|
VĂN PHÒNG QUỐC
HỘI
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 51/VBHN-VPQH
|
Hà Nội, ngày 18 tháng 3 năm 2026
|
LUẬT
DI
SẢN VĂN HÓA
Luật
Di sản văn hóa số 45/2024/QH15 ngày 23 tháng 11 năm 2024 của Quốc hội, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025, được sửa đổi, bổ sung bởi:
1. Luật
Thanh tra số 84/2025/QH15 ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025;
2. Luật
Quy hoạch số 112/2025/QH15 ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2026;
3. Luật
An ninh mạng số 116/2025/QH15 ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
Căn
cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc
hội ban hành Luật Di sản văn hóa[1].
Chương I
NHỮNG
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
1. Luật
này quy định về di sản văn hóa, hoạt động quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị
di sản văn hóa; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cộng đồng
và cá nhân trong hoạt động quản lý, bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Di
sản văn hóa quy định tại Luật này bao gồm di sản văn hóa phi vật thể, di sản
văn hóa vật thể được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác của nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
Luật
này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cộng đồng và người Việt Nam định cư ở Việt
Nam; cơ quan, tổ chức, cộng đồng và người nước ngoài định cư, hoạt động ở Việt
Nam; người Việt Nam định cư, hoạt động ở nước ngoài liên quan đến quản lý, bảo
vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.
Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Luật
này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1.
Di sản văn hóa phi vật thể là tri thức, kỹ năng, tập quán, biểu đạt văn hóa
cùng đồ vật, đồ tạo tác, không gian liên quan được cộng đồng, nhóm người, cá
nhân thực hành, trao truyền qua nhiều thế hệ và hình thành nên bản sắc văn hóa
của họ, không ngừng được trao truyền, bảo vệ, tái tạo, sáng tạo, có giá trị lịch
sử, văn hóa, khoa học.
2. Di
sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có một, một số hoặc tất cả giá trị
lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh
lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.
3. Di
tích lịch sử - văn hóa là công trình kiến trúc, nghệ thuật, cụm công trình
xây dựng, địa điểm, di chỉ khảo cổ hoặc cấu trúc có tính chất khảo cổ học; di vật,
cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, cụm công trình, địa điểm, di chỉ hoặc
cấu trúc đó, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.
4. Danh
lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc cảnh quan thiên nhiên, địa điểm
có sự kết hợp với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, khoa học, thẩm mỹ.
5. Di
sản tư liệu là nội dung thông tin gốc được tạo lập có chủ ý của nhóm người
hoặc cá nhân, thể hiện trực tiếp bằng ký hiệu, mật mã, chữ viết, hình vẽ, âm
thanh, hình ảnh tĩnh hoặc động, dạng số và dạng thức khác trên vật mang tin gốc
có thể tiếp cận và có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ đối với ít nhất
một cộng đồng, được kế thừa và trao truyền.
6. Di
vật là hiện vật được lưu truyền lại có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.
7. Cổ
vật là di vật có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ 100
năm tuổi trở lên.
8. Bảo
vật quốc gia là di vật, cổ vật có giá trị đặc biệt quý hiếm, tiêu biểu của
đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học.
9.
Sưu tập là một tập hợp các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, di sản tư liệu
được thu thập, giữ gìn, sắp xếp có hệ thống theo những dấu hiệu chung về hình
thức, nội dung hoặc chất liệu để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu lịch sử tự nhiên và
xã hội.
10. Bảo
tàng là thiết chế văn hóa thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê,
tư liệu hóa, bảo quản, trưng bày, diễn giải, giáo dục, truyền thông di sản văn
hóa, phục vụ nhu cầu tham quan, học tập, trải nghiệm về lịch sử, văn hóa, khoa
học của công chúng và thúc đẩy phát triển bền vững.
11. Kiểm
kê di sản văn hóa là hoạt động nhận diện, xác định giá trị, đánh giá hiện
trạng, nguy cơ hủy hoại, xác lập cơ sở pháp lý và lập danh mục, hồ sơ khoa học
di sản văn hóa.
12. Ghi
danh là hoạt động đưa di sản văn hóa phi vật thể, di sản tư liệu đáp ứng
tiêu chí vào Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể, Danh mục quốc gia
về di sản tư liệu hoặc các danh sách của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa
của Liên hợp quốc (UNESCO), bao gồm ghi danh di sản văn hóa phi vật thể, ghi
danh di sản tư liệu.
13. Bảo
quản là tập hợp các hoạt động, biện pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế nguy cơ
làm hư hỏng, gây hủy hoại mà không làm thay đổi yếu tố gốc cấu thành di tích lịch
sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, di sản tư
liệu, bao gồm bảo quản di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật,
cổ vật, bảo vật quốc gia, di sản tư liệu.
14. Chủ
thể di sản văn hóa phi vật thể là cộng đồng, nhóm người hoặc cá nhân sáng tạo,
kế thừa, sở hữu, nắm giữ, thực hành, trao truyền và tái tạo di sản văn hóa phi
vật thể.
15. Nghệ
nhân di sản văn hóa phi vật thể là người thực hành, nắm giữ và trao truyền
các kỹ năng, kỹ thuật, bí quyết ở trình độ cao và hiểu biết sâu sắc về di sản
văn hóa phi vật thể.
16. Người
thực hành là thành viên của cộng đồng chủ thể di sản văn hóa phi vật thể,
tham gia tích cực vào thực hành, trao truyền, tái tạo di sản văn hóa, góp phần
để di sản văn hóa được thực hành hoàn chỉnh, hình thành bản sắc văn hóa và vì lợi
ích của cộng đồng chủ thể.
17. Không
gian văn hóa liên quan là nơi cộng đồng chủ thể sáng tạo, thể hiện, duy trì
và lưu truyền di sản văn hóa phi vật thể.
18.
Cảnh quan văn hóa của di tích là cảnh quan thiên nhiên, môi trường - sinh
thái và không gian cảnh quan vật chất tự nhiên chứa đựng giá trị lịch sử, văn
hóa, khoa học, thẩm mỹ cùng không gian văn hóa vật thể và phi vật thể liên quan
có tầm quan trọng trong việc hình thành giá trị của di tích lịch sử - văn hóa,
danh lam thắng cảnh.
19. Yếu
tố gốc cấu thành di tích là yếu tố tạo nên giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học,
thẩm mỹ, thể hiện đặc trưng của di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh.
20. Phục
hồi di tích là hoạt động phục dựng di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng
cảnh đã bị hủy hoại trên cơ sở các cứ liệu khoa học về di tích lịch sử - văn
hóa, danh lam thắng cảnh.
21. Tu
bổ di tích là hoạt động nhằm tu sửa, gia cố, tôn tạo nhưng không làm ảnh hưởng
đến yếu tố gốc cấu thành di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh.
22. Tôn
tạo di tích là hoạt động nhằm tăng cường khả năng sử dụng, khai thác và
phát huy giá trị nhưng không làm ảnh hưởng đến yếu tố gốc cấu thành di tích, cảnh
quan văn hóa của di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh.
23. Tu
sửa cấp thiết di tích là hoạt động sửa chữa hoặc chống đỡ, gia cố, gia cường
tạm thời để ngăn chặn di tích khỏi bị sập đổ, hủy hoại nhưng không được tháo rời
toàn bộ cấu kiện, thành phần kiến trúc của di tích lịch sử - văn hóa, danh lam
thắng cảnh.
24.
Công trình kinh tế - xã hội là công trình được thực hiện theo chiến lược,
quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, vùng, địa phương.
25. Công
trình trực tiếp phục vụ bảo vệ và phát huy giá trị di tích là công trình phụ
trợ, hạ tầng kỹ thuật, tôn tạo cảnh quan văn hóa của di tích lịch sử - văn hóa,
danh lam thắng cảnh, bảo tàng, nhà trưng bày liên quan đến giá trị của di tích
lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, chức năng bảo đảm an toàn, an ninh cho
di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh và sử dụng, phục vụ hoạt động
văn hóa diễn ra tại di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, phù hợp với
tính chất, loại hình của di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh.
26. Thăm
dò, khai quật khảo cổ là hoạt động khoa học nhằm phát hiện, thu thập,
nghiên cứu di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia và địa điểm khảo cổ.
27. Bảo
tồn di sản văn hóa là hoạt động nhằm bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại lâu dài, ổn
định của di sản văn hóa theo dạng thức vốn có của di sản văn hóa.
Điều 4. Sở hữu di sản văn hóa
1. Di
sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là
một bộ phận của di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng
nước và giữ nước của Nhân dân. Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản
lý di sản văn hóa thuộc sở hữu toàn dân; công nhận và bảo vệ di sản văn hóa
thuộc hình thức sở hữu riêng, sở hữu chung theo quy định của Hiến pháp, quy định
của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Di
sản văn hóa được xác lập thuộc sở hữu toàn dân bao gồm:
a) Di
tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di sản tư liệu và hiện vật thuộc
di tích; hiện vật, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia và di sản tư liệu thuộc các
cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp
công lập và không thuộc quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều này;
b) Hiện
vật, di sản tư liệu thuộc bảo tàng công lập;
c) Di
sản văn hóa ở trong lòng đất, dưới nước thuộc đất liền, hải đảo, vùng nước nội
địa, vùng biển Việt Nam;
d) Di
sản văn hóa dưới nước có nguồn gốc Việt Nam nằm ngoài các vùng nước nội địa,
vùng biển Việt Nam được xác lập sở hữu toàn dân theo quy định của Luật này, quy
định khác của pháp luật có liên quan và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
đ) Di
sản văn hóa do cơ quan, tổ chức, đơn vị công lập sưu tầm theo các phương thức
quy định tại khoản 1 Điều 42 và khoản 2 Điều 58 của Luật này;
e) Di
vật, cổ vật, bảo vật quốc gia do bảo tàng công lập sưu tầm, lưu giữ, bảo quản,
phát huy giá trị;
g) Tài
sản vô chủ, tài sản không xác định được chủ sở hữu được xác lập sở hữu toàn dân
theo quy định của Bộ luật Dân sự khi được xác định là di sản văn hóa;
h) Tài
sản là di sản văn hóa do chủ sở hữu tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà
nước; không có người nhận thừa kế và tài sản là di sản văn hóa khác thuộc về
Nhà nước theo quy định của Bộ luật Dân sự và pháp luật về quản lý, sử dụng tài
sản công;
i) Di
sản văn hóa phi vật thể không xác định được chủ thể sáng tạo và chủ sở hữu hoặc
do cộng đồng, nhóm người, cá nhân sáng tạo, thực hành, trao truyền, nắm giữ và
kế thừa chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước;
k) Trường
hợp khác do luật quy định.
3. Di
sản văn hóa được xác lập sở hữu riêng bao gồm:
a) Di
vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, di sản tư liệu do 01 cá nhân hoặc 01 pháp nhân
sưu tầm, lưu giữ;
b) Di
vật, cổ vật do 01 cá nhân hoặc 01 pháp nhân chiếm hữu ngay tình, liên tục, công
khai theo quy định của Bộ luật Dân sự;
c) Di
tích lịch sử - văn hóa, hiện vật, di sản tư liệu thuộc di tích, di sản tư liệu
do 01 cá nhân hoặc 01 pháp nhân khởi lập, tạo dựng, quản lý, bảo vệ và phát
huy giá trị;
d) Bí
quyết, kỹ năng thực hành di sản văn hóa phi vật thể do 01 cá nhân sáng tạo, kế
thừa, nắm giữ, thực hành và trao truyền;
đ) Trường
hợp khác do luật quy định.
4. Di
sản văn hóa được xác lập sở hữu chung bao gồm:
a) Di
vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, di sản tư liệu do tổ chức không phải là pháp
nhân, gia đình, dòng họ, cộng đồng sưu tầm, lưu giữ, trừ trường hợp quy định tại
điểm e khoản 2 Điều này;
b) Di
vật, cổ vật do tổ chức không phải là pháp nhân, gia đình, dòng họ, cộng đồng
chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai theo quy định của Bộ luật Dân sự;
c) Di
tích lịch sử - văn hóa, hiện vật, di sản tư liệu thuộc di tích, di sản tư liệu
do tổ chức không phải là pháp nhân, gia đình, dòng họ, cộng đồng khởi lập, tạo
dựng, quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị;
d) Di
sản văn hóa phi vật thể, bí quyết, kỹ năng thực hành di sản văn hóa phi vật thể
do cộng đồng, nhóm người sáng tạo, kế thừa, nắm giữ, thực hành và trao truyền;
đ) Trường
hợp khác do luật quy định.
5. Quyền
sở hữu đối với di sản văn hóa được xác lập, giải quyết tranh chấp, xử lý vi phạm
thực hiện theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên
quan.
Điều 5. Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm đối với di sản văn hóa
1. Quyền
của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cộng đồng, gia đình, dòng họ, pháp nhân, cá nhân
đối với di sản văn hóa bao gồm:
a) Sở
hữu hợp pháp di sản văn hóa; được thừa nhận và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ;
b)
Tham quan, nghiên cứu, sưu tầm, tư liệu hóa di sản văn hóa;
c)
Khai thác, sử dụng và phát huy giá trị di sản văn hóa;
d) Được
Nhà nước khen thưởng theo quy định của pháp luật;
đ)
Kinh doanh, mua bán, trao đổi, tặng cho, để thừa kế, thực hành, truyền dạy di sản
văn hóa và các quyền khác theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp
luật có liên quan.
2.
Nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cộng đồng, gia đình, dòng họ,
pháp nhân, cá nhân đối với di sản văn hóa bao gồm:
a)
Tuân thủ pháp luật về di sản văn hóa;
b) Tôn
trọng, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;
c)
Ngăn chặn hoặc đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền ngăn chặn, xử lý kịp thời
những hành vi bị nghiêm cấm quy định tại Điều 9 của Luật này
và hành vi vi phạm pháp luật khác;
d)
Thông báo kịp thời địa điểm phát hiện di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, di sản
tư liệu, di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; giao nộp di vật, cổ vật,
bảo vật quốc gia, di sản tư liệu do mình tìm được cho cơ quan nhà nước có thẩm
quyền nơi gần nhất;
đ)
Nghĩa vụ, trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.
3. Quyền
của chủ sở hữu di sản văn hóa bao gồm:
a) Thụ
hưởng lợi ích từ việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa theo quy định của
pháp luật;
b) Được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa hỗ trợ, phối hợp nhận diện, xác định
giá trị và thực hiện quy trình, thủ tục đưa vào danh mục kiểm kê; được giữ bí mật
thông tin, nếu có yêu cầu;
c) Được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa hỗ trợ và phối hợp về nghiệp vụ lưu
giữ, bảo quản, tư liệu hóa, tạo điều kiện bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn
hóa theo thoả thuận;
d) Được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền hỗ trợ và hướng dẫn các hoạt động bảo vệ, phát
huy giá trị di sản văn hóa;
đ) Gửi
tư liệu về di sản văn hóa phi vật thể, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, di sản
tư liệu vào bảo tàng công lập hoặc cơ quan nhà nước, tổ chức của Nhà nước có thẩm
quyền, chức năng phù hợp trong trường hợp không đủ điều kiện và khả năng bảo vệ
và phát huy giá trị;
e) Quyền
khác theo quy định của pháp luật.
4.
Trách nhiệm của chủ sở hữu di sản văn hóa bao gồm:
a) Tạo
điều kiện thuận lợi cho việc tham quan, tiếp cận, nghiên cứu di sản văn hóa
theo quy định của pháp luật;
b) Thực
hiện các biện pháp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; thông báo kịp thời
cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp di sản văn hóa có nguy cơ bị
làm sai lệch giá trị, bị hủy hoại, bị mất;
c)
Trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.
5. Quyền
của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cộng đồng, gia đình, dòng họ, pháp nhân, cá nhân
quản lý di sản văn hóa bao gồm:
a) Được
Nhà nước xem xét, hỗ trợ kinh phí bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;
b) Được
quản lý, khai thác, sử dụng, phát huy giá trị di sản văn hóa trên cơ sở bảo đảm
không ảnh hưởng yếu tố gốc cấu thành di tích, tính toàn vẹn các giá trị vốn có
của di sản văn hóa;
c) Quyền
khác theo quy định của pháp luật.
6.
Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cộng đồng, gia đình, dòng họ, pháp
nhân, cá nhân quản lý di sản văn hóa bao gồm:
a) Tạo
điều kiện thuận lợi cho việc tham quan, tiếp cận, nghiên cứu di sản văn hóa
theo quy định của pháp luật;
b) Bảo
vệ, giữ gìn di sản văn hóa;
c) Thực
hiện các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời các hành vi xâm hại di sản
văn hóa;
d)
Thông báo kịp thời cho chủ sở hữu hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền trên địa
bàn khi di sản văn hóa có biểu hiện sai lệch giá trị, có nguy cơ bị hủy hoại hoặc
bị mất;
đ)
Trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.
Điều 6. Nguyên tắc quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản
văn hóa
1. Mọi
di sản văn hóa trên lãnh thổ Việt Nam, có xuất xứ ở trong nước hoặc từ nước
ngoài, thuộc các hình thức sở hữu đều được quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị
theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Quản
lý, bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa là quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của
mọi cơ quan, tổ chức, cộng đồng và cá nhân.
3. Di
sản văn hóa của Việt Nam ở nước ngoài được bảo hộ theo luật pháp quốc tế và
theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là thành viên.
4. Bảo
đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, hài hòa với quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,
cộng đồng, cá nhân; tôn trọng sự đa dạng văn hóa, sự đối thoại giữa các cộng đồng
và tính đặc thù dân tộc, vùng, miền.
5. Ưu
tiên bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa có nguy cơ bị mai một, thất truyền,
di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di sản văn hóa của cộng đồng
các dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo, các dân tộc thiểu số rất ít
người và những di sản văn hóa có giá trị toàn cộng đồng, xã hội.
6. Bảo
đảm giữ gìn tối đa yếu tố gốc cấu thành di tích và tính nguyên gốc của di sản
tư liệu; giá trị và hình thức thể hiện vốn có của di sản văn hóa phi vật thể.
7. Tôn
trọng quyền của chủ thể di sản văn hóa phi vật thể và nghệ nhân di sản văn hóa
phi vật thể trong việc quyết định các yếu tố cần được bảo vệ và hình thức, mức
độ cần được phát huy của di sản văn hóa; xác định nguy cơ, tác động đe dọa sự tồn
tại và lựa chọn giải pháp bảo vệ di sản văn hóa.
8. Lồng
ghép việc bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa vào chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, vùng, địa phương.
Điều 7. Chính sách của Nhà nước về di sản văn hóa
1. Nhà
nước giữ vai trò chủ đạo trong bảo đảm và phát triển hoạt động bảo vệ và phát
huy giá trị di sản văn hóa; huy động nguồn lực xã hội cho hoạt động bảo vệ và
phát huy giá trị di sản văn hóa của vùng, miền, của đồng bào dân tộc.
2. Bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu di sản văn hóa.
3. Ưu
tiên bố trí ngân sách nhà nước cho các hoạt động sau đây:
a) Bảo
vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa đã được UNESCO ghi danh hoặc công nhận;
b) Bảo
vệ và phát huy giá trị tiếng nói, chữ viết của các dân tộc Việt Nam; các biểu đạt
và truyền thống truyền khẩu; nghệ thuật trình diễn dân gian; kiến trúc truyền
thống; nghề thủ công truyền thống; tri thức, kinh nghiệm dân gian về phòng bệnh,
chữa bệnh và tri thức dân gian khác; ẩm thực, trang phục, lễ hội truyền thống;
c) Bảo
vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền
núi, biên giới, hải đảo, đặc biệt ưu tiên bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn
hóa các dân tộc thiểu số rất ít người và dân tộc thiểu số có nguy cơ mai một
giá trị văn hóa tộc người;
d) Bảo
vệ và phát huy giá trị di tích quốc gia đặc biệt, di tích lịch sử - văn hóa thuộc
sở hữu toàn dân xuống cấp nghiêm trọng; bảo tàng công lập có vai trò quan trọng;
bảo vật quốc gia; di sản văn hóa phi vật thể trong Danh mục quốc gia về di sản
văn hóa phi vật thể; di sản tư liệu trong Danh mục quốc gia về di sản tư liệu;
di sản văn hóa phi vật thể có nguy cơ mai một, thất truyền.
Chính
phủ quy định chi tiết bảo tàng công lập có vai trò quan trọng quy định tại điểm
này;
đ)
Nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến, số hóa di sản văn
hóa, chuyển đổi số trong hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.
4. Tôn
vinh và có chính sách đãi ngộ đối với nghệ nhân có tài năng xuất sắc, nghệ nhân
có công lao bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể, đặc biệt là
nghệ nhân người dân tộc thiểu số, nghệ nhân sinh sống ở miền núi, biên giới, hải
đảo, nghệ nhân là người khuyết tật, người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo.
5. Hỗ
trợ đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao năng lực, kỹ thuật đối với
nhân lực tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, đặc biệt đối với
nhân lực vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhân lực sinh sống ở miền núi, biên giới,
hải đảo.
6. Hỗ
trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân viện trợ, tài trợ, hỗ trợ, tặng
cho, đầu tư kinh phí, nhân lực, cơ sở vật chất cho hoạt động bảo vệ, phát huy
giá trị di sản văn hóa và Quỹ bảo tồn di sản văn hóa do Bộ trưởng Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương (sau đây gọi là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) quyết định thành lập.
7. Tạo
điều kiện để các vùng, địa phương đẩy mạnh liên kết, thúc đẩy hoạt động bảo vệ
và phát huy giá trị di sản văn hóa, các địa phương thành lập Quỹ bảo tồn di sản
văn hóa theo quy định của pháp luật để chủ động trong việc bảo tồn di sản văn
hóa bị xuống cấp, nhất là di sản văn hóa bị ảnh hưởng bởi điều kiện tự nhiên,
thiên tai, bão lũ, di sản văn hóa thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền
núi.
8. Miễn,
giảm vé tham quan, học tập, nghiên cứu di sản văn hóa tại bảo tàng, di tích lịch
sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh thuộc sở hữu toàn dân đối với trẻ em, học
sinh, sinh viên, người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, người cao tuổi, người khuyết
tật, người có công với cách mạng, đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện
kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú và một
số đối tượng đặc biệt theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật
có liên quan.
9. Hỗ
trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ về di sản
văn hóa theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Điều 8. Ngày Di sản văn hóa Việt Nam
Ngày
23 tháng 11 hằng năm là Ngày Di sản văn hóa Việt Nam.
Điều 9. Các hành vi bị nghiêm cấm
1. Chiếm
đoạt di sản văn hóa; làm sai lệch yếu tố gốc cấu thành di tích, nội dung và giá
trị của di tích, di sản tư liệu; phổ biến, thực hành sai lệch nội dung di sản
văn hóa phi vật thể hoặc đưa những yếu tố không phù hợp làm giảm giá trị di
tích, di sản văn hóa phi vật thể.
2. Xâm
hại, hủy hoại hoặc gây nguy cơ hủy hoại di sản văn hóa và cảnh quan văn hóa của
di tích.
3.
Khai thác, sử dụng di sản văn hóa làm xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của
cơ quan, tổ chức, cá nhân, cộng đồng, lợi ích quốc gia, dân tộc.
4. Lợi
dụng di sản văn hóa và việc quản lý, bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa,
công nhận, ghi danh di sản văn hóa để trục lợi, thờ tự, thực hành tín ngưỡng và
thực hiện những hành vi khác trái pháp luật; phân biệt đối xử, kỳ thị văn hóa,
tạo ganh đua, mâu thuẫn, tranh chấp và xung đột văn hóa; cản trở quyền sáng tạo
văn hóa, thực hành văn hóa và hưởng thụ văn hóa của cộng đồng chủ thể di sản
văn hóa.
5.
Công nhận, trao tặng các danh hiệu liên quan đến di sản văn hóa trái quy định của
pháp luật.
6. Đào
bới trái phép địa điểm khảo cổ; tìm kiếm, trục vớt trái phép di vật, cổ vật, bảo
vật quốc gia còn chìm đắm dưới nước; đào bới, tìm kiếm di vật, cổ vật; xây dựng
trái phép trong khu vực bảo vệ di tích, khu vực thăm dò khai quật khảo cổ và địa
điểm thuộc quy hoạch khảo cổ.
7. Mua
bán, sưu tầm, kinh doanh, trao đổi di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, di sản tư
liệu có nguồn gốc không hợp pháp.
8. Lấn
chiếm, hủy hoại đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh.
9. Bảo
quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh khi chưa
có ý kiến hoặc không thực hiện đúng quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư,
quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư, phê duyệt dự án, nội dung thẩm
định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của Luật này và quy định
khác của pháp luật có liên quan.
10.
Kinh doanh dịch vụ về di sản văn hoá khi chưa đủ điều kiện kinh doanh, hành nghề
quy định tại các điều 78, 79, 80 và 81 của Luật này.
11.
Làm giả di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, di sản tư liệu; mua bán, trao đổi, vận
chuyển trái phép di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, di sản tư liệu; đưa trái
phép di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, di sản tư liệu ra nước ngoài.
