|
VĂN BẢN HỢP NHẤT
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 172/2026/VBHN-LQ-VPQH
|
Hà Nội, ngày 01 tháng 10 năm 2026
|
BỘ LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13
ngày 27 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2016, được sửa đổi, bổ sung bởi:
1. Luật số 02/2021/QH15
ngày 12 tháng 11 năm 2021 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật
Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2021;
2. Luật Tổ chức Tòa án
nhân dân số 34/2024/QH15 ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Quốc hội, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2025;
3. Luật Tư pháp người
chưa thành niên số 59/2024/QH15 ngày 30 tháng 11 năm 2024 của Quốc hội, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026;
4. Luật số 99/2025/QH15
ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật
Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025;
5. Luật Tương trợ tư
pháp về hình sự số 103/2025/QH15 ngày 26 tháng 11 năm 2025 của Quốc hội, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026;
6. Luật Giám định tư
pháp số 105/2025/QH15 ngày 05 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 5 năm 2026;
7. Luật Thi hành án dân
sự số 106/2025/QH15 ngày 05 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2026;
8. Luật Thi hành tạm giữ,
tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú số 128/2025/QH15 ngày 10 tháng 12 năm 2025 của
Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026;
9. Luật số 11/2026/QH16
ngày 23 tháng 8 năm 2026 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải
quan, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự[1],
Phần thứ nhất
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Chương I
PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH, NHIỆM VỤ, HIỆU LỰC CỦA BỘ LUẬT TỐ
TỤNG HÌNH SỰ
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Bộ luật Tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục tiếp nhận,
giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và một số
thủ tục thi hành án hình sự; nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; nhiệm vụ, quyền hạn và
trách nhiệm của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của
người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân; hợp tác quốc tế trong tố tụng
hình sự.
Điều 2. Nhiệm vụ của Bộ luật Tố tụng hình sự
Bộ luật Tố tụng hình sự có nhiệm vụ bảo đảm phát hiện chính
xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, phòng ngừa, ngăn chặn tội
phạm, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội; góp phần bảo vệ công
lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội
chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,
cá nhân, giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và
chống tội phạm.
Điều 3. Hiệu lực của Bộ luật Tố tụng hình sự
1. Bộ luật Tố tụng hình sự có hiệu lực đối với mọi hoạt động
tố tụng hình sự trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Hoạt động tố tụng hình sự đối với người nước ngoài phạm
tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tiến hành theo
quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành
viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại.
Trường hợp người nước ngoài thuộc đối tượng được hưởng quyền
miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc tập quán quốc tế thì được giải
quyết theo quy định của điều ước quốc tế hoặc tập quán quốc tế đó; trường hợp
điều ước quốc tế đó không quy định hoặc không có tập quán quốc tế thì được giải
quyết bằng con đường ngoại giao.
Điều 4. Giải thích từ ngữ
1. Trong Bộ luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
a) Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng gồm cơ
quan tiến hành tố tụng và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra.
b) Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gồm người
tiến hành tố tụng và người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra.
c) Người tham gia tố tụng là cá nhân, cơ quan, tổ chức
tham gia hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này.
d) Nguồn tin về tội phạm gồm tố giác, tin báo về tội
phạm, kiến nghị khởi tố của cơ quan, tổ chức, cá nhân, lời khai của người phạm
tội tự thú và thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
trực tiếp phát hiện.
đ) Người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo.
e) Người thân thích của người tham gia tố tụng, người có
thẩm quyền tiến hành tố tụng là người có quan hệ với người tham gia tố tụng,
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gồm vợ, chồng, bố đẻ, mẹ đẻ, bố chồng, mẹ
chồng, bố vợ, mẹ vợ, bố nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi; ông nội, bà nội, ông
ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột; cụ nội, cụ ngoại, bác ruột, chú
ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, cháu ruột.
g) Đương sự gồm nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự.
h) Tự thú là việc người phạm tội tự nguyện khai báo
với cơ quan, tổ chức về hành vi phạm tội của mình trước khi tội phạm hoặc người
phạm tội bị phát hiện.
i) Đầu thú là việc người phạm tội sau khi bị phát hiện
đã tự nguyện ra trình diện và khai báo với cơ quan có thẩm quyền về hành vi phạm
tội của mình.
k) Áp giải là việc cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế
người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo đến
địa điểm tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử.
l) Dẫn giải là việc cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế
người làm chứng, người bị tố giác hoặc bị kiến nghị khởi tố đến địa điểm tiến
hành điều tra, truy tố, xét xử hoặc người bị hại từ chối giám định.
m) Danh bản là bản ghi thông tin tóm tắt về lý lịch,
nhân dạng, ảnh chụp ba tư thế, in dấu vân hai ngón tay trỏ của bị can do cơ
quan có thẩm quyền lập và lưu giữ.
n) Chỉ bản là bản ghi thông tin tóm tắt về lý lịch
và in dấu vân tất cả các ngón tay của bị can do cơ quan có thẩm quyền lập và
lưu giữ.
o) Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là việc cơ
quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra,
truy tố, xét xử không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các
trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và đã xâm hại nghiêm trọng đến quyền,
lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng hoặc làm ảnh hưởng đến việc xác định
sự thật khách quan, toàn diện của vụ án.
p)[2] Viện
kiểm sát có thẩm quyền là Viện kiểm sát có trách nhiệm thực hành quyền công tố,
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ việc, vụ án.
2. Trong Bộ luật này, những từ ngữ dưới đây được gọi như
sau:
a)[3] (được
bãi bỏ)
b) Cơ quan điều tra Công an tỉnh, thành phố[4] sau đây gọi là Cơ quan điều
tra cấp tỉnh.
c) Cơ quan điều tra quân sự quân khu và tương đương sau đây
gọi là Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu.
d)[5] (được
bãi bỏ)
đ) Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố[6]
sau đây gọi là Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh.
e) Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương sau đây
gọi là Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu.
g)[7] (được
bãi bỏ)
h) Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố[8]
sau đây gọi là Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
i) Tòa án quân sự quân khu và tương đương sau đây gọi là
Tòa án quân sự cấp quân khu.
k)[9] Xã,
phường, đặc khu sau đây gọi là cấp xã.
Điều 5. Trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức và cá
nhân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm
1. Trong phạm vi trách nhiệm của mình, cơ quan nhà nước phải
áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm, phối hợp với cơ quan có thẩm quyền
tiến hành tố tụng trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Cơ quan nhà nước phải thường xuyên kiểm tra, thanh tra việc
thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; phát hiện kịp thời hành vi vi phạm
pháp luật để xử lý và thông báo ngay cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát mọi
hành vi phạm tội xảy ra trong cơ quan và trong lĩnh vực quản lý của mình; kiến
nghị và gửi tài liệu có liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát xem xét,
khởi tố đối với người thực hiện hành vi phạm tội.
Thủ trưởng cơ quan nhà nước phải chịu trách nhiệm về việc
không thông báo hoặc cung cấp thông tin sai sự thật về hành vi phạm tội xảy ra
trong cơ quan và trong lĩnh vực quản lý của mình cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm
sát.
2. Tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ phát hiện, tố
giác, báo tin về tội phạm; tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm.
3. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm tạo
điều kiện để cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân tham gia đấu tranh phòng, chống
tội phạm.
4. Cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm thực
hiện yêu cầu và tạo điều kiện để cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
thực hiện nhiệm vụ.
5. Cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước có trách nhiệm phối
hợp với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc phát hiện và xử lý tội
phạm. Khi phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm thì phải chuyển ngay các tài
liệu, đồ vật có liên quan và kiến nghị Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát xem xét,
khởi tố vụ án hình sự.
6. Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở hoạt động của cơ quan,
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ.
Điều 6. Phát hiện và khắc phục nguyên nhân, điều kiện phạm
tội
1. Trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự, cơ quan có thẩm
quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm phát hiện nguyên nhân và điều kiện phạm
tội, yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục
và phòng ngừa.
2. Cơ quan, tổ chức hữu quan phải thực hiện yêu cầu, kiến
nghị của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được yêu cầu, kiến nghị, cơ quan, tổ chức hữu quan phải trả lời bằng
văn bản về việc thực hiện yêu cầu, kiến nghị của cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng.
Chương II
NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN
Điều 7. Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng
hình sự[10]
Mọi hoạt động tố tụng hình sự phải được thực hiện theo quy
định của Bộ luật này. Không được giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều
tra, truy tố, xét xử ngoài những căn cứ và trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy
định. Đối với việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều
tra, truy tố, xét xử liên quan đến người chưa thành niên thì còn phải thực hiện
theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Điều 8. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi
ích hợp pháp của cá nhân
Khi tiến hành tố tụng, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tôn trọng và bảo vệ
quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân; thường xuyên kiểm tra
tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ
hoặc thay đổi những biện pháp đó nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không
còn cần thiết.
Điều 9. Bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật
Tố tụng hình sự được tiến hành theo nguyên tắc mọi người đều
bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn
giáo, thành phần và địa vị xã hội. Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo
pháp luật.
Mọi pháp nhân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt
hình thức sở hữu và thành phần kinh tế.
Điều 10. Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể
Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể. Không ai bị
bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm
sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang.
Việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, việc bắt, tạm giữ,
tạm giam người phải theo quy định của Bộ luật này. Nghiêm cấm tra tấn, bức
cung, dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể,
tính mạng, sức khỏe của con người.
Điều 11. Bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm,
tài sản của cá nhân; danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân
Mọi người có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức
khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản.
Mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật tính mạng, sức khoẻ,
danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của
pháp nhân đều bị xử lý theo pháp luật.
Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà
nước khác.
Điều 12. Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời
sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện
thoại, điện tín của cá nhân
Không ai được xâm phạm trái pháp luật chỗ ở, đời sống
riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại,
điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân.
Việc khám xét chỗ ở; khám xét, tạm giữ và thu giữ thư tín,
điện thoại, điện tín, dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng
tư khác phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật này.
Điều 13. Suy đoán vô tội
Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được
chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội
của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết
tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội.
Điều 14. Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm
Không được khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với người
mà hành vi của họ đã có bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, trừ trường
hợp họ thực hiện hành vi nguy hiểm khác cho xã hội mà Bộ luật Hình sự quy định
là tội phạm.
Điều 15. Xác định sự thật của vụ án
Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền
tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh
là mình vô tội.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm
quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật
của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có
tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội.
Điều 16. Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự
Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc
người khác bào chữa.
Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm
thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực
hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo
quy định của Bộ luật này.
Điều 17. Trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng
Trong quá trình tiến hành tố tụng, cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng phải nghiêm chỉnh thực hiện quy định của pháp luật và
phải chịu trách nhiệm về hành vi, quyết định của mình.
Người vi phạm pháp luật trong việc giữ người trong trường hợp
khẩn cấp, bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án thì
tuỳ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm
hình sự theo quy định của luật.
Điều 18. Trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự
Khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, trong phạm vi
nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách
nhiệm khởi tố vụ án, áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định
tội phạm và xử lý người phạm tội, pháp nhân phạm tội.
Không được khởi tố vụ án ngoài những căn cứ và trình tự, thủ
tục do Bộ luật này quy định.
Điều 19. Tuân thủ pháp luật trong hoạt động điều tra
Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra phải tuân thủ pháp luật khi tiến hành hoạt động điều tra
theo quy định của Bộ luật này.
Mọi hoạt động điều tra phải tôn trọng sự thật, tiến
hành khách quan, toàn diện và đầy đủ; phát hiện nhanh chóng, chính xác mọi hành
vi phạm tội, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình
tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nguyên nhân, điều kiện
phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án.
Điều 20. Trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự[11]
Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong tố tụng hình sự, quyết định việc buộc tội, phát hiện vi phạm
pháp luật nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhân phạm tội,
vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc
khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp
luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, pháp nhân phạm tội, không làm
oan người vô tội.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định thẩm
quyền của Viện kiểm sát nhân dân mỗi cấp trong thực hành quyền công tố và kiểm
sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự theo quy định của Bộ luật
này.
Điều 21. Bảo đảm sự vô tư của người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng, người tham gia tố tụng
Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người phiên dịch,
người dịch thuật, người giám định, người định giá tài sản, người chứng kiến
không được tham gia tố tụng nếu có lý do cho rằng họ có thể không vô tư trong
khi thực hiện nhiệm vụ.
Điều 22. Thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia
Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án có Hội thẩm tham gia, trừ
trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn do Bộ luật này quy định.
Điều 23. Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân
theo pháp luật
Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật;
nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội
thẩm.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm
phán, Hội thẩm dưới bất kỳ hình thức nào thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị
xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự
theo quy định của luật.
Điều 24. Tòa án xét xử tập thể
Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường
hợp xét xử theo thủ tục rút gọn do Bộ luật này quy định.
Điều 25. Tòa án xét xử kịp thời, công bằng,
công khai
Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, bảo đảm
công bằng.
Tòa án xét xử công khai, mọi người đều có quyền tham dự
phiên tòa, trừ trường hợp do Bộ luật này quy định. Trường hợp đặc biệt cần giữ
bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người dưới 18 tuổi
hoặc để giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự thì Tòa án có thể
xét xử kín nhưng phải tuyên án công khai.
Điều 26. Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm
Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, Điều
tra viên, Kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng,
người bị buộc tội, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác đều có quyền
bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm
rõ sự thật khách quan của vụ án.
Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án do Viện kiểm sát chuyển
đến Tòa án để xét xử phải đầy đủ và hợp pháp. Phiên tòa xét xử vụ án hình sự phải
có mặt đầy đủ những người theo quy định của Bộ luật này, trường hợp vắng mặt phải
vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan hoặc trường hợp khác do
Bộ luật này quy định. Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho Kiểm sát
viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ
quyền, nghĩa vụ của mình và tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước Tòa án.
Mọi chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội,
tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, áp dụng điểm,
khoản, điều của Bộ luật Hình sự để xác định tội danh, quyết định hình phạt, mức
bồi thường thiệt hại đối với bị cáo, xử lý vật chứng và những tình tiết khác có
ý nghĩa giải quyết vụ án đều phải được trình bày, tranh luận, làm rõ tại phiên
tòa.
Bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm
tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
Điều 27. Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm
1. Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm.
Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo,
kháng nghị theo quy định của Bộ luật này. Bản án, quyết định sơ thẩm không bị
kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do Bộ luật này quy định thì có hiệu lực
pháp luật.
Bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ
án phải được xét xử phúc thẩm. Bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án có hiệu
lực pháp luật.
2. Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
mà phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có tình tiết mới theo quy định
của Bộ luật này thì được xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
Điều 28. Bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa
án
1. Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng. Cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu
quan phải nghiêm chỉnh chấp hành.
2. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của mình, cơ
quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm phối hợp, tạo điều kiện và thực hiện yêu
cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân có nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định của
Tòa án.
Điều 29. Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hình sự
Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hình sự là tiếng
Việt. Người tham gia tố tụng có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc
mình, trường hợp này phải có phiên dịch.
Điều 30. Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự
Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến
hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự. Trường hợp vụ án hình sự phải giải
quyết vấn đề bồi thường thiệt hại, bồi hoàn mà chưa có điều kiện chứng minh
và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì vấn đề dân sự có thể
tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.
Điều 31. Bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt
hại trong hoạt động tố tụng hình sự
1. Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị
tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án oan, trái
pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi
danh dự.
Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại và phục hồi
danh dự, quyền lợi cho người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị
tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án oan, trái
pháp luật do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây ra.
2. Người khác bị thiệt hại do cơ quan, người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng gây ra có quyền được Nhà nước bồi thường thiệt hại.
Điều 32. Bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình
sự
Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại, cá nhân có
quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự của cơ
quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc
các cơ quan đó.
Cơ quan, người có thẩm quyền phải tiếp nhận, xem xét và giải
quyết khiếu nại, tố cáo kịp thời, đúng pháp luật; gửi văn bản kết quả giải quyết
cho người khiếu nại, tố cáo, cơ quan, tổ chức khiếu nại và có biện pháp khắc
phục.
Trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo
do Bộ luật này quy định.
Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng
quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống người khác.
Điều 33. Kiểm tra, giám sát trong tố tụng hình sự
1. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thường
xuyên kiểm tra việc tiến hành các hoạt động tố tụng thuộc thẩm quyền; thực hiện
kiểm soát giữa các cơ quan trong việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm,
khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.
2. Cơ quan nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các tổ chức thành viên của Mặt trận, đại biểu dân cử có quyền giám sát hoạt động
của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; giám sát việc giải quyết
khiếu nại, tố cáo của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Nếu phát hiện hành vi trái pháp luật của cơ quan, người có
thẩm quyền tiến hành tố tụng thì cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử có quyền yêu
cầu, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có
quyền kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xem xét, giải quyết
theo quy định của Bộ luật này. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xem
xét, giải quyết và trả lời kiến nghị, yêu cầu đó theo quy định của pháp luật.
Chương III
CƠ QUAN CÓ THẨM QUYỀN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG, NGƯỜI CÓ THẨM
QUYỀN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG
Điều 34. Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng
1. Cơ quan tiến hành tố tụng gồm:
a) Cơ quan điều tra;
b) Viện kiểm sát;
c) Tòa án.
2. Người tiến hành tố tụng gồm:
a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra
viên, Cán bộ điều tra;
b) Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát
viên, Kiểm tra viên;
c) Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư
ký Tòa án, Thẩm tra viên.
Điều 35. Cơ quan và người được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra
1. Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra gồm:
a) Các cơ quan của Bộ đội biên phòng;
b) Các cơ quan của Hải quan;
c) Các cơ quan của Kiểm lâm;
d) Các cơ quan của lực lượng Cảnh sát biển;
đ) Các cơ quan của Kiểm ngư;
e) Các cơ quan của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra;
g) Các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.
Các cơ quan cụ thể được giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra quy định tại khoản này được quy định tại
Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự.
2. Người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra gồm:
a)[12] Người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra của Bộ đội biên phòng gồm Cục trưởng, Phó Cục trưởng Cục Trinh sát; Cục
trưởng, Phó Cục trưởng Cục Phòng, chống ma túy và tội phạm; Đoàn trưởng, Phó
Đoàn trưởng Đoàn Trinh sát; Đoàn trưởng, Phó Đoàn trưởng Đoàn Đặc nhiệm phòng,
chống ma túy và tội phạm; Chỉ huy trưởng, Phó Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Bộ đội
biên phòng; Đồn trưởng, Phó Đồn trưởng Đồn biên phòng; Chỉ huy trưởng, Phó Chỉ
huy trưởng Biên phòng Cửa khẩu cảng;
b)[13] Người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra của Hải quan gồm Chi cục trưởng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Điều tra
chống buôn lậu; Chi cục trưởng, Phó Chi cục trưởng Chi cục kiểm tra sau thông
quan; Trưởng Hải quan khu vực, Phó Trưởng Hải quan khu vực; Trưởng Hải quan cửa
khẩu, Phó Trưởng Hải quan cửa khẩu[14];
c)[15] Người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra của Kiểm lâm gồm Cục trưởng, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm
lâm; Chi cục trưởng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm vùng, Chi cục trưởng,
Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm; Hạt trưởng, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm;
d)[16] Người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra của lực lượng Cảnh sát biển gồm Tư lệnh, Phó Tư lệnh Cảnh sát biển;
Tư lệnh vùng, Phó Tư lệnh vùng Cảnh sát biển; Cục trưởng, Phó Cục trưởng Cục
Nghiệp vụ và pháp luật; Đoàn trưởng, Phó Đoàn trưởng Đoàn Trinh sát; Đoàn trưởng,
Phó Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy; Hải đoàn trưởng,
Phó Hải đoàn trưởng; Hải đội trưởng, Phó Hải đội trưởng; Đội trưởng, Phó Đội
trưởng Đội nghiệp vụ Cảnh sát biển;
đ)[17] Người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra của Kiểm ngư gồm Cục trưởng, Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư;
Chi cục trưởng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng;
e)[18] Người được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra của các cơ quan khác trong Công an nhân dân
gồm Cục trưởng, Phó Cục trưởng, Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng các cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Công an nhân dân, Giám
thị, Phó Giám thị Trại giam theo quy định của Luật Tổ chức cơ quan điều
tra hình sự;
g) Người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra của các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân gồm Giám thị, Phó Giám thị Trại
giam; Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương;
h) Cán bộ điều tra thuộc các cơ quan quy định tại khoản 1
Điều này.
Điều 36. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thủ trưởng,
Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra
1. Thủ trưởng Cơ quan điều tra có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Trực tiếp tổ chức và chỉ đạo việc thụ lý, giải quyết nguồn
tin về tội phạm, việc khởi tố, điều tra của Cơ quan điều tra;
b) Quyết định phân công hoặc thay đổi Phó Thủ trưởng Cơ
quan điều tra, thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm, kiểm tra việc khởi tố,
điều tra vụ án hình sự của Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra; quyết định thay đổi
hoặc hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Phó Thủ trưởng
Cơ quan điều tra.
c) Quyết định phân công hoặc thay đổi Điều tra viên, Cán bộ
điều tra; kiểm tra các hoạt động thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi
tố, điều tra vụ án hình sự của Điều tra viên, Cán bộ điều tra; quyết định thay
đổi hoặc hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Điều tra
viên.
d) Giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Cơ
quan điều tra.
Khi vắng mặt, Thủ trưởng Cơ quan điều tra ủy quyền cho một
Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng Cơ
quan điều tra. Phó Thủ trưởng chịu trách nhiệm trước Thủ trưởng về nhiệm vụ được
ủy quyền.
2. Khi tiến hành tố tụng hình sự, Thủ trưởng Cơ quan điều
tra có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm, kiến nghị khởi tố; quyết định khởi tố, không khởi tố, bổ sung hoặc
thay đổi quyết định khởi tố vụ án; quyết định khởi tố, bổ sung hoặc thay đổi
quyết định khởi tố bị can; quyết định nhập hoặc tách vụ án; quyết định ủy thác
điều tra;
b) Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn,
biện pháp cưỡng chế, biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt theo quy định của Bộ
luật này;
c) Quyết định truy nã, đình nã bị can, khám xét, thu giữ, tạm
giữ, xử lý vật chứng;
d) Quyết định trưng cầu giám định, giám định bổ sung hoặc
giám định lại, khai quật tử thi, thực nghiệm điều tra, thay đổi hoặc yêu cầu
thay đổi người giám định. Yêu cầu định giá, định giá lại tài sản, yêu cầu thay
đổi người định giá tài sản.
đ) Trực tiếp kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm và tiến
hành các biện pháp điều tra;
e) Kết luận điều tra vụ án;
g) Quyết định tạm đình chỉ điều tra, đình chỉ điều tra, phục
hồi điều tra vụ án, bị can;
h) Ra các lệnh, quyết định và tiến hành các hoạt động tố tụng
khác thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra.
3. Khi được phân công tiến hành việc khởi tố, điều tra vụ
án hình sự, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra có những nhiệm vụ, quyền hạn quy định
tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, trừ quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.
Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra không được giải quyết khiếu nại, tố
cáo về hành vi, quyết định của mình.
4.[19] Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng
Cơ quan điều tra phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của
mình. Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra không được ủy quyền cho Điều
tra viên thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, trừ trường hợp quy định tại
khoản 1a Điều 37 của Bộ luật này.
Điều 37. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra
viên
1. Điều tra viên được phân công tiến hành hoạt động khởi tố,
điều tra vụ án hình sự có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Trực tiếp kiểm tra, xác minh và lập hồ sơ giải quyết nguồn
tin về tội phạm;
b) Lập hồ sơ vụ án hình sự;
c) Yêu cầu hoặc đề nghị cử, thay đổi người bào chữa; yêu cầu
cử, thay đổi người phiên dịch, người dịch thuật;
d) Triệu tập và hỏi cung bị can; triệu tập và lấy lời khai
người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, kiến nghị khởi tố, người
đại diện theo pháp luật của pháp nhân; lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp
khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ; triệu tập và lấy lời khai của người
làm chứng, bị hại, đương sự;
đ) Quyết định áp giải người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp,
người bị bắt, bị tạm giữ, bị can; quyết định dẫn giải người làm chứng, người
bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại;[20]
e) Thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh
hoặc quyết định bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài
sản, phong tỏa tài khoản, xử lý vật chứng;
g) Tiến hành khám nghiệm hiện trường, khai quật tử thi,
khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể, đối chất, nhận dạng, thực
nghiệm điều tra;
h) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tố tụng khác thuộc
thẩm quyền của Cơ quan điều tra theo sự phân công của Thủ trưởng Cơ quan điều
tra theo quy định của Bộ luật này.
1a.[21] Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là
Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã được Thủ trưởng Cơ quan điều
tra cấp tỉnh phân công tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án về tội ít
nghiêm trọng, tội nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn cấp xã có nhiệm vụ, quyền hạn
quy định tại khoản 1 Điều này, các điểm a, c khoản 1 và khoản 2 Điều 36 của Bộ
luật này, trừ quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp điều tra tố tụng đặc
biệt.
Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao quy định chi tiết khoản này.
2. Điều tra viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và
trước Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra về hành vi, quyết định của
mình.
Điều 38. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Cán bộ điều
tra của Cơ quan điều tra
1. Cán bộ điều tra thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau
đây theo sự phân công của Điều tra viên:
a) Ghi biên bản lấy lời khai, ghi biên bản hỏi cung và ghi
các biên bản khác khi Điều tra viên tiến hành kiểm tra, xác minh nguồn tin về
tội phạm và điều tra vụ án hình sự;
b) Giao, chuyển, gửi các lệnh, quyết định và các văn bản tố
tụng khác theo quy định của Bộ luật này;
c) Giúp Điều tra viên trong việc lập hồ sơ giải quyết
nguồn tin về tội phạm, hồ sơ vụ án và thực hiện hoạt động tố tụng khác.
2. Cán bộ điều tra phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và
trước Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên về hành vi của
mình.
Điều 39. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cấp trưởng,
cấp phó, cán bộ điều tra của các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm
lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra
1. Cấp trưởng các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 2 Điều 35 của
Bộ luật này có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Trực tiếp chỉ đạo hoạt động thụ lý, giải quyết nguồn tin
về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự theo thẩm quyền;
b) Quyết định phân công hoặc thay đổi cấp phó, cán bộ điều
tra trong việc thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ
án hình sự;
c) Kiểm tra hoạt động thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội
phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự của cấp phó và cán bộ điều tra;
d) Quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ quyết định không có căn
cứ và trái pháp luật của cấp phó, cán bộ điều tra;
đ)[22] (được bãi bỏ)
Khi vắng mặt, cấp trưởng ủy quyền cho một cấp phó được thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cấp trưởng. Cấp phó chịu trách nhiệm trước cấp trưởng
về nhiệm vụ được ủy quyền. Cấp trưởng, cấp phó không được ủy quyền cho cán bộ
điều tra thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
2. Khi tiến hành tố tụng hình sự đối với tội phạm ít nghiêm
trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lý lịch người phạm tội rõ
ràng, những người quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 2 Điều 35 của Bộ
luật này có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật từ những người có
liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm;
b) Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm, kiến nghị khởi tố; quyết định khởi tố, không khởi tố, thay đổi hoặc
bổ sung quyết định khởi tố vụ án; quyết định khởi tố, thay đổi hoặc bổ sung quyết
định khởi tố bị can;
c) Trực tiếp tổ chức và chỉ đạo việc khám nghiệm hiện trường;
d) Quyết định trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản;
quyết định khám xét, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan
trực tiếp đến vụ án;
đ) Triệu tập và hỏi cung bị can; triệu tập và lấy lời khai
bị hại, đương sự; triệu tập và lấy lời khai người tố giác, báo tin về tội phạm,
người bị tố giác, kiến nghị khởi tố; triệu tập và lấy lời khai người làm chứng;
lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp;
e) Quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng
chế theo quy định của Bộ luật này;
g) Kết luận điều tra, đề nghị truy tố hoặc kết luận điều
tra và quyết định đình chỉ điều tra; quyết định tạm đình chỉ điều tra; quyết định
phục hồi điều tra.
3. Khi tiến hành tố tụng hình sự đối với tội phạm nghiêm trọng,
rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức
tạp, những người được quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 2 Điều 35 của
Bộ luật này có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật từ những người có
liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm;
b) Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm, kiến nghị khởi tố; quyết định khởi tố, không khởi tố, thay đổi hoặc
bổ sung quyết định khởi tố vụ án;
c) Quyết định khám xét, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng,
tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án;
d) Triệu tập và lấy lời khai người làm chứng, bị hại,
đương sự.
4. Cán bộ điều tra có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm; lấy lời khai
của những người có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm;
b) Lập hồ sơ vụ án hình sự;
c) Hỏi cung bị can; lấy lời khai người tố giác, báo tin về
tội phạm, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong
trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, người làm chứng, bị hại,
đương sự;
d) Tiến hành khám nghiệm hiện trường; thi hành lệnh khám
xét, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ
án.
5. Trong phạm vi trách nhiệm của mình, cấp trưởng, cấp phó,
cán bộ điều tra của các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm,
lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định
của mình. Cấp trưởng, cấp phó không được ủy quyền cho cán bộ điều tra thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Điều 40. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cấp trưởng,
cấp phó, cán bộ điều tra của các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội
nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
1. Cấp trưởng các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra quy định tại điểm e và điểm g khoản 2 Điều 35 của Bộ luật
này có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Trực tiếp chỉ đạo hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình
sự theo thẩm quyền;
b) Quyết định phân công hoặc thay đổi cấp phó, cán bộ điều
tra trong việc khởi tố, điều tra vụ án hình sự;
c) Kiểm tra hoạt động thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội
phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự của cấp phó và cán bộ điều tra;
d) Quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ quyết định không có căn
cứ và trái pháp luật của cấp phó, cán bộ điều tra.
Khi cấp trưởng vắng mặt, một cấp phó được ủy quyền thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn của cấp trưởng và chịu trách nhiệm trước cấp trưởng về nhiệm
vụ được ủy quyền.
2. Khi tiến hành tố tụng hình sự, những người được quy định
tại điểm e và điểm g khoản 2 Điều 35 của Bộ luật này có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật từ những người có
liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm;
b) Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội
phạm; quyết định khởi tố, không khởi tố, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi
tố vụ án;
c) Trực tiếp tổ chức và chỉ đạo việc khám nghiệm hiện trường;
d) Quyết định khám xét, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng,
tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án;
đ) Triệu tập và lấy lời khai người tố giác, báo tin về tội
phạm, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người làm chứng, bị hại,
đương sự.
3. Cán bộ điều tra có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm; lấy lời khai
của những người có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm;
b) Lập hồ sơ vụ án hình sự;
c) Lấy lời khai người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị
tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người làm chứng, bị hại, đương sự;
d) Tiến hành khám nghiệm hiện trường; thi hành lệnh khám
xét, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ
án;
đ) Giao, gửi các lệnh, quyết định và các văn bản tố tụng
khác theo quy định của Bộ luật này.
4. Trong phạm vi trách nhiệm của mình, cấp trưởng, cấp phó,
cán bộ điều tra của các cơ quan của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải chịu trách nhiệm trước
pháp luật về hành vi, quyết định của mình. Cấp trưởng, cấp phó không được ủy
quyền cho cán bộ điều tra thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Điều 41. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện trưởng,
Phó Viện trưởng Viện kiểm sát
1. Viện trưởng Viện kiểm sát có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Trực tiếp tổ chức và chỉ đạo hoạt động thực hành quyền
công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự;
b) Quyết định phân công hoặc thay đổi Phó Viện trưởng Viện
kiểm sát; kiểm tra hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong tố tụng hình sự của Phó Viện trưởng Viện kiểm sát; quyết định
thay đổi hoặc hủy bỏ quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Phó Viện
trưởng Viện kiểm sát;
c) Quyết định phân công hoặc thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm
tra viên; kiểm tra hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong tố tụng hình sự của Kiểm sát viên, Kiểm tra viên; quyết định
thay đổi hoặc hủy bỏ quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Kiểm sát
viên;
d) Quyết định rút, đình chỉ hoặc hủy bỏ quyết định không có
căn cứ và trái pháp luật của Viện kiểm sát cấp dưới;
đ) Giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Viện
kiểm sát.
Khi vắng mặt, Viện trưởng Viện kiểm sát ủy quyền cho một
Phó Viện trưởng Viện kiểm sát thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng và
chịu trách nhiệm trước Viện trưởng Viện kiểm sát về nhiệm vụ được ủy quyền.
2. Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự, Viện trưởng Viện kiểm sát có những
nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi
tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; quyết
định khởi tố, không khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố
bị can theo quy định của Bộ luật này;
b) Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội
phạm; quyết định khởi tố, không khởi tố, bổ sung hoặc thay đổi quyết định khởi
tố vụ án; quyết định khởi tố, bổ sung hoặc thay đổi quyết định khởi tố bị can;
quyết định nhập, tách vụ án;
c) Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn,
biện pháp cưỡng chế, biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; quyết định việc gia hạn
kiểm tra và xác minh nguồn tin về tội phạm, gia hạn tạm giữ, gia hạn điều tra,
gia hạn tạm giam, gia hạn truy tố;
d) Quyết định khám xét, thu giữ, tạm giữ, xử lý vật chứng;
đ) Quyết định trưng cầu giám định, giám định bổ sung hoặc
giám định lại, thực nghiệm điều tra; thay đổi hoặc yêu cầu thay đổi người giám
định. Yêu cầu định giá, định giá lại tài sản, yêu cầu thay đổi người định giá
tài sản;
e) Yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra, cấp trưởng cơ quan
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thay đổi Điều tra viên,
Cán bộ điều tra;
g) Phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định, lệnh của Cơ
quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;
h) Quyết định hủy bỏ các quyết định, lệnh không có căn cứ
và trái pháp luật của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra;
i) Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết nguồn tin
về tội phạm, khởi tố, điều tra; quyết định chuyển vụ án;
k) Quyết định áp dụng, đình chỉ biện pháp bắt buộc chữa bệnh;
l) Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn hoặc hủy bỏ quyết định
áp dụng thủ tục rút gọn;
m) Quyết định truy tố bị can, trả hồ sơ để điều tra bổ sung
hoặc điều tra lại;
n) Yêu cầu phục hồi điều tra; quyết định tạm đình chỉ hoặc
đình chỉ vụ án, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với bị can; quyết định hủy
bỏ quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm; quyết định
phục hồi điều tra vụ án, phục hồi điều tra đối với bị can, phục hồi vụ án, phục
hồi vụ án đối với bị can;
o) Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm
bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của Bộ luật này;
p) Thực hiện quyền kiến nghị theo quy định của pháp luật;
q) Ban hành quyết định, lệnh và tiến hành các hoạt động tố
tụng khác thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát.
3. Khi được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát
có những nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, trừ quy
định tại điểm b khoản 1 Điều này. Phó Viện trưởng Viện kiểm sát không
được giải quyết khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của mình.
4.[23] Viện trưởng, Phó Viện trưởng
Viện kiểm sát phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của
mình. Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát không được ủy quyền cho Kiểm
sát viên thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, trừ trường hợp quy định tại
khoản 5 Điều này.
5.[24] Trường hợp Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm
Viện kiểm sát nhân dân tối cao giải quyết vụ án thì Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao có thể ủy quyền cho Kiểm sát viên giữ chức vụ Viện trưởng, Phó
Viện trưởng Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn sau đây:
a) Nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại điểm a khoản 1
và điểm p khoản 2 Điều này; kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản án, quyết định
của Tòa án theo quy định của Bộ luật
này;
b) Quyết định phân công hoặc thay đổi Phó Viện trưởng
Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên; kiểm
tra hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của
Phó Viện trưởng Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm, Kiểm sát viên, Kiểm
tra viên;
c) Quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ quyết định không có căn
cứ và trái pháp luật của Phó Viện trưởng Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc
thẩm, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên.
Điều 42. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát
viên
1. Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự có những nhiệm vụ, quyền
hạn:
a) Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm
của cơ quan, người có thẩm quyền;
b) Trực tiếp giải quyết và lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về
tội phạm;
c) Kiểm sát việc thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm,
khởi tố, áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; kiểm sát việc lập hồ
sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm, việc lập hồ sơ vụ án của cơ quan, người
có thẩm quyền điều tra; kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra của Cơ quan điều
tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;
d) Trực tiếp kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám
nghiệm tử thi, đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, thực nghiệm điều tra,
khám xét;
đ) Kiểm sát việc tạm đình chỉ, phục hồi việc giải quyết
nguồn tin về tội phạm; việc tạm đình chỉ điều tra, đình chỉ điều tra, phục
hồi điều tra, kết thúc điều tra;
e) Đề ra yêu cầu điều tra; yêu cầu Cơ quan điều tra truy
nã, đình nã bị can;
g) Triệu tập và hỏi cung bị can; triệu tập và lấy lời khai
người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi
tố, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, người làm chứng, bị hại, đương
sự; lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp;
h) Quyết định áp giải người bị bắt, bị can; quyết định dẫn
giải người làm chứng, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị
hại;[25]
i) Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định
của Bộ luật này;
k) Yêu cầu thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
yêu cầu hoặc đề nghị cử, thay đổi người bào chữa; yêu cầu cử, đề nghị thay đổi
người phiên dịch, người dịch thuật;
l) Tiến hành tố tụng tại phiên tòa; công bố cáo trạng hoặc
quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, các quyết định khác của Viện kiểm sát
về việc buộc tội đối với bị cáo; xét hỏi, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ
vật, luận tội, tranh luận, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án tại
phiên tòa, phiên họp;
m) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn xét xử
của Tòa án và những người tham gia tố tụng; kiểm sát bản án, quyết định và các
văn bản tố tụng khác của Tòa án;
n) Kiểm sát việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án;
o) Thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị theo quy định của
pháp luật;
p) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tố tụng khác thuộc
thẩm quyền của Viện kiểm sát theo sự phân công của Viện trưởng Viện kiểm sát
theo quy định của Bộ luật này.
1a.[26] Kiểm sát viên giữ chức vụ
Viện trưởng Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối
cao có quyền giải quyết khiếu nại theo quy định của Bộ luật này.
2. Kiểm sát viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và
trước Viện trưởng Viện kiểm sát, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát về hành vi, quyết
định của mình.
Điều 43. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm tra
viên
1. Kiểm tra viên thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau
đây theo sự phân công của Kiểm sát viên:
a) Ghi biên bản lấy lời khai, ghi biên bản hỏi cung và ghi
các biên bản khác trong tố tụng hình sự;
b) Giao, chuyển, gửi các lệnh, quyết định và các văn bản tố
tụng khác theo quy định của Bộ luật này;
c) Giúp Kiểm sát viên trong việc lập hồ sơ kiểm sát, hồ sơ
giải quyết nguồn tin về tội phạm và tiến hành hoạt động tố tụng khác.
2. Kiểm tra viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và
trước Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát và Kiểm sát viên về hành vi của
mình.
Điều 44. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Chánh án,
Phó Chánh án Tòa án
1. Chánh án Tòa án có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Trực tiếp tổ chức việc xét xử vụ án hình sự; quyết định
giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử;
b) Quyết định phân công Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội
thẩm giải quyết, xét xử vụ án hình sự; quyết định phân công Thư ký Tòa án tiến
hành tố tụng đối với vụ án hình sự; quyết định phân công Thẩm tra viên thẩm tra
hồ sơ vụ án hình sự;
c) Quyết định thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án
trước khi mở phiên tòa;
d) Ra quyết định thi hành án hình sự;
đ) Quyết định hoãn chấp hành án phạt tù;
e) Quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù;
g) Quyết định xoá án tích;
h) Giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Tòa án.
Khi vắng mặt, Chánh án Tòa án ủy quyền cho một Phó Chánh
án Tòa án thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án. Phó Chánh án Tòa án phải
chịu trách nhiệm trước Chánh án Tòa án về nhiệm vụ được ủy quyền.
2. Khi tiến hành việc giải quyết vụ án hình sự, Chánh án
Tòa án có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm
giam, xử lý vật chứng;
b) Quyết định áp dụng, đình chỉ biện pháp bắt buộc chữa bệnh;
c) Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn hoặc hủy bỏ quyết định
áp dụng thủ tục rút gọn;
d) Kiến nghị, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án;
đ) Quyết định và tiến hành hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm
quyền của Tòa án;
e) Tiến hành hoạt động tố tụng khác theo quy định của
Bộ luật này.
3. Khi được phân công giải quyết, xét xử vụ án hình sự, Phó
Chánh án Tòa án có những nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều
này, trừ quy định tại điểm b khoản 1 Điều này. Phó Chánh án Tòa án
không được giải quyết khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của
mình.
4.[27] Chánh án, Phó Chánh án Tòa án phải chịu trách nhiệm
trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình. Chánh án, Phó Chánh án Tòa án
không được ủy quyền cho Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, trừ
trường hợp quy định tại khoản 5 Điều này.
5.[28] Trường hợp Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao
giải quyết vụ án thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có thể ủy quyền cho Thẩm
phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn sau đây:
a) Trực tiếp tổ chức việc xét xử vụ án hình sự thuộc
thẩm quyền;
b) Nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại điểm b khoản 2
Điều này;
c) Quyết định phân công Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm, Thẩm
phán xét xử vụ án hình sự; quyết định phân công Thư ký Tòa án tiến hành tố tụng
đối với vụ án hình sự; quyết định thay đổi Thẩm phán, Thư ký Tòa án trước khi mở
phiên tòa.
Điều 45. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán
1. Thẩm phán được phân công giải quyết, xét xử vụ án hình sự
có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa;
b) Tiến hành xét xử vụ án;
c) Tiến hành hoạt động tố tụng và biểu quyết những vấn đề
thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử;
d) Tiến hành hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của
Tòa án theo sự phân công của Chánh án Tòa án.
2. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có những nhiệm vụ, quyền hạn
quy định tại khoản 1 Điều này và những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn,
biện pháp cưỡng chế, trừ biện pháp tạm giam;
b) Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung;
c) Quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định đình chỉ hoặc
tạm đình chỉ vụ án;
d) Điều hành việc xét xử vụ án, tranh tụng tại phiên tòa;
đ) Quyết định trưng cầu giám định, giám định bổ sung hoặc
giám định lại, thực nghiệm điều tra; thay đổi hoặc yêu cầu thay đổi người giám
định; yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu thay đổi người định giá tài sản;
e) Yêu cầu hoặc đề nghị cử, thay đổi người bào chữa;[29] yêu cầu cử, thay đổi người
phiên dịch, người dịch thuật;
g) Quyết định triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên
tòa;
h) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tố tụng khác thuộc
thẩm quyền của Tòa án theo sự phân công của Chánh án Tòa án theo quy định của
Bộ luật này.
2a.[30] Thẩm phán giữ chức vụ
Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao có quyền áp dụng,
thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam, xử lý vật chứng; Thẩm phán giữ chức vụ
Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao có quyền giải quyết khiếu nại
theo quy định của Bộ luật này.
3. Thẩm phán phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành
vi, quyết định của mình.
Điều 46. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Hội thẩm
1. Hội thẩm được phân công xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có
những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa;
b) Tiến hành xét xử vụ án;
c) Tiến hành hoạt động tố tụng và biểu quyết những vấn đề
thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử.
2. Hội thẩm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành
vi, quyết định của mình.
Điều 47. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thư ký Tòa
án
1. Thư ký Tòa án được phân công tiến hành tố tụng đối với vụ
án hình sự có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Kiểm tra sự có mặt của những người được Tòa án triệu tập;
nếu có người vắng mặt thì phải nêu lý do;
b) Phổ biến nội quy phiên tòa;
c) Báo cáo Hội đồng xét xử danh sách những người được triệu
tập đến phiên tòa và những người vắng mặt;
d) Ghi biên bản phiên tòa;
đ) Tiến hành hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của
Tòa án theo sự phân công của Chánh án Tòa án.
2. Thư ký Tòa án phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và
trước Chánh án Tòa án về hành vi của mình.
Điều 48. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm tra
viên
1. Thẩm tra viên được phân công tiến hành tố tụng đối với vụ
án hình sự có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Thẩm tra hồ sơ vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án đã
có hiệu lực pháp luật theo sự phân công của Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án;
b) Kết luận việc thẩm tra và báo cáo kết quả thẩm tra với
Chánh án Tòa án hoặc Phó Chánh án Tòa án;
c) Thẩm tra viên giúp Chánh án Tòa án thực hiện nhiệm vụ về
công tác thi hành án thuộc thẩm quyền của Tòa án và nhiệm vụ khác theo sự phân
công của Chánh án Tòa án hoặc Phó Chánh án Tòa án.
2. Thẩm tra viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và
trước Chánh án, Phó Chánh án Tòa án về hành vi của mình.
Điều 49. Các trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi người có
thẩm quyền tiến hành tố tụng
Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải từ chối tiến
hành tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp:
1. Đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người
thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo;
2. Đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng,
người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật
trong vụ án đó;
3. Có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư
trong khi làm nhiệm vụ.
Điều 50. Người có quyền đề nghị thay đổi người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng
1. Kiểm sát viên.
2. Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân
sự, bị đơn dân sự và người đại diện của họ.
3. Người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự.
Điều 51. Thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra
1. Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải từ chối tiến hành tố
tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Trường hợp quy định tại Điều 49 của Bộ luật này;
b) Đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Kiểm
sát viên, Kiểm tra viên, Thẩm phán, Hội thẩm, Thẩm tra viên hoặc Thư ký Tòa án.
2. Việc thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra do Thủ trưởng
hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra quyết định.
Điều tra viên bị thay đổi là Thủ trưởng Cơ quan điều tra
thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này thì việc điều tra
vụ án do Cơ quan điều tra cấp trên trực tiếp tiến hành.
