơ sở cai nghiện bắt buộc[182] quyết định tạm
thời đưa người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính ra khỏi nơi chấp hành
biện pháp đó để tham gia tố tụng trong các vụ án có liên quan đến người đó.
2. Thời gian tạm thời đưa ra khỏi nơi chấp hành biện
pháp xử lý hành chính được tính vào thời hạn chấp hành biện pháp đó.
Điều 116. Chuyển hồ sơ của
đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có dấu hiệu tội phạm để truy cứu
trách nhiệm hình sự
1. Khi xem xét hồ sơ của đối tượng để quyết định
áp dụng biện pháp xử lý hành chính, nếu xét thấy hành vi vi phạm của người đó
có dấu hiệu tội phạm thì người có thẩm quyền phải chuyển ngay hồ sơ cho cơ quan
tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền.
2. Đối với trường hợp đã ra quyết định áp
dụng biện pháp xử lý hành chính, nếu sau đó phát hiện hành vi vi phạm của người
bị áp dụng biện pháp này có dấu hiệu tội phạm mà chưa hết thời hiệu truy cứu
trách nhiệm hình sự, thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân hoặc Tòa án nhân dân đã ra
quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính phải hủy quyết định đó và trong
thời hạn 03 ngày, kể từ ngày hủy quyết định phải chuyển hồ sơ của đối tượng cho
cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền.
Trường hợp bị Tòa án xử phạt tù thì thời hạn
đối tượng đã chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo
dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được tính vào thời hạn chấp
hành hình phạt tù; 1,5 ngày chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa
vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được tính bằng
01 ngày chấp hành hình phạt tù.
Điều 117. Truy cứu trách
nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội được thực hiện trước hoặc trong thời
gian chấp hành biện pháp xử lý hành chính
Trường hợp phát hiện người bị áp dụng biện pháp
xử lý hành chính đã thực hiện hành vi phạm tội trước hoặc trong thời gian chấp
hành quyết định, thì theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm
quyền, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đang thi hành biện pháp giáo dục tại
xã, phường, đặc khu[183] hoặc Hiệu trưởng trường giáo dưỡng,
Giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc, Trưởng cơ sở cai nghiện bắt buộc[184] phải ra quyết định tạm đình chỉ thi hành quyết định đối
với người đó và chuyển hồ sơ của đối tượng cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự;
trường hợp bị Tòa án xử phạt tù thì người đó được miễn chấp hành phần thời gian
còn lại trong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính; nếu hình phạt được
áp dụng không phải là hình phạt tù thì người đó có thể phải tiếp tục chấp hành
quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
Điều 118. Xử lý trường hợp
một người vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc vừa thuộc đối tượng
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
1. Trường hợp người thực hiện hành vi vi phạm
pháp luật vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc vừa thuộc đối tượng
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện
bắt buộc.
2. Trường hợp người nghiện ma túy thuộc loại côn
đồ hung hãn thì áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Cơ sở giáo dục
bắt buộc thực hiện việc cai nghiện cho đối tượng này.
3.[185] Trong giai đoạn cắt
cơn, phục hồi, đối tượng đang chấp hành quyết định tại cơ sở cai nghiện bắt buộc
có hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 94 của Luật này
thì bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.
Trưởng cơ sở cai nghiện bắt buộc[186] tiến hành lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở giáo dục bắt
buộc đối với đối tượng có hành vi vi phạm trên cơ sở hồ sơ hiện có và biên bản
về hành vi vi phạm mới gửi Trưởng Công an cấp xã có thẩm quyền[187].
Thủ tục xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở
giáo dục bắt buộc đối với đối tượng này được thực hiện theo quy định của Luật
này.
Phần thứ tư
CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
VÀ BẢO ĐẢM XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG VỀ CÁC
BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN VÀ BẢO ĐẢM XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
Điều 119. Các biện pháp
ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính
Trong trường hợp cần ngăn chặn kịp thời vi phạm
hành chính hoặc để bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính, người có thẩm quyền
có thể áp dụng các biện pháp sau đây theo thủ tục hành chính:
1. Tạm giữ người;
2. Áp giải người vi phạm;
3. Tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành
chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề;
4. Khám người;
5. Khám phương tiện vận tải, đồ vật;
6. Khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm
hành chính;
7. Quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt
Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất;
8. Giao cho gia đình, tổ chức quản lý người bị đề
nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện
pháp xử lý hành chính;
9. Truy tìm đối tượng phải chấp hành quyết định
đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc trong trường hợp bỏ trốn.
Điều 120. Nguyên tắc áp dụng
biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính
1. Khi áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử
lý vi phạm hành chính, người có thẩm quyền phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định tại
các điều từ 120 đến 132 của Luật này, nếu vi phạm thì bị xử
lý theo quy định của pháp luật.
2. Chỉ áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử
lý vi phạm hành chính trong trường hợp cần thiết theo quy định tại Chương II của
Phần này.
3. Người ra quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn
và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính phải chịu trách nhiệm đối với quyết định của
mình.
4. Việc sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ trong việc
áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính phải được thực
hiện theo quy định của pháp luật.
Điều 121. Hủy bỏ hoặc thay
thế biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính
1. Trường hợp việc áp dụng biện pháp ngăn chặn
và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính không còn phù hợp với mục đích và điều kiện
áp dụng theo quy định của Luật này thì quyết định áp dụng biện pháp đó phải được
hủy bỏ.
2. Người có thẩm quyền quyết định áp dụng biện
pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính quyết định hủy bỏ biện pháp
ngăn chặn khi thấy không còn cần thiết hoặc thay thế bằng một biện pháp ngăn chặn
khác.
Chương II
THẨM QUYỀN, THỦ TỤC ÁP
DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN VÀ BẢO ĐẢM XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
Điều 122. Tạm giữ người
theo thủ tục hành chính
1.[188] Việc tạm giữ người
theo thủ tục hành chính chỉ được áp dụng trong các trường hợp sau đây:
a) Cần ngăn chặn, đình chỉ ngay
hành vi gây rối trật tự công cộng, gây thương tích cho người khác;
b) Cần ngăn chặn, đình chỉ ngay
hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới;
c) Để thi hành quyết định đưa
vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
d) Người có hành vi bạo lực gia
đình vi phạm quyết định cấm tiếp xúc theo quy định của pháp luật về phòng, chống
bạo lực gia đình;
đ) Để xác định tình trạng nghiện ma túy đối với
người sử dụng trái phép chất ma túy.
2. Mọi trường hợp tạm giữ người đều phải có quyết
định bằng văn bản và phải giao cho người bị tạm giữ một bản.
3.[189] Thời hạn tạm giữ
người theo thủ tục hành chính không quá 12 giờ; trong trường hợp cần thiết, thời
hạn tạm giữ có thể kéo dài hơn nhưng không quá 24 giờ, kể từ thời điểm bắt đầu
giữ người vi phạm; trường hợp tạm giữ người vi phạm hành chính ở khu vực biên
giới hoặc vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh, hải đảo thì thời hạn tạm giữ được
tính từ thời điểm người vi phạm được áp giải đến nơi tạm giữ.
Đối với trường hợp tạm giữ để xác định tình trạng
nghiện ma túy theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này thì thời hạn tạm giữ có
thể kéo dài hơn nhưng không quá 05 ngày, kể từ thời điểm bắt đầu giữ người vi
phạm.
Đối với người bị tạm giữ trên tàu bay, tàu biển
thì phải chuyển ngay cho cơ quan có thẩm quyền khi tàu bay đến sân bay, tàu biển
cập cảng.
4. Theo yêu cầu của người bị tạm giữ, người ra
quyết định tạm giữ phải thông báo cho gia đình, tổ chức nơi làm việc hoặc học tập
của họ biết. Trong trường hợp tạm giữ người chưa thành niên vi phạm hành chính
vào ban đêm hoặc giữ trên 06 giờ, thì người ra quyết định tạm giữ phải thông
báo ngay cho cha mẹ hoặc người giám hộ của họ biết.
5.[190] Nơi tạm giữ người
theo thủ tục hành chính là nhà tạm giữ hành chính hoặc buồng tạm giữ hành chính
được bố trí tại trụ sở cơ quan, đơn vị nơi làm việc của người có thẩm quyền ra
quyết định tạm giữ người vi phạm hành chính. Trường hợp không có nhà tạm giữ
hành chính hoặc buồng tạm giữ hành chính thì tạm giữ tại phòng trực ban hoặc
phòng khác tại nơi làm việc, nhưng phải bảo đảm các quy định chung.
Cơ quan có chức năng phòng, chống vi phạm pháp
luật mà thường xuyên phải tạm giữ người vi phạm hành chính cần bố trí, thiết kế,
xây dựng nhà tạm giữ hành chính hoặc buồng tạm giữ hành chính riêng, trong đó cần
có nơi tạm giữ riêng cho người chưa thành niên, phụ nữ hoặc người nước ngoài và
phải có cán bộ chuyên trách quản lý, bảo vệ.
Đối với trường hợp tạm giữ người quy định tại điểm
đ khoản 1 Điều này thì nơi tạm giữ là khu lưu giữ tạm thời tại cơ sở cai nghiện
bắt buộc của tỉnh, thành phố[191] hoặc nhà tạm giữ, buồng
tạm giữ hành chính.
Đối với tàu bay, tàu biển, tàu hỏa đã rời sân
bay, bến cảng, nhà ga thì tùy theo điều kiện và đối tượng vi phạm cụ thể, người
chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng, trưởng tàu quyết định nơi tạm giữ và phân công
người thực hiện việc tạm giữ.