12. Lợi
dụng hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa để xuyên tạc chủ
trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; kích động bạo lực,
gây thù hằn giữa các dân tộc, tôn giáo; tuyên truyền chiến tranh xâm lược; phá
hoại thuần phong mỹ tục; truyền bá mê tín.
13. Lợi
dụng việc thực hiện nhiệm vụ sưu tầm hiện vật để mua, tư vấn cho tổ chức, cá
nhân khác mua, bán hiện vật thuộc đối tượng sưu tầm của bảo tàng công lập hoặc
tiết lộ thông tin liên quan đến việc mua, bán hiện vật khi chưa được sự đồng ý
bằng văn bản của người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức được giao quản lý bảo
tàng và chủ sở hữu hiện vật.
Chương II
BẢO
VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ
Điều 10. Các loại hình di sản văn hóa phi vật thể
Di sản
văn hóa phi vật thể bao gồm các loại hình sau đây:
1. Biểu
đạt và truyền thống truyền khẩu gồm các hình thức thể hiện thông tin bằng ngôn
ngữ, tiếng nói, chữ viết, ký tự và ngữ văn dân gian;
2. Nghệ
thuật trình diễn dân gian gồm âm nhạc, múa, hát, sân khấu truyền thống và các
hình thức trình diễn dân gian khác;
3. Tập
quán xã hội và tín ngưỡng gồm các thực hành thường xuyên, ổn định, thể hiện
quan niệm, niềm tin của cộng đồng, thông qua các lễ nghi gắn liền với phong tục,
tập quán truyền thống mang bản sắc văn hóa của cộng đồng chủ thể;
4. Lễ
hội truyền thống gồm các thực hành nghi lễ và sinh hoạt văn hóa dân gian của cộng
đồng, được thực hiện theo chu kỳ tại không gian văn hóa liên quan;
5. Tri
thức dân gian gồm tri thức về tự nhiên và vũ trụ, sức khỏe và đời sống con người,
lao động, sản xuất, phòng bệnh, chữa bệnh, ẩm thực, trang phục và các tri thức
dân gian khác;
6. Nghề
thủ công truyền thống gồm các thực hành thủ công bằng tri thức, kỹ năng, kỹ thuật,
bí quyết, nghệ thuật cùng với công cụ, đồ vật, đồ tạo tác, nguyên vật liệu tự
nhiên, tạo ra các sản phẩm mang bản sắc văn hóa của cộng đồng chủ thể.
Điều 11. Kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể và Danh mục kiểm
kê di sản văn hóa phi vật thể
1. Di
sản văn hóa phi vật thể được kiểm kê đưa vào Danh mục kiểm kê di sản văn hóa
phi vật thể của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là Danh mục
kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể). Danh mục kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể
phải được rà soát, cập nhật hằng năm.
2. Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo, tổ chức kiểm kê và phê duyệt, công bố
Danh mục kiểm kê di sản văn hoá phi vật thể và đưa ra khỏi Danh mục kiểm kê di
sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn.
3. Bộ
trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết Điều này.
Điều 12. Danh mục, danh sách và tiêu chí ghi danh, ghi danh
bổ sung về di sản văn hóa phi vật thể
1. Di
sản văn hóa phi vật thể được ghi danh, ghi danh bổ sung vào danh mục, danh sách
sau đây:
a)
Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể;
b)
Danh sách của UNESCO bao gồm: Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo
vệ khẩn cấp, Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, Đăng
ký những thực hành bảo vệ tốt.
2. Di
sản văn hóa phi vật thể được ghi danh, ghi danh bổ sung vào Danh mục quốc gia về
di sản văn hóa phi vật thể khi đáp ứng đủ các tiêu chí sau đây:
a) Là
di sản văn hóa phi vật thể trong Danh mục kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể;
b) Có
tính đại diện, thể hiện bản sắc của cộng đồng, địa phương;
c) Có
khả năng phục hồi và tồn tại lâu dài;
d) Biện
pháp bảo vệ được đề xuất có tính khả thi;
đ) Được
cộng đồng đồng thuận, tự nguyện đề cử và cam kết bảo vệ.
3. Di
sản văn hóa phi vật thể được lập hồ sơ đề nghị UNESCO ghi danh, ghi danh bổ
sung khi đáp ứng đủ các tiêu chí sau đây:
a) Là
di sản văn hóa phi vật thể trong Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể;
b) Đáp
ứng tiêu chí ghi danh theo quy định, hướng dẫn của UNESCO.
Điều 13. Ghi danh, ghi danh bổ sung và hủy bỏ ghi danh di sản
văn hóa phi vật thể
1. Việc
ghi danh, ghi danh bổ sung vào Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể
được quy định như sau:
a) Ủy
ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh) chịu trách nhiệm lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể
trên địa bàn. Hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể phải có ý kiến thẩm định
của Hội đồng thẩm định do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập.
Trường
hợp di sản văn hóa phi vật thể phân bố trên địa bàn từ 02 tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương trở lên, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh từng địa phương nơi có di sản
văn hóa phi vật thể có thể lập và trình hồ sơ khoa học riêng của di sản văn hoá
phi vật thể đó trên địa bàn hoặc các địa phương thống nhất 01 địa phương chủ
trì lập và trình hồ sơ khoa học chung của di sản văn hoá phi vật thể phân bố trên
địa bàn của các địa phương;
b) Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh trình hồ sơ khoa học di sản văn hoá phi vật thể trên địa
bàn, đề nghị Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch xem xét, ghi danh, ghi
danh bổ sung vào Danh mục quốc gia về di sản văn hoá phi vật thể;
c) Bộ
trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét, quyết định ghi danh, ghi danh bổ
sung, công bố và cấp bằng ghi danh, ghi danh bổ sung di sản văn hóa phi vật thể
được đưa vào Danh mục quốc gia về di sản văn hoá phi vật thể theo hồ sơ khoa học
di sản văn hóa phi vật thể, đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và ý kiến thẩm
định của Hội đồng thẩm định do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành
lập.
2. Việc
ghi danh, ghi danh bổ sung di sản văn hóa phi vật thể vào các danh sách của
UNESCO được quy định như sau:
a) Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh gửi văn bản đề nghị Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ cho phép và giao Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh chủ trì lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể đề nghị ghi
danh hoặc ghi danh bổ sung vào danh sách của UNESCO đối với di sản văn hoá phi
vật thể phân bố trên địa bàn 01 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc di sản
văn hoá phi vật thể phân bố trên địa bàn từ 02 tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương trở lên sau khi thống nhất 01 địa phương chủ trì và lập hồ sơ khoa học di
sản văn hóa phi vật thể.
Trường
hợp đề nghị UNESCO ghi danh, ghi danh bổ sung di sản văn hóa phi vật thể đa quốc
gia, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét, trình Thủ tướng Chính
phủ cho phép và giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có di sản văn hóa phi vật thể chủ
trì, phối hợp với cơ quan có thẩm quyền của quốc gia thành viên lập hồ sơ khoa
học di sản văn hóa phi vật thể;
b) Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm lập hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật
thể đề nghị ghi danh hoặc ghi danh bổ sung để đề nghị Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch thẩm định. Hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể do Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh đề nghị phải có ý kiến thẩm định của Hội đồng thẩm định do Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập;
c) Bộ
trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ quyết
định đề nghị UNESCO ghi danh, ghi danh bổ sung di sản văn hóa phi vật thể của
Việt Nam theo hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật thể, đề nghị của Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh và ý kiến thẩm định của Hội đồng thẩm định do Bộ trưởng Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành lập. Hồ sơ khoa học di sản văn hóa phi vật
thể do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình Thủ tướng Chính phủ phải
có ý kiến bằng văn bản của Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia;
d) Việc
ghi danh, ghi danh bổ sung di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam trong các
danh sách của UNESCO thực hiện theo quy định, hướng dẫn của UNESCO.
3. Việc
hủy bỏ ghi danh di sản văn hóa phi vật thể được quy định như sau:
a) Bộ
trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định hủy bỏ ghi danh di sản văn
hóa phi vật thể trong Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật thể trong trường
hợp di sản văn hóa phi vật thể không còn đáp ứng một trong các tiêu chí quy định
tại khoản 2 Điều 12 của Luật này sau khi có ý kiến thẩm định
của Hội đồng thẩm định do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành lập;
b) Việc
hủy bỏ ghi danh di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam trong các danh sách của
UNESCO thực hiện theo quy định, hướng dẫn của UNESCO.
4.
Chính phủ quy định trình tự, thủ tục, hồ sơ ghi danh, ghi danh bổ sung và hủy bỏ
ghi danh di sản văn hóa phi vật thể quy định tại Điều này.
Điều 14. Chính sách đối với nghệ nhân, chủ thể di sản văn
hóa phi vật thể
1. Nghệ
nhân, chủ thể di sản văn hóa phi vật thể được hưởng chính sách, chế độ đãi ngộ
của Nhà nước như sau:
a) Được
Nhà nước xét tặng, trao tặng danh hiệu vinh dự nhà nước và thực hiện các hình
thức khen thưởng, tôn vinh khác theo quy định của pháp luật về thi đua, khen
thưởng;
b) Hỗ
trợ cơ sở vật chất, công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và không gian văn hóa liên quan
cho hoạt động duy trì thực hành, truyền dạy, sáng tạo, trình diễn, để bảo vệ và
phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể;
c) Hỗ
trợ kinh phí, cơ sở vật chất, công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và không gian văn hóa
liên quan cho việc thành lập, tổ chức hoạt động của các câu lạc bộ, nhóm thực
hành di sản văn hóa phi vật thể, đặc biệt với các di sản văn hóa phi vật thể đã
được UNESCO ghi danh, di sản văn hóa phi vật thể có nguy cơ mai một, thất truyền;
d) Nghệ
nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú được hưởng trợ cấp sinh hoạt hằng tháng, hỗ trợ
tiền đóng bảo hiểm y tế, hỗ trợ chi phí mai táng khi chết;
đ) Có
chế độ, chính sách đặc biệt ưu tiên nghệ nhân, chủ thể di sản văn hóa phi vật
thể của đồng bào dân tộc thiểu số;
e) Chế
độ, chính sách khác theo quy định của pháp luật.
2.
Ngoài các chính sách quy định tại khoản 1 Điều này, căn cứ điều kiện phát triển
kinh tế - xã hội, khả năng cân đối ngân sách, huy động các nguồn lực xã hội, Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định chế độ đãi ngộ
nghệ nhân, chủ thể di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn.
3.
Chính phủ quy định chi tiết các điểm b, c, d và đ khoản 1 Điều này.
Điều 15. Duy trì thực hành, truyền dạy di sản văn hóa phi vật
thể
1. Nghệ
nhân, chủ thể di sản văn hóa phi vật thể duy trì thực hành, truyền dạy, giữ gìn
giá trị của di sản văn hóa trong cộng đồng và lan tỏa di sản văn hóa đến cộng đồng
khác trong xã hội.
2. Nghệ
nhân, chủ thể di sản văn hóa phi vật thể tổ chức các hoạt động truyền dạy di sản
văn hóa phi vật thể ở phạm vi trong và ngoài cộng đồng nhằm củng cố, tăng số lượng,
chất lượng thực hành di sản văn hóa phi vật thể, ưu tiên các di sản văn hóa của
cộng đồng các dân tộc thiểu số, dân tộc thiểu số rất ít người để bảo đảm di sản
văn hóa được duy trì thực hành thường xuyên, liên tục, đúng với giá trị, bản chất
và chức năng của di sản văn hóa; giảm nguy cơ mai một, thất truyền thông qua
các hình thức sau đây:
a) Nghệ
nhân, người thực hành truyền dạy tri thức, kỹ năng và biểu đạt văn hóa cho thế
hệ kế cận trong cộng đồng chủ thể thông qua thực hành di sản văn hóa phi vật thể;
b) Nghệ
nhân, người thực hành truyền dạy tri thức, kỹ năng và biểu đạt văn hóa cho cộng
đồng khác thông qua đào tạo có chủ đích.
Điều 16. Nghiên cứu, sưu tầm, tư liệu hóa di sản văn hóa phi
vật thể
1.
Nghiên cứu, sưu tầm, tư liệu hóa di sản văn hóa phi vật thể là hoạt động tìm hiểu,
nhận diện đặc điểm, giá trị và chức năng của di sản văn hóa phi vật thể và ghi,
thu lại hiện trạng di sản văn hóa phi vật thể để lưu giữ.
2. Người
Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành nghiên cứu,
sưu tầm, tư liệu hóa di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam phải có sự đồng ý bằng
văn bản của Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đối với di sản văn hóa
phi vật thể phân bố trên địa bàn từ 02 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở
lên; của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tham mưu, giúp thực
hiện quản lý nhà nước về văn hóa (sau đây gọi là cơ quan chuyên môn về văn hóa
cấp tỉnh) đối với di sản văn hóa phi vật thể thuộc 01 tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương.
3. Các
tổ chức, cộng đồng và cá nhân phối hợp với cơ quan chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh
thực hiện nghiên cứu, sưu tầm, tư liệu hóa di sản văn hóa phi vật thể.
4. Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo nghiên cứu, sưu tầm, tư liệu hóa
di sản văn hóa phi vật thể đã được ghi danh trên địa bàn để củng cố giá trị và
cập nhật vào cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hóa.
5. Bộ
trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết khoản 2 và khoản 3 Điều
này.
Điều 17. Quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa
phi vật thể đã được kiểm kê và ghi danh
1. Di
sản văn hóa phi vật thể trong Danh mục kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể được
bảo vệ và phát huy giá trị theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp
luật có liên quan.
2. Di
sản văn hóa phi vật thể đã được ghi danh vào Danh mục quốc gia về di sản văn
hóa phi vật thể và các danh sách của UNESCO phải có biện pháp quản lý, bảo vệ
và phát huy giá trị sau ghi danh và thực hiện việc báo cáo theo quy định của
pháp luật và quy định, hướng dẫn của UNESCO.
3. Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng, phê duyệt đề án bảo vệ và phát huy giá
trị di sản văn hóa phi vật thể sau ghi danh trên địa bàn sau khi có ý kiến thẩm
định của Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch. Đối với di sản văn hóa phi
vật thể đã được ghi danh phân bố trên địa bàn từ 02 tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương trở lên, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã trình hồ sơ khoa học ghi danh,
ghi danh bổ sung di sản văn hóa phi vật thể chủ trì xây dựng, lấy ý kiến thống
nhất của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương còn lại trước
khi phê duyệt hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh từng địa phương xây dựng,
phê duyệt đề án riêng bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể
trên địa bàn.
4. Bộ
trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Chương trình hành động quốc gia
về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể sau khi được UNESCO ghi danh; hướng dẫn
báo cáo; xây dựng và gửi các báo cáo quốc gia theo yêu cầu của UNESCO.
5.
Chính phủ quy định chi tiết các khoản 2, 3 và 4 Điều này.
Điều 18. Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể có nguy cơ mai một,
thất truyền
1. Di
sản văn hóa phi vật thể có nguy cơ mai một, thất truyền được xác định theo một
trong các tiêu chí sau đây:
a) Khả
năng tồn tại, thực hành và trao truyền trong cộng đồng chủ thể đang bị ngăn cản
hoặc đe dọa, khó có khả năng phục hồi và có thể bị biến mất;
b) Số
lượng nghệ nhân giảm mạnh, suy giảm người thực hành và thế hệ kế cận;
c) Suy
giảm, biến đổi điều kiện và hình thức thực hành;
d)
Không gian văn hóa liên quan, môi trường thực hành di sản văn hóa phi vật thể bị
thu hẹp hoặc biến mất.
2. Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ kết quả kiểm kê, thực trạng thực hành di sản
văn hóa phi vật thể, tiêu chí quy định tại khoản 1 Điều này, ý kiến đề xuất của
cơ quan chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh và đề nghị của chủ thể di sản văn hóa
phi vật thể để xác định di sản văn hóa phi vật thể có nguy cơ bị mai một, thất
truyền.
3. Các
biện pháp bảo vệ khẩn cấp di sản văn hóa phi vật thể có nguy cơ mai một, thất
truyền bao gồm:
a)
Nghiên cứu, tư liệu hóa các thực hành, hình thức thể hiện;
b) Phục
hồi các thực hành, hình thức thể hiện, điều kiện, hiện vật và không gian văn
hóa liên quan;
c) Tổ
chức truyền dạy;
d) Biện
pháp khác.
4. Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo cơ quan chức năng trên địa bàn triển khai
thực hiện các biện pháp bảo vệ khẩn cấp quy định tại khoản 3 Điều này.
5. Bộ
trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch căn cứ văn bản đề nghị của Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh để xem xét trình Thủ tướng Chính phủ cho phép tổ chức xây
dựng hồ sơ đề nghị UNESCO hỗ trợ bảo vệ các di sản được ghi danh trong Danh
sách cần bảo vệ khẩn cấp từ Quỹ bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của Công ước
2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO.
Điều 19. Biện pháp bảo vệ và phát triển tiếng nói, chữ viết
của các dân tộc Việt Nam
Nhà nước
bảo vệ và phát triển tiếng nói, chữ viết của các dân tộc cùng sinh sống trên đất
nước Việt Nam, đặc biệt đối với tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số và
tiếng nói, chữ viết có nguy cơ mai một thông qua các biện pháp sau đây:
1.
Nghiên cứu, sưu tầm, tư liệu hóa, lưu giữ và truyền dạy các biểu đạt và truyền
thống truyền khẩu bằng tiếng nói, chữ viết của cộng đồng các dân tộc;
2. Dạy
tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số cho cán bộ, công chức, viên chức và
cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân công tác ở vùng đồng bào miền núi,
dân tộc thiểu số theo yêu cầu công việc, cho học sinh người dân tộc thiểu số
theo quy định của pháp luật về giáo dục;
3. Ban
hành quy tắc phiên âm tiếng nói của những dân tộc chưa có chữ viết;
4. Sưu
tầm, biên soạn, dịch thuật, phân loại và lưu giữ tác phẩm văn học, nghệ thuật,
khoa học và ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian;
5. Xây
dựng từ điển, sách giáo khoa, tài liệu giảng dạy tiếng nói, chữ viết của các
dân tộc, cơ sở dữ liệu về tiếng nói, chữ viết của các dân tộc;
6.
Khuyến khích giới thiệu di sản văn hóa tại các bảo tàng, di tích bằng tiếng
nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số;
7. Xuất
bản sách, báo, thực hiện các chương trình phát thanh, truyền hình, sân khấu về
di sản văn hóa bằng tiếng dân tộc thiểu số.
Điều 20. Biện pháp bảo vệ và phát huy giá trị lễ hội truyền
thống
Nhà nước
tạo điều kiện duy trì và phát huy giá trị lễ hội truyền thống thông qua các biện
pháp sau đây:
1. Bảo
đảm cộng đồng chủ thể được chủ động tham gia thực hành nghi thức truyền thống
trong không gian văn hóa và thời điểm theo đúng chu kỳ của lễ hội;
2. Bảo
đảm quyền của cộng đồng chủ thể trong việc chủ động lựa chọn hình thức quảng bá
lễ hội và đối tượng ngoài cộng đồng tiếp cận hay tham gia tổ chức, thực hiện
các hoạt động trong lễ hội;
3. Phục
hồi có chọn lọc nghi thức truyền thống và trò diễn dân gian trong lễ hội trên
cơ sở sự đồng thuận tham gia rộng rãi nhất của chủ thể di sản văn hóa phi vật
thể;
4. Có
biện pháp hỗ trợ cộng đồng ngăn chặn các yếu tố, những hoạt động ảnh hưởng đến
thành tố, cấu trúc lễ hội và không đúng quy định nếp sống văn minh trong các hoạt
động tại lễ hội;
5.
Khuyến khích việc phổ biến rộng rãi ở trong nước và nước ngoài về nguồn gốc, nội
dung, giá trị tiêu biểu, độc đáo của lễ hội.
Chương III
BẢO
VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ
Mục 1. DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA, DANH LAM THẮNG CẢNH
Điều 21. Các loại hình di tích
Di
tích bao gồm các loại hình sau đây:
1. Di
tích lịch sử - văn hóa gồm các loại hình sau đây:
a) Di
tích lịch sử gồm di tích lưu niệm sự kiện lịch sử, văn hóa, di tích lưu niệm
danh nhân;
b) Di
tích kiến trúc, nghệ thuật;
c) Di
tích khảo cổ;
2.
Danh lam thắng cảnh;
3. Di
tích hỗn hợp.
Điều 22. Tiêu chí nhận diện di tích theo loại hình
1. Di
tích lịch sử phải đáp ứng một trong các tiêu chí sau đây:
a)
Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc
gia hoặc địa phương trong quá trình dựng nước và giữ nước;
b)
Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc,
danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc
gia hoặc địa phương trong một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử;
c)
Công trình xây dựng, địa điểm gắn với lịch sử phát triển công nghiệp, đô thị,
nông thôn có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc địa phương
trong một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử.
2. Di
tích kiến trúc, nghệ thuật phải đáp ứng tiêu chí là công trình kiến trúc, nghệ
thuật, quần thể kiến trúc đô thị, nông thôn, địa điểm cư trú, khu vực đô thị và
nông thôn, công trình công nghiệp chứa đựng công trình kiến trúc và không gian
lịch sử, văn hóa có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển của
lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật.
3. Di
tích khảo cổ phải đáp ứng tiêu chí là địa điểm phát hiện dấu tích liên quan đến
hoạt động của con người, có tầng văn hóa chứa đựng di tích, di vật phản ánh lịch
sử văn hóa, con người, có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử.
4.
Danh lam thắng cảnh phải đáp ứng một trong các tiêu chí sau đây:
a) Cảnh
quan thiên nhiên có giá trị lịch sử, khoa học, thẩm mỹ tiêu biểu;
b) Cảnh
quan thiên nhiên, địa điểm có sự kết hợp với công trình kiến trúc có giá trị lịch
sử, khoa học, thẩm mỹ tiêu biểu;
c) Khu
vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh
học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những dấu tích vật
chất về các giai đoạn phát triển của trái đất.
5. Di
tích hỗn hợp là di tích đáp ứng tiêu chí của ít nhất 02 loại hình di tích quy định
tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này.
Điều 23. Kiểm kê di tích và Danh mục kiểm kê di tích
1. Các
công trình, địa điểm, quần thể kiến trúc đô thị, nông thôn, khu vực đô thị và
nông thôn, cảnh quan thiên nhiên, khu vực thiên nhiên được nhận diện theo tiêu
chí quy định tại Điều 22 của Luật này phải được kiểm kê, đưa
vào Danh mục kiểm kê di tích của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây
gọi là Danh mục kiểm kê di tích). Danh mục kiểm kê di tích phải được rà soát, cập
nhật hằng năm.
2. Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo, tổ chức kiểm kê, phê duyệt, công bố đưa
vào Danh mục kiểm kê di tích trên địa bàn và đưa ra khỏi Danh mục kiểm kê di
tích đối với di tích không còn đáp ứng tiêu chí quy định tại Điều
22 của Luật này.
3. Các
di tích trong Danh mục kiểm kê di tích được thực hiện các biện pháp quản lý, bảo
vệ và phát huy giá trị như đối với di tích cấp tỉnh theo quy định của Luật này.
4. Bộ
trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết khoản 1 và khoản 2 Điều
này.
Điều 24. Xếp hạng và hủy bỏ xếp hạng di tích
1. Di
tích được xếp hạng ở phạm vi quốc gia bao gồm:
a) Di
tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương và đáp ứng ít nhất
một trong các tiêu chí quy định tại Điều 22 của Luật này;
b) Di
tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia và đáp ứng ít nhất một
trong các tiêu chí quy định tại Điều 22 của Luật này;
c) Di
tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia và
đáp ứng ít nhất một trong các tiêu chí quy định tại Điều 22 của Luật
này.
2. Di
tích được UNESCO xem xét, công nhận là di sản thế giới bao gồm:
a) Di
sản văn hóa thế giới là di tích tiêu biểu của Việt Nam có giá trị nổi bật toàn
cầu về văn hóa;
b) Di
sản thiên nhiên thế giới là di tích tiêu biểu của Việt Nam có giá trị nổi bật
toàn cầu về thiên nhiên;
c) Di
sản thế giới hỗn hợp là di tích tiêu biểu của Việt Nam đáp ứng được tiêu chí của
cả di sản văn hóa thế giới và di sản thiên nhiên thế giới.
3. Di
tích được xếp hạng, công nhận theo phạm vi phân bố bao gồm:
a) Di
tích được xếp hạng quy định tại khoản 1 Điều này, có phạm vi phân bố trên địa
bàn 01 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
b) Di
tích được xếp hạng quy định tại khoản 1 Điều này, có phạm vi phân bố trên địa
bàn từ 02 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên;
c) Di
tích được công nhận là di sản thế giới có phạm vi phân bố trên lãnh thổ nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và trên lãnh thổ của một hoặc nhiều quốc gia,
vùng lãnh thổ khác (sau đây gọi là di sản thế giới đa quốc gia).
4. Các
trường hợp xem xét, hủy bỏ xếp hạng di tích ở phạm vi quốc gia và hủy bỏ công
nhận di sản thế giới bao gồm:
a) Di
tích đã được xếp hạng ở phạm vi quốc gia không còn đáp ứng quy định tại khoản
1 Điều này;
b) Di
sản thế giới trong Danh mục di sản thế giới bị đe dọa.