Điều 52. Thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm tra viên
1. Kiểm sát viên, Kiểm tra viên phải từ chối tiến hành tố tụng
hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Trường hợp quy định tại Điều 49 của Bộ luật này;
b) Đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Điều
tra viên, Cán bộ điều tra, Thẩm phán, Hội thẩm, Thẩm tra viên hoặc Thư ký Tòa
án.
2. Việc thay đổi Kiểm sát viên trước khi mở phiên tòa do Viện
trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp được phân công giải quyết vụ
án quyết định.
Kiểm sát viên bị thay đổi là Viện trưởng Viện kiểm sát thì
do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp quyết định.
Trường hợp phải thay đổi Kiểm sát viên tại phiên tòa thì Hội
đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa.
Điều 53. Thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm
1. Thẩm phán, Hội thẩm phải từ chối tham gia xét xử hoặc bị
thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Trường hợp quy định tại Điều 49 của Bộ luật này;
b) Họ cùng trong một Hội đồng xét xử và là người thân thích
với nhau;
c) Đã tham gia xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm hoặc tiến hành
tố tụng vụ án đó với tư cách là Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên,
Kiểm tra viên, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án.
2. Việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm trước khi mở phiên tòa
do Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án được phân công giải quyết vụ án quyết định.
Thẩm phán bị thay đổi là Chánh án Tòa án thì do Chánh án
Tòa án trên một cấp quyết định.
Việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm tại phiên tòa do Hội đồng
xét xử quyết định trước khi bắt đầu xét hỏi bằng cách biểu quyết tại phòng nghị
án. Khi xem xét thay đổi thành viên nào thì thành viên đó được trình bày ý kiến
của mình, Hội đồng quyết định theo đa số.
Trường hợp phải thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm tại phiên tòa
thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa.
Điều 54. Thay đổi Thư ký Tòa án
1. Thư ký Tòa án phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị
thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Trường hợp quy định tại Điều 49 của Bộ luật này;
b) Đã tiến hành tố tụng vụ án đó với tư cách là Kiểm sát
viên, Kiểm tra viên, Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Thẩm phán, Hội thẩm, Thẩm
tra viên, Thư ký Tòa án.
2. Việc thay đổi Thư ký Tòa án trước khi mở phiên tòa do
Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án được phân công giải quyết vụ án quyết định.
Việc thay đổi Thư ký Tòa án tại phiên tòa do Hội đồng xét xử
quyết định.
Trường hợp phải thay đổi Thư ký Tòa án tại phiên tòa thì Hội
đồng xét xử ra quyết định tạm ngừng phiên tòa.
Chương IV
NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG
Điều 55. Người tham gia tố tụng
1. Người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
2. Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố.
3. Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp.
4. Người bị bắt.
5. Người bị tạm giữ.
6. Bị can.
7. Bị cáo.
8. Bị hại.
9. Nguyên đơn dân sự.
10. Bị đơn dân sự.
11. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
12. Người làm chứng.
13. Người chứng kiến.
14. Người giám định.
15. Người định giá tài sản.
16. Người phiên dịch, người dịch thuật.
17. Người bào chữa.
18. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại,
đương sự.
19. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố
giác, bị kiến nghị khởi tố.
20. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân phạm tội,
người đại diện khác theo quy định của Bộ luật này.
Điều 56. Người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi
tố
1. Cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm; cơ quan, tổ
chức đã báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố có quyền:
a) Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giữ bí mật việc tố giác,
báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự,
nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của họ, người thân
thích của họ khi bị đe dọa;
b) Được thông báo kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm, kiến nghị khởi tố;
c) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác,
tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 1 Điều này
phải có mặt theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội
phạm, trình bày trung thực về những tình tiết mà mình biết về sự việc.
Điều 57. Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố
1. Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền:
a) Được thông báo về hành vi bị tố giác, bị kiến nghị khởi
tố;
b) Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định
tại Điều này;
c) Trình bày lời khai, trình bày ý kiến;
d) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
đ) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan
và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
e) Tự bảo vệ hoặc nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp cho mình;
g) Được thông báo kết quả giải quyết tố giác, kiến nghị khởi
tố;
h) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
2. Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố phải có mặt
theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, kiến nghị khởi tố.
Điều 58. Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt
1. Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt
trong trường hợp phạm tội quả tang và người bị bắt theo quyết định truy nã có
quyền:
a) Được nghe, nhận lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp,
lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, quyết định phê chuẩn lệnh bắt
người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, quyết định truy nã;
b) Được biết lý do mình bị giữ, bị bắt;
c) Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ
quy định tại Điều này;
d) Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải
đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội;
đ) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
e) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan
và yêu cầu người có thẩm quyền tố tụng kiểm tra, đánh giá;
g) Tự bào chữa, nhờ người bào chữa;
h) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc giữ người, bắt người.
2. Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt có
nghĩa vụ chấp hành lệnh giữ người, lệnh bắt người và yêu cầu của cơ quan, người
có thẩm quyền giữ người, bắt người theo quy định của Bộ luật này.
Điều 59. Người bị tạm giữ
1. Người bị tạm giữ là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp,
bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc
người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ.
2. Người bị tạm giữ có quyền:
a) Được biết lý do mình bị tạm giữ; nhận quyết định tạm giữ,
quyết định gia hạn tạm giữ, quyết định phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ và
các quyết định tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này;
b) Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định
tại Điều này;
c) Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải
đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội;
d) Tự bào chữa, nhờ người bào chữa;
đ) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
e) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan
và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
g) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng về việc tạm giữ.
3. Người bị tạm giữ có nghĩa vụ chấp hành các quy định của
Bộ luật này và Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam.
Điều 60. Bị can
1. Bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự.
Quyền và nghĩa vụ của bị can là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện
theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật này.
2. Bị can có quyền:
a) Được biết lý do mình bị khởi tố;
b) Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định
tại Điều này;
c) Nhận quyết định khởi tố bị can; quyết định thay đổi, bổ
sung quyết định khởi tố bị can, quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can,
quyết định phê chuẩn quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can;
quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế;
bản kết luận điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra; quyết định
đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; bản cáo trạng, quyết định truy tố và các quyết định
tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này;
d) Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải
đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội;
đ) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
e) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan
và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
g) Đề nghị giám định, định giá tài sản; đề nghị thay đổi
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản,
người phiên dịch, người dịch thuật;
h) Tự bào chữa, nhờ người bào chữa;
i) Đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa
liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc
bào chữa kể từ khi kết thúc điều tra khi có yêu cầu;
k) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
3. Bị can có nghĩa vụ:
a) Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng. Trường hợp vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở
ngại khách quan thì có thể bị áp giải, nếu bỏ trốn thì bị truy nã;
b) Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng.
4. Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ
Quốc phòng quy định chi tiết trình tự, thủ tục, thời hạn, địa điểm bị can đọc,
ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội,
gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa khi bị can có yêu
cầu quy định tại điểm i khoản 2 Điều này.
Điều 61. Bị cáo
1. Bị cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định
đưa ra xét xử. Quyền và nghĩa vụ của bị cáo là pháp nhân được thực hiện thông
qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật này.
2. Bị cáo có quyền:
a) Nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định áp dụng,
thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; quyết định đình chỉ
vụ án; bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định tố tụng khác theo quy định
của Bộ luật này;
b) Tham gia phiên tòa;
c) Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định
tại Điều này;
d) Đề nghị giám định, định giá tài sản; đề nghị thay đổi
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản,
người phiên dịch, người dịch thuật; đề nghị triệu tập người làm chứng, bị hại,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người giám định, người định
giá tài sản, người tham gia tố tụng khác và người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng tham gia phiên tòa;
đ) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
e) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan
và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
g) Tự bào chữa, nhờ người bào chữa;
h) Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải
đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội;
i) Đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi hoặc tự mình hỏi người
tham gia phiên tòa nếu được chủ tọa đồng ý; tranh luận tại phiên tòa;
k) Nói lời sau cùng trước khi nghị án;
l) Xem biên bản phiên tòa, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ
sung vào biên bản phiên tòa;
m) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án;
n) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
o) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
3. Bị cáo có nghĩa vụ:
a) Có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Trường hợp vắng mặt
không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể bị áp
giải; nếu bỏ trốn thì bị truy nã;
b) Chấp hành quyết định, yêu cầu của Tòa án.
Điều 62. Bị hại
1. Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất,
tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do
tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra.
2. Bị hại hoặc người đại diện của họ có quyền:
a) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại
Điều này;
b) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
c) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan
và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
d) Đề nghị giám định, định giá tài sản theo quy định của
pháp luật;
đ) Được thông báo kết quả điều tra, giải quyết vụ án;
e) Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng,
người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;
g) Đề nghị hình phạt, mức bồi thường thiệt hại, biện pháp
bảo đảm bồi thường;
h) Tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa
phiên tòa hỏi bị cáo và người khác tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên
tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa;
i) Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
cho mình;
k) Tham gia các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật
này;
l) Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo vệ
tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp
khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa;
m) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án;
n) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
o) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
3. Trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại
thì bị hại hoặc người đại diện của họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa.
4. Bị hại có nghĩa vụ:
a) Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng; trường hợp cố ý vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không
do trở ngại khách quan thì có thể bị dẫn giải;
b) Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng.
5. Trường hợp bị hại chết, mất tích, bị mất hoặc bị hạn
chế năng lực hành vi dân sự thì người đại diện thực hiện quyền và nghĩa vụ của
người bị hại quy định tại Điều này.
Cơ quan, tổ chức là bị hại có sự chia, tách, sáp nhập, hợp
nhất thì người đại diện theo pháp luật hoặc tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và
nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đó có những quyền và nghĩa vụ theo quy định tại
Điều này.
Điều 63. Nguyên đơn dân sự
1. Nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt
hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại.
2. Nguyên đơn dân sự hoặc người đại diện của họ có quyền:
a) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại
Điều này;
b) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
c) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan
và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
d) Được thông báo kết quả điều tra, giải quyết vụ án;
đ) Yêu cầu giám định, định giá tài sản theo quy định của
pháp luật;
e) Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng,
người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;
g) Đề nghị mức bồi thường thiệt hại, biện pháp bảo đảm bồi
thường;
h) Tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa
phiên tòa hỏi người tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn; xem biên bản phiên tòa;
i) Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp cho mình;
k) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
l) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về phần bồi thường
thiệt hại;
m) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
3. Nguyên đơn dân sự có nghĩa vụ:
a) Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng;
b) Trình bày trung thực những tình tiết liên quan đến việc
bồi thường thiệt hại;
c) Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng.
Điều 64. Bị đơn dân sự
1. Bị đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức mà pháp luật
quy định phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
2. Bị đơn dân sự hoặc người đại diện của họ có quyền:
a) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại
Điều này;
b) Chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của
nguyên đơn dân sự;
c) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
d) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan
và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
đ) Yêu cầu giám định, định giá tài sản theo quy định của
pháp luật;
e) Được thông báo kết quả điều tra, giải quyết vụ án có
liên quan đến việc đòi bồi thường thiệt hại;
g) Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng,
người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;
h) Tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa
phiên tòa hỏi người tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của bị đơn; xem biên bản phiên tòa;
i) Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
cho mình;
k) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
l) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về phần bồi thường
thiệt hại;
m) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
3. Bị đơn dân sự có nghĩa vụ:
a) Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng;
b) Trình bày trung thực những tình tiết liên quan đến việc
bồi thường thiệt hại;
c) Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng.
Điều 65. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là cá
nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc
người đại diện của họ có quyền:
a) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại
Điều này;
b) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
c) Yêu cầu giám định, định giá tài sản theo quy định của
pháp luật;
d) Tham gia phiên tòa; phát biểu ý kiến, đề nghị chủ tọa
phiên tòa hỏi những người tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa;
đ) Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
cho mình;
e) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan
và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
g) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về những vấn đề
trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình;
h) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
i) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có
nghĩa vụ:
a) Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng;
b) Trình bày trung thực những tình tiết liên quan đến quyền
và nghĩa vụ của mình;
c) Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng.
Điều 66. Người làm chứng
1. Người làm chứng là người biết được những tình tiết liên
quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng triệu tập đến làm chứng.
2. Những người sau đây không được làm chứng:
a) Người bào chữa của người bị buộc tội;
b) Người do nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không
có khả năng nhận thức được những tình tiết liên quan nguồn tin về tội phạm, về
vụ án hoặc không có khả năng khai báo đúng đắn.
3. Người làm chứng có quyền:
a) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại
Điều này;
b) Yêu cầu cơ quan triệu tập bảo vệ tính mạng, sức khoẻ,
danh dự, nhân phẩm, tài sản và quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người
thân thích của mình khi bị đe dọa;
c) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc mình tham gia làm chứng;
d) Được cơ quan triệu tập thanh toán chi phí đi lại và những
chi phí khác theo quy định của pháp luật.
4. Người làm chứng có nghĩa vụ:
a) Có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng. Trường hợp cố ý vắng mặt mà không vì lý do bất khả kháng hoặc
không do trở ngại khách quan và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc giải
quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử thì có thể bị dẫn
giải;
b) Trình bày trung thực những tình tiết mà mình biết liên
quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và lý do biết được những tình tiết
đó.
5. Người làm chứng khai báo gian dối hoặc từ chối khai báo,
trốn tránh việc khai báo mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại
khách quan thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.
6. Cơ quan, tổ chức nơi người làm chứng làm việc hoặc học tập
có trách nhiệm tạo điều kiện để họ tham gia tố tụng.
Điều 67. Người chứng kiến
1. Người chứng kiến là người được cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng yêu cầu chứng kiến việc tiến hành hoạt động tố tụng theo quy định
của Bộ luật này.
2. Những người sau đây không được làm người chứng kiến:
a) Người thân thích của người bị buộc tội, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng;
b) Người do nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không
có khả năng nhận thức đúng sự việc;
c) Người dưới 18 tuổi;
d) Có lý do khác cho thấy người đó không khách quan.
3. Người chứng kiến có quyền:
a) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại
Điều này;
b) Yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tuân thủ
quy định của pháp luật, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản
và quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị
đe dọa;
c) Xem biên bản tố tụng, đưa ra nhận xét về hoạt động tố tụng
mà mình chứng kiến;
d) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc mình tham gia chứng kiến;
đ) Được cơ quan triệu tập thanh toán chi phí theo quy định
của pháp luật.
4. Người chứng kiến có nghĩa vụ:
a) Có mặt theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành
tố tụng;
b) Chứng kiến đầy đủ hoạt động tố tụng được yêu cầu;
c) Ký biên bản về hoạt động mà mình chứng kiến;
d) Giữ bí mật về hoạt động điều tra mà mình chứng kiến;
đ) Trình bày trung thực những tình tiết mà mình chứng kiến
theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Điều 68. Người giám định
1. Người giám định là người có kiến thức chuyên môn về lĩnh
vực cần giám định, được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu, người
tham gia tố tụng yêu cầu giám định theo quy định của pháp luật.
2. Người giám định có quyền:
a) Tìm hiểu tài liệu của vụ án có liên quan đến đối tượng
phải giám định;
b) Yêu cầu cơ quan trưng cầu, người tham gia tố tụng yêu cầu
giám định cung cấp tài liệu cần thiết cho việc kết luận;
c) Tham dự vào việc hỏi cung, lấy lời khai và đặt câu hỏi về
những vấn đề có liên quan đến đối tượng giám định;
d) Từ chối thực hiện giám định trong trường hợp thời gian
không đủ để tiến hành giám định, các tài liệu cung cấp không đủ hoặc không có
giá trị để kết luận, nội dung yêu cầu giám định vượt quá phạm vi hiểu biết
chuyên môn của mình;
đ) Ghi riêng ý kiến của mình vào bản kết luận
chung nếu không thống nhất với kết luận chung trong trường hợp giám định do tập
thể giám định tiến hành;
e) Các quyền khác theo quy định của Luật Giám định tư
pháp.
3. Người giám định có nghĩa vụ:
a) Có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng;
b) Giữ bí mật điều tra mà mình biết được khi thực hiện giám
định;
c) Các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật Giám định tư
pháp.
4. Người giám định kết luận gian dối hoặc từ chối kết luận
giám định mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì
phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.
5. Người giám định phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị
thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người
thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo;
b) Đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng,
người phiên dịch, người dịch thuật, người định giá tài sản trong vụ án đó;
c) Đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó.
6. Việc thay đổi người giám định do cơ quan trưng cầu giám
định quyết định.
Điều 69. Người định giá tài sản
1. Người định giá tài sản là người có kiến thức chuyên môn
về lĩnh vực giá, được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố
tụng yêu cầu định giá tài sản theo quy định của pháp luật.
2. Người định giá tài sản có quyền:
a) Tìm hiểu tài liệu của vụ án liên quan đến đối tượng phải
định giá;
b) Yêu cầu cơ quan yêu cầu định giá, người tham gia tố tụng
yêu cầu định giá cung cấp tài liệu cần thiết cho việc định giá;
c) Từ chối thực hiện định giá trong trường hợp thời gian
không đủ để tiến hành định giá, các tài liệu cung cấp không đủ hoặc không có
giá trị để định giá, nội dung yêu cầu định giá vượt quá phạm vi hiểu biết
chuyên môn của mình;
d) Ghi ý kiến kết luận của mình vào bản kết luận chung nếu
không thống nhất với kết luận của Hội đồng định giá tài sản;
đ) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
3. Người định giá tài sản có nghĩa vụ:
a) Có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng;
b) Giữ bí mật điều tra mà mình biết được khi thực hiện định
giá tài sản;
c) Các nghĩa vụ khác theo quy định của luật.
4. Người định giá tài sản kết luận gian dối hoặc từ chối
tham gia định giá mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách
quan thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.
5. Người định giá tài sản phải từ chối tham gia tố tụng hoặc
bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người
thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo;
b) Đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng,
người giám định, người phiên dịch, người dịch thuật trong vụ án đó;
c) Đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó.
6. Việc thay đổi người định giá tài sản do cơ quan yêu cầu
định giá tài sản quyết định.
Điều 70. Người phiên dịch, người dịch thuật
1. Người phiên dịch, người dịch thuật là người có khả năng
phiên dịch, dịch thuật và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu
trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt hoặc
có tài liệu tố tụng không thể hiện bằng tiếng Việt.
2. Người phiên dịch, người dịch thuật có quyền:
a) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại
Điều này;
b) Đề nghị cơ quan yêu cầu bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh
dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người
thân thích của mình khi bị đe dọa;
c) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc phiên dịch, dịch thuật;
d) Được cơ quan yêu cầu chi trả thù lao phiên dịch, dịch
thuật và các chế độ khác theo quy định của pháp luật.
3. Người phiên dịch, người dịch thuật có nghĩa vụ:
a) Có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng;
b) Phiên dịch, dịch thuật trung thực. Nếu phiên dịch, dịch
thuật gian dối thì người phiên dịch, người dịch thuật phải chịu trách nhiệm
hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự;
c) Giữ bí mật điều tra mà mình biết được khi phiên dịch, dịch
thuật;
d) Phải cam đoan trước cơ quan đã yêu cầu về việc thực hiện
nghĩa vụ của mình.
4. Người phiên dịch, người dịch thuật phải từ chối tham gia
tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người
thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo;
b) Đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng,
người giám định, người định giá tài sản trong vụ án đó;
c) Đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó.
5. Việc thay đổi người phiên dịch, người dịch thuật do cơ
quan yêu cầu phiên dịch, dịch thuật quyết định.
6. Những quy định tại Điều này cũng áp dụng đối với người
biết được cử chỉ, hành vi của người câm, người điếc, chữ của người mù.
Điều 71. Trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm thực
hiện quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng
1. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách
nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của người
tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật này.
Trường hợp người bị buộc tội, người bị hại thuộc diện được
trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý thì cơ quan, người có
thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm giải thích cho họ quyền được trợ
giúp pháp lý; nếu họ đề nghị được trợ giúp pháp lý thì cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng thông báo cho Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.
2. Việc thông báo, giải thích phải ghi vào biên bản.
Chương V
BÀO CHỮA, BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA BỊ HẠI,
ĐƯƠNG SỰ
Điều 72. Người bào chữa
1. Người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào
chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa.
2. Người bào chữa có thể là:
a) Luật sư;
b) Người đại diện của người bị buộc tội;
c) Bào chữa viên nhân dân;
d) Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội
thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý.
3. Bào chữa viên nhân dân là công dân Việt Nam từ 18 tuổi
trở lên, trung thành với Tổ quốc, có phẩm chất đạo đức tốt, có kiến thức pháp
lý, đủ sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao, được Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam hoặc tổ chức thành viên của Mặt trận cử tham gia bào chữa cho người
bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình.
4. Những người sau đây không được bào chữa:
a) Người đã tiến hành tố tụng vụ án đó; người thân thích của
người đã hoặc đang tiến hành tố tụng vụ án đó;
b) Người tham gia vụ án đó với tư cách là người làm chứng,
người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;
c) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người bị kết
án mà chưa được xoá án tích, người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc.
5. Một người bào chữa có thể bào chữa cho nhiều người bị buộc
tội trong cùng vụ án nếu quyền và lợi ích của họ không đối lập nhau.
Nhiều người bào chữa có thể bào chữa cho một người bị buộc
tội.
Điều 73. Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa
1. Người bào chữa có quyền:
a) Gặp, hỏi người bị buộc tội;
b) Có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ,
khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung
đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Sau mỗi lần lấy lời
khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi
người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can;
c) Có mặt trong hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận
biết giọng nói và hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này;
d) Được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước về
thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt
động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này;
đ) Xem biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của
mình, quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa;
e) Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng,
người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; đề
nghị thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế;
g) Đề nghị tiến hành hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ
luật này; đề nghị triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác,
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
h) Thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
i) Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài
liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm
tra, đánh giá;
k) Đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập
chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản;
l) Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ
án liên quan đến việc bào chữa từ khi kết thúc điều tra;
m) Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa;
n) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
o) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo là
người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất theo quy định
của Bộ luật này.
2. Người bào chữa có nghĩa vụ:
a) Sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng
tỏ những tình tiết xác định người bị buộc tội vô tội, những tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo;
b) Giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của họ;
c) Không được từ chối bào chữa cho người bị buộc tội mà
mình đã đảm nhận bào chữa nếu không vì lý do bất khả kháng hoặc không phải do
trở ngại khách quan;
d) Tôn trọng sự thật; không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc
xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật;
đ) Có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án; trường hợp chỉ
định người bào chữa theo quy định tại khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này thì phải
có mặt theo yêu cầu của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát;
e) Không được tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết khi thực
hiện bào chữa; không được sử dụng tài liệu đã ghi chép, sao chụp trong hồ sơ vụ
án vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi
ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
g) Không được tiết lộ thông tin về vụ án, về người bị buộc
tội mà mình biết khi bào chữa, trừ trường hợp người này đồng ý bằng văn bản
và không được sử dụng thông tin đó vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước,
lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
3. Người bào chữa vi phạm pháp luật thì tùy tính chất, mức
độ vi phạm mà bị hủy bỏ việc đăng ký bào chữa, bị xử lý kỷ luật, xử phạt
vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại phải
bồi thường theo quy định của luật.
Điều 74. Thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng
Người bào chữa tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can.
Trường hợp bắt, tạm giữ người thì người bào chữa tham gia tố
tụng từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở của Cơ quan điều tra, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm
giữ.
Trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với các tội xâm phạm
an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định để người
bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra.
Điều 75. Lựa chọn người bào chữa
1. Người bào chữa do người bị buộc tội, người đại diện hoặc
người thân thích của họ lựa chọn.
2. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được đơn yêu
cầu người bào chữa của người bị bắt, bị tạm giữ thì cơ quan có thẩm quyền
đang quản lý người bị bắt, người bị tạm giữ có trách nhiệm chuyển đơn này cho
người bào chữa, người đại diện hoặc người thân thích của họ. Trường hợp người bị
bắt, người bị tạm giữ không nêu đích danh người bào chữa thì cơ quan có thẩm
quyền đang quản lý người bị bắt, bị tạm giữ phải chuyển đơn này cho người đại
diện hoặc người thân thích của họ để những người này nhờ người bào chữa.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được đơn yêu
cầu người bào chữa của người bị tạm giam thì cơ quan có thẩm quyền đang
quản lý người bị tạm giam có trách nhiệm chuyển đơn này cho người bào chữa, người
đại diện hoặc người thân thích của họ. Trường hợp người bị tạm giam không nêu
đích danh người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý người bị tạm
giam phải chuyển đơn này cho người đại diện hoặc người thân thích của họ để những
người này nhờ người bào chữa.
3. Trường hợp người đại diện hoặc người thân thích của người
bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam có đơn yêu cầu nhờ người bào chữa
thì cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo ngay cho người bị bắt, người
bị tạm giữ, người bị tạm giam để có ý kiến về việc nhờ người bào chữa.
4.[31] Người
bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ đề nghị Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt
trận cử bào chữa viên nhân dân để bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên
của tổ chức mình.
Điều 76. Chỉ định người bào chữa
1. Trong các trường hợp sau đây nếu người bị buộc tội, người
đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có
thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho họ:
a) Bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật Hình sự quy định mức
cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình;
b) Người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể
tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi.
2. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải yêu cầu hoặc
đề nghị các tổ chức sau đây cử người bào chữa cho các trường hợp quy định tại
khoản 1 Điều này:
a) Đoàn luật sư phân công tổ chức hành nghề luật sư cử người
bào chữa;
b) Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước cử Trợ giúp viên
pháp lý, luật sư bào chữa cho người thuộc diện được trợ giúp pháp lý;
c) Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành
viên của Mặt trận cử bào chữa viên nhân dân bào chữa cho người bị buộc tội là
thành viên của tổ chức mình.
Điều 77. Thay đổi hoặc từ chối người bào chữa
1. Những người sau đây có quyền từ chối hoặc đề nghị thay đổi
người bào chữa:
a) Người bị buộc tội;
b) Người đại diện của người bị buộc tội;
c) Người thân thích của người bị buộc tội.
Mọi trường hợp thay đổi hoặc từ chối người bào chữa đều phải
có sự đồng ý của người bị buộc tội và được lập biên bản đưa vào hồ sơ vụ án, trừ
trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này.
2. Trường hợp người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm
giam trong giai đoạn điều tra có đề nghị từ chối người bào chữa do người thân
thích của họ nhờ thì Điều tra viên phải cùng người bào chữa đó trực tiếp gặp
người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam để xác nhận việc từ chối.
3. Trường hợp chỉ định người bào chữa quy định tại khoản 1
Điều 76 của Bộ luật này, người bị buộc tội và người đại diện hoặc người thân
thích của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa.
Trường hợp thay đổi người bào chữa thì việc chỉ định người
bào chữa khác được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 76 của Bộ luật này.
Trường hợp từ chối người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền
tiến hành tố tụng lập biên bản về việc từ chối người bào chữa của người bị buộc
tội hoặc người đại diện, người thân thích của người bị buộc tội quy
định tại điểm b khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này và chấm dứt việc chỉ định
người bào chữa.
Điều 78. Thủ tục đăng ký bào chữa
1. Trong mọi trường hợp tham gia tố tụng, người bào chữa phải
đăng ký bào chữa.
2. Khi đăng ký bào chữa, người bào chữa phải xuất trình các
giấy tờ:
a) Luật sư xuất trình Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng
thực và giấy yêu cầu luật sư của người bị buộc tội hoặc của người đại diện, người
thân thích của người bị buộc tội;
b) Người đại diện của người bị buộc tội xuất trình Chứng
minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và giấy
tờ có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về mối quan hệ của họ với người bị buộc
tội;
c) Bào chữa viên nhân dân xuất trình Chứng minh nhân dân
hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử bào chữa
viên nhân dân của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của
Mặt trận;
d) Trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện trợ giúp
pháp lý xuất trình văn bản cử người thực hiện trợ giúp pháp lý của tổ chức
thực hiện trợ giúp pháp lý và Thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc Thẻ luật sư kèm
theo bản sao có chứng thực.
3. Trường hợp chỉ định người bào chữa quy định tại Điều 76
của Bộ luật này thì người bào chữa xuất trình các giấy tờ:
a) Luật sư xuất trình Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng
thực và văn bản cử luật sư của tổ chức hành nghề luật sư nơi luật sư đó hành
nghề hoặc văn bản phân công của Đoàn luật sư đối với luật sư hành nghề là cá
nhân;
b) Bào chữa viên nhân dân xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc
thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử bào chữa
viên nhân dân của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của
Mặt trận;
c) Trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện trợ giúp
pháp lý xuất trình Thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc Thẻ luật sư kèm theo bản
sao có chứng thực và văn bản cử người thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm
trợ giúp pháp lý nhà nước.
4. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận đủ giấy tờ quy định
tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải
kiểm tra giấy tờ và thấy không thuộc trường hợp từ chối việc đăng ký bào chữa
quy định tại khoản 5 Điều này thì vào sổ đăng ký bào chữa, gửi ngay văn bản
thông báo người bào chữa cho người đăng ký bào chữa, cơ sở giam giữ và lưu giấy
tờ liên quan đến việc đăng ký bào chữa vào hồ sơ vụ án; nếu xét thấy không đủ
điều kiện thì từ chối việc đăng ký bào chữa và phải nêu rõ lý do bằng văn bản.
5. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng từ chối việc
đăng ký bào chữa khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 72 của Bộ luật này;
b) Người bị buộc tội thuộc trường hợp chỉ định người bào chữa
từ chối người bào chữa.
6. Văn bản thông báo người bào chữa có giá trị sử dụng
trong suốt quá trình tham gia tố tụng, trừ các trường hợp:
a) Người bị buộc tội từ chối hoặc đề nghị thay đổi người
bào chữa;
b) Người đại diện hoặc người thân thích của người bị
buộc tội quy định tại điểm b khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này từ chối hoặc đề
nghị thay đổi người bào chữa.
7. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hủy bỏ việc
đăng ký bào chữa và thông báo cho người bào chữa, cơ sở giam giữ khi thuộc
một trong các trường hợp:
a) Khi phát hiện người bào chữa thuộc trường hợp quy định tại
khoản 4 Điều 72 của Bộ luật này;
b) Vi phạm pháp luật khi tiến hành bào chữa.
Điều 79. Trách nhiệm thông báo cho người bào chữa
1. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải báo trước một
thời gian hợp lý cho người bào chữa về thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động
tố tụng mà họ có quyền tham gia theo quy định của Bộ luật này.
2. Trường hợp người bào chữa đã được cơ quan có thẩm quyền
tiến hành tố tụng báo trước mà không có mặt thì hoạt động tố tụng vẫn được tiến
hành, trừ trường hợp quy định tại Điều 291 của Bộ luật này.
Điều 80. Gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
đang bị tạm giam
1. Để gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
đang bị tạm giam, người bào chữa phải xuất trình văn bản thông báo người
bào chữa, Thẻ luật sư hoặc Thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc Chứng minh nhân dân
hoặc thẻ Căn cước công dân.
2. Cơ quan quản lý người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo đang bị tạm giam phải phổ biến nội quy, quy chế của cơ sở giam giữ
và yêu cầu người bào chữa chấp hành nghiêm chỉnh. Trường hợp phát hiện người
bào chữa vi phạm quy định về việc gặp thì phải dừng ngay việc gặp và lập biên bản,
báo cáo người có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều 81. Thu thập, giao chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên
quan đến việc bào chữa
1. Người bào chữa thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật, tình
tiết liên quan đến việc bào chữa theo quy định tại khoản 2 Điều 88 của Bộ luật
này.
2. Tùy từng giai đoạn tố tụng, khi thu thập được chứng cứ,
tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa, người bào chữa phải kịp thời
giao cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để đưa vào hồ sơ vụ án. Việc
giao, nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật phải được lập biên bản theo quy định tại
Điều 133 của Bộ luật này.
3. Trường hợp không thể thu thập được chứng cứ, tài liệu, đồ
vật liên quan đến việc bào chữa thì người bào chữa có thể đề nghị cơ quan có thẩm
quyền tiến hành tố tụng thu thập.
Điều 82. Đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án
1. Sau khi kết thúc điều tra, nếu có yêu cầu đọc, ghi chép,
sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa thì cơ quan có
thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm bố trí thời gian, địa điểm để người
bào chữa đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án.
2. Sau khi đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu, người bào chữa
phải bàn giao nguyên trạng hồ sơ vụ án cho cơ quan đã cung cấp hồ sơ. Nếu để mất,
thất lạc, hư hỏng tài liệu, hồ sơ vụ án thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị
xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều 83. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị
tố giác, người bị kiến nghị khởi tố
1. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố
giác, người bị kiến nghị khởi tố là người được người bị tố giác, người bị kiến
nghị khởi tố nhờ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.
2. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố
giác, người bị kiến nghị khởi tố có thể là:
a) Luật sư;
b) Bào chữa viên nhân dân;
c) Người đại diện;
d) Trợ giúp viên pháp lý.
3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố
giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền:
a) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
b) Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài
liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm
tra, đánh giá;
c) Có mặt khi lấy lời khai người bị tố giác, người bị kiến
nghị khởi tố và nếu được Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên đồng ý thì được hỏi
người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Sau mỗi lần lấy lời khai của người
có thẩm quyền kết thúc thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị
tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền hỏi người bị tố giác, người bị
kiến nghị khởi tố;
d) Có mặt khi đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói
người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố;
đ) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
4. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố
giác, người bị kiến nghị khởi tố có nghĩa vụ:
a) Sử dụng các biện pháp do pháp luật quy định để góp phần
làm rõ sự thật khách quan của vụ án;
b) Giúp người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố về
pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Điều 84. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại,
đương sự
1. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương
sự là người được bị hại, đương sự nhờ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.
2. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương
sự có thể là:
a) Luật sư;
b) Người đại diện;
c) Bào chữa viên nhân dân;
d) Trợ giúp viên pháp lý.
3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương
sự có quyền:
a) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
b) Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài
liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm
tra, đánh giá;
c) Yêu cầu giám định, định giá tài sản;
d) Có mặt khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng lấy lời
khai, đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói của người mà mình bảo vệ; đọc,
ghi chép, sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bảo vệ
quyền lợi của bị hại và đương sự sau khi kết thúc điều tra;
đ) Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa; xem biên bản
phiên tòa;
e) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
g) Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng,
người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;
h) Kháng cáo phần bản án, quyết định của Tòa án có liên
quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ là người dưới 18 tuổi,
người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.
4. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương
sự có nghĩa vụ:
a) Sử dụng các biện pháp do pháp luật quy định để góp phần
làm rõ sự thật khách quan của vụ án;
b) Giúp bị hại, đương sự về pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của họ.
Chương VI
CHỨNG MINH VÀ CHỨNG CỨ
Điều 85. Những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự
Khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, cơ quan có
thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chứng minh:
1. Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm
và những tình tiết khác của hành vi phạm tội;
2. Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không
có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích,
động cơ phạm tội;
3. Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự
của bị can, bị cáo và đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo;
4. Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra;
5. Nguyên nhân và điều kiện phạm tội;
6. Những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách
nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.
Điều 86. Chứng cứ
Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự,
thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không
có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác
có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án.
Điều 87. Nguồn chứng cứ
1. Chứng cứ được thu thập, xác định từ các nguồn:
a) Vật chứng;
b) Lời khai, lời trình bày;
c) Dữ liệu điện tử;
d) Kết luận giám định, định giá tài sản;
đ) Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét
xử, thi hành án;
e) Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế
khác;
g) Các tài liệu, đồ vật khác.
2. Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự,
thủ tục do Bộ luật này quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng
làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự.
Điều 88. Thu thập chứng cứ
1. Để thu thập chứng cứ, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố
tụng có quyền tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật
này; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ
liệu điện tử, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án.
2. Để thu thập chứng cứ, người bào chữa có quyền gặp người
mà mình bào chữa, bị hại, người làm chứng và những người khác biết về vụ án để
hỏi, nghe họ trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị cơ quan, tổ
chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào
chữa.
3. Những người tham gia tố tụng khác, cơ quan, tổ chức hoặc
bất cứ cá nhân nào đều có thể đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử
và trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ án.
4. Khi tiếp nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử
liên quan đến vụ án do những người quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này
cung cấp, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải lập biên bản giao nhận
và kiểm tra, đánh giá theo quy định của Bộ luật này.
5. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày lập biên bản về hoạt động
điều tra, thu thập, nhận được tài liệu liên quan đến vụ án mà Kiểm sát viên
không trực tiếp kiểm sát theo quy định của Bộ luật này thì Cơ quan điều tra, cơ
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm chuyển
biên bản, tài liệu này cho Viện kiểm sát để kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án.
Trường hợp do trở ngại khách quan thì thời hạn này có thể kéo dài
nhưng không quá 15 ngày. Trong thời hạn 03 ngày, Viện kiểm sát đóng dấu
bút lục và sao lưu biên bản, tài liệu lưu hồ sơ kiểm sát và bàn giao nguyên
trạng tài liệu, biên bản đó cho Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Việc giao, nhận tài liệu, biên bản
được lập biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này.
Điều 89. Vật chứng
Vật chứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội,
vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm, tiền hoặc vật khác có
giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải
quyết vụ án.
Điều 90. Bảo quản vật chứng
1. Vật chứng phải được bảo quản nguyên vẹn, không để mất
mát, lẫn lộn, hư hỏng. Việc bảo quản vật chứng được thực hiện như sau:
a) Vật chứng cần được niêm phong thì phải niêm phong ngay
sau khi thu thập. Việc niêm phong, mở niêm phong được lập biên bản và đưa vào
hồ sơ vụ án. Việc niêm phong, mở niêm phong vật chứng được thực hiện
theo quy định của Chính phủ;
b) Vật chứng là tiền, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ,
chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, vũ khí quân dụng phải được giám định
ngay sau khi thu thập và phải chuyển ngay để bảo quản tại Kho bạc Nhà nước hoặc
cơ quan chuyên trách khác. Nếu vật chứng là tiền, vàng, bạc, kim khí quý, đá
quý, đồ cổ lưu dấu vết của tội phạm thì tiến hành niêm phong theo quy định tại
điểm a khoản này; vật chứng là vi khuẩn nguy hại, bộ phận cơ thể người, mẫu mô,
mẫu máu và các mẫu vật khác của cơ thể người được bảo quản tại cơ quan chuyên
trách theo quy định của pháp luật;
c) Vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng để bảo quản thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng giao vật
chứng đó cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp đồ vật, tài sản hoặc người thân
thích của họ hoặc Ủy ban nhân dân[32], cơ
quan, tổ chức nơi có vật chứng bảo quản;
d) Vật chứng thuộc loại mau hỏng hoặc khó bảo quản thì cơ
quan có thẩm quyền trong phạm vi quyền hạn của mình quyết định bán theo quy định
của pháp luật và chuyển tiền đến tài khoản tạm giữ của cơ quan có thẩm quyền tại
Kho bạc Nhà nước để quản lý;
đ)[33] Vật
chứng đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo quản thì cơ quan
Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra có trách nhiệm bảo quản vật chứng trong giai
đoạn điều tra, truy tố, xét xử.
Sau khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, vật chứng
tiếp tục được bảo quản, lưu giữ tại nơi đang bảo quản; cơ quan thi hành án dân
sự thực hiện các thủ tục kiểm kê, tiếp nhận, niêm phong vật chứng trong giai đoạn
thi hành án và xử lý theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự. Trường
hợp vật chứng đang được bảo quản tại kho thuê thì cơ quan thi hành án dân sự có
trách nhiệm thanh toán chi phí thuê kho kể từ thời điểm tiếp nhận đến khi tiêu
hủy, trả lại tài sản hoặc giao cho cơ quan tài chính cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân
cấp xã để sung quỹ nhà nước hoặc xử lý xong theo quy định của Luật Thi hành án
dân sự.
2. Người có trách nhiệm bảo quản vật chứng mà để mất mát,
hư hỏng, phá hủy niêm phong, tiêu dùng, sử dụng trái phép, chuyển nhượng, đánh
tráo, cất giấu, hủy hoại vật chứng của vụ án thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm
mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật.
Trường hợp thêm, bớt, sửa đổi, đánh tráo, hủy, làm hư hỏng
vật chứng của vụ án nhằm làm sai lệch hồ sơ vụ án thì phải chịu trách nhiệm
hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của luật.
Điều 91. Lời khai của người làm chứng
1. Người làm chứng trình bày những gì mà họ biết nguồn tin
về tội phạm, về vụ án, nhân thân của người bị buộc tội, bị hại, quan hệ giữa họ
với người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng khác và trả lời những câu hỏi đặt
ra.
2. Không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do người
làm chứng trình bày nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó.
Điều 92. Lời khai của bị hại
1. Bị hại trình bày những tình tiết về nguồn tin về tội phạm,
vụ án, quan hệ giữa họ với người bị buộc tội và trả lời những câu hỏi đặt ra.
2. Không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do bị hại
trình bày nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó.
Điều 93. Lời khai của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự
1. Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự trình bày những tình tiết
liên quan đến việc bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra.
2. Không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do nguyên
đơn dân sự, bị đơn dân sự trình bày nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được
tình tiết đó.
Điều 94. Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án
1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án trình
bày những tình tiết trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ.
2. Không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án trình bày nếu họ không thể nói rõ vì
sao biết được tình tiết đó.
Điều 95. Lời khai của người bị giữ trong trường
hợp khẩn cấp, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người phạm tội tự
thú, đầu thú, người bị bắt, bị tạm giữ
Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị tố giác,
người bị kiến nghị khởi tố, người phạm tội tự thú, đầu thú, người bị bắt, bị
tạm giữ trình bày những tình tiết liên quan đến việc họ bị nghi thực hiện tội
phạm.
Điều 96. Lời khai của người tố giác, báo tin về tội phạm
Người tố giác, báo tin về tội phạm trình bày những tình tiết
liên quan đến việc họ tố giác, báo tin về tội phạm.
Điều 97. Lời khai của người chứng kiến
Người chứng kiến trình bày những tình tiết mà họ đã chứng
kiến trong hoạt động tố tụng.
Điều 98. Lời khai của bị can, bị cáo
1. Bị can, bị cáo trình bày những tình tiết của vụ án.
2. Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là
chứng cứ nếu phù hợp với những chứng cứ khác của vụ án.
Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ
duy nhất để buộc tội, kết tội.
Điều 99. Dữ liệu điện tử
1. Dữ liệu điện tử là ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh,
âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi
phương tiện điện tử.
2. Dữ liệu điện tử được thu thập từ phương tiện điện tử, mạng
máy tính, mạng viễn thông, trên đường truyền và các nguồn điện tử khác.
3. Giá trị chứng cứ của dữ liệu điện tử được xác định căn cứ
vào cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi dữ liệu điện tử; cách thức bảo
đảm và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử; cách thức xác định người khởi
tạo và các yếu tố phù hợp khác.
Điều 100. Kết luận giám định
1. Kết luận giám định là văn bản do cá nhân hoặc cơ quan, tổ
chức giám định lập để kết luận chuyên môn về những vấn đề được trưng cầu, yêu cầu
giám định.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân kết luận về vấn đề được trưng
cầu, yêu cầu giám định và phải chịu trách nhiệm về kết luận đó.
Nếu việc giám định do tập thể giám định tiến hành thì tất cả
thành viên đều ký vào bản kết luận. Trường hợp có ý kiến khác nhau thì mỗi người
ghi ý kiến kết luận của mình vào bản kết luận.
3. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không
đồng ý với kết luận giám định thì phải nêu rõ lý do, nếu kết luận chưa rõ hoặc
chưa đầy đủ thì quyết định giám định bổ sung hoặc giám định lại theo thủ tục
chung quy định tại Bộ luật này.
4. Kết luận giám định của người được trưng cầu giám định
thuộc trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi thì không có giá trị pháp lý và
không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án.
Điều 101. Kết luận định giá tài sản
1. Kết luận định giá tài sản là văn bản do Hội đồng định
giá tài sản lập để kết luận về giá của tài sản được yêu cầu.
Hội đồng định giá tài sản kết luận giá của tài sản và phải
chịu trách nhiệm về kết luận đó.
2. Kết luận định giá tài sản phải có chữ ký của tất cả
thành viên Hội đồng định giá tài sản. Trường hợp không đồng ý với giá của tài sản
do Hội đồng quyết định thì thành viên của Hội đồng ghi ý kiến kết luận của mình
vào bản kết luận.
3. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không
đồng ý với kết luận định giá tài sản thì phải nêu rõ lý do; nếu kết luận chưa
rõ thì quyết định định giá lại theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này.
4. Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản vi phạm
quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật về định giá thì không có
giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án.
Điều 102. Biên bản về hoạt động kiểm tra, xác minh nguồn
tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử
Những tình tiết được ghi trong biên bản về hoạt động kiểm
tra, xác minh nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử được lập
theo quy định của Bộ luật này có thể được coi là chứng cứ.
Điều 103. Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc
tế khác
Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác
do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cung cấp có thể được coi là chứng cứ
nếu phù hợp với chứng cứ khác của vụ án.
Điều 104. Các tài liệu, đồ vật khác trong vụ án
Những tình tiết liên quan đến vụ án ghi trong tài liệu, đồ
vật do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp có thể được coi là chứng cứ. Trường hợp
tài liệu, đồ vật này có đặc điểm quy định tại Điều 89 của Bộ luật này thì được
coi là vật chứng.