6. Nghiêm cấm việc giữ người vi phạm hành chính
trong các phòng tạm giữ, phòng tạm giam hình sự hoặc những nơi không bảo đảm vệ
sinh, an toàn cho người bị tạm giữ.
7. Chính phủ quy định việc tạm giữ người theo thủ
tục hành chính.
Điều 123.
Thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính[192]
1.[193] Trong trường hợp
quy định tại khoản 1 Điều 122 của Luật này, thì những người
có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính sau đây có quyền quyết định tạm giữ
người theo thủ tục hành chính:
a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp;
b) Trưởng Công an cấp xã; Trưởng phòng nghiệp vụ
thuộc Cục nghiệp vụ thuộc Bộ Công an; Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Công an cấp
tỉnh hoặc chức danh tương đương thuộc lực lượng Công an nhân dân;
c) Đồn trưởng, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Biên
phòng cửa khẩu cảng, Hải đội trưởng, Hải đoàn trưởng, Đoàn trưởng Đoàn Đặc nhiệm
Phòng, chống ma túy và tội phạm, Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy Bộ đội Biên phòng;
d) Hải đội trưởng, Hải đoàn trưởng, Tư lệnh
Vùng, Đoàn trưởng thuộc lực lượng Cảnh sát biển;
đ) Hạt trưởng, Đội trưởng, Chi cục trưởng, Trạm
trưởng thuộc cơ quan, đơn vị quản lý về lâm nghiệp, kiểm lâm, thủy sản, kiểm
ngư;
e) Đội trưởng Hải quan cửa khẩu; Đội trưởng Hải
quan ngoài cửa khẩu; Đội trưởng Đội kiểm soát hải quan thuộc Chi cục Hải quan
khu vực; Đội trưởng Đội Kiểm soát chống buôn lậu thuộc Chi cục Điều tra chống
buôn lậu;
g) Đội trưởng Đội quản lý thị trường thuộc Chi cục
Quản lý thị trường thuộc Sở Công Thương; Trưởng phòng nghiệp vụ quản lý thị trường
thuộc Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước;
h) Thẩm phán chủ tọa phiên tòa.
2. Người có thẩm quyền tạm giữ người quy định tại
các điểm từ a đến i khoản 1 Điều này có thể giao quyền cho cấp phó thực hiện thẩm
quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính khi vắng mặt. Việc giao quyền phải
được thể hiện bằng quyết định, trong đó xác định rõ phạm vi, nội dung, thời hạn
giao quyền. Cấp phó được giao quyền phải chịu trách nhiệm trước cấp trưởng và
trước pháp luật về việc thực hiện quyền được giao. Người được giao quyền không
được giao quyền cho người khác.
Điều 124. Áp giải người vi
phạm
1. Người vi phạm không tự nguyện chấp hành yêu cầu
của người có thẩm quyền thì bị áp giải trong các trường hợp sau đây:
a) Bị tạm giữ người theo thủ tục hành chính;
b)[194] Đưa vào hoặc đưa
trở lại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc đối
với đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 111, khoản 2 Điều 112
không tự giác chấp hành khi điều kiện hoãn, tạm đình chỉ không còn và đối tượng
quy định tại khoản 2 Điều 132 của Luật này.
2. Người có thẩm quyền đang thi hành công vụ thực
hiện việc áp giải người vi phạm.
3. Chính phủ quy định chi tiết việc áp giải người
vi phạm.
Điều 125. Tạm giữ tang vật,
phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính
1. Việc tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy
phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính chỉ được áp dụng trong trường
hợp thật cần thiết sau đây:
a)[195] Để xác định vi phạm
hành chính hoặc để làm rõ các tình tiết trong vụ việc vi phạm mà nếu không tạm
giữ thì không có căn cứ lập biên bản vi phạm hành chính hoặc ra quyết định xử
phạt, bao gồm cả trường hợp tạm giữ để định giá tang vật vi phạm hành chính làm
căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt theo quy định tại Điều 60 của Luật này;
b) Để ngăn chặn ngay hành vi vi phạm hành chính
mà nếu không tạm giữ thì sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội;
c)[196] Để bảo đảm thi
hành quyết định xử phạt theo quy định tại khoản 6 và khoản 7 Điều này.
2. Việc tạm giữ tang vật, phương tiện quy định tại
khoản 1 Điều này phải được chấm dứt ngay sau khi xác minh được tình tiết làm
căn cứ quyết định xử phạt, hành vi vi phạm không còn gây nguy hiểm cho xã hội
hoặc quyết định xử phạt được thi hành.
Trường hợp được nộp tiền phạt nhiều lần theo quy
định tại Điều 79 của Luật này, sau khi nộp tiền phạt lần đầu
thì người vi phạm được nhận lại tang vật, phương tiện bị tạm giữ.
3.[197]
Người có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi
phạm hành chính quy định tại Chương II Phần thứ hai của Luật này thì có thẩm
quyền ra quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy
phép, chứng chỉ hành nghề. Thẩm quyền tạm giữ không phụ thuộc vào giá trị của
tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.
4.[198] Việc tạm giữ tang
vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề khi có một
trong các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này và được thực hiện như sau:
a) Người có thẩm quyền đang giải quyết vụ
việc lập biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép,
chứng chỉ hành nghề theo quy định tại khoản 9 Điều này;
b) Trường hợp người có thẩm quyền lập biên bản
vi phạm hành chính thực hiện tạm giữ cùng thời điểm lập biên bản vi phạm hành
chính thì không phải lập biên bản tạm giữ. Biên bản vi phạm hành chính trong
trường hợp này phải thể hiện rõ tên, số lượng, chủng loại, tình trạng của tang
vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ;
c) Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi lập biên bản,
người lập biên bản phải báo cáo người có thẩm quyền tạm giữ về tang vật, phương
tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề đã tạm giữ để xem xét
ra quyết định tạm giữ; quyết định tạm giữ phải được giao cho người vi phạm, đại
diện tổ chức vi phạm 01 bản;
d) Trường hợp không ra quyết định tạm giữ thì phải
trả lại ngay tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ
hành nghề;
đ) Đối với trường hợp tang vật
là hàng hóa dễ hư hỏng thì người tạm giữ phải báo cáo ngay thủ trưởng trực tiếp
để xử lý, nếu để hư hỏng hoặc thất thoát thì phải bồi thường theo quy định của
pháp luật.
5.[199]
Người lập biên bản tạm giữ, người ra quyết định tạm giữ có trách nhiệm bảo quản
tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề. Trong
trường hợp tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành
nghề bị mất, bán trái quy định, đánh tráo hoặc hư hỏng, mất linh kiện, thay thế
thì người ra quyết định tạm giữ phải chịu trách nhiệm bồi thường và bị xử lý
theo quy định của pháp luật.
5a.[200]
Khi thực hiện việc tạm giữ, người lập biên bản, người có thẩm quyền tạm giữ phải
niêm phong tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ, trừ các trường
hợp sau đây:
a) Động vật, thực vật sống;
b) Hàng hóa, vật phẩm dễ hư hỏng,
khó bảo quản theo quy định của pháp luật.
c)[201]
Hàng siêu trường, siêu trọng theo quy định của pháp luật;
d)[202]
Hàng hóa khác không thể niêm phong theo quy định của pháp luật.
5b.[203]
Trong trường hợp tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ được niêm phong
thì phải tiến hành ngay trước mặt người vi phạm; nếu người vi phạm vắng mặt thì
phải tiến hành niêm phong trước mặt đại diện gia đình người vi phạm, đại diện tổ
chức hoặc đại diện chính quyền cấp xã hoặc ít nhất 01 người chứng kiến.
5c.[204]
Biên bản, quyết định tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy
phép, chứng chỉ hành nghề có thể được lập, gửi bằng phương thức điện tử.
6. Trong trường hợp chỉ áp dụng hình thức phạt
tiền đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền xử phạt
có quyền tạm giữ một trong các loại giấy tờ theo thứ tự: giấy phép lái xe hoặc
giấy phép lưu hành phương tiện hoặc giấy tờ cần thiết khác có liên quan đến
tang vật, phương tiện cho đến khi cá nhân, tổ chức đó chấp hành xong quyết định
xử phạt. Nếu cá nhân, tổ chức vi phạm không có giấy tờ nói trên, thì người có
thẩm quyền xử phạt có thể tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, trừ
trường hợp quy định tại khoản 10 Điều này.
7. Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính thuộc trường
hợp bị áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành
nghề thì có thể bị tạm giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề để bảo đảm thi hành
quyết định xử phạt. Việc tạm giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề trong thời gian
chờ ra quyết định không làm ảnh hưởng quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành
nghề của cá nhân, tổ chức đó.
8.[205]
Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ
hành nghề không quá 07 ngày làm việc, kể từ ngày tạm giữ; trường hợp vụ việc phải
chuyển hồ sơ đến người có thẩm quyền xử phạt thì thời hạn tạm giữ không quá 10
ngày làm việc, kể từ ngày tạm giữ.
Thời hạn tạm giữ có thể được
kéo dài đối với những vụ việc thuộc trường hợp quy định tại điểm
b khoản 1 Điều 66 của Luật này nhưng không quá 01 tháng, kể từ ngày tạm giữ.
Đối với vụ việc thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều
66 của Luật này thì thời hạn tạm giữ có thể được tiếp tục kéo dài nhưng
không quá 02 tháng, kể từ ngày tạm giữ.
Thời hạn tạm giữ tang vật,
phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề được tính từ thời
điểm tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị
tạm giữ thực tế.
Thời hạn tạm giữ tang vật,
phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề không vượt quá
thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều
66 của Luật này. Trường hợp tạm giữ để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt
quy định tại điểm c khoản 1 Điều này thì thời hạn tạm giữ kết thúc khi quyết định
xử phạt được thi hành xong.