Điều 25. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hồ sơ xếp hạng, xếp
hạng bổ sung, hủy bỏ quyết định xếp hạng và bổ sung, chỉnh sửa hồ sơ khoa học
di tích, di sản thế giới
1. Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm lập hồ sơ khoa học để đề nghị xếp hạng,
xếp hạng bổ sung, hủy bỏ quyết định xếp hạng và bổ sung, chỉnh sửa hồ sơ khoa học
di tích trên địa bàn. Hồ sơ khoa học di tích phải có ý kiến thẩm định của Hội đồng
thẩm định do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập.
Trường
hợp di tích phân bố trên địa bàn từ 02 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở
lên, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có di tích thống nhất 01 địa phương chủ trì
việc lập và trình hồ sơ khoa học di tích, đề nghị xếp hạng, xếp hạng bổ sung, hủy
bỏ quyết định xếp hạng và bổ sung, chỉnh sửa hồ sơ khoa học di tích.
2. Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định xếp hạng, xếp hạng bổ sung, hủy
bỏ quyết định xếp hạng và bổ sung, chỉnh sửa hồ sơ khoa học di tích cấp tỉnh; cấp
bằng xếp hạng, xếp hạng bổ sung di tích cấp tỉnh.
3. Bộ
trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét, quyết định xếp hạng và cấp bằng
xếp hạng, xếp hạng bổ sung, hủy bỏ quyết định xếp hạng và bổ sung, chỉnh sửa hồ
sơ khoa học di tích quốc gia theo đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sau khi
có ý kiến thẩm định của Hội đồng thẩm định do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch thành lập.
4. Bộ
trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ xếp hạng
và cấp bằng xếp hạng, xếp hạng bổ sung, hủy bỏ quyết định xếp hạng và bổ sung,
chỉnh sửa hồ sơ khoa học di tích quốc gia đặc biệt theo đề nghị của Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh sau khi có ý kiến thẩm định của Hội đồng thẩm định do Bộ trưởng Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành lập. Hồ sơ trình Thủ tướng Chính phủ phải có
ý kiến bằng văn bản của Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia.
5. Việc
công nhận, công nhận bổ sung, hủy bỏ công nhận và bổ sung, chỉnh sửa hồ sơ di sản
thế giới được quy định như sau:
a) Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh gửi văn bản đề nghị Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ cho phép và giao Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh chủ trì lập hồ sơ khoa học di tích đề nghị UNESCO công nhận, công
nhận bổ sung và bổ sung, chỉnh sửa hồ sơ di sản thế giới đối với di tích phân bố
trên địa bàn 01 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc di tích phân bố trên
địa bàn từ 02 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên sau khi thống nhất
01 địa phương chủ trì và lập hồ sơ khoa học di tích.
Trường
hợp đề nghị UNESCO công nhận, công nhận bổ sung và bổ sung, chỉnh sửa hồ sơ di
sản thế giới đa quốc gia, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét,
trình Thủ tướng Chính phủ cho phép và giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có di tích
chủ trì, phối hợp với cơ quan có thẩm quyền của quốc gia thành viên lập hồ sơ
khoa học di tích;
b) Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh được giao lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận, công nhận bổ
sung và bổ sung, chỉnh sửa hồ sơ di sản thế giới đề nghị Bộ trưởng Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định đề nghị
UNESCO công nhận, công nhận bổ sung và bổ sung, chỉnh sửa hồ sơ di sản thế giới
sau khi có ý kiến thẩm định của Hội đồng thẩm định do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch thành lập. Hồ sơ do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình Thủ
tướng Chính phủ phải có ý kiến bằng văn bản của Hội đồng Di sản văn hóa quốc
gia;
c) Việc
hủy bỏ công nhận di sản thế giới thực hiện theo quy định, hướng dẫn của UNESCO.
6. Di
tích sau khi xếp hạng phải được quản lý, bảo vệ, phát huy giá trị theo quy định
của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; đối với di sản thế giới
còn phải thực hiện theo quy định, hướng dẫn của UNESCO.
Di tích
thuộc thẩm quyền quản lý của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, phân bố trên địa bàn từ
02 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên, các tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương có di tích phải thống nhất lập kế hoạch quản lý chung và quy chế bảo
vệ di tích.
7.
Chính phủ quy định trình tự, thủ tục, hồ sơ xếp hạng, xếp hạng bổ sung, hủy bỏ
quyết định xếp hạng và bổ sung, chỉnh sửa hồ sơ khoa học di tích, di sản thế giới
quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này; quy định chi tiết khoản 6 Điều
này.
Điều 26. Hoạt động phát huy giá trị di tích
Hoạt động
phát huy giá trị di tích bao gồm:
1.
Nghiên cứu, sưu tầm, tư liệu hóa về giá trị di tích; ứng dụng khoa học, công
nghệ vào việc phát huy giá trị di tích;
2.
Tuyên truyền, giáo dục, quảng bá, trưng bày, phổ biến, giới thiệu ở trong nước
và nước ngoài về vai trò, ý nghĩa, giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ
của di tích;
3. Hướng
dẫn, thuyết minh phục vụ khách tham quan;
4. Tổ
chức hoặc liên doanh, liên kết tổ chức hoạt động du lịch, dịch vụ phục vụ công chúng
tham quan, nghiên cứu, học tập tại di tích;
5.
Phát triển sản phẩm, dịch vụ và tạo điều kiện để cộng đồng trên địa bàn có di
tích tham gia phát triển sản phẩm, dịch vụ liên quan đến di tích;
6.
Nghiên cứu, sưu tầm, trưng bày, giới thiệu tài liệu, hiện vật gắn với giá trị
di tích;
7. Hoạt
động văn hóa ở di tích; tổ chức thực hành, trình diễn, giới thiệu di sản văn
hóa phi vật thể gắn với di tích;
8.
Trưng bày, triển lãm lưu động bên ngoài phạm vi di tích;
9. Hoạt
động phát huy giá trị di tích khác theo quy định của pháp luật.
Điều 27. Khu vực bảo vệ di tích, nguyên tắc xác định và cắm
mốc giới các khu vực bảo vệ di tích, điều chỉnh khu vực bảo vệ di tích, di sản
thế giới
1. Di
tích được xếp hạng quy định tại khoản 1 Điều 24 của Luật này
được khoanh vùng 02 khu vực bảo vệ, gồm khu vực bảo vệ I và khu vực bảo vệ II.
2. Khu
vực bảo vệ I là vùng có yếu tố gốc cấu thành di tích phải được bảo vệ nguyên trạng
về mặt bằng và không gian của các yếu tố gốc cấu thành di tích, được xác định
theo các nguyên tắc sau đây:
a) Đối
với di tích lịch sử, phạm vi khu vực bảo vệ I là vùng có công trình xây dựng, địa
điểm ghi dấu những diễn biến tiêu biểu của sự kiện lịch sử, văn hóa hoặc gắn với
thân thế, sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có liên
quan hoặc lịch sử phát triển công nghiệp, đô thị, nông thôn trong một hoặc nhiều
giai đoạn lịch sử có liên quan;
b) Đối
với di tích kiến trúc, nghệ thuật, phạm vi khu vực bảo vệ I là vùng có công
trình kiến trúc, sân, vườn, ao, hồ và yếu tố khác liên quan cấu thành giá trị của
di tích;
c) Đối
với di tích khảo cổ, phạm vi khu vực bảo vệ I là vùng đã phát hiện di tích, di
vật, địa hình, cảnh quan có liên quan trực tiếp đến môi trường sinh sống của chủ
thể đã tạo nên di tích;
d) Đối
với danh lam thắng cảnh, phạm vi khu vực bảo vệ I phải bảo đảm cho việc giữ gìn
toàn vẹn của cảnh quan thiên nhiên, địa hình, địa mạo và yếu tố địa lý khác chứa
đựng sự đa dạng sinh học và hệ sinh thái đặc thù, dấu tích vật chất về các giai
đoạn phát triển của trái đất hoặc công trình kiến trúc có liên quan;
đ) Đối
với di tích gồm nhiều công trình xây dựng, công trình kiến trúc, nghệ thuật,
công trình công nghiệp, địa điểm phân bố trên phạm vi rộng thì phải xác định khu
vực bảo vệ I cho từng công trình xây dựng, công trình kiến trúc, nghệ thuật,
công trình công nghiệp, địa điểm.
3. Khu
vực bảo vệ II là khu vực bao quanh hoặc tiếp giáp khu vực bảo vệ I của di tích,
để bảo vệ cảnh quan văn hóa của di tích, được xác định theo một trong các
nguyên tắc sau đây:
a) Là
khu vực gắn trực tiếp với khu vực bảo vệ I, cảnh quan văn hóa có chức năng quan
trọng trong việc bảo vệ di tích;
b) Là
khu vực có chứa đựng tiềm năng cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, củng cố giá trị
di tích;
c) Là
khu vực có chức năng ngăn chặn, phòng ngừa, hạn chế những tác động tiêu cực có
nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến khu vực bảo vệ I của di tích, đến công trình, địa
hình, cảnh quan văn hóa và hệ sinh thái tự nhiên của di tích.
4. Khu
vực tiếp giáp di tích không được xác định là khu vực bảo vệ II khi khu vực đó
có công trình xây dựng không thể di dời, khu vực dân cư do cơ quan có thẩm quyền
quy định tại khoản 6 Điều này quyết định.
5. Khu
vực bảo vệ di tích quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này phải được cơ quan
nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 6 Điều này xác định bằng ranh giới
trên bản đồ địa chính, thể hiện trong biên bản khoanh vùng bảo vệ của hồ sơ
khoa học di tích đã xếp hạng, phải được cập nhật vào bản đồ quy hoạch có liên
quan và phải được cắm mốc giới trên thực địa.
6. Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định xác định ranh giới khu vực bảo vệ, điều
chỉnh ranh giới khu vực bảo vệ, khu vực tiếp giáp di tích không được xác định
là khu vực bảo vệ II quy định tại khoản 4 Điều này đối với di tích trên địa bàn
sau khi có ý kiến thẩm định của Hội đồng thẩm định do Chủ tịch Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh thành lập.
Bộ trưởng
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét, chấp thuận ranh giới khu vực bảo vệ di
tích, quyết định khu vực tiếp giáp di tích không được xác định là khu vực bảo vệ
II quy định tại khoản 4 Điều này đối với di tích quốc gia theo hồ sơ khoa học
di tích đề nghị xếp hạng, chấp thuận điều chỉnh ranh giới khu vực bảo vệ theo hồ
sơ khoa học di tích quốc gia đã xếp hạng theo đề nghị của Chủ tịch Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh sau khi có ý kiến thẩm định của Hội đồng thẩm định do Bộ trưởng Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành lập.
Thủ tướng
Chính phủ xem xét, chấp thuận ranh giới khu vực bảo vệ di tích, quyết định khu
vực tiếp giáp di tích không được xác định là khu vực bảo vệ II quy định tại khoản
4 Điều này đối với di tích quốc gia đặc biệt theo hồ sơ khoa học di tích đề nghị
xếp hạng, chấp thuận điều chỉnh ranh giới khu vực bảo vệ theo hồ sơ khoa học di
tích quốc gia đặc biệt đã xếp hạng theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sau khi có ý kiến thẩm định
của Hội đồng thẩm định do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành lập.
Hồ sơ trình Thủ tướng Chính phủ phải có ý kiến bằng văn bản của Hội đồng Di sản
văn hoá quốc gia.
7. Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức hoặc ủy quyền cho người
đứng đầu cơ quan chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
huyện thực hiện cắm mốc giới khu vực bảo vệ di tích. Việc cắm mốc giới khu vực
bảo vệ di tích phải được tiến hành ngay sau thời điểm di tích được xếp hạng
theo quy định của Luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan và phải bảo
đảm nguyên tắc sau đây:
a)
Phân định rõ ranh giới khu vực bảo vệ di tích với khu vực tiếp giáp trên thực địa
theo biên bản và bản đồ khoanh vùng khu vực bảo vệ di tích trong hồ sơ khoa học
di tích đã xếp hạng;
b) Cột
mốc phải được làm bằng chất liệu bền vững và đặt ở vị trí dễ nhận biết; hình
dáng, màu sắc, kích thước cột mốc phải phù hợp với môi trường, cảnh quan của di
tích và không làm ảnh hưởng đến yếu tố gốc cấu thành di tích.
8. Khu
vực di sản thế giới, vùng đệm của khu vực di sản thế giới được xác định như sau:
a) Di
sản thế giới có khu vực di sản thế giới và vùng đệm của khu vực di sản thế giới
được xác định theo quy định, hướng dẫn của UNESCO;
b) Khu
vực di sản thế giới là vùng chứa đựng các yếu tố gốc tạo nên giá trị nổi bật
toàn cầu của di sản thế giới; được bảo vệ như khu vực bảo vệ I của di tích;
c)
Vùng đệm của khu vực di sản thế giới là vùng bao quanh khu vực di sản thế giới,
là một phần hoặc góp phần tạo nên giá trị và đặc điểm riêng biệt của di sản thế
giới có tác dụng tạo thêm một lớp bảo vệ cho di sản thế giới; được bảo vệ như
khu vực bảo vệ II của di tích;
d) Khu
vực di sản thế giới, vùng đệm của khu vực di sản thế giới được xác định trên bản
đồ trong hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận di sản thế giới và phải được cập nhật
vào bản đồ các quy hoạch có liên quan.
9. Việc
điều chỉnh thu hẹp hoặc mở rộng ranh giới khu vực bảo vệ I và khu vực bảo vệ II
của di tích được xếp hạng ở phạm vi quốc gia được quy định như sau:
a) Khu
vực bảo vệ I của di tích chỉ được điều chỉnh khi phương án điều chỉnh bảo đảm bảo
tồn nguyên vẹn yếu tố gốc cấu thành di tích, bảo đảm thực hiện theo nguyên tắc
quy định tại khoản 2 Điều này;
b) Khu
vực bảo vệ II của di tích chỉ được điều chỉnh khi phương án điều chỉnh bảo đảm
ngăn chặn được các yếu tố có thể tác động, làm ảnh hưởng tiêu cực đến yếu tố gốc
cấu thành di tích, bảo vệ được cảnh quan văn hóa của di tích, bảo đảm thực hiện
theo nguyên tắc quy định tại khoản 3 Điều này;
c) Việc
điều chỉnh khu vực bảo vệ di tích quy định tại điểm a và điểm b khoản này được
thực hiện như quy định tại khoản 5 và khoản 6 Điều này.
10. Việc
điều chỉnh mở rộng hoặc thu hẹp ranh giới khu vực di sản thế giới và vùng đệm của
khu vực di sản thế giới thực hiện theo quy định, hướng dẫn của UNESCO, bảo đảm
không được làm thay đổi tiêu chí tạo nên giá trị nổi bật toàn cầu của di sản thế
giới và phải lập thành hồ sơ; trường hợp điều chỉnh lớn ranh giới khu vực di sản
thế giới hoặc vùng đệm của khu vực di sản thế giới thì phải lập thành hồ sơ đề
cử mới.
11.
Chính phủ quy định chi tiết việc cập nhật ranh giới khu vực bảo vệ di tích, di
sản thế giới vào bản đồ các quy hoạch có liên quan quy định tại khoản 5, điểm d
khoản 8 Điều này; quy định chi tiết các khoản 6, 9 và 10 Điều này.
Điều 28. Sửa chữa, cải tạo, xây dựng công trình, thực hiện
các hoạt động trong khu vực bảo vệ di tích, di sản thế giới
1.
Trong khu vực bảo vệ I của di tích, khu vực di sản thế giới chỉ được sửa chữa,
cải tạo, xây dựng công trình sau đây:
a) Sửa
chữa, cải tạo, xây dựng công trình trực tiếp phục vụ bảo vệ và phát huy giá trị
di tích, di sản thế giới;
b) Sửa
chữa, cải tạo, xây dựng lại nhà ở riêng lẻ trên cơ sở hiện trạng nhà ở riêng lẻ
đã có.
2.
Trong khu vực bảo vệ II của di tích, vùng đệm của khu vực di sản thế giới chỉ
được sửa chữa, cải tạo, xây dựng công trình và thực hiện các hoạt động sau đây:
a) Sửa
chữa, cải tạo, xây dựng công trình trực tiếp phục vụ bảo vệ và phát huy giá trị
di tích, di sản thế giới;
b) Sửa
chữa, cải tạo, xây dựng nhà ở riêng lẻ;
c) Sửa
chữa, cải tạo, xây dựng công trình kinh tế - xã hội;
d) Sử
dụng khu vực biển để thực hiện hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biển;
đ) Thực
hiện hoạt động kinh tế - xã hội theo quy định của các luật chuyên ngành.
3. Việc
sửa chữa, cải tạo, xây dựng công trình, nhà ở riêng lẻ quy định tại khoản 1 và khoản
2 Điều này phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:
a)
Không làm sai lệch các sự kiện lịch sử, thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân
tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử, tác động tiêu cực đến cảnh quan văn hóa của
di tích, di sản thế giới;
b)
Không phá vỡ cấu trúc quy hoạch của quần thể các công trình kiến trúc, nghệ thuật
hoặc tác động tiêu cực đến hình dáng kiến trúc của công trình kiến trúc đơn lẻ,
liên quan đến di tích, di sản thế giới;
c)
Không thuộc khu vực đã phát hiện dấu tích di vật, có địa hình, cảnh quan văn
hóa liên quan đến di tích khảo cổ hoặc địa điểm khảo cổ, di sản thế giới;
d) Giữ
gìn sự toàn vẹn về giá trị của cảnh quan thiên nhiên, môi trường - sinh thái, địa
hình, địa mạo và yếu tố địa lý khác chứa đựng sự đa dạng sinh học và hệ sinh
thái đặc thù, dấu tích vật chất về các giai đoạn phát triển của trái đất hoặc
công trình kiến trúc liên quan đến danh lam thắng cảnh, di sản thế giới;
đ) Bảo
đảm phù hợp với quy luật tự nhiên, hệ sinh thái tài nguyên biển, bảo tồn và giữ
gìn các yếu tố gốc cấu thành giá trị thiên nhiên và đa dạng sinh học biển, môi
trường biển liên quan đến danh lam thắng cảnh, di sản thế giới;
e)
Không che khuất tầm nhìn đối với công trình, không gian cảnh quan của di tích;
không gây sạt lở làm biến đổi địa hình, sụt lún công trình di tích, di sản thế
giới.
Điều 29. Dự án đầu tư xây dựng, xây dựng công trình, sửa chữa,
cải tạo, xây dựng lại nhà ở riêng lẻ, thực hiện hoạt động trong khu vực bảo vệ
di tích, di sản thế giới
1. Việc
thực hiện dự án đầu tư xây dựng, xây dựng công trình, thực hiện hoạt động quy định
tại điểm a khoản 1 Điều 28 và các điểm a, c,
d, đ khoản 2 Điều 28 của Luật này được quy định như sau:
a) Thực
hiện theo quy định của Luật này, quy định của pháp luật về đầu tư, đầu tư công,
xây dựng và quy định khác của pháp luật có liên quan;
b) Việc
chấp thuận chủ trương đầu tư, quyết định chủ trương đầu tư dự án đầu tư xây dựng,
xây dựng công trình, sử dụng khu vực biển để thực hiện hoạt động khai thác, sử
dụng tài nguyên biển, thực hiện hoạt động kinh tế - xã hội chỉ được thực hiện
sau khi có ý kiến đồng ý bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du
lịch đối với di sản thế giới, di tích quốc gia đặc biệt, di tích quốc gia; của
người đứng đầu cơ quan chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh đối với di tích cấp tỉnh,
di tích thuộc Danh mục kiểm kê di tích. Trường hợp dự án đầu tư xây dựng, xây dựng
công trình, sử dụng khu vực biển để thực hiện hoạt động khai thác, sử dụng tài
nguyên biển, thực hiện hoạt động kinh tế - xã hội trong khu vực di sản thế giới,
vùng đệm của khu vực di sản thế giới, còn phải tuân thủ yêu cầu bảo vệ môi trường,
ngăn ngừa, kiểm soát, đánh giá các yếu tố tác động đến di sản thế giới theo quy
định của Luật này và quy định, hướng dẫn của UNESCO;
c) Căn
cứ quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27, Điều 28 của Luật
này, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, người đứng đầu cơ quan
chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh có ý kiến bằng văn bản về sự phù hợp với yêu cầu
bảo vệ và phát huy giá trị di tích, di sản thế giới.
2. Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh hoặc cơ quan chủ trì thẩm định, cấp phép dự án đầu tư xây
dựng, xây dựng công trình, sử dụng khu vực biển để thực hiện hoạt động khai
thác, sử dụng tài nguyên biển, thực hiện hoạt động kinh tế - xã hội quy định tại
khoản 1 Điều này trong khu vực di sản thế giới, vùng đệm của khu vực di sản thế
giới, trong khu vực bảo vệ I và khu vực bảo vệ II của di tích quốc gia đặc biệt,
di tích quốc gia có trách nhiệm gửi hồ sơ dự án đầu tư xây dựng, xây dựng công
trình, sử dụng khu vực biển để thực hiện hoạt động khai thác, sử dụng tài
nguyên biển, thực hiện hoạt động kinh tế - xã hội đến Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch để xin ý kiến theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật
có liên quan.
3. Ủy
ban nhân dân cấp huyện hoặc cơ quan chủ trì thẩm định, cấp phép dự án đầu tư
xây dựng, xây dựng công trình, sử dụng khu vực biển để thực hiện hoạt động khai
thác, sử dụng tài nguyên biển, thực hiện hoạt động kinh tế - xã hội quy định tại
khoản 1 Điều này trong khu vực bảo vệ I và khu vực bảo vệ II của di tích cấp tỉnh
có trách nhiệm gửi văn bản kèm hồ sơ dự án đầu tư xây dựng, xây dựng công
trình, sử dụng khu vực biển để thực hiện hoạt động khai thác, sử dụng tài
nguyên biển, thực hiện hoạt động kinh tế - xã hội đến cơ quan chuyên môn về văn
hóa cấp tỉnh để xin ý kiến theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp
luật có liên quan.
4. Việc
sửa chữa, cải tạo, xây dựng nhà ở riêng lẻ trong khu vực bảo vệ di tích, di sản
thế giới được quy định như sau:
a) Trường
hợp sửa chữa, cải tạo, xây dựng lại nhà ở riêng lẻ trên cơ sở hiện trạng công
trình nhà ở riêng lẻ đã có là yếu tố gốc cấu thành giá trị di tích hoặc là bộ
phận cấu thành cảnh quan văn hóa của di sản thế giới, di tích quốc gia đặc biệt,
cụm di tích quốc gia được thể hiện trong hồ sơ khoa học xếp hạng, thể hiện
trong quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích được cấp có thẩm quyền phê
duyệt có yêu cầu sửa chữa, cải tạo, xây dựng trong khu vực bảo vệ di tích, di sản
thế giới thực hiện theo quy định về dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích quy
định tại Điều 35 của Luật này;
b) Việc
sửa chữa, cải tạo, xây dựng nhà ở riêng lẻ trong khu vực bảo vệ di tích, di sản
thế giới không thuộc quy định tại điểm a khoản này thực hiện theo quy định của
pháp luật về xây dựng và chỉ được triển khai thực hiện sau khi có ý kiến đồng ý
bằng văn bản của cơ quan chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh.
5. Việc
sửa chữa, cải tạo, xây dựng nhà ở riêng lẻ quy định tại điểm b khoản 4 Điều này
được quy định như sau:
a) Việc
sửa chữa, cải tạo, xây dựng nhà ở riêng lẻ không thuộc trường hợp cấp giấy phép
xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng, chủ đầu tư có trách nhiệm gửi
hồ sơ theo quy định của Luật này đến cơ quan chuyên môn về văn hoá cấp tỉnh để
xin ý kiến.
Việc sửa
chữa, cải tạo, xây dựng nhà ở riêng lẻ thuộc trường hợp cấp giấy phép xây dựng
theo quy định của pháp luật về xây dựng, cơ quan có thẩm quyền cấp phép xây dựng
có trách nhiệm gửi văn bản kèm hồ sơ theo quy định của Luật này và pháp luật về
xây dựng đến cơ quan chuyên môn về văn hoá cấp tỉnh để xin ý kiến;
b) Căn
cứ quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27, khoản 2 và khoản 3 Điều
28 của Luật này, trên cơ sở lấy ý kiến của người đại diện, tổ chức được
giao quản lý, sử dụng di tích, di sản thế giới, người đứng đầu cơ quan chuyên
môn về văn hóa cấp tỉnh có ý kiến bằng văn bản về sự phù hợp với yêu cầu bảo vệ
và phát huy giá trị di tích, di sản thế giới.
6.
Chính phủ quy định chi tiết việc đánh giá các yếu tố tác động đến di sản thế giới
quy định tại điểm b khoản 1; quy định trình tự, thủ tục, hồ sơ đề nghị Bộ trưởng
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, người đứng đầu cơ quan chuyên môn về văn hóa cấp
tỉnh cho ý kiến quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này, các khoản 2, 3,
4 và 5 Điều này.