Điều 105. Thu thập vật chứng
Vật chứng phải được thu thập kịp thời, đầy đủ, mô tả đúng
thực trạng vào biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án. Trường hợp vật chứng không thể
đưa vào hồ sơ vụ án thì phải chụp ảnh, có thể ghi hình để đưa vào hồ sơ vụ án.
Vật chứng phải được niêm phong, bảo quản theo quy định của pháp luật.
Điều 106. Xử lý vật chứng
1. Việc xử lý vật chứng do Cơ quan điều tra, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quyết định nếu vụ án được
đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định nếu vụ án được đình
chỉ ở giai đoạn truy tố; do Chánh án Tòa án quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở
giai đoạn chuẩn bị xét xử; do Hội đồng xét xử quyết định nếu vụ án đã đưa ra
xét xử. Việc thi hành quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản.
2. Vật chứng được xử lý như sau:
a) Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm
tàng trữ, lưu hành thì bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy;
b) Vật chứng là tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội mà có
thì bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước;
c) Vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị
tịch thu và tiêu hủy.
3. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan, người
có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này có quyền:
a) Trả lại ngay tài sản đã thu giữ, tạm giữ nhưng không phải
là vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản đó;
b) Trả lại ngay vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý
hợp pháp nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án;
c) Vật chứng thuộc loại mau hỏng hoặc khó bảo quản thì có
thể được bán theo quy định của pháp luật; trường hợp không bán được thì tiêu hủy;
d) Vật chứng là động vật hoang dã và thực vật ngoại lai
thì ngay sau khi có kết luận giám định phải giao cho cơ quan quản lý chuyên
ngành có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với vật chứng
thì giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Điều 107. Thu thập phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử
1. Phương tiện điện tử phải được thu giữ kịp thời, đầy đủ,
mô tả đúng thực trạng và niêm phong ngay sau khi thu giữ. Việc niêm phong, mở
niêm phong được tiến hành theo quy định của pháp luật.
Trường hợp không thể thu giữ phương tiện lưu trữ dữ liệu điện
tử thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng sao lưu dữ liệu điện tử đó vào
phương tiện điện tử và bảo quản như đối với vật chứng, đồng thời yêu cầu cơ
quan, tổ chức, cá nhân liên quan lưu trữ, bảo toàn nguyên vẹn dữ liệu điện tử
mà cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã sao lưu và cơ quan, tổ chức, cá
nhân này phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
2. Khi thu thập, chặn thu, sao lưu dữ liệu điện tử từ
phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc trên đường truyền, cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiến hành phải lập biên bản và đưa vào hồ
sơ vụ án.
3. Khi nhận được quyết định trưng cầu giám định của cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì cá nhân, tổ chức có trách nhiệm thực hiện
phục hồi, tìm kiếm, giám định dữ liệu điện tử.
4. Việc phục hồi, tìm kiếm, giám định dữ liệu điện tử chỉ
được thực hiện trên bản sao; kết quả phục hồi, tìm kiếm, giám định phải chuyển
sang dạng có thể đọc, nghe hoặc nhìn được.
5. Phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử được bảo quản như vật
chứng theo quy định của Bộ luật này. Khi xuất trình chứng cứ là dữ liệu điện tử
phải kèm theo phương tiện lưu trữ dữ liệu hoặc bản sao dữ liệu điện tử.
Điều 108. Kiểm tra, đánh giá chứng cứ
1. Mỗi chứng cứ phải được kiểm tra, đánh giá
để xác định tính hợp pháp, xác thực và liên quan đến vụ án. Việc xác định những
chứng cứ thu thập được phải bảo đảm đủ để giải quyết vụ án hình sự.
2. Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi nhiệm
vụ, quyền hạn của mình phải kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện mọi
chứng cứ đã thu thập được về vụ án.
Chương VII
BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN, BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ
Mục I. BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
Điều 109. Các biện pháp ngăn chặn
1. Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng
tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ
tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án, cơ quan, người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng biện pháp
giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền
để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh.
2. Các trường hợp bắt người gồm bắt người bị giữ trong trường
hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, bắt bị
can, bị cáo để tạm giam, bắt người bị yêu cầu dẫn độ.
Điều 110. Giữ người trong trường hợp khẩn cấp
1. Khi thuộc một trong các trường hợp khẩn cấp sau đây
thì được giữ người:
a) Có đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện
tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
b) Người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người có
mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực
hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn;
c) Có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc nơi
làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy
cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.
2. Những người sau đây có quyền ra lệnh giữ người trong trường
hợp khẩn cấp:
a)[34] Thủ
trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Điều tra viên thuộc trường hợp
quy định tại khoản 1a Điều 37 của Bộ luật này;
b)[35] Thủ
trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương, Đồn trưởng Đồn biên phòng,
Chỉ huy trưởng Biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Bộ đội
biên phòng, Cục trưởng Cục Trinh sát Bộ đội biên phòng, Cục trưởng Cục phòng,
chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng,
chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng; Đoàn trưởng Đoàn Trinh sát Bộ đội biên
phòng; Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh sát biển, Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và pháp
luật lực lượng Cảnh sát biển, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm
ma túy lực lượng Cảnh sát biển, Đoàn trưởng Đoàn Trinh sát lực lượng Cảnh
sát biển; Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng;
c) Người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã
rời khỏi sân bay, bến cảng.
3. Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải ghi rõ họ
tên, địa chỉ của người bị giữ, lý do, căn cứ giữ người quy định tại khoản 1 Điều
này và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này. Việc thi
hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải theo đúng quy
định tại khoản 2 Điều 113 của Bộ luật này.
4.[36] Trong
thời hạn 12 giờ kể từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp hoặc nhận người
bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải lấy lời khai ngay và những người
quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này phải ra quyết định tạm giữ, ra
lệnh bắt người bị giữ hoặc trả tự do ngay cho người đó. Lệnh bắt người bị giữ
trong trường hợp khẩn cấp phải gửi ngay cho Viện kiểm sát có thẩm quyền kèm
theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn.
Sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, những người
quy định tại điểm c khoản 2 Điều này phải giải ngay người bị giữ kèm theo tài
liệu liên quan đến việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp đến Cơ quan điều
tra nơi có sân bay hoặc bến cảng đầu tiên tàu trở về. Trong thời hạn 12 giờ kể
từ khi tiếp nhận người bị giữ, Cơ quan điều tra phải lấy lời khai ngay và những
người quy định tại điểm a khoản 2 Điều này phải ra quyết định tạm giữ, ra lệnh
bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp hoặc trả tự do ngay cho người
đó. Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải gửi ngay cho Viện kiểm
sát có thẩm quyền kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn.
Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải ghi rõ
họ tên, địa chỉ của người bị giữ, lý do, căn cứ giữ người quy định tại khoản 1
Điều này và các nội dung quy định tại khoản
2 Điều 132 của Bộ luật này.
5. Hồ sơ đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt người bị
giữ trong trường hợp khẩn cấp gồm:
a) Văn bản đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt người bị
giữ trong trường hợp khẩn cấp;
b) Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh bắt người
bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, quyết định tạm giữ;
c) Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp;
d) Biên bản ghi lời khai của người bị giữ trong trường hợp
khẩn cấp;
đ) Chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc giữ người
trong trường hợp khẩn cấp.
6. Viện kiểm sát phải kiểm sát chặt chẽ căn cứ giữ người
quy định tại khoản 1 Điều này. Trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên phải trực tiếp
gặp, hỏi người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp trước khi xem xét, quyết định
phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp
khẩn cấp. Biên bản ghi lời khai của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp do
Kiểm sát viên lập phải đưa vào hồ sơ vụ việc, vụ án.
Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được hồ sơ đề nghị xét
phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, Viện kiểm sát phải
ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Trường hợp Viện kiểm
sát quyết định không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp
thì người đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Cơ quan điều tra đã
nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải trả tự do ngay cho người bị giữ.
Điều 111. Bắt người phạm tội quả tang
1. Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi
thực hiện tội phạm mà bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt thì bất kỳ người nào cũng
có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy
ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản tiếp nhận và giải
ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
2. Khi bắt người phạm tội quả tang thì người nào cũng có
quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt.
3. Trường hợp Công an cấp xã[37],
Đồn Công an phát hiện bắt giữ, tiếp nhận người phạm tội quả tang thì thu giữ, tạm
giữ vũ khí, hung khí và bảo quản tài liệu, đồ vật có liên quan, lập biên bản
bắt giữ người, lấy lời khai ban đầu, bảo vệ hiện trường theo quy định của pháp
luật; giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
Điều 112. Bắt người đang bị truy nã
1. Đối với người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng
có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy
ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản tiếp nhận và giải
ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
2. Khi bắt người đang bị truy nã thì người nào cũng có quyền
tước vũ khí, hung khí của người bị bắt.
3. Trường hợp Công an cấp xã[38],
Đồn Công an phát hiện bắt giữ, tiếp nhận người đang bị truy nã thì thu giữ, tạm
giữ vũ khí, hung khí và bảo quản tài liệu, đồ vật có liên quan, lập biên bản
bắt giữ người, lấy lời khai ban đầu; giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho
Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
Điều 113. Bắt bị can, bị cáo để tạm giam
1.[39] Những
người sau đây có quyền ra lệnh, quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam:
a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Điều
tra viên thuộc trường hợp quy định tại khoản 1a Điều 37 của Bộ luật này. Trường
hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi
hành;
b) Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và
Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp;
c) Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân
và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp; Thẩm phán giữ chức vụ Chánh
tòa, Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử.
2. Lệnh bắt, quyết định phê chuẩn lệnh, quyết định bắt phải
ghi rõ họ tên, địa chỉ của người bị bắt; lý do bắt và các nội dung quy định tại
khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.
Người thi hành lệnh, quyết định phải đọc lệnh, quyết định;
giải thích lệnh, quyết định, quyền và nghĩa vụ của người bị bắt và phải lập
biên bản về việc bắt; giao lệnh, quyết định cho người bị bắt.
Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó cư trú phải có đại
diện Ủy ban nhân dân cấp xã[40] và
người khác chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó làm việc, học tập
phải có đại diện cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập chứng kiến.
Khi tiến hành bắt người tại nơi khác phải có sự chứng kiến của đại diện Ủy ban
nhân dân cấp xã[41] nơi
tiến hành bắt người.
3. Không được bắt người vào ban đêm, trừ trường hợp phạm tội
quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã.
Điều 114. Những việc cần làm ngay sau khi giữ người trong
trường hợp khẩn cấp, bắt người hoặc nhận người bị giữ, bị bắt
1. Sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt
người hoặc nhận người bị giữ, bị bắt, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải lấy lời khai ngay và trong thời hạn
12 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt.
2. Sau khi lấy lời khai người bị bắt theo quyết định truy
nã thì Cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải thông báo ngay cho Cơ quan đã ra
quyết định truy nã đến nhận người bị bắt. Sau khi nhận người bị bắt, cơ quan đã
ra quyết định truy nã phải ra ngay quyết định đình nã.
Trường hợp cơ quan đã ra quyết định truy nã không thể đến
nhận ngay người bị bắt thì sau khi lấy lời khai, Cơ quan điều tra nhận người bị
bắt phải ra ngay quyết định tạm giữ và thông báo ngay cho cơ quan đã ra quyết định
truy nã biết; nếu đã hết thời hạn tạm giữ mà cơ quan ra quyết định truy nã vẫn
chưa đến nhận thì Cơ quan điều tra nhận người bị bắt gia hạn tạm giữ và gửi
ngay quyết định gia hạn tạm giữ kèm theo tài liệu liên quan cho Viện kiểm sát
có thẩm quyền[42] để
xét phê chuẩn.
Trường hợp không thể đến nhận ngay người bị bắt thì cơ
quan đã ra quyết định truy nã có thẩm quyền bắt để tạm giam phải ra ngay lệnh tạm
giam và gửi lệnh tạm giam đã được Viện kiểm sát có thẩm quyền[43]
phê chuẩn cho Cơ quan điều tra nhận người bị bắt. Sau khi nhận được lệnh tạm
giam, Cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải giải ngay người đó đến Trại tạm
giam nơi gần nhất.
3. Trường hợp người bị bắt có nhiều quyết định truy nã thì
Cơ quan điều tra nhận người bị bắt chuyển giao người bị bắt cho cơ quan đã ra
quyết định truy nã nơi gần nhất.
Điều 115. Biên bản về việc giữ người trong trường hợp khẩn
cấp, biên bản bắt người
1. Người thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp,
thi hành lệnh hoặc quyết định bắt trong mọi trường hợp đều phải lập biên bản.
Biên bản phải ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm giữ,
bắt, nơi lập biên bản; những việc đã làm, tình hình diễn biến trong khi thi
hành lệnh giữ, lệnh hoặc quyết định bắt, tài liệu, đồ vật bị tạm giữ, tình trạng
sức khỏe và ý kiến, khiếu nại của người bị giữ, người bị bắt và các nội dung
quy định tại Điều 133 của Bộ luật này.
Biên bản được đọc cho người bị giữ, người bị bắt và người
chứng kiến nghe. Người bị giữ, người bị bắt, người thi hành lệnh giữ, lệnh hoặc
quyết định bắt và người chứng kiến cùng ký tên vào biên bản, nếu ai có ý kiến
khác hoặc không đồng ý với nội dung biên bản thì có quyền ghi vào biên bản và
ký tên.
Việc tạm giữ tài liệu, đồ vật của người bị giữ, người bị
bắt phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật này.
2. Khi giao, nhận người bị giữ, người bị bắt phải lập biên
bản.
Ngoài nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, biên bản
giao nhận còn phải ghi rõ việc bàn giao biên bản lấy lời khai, tài liệu, đồ vật
đã thu thập được, tình trạng sức khoẻ của người bị giữ, người bị bắt và những
tình tiết xảy ra khi giao nhận.
Điều 116. Thông báo về việc giữ người trong trường hợp khẩn
cấp, bắt người
Sau khi giữ người, bắt người, người ra lệnh giữ
người, lệnh hoặc quyết định bắt người phải thông báo ngay cho gia đình người
bị giữ, bị bắt, Ủy ban nhân dân cấp xã[44] nơi
người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập biết.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận người bị giữ, bị bắt,
Cơ quan điều tra nhận người bị giữ, bị bắt phải thông báo cho gia đình người bị
giữ, bị bắt, Ủy ban nhân dân cấp xã[45] nơi
người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập biết; trường
hợp người bị giữ, người bị bắt là công dân nước ngoài thì phải thông báo cho cơ
quan ngoại giao của Việt Nam để thông báo cho cơ quan đại diện ngoại giao của
nước có công dân bị giữ, bị bắt.
Nếu việc thông báo cản trở truy bắt đối tượng khác hoặc cản
trở điều tra thì sau khi cản trở đó không còn, người ra lệnh giữ người, lệnh hoặc
quyết định bắt người, Cơ quan điều tra nhận người bị giữ, người bị bắt phải
thông báo ngay.
Điều 117. Tạm giữ
1. Tạm giữ có thể áp dụng đối với người bị giữ trong trường
hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm
tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã.
2. Những người có thẩm quyền ra lệnh giữ người quy định tại
khoản 2 Điều 110 của Bộ luật này có quyền ra quyết định tạm giữ.
Quyết định tạm giữ phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của
người bị tạm giữ, lý do tạm giữ, giờ, ngày bắt đầu và giờ, ngày hết
thời hạn tạm giữ và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật
này. Quyết định tạm giữ phải giao cho người bị tạm giữ.
3. Người thi hành quyết định tạm giữ phải thông báo, giải
thích quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ quy định tại Điều 59 của Bộ luật
này.
4. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi ra quyết định tạm giữ,
người ra quyết định tạm giữ phải gửi quyết định tạm giữ kèm theo các tài liệu
làm căn cứ tạm giữ cho[46] Viện
kiểm sát có thẩm quyền. Nếu xét thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần
thiết thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ và người ra quyết
định tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.
Điều 118. Thời hạn tạm giữ
1. Thời hạn tạm giữ không quá 03 ngày kể từ khi Cơ quan điều
tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận người
bị giữ, người bị bắt hoặc áp giải người bị giữ, người bị bắt về trụ sở của
mình hoặc kể từ khi Cơ quan điều tra ra quyết định tạm giữ người phạm tội tự
thú, đầu thú.
2. Trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể
gia hạn tạm giữ nhưng không quá 03 ngày. Trường hợp đặc biệt, người ra quyết định
tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng không quá 03 ngày.
Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ đều phải được[47] Viện kiểm sát có thẩm quyền
phê chuẩn. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận hồ sơ đề nghị gia hạn tạm
giữ, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn.
3. Trong khi tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can
thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ; trường hợp đã gia hạn tạm giữ thì
Viện kiểm sát phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.
4. Thời gian tạm giữ được trừ vào thời hạn tạm giam. Một ngày
tạm giữ được tính bằng một ngày tạm giam.
Điều 119. Tạm giam
1. Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội đặc
biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng.
2. Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội
nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tù trên
02 năm khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp:
a) Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm;
b) Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý
lịch của bị can;
c) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu
bỏ trốn;
d) Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội;
đ) Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai
báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu,
đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả
thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những
người này.
3. Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội ít
nghiêm trọng mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tù đến 02 năm nếu họ tiếp tục
phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.
4. Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi
con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú
và lý lịch rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ
các trường hợp:
a) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã;
b) Tiếp tục phạm tội;
c) Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai
báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu,
đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả
thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của
những người này;
d) Bị can, bị cáo về tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ
căn cứ xác định nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh
quốc gia.
5. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113
của Bộ luật này có quyền ra lệnh, quyết định tạm giam. Lệnh tạm giam của những
người được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải được Viện
kiểm sát có thẩm quyền[48] chuẩn
trước khi thi hành. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được lệnh tạm giam,
đề nghị xét phê chuẩn và hồ sơ liên quan đến việc tạm giam, Viện kiểm sát phải
ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Viện kiểm sát phải
hoàn trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra ngay sau khi kết thúc việc xét phê chuẩn.
6. Cơ quan điều tra phải kiểm tra căn cước của người bị tạm
giam và thông báo ngay cho gia đình người bị tạm giam, Ủy ban nhân dân cấp xã[49] nơi người bị tạm giam cư trú
hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị tạm giam làm việc, học tập biết.
Điều 120. Việc chăm nom người thân thích và bảo quản tài sản
của người bị tạm giữ, tạm giam
1. Trường hợp người bị tạm giữ, tạm giam có người thân
thích là người tàn tật, già yếu, có nhược điểm về tâm thần mà không có người
chăm sóc thì cơ quan ra quyết định tạm giữ, lệnh hoặc quyết định tạm giam giao
người đó cho người thân thích khác chăm nom; trường hợp không có người thân
thích thì cơ quan ra quyết định tạm giữ, lệnh hoặc quyết định tạm giam giao những
người đó cho Ủy ban nhân dân cấp xã[50] nơi họ
cư trú chăm nom. Việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em là con của người bị tạm giữ,
tạm giam thực hiện theo quy định của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam.
2. Trường hợp người bị tạm giữ, tạm giam có nhà ở hoặc tài
sản khác mà không có người bảo quản thì cơ quan ra quyết định tạm giữ, lệnh hoặc
quyết định tạm giam phải áp dụng những biện pháp bảo quản.
3. Cơ quan ra quyết định tạm giữ, lệnh hoặc quyết định tạm
giam thông báo cho người bị tạm giữ, tạm giam biết việc chăm nom, chăm sóc người
thân thích và bảo quản tài sản của họ. Việc thông báo được lập văn bản và đưa
vào hồ sơ vụ án.
Điều 121. Bảo lĩnh
1. Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ
vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị can,
bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo
lĩnh.
2. Cơ quan, tổ chức có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo
là người của cơ quan, tổ chức mình. Cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh phải có giấy
cam đoan và có xác nhận của người đứng đầu cơ quan, tổ chức.
Cá nhân là người đủ 18 tuổi trở lên, nhân thân tốt,
nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, thu nhập ổn định và có điều kiện quản lý người
được bảo lĩnh thì có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người thân thích của
họ và trong trường hợp này thì ít nhất phải có 02 người. Cá nhân nhận bảo lĩnh
phải làm giấy cam đoan có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã[51] nơi người đó cư trú hoặc cơ
quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập.
Trong giấy cam đoan, cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo
lĩnh phải cam đoan không để bị can, bị cáo vi phạm các nghĩa vụ quy định tại
khoản 3 Điều này. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh được thông báo về những
tình tiết của vụ án liên quan đến việc nhận bảo lĩnh.
3. Bị can, bị cáo được bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan thực
hiện các nghĩa vụ:
a) Có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất
khả kháng hoặc do trở ngại khách quan;
b) Không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội;
c) Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo
gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài
liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống
chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân
thích của những người này.
Trường hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định
tại khoản này thì bị tạm giam.
4. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113
của Bộ luật này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết định bảo lĩnh.
Quyết định của những người quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này
phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền[52] phê
chuẩn trước khi thi hành.
5. Thời hạn bảo lĩnh không được quá thời hạn điều tra, truy
tố hoặc xét xử theo quy định của Bộ luật này. Thời hạn bảo lĩnh đối với người bị
kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó
đi chấp hành án phạt tù.
6. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh để bị can, bị
cáo vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị phạt
tiền theo quy định của pháp luật.
Điều 122. Đặt tiền để bảo đảm
1. Đặt tiền để bảo đảm là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm
giam. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhân thân và
tình trạng tài sản của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án
có thể quyết định cho họ hoặc người thân thích của họ đặt tiền để bảo đảm.
2. Bị can, bị cáo được đặt tiền phải làm giấy cam đoan thực
hiện các nghĩa vụ:
a) Có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất
khả kháng hoặc do trở ngại khách quan;
b) Không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội;
c) Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo
gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài
liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống
chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân
thích của những người này.
Trường hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định
tại khoản này thì bị tạm giam và số tiền đã đặt bị tịch thu, nộp ngân sách nhà
nước.
3. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều
113 của Bộ luật này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết định về việc
đặt tiền để bảo đảm. Quyết định của những người quy định tại điểm a khoản 1 Điều
113 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền[53]
phê chuẩn trước khi thi hành.
4. Thời hạn đặt tiền không quá thời hạn điều tra, truy tố
hoặc xét xử theo quy định tại Bộ luật này. Thời hạn đặt tiền đối với người bị kết
án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi
chấp hành án phạt tù. Bị can, bị cáo chấp hành đầy đủ các nghĩa vụ đã cam đoan
thì Viện kiểm sát, Tòa án có trách nhiệm trả lại cho họ số tiền đã đặt.
5. Người thân thích của bị can, bị cáo được Cơ quan điều
tra, Viện kiểm sát, Tòa án chấp nhận cho đặt tiền để bảo đảm phải làm giấy cam
đoan không để bị can, bị cáo vi phạm các nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều
này, nếu vi phạm thì số tiền đã đặt bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước. Khi
làm giấy cam đoan, người này được thông báo về những tình tiết của vụ án có
liên quan đến bị can, bị cáo.
6. Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ
Quốc phòng quy định chi tiết trình tự, thủ tục, mức tiền đặt, việc tạm giữ,
hoàn trả, tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền đã đặt để bảo đảm.
Điều 123. Cấm đi khỏi nơi cư trú
1. Cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn có thể áp
dụng đối với bị can, bị cáo có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng nhằm bảo đảm sự có
mặt của họ theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án.
2.[54] Bị
can, bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú phải làm giấy cam đoan thực hiện các
nghĩa vụ:
a) Không đi khỏi nơi cư trú nếu không được người đã ra lệnh
cấm đi khỏi nơi cư trú cho phép, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc
do trở ngại khách quan;
b) Có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất
khả kháng hoặc do trở ngại khách quan;
c) Không bỏ trốn, không tiếp tục phạm tội;
d) Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo
gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài
liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống
chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân
thích của những người này.
Trường hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định
tại khoản này hoặc vi phạm các nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành tạm giữ,
tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú thuộc trường hợp bị đề nghị thay đổi biện
pháp ngăn chặn thì bị tạm giam.
3. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều
113 của Bộ luật này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Đồn trưởng Đồn biên phòng có
quyền ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.
4. Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú không quá thời hạn điều
tra, truy tố hoặc xét xử theo quy định của Bộ luật này. Thời hạn cấm đi khỏi
nơi cư trú đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên
án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.
5.[55] Người
ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú phải gửi lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho Trưởng
Công an cấp xã nơi bị can, bị cáo cư trú, đơn vị quân đội được giao quản lý,
theo dõi bị can, bị cáo, cơ quan khác có liên quan để quản lý, theo dõi họ.
6. Nếu bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan thì Ủy ban
nhân dân cấp xã[56] nơi bị
can, bị cáo cư trú, đơn vị quân đội đang quản lý bị can, bị cáo phải báo ngay
cho cơ quan đã ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú biết để xử lý theo thẩm quyền.
Điều 124. Tạm hoãn xuất cảnh
1. Có thể tạm hoãn xuất cảnh đối với những người sau đây
khi có căn cứ xác định việc xuất cảnh của họ có dấu hiệu bỏ trốn:
a) Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố mà qua kiểm
tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó bị nghi thực hiện tội phạm và xét
thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ;
b) Bị can, bị cáo.
2. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113
của Bộ luật này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền quyết định tạm hoãn xuất
cảnh. Quyết định tạm hoãn xuất cảnh của những người được quy định tại điểm a
khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải được thông báo ngay cho Viện kiểm sát có
thẩm quyền[57] trước
khi thi hành.
3. Thời hạn tạm hoãn xuất cảnh không được quá thời hạn giải
quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của
Bộ luật này. Thời hạn tạm hoãn xuất cảnh đối với người bị kết án phạt tù không
quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt
tù.
Điều 125. Hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn
1. Mọi biện pháp ngăn chặn đang áp dụng phải được hủy bỏ
khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Quyết định không khởi tố vụ án hình sự;
b) Đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án;
c) Đình chỉ điều tra đối với bị can, đình chỉ vụ án đối với
bị can;
d) Bị cáo được Tòa án tuyên không có tội, miễn trách
nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt, hình phạt tù nhưng được hưởng án
treo hoặc hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ.
2. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hủy bỏ biện pháp
ngăn chặn khi thấy không còn cần thiết hoặc có thể thay thế bằng biện pháp ngăn
chặn khác.
Đối với những biện pháp ngăn chặn do Viện kiểm sát phê chuẩn
trong giai đoạn điều tra thì việc hủy bỏ hoặc thay thế bằng biện pháp ngăn chặn
khác phải do Viện kiểm sát quyết định; trong thời hạn 10 ngày trước khi hết thời
hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn, trừ biện pháp tạm giữ do Viện kiểm sát phê chuẩn,
cơ quan đã đề nghị áp dụng biện pháp ngặn chặn này phải thông báo cho Viện kiểm
sát để quyết định hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn khác.
Mục II. BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ
Điều 126. Các biện pháp cưỡng chế
Để bảo đảm hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử,
thi hành án, trong phạm vi thẩm quyền của mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng có thể áp dụng biện pháp áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong
tỏa tài khoản.
Điều 127. Áp giải, dẫn giải
1. Áp giải có thể áp dụng đối với người bị giữ trong trường
hợp khẩn cấp, người bị buộc tội.
2. Dẫn giải có thể áp dụng đối với:
a) Người làm chứng trong trường hợp họ không có mặt theo giấy
triệu tập mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan;
b) Người bị hại trong trường hợp họ từ chối việc giám định
theo quyết định trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà không
vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan;
c) Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố mà qua kiểm
tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó liên quan đến hành vi phạm tội được
khởi tố vụ án, đã được triệu tập mà vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng
hoặc không do trở ngại khách quan.
3. Điều tra viên, cấp trưởng của cơ quan được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra, Kiểm sát viên, Thẩm phán chủ tọa phiên
tòa, Hội đồng xét xử có quyền ra quyết định áp giải, dẫn giải.
4. Quyết định áp giải, quyết định dẫn giải phải ghi rõ họ
tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người bị áp giải, dẫn giải; thời
gian, địa điểm người bị áp giải, dẫn giải phải có mặt và các nội dung quy định
tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.
5. Người thi hành quyết định áp giải, dẫn giải phải đọc, giải
thích quyết định và lập biên bản về việc áp giải, dẫn giải theo quy định tại Điều
133 của Bộ luật này.
Cơ quan Công an nhân dân, Quân đội nhân dân có thẩm quyền
có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định áp giải, dẫn giải.
6. Không được bắt đầu việc áp giải, dẫn giải người vào ban
đêm; không được áp giải, dẫn giải người già yếu, người bị bệnh nặng có xác
nhận của cơ quan y tế.
Điều 128. Kê biên tài sản
1. Kê biên tài sản chỉ áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội
mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tiền hoặc có thể bị tịch thu tài sản hoặc
để bảo đảm bồi thường thiệt hại.
2. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113
của Bộ luật này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền ra lệnh kê biên tài sản.
Lệnh kê biên của những người được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ
luật này phải được thông báo ngay cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[58] trước khi thi hành.
3. Chỉ kê biên phần tài sản tương ứng với mức có thể bị phạt
tiền, bị tịch thu hoặc phải bồi thường thiệt hại. Tài sản bị kê biên được giao
cho chủ tài sản hoặc người quản lý hợp pháp hoặc người thân thích của họ bảo quản.
Người được giao bảo quản mà có hành vi tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất
giấu, hủy hoại tài sản bị kê biên thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định
của Bộ luật Hình sự.
4. Khi tiến hành kê biên tài sản phải có mặt những người:
a) Bị can, bị cáo hoặc người đủ 18 tuổi trở lên trong
gia đình hoặc người đại diện của bị can, bị cáo;
b) Đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã[59]
nơi có tài sản bị kê biên;
c) Người chứng kiến.
Người tiến hành kê biên phải lập biên bản, ghi rõ tên và
tình trạng từng tài sản bị kê biên. Biên bản được lập theo quy định tại Điều
178 của Bộ luật này, đọc cho những người có mặt nghe và cùng ký tên. Ý kiến,
khiếu nại của những người quy định tại điểm a khoản này liên quan đến việc kê
biên được ghi vào biên bản, có chữ ký xác nhận của họ và của người tiến hành
kê biên.
Biên bản kê biên được lập thành bốn bản, trong đó một bản
được giao ngay cho người được quy định tại điểm a khoản này sau khi kê biên
xong, một bản giao ngay cho Ủy ban nhân dân cấp xã[60]
nơi có tài sản bị kê biên, một bản gửi cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[61] và một bản đưa vào hồ sơ vụ án.
Điều 129. Phong tỏa tài khoản
1. Phong tỏa tài khoản chỉ áp dụng đối với người bị buộc tội
về tội mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tiền, bị tịch thu tài sản hoặc để
bảo đảm bồi thường thiệt hại khi có căn cứ xác định người đó có tài khoản tại tổ
chức tín dụng hoặc Kho bạc Nhà nước. Phong tỏa tài khoản cũng được áp dụng đối
với tài khoản của người khác nếu có căn cứ cho rằng số tiền trong tài khoản đó
liên quan đến hành vi phạm tội của người bị buộc tội.
2. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113
của Bộ luật này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền ra lệnh phong tỏa tài khoản.
Lệnh phong tỏa tài khoản của những người được quy định tại điểm a khoản 1 Điều
113 của Bộ luật này phải được thông báo ngay cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[62] trước khi thi hành.
3. Chỉ phong tỏa số tiền trong tài khoản tương ứng với mức
có thể bị phạt tiền, bị tịch thu tài sản hoặc bồi thường thiệt hại. Người được
giao thực hiện lệnh phong tỏa, quản lý tài khoản bị phong tỏa mà giải tỏa việc
phong tỏa tài khoản thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật
Hình sự.
4. Khi tiến hành phong tỏa tài khoản, cơ quan tiến hành tố
tụng có thẩm quyền phải giao quyết định phong tỏa tài khoản cho tổ chức tín dụng
hoặc Kho bạc Nhà nước đang quản lý tài khoản của người bị buộc tội hoặc tài khoản
của người khác có liên quan đến hành vi phạm tội của người bị buộc tội. Việc
giao, nhận lệnh phong tỏa tài khoản phải được lập thành biên bản theo quy định
tại Điều 178 của Bộ luật này.
Ngay sau khi nhận được lệnh phong tỏa tài khoản, tổ chức
tín dụng hoặc Kho bạc Nhà nước đang quản lý tài khoản của người bị bắt, bị tạm
giữ, bị can, bị cáo hoặc tài khoản của người khác có liên quan đến hành vi
phạm tội của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo phải thực hiện ngay việc
phong tỏa tài khoản và lập biên bản về việc phong tỏa tài khoản.
Biên bản về việc phong tỏa tài khoản được lập thành năm bản,
trong đó một bản được giao ngay cho người bị buộc tội, một bản giao cho người
khác có liên quan đến người bị buộc tội, một bản gửi cho Viện kiểm sát có thẩm
quyền[63], một bản đưa vào hồ sơ vụ án,
một bản lưu tại tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc Nhà nước.
Điều 130. Hủy bỏ biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài
khoản
1. Biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản đang
áp dụng phải được hủy bỏ khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án;
b) Đình chỉ điều tra đối với bị can, đình chỉ vụ án đối với
bị can;
c) Bị cáo được Tòa án tuyên không có tội;
d) Bị cáo không bị phạt tiền, tịch thu tài sản và bồi thường
thiệt hại.
2. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hủy bỏ biện pháp
kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản khi thấy không còn cần thiết.
Đối với biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản
trong giai đoạn điều tra, truy tố thì việc hủy bỏ hoặc thay thế phải thông báo
cho Viện kiểm sát trước khi quyết định.
Chương VIII
HỒ SƠ VỤ ÁN, VĂN BẢN TỐ TỤNG, THỜI HẠN VÀ CHI PHÍ TỐ
TỤNG
Điều 131. Hồ sơ vụ án
1. Khi tiến hành tố tụng trong giai đoạn khởi tố, điều tra,
Cơ quan điều tra phải lập hồ sơ vụ án.
2. Hồ sơ vụ án gồm:
a) Lệnh, quyết định, yêu cầu của Cơ quan điều tra, Viện kiểm
sát;
b) Các biên bản tố tụng do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát
lập;
c) Các chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án.
3. Các chứng cứ, tài liệu do Viện kiểm sát, Tòa án thu thập
trong giai đoạn truy tố, xét xử phải đưa vào hồ sơ vụ án.
4. Hồ sơ vụ án phải có thống kê tài liệu kèm theo. Thống kê
tài liệu ghi rõ tên tài liệu, số bút lục và đặc điểm của tài liệu (nếu có). Trường
hợp có bổ sung tài liệu vào hồ sơ vụ án thì phải có thống kê tài liệu bổ sung.
Hồ sơ vụ án phải được quản lý, lưu giữ, sử dụng theo quy định của pháp luật.
5.[64] Hồ sơ
vụ án được lập bằng văn bản giấy hoặc được số hóa theo quy định.
Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao quy định chi tiết khoản này.
Điều 132. Văn bản tố tụng
1. Văn bản tố tụng gồm lệnh, quyết định, yêu cầu, kết luận
điều tra, bản cáo trạng, bản án và các văn bản tố tụng khác trong hoạt động tố
tụng được lập theo mẫu thống nhất.
2. Văn bản tố tụng ghi rõ:
a) Số, ngày, tháng, năm, địa điểm ban hành văn bản tố tụng;
b) Căn cứ ban hành văn bản tố tụng;
c) Nội dung của văn bản tố tụng;
d) Họ tên, chức vụ, chữ ký của người ban hành văn bản tố tụng
và đóng dấu.
3.[65] Chữ
ký của người ban hành văn bản tố tụng là chữ ký trực tiếp hoặc chữ ký số.
Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao quy định chi tiết khoản này.
Điều 133. Biên bản
1. Khi tiến hành hoạt động tố tụng phải lập biên bản theo mẫu
thống nhất.
Biên bản ghi rõ địa điểm, giờ, ngày, tháng, năm tiến hành
tố tụng, thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc, nội dung của hoạt động tố tụng,
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng hoặc
người liên quan đến hoạt động tố tụng, khiếu nại, yêu cầu hoặc đề nghị của họ.
2. Biên bản phải có chữ ký của những người mà Bộ luật này
quy định. Những điểm sửa chữa, thêm, bớt, tẩy xóa trong biên bản phải được xác
nhận bằng chữ ký của họ.
Trường hợp người tham gia tố tụng không ký vào biên bản thì
người lập biên bản ghi rõ lý do và mời người chứng kiến ký vào biên bản.
Trường hợp người tham gia tố tụng không biết chữ thì người
lập biên bản đọc biên bản cho họ nghe với sự có mặt của người chứng kiến. Biên
bản phải có điểm chỉ của người tham gia tố tụng và chữ ký của người chứng kiến.
Trường hợp người tham gia tố tụng có nhược điểm về tâm thần
hoặc thể chất hoặc vì lý do khác mà không thể ký vào biên bản thì người lập
biên bản đọc biên bản cho họ nghe với sự có mặt của người chứng kiến và những
người tham gia tố tụng khác. Biên bản phải có chữ ký của người chứng kiến.
Điều 134. Tính thời hạn
1. Thời hạn mà Bộ luật này quy định được tính theo giờ,
ngày, tháng, năm. Đêm được tính từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau.
Khi tính thời hạn theo ngày thì thời hạn sẽ hết vào lúc 24
giờ ngày cuối cùng của thời hạn.
Khi tính thời hạn theo tháng thì thời hạn hết vào ngày
trùng của tháng sau; nếu tháng đó không có ngày trùng thì thời hạn hết vào ngày
cuối cùng của tháng đó; nếu thời hạn hết vào ngày nghỉ thì ngày làm việc đầu
tiên tiếp theo được tính là ngày cuối cùng của thời hạn.
Khi tính thời hạn tạm giữ, tạm giam thì thời hạn hết vào
ngày kết thúc thời hạn được ghi trong lệnh, quyết định. Nếu thời hạn được
tính bằng tháng thì 01 tháng được tính là 30 ngày.
2. Trường hợp có đơn hoặc giấy tờ gửi qua dịch vụ bưu
chính thì thời hạn được tính theo dấu bưu chính nơi gửi. Nếu có đơn hoặc giấy
tờ gửi qua cơ sở giam giữ thì thời hạn được tính từ ngày Trưởng Nhà tạm
giữ, Trưởng phân trại thuộc trại tạm giam[66],
Trưởng Buồng tạm giữ thuộc Đồn biên phòng, Giám thị Trại tạm giam, Giám
thị Trại giam nhận đơn hoặc giấy tờ đó.
Điều 135. Chi phí trong tố tụng hình sự[67]
1. Chi phí trong tố tụng hình sự gồm án phí, lệ phí và các
chi phí tố tụng.
2. Án phí gồm án phí sơ thẩm, phúc thẩm hình sự, án phí sơ
thẩm, phúc thẩm dân sự trong vụ án hình sự.
3. Lệ phí gồm lệ phí cấp bản sao bản án, quyết định, các giấy
tờ khác của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và các khoản lệ phí khác mà
pháp luật quy định.
4. Chi phí tố tụng gồm:
a) Chi phí cho người làm chứng, người phiên dịch, người dịch
thuật, người bào chữa trong trường hợp chỉ định người bào chữa;
b) Chi phí giám định, định giá tài sản;
c) Các khoản chi phí khác theo quy định của pháp luật.
5.[68] Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định cụ thể về chi phí tố tụng và việc miễn, giảm
chi phí tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
Điều 136. Trách nhiệm chi trả chi phí tố tụng, lệ phí
1.[69] Chi
phí quy định tại điểm a, chi phí định giá tài sản quy định tại điểm b và
chi phí quy định tại điểm c khoản 4 Điều 135 của Bộ luật này do các cơ
quan, người đã trưng cầu, yêu cầu, chỉ định chi trả; trường hợp Trung tâm
trợ giúp pháp lý nhà nước cử người bào chữa thì do Trung tâm này
chi trả. Chi phí giám định tư pháp thực hiện theo quy định của pháp luật về
giám định tư pháp.
2. Án phí do người bị kết án hoặc Nhà nước chịu theo quy định
của pháp luật. Người bị kết án phải trả án phí theo quyết định của Tòa án. Mức
án phí và căn cứ áp dụng được ghi rõ trong bản án, quyết định của Tòa án.
3. Trường hợp vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại, nếu
Tòa án tuyên bố bị cáo không có tội hoặc vụ án bị đình chỉ khi có căn cứ quy định
tại khoản 2 Điều 155 của Bộ luật này thì bị hại phải trả án phí.
4. Đối với các hoạt động tố tụng do người tham gia tố tụng
yêu cầu thì việc chi trả lệ phí, chi phí theo quy định của pháp luật.
Điều 137. Việc cấp, giao, chuyển, gửi, niêm yết hoặc thông
báo văn bản tố tụng
1. Việc cấp, giao, chuyển, gửi, niêm yết hoặc thông báo
văn bản tố tụng được thực hiện thông qua các phương thức:
a) Cấp, giao, chuyển trực tiếp;
b) Gửi qua dịch vụ bưu chính;
c) Niêm yết công khai;
d)[70] Thông
báo trên phương tiện thông tin đại chúng, qua nền tảng số, phần mềm
ứng dụng dùng chung triển khai tại Trung tâm dữ liệu quốc gia, cổng thông tin
hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan tiến hành tố tụng.
2. Việc cấp, giao, chuyển, gửi, niêm yết hoặc thông báo văn
bản tố tụng phải thực hiện theo quy định của Bộ luật này.
Điều 138. Thủ tục cấp, giao, chuyển trực tiếp văn bản tố tụng
1. Người thực hiện việc cấp, giao, chuyển văn bản tố tụng
phải trực tiếp chuyển giao cho người được nhận. Người nhận phải ký nhận vào
biên bản hoặc sổ giao nhận. Thời điểm để tính thời hạn tố tụng là ngày họ ký nhận
vào biên bản hoặc sổ giao nhận.
2. Trường hợp người được nhận văn bản tố tụng vắng mặt thì
văn bản tố tụng có thể được giao cho người thân thích của họ có đủ năng lực
hành vi dân sự ký nhận và yêu cầu người này cam kết giao lại ngay cho người được
nhận. Ngày ký nhận của người thân thích là ngày được cấp, giao văn bản tố tụng.
Trường hợp không thể giao cho người được nhận văn bản tố tụng
quy định tại khoản này thì có thể chuyển giao văn bản đó cho Ủy ban nhân dân cấp
xã[71] nơi người đó cư trú hoặc cơ
quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập để giao lại cho người được nhận.
Cơ quan, tổ chức phải thông báo ngay kết quả việc cấp, giao, gửi văn bản tố tụng
cho các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã yêu cầu. Ngày ký nhận
của cơ quan, tổ chức là ngày được cấp, giao văn bản tố tụng.
3. Trường hợp người được nhận văn bản tố tụng vắng mặt hoặc
không rõ địa chỉ thì người thực hiện việc cấp, giao phải lập biên bản về việc
không thực hiện được việc cấp, giao, có xác nhận của đại diện cơ quan, tổ chức
nơi người đó cư trú, làm việc, học tập.
Trường hợp người được nhận văn bản tố tụng từ chối nhận văn
bản tố tụng thì người thực hiện việc cấp, giao phải lập biên bản về việc từ chối
và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã[72]
nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập.
4. Trường hợp người được cấp, giao văn bản tố tụng
là cơ quan, tổ chức thì văn bản tố tụng được giao trực tiếp cho người đại diện
của cơ quan, tổ chức đó và phải được người này ký nhận. Thời điểm để tính thời
hạn tố tụng là ngày họ ký nhận vào biên bản hoặc sổ giao nhận.
Điều 139. Thủ tục gửi văn bản tố tụng qua dịch vụ bưu chính
Việc gửi văn bản tố tụng qua dịch vụ bưu chính phải bằng
thư bảo đảm và có xác nhận của người nhận văn bản tố tụng. Văn bản có xác nhận
phải được chuyển lại cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Thời điểm để
tính thời hạn tố tụng là ngày họ xác nhận đã nhận được văn bản tố tụng.
Điều 140. Thủ tục niêm yết công khai văn bản tố tụng
1. Việc niêm yết công khai văn bản tố tụng được thực hiện
khi không rõ địa chỉ hoặc không rõ người được cấp, giao đang ở đâu.
2. Việc niêm yết công khai văn bản tố tụng được thực hiện tại
trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã[73] nơi
cuối cùng người được cấp, giao văn bản tố tụng cư trú hoặc cơ quan, tổ
chức nơi cuối cùng người đó làm việc, học tập.
Văn bản tố tụng phải được niêm yết công khai ít nhất là 15
ngày kể từ ngày niêm yết. Việc niêm yết công khai được lập biên bản ghi rõ
ngày, tháng, năm niêm yết.
Thời điểm để tính thời hạn tố tụng là ngày kết thúc việc
niêm yết.
Điều 141. Thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại
chúng, qua nền tảng số, phần mềm ứng dụng dùng chung triển khai tại Trung tâm dữ
liệu quốc gia, cổng thông tin hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan tiến
hành tố tụng[74]
1. Việc thông báo văn bản tố tụng trên phương tiện thông
tin đại chúng, qua nền tảng số, phần mềm ứng dụng dùng chung triển khai tại Trung
tâm dữ liệu quốc gia, cổng thông tin hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan
tiến hành tố tụng được thực hiện khi việc niêm yết công khai không có kết quả
hoặc các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
2. Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng được đăng
trên báo hàng ngày của trung ương trong 03 số liên tiếp và phát sóng trên Đài
Phát thanh hoặc Đài Truyền hình của trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp.
Thời điểm để tính thời hạn tố tụng là ngày kết thúc việc
thông báo.
3. Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ
Quốc phòng, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao quy định chi tiết Điều này.
Điều 142. Trách nhiệm cấp, giao, chuyển, gửi, niêm yết,
thông báo văn bản tố tụng
1. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải cấp,
giao, chuyển, gửi, niêm yết, thông báo văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng,
cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định của Bộ luật này.
2. Người được giao trách nhiệm cấp, giao, chuyển, gửi, niêm
yết, thông báo văn bản tố tụng nhưng không thực hiện, thực hiện không đầy đủ
theo quy định của Bộ luật này thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ
luật, xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
Phần thứ hai
KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
Chương IX
KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ
Điều 143. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự
Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm.
Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:
1. Tố giác của cá nhân;
2. Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
3. Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;
4. Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;
5. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát
hiện dấu hiệu tội phạm;
6. Người phạm tội tự thú.
Điều 144. Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
1. Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo
hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền.
2. Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu
tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc
thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng.
3. Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền
kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho Cơ
quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu
tội phạm.
4. Tố giác, tin báo về tội phạm có thể bằng lời hoặc bằng
văn bản.
5. Người nào cố ý tố giác, báo tin về tội phạm sai sự
thật thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm
hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật.
Điều 145. Trách nhiệm tiếp nhận và thẩm quyền giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
1. Mọi tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải
được tiếp nhận đầy đủ, giải quyết kịp thời. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm
tiếp nhận không được từ chối tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị
khởi tố.
2. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin
báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gồm:
a) Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiếp nhận tố giác, tin
báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;
b) Cơ quan, tổ chức khác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội
phạm.
3. Thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến
nghị khởi tố:
a) Cơ quan điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm,
kiến nghị khởi tố theo thẩm quyền điều tra của mình;
b) Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm theo thẩm quyền điều tra của mình;
c) Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm,
kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm
trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị
khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn
bản nhưng không được khắc phục.
4. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm, kiến nghị khởi tố có trách nhiệm thông báo kết quả giải quyết cho cá
nhân, cơ quan, tổ chức đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
Điều 146. Thủ tục tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm,
kiến nghị khởi tố
1. Khi cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp tố giác, báo tin
về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, cơ quan
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền quy
định tại khoản 2 Điều 145 của Bộ luật này phải lập biên bản tiếp nhận
và ghi vào sổ tiếp nhận; có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh việc tiếp
nhận.
Trường hợp tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
gửi qua dịch vụ bưu chính, điện thoại hoặc qua phương tiện thông tin khác thì
ghi vào sổ tiếp nhận.
2. Trường hợp phát hiện tố giác, tin báo về tội phạm, kiến
nghị khởi tố không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì Cơ quan điều tra,
cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm
chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố kèm theo tài liệu
có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
Viện kiểm sát có trách nhiệm chuyển ngay tố giác,
tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố kèm theo tài liệu có liên quan đã tiếp
nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
Trường hợp quy định tại điểm c khoản 3 Điều 145 của Bộ luật
này thì trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày Viện kiểm sát có yêu cầu, cơ quan có
thẩm quyền đang thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi
tố đó phải chuyển hồ sơ có liên quan cho Viện kiểm sát để xem xét, giải quyết.
3.[75] Công
an cấp xã[76], Đồn Công an có trách nhiệm tiếp
nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận, tiến hành kiểm tra,
xác minh sơ bộ và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu,
đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
4. Các cơ quan, tổ chức khác sau khi nhận được tố giác, tin
báo về tội phạm thì chuyển ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Trường hợp
khẩn cấp thì có thể báo tin trực tiếp qua điện thoại hoặc hình thức khác cho Cơ
quan điều tra nhưng sau đó phải thể hiện bằng văn bản.
5. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày tiếp nhận tố giác, tin
báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về việc
tiếp nhận đó cho[77] Viện
kiểm sát có thẩm quyền.
Điều 147. Thời hạn, thủ tục giải quyết tố giác, tin báo về
tội phạm, kiến nghị khởi tố
1. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin
báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra phải kiểm tra, xác minh và ra một trong các
quyết định:
a) Quyết định khởi tố vụ án hình sự;
b) Quyết định không khởi tố vụ án hình sự;
c) Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
2. Trường hợp vụ việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc
kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại
nhiều địa điểm thì thời hạn giải quyết tố giác, tin báo, kiến nghị khởi tố có
thể kéo dài nhưng không quá 02 tháng. Trường hợp chưa thể kết thúc việc kiểm
tra, xác minh trong thời hạn quy định tại khoản này thì[78]
Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền có thể gia hạn một lần nhưng
không quá 02 tháng.
Chậm nhất là 05 ngày trước khi hết thời hạn kiểm tra, xác
minh quy định tại khoản này, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra phải có văn bản đề nghị[79]
Viện kiểm sát có thẩm quyền gia hạn thời hạn kiểm tra, xác minh.
3. Khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị
khởi tố, cơ quan có thẩm quyền có quyền tiến hành các hoạt động:
a) Thu thập thông tin, tài liệu, đồ vật từ cơ quan, tổ chức,
cá nhân có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin;
b) Khám nghiệm hiện trường;
c) Khám nghiệm tử thi;
d) Trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản.
4. Trình tự, thủ tục, thời hạn Viện kiểm sát giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố được thực hiện theo quy định tại
Điều này.
Điều 148. Tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về
tội phạm, kiến nghị khởi tố
1. Hết thời hạn quy định tại Điều 147 của Bộ luật này, cơ
quan có thẩm quyền giải quyết quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác,
tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố khi thuộc một trong các trường hợp:
a)[80] Đã
trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản nhưng chưa có kết quả; đã yêu cầu
nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa kết thúc theo quy định của Luật Tương
trợ tư pháp về hình sự;
b) Đã yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu,
đồ vật quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với việc khởi tố hoặc không khởi tố
vụ án nhưng chưa có kết quả;
c)[81] Không
thể kết thúc việc kiểm tra, xác minh để quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ
án vì lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh.
Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ
trưởng Bộ Quốc phòng và thủ trưởng các cơ quan khác có liên quan quy định chi
tiết điểm này.
2. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định tạm đình
chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều
tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải gửi
quyết định tạm đình chỉ kèm theo tài liệu liên quan đến[82]
Viện kiểm sát có thẩm quyền để kiểm sát và gửi quyết định tạm đình chỉ đó
cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
Trường hợp quyết định tạm đình chỉ không có căn cứ thì Viện
kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ để tiếp tục giải quyết.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ,
Viện kiểm sát phải gửi quyết định đó cho Cơ quan điều tra, cơ quan được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố
giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Thời hạn giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố tiếp không quá 01 tháng kể từ ngày Cơ quan
điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận
được quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ.
3.[83] Trường
hợp tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
thì việc giám định, định giá tài sản tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết
quả; việc tương trợ tư pháp tiếp tục được tiến hành cho đến khi kết thúc theo
quy định của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự.
Điều 149. Phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm,
kiến nghị khởi tố
1.[84] Khi
lý do tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi
tố không còn, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định phục hồi giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm,
kiến nghị khởi tố tiếp không quá 01 tháng kể từ ngày ra quyết định phục hồi.
2. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định phục hồi
giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều
tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải gửi
quyết định phục hồi cho[85] Viện
kiểm sát có thẩm quyền, cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội
phạm, kiến nghị khởi tố.
Điều 150. Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
1. Tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về
tội phạm, kiến nghị khởi tố do Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp giải quyết.
Tranh chấp thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra do Viện kiểm
sát có thẩm quyền giải quyết.
2.[86] Tranh
chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
giữa các Cơ quan điều tra quân sự khu vực thuộc các quân khu khác nhau do Viện
kiểm sát quân sự cấp quân khu nơi đầu tiên tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm,
kiến nghị khởi tố giải quyết.
3. Tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về
tội phạm, kiến nghị khởi tố giữa các Cơ quan điều tra của Công an nhân dân, Cơ
quan điều tra trong Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân
dân tối cao do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao giải quyết.
Điều 151. Giải quyết vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện
Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện
dấu hiệu tội phạm thì quyết định việc khởi tố vụ án theo thẩm quyền hoặc chuyển
cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết.
Điều 152. Người phạm tội tự thú, đầu thú
1. Khi người phạm tội đến tự thú, đầu thú, cơ quan, tổ chức
tiếp nhận phải lập biên bản ghi rõ họ tên, tuổi, nghề nghiệp, chỗ ở và lời khai
của người tự thú, đầu thú. Cơ quan, tổ chức tiếp nhận người phạm tội tự thú,
đầu thú có trách nhiệm thông báo ngay cho Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát.
2. Trường hợp xác định tội phạm do người tự thú, đầu thú
thực hiện không thuộc thẩm quyền điều tra của mình thì Cơ quan điều tra tiếp nhận
người tự thú, đầu thú phải thông báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền
để tiếp nhận, giải quyết.
3. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi tiếp nhận người phạm tội
tự thú, đầu thú, Cơ quan điều tra có thẩm quyền phải thông báo bằng văn bản
cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[87].
Điều 153. Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự
1. Cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với
tất cả vụ việc có dấu hiệu tội phạm, trừ những vụ việc do cơ quan được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Hội đồng xét
xử đang thụ lý, giải quyết quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều
này.
2. Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp quy định tại Điều 164
của Bộ luật này.
3. Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong
trường hợp:
a) Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình
sự của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra;
b) Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm, kiến nghị khởi tố;
c) Viện kiểm sát trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm hoặc
theo yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử.
4.[88] Hội đồng
xét xử yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại
phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm.
Điều 154. Quyết định khởi tố vụ án hình sự
1. Quyết định khởi tố vụ án hình sự phải ghi rõ căn cứ khởi
tố, điều, khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng và các nội dung quy định tại
khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.
2.[89] Trong
thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát phải
gửi quyết định đó đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền để tiến hành điều tra.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án
hình sự, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra phải gửi quyết định đó kèm theo tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát
có thẩm quyền để kiểm sát việc khởi tố.
Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại
1.[90] Chỉ
được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều
134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 của Bộ luật Hình sự khi có yêu cầu
của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược
điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.
2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ
án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút
yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người
đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp
tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.
3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi
tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng
bức.
Điều 156. Thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án
hình sự
1. Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố
vụ án hình sự khi có căn cứ xác định tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi
phạm tội xảy ra; ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự khi có
căn cứ xác định còn tội phạm khác chưa bị khởi tố.
2. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định thay đổi
hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, Cơ quan điều tra, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải gửi quyết định kèm theo
các tài liệu liên quan đến việc thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án
hình sự cho[91] Viện
kiểm sát có thẩm quyền để kiểm sát việc khởi tố.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định thay đổi hoặc
bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát phải gửi cho Cơ quan điều
tra để tiến hành điều tra.
Điều 157. Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự
Không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong các căn cứ
sau:
1. Không có sự việc phạm tội;
2. Hành vi không cấu thành tội phạm;
3. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi
chịu trách nhiệm hình sự;
4. Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết
định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;
5. Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
6. Tội phạm đã được đại xá;
7. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ
trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;
8.[92] Tội
phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và
156 của Bộ luật Hình sự mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu
khởi tố.
Điều 158. Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định
hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự
1. Khi có một trong các căn cứ quy định tại Điều 157 của Bộ
luật này thì người có quyền khởi tố vụ án ra quyết định không khởi tố vụ án
hình sự; nếu đã khởi tố thì phải ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ
án hình sự và thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về
tội phạm, kiến nghị khởi tố biết rõ lý do; nếu xét thấy cần xử lý bằng biện
pháp khác thì chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ
quyết định khởi tố vụ án hình sự và các tài liệu có liên quan phải gửi cho[93] Viện kiểm sát có thẩm quyền
trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác hoặc báo tin về tội
phạm có quyền khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Thẩm quyền và
thủ tục giải quyết khiếu nại được thực hiện theo quy định tại Chương XXXIII
của Bộ luật này.
Điều 159. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực
hành quyền công tố trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm
1. Phê chuẩn, không phê chuẩn việc bắt người bị giữ trong
trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ; phê chuẩn, không phê chuẩn các biện pháp
khác hạn chế quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết nguồn tin về
tội phạm theo quy định của Bộ luật này.
2. Khi cần thiết, đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh và yêu cầu
cơ quan có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm thực hiện.
3. Quyết định gia hạn thời hạn giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm, kiến nghị khởi tố; quyết định khởi tố vụ án hình sự.
4. Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra khởi tố vụ án hình sự.
5. Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến
nghị khởi tố trong các trường hợp do Bộ luật này quy định.
6. Hủy bỏ quyết định tạm giữ, quyết định khởi tố vụ án
hình sự, quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định tạm đình chỉ giải
quyết nguồn tin về tội phạm và các quyết định tố tụng khác trái pháp luật của
Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra.
7. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc thực hành
quyền công tố theo quy định của Bộ luật này nhằm chống bỏ lọt tội phạm, chống
làm oan người vô tội.
Điều 160. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong việc
tiếp nhận và kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm
1. Tiếp nhận đầy đủ tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị
khởi tố do cơ quan, tổ chức, cá nhân chuyển đến, tiếp nhận người phạm tội tự
thú, đầu thú và chuyển ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết.
2. Kiểm sát việc tiếp nhận, trực tiếp kiểm sát, kiểm sát việc
kiểm tra, xác minh và việc lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm của Cơ
quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;
kiểm sát việc tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm; kiểm sát việc
phục hồi giải quyết nguồn tin về tội phạm.
3. Khi phát hiện việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội
phạm không đầy đủ, vi phạm pháp luật thì yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện các hoạt động:
a) Tiếp nhận, kiểm tra, xác minh, ra quyết định giải quyết
nguồn tin về tội phạm đầy đủ, đúng pháp luật;
b) Kiểm tra việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm
và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát;
c) Cung cấp tài liệu về vi phạm pháp luật trong việc tiếp
nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm;
d) Khắc phục vi phạm pháp luật và xử lý nghiêm người vi phạm;
đ) Yêu cầu thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra.
4. Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết nguồn tin
về tội phạm.
5. Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra cung cấp tài liệu liên quan để kiểm sát việc giải
quyết nguồn tin về tội phạm.
6. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát việc
tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm theo quy định của Bộ luật này.
Điều 161. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực
hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự
1. Khi thực hành quyền công tố trong việc khởi tố vụ án
hình sự, Viện kiểm sát có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố
vụ án hình sự;
b) Hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ
sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định không khởi tố vụ án hình
sự không có căn cứ và trái pháp luật;
c)[94] (được
bãi bỏ)
d) Khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án
hình sự trong các trường hợp do Bộ luật này quy định;
đ) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác để thực hành
quyền công tố trong việc khởi tố vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật này.
2. Khi kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát
có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố của
Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra, bảo đảm mọi tội phạm được phát hiện đều phải được khởi tố, việc khởi tố vụ
án có căn cứ và đúng pháp luật;
b) Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra cung cấp tài liệu liên quan để kiểm sát việc khởi
tố vụ án hình sự;
c) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát việc
khởi tố vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật này.
Điều 162. Trách nhiệm của Cơ quan điều tra, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong việc thực hiện yêu cầu,
quyết định của Viện kiểm sát trong việc khởi tố
1. Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra phải thực hiện yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát
trong việc khởi tố.
2. Đối với quyết định quy định tại khoản 1 và khoản 6 Điều
159, điểm b khoản 1 Điều 161 của Bộ luật này, nếu không nhất trí, Cơ quan điều
tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra vẫn phải thực
hiện nhưng có quyền kiến nghị với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong thời
hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị của Cơ quan điều tra hoặc trong thời
hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xem xét,
giải quyết và thông báo kết quả giải quyết cho cơ quan đã kiến nghị.
Chương X
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
Điều 163. Thẩm quyền điều tra
1. Cơ quan điều tra của Công an nhân dân điều tra tất cả
các tội phạm, trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra
trong Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
2. Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân điều tra các tội
phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự.
3. Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan
điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương điều tra tội phạm xâm phạm hoạt động
tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ quy định tại Chương XXIII và Chương
XXIV của Bộ luật Hình sự xảy ra trong hoạt động tư pháp mà người phạm tội là
cán bộ, công chức thuộc Cơ quan điều tra, Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi
hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp.
4. Cơ quan điều tra có thẩm quyền điều tra những vụ án hình
sự mà tội phạm xảy ra trên địa phận của mình. Trường hợp tội phạm được thực hiện
tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm thì
việc điều tra thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra nơi phát hiện tội phạm, nơi
bị can cư trú hoặc bị bắt.
5. Việc phân cấp thẩm quyền điều tra như sau:
a)[95] Cơ quan điều tra cấp tỉnh điều
tra vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân
cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực;
b)[96] Cơ
quan điều tra quân sự khu vực điều tra vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm
quyền xét xử của Tòa án quân sự khu vực; Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu
điều tra vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án
quân sự cấp quân khu hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều
tra cấp khu vực nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra;
c) Cơ quan điều tra Bộ Công an, Cơ quan điều tra Bộ
Quốc phòng điều tra vụ án hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do Hội đồng
thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy để điều tra lại; vụ án hình sự về tội phạm
đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố[97], vụ án hình sự về tội phạm đặc
biệt nghiêm trọng, phức tạp liên quan đến nhiều quốc gia nếu xét thấy cần
trực tiếp điều tra.
Điều 164. Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan của Bộ đội
biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư và cơ quan
khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra
1. Khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm trong lĩnh vực
và địa bàn quản lý của mình thì các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan,
Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư được giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra có nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội
quả tang, chứng cứ và lý lịch người phạm tội rõ ràng thì quyết định khởi tố vụ
án hình sự, khởi tố bị can, tiến hành điều tra và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện
kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày ra quyết định khởi tố
vụ án hình sự;
b) Đối với tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng,
tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp thì
quyết định khởi tố vụ án hình sự, tiến hành hoạt động điều tra ban đầu và
chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày kể
từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.
2. Trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, ngoài các Cơ
quan điều tra quy định tại Điều 163 của Bộ luật này, các cơ quan khác được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong khi làm nhiệm vụ của mình, nếu
phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm thì có quyền khởi tố vụ án hình sự, tiến
hành hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra có
thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.
3. Các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm,
lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư, cơ quan khác trong Công an nhân dân, Quân
đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải thực
hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 39 và Điều 40 của Bộ luật này
và thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự, thủ tục tố tụng đối với hoạt động điều
tra do Bộ luật này quy định. Viện kiểm sát có trách nhiệm thực hành quyền công
tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của các cơ
quan này.
4. Thẩm quyền điều tra cụ thể của các cơ quan của Bộ đội
biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư và cơ quan
khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra thực hiện theo quy định của Luật Tổ chức cơ quan điều tra
hình sự.
Điều 165. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực
hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
1. Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố
vụ án hình sự, khởi tố bị can.
2. Phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết định
thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can không có căn cứ và trái pháp luật.
3. Khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án
hình sự, khởi tố bị can trong các trường hợp do Bộ luật này quy định.
4. Phê chuẩn, không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong
trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, việc tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để
bảo đảm, khám xét, thu giữ, tạm giữ đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu
phẩm, áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; phê chuẩn, không phê chuẩn
các quyết định tố tụng khác không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều
tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định
của Bộ luật này; hủy bỏ các quyết định tố tụng không có căn cứ và trái pháp luật
của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra. Trường hợp không phê chuẩn hoặc hủy bỏ thì trong quyết định không phê chuẩn
hoặc hủy bỏ phải nêu rõ lý do.
5. Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn,
biện pháp cưỡng chế theo quy định của Bộ luật này.
6. Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành điều tra
để làm rõ tội phạm, người phạm tội; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can, áp
dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.
7. Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong trường
hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xét phê chuẩn lệnh, quyết định
của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra hoặc trường hợp phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm, vi phạm
pháp luật mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục
hoặc trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi quyết định việc
truy tố.
8. Khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện hành vi của người có
thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
và trong việc khởi tố, điều tra có dấu hiệu tội phạm; yêu cầu Cơ quan điều tra
khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện hành vi của người có thẩm quyền trong việc
giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố,
điều tra có dấu hiệu tội phạm.
9. Quyết định việc gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn tạm
giam; quyết định chuyển vụ án, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt
buộc chữa bệnh; hủy bỏ quyết định tách, nhập vụ án.
10. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc thực hành
quyền công tố theo quy định của Bộ luật này.
Điều 166. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm
sát điều tra vụ án hình sự
1. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố,
điều tra và lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra.
2. Kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự của người tham gia tố
tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý nghiêm
minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật.
3. Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra.
4. Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra cung cấp tài liệu liên quan để kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong việc khởi tố, điều tra khi cần thiết.
5. Khi phát hiện việc điều tra không đầy đủ, vi phạm pháp
luật thì Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra thực hiện các hoạt động:
a) Tiến hành hoạt động điều tra đúng pháp luật;
b) Kiểm tra việc điều tra và thông báo kết quả cho Viện kiểm
sát;
c) Cung cấp tài liệu liên quan đến hành vi, quyết định tố tụng
có vi phạm pháp luật trong việc điều tra.
6. Kiến nghị, yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khắc phục vi phạm trong việc khởi
tố, điều tra.
7. Yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra, cơ quan được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều
tra, xử lý nghiêm minh Điều tra viên, Cán bộ điều tra vi phạm pháp luật trong
hoạt động tố tụng.
8. Kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện
pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật.
9. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc kiểm sát điều
tra vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật này.
Điều 167. Trách nhiệm của Cơ quan điều tra, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong việc thực hiện yêu cầu,
quyết định của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra
1. Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra phải thực hiện yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát trong
giai đoạn điều tra.
2. Đối với quyết định quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều
165 của Bộ luật này nếu không nhất trí, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra vẫn phải thực hiện nhưng có quyền kiến
nghị với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận
được kiến nghị của Cơ quan điều tra hoặc trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận
được kiến nghị của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết và thông báo kết
quả giải quyết cho cơ quan đã kiến nghị.
Điều 168. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức,
cá nhân trong việc thực hiện quyết định, yêu cầu của Cơ quan điều tra, cơ quan
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát
Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải nghiêm chỉnh thực hiện quyết
định, yêu cầu của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra, Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự; trường
hợp không chấp hành mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại
khách quan thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều 169. Chuyển vụ án để điều tra
1. Viện kiểm sát có thẩm quyền[98]
quyết định việc chuyển vụ án để điều tra khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Cơ quan điều tra cùng cấp xét thấy vụ án không thuộc thẩm
quyền điều tra và đề nghị chuyển vụ án;
b) Cơ quan điều tra cấp trên rút vụ án để điều tra;
c) Điều tra viên bị thay đổi là Thủ trưởng Cơ quan điều tra;
d) Viện kiểm sát đã yêu cầu chuyển vụ án mà Cơ quan điều
tra không thực hiện.
2. Việc chuyển vụ án ra ngoài phạm vi tỉnh, thành phố[99] hoặc ngoài phạm vi quân khu do
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu quyết định.
3. Thủ tục chuyển vụ án để điều tra theo thẩm quyền:
a) Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị của
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền phải ra quyết định chuyển vụ án;
b) Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định chuyển vụ
án, Viện kiểm sát phải gửi quyết định đó đến Cơ quan điều tra đang điều tra vụ
án, Cơ quan điều tra có thẩm quyền tiếp tục điều tra vụ án, bị can hoặc người đại
diện của bị can, người bào chữa, bị hại và Viện kiểm sát có thẩm quyền.
4. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định
chuyển vụ án, Cơ quan điều tra đang điều tra vụ án có trách nhiệm chuyển hồ sơ
vụ án cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền để tiếp tục điều tra.
5. Thời hạn điều tra được tính tiếp từ ngày Cơ quan điều
tra nhận được hồ sơ vụ án cho đến hết thời hạn điều tra vụ án theo quy định của
Bộ luật này. Trường hợp hết thời hạn điều tra mà không thể kết thúc việc điều
tra thì Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, quyết định gia hạn điều tra theo
thủ tục chung quy định tại Bộ luật này.
Điều 170. Nhập hoặc tách vụ án hình sự để tiến hành điều
tra
1. Cơ quan điều tra có thể nhập để tiến hành điều tra theo
thẩm quyền trong cùng một vụ án khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Bị can phạm nhiều tội;
b) Bị can phạm tội nhiều lần;
c) Nhiều bị can cùng thực hiện một tội phạm
hoặc cùng với bị can còn có những người khác che giấu tội phạm hoặc không tố
giác tội phạm, tiêu thụ tài sản do bị can phạm tội mà có.
2. Cơ quan điều tra chỉ được tách vụ án trong trường hợp cần
thiết khi không thể hoàn thành sớm việc điều tra đối với tất cả các tội phạm và
nếu việc tách đó không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện
của vụ án.
3. Quyết định nhập hoặc tách vụ án phải gửi cho Viện kiểm
sát có thẩm quyền[100]
trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định. Trường hợp không nhất trí với
quyết định nhập hoặc tách vụ án của Cơ quan điều tra thì Viện kiểm sát ra quyết
định hủy bỏ và nêu rõ lý do.
Điều 171. Ủy thác điều tra
1.[101] Khi
cần thiết, Cơ quan điều tra ủy thác cho Cơ quan điều tra khác tiến hành một số
hoạt động điều tra. Quyết định ủy thác điều tra phải ghi rõ yêu cầu và gửi cho
Cơ quan điều tra được ủy thác, Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công
tố, kiểm sát đối với hoạt động điều tra được ủy thác.
2. Cơ quan điều tra được ủy thác phải thực hiện đầy đủ những
việc được ủy thác trong thời hạn mà Cơ quan điều tra ủy thác yêu cầu và chịu
trách nhiệm trước pháp luật về kết quả thực hiện ủy thác điều tra. Trường hợp
không thực hiện được việc ủy thác thì phải có ngay văn bản nêu rõ lý do gửi Cơ
quan điều tra đã ủy thác.
3.[102] Viện
kiểm sát có thẩm quyền có trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát đối với
hoạt động điều tra được ủy thác và phải chuyển ngay kết quả cho Viện kiểm sát
đã ủy thác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra.
Điều 172. Thời hạn điều tra
1. Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 02 tháng đối với
tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng,
không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.
2. Trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của
vụ án thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn điều tra, Cơ quan điều
tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn điều tra.
Việc gia hạn điều tra được quy định như sau:
a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều
tra một lần không quá 02 tháng;
b) Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều
tra hai lần, lần thứ nhất không quá 03 tháng và lần thứ hai không quá 02 tháng;
c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều
tra hai lần, mỗi lần không quá 04 tháng;
d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn
điều tra ba lần, mỗi lần không quá 04 tháng.
3. Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà thời hạn gia hạn
điều tra đã hết nhưng do tính chất rất phức tạp của vụ án mà chưa thể kết thúc
việc điều tra thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể gia hạn
thêm một lần không quá 04 tháng.
Đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng.
4. Trường hợp thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ
án hình sự, nhập vụ án thì tổng thời hạn điều tra không vượt quá thời hạn quy định
tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này.
5. Thẩm quyền gia hạn điều tra của Viện kiểm sát:
a)[103] Đối
với tội phạm ít nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân khu vực, Viện kiểm sát
quân sự khu vực gia hạn điều tra. Trường hợp vụ án do Viện kiểm sát nhân dân cấp
tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu thực hành quyền công tố, kiểm sát điều
tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia
hạn điều tra;
b)[104] Đối
với tội phạm nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân khu vực, Viện kiểm sát
quân sự khu vực gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai. Trường hợp vụ án
do Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu thực
hành quyền công tố, kiểm sát điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện
kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai;
c)[105] Đối
với tội phạm rất nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân khu vực, Viện kiểm sát
quân sự khu vực gia hạn điều tra lần thứ nhất; Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh,
Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ hai. Trường hợp vụ
án do Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu thực
hành quyền công tố, kiểm sát điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện
kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai;
d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì Viện kiểm sát
nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ
nhất và lần thứ hai; Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự
trung ương gia hạn điều tra lần thứ ba.
6. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra Bộ Công an, Cơ
quan điều tra Bộ Quốc phòng, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân
tối cao thụ lý điều tra thì việc gia hạn điều tra thuộc thẩm quyền của Viện kiểm
sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương.
Điều 173. Thời hạn tạm giam để điều tra
1. Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá 02 tháng
đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng,
không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng.
2. Trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải
có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy
bỏ biện pháp tạm giam thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn tạm
giam, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn tạm giam.
Việc gia hạn tạm giam được quy định như sau:
a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm
giam một lần không quá 01 tháng;
b) Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm
giam một lần không quá 02 tháng;
c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm
giam một lần không quá 03 tháng;
d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn
tạm giam hai lần, mỗi lần không quá 04 tháng.
3. Thẩm quyền gia hạn tạm giam của Viện kiểm sát:
a)[106] Viện
kiểm sát nhân dân khu vực, Viện kiểm sát quân sự khu vực có quyền gia hạn tạm
giam đối với tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất
nghiêm trọng. Trường hợp vụ án do Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm
sát quân sự cấp quân khu thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra thì Viện
kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có quyền gia hạn
tạm giam đối với tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất
nghiêm trọng.
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp
quân khu gia hạn tạm giam lần thứ nhất đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
b) Trường hợp thời hạn gia hạn tạm giam lần thứ nhất quy định
tại điểm a khoản này đã hết mà chưa thể kết thúc việc điều tra và không có căn
cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh,
Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có thể gia hạn tạm giam lần thứ hai đối với
tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
4. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra Bộ Công an, Cơ
quan điều tra Bộ Quốc phòng, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân
tối cao thụ lý điều tra thì việc gia hạn tạm giam thuộc thẩm quyền của Viện kiểm
sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương.
5. Trường hợp cần thiết đối với tội xâm phạm an ninh quốc
gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần
không quá 04 tháng. Trường hợp thời hạn gia hạn tạm giam quy định tại khoản này
đã hết mà chưa thể kết thúc việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy
bỏ biện pháp tạm giam thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền
gia hạn thêm một lần nhưng không quá 01 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng,
không quá 02 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với
tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Trường hợp đặc biệt đối với tội phạm đặc
biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia mà không có căn cứ để hủy bỏ
biện pháp tạm giam thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định việc
tạm giam cho đến khi kết thúc việc điều tra.
6. Trường hợp cần thiết đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
không phải là tội xâm phạm an ninh quốc gia và không có căn cứ để thay đổi hoặc
hủy bỏ biện pháp tạm giam thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền
gia hạn thêm một lần nhưng không quá 04 tháng; trường hợp đặc biệt không có căn
cứ để hủy bỏ biện pháp tạm giam thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
quyết định việc tạm giam cho đến khi kết thúc việc điều tra.
7. Trong thời hạn tạm giam, nếu xét thấy không cần thiết
phải tiếp tục tạm giam thì Cơ quan điều tra phải kịp thời đề nghị Viện kiểm sát
hủy bỏ việc tạm giam để trả tự do cho người bị tạm giam hoặc xét thấy cần
thiết thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.
Khi đã hết thời hạn tạm giam thì người bị tạm giam phải được
trả tự do. Trường hợp xét thấy cần thiết thì cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.
Điều 174. Thời hạn phục hồi điều tra, điều tra bổ sung, điều
tra lại
1. Trường hợp phục hồi điều tra quy định tại Điều 235 của Bộ
luật này thì thời hạn điều tra tiếp không quá 02 tháng đối với tội phạm ít
nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và không quá 03 tháng đối với tội phạm rất
nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ khi có quyết định phục hồi
điều tra cho đến khi kết thúc điều tra.
Trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ
án thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn điều tra, Cơ quan điều tra
phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn điều tra.
Việc gia hạn điều tra được quy định như sau:
a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều
tra một lần không quá 01 tháng;
b) Đối với tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng
có thể được gia hạn điều tra một lần không quá 02 tháng;
c) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn
điều tra một lần không quá 03 tháng.
Thẩm quyền gia hạn điều tra đối với từng loại tội phạm theo
quy định tại khoản 5 Điều 172 của Bộ luật này.
2. Trường hợp vụ án do Viện kiểm sát trả lại để yêu cầu điều
tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không quá 02 tháng; nếu do Tòa án trả
lại để yêu cầu điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không quá 01
tháng. Viện kiểm sát chỉ được trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung hai lần. Thẩm
phán chủ tọa phiên tòa chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sung một lần và Hội đồng
xét xử chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sung một lần.
Thời hạn điều tra bổ sung tính từ ngày Cơ quan điều tra nhận
lại hồ sơ vụ án và yêu cầu điều tra bổ sung.
3. Trường hợp vụ án được trả lại để điều tra lại thì thời hạn
điều tra và gia hạn điều tra thực hiện theo quy định tại Điều 172 của Bộ luật
này.
Thời hạn điều tra được tính từ khi Cơ quan điều tra nhận hồ
sơ và yêu cầu điều tra lại.
4. Khi phục hồi điều tra, điều tra bổ sung, điều tra lại,
Cơ quan điều tra có quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện
pháp cưỡng chế theo quy định của Bộ luật này.
Trường hợp có căn cứ theo quy định của Bộ luật này cần phải
tạm giam thì thời hạn tạm giam để phục hồi điều tra, điều tra bổ sung không được
quá thời hạn phục hồi điều tra, điều tra bổ sung quy định tại khoản 1 và khoản
2 Điều này.
Thời hạn tạm giam và gia hạn tạm giam trong trường hợp vụ
án được điều tra lại thực hiện theo quy định tại Điều 173 của Bộ luật này.
Điều 175. Giải quyết yêu cầu, đề nghị của người tham gia
tố tụng
1. Khi người tham gia tố tụng có yêu cầu, đề nghị về những
vấn đề liên quan đến vụ án thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát trong phạm vi trách nhiệm của
mình giải quyết yêu cầu, đề nghị đó và báo cho họ biết kết quả. Trường hợp
không chấp nhận yêu cầu, đề nghị thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc Viện kiểm sát phải trả lời và nêu
rõ lý do.
2. Trường hợp không đồng ý với kết quả giải quyết của Cơ
quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
hoặc Viện kiểm sát thì người tham gia tố tụng có quyền khiếu nại. Việc khiếu nại
và giải quyết khiếu nại được thực hiện theo quy định tại Chương XXXIII của Bộ
luật này.
Điều 176. Sự tham dự của người chứng kiến
Người chứng kiến được triệu tập để chứng kiến hoạt động điều
tra trong các trường hợp do Bộ luật này quy định.
Người chứng kiến có trách nhiệm xác nhận nội dung, kết quả
công việc mà người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã tiến hành trong khi
mình có mặt và có thể nêu ý kiến cá nhân. Ý kiến này được ghi vào biên bản.
Điều 177. Không được tiết lộ bí mật điều tra
Trường hợp cần giữ bí mật điều tra, Điều tra viên, Cán bộ
điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên phải yêu cầu người tham gia tố tụng
không được tiết lộ bí mật điều tra. Yêu cầu này được ghi vào biên bản.
Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra
viên, người tham gia tố tụng tiết lộ bí mật điều tra thì tùy tính chất, mức độ
vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu
trách nhiệm hình sự theo quy định của luật.
Điều 178. Biên bản điều tra
Khi tiến hành hoạt động điều tra, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng phải lập biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này.
Điều tra viên, Cán bộ điều tra lập biên bản phải đọc biên bản
cho người tham gia tố tụng nghe, giải thích cho họ quyền được bổ sung và nhận
xét về biên bản. Ý kiến bổ sung, nhận xét được ghi vào biên bản; trường hợp
không chấp nhận bổ sung thì ghi rõ lý do vào biên bản. Người tham gia tố tụng,
Điều tra viên, Cán bộ điều tra cùng ký tên vào biên bản.
Trường hợp Kiểm sát viên, Kiểm tra viên lập biên bản thì
biên bản được thực hiện theo quy định tại Điều này. Biên bản phải được chuyển
ngay cho Điều tra viên để đưa vào hồ sơ vụ án.
Việc lập biên bản trong giai đoạn khởi tố được thực hiện
theo quy định tại Điều này.
Chương XI
KHỞI TỐ BỊ CAN VÀ HỎI CUNG BỊ CAN
Điều 179. Khởi tố bị can
1. Khi có đủ căn cứ để xác định một người hoặc pháp nhân đã
thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm thì Cơ quan điều tra
ra quyết định khởi tố bị can.
2. Quyết định khởi tố bị can ghi rõ thời gian, địa điểm
ra quyết định; họ tên, chức vụ người ra quyết định; họ tên, ngày, tháng, năm
sinh, quốc tịch, dân tộc, tôn giáo, giới tính, chỗ ở, nghề nghiệp của bị can; bị
can bị khởi tố về tội gì, theo điều, khoản nào của Bộ luật Hình sự; thời gian,
địa điểm phạm tội và những tình tiết khác của tội phạm.
Trường hợp bị can bị khởi tố về nhiều tội khác nhau thì
quyết định khởi tố bị can phải ghi rõ từng tội danh và điều, khoản của Bộ luật
Hình sự được áp dụng.
3. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố bị
can, Cơ quan điều tra phải gửi quyết định khởi tố và tài liệu liên quan đến việc
khởi tố bị can cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[107]
để xét phê chuẩn. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố
bị can, Viện kiểm sát phải quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định
khởi tố bị can hoặc yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu làm căn cứ để quyết định
việc phê chuẩn và gửi ngay cho Cơ quan điều tra.
Trường hợp Viện kiểm sát yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu
thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng cứ, tài liệu bổ sung, Viện
kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố
bị can.
4. Trường hợp phát hiện có người đã thực hiện hành vi mà Bộ
luật Hình sự quy định là tội phạm chưa bị khởi tố thì Viện kiểm sát yêu cầu Cơ
quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can hoặc trực tiếp ra quyết định khởi tố
bị can nếu đã yêu cầu nhưng Cơ quan điều tra không thực hiện. Trong thời hạn 24
giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải gửi cho Cơ quan
điều tra để tiến hành điều tra.
Sau khi nhận hồ sơ và kết luận điều tra nếu Viện kiểm sát
phát hiện có người khác đã thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội
phạm trong vụ án chưa bị khởi tố thì Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố bị can
và trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung.
5. Sau khi nhận được quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố
bị can hoặc quyết định khởi tố bị can của Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra phải
giao ngay quyết định khởi tố bị can, quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị
can và giải thích quyền, nghĩa vụ cho bị can.
Sau khi nhận được quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị
can, Cơ quan điều tra phải chụp ảnh, lập danh bản, chỉ bản của người bị khởi tố
và đưa vào hồ sơ vụ án.
Việc giao, nhận các quyết định nêu trên được lập biên bản
theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này.
Điều 180. Thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị
can
1. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thay đổi quyết định khởi
tố bị can khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Khi tiến hành điều tra nếu có căn cứ xác định hành vi của
bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố;
b) Quyết định khởi tố ghi không đúng họ, tên, tuổi, nhân
thân của bị can.
2. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phải bổ sung quyết định
khởi tố bị can nếu có căn cứ xác định bị can còn thực hiện hành vi khác mà Bộ
luật Hình sự quy định là tội phạm.
3. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định thay đổi
hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, Cơ quan điều tra phải gửi quyết định
này và tài liệu có liên quan đến việc thay đổi hoặc bổ sung đó cho Viện kiểm
sát có thẩm quyền[108] để
xét phê chuẩn. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định thay đổi
hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải quyết định phê chuẩn
hoặc quyết định hủy bỏ quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị
can hoặc yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu làm căn cứ để quyết định việc phê
chuẩn và gửi ngay cho Cơ quan điều tra.
Trường hợp Viện kiểm sát yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu
thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng cứ, tài liệu bổ sung, Viện
kiểm sát ra quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định thay đổi hoặc bổ sung
quyết định khởi tố bị can.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi Viện kiểm sát ra quyết định
thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải gửi cho Cơ
quan điều tra để tiến hành điều tra.
4. Sau khi nhận được quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy
bỏ quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, quyết định thay
đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can của Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra
phải giao ngay quyết định này cho người đã bị khởi tố.
Việc giao, nhận các quyết định nêu trên được lập biên bản
theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này.
Điều 181. Tạm đình chỉ chức vụ bị can đang đảm nhiệm
Khi xét thấy việc bị can tiếp tục giữ chức vụ gây khó khăn
cho việc điều tra thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với cơ quan, tổ chức có
thẩm quyền quản lý bị can tạm đình chỉ chức vụ của bị can. Trong thời hạn 07
ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị, cơ quan, tổ chức này phải trả lời bằng văn
bản cho Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra, Viện kiểm sát đã kiến nghị biết.
Điều 182. Triệu tập bị can
1. Khi triệu tập bị can, Điều tra viên phải gửi giấy triệu
tập. Giấy triệu tập bị can ghi rõ họ tên, chỗ ở của bị can; giờ, ngày, tháng,
năm, địa điểm có mặt, thời gian làm việc, gặp ai và trách nhiệm về việc vắng mặt
không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan.
2. Giấy triệu tập bị can được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp
xã[109] nơi bị can cư trú hoặc cơ
quan, tổ chức nơi bị can làm việc, học tập. Cơ quan, tổ chức nhận được giấy triệu
tập có trách nhiệm chuyển ngay giấy triệu tập cho bị can.
Khi nhận giấy triệu tập, bị can phải ký nhận và ghi rõ
giờ, ngày nhận. Người chuyển giấy triệu tập phải chuyển phần giấy triệu tập có
ký nhận của bị can cho cơ quan đã triệu tập bị can; nếu bị can không ký nhận
thì lập biên bản về việc đó và gửi cho cơ quan triệu tập bị can; nếu bị can vắng
mặt thì có thể giao giấy triệu tập cho người thân thích của bị can có đủ năng lực
hành vi dân sự để ký xác nhận và chuyển cho bị can.
3. Bị can phải có mặt theo giấy triệu tập. Trường hợp vắng
mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan hoặc có biểu hiện
trốn tránh thì Điều tra viên có thể ra quyết định áp giải.
4. Trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên có thể triệu tập bị
can. Việc triệu tập bị can được tiến hành theo quy định tại Điều này.
Điều 183. Hỏi cung bị can
1. Việc hỏi cung bị can do Điều tra viên tiến hành ngay sau
khi có quyết định khởi tố bị can. Có thể hỏi cung bị can tại nơi tiến hành điều
tra hoặc tại nơi ở của người đó. Trước khi hỏi cung bị can, Điều tra viên phải
thông báo cho Kiểm sát viên và người bào chữa thời gian, địa điểm hỏi cung. Khi
xét thấy cần thiết, Kiểm sát viên tham gia việc hỏi cung bị can.
2. Trước khi tiến hành hỏi cung lần đầu, Điều tra viên phải
giải thích cho bị can biết rõ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 60 của Bộ
luật này. Việc này phải ghi vào biên bản.
Trường hợp vụ án có nhiều bị can thì hỏi riêng từng người
và không để họ tiếp xúc với nhau. Có thể cho bị can viết bản tự khai của mình.
3. Không hỏi cung bị can vào ban đêm, trừ trường hợp không
thể trì hoãn được nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.
4. Kiểm sát viên hỏi cung bị can trong trường hợp bị can
kêu oan, khiếu nại hoạt động điều tra hoặc có căn cứ xác định việc điều tra vi
phạm pháp luật hoặc trong trường hợp khác khi xét thấy cần thiết. Việc Kiểm sát
viên hỏi cung bị can được tiến hành theo quy định tại Điều này.
5. Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra
viên bức cung, dùng nhục hình đối với bị can thì phải chịu trách nhiệm hình sự
theo quy định của Bộ luật Hình sự.
6. Việc hỏi cung bị can tại cơ sở giam giữ hoặc tại trụ sở
Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra phải được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh.
Việc hỏi cung bị can tại địa điểm khác được ghi âm hoặc ghi
hình có âm thanh theo yêu cầu của bị can hoặc của cơ quan, người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng.
Điều 184. Biên bản hỏi cung bị can
1. Mỗi lần hỏi cung bị can đều phải lập biên bản.
Biên bản hỏi cung bị can được lập theo quy định tại Điều
178 của Bộ luật này; phải ghi đầy đủ lời trình bày của bị can, các câu hỏi và
câu trả lời. Nghiêm cấm Điều tra viên, Cán bộ điều tra tự mình thêm, bớt hoặc sửa
chữa lời khai của bị can.
2. Sau khi hỏi cung, Điều tra viên, Cán bộ điều tra
phải đọc biên bản cho bị can nghe hoặc để bị can tự đọc. Trường hợp bổ sung, sửa
chữa biên bản thì Điều tra viên, Cán bộ điều tra và bị can cùng ký xác nhận. Nếu
biên bản có nhiều trang thì bị can ký vào từng trang biên bản. Trường hợp bị
can viết bản tự khai thì Điều tra viên, Cán bộ điều tra và bị can cùng ký xác
nhận vào bản tự khai đó.
3. Trường hợp hỏi cung bị can có người phiên dịch thì Điều
tra viên, Cán bộ điều tra phải giải thích quyền và nghĩa vụ của người phiên dịch,
đồng thời giải thích cho bị can biết quyền yêu cầu thay đổi người phiên dịch;
người phiên dịch phải ký vào từng trang của biên bản hỏi cung.
Trường hợp hỏi cung bị can có mặt người bào chữa, người đại
diện của bị can thì Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải giải thích cho những
người này biết quyền và nghĩa vụ của họ trong khi hỏi cung bị can. Bị can, người
bào chữa, người đại diện cùng ký vào biên bản hỏi cung. Trường hợp người bào chữa
được hỏi bị can thì biên bản phải ghi đầy đủ câu hỏi của người bào chữa và trả
lời của bị can.