Người có thẩm quyền tạm giữ phải
ra quyết định tạm giữ, kéo dài thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm
hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề.
9.[206] Biên bản tạm giữ
tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề phải
ghi rõ tên, số lượng, chủng loại, tình trạng của tang vật, phương tiện vi phạm
hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ và phải có chữ ký của người
thực hiện việc tạm giữ, người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm; trường hợp
không có chữ ký của người vi phạm thì phải có chữ ký của ít nhất 01 người chứng
kiến. Biên bản phải được lập thành 02 bản, giao cho người vi phạm, đại diện tổ
chức vi phạm 01 bản.
10.[207] Đối với phương
tiện giao thông vi phạm hành chính thuộc trường hợp bị tạm giữ để bảo đảm thi
hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nếu tổ chức, cá nhân vi phạm có địa
chỉ rõ ràng, có điều kiện bến bãi, bảo quản phương tiện hoặc khả năng tài chính
đặt tiền bảo lãnh thì có thể được giữ phương tiện vi phạm dưới sự quản lý của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
11.[208] Chính phủ quy định
chi tiết Điều này.
Điều 126. Xử lý tang vật,
phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ theo thủ tục hành chính
1.[209] Người ra quyết định
tạm giữ phải xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng
chỉ hành nghề bị tạm giữ theo biện pháp ghi trong quyết định xử phạt hoặc trả lại
cho cá nhân, tổ chức nếu không áp dụng hình thức xử phạt tịch thu đối với tang
vật, phương tiện bị tạm giữ, tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề.
Đối với tang vật, phương tiện đang bị tạm giữ do
bị chiếm đoạt, sử dụng trái phép để vi phạm hành chính thuộc trường hợp bị tịch
thu thì trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp; cá
nhân, tổ chức vi phạm phải nộp một khoản tiền tương đương trị giá tang vật,
phương tiện vi phạm hành chính vào ngân sách nhà nước. Trường hợp chủ sở hữu,
người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp có lỗi cố ý trong việc để người vi phạm
sử dụng tang vật, phương tiện vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 26 của Luật này thì tang vật, phương tiện đó bị tịch thu
sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với tang vật, phương tiện thuộc trường hợp bị
tịch thu nhưng đã đăng ký biện pháp bảo đảm thế chấp tài sản theo quy định của
pháp luật về dân sự thì bên nhận thế chấp được nhận lại tang vật, phương tiện
hoặc trị giá tương ứng với nghĩa vụ được bảo đảm; cá nhân, tổ chức vi phạm phải
nộp một khoản tiền tương đương trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính
vào ngân sách nhà nước.
Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính
bị tạm giữ là tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, sau khi chấm dứt việc tạm giữ
theo quy định và không thuộc trường hợp bị áp dụng hình thức xử phạt tịch thu,
người ra quyết định tạm giữ trả lại tang vật, phương tiện theo đề nghị của bên
nhận bảo đảm là tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua
bán, xử lý nợ.
2. Đối với tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng
chỉ hành nghề bị tạm giữ để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt theo khoản 6 Điều 125 của Luật này phải được trả ngay cho người bị
xử phạt sau khi thi hành xong quyết định xử phạt.
3. Đối với tang vật vi phạm hành chính là hàng
hóa, vật phẩm dễ bị hư hỏng thì người ra quyết định tạm giữ phải tổ chức bán
ngay theo giá thị trường và việc bán phải được lập thành biên bản. Tiền thu được
phải gửi vào tài khoản tạm giữ[210] mở tại Kho bạc Nhà
nước. Nếu sau đó theo quyết định của người có thẩm quyền, tang vật đó bị tịch
thu thì tiền thu được phải nộp vào ngân sách nhà nước; trường hợp tang vật đó
không bị tịch thu thì tiền thu được phải trả cho chủ sở hữu, người quản lý hoặc
người sử dụng hợp pháp.
4.[211]
Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 125 của Luật này khi hết thời hạn
tạm giữ mà người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp
không đến nhận mà không có lý do chính đáng thì được xử lý như sau:
a) Trường hợp xác định được người vi phạm, chủ sở
hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp của tang vật, phương tiện thì
người ra quyết định tạm giữ phải thông báo cho họ 02 lần. Lần thông báo thứ nhất
phải được thực hiện trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn tạm
giữ tang vật, phương tiện. Lần thông báo thứ hai được thực hiện trong thời hạn
07 ngày làm việc, kể từ ngày thông báo thứ nhất. Hết thời hạn 01 tháng, kể từ
ngày thông báo lần thứ hai nếu người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc
người sử dụng hợp pháp không đến nhận thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, người
có thẩm quyền phải ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành
chính;
b) Trường hợp không xác định được người vi phạm,
chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp của tang vật, phương tiện
thì người ra quyết định tạm giữ phải thông báo 02 lần trên phương tiện thông
tin đại chúng của trung ương hoặc địa phương nơi tạm giữ tang vật, phương tiện.
Lần thông báo thứ nhất phải được thực hiện trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể
từ ngày hết thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện. Lần thông báo thứ hai được
thực hiện trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày thông báo thứ nhất. Hết
thời hạn 01 năm, kể từ ngày thông báo lần thứ hai nếu người vi phạm, chủ sở hữu,
người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp không đến nhận thì trong thời hạn 05
ngày làm việc, người có thẩm quyền phải ra quyết định tịch thu tang vật, phương
tiện vi phạm hành chính.
c)[212] Sau thời gian
thông báo lần thứ hai quy định tại điểm b khoản này, người có thẩm quyền ra quyết
định tạm giữ: xử lý theo quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 125 của
Luật này trong trường hợp tang vật, phương tiện vi phạm hành chính có khả
năng bị hư hỏng, suy giảm chất lượng trong quá trình quản lý, bảo quản; xử lý
theo quy định tại khoản 5 Điều này trong trường hợp tang vật, phương tiện vi phạm
hành chính có nguy cơ gây cháy nổ, ô nhiễm môi trường hoặc ảnh hưởng đến sức khỏe
cộng đồng trong quá trình quản lý, bảo quản.
Tiền thu được từ việc bán tang vật, phương tiện
phải gửi vào tài khoản tạm giữ mở tại Kho bạc Nhà nước. Nếu hết thời hạn quy định
tại điểm b khoản này mà người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử
dụng hợp pháp tang vật, phương tiện không đến nhận thì nộp tiền thu được vào
ngân sách nhà nước.
Việc xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành
chính trong trường hợp không xác định được người vi phạm, chủ sở hữu, người quản
lý hoặc người sử dụng hợp pháp được thực hiện theo quy định của Chính phủ.
4a.[213] Đối với tang vật,
phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ theo quy định tại điểm
c khoản 1 Điều 125 của Luật này khi hết thời hạn thi hành quyết định xử phạt
mà cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính không thi hành quyết định xử
phạt thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn thi hành quyết
định xử phạt, người có thẩm quyền tạm giữ phải chuyển tang vật, phương tiện vi
phạm hành chính cho người có thẩm quyền cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt để
quyết định việc kê biên, bán đấu giá theo quy định của pháp luật để bảo đảm thi
hành quyết định xử phạt.
4b.[214] Đối với giấy
phép, chứng chỉ hành nghề đã quá thời hạn tạm giữ hoặc hết thời hiệu thi hành
quyết định xử phạt nếu người vi phạm không đến nhận mà không có lý do chính
đáng thì trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn tạm giữ hoặc
hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt, người có thẩm quyền tạm giữ phải
chuyển cho cơ quan đã cấp các loại giấy tờ đó để tiến hành việc thu hồi theo
quy định của pháp luật và thông báo cho người vi phạm biết.
5. Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành
chính là hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng
và môi trường, văn hóa phẩm độc hại thì phải tiến hành tiêu hủy theo quy định tại
Điều 33 của Luật này.
6.[215] Đối với các chất
ma túy và những vật thuộc loại cấm tàng trữ, cấm lưu hành thì tịch thu hoặc
tiêu hủy theo quy định của Luật này.
7. Người có tang vật, phương tiện vi phạm hành
chính bị tạm giữ chỉ phải trả chi phí lưu kho, phí bến bãi, phí bảo quản tang vật,
phương tiện và các khoản chi phí khác trong thời gian tang vật, phương tiện bị
tạm giữ theo quy định tại khoản 8 Điều 125 của Luật này.
Không thu phí lưu kho, phí bến bãi và phí bảo quản
trong thời gian tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tạm giữ nếu chủ
tang vật, phương tiện không có lỗi trong việc vi phạm hành chính hoặc áp dụng
biện pháp tịch thu đối với tang vật, phương tiện.
Chính phủ quy định chi tiết về mức phí tạm giữ
tang vật, phương tiện quy định tại Điều 125 của Luật này.
Điều 127. Khám người theo
thủ tục hành chính
1. Việc khám người theo thủ tục hành chính chỉ
được tiến hành khi có căn cứ cho rằng người đó cất giấu trong người đồ vật, tài
liệu, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.
2. Những người được quy định tại khoản
1 Điều 123 của Luật này có quyền quyết định khám người theo thủ tục hành
chính.
Trong trường hợp có căn cứ để cho rằng nếu không
tiến hành khám ngay thì đồ vật, tài liệu, phương tiện được sử dụng để vi phạm
hành chính bị tẩu tán, tiêu hủy, thì ngoài những người được quy định tại khoản 1 Điều 123 của Luật này, chiến sĩ cảnh sát nhân dân, cảnh
sát viên cảnh sát biển, chiến sĩ bộ đội biên phòng, kiểm lâm viên, công chức hải
quan, kiểm soát viên thị trường đang thi hành công vụ được khám người theo thủ
tục hành chính và báo cáo ngay bằng văn bản cho thủ trưởng của mình là một
trong những người được quy định tại khoản 1 Điều 123 của Luật
này và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc khám người.