Điều 30. Dự án đầu tư xây dựng, xây dựng công trình,
nhà ở riêng lẻ, thực hiện hoạt động nằm ngoài khu vực bảo vệ di tích, nằm ngoài
vùng đệm của khu vực di sản thế giới
1. Việc
thực hiện dự án đầu tư xây dựng, xây dựng công trình, nhà ở riêng lẻ, sử dụng
khu vực biển để thực hiện hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biển, thực hiện
hoạt động kinh tế - xã hội nằm ngoài khu vực bảo vệ di tích, nằm ngoài vùng đệm
của khu vực di sản thế giới có khả năng tác động tiêu cực đến yếu tố gốc cấu
thành di tích, cảnh quan văn hóa của di tích, di sản thế giới được thực hiện
theo quy định của Luật này, quy định của pháp luật về đầu tư, đầu tư công, xây
dựng và quy định khác của pháp luật có liên quan. Đối với dự án đầu tư xây dựng,
xây dựng công trình, nhà ở riêng lẻ, sử dụng khu vực biển để thực hiện hoạt động
khai thác, sử dụng tài nguyên biển, thực hiện hoạt động kinh tế - xã hội nằm
ngoài vùng đệm của khu vực di sản thế giới, còn phải tuân thủ quy định, hướng dẫn
của UNESCO.
Trước
khi chấp thuận chủ trương đầu tư, quyết định chủ trương đầu tư dự án đầu tư xây
dựng, xây dựng công trình, cấp giấy phép xây dựng nhà ở riêng lẻ, sử dụng khu vực
biển để thực hiện hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biển, thực hiện hoạt
động kinh tế - xã hội theo quy định của Luật này, trước khi thực hiện dự án đầu
tư xây dựng, xây dựng công trình, sử dụng khu vực biển để thực hiện hoạt động
khai thác, sử dụng tài nguyên biển, thực hiện hoạt động kinh tế - xã hội không
thuộc trường hợp phải chấp thuận chủ trương đầu tư, quyết định chủ trương đầu
tư hoặc trước khi xây dựng nhà ở riêng lẻ thuộc trường hợp không phải cấp giấy
phép xây dựng, nằm ngoài khu vực bảo vệ di tích, nằm ngoài vùng đệm của khu vực
di sản thế giới, trường hợp xác định có khả năng tác động tiêu cực đến yếu tố gốc
cấu thành di tích, cảnh quan văn hóa của di tích, di sản thế giới thì phải có ý
kiến bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về văn hóa.
2. Dự
án đầu tư xây dựng, xây dựng công trình, nhà ở riêng lẻ, sử dụng khu vực biển để
thực hiện hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biển, thực hiện hoạt động
kinh tế - xã hội nằm ngoài khu vực bảo vệ di tích, nằm ngoài vùng đệm của khu vực
di sản thế giới có khả năng tác động tiêu cực đến yếu tố gốc cấu thành di tích,
cảnh quan văn hóa của di tích, di sản thế giới thuộc một trong các trường hợp
sau đây:
a) Có
thể làm sai lệch các sự kiện lịch sử, thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc,
danh nhân, nhân vật lịch sử, tác động tiêu cực đến cảnh quan văn hóa của di
tích, di sản thế giới;
b) Có
nguy cơ phá vỡ cấu trúc quy hoạch của quần thể các công trình kiến trúc, nghệ
thuật hoặc tác động tiêu cực đến hình dáng kiến trúc của công trình kiến trúc
đơn lẻ, liên quan đến di tích, di sản thế giới;
c) Có
phạm vi thực hiện thuộc khu vực đã phát hiện dấu tích di vật, có địa hình, cảnh
quan văn hóa liên quan đến di tích khảo cổ hoặc địa điểm khảo cổ, di sản thế giới;
d) Có
nguy cơ tác động tiêu cực đến sự toàn vẹn về giá trị của cảnh quan thiên nhiên,
môi trường - sinh thái, địa hình, địa mạo và các yếu tố địa lý khác chứa đựng sự
đa dạng sinh học và hệ sinh thái đặc thù, các dấu tích vật chất về các giai đoạn
phát triển của trái đất hoặc các công trình kiến trúc liên quan đến danh lam thắng
cảnh, di sản thế giới;
đ) Có
nguy cơ tác động tiêu cực đến hệ sinh thái tài nguyên biển, bảo tồn và giữ gìn
các yếu tố gốc cấu thành giá trị thiên nhiên và đa dạng sinh học biển, môi trường
biển liên quan đến danh lam thắng cảnh, di sản thế giới;
e) Có
nguy cơ che khuất tầm nhìn đối với công trình, không gian cảnh quan của di
tích; có nguy cơ gây sạt lở làm biến đổi địa hình, sụt lún công trình di tích,
di sản thế giới.
3. Cơ
quan chủ trì thẩm định dự án đầu tư xây dựng, xây dựng công trình, sử dụng khu
vực biển để thực hiện hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biển, thực hiện
hoạt động kinh tế - xã hội nằm ngoài vùng đệm của khu vực di sản thế giới, nằm
ngoài khu vực bảo vệ di tích quốc gia đặc biệt, di tích quốc gia có khả năng
tác động tiêu cực đến yếu tố gốc cấu thành di tích, cảnh quan văn hóa của di
tích, di sản thế giới có trách nhiệm gửi văn bản kèm hồ sơ đề nghị chấp thuận
chủ trương đầu tư, quyết định chủ trương đầu tư dự án, hồ sơ dự án đầu tư xây dựng,
xây dựng công trình, sử dụng khu vực biển để thực hiện hoạt động khai thác, sử
dụng tài nguyên biển, thực hiện hoạt động kinh tế - xã hội đến Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch để có ý kiến.
4. Cơ
quan chủ trì thẩm định, cấp phép dự án đầu tư xây dựng, xây dựng công trình, sử
dụng khu vực biển để thực hiện hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biển, thực
hiện hoạt động kinh tế - xã hội nằm ngoài khu vực bảo vệ di tích cấp tỉnh hoặc
nhà ở riêng lẻ nằm ngoài vùng đệm của khu vực di sản thế giới, nằm ngoài khu vực
bảo vệ di tích quốc gia đặc biệt, di tích quốc gia, di tích cấp tỉnh có khả
năng tác động tiêu cực đến yếu tố gốc cấu thành di tích, cảnh quan văn hóa của
di tích, di sản thế giới có trách nhiệm gửi văn bản kèm hồ sơ đề nghị chấp thuận
chủ trương đầu tư, quyết định chủ trương đầu tư, hồ sơ dự án đầu tư xây dựng,
xây dựng công trình, sử dụng khu vực biển để thực hiện hoạt động khai thác, sử
dụng tài nguyên biển, thực hiện hoạt động kinh tế - xã hội, nhà ở riêng lẻ đến
cơ quan chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh để có ý kiến.
5.
Chính phủ quy định chi tiết các khoản 1, 3 và 4 Điều này.
Điều 31. Đưa thêm, di dời, thay đổi hiện vật trong di tích
1. Việc
đưa thêm, di dời, thay đổi hiện vật trong di tích phải bảo đảm các nguyên tắc
sau đây:
a)
Không làm thay đổi yếu tố gốc cấu thành di tích;
b)
Không làm sai lệch nội dung, giá trị của di tích;
c) Hiện
vật được đưa thêm, di dời, thay đổi phải được cập nhật vào Bản thống kê hiện vật
thuộc di tích.
2. Thẩm
quyền đưa thêm, di dời, thay đổi hiện vật trong di tích được quy định như sau:
a) Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định việc đưa thêm, di dời, thay đổi hiện vật
trong di sản thế giới, di tích quốc gia đặc biệt;
b) Cơ
quan chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh quyết định việc đưa thêm, di dời, thay đổi
hiện vật trong di tích quốc gia, di tích cấp tỉnh, di tích trong Danh mục kiểm
kê di tích thuộc sở hữu toàn dân trên địa bàn;
c) Chủ
sở hữu di tích được đưa thêm, di dời, thay đổi hiện vật trong di tích cấp tỉnh,
di tích trong Danh mục kiểm kê di tích thuộc sở hữu chung, sở hữu riêng bảo đảm
nguyên tắc quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Định
kỳ hằng năm, cơ quan chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh tổ chức rà soát, cập nhật Bản
thống kê hiện vật thuộc di tích, báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
4. Bộ
trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định trình tự, thủ tục, hồ sơ đưa
thêm, di dời, thay đổi hiện vật trong di tích quy định tại khoản 2 và quy định
chi tiết khoản 3 Điều này.
Điều 32. Tổ chức, người đại diện được giao quản lý, sử dụng
di tích
1. Di
tích thuộc sở hữu toàn dân phải có tổ chức được giao quản lý, sử dụng và chịu
trách nhiệm trước pháp luật về các hoạt động quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị
di tích.
2. Di
tích không thuộc sở hữu toàn dân phải có tổ chức hoặc người đại diện được giao
quản lý, sử dụng và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hoạt động quản lý,
bảo vệ và phát huy giá trị di tích.
Người
đại diện được giao quản lý, sử dụng di tích phải là công dân Việt Nam thường
trú tại Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có uy tín trong cộng đồng
dân cư.
3. Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ trưởng, người đứng đầu ngành, cơ quan, tổ chức
ở trung ương căn cứ loại hình, quy mô, giá trị, tính chất của di tích và tình
hình thực tiễn của địa phương, Bộ, ngành, cơ quan, tổ chức ở trung ương quyết định
hoặc trình cấp có thẩm quyền quyết định việc thành lập tổ chức được giao quản
lý, sử dụng đối với một hoặc nhiều di tích; cấp quản lý của tổ chức đó; quyết định
việc giao trách nhiệm cho người đại diện được giao quản lý, sử dụng di tích thuộc
trách nhiệm quản lý theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật
có liên quan.
4. Di
tích phân bố trên địa bàn từ 02 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên,
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh từng địa phương có di tích quyết định việc thành
lập hoặc trình cấp có thẩm quyền quyết định việc thành lập tổ chức được giao quản
lý, sử dụng di tích, quyết định giao trách nhiệm cho người đại diện được giao
quản lý, sử dụng di tích trên địa bàn.
Điều 33. Nhiệm vụ của tổ chức được giao quản lý, sử dụng di
tích
1. Tổ
chức được giao quản lý, sử dụng di tích thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Luật
này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ trưởng, người đứng đầu ngành, cơ quan, tổ chức
ở trung ương được giao trực tiếp quản lý di tích căn cứ loại hình, giá trị, quy
mô, yêu cầu bảo vệ và giữ gìn di tích thuộc trách nhiệm quản lý, quyết định
giao tổ chức được giao quản lý, sử dụng di tích thực hiện toàn bộ hoặc một số
nhiệm vụ sau đây:
a) Lập
chương trình, quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích, kế hoạch, phương án,
tổ chức thực hiện bảo vệ và phát huy giá trị di tích sau khi được cấp có thẩm
quyền phê duyệt;
b) Tổ
chức giám sát tình trạng bảo tồn di tích, ngăn chặn các hành vi bị nghiêm cấm
quy định tại Điều 9 của Luật này theo phạm vi, trách nhiệm
được giao;
c) Xây
dựng và triển khai chương trình, kế hoạch, dự án đầu tư bảo quản, tu bổ, phục hồi
di tích;
d) Tổ
chức hoặc liên kết tổ chức hoạt động nghiên cứu, sưu tầm tư liệu, hiện vật;
trưng bày, tuyên truyền, quảng bá về di tích;
đ)
Nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ vào việc quản lý, bảo vệ và phát huy
giá trị di tích;
e) Tổ
chức hoạt động tham quan, dịch vụ phù hợp với từng di tích; thu, quản lý và sử
dụng nguồn thu theo quy định của pháp luật;
g) Xây
dựng và triển khai kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ cho viên chức, người lao động;
h)
Tham gia quản lý, liên doanh, liên kết và giám sát hoạt động đầu tư, bảo vệ môi
trường, bảo tồn và phát triển sinh vật trong khu vực bảo vệ di tích; phối hợp với
các cấp, ngành có liên quan kiểm tra, giám sát hoạt động kinh tế - xã hội trong
khu vực bảo vệ di tích;
i) Phối
hợp với cơ quan, tổ chức, cộng đồng, cá nhân tổ chức thông tin, thảo luận, thu
thập, tham gia ý kiến về quy hoạch, dự án, chương trình phát triển kinh tế - xã
hội liên quan đến di tích;
k) Tổ
chức thực hiện chương trình hợp tác quốc tế;
l) Thực
hiện chế độ thông tin, báo cáo về việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và quản lý di
tích;
m) Nhiệm
vụ khác do cơ quan có thẩm quyền giao.
Điều 34. Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích
1. Quy
hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích là quy hoạch chi tiết ngành[2], xác định nội dung và các biện
pháp bảo quản, tu bổ, phục hồi các yếu tố gốc của di tích, định hướng tổ chức
không gian trong khu vực di tích, các hạng mục công trình xây dựng theo quy định
tại khoản 1 và khoản 2 Điều 28 của Luật này.
2. Quy
hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích được lập cho di sản thế giới, di tích
quốc gia đặc biệt, cụm di tích quốc gia hoặc cụm di tích quốc gia với di tích cấp
tỉnh tạo thành một quần thể phân bố trong cùng một khu vực địa lý, có mối quan
hệ mật thiết về lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ, trong đó lồng ghép nội
dung bảo vệ di tích với bảo vệ tài nguyên rừng, đa dạng sinh học, nguồn lợi thủy
sản, tài nguyên địa chất, địa mạo, quyền và nghĩa vụ của cộng đồng theo quy định
của pháp luật về quy hoạch, di sản văn hóa, lâm nghiệp, đa dạng sinh học, thủy
sản, địa chất và khoáng sản và quy định khác của pháp luật có liên quan.
3. Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ trưởng, người đứng đầu ngành, cơ quan, tổ chức
ở trung ương được giao trực tiếp quản lý di tích phê duyệt quy hoạch, điều chỉnh
quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi cụm di tích quốc gia hoặc cụm di tích quốc
gia với di tích cấp tỉnh tạo thành một quần thể phân bố trong cùng một khu vực
địa lý thuộc trách nhiệm quản lý sau khi có ý kiến thẩm định của Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch.
4.[3] Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức thẩm định, phê duyệt
quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di sản thế giới, di
tích quốc gia đặc biệt theo đề nghị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ
trưởng, người đứng đầu ngành, cơ quan, tổ chức ở trung ương được giao trực tiếp
quản lý di tích.
5.
Chính phủ quy định chi tiết thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hồ sơ lập, thẩm định,
phê duyệt quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích.
Điều 35. Dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích
1.
Công trình bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích là công trình có tính chất chuyên
ngành, phải lập thành dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích theo định mức
kinh tế - kỹ thuật về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích do Bộ trưởng Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch quy định. Việc lập dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di
tích thực hiện thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Sau
khi quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích được cấp có thẩm quyền phê duyệt
theo quy định tại Điều 34 của Luật này và xác định được khả
năng bố trí kinh phí từ nguồn ngân sách nhà nước, khả năng huy động nguồn kinh
phí khác theo quy định của pháp luật;
b) Khi
di tích bị xuống cấp, được cơ quan chuyên môn về văn hóa xác nhận và đã được bố
trí kinh phí từ nguồn ngân sách nhà nước hoặc bảo đảm khả năng huy động nguồn
kinh phí khác theo quy định của pháp luật.
Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch xác nhận đối với di sản thế giới, di tích quốc gia đặc
biệt, di tích quốc gia; cơ quan chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh xác nhận đối với
di tích cấp tỉnh, di tích trong Danh mục kiểm kê di tích.
2. Việc
bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:
a) Giữ
gìn tối đa các yếu tố gốc cấu thành di tích;
b) Lập
báo cáo nghiên cứu khả thi, báo cáo kinh tế - kỹ thuật của dự án bảo quản, tu bổ,
phục hồi di tích trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, trừ trường hợp
sửa chữa nhỏ quy định tại khoản 1 Điều 36 của Luật này;
c)
Tuân thủ quy định của pháp luật về quy hoạch, đầu tư, đầu tư công, xây dựng, di
sản văn hóa, điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên và quy định khác của pháp luật có liên quan;
d) Phù
hợp với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và các quy hoạch liên quan đã được
phê duyệt; bảo đảm đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật, hài hòa về cảnh quan và kiến trúc
khu vực;
đ)
Tuân thủ quy định của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về bảo quản, tu
bổ, phục hồi di tích;
e)
Công khai nội dung bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích đã được phê duyệt tại địa
phương nơi có di tích.
3. Dự
án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích phải được thẩm định trước khi cấp có thẩm
quyền quyết định đầu tư, quyết định thực hiện. Đối với dự án bảo quản, tu bổ,
phục hồi di sản thế giới, di tích quốc gia đặc biệt, di tích quốc gia có quy mô
lớn, phức tạp, còn phải được thẩm định trước khi cấp có thẩm quyền chấp thuận
chủ trương đầu tư, quyết định chủ trương đầu tư.
Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch thẩm định dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di sản thế
giới, di tích quốc gia đặc biệt, di tích quốc gia; cơ quan chuyên môn về văn
hóa cấp tỉnh thẩm định dự án bảo quản, tu bổ phục hồi di tích cấp tỉnh, di tích
thuộc Danh mục kiểm kê di tích.
Việc
thẩm định dự án của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và cơ quan chuyên môn về
văn hóa cấp tỉnh thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về xây dựng.
Đối với dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di sản thế giới, di tích quốc gia đặc
biệt, di tích quốc gia có quy mô lớn, phức tạp, còn phải có ý kiến thẩm định của
Hội đồng khoa học về bảo tồn di tích do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
thành lập trước khi ban hành văn bản thẩm định; dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi
di sản thế giới còn phải thực hiện theo quy định, hướng dẫn của UNESCO.
4.
Chính phủ quy định chi tiết khoản 1, điểm b và điểm e khoản 2 và khoản 3 Điều này.
Điều 36. Bảo quản thường xuyên, sửa chữa nhỏ, tu sửa cấp thiết
di tích
1. Bảo
quản thường xuyên, sửa chữa nhỏ di tích được quy định như sau:
a) Bảo
quản thường xuyên là hoạt động kiểm tra, phát hiện, vệ sinh cơ học để phòng, chống
nấm mốc, mối mọt, côn trùng, sinh vật gây hại cấu kiện, thành phần kiến trúc,
hiện vật, cảnh quan văn hóa của di tích;
b) Sửa
chữa nhỏ di tích là hoạt động sửa chữa, thay thế nhỏ các cấu kiện, thành phần
kiến trúc không thuộc bộ phận cấu thành yếu tố gốc của di tích, cải tạo cảnh quan
thiên nhiên, môi trường - sinh thái nhằm ngăn chặn hoặc khắc phục tình trạng xuống
cấp của di tích;
c) Người
đại diện, tổ chức được giao quản lý, sử dụng di tích thực hiện việc bảo quản
thường xuyên, sửa chữa nhỏ di tích phải thực hiện các yêu cầu quy chuẩn, tiêu
chuẩn kỹ thuật, nhân lực có chuyên môn, nghiệp vụ; ưu tiên sử dụng vật liệu, kỹ
thuật truyền thống và bảo đảm sự bền vững và ổn định của di tích.
2. Tu
sửa cấp thiết di tích được quy định như sau:
a) Việc
thực hiện tu sửa cấp thiết di tích phải đáp ứng yêu cầu quy định tại Điều 78 của Luật này;
b) Việc
tu sửa cấp thiết di tích phải lập thành báo cáo kinh tế - kỹ thuật theo quy định
tại điểm b khoản 2 Điều 35 của Luật này, trình cấp có thẩm
quyền phê duyệt theo quy định tại điểm c khoản này;
c) Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ trưởng, người đứng đầu ngành, cơ quan, tổ chức
ở trung ương theo thẩm quyền phê duyệt báo cáo kinh tế - kỹ thuật tu sửa cấp
thiết di tích sau khi có ý kiến bằng văn bản của cơ quan chuyên môn về văn hóa
cấp tỉnh;
d) Việc
tu sửa cấp thiết di tích có sự giám sát của cơ quan chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh,
người đại diện cho cộng đồng dân cư nơi có di tích.
Điều 37. Quy hoạch khảo cổ
1. Quy
hoạch khảo cổ là quy hoạch chi tiết ngành[4].
2. Quy
hoạch khảo cổ là việc nhận diện, xác định địa điểm, khu vực khảo cổ gắn với đề
xuất kế hoạch, phương án, nguồn lực thực hiện bảo vệ, nghiên cứu, thăm dò,
khai quật, phát huy giá trị địa điểm, khu vực khảo cổ.
3. Đối
tượng được đưa vào quy hoạch khảo cổ là các địa điểm, khu vực trong lòng đất
và dưới nước đã phát hiện di tích, di vật hoặc có dấu hiệu lưu giữ di tích, di
vật có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.
4. Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức việc lập quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch
khảo cổ ở địa phương; phê duyệt quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch khảo cổ sau khi
có ý kiến thẩm định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; công bố quy hoạch.
5.
Chính phủ quy định chi tiết thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hồ sơ lập, thẩm định,
phê duyệt quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch khảo cổ.
Điều 38. Quản lý, bảo vệ địa điểm, khu vực khảo cổ
1. Cơ
quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ và phát huy giá trị địa điểm,
khu vực khảo cổ, di vật khảo cổ theo quy định của Luật này và quy định khác của
pháp luật có liên quan.
2. Chủ
đầu tư dự án, xây dựng công trình ở địa điểm, khu vực khảo cổ hoặc thuộc quy hoạch
khảo cổ có trách nhiệm phối hợp, tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức đủ điều kiện
thăm dò, khai quật khảo cổ theo quy định tại khoản 6 Điều 39 của
Luật này tiến hành thăm dò, khai quật khảo cổ trước và trong quá trình triển
khai dự án.
3.
Trong quá trình thực hiện dự án, xây dựng công trình mà phát hiện dấu hiệu có
di tích, di vật hoặc phát hiện được di tích, di vật, chủ đầu tư phải tạm ngừng
thi công và có trách nhiệm thông báo kịp thời cho cơ quan quản lý nhà nước về
văn hóa trên địa bàn.
Khi nhận
được thông báo, cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn phải có biện
pháp xử lý kịp thời để bảo vệ địa điểm, khu vực khảo cổ, di tích, di vật; trường
hợp vượt quá thẩm quyền xử lý hoặc xét thấy cần ngừng hoặc ngừng một phần hoạt
động của dự án đầu tư xây dựng, xây dựng công trình, phải báo cáo cơ quan cấp
trên có thẩm quyền xem xét, giải quyết.
4.
Trong trường hợp cần tổ chức thăm dò, khai quật khảo cổ tại khu vực, địa điểm
xây dựng công trình thì kinh phí thăm dò, khai quật khảo cổ được quy định như
sau:
a) Đối
với công trình xây dựng thực hiện theo pháp luật về đầu tư công thì kinh phí
thăm dò, khai quật khảo cổ được tính trong tổng vốn đầu tư của công trình đó;
b) Đối
với công trình xây dựng không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này
thì kinh phí thăm dò, khai quật khảo cổ được Nhà nước cấp hoặc nguồn vốn xã hội
hóa.
Điều 39. Thăm dò, khai quật khảo cổ
1. Hoạt
động thăm dò, khai quật khảo cổ gồm thăm dò, khai quật khảo cổ trong lòng đất
và thăm dò, khai quật khảo cổ dưới nước.
2. Việc
thăm dò, khai quật khảo cổ phải đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
a) Phù
hợp với quy hoạch khảo cổ đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định tại
Điều 37 của Luật này, trừ trường hợp phát hiện trong quá
trình thực hiện dự án, xây dựng công trình theo quy định tại khoản
3 Điều 38 của Luật này;
b) Lập
dự án khai quật khảo cổ được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của Luật
này và quy định khác của pháp luật có liên quan;
c) Có
giấy phép của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
3. Việc
thăm dò, khai quật khảo cổ khẩn cấp được thực hiện trong trường hợp địa điểm,
khu vực khảo cổ đang bị hủy hoại hoặc có nguy cơ bị hủy hoại. Người đứng đầu cơ
quan chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh cấp giấy phép thăm dò, khai quật khảo cổ
khẩn cấp trong lòng đất.
4. Địa
điểm, khu vực thăm dò, khai quật khảo cổ phải được bảo vệ. Khi phát hiện hoặc
nhận được thông báo hoặc báo cáo về việc phát hiện di sản văn hóa dưới nước, Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh phải kịp thời có kế hoạch, chỉ đạo và huy động lực lượng
trên địa bàn bảo vệ an toàn, an ninh, trật tự khu vực có di sản văn hóa dưới nước
được phát hiện; ngăn chặn và xử lý kịp thời mọi hoạt động làm nguy hại đến sự
an toàn của di sản văn hóa dưới nước; thực hiện các biện pháp quản lý, bảo vệ
khác và báo cáo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Trường hợp di sản văn hóa dưới
nước xác định có quy mô lớn, có ý nghĩa quan trọng về lịch sử, văn hóa, khoa học
phải kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
5. Di
vật, cổ vật phát hiện được tại địa điểm, khu vực thăm dò, khai quật khảo cổ phải
được tạm thời bảo vệ tại địa điểm, khu vực thăm dò, khai quật khảo cổ và thực
hiện biện pháp bảo vệ an toàn, an ninh trước khi cấp có thẩm quyền quyết định
phương án bảo vệ, phát huy giá trị. Trường hợp xác định phương án bảo vệ, phát
huy giá trị theo quy định tại điểm a khoản 1 và điểm b khoản 3 Điều
45 của Luật này thì di vật, cổ vật phải được chỉnh lý, hoàn thiện hồ sơ
khoa học, tạm nhập vào bảo tàng công lập nơi có địa điểm, khu vực khảo cổ.