4. Trường hợp Kiểm sát viên hỏi cung bị can thì biên bản được
thực hiện theo quy định của Điều này. Biên bản hỏi cung bị can được chuyển ngay
cho Điều tra viên để đưa vào hồ sơ vụ án.
Chương XII
LẤY LỜI KHAI NGƯỜI LÀM CHỨNG, NGƯỜI BỊ HẠI, NGUYÊN ĐƠN
DÂN SỰ, BỊ ĐƠN DÂN SỰ, NGƯỜI CÓ QUYỀN LỢI, NGHĨA VỤ LIÊN QUAN ĐẾN VỤ ÁN, ĐỐI CHẤT
VÀ NHẬN DẠNG
Điều 185. Triệu tập người làm chứng
1. Khi triệu tập người làm chứng đến lấy lời khai, Điều tra
viên phải gửi giấy triệu tập.
2. Giấy triệu tập người làm chứng ghi rõ họ tên, chỗ ở
hoặc nơi làm việc, học tập của người làm chứng; giờ, ngày, tháng, năm và
địa điểm có mặt; mục đích và nội dung làm việc, thời gian làm việc; gặp ai và
trách nhiệm về việc vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại
khách quan.
3. Việc giao giấy triệu tập được thực hiện như sau:
a) Giấy triệu tập được giao trực tiếp cho người làm chứng
hoặc thông qua Ủy ban nhân dân cấp xã[110] nơi
người làm chứng cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người làm chứng làm việc, học
tập. Trong mọi trường hợp, việc giao giấy triệu tập phải được ký nhận. Ủy ban
nhân dân cấp xã[111] nơi
người làm chứng cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người làm chứng làm việc, học
tập có trách nhiệm tạo điều kiện cho người làm chứng thực hiện nghĩa vụ;
b) Giấy triệu tập người làm chứng dưới 18 tuổi được giao
cho cha, mẹ hoặc người đại diện khác của họ;
c) Việc giao giấy triệu tập người làm chứng theo ủy thác tư
pháp của nước ngoài được thực hiện theo quy định tại khoản này và Luật Tương trợ
tư pháp về hình sự[112].
4. Trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên có thể triệu tập người
làm chứng để lấy lời khai. Việc triệu tập người làm chứng được thực hiện
theo quy định tại Điều này.
Điều 186. Lấy lời khai người làm chứng
1. Việc lấy lời khai người làm chứng được tiến hành tại nơi
tiến hành điều tra, nơi cư trú, nơi làm việc hoặc nơi học tập của người đó.
2. Nếu vụ án có nhiều người làm chứng thì phải lấy lời khai
riêng từng người và không để cho họ tiếp xúc, trao đổi với nhau trong thời gian
lấy lời khai.
3. Trước khi lấy lời khai, Điều tra viên, Cán bộ điều tra
phải giải thích cho người làm chứng biết quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định
tại Điều 66 của Bộ luật này. Việc này phải ghi vào biên bản.
4. Trước khi hỏi về nội dung vụ án, Điều tra viên phải hỏi
về mối quan hệ giữa người làm chứng với bị can, bị hại và những tình tiết khác
về nhân thân của người làm chứng. Điều tra viên yêu cầu người làm chứng trình
bày hoặc tự viết một cách trung thực và tự nguyện những gì họ biết về vụ án,
sau đó mới đặt câu hỏi.
5. Trường hợp xét thấy việc lấy lời khai của Điều tra viên
không khách quan hoặc có vi phạm pháp luật hoặc xét cần làm rõ chứng cứ, tài liệu
để quyết định việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định tố tụng của Cơ
quan điều tra hoặc để quyết định việc truy tố thì Kiểm sát viên có thể lấy lời
khai người làm chứng. Việc lấy lời khai người làm chứng được tiến hành theo quy
định tại Điều này.
Điều 187. Biên bản ghi lời khai của người làm chứng
Biên bản ghi lời khai của người làm chứng được lập theo quy
định tại Điều 178 của Bộ luật này.
Việc lấy lời khai của người làm chứng có thể ghi âm hoặc
ghi hình có âm thanh.
Điều 188. Triệu tập, lấy lời khai của bị hại, đương sự
Việc triệu tập, lấy lời khai của bị hại, đương sự được
thực hiện theo quy định tại các điều 185, 186 và 187 của Bộ luật này.
Việc lấy lời khai của bị hại, đương sự có thể ghi âm
hoặc ghi hình có âm thanh.
Điều 189. Đối chất
1. Trường hợp có mâu thuẫn trong lời khai giữa hai người
hay nhiều người mà đã tiến hành các biện pháp điều tra khác nhưng chưa giải quyết
được mâu thuẫn thì Điều tra viên tiến hành đối chất. Trước khi tiến hành đối chất,
Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[113]
để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc đối chất. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm
sát việc đối chất. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản
đối chất.
2. Nếu có người làm chứng hoặc bị hại tham gia thì trước
khi đối chất Điều tra viên phải giải thích cho họ biết trách nhiệm về việc từ
chối, trốn tránh khai báo hoặc cố tình khai báo gian dối. Việc này phải ghi vào
biên bản.
3. Khi bắt đầu đối chất, Điều tra viên hỏi về mối quan hệ
giữa những người tham gia đối chất, sau đó hỏi họ về những tình tiết cần làm
sáng tỏ. Sau khi nghe đối chất, Điều tra viên có thể hỏi thêm từng người.
Trong quá trình đối chất, Điều tra viên có thể đưa ra chứng
cứ, tài liệu, đồ vật có liên quan; có thể để cho những người tham gia đối chất
hỏi lẫn nhau; câu hỏi và trả lời của những người này phải ghi vào biên bản.
Chỉ sau khi những người tham gia đối chất đã khai xong mới
được nhắc lại những lời khai trước đó của họ.
4. Biên bản đối chất được lập theo quy định tại Điều 178 của
Bộ luật này. Việc đối chất có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh.
5. Trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên có thể tiến hành đối
chất. Việc đối chất được tiến hành theo quy định tại Điều này.
Điều 190. Nhận dạng
1. Khi cần thiết, Điều tra viên có thể đưa người, ảnh hoặc
vật cho người làm chứng, bị hại hoặc bị can nhận dạng.
Số người, ảnh hoặc vật đưa ra để nhận dạng ít nhất phải là
ba và bề ngoài phải tương tự nhau, trừ trường hợp nhận dạng tử thi.
Trước khi tiến hành nhận dạng, Điều tra viên phải thông báo
cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[114] để cử
Kiểm sát viên kiểm sát việc nhận dạng. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc
nhận dạng. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản nhận
dạng.
2. Những người sau đây phải tham gia việc nhận dạng:
a) Người làm chứng, bị hại hoặc bị can;
b) Người chứng kiến.
3. Nếu người làm chứng hoặc bị hại là người nhận dạng thì
trước khi tiến hành, Điều tra viên phải giải thích cho họ biết trách nhiệm về
việc từ chối, trốn tránh khai báo hoặc cố ý khai báo gian dối. Việc này phải
ghi vào biên bản.
4. Điều tra viên phải hỏi trước người nhận dạng về những
tình tiết, vết tích và đặc điểm mà nhờ đó họ có thể nhận dạng được.
Trong quá trình tiến hành nhận dạng, Điều tra viên không được
đặt câu hỏi gợi ý. Sau khi người nhận dạng đã xác nhận một người, một vật hay một
ảnh trong số được đưa ra để nhận dạng thì Điều tra viên yêu cầu họ giải thích
là họ đã căn cứ vào các vết tích hoặc đặc điểm gì mà xác nhận được người, vật
hay ảnh đó.
5. Biên bản nhận dạng được lập theo quy định tại Điều 178 của
Bộ luật này. Biên bản ghi rõ nhân thân, tình trạng sức khỏe của người nhận dạng
và của những người được đưa ra để nhận dạng; đặc điểm của vật, ảnh được đưa ra
để nhận dạng; các lời khai báo, trình bày của người nhận dạng; điều kiện ánh
sáng khi thực hiện nhận dạng.
Điều 191. Nhận biết giọng nói
1. Khi cần thiết, Điều tra viên có thể cho bị hại, người
làm chứng hoặc người bị bắt, bị tạm giữ, bị can nhận biết giọng nói.
Số giọng nói được đưa ra để nhận biết ít nhất phải là ba và
phải có âm sắc, âm lượng tương tự nhau.
Trước khi tiến hành nhận biết giọng nói, Điều tra viên phải
thông báo cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[115]
để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc nhận biết giọng nói. Kiểm sát viên phải có mặt
để kiểm sát việc nhận biết giọng nói. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi
rõ vào biên bản nhận biết giọng nói.
2. Những người sau đây phải tham gia việc nhận biết giọng
nói:
a) Giám định viên về âm thanh;
b) Người được yêu cầu nhận biết giọng nói;
c) Người được đưa ra để nhận biết giọng nói, trừ trường hợp
việc nhận biết giọng nói được thực hiện qua phương tiện ghi âm;
d) Người chứng kiến.
3. Nếu người làm chứng, bị hại được yêu cầu nhận biết giọng
nói thì trước khi tiến hành, Điều tra viên phải giải thích cho họ biết trách
nhiệm về việc từ chối, trốn tránh khai báo hoặc cố ý khai báo gian dối. Việc
này phải ghi vào biên bản.
4. Điều tra viên phải hỏi trước người được yêu cầu nhận biết
giọng nói về những đặc điểm mà nhờ đó họ có thể nhận biết được giọng nói.
Trong quá trình tiến hành nhận biết giọng nói, Điều tra
viên không được đặt câu hỏi gợi ý. Sau khi người được yêu cầu nhận biết giọng
nói đã xác nhận được tiếng nói trong số giọng nói được đưa ra thì Điều tra viên
yêu cầu họ giải thích là họ đã căn cứ vào đặc điểm gì mà xác nhận giọng nói đó.
5. Biên bản nhận biết giọng nói được lập theo quy định tại
Điều 178 của Bộ luật này. Biên bản ghi rõ nhân thân, tình trạng sức khỏe của
người được yêu cầu nhận biết giọng nói và của những người được đưa ra để nhận
biết giọng nói; đặc điểm của giọng nói được đưa ra để nhận biết, lời trình bày
của người nhận biết giọng nói; điều kiện về không gian khi thực hiện nhận biết
giọng nói.
Chương XIII
KHÁM XÉT, THU GIỮ, TẠM GIỮ TÀI LIỆU, ĐỒ VẬT
Điều 192. Căn cứ khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa
điểm, phương tiện, tài liệu, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm,
dữ liệu điện tử
1. Việc khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm,
phương tiện chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở,
nơi làm việc, địa điểm, phương tiện có công cụ, phương tiện phạm tội, tài
liệu, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, dữ liệu điện tử, tài liệu
khác có liên quan đến vụ án.
Việc khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện
cũng được tiến hành khi cần phát hiện người đang bị truy nã, truy tìm và giải cứu
nạn nhân.
2. Khi có căn cứ để nhận định trong thư tín, điện tín, bưu
kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ
vật, tài sản liên quan đến vụ án thì có thể khám xét thư tín, điện tín, bưu kiện,
bưu phẩm, dữ liệu điện tử.
Điều 193. Thẩm quyền ra lệnh khám xét
1. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều
113 của Bộ luật này có quyền ra lệnh khám xét. Lệnh khám xét của những người được
quy định tại khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải được
Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành.
2.[116]
Trong trường hợp khẩn cấp, những người có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 110 của Bộ luật này có quyền ra
lệnh khám xét. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi khám xét xong, người ra lệnh
khám xét phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát có thẩm quyền.
3. Trước khi tiến hành khám xét, Điều tra viên phải thông
báo cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[117] về
thời gian và địa điểm tiến hành khám xét để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc
khám xét, trừ trường hợp khám xét khẩn cấp. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm
sát việc khám xét. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản
khám xét.
4. Mọi trường hợp khám xét đều được lập biên bản theo
quy định tại Điều 178 của Bộ luật này và đưa vào hồ sơ vụ án.
Điều 194. Khám xét người
1. Khi bắt đầu khám xét người, người thi hành lệnh khám xét
phải đọc lệnh và đưa cho người bị khám xét đọc lệnh đó; giải thích cho người bị
khám xét và những người có mặt biết quyền và nghĩa vụ của họ.
Người tiến hành khám xét phải yêu cầu người bị khám xét đưa
ra các tài liệu, đồ vật có liên quan đến vụ án, nếu họ từ chối hoặc đưa ra
không đầy đủ các tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án thì tiến hành khám xét.
2. Việc khám xét người phải do người cùng giới thực hiện và
có người khác cùng giới chứng kiến. Việc khám xét không được xâm phạm đến tính
mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người bị khám xét.
3. Có thể tiến hành khám xét người mà không cần có lệnh
trong trường hợp bắt người hoặc khi có căn cứ để khẳng định người có mặt tại
nơi khám xét giấu trong người vũ khí, hung khí, chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên
quan đến vụ án.
Điều 195. Khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện
1. Khi khám xét chỗ ở thì phải có mặt người đó hoặc người
từ đủ 18 tuổi trở lên cùng chỗ ở, có đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã[118] và người chứng kiến; trường hợp
người đó, người từ đủ 18 tuổi trở lên cùng chỗ ở cố tình vắng mặt, bỏ trốn
hoặc vì lý do khác họ không có mặt mà việc khám xét không thể trì hoãn thì việc
khám xét vẫn được tiến hành nhưng phải có đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã[119] nơi khám xét và hai người
chứng kiến.
Không được bắt đầu việc khám xét chỗ ở vào ban đêm, trừ trường
hợp khẩn cấp nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.
2. Khi khám xét nơi làm việc của một người thì phải có mặt
người đó, trừ trường hợp không thể trì hoãn nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.
Việc khám xét nơi làm việc phải có đại diện của cơ quan, tổ
chức nơi người đó làm việc chứng kiến. Trong trường hợp không có đại diện cơ
quan, tổ chức thì việc khám xét vẫn được tiến hành nhưng phải có đại diện Ủy
ban nhân dân cấp xã[120] nơi
khám xét và 02 người chứng kiến.
3. Khi khám xét địa điểm phải có đại diện Ủy ban nhân dân cấp
xã[121] nơi khám xét và người chứng
kiến.
4. Việc khám xét phương tiện phải có mặt chủ sở hữu hoặc
người quản lý phương tiện và người chứng kiến. Trường hợp chủ sở hữu hoặc người
quản lý phương tiện vắng mặt, bỏ trốn hoặc vì lý do khác họ không có mặt
mà việc khám xét không thể trì hoãn thì việc khám xét vẫn được tiến hành nhưng
phải có hai người chứng kiến.
Khi khám xét phương tiện có thể mời người có chuyên môn
liên quan đến phương tiện tham gia.
5. Khi tiến hành khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm,
phương tiện, những người có mặt không được tự ý rời khỏi nơi đang bị khám,
không được liên hệ, trao đổi với nhau hoặc với những người khác cho đến khi
khám xét xong.
Điều 196. Thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử
1. Việc thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử do người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện và có thể mời người có chuyên môn
liên quan tham gia. Trường hợp không thể thu giữ được thì phải sao lưu
vào phương tiện lưu trữ và thu giữ như đối với vật chứng.
2. Khi thu giữ các phương tiện điện tử có thể thu thiết bị
ngoại vi kèm theo và các tài liệu có liên quan.
Điều 197. Thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại
cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn thông
1. Khi cần thiết phải thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện,
bưu phẩm tại cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn thông thì Cơ quan điều tra ra lệnh
thu giữ. Lệnh này phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền[122]
phê chuẩn trước khi thi hành.
2. Trường hợp không thể trì hoãn việc thu giữ thư tín, điện
tín, bưu kiện, bưu phẩm tại cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn thông thì Cơ quan
điều tra có thể tiến hành thu giữ nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản. Sau khi
thu giữ phải thông báo ngay cho [123] bằng
văn bản kèm theo tài liệu liên quan đến việc thu giữ để xét phê chuẩn.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được đề nghị xét phê
chuẩn và tài liệu liên quan đến việc thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu
phẩm, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn.
Nếu Viện kiểm sát quyết định không phê chuẩn thì người đã ra lệnh thu giữ phải
trả lại ngay cho cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn thông, đồng thời thông báo
cho người có thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm bị thu giữ biết.
3. Người thi hành lệnh phải thông báo cho người phụ trách
cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn thông hữu quan trước khi tiến hành thu giữ.
Người quản lý cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn thông hữu quan phải tạo điều kiện
để người thi hành lệnh thu giữ hoàn thành nhiệm vụ.
Khi thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, phải có
đại diện của cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn thông chứng kiến và ký xác nhận
vào biên bản.
Cơ quan ra lệnh thu giữ phải thông báo cho người có thư tín,
điện tín, bưu kiện, bưu phẩm bị thu giữ biết. Nếu việc thông báo cản trở điều
tra thì sau khi cản trở đó không còn nữa, cơ quan ra lệnh thu giữ phải thông
báo ngay.
Điều 198. Tạm giữ tài liệu, đồ vật khi khám xét
1. Khi khám xét, Điều tra viên được tạm giữ đồ vật là vật
chứng và tài liệu có liên quan trực tiếp đến vụ án. Đối với đồ vật thuộc loại cấm
tàng trữ, lưu hành thì phải thu giữ và chuyển ngay cho cơ quan quản lý có thẩm
quyền. Trường hợp cần thiết phải niêm phong thì tiến hành trước mặt chủ sở hữu
đồ vật, người quản lý đồ vật, người chứng kiến, đại diện gia đình, đại diện Ủy
ban nhân dân cấp xã[124] nơi
khám xét.
2. Việc tạm giữ tài liệu, đồ vật khi tiến hành khám
xét được lập biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này. Biên bản tạm
giữ được lập thành bốn bản, trong đó một bản giao cho người chủ tài liệu, đồ vật
hoặc người quản lý tài liệu, đồ vật, một bản đưa vào hồ sơ vụ án, một bản giao
cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[125] và một
bản giao cho cơ quan quản lý tài liệu, đồ vật bị tạm giữ.
Điều 199. Trách nhiệm bảo quản phương tiện, tài liệu, đồ vật, dữ
liệu điện tử, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm bị thu giữ, tạm giữ
hoặc bị niêm phong
1. Phương tiện, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử, thư tín,
điện tín, bưu kiện, bưu phẩm bị thu giữ, tạm giữ hoặc bị niêm phong phải được bảo
quản nguyên vẹn.
2. Người nào phá hủy niêm phong, tiêu dùng, chuyển nhượng,
đánh tráo, cất giấu hoặc hủy hoại phương tiện, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử,
thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo
quy định của Bộ luật Hình sự.
Điều 200. Trách nhiệm của người ra lệnh, người thi hành lệnh
khám xét, thu giữ, tạm giữ
Người ra lệnh, người thi hành lệnh khám xét, thu giữ, tạm
giữ trái pháp luật thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị
truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật.
Chương XIV
KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG, KHÁM NGHIỆM TỬ THI, XEM XÉT DẤU
VẾT TRÊN THÂN THỂ, THỰC NGHIỆM ĐIỀU TRA
Điều 201. Khám nghiệm hiện trường
1. Điều tra viên chủ trì tiến hành khám nghiệm nơi xảy ra,
nơi phát hiện tội phạm để phát hiện dấu vết của tội phạm, thu giữ vật chứng,
tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử khác liên quan và làm sáng tỏ những tình tiết
có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án.
2. Trước khi tiến hành khám nghiệm hiện trường, Điều tra
viên phải thông báo cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[126]
biết về thời gian, địa điểm tiến hành khám nghiệm để cử Kiểm sát viên kiểm
sát khám nghiệm hiện trường. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc
khám nghiệm hiện trường.
Khi khám nghiệm hiện trường phải có người chứng kiến; có thể
cho bị can, người bào chữa, bị hại, người làm chứng tham gia và mời người có
chuyên môn tham dự việc khám nghiệm.
3. Khi khám nghiệm hiện trường phải tiến hành chụp ảnh, vẽ
sơ đồ, mô tả hiện trường, đo đạc, dựng mô hình; xem xét tại chỗ và thu lượm dấu
vết của tội phạm, tài liệu, đồ vật có liên quan đến vụ án; ghi rõ kết quả khám
nghiệm vào biên bản. Biên bản khám nghiệm hiện trường được lập theo quy định tại
Điều 178 của Bộ luật này.
Trường hợp không thể xem xét ngay được thì tài liệu, đồ vật
thu giữ phải được bảo quản, giữ nguyên trạng hoặc niêm phong đưa về nơi tiến
hành điều tra.
Điều 202. Khám nghiệm tử thi
1. Việc khám nghiệm tử thi do giám định viên pháp y tiến
hành dưới sự chủ trì của Điều tra viên và phải có người chứng kiến.
Trước khi khám nghiệm tử thi, Điều tra viên phải thông báo
cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[127] biết
về thời gian và địa điểm tiến hành khám nghiệm để cử Kiểm sát viên kiểm
sát việc khám nghiệm tử thi. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc
khám nghiệm tử thi.
2. Giám định viên kỹ thuật hình sự có thể được mời tham
gia khám nghiệm tử thi để phát hiện, thu thập dấu vết phục vụ việc giám định.
3. Khi khám nghiệm tử thi phải tiến hành chụp ảnh, mô tả dấu
vết để lại trên tử thi; chụp ảnh, thu thập, bảo quản mẫu vật phục vụ công tác
trưng cầu giám định; ghi rõ kết quả khám nghiệm vào biên bản. Biên bản khám
nghiệm tử thi được lập theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật này.
4. Trường hợp cần khai quật tử thi thì phải có quyết định của
Cơ quan điều tra và thông báo cho người thân thích của người chết biết trước
khi tiến hành. Trường hợp người chết không có hoặc không xác định được người
thân thích của họ thì thông báo cho đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã[128] nơi chôn cất tử thi biết.
Điều 203. Xem xét dấu vết trên thân thể
1. Khi cần thiết, Điều tra viên tiến hành xem xét dấu vết của
tội phạm hoặc các dấu vết khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án trên
thân thể người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị
tạm giữ, bị can, bị hại, người làm chứng. Trong trường hợp cần thiết thì Cơ
quan điều tra trưng cầu giám định.
2. Việc xem xét dấu vết trên thân thể phải do người cùng
giới tiến hành và phải có người cùng giới chứng kiến. Trường hợp cần thiết thì
có thể mời bác sĩ tham gia.
Nghiêm cấm xâm phạm sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người
bị xem xét dấu vết trên thân thể.
Khi xem xét dấu vết trên thân thể phải lập biên bản mô tả
dấu vết để lại trên thân thể; trường hợp cần thiết phải chụp ảnh, trưng cầu
giám định. Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể được lập theo quy định tại
Điều 178 của Bộ luật này.
Điều 204. Thực nghiệm điều tra
1. Để kiểm tra, xác minh tài liệu, tình tiết có ý nghĩa đối
với việc giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra có thể thực nghiệm điều tra bằng
cách dựng lại hiện trường, diễn lại hành vi, tình huống hoặc những tình tiết
khác của một sự việc nhất định và tiến hành các hoạt động thực nghiệm cần thiết.
Khi thực nghiệm điều tra phải đo đạc, chụp ảnh, ghi hình, vẽ sơ đồ, ghi rõ kết
quả thực nghiệm điều tra vào biên bản.
Nghiêm cấm việc thực nghiệm điều tra xâm phạm đến tính mạng,
sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người tham gia thực nghiệm điều tra
và người khác.
2. Trước khi tiến hành thực nghiệm điều tra, Điều tra viên
phải thông báo cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[129]
biết về thời gian và địa điểm tiến hành thực nghiệm điều tra. Kiểm sát viên phải
có mặt để kiểm sát việc thực nghiệm điều tra. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt
thì phải ghi rõ vào biên bản.
3. Điều tra viên chủ trì tiến hành thực nghiệm điều tra và
việc thực nghiệm điều tra phải có người chứng kiến.
Khi tiến hành thực nghiệm điều tra, Cơ quan điều tra có thể
mời người có chuyên môn tham gia. Trường hợp cần thiết, người bị tạm giữ, bị
can, người bào chữa, bị hại, người làm chứng có thể tham gia.
4. Trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát tiến hành thực nghiệm
điều tra. Việc thực nghiệm điều tra được tiến hành theo quy định tại Điều này.
Chương XV
GIÁM ĐỊNH VÀ ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN
Điều 205. Trưng cầu giám định
1. Khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 206
của Bộ luật này hoặc khi xét thấy cần thiết thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành
tố tụng ra quyết định trưng cầu giám định.
2. Quyết định trưng cầu giám định có các nội dung:
a) Tên cơ quan trưng cầu giám định; họ tên người có thẩm
quyền trưng cầu giám định;
b) Tên tổ chức; họ tên người được trưng cầu giám định;
c) Tên và đặc điểm của đối tượng cần giám định;
d) Tên tài liệu có liên quan hoặc mẫu so sánh gửi kèm theo
(nếu có);
đ) Nội dung yêu cầu giám định;
e) Ngày, tháng, năm trưng cầu giám định và thời hạn trả kết
luận giám định.
3. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định trưng cầu
giám định, cơ quan trưng cầu giám định phải giao hoặc gửi quyết định trưng cầu
giám định, hồ sơ, đối tượng trưng cầu giám định cho tổ chức, cá nhân thực hiện
giám định; gửi quyết định trưng cầu giám định cho Viện kiểm sát có thẩm quyền
thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra.
Điều 206. Các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định
Bắt buộc phải trưng cầu giám định khi cần xác định:
1. Tình trạng tâm thần của người bị buộc tội khi có sự nghi
ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ; tình trạng tâm thần của người làm
chứng hoặc bị hại khi có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức, khả năng khai báo
đúng đắn về những tình tiết của vụ án;
2. Tuổi của bị can, bị cáo, bị hại nếu việc đó có ý nghĩa đối
với việc giải quyết vụ án và không có tài liệu để xác định chính xác tuổi của họ
hoặc có nghi ngờ về tính xác thực của những tài liệu đó;
3. Nguyên nhân chết người;
4. Tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khoẻ hoặc khả
năng lao động;
5. Chất ma tuý, vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, chất cháy,
chất độc, chất phóng xạ, tiền giả, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ;
6. Mức độ ô nhiễm môi trường.
Điều 207. Yêu cầu giám định
1. Đương sự hoặc người đại diện của họ có quyền đề nghị cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu giám định những vấn đề liên
quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ, trừ trường hợp việc giám định liên
quan đến việc xác định trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị,
cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét, ra quyết định trưng cầu giám định. Trường
hợp không chấp nhận đề nghị thì thông báo cho người đã đề nghị giám định biết bằng
văn bản và nêu rõ lý do. Hết thời hạn này hoặc kể từ ngày nhận được thông báo từ
chối trưng cầu giám định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì người
đề nghị giám định có quyền tự mình yêu cầu giám định.
2. Người yêu cầu giám định có các quyền và nghĩa vụ theo
quy định của Luật Giám định tư pháp.
Điều 208. Thời hạn giám định
1. Thời hạn giám định đối với trường hợp bắt buộc phải
trưng cầu giám định:
a) Không quá 03 tháng đối với trường hợp quy định tại khoản
1 Điều 206 của Bộ luật này;
b) Không quá 01 tháng đối với trường hợp quy định tại khoản
3 và khoản 6 Điều 206 của Bộ luật này;
c) Không quá 09 ngày đối với trường hợp quy định tại các khoản
2, 4 và 5 Điều 206 của Bộ luật này.
2.[130] Thời
hạn giám định đối với các trường hợp khác thực hiện theo quy định của Luật Giám
định tư pháp.
3. Trường hợp việc giám định không thể tiến hành trong thời
hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì tổ chức, cá nhân tiến hành
giám định phải kịp thời thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do cho cơ quan trưng
cầu, người yêu cầu giám định.
4. Thời hạn giám định quy định tại Điều này cũng áp dụng đối
với trường hợp giám định bổ sung, giám định lại.
Điều 209. Tiến hành giám định
1. Việc giám định có thể tiến hành tại cơ quan giám định hoặc
tại nơi tiến hành điều tra vụ án ngay sau khi có quyết định trưng cầu, yêu cầu
giám định.
Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, người yêu cầu giám
định có thể tham dự giám định nhưng phải báo trước cho người giám định biết.
2. Việc giám định do cá nhân hoặc do tập thể thực hiện.
Điều 210. Giám định bổ sung
1. Việc giám định bổ sung được tiến hành trong trường hợp:
a) Nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ;
b) Khi phát sinh vấn đề mới cần phải giám định liên quan đến
tình tiết của vụ án đã có kết luận giám định trước đó.
2. Việc giám định bổ sung có thể do tổ chức, cá nhân đã
giám định hoặc tổ chức, cá nhân khác thực hiện.
3. Việc trưng cầu, yêu cầu giám định bổ sung được thực hiện
như giám định lần đầu.
Điều 211. Giám định lại
1. Việc giám định lại được thực hiện khi có nghi ngờ kết luận
giám định lần đầu không chính xác. Việc giám định lại phải do người giám định
khác thực hiện.
2. Cơ quan trưng cầu giám định tự mình hoặc theo đề nghị của
người tham gia tố tụng quyết định việc trưng cầu giám định lại. Trường hợp người
trưng cầu giám định không chấp nhận yêu cầu giám định lại thì phải thông báo
cho người đề nghị giám định bằng văn bản và nêu rõ lý do.
3. Trường hợp có sự khác nhau giữa kết luận giám định lần đầu
và kết luận giám định lại về cùng một nội dung giám định thì việc giám định lại
lần thứ hai do người trưng cầu giám định quyết định. Việc giám định lại lần thứ
hai phải do Hội đồng giám định thực hiện theo quy định của Luật Giám định tư
pháp.
Điều 212. Giám định lại trong trường hợp đặc biệt
Trường hợp đặc biệt, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định việc giám định lại sau khi đã
có kết luận của Hội đồng giám định. Việc giám định lại trong trường hợp đặc biệt
phải do Hội đồng mới thực hiện, những người đã tham gia giám định trước đó
không được giám định lại. Kết luận giám định lại trong trường hợp này được sử dụng
để giải quyết vụ án.
Điều 213. Kết luận giám định
1. Kết luận giám định phải ghi rõ kết quả giám định đối với
những nội dung đã được trưng cầu, yêu cầu và những nội dung khác theo quy định
của Luật Giám định tư pháp.
2. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra kết luận giám định, tổ
chức, cá nhân đã tiến hành giám định phải gửi kết luận giám định cho cơ quan đã
trưng cầu, người yêu cầu giám định.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được kết luận giám định,
cơ quan đã trưng cầu, người yêu cầu giám định phải gửi kết luận giám định cho
Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra.
3. Để làm sáng tỏ nội dung kết luận giám định, cơ quan
trưng cầu, người yêu cầu giám định có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân đã tiến
hành giám định giải thích kết luận giám định; hỏi thêm người giám định về những
tình tiết cần thiết.
Điều 214. Quyền của bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia
tố tụng khác đối với kết luận giám định
1. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị
trưng cầu giám định của bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác, cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xem xét, ra quyết định trưng cầu giám
định.
2. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được kết luận
giám định thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông báo kết
luận giám định cho bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác có
liên quan.
3. Bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác có
quyền trình bày ý kiến của mình về kết luận giám định; đề nghị giám định bổ
sung hoặc giám định lại. Trường hợp họ trình bày trực tiếp thì Cơ quan điều
tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải lập biên bản.
4. Trường hợp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án không
chấp nhận đề nghị của bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác thì
phải thông báo cho người đề nghị bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Điều 215. Yêu cầu định giá tài sản
1. Khi cần xác định giá của tài sản để giải quyết vụ án
hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra văn bản yêu cầu định giá
tài sản.
2. Văn bản yêu cầu định giá tài sản có các nội dung:
a) Tên cơ quan yêu cầu định giá; họ tên người có thẩm quyền
yêu cầu định giá;
b) Tên Hội đồng định giá tài sản được yêu cầu;
c) Thông tin và đặc điểm của tài sản cần định giá;
d) Tên tài liệu có liên quan (nếu có);
đ) Nội dung yêu cầu định giá tài sản;
e) Ngày, tháng, năm yêu cầu định giá tài sản, thời hạn trả
kết luận định giá tài sản.
3. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra văn bản yêu cầu định
giá tài sản, cơ quan yêu cầu định giá phải giao hoặc gửi văn bản yêu cầu định
giá tài sản, hồ sơ, đối tượng yêu cầu định giá tài sản cho Hội đồng định giá
tài sản được yêu cầu; gửi văn bản yêu cầu định giá tài sản cho Viện kiểm sát có
thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra.
4. Việc yêu cầu định giá tài sản để giải quyết vấn đề dân sự
trong vụ án hình sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Điều 216. Thời hạn định giá tài sản
Việc định giá tài sản, trả kết luận định giá tài sản thực
hiện theo thời hạn nêu trong văn bản yêu cầu định giá tài sản. Trường hợp việc
định giá tài sản không thể tiến hành trong thời hạn yêu cầu, Hội đồng định giá
tài sản phải kịp thời thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do cho cơ quan, người đã
yêu cầu định giá biết.
Điều 217. Tiến hành định giá tài sản
1. Việc định giá tài sản do Hội đồng định giá tài sản tiến
hành. Phiên họp định giá tài sản có thể thực hiện tại nơi có tài sản được định
giá hoặc nơi khác theo quyết định của Hội đồng định giá tài sản.
Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán có thể tham dự
phiên họp định giá tài sản nhưng phải báo trước cho Hội đồng định giá tài sản
biết; khi được sự đồng ý của Hội đồng định giá tài sản thì có quyền đưa ra ý kiến.
2. Chính phủ quy định chi tiết việc thành lập và hoạt
động của Hội đồng định giá tài sản; trình tự, thủ tục định giá tài sản.
Điều 218. Định giá lại tài sản
1. Trường hợp có nghi ngờ kết luận định giá lần đầu, cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tự mình hoặc theo đề nghị của người bị
buộc tội, người tham gia tố tụng khác ra văn bản yêu cầu định giá lại tài sản.
Việc định giá lại tài sản do Hội đồng định giá tài sản cấp trên trực tiếp thực
hiện.
2. Trường hợp có mâu thuẫn giữa kết luận định giá lần đầu
và kết luận định giá lại về giá của tài sản cần định giá, cơ quan có thẩm
quyền tiến hành tố tụng ra văn bản yêu cầu định giá lại lần thứ hai. Việc định
giá lại lần thứ hai do Hội đồng định giá tài sản có thẩm quyền thực hiện. Kết
luận định giá lại trong trường hợp này được sử dụng để giải quyết vụ án.
Điều 219. Định giá tài sản trong trường hợp tài sản bị thất
lạc hoặc không còn
Trường hợp tài sản cần định giá bị thất lạc hoặc không còn
thì việc định giá tài sản được thực hiện theo hồ sơ của tài sản trên cơ sở các
thông tin, tài liệu thu thập được về tài sản cần định giá.
Điều 220. Định giá lại tài sản trong trường hợp đặc biệt
Trường hợp đặc biệt, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định việc định giá lại tài sản khi
đã có kết luận định giá lại lần hai của Hội đồng định giá tài sản. Việc định
giá lại tài sản trong trường hợp đặc biệt phải do Hội đồng mới thực hiện. Người
đã tham gia định giá trước đó không được định giá lại. Kết luận định giá lại
trong trường hợp này được sử dụng để giải quyết vụ án.
Điều 221. Kết luận định giá tài sản
1. Kết luận định giá tài sản phải ghi rõ kết luận về giá của
tài sản theo nội dung yêu cầu định giá và các nội dung khác theo quy định của
pháp luật.
2. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra kết luận định giá tài
sản, Hội đồng định giá tài sản phải gửi kết luận cho cơ quan yêu cầu định giá
tài sản, người yêu cầu định giá tài sản.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được kết luận định giá
tài sản, cơ quan đã yêu cầu, người yêu cầu định giá tài sản phải gửi kết luận định
giá tài sản cho Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra.
3. Để làm sáng tỏ nội dung kết luận định giá tài sản, cơ
quan yêu cầu định giá tài sản có quyền yêu cầu Hội đồng định giá tài sản giải
thích kết luận định giá; hỏi thêm Hội đồng định giá tài sản về những tình tiết
cần thiết.
Điều 222. Quyền của bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia
tố tụng khác đối với kết luận định giá tài sản
1. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị định
giá tài sản của bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác, cơ quan có
thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xem xét, ra văn bản yêu cầu định giá tài sản.
2. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được kết luận
định giá tài sản thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông
báo kết luận định giá tài sản cho bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia
tố tụng khác có liên quan.
3. Bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác có
quyền trình bày ý kiến của mình về kết luận định giá; đề nghị định giá lại. Trường
hợp họ trình bày trực tiếp thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải lập
biên bản.
4. Trường hợp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án không
chấp nhận đề nghị của bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác thì
phải thông báo cho người đề nghị bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Chương XVI
BIỆN PHÁP ĐIỀU TRA TỐ TỤNG ĐẶC BIỆT
Điều 223. Các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
Sau khi khởi tố vụ án, trong quá trình điều tra, người có
thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng
đặc biệt:
1. Ghi âm, ghi hình bí mật;
2. Nghe điện thoại bí mật;
3. Thu thập bí mật dữ liệu điện tử.
Điều 224. Trường hợp áp dụng biện pháp điều tra tố tụng
đặc biệt
Có thể áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt đối với
các trường hợp:
1. Tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tội
phạm về tham nhũng, tội khủng bố, tội rửa tiền;
2. Tội phạm khác có tổ chức thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm
trọng.
Điều 225. Thẩm quyền, trách nhiệm quyết định và thi hành
quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
1.[131] Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp
tỉnh, Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu trở lên tự mình hoặc
theo yêu cầu của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện
kiểm sát quân sự cấp quân khu trở lên có quyền ra quyết định áp dụng biện pháp
điều tra tố tụng đặc biệt.
Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra quân sự khu vực thụ
lý, điều tra thì Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự khu vực đề nghị Thủ trưởng
Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu xem xét, quyết định áp dụng.
2. Quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
ghi rõ thông tin cần thiết về đối tượng bị áp dụng, tên biện pháp được áp dụng,
thời hạn, địa điểm áp dụng, cơ quan tiến hành biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.
3. Quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
phải được Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Thủ
trưởng Cơ quan điều tra đã ra quyết định áp dụng có trách nhiệm kiểm tra chặt
chẽ việc áp dụng biện pháp này, kịp thời đề nghị Viện kiểm sát hủy bỏ nếu xét
thấy không còn cần thiết.
Cơ quan chuyên trách trong Công an nhân dân, Quân đội nhân
dân theo quy định của pháp luật có trách nhiệm thi hành quyết định áp dụng biện
pháp điều tra tố tụng đặc biệt.
4. Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát
có thẩm quyền và người thi hành quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng
đặc biệt phải giữ bí mật.
Điều 226. Thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng
đặc biệt
1. Thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
không quá 02 tháng kể từ ngày Viện trưởng Viện kiểm sát phê chuẩn. Trường hợp
phức tạp có thể gia hạn nhưng không quá thời hạn điều tra theo quy định của Bộ
luật này.
2. Chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn áp dụng biện
pháp điều tra tố tụng đặc biệt, nếu xét thấy cần gia hạn thì Thủ trưởng Cơ quan
điều tra đã ra quyết định áp dụng phải có văn bản đề nghị Viện trưởng Viện kiểm
sát đã phê chuẩn xem xét, quyết định việc gia hạn.
Điều 227. Sử dụng thông tin, tài liệu thu thập được bằng
biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
1. Thông tin, tài liệu thu thập được bằng biện pháp điều
tra tố tụng đặc biệt chỉ được sử dụng vào việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét
xử vụ án hình sự; thông tin, tài liệu không liên quan đến vụ án phải tiêu hủy kịp
thời.
Nghiêm cấm sử dụng thông tin, tài liệu, chứng cứ thu thập
được vào mục đích khác.
2. Thông tin, tài liệu thu thập được bằng việc áp dụng biện
pháp điều tra tố tụng đặc biệt có thể dùng làm chứng cứ để giải quyết vụ án.
3. Cơ quan điều tra có trách nhiệm thông báo ngay kết quả
việc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt cho Viện trưởng Viện kiểm sát
đã phê chuẩn.
Điều 228. Hủy bỏ việc áp dụng biện pháp điều tra tố
tụng đặc biệt
Viện trưởng Viện kiểm sát đã phê chuẩn quyết định áp
dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt phải kịp thời hủy bỏ quyết định
đó khi thuộc một trong các trường hợp:
1. Có đề nghị bằng văn bản của Thủ trưởng Cơ quan điều tra
có thẩm quyền;
2. Có vi phạm trong quá trình áp dụng biện pháp điều tra tố
tụng đặc biệt;
3. Không cần thiết tiếp tục áp dụng biện pháp điều tra tố tụng
đặc biệt.
Chương XVII
TẠM ĐÌNH CHỈ ĐIỀU TRA VÀ KẾT THÚC ĐIỀU TRA
Điều 229. Tạm đình chỉ điều tra
1. Cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra khi
thuộc một trong các trường hợp:
a) Khi chưa xác định được bị can hoặc không biết rõ bị can
đang ở đâu nhưng đã hết thời hạn điều tra vụ án. Trường hợp không biết rõ bị
can đang ở đâu, Cơ quan điều tra phải ra quyết định truy nã trước khi tạm đình
chỉ điều tra;
b) Khi có kết luận giám định tư pháp xác định bị can bị bệnh
tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo thì có thể tạm đình chỉ điều tra trước khi hết thời
hạn điều tra;
c)[132] Khi
đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản nhưng chưa có kết quả hoặc đã
yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa kết thúc theo quy định của Luật
Tương trợ tư pháp về hình sự mà đã hết thời hạn điều tra. Trong trường hợp này,
việc giám định, định giá tài sản tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả;
việc tương trợ tư pháp tiếp tục được tiến hành cho đến khi kết thúc theo quy định
của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự;
d)[133] Khi
không thể kết thúc điều tra vì lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh
nhưng đã hết thời hạn điều tra.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp
với Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và thủ trưởng các cơ quan
khác có liên quan quy định chi tiết điểm này.
2. Trường hợp vụ án có nhiều bị can mà lý do tạm đình chỉ
điều tra không liên quan đến tất cả bị can thì có thể tạm đình chỉ điều tra đối
với từng bị can.
3. Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định tạm đình
chỉ điều tra, Cơ quan điều tra phải gửi quyết định này cho Viện kiểm sát có thẩm
quyền[134], bị can, người bào chữa hoặc
người đại diện của bị can; thông báo cho bị hại, đương sự và người bảo vệ quyền
lợi của họ.
Điều 230. Đình chỉ điều tra
1. Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra khi thuộc
một trong các trường hợp:
a) Có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 và
Điều 157 của Bộ luật này hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc
Điều 29 của Bộ luật Hình sự hoặc người chưa thành niên được áp dụng biện
pháp xử lý chuyển hướng theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên[135];
b) Đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được
bị can đã thực hiện tội phạm.
2. Quyết định đình chỉ điều tra ghi rõ thời gian, địa điểm
ra quyết định, lý do và căn cứ đình chỉ điều tra, việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn,
biện pháp cưỡng chế, trả lại tài liệu, đồ vật đã tạm giữ (nếu có), việc xử lý vật
chứng và những vấn đề khác có liên quan.
Trường hợp vụ án có nhiều bị can mà căn cứ để đình chỉ điều
tra không liên quan đến tất cả bị can thì có thể đình chỉ điều tra đối với từng
bị can.
3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định
đình chỉ điều tra kèm theo hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra, nếu thấy quyết định
đình chỉ điều tra có căn cứ thì Viện kiểm sát phải trả lại hồ sơ vụ án cho Cơ
quan điều tra để giải quyết theo thẩm quyền; nếu thấy quyết định đình chỉ điều
tra không có căn cứ thì hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra và yêu cầu Cơ quan
điều tra phục hồi điều tra; nếu thấy đủ căn cứ để truy tố thì hủy bỏ quyết định
đình chỉ điều tra và ra quyết định truy tố theo thời hạn, trình tự, thủ tục quy
định tại Bộ luật này.
Điều 231. Truy nã bị can
1. Khi bị can trốn hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu thì
Cơ quan điều tra phải ra quyết định truy nã bị can.
2. Quyết định truy nã ghi rõ họ tên, ngày, tháng, năm sinh,
nơi cư trú của bị can, đặc điểm để nhận dạng bị can, tội phạm mà bị can đã bị
khởi tố và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này; kèm
theo ảnh bị can (nếu có).
Quyết định truy nã bị can được gửi cho Viện kiểm sát có thẩm
quyền[136] và thông báo công khai để mọi
người phát hiện, bắt người bị truy nã.
3. Sau khi bắt được bị can theo quyết định truy nã thì Cơ
quan điều tra đã ra quyết định truy nã phải ra quyết định đình nã. Quyết định
đình nã được gửi cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[137]
và thông báo công khai.
Điều 232. Kết thúc điều tra
1. Khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra phải ra bản kết
luận điều tra.
2. Việc điều tra kết thúc khi Cơ quan điều tra ra bản kết
luận điều tra đề nghị truy tố hoặc ra bản kết luận điều tra và quyết định đình
chỉ điều tra.
3. Bản kết luận điều tra ghi rõ ngày, tháng, năm; họ tên,
chức vụ và chữ ký của người ra kết luận.
4. Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra bản kết luận điều
tra, Cơ quan điều tra phải giao bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc bản
kết luận điều tra kèm theo quyết định đình chỉ điều tra cùng hồ sơ vụ án cho Viện
kiểm sát có thẩm quyền[138];
giao bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra
cho bị can hoặc người đại diện của bị can; gửi bản kết luận điều tra đề nghị
truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra cho người bào chữa; thông báo cho bị
hại, đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Điều 233. Kết luận điều tra trong trường hợp đề nghị truy tố[139]
1. Trong trường hợp đề nghị truy tố thì bản kết luận điều
tra ghi rõ diễn biến hành vi phạm tội; chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị
can, thủ đoạn, động cơ, mục đích phạm tội, tính chất, mức độ thiệt hại do hành
vi phạm tội gây ra; việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện
pháp cưỡng chế; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm
nhân thân của bị can; việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và việc xử lý vật
chứng; nguyên nhân và điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội và tình tiết khác có ý
nghĩa đối với vụ án; lý do và căn cứ đề nghị truy tố; tội danh, điều, khoản, điểm
của Bộ luật Hình sự được áp dụng; những ý kiến đề xuất giải quyết vụ án.
Bản kết luận điều tra phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra kết
luận; họ tên, chức vụ và chữ ký của người ra kết luận điều tra.
2. Cơ quan điều tra có thể kết luận điều tra đề nghị truy tố
bị can khi đã có đủ căn cứ và bảo đảm quyền bào chữa cho bị can theo quy định của
Bộ luật này trong các trường hợp sau:
a) Bị can trốn hoặc không biết bị can ở đâu và việc truy nã
không có kết quả;
b) Bị can đang ở nước ngoài mà không thể triệu tập để phục
vụ các hoạt động điều tra.
3. Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ban hành kết luận điều
tra đề nghị truy tố đối với bị can quy định tại khoản 2 Điều này, kết luận điều
tra phải được niêm yết nếu không thể giao được cho bị can.
4. Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ
Quốc phòng, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao quy định chi tiết khoản 2 và khoản 3 Điều này.
Điều 234. Kết luận điều tra trong trường hợp đình chỉ điều
tra
Trong trường hợp đình chỉ điều tra thì bản kết luận điều
tra ghi rõ diễn biến sự việc, quá trình điều tra, lý do và căn cứ đình chỉ điều
tra.
Bản kết luận điều tra phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra kết
luận; họ tên, chức vụ và chữ ký của người ra kết luận điều tra.
Quyết định đình chỉ điều tra ghi rõ thời gian, địa điểm ra
quyết định, lý do và căn cứ đình chỉ điều tra, việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn,
biện pháp cưỡng chế, trả lại tài liệu, đồ vật đã tạm giữ (nếu có), việc xử lý vật
chứng và các vấn đề khác có liên quan.
Điều 235. Phục hồi điều tra
1. Khi có lý do để hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra hoặc
quyết định tạm đình chỉ điều tra thì Cơ quan điều tra ra quyết định phục hồi điều
tra, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Nếu việc điều tra bị đình chỉ theo quy định tại khoản 5 và
khoản 6 Điều 157 của Bộ luật này mà bị can không đồng ý và yêu cầu điều tra lại
thì Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền[140]
ra quyết định phục hồi điều tra.
2. Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định phục hồi
điều tra, Cơ quan điều tra phải gửi quyết định này cho Viện kiểm sát có thẩm
quyền[141], bị can, người bào chữa hoặc
người đại diện của bị can; thông báo cho bị hại, đương sự và người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của họ.
Phần thứ ba
TRUY TỐ
Chương XVIII
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 236. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực
hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố
1. Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn,
biện pháp cưỡng chế; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can.
2. Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu liên
quan đến vụ án trong trường hợp cần thiết.
3. Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm kiểm
tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ để quyết định việc truy tố hoặc khi Tòa án yêu
cầu điều tra bổ sung mà xét thấy không cần thiết phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều
tra.
4. Quyết định khởi tố, quyết định thay đổi, quyết định bổ
sung quyết định khởi tố vụ án, bị can trong trường hợp phát hiện còn có hành vi
phạm tội, người phạm tội khác trong vụ án chưa được khởi tố, điều tra.
5. Quyết định trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để yêu cầu điều
tra bổ sung.
6. Quyết định tách, nhập vụ án; chuyển vụ án để truy tố
theo thẩm quyền, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
7. Quyết định gia hạn, không gia hạn thời hạn truy tố, thời
hạn áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế.
8. Quyết định truy tố.
9. Quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; quyết định đình
chỉ, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can; quyết định phục hồi vụ án, quyết định
phục hồi vụ án đối với bị can.
10. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác để quyết định việc
truy tố theo quy định của Bộ luật này.
Điều 237. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm
sát trong giai đoạn truy tố
1. Khi kiểm sát trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát có
nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự của người tham gia tố
tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý nghiêm
minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật;
b) Kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp
phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật;
c) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác để kiểm sát trong
giai đoạn truy tố theo quy định của Bộ luật này.
2. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, kiến
nghị quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này, cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo việc thực hiện yêu cầu, kiến nghị cho
Viện kiểm sát.
Điều 238. Giao, nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra
1. Khi Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra giao hồ sơ vụ án kèm theo bản kết luận điều tra
đề nghị truy tố và vật chứng (nếu có) thì Viện kiểm sát phải kiểm tra và xử lý
như sau:
a) Trường hợp tài liệu trong hồ sơ vụ án, vật chứng kèm
theo (nếu có) đã đầy đủ so với bảng kê tài liệu, vật chứng và bản kết luận điều
tra đã được giao cho bị can hoặc người đại diện của bị can thì nhận hồ sơ vụ án;
b) Trường hợp tài liệu trong hồ sơ vụ án, vật chứng kèm
theo (nếu có) không đủ so với bảng kê tài liệu, vật chứng hoặc bản kết luận điều
tra chưa được giao cho bị can hoặc người đại diện của bị can thì chưa nhận hồ
sơ vụ án và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra bổ sung tài liệu, vật chứng; yêu cầu giao bản kết luận điều
tra cho bị can hoặc người đại diện của bị can.
2. Việc giao, nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra được
lập biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này và đưa vào hồ sơ vụ án.
Điều 239. Thẩm quyền truy tố
1.[142] Viện kiểm sát có thẩm quyền
quyết định việc truy tố là Viện kiểm sát đã thực hành quyền công tố và kiểm sát
điều tra. Thẩm quyền truy tố của Viện kiểm sát được xác định theo thẩm quyền
xét xử của Tòa án đối với vụ án.
Trường hợp vụ án không thuộc thẩm quyền truy tố của mình,
Viện kiểm sát ra ngay quyết định chuyển vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền.
Việc chuyển vụ án cho Viện kiểm sát ngoài phạm vi tỉnh, thành phố hoặc ngoài phạm
vi quân khu do Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân
khu quyết định.
Đối với vụ án do Viện kiểm sát cấp trên thực hành quyền
công tố, kiểm sát điều tra thì Viện kiểm sát cấp trên quyết định việc truy tố.
Chậm nhất là 02 tháng trước khi kết thúc điều tra, Viện kiểm sát cấp trên phải
thông báo cho Viện kiểm sát cấp dưới cùng cấp với Tòa án có thẩm quyền xét xử
sơ thẩm vụ án để cử Kiểm sát viên tham gia nghiên cứu hồ sơ vụ án. Ngay sau khi
quyết định truy tố, Viện kiểm sát cấp trên ra quyết định phân công cho Viện kiểm
sát cấp dưới thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử; sau khi nhận được hồ sơ
vụ án kèm theo bản cáo trạng, Viện kiểm sát cấp dưới có thẩm quyền thực hành
quyền công tố và kiểm sát xét xử theo đúng quy định của Bộ luật này.
2. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định chuyển vụ
án, Viện kiểm sát phải thông báo bằng văn bản cho Cơ quan đã kết thúc điều tra
vụ án, bị can hoặc người đại diện của bị can, người bào chữa, bị hại, người
tham gia tố tụng khác.
Việc giao, gửi hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng được thực
hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 240 của Bộ luật này. Trong trường hợp này,
thời hạn truy tố được tính từ ngày Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố nhận được
hồ sơ vụ án.
Điều 240. Thời hạn quyết định việc truy tố
1. Trong thời hạn 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng
và tội phạm nghiêm trọng, 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm
đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Viện
kiểm sát phải ra một trong các quyết định:
a) Truy tố bị can trước Tòa án;
b) Trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung;
c) Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án; đình chỉ hoặc tạm đình
chỉ vụ án đối với bị can.
Trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia
hạn thời hạn quyết định việc truy tố nhưng không quá 10 ngày đối với tội phạm
ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 15 ngày đối với tội phạm rất
nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
2. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra một trong các quyết
định quy định tại khoản 1 Điều này, Viện kiểm sát phải thông báo cho bị can, người
bào chữa hoặc người đại diện của bị can, bị hại biết việc trả hồ sơ để điều
tra bổ sung; giao cho bị can hoặc người đại diện của bị can và gửi cho Cơ quan
điều tra, người bào chữa bản cáo trạng, quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định
tạm đình chỉ vụ án, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can hoặc quyết định tạm
đình chỉ vụ án đối với bị can; thông báo cho bị hại, đương sự, người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của họ.
Việc giao, nhận các văn bản nêu trên được lập biên bản
theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này và đưa vào hồ sơ vụ án.
Trường hợp vụ án phức tạp thì thời hạn giao bản cáo trạng,
quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án cho bị can hoặc
người đại diện của bị can có thể kéo dài nhưng không quá 10 ngày.
3. Các quyết định nêu tại khoản 1 Điều này phải được gửi
ngay cho Viện kiểm sát cấp trên. Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên có quyền
rút, đình chỉ, hủy bỏ các quyết định đó nếu thấy không có căn cứ hoặc trái pháp
luật và yêu cầu Viện kiểm sát cấp dưới ra quyết định đúng pháp luật.
Điều 241. Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện
pháp cưỡng chế
Sau khi nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Viện kiểm
sát có quyền quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện
pháp cưỡng chế theo quy định của Bộ luật này.
Thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn truy tố
không được quá thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 240 của Bộ luật này.
Điều 242. Nhập hoặc tách vụ án trong giai đoạn truy tố
1. Viện kiểm sát quyết định nhập vụ án khi thuộc một trong
các trường hợp:
a) Bị can phạm nhiều tội;
b) Bị can phạm tội nhiều lần;
c) Nhiều bị can cùng thực hiện một tội phạm hoặc cùng với
bị can còn có những người khác che giấu tội phạm hoặc không tố giác tội phạm,
tiêu thụ tài sản do bị can phạm tội mà có.
2. Viện kiểm sát quyết định tách vụ án khi thuộc một trong
các trường hợp sau đây nếu xét thấy việc tách đó không ảnh hưởng đến việc xác định
sự thật khách quan, toàn diện và đã có quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị
can:
a) Bị can bỏ trốn;
b) Bị can mắc bệnh hiểm nghèo;
c) Bị can bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
Chương XIX
QUYẾT ĐỊNH VIỆC TRUY TỐ BỊ CAN
Điều 243. Quyết định truy tố bị can[143]
1. Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can trước Tòa án bằng
bản cáo trạng.
Bản cáo trạng ghi rõ diễn biến hành vi phạm tội; chứng cứ
xác định hành vi phạm tội của bị can, thủ đoạn, động cơ, mục đích phạm tội,
tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; việc áp dụng, thay đổi,
hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị can; việc thu giữ, tạm giữ tài
liệu, đồ vật và việc xử lý vật chứng; nguyên nhân và điều kiện dẫn đến hành vi
phạm tội và tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.
Phần kết luận của bản cáo trạng ghi rõ tội danh và điều,
khoản, điểm của Bộ luật Hình sự được áp dụng.
Bản cáo trạng phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra cáo trạng; họ
tên, chức vụ và chữ ký của người ra bản cáo trạng.
2. Viện kiểm sát có thể quyết định truy tố bị can khi đã có
đủ căn cứ và bảo đảm quyền bào chữa cho bị can theo quy định của Bộ luật này
trong các trường hợp sau:
a) Bị can trốn hoặc không biết bị can ở đâu và việc truy nã
không có kết quả;
b) Bị can đang ở nước ngoài mà không thể triệu tập để phục
vụ các hoạt động nhằm quyết định việc truy tố.
3. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra bản cáo trạng theo
quy định tại khoản 2 Điều này, cáo trạng phải được niêm yết nếu không thể giao
được cho bị can.
4. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối
hợp với Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao quy định chi tiết khoản 2 và khoản 3 Điều này.
Điều 244. Chuyển hồ sơ vụ án và bản cáo trạng đến Tòa án
Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra bản cáo trạng, Viện kiểm
sát phải chuyển hồ sơ vụ án và bản cáo trạng đến Tòa án. Trường hợp vụ án phức
tạp thì thời hạn chuyển hồ sơ vụ án và bản cáo trạng đến Tòa án có thể kéo dài
nhưng không quá 10 ngày.
Trường hợp vụ án có bị can bị tạm giam thì trước khi hết
thời hạn tạm giam 07 ngày thì Viện kiểm sát thông báo cho Tòa án biết để
xem xét, quyết định việc tạm giam bị can khi nhận hồ sơ vụ án.
Điều 245. Trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung
1. Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ vụ án, yêu cầu
Cơ quan điều tra điều tra bổ sung khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Còn thiếu chứng cứ để chứng minh một trong những vấn đề
quy định tại Điều 85 của Bộ luật này mà Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung
được;
b) Có căn cứ khởi tố bị can về một hay nhiều tội phạm khác;
c) Có người đồng phạm hoặc người phạm tội khác liên quan đến
vụ án nhưng chưa được khởi tố bị can;
d) Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
2. Quyết định trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung phải
ghi rõ vấn đề cần điều tra bổ sung quy định tại khoản 1 Điều này và các nội
dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.
3. Cơ quan điều tra có trách nhiệm thực hiện đầy đủ yêu cầu
nêu trong quyết định trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung của Viện kiểm sát; trường
hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan mà không thực hiện được
thì phải nêu rõ lý do bằng văn bản.
Kết thúc điều tra bổ sung, Cơ quan điều tra phải có bản kết
luận điều tra bổ sung. Bản kết luận điều tra bổ sung phải ghi rõ kết quả điều
tra bổ sung, quan điểm giải quyết vụ án. Nếu kết quả điều tra bổ sung làm thay
đổi cơ bản kết luận điều tra trước đó thì Cơ quan điều tra phải ra bản kết luận
điều tra mới thay thế.
Việc chuyển hồ sơ vụ án kèm theo kết luận điều tra bổ sung
cho Viện kiểm sát; việc giao, nhận, gửi thông báo kết quả điều tra bổ sung được
thực hiện theo quy định tại Điều 232 và Điều 238 của Bộ luật này.
Điều 246. Giải quyết yêu cầu điều tra bổ sung của Tòa án
Trường hợp Tòa án quyết định trả hồ sơ vụ án yêu cầu điều
tra bổ sung thì Viện kiểm sát phải xem xét căn cứ của việc yêu cầu điều tra bổ
sung và giải quyết như sau:
1. Nếu quyết định trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung có căn
cứ mà xét thấy không cần phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra thì Viện kiểm sát
trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra để bổ sung tài liệu, chứng cứ;
trường hợp Viện kiểm sát không thể tự điều tra bổ sung được thì Viện kiểm sát
ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung và chuyển ngay hồ sơ cho Cơ quan điều
tra để tiến hành điều tra.
Trường hợp kết quả điều tra bổ sung làm thay đổi cơ bản
nội dung bản cáo trạng trước đó thì Viện kiểm sát phải ra bản cáo trạng mới
thay thế và chuyển hồ sơ đến Tòa án. Trường hợp kết quả điều tra bổ sung dẫn đến
đình chỉ vụ án thì Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án và thông báo cho
Tòa án biết;
2. Nếu quyết định trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung không
có căn cứ thì Viện kiểm sát có văn bản nêu rõ lý do, giữ nguyên quyết định truy
tố và chuyển lại hồ sơ cho Tòa án.
Điều 247. Tạm đình chỉ vụ án
1. Viện kiểm sát quyết định tạm đình chỉ vụ án trong các
trường hợp:
a) Khi có kết luận giám định tư pháp xác định bị can bị bệnh
tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo thì có thể tạm đình chỉ vụ án trước khi hết thời
hạn quyết định việc truy tố;
b) Khi bị can bỏ trốn mà không biết rõ bị can đang ở đâu
nhưng đã hết thời hạn quyết định việc truy tố; trong trường hợp này phải yêu cầu
Cơ quan điều tra truy nã bị can trước khi tạm đình chỉ vụ án. Việc truy nã bị
can được thực hiện theo quy định tại Điều 231 của Bộ luật này;
c)[144] Khi
đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản nhưng chưa có kết quả hoặc đã
yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa kết thúc theo quy định của Luật
Tương trợ tư pháp về hình sự mà đã hết thời hạn quyết định việc truy tố. Trong
trường hợp này, việc giám định, định giá tài sản tiếp tục được tiến hành cho đến
khi có kết quả; việc tương trợ tư pháp tiếp tục được tiến hành cho đến khi kết
thúc theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự;
d)[145] Khi
không thể tiến hành các hoạt động tố tụng để quyết định việc truy tố vì lý do bất
khả kháng do thiên tai, dịch bệnh nhưng đã hết thời hạn quyết định việc truy tố.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp
với Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và thủ trưởng các cơ quan
khác có liên quan quy định chi tiết điểm này.
2. Quyết định tạm đình chỉ vụ án phải ghi rõ lý do, căn cứ
tạm đình chỉ vụ án, các vấn đề khác có liên quan và các nội dung quy định tại
khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.
Trường hợp vụ án có nhiều bị can mà căn cứ để tạm đình chỉ
vụ án không liên quan đến tất cả bị can thì tạm đình chỉ vụ án đối với từng bị
can.
Điều 248. Đình chỉ vụ án
1. Viện kiểm sát quyết định không truy tố và ra quyết định
đình chỉ vụ án khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 và Điều
157 của Bộ luật này hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 của
Bộ luật Hình sự hoặc người chưa thành niên được áp dụng biện pháp xử lý
chuyển hướng theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên[146].
2. Quyết định đình chỉ vụ án phải ghi rõ lý do và căn cứ
đình chỉ vụ án, việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, xử lý vật
chứng, tài liệu, đồ vật đã tạm giữ (nếu có), các vấn đề khác có liên quan và
các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.
Trường hợp vụ án có nhiều bị can mà căn cứ đình chỉ vụ án
không liên quan đến tất cả các bị can thì quyết định đình chỉ vụ án đối với từng
bị can.
Điều 249. Phục hồi vụ án
1. Khi có lý do để hủy bỏ quyết định đình chỉ vụ án hoặc
quyết định tạm đình chỉ vụ án thì Viện kiểm sát ra quyết định phục hồi vụ án nếu
chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu vụ án bị đình chỉ theo quy
định tại khoản 5 và khoản 6 Điều 157 của Bộ luật này mà bị can không đồng ý và
yêu cầu phục hồi vụ án thì Viện kiểm sát ra quyết định phục hồi vụ án. Có thể
phục hồi đối với toàn bộ vụ án hoặc phục hồi vụ án đối với từng bị can.
2. Quyết định phục hồi vụ án phải ghi rõ lý do và căn cứ phục
hồi vụ án, các vấn đề khác có liên quan và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều
132 của Bộ luật này.
3. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định, Viện kiểm
sát phải giao quyết định phục hồi vụ án hoặc quyết định phục hồi vụ án đối với
bị can cho bị can hoặc người đại diện của bị can; gửi cho cơ quan đã kết thúc
điều tra vụ án, người bào chữa; thông báo cho bị hại, đương sự, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Việc giao, nhận quyết định phục hồi vụ án, quyết định phục
hồi vụ án đối với bị can được lập biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án.
4. Thời hạn quyết định việc truy tố khi phục hồi vụ án được
tính theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này kể từ ngày Viện kiểm sát ra
quyết định phục hồi vụ án.
5. Khi phục hồi vụ án, Viện kiểm sát có quyền áp dụng, thay
đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế theo quy định của Bộ luật
này.
Trường hợp có căn cứ theo quy định của Bộ luật này cần phải
tạm giam thì thời hạn tạm giam để phục hồi vụ án không được quá thời hạn quyết
định việc truy tố.
Phần thứ tư
XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ
Chương XX
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 250. Xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục
1. Việc xét xử được tiến hành bằng lời nói.
Hội đồng xét xử phải trực tiếp xác định những tình tiết của
vụ án bằng cách hỏi, nghe ý kiến của bị cáo, bị hại, đương sự hoặc người đại diện
của họ, người làm chứng, người giám định, người khác tham gia phiên tòa được
Tòa án triệu tập; xem xét, kiểm tra tài liệu, chứng cứ đã thu thập; công bố
biên bản, tài liệu và tiến hành hoạt động tố tụng khác để kiểm tra chứng cứ;
nghe ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của bị hại, đương sự.
2. Việc xét xử được tiến hành liên tục, trừ thời gian nghỉ
và thời gian tạm ngừng phiên tòa.
Điều 251. Tạm ngừng phiên tòa
1. Việc xét xử có thể tạm ngừng khi thuộc một trong các trường
hợp:
a) Cần phải xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ, tài liệu,
đồ vật mà không thể thực hiện ngay tại phiên tòa và có thể thực hiện được trong
thời hạn 05 ngày, kể từ ngày tạm ngừng phiên tòa;
b) Do tình trạng sức khỏe, sự kiện bất khả kháng hoặc trở
ngại khách quan mà người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc người tham gia
tố tụng không thể tiếp tục tham gia phiên tòa nhưng họ có thể tham gia lại
phiên tòa trong thời gian 05 ngày, kể từ ngày tạm ngừng phiên tòa;
c) Vắng mặt Thư ký Tòa án tại phiên tòa.
2. Việc tạm ngừng phiên tòa phải được ghi vào biên bản
phiên tòa và thông báo cho những người tham gia tố tụng biết. Thời hạn tạm ngừng
phiên tòa không quá 05 ngày kể từ ngày quyết định tạm ngừng phiên tòa. Hết thời
hạn tạm ngừng phiên tòa, việc xét xử vụ án được tiếp tục. Trường hợp không thể
tiếp tục xét xử vụ án thì phải hoãn phiên tòa.
Điều 252. Tòa án xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ
Tòa án tiến hành việc xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ
bằng các hoạt động:
1. Tiếp nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án
do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp;
2. Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ
vật liên quan đến vụ án;
3. Xem xét tại chỗ vật chứng không thể đưa đến phiên tòa;
4. Xem xét tại chỗ nơi đã xảy ra tội phạm hoặc địa điểm
khác có liên quan đến vụ án;
5. Trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản ngoài các
trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định, cần định giá tài sản quy định tại
Điều 206 và Điều 215 của Bộ luật này; trưng cầu giám định bổ sung, giám định lại;
yêu cầu định giá lại tài sản;
6. Trường hợp Tòa án đã yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung chứng
cứ nhưng Viện kiểm sát không bổ sung được thì Tòa án có thể tiến hành xác minh,
thu thập tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án.
Điều 253. Tiếp nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến
vụ án
1. Khi cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp chứng cứ, tài liệu,
đồ vật liên quan đến vụ án thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải tiếp nhận và có
thể hỏi người đã cung cấp về những vấn đề có liên quan đến chứng cứ, tài liệu,
đồ vật đó. Việc tiếp nhận được lập biên bản.
2. Ngay sau khi nhận được chứng cứ, tài liệu, đồ vật do cơ
quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thì Tòa án phải chuyển cho Viện kiểm sát cùng cấp.
Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng cứ, tài liệu, đồ vật, Viện kiểm
sát phải xem xét và chuyển lại cho Tòa án để đưa vào hồ sơ vụ án.
Điều 254. Thành phần Hội đồng xét xử
1. Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm.
Trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì Hội đồng xét xử sơ thẩm
có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm.
Đối với vụ án có bị cáo về tội mà Bộ luật Hình sự quy định
mức cao nhất của khung hình phạt là tù chung thân, tử hình thì Hội đồng xét xử
sơ thẩm gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm.
2. Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba Thẩm phán.
Điều 255. Quyết định đưa vụ án ra xét xử
1. Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm ghi
rõ:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định; tên Tòa án
ra quyết định; giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm mở phiên tòa;
b) Xét xử công khai hay xét xử kín;
c) Họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, nghề
nghiệp, nơi cư trú của bị cáo;
d) Tội danh và điểm, khoản, điều của Bộ luật
Hình sự mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo;
đ) Họ tên Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án;
họ tên Thẩm phán dự khuyết, Hội thẩm dự khuyết, Thư ký Tòa án dự khuyết (nếu
có);
e) Họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm
sát xét xử tại phiên tòa; họ tên Kiểm sát viên dự khuyết (nếu có);
g) Họ tên người bào chữa (nếu có);
h) Họ tên người phiên dịch (nếu có);
i) Họ tên những người khác được triệu tập đến
phiên tòa;
k) Vật chứng cần đưa ra xem xét tại phiên tòa.
2. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm
ghi rõ các nội dung quy định tại các điểm a, b, e, g, h, i và k khoản 1 Điều
này; tội danh và hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định; họ tên người
kháng cáo, người bị kháng cáo, người bị kháng nghị; Viện kiểm sát kháng nghị; họ
tên Thẩm phán, Thư ký Tòa án; họ tên Thẩm phán dự khuyết, Thư ký Tòa án dự khuyết
(nếu có).
Điều 256. Nội quy phiên tòa
1. Mọi người vào phòng xử án phải mặc trang phục nghiêm
túc, chấp hành việc kiểm tra an ninh và thực hiện đúng hướng dẫn của Thư ký Tòa
án.
2. Mọi người trong phòng xử án phải tôn trọng Hội đồng xét
xử, giữ gìn trật tự và tuân theo sự điều hành của chủ tọa phiên tòa.
3. Mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy khi Hội đồng
xét xử vào phòng xử án và khi tuyên án. Bị cáo phải đứng khi Kiểm sát viên công
bố cáo trạng hoặc quyết định truy tố. Người được Tòa án triệu tập đến phiên tòa
muốn trình bày ý kiến phải được chủ tọa phiên tòa đồng ý; người trình bày ý kiến
phải đứng khi trình bày ý kiến, khi được hỏi.
Những người vì lý do sức khỏe có thể được chủ tọa phiên tòa
cho phép ngồi.
4. Tại phiên tòa, bị cáo đang bị tạm giam chỉ được tiếp xúc
với người bào chữa cho mình. Việc tiếp xúc với những người khác phải được chủ tọa
phiên tòa cho phép.
5. Người dưới 16 tuổi không được vào phòng xử án, trừ trường
hợp được Tòa án triệu tập đến phiên tòa.
Điều 257. Phòng xử án
1. Phòng xử án phải được bố trí thể hiện sự trang nghiêm,
an toàn, bảo đảm sự bình đẳng giữa người thực hành quyền công tố và luật sư,
người bào chữa khác.
2. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết Điều
này.
Điều 258. Biên bản phiên tòa
1. Biên bản phiên tòa phải ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm, địa
điểm mở phiên tòa và mọi diễn biến tại phiên tòa từ khi bắt đầu cho đến khi kết
thúc phiên tòa. Cùng với việc ghi biên bản, có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm
thanh về diễn biến phiên tòa.
2. Các câu hỏi, câu trả lời, lời trình bày và quyết định tại
phiên tòa đều được ghi vào biên bản.
3. Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, chủ tọa phiên tòa phải
kiểm tra biên bản và cùng với Thư ký Tòa án ký vào biên bản đó.
4. Sau khi chủ tọa phiên tòa và Thư ký Tòa án ký vào biên bản
phiên tòa, Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, bị hại, đương sự, người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự hoặc đại diện của những người
đó được xem biên bản phiên tòa. Nếu có người yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung
vào biên bản phiên tòa thì Thư ký Tòa án phải ghi sửa đổi, bổ sung đó vào biên
bản phiên tòa. Không được tẩy xóa, sửa chữa trực tiếp mà phải ghi sửa đổi, bổ
sung tiếp vào cuối biên bản phiên tòa và cùng chủ tọa phiên tòa ký xác nhận; nếu
chủ tọa phiên tòa không chấp nhận yêu cầu thì phải nêu rõ lý do và ghi vào biên
bản phiên tòa.
Điều 259. Biên bản nghị án
1. Khi nghị án phải lập biên bản.
Biên bản nghị án phải được tất cả thành viên Hội đồng xét xử
ký tại phòng nghị án trước khi tuyên án.
2. Biên bản nghị án của Hội đồng xét xử sơ thẩm phải ghi rõ:
a) Giờ, ngày, tháng, năm ra biên bản; tên Tòa
án xét xử;
b) Họ tên Thẩm phán, Hội thẩm;
c) Vụ án được đưa ra xét xử;
d) Kết quả biểu quyết của Hội đồng xét xử về từng vấn
đề đã thảo luận quy định tại khoản 3 Điều 326 của Bộ luật này, ý kiến khác (nếu
có).
3. Biên bản nghị án của Hội đồng xét xử phúc thẩm phải ghi
rõ các điểm a, c và d khoản 2 Điều này và họ tên các Thẩm phán.
Điều 260. Bản án
1. Tòa án ra bản án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.
Bản án phải có chữ ký của tất cả thành viên Hội đồng xét xử.
2. Bản án sơ thẩm phải ghi rõ:
a) Tên Tòa án xét xử sơ thẩm; số và ngày thụ lý vụ án; số của
bản án và ngày tuyên án; họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa
án, Kiểm sát viên; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, nơi cư trú, nghề
nghiệp, trình độ văn hóa, dân tộc, tiền án, tiền sự của bị cáo; ngày bị cáo bị
tạm giữ, tạm giam; họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi sinh, nơi cư trú của người đại
diện của bị cáo; họ tên của người bào chữa, người làm chứng, người giám định,
người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật và những người khác
được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa; họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi cư trú
của bị hại, đương sự, người đại diện của họ; số, ngày, tháng, năm của quyết định
đưa vụ án ra xét xử; xét xử công khai hoặc xét xử kín; thời gian và địa điểm
xét xử;
b) Số, ngày, tháng, năm của bản cáo trạng hoặc quyết định
truy tố; tên Viện kiểm sát truy tố; hành vi của bị cáo theo tội danh mà Viện
kiểm sát truy tố; tội danh, điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự và mức hình
phạt, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà
Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo; xử lý vật chứng;
c) Ý kiến của người bào chữa, bị hại, đương sự, người khác
tham gia phiên tòa được Tòa án triệu tập;
d) Nhận định của Hội đồng xét xử phải phân tích những chứng
cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội, xác định bị cáo có tội hay
không và nếu bị cáo có tội thì là tội gì, theo điểm, khoản, điều nào của Bộ luật
Hình sự và của văn bản quy phạm pháp luật khác được áp dụng, tình tiết tăng nặng,
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và cần phải xử lý như thế nào. Nếu bị
cáo không có tội thì bản án phải ghi rõ những căn cứ xác định bị cáo không có tội
và việc giải quyết khôi phục danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy
định của pháp luật;
đ) Phân tích lý do mà Hội đồng xét xử không chấp nhận những
chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo,
người bào chữa, bị hại, đương sự và người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của họ đưa ra;
e) Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng
của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy
tố, xét xử;
g) Quyết định của Hội đồng xét xử về từng vấn đề phải
giải quyết trong vụ án, về án phí và quyền kháng cáo đối với bản án. Trường hợp
có quyết định phải thi hành ngay thì ghi rõ quyết định đó.
3. Bản án phúc thẩm phải ghi rõ:
a) Tên Tòa án xét xử phúc thẩm; số và ngày thụ lý vụ án; số
của bản án và ngày tuyên án; họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký
Tòa án, Kiểm sát viên; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, nơi cư trú, nghề
nghiệp, trình độ văn hóa, dân tộc, tiền án, tiền sự của bị cáo có kháng cáo, bị
kháng cáo, bị kháng nghị và những bị cáo không kháng cáo, không bị kháng cáo,
không bị kháng nghị nhưng Tòa án cấp phúc thẩm có xem xét; ngày bị cáo bị tạm
giữ, tạm giam; họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi sinh, nơi cư trú của người đại diện
của bị cáo; họ tên của người bào chữa, người giám định, người phiên dịch và những
người khác được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa; họ tên, tuổi, nghề nghiệp,
nơi cư trú, địa chỉ của bị hại, đương sự, người đại diện của họ; tên của Viện
kiểm sát có kháng nghị; xét xử công khai hoặc xét xử kín; thời gian và địa điểm
xét xử;
b) Tóm tắt nội dung vụ án, quyết định trong bản án sơ thẩm;
nội dung kháng cáo, kháng nghị; nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm, những
căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị; điểm, khoản, điều
của Bộ luật Hình sự và của văn bản quy phạm pháp luật khác mà Hội đồng xét xử
phúc thẩm căn cứ để giải quyết vụ án;
c) Quyết định của Hội đồng xét xử phúc thẩm về từng vấn đề
phải giải quyết trong vụ án do có kháng cáo, kháng nghị, về án phí sơ thẩm,
phúc thẩm.
Điều 261. Sửa chữa, bổ sung bản án
1. Không được sửa chữa, bổ sung bản án trừ trường hợp phát
hiện có lỗi rõ ràng về chính tả, số liệu do nhầm lẫn hoặc do tính toán sai.
Việc sửa chữa, bổ sung bản án không được làm thay đổi bản
chất vụ án hoặc bất lợi cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
Việc sửa chữa, bổ sung bản án được thể hiện bằng văn bản và
giao ngay cho những người được quy định tại Điều 262 của Bộ luật này.
2. Việc sửa chữa, bổ sung bản án quy định tại khoản 1 Điều
này do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đã ra bản án, quyết định thực hiện. Trường hợp
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa không thể thực hiện được thì việc sửa chữa, bổ sung
bản án do Chánh án Tòa án đã xét xử vụ án đó thực hiện.
Điều 262. Giao, gửi bản án
1. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tuyên án, Tòa án cấp
sơ thẩm phải giao bản án cho bị cáo, bị hại, Viện kiểm sát cùng cấp, người bào
chữa; gửi bản án cho bị cáo bị xét xử vắng mặt quy định tại điểm c khoản 2 Điều
290 của Bộ luật này, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, Cơ quan điều tra có thẩm
quyền[147], cơ quan thi hành án hình
sự có thẩm quyền, Trại tạm giam, Trại giam nơi đang giam giữ bị cáo; thông báo
bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã[148]
nơi bị cáo cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi bị cáo làm việc, học tập; cấp bản
sao bản án hoặc trích lục bản án về những phần có liên quan cho đương sự hoặc
người đại diện của họ.
Trường hợp xét xử vắng mặt bị cáo theo quy định tại điểm a
hoặc điểm b khoản 2 Điều 290 của Bộ luật này thì trong thời hạn nêu trên, bản
án phải được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã[149]
nơi cư trú cuối cùng hoặc cơ quan, tổ chức nơi làm việc, học tập cuối cùng của
bị cáo.
Tòa án cấp sơ thẩm gửi bản án cho cơ quan thi hành án dân sự
có thẩm quyền trong trường hợp bản án sơ thẩm có tuyên hình phạt tiền, tịch thu
tài sản và quyết định dân sự theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.
2.[150]
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc kể từ ngày ra quyết định, Tòa
án cấp phúc thẩm phải gửi bản án hoặc quyết định phúc thẩm cho Viện kiểm sát
cùng cấp; cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền; Cơ quan điều tra, Viện kiểm
sát, Tòa án nơi đã xét xử sơ thẩm; Trại tạm giam, Trại giam nơi đang giam giữ bị
cáo; người đã kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng
cáo, kháng nghị hoặc người đại diện của họ; cơ quan thi hành án dân sự có thẩm
quyền trong trường hợp bản án phúc thẩm có tuyên hình phạt tiền, tịch thu tài sản
và quyết định dân sự; thông báo bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư
trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi làm việc, học tập của bị cáo. Trường hợp Tòa Phúc
thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án quân sự trung ương xét xử phúc thẩm thì thời
hạn này có thể kéo dài nhưng không quá 25 ngày.
Điều 263. Phiên dịch tại phiên tòa
1. Trường hợp bị cáo, bị hại, đương sự, người làm chứng
không biết tiếng Việt, là người câm, người điếc thì người phiên dịch phải dịch
cho họ nghe, hiểu lời trình bày, các câu hỏi, câu trả lời tại phiên tòa, nội
dung quyết định của Hội đồng xét xử và các vấn đề khác có liên quan đến họ.
2. Người phiên dịch phải dịch lời trình bày, câu hỏi, câu
trả lời của những người quy định tại khoản 1 Điều này ra tiếng Việt cho Hội đồng
xét xử và người khác tham gia phiên tòa cùng nghe.
Điều 264. Kiến nghị sửa chữa thiếu sót, vi phạm trong công
tác quản lý
1. Cùng với việc ra bản án, Tòa án ra kiến nghị cơ quan, tổ
chức hữu quan áp dụng biện pháp cần thiết để khắc phục nguyên nhân và điều kiện
phát sinh tội phạm tại các cơ quan, tổ chức đó. Trong thời hạn 30 ngày kể từ
ngày nhận được kiến nghị của Tòa án, cơ quan, tổ chức nhận được kiến nghị phải
thông báo bằng văn bản cho Tòa án biết về những biện pháp được áp dụng.
2. Kiến nghị của Tòa án có thể được đọc tại phiên tòa cùng
với bản án hoặc chỉ gửi riêng cho cơ quan, tổ chức hữu quan.
Điều 265. Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý
văn bản pháp luật
Trong quá trình xét xử vụ án hình sự, Tòa án phát hiện và
kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản
pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị
quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ
quan, tổ chức, cá nhân.
Việc xem xét, trả lời Tòa án về kết quả xử lý văn bản pháp
luật bị kiến nghị được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Điều 266. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực
hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử
1. Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm,
Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Công bố cáo trạng, công bố quyết định truy tố theo thủ tục
rút gọn, quyết định khác về việc buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa;
b) Xét hỏi, xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ;
c) Luận tội, tranh luận, rút một phần hoặc toàn bộ quyết định
truy tố; kết luận về tội khác bằng hoặc nhẹ hơn; phát biểu quan điểm của Viện
kiểm sát về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa;
d) Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp
oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội;
đ) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác khi thực hành
quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm theo quy định của Bộ luật
này.
2. Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử phúc
thẩm, Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Trình bày ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị;
b) Bổ sung chứng cứ mới;
c) Bổ sung, thay đổi kháng nghị; rút một phần hoặc toàn bộ
kháng nghị;
d) Xét hỏi, xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ;
đ) Phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết
vụ án tại phiên tòa, phiên họp;
e) Tranh luận với bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố
tụng khác tại phiên tòa;
g) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác khi thực hành
quyền công tố trong giai đoạn xét xử phúc thẩm theo quy định của Bộ luật
này.
Điều 267. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm
sát xét xử
1. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử vụ
án hình sự của Tòa án.
2. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố
tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người
tham gia tố tụng vi phạm pháp luật.
3. Kiểm sát bản án, quyết định, văn bản tố tụng khác của
Tòa án.
4. Yêu cầu Tòa án cùng cấp, cấp dưới chuyển hồ sơ vụ án
hình sự để xem xét, quyết định việc kháng nghị.
5. Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp
luật nghiêm trọng về thủ tục tố tụng.
6. Kiến nghị, yêu cầu Tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân thực
hiện hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này; kiến nghị Tòa án khắc phục
vi phạm trong hoạt động tố tụng.
7. Kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp
phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật trong hoạt động quản lý.
8. Thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, nhiệm vụ, quyền hạn
khác khi kiểm sát xét xử vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật này.
Chương XXI
XÉT XỬ SƠ THẨM
Mục I. THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN CÁC CẤP
Điều 268. Thẩm quyền xét xử của Tòa án[151]
1. Tòa án
nhân dân khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng,
tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định đến 20 năm tù.
2. Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử sơ thẩm những vụ án:
a) Vụ án hình sự về các tội phạm không thuộc thẩm quyền của
Tòa án nhân dân khu vực;
b) Vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân
dân khu vực nhưng có nhiều tình tiết phức tạp, liên quan đến nhiều cấp, nhiều
ngành, dư luận xã hội đặc biệt quan tâm; vụ án mà khi xử lý có ảnh hưởng đến
chính trị, đối ngoại; vụ án mà người phạm tội là cán bộ lãnh đạo chủ chốt từ cấp
tỉnh trở lên, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc
thiểu số.
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định chi tiết điểm này.
3. Tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự
về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng,
trừ tội phạm, vụ án:
a) Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;
b) Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm
chiến tranh;
c) Các tội quy định tại các điều 123, 125, 126, 227, 277,
278, 279, 280, 282, 283, 284, 286, 287, 288, 337, 368, 369, 370, 371, 399 và
400 của Bộ luật Hình sự;
d) Các tội phạm được thực hiện ở ngoài lãnh thổ nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
đ) Vụ án hình sự có bị cáo, bị hại, đương sự ở nước ngoài
hoặc tài sản có liên quan đến vụ án ở nước ngoài.
4. Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án:
a) Vụ án hình sự về các tội phạm không thuộc thẩm quyền của
Tòa án quân sự khu vực;
b) Vụ án hình sự thuộc thẩm
quyền xét xử của Tòa án quân sự khu vực nhưng có nhiều tình tiết phức tạp khó
đánh giá, thống nhất về tính chất vụ án hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều
ngành; vụ án mà bị cáo là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, cán bộ lãnh
đạo chủ chốt từ cấp tỉnh, Trung đoàn trưởng và tương đương trở lên, người có chức
sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc thiểu số.
Điều 269. Thẩm quyền theo lãnh thổ
1. Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là Tòa án nơi
tội phạm được thực hiện. Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác
nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án có thẩm quyền
xét xử là Tòa án nơi kết thúc việc điều tra.
2.[152] Bị
cáo phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt Nam thì Tòa án nhân dân nơi cư trú
cuối cùng của bị cáo ở trong nước xét xử theo thẩm quyền. Nếu không xác định được
nơi cư trú cuối cùng ở trong nước của bị cáo thì tùy từng trường hợp, Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định giao cho một Tòa án nhân dân khu vực thuộc
Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, thành phố Đà Nẵng hoặc Thành phố Hồ Chí Minh
hoặc giao cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, thành phố Đà Nẵng hoặc Thành phố
Hồ Chí Minh xét xử.
Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu thuộc thẩm quyền xét xử của
Tòa án quân sự thì Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử theo quyết định của Chánh
án Tòa án quân sự trung ương.
Điều 270. Thẩm quyền xét xử tội phạm xảy ra trên tàu bay,
tàu biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoài không
phận hoặc ngoài lãnh hải của Việt Nam
Tội phạm xảy ra trên tàu bay hoặc tàu biển của nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc ngoài lãnh
hải của Việt Nam thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án Việt Nam nơi có sân bay hoặc
bến cảng trở về đầu tiên hoặc nơi tàu bay, tàu biển đó được đăng ký.
Điều 271. Việc xét xử bị cáo phạm nhiều tội thuộc thẩm quyền
của các Tòa án khác cấp
Khi bị cáo phạm nhiều tội, trong đó có tội phạm thuộc thẩm
quyền xét xử của Tòa án cấp trên thì Tòa án cấp trên xét xử toàn bộ vụ án.
Điều 272. Thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự
1. Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử:
a) Vụ án hình sự mà bị cáo là quân nhân tại ngũ, công chức,
công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn
luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân, tự vệ trong thời
gian tập trung huấn luyện hoặc phối thuộc với Quân đội nhân dân trong chiến đấu,
phục vụ chiến đấu; công dân được điều động, trưng tập hoặc hợp đồng vào phục vụ
trong Quân đội nhân dân;
b) Vụ án hình sự mà bị cáo không thuộc đối tượng quy định tại
điểm a khoản 1 Điều này liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại đến
tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của quân nhân tại ngũ, công chức, công
nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện
hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu hoặc gây thiệt hại đến tài sản,
danh dự, uy tín của Quân đội nhân dân hoặc phạm tội trong doanh trại quân đội
hoặc khu vực quân sự do Quân đội nhân dân quản lý, bảo vệ.
2. Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử tất cả tội phạm xảy
ra trong địa bàn thiết quân luật.
Điều 273. Việc xét xử bị cáo phạm nhiều tội thuộc thẩm quyền
của Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự
Khi vụ án vừa có bị cáo hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét
xử của Tòa án quân sự, vừa có bị cáo hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của
Tòa án nhân dân thì thẩm quyền xét xử được thực hiện:
1. Trường hợp có thể tách vụ án thì Tòa án quân sự xét xử
những bị cáo và tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự; Tòa án
nhân dân xét xử những bị cáo và tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án
nhân dân;
2. Trường hợp không thể tách vụ án thì Tòa án quân sự xét xử
toàn bộ vụ án.
Điều 274. Chuyển vụ án trong giai đoạn xét xử
1. Khi vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của mình thì Tòa
án trả hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát đã truy tố để chuyển đến Viện kiểm sát có thẩm
quyền truy tố.
Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận lại hồ sơ vụ án, Viện
kiểm sát đã truy tố phải ra quyết định chuyển hồ sơ vụ án đến Viện kiểm sát có
thẩm quyền truy tố để giải quyết theo thẩm quyền. Việc chuyển vụ án ra ngoài phạm
vi tỉnh, thành phố[153] hoặc
ngoài phạm vi quân khu thực hiện theo quy định tại Điều 239 của Bộ luật này.
Khi xét thấy vụ án vẫn thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án
đã trả hồ sơ thì Viện kiểm sát chuyển lại hồ sơ vụ án đến Tòa án kèm theo văn bản
nêu rõ lý do; nếu Tòa án xét thấy vụ án vẫn không thuộc thẩm quyền
xét xử của mình thì việc giải quyết tranh chấp thẩm quyền xét xử
thực hiện theo Điều 275 của Bộ luật này. Viện kiểm sát phải thực hiện
theo quyết định của Tòa án có thẩm quyền.