3. Việc khám người phải có quyết định bằng văn bản,
trừ trường hợp cần khám ngay theo quy định tại đoạn 2 khoản 2 Điều này.
4. Trước khi tiến hành khám người, người khám phải
thông báo quyết định cho người bị khám biết. Khi khám người, nam khám nam, nữ
khám nữ và phải có người cùng giới chứng kiến.
5. Mọi trường hợp khám người đều phải lập biên bản.
Quyết định khám người và biên bản khám người phải được giao cho người bị khám
01 bản.
Điều 128. Khám phương tiện
vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính
1. Việc khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ
tục hành chính chỉ được tiến hành khi có căn cứ cho rằng trong phương tiện vận
tải, đồ vật đó có cất giấu tang vật vi phạm hành chính.
2. Những người được quy định tại khoản
1 Điều 123 của Luật này có quyền khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ
tục hành chính.
3. Trong trường hợp có căn cứ để cho rằng nếu
không tiến hành khám ngay thì tang vật vi phạm hành chính sẽ bị tẩu tán, tiêu hủy,
thì ngoài những người quy định tại khoản 2 Điều này, chiến sĩ cảnh sát nhân
dân, cảnh sát viên cảnh sát biển, chiến sĩ bộ đội biên phòng, kiểm lâm viên,
công chức thuế, công chức hải quan, kiểm soát viên thị trường, thanh tra viên
đang thi hành công vụ được khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành
chính và phải báo cáo ngay cho thủ trưởng trực tiếp của mình và phải chịu trách
nhiệm về việc khám.
4. Việc khám phương tiện vận tải, đồ vật phải có
quyết định bằng văn bản, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này.
Khi tiến hành khám phương tiện vận tải, đồ vật phải
có mặt chủ phương tiện vận tải, đồ vật hoặc người điều khiển phương tiện vận tải
và 01 người chứng kiến; trong trường hợp chủ phương tiện, đồ vật hoặc người điều
khiển phương tiện vắng mặt thì phải có ít nhất 01 người chứng kiến[216].
5. Mọi trường hợp khám phương tiện vận tải, đồ vật
đều phải lập biên bản. Quyết định khám và biên bản phải giao cho chủ phương tiện
vận tải, đồ vật hoặc người điều khiển phương tiện vận tải 01 bản.
Điều 129. Khám nơi cất giấu
tang vật, phương tiện vi phạm hành chính
1. Khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm
hành chính chỉ được tiến hành khi có căn cứ cho rằng ở nơi đó có cất giấu tang
vật, phương tiện vi phạm hành chính.
2. Những người được quy định tại khoản
1 Điều 123 của Luật này có quyền quyết định khám nơi cất giấu tang vật,
phương tiện vi phạm hành chính; trong trường hợp nơi cất giấu tang vật, phương
tiện vi phạm hành chính là chỗ ở thì đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã
nơi cư trú của cá nhân[217] xem xét, quyết định.
3. Khi khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện
vi phạm hành chính phải có mặt người chủ nơi bị khám hoặc người thành niên
trong gia đình họ và người chứng kiến. Trong trường hợp người chủ nơi bị khám,
người thành niên trong gia đình họ vắng mặt mà việc khám không thể trì hoãn thì
phải có đại diện chính quyền và ít nhất 01 người chứng kiến[218].
4. Không được khám nơi cất giấu tang vật, phương
tiện vi phạm hành chính vào ban đêm, trừ trường hợp khẩn cấp hoặc việc khám
đang được thực hiện mà chưa kết thúc nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.
5. Mọi trường hợp khám nơi cất giấu tang vật,
phương tiện vi phạm hành chính phải có quyết định bằng văn bản và phải lập biên
bản. Quyết định và biên bản khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm
hành chính phải được giao cho người chủ nơi bị khám 01 bản.
Điều 130. Quản lý đối với
người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất
1. Quản lý đối với người nước ngoài vi phạm pháp
luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất được áp dụng khi có căn cứ
cho rằng nếu không áp dụng biện pháp này thì người đó sẽ trốn tránh hoặc cản trở
việc thi hành quyết định xử phạt trục xuất hoặc để ngăn chặn người đó tiếp tục
thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.
2. Thủ trưởng Cơ quan quản lý xuất cảnh, nhập cảnh
hoặc Giám đốc Công an cấp tỉnh nơi lập hồ sơ đề nghị trục xuất ra quyết định quản
lý đối với người nước ngoài vi phạm pháp luật trong thời gian làm thủ tục trục
xuất bằng các biện pháp sau:
a) Hạn chế việc đi lại của người bị quản lý;
b) Chỉ định chỗ ở của người bị quản lý;
c) Tạm giữ hộ chiếu hoặc giấy tờ tùy thân khác
thay hộ chiếu.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 131. Quản lý người bị
đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời gian làm thủ tục áp dụng
biện pháp xử lý hành chính[219]
1. Đối với người bị đề nghị áp dụng biện pháp
đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện
bắt buộc có nơi cư trú ổn định, cơ quan, người có thẩm quyền lập hồ sơ quyết định
giao cho gia đình quản lý đối tượng trong thời gian làm thủ tục xem xét, quyết
định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
2. Đối với người không có nơi cư trú ổn định hoặc
có nơi cư trú ổn định nhưng gia đình không đồng ý quản lý, việc quản lý trong
thời gian làm thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo
dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được
thực hiện như sau:
a) Cơ quan, người có thẩm quyền lập hồ sơ quyết
định giao cho trung tâm, cơ sở tiếp nhận đối tượng xã hội hoặc cơ sở cai nghiện
bắt buộc của tỉnh, thành phố[220] quản lý đối với người
bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
b) Cơ quan, người có thẩm quyền
lập hồ sơ giao cho cơ quan Công an cấp xã[221] nơi người
bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục
bắt buộc cư trú hoặc có hành vi vi phạm tổ chức quản lý.
3. Thời hạn quản lý được tính từ khi lập hồ sơ
cho đến khi người có thẩm quyền đưa đối tượng đi áp dụng biện pháp xử lý hành
chính theo quyết định của Tòa án.
Thời gian quản lý tại trung tâm, cơ sở đối với đối
tượng theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều này được trừ vào thời hạn áp dụng
biện pháp xử lý hành chính.
4. Quyết định giao cho gia đình hoặc cơ quan, tổ
chức quản lý phải ghi rõ: ngày, tháng, năm quyết định; họ, tên, chức vụ của người
quyết định; họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người được giao quản
lý hoặc tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức được giao quản lý; họ, tên, ngày,
tháng, năm sinh, nơi cư trú của người được quản lý; lý do, thời hạn, trách nhiệm
của người được quản lý, trách nhiệm của người hoặc cơ quan, tổ chức quản lý và
trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đối tượng cư trú; chữ ký của người
quyết định giao quản lý. Quyết định này phải được gửi ngay cho gia đình hoặc cơ
quan, tổ chức nhận quản lý, người được quản lý để thực hiện.
5. Trong thời gian quản lý, gia đình, cơ quan, tổ
chức được giao quản lý có trách nhiệm sau đây:
a) Không để người được quản lý tiếp tục vi phạm
pháp luật;
b) Bảo đảm sự có mặt của người được quản lý khi
có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa
vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
c) Báo cáo kịp thời với cơ quan, người có thẩm
quyền đã ra quyết định giao quản lý trong trường hợp người được quản lý bỏ trốn
hoặc có hành vi vi phạm pháp luật.
6. Trong thời gian quản lý, người được quản lý có
trách nhiệm sau đây:
a) Chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật
về tạm trú, tạm vắng. Khi đi ra khỏi địa bàn xã, phường, đặc khu[222] để ở lại địa phương khác phải thông báo cho gia đình,
cơ quan, tổ chức được giao quản lý biết về địa chỉ, thời gian tạm trú tại đó;
b) Có mặt kịp thời tại trụ sở của cơ quan, người
có thẩm quyền lập hồ sơ khi có yêu cầu.
7. Trong thời gian quản lý, cơ quan, người có thẩm
quyền ra quyết định quản lý có trách nhiệm sau đây:
a) Thông báo cho gia đình, cơ quan, tổ chức được
giao quản lý và người được quản lý về quyền và nghĩa vụ của họ trong thời gian
quản lý;
b) Thực hiện các biện pháp hỗ trợ gia đình, cơ
quan, tổ chức được giao quản lý trong việc quản lý, giám sát người được quản
lý;
c) Khi được thông báo về việc người được quản lý
bỏ trốn hoặc có hành vi vi phạm pháp luật, cơ quan, người có thẩm quyền đã ra
quyết định giao quản lý phải kịp thời có biện pháp xử lý theo thẩm quyền hoặc
thông báo cho cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.
8. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 132. Truy tìm đối tượng
đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc,
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong trường hợp bỏ trốn
1. Trong trường hợp người đã có quyết định đưa
vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện
bắt buộc bỏ trốn trước khi được đưa vào trường hoặc cơ sở, thì cơ quan Công an[223] nơi lập hồ sơ ra quyết định truy tìm đối tượng.
2. Trong trường hợp người đang chấp hành tại trường
giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc bỏ trốn thì Hiệu
trưởng trường giáo dưỡng, Giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc và Trưởng cơ sở cai
nghiện bắt buộc[224] ra quyết định truy tìm đối tượng.
Cơ quan Công an có trách nhiệm phối hợp với trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt
buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc trong việc truy tìm đối tượng để đưa người đó
trở lại trường hoặc cơ sở.