6. Cơ
quan, tổ chức được thực hiện thăm dò, khai quật khảo cổ gồm cơ quan nghiên cứu
khảo cổ học của Nhà nước; cơ sở giáo dục đại học có bộ môn khảo cổ học; bảo
tàng, tổ chức được giao quản lý, sử dụng di tích của Nhà nước có chức năng, nhiệm
vụ nghiên cứu khảo cổ; hội có chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu khảo cổ ở trung
ương.
Cơ
quan, tổ chức thực hiện thăm dò, khai quật khảo cổ được hợp tác với tổ chức,
cá nhân nước ngoài tiến hành thăm dò, khai quật khảo cổ tại Việt Nam theo quy
định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
7. Người
chủ trì thăm dò, khai quật khảo cổ phải đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
a) Có
trình độ đại học trở lên chuyên ngành khảo cổ học;
b) Có
ít nhất 05 năm trực tiếp làm công tác khảo cổ;
c) Được
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đồng ý chủ trì thăm dò, khai quật khảo cổ trên
cơ sở đề nghị của cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 6 Điều này.
8.
Chính phủ quy định chi tiết điểm b và điểm c khoản 2, các khoản 3, 4, 5 và 6 Điều
này.
Mục 2. DI VẬT, CỔ VẬT, BẢO VẬT QUỐC GIA
Điều 40. Phân loại và xác định di vật, cổ vật
1. Di
vật, cổ vật bao gồm:
a) Di
vật, cổ vật có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học thuộc các giai đoạn lịch sử của
Việt Nam, của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam;
b) Di
vật, cổ vật, tài liệu của Việt Nam có giá trị đối với việc nghiên cứu lịch sử,
văn hóa, chủ quyền quốc gia, liên quan đến sự kiện quan trọng của đất nước hoặc
sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực
đến sự phát triển của quốc gia;
c) Cá
thể hoặc bộ phận hóa thạch người, động vật, thực vật thuộc thời kỳ Tiền sử Việt
Nam;
d) Bản
thảo tác phẩm văn học, bản gốc tác phẩm tạo hình, nhiếp ảnh có giá trị cao về nội
dung, tư tưởng, hình thức nghệ thuật và có tác dụng ảnh hưởng lớn trong xã hội;
đ) Di
vật, cổ vật có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học có xuất xứ từ nước ngoài.
2. Di
vật, cổ vật được xác định thông qua kết luận giám định quy định tại Điều 41 của Luật này.
3. Bộ
trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết khoản 1 Điều này.
Điều 41. Giám định, điều kiện thực hiện giám định di vật, cổ
vật
1.
Giám định di vật, cổ vật là việc sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp
khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để đánh giá, kết luận về giá trị lịch sử, văn
hóa, khoa học, niên đại, chất liệu của di vật, cổ vật.
2. Việc
thực hiện giám định di vật, cổ vật phải đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
a) Có
trang thiết bị, phương tiện thực hiện giám định;
b) Có
ít nhất 03 chuyên gia giám định di vật, cổ vật.
3. Cơ
quan chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh, bảo tàng công lập, đáp ứng đủ các điều kiện
quy định tại khoản 2 Điều này hoặc cơ sở kinh doanh giám định di vật, cổ vật
quy định tại khoản 1 Điều 79 của Luật này được thực hiện
giám định di vật, cổ vật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả giám định.
4. Cơ
quan chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh cấp giấy chứng nhận chuyên gia giám định di
vật, cổ vật cho người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; không đang trong thời
gian bị cấm hành nghề hoặc công việc có liên quan đến di sản văn hoá theo bản
án, quyết định của Tòa án; không đang bị khởi tố hình sự, bị tạm giữ, tạm giam;
không đang trong thời gian chấp hành án phạt tù, cải tạo không giam giữ, chấp
hành đưa vào các cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và phải đáp
ứng một trong các tiêu chuẩn sau đây:
a) Có
trình độ đại học trở lên thuộc một trong các ngành, chuyên ngành liên quan đến
di vật, cổ vật; có ít nhất 05 năm trực tiếp tham gia một hoặc một số hoạt động
về: khảo cổ học, sưu tầm, bảo quản, phục chế di vật, cổ vật; có ít nhất 01 bài
báo khoa học về di vật, cổ vật được công bố trên tạp chí khoa học hoặc tham gia
biên soạn ít nhất 01 quyển sách chuyên khảo về di vật, cổ vật được xuất bản;
b) Là
thành viên của tổ chức xã hội - nghề nghiệp liên quan đến di vật, cổ vật; có ít
nhất 10 năm trực tiếp tham gia một hoặc một số hoạt động về: khảo cổ học, sưu tầm,
bảo quản, phục chế di vật, cổ vật; có ít nhất 02 bài báo khoa học về di vật, cổ
vật được công bố trên tạp chí khoa học hoặc tham gia biên soạn ít nhất 02 quyển
sách chuyên khảo về di vật, cổ vật được xuất bản.
5.
Chính phủ quy định chi tiết trình tự, thủ tục, hồ sơ giám định di vật, cổ vật;
cấp, cấp lại, thu hồi giấy chứng nhận chuyên gia giám định di vật, cổ vật.
Điều 42. Sưu tầm, kiểm kê di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
1. Di
vật, cổ vật, bảo vật quốc gia được sưu tầm thông qua các phương thức sau đây:
a)
Thám sát, thăm dò, khai quật khảo cổ hoặc thu thập tại thực địa do cơ quan, tổ
chức của Nhà nước có chức năng, nhiệm vụ phù hợp thực hiện;
b) Mua
bán theo giá thỏa thuận, tổ chức đấu giá, hình thức chuyển quyền sở hữu khác
theo quy định của pháp luật;
c) Tiếp
nhận từ tổ chức, cá nhân chuyển giao.
2. Việc
sưu tầm di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia ở trong nước và nước ngoài phù hợp với
quy định của Luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan và điều ước quốc
tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên nhằm bảo tồn, bảo
quản, phát huy giá trị của di sản văn hóa, lịch sử của quốc gia, hình thành các
sưu tập có giá trị vì mục đích nghiên cứu, giáo dục về lịch sử, văn hóa, xã hội
và bảo vệ pháp lý, chứng minh chủ quyền đối với các di sản văn hóa và lịch sử
quan trọng, có giá trị của quốc gia.
3. Nhà
nước được ưu tiên sưu tầm di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia theo quy định tại khoản
1 Điều này.
4. Việc
sưu tầm di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia phải được lập hồ sơ gồm tập hợp các
tài liệu khoa học và pháp lý liên quan đến nội dung, quá trình phát hiện, sưu
tầm di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.
5. Di
vật, cổ vật, bảo vật quốc gia sau khi sưu tầm phải được tiến hành kiểm kê nhằm
xác lập thủ tục pháp lý, làm sáng tỏ nội dung, ý nghĩa, giá trị và tình trạng
bảo quản của di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, phục vụ công tác quản lý, bảo vệ
và phát huy giá trị. Hoạt động kiểm kê di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia được thực
hiện theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 68 và Điều 72 của Luật
này.
Điều 43. Đăng ký di vật, cổ vật
1. Nhà
nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đăng ký di vật, cổ vật thuộc sở hữu chung
và sở hữu riêng với cơ quan chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh trên địa bàn nơi
đăng ký hoạt động của tổ chức, nơi cư trú của cá nhân.
2. Di
vật, cổ vật phải được giám định tại cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 3 Điều 41 của Luật này trước khi đăng ký.
3. Tổ
chức, cá nhân sở hữu di vật, cổ vật đã đăng ký được cơ quan chuyên môn về văn
hóa cấp tỉnh nơi đăng ký cấp giấy chứng nhận đăng ký di vật, cổ vật hỗ trợ
nghiệp vụ về trưng bày, bảo quản; tạo điều kiện bảo vệ và phát huy giá trị di vật,
cổ vật; giữ bí mật thông tin về di vật, cổ vật đã đăng ký (nếu có yêu cầu).
4.
Chính phủ quy định trình tự, thủ tục, hồ sơ đăng ký di vật, cổ vật và quy định
chi tiết khoản 3 Điều này.
Điều 44. Công nhận, công nhận bổ sung, hủy bỏ công nhận bảo
vật quốc gia
1. Bảo
vật quốc gia phải đáp ứng đủ các tiêu chí sau đây:
a) Là
hiện vật gốc độc bản;
b) Là
hiện vật có hình thức độc đáo;
c) Là
một trong các hiện vật sau: hiện vật có giá trị đặc biệt quý hiếm, tiêu biểu của
đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học liên quan đến sự kiện trọng đại của đất
nước, sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử tiêu biểu; là
tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng về giá trị tư tưởng, nhân văn, giá trị thẩm mỹ
tiêu biểu cho một khuynh hướng, một phong cách, một thời đại; là sản phẩm được
phát minh, sáng chế tiêu biểu, có giá trị thực tiễn cao, có tác dụng thúc đẩy
xã hội phát triển ở một giai đoạn lịch sử nhất định; là mẫu vật tự nhiên chứng
minh cho các giai đoạn hình thành và phát triển của lịch sử trái đất, lịch sử tự
nhiên;
d) Đã
được đăng ký di vật, cổ vật theo quy định tại Điều 43 của Luật
này.
2. Việc
công nhận, công nhận bổ sung bảo vật quốc gia được quy định như sau:
a) Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ trưởng, người đứng đầu ngành, cơ quan, tổ chức
ở trung ương chỉ đạo lựa chọn, lập hồ sơ khoa học hiện vật đề nghị công nhận,
công nhận bổ sung bảo vật quốc gia gửi Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Trường hợp hiện vật thuộc sở hữu chung, sở hữu riêng, hồ sơ gửi Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch phải có đề nghị của chủ sở hữu hiện vật;
b) Bộ
trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ công
nhận, công nhận bổ sung bảo vật quốc gia, cấp bằng công nhận, công nhận bổ sung
bảo vật quốc gia sau khi có ý kiến thẩm định của Hội đồng thẩm định do Bộ trưởng
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành lập.
Hồ sơ
trình Thủ tướng Chính phủ phải có ý kiến bằng văn bản của Hội đồng Di sản văn
hóa quốc gia;
c) Thủ
tướng Chính phủ quyết định công nhận, công nhận bổ sung bảo vật quốc gia, cấp bằng
công nhận, công nhận bổ sung bảo vật quốc gia.
3. Việc
hủy bỏ quyết định công nhận bảo vật quốc gia được quy định như sau:
a) Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ trưởng, người đứng đầu ngành, cơ quan, tổ chức
ở trung ương chỉ đạo lập hồ sơ đề nghị hủy bỏ quyết định công nhận bảo vật quốc
gia, gửi Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;
b) Bộ
trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét trình Thủ tướng Chính phủ quyết
định hủy bỏ công nhận bảo vật quốc gia, thu hồi bằng công nhận bảo vật quốc gia
sau khi có ý kiến thẩm định của Hội đồng thẩm định do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch thành lập.
Hồ sơ
trình Thủ tướng Chính phủ phải có ý kiến bằng văn bản của Hội đồng Di sản văn
hóa quốc gia;
c) Thủ
tướng Chính phủ quyết định hủy bỏ công nhận bảo vật quốc gia, thu hồi bằng công
nhận bảo vật quốc gia trong trường hợp bảo vật quốc gia đã được công nhận mà
sau đó có đủ căn cứ xác định không đáp ứng một trong các tiêu chí quy định tại khoản
1 Điều này hoặc bị hủy hoại không có khả năng phục hồi.
4.
Chính phủ quy định chi tiết khoản 2 và khoản 3 Điều này.
Điều 45. Quản lý di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia và xử lý
di vật, cổ vật được phát hiện, giao nộp
1. Việc
quản lý di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia được quy định như sau:
a) Di
vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc sở hữu toàn dân phải được quản lý trong bảo
tàng công lập, di tích và cơ quan, tổ chức của Nhà nước có chức năng, nhiệm vụ
phù hợp và không được kinh doanh, mua bán, trao đổi, tặng cho, thực hiện hình
thức chuyển quyền sở hữu khác hoặc để thực hiện biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân
sự;
b) Di
vật, cổ vật thuộc sở hữu chung, sở hữu riêng được kinh doanh, mua bán, trao đổi,
tặng cho, thực hiện hình thức chuyển quyền sở hữu khác, để thực hiện biện pháp
bảo đảm nghĩa vụ dân sự và để thừa kế ở trong nước theo quy định của Luật này
và quy định khác của pháp luật có liên quan;
c) Bảo
vật quốc gia thuộc sở hữu chung, sở hữu riêng chỉ được mua bán, trao đổi, tặng
cho, thực hiện hình thức chuyển quyền sở hữu khác và để thừa kế ở trong nước theo
quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Khi
chuyển quyền sở hữu bảo vật quốc gia, tổ chức, cá nhân sở hữu bảo vật quốc gia
phải thông báo bằng văn bản đến cơ quan chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh nơi đã
đăng ký di vật, cổ vật về chủ sở hữu mới;
d) Trường
hợp mua bán di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc sở hữu chung, sở hữu riêng
thông qua đấu giá, thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu giá tài sản;
đ) Bảo
vật quốc gia được bảo vệ, bảo quản theo quy định tại Điều 46 và
Điều 47 của Luật này.
2. Việc
chuyển giao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc sở hữu toàn dân được thực hiện
theo quy định của Luật này và pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công.
3. Việc
xử lý di vật, cổ vật được phát hiện, giao nộp được quy định như sau:
a) Di
vật, cổ vật được tổ chức, cá nhân phát hiện mà không xác định được chủ sở hữu
phải giao nộp cho cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa trên địa bàn. Cơ quan
chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh nơi có di vật, cổ vật được phát hiện chịu trách
nhiệm tiếp nhận, tạm nhập vào bảo tàng công lập để bảo quản, tổ chức giám định
và báo cáo Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;
b) Căn
cứ giá trị, yêu cầu bảo vệ và phát huy giá trị di vật, cổ vật, Bộ trưởng Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch quyết định giao di vật, cổ vật cho bảo tàng công lập
hoặc cơ quan, tổ chức của Nhà nước có chức năng, nhiệm vụ phù hợp;
c) Tổ
chức, cá nhân phát hiện, giao nộp di vật, cổ vật được bồi hoàn chi phí phát hiện,
bảo quản, được khen thưởng và được thưởng một khoản tiền theo quy định của pháp
luật.
4. Di
vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thu giữ được do tìm kiếm, vận chuyển, kinh doanh,
chuyển quyền sở hữu, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu trái pháp luật phải được xác
định quyền sở hữu và xử lý theo quy định của pháp luật. Trường hợp xác định di
vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc sở hữu toàn dân, cơ quan chuyên môn về văn
hóa cấp tỉnh nơi có di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thu giữ được chịu trách
nhiệm tiếp nhận, tạm nhập vào bảo tàng công lập để bảo quản, tổ chức giám định
và báo cáo Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
5.
Chính phủ quy định chi tiết việc mang di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia ra nước
ngoài, việc quản lý bảo vật quốc gia khi chuyển quyền sở hữu quy định tại điểm
c khoản 1 Điều này, quy định chi tiết khoản 3 và khoản 4 Điều này.
Điều 46. Yêu cầu bảo vệ, bảo quản di vật, cổ vật, bảo vật quốc
gia
1. Di
vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc sở hữu toàn dân phải được bảo vệ, bảo quản
như sau:
a) Bảo
đảm đầy đủ điều kiện về nhân lực, thiết bị kỹ thuật, công nghệ để kiểm soát môi
trường bảo quản, ứng phó thiên tai, phòng, chống cháy nổ, trộm cắp và nguy cơ
khác có thể ảnh hưởng đến an ninh, an toàn của di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia;
b) Trường
hợp di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia được quản lý tại bảo tàng công lập và các
cơ quan, tổ chức của Nhà nước có chức năng, nhiệm vụ phù hợp, ngoài yêu cầu quy
định tại điểm a khoản này, phải được lưu giữ và trưng bày trong kho bảo quản hoặc
phòng trưng bày.
2. Di
vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc sở hữu chung, sở hữu riêng được cơ quan
chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh và bảo tàng công lập hướng dẫn, hỗ trợ công tác
bảo vệ, bảo quản phù hợp với điều kiện thực tế, bảo đảm phát huy giá trị.
3. Cơ
quan, tổ chức, cá nhân quản lý, sở hữu bảo vật quốc gia phải xây dựng và triển
khai phương án bảo vệ đặc biệt, bảo đảm tuyệt đối an toàn cho bảo vật quốc gia.
4. Kho
bảo quản, phòng trưng bày di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia quy định tại điểm b
khoản 1 Điều này phải đáp ứng đủ các yêu cầu sau đây:
a) Được
xây dựng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia;
b) Có
thiết bị kỹ thuật, công nghệ phù hợp với yêu cầu bảo quản đối với từng loại
hình, chất liệu của di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia được lưu giữ;
c) Có
nhân lực, thiết bị kỹ thuật, công nghệ bảo đảm kiểm soát môi trường bảo quản, ứng
phó thiên tai, phòng, chống cháy nổ, trộm cắp và các yếu tố khác có thể gây hư
hại đến di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia;
d) Có
thiết bị kỹ thuật, công nghệ để bảo đảm an toàn cho người trực tiếp làm việc
trong kho bảo quản di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.
Điều 47. Bảo quản, phục chế di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
1. Bảo
quản di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia là hoạt động bảo vệ, giữ gìn, phòng ngừa
và loại trừ các yếu tố gây hại do thiên nhiên hoặc con người gây ra, được thực
hiện theo chế độ sau đây:
a) Sắp
xếp di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia và tổ chức kho để bảo quản;
b) Lập
hồ sơ về hiện trạng di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia và môi trường bảo quản;
c) Bảo
quản định kỳ, bảo quản thường xuyên theo quy định chung và quy định đặc thù cho
từng loại chất liệu của di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia;
d) Bảo
quản phòng ngừa phù hợp với chất liệu của di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia bằng
các biện pháp ngăn ngừa và loại trừ sự tự hủy hoại hoặc sự hủy hoại do thiên
nhiên hoặc con người gây ra;
đ) Bảo
quản trị liệu bằng các biện pháp khoa học, kỹ thuật, công nghệ phù hợp tác động
vào di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia bị hư hại một phần hoặc có nguy cơ hư hại
toàn bộ, nhằm loại trừ nguyên nhân gây hư hại và tăng cường sự ổn định.
2. Việc
bảo quản phải được thực hiện đối với toàn bộ di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
khi trưng bày, lưu giữ trong kho hoặc đưa ra ngoài.
3. Di
vật, cổ vật, bảo vật quốc gia là hiện vật của bảo tàng công lập khi không đưa
đi nghiên cứu, bảo quản hoặc trưng bày phải được lưu giữ trong kho bảo quản đáp
ứng quy định tại khoản 4 Điều 46 của Luật này.
4. Phục
chế di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia là việc dựa trên các cứ liệu khoa học, lịch
sử và sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công nghệ phù hợp để phục hồi di vật, cổ
vật, bảo vật quốc gia. Việc phục chế di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia phải bảo
đảm giữ nguyên trạng ban đầu, không làm thay đổi tính chất, hình dáng, màu sắc
và các đặc điểm nguyên gốc; bảo đảm tính chính xác và trung thực lịch sử; ưu
tiên sử dụng vật liệu, kỹ thuật truyền thống và quá trình chế tác gốc để thực
hiện phục chế di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.
5. Cơ
quan, tổ chức, cá nhân thực hiện bảo quản, phục chế phải có các biện pháp bảo đảm
an toàn cho di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, nhằm ngăn chặn nguy cơ gây hư hỏng,
hủy hoại.
6. Việc
bảo quản, phục chế di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia phải tuân thủ quy trình,
nguyên tắc, kỹ thuật bảo quản, phục chế và phù hợp với phong tục, tập quán, tín
ngưỡng có liên quan và được thực hiện bởi người có trình độ, kỹ năng, kinh nghiệm,
các cơ quan, tổ chức có chức năng, nhiệm vụ phù hợp.
7. Hồ
sơ quá trình thực hiện việc bảo quản, phục chế và chi tiết phục chế di vật, cổ
vật, bảo vật quốc gia phải được lưu giữ, bổ sung trong hồ sơ khoa học của di vật,
cổ vật, bảo vật quốc gia.
Điều 48. Trưng bày di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
1.
Trưng bày di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, bao gồm:
a)
Trưng bày thường xuyên, trưng bày chuyên đề tại cơ quan, tổ chức quản lý, sở hữu;
b)
Trưng bày có thời hạn ở trong nước và nước ngoài;
c)
Trưng bày trên môi trường điện tử.
2.
Trưng bày di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:
a) Phù
hợp với phạm vi, đối tượng, nội dung hoạt động của cơ quan, tổ chức quản lý, sở
hữu;
b)
Thuyết minh trưng bày cung cấp đầy đủ, rõ ràng, chính xác thông tin về di vật,
cổ vật, bảo vật quốc gia và phù hợp với đối tượng khách tham quan;
c) Có
không gian phù hợp cho việc trưng bày phục vụ khách tham quan;
d)
Trưng bày trên môi trường điện tử phải tuân thủ quy định của Luật này và quy định
khác của pháp luật có liên quan.
3. Việc
trưng bày di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc sở hữu chung, sở hữu riêng được
quy định như sau:
a) Nhà
nước khuyến khích chủ sở hữu tổ chức trưng bày các sưu tập, di vật, cổ vật, bảo
vật quốc gia phục vụ khách tham quan, nghiên cứu, tìm hiểu;
b) Việc
trưng bày di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia tại bảo tàng công lập do chủ sở hữu
và bảo tàng công lập thỏa thuận bằng văn bản theo quy định của pháp luật về dân
sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Điều 49. Bảo vệ và phát huy giá trị di vật, cổ vật, bảo vật
quốc gia trong nhà truyền thống, nhà lưu niệm, nhà trưng bày, thiết chế văn hóa
khác
Di vật,
cổ vật, bảo vật quốc gia có trong nhà truyền thống, nhà lưu niệm, nhà trưng bày
và thiết chế văn hóa khác được bảo quản, trưng bày và phát huy giá trị theo quy
định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Điều 50. Đưa di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia đi trưng bày,
nghiên cứu hoặc bảo quản có thời hạn ở trong nước và nước ngoài
1. Đưa
di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia đi trưng bày, nghiên cứu hoặc bảo quản có thời
hạn ở trong nước và nước ngoài trong các trường hợp sau đây:
a) Phục
vụ các hoạt động đối ngoại cấp nhà nước;
b) Phối
hợp tổ chức trưng bày, giới thiệu về di sản văn hóa Việt Nam;
c) Phối
hợp nghiên cứu về di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia;
d) Thực
hiện bảo quản đối với di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia không thể bảo quản ở
trong nước hoặc tại cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp quản lý, sở hữu.
2. Việc
đưa di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia đi trưng bày, nghiên cứu hoặc bảo quản có
thời hạn ở trong nước phải bảo đảm các điều kiện sau đây:
a) Có
thỏa thuận bằng văn bản hoặc hợp đồng bằng văn bản và kế hoạch về việc đưa di vật,
cổ vật, bảo vật quốc gia đi trưng bày, nghiên cứu hoặc bảo quản với phía tiếp
nhận;
b) Có
phương án bảo đảm an ninh, an toàn, không gây hư hại cho di vật, cổ vật, bảo vật
quốc gia;
c) Có
quyết định của cơ quan chủ quản, văn bản của chủ sở hữu đối với di vật, cổ vật;
d) Có
quyết định của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đối với bảo vật quốc
gia.
3. Việc
đưa di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia đi trưng bày, nghiên cứu hoặc bảo quản có
thời hạn ở nước ngoài phải bảo đảm các điều kiện sau đây:
a) Có
thỏa thuận bằng văn bản hoặc hợp đồng bằng văn bản và kế hoạch về việc đưa di vật,
cổ vật, bảo vật quốc gia ra nước ngoài với phía tiếp nhận;
b) Có
bảo hiểm cho di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia;
c) Có
phương án bảo đảm an ninh, an toàn, không gây hư hại cho di vật, cổ vật, bảo vật
quốc gia;
d) Có
quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ trưởng, người đứng đầu
ngành, cơ quan, tổ chức ở trung ương đối với di vật; có quyết định của Bộ trưởng
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đối với cổ vật; có quyết định của Thủ tướng
Chính phủ đối với bảo vật quốc gia.
4. Trường
hợp mượn di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia để trưng bày, nghiên cứu ở nước
ngoài, ngoài điều kiện quy định tại khoản 3 Điều này, phía tiếp nhận còn phải
cung cấp nội dung giới thiệu hoặc mục đích nghiên cứu phù hợp với quy định pháp
luật của Việt Nam và có trách nhiệm chi trả chi phí thực hiện quy định tại điểm
b và điểm c khoản 3 Điều này.