2. Thời hạn truy tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn được thực
hiện theo quy định tại Điều 240 và Điều 241 của Bộ luật này.
Điều 275. Giải quyết việc tranh chấp về thẩm quyền xét xử
1. Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa các
Tòa án nhân dân khu vực[154]
trong cùng một tỉnh, thành phố[155], giữa
các Tòa án quân sự khu vực trong cùng một quân khu do Chánh án Tòa án nhân dân
cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu quyết định.
2. Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa các
Tòa án nhân dân khu vực[156] thuộc
các tỉnh, thành phố[157] khác
nhau, giữa các Tòa án quân sự khu vực thuộc các quân khu khác nhau do Chánh án
Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu nơi kết thúc việc
điều tra quyết định.
3. Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa các
Tòa án nhân dân cấp tỉnh, giữa các Tòa án quân sự cấp quân khu do Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án quân sự trung ương quyết định.
4. Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa Tòa
án nhân dân và Tòa án quân sự do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định.
Việc chuyển vụ án để xét xử theo thẩm quyền được thực hiện
theo quy định tại Điều 274 của Bộ luật này.
Mục II. CHUẨN BỊ XÉT XỬ
Điều 276. Nhận hồ sơ vụ án, bản cáo trạng và thụ lý
vụ án
1. Khi Viện kiểm sát giao bản cáo trạng, hồ sơ vụ án và vật
chứng kèm theo (nếu có), Tòa án phải kiểm tra và xử lý:
a) Trường hợp tài liệu trong hồ sơ vụ án, vật chứng kèm
theo (nếu có) đã đầy đủ so với bảng kê tài liệu, vật chứng và bản cáo trạng đã
được giao cho bị can hoặc người đại diện của bị can thì nhận hồ sơ vụ án;
b) Trường hợp tài liệu trong hồ sơ vụ án, vật chứng kèm
theo (nếu có) không đủ so với bảng kê tài liệu, vật chứng hoặc bản cáo trạng
chưa được giao cho bị can hoặc người đại diện của bị can thì chưa nhận hồ sơ vụ
án và yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, vật chứng; yêu cầu giao bản cáo
trạng cho bị can hoặc người đại diện của bị can.
2. Việc giao, nhận hồ sơ vụ án và bản cáo trạng được lập
biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này và đưa vào hồ sơ vụ án.
Ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng
thì Tòa án phải thụ lý vụ án. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án,
Chánh án Tòa án phải phân công Thẩm phán chủ tọa phiên tòa giải quyết vụ án.
Điều 277. Thời hạn chuẩn bị xét xử
1. Trong thời hạn 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm
trọng, 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, 02 tháng đối với tội phạm rất
nghiêm trọng, 03 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày thụ lý
vụ án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra một trong các quyết định:
a) Đưa vụ án ra xét xử;
b) Trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung;
c) Tạm đình chỉ vụ án hoặc đình chỉ vụ án.
Đối với vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định
gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 15 ngày đối với tội phạm ít
nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm rất
nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Việc gia hạn thời hạn chuẩn bị
xét xử phải thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp.
2. Đối với vụ án được trả lại để yêu cầu điều tra bổ sung
thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận lại hồ sơ, Thẩm phán chủ tọa phiên
tòa phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Trường hợp phục hồi vụ án
thì thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này kể từ
ngày Tòa án ra quyết định phục hồi vụ án.
3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có quyết định
đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp vì lý do bất khả
kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Tòa án có thể mở phiên tòa trong thời hạn
30 ngày.
Điều 278. Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp
ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế
1. Sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán chủ toạ
phiên tòa quyết định việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện
pháp cưỡng chế, trừ việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam do Chánh
án, Phó Chánh án Tòa án quyết định.
2. Thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử không được quá
thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều 277 của Bộ luật này.
3. Đối với bị cáo đang bị tạm giam mà đến ngày mở phiên tòa
thời hạn tạm giam đã hết, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc
xét xử thì Hội đồng xét xử ra lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa.
Điều 279. Giải quyết yêu cầu, đề nghị trước khi mở phiên
tòa
1. Trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải
giải quyết các yêu cầu, đề nghị:
a) Yêu cầu của Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng về việc
cung cấp, bổ sung chứng cứ; triệu tập người làm chứng, người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác đến phiên tòa; về việc thay đổi
thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án;
b) Đề nghị của bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo,
người bào chữa về việc thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế;
c) Đề nghị của Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng về việc
xét xử theo thủ tục rút gọn, xét xử công khai hoặc xét xử kín;
d) Đề nghị của người tham gia tố tụng về việc vắng mặt tại
phiên tòa.
2. Nếu xét thấy yêu cầu, đề nghị có căn cứ thì Thẩm phán chủ
tọa phiên tòa giải quyết theo thẩm quyền hoặc thông báo cho người có thẩm quyền
giải quyết theo quy định của Bộ luật này và thông báo cho người đã yêu cầu, đề
nghị biết; nếu không chấp nhận thì thông báo cho họ bằng văn bản nêu rõ lý do.
Điều 280. Trả hồ sơ để điều tra bổ sung
1. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định trả hồ sơ cho
Viện kiểm sát để điều tra bổ sung khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Khi thiếu chứng cứ dùng để chứng minh một trong những vấn
đề quy định tại Điều 85 của Bộ luật này mà không thể bổ sung tại phiên tòa được;
b) Có căn cứ cho rằng ngoài hành vi mà Viện kiểm sát đã
truy tố, bị can còn thực hiện hành vi khác mà Bộ luật Hình sự quy định là tội
phạm;
c) Có căn cứ cho rằng còn có đồng phạm khác hoặc có người
khác thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm liên quan đến vụ
án nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can;
d) Việc khởi tố, điều tra, truy tố vi phạm nghiêm trọng về
thủ tục tố tụng.
2. Trường hợp Viện kiểm sát phát hiện có căn cứ trả hồ sơ để
điều tra bổ sung thì Viện kiểm sát có văn bản đề nghị Tòa án trả hồ sơ.
3. Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung phải ghi rõ những
vấn đề cần điều tra bổ sung và gửi cho Viện kiểm sát kèm theo hồ sơ vụ án trong
thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định.
Nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn tới việc đình chỉ vụ án
thì Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án và thông báo cho Tòa án biết
trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định.
Nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn tới phải thay đổi quyết định
truy tố thì Viện kiểm sát ban hành bản cáo trạng mới thay thế bản cáo trạng trước
đó.
Trường hợp Viện kiểm sát không bổ sung được những vấn đề mà
Tòa án yêu cầu và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố thì Tòa án tiến hành xét xử
vụ án.
Điều 281. Tạm đình chỉ vụ án
1. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định tạm đình
chỉ vụ án khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Có căn cứ quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều
229 của Bộ luật này;
b) Không biết rõ bị can, bị cáo đang ở đâu mà đã hết thời hạn
chuẩn bị xét xử; trường hợp này phải yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định
truy nã bị can, bị cáo trước khi tạm đình chỉ vụ án. Việc truy nã bị can, bị
cáo được thực hiện theo quy định tại Điều 231 của Bộ luật này;
c) Chờ kết quả xử lý văn bản pháp luật mà Tòa án kiến nghị.
2. Trường hợp vụ án có nhiều bị can, bị cáo mà căn cứ để tạm
đình chỉ không liên quan đến tất cả bị can, bị cáo thì có thể tạm đình chỉ vụ
án đối với từng bị can, bị cáo.
3. Quyết định tạm đình chỉ vụ án phải ghi rõ lý do tạm đình
chỉ và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.
Điều 282. Đình chỉ vụ án
1. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ vụ
án khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều
155 hoặc các điểm 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 157 của Bộ luật này hoặc người
chưa thành niên được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng theo quy định của Luật
Tư pháp người chưa thành niên[158];
b) Viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố trước khi mở
phiên tòa.
Trường hợp vụ án có nhiều bị can, bị cáo mà căn cứ để đình
chỉ vụ án không liên quan đến tất cả bị can, bị cáo thì có thể đình chỉ vụ
án đối với từng bị can, bị cáo.
2. Quyết định đình chỉ vụ án phải ghi rõ lý do đình chỉ
và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.
Điều 283. Phục hồi vụ án
1. Khi có lý do để hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ vụ án
hoặc có lý do để hủy bỏ quyết định đình chỉ vụ án nếu chưa hết thời
hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì Thẩm phán đã ra quyết định tạm đình chỉ,
quyết định đình chỉ vụ án ra quyết định phục hồi vụ án.
Trường hợp Thẩm phán đã ra quyết định tạm đình chỉ, quyết
định đình chỉ vụ án không thể thực hiện được thì Chánh án ra quyết định phục
hồi.
2. Trường hợp tạm đình chỉ, đình chỉ đối với từng bị can,
bị cáo thì ra quyết định phục hồi vụ án đối với từng bị can, bị cáo.
3. Quyết định phục hồi vụ án phải ghi rõ lý do phục hồi vụ
án và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.
4. Khi phục hồi vụ án, Tòa án có quyền áp dụng, thay đổi, hủy
bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế theo quy định của Bộ luật này.
Trường hợp có căn cứ theo quy định của Bộ luật này cần phải
tạm giam thì thời hạn tạm giam để phục hồi vụ án không được quá thời hạn chuẩn
bị xét xử.
Điều 284. Yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ
1. Khi xét thấy cần bổ sung tài liệu, chứng cứ cần thiết
cho việc giải quyết vụ án mà không phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì Thẩm
phán chủ toạ phiên tòa yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung.
2. Yêu cầu bổ sung tài liệu, chứng cứ phải bằng văn bản,
nêu rõ tài liệu, chứng cứ cần bổ sung và gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp trong
thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra văn bản yêu cầu.
3. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của
Tòa án, Viện kiểm sát gửi cho Tòa án tài liệu, chứng cứ được yêu cầu bổ sung.
Trường hợp Viện kiểm sát không bổ sung được tài liệu, chứng cứ thì Tòa án tiến
hành xét xử vụ án.
Điều 285. Viện kiểm sát rút quyết định truy tố
Khi xét thấy có một trong các căn cứ quy định tại Điều 157
của Bộ luật này hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29[159] của Bộ luật Hình sự thì Viện
kiểm sát rút quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa và đề nghị Tòa án đình
chỉ vụ án.
Điều 286. Việc giao, gửi quyết định của Tòa án cấp
sơ thẩm
1. Quyết định đưa vụ án ra xét xử được giao cho bị
cáo hoặc người đại diện của họ; gửi cho người bào chữa, bị hại, đương sự chậm
nhất là 10 ngày trước khi mở phiên tòa.
Trường hợp xét xử vắng mặt bị cáo thì quyết định đưa
vụ án ra xét xử được giao cho người bào chữa hoặc người đại diện của bị cáo;
quyết định đưa vụ án ra xét xử còn phải được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân
dân cấp xã[160] nơi
bị cáo cư trú cuối cùng hoặc cơ quan, tổ chức nơi làm việc, học tập cuối cùng
của bị cáo.
2. Quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ
án, quyết định phục hồi vụ án của Tòa án được giao cho bị can, bị cáo, bị hại
hoặc người đại diện của họ và gửi cho người tham gia tố tụng khác
trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định.
3. Quyết định phân công Thẩm phán làm chủ tọa phiên
tòa, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định đình chỉ, quyết định tạm đình
chỉ, quyết định phục hồi vụ án phải gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn
02 ngày kể từ ngày ra quyết định. Quyết định đình chỉ, quyết định tạm đình chỉ
vụ án phải gửi cho Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp trong thời hạn 02 ngày kể từ
ngày ra quyết định.
4. Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn,
biện pháp cưỡng chế được giao cho bị can, bị cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, cơ
sở giam giữ nơi bị can, bị cáo đang bị tạm giam trong thời hạn 24 giờ kể
từ khi ra quyết định.
Điều 287. Triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên tòa
Căn cứ vào quyết định đưa vụ án ra xét xử, yêu cầu của Kiểm
sát viên, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác, Thẩm phán chủ tọa phiên
tòa triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên tòa.
Mục III. QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TÒA
Điều 288. Sự có mặt của thành viên Hội đồng xét xử và Thư
ký Tòa án
1. Phiên tòa chỉ được tiến hành khi có đủ thành viên Hội đồng
xét xử và Thư ký Tòa án. Các thành viên Hội đồng xét xử phải xét xử vụ án từ
khi bắt đầu cho đến khi kết thúc.
2. Trường hợp có Thẩm phán, Hội thẩm không tiếp tục tham
gia xét xử vụ án nhưng có Thẩm phán, Hội thẩm dự khuyết tham gia phiên tòa từ đầu
thì những người này được thay thế làm thành viên Hội đồng xét xử. Trường hợp Hội
đồng xét xử có hai Thẩm phán mà Thẩm phán chủ tọa phiên tòa không tiếp tục tham
gia xét xử được thì Thẩm phán là thành viên Hội đồng xét xử làm chủ toạ phiên
tòa và Thẩm phán dự khuyết được bổ sung làm thành viên Hội đồng xét xử.
3. Trường hợp không có Thẩm phán, Hội thẩm dự khuyết để
thay thế hoặc phải thay đổi chủ tọa phiên tòa mà không có Thẩm phán để thay thế
theo quy định tại khoản 2 Điều này thì phải hoãn phiên tòa.
4. Trường hợp Thư ký Tòa án bị thay đổi hoặc không thể tiếp
tục tham gia phiên tòa thì Tòa án vẫn có thể xét xử vụ án nếu có Thư ký Tòa án
dự khuyết; nếu không có người thay thế thì tạm ngừng phiên tòa.
Điều 289. Sự có mặt của Kiểm sát viên
1. Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải có mặt để thực
hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa; nếu Kiểm sát viên vắng mặt
thì phải hoãn phiên tòa. Đối với vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì
có thể có nhiều Kiểm sát viên. Trường hợp Kiểm sát viên không thể có mặt tại
phiên tòa thì Kiểm sát viên dự khuyết có mặt tại phiên tòa từ đầu được thay thế
để thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
2. Trường hợp Kiểm sát viên bị thay đổi hoặc không thể tiếp
tục thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử mà không có Kiểm sát viên dự khuyết
để thay thế thì Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa.
Điều 290. Sự có mặt của bị cáo tại phiên tòa
1. Bị cáo phải có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của
Tòa án trong suốt thời gian xét xử vụ án; nếu vắng mặt không vì lý do bất khả
kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì bị áp giải; nếu bị cáo vắng mặt vì
lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì phải hoãn phiên tòa.
Nếu bị cáo bị bệnh tâm thần hoặc bị bệnh hiểm nghèo thì Hội
đồng xét xử tạm đình chỉ vụ án cho đến khi bị cáo có kết luận khỏi bệnh hoặc có
kết luận đủ khả năng nhận thức, đủ khả năng điều khiển hành vi[161].
Nếu bị cáo trốn thì Hội đồng xét xử tạm đình chỉ vụ án và
yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị cáo.
2. Tòa án chỉ có thể xét xử vắng mặt bị cáo trong các trường
hợp:
a)[162] Bị cáo
trốn hoặc không biết bị cáo ở đâu và việc truy nã không có kết quả;
b) Bị cáo đang ở nước ngoài và không thể triệu tập đến
phiên tòa;
c) Bị cáo đề nghị xét xử vắng mặt và được Hội đồng xét xử
chấp nhận;
d) Nếu sự vắng mặt của bị cáo không vì lý do bất khả kháng
hoặc không do trở ngại khách quan và sự vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại
cho việc xét xử.
Điều 291. Sự có mặt của người bào chữa
1. Người bào chữa phải có mặt tại phiên tòa để bào chữa cho
người mà mình đã nhận bào chữa. Người bào chữa có thể gửi trước bản bào chữa
cho Tòa án. Trường hợp người bào chữa vắng mặt lần thứ nhất vì lý do bất khả
kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Tòa án phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp
bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa. Nếu người bào chữa vắng mặt không
vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan hoặc được triệu tập hợp
lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án vẫn mở phiên tòa xét xử.
2. Trường hợp chỉ định người bào chữa quy định tại khoản
1 Điều 76 của Bộ luật này mà người bào chữa vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải
hoãn phiên tòa, trừ trường hợp bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo đồng ý
xét xử vắng mặt người bào chữa.
Điều 292. Sự có mặt của bị hại, đương sự hoặc người đại diện
của họ
1. Nếu bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ vắng mặt
thì tùy trường hợp, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến
hành xét xử.
2. Trường hợp xét thấy sự vắng mặt của bị hại, đương sự
chỉ trở ngại cho việc giải quyết bồi thường thiệt hại thì Hội đồng xét xử có
thể tách việc bồi thường để xét xử sau theo quy định của pháp luật.
Điều 293. Sự có mặt của người làm chứng
1. Người làm chứng tham gia phiên tòa để làm sáng tỏ những
tình tiết của vụ án. Nếu người làm chứng vắng mặt nhưng trước đó đã có lời khai
ở Cơ quan điều tra thì chủ tọa phiên tòa công bố những lời khai đó. Nếu người
làm chứng về những vấn đề quan trọng của vụ án vắng mặt thì tùy trường hợp,
Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử.
2. Trường hợp người làm chứng được Tòa án triệu tập nhưng cố
ý vắng mặt mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan và
việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc xét xử thì Hội đồng xét xử có thể
quyết định dẫn giải theo quy định của Bộ luật này.
Điều 294. Sự có mặt của người giám định, người định giá tài
sản
1. Người giám định, người định giá tài sản tham gia phiên
tòa khi được Tòa án triệu tập.
2. Nếu người giám định, người định giá tài sản vắng mặt thì
tùy trường hợp, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành
xét xử.
Điều 295. Sự có mặt của người phiên dịch, người dịch thuật
1. Người phiên dịch, người dịch thuật tham gia phiên tòa
khi được Tòa án triệu tập.
2. Trường hợp người phiên dịch, người dịch thuật vắng mặt
mà không có người khác thay thế thì Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa.
Điều 296. Sự có mặt của Điều tra viên và những người khác
Trong quá trình xét xử, khi xét thấy cần thiết, Hội đồng
xét xử có thể triệu tập Điều tra viên, người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng đã thụ lý, giải quyết vụ án và những người khác đến phiên tòa để
trình bày các vấn đề liên quan đến vụ án.
Điều 297. Hoãn phiên tòa
1. Tòa án hoãn phiên tòa khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Có một trong những căn cứ quy định tại các điều 52,
53, 288, 289, 290, 291, 292, 293, 294 và 295 của Bộ luật này;
b) Cần phải xác minh, thu thập bổ sung chứng cứ, tài liệu,
đồ vật mà không thể thực hiện ngay tại phiên tòa;
c) Cần tiến hành giám định bổ sung, giám định lại;
d) Cần định giá tài sản, định giá lại tài sản.
Trường hợp hoãn phiên tòa thì vụ án phải được xét xử lại từ
đầu.
2. Thời hạn hoãn phiên tòa sơ thẩm không được quá 30 ngày kể
từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa.
3. Quyết định hoãn phiên tòa có các nội dung chính:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;
b) Tên Tòa án và họ tên Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án;
c) Họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát
xét xử tại phiên tòa;
d) Vụ án được đưa ra xét xử;
đ) Lý do của việc hoãn phiên tòa;
e) Thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa.
4. Quyết định hoãn phiên tòa phải được chủ tọa phiên tòa
thay mặt Hội đồng xét xử ký tên. Trường hợp chủ tọa phiên tòa vắng mặt hoặc bị
thay đổi thì Chánh án Tòa án ra quyết định hoãn phiên tòa.
Quyết định hoãn phiên tòa phải được thông báo ngay cho những
người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa; gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và
những người vắng mặt tại phiên tòa trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định.
Điều 298. Giới hạn của việc xét xử
1. Tòa án xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội
danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án
ra xét xử.
2. Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà
Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc
nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố.
3. Trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng
hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố
lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào
chữa biết; nếu Viện kiểm sát vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền
xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó.
Điều 299. Việc ra bản án, quyết định của Tòa án
1. Bản án phải được Hội đồng xét xử thảo luận và thông qua
tại phòng nghị án.
2. Quyết định về việc thay đổi thành viên Hội đồng xét xử,
Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án, người giám định, người định giá tài sản, người
phiên dịch, người dịch thuật, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án, hoãn phiên tòa,
bắt tạm giam hoặc trả tự do cho bị cáo phải được thảo luận, thông qua tại
phòng nghị án và được lập văn bản.
3. Quyết định các vấn đề khác được Hội đồng xét xử thảo luận
và thông qua tại phòng xử án không phải lập văn bản nhưng phải được ghi vào
biên bản phiên tòa.
Mục IV. THỦ TỤC BẮT ĐẦU PHIÊN TÒA
Điều 300. Chuẩn bị khai mạc phiên tòa
Trước khi khai mạc phiên tòa, Thư ký Tòa án phải tiến hành
các công việc:
1. Kiểm tra sự có mặt của những người được Tòa án triệu tập;
nếu có người vắng mặt thì phải nêu lý do;
2. Phổ biến nội quy phiên tòa.
Điều 301. Khai mạc phiên tòa
1. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa và đọc
quyết định đưa vụ án ra xét xử.
2. Thư ký Tòa án báo cáo Hội đồng xét xử về sự có mặt, vắng
mặt của những người được Tòa án triệu tập và lý do vắng mặt.
3. Chủ tọa phiên tòa kiểm tra lại sự có mặt của những người
có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án và kiểm tra lý lịch, phổ biến
quyền và nghĩa vụ của họ.
Điều 302. Giải quyết việc đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội
thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án, người giám định, người định giá tài sản,
người phiên dịch, người dịch thuật
Chủ toạ phiên tòa phải hỏi Kiểm sát viên và những người
tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa xem họ có đề nghị thay đổi Thẩm phán,
Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án, người giám định, người định giá tài sản,
người phiên dịch, người dịch thuật hay không, lý do của việc đề
nghị thay đổi. Nếu có người đề nghị thì Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
Điều 303. Cam đoan của người phiên dịch, người dịch thuật,
người giám định, người định giá tài sản
Sau khi giải thích quyền và nghĩa vụ cho người phiên dịch,
người dịch thuật, người giám định, người định giá tài sản thì chủ tọa phiên tòa
yêu cầu những người này phải cam đoan làm tròn nhiệm vụ.
Điều 304. Cam đoan của người làm chứng, cách ly người làm
chứng
1. Sau khi giải thích quyền và nghĩa vụ cho người làm chứng,
chủ tọa phiên tòa yêu cầu người làm chứng phải cam đoan khai trung thực.
2. Trước khi người làm chứng được hỏi về vụ án, chủ tọa
phiên tòa quyết định biện pháp để cho những người làm chứng không nghe được lời
khai của nhau hoặc tiếp xúc với những người có liên quan. Trường hợp lời khai của
bị cáo và người làm chứng có ảnh hưởng lẫn nhau thì chủ tọa phiên tòa phải quyết
định cách ly bị cáo với người làm chứng trước khi hỏi người làm chứng.
Điều 305. Giải quyết yêu cầu về xem xét chứng cứ và hoãn
phiên tòa khi có người vắng mặt
Chủ tọa phiên tòa phải hỏi Kiểm sát viên và những người
tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa xem có ai yêu cầu triệu tập thêm
người làm chứng hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng, tài liệu
ra xem xét hay không. Nếu có người tham gia tố tụng vắng mặt hoặc tuy có mặt
tại phiên tòa nhưng vì lý do sức khỏe không thể tham gia tố tụng thì chủ tọa
phiên tòa phải hỏi xem có ai yêu cầu hoãn phiên tòa hay không; nếu có người yêu
cầu thì Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
Mục V. THỦ TỤC TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA
Điều 306. Công bố bản cáo trạng
Trước khi tiến hành xét hỏi, Kiểm sát viên công bố bản cáo
trạng và trình bày ý kiến bổ sung (nếu có). Ý kiến bổ sung không được làm xấu
đi tình trạng của bị cáo.
Điều 307. Trình tự xét hỏi
1. Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ những tình tiết về
từng sự việc, từng tội trong vụ án và từng người. Chủ tọa phiên tòa điều hành
việc hỏi, quyết định người hỏi trước, hỏi sau theo thứ tự hợp lý.
2. Khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước sau
đó quyết định để Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc hỏi.
Người tham gia tố tụng tại phiên tòa có quyền đề nghị chủ tọa
phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ.
Người giám định, người định giá tài sản được hỏi về những vấn
đề có liên quan đến việc giám định, định giá tài sản.
3. Khi xét hỏi, Hội đồng xét xử xem xét vật chứng có liên
quan trong vụ án.
Điều 308. Công bố lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố
1. Nếu người được xét hỏi có mặt tại phiên tòa thì Hội đồng
xét xử, Kiểm sát viên không được công bố lời khai của họ trong giai đoạn điều
tra, truy tố.
2. Chỉ được công bố những lời khai trong giai đoạn điều
tra, truy tố khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Lời khai của người được xét hỏi tại phiên tòa mâu thuẫn
với lời khai của họ trong giai đoạn điều tra, truy tố;
b) Người được xét hỏi không khai tại phiên tòa hoặc không
nhớ những lời khai của mình trong giai đoạn điều tra, truy tố;
c) Người được xét hỏi đề nghị công bố lời khai của họ trong
giai đoạn điều tra, truy tố;
d) Người được xét hỏi vắng mặt hoặc đã chết.
3. Trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần
phong mỹ tục của dân tộc, giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời
tư của cá nhân, bí mật gia đình theo yêu cầu của người tham gia tố tụng hoặc tự
xét thấy cần thiết thì Hội đồng xét xử không công bố tài liệu có trong hồ sơ vụ
án.
Điều 309. Hỏi bị cáo
1. Chủ tọa phiên tòa phải quyết định hỏi riêng từng bị
cáo. Nếu lời khai của bị cáo này có thể ảnh hưởng đến lời khai của bị cáo khác
thì chủ tọa phiên tòa phải cách ly họ. Bị cáo bị cách ly được thông báo lại nội
dung lời khai của bị cáo trước và có quyền đặt câu hỏi đối với bị cáo đó.
2. Bị cáo trình bày ý kiến về bản cáo trạng và những tình
tiết của vụ án. Hội đồng xét xử hỏi thêm về những điểm mà bị cáo trình bày chưa
đầy đủ hoặc có mâu thuẫn.
Kiểm sát viên hỏi bị cáo về những chứng cứ, tài liệu, đồ vật
liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội và những tình tiết khác của vụ án.
Người bào chữa hỏi bị cáo về những chứng cứ, tài liệu, đồ vật
liên quan đến việc bào chữa và tình tiết khác của vụ án.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự
hỏi bị cáo về những tình tiết liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích của
đương sự.
Những người tham gia tố tụng tại phiên tòa có quyền đề nghị
chủ toạ phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết liên quan đến họ.
3. Nếu bị cáo không trả lời các câu hỏi thì Hội đồng xét xử,
Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại,
đương sự tiếp tục hỏi những người khác và xem xét vật chứng, tài liệu có liên
quan đến vụ án.
Khi được chủ tọa phiên tòa đồng ý, bị cáo được đặt câu hỏi
với bị cáo khác về các vấn đề có liên quan đến bị cáo.
Điều 310. Hỏi bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ
Bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ trình bày những
tình tiết của vụ án có liên quan đến họ. Sau đó, Hội đồng xét xử, Kiểm sát
viên, người bào chữa và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại,
đương sự hỏi thêm về những điểm mà họ trình bày chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn.
Khi được chủ tọa phiên tòa đồng ý, bị cáo có thể hỏi bị hại,
đương sự hoặc người đại diện của họ về các vấn đề có liên quan đến bị cáo.
Điều 311. Hỏi người làm chứng
1. Việc hỏi phải được tiến hành riêng đối với từng người
làm chứng và không để cho những người làm chứng khác biết được nội dung xét hỏi
đó.
2. Khi hỏi người làm chứng, Hội đồng xét xử phải hỏi rõ về
quan hệ giữa họ với bị cáo và các đương sự trong vụ án. Chủ tọa phiên tòa yêu cầu
người làm chứng trình bày rõ những tình tiết của vụ án mà họ đã biết, sau đó hỏi
thêm về những điểm mà họ khai chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn. Kiểm sát viên, người
bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự có thể hỏi
thêm người làm chứng.
Khi được chủ tọa phiên tòa đồng ý, bị cáo có thể hỏi người
làm chứng về các vấn đề có liên quan đến bị cáo.
3. Sau khi đã trình bày xong, người làm chứng ở lại phòng xử
án để có thể được hỏi thêm.
4. Trường hợp có căn cứ xác định người làm chứng, người
thân thích của họ bị xâm hại hoặc bị đe dọa xâm phạm đến tính mạng,
sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm thì Hội đồng xét xử phải quyết định
biện pháp bảo vệ họ theo quy định của Bộ luật này và pháp luật khác có
liên quan.
5. Trường hợp cần thiết, Tòa án quyết định hỏi người làm chứng
qua mạng máy tính, mạng viễn thông.
Điều 312. Xem xét vật chứng
1. Vật chứng, ảnh hoặc biên bản xác nhận vật chứng được đưa
ra để xem xét tại phiên tòa.
Khi cần thiết, Hội đồng xét xử có thể cùng với Kiểm sát
viên, người bào chữa, người khác tham gia phiên tòa đến xem xét tại chỗ những vật
chứng không thể đưa đến phiên tòa được. Việc xem xét vật chứng tại chỗ được lập
biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này.
2. Kiểm sát viên, người bào chữa, người khác tham gia phiên
tòa có quyền trình bày nhận xét của mình về vật chứng. Hội đồng xét xử, Kiểm
sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của bị hại, đương sự có thể hỏi thêm người tham gia phiên tòa về những vấn
đề có liên quan đến vật chứng.
Điều 313. Nghe, xem nội dung được ghi âm hoặc ghi hình có
âm thanh
Trường hợp cần kiểm tra chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên
quan đến vụ án hoặc khi bị cáo tố cáo bị bức cung, dùng nhục hình, Hội đồng xét
xử quyết định việc cho nghe, xem nội dung được ghi âm hoặc ghi hình có âm
thanh liên quan tại phiên tòa.
Điều 314. Xem xét tại chỗ
Khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử có thể cùng với Kiểm
sát viên, người bào chữa, người khác tham gia phiên tòa đến xem xét nơi đã xảy
ra tội phạm hoặc địa điểm khác có liên quan đến vụ án. Kiểm sát viên, người bào
chữa, người khác tham gia phiên tòa có quyền trình bày nhận xét của mình về nơi
đã xảy ra tội phạm hoặc địa điểm khác có liên quan đến vụ án. Hội đồng xét xử
có thể hỏi thêm người tham gia phiên tòa về những vấn đề có liên quan đến nơi
đó.
Việc xem xét tại chỗ được lập biên bản theo quy định tại Điều
133 của Bộ luật này.
Điều 315. Trình bày, công bố báo cáo, tài liệu của cơ quan,
tổ chức
Báo cáo, tài liệu của cơ quan, tổ chức về những tình tiết của
vụ án do đại diện cơ quan, tổ chức đó trình bày; trường hợp không có đại diện của
cơ quan, tổ chức tham dự thì Hội đồng xét xử công bố báo cáo, tài liệu tại
phiên tòa.
Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người khác tham gia
phiên tòa có quyền nhận xét về báo cáo, tài liệu đó và hỏi thêm người đại diện
của cơ quan, tổ chức, người khác tham gia phiên tòa về những vấn đề liên quan đến
báo cáo, tài liệu đó.
Điều 316. Hỏi người giám định, người định giá tài sản
1. Hội đồng xét xử tự mình hoặc theo đề nghị của Kiểm sát
viên, người bào chữa, người khác tham gia phiên tòa yêu cầu người giám định,
người định giá tài sản trình bày kết luận của mình về vấn đề được giám định, định
giá tài sản. Khi trình bày, người giám định, người định giá tài sản có quyền
giải thích bổ sung về kết luận giám định, định giá tài sản, căn cứ để đưa ra
kết luận giám định, định giá tài sản.
2. Kiểm sát viên, người bào chữa, người tham gia tố tụng
khác có mặt tại phiên tòa có quyền nhận xét về kết luận giám định, định giá
tài sản, được hỏi những vấn đề còn chưa rõ hoặc có mâu thuẫn trong kết luận
giám định, định giá tài sản hoặc có mâu thuẫn với những tình tiết khác của vụ
án.
3. Trường hợp người giám định, người định giá tài sản không
có mặt tại phiên tòa thì chủ tọa phiên tòa công bố kết luận giám định, định giá
tài sản.
4. Khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử quyết định giám
định bổ sung hoặc giám định lại, định giá lại tài sản.
Điều 317. Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có
thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trình bày ý kiến
Khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử tự mình hoặc theo đề
nghị của người tham gia tố tụng yêu cầu Điều tra viên, Kiểm sát viên, người
khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trình bày ý
kiến để làm rõ những quyết định, hành vi tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy
tố, xét xử.
Điều 318. Kết thúc việc xét hỏi
Khi xét thấy những tình tiết của vụ án đã được xem xét đầy
đủ thì chủ tọa phiên tòa hỏi Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người khác
tham gia phiên tòa xem họ có yêu cầu xét hỏi vấn đề gì nữa không. Nếu không
có yêu cầu xét hỏi thì kết thúc việc xét hỏi; nếu có người yêu cầu và
xét thấy yêu cầu đó là cần thiết thì chủ tọa phiên tòa quyết định tiếp tục việc
xét hỏi.
Điều 319. Kiểm sát viên rút quyết định truy tố hoặc kết luận
về tội nhẹ hơn tại phiên tòa
Sau khi kết thúc việc xét hỏi, Kiểm sát viên có thể rút
một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn.
Điều 320. Trình tự phát biểu khi tranh luận
1. Sau khi kết thúc việc xét hỏi, Kiểm sát viên trình bày
luận tội; nếu thấy không có căn cứ để kết tội thì rút toàn bộ quyết định truy tố
và đề nghị Tòa án tuyên bố bị cáo không có tội.
2. Bị cáo trình bày lời bào chữa; người bào chữa trình bày
lời bào chữa cho bị cáo; bị cáo, người đại diện của bị cáo có quyền bổ sung ý
kiến bào chữa.
3. Bị hại, đương sự, người đại diện của họ trình bày ý kiến
để bảo vệ quyền và lợi ích của mình; nếu có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp cho họ thì người này có quyền trình bày, bổ sung ý kiến.
4. Trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại
thì bị hại hoặc người đại diện của họ trình bày, bổ sung ý kiến sau khi Kiểm
sát viên trình bày luận tội.
Điều 321. Luận tội của Kiểm sát viên
1. Luận tội của Kiểm sát viên phải căn cứ vào những chứng cứ,
tài liệu, đồ vật đã được kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo, người bào
chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người tham
gia tố tụng khác tại phiên tòa.
2. Nội dung luận tội phải phân tích, đánh giá khách quan,
toàn diện, đầy đủ những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội;
tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi
phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; tội danh, hình phạt,
áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự, những tình tiết tăng nặng, giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự; mức bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, biện pháp
tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối
với vụ án.
3. Đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội
dung bản cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn; đề nghị mức hình phạt chính,
hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật
chứng.
4. Kiến nghị các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm
pháp luật.
Điều 322. Tranh luận tại phiên tòa
1. Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có
quyền trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận của mình để đối
đáp với Kiểm sát viên về những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác
định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu
quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; những
tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt; trách nhiệm
dân sự, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và
những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.
Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền
đưa ra đề nghị của mình.
2. Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận
để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng
khác tại phiên tòa.
Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người
khác.
3. Chủ toạ phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận,
phải tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, bị hại, người
tham gia tố tụng khác tranh luận, trình bày hết ý kiến nhưng có quyền cắt những
ý kiến không liên quan đến vụ án và ý kiến lặp lại.
Chủ tọa phiên tòa yêu cầu Kiểm sát viên phải đáp lại những
ý kiến của người bào chữa, người tham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó chưa
được Kiểm sát viên tranh luận.
4. Hội đồng xét xử phải lắng nghe, ghi nhận đầy đủ ý kiến của
Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người tham gia tranh luận tại phiên tòa
để đánh giá khách quan, toàn diện sự thật của vụ án. Trường hợp không chấp nhận
ý kiến của những người tham gia phiên tòa thì Hội đồng xét xử phải nêu rõ lý do
và được ghi trong bản án.
Điều 323. Trở lại việc xét hỏi
Nếu qua tranh luận mà thấy còn có tình tiết vụ án chưa được
hỏi, chưa được làm sáng tỏ thì Hội đồng xét xử phải quyết định trở lại việc xét
hỏi. Xét hỏi xong phải tiếp tục tranh luận.
Điều 324. Bị cáo nói lời sau cùng
1. Sau khi những người tham gia tranh luận không trình bày
gì thêm, chủ tọa phiên tòa tuyên bố kết thúc tranh luận.
2. Bị cáo được nói lời sau cùng. Không được đặt câu hỏi khi
bị cáo nói lời sau cùng. Nếu trong lời nói sau cùng, bị cáo trình bày thêm tình
tiết mới có ý nghĩa quan trọng đối với vụ án thì Hội đồng xét xử phải quyết định
trở lại việc hỏi. Hội đồng xét xử có quyền yêu cầu bị cáo không được trình bày
những điểm không liên quan đến vụ án nhưng không được hạn chế thời gian đối với
bị cáo.
Điều 325. Xem xét việc rút quyết định truy tố hoặc kết luận
về tội nhẹ hơn tại phiên tòa
1. Khi Kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố hoặc
kết luận về tội nhẹ hơn thì Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án.
2. Trường hợp Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố
thì trước khi nghị án, Hội đồng xét xử yêu cầu những người tham gia phiên tòa
trình bày ý kiến về việc rút quyết định truy tố đó.
Mục VI. NGHỊ ÁN VÀ TUYÊN ÁN
Điều 326. Nghị án
1. Chỉ Thẩm phán và Hội thẩm mới có quyền nghị án. Việc nghị
án phải được tiến hành tại phòng nghị án.
Chủ tọa phiên tòa chủ trì việc nghị án có trách nhiệm đưa
ra từng vấn đề của vụ án phải được giải quyết để Hội đồng xét xử thảo luận, quyết
định. Chủ tọa phiên tòa tự mình hoặc phân công một thành viên Hội đồng xét xử
ghi biên bản nghị án. Các thành viên Hội đồng xét xử phải giải quyết tất cả các
vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số về từng vấn đề. Hội thẩm biểu
quyết trước, Thẩm phán biểu quyết sau cùng. Nếu không có ý kiến nào chiếm đa số
thì phải thảo luận và biểu quyết lại từng ý kiến của các thành viên Hội đồng
xét xử đã đưa ra để xác định ý kiến chiếm đa số. Người có ý kiến thiểu số có
quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được đưa vào hồ sơ vụ án.
2. Việc nghị án chỉ được căn cứ vào những chứng cứ, tài
liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng
cứ của vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người tham
gia tố tụng khác.
3. Các vấn đề của vụ án phải được giải quyết khi nghị án gồm:
a) Vụ án có thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc thuộc trường
hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung hay không;
b) Tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan
điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do luật sư, bị
can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp;
c) Có hay không có căn cứ kết tội bị cáo. Trường hợp đủ căn
cứ kết tội thì phải xác định rõ điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự được áp dụng;
d) Hình phạt, biện pháp tư pháp áp dụng đối với bị cáo;
trách nhiệm bồi thường thiệt hại; vấn đề dân sự trong vụ án hình sự;
đ) Bị cáo có thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn
hình phạt hay không;
e) Án phí hình sự, án phí dân sự; xử lý vật chứng; tài sản
bị kê biên, tài khoản bị phong tỏa;
g) Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều
tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét
xử;
h) Kiến nghị phòng ngừa tội phạm, khắc phục vi phạm.
4. Trường hợp Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố
thì Hội đồng xét xử vẫn giải quyết những vấn đề của vụ án theo trình tự quy định
tại khoản 1 Điều này. Nếu có căn cứ xác định bị cáo không có tội thì Hội đồng
xét xử tuyên bị cáo không có tội; nếu thấy việc rút quyết định truy tố không
có căn cứ thì quyết định tạm đình chỉ vụ án và kiến nghị Viện trưởng Viện kiểm
sát cùng cấp hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp.
5. Trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp thì Hội đồng
xét xử có thể quyết định kéo dài thời gian nghị án nhưng không quá 07 ngày kể từ
ngày kết thúc tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử phải thông báo cho những
người có mặt tại phiên tòa và người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa biết
giờ, ngày, tháng, năm và địa điểm tuyên án.
6. Kết thúc việc nghị án, Hội đồng xét xử phải quyết định một
trong các vấn đề:
a) Ra bản án và tuyên án;
b) Trở lại việc xét hỏi và tranh luận nếu có tình tiết vụ
án chưa được xét hỏi, chưa được làm sáng tỏ;
c) Trả hồ sơ vụ án để Viện kiểm sát điều tra bổ sung; yêu cầu
Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ;
d) Tạm đình chỉ vụ án.
Hội đồng xét xử phải thông báo cho những người có mặt tại
phiên tòa và người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa về các quyết định tại
điểm c và điểm d khoản này.
7.[163] (được bãi bỏ)
Điều 327. Tuyên án
Chủ tọa phiên tòa hoặc một thành viên khác của Hội đồng xét
xử đọc bản án. Trường hợp xét xử kín thì chỉ đọc phần quyết định trong bản án.
Sau khi đọc xong có thể giải thích thêm về việc chấp hành bản án và quyền
kháng cáo.
Điều 328. Trả tự do cho bị cáo
Trong các trường hợp sau đây, Hội đồng xét xử phải tuyên bố
trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo đang bị tạm giam, nếu họ không bị tạm
giam về một tội phạm khác:
1. Bị cáo không có tội;
2. Bị cáo được miễn trách nhiệm hình sự hoặc được miễn hình
phạt;
3. Bị cáo bị xử phạt bằng hình phạt không phải là hình phạt
tù;
4. Bị cáo bị xử phạt tù nhưng được hưởng án treo;
5. Thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời gian bị cáo đã
bị tạm giam.
Điều 329. Bắt tạm giam bị cáo sau khi tuyên án
1. Trường hợp bị cáo đang bị tạm giam mà bị xử phạt tù
nhưng xét thấy cần tiếp tục tạm giam để bảo đảm thi hành án thì Hội đồng xét xử
ra quyết định tạm giam bị cáo, trừ trường hợp được quy định tại khoản 4 và khoản
5 Điều 328 của Bộ luật này.
2. Trường hợp bị cáo không bị tạm giam nhưng bị xử phạt tù
thì họ chỉ bị bắt tạm giam để chấp hành hình phạt khi bản án đã có hiệu lực
pháp luật. Hội đồng xét xử có thể ra quyết định bắt tạm giam bị cáo ngay tại
phiên tòa nếu có căn cứ cho thấy bị cáo có thể trốn hoặc tiếp tục phạm tội.
3. Thời hạn tạm giam bị cáo quy định tại khoản 1 và khoản 2
Điều này là 45 ngày kể từ ngày tuyên án.
4. Trường hợp bị cáo bị xử phạt tử hình thì Hội đồng xét
xử quyết định trong bản án việc tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án.
Chương XXII
XÉT XỬ PHÚC THẨM
Mục I. TÍNH CHẤT CỦA XÉT XỬ PHÚC THẨM VÀ QUYỀN KHÁNG CÁO,
KHÁNG NGHỊ
Điều 330. Tính chất của xét xử phúc thẩm
1. Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử
lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với
vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị.
2.[164] Quyết
định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị là quyết định tạm đình chỉ, quyết định
đình chỉ vụ án, quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo, quyết định
đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo và quyết định khác của Tòa án cấp sơ thẩm
theo quy định của Bộ luật này, Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Điều 331. Người có quyền kháng cáo
1. Bị cáo, bị hại, người đại diện của họ có quyền kháng cáo
bản án hoặc quyết định sơ thẩm.
2. Người bào chữa có quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích của
người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà mình bào
chữa.
3. Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người đại diện của họ
có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến việc bồi thường
thiệt hại.
4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người
đại diện của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến
quyền lợi, nghĩa vụ của họ.
5. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương
sự là người dưới 18 tuổi hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất
có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi,
nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ.
6. Người được Tòa án tuyên không có tội có quyền kháng cáo
về các căn cứ mà bản án sơ thẩm đã xác định là họ không có tội.
Điều 332. Thủ tục kháng cáo
1. Người kháng cáo phải gửi đơn kháng cáo đến Tòa án đã xét
xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm.
Trường hợp bị cáo đang bị tạm giam, Giám thị Trại tạm giam,
Trưởng Nhà tạm giữ, Trưởng phân trại thuộc trại tạm giam[165]
phải bảo đảm cho bị cáo thực hiện quyền kháng cáo, nhận đơn kháng cáo và chuyển
cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định bị kháng cáo.
Người kháng cáo có thể trình bày trực tiếp với Tòa án đã
xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm về việc kháng cáo. Tòa án phải lập
biên bản về việc kháng cáo theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này.
Tòa án cấp phúc thẩm đã lập biên bản về việc kháng cáo hoặc
nhận được đơn kháng cáo thì phải gửi biên bản hoặc đơn kháng cáo cho Tòa án cấp
sơ thẩm để thực hiện theo quy định chung.
2. Đơn kháng cáo có các nội dung chính:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn kháng cáo;
b) Họ tên, địa chỉ của người kháng cáo;
c) Lý do và yêu cầu của người kháng cáo;
d) Chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo.