3.[225]
Trường hợp người đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng quy định tại khoản
1 Điều này đủ 18 tuổi tại thời điểm truy tìm được, cơ quan Công an cấp xã nơi lập
hồ sơ[226] đề nghị Tòa án nhân dân khu vực[227] xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở
giáo dục bắt buộc nếu có đủ điều kiện thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa
vào cơ sở giáo dục bắt buộc.
Trường hợp người đang chấp hành tại trường giáo
dưỡng quy định tại khoản 2 Điều này đủ 18 tuổi tại thời điểm truy tìm được, Hiệu
trưởng trường giáo dưỡng lập hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân khu vực[228] nơi có trường giáo dưỡng xem xét, quyết định áp dụng
biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc nếu có đủ điều kiện thuộc đối tượng bị
áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.
4. Thời gian bỏ trốn không được tính vào thời hạn
chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở
giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Phần thứ năm
NHỮNG QUY ĐỊNH ĐỐI VỚI
NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN VI PHẠM HÀNH CHÍNH
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG VỀ XỬ
LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
Điều 133. Phạm vi áp dụng
Việc xử lý đối với người chưa thành niên vi phạm
hành chính thực hiện theo quy định của Phần thứ năm và các quy định khác có
liên quan của Luật này.
Điều 134. Nguyên tắc xử lý
Ngoài những nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính
quy định tại Điều 3 của Luật này, việc xử lý đối với người
chưa thành niên còn được áp dụng các nguyên tắc sau đây:
1. Việc xử lý người chưa thành niên vi phạm hành
chính chỉ được thực hiện trong trường hợp cần thiết nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa
chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội.
Trong quá trình xem xét xử lý người chưa thành
niên vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính phải bảo
đảm lợi ích tốt nhất cho người chưa thành niên. Biện pháp đưa vào trường giáo
dưỡng chỉ được áp dụng khi xét thấy không có biện pháp xử lý khác phù hợp hơn;
2. Việc xử lý người chưa thành niên vi phạm hành
chính còn căn cứ vào khả năng nhận thức của người chưa thành niên về tính chất
nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm, nguyên nhân và hoàn cảnh vi phạm để
quyết định việc xử phạt hoặc áp dụng biện pháp xử lý hành chính phù hợp;
3.[229]
Việc áp dụng hình thức xử phạt, quyết định mức xử phạt đối với người chưa thành
niên vi phạm hành chính phải nhẹ hơn so với người thành niên có cùng hành vi vi
phạm hành chính.
Trường hợp người từ đủ 14 tuổi
đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính thì không áp dụng hình thức phạt tiền.
Trường hợp người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi
vi phạm hành chính bị phạt tiền thì mức tiền phạt không quá 1/2 mức tiền phạt
áp dụng đối với người thành niên; bị buộc phải nộp một khoản tiền tương đương
trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính vào ngân sách nhà nước theo
quy định tại khoản 1 Điều 126 của Luật này thì số tiền nộp
vào ngân sách nhà nước bằng 1/2 trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành
chính. Trường hợp không có tiền nộp phạt hoặc không có khả năng thực hiện biện
pháp khắc phục hậu quả thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải thực hiện thay;
4. Trong quá trình xử lý người chưa thành niên
vi phạm hành chính, bí mật riêng tư của người chưa thành niên phải được tôn trọng
và bảo vệ;
5. Các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành
chính phải được xem xét áp dụng khi có đủ các điều kiện quy định tại Chương II
của Phần này. Việc áp dụng biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính không được
coi là đã bị xử lý vi phạm hành chính.
Điều 135. Áp dụng các hình
thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả
1. Các hình thức xử phạt áp dụng đối với người
chưa thành niên bao gồm:
a) Cảnh cáo;
b) Phạt tiền;
c) Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành
chính.
2. Các biện pháp khắc phục hậu quả áp dụng đối với
người chưa thành niên bao gồm:
a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu;
b) Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình
trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh;
c) Buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho
sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường; văn hóa phẩm có nội dung
độc hại;
d) Buộc nộp lại khoản thu bất hợp pháp có được
do thực hiện hành vi vi phạm hoặc buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật,
phương tiện đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái với quy định của pháp luật.
Điều 136. Áp dụng các biện
pháp xử lý hành chính
1. Biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[230] được áp dụng đối với người chưa thành niên vi phạm
pháp luật theo quy định tại Chương I Phần thứ ba của Luật này. Người chưa thành
niên bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu[231]
phải được cha mẹ hoặc người giám hộ quản lý, trường hợp không có nơi cư trú ổn
định thì phải ở tại cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở trợ giúp trẻ em; được đi học
hoặc tham gia các chương trình học tập hoặc dạy nghề khác; tham gia các chương
trình tham vấn, phát triển kỹ năng sống tại cộng đồng.
2. Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng được áp dụng
đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật theo quy định tại Chương II Phần
thứ ba của Luật này.
Điều 137. Thời hạn được
coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên
1. Người chưa thành niên được coi là chưa bị xử
phạt vi phạm hành chính nếu trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày chấp hành xong
quyết định xử phạt hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt mà
không tái phạm.
2. Người chưa thành niên bị áp dụng biện pháp xử
lý hành chính nếu trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử
lý hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử lý mà không tái phạm thì
được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
Chương II
CÁC BIỆN PHÁP THAY THẾ
XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
Điều 138. Các biện pháp
thay thế xử lý vi phạm hành chính
Các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính
đối với người chưa thành niên bao gồm:
1. Nhắc nhở;
2. Quản lý tại gia đình;
3.[232] Giáo dục dựa vào
cộng đồng.
Điều 139. Nhắc nhở
1. Nhắc nhở là biện pháp thay thế xử lý vi phạm
hành chính để chỉ ra những vi phạm do người chưa thành niên thực hiện, được thực
hiện đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính mà theo quy định của pháp
luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính khi có đủ các điều kiện sau:
a) Vi phạm hành chính theo quy định bị phạt cảnh
cáo;
b) Người chưa thành niên vi phạm đã tự nguyện
khai báo, thành thật hối lỗi về hành vi vi phạm của mình.
2. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này, người
có thẩm quyền xử phạt quyết định áp dụng biện pháp nhắc nhở.
Nhắc nhở được thực hiện bằng lời nói, ngay tại
chỗ.
Điều 140. Quản lý tại gia
đình
1.[233]
Quản lý tại gia đình là biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính áp dụng đối
với người chưa thành niên thuộc đối tượng quy định tại khoản
3, khoản 4 và người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi sử dụng trái phép chất
ma túy quy định tại khoản 5 Điều 90 của Luật này khi có đủ
các điều kiện sau đây:
a) Đã tự nguyện khai báo, thành
thật hối lỗi về hành vi vi phạm của mình;
b) Có môi trường sống thuận lợi cho việc thực hiện
biện pháp này;
c) Cha mẹ hoặc người giám hộ có đủ điều kiện thực
hiện việc quản lý và tự nguyện nhận trách nhiệm quản lý tại gia đình.
2. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này, Chủ tịch
Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định áp dụng biện pháp quản lý tại gia đình.
3. Thời hạn áp dụng biện pháp quản lý tại gia
đình từ 03 tháng đến 06 tháng.
4. Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày quyết định
áp dụng biện pháp quản lý tại gia đình có hiệu lực, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
xã nơi đã ra quyết định phải gửi quyết định cho gia đình và phân công tổ chức,
cá nhân nơi người đó cư trú để phối hợp, giám sát thực hiện.
Người chưa thành niên đang quản lý tại gia đình
được đi học hoặc tham gia các chương trình học tập hoặc dạy nghề khác; tham gia
các chương trình tham vấn, phát triển kỹ năng sống tại cộng đồng.
5. Trong thời gian quản lý tại gia đình, nếu người
chưa thành niên tiếp tục vi phạm pháp luật thì người có thẩm quyền quy định tại
khoản 2 Điều này quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp này và xử lý theo
quy định của pháp luật.
Điều
140a. Giáo dục dựa vào cộng đồng[234]
1. Giáo dục dựa vào cộng đồng
là biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính áp dụng đối với người từ đủ 12
tuổi đến dưới 14 tuổi thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều
92 của Luật này có nơi cư trú ổn định, đang theo học tại cơ sở giáo dục và
cha mẹ, người giám hộ cam kết bằng văn bản về việc quản lý, giáo dục.
2. Căn cứ quy định tại khoản 1
Điều này, Tòa án nhân dân quyết định áp dụng biện pháp giáo dục dựa vào cộng đồng.
3. Thời hạn áp dụng biện pháp
giáo dục dựa vào cộng đồng từ 06 tháng đến 24 tháng.
4. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc, kể từ ngày quyết định áp dụng biện pháp giáo dục dựa vào cộng đồng có hiệu
lực, Tòa án nhân dân nơi đã ra quyết định phải gửi quyết định cho cha mẹ hoặc
người giám hộ của người chưa thành niên và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó
cư trú hoặc cơ sở trợ giúp trẻ em, cơ sở bảo trợ xã hội để phối hợp, giám sát
thực hiện.
Người chưa thành niên bị áp dụng biện pháp giáo
dục dựa vào cộng đồng được đi học hoặc tham gia các chương trình học tập hoặc dạy
nghề khác; tham gia các chương trình tham vấn, phát triển kỹ năng sống tại cộng
đồng.
Phần thứ sáu
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH[235]
Điều 141. Hiệu lực thi
hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 7 năm 2013, trừ các quy định liên quan đến việc áp dụng các biện pháp xử
lý hành chính do Tòa án nhân dân xem xét, quyết định thì có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2014.
2. Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính số
44/2002/PL-UBTVQH10, Pháp lệnh số 31/2007/PL-UBTVQH11 sửa đổi một số điều của
Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và Pháp lệnh số 04/2008/UBTVQH12 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính hết hiệu lực kể
từ ngày Luật này có hiệu lực, trừ các quy định liên quan đến việc áp dụng các
biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục, đưa vào cơ sở chữa
bệnh tiếp tục có hiệu lực đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2013.
Điều 142.[236] (được bãi bỏ)
|
|
XÁC THỰC VĂN BẢN HỢP NHẤT
CHỦ NHIỆM
Lê Quang Tùng
|
[1] Luật Hải quan số
54/2014/QH13 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Hải quan.”.
Luật Thủy sản số 18/2017/QH14 có căn cứ ban hành
như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Thủy sản.”.
Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Xử lý vi phạm hành chính có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung
một số điều theo Luật số 54/2014/QH13 và Luật số 18/2017/QH14.”.
Luật số 09/2022/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Tần số vô tuyến điện có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Tần số vô tuyến điện số 42/2009/QH12.”.
Luật Thanh tra số 11/2022/QH15 có căn cứ ban
hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Thanh tra.”.
Luật số 56/2024/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Chứng khoán, Luật Kế toán, Luật Kiểm toán độc lập, Luật Ngân sách nhà
nước, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Luật Quản lý thuế, Luật Thuế thu nhập
cá nhân, Luật Dự trữ quốc gia, Luật Xử lý vi phạm hành chính có căn cứ ban hành
như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Chứng khoán số 54/2019/QH14, Luật Kế toán số 88/2015/QH13 đã được
sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 38/2019/QH14, Luật Kiểm toán độc lập
số 67/2011/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 97/2015/QH13,
Luật Ngân sách nhà nước số 83/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Luật số 59/2020/QH14, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công số 15/2017/QH14
đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 64/2020/QH14, Luật số
07/2022/QH15, Luật số 24/2023/QH15, Luật số 31/2024/QH15 và Luật số
43/2024/QH15, Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14, Luật Thuế thu nhập cá nhân số
04/2007/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số
26/2012/QH13, Luật số 71/2014/QH13, Luật số 31/2024/QH15 và Luật số 43/2024/QH15,
Luật Dự trữ quốc gia số 22/2012/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo
số 21/2017/QH14, Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 đã được sửa đổi,
bổ sung một số điều theo Luật số 54/2014/QH13, Luật số 18/2017/QH14, Luật số
67/2020/QH14, Luật số 09/2022/QH15 và Luật số 11/2022/QH15.”.
Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Xử lý vi phạm hành chính có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số
203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung
một số điều theo Luật số 54/2014/QH13, Luật số 18/2017/QH14, Luật số
67/2020/QH14, Luật số 09/2022/QH15, Luật số 11/2022/QH15 và Luật số
56/2024/QH15.”.
[2] Cụm từ “xã, phường,
thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm
a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[3] Cụm từ “, biện pháp
giáo dục dựa vào cộng đồng” được bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 72 Điều
1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm
hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[4] Khoản này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2022.
[5] Điểm này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2022.
[6] Điều này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2022.
[7] Điểm này được sửa đổi,
bổ sung lần thứ nhất theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
Điểm này được sửa đổi, bổ sung lần thứ hai theo
quy định tại điểm a khoản 1 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[8] Điểm này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[9] Điểm này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[10] Cụm từ “xã, phường,
thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm
a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[11] Điểm này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[12] Cụm từ “thực hiện
lần cuối hành vi vi phạm” được thay thế bằng cụm từ “thực hiện hành vi” theo
quy định tại điểm b khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[13] Điểm này được bổ
sung theo quy định tại điểm c khoản 4 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[14] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[15] Khoản này được bổ
sung theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[16] Điểm này được bổ
sung theo quy định tại điểm a khoản 6 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[17] Cụm từ “06 tháng,”
được bỏ theo quy định tại điểm a khoản 74 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[18] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 6 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[19] Cụm từ “06 tháng,”
được bỏ theo quy định tại điểm a khoản 74 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[20] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 6 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[21] Cụm từ “Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước,” được bổ sung theo quy định tại
điểm c khoản 72 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[22] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 7 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[23] Điều này được bổ
sung theo quy định tại khoản 2 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2025.
[24] Cụm từ “Các hình
thức xử phạt và nguyên tắc áp dụng” được thay thế bằng cụm từ “Nguyên tắc quy định
các hình thức xử phạt” theo quy định tại điểm c khoản 28 Điều 1 của Luật số
88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[25] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 8 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[26] Cụm từ “trực thuộc
Trung ương” được bỏ theo quy định tại điểm a khoản 29 Điều 1 của Luật số
88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[27] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 9 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[28] Cụm từ “trực thuộc
trung ương” được bỏ theo quy định tại điểm a khoản 29 Điều 1 của Luật số
88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[29] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 9 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[30] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 10 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[31] Điểm này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[32] Cụm từ “kiểm toán
độc lập;” được bỏ theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 9 của Luật số
56/2024/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán, Luật Kế toán,
Luật Kiểm toán độc lập, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Quản lý, sử dụng tài sản
công, Luật Quản lý thuế, Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Dự trữ quốc gia, Luật
Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025.
[33] Điểm này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[34] Điểm này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[35] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung lần thứ nhất theo quy định tại điểm b khoản 10 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
Khoản này được sửa đổi, bổ sung lần thứ hai theo
quy định tại điểm d khoản 3 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[36] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 11 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[37] Cụm từ “Việc xử lý
tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu được thực hiện theo quy định
tại Điều 82 của Luật này.” được bỏ theo quy định tại điểm b khoản 74 Điều 1 của
Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành
chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[38] Từ “tháo dỡ” được
thay bằng từ “phá dỡ” theo quy định tại điểm a khoản 73 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[39] Từ “tháo dỡ” được
thay bằng từ “phá dỡ” theo quy định tại điểm a khoản 73 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[40] Từ “tháo dỡ” được
thay bằng từ “phá dỡ” theo quy định tại điểm a khoản 73 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[41] Điều này được bổ
sung theo quy định tại khoản 4 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2025.
[42] Điều này được bãi
bỏ theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2025.
[43] Điều này được bãi
bỏ theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2025.
[44] Điều này được bãi
bỏ theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2025.
[45] Điều này được bãi
bỏ theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2025.
[46] Điều này được bãi
bỏ theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2025.
[47] Điều này được bãi
bỏ theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2025.
[48] Điều này được bãi
bỏ theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2025.
[49] Điều này được bãi
bỏ theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2025.
[50] Điều này được bãi
bỏ theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2025.
[51] Điều này được bãi
bỏ theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2025.
[52] Điều này được bãi
bỏ theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2025.
[53] Điều này được bãi
bỏ theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2025.
[54] Điều này được bãi
bỏ theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2025.
[55] Điều này được bãi
bỏ theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2025.
[56] Điều này được bãi
bỏ theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2025.
[57] Điều này được bãi
bỏ theo quy định tại khoản 75 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
01 năm 2022.
[58] Điều này được bãi
bỏ theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2025.
[59] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[60] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[61] Đoạn mở đầu này được
sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 26 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[62] Điều này được sửa
đổi, bổ sung lần thứ nhất theo quy định tại khoản 27 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
Điều này được sửa đổi, bổ sung lần thứ hai theo
quy định tại khoản 6 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[63] Điều này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 28 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[64] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 7 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[65] Điều này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 8 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[66] Cụm từ “đoạn 1” được
bỏ theo quy định tại điểm b khoản 29 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[67] Điều này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 29 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[68] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 9 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[69] Điểm này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 9 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[70] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 9 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[71] Cụm từ “người có
thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính hoặc” được bổ sung theo quy định tại
khoản 27 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[72] Khoản này được bổ
sung theo quy định tại khoản 10 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[73] Cụm từ “, phương
tiện” được bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 72 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[74] Cụm từ “, phương
tiện” được bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 72 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[75] Cụm từ “, phương
tiện” được bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 72 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[76] Cụm từ “, phương
tiện” được bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 72 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[77] Cụm từ “, phương
tiện” được bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 72 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[78] Cụm từ “, phương
tiện” được bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 72 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[79] Cụm từ “, phương
tiện” được bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 72 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[80] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 11 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[81] Cụm từ “, phương
tiện” được bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 72 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[82] Điều này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[83] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 12 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[84] Cụm từ “03 ngày”
được thay thế bằng cụm từ “05 ngày làm việc” theo quy định tại điểm d khoản 28
Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi
phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[85] Cụm từ “cơ quan tiến
hành tố tụng” được thay bằng cụm từ “cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng”
theo quy định tại điểm e khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2022.
[86] Cụm từ “cơ quan tiến
hành tố tụng” được thay bằng cụm từ “cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng”
theo quy định tại điểm e khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2022.
[87] Cụm từ “cơ quan tiến
hành tố tụng” được thay bằng cụm từ “cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng”
theo quy định tại điểm e khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2022.
[88] Cụm từ “03 ngày”
được thay thế bằng cụm từ “05 ngày làm việc” theo quy định tại điểm d khoản 28
Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi
phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[89] Cụm từ “kể từ ngày
có quyết định không khởi tố vụ án hình sự” được thay thế bằng cụm từ “kể từ
ngày quyết định không khởi tố vụ án hình sự có hiệu lực” theo quy định tại điểm
đ khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[90] Cụm từ “cơ quan tiến
hành tố tụng” được thay bằng cụm từ “cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng”
theo quy định tại điểm e khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2022.
[91] Cụm từ “cơ quan tiến
hành tố tụng” được thay bằng cụm từ “cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng”
theo quy định tại điểm e khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2022.