5. Cơ
quan, tổ chức, cá nhân, gia đình, dòng họ, cộng đồng trực tiếp quản lý, sở hữu
di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia được đưa đi trưng bày, nghiên cứu hoặc bảo quản
có thời hạn ở trong nước và nước ngoài chịu trách nhiệm phối hợp với phía tiếp
nhận thực hiện việc bảo đảm an ninh, an toàn, không gây hư hại cho di vật, cổ vật,
bảo vật quốc gia theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có
liên quan.
6. Việc
đưa bảo vật quốc gia là tài liệu lưu trữ có giá trị đặc biệt, tài liệu lưu trữ
tư có giá trị đặc biệt đi trưng bày, nghiên cứu hoặc bảo quản có thời hạn ở
trong nước và nước ngoài, ngoài việc thực hiện quy định tại các khoản 1, 2, 3,
4 và 5 Điều này, còn phải có ý kiến bằng văn bản của cơ quan, tổ chức, cá nhân,
gia đình, dòng họ, cộng đồng được giao quản lý hoặc sở hữu.
7.
Chính phủ quy định trình tự, thủ tục, hồ sơ đưa di vật, cổ vật, bảo vật quốc
gia đi trưng bày, nghiên cứu hoặc bảo quản có thời hạn ở trong nước và nước
ngoài.
Điều 51. Thu hồi, mua và đưa di vật, cổ vật, bảo vật quốc
gia có nguồn gốc Việt Nam ở nước ngoài về nước
1.
Khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài phát hiện, thông báo với
cơ quan nhà nước có thẩm quyền; mua, tặng cho, chuyển giao cho Nhà nước di vật,
cổ vật, bảo vật quốc gia có nguồn gốc Việt Nam ở nước ngoài.
2. Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch chỉ đạo lập danh mục và xác định giá trị di vật, cổ
vật, bảo vật quốc gia có nguồn gốc Việt Nam ở nước ngoài; đề xuất phương án thu
hồi hoặc mua, cấp giấy phép nhập khẩu di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia có nguồn
gốc Việt Nam ở nước ngoài và đưa về nước; đề xuất khen thưởng cho tổ chức, cá
nhân có công phát hiện, thông báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc mua,
tặng cho, chuyển giao cho Nhà nước di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia có nguồn gốc
Việt Nam ở nước ngoài.
3. Trường
hợp phát hiện di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia có nguồn gốc Việt Nam ở nước
ngoài có xuất xứ trên địa bàn, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức nhận diện, lập
danh mục và xác định giá trị; huy động nguồn lực theo thẩm quyền hoặc đề xuất với
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để thực hiện phương án thu hồi, việc mua và đưa
về nước.
4. Việc
mua, chuyển quyền sở hữu, chuyển giao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia có nguồn
gốc Việt Nam ở nước ngoài về nước thực hiện theo quy định tại điểm
b và điểm c khoản 1 Điều 42 của Luật này.
5. Trường
hợp di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xác định,
đề xuất phương án thu hồi, mua ở nước ngoài về nước, Thủ tướng Chính phủ quyết
định phương án thu hồi hoặc dùng ngân sách nhà nước mua, đưa về Việt Nam.
6. Di
vật, cổ vật, bảo vật quốc gia được tổ chức, cá nhân mua, đưa về Việt Nam để
trưng bày, bảo vệ và phát huy giá trị trong bảo tàng, nhà truyền thống, nhà lưu
niệm, nhà trưng bày, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận không vì mục
đích lợi nhuận hoặc tặng cho, chuyển giao cho Nhà nước, được hưởng chế độ ưu
đãi về thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng và chi phí thực hiện được tính vào
khoản chi phí hợp lệ khi xác định thu nhập chịu thuế, các ưu đãi về thuế, phí
liên quan khác theo quy định của pháp luật về thuế, phí và lệ phí.
7.
Chính phủ quy định trình tự, thủ tục, hồ sơ cấp giấy phép nhập khẩu di vật, cổ
vật, bảo vật quốc gia có nguồn gốc Việt Nam ở nước ngoài về nước tại khoản 2 Điều
này và quy định chi tiết khoản 6 Điều này.
Điều 52. Bản sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
1. Bản
sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia là sản phẩm được làm từ bản gốc, giống như
bản gốc về hình dáng, kích thước, chất liệu, màu sắc, trang trí, những đặc điểm
khác, có dấu hiệu riêng và thể hiện rõ thời gian làm bản sao để phân biệt với bản
gốc.
2. Việc
làm bản sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia chỉ được thực hiện nhằm mục đích bảo
vệ và phát huy giá trị trong trường hợp di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia dễ bị
hư hại, cần hạn chế sử dụng.
Bản
sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia không có giá trị tương đương bản gốc,
không thay thế được bản gốc; không được sử dụng vì mục đích lợi nhuận; khi sử dụng
phải có chú thích là bản sao.
3. Quy
trình làm bản sao, chất liệu, trình tự kỹ thuật chế tác, số lượng, thời gian
làm bản sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia phải được thể hiện chi tiết và lưu
thành hồ sơ.
4. Điều
kiện làm bản sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia bao gồm:
a) Có
bản gốc để đối chiếu;
b) Có
dấu hiệu riêng và ghi rõ thời gian chế tác trên bản sao để phân biệt với bản gốc;
c) Có
sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan, tổ chức, cá nhân, gia đình, dòng họ, cộng đồng
trực tiếp quản lý, sở hữu di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia;
d) Có
giấy phép của người có thẩm quyền quy định tại khoản 5 Điều này.
5. Thẩm
quyền cấp giấy phép làm bản sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia được quy định
như sau:
a) Bộ
trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp giấy phép làm bản sao bảo vật quốc
gia;
b) Người
đứng đầu cơ quan chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh cấp giấy phép làm bản sao di vật,
cổ vật trên địa bàn.
6. Căn
cứ vào quy định của Chính phủ, mục đích, sự cần thiết của việc làm bản sao di vật,
cổ vật, bảo vật quốc gia, người có thẩm quyền cấp giấy phép quyết định số lượng
bản sao được làm.
7. Sản
phẩm làm giống di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia nhưng không đúng quy định tại
các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này được xác định là làm giả di vật, cổ vật, bảo vật
quốc gia.
8.
Chính phủ quy định về trình tự, thủ tục, hồ sơ cấp giấy phép làm bản sao; số lượng
bản sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia được làm.
Chương IV
BẢO
VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN TƯ LIỆU
Điều 53. Phân loại và tiêu chí nhận diện di sản tư liệu
1. Di
sản tư liệu gồm 02 thành tố là nội dung thông tin và vật mang tin.
2. Di
sản tư liệu bao gồm:
a) Nội
dung thông tin được thể hiện bằng ký tự, mật mã, chữ viết, hình vẽ trên vật
mang tin là lá cây, xương, gỗ, đá, gốm, giấy, nhựa, vải, kính, kim loại hoặc
trên vật mang tin có chất liệu khác;
b) Nội
dung thông tin được thể hiện bằng âm thanh, hình ảnh tĩnh, động trên vật mang
tin là phim, ảnh, bản ghi, bản thu âm và các vật mang tin gốc khác;
c) Nội
dung thông tin được thể hiện bằng dạng số trên vật mang tin chứa đựng dữ liệu
điện tử.
3. Di
sản tư liệu được nhận diện theo các tiêu chí sau đây:
a) Bảo
đảm tính xác thực gồm: nội dung thông tin gốc, đầy đủ được ghi lại có chủ đích
trên vật mang tin gốc phải rõ nguồn gốc, xuất xứ, thời điểm tạo lập, quá trình
hình thành, lưu giữ và quyền sở hữu;
b) Bảo
đảm tính độc bản và độc đáo gồm: nội dung thông tin và hình thức, phong cách vật
mang tin có giá trị tiêu biểu, duy nhất, hiếm có cho một loại hình, một giai đoạn
lịch sử hay một nền văn hoá của quốc gia, khu vực hoặc thế giới;
c) Bảo
đảm tính toàn vẹn gồm: nội dung thông tin gốc, hiện trạng của vật mang tin gốc;
d) Bảo
đảm giá trị, ý nghĩa và ảnh hưởng gồm: nội dung thông tin có giá trị tiêu biểu
về lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ, được lưu truyền qua các thế hệ, đánh dấu
các bước ngoặt của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử gắn với địa điểm, sự kiện,
con người; có ảnh hưởng đối với quốc gia, khu vực hoặc thế giới.
Điều 54. Kiểm kê di sản tư liệu và Danh mục kiểm kê di sản
tư liệu
1. Di
sản tư liệu được nhận diện theo tiêu chí quy định tại khoản 3 Điều
53 của Luật này phải được kiểm kê đưa vào Danh mục kiểm kê di sản tư liệu
trong phạm vi quản lý. Danh mục kiểm kê di sản tư liệu phải được rà soát, cập
nhật hằng năm.
2. Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ trưởng, người đứng đầu ngành, cơ quan, tổ chức
ở trung ương chỉ đạo, tổ chức kiểm kê, phê duyệt, công bố Danh mục kiểm kê di sản
tư liệu trong phạm vi quản lý; rà soát, đưa ra khỏi Danh mục kiểm kê di sản tư
liệu đối với di sản tư liệu không còn đáp ứng một trong các tiêu chí quy định
tại khoản 3 Điều 53 của Luật này.
3. Bộ
trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết Điều này.
Điều 55. Danh mục và tiêu chí ghi danh, ghi danh bổ sung di
sản tư liệu
1. Di sản
tư liệu được ghi danh, ghi danh bổ sung vào các danh mục sau đây:
a)
Danh mục quốc gia về di sản tư liệu;
b)
Danh mục của UNESCO bao gồm: Danh mục di sản tư liệu khu vực và Danh mục di sản
tư liệu thế giới.
2.
Tiêu chí ghi danh, ghi danh bổ sung di sản tư liệu vào Danh mục quốc gia về di
sản tư liệu bao gồm:
a) Là
di sản tư liệu trong Danh mục kiểm kê di sản tư liệu;
b) Đáp
ứng các tiêu chí quy định tại khoản 3 Điều 53 của Luật này;
c) Có
thể bảo quản được và có biện pháp bảo quản mang tính khả thi;
d) Được
cơ quan, tổ chức, cộng đồng, gia đình, dòng họ hoặc nhóm người, cá nhân đồng
thuận, tự nguyện đề cử, cam kết bảo vệ và phát huy giá trị.
3.
Tiêu chí lựa chọn di sản tư liệu để lập hồ sơ đề nghị UNESCO ghi danh, ghi danh
bổ sung bao gồm:
a) Là
di sản tư liệu trong Danh mục quốc gia về di sản tư liệu;
b) Đáp
ứng tiêu chí ghi danh, ghi danh bổ sung theo quy định, hướng dẫn của UNESCO.
Điều 56. Ghi danh, ghi danh bổ sung và hủy bỏ ghi danh di sản
tư liệu
1. Thẩm
quyền ghi danh, ghi danh bổ sung di sản tư liệu vào Danh mục quốc gia về di sản
tư liệu được quy định như sau:
a) Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ, ngành, cơ quan, tổ chức ở trung ương chịu trách nhiệm
lập hồ sơ khoa học di sản tư liệu trên địa bàn hoặc trong phạm vi quản lý. Hồ
sơ khoa học di sản tư liệu phải có ý kiến thẩm định của Hội đồng thẩm định do
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ trưởng, người đứng đầu ngành, cơ quan, tổ
chức ở trung ương thành lập;
b) Bộ
trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét, quyết định ghi danh, ghi danh bổ
sung, công bố và cấp bằng ghi danh, ghi danh bổ sung cho di sản tư liệu được
đưa vào Danh mục quốc gia về di sản tư liệu do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ,
ngành, cơ quan, tổ chức ở trung ương trình sau khi có ý kiến thẩm định của Hội
đồng thẩm định do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành lập.
2. Thẩm
quyền đề nghị ghi danh, ghi danh bổ sung di sản tư liệu vào các danh mục của
UNESCO được quy định như sau:
a) Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ trưởng, người đứng đầu ngành, cơ quan, tổ chức
ở trung ương gửi văn bản đề nghị Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem
xét, trình Thủ tướng Chính phủ cho phép và giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ,
ngành, cơ quan, tổ chức ở trung ương chủ trì lập hồ sơ khoa học di sản tư liệu
đề nghị ghi danh, ghi danh bổ sung di sản tư liệu vào các danh mục của UNESCO;
b) Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ, ngành, cơ quan, tổ chức ở trung ương chịu trách nhiệm
lập hồ sơ khoa học di sản tư liệu đề nghị ghi danh, ghi danh bổ sung đề nghị Bộ
trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thẩm định;
c) Bộ
trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ quyết
định việc đề nghị UNESCO ghi danh, ghi danh bổ sung di sản tư liệu của Việt Nam
sau khi có ý kiến thẩm định của Hội đồng thẩm định do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch thành lập. Hồ sơ khoa học di sản tư liệu do Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch trình Thủ tướng Chính phủ phải có ý kiến bằng văn bản của Hội đồng
Di sản văn hóa quốc gia.
3. Thẩm
quyền hủy bỏ ghi danh được quy định như sau:
a) Bộ
trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quyết định hủy bỏ ghi danh di sản tư liệu
thuộc Danh mục quốc gia về di sản tư liệu trong trường hợp di sản tư liệu không
đáp ứng một trong các tiêu chí quy định tại khoản 2 Điều 55 của
Luật này sau khi có ý kiến thẩm định của Hội đồng thẩm định do Bộ trưởng Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành lập;
b) Việc
hủy bỏ ghi danh di sản tư liệu của Việt Nam trong các danh mục của UNESCO thực
hiện theo quy định, hướng dẫn của UNESCO.
4.
Chính phủ quy định trình tự, thủ tục, hồ sơ ghi danh, ghi danh bổ sung và hủy bỏ
ghi danh di sản tư liệu quy định tại Điều này.
Điều 57. Bảo quản di sản tư liệu
1. Di
sản tư liệu đã được ghi danh phải được bảo quản như sau:
a) Lập
hồ sơ về hiện trạng di sản tư liệu và môi trường bảo quản;
b) Bảo
quản thường xuyên theo quy định chung và các quy định đặc thù đối với di sản tư
liệu;
c) Bảo
quản phòng ngừa bằng các biện pháp để kịp thời ngăn ngừa và hạn chế sự hủy hoại
tự nhiên do thiên nhiên hoặc con người gây ra đối với di sản tư liệu;
d) Bảo
quản trị liệu bằng các biện pháp khoa học, kỹ thuật và các biện pháp khác phù hợp
nhằm loại trừ nguyên nhân gây hại và phục hồi một phần hư hỏng của di sản tư liệu;
đ)
Chuyển dạng số, cập nhật, sao lưu trên hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia phục vụ
hoạt động quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị trên môi trường điện tử theo quy
định của Luật này, Luật Tiếp cận thông tin, Luật Sở hữu trí tuệ và quy định
khác của pháp luật có liên quan.
2. Kho
bảo quản di sản tư liệu phải đáp ứng đủ các yêu cầu sau đây:
a) Phải
được xây dựng phù hợp với yêu cầu bảo vệ, bảo quản theo loại hình và chất liệu
của di sản tư liệu;
b) Bảo
đảm các điều kiện về nhân lực, công nghệ, kỹ thuật cần thiết để bảo vệ, bảo quản
di sản tư liệu;
c) Có ứng
dụng khoa học, công nghệ bảo quản phù hợp với yêu cầu bảo vệ, bảo quản di sản
tư liệu;
d) Được
tổ chức bảo vệ chặt chẽ, bảo đảm an ninh, an toàn theo quy định của pháp luật;
trang bị đầy đủ phương tiện, thiết bị kỹ thuật cần thiết cho việc quan sát,
giám sát, phòng, chống trộm cắp, thiên tai, hỏa hoạn, hỏng và các yếu tố khác
có thể gây hư hại đến di sản tư liệu.
3. Di
sản tư liệu dạng âm thanh, hình ảnh phải được bảo quản trong kho đặc thù theo
tiêu chuẩn về nhiệt độ và độ ẩm phù hợp với loại hình, chất liệu, bảo đảm chế độ
kỹ thuật; được kiểm tra định kỳ, bảo quản, tu sửa theo quy định tại khoản 1 Điều
này bằng thiết bị chuyên dụng, phù hợp theo quy định của Luật này và quy định
khác của pháp luật có liên quan.
4. Di
sản tư liệu dạng số phải được lưu trữ bảo đảm yêu cầu về tiêu chuẩn, cấu trúc dữ
liệu toàn vẹn, thống nhất, xác thực, đáp ứng về dung lượng, cập nhật trên hệ thống
quản lý thông tin quốc gia, dữ liệu thường xuyên được sao lưu, bảo đảm an ninh,
an toàn và khả năng truy cập trên môi trường điện tử theo quy định của Luật này,
Luật Tiếp cận thông tin, Luật Sở hữu trí tuệ và quy định khác của pháp luật có
liên quan.
5. Di
sản tư liệu thuộc sở hữu toàn dân thực hiện bảo quản theo quy định tại các khoản
1, 2, 3 và 4 Điều này; đối với di sản tư liệu trong các danh mục của UNESCO còn
phải xây dựng và triển khai phương án bảo vệ đặc biệt.
6. Di
sản tư liệu thuộc sở hữu chung và sở hữu riêng phải được bảo quản tại chỗ hoặc
phù hợp với thực tế; được sự hỗ trợ, hướng dẫn từ các cơ quan nhà nước có chức
năng liên quan tùy theo khả năng và tình hình thực tiễn bảo đảm việc bảo vệ và
phát huy giá trị di sản tư liệu.
7. Bộ
trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết khoản 2 Điều này.
Điều 58. Nghiên cứu và sưu tầm di sản tư liệu
1. Cơ
quan, tổ chức, cộng đồng, gia đình, dòng họ, cá nhân được nghiên cứu, sưu tầm
di sản tư liệu ở trong nước và nước ngoài phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và
quyền hạn theo quy định của Luật này, Luật Tiếp cận thông tin, Luật Sở hữu trí
tuệ và quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Di
sản tư liệu được sưu tầm thông qua khảo sát điền dã, thu thập, tiếp nhận, chuyển
giao, tặng cho, mua bán, trao đổi, chuyển quyền sở hữu và các hình thức sưu tầm
khác theo quy định của Luật này, Luật Sở hữu trí tuệ và quy định khác của pháp
luật có liên quan.
3. Di
sản tư liệu sau khi được sưu tầm, phải được xử lý kỹ thuật; lập, hoàn thiện và
quản lý hồ sơ.
4.
Trình tự, thủ tục, hồ sơ của hoạt động nghiên cứu, sưu tầm di sản tư liệu thực
hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Điều 59. Phục chế di sản tư liệu
1. Di
sản tư liệu đã được ghi danh được phục chế trong trường hợp bị hư hại hoặc có
nguy cơ bị hủy hoại.
2. Việc
phục chế di sản tư liệu thuộc sở hữu toàn dân được quy định như sau:
a) Có
dự án phục chế di sản tư liệu được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt
sau khi có ý kiến thẩm định của cơ quan chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh đối với
di sản tư liệu trên địa bàn trong Danh mục quốc gia về di sản tư liệu và của Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch đối với di sản tư liệu trong các danh mục di sản
tư liệu của UNESCO;
b) Quá
trình phục chế phải bảo đảm tính chính xác, tính nguyên gốc về nội dung thông
tin gốc và tính nguyên mẫu về chất liệu, hình thức của vật mang tin gốc, được
thực hiện bởi người có trình độ, kỹ năng, kinh nghiệm, cơ quan, tổ chức có chức
năng, nhiệm vụ phù hợp, ưu tiên sử dụng vật liệu, kỹ thuật truyền thống và quá
trình tạo lập, chế tác gốc để thực hiện phục chế di sản tư liệu;
c) Việc
thực hiện phục chế di sản tư liệu tuân thủ quy định tại Điều 47
và Điều 57 của Luật này, Luật Sở hữu trí tuệ và quy định khác của pháp luật
có liên quan.
3. Di
sản tư liệu dạng âm thanh, hình ảnh phải được đánh giá, xây dựng kế hoạch phục
chế, hiệu chỉnh màu sắc hình ảnh, xử lý âm thanh trên cơ sở khoa học và phải
chuyển dạng lưu trữ, cập nhật vào hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia theo quy định
của Luật này, Luật Sở hữu trí tuệ và quy định khác của pháp luật có liên quan.
4. Di
sản tư liệu dạng số phải được nghiên cứu và phục chế bằng phương tiện kỹ thuật
trên môi trường điện tử theo quy định của Luật này, Luật Sở hữu trí tuệ và được
chuyển đổi phù hợp với sự thay đổi của công nghệ, đáp ứng các yêu cầu của pháp
luật về an ninh mạng[5] và quy định khác của pháp
luật có liên quan.
5. Việc
phục chế di sản tư liệu đã được ghi danh thuộc sở hữu chung và sở hữu riêng được
các cơ quan, tổ chức của Nhà nước có chức năng, nhiệm vụ liên quan hỗ trợ theo
khả năng.
Điều 60. Hoạt động quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản
tư liệu
1. Di sản
tư liệu thuộc sở hữu toàn dân phải được quản lý, bảo vệ, phát huy giá trị trong
các cơ quan, tổ chức có chức năng, nhiệm vụ phù hợp và không được kinh doanh,
mua bán, trao đổi, tặng cho, thực hiện hình thức chuyển quyền sở hữu khác hoặc
để thực hiện biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự.
2. Di
sản tư liệu thuộc hình thức sở hữu chung, sở hữu riêng được kinh doanh, mua
bán, trao đổi, tặng cho, thực hiện hình thức chuyển quyền sở hữu khác, thực hiện
biện pháp bảo đảm nghĩa vụ dân sự và để thừa kế ở trong nước theo quy định của Luật
này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Khi
chuyển quyền sở hữu di sản tư liệu thuộc sở hữu chung, sở hữu riêng, tổ chức,
cá nhân sở hữu di sản tư liệu phải thông báo bằng văn bản đến cơ quan chuyên
môn về văn hóa cấp tỉnh nơi đã đăng ký di sản tư liệu về chủ sở hữu mới.
3. Di
sản tư liệu trong Danh mục kiểm kê được bảo vệ và phát huy giá trị theo quy định
tại các điều 57, 58, 59 và 60 của Luật này.
4. Di
sản tư liệu trong Danh mục quốc gia và các danh mục của UNESCO phải thực hiện
đúng các cam kết về quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu theo quy
định của Luật này, Luật Sở hữu trí tuệ, quy định khác của pháp luật có liên
quan và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên.
5. Di
sản tư liệu được phát huy giá trị bằng các hình thức sau đây:
a)
Công bố, giới thiệu các danh mục kiểm kê di sản tư liệu, danh mục ghi danh di sản
tư liệu, dự án và đề án liên quan đến bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu;
b) Xuất
bản ấn phẩm; trưng bày, triển lãm trực tiếp, trên môi trường điện tử và các
hình thức khác;
c)
Trao đổi, liên kết, hợp tác và các hình thức khác theo quy định của pháp luật.
6.
Chính phủ quy định chi tiết khoản 2 Điều này.
Điều 61. Đề án, dự án, kế hoạch và báo cáo định kỳ về bảo vệ
và phát huy giá trị di sản tư liệu sau khi được ghi danh
1. Đề
án, dự án, kế hoạch bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu đã được ghi danh
gồm các nội dung sau đây:
a)
Nghiên cứu, đánh giá khả năng tác động tiêu cực đến tính xác thực của nội dung thông
tin và tính nguyên gốc của vật mang tin;
b)
Nghiên cứu, thu thập và xây dựng cơ sở dữ liệu về di sản tư liệu;
c)
Truyền thông, quảng bá di sản tư liệu trên các phương tiện thông tin đại chúng,
môi trường điện tử và hình thức khác;
d) Hỗ
trợ hoạt động bảo vệ và quảng bá di sản tư liệu; đặc biệt trong trường hợp bị
hư hại hoặc có nguy cơ bị hủy hoại.
2. Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ trưởng, người đứng đầu ngành, cơ quan, tổ chức
ở trung ương chịu trách nhiệm xây dựng, phê duyệt đề án, dự án, kế hoạch bảo vệ
và phát huy giá trị di sản tư liệu trong Danh mục quốc gia về di sản tư liệu
thuộc trách nhiệm quản lý sau khi có ý kiến thẩm định của Bộ trưởng Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch.
3. Thủ
tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt đề án, dự án bảo vệ và phát huy giá trị di sản
tư liệu trong các danh mục của UNESCO trên cơ sở ý kiến bằng văn bản của Bộ trưởng
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
4. Bộ
trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thẩm định đề án, dự án, kế hoạch về quản
lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu; hướng dẫn báo cáo; xây dựng và gửi
các báo cáo quốc gia theo yêu cầu của UNESCO.
5.
Chính phủ quy định chi tiết khoản 2 và khoản 4 Điều này.