3. Kèm theo đơn kháng cáo hoặc cùng với việc trình bày trực
tiếp là chứng cứ, tài liệu, đồ vật bổ sung (nếu có) để chứng minh tính có căn cứ
của kháng cáo.
Điều 333. Thời hạn kháng cáo
1. Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể
từ ngày tuyên án. Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn
kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo
quy định của pháp luật.
2. Thời hạn kháng cáo đối với quyết định sơ thẩm là 07 ngày
kể từ ngày người có quyền kháng cáo nhận được quyết định.
3. Ngày kháng cáo được xác định như sau:
a) Trường hợp đơn kháng cáo gửi qua dịch vụ bưu chính
thì ngày kháng cáo là ngày theo dấu bưu chính nơi gửi;
b) Trường hợp đơn kháng cáo gửi qua Giám thị Trại tạm giam,
Trưởng Nhà tạm giữ, Trưởng phân trại thuộc trại tạm giam[166]
thì ngày kháng cáo là ngày Giám thị Trại tạm giam, Trưởng Nhà tạm giữ,
Trưởng phân trại thuộc trại tạm giam[167] nhận
được đơn. Giám thị Trại tạm giam, Trưởng Nhà tạm giữ, Trưởng phân trại
thuộc trại tạm giam[168] phải
ghi rõ ngày nhận đơn và ký xác nhận vào đơn;
c) Trường hợp người kháng cáo nộp đơn kháng cáo tại Tòa án
thì ngày kháng cáo là ngày Tòa án nhận đơn. Trường hợp người kháng cáo trình
bày trực tiếp với Tòa án thì ngày kháng cáo là ngày Tòa án lập biên bản về việc
kháng cáo.
Điều 334. Thủ tục tiếp nhận và xử lý kháng cáo
1. Sau khi nhận được đơn kháng cáo hoặc biên bản về việc
kháng cáo, Tòa án cấp sơ thẩm phải vào sổ tiếp nhận và kiểm tra tính hợp lệ của
đơn kháng cáo theo quy định của Bộ luật này.
2. Trường hợp đơn kháng cáo hợp lệ thì Tòa án cấp sơ thẩm
thông báo về việc kháng cáo theo quy định tại Điều 338 của Bộ luật này.
3. Trường hợp đơn kháng cáo hợp lệ nhưng nội dung kháng cáo
chưa rõ thì Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo ngay cho người kháng cáo để làm
rõ.
4. Trường hợp nội dung đơn kháng cáo đúng quy định của Bộ
luật này nhưng quá thời hạn kháng cáo thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu người
kháng cáo trình bày lý do và xuất trình chứng cứ, tài liệu, đồ vật (nếu có) để
chứng minh lý do nộp đơn kháng cáo quá hạn là chính đáng.
5. Trường hợp người làm đơn kháng cáo không có quyền kháng
cáo thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận đơn, Tòa án trả lại đơn và thông
báo bằng văn bản cho người làm đơn, Viện kiểm sát cùng cấp. Văn bản thông báo
phải ghi rõ lý do của việc trả lại đơn.
Việc trả lại đơn có thể bị khiếu nại trong thời hạn 07 ngày
kể từ ngày nhận được thông báo. Việc giải quyết khiếu nại được thực hiện theo
quy định tại Chương XXXIII của Bộ luật này.
Điều 335. Kháng cáo quá hạn
1. Việc kháng cáo quá hạn được chấp nhận nếu có lý do bất
khả kháng hoặc do trở ngại khách quan mà người kháng cáo không thể thực hiện được
việc kháng cáo trong thời hạn do Bộ luật này quy định.
2. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được đơn kháng
cáo quá hạn, Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi đơn kháng cáo, bản tường trình của người
kháng cáo về lý do kháng cáo quá hạn và chứng cứ, tài liệu, đồ vật kèm theo (nếu
có) cho Tòa án cấp phúc thẩm.
3. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đơn kháng
cáo quá hạn và chứng cứ, tài liệu, đồ vật kèm theo (nếu có), Tòa án cấp phúc thẩm
thành lập Hội đồng gồm ba Thẩm phán để xem xét kháng cáo quá hạn. Hội đồng xét
kháng cáo quá hạn có quyền ra quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng
cáo quá hạn và phải ghi rõ lý do của việc chấp nhận hoặc không chấp nhận trong
quyết định.
4. Phiên họp xét kháng cáo quá hạn phải có sự tham gia của
Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 03 ngày trước ngày xét đơn
kháng cáo quá hạn, Tòa án cấp phúc thẩm gửi bản sao đơn kháng cáo quá hạn và chứng
cứ, tài liệu kèm theo (nếu có) cho Viện kiểm sát cùng cấp. Kiểm sát viên phát
biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc xét kháng cáo quá hạn.
5. Quyết định của Hội đồng xét kháng cáo quá hạn được gửi
cho người kháng cáo quá hạn, Tòa án cấp sơ thẩm và Viện kiểm sát cùng cấp với
Tòa án cấp phúc thẩm.
Trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo quá hạn
thì Tòa án cấp sơ thẩm phải tiến hành các thủ tục do Bộ luật này quy định và gửi
hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp phúc thẩm.
Điều 336. Kháng nghị của Viện kiểm sát
1. Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp
có quyền kháng nghị bản án hoặc quyết định sơ thẩm.
2. Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát có các nội dung
chính:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định kháng nghị và số của quyết
định kháng nghị;
b) Tên của Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị;
c) Kháng nghị đối với toàn bộ hay một phần bản án, quyết định
sơ thẩm;
d) Lý do, căn cứ kháng nghị và yêu cầu của Viện kiểm sát;
đ) Họ tên, chức vụ của người ký quyết định kháng nghị.
Điều 337. Thời hạn kháng nghị
1. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với bản
án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là
30 ngày kể từ ngày Tòa án tuyên án.
2. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với
quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực
tiếp là 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Điều 338. Thông báo về việc kháng cáo, gửi quyết định kháng
nghị
1. Việc kháng cáo phải được Tòa án cấp sơ thẩm thông báo bằng
văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người liên quan đến kháng cáo trong
thời hạn 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo. Thông báo phải nêu rõ yêu cầu
của người kháng cáo.
2. Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định kháng
nghị, Viện kiểm sát phải gửi quyết định kháng nghị kèm theo chứng cứ, tài liệu,
đồ vật bổ sung (nếu có) cho Tòa án đã xét xử sơ thẩm, gửi quyết định kháng nghị
cho bị cáo và những người liên quan đến kháng nghị. Viện kiểm sát đã kháng
nghị phải gửi quyết định kháng nghị cho Viện kiểm sát khác có thẩm
quyền kháng nghị.
3. Người tham gia tố tụng nhận được thông báo về việc kháng
cáo, kháng nghị có quyền gửi văn bản nêu ý kiến của mình về nội dung kháng cáo,
kháng nghị cho Tòa án cấp phúc thẩm. Ý kiến của họ được đưa vào hồ sơ vụ án.
Điều 339. Hậu quả của việc kháng cáo, kháng nghị
Những phần của bản án, quyết định của Tòa án bị kháng cáo,
kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp quy định tại Điều 363
của Bộ luật này. Khi có kháng cáo, kháng nghị đối với toàn bộ bản án, quyết định
thì toàn bộ bản án, quyết định chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp quy định
tại Điều 363 của Bộ luật này.
Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án, kháng cáo, kháng
nghị và chứng cứ, tài liệu, đồ vật kèm theo (nếu có) cho Tòa án cấp phúc thẩm
trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Điều 340. Thụ lý vụ án
1. Ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ án có kháng cáo, kháng
nghị và chứng cứ, tài liệu, đồ vật kèm theo (nếu có), Tòa án cấp phúc thẩm phải
vào sổ thụ lý.
2. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án
Tòa án cấp phúc thẩm phân công Thẩm phán làm chủ tọa phiên tòa, phiên họp.
Điều 341. Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát
1. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm phải chuyển hồ
sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 15 ngày đối với Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh và Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu, 20 ngày đối
với Viện kiểm sát nhân dân tối cao[169],
Viện kiểm sát quân sự trung ương kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm
sát phải trả lại hồ sơ vụ án cho Tòa án. Trường hợp vụ án thuộc loại tội đặc
biệt nghiêm trọng, phức tạp thì thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá
25 ngày đối với Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp
quân khu, 30 ngày đối với Viện kiểm sát nhân dân tối cao[170],
Viện kiểm sát quân sự trung ương.
2. Trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm nhận được chứng cứ, tài
liệu, đồ vật bổ sung trước khi xét xử thì phải chuyển chứng cứ, tài liệu, đồ vật
này cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng
cứ, tài liệu, đồ vật bổ sung thì Viện kiểm sát phải trả lại cho Tòa án.
Điều 342. Thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị
1. Trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm,
người kháng cáo có quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo, Viện kiểm sát ra quyết định
kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị nhưng không được làm xấu hơn
tình trạng của bị cáo; người kháng cáo rút một phần hoặc toàn bộ kháng cáo; Viện
kiểm sát ra quyết định kháng nghị hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền
rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị.
2. Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị trước
khi mở phiên tòa phải lập văn bản và gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm. Tòa án cấp
phúc thẩm phải thông báo cho Viện kiểm sát, bị cáo và những người có liên quan
đến kháng cáo, kháng nghị biết về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng
nghị. Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị tại phiên tòa được ghi
vào biên bản phiên tòa.
3. Trường hợp người kháng cáo rút một phần kháng cáo, Viện
kiểm sát rút một phần kháng nghị tại phiên tòa mà xét thấy không liên quan đến
kháng cáo, kháng nghị khác thì Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định về việc rút
một phần kháng cáo, kháng nghị và quyết định đình chỉ xét xử phần kháng cáo,
kháng nghị đó trong bản án phúc thẩm.
Điều 343. Hiệu lực của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa
án không có kháng cáo, kháng nghị
Bản án, quyết định và những phần của bản án, quyết định sơ
thẩm của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ
ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Mục II. THỦ TỤC XÉT XỬ PHÚC THẨM
Điều 344. Tòa án có thẩm quyền xét xử phúc thẩm
1.[171] Tòa
án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa
án nhân dân khu vực bị kháng cáo, kháng nghị.
2.[172] Tòa
Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết
định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị.
3. Tòa án quân sự cấp quân khu có thẩm quyền xét xử phúc thẩm
bản án, quyết định của Tòa án quân sự khu vực bị kháng cáo, kháng nghị.
4. Tòa án quân sự trung ương có thẩm quyền xét xử phúc thẩm
bản án, quyết định của Tòa án quân sự cấp quân khu bị kháng cáo, kháng nghị.
Điều 345. Phạm vi xét xử phúc thẩm
Tòa án cấp phúc thẩm xem xét phần nội dung của bản án, quyết
định bị kháng cáo, kháng nghị. Nếu xét thấy cần thiết, có thể xem xét các phần
khác của bản án, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị.
Điều 346. Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm
1.[173] Tòa
án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu phải mở phiên tòa phúc thẩm
trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án; trường hợp xét xử vụ
án về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có mức cao nhất của khung hình phạt đến 20
năm tù thì thời hạn mở phiên tòa phúc thẩm là 90 ngày kể từ ngày nhận được hồ
sơ vụ án.
Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án quân sự trung
ương phải mở phiên tòa phúc thẩm trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận được hồ
sơ vụ án.
2.[174]
Trong thời hạn 45 ngày đối với Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp
quân khu, 75 ngày đối với Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án quân sự
trung ương kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra một
trong các quyết định:
a) Đình chỉ xét xử phúc thẩm;
b) Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.
3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định đưa vụ
án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa phúc thẩm.
4. Chậm nhất là 10 ngày trước khi mở phiên tòa, Tòa án
cấp phúc thẩm phải gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát cùng cấp,
người bào chữa, bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại,
đương sự, người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng
cáo, kháng nghị.
Điều 347. Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện
pháp cưỡng chế
1.[175] Sau
khi thụ lý vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm có quyền quyết định việc áp dụng, thay đổi,
hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế.
Việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam do
Chánh án, Phó Chánh án Tòa án; Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa
Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao quyết định. Việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ
các biện pháp ngăn chặn khác, biện pháp cưỡng chế do Thẩm phán chủ tọa phiên
tòa quyết định.
2.[176] Thời
hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm
quy định tại Điều 346 của Bộ luật này.
Trường hợp còn thời hạn tạm giam bị cáo mà xét thấy cần phải
tiếp tục tạm giam bị cáo thì Tòa án cấp phúc thẩm sử dụng thời hạn tạm giam
theo quyết định tạm giam của Tòa án cấp sơ thẩm. Trường hợp đã hết thời hạn tạm
giam bị cáo theo quyết định tạm giam của Tòa án cấp sơ thẩm thì Chánh án, Phó
Chánh án Tòa án, Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm
Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định tạm giam mới.
Đối với bị cáo đang bị tạm giam, nếu xét thấy cần tiếp tục
tạm giam để hoàn thành việc xét xử thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam
cho đến khi kết thúc phiên tòa.
3. Đối với bị cáo đang bị tạm giam bị xử phạt tù mà đến
ngày kết thúc phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết thì Hội đồng xét xử ra quyết định
tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án, trừ trường hợp quy định tại khoản
4 và khoản 5 Điều 328 của Bộ luật này.
Đối với bị cáo không bị tạm giam nhưng bị xử phạt tù thì Hội
đồng xét xử có thể ra quyết định bắt tạm giam bị cáo ngay sau khi tuyên án.
Thời hạn tạm giam là 45 ngày kể từ ngày tuyên án.
Điều 348. Đình chỉ xét xử phúc thẩm
1. Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối
với vụ án mà người kháng cáo đã rút toàn bộ kháng cáo, Viện kiểm sát đã rút
toàn bộ kháng nghị. Việc đình chỉ xét xử phúc thẩm trước khi mở phiên tòa do Thẩm
phán chủ tọa phiên tòa quyết định, tại phiên tòa do Hội đồng xét xử quyết định.
Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định
đình chỉ xét xử phúc thẩm.
2. Trường hợp người kháng cáo rút một phần kháng cáo, Viện kiểm
sát rút một phần kháng nghị trước khi mở phiên tòa mà xét thấy không liên quan
đến kháng cáo, kháng nghị khác thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra quyết định
đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo, kháng nghị đã rút.
3. Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm ghi rõ lý do đình
chỉ và các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.
Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định, Tòa án cấp
phúc thẩm phải gửi quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm cho Viện kiểm
sát cùng cấp, Tòa án đã xét xử sơ thẩm, người bào chữa, bị hại, đương sự,
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người kháng cáo,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị.
Điều 349. Sự có mặt của thành viên Hội đồng xét xử phúc thẩm,
Thư ký Tòa án
1. Phiên tòa chỉ được tiến hành khi có đủ thành viên Hội đồng
xét xử và Thư ký Tòa án. Các thành viên Hội đồng xét xử phải xét xử vụ án từ
khi bắt đầu cho đến khi kết thúc phiên tòa.
2. Trường hợp có Thẩm phán không tiếp tục tham gia xét xử vụ
án nhưng có Thẩm phán dự khuyết tham gia phiên tòa từ đầu thì những người này
được thay thế làm thành viên Hội đồng xét xử. Trường hợp Thẩm phán chủ tọa
phiên tòa không tiếp tục tham gia xét xử được thì Thẩm phán là thành viên Hội đồng
xét xử làm chủ toạ phiên tòa và Thẩm phán dự khuyết được bổ sung làm thành viên
Hội đồng xét xử.
3. Trường hợp không có Thẩm phán dự khuyết hoặc phải thay đổi
chủ tọa phiên tòa mà không có Thẩm phán để thay thế thì phải hoãn phiên tòa.
4. Trường hợp Thư ký Tòa án bị thay đổi hoặc không thể tiếp
tục tham gia phiên tòa thì Tòa án vẫn có thể xét xử vụ án nếu có Thư ký Tòa án
dự khuyết; nếu không có người thay thế thì tạm ngừng phiên tòa.
Điều 350. Sự có mặt của Kiểm sát viên
1. Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải có mặt để thực
hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa, nếu Kiểm sát viên vắng mặt
thì phải hoãn phiên tòa. Đối với vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì
có thể có nhiều Kiểm sát viên. Trường hợp Kiểm sát viên không thể có mặt tại phiên
tòa thì Kiểm sát viên dự khuyết có mặt tại phiên tòa từ đầu được thay thế để thực
hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
2. Trường hợp Kiểm sát viên bị thay đổi hoặc không thể tiếp
tục thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử mà không có Kiểm sát viên dự khuyết
để thay thế thì Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa.
Điều 351. Sự có mặt của người bào chữa, người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người kháng cáo, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị
1. Người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
bị hại, đương sự, người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến
kháng cáo, kháng nghị được triệu tập đến phiên tòa thì phải có mặt tại phiên
tòa. Nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử giải quyết:
a) Trường hợp người bào chữa vắng mặt lần thứ nhất vì lý do
bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp
bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa. Trường hợp người bào chữa vắng mặt
không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan hoặc được triệu
tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử.
Trường hợp phải chỉ định người bào chữa theo quy định tại
khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này mà người bào chữa vắng mặt thì phải hoãn phiên
tòa, trừ trường hợp bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt
người bào chữa;
b) Trường hợp người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đến kháng cáo, kháng nghị là bị hại, đương sự và người đại diện của
họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự vắng mặt
không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì Hội đồng xét
xử vẫn tiến hành xét xử. Trường hợp những người này vắng mặt vì lý do bất khả
kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Hội đồng xét xử có thể tiến hành xét xử
nhưng không được ra bản án hoặc quyết định không có lợi cho bị hại, đương sự;
c) Bị cáo có kháng cáo hoặc bị kháng cáo, bị kháng nghị nếu
vắng mặt vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Hội đồng xét xử
có thể vẫn tiến hành xét xử nhưng không được ra bản án, quyết định không có lợi
cho bị cáo. Nếu sự vắng mặt của bị cáo vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại
khách quan và sự vắng mặt đó không gây trở ngại cho việc xét xử thì Hội đồng
xét xử vẫn tiến hành xét xử.
2. Khi xét thấy cần thiết, Tòa án cấp phúc thẩm quyết định
triệu tập những người khác tham gia phiên tòa.
Điều 352. Hoãn phiên tòa phúc thẩm
1. Tòa án cấp phúc thẩm chỉ được hoãn phiên tòa khi thuộc một
trong các trường hợp:
a) Có một trong những căn cứ quy định tại các điều 52,
53, 349, 350 và 351 của Bộ luật này;
b) Cần phải xác minh, thu thập bổ sung chứng cứ, tài liệu,
đồ vật mà không thể thực hiện được ngay tại phiên tòa.
Trường hợp hoãn phiên tòa thì vụ án phải được xét xử lại từ
đầu.
2.[177] Thời
hạn hoãn phiên tòa phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 297 của Bộ luật này.
3.[178] Quyết
định hoãn phiên tòa phúc thẩm phải được chủ tọa phiên tòa thay mặt
Hội đồng xét xử ký tên. Trường hợp chủ tọa phiên tòa vắng mặt hoặc bị thay đổi
thì Chánh án Tòa án, Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân
dân tối cao ký quyết định hoãn phiên tòa.
Quyết định hoãn phiên tòa phải thông báo ngay cho những người
tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa; gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và những
người vắng mặt tại phiên tòa trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định.
Điều 353. Bổ sung, xem xét chứng cứ, tài liệu, đồ vật
1. Trước khi xét xử hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, Viện kiểm
sát có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của Tòa án bổ sung chứng cứ mới; người đã
kháng cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị,
người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự
cũng có quyền bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật.
2. Chứng cứ cũ, chứng cứ mới, tài liệu, đồ vật mới bổ sung
đều phải được xem xét tại phiên tòa phúc thẩm. Bản án phúc thẩm phải căn cứ vào
cả chứng cứ cũ và chứng cứ mới.
Điều 354. Thủ tục phiên tòa phúc thẩm
1. Thủ tục bắt đầu phiên tòa và thủ tục tranh tụng tại
phiên tòa phúc thẩm được tiến hành như phiên tòa sơ thẩm nhưng trước khi xét hỏi,
một thành viên của Hội đồng xét xử trình bày tóm tắt nội dung vụ án, quyết định
của bản án sơ thẩm, nội dung kháng cáo, kháng nghị.
2. Chủ tọa phiên tòa hỏi người kháng cáo có thay đổi, bổ
sung, rút kháng cáo hay không; nếu có thì chủ tọa phiên tòa yêu cầu Kiểm sát
viên trình bày ý kiến về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo.
Chủ tọa phiên tòa hỏi Kiểm sát viên có thay đổi, bổ sung,
rút kháng nghị hay không; nếu có thì chủ tọa phiên tòa yêu cầu bị cáo và những
người liên quan đến kháng nghị trình bày ý kiến về việc thay đổi, bổ sung, rút
kháng nghị.
3. Khi tranh tụng tại phiên tòa, Kiểm sát viên, người khác
liên quan đến kháng cáo, kháng nghị phát biểu ý kiến về nội dung kháng cáo,
kháng nghị; Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải
quyết vụ án.
Điều 355. Thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm đối với
bản án sơ thẩm
1. Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền:
a) Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản
án sơ thẩm;
b) Sửa bản án sơ thẩm;
c) Hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại
hoặc xét xử lại;
d) Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án;
đ) Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm.
2. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên
án.
Điều 356. Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ
nguyên bản án sơ thẩm
Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị
và giữ nguyên bản án sơ thẩm khi xét thấy các quyết định của bản án sơ thẩm có
căn cứ và đúng pháp luật.
Điều 357. Sửa bản án sơ thẩm
1. Khi có căn cứ xác định bản án sơ thẩm đã tuyên không
đúng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo hoặc
có tình tiết mới thì Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền sửa bản án sơ thẩm như
sau:
a) Miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho bị cáo;
không áp dụng hình phạt bổ sung; không áp dụng biện pháp tư pháp;
b) Áp dụng điều, khoản của Bộ luật Hình sự về tội nhẹ
hơn;
c) Giảm hình phạt cho bị cáo;
d) Giảm mức bồi thường thiệt hại và sửa quyết định xử lý vật
chứng;
đ) Chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn;
e) Giữ nguyên hoặc giảm mức hình phạt tù và cho hưởng án
treo.
2. Trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị hoặc bị hại kháng
cáo yêu cầu thì Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể:
a) Tăng hình phạt, áp dụng điều, khoản của Bộ luật Hình sự
về tội nặng hơn; áp dụng hình phạt bổ sung; áp dụng biện pháp tư pháp;
b) Tăng mức bồi thường thiệt hại;
c) Chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nặng hơn;
d) Không cho bị cáo hưởng án treo.
Nếu có căn cứ thì Hội đồng xét xử vẫn có thể giảm hình phạt,
áp dụng điều, khoản của Bộ luật Hình sự về tội nhẹ hơn, chuyển sang hình phạt
khác thuộc loại nhẹ hơn, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo, giảm
mức bồi thường thiệt hại.
3. Trường hợp có căn cứ, Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể sửa
bản án sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều này cho những bị cáo không kháng
cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị.
Điều 358. Hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại
1. Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra
lại trong các trường hợp:
a) Có căn cứ cho rằng cấp sơ thẩm bỏ lọt tội phạm, người phạm
tội hoặc để khởi tố, điều tra về tội nặng hơn tội đã tuyên trong bản án sơ thẩm;
b) Việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩm
không thể bổ sung được;
c) Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong giai đoạn
điều tra, truy tố.
2. Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại
ở cấp sơ thẩm với thành phần Hội đồng xét xử mới trong các trường hợp:
a) Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng thành phần mà Bộ luật
này quy định;
b) Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong giai đoạn
xét xử sơ thẩm;
c) Người được Tòa án cấp sơ thẩm tuyên không có tội nhưng
có căn cứ cho rằng người đó đã phạm tội;
d) Miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hoặc áp dụng biện
pháp tư pháp đối với bị cáo không có căn cứ;
đ) Bản án sơ thẩm có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng
pháp luật nhưng không thuộc trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án
theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật này.
3. Khi hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử
lại, Hội đồng xét xử phúc thẩm phải ghi rõ lý do của việc hủy bản án sơ thẩm.
4. Khi hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại, Hội đồng xét xử
phúc thẩm không quyết định trước những chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm cần phải
chấp nhận hoặc cần phải bác bỏ, cũng như không quyết định trước về điểm, khoản,
điều của Bộ luật Hình sự cần áp dụng và hình phạt đối với bị cáo.
5. Trường hợp hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử
lại mà thời hạn tạm giam đối với bị cáo đã hết và xét thấy cần phải tiếp tục tạm
giam bị cáo thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định tiếp tục tạm giam bị
cáo cho đến khi Viện kiểm sát hoặc Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý lại vụ án.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên hủy bản án sơ thẩm,
hồ sơ vụ án phải được chuyển cho Viện kiểm sát hoặc Tòa án cấp sơ thẩm để giải
quyết theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này.
Điều 359. Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án
1. Khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản
2 Điều 157 của Bộ luật này thì Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm,
tuyên bị cáo không có tội và đình chỉ vụ án.
2. Khi có một trong các căn cứ quy định tại các khoản 3, 4,
5, 6 và 7 Điều 157 của Bộ luật này thì Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án
sơ thẩm và đình chỉ vụ án.
Điều 360. Điều tra lại hoặc xét xử lại vụ án hình sự
1. Sau khi Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để
điều tra lại thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án cấp sơ thẩm có thẩm
quyền tiến hành điều tra, truy tố, xét xử lại vụ án theo thủ tục chung quy định
tại Bộ luật này.
2. Sau khi Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để
xét xử lại thì Tòa án cấp sơ thẩm có thẩm quyền tiến hành xét xử lại vụ án theo
thủ tục chung quy định tại Bộ luật này.
Điều 361. Thẩm quyền của Hội đồng phúc thẩm đối với quyết định
sơ thẩm
1. Hội đồng phúc thẩm có quyền:
a) Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên quyết
định của Tòa án cấp sơ thẩm khi xét thấy các quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm
có căn cứ và đúng pháp luật;
b) Sửa quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm;
c) Hủy quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ
án cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án.
2. Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra
quyết định.
Điều 362. Thủ tục phúc thẩm đối với quyết định sơ thẩm
1. Khi phúc thẩm đối với quyết định sơ thẩm bị kháng cáo,
kháng nghị thì Hội đồng xét xử phúc thẩm phải triệu tập người kháng cáo, người
bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị tham gia phiên họp. Trường hợp họ
vắng mặt thì Hội đồng xét xử phúc thẩm vẫn tiến hành phiên họp.
2. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thụ lý hồ sơ vụ án,
Tòa án phải mở phiên họp để xem xét quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp,
Hội đồng xét xử phúc thẩm phải mở phiên họp. Trong thời hạn 02 ngày kể từ
ngày ra quyết định thì Tòa án phải chuyển hồ sơ vụ án kèm theo quyết định mở
phiên họp cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được
hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát phải trả hồ sơ vụ án cho Tòa án.
3. Tại phiên họp, một thành viên của Hội đồng xét xử phúc
thẩm trình bày tóm tắt nội dung quyết định sơ thẩm, nội dung kháng cáo, kháng
nghị và chứng cứ, tài liệu, đồ vật kèm theo (nếu có).
Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải có mặt tại phiên
họp và phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết kháng cáo,
kháng nghị trước khi Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định.
Phần thứ năm
MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ THI HÀNH BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA
ÁN
Chương XXIII
BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH ĐƯỢC THI HÀNH NGAY VÀ THẨM QUYỀN RA
QUYẾT ĐỊNH THI HÀNH ÁN
Điều 363. Bản án, quyết định của Tòa án được thi hành ngay
Trường hợp bị cáo đang bị tạm giam mà Tòa án cấp sơ thẩm
quyết định đình chỉ vụ án, tuyên bị cáo không có tội, miễn trách nhiệm hình sự,
miễn hình phạt cho bị cáo, hình phạt không phải là hình phạt tù hoặc phạt tù
nhưng cho hưởng án treo hoặc khi thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời hạn
đã tạm giam thì bản án hoặc quyết định của Tòa án được thi hành ngay, mặc dù vẫn
có thể bị kháng cáo, kháng nghị.
Hình phạt cảnh cáo được thi hành ngay tại phiên tòa.
Điều 364. Thẩm quyền và thủ tục ra quyết
định thi hành án
1. Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm có thẩm quyền ra quyết
định thi hành án hoặc ủy thác cho Chánh án Tòa án khác cùng cấp ra quyết định
thi hành án.
2. Thời hạn ra quyết định thi hành án là 07 ngày kể từ ngày
bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nhận được bản
án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, quyết định tái thẩm.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định ủy
thác thi hành của Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm thì Chánh án Tòa án được ủy
thác phải ra quyết định thi hành án.
3. Trường hợp người bị kết án phạt tù đang tại ngoại thì
quyết định thi hành án phạt tù phải ghi rõ trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận
được quyết định, người đó phải có mặt tại cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh[179] để thi hành án.
Trường hợp người bị kết án phạt tù đang tại ngoại mà bỏ trốn
thì Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án yêu cầu cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh nơi người bị kết án phạt tù đang tại ngoại ra quyết định
truy nã.
Điều 365. Giải thích, sửa chữa bản án, quyết định của Tòa án
1. Cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án dân sự,
Viện kiểm sát, người bị kết án, bị hại, đương sự liên quan đến việc thi hành
án có quyền yêu cầu Tòa án đã ra bản án, quyết định giải thích, sửa chữa những
điểm chưa rõ trong bản án, quyết định để thi hành.
2. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đã ra bản án, quyết định có
trách nhiệm giải thích, sửa chữa những điểm chưa rõ trong bản án, quyết định của
Tòa án. Trường hợp Thẩm phán chủ tọa phiên tòa không thể thực hiện được thì việc
giải thích, sửa chữa do Chánh án Tòa án đã ra bản án, quyết định đó thực hiện.
Điều 366. Giải quyết kiến nghị đối với bản án, quyết định của
Tòa án
Trường hợp cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án
dân sự kiến nghị về việc xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục
giám đốc thẩm, tái thẩm thì Tòa án có thẩm quyền có trách nhiệm trả lời trong
thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận được văn bản kiến nghị. Trường hợp vụ án phức
tạp thì thời hạn trả lời có thể kéo dài nhưng không quá 120 ngày kể từ ngày nhận
được văn bản kiến nghị.
Chương XXIV
MỘT SỐ THỦ TỤC VỀ THI HÀNH ÁN TỬ HÌNH, XÉT THA TÙ TRƯỚC
THỜI HẠN CÓ ĐIỀU KIỆN, XÓA ÁN TÍCH
Điều 367. Thủ tục xem xét bản án tử hình trước khi thi
hành
1. Thủ tục xem xét bản án tử hình trước khi thi hành được
thực hiện:
a) Sau khi bản án tử hình có hiệu lực pháp luật, hồ sơ vụ
án phải được gửi ngay cho Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và bản án phải được
gửi ngay cho Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
b) Sau khi đã xem xét hồ sơ vụ án để quyết định kháng nghị
hoặc quyết định không kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, Tòa án nhân dân tối
cao phải chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trong thời hạn
01 tháng kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải
trả lại hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tối cao;
c) Trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ
án, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao phải quyết định kháng nghị hoặc quyết định không kháng nghị giám đốc thẩm
hoặc tái thẩm;
d) Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực
pháp luật, người bị kết án được gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước;
đ) Bản án tử hình được thi hành nếu Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao không kháng nghị theo
thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm và người bị kết án không có đơn xin ân giảm
lên Chủ tịch nước.
Trường hợp bản án tử hình bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc
thẩm hoặc tái thẩm mà Hội đồng giám đốc thẩm, Hội đồng tái thẩm Tòa án nhân dân
tối cao quyết định không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án tử hình thì
Tòa án nhân dân tối cao phải thông báo ngay cho người bị kết án biết để họ làm
đơn xin ân giảm hình phạt tử hình;
e)[180] Trường
hợp người bị kết án có đơn xin ân giảm gửi Chủ tịch nước thì Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có ý kiến trình Chủ
tịch nước về việc xét đơn xin ân giảm. Trường hợp Chủ tịch nước quyết định ân
giảm thì Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm ra quyết định chuyển hình phạt tử
hình thành tù chung thân cho người bị kết án. Hết thời hạn 01 năm kể từ ngày nhận
được ý kiến của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao mà Chủ tịch nước không có quyết định ân giảm thì cơ quan có thẩm
quyền thông báo ngay về việc không có quyết định ân giảm của Chủ tịch nước để
Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm tổ chức việc thi hành bản án tử hình theo quy
định.
2. Khi có căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 40 của Bộ luật
Hình sự thì Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm không ra quyết định thi hành án tử
hình và báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao để xem xét chuyển hình phạt tử
hình thành tù chung thân cho người bị kết án.
3.[181]
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi tiết Điều này.
Điều 368. Thủ tục xét tha tù trước thời hạn có
điều kiện
1. Trại giam; Trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Trại tạm giam
thuộc Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị tha tù trước thời
hạn và chuyển cho Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp
quân khu, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân
đang chấp hành án phạt tù.
Hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn gồm:
a) Đơn xin tha tù trước thời hạn của phạm nhân kèm theo cam
kết không vi phạm pháp luật, các nghĩa vụ phải chấp hành khi được tha tù trước
thời hạn;
b) Bản sao bản án có hiệu lực pháp luật; quyết định thi
hành án;
c) Bản sao quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù
đối với người bị kết án về tội phạm nghiêm trọng trở lên;
d) Văn bản, tài liệu thể hiện việc chấp hành xong hình phạt
bổ sung là hình phạt tiền, án phí, các nghĩa vụ dân sự;
đ) Tài liệu về cá nhân, hoàn cảnh gia đình của phạm
nhân;
e) Kết quả xếp loại chấp hành án phạt tù quý, 06
tháng, năm; quyết định khen thưởng hoặc giấy xác nhận của cơ quan có
thẩm quyền về việc phạm nhân lập công (nếu có);
g) Văn bản đề nghị tha tù trước thời hạn của cơ quan lập hồ
sơ.
2. Văn bản đề nghị tha tù trước thời hạn của cơ quan lập
hồ sơ gồm các nội dung chính:
a) Số, ngày, tháng, năm của văn bản;
b) Họ tên, chức vụ, chữ ký của người có thẩm quyền
đề nghị;
c) Họ tên, giới tính, năm sinh, nơi cư trú của phạm
nhân; nơi phạm nhân chấp hành thời gian thử thách;
d) Thời gian đã chấp hành án phạt tù; thời gian
chấp hành án phạt tù còn lại;
đ) Nhận xét và đề nghị của cơ quan lập hồ sơ.
3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề
nghị tha tù trước thời hạn, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện
kiểm sát quân sự cấp quân khu phải ra văn bản thể hiện quan điểm về việc
đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện của cơ quan đề nghị.
Trường hợp Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan lập hồ sơ
bổ sung tài liệu thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được
yêu cầu, cơ quan lập hồ sơ phải bổ sung tài liệu và gửi cho Viện kiểm
sát, Tòa án.
4. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ
sơ của cơ quan đề nghị, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án
quân sự cấp quân khu phải mở phiên họp xét tha tù trước thời hạn có điều kiện;
đồng thời thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp để cử Kiểm sát
viên tham gia phiên họp. Trường hợp Tòa án yêu cầu cơ quan lập hồ sơ bổ
sung tài liệu thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được yêu
cầu, cơ quan lập hồ sơ phải bổ sung tài liệu và gửi cho Tòa án, Viện kiểm
sát.
5. Hội đồng xét tha tù trước thời hạn có điều
kiện gồm Chánh án và 02 Thẩm phán, do Chánh án làm Chủ tịch Hội
đồng.
6. Tại phiên họp, một thành viên của Hội đồng trình
bày tóm tắt hồ sơ đề nghị. Kiểm sát viên trình bày quan điểm của Viện
kiểm sát về việc đề nghị xét tha tù trước thời hạn có điều kiện của
cơ quan đề nghị và việc tuân thủ pháp luật trong việc xét, quyết định
tha tù trước thời hạn có điều kiện. Đại diện cơ quan đã lập hồ sơ
đề nghị có thể trình bày bổ sung để làm rõ việc đề nghị tha tù
trước thời hạn.
7. Phiên họp xét tha tù trước thời hạn có điều
kiện được lập biên bản. Biên bản ghi rõ ngày, tháng, năm, địa điểm
mở phiên họp; thành phần tham gia phiên họp; nội dung, diễn biến phiên
họp và quyết định của Hội đồng về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận đề
nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với từng phạm nhân.
Sau khi kết thúc phiên họp, Kiểm sát viên xem biên
bản phiên họp, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung (nếu có) vào biên
bản phiên họp; Chủ tịch Hội đồng phải kiểm tra biên bản, cùng với
thư ký phiên họp ký vào biên bản.
8. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định tha tù
trước thời hạn có điều kiện, Tòa án phải gửi quyết định cho phạm nhân, Viện
kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, cơ quan đã lập hồ sơ đề
nghị, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an
cấp tỉnh[182], cấp
quân khu, Ủy ban nhân dân cấp xã[183] nơi
người được tha tù trước thời hạn về cư trú, đơn vị quân đội được
giao quản lý người đó, Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định có
trụ sở.
9. Ngay sau khi nhận được quyết định tha tù trước
thời hạn có điều kiện, cơ sở giam giữ phải tổ chức công bố quyết định
này và thực hiện các thủ tục thi hành quyết định tha tù trước thời hạn
có điều kiện. Trong thời gian thử thách mà người được tha tù trước
thời hạn có điều kiện không vi phạm các quy định tại khoản 4 Điều 66
của Bộ luật hình sự thì khi hết thời gian thử thách, cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp tỉnh[184], cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi đã quản lý họ có trách
nhiệm cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù.
10. Trường hợp người được tha tù trước thời hạn vi
phạm quy định tại khoản 4 Điều 66 của Bộ luật Hình sự thì cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp tỉnh[185] nơi
người được tha tù trước thời hạn về cư trú, đơn vị quân đội được
giao quản lý người đó phải lập hồ sơ chuyển đến Viện kiểm sát và Tòa án
đã ra quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện để xem xét, hủy
quyết định đã ban hành và buộc người đó phải chấp hành phần hình
phạt tù còn lại chưa chấp hành.
Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ
đề nghị, Tòa án phải mở phiên họp để xem xét, quyết định.
Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định
hủy bỏ quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, Tòa án phải
gửi quyết định cho cơ quan, cá nhân quy định tại khoản 8 Điều này.
11. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị, phạm nhân có quyền
khiếu nại đối với quyết định về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị tha
tù trước thời hạn có điều kiện, quyết định hủy quyết định tha tù trước thời hạn
có điều kiện.
Trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết kháng nghị, khiếu
nại các quyết định quy định tại khoản này được thực hiện theo quy định tại
Chương XXII và Chương XXXIII của Bộ luật này.
Điều 369. Thủ tục xóa án tích
1. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của
người được đương nhiên xóa án tích và xét thấy có đủ điều kiện quy định tại Điều
70 của Bộ luật Hình sự thì cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp cấp
phiếu lý lịch tư pháp là họ không có án tích.
2. Những trường hợp quy định tại Điều 71 và Điều 72 của Bộ
luật Hình sự thì việc xóa án tích do Tòa án quyết định. Người bị kết án phải
có đơn gửi Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án có nhận xét của Ủy ban nhân dân cấp
xã[186] nơi họ cư trú hoặc cơ quan,
tổ chức nơi họ làm việc, học tập.
Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được đơn của người bị
kết án, Tòa án đã xét xử sơ thẩm chuyển tài liệu về việc xin xoá án tích cho Viện
kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận tài liệu do Tòa án
chuyển đến, Viện kiểm sát cùng cấp có ý kiến bằng văn bản và chuyển lại tài liệu
cho Tòa án.
Nếu xét thấy đủ điều kiện thì trong thời hạn 05 ngày kể từ
ngày nhận tài liệu do Viện kiểm sát chuyển đến, Chánh án Tòa án đã xét xử
sơ thẩm phải ra quyết định xóa án tích; trường hợp chưa đủ điều kiện thì quyết
định bác đơn xin xóa án tích.
Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày ra quyết định xóa án tích
hoặc quyết định bác đơn xin xóa án tích, Tòa án đã ra quyết định phải gửi
quyết định này cho người bị kết án, Viện kiểm sát cùng cấp, Ủy ban nhân
dân cấp xã[187] nơi
họ cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ làm việc, học tập.
Phần thứ sáu
XÉT LẠI BẢN ÁN VÀ QUYẾT ĐỊNH ĐÃ CÓ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT
Chương XXV
THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM
Điều 370. Tính chất của giám đốc thẩm
Giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã
có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật
nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án.
Điều 371. Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị
kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong các căn cứ:
1. Kết luận trong bản án, quyết định của Tòa án không phù hợp
với những tình tiết khách quan của vụ án;
2. Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra,
truy tố, xét xử dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án;
3. Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.
Điều 372. Phát hiện bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm
1. Người bị kết án, cơ quan, tổ chức và mọi cá nhân có quyền
phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật và thông báo cho người có thẩm quyền kháng nghị.
2.[188] Tòa
án quân sự cấp quân khu thực hiện việc kiểm tra bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật của Tòa án quân sự khu vực để phát hiện vi phạm pháp luật và kiến nghị
Chánh án Tòa án quân sự trung ương xem xét kháng nghị.
3. Khi thực hiện công tác giám đốc việc xét xử, kiểm sát việc
xét xử hoặc qua các nguồn thông tin khác mà Tòa án, Viện kiểm sát phát hiện vi
phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì
thông báo ngay bằng văn bản cho người có thẩm quyền kháng nghị.
Điều 373. Những người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám
đốc thẩm
1.[189]
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có
quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh;
bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần
thiết, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
2. Chánh án Tòa án quân sự trung ương, Viện trưởng Viện kiểm
sát quân sự trung ương có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu, Tòa án
quân sự khu vực.
3.[190] Chánh
án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền
kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
của Tòa án nhân dân khu vực trong phạm vi tỉnh, thành phố.
Điều 374. Thủ tục thông báo bản án, quyết định của Tòa án
đã có hiệu lực pháp luật cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm
1. Khi phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định
của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì người bị kết án, cơ quan, tổ chức, cá
nhân thông báo bằng văn bản hoặc trình bày trực tiếp với người có thẩm quyền
kháng nghị hoặc với Tòa án, Viện kiểm sát nơi gần nhất kèm theo chứng cứ, tài
liệu, đồ vật (nếu có).
2. Văn bản thông báo có các nội dung chính:
a) Ngày, tháng, năm;
b) Tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo;
c) Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị
phát hiện có vi phạm pháp luật;
d) Nội dung vi phạm pháp luật được phát hiện;
đ) Kiến nghị người có thẩm quyền xem xét kháng nghị.
3. Người thông báo là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ;
trường hợp cơ quan, tổ chức thông báo thì người đại diện theo pháp luật của cơ
quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu.
Điều 375. Thủ tục tiếp nhận thông báo bản án, quyết
định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm
1. Khi nhận được thông báo bằng văn bản thì Tòa án, Viện kiểm
sát phải vào sổ nhận thông báo.
2. Khi người bị kết án, cơ quan, tổ chức, cá nhân trình bày
trực tiếp về vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật thì Tòa án, Viện kiểm sát phải lập biên bản; nếu người thông báo cung
cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật thì Tòa án, Viện kiểm sát phải lập biên bản thu
giữ. Biên bản được lập theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này.
3. Tòa án, Viện kiểm sát đã nhận thông báo, lập biên bản phải
gửi ngay thông báo, biên bản kèm theo chứng cứ, tài liệu, đồ vật (nếu có) cho
người có thẩm quyền kháng nghị và thông báo bằng văn bản cho người bị kết án,
cơ quan, tổ chức, cá nhân đã kiến nghị, đề nghị biết.
Điều 376. Chuyển hồ sơ vụ án để xem xét kháng nghị theo thủ
tục giám đốc thẩm
1. Trường hợp cần thiết phải nghiên cứu hồ sơ vụ án để xem
xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm thì Tòa án, Viện kiểm sát có thẩm quyền
yêu cầu bằng văn bản để Tòa án đang quản lý hồ sơ chuyển hồ sơ vụ án.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu,
Tòa án đang quản lý hồ sơ vụ án phải chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án, Viện kiểm
sát đã yêu cầu.
2. Trường hợp Tòa án và Viện kiểm sát cùng có văn bản yêu cầu
thì Tòa án đang quản lý hồ sơ vụ án chuyển hồ sơ cho cơ quan yêu cầu trước và
thông báo cho cơ quan yêu cầu sau biết.
Điều 377. Tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định bị kháng
nghị giám đốc thẩm
Người ra quyết định kháng nghị giám đốc thẩm đối với
bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì có quyền quyết định tạm đình
chỉ thi hành bản án, quyết định đó.
Quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định bị
kháng nghị giám đốc thẩm phải gửi cho Tòa án, Viện kiểm sát nơi đã xét xử sơ thẩm,
phúc thẩm và cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
Điều 378. Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm có các nội dung
chính:
1. Số, ngày, tháng, năm của quyết định;
2. Người có thẩm quyền ra quyết định;
3. Số, ngày, tháng, năm của bản án, quyết định bị kháng nghị;
4. Nhận xét, phân tích những vi phạm pháp luật, sai lầm của
bản án, quyết định bị kháng nghị;
5. Căn cứ pháp luật để quyết định kháng nghị;
6. Quyết định kháng nghị toàn bộ hay một phần bản án, quyết
định;
7. Tên của Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm vụ án;
8. Yêu cầu của người kháng nghị.
Điều 379. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
1. Việc kháng nghị theo hướng không có lợi cho người bị kết
án chỉ được tiến hành trong thời hạn 01 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu
lực pháp luật.
2. Việc kháng nghị theo hướng có lợi cho người bị kết án có
thể được tiến hành bất cứ