[92] Cụm từ “cơ quan tiến
hành tố tụng” được thay bằng cụm từ “cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng”
theo quy định tại điểm e khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2022.
[93] Cụm từ “, tổ chức”
được bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 72 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[94] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung lần thứ nhất theo quy định tại khoản 31 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
Khoản này được sửa đổi, bổ sung lần thứ hai theo
quy định tại khoản 13 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[95] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 31 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[96] Điều này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 32 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[97] Cụm từ “, tần số
vô tuyến điện” được bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 2 của Luật số
09/2022/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2023.
[98] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 33 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[99] Điều này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 34 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[100] Cụm từ “và họ
tên, chức vụ của người đại diện theo pháp luật” được bổ sung theo quy định tại
điểm đ khoản 72 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[101] Điều này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 14 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[102] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 15 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[103] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 35 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 30
Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi
phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[104] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 35 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[105] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 36 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[106] Điều này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 37 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[107] Cụm từ “cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh tuyến huyện” được thay thế bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh cấp cơ bản” theo quy định tại điểm e khoản 28 Điều 1 của Luật số
88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[108] Điều này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 38 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[109] Cụm từ “cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh tuyến huyện” được thay thế bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh cấp cơ bản” theo quy định tại điểm e khoản 28 Điều 1 của Luật số
88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[110] Cụm từ “cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh tuyến huyện” được thay thế bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh cấp cơ bản” theo quy định tại điểm e khoản 28 Điều 1 của Luật số
88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[111] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 39 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[112] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 40 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[113] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 41 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[114] Khoản này được bổ
sung theo quy định tại khoản 42 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2022.
[115] Điều này được
bãi bỏ theo quy định tại khoản 75 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2022.
[116] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 43 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[117] Điều này được sửa
đổi, bổ sung lần thứ nhất theo quy định tại khoản 44 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
Điều này được sửa đổi, bổ sung lần thứ hai theo
quy định tại khoản 16 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[118] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 45 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[119] Khoản này được bổ
sung theo quy định tại điểm b khoản 45 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[120] Điểm này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 45 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[121] Cụm từ “xã, phường,
thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm
a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[122] Cụm từ “xã, phường,
thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm
a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[123] Cụm từ “xã, phường,
thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm
a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[124] Điều này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 46 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng
cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm a khoản 28 Điều 1 của Luật
số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[125] Cụm từ “xã, phường,
thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm
a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[126] Điều này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 47 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[127] Cụm từ “xã, phường,
thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm
a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[128] Cụm từ “xã, phường,
thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm
a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[129] Cụm từ “cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện” được thay thế bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh từ cấp cơ bản” theo quy định tại điểm g khoản 28 Điều 1 của Luật số
88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[130] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 48 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[131] Cụm từ “xã, phường,
thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm
a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[132] Cụm từ “cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện” được thay thế bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh từ cấp cơ bản” theo quy định tại điểm g khoản 28 Điều 1 của Luật số
88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[133] Từ “bệnh viện”
được thay bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện trở lên” theo
quy định tại điểm g khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01
năm 2022.
[134] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 49 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[135] Cụm từ “cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện” được thay thế bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh từ cấp cơ bản” theo quy định tại điểm g khoản 28 Điều 1 của Luật số
88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[136] Từ “bệnh viện”
được thay bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện trở lên” theo
quy định tại điểm g khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01
năm 2022.
[137] Cụm từ “xã, phường,
thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm
a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[138] Cụm từ “xã, phường,
thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm
a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[139] Cụm từ “Công an
cấp huyện hoặc” được bỏ theo quy định tại điểm c khoản 29 Điều 1 của Luật số
88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[140] Cụm từ “xã, phường,
thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm
a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[141] Cụm từ “xã, phường,
thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm
a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[142] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 50 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[143] Cụm từ “xã, phường,
thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm
a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[144] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 51 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[145] Cụm từ “xã, phường,
thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm
a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[146] Cụm từ “03 ngày”
được thay bằng cụm từ “02 ngày làm việc” theo quy định tại điểm h khoản 73 Điều
1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm
hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[147] Cụm từ “xã, phường,
thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm
a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[148] Cụm từ “xã, phường,
thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm
a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[149] Cụm từ “xã, phường,
thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm
a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[150] Cụm từ “xã, phường,
thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm
a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[151] Điều này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 17 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[152] Điều này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 18 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[153] Điều này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 19 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[154] Điều này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 20 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[155] Điều này được sửa
đổi, bổ sung lần thứ nhất theo quy định tại khoản 56 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
Điều này được sửa đổi, bổ sung lần thứ hai theo
quy định tại khoản 21 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[156] Điều này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 22 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[157] Cụm từ “xã, phường,
thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm
a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[158] Cụm từ “Tòa án
nhân dân cấp huyện” được thay thế bằng cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực” theo
quy định tại điểm n khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[159] Điều này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 58 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[160] Cụm từ “hoặc cơ
quan Công an cùng cấp trong trường hợp Công an cấp tỉnh lập hồ sơ đề nghị” được
bỏ theo quy định tại điểm d khoản 29 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[161] Cụm từ “xã, phường,
thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm
a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[162] Cụm từ “xã, phường,
thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm
a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[163] Cụm từ “xã, phường,
thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm
a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[164] Cụm từ “xã, phường,
thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm
a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[165] Cụm từ “xã, phường,
thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm
a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[166] Cụm từ “xã, phường,
thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm
a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[167] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung lần thứ nhất theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
Khoản này được sửa đổi, bổ sung lần thứ hai theo
quy định tại khoản 23 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[168] Cụm từ “cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện” được thay thế bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh từ cấp cơ bản” theo quy định tại điểm g khoản 28 Điều 1 của Luật số
88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[169] Từ “bệnh viện”
được thay bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện trở lên” theo
quy định tại điểm g khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01
năm 2022.
[170] Từ “bệnh viện”
được thay bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện trở lên” theo
quy định tại điểm g khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01
năm 2022.
[171] Từ “bệnh viện”
được thay bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến huyện trở lên” theo
quy định tại điểm g khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01
năm 2022.
[172] Cụm từ “cấp huyện”
được bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 29 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[173] Cụm từ “Tòa án
nhân dân cấp huyện” được thay thế bằng cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực” theo
quy định tại điểm n khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[174] Cụm từ “Giám
đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc” được thay thế bằng cụm từ “Trưởng cơ sở cai
nghiện bắt buộc” theo quy định tại điểm o khoản 28 Điều 1 của Luật số
88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[175] Cụm từ “Ủy ban
nhân dân cấp xã” được thay bằng cụm từ “cơ quan Công an cấp xã” theo quy định tại
điểm l khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[176] Cụm từ “cấp huyện”
được bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 29 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[177] Cụm từ “cấp huyện”
được bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 29 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[178] Cụm từ “cùng cấp”
được bỏ theo quy định tại điểm e khoản 29 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[179] Cụm từ “xã, phường,
thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm
a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[180] Cụm từ “Giám
đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc” được thay thế bằng cụm từ “Trưởng cơ sở cai
nghiện bắt buộc” theo quy định tại điểm o khoản 28 Điều 1 của Luật số
88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[181] Cụm từ “cấp huyện”
được bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 29 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[182] Cụm từ “Giám
đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc” được thay thế bằng cụm từ “Trưởng cơ sở cai
nghiện bắt buộc” theo quy định tại điểm o khoản 28 Điều 1 của Luật số
88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[183] Cụm từ “xã, phường,
thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm
a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[184] Cụm từ “Giám
đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc” được thay thế bằng cụm từ “Trưởng cơ sở cai
nghiện bắt buộc” theo quy định tại điểm o khoản 28 Điều 1 của Luật số
88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[185] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 60 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[186] Cụm từ “Giám
đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc” được thay thế bằng cụm từ “Trưởng cơ sở cai
nghiện bắt buộc” theo quy định tại điểm o khoản 28 Điều 1 của Luật số
88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[187] Cụm từ “Trưởng
Công an cấp huyện nơi có cơ sở cai nghiện bắt buộc” được thay thế bằng cụm từ
“Trưởng Công an cấp xã có thẩm quyền” theo quy định tại điểm h khoản 28 Điều 1
của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm
hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[188] Khoản này được sửa
đổi lần 1 theo quy định tại khoản 1 Điều 102 của Luật Hải quan số 54/2014/QH13,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2015.
Khoản này được sửa đổi, bổ sung lần 2 theo quy định
tại điểm a khoản 61 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[189] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 61 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[190] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 61 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[191] Cụm từ “trực thuộc
trung ương” được bỏ theo quy định tại điểm a khoản 29 Điều 1 của Luật số
88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[192] Điều này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 62 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[193] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 24 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[194] Điểm này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 63 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[195] Điểm này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 25 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[196] Điểm này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 25 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[197] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 64 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[198] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung lần thứ nhất theo quy định tại điểm a khoản 64 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
Khoản này được sửa đổi, bổ sung lần thứ hai theo
quy định tại điểm c khoản 25 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[199] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 64 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[200] Khoản này được bổ
sung theo quy định tại điểm a khoản 64 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[201] Điểm này được bổ
sung theo quy định tại điểm d khoản 25 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[202] Điểm này được bổ
sung theo quy định tại điểm d khoản 25 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[203] Khoản này được bổ
sung theo quy định tại điểm a khoản 64 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[204] Khoản này được bổ
sung theo quy định tại điểm a khoản 64 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2022.