Điều 62. Đưa di sản tư liệu được ghi danh đi trưng bày,
nghiên cứu hoặc bảo quản ở trong nước, nước ngoài; đưa di sản tư liệu có nguồn
gốc Việt Nam từ nước ngoài về nước
1. Đưa
di sản tư liệu được ghi danh đi trưng bày, nghiên cứu hoặc bảo quản ở trong nước
và nước ngoài trong các trường hợp sau đây:
a) Phục
vụ các hoạt động đối ngoại cấp nhà nước;
b) Phối
hợp nghiên cứu, tổ chức trưng bày, giới thiệu về di sản văn hóa Việt Nam;
c) Bảo
quản di sản tư liệu mà cơ quan, tổ chức, gia đình, dòng họ, cá nhân sở hữu, quản
lý không có khả năng thực hiện.
2. Việc
đưa di sản tư liệu đi trưng bày, nghiên cứu hoặc bảo quản phải bảo đảm các điều
kiện sau đây:
a) Có
thỏa thuận bằng văn bản hoặc hợp đồng và kế hoạch, phương án bảo vệ an toàn cho
việc đưa di sản tư liệu đi trưng bày, nghiên cứu hoặc bảo quản với phía tiếp nhận;
b) Có
quyết định hoặc văn bản đồng ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân, gia đình, dòng họ,
cộng đồng trực tiếp quản lý, sở hữu di sản tư liệu;
c) Trường
hợp đưa di sản tư liệu ra nước ngoài phải có bảo hiểm;
d) Có
quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ trưởng, người đứng đầu ngành,
cơ quan, tổ chức ở trung ương đối với di sản tư liệu trong Danh mục quốc gia về
di sản tư liệu; có quyết định của Thủ tướng Chính phủ đối với di sản tư liệu
trong các danh mục của UNESCO;
đ) Có
văn bản báo cáo gửi Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
3. Trường
hợp mượn di sản tư liệu để trưng bày, nghiên cứu ngoài điều kiện quy định tại khoản
2 Điều này, phía tiếp nhận phải cung cấp nội dung giới thiệu hoặc mục đích
nghiên cứu phù hợp với quy định pháp luật Việt Nam và có trách nhiệm chi trả
chi phí bảo vệ an toàn và bảo hiểm quy định tại điểm a và điểm c khoản 2 Điều này.
4.
Khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài phát hiện, thông báo với
cơ quan nhà nước có thẩm quyền về di sản tư liệu có giá trị có nguồn gốc Việt
Nam ở nước ngoài; mua, tặng cho, chuyển giao cho Nhà nước di sản tư liệu có nguồn
gốc Việt Nam ở nước ngoài. Nhà nước ưu tiên ngân sách nhà nước để mua và đưa di
sản tư liệu có giá trị có nguồn gốc Việt Nam từ nước ngoài về nước. Di sản tư
liệu được tổ chức, cá nhân mua, đưa về Việt Nam để tặng cho, chuyển giao cho
Nhà nước được hưởng chế độ ưu đãi về thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng và
chi phí thực hiện được tính vào khoản chi phí hợp lệ khi xác định thu nhập chịu
thuế, các ưu đãi về thuế, phí liên quan khác theo quy định của pháp luật về thuế,
phí và lệ phí.
Điều 63. Bản sao di sản tư liệu
1. Bản
sao di sản tư liệu là sản phẩm được làm từ bản gốc, giống bản gốc về nội dung
thông tin và vật mang tin.
2. Việc
làm bản sao di sản tư liệu chỉ được thực hiện nhằm mục đích bảo vệ, phát huy
giá trị trong trường hợp di sản tư liệu dễ bị hư hại, cần phải hạn chế sử dụng.
3. Quy
trình làm bản sao, chất liệu, số lượng, thời gian làm bản sao di sản tư liệu phải
được thể hiện chi tiết và lưu trong hồ sơ.
4. Điều
kiện làm bản sao di sản tư liệu bao gồm:
a) Có
bản nội dung thông tin gốc để đối chiếu;
b) Có
dấu hiệu riêng và ghi rõ thời gian chế tác trên bản sao để phân biệt với bản gốc;
c) Có
sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan, tổ chức, cá nhân, gia đình, dòng họ, cộng
đồng trực tiếp quản lý, sở hữu di sản tư liệu;
d) Có
giấy phép của cơ quan có thẩm quyền.
5. Bản
sao di sản tư liệu không có giá trị tương đương bản gốc, không thay thế được bản
gốc; không được sử dụng vì mục đích lợi nhuận; khi sử dụng phải có chú thích là
bản sao.
6. Bản
sao di sản tư liệu dạng âm thanh, hình ảnh và dạng số phải thực hiện quy định tại
các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
7. Việc
làm bản sao di sản tư liệu trong các danh mục của UNESCO là tài liệu lưu trữ thực
hiện theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
8. Căn
cứ quy định của Chính phủ, mục đích, sự cần thiết của việc làm bản sao di sản
tư liệu, người có thẩm quyền cấp giấy phép quyết định số lượng bản sao được làm.
9. Sản
phẩm làm giống di sản tư liệu nhưng không đúng quy định tại các khoản 1, 2, 3
và 4 Điều này được xác định là làm giả di sản tư liệu.
10.
Chính phủ quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hồ sơ cấp giấy phép làm bản
sao; số lượng bản sao di sản tư liệu được làm.
Chương V
BẢO
TÀNG
Điều 64. Hệ thống bảo tàng Việt Nam
1. Hệ
thống bảo tàng Việt Nam bao gồm:
a) Bảo
tàng công lập do Nhà nước đầu tư, bảo đảm điều kiện hoạt động, đại diện chủ sở
hữu và được tổ chức theo mô hình đơn vị sự nghiệp công lập hoặc phù hợp với mô
hình của cơ quan, tổ chức chủ quản;
b) Bảo
tàng ngoài công lập do tổ chức, cá nhân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư, bảo đảm điều kiện hoạt động và được
tổ chức theo mô hình doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp ngoài công lập hoặc mô
hình khác.
2. Bảo
tàng có con dấu và tài khoản theo quy định của pháp luật.
Điều 65. Thành lập bảo tàng công lập
1. Bảo
tàng công lập được thành lập khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
a) Có hiện
vật, sưu tập hiện vật theo một hoặc nhiều chủ đề;
b) Có
trưng bày, kho và thiết bị kỹ thuật, công nghệ hoặc có dự án xây dựng, cải tạo,
nâng cấp công trình kiến trúc, hạ tầng kỹ thuật và trưng bày nội thất, trưng
bày ngoài trời phù hợp cho việc bảo vệ và phát huy giá trị hiện vật, sưu tập hiện
vật quy định tại điểm a khoản này và các hoạt động thường xuyên khác của bảo
tàng được cơ quan có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt;
c) Có
nhân lực chuyên môn phù hợp với đối tượng và phạm vi hoạt động của bảo tàng.
2. Thẩm
quyền, trình tự, thủ tục, hồ sơ thành lập bảo tàng công lập được quy định như
sau:
a) Đối
với bảo tàng là đơn vị sự nghiệp công lập, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hồ sơ
thành lập thực hiện theo quy định pháp luật về đơn vị sự nghiệp công lập;
b) Đối
với bảo tàng không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này, thẩm quyền,
trình tự, thủ tục, hồ sơ thành lập thực hiện theo quy định của pháp luật điều
chỉnh việc thành lập cơ quan, tổ chức chủ quản của bảo tàng;
c) Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch có văn bản xác nhận đủ điều kiện thành lập bảo
tàng công lập quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 66. Sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể bảo tàng
công lập
1. Việc
sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể bảo tàng công lập phải có phương án quản
lý bảo đảm an ninh, an toàn đối với hiện vật và hồ sơ kiểm kê hiện vật của bảo
tàng.
2. Cơ
quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền thành lập bảo tàng quyết định sáp nhập,
hợp nhất, chia, tách, giải thể bảo tàng công lập theo quy định của pháp luật về
đơn vị sự nghiệp công lập hoặc pháp luật điều chỉnh cơ quan, tổ chức chủ quản của
bảo tàng.
Điều 67. Cấp, cấp lại, thu hồi giấy phép hoạt động bảo tàng
ngoài công lập
1. Điều
kiện cấp giấy phép hoạt động bảo tàng ngoài công lập được quy định như sau:
a) Có
hiện vật, sưu tập hiện vật theo một hoặc nhiều chủ đề; hiện vật là di vật, cổ vật
phải được đăng ký theo quy định tại Điều 43 của Luật này;
b) Có
trưng bày phục vụ khách tham quan;
c) Có
đề án tổ chức và hoạt động.
2. Việc
cấp, cấp lại, thu hồi giấy phép hoạt động bảo tàng ngoài công lập được quy định
như sau:
a) Giấy
phép hoạt động bảo tàng ngoài công lập được cấp cho tổ chức, cá nhân có đủ điều
kiện quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Giấy
phép hoạt động bảo tàng ngoài công lập được cấp lại trong trường hợp bị hư hỏng
hoặc bị mất;
c) Giấy
phép hoạt động bảo tàng ngoài công lập bị thu hồi khi thuộc một trong các trường
hợp sau: tự nguyện giải thể; vi phạm quy định tại một trong các khoản
3, 4, 7, 10, 11 và 12 Điều 9 của Luật này; không còn đủ điều kiện hoạt động
quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản 1 Điều này; bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn
theo quy định của pháp luật; trường hợp khác theo quy định của pháp luật về
doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan.
3. Người
đứng đầu cơ quan chuyên môn về văn hóa cấp tỉnh quyết định cấp, cấp lại, thu hồi
giấy phép hoạt động bảo tàng ngoài công lập trên địa bàn.
4.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 68. Nhiệm vụ của bảo tàng
1. Bảo
tàng có các nhiệm vụ sau đây:
a)
Nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ phục vụ việc bảo vệ và phát huy giá trị
di sản văn hóa;
b) Sưu
tầm, kiểm kê, tư liệu hóa, bảo quản, phục chế và quản lý hiện vật thuộc đối tượng
và phạm vi hoạt động của bảo tàng;
c)
Trưng bày hiện vật tại bảo tàng, trên môi trường điện tử; trưng bày ở trong nước
và nước ngoài;
d) Diễn
giải, truyền thông và giáo dục di sản văn hóa thuộc đối tượng và phạm vi hoạt động
của bảo tàng;
đ) Xây
dựng, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực của bảo tàng;
e) Quản
lý cơ sở vật chất và trang thiết bị kỹ thuật của bảo tàng;
g) Thực
hiện hợp tác quốc tế theo quy định của pháp luật;
h) Tổ
chức các hoạt động văn hóa phù hợp với tính chất, nội dung, đối tượng và phạm
vi hoạt động của bảo tàng;
i) Tổ
chức hoạt động dịch vụ theo quy định tại Điều 77 và Điều 81 của
Luật này; thu và sử dụng phí, giá tham quan theo quy định của pháp luật;
k) Nhiệm
vụ khác theo quy định của pháp luật.
2. Bộ
trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết các điểm a, b, c, d và
đ khoản 1 Điều này.
Điều 69. Xếp hạng, xếp lại hạng bảo tàng và thẩm quyền xếp hạng,
xếp lại hạng bảo tàng
1. Việc
xếp hạng bảo tàng căn cứ vào các tiêu chuẩn sau đây:
a) Số
lượng và giá trị của hiện vật, sưu tập hiện vật;
b) Chất
lượng kiểm kê, bảo quản, trưng bày, giáo dục và truyền thông;
c) Cơ
sở vật chất và trang thiết bị kỹ thuật;
d) Mức
độ chuẩn hóa nhân lực chuyên môn, nghiệp vụ;
đ) Hiệu
quả hoạt động.
2. Bảo
tàng được xếp hạng như sau:
a) Bảo
tàng hạng I;
b) Bảo
tàng hạng II;
c) Bảo
tàng hạng III.
3. Việc
xếp lại hạng bảo tàng được quy định như sau:
a) Thời
hạn xem xét việc xếp lại hạng bảo tàng là 05 năm, kể từ ngày có quyết định xếp
hạng lần trước;
b) Trường
hợp bảo tàng bảo đảm tiêu chuẩn hạng cao hơn, được xem xét xếp lại hạng trước
thời hạn.
4. Thẩm
quyền xếp hạng, xếp lại hạng bảo tàng được quy định như sau:
a) Chủ
tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ trưởng, người đứng đầu ngành, cơ quan, tổ chức
ở trung ương chỉ đạo lập, thẩm định hồ sơ xếp hạng, xếp lại hạng bảo tàng, gửi
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; quyết định xếp hạng, xếp lại hạng bảo tàng hạng
II, hạng III sau khi có ý kiến bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch;
b) Bộ
trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét hồ sơ xếp hạng, xếp lại hạng bảo
tàng, tổ chức kiểm tra thực tế, quyết định xếp hạng, xếp lại hạng bảo tàng hạng
I, có ý kiến bằng văn bản đối với việc xếp hạng, xếp lại hạng bảo tàng hạng II,
hạng III.
5.
Chính phủ quy định chi tiết tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục, hồ sơ xếp hạng, xếp
lại hạng bảo tàng.
Điều 70. Đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp công trình kiến
trúc, hạ tầng kỹ thuật và trưng bày bảo tàng công lập
1. Việc
đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp công trình kiến trúc, hạ tầng kỹ thuật và
trưng bày bảo tàng công lập thực hiện theo quy định của Luật này, quy định của
pháp luật về đầu tư công, xây dựng và quy định khác của pháp luật có liên quan
và phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:
a) Có
đề cương trưng bày được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt sau khi có ý kiến đồng ý
bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trên cơ sở ý kiến của
Hội đồng khoa học về bảo tàng do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
thành lập.
Việc
phê duyệt đề cương trưng bày phải được thực hiện trước khi phê duyệt báo cáo
nghiên cứu khả thi hoặc báo cáo kinh tế - kỹ thuật của dự án đầu tư xây dựng, cải
tạo, nâng cấp công trình kiến trúc, hạ tầng kỹ thuật và trưng bày bảo tàng công
lập. Đối với dự án thuộc trường hợp phải quyết định chủ trương đầu tư thì việc
phê duyệt đề cương trưng bày phải được thực hiện trước khi quyết định chủ
trương đầu tư;
b) Đáp
ứng điều kiện an ninh, an toàn cho hiện vật, quản lý, sử dụng bảo tàng, thực hiện
nhiệm vụ của bảo tàng quy định tại khoản 1 Điều 68 của Luật này;
c) Hồ
sơ dự án đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp công trình kiến trúc, hạ tầng kỹ
thuật và trưng bày bảo tàng công lập phải được cơ quan chủ trì thẩm định gửi
kèm văn bản đến Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để có ý kiến trước khi trình cấp
có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật
có liên quan.
2.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 71. Hoạt động sưu tầm hiện vật của bảo tàng
1. Bảo
tàng được sưu tầm hiện vật ở trong nước và nước ngoài phù hợp với nội dung, đối
tượng và phạm vi hoạt động của bảo tàng.
2. Bảo
tàng tổ chức việc sưu tầm hiện vật thông qua các phương thức quy định tại khoản 1 Điều 42 của Luật này và thông qua mua bán di vật, cổ vật
theo quy định tại Điều 80 của Luật này.
3. Việc
sưu tầm hiện vật phải thực hiện theo quy định của Luật này, quy định khác của
pháp luật có liên quan và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là thành viên.
Điều 72. Hoạt động kiểm kê, tư liệu hóa hiện vật của bảo tàng
1. Hoạt
động kiểm kê, tư liệu hóa hiện vật của bảo tàng bao gồm:
a) Tiếp
nhận, phân loại, đăng ký, sắp xếp, theo dõi tình hình xuất, nhập và tình trạng
bảo quản hiện vật;
b) Lập
và quản lý hồ sơ liên quan đến hiện vật;
c) Bổ
sung thông tin về hiện vật;
d)
Nghiên cứu xây dựng sưu tập hiện vật;
đ) Xây
dựng hệ thống phiếu tra cứu hiện vật;
e) Tin
học hóa hệ thống quản lý hiện vật.
2. Hồ
sơ kiểm kê, tư liệu hóa hiện vật được lập, quản lý, lưu trữ bằng văn bản và bằng
công nghệ thông tin.
Điều 73. Hoạt động bảo quản hiện vật của bảo tàng
1. Hoạt
động bảo quản hiện vật của bảo tàng bao gồm:
a) Sắp
xếp hiện vật và tổ chức kho để bảo quản;
b) Lập
hồ sơ về hiện trạng hiện vật và môi trường bảo quản;
c) Tổ
chức việc bảo quản định kỳ, bảo quản phòng ngừa và bảo quản trị liệu hiện vật.
2. Hoạt
động bảo quản hiện vật của bảo tàng phải được thực hiện với tất cả hiện vật
trong kho, đang trưng bày và khi đưa ra ngoài bảo tàng.
3. Hoạt
động bảo quản hiện vật của bảo tàng phải tuân thủ quy trình, nguyên tắc, kỹ thuật
bảo quản và phù hợp với phong tục, tập quán, tín ngưỡng có liên quan đến hiện vật.
Điều 74. Hoạt động trưng bày hiện vật và giới thiệu di sản
văn hóa phi vật thể của bảo tàng
1. Hoạt
động trưng bày hiện vật và giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể của bảo tàng
bao gồm:
a)
Trưng bày thường xuyên, trưng bày chuyên đề tại bảo tàng;
b)
Trưng bày có thời hạn ở trong nước và nước ngoài;
c)
Trưng bày trên môi trường điện tử;
d) Giới
thiệu di sản văn hóa phi vật thể.
2.
Trưng bày hiện vật và giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể của bảo tàng phải bảo
đảm các quy định sau đây:
a) Phù
hợp với nội dung, đối tượng và phạm vi hoạt động của bảo tàng;
b) Chú
trọng trưng bày hiện vật gốc; thông tin về hiện vật và nội dung trưng bày phải
đầy đủ, rõ ràng, chính xác;
c) Bản
phục chế, bản sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia và di sản tư liệu phải được
chú thích rõ ràng;
d) Việc
giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể phải phù hợp với nội dung trưng bày của bảo
tàng;
đ) Thuận
lợi cho việc tham quan và bảo đảm an ninh, an toàn cho hiện vật, khách tham
quan;
e)
Tuân thủ các quy định của pháp luật.
Điều 75. Hoạt động giáo dục của bảo tàng
1. Hoạt
động giáo dục của bảo tàng bao gồm:
a) Hướng
dẫn tham quan; tổ chức hoạt động trải nghiệm;
b) Tổ
chức chương trình giáo dục;
c) Tổ
chức hội thảo, tọa đàm khoa học, nói chuyện chuyên đề.
2. Hoạt
động giáo dục phải phù hợp với nội dung, đối tượng và phạm vi hoạt động của bảo
tàng; nhu cầu học tập, hưởng thụ văn hóa của công chúng.
Điều 76. Hoạt động truyền thông của bảo tàng
1. Hoạt
động truyền thông của bảo tàng bao gồm:
a) Giới
thiệu nội dung và hoạt động của bảo tàng trên phương tiện thông tin đại chúng
và trên môi trường điện tử;
b) Tổ
chức chương trình quảng bá, phát triển công chúng;
c) Tổ
chức lấy ý kiến đánh giá của công chúng về hoạt động của bảo tàng;
d) Xây
dựng mạng lưới tổ chức, cá nhân có liên quan để phát triển hoạt động của bảo
tàng ở trong nước và nước ngoài;
đ) Tổ
chức phát triển sản phẩm lưu niệm, xuất bản ấn phẩm của bảo tàng.
2. Hoạt
động truyền thông của bảo tàng phải phù hợp với nội dung, đối tượng và phạm vi
hoạt động của bảo tàng và tuân thủ các quy định của pháp luật.
Điều 77. Hoạt động dịch vụ của bảo tàng
1. Hoạt
động dịch vụ của bảo tàng bao gồm:
a)
Cung cấp thông tin, tư liệu về di sản văn hóa;
b) Tổ
chức các hoạt động văn hóa, giáo dục, thể thao, du lịch;
c) Tư vấn
kỹ thuật, nghiệp vụ bảo tàng;
d)
Giám định di vật, cổ vật;
đ) Tư
liệu hóa di sản văn hóa phi vật thể; nghiên cứu tư vấn lập hồ sơ khoa học di
tích;
e)
Cung cấp dịch vụ sản phẩm lưu niệm, văn hóa phẩm của bảo tàng;
g) Bảo
quản, phục chế, làm bản sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia và di sản tư liệu;
cung cấp dịch vụ sử dụng, khai thác di sản văn hóa theo quy định tại Điều 88 của Luật này;
h) Hợp
tác khai quật khảo cổ;
i) Hợp
tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về bảo tàng;
k) Dịch
vụ gửi, lưu giữ hiện vật, tư liệu về di sản văn hóa phi vật thể, di vật, cổ vật,
bảo vật quốc gia, di sản tư liệu;
l) Tổ
chức cửa hàng lưu niệm, dịch vụ ăn, uống, nghỉ ngơi, giải trí và dịch vụ khác.
2. Hoạt
động dịch vụ của bảo tàng quy định tại khoản 1 Điều này phải thực hiện theo quy
định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
3. Bảo
tàng công lập được sử dụng cơ sở vật chất, tài sản công để thực hiện các hoạt động
dịch vụ quy định tại khoản 1 Điều này, theo quy định của Luật này, pháp luật về
quản lý, sử dụng tài sản công và quy định khác của pháp luật có liên quan.
4. Bộ
trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết điểm k khoản 1 Điều này.
Chương VI
HOẠT
ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ VỀ DI SẢN VĂN HÓA
Điều 78. Kinh doanh bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích
1. Tổ
chức, cá nhân được kinh doanh trong lập quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di
tích; lập dự án, báo cáo kinh tế - kỹ thuật bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích;
thiết kế bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; thi công bảo quản, tu bổ, phục hồi
di tích; tư vấn giám sát thi công bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích thực hiện
theo quy định của Luật này, quy định của pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp, quy
định khác của pháp luật có liên quan, phải có Giấy chứng nhận đủ điều kiện hành
nghề bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích, Chứng chỉ hành nghề bảo quản, tu bổ, phục
hồi di tích.
Tổ chức
kinh doanh trong lập quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; lập dự án,
báo cáo kinh tế - kỹ thuật bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; thiết kế bảo quản,
tu bổ, phục hồi di tích; thi công bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; tư vấn
giám sát thi công bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích còn phải đáp ứng quy định đối
với từng ngành, nghề như sau:
a) Đối
với ngành, nghề lập quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích phải có đủ điều
kiện hành nghề lập thiết kế quy hoạch xây dựng theo quy định của pháp luật về
xây dựng và có ít nhất 02 cá nhân được cấp Chứng chỉ hành nghề lập quy hoạch bảo
quản, tu bổ, phục hồi di tích;
b) Đối
với ngành, nghề lập dự án, báo cáo kinh tế - kỹ thuật bảo quản, tu bổ, phục hồi
di tích phải có đủ điều kiện hành nghề thiết kế xây dựng theo quy định của pháp
luật về xây dựng và có ít nhất 02 cá nhân được cấp Chứng chỉ hành nghề lập dự
án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích;
c) Đối
với ngành, nghề thiết kế bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích phải có đủ điều kiện
hành nghề thiết kế xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng và có ít nhất
02 cá nhân được cấp Chứng chỉ hành nghề thiết kế bảo quản, tu bổ, phục hồi di
tích;
d) Đối
với ngành, nghề thi công bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích phải có đủ điều kiện
năng lực của tổ chức thi công xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng
và có ít nhất 02 cá nhân được cấp Chứng chỉ hành nghề thi công bảo quản, tu bổ,
phục hồi di tích;
đ) Đối
với ngành, nghề tư vấn giám sát thi công bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích phải
có đủ điều kiện năng lực của tổ chức tư vấn giám sát thi công xây dựng theo quy
định của pháp luật về xây dựng và có ít nhất 02 cá nhân được cấp Chứng chỉ hành
nghề tư vấn giám sát thi công bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích.
2.
Chính phủ quy định chi tiết điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hồ sơ cấp,
cấp lại, thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề bảo quản, tu bổ, phục hồi
di tích; Chứng chỉ hành nghề lập quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích;
Chứng chỉ hành nghề lập dự án, báo cáo kinh tế - kỹ thuật bảo quản, tu bổ, phục
hồi di tích, thiết kế bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; Chứng chỉ hành nghề
thi công bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; Chứng chỉ hành nghề tư vấn giám sát
thi công bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích.
Điều 79. Kinh doanh giám định di vật, cổ vật
1. Tổ
chức, cá nhân được kinh doanh giám định di vật, cổ vật theo quy định của Luật
này, quy định của pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp và quy định khác của pháp
luật có liên quan.
Tổ chức
kinh doanh giám định di vật, cổ vật còn phải đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
a) Có
trụ sở bảo đảm điều kiện để lưu giữ, bảo quản di vật, cổ vật được giám định;
b) Có
trang thiết bị, phương tiện thực hiện giám định;
c) Có ít
nhất 03 chuyên gia giám định di vật, cổ vật đủ tiêu chuẩn theo quy định tại khoản 4 Điều 41 của Luật này;
d) Có
giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh giám định di vật, cổ vật do cơ quan có
thẩm quyền cấp.
2.
Chính phủ quy định chi tiết điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hồ sơ cấp,
cấp lại, thu hồi giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh giám định di vật, cổ vật.