[205] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 64 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[206] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 64 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[207] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 64 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[208] Khoản này được bổ
sung theo quy định tại điểm b khoản 64 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[209] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung lần thứ nhất theo quy định tại điểm a khoản 65 Điều 1 của Luật số
67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
Khoản này được sửa đổi, bổ sung lần thứ hai theo
quy định tại điểm a khoản 26 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[210] Cụm từ “tạm gửi”
được thay thế bằng cụm từ “tạm giữ” theo quy định tại điểm i khoản 28 Điều 1 của
Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành
chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[211] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 65 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[212] Điểm này được bổ
sung theo quy định tại điểm b khoản 26 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[213] Khoản này được bổ
sung theo quy định tại điểm b khoản 65 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[214] Khoản này được bổ
sung theo quy định tại điểm b khoản 65 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[215] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 65 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[216] Cụm từ “02 người
chứng kiến” được thay bằng cụm từ “ít nhất 01 người chứng kiến” theo quy định tại
điểm i khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[217] Cụm từ “Chủ tịch
Ủy ban nhân dân cấp huyện” được thay bằng cụm từ “Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
xã nơi cư trú của cá nhân” theo quy định tại điểm k khoản 28 Điều 1 của Luật số
88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[218] Cụm từ “02 người
chứng kiến” được thay bằng cụm từ “ít nhất 01 người chứng kiến” theo quy định tại
điểm i khoản 73 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.
[219] Điều này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 66 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[220] Cụm từ “trực thuộc
trung ương” được bỏ theo quy định tại điểm a khoản 29 Điều 1 của Luật số
88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[221] Cụm từ “Ủy ban
nhân dân cấp xã” được thay bằng cụm từ “cơ quan Công an cấp xã” theo quy định tại
điểm l khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[222] Cụm từ “xã, phường,
thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm
a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[223] Cụm từ “cấp huyện”
được bỏ theo quy định tại điểm đ khoản 29 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[224] Cụm từ “Giám
đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc” được thay thế bằng cụm từ “Trưởng cơ sở cai
nghiện bắt buộc” theo quy định tại điểm o khoản 28 Điều 1 của Luật số
88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[225] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 67 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[226] Cụm từ “Công an
cấp huyện nơi lập hồ sơ” được thay thế bằng cụm từ “cơ quan Công an cấp xã nơi
lập hồ sơ” theo quy định tại điểm m khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[227] Cụm từ “Tòa án
nhân dân cấp huyện” được thay thế bằng cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực” theo
quy định tại điểm n khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[228] Cụm từ “Tòa án
nhân dân cấp huyện” được thay thế bằng cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực” theo
quy định tại điểm n khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[229] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 68 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[230] Cụm từ “xã, phường,
thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm
a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[231] Cụm từ “xã, phường,
thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “xã, phường, đặc khu” theo quy định tại điểm
a khoản 28 Điều 1 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[232] Khoản này được bổ
sung theo quy định tại khoản 69 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2022.
[233] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 70 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2022.
[234] Điều này được bổ
sung theo quy định tại khoản 71 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2022.
[235] Điều 103 của Luật
Hải quan số 54/2014/QH13, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 quy định
như sau:
“Điều 103. Hiệu lực thi hành
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 01 năm 2015.
Luật Hải quan số 29/2001/QH10 và Luật số
42/2005/QH11 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan hết hiệu lực kể từ
ngày Luật này có hiệu lực.”.
Điều 104 và Điều 105 của Luật Thủy sản số
18/2017/QH14, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2019 quy định như sau:
“Điều 104. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 01 năm 2019.
2. Luật Thủy sản số 17/2003/QH11 hết hiệu lực
kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
Điều 105. Quy định chuyển tiếp
1. Sửa đổi mức xử phạt vi phạm hành chính tối
đa trong lĩnh vực bảo vệ nguồn lợi thủy sản, hải sản quy định tại điểm đ khoản
1 Điều 24 của Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 như sau: mức phạt
tiền tối đa trong lĩnh vực quản lý nhà nước về thủy sản đối với cá nhân là
1.000.000.000 đồng.
2. Các loại giấy phép, giấy chứng nhận, giấy
xác nhận, chứng chỉ, văn bản chấp thuận trong lĩnh vực thủy sản đã được cấp trước
ngày Luật này có hiệu lực thì được sử dụng cho đến khi hết thời hạn.
3. Các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, định mức
kinh tế - kỹ thuật đã được ban hành trước ngày Luật này có hiệu lực thì tiếp tục
được áp dụng cho đến khi bị bãi bỏ hoặc thay thế.”.
Điều 3 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
01 năm 2022 quy định như sau:
“Điều 3. Hiệu lực thi hành
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 01 năm 2022.”.
Điều 3 và Điều 4 của Luật số 09/2022/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2023 quy định như sau:
“Điều 3. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 7 năm 2023, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Quy định về đào tạo, cấp chứng chỉ vô tuyến
điện viên của Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.
Điều 4. Quy định chuyển tiếp
1. Giấy phép sử dụng tần số vô tuyến điện đã
cấp trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì được tiếp tục sử dụng cho đến
hết thời hạn được ghi trong giấy phép. Chứng chỉ vô tuyến điện viên đã cấp trước
ngày 01 tháng 7 năm 2024 thì được tiếp tục sử dụng cho đến hết thời hạn được
ghi trong chứng chỉ.
2. Tổ chức đã được cấp giấy phép sử dụng băng
tần để thiết lập mạng viễn thông công cộng di động mặt đất mà hết hạn sử dụng
trước ngày 06 tháng 9 năm 2023 thì được xem xét gia hạn theo quy định tại Điều
16 của Luật Tần số vô tuyến điện số 42/2009/QH12 và các điểm a, b, c khoản 1 Điều
22 của Luật Tần số vô tuyến điện số 42/2009/QH12 được sửa đổi, bổ sung theo khoản
9 Điều 1 của Luật này tối đa đến hết ngày 15 tháng 9 năm 2024 và không phải nộp
tiền cấp quyền sử dụng tần số vô tuyến điện cho thời gian được gia hạn.
3. Tổ chức đã được cấp giấy phép sử dụng băng
tần để thiết lập mạng viễn thông công cộng di động mặt đất mà hết hạn sử dụng
trước ngày 16 tháng 9 năm 2024 thì không phải nộp tiền cấp quyền sử dụng tần số
vô tuyến điện cho đến hết thời hạn được ghi trong giấy phép và không được gia hạn,
trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
4. Bộ Thông tin và Truyền thông thông báo quy
hoạch băng tần đối với các băng tần đã cấp cho tổ chức quy định tại khoản 2 và
khoản 3 Điều này trước ngày 01 tháng 8 năm 2023. Đối với khối băng tần được xem
xét cấp lại mà sử dụng chung tần số vô tuyến điện theo giấy phép sử dụng băng tần
đã cấp trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì được xem xét cấp lại theo
hiện trạng sử dụng.
5. Việc đào tạo, cấp chứng chỉ vô tuyến điện
viên tiếp tục được thực hiện theo quy định của Luật Tần số vô tuyến điện số
42/2009/QH12 đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2024.”.
Điều 117 và Điều 118 của Luật
Thanh tra số 11/2022/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2023 quy định
như sau:
“Điều 117. Hiệu lực thi
hành
1. Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2023.
2. Luật Thanh tra số 56/2010/QH12 hết hiệu lực
kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
Điều 118. Quy định chuyển
tiếp
Các cuộc thanh tra có quyết định thanh tra được
ban hành trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục thực hiện theo
quy định của Luật Thanh tra số 56/2010/QH12.”.
Khoản 1 Điều 10 của
Luật số 56/2024/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán,
Luật Kế toán, Luật Kiểm toán độc lập, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Quản lý, sử
dụng tài sản công, Luật Quản lý thuế, Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Dự trữ
quốc gia, Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm
2025 quy định như sau:
“Điều 10. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 01 năm 2025, trừ trường hợp quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này.”.
Điều 2 và Điều 3 của Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025 quy định như sau:
“Điều 2. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
2. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính được
thực hiện theo nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong các
lĩnh vực quản lý nhà nước và nghị định của Chính phủ quy định chi tiết Luật Xử
lý vi phạm hành chính về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính cho đến khi có
quy định của Chính phủ thay thế, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 3 của
Luật này.
3. Quy định tại Điều 8 của Nghị quyết số
190/2025/QH15 ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Quốc hội khóa XV quy định về xử lý
một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước chấm dứt hiệu lực kể
từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
Điều 3. Quy định chuyển tiếp
Kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành:
1. Trường hợp vụ việc vi phạm hành chính đã
được phát hiện và đang trong quá trình xem xét, xử lý mà cơ quan, chức danh có
thẩm quyền đang xử lý vụ việc kết thúc hoạt động, thì cơ quan, chức danh tiếp
nhận chức năng, nhiệm vụ theo địa bàn, lĩnh vực tiếp tục xử lý vụ việc hoặc chuyển
đến người có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật.
2. Trường hợp vi phạm hành chính đã có quyết
định xử phạt, thì việc tổ chức thi hành, cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt,
đính chính, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành mới quyết định trong xử phạt vi
phạm hành chính sẽ do cơ quan, chức danh tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ theo địa
bàn, lĩnh vực tiếp tục thực hiện hoặc chuyển đến người có thẩm quyền theo quy định
của pháp luật.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện
thẩm quyền trong xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
huyện, Trưởng Công an cấp xã thực hiện thẩm quyền trong xử phạt vi phạm hành
chính của Trưởng Công an cấp huyện theo nghị định của Chính phủ về xử phạt vi
phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước cho đến khi có quy định của
Chính phủ thay thế hoặc nghị định của Chính phủ quy định chi tiết Luật Xử lý vi
phạm hành chính về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có hiệu lực thi hành.”.
[236] Điều này được
bãi bỏ theo quy định tại khoản 75 Điều 1 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2022.