Điều 80. Kinh doanh di vật, cổ vật
1. Tổ
chức, cá nhân được kinh doanh di vật, cổ vật; bảo quản, phục chế di vật, cổ vật;
số hóa, xây dựng cơ sở dữ liệu di vật, cổ vật thực hiện theo quy định của Luật
này, quy định của pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp, quy định khác của pháp luật
có liên quan và đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
a) Có
giấy chứng nhận đủ điều kiện đầu tư kinh doanh di vật, cổ vật đối với cơ sở
kinh doanh;
b) Có
chứng chỉ hành nghề kinh doanh di vật, cổ vật đối với chủ cơ sở hoặc người đại
diện theo pháp luật;
c) Có
trụ sở bảo đảm điều kiện để lưu giữ, bảo quản hoặc trưng bày di vật, cổ vật và
các phương tiện, kỹ thuật phù hợp với ngành, nghề đăng ký.
2.
Chính phủ quy định về điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hồ sơ cấp, cấp
lại, thu hồi giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh di vật, cổ vật và chứng chỉ
hành nghề kinh doanh di vật, cổ vật.
Điều 81. Kinh doanh dịch vụ bảo tàng
1. Cơ
quan, tổ chức, cá nhân được kinh doanh hoạt động dịch vụ bảo tàng theo quy định
của Luật này, quy định của pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp, quy định khác của
pháp luật có liên quan và đáp ứng một trong các điều kiện sau đây:
a) Được
thành lập bảo tàng công lập theo quy định tại Điều 65 của Luật
này;
b) Được
cấp giấy phép hoạt động bảo tàng theo quy định tại Điều 67 của Luật
này.
2. Hoạt
động kinh doanh dịch vụ bảo tàng phải phù hợp với nhiệm vụ của bảo tàng quy định
tại Điều 68 của Luật này.
Chương VII
ĐIỀU
KIỆN BẢO ĐẢM HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA
Điều 82. Nguồn tài chính để bảo vệ và phát huy giá trị di sản
văn hóa
1.
Ngân sách nhà nước bố trí từ chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển của Bộ, cơ
quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan, tổ chức khác ở trung ương và địa
phương theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
2. Nguồn
thu từ các hoạt động khai thác, sử dụng di sản văn hóa và các hoạt động dịch vụ
theo quy định của pháp luật.
3. Viện
trợ, tài trợ, hỗ trợ, tặng cho, đóng góp của tổ chức, cá nhân trong nước và nước
ngoài theo quy định của pháp luật; quỹ bảo tồn di sản văn hóa.
4. Nguồn
tài chính hợp pháp khác.
Điều 83. Ngân sách nhà nước chi cho hoạt động bảo vệ và phát
huy giá trị di sản văn hóa
1.
Ngân sách nhà nước chi thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
a)
Nghiên cứu, sưu tầm, tư liệu hóa, thực hành, truyền dạy, kiểm kê, lập hồ sơ
khoa học, xếp hạng, công nhận, ghi danh di sản văn hóa; công nhận bảo vật quốc
gia;
b) Thực
hiện các biện pháp, chương trình, dự án quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di
sản văn hóa; khoanh vùng cắm mốc khu vực bảo vệ di tích; bảo quản, phục hồi,
duy tu, bảo trì, bảo dưỡng, sửa chữa, phục chế, tu sửa cấp thiết di tích lịch sử
- văn hóa, bảo tàng, trưng bày bảo tàng công lập, kho và hiện vật bảo tàng, di
vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, di sản tư liệu;
c) Lập,
thẩm định, phê duyệt, công bố, điều chỉnh, đánh giá quy hoạch bảo quản, tu bổ,
phục hồi di tích và quy hoạch khảo cổ; lập, thẩm định, thực hiện dự án bảo quản,
tu bổ, phục hồi di tích; thẩm định, thực hiện dự án đầu tư xây dựng, cải tạo,
nâng cấp công trình, trưng bày bảo tàng công lập; dự án phục chế di sản tư liệu;
d) Xây
dựng và thực hiện Chương trình hành động quốc gia, báo cáo quốc gia, đề án, dự án
bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;
đ)
Giám định di vật, cổ vật, di sản tư liệu; sưu tầm di vật, cổ vật, bảo vật quốc
gia, di sản tư liệu; mua và đưa di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, di sản tư liệu
có nguồn gốc Việt Nam ở nước ngoài về nước đối với các trường hợp được xác định
tại khoản 4 Điều 51 và khoản 4 Điều 62 của Luật này; đưa di
vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, di sản tư liệu đi trưng bày ở trong nước và nước
ngoài; tiếp nhận, đưa di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, di sản tư liệu thu được
do tìm kiếm, mua bán, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu trái phép từ nước ngoài
về nước;
e) Thực
hiện các nhiệm vụ của tổ chức được giao quản lý, sử dụng di tích thuộc sở hữu
toàn dân, bảo tàng công lập;
g)
Thăm dò, khai quật khảo cổ và nghiên cứu xử lý kết quả thăm dò, khai quật khảo
cổ;
h) Hỗ
trợ nghệ nhân, chủ thể di sản văn hóa phi vật thể, người trực tiếp trông coi di
tích lịch sử - văn hóa, cá nhân chủ sở hữu di sản tư liệu được UNESCO ghi danh
theo quy định của pháp luật;
i) Đào
tạo, bồi dưỡng, tập huấn nguồn nhân lực; nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế về
bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;
k)
Tuyên truyền, giới thiệu, quảng bá về di sản văn hóa;
l) Dự
án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số; bảo dưỡng, duy trì, nâng
cấp, mở rộng hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hoạt động
bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;
m) Hoạt
động của các Hội đồng thẩm định, khoa học, chuyên môn trong lĩnh vực di sản văn
hóa và Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia theo quy định của Luật này;
n) Nhiệm
vụ khác theo quy định của pháp luật.
2.
Chính phủ quy định chi tiết nhiệm vụ, nội dung chi, mức chi cho các nhiệm vụ bảo
vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa tại Điều này.
Điều 84. Đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng cho nhân lực quản lý,
bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá
1.
Nhân lực quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá được đào tạo, bồi
dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với công việc theo quy định của pháp luật;
được hưởng chế độ, chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật, đặc biệt ưu
tiên đối với nguồn nhân lực vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
2.
Nhân lực tham gia quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá nhưng
không hưởng lương từ ngân sách nhà nước thì được hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi
dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, hưởng chế độ từ nguồn thu khai thác, sử dụng di sản
văn hóa và chế độ, chính sách khác theo quy định của pháp luật.
3. Bộ
trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết về chương trình, tài
liệu, tổ chức đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng cho nhân lực quản lý, bảo vệ và phát
huy giá trị di sản văn hóa.
Điều 85. Cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hóa và chuyển
đổi số trong lĩnh vực di sản văn hóa
1. Xây
dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hóa nhằm lưu giữ, quản lý, bảo vệ,
khai thác, phát huy giá trị di sản văn hóa phục vụ phát triển kinh tế - xã hội
bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật về dữ liệu, giao dịch điện tử và quy định
khác của pháp luật có liên quan.
2. Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản văn hóa theo quy định
của pháp luật về dữ liệu và quy định khác của pháp luật có liên quan.
3. Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm xây dựng, quản lý, vận hành, cập nhật,
duy trì và hướng dẫn việc khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu quốc gia về di sản
văn hóa.
4. Cơ
quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tổ chức triển khai xây dựng cơ sở dữ liệu
về di sản văn hóa theo phân cấp; bảo đảm tích hợp, kết nối, liên thông với cơ sở
dữ liệu quốc gia về di sản văn hóa và đáp ứng yêu cầu an ninh, an toàn và bảo mật
theo quy định của pháp luật.
5. Việc
xây dựng, cập nhật, duy trì, khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu quốc gia về di
sản văn hóa; giá trị pháp lý đối với dữ liệu di sản văn hóa phi vật thể, di sản
tư liệu được chuyển đổi thực hiện theo quy định của pháp luật về dữ liệu, giao
dịch điện tử.
6.
Nghiên cứu xây dựng dự án, đề án, chương trình, kế hoạch, đề tài khoa học về
chuyển đổi số, số hóa di sản văn hóa, xây dựng, phát triển hệ thống thông tin, ứng
dụng công nghệ mới trong quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.
7.
Chính phủ quy định chi tiết về chuyển đổi số trong lĩnh vực di sản văn hóa.
Điều 86. Tuyên truyền, quảng bá, giáo dục truyền thống thông
qua di sản văn hóa và phát huy giá trị di sản văn hóa trên môi trường điện tử
1.
Tuyên truyền, quảng bá, giáo dục truyền thống thông qua di sản văn hóa trên các
phương tiện thông tin đại chúng; thông qua trưng bày, giới thiệu, hội thảo khoa
học, tọa đàm, thi sáng tác, triển lãm về di sản văn hóa; liên hoan, trình diễn
di sản văn hóa phi vật thể; hoạt động tìm hiểu, tham quan, học tập về di sản
văn hóa gắn kết với chương trình, hoạt động giáo dục trong cơ sở giáo dục; biên
soạn, xuất bản tài liệu chuyên ngành về di sản văn hóa và các hình thức phù hợp
khác theo quy định của pháp luật.
2. Việc
phát huy giá trị di sản văn hóa trên môi trường điện tử thực hiện theo các quy
định của Luật này, pháp luật về công nghệ thông tin, giao dịch điện tử, quy định
khác của pháp luật có liên quan và phải đáp ứng đủ các yêu cầu sau đây:
a) Bảo
đảm tuyệt đối an toàn cho di sản văn hóa trong quá trình xây dựng dữ liệu số về
di sản văn hóa và nội dung trưng bày số;
b) Việc
thu thập, lưu trữ, xử lý dữ liệu và sử dụng các cơ sở dữ liệu số của tổ chức,
cá nhân phải tuân theo quy định pháp luật về quyền tác giả và bảo vệ dữ liệu cá
nhân;
c) Dữ
liệu số phải bảo đảm tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về dữ liệu số,[6] an ninh mạng và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Điều 87. Xã hội hóa trong bảo vệ và phát huy giá trị di sản
văn hóa
1. Khuyến
khích và tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân tham gia các hoạt động bảo vệ và
phát huy giá trị di sản văn hóa.
2. Nguồn
lực xã hội hóa được sử dụng cho các hoạt động sau:
a)
Nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, tư liệu hóa, lập hồ sơ khoa học để công nhận, xếp
hạng, ghi danh di sản văn hóa;
b)
Nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong các hoạt động bảo vệ và phát huy
giá trị di sản văn hóa;
c) Xây
dựng cơ sở dữ liệu về di sản văn hóa;
d)
Tuyên truyền, quảng bá di sản văn hóa trong nước và nước ngoài;
đ) Tổ
chức phục hồi, thực hành, truyền dạy, giới thiệu, quảng bá, trình diễn, liên
hoan về di sản văn hóa phi vật thể;
e) Bảo
quản, tu bổ, phục hồi và phát huy giá trị di tích;
g)
Thăm dò, khai quật khảo cổ;
h)
Nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, số hóa, lưu giữ, phục chế và phát huy giá trị di
sản tư liệu;
i)
Nghiên cứu, sưu tầm, giám định, kiểm kê, bảo quản, phục chế, trưng bày, giáo dục,
truyền thông của bảo tàng;
k) Hoạt
động khác theo quy định của pháp luật.
3. Tổ
chức, cá nhân tham gia các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa
quy định tại khoản 2 Điều này được hưởng các ưu đãi về thuế, ưu đãi vay vốn
theo quy định của pháp luật.
Điều 88. Sử dụng, khai thác di sản văn hóa
1. Tổ
chức, cộng đồng và cá nhân được sử dụng, khai thác di sản văn hóa trong các trường
hợp sau đây:
a)
Sáng tạo, sáng tác tác phẩm văn học, nghệ thuật; biểu diễn nghệ thuật;
b)
Tuyên truyền, giới thiệu, quảng bá, giáo dục di sản văn hóa;
c)
Nghiên cứu khoa học;
d) Phục
vụ hoạt động kinh doanh, dịch vụ, du lịch và phát triển công nghiệp văn hóa;
đ) Trường
hợp khác theo quy định của pháp luật.
2. Việc
sử dụng, khai thác di sản văn hóa bảo đảm các yêu cầu sau đây:
a)
Phát huy truyền thống tốt đẹp của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt
Nam;
b) Góp
phần sáng tạo những giá trị văn hóa mới, làm giàu kho tàng di sản văn hóa Việt
Nam và mở rộng giao lưu văn hóa quốc tế;
c) Quảng
bá giá trị di sản văn hoá Việt Nam trong nước và nước ngoài, góp phần phát triển
bền vững;
d)
Tuân thủ quy định của Luật này, quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, dân sự
và quy định khác của pháp luật có liên quan.
3. Di
sản văn hóa hạn chế sử dụng, khai thác trong các trường hợp sau đây:
a) Di
sản văn hóa dễ bị hư hại;
b) Chứa
nội dung thông tin nếu sử dụng rộng rãi có thể ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
c) Thuộc
Danh mục bí mật nhà nước, hạn chế sử dụng, tiếp cận có điều kiện, hạn chế quyền
tiếp cận theo quy định của Luật này, pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, tiếp
cận thông tin;
d) Có
thể bị lợi dụng để xuyên tạc chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chống
lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn
dân tộc; kích động bạo lực, gây thù hằn giữa các dân tộc, tôn giáo; tuyên truyền
chiến tranh xâm lược; phá hoại thuần phong mỹ tục; truyền bá mê tín; phân biệt
đối xử, kỳ thị văn hóa, tạo ganh đua, mâu thuẫn, tranh chấp và xung đột văn hóa;
đ) Có
thể bị lợi dụng để tuyên truyền, gây ảnh hưởng đến chủ quyền quốc gia, quốc
phòng, an ninh, chính trị, xúc phạm anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch
sử.
4. Bộ
trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết các điểm a, b, d và đ khoản
3 Điều này. Cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp quản lý hoặc sở hữu hợp pháp di
sản văn hóa có trách nhiệm xây dựng danh mục di sản văn hóa bị hạn chế sử dụng,
khai thác.
Điều 89. Quỹ bảo tồn di sản văn hóa
1. Quỹ
bảo tồn di sản văn hóa là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, được thành lập
và hoạt động theo quy định của pháp luật để hỗ trợ kinh phí cho hoạt động bảo vệ
và phát huy giá trị di sản văn hóa chưa được ngân sách nhà nước đầu tư, hỗ trợ
hoặc đầu tư chưa đủ, bao gồm:
a) Bảo
vệ di sản văn hóa phi vật thể có nguy cơ mai một, thất truyền;
b) Thực
hiện các công trình, hạng mục bảo quản, tu bổ, phục hồi, bảo vệ và phát huy giá
trị di tích;
c)
Mua, đưa di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, di sản tư liệu, tư liệu quý hiếm về
di sản văn hóa phi vật thể có nguồn gốc Việt Nam từ nước ngoài về nước;
d) Mua
di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia, di sản tư liệu có giá trị của Việt Nam để bổ
sung cho các sưu tập của bảo tàng, di tích.
2. Nguồn
tài chính của Quỹ được hình thành trên cơ sở viện trợ, tài trợ, hỗ trợ, tặng
cho của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài và các nguồn tài chính hợp
pháp khác ngoài ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật. Ngân sách nhà
nước không hỗ trợ kinh phí đối với các hoạt động của Quỹ.
3. Quỹ
bảo tồn di sản văn hóa có tư cách pháp nhân; có con dấu riêng; được mở tài khoản
tại Kho bạc Nhà nước, ngân hàng thương mại để phản ánh việc tiếp nhận, quản lý
và sử dụng các nguồn tài chính cho hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản
văn hóa. Kết thúc năm tài chính, số dư Quỹ (nếu có) được chuyển nguồn sang năm
sau để tiếp tục sử dụng cho hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa.
4. Quỹ
bảo tồn di sản văn hóa hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận; thực hiện việc lập
dự toán, chấp hành dự toán, hạch toán kế toán, quyết toán tài chính và thực hiện
công tác kiểm toán theo quy định của pháp luật. Bảo đảm công khai, minh bạch về
tài chính, kết quả hoạt động của Quỹ.
5. Thẩm
quyền thành lập Quỹ như sau:
a) Quỹ
bảo tồn di sản văn hóa ở Trung ương do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
quyết định thành lập;
b) Quỹ
bảo tồn di sản văn hóa ở địa phương do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ
điều kiện kinh tế - xã hội trên địa bàn, khả năng huy động các nguồn lực xã hội
và tính hiệu quả của quỹ để quyết định việc thành lập.
6.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Chương VIII
QUẢN
LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA
Điều 90. Trách nhiệm quản lý nhà nước về di sản văn hóa
1.
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hóa.
2. Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thống nhất quản
lý nhà nước về di sản văn hóa, có trách nhiệm sau đây:
a) Xây
dựng, ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực
hiện văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, chương trình, quy hoạch, kế hoạch
nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;
b) Phê
duyệt, thẩm định dự án, đề án, chương trình, quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát
huy giá trị di sản văn hóa theo thẩm quyền;
c) Thực
hiện, hướng dẫn xếp hạng, công nhận, ghi danh và cấp bằng xếp hạng, công nhận,
ghi danh di sản văn hóa theo thẩm quyền;
d) Thực
hiện, hướng dẫn xếp hạng bảo tàng theo thẩm quyền;
đ) Đào
tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ cho nhân lực bảo
vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;
e) Tổ chức,
quản lý hoạt động nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến
trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa;
g)
Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ và phát huy giá trị di sản
văn hóa;
h) Tổ
chức công tác thi đua, khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản
văn hóa;
i) Kiểm
tra,[7] giải quyết khiếu nại, tố
cáo, xử lý vi phạm về di sản văn hóa theo thẩm quyền;
k) Giới
thiệu, quảng bá, hợp tác quốc tế về di sản văn hóa và thực hiện trách nhiệm,
cam kết của quốc gia thành viên tham gia các công ước của UNESCO về di sản văn
hóa;
l)
Trách nhiệm khác theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có
liên quan.
3. Bộ,
cơ quan ngang Bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối
hợp với Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về
di sản văn hóa theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có
liên quan; phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ, cơ quan ngang Bộ
khác, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc thu hồi, mua và đưa di vật, cổ vật, bảo
vật quốc gia và di sản tư liệu có nguồn gốc Việt Nam ở nước ngoài về nước.
4. Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm
sau đây:
a) Xây
dựng và ban hành theo thẩm quyền Quy chế quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di
sản văn hoá trên địa bàn;
b) Chịu
trách nhiệm toàn diện về hoạt động quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị đối với
di sản văn hoá trên địa bàn được đưa vào các danh mục kiểm kê, di sản văn hoá
trên địa bàn được xếp hạng, ghi danh, công nhận trong các danh mục của quốc
gia, các danh sách, danh mục của UNESCO theo quy định của Luật này, quy định
khác của pháp luật có liên quan và quy định, hướng dẫn của UNESCO;
c) Ban
hành Quy chế phối hợp quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá với
các địa phương có chung di sản văn hoá được xếp hạng, ghi danh, công nhận ở các
danh mục của quốc gia hoặc các danh sách, danh mục của UNESCO;
d)
Trách nhiệm khác theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có
liên quan.
Điều 91. Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia
1. Hội
đồng Di sản văn hóa quốc gia là cơ quan tư vấn do Thủ tướng Chính phủ thành lập,
có con dấu và tài khoản riêng.
2.
Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia.
Điều 92.[8] (được bãi bỏ)
Chương IX
ĐIỀU
KHOẢN THI HÀNH[9]
Điều 93. Sửa đổi, bổ sung luật có liên quan
Bổ sung
điểm h vào sau điểm g khoản 3 Điều 49 của Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 đã được
sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 03/2016/QH14, Luật số 35/2018/QH14,
Luật số 40/2019/QH14 và Luật số 62/2020/QH14 như sau:
“h) Dự
án đầu tư công trình bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh
lam thắng cảnh”.
Điều 94. Hiệu lực thi hành
1. Luật
này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
2. Luật
Di sản văn hóa số 28/2001/QH10 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số
32/2009/QH12 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ trường
hợp quy định tại khoản 1 Điều 95 của Luật này.
Điều 95. Quy định chuyển tiếp
1. Các
hoạt động, quy hoạch, dự án trong khu vực bảo vệ di tích đã được cơ quan có thẩm
quyền thẩm định, phê duyệt trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành được thực hiện theo quy định của Luật Di sản văn hóa số
28/2001/QH10 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 32/2009/QH12.
2. Di sản văn hóa phi vật
thể đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Luật Di sản
văn hóa số 28/2001/QH10 đã dược sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số
32/2009/QH12 thì được chuyển sang Danh mục quốc gia về di sản văn hóa phi vật
thể; loại hình “Tiếng nói, chữ viết” và loại hình “Ngữ văn dân gian” được chuyển
sang loại hình “Các biểu đạt và truyền thống truyền khẩu” kể từ ngày Luật này
có hiệu lực thi hành.
3. Đối với Nghệ nhân nhân
dân, Nghệ nhân ưu tú ở loại hình “Tiếng nói, chữ viết” và loại hình “Ngữ văn
dân gian” được chuyển sang loại hình “Các biểu đạt và truyền thống truyền khẩu”
kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
|
Nơi nhận:
- Văn phòng
Chính phủ (để đăng Công báo);
- Cục Kiểm tra VB và QLXLVPHC, Bộ Tư pháp (để đăng trên CSDL Quốc gia về
VBPL);
- Cục Quản trị, VPQH (để đăng trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội);
- Vụ Chuyển đổi số, VPQH (để đăng trên trang nội bộ Intranet);
- Lưu: HC, TH.
|
XÁC THỰC VĂN BẢN HỢP NHẤT
CHỦ NHIỆM
Lê Quang Mạnh
|
[1]
Luật Thanh tra số 84/2025/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn
cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một
số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc
hội ban hành Luật Thanh tra.”.
Luật
Quy hoạch số 112/2025/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn
cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một
số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc
hội ban hành Luật Quy hoạch.”.
Luật
An ninh mạng số 116/2025/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn
cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một
số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật An ninh mạng.”.
[2] Cụm
từ “quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành” được thay thế bằng cụm từ
“quy hoạch chi tiết ngành” theo quy định tại điểm a khoản 12 Điều 55 của Luật
Quy hoạch số 112/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2026.
[3] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 12 Điều 55 của Luật
Quy hoạch số 112/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2026.
[4] Cụm
từ “quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành” được thay thế bằng cụm từ
“quy hoạch chi tiết ngành” theo quy định tại điểm a khoản 12 Điều 55 của Luật
Quy hoạch số 112/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2026.
[5] Cụm
từ “an toàn thông tin mạng” được thay thế bằng cụm từ “an ninh mạng” theo quy định
tại điểm a khoản 6 Điều 43 của Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[6] Cụm
từ “an toàn thông tin mạng,” được bỏ theo quy định tại điểm b khoản 6 Điều 43 của
Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[7] Cụm
từ “thanh tra,” được bỏ theo quy định tại điểm t khoản 1 Điều 62 của Luật Thanh
tra số 84/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[8] Điều
này được bãi bỏ theo quy định tại điểm t khoản 1 Điều 62 của Luật Thanh tra số
84/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[9]
Điều 63 của Luật Thanh tra số 84/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025 quy định như sau:
“Điều 63. Hiệu lực thi hành
1. Luật
này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
2.
Luật Thanh tra số 11/2022/QH15 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi
hành, trừ quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 64 của Luật này.
3.
Chính phủ quy định chi tiết các điều, khoản được giao và hướng dẫn thực hiện Luật
này.”.
Điều
57 của Luật Quy hoạch số 112/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm
2026 quy định như sau:
“Điều
57. Hiệu lực thi hành
1. Luật
này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 3 năm 2026, trừ quy định tại các khoản
2, 3 và 4 Điều này.
2. Điều
48 của Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày Luật này được thông qua.
3. Điều
56 của Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày Luật này được thông qua đến hết
ngày 28 tháng 02 năm 2026, trừ quy định tại khoản 4 Điều này.
4.
Quy định có liên quan đến việc điều chỉnh quy hoạch không gian biển quốc gia,
quy hoạch sử dụng đất quốc gia thời kỳ 2021-2030 tại Điều 56 của Luật này có hiệu
lực thi hành từ ngày Luật này được thông qua đến khi điều chỉnh quy hoạch được
phê duyệt nhưng không quá ngày 30 tháng 6 năm 2026.
5.
Nghị quyết số 66.2/2025/NQ-CP ngày 28 tháng 8 năm 2025 của Chính phủ quy định xử
lý khó khăn, vướng mắc về việc điều chỉnh quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch
vùng, quy hoạch tỉnh khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính và tổ chức chính
quyền địa phương 2 cấp trong thời gian chưa ban hành Luật Quy hoạch (sửa đổi) hết
hiệu lực kể từ ngày Luật này được thông qua.
6.
Luật Quy hoạch số 21/2017/QH15 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi
hành, trừ các quy định có liên quan tại Điều 58 của Luật này.”.
Điều
44 của Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2026 quy định như sau:
“Điều
44. Hiệu lực thi hành
1. Luật
này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
2. Luật An toàn thông tin mạng số 86/2015/QH13
đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14; Luật An ninh mạng
số 24/2018/QH14 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.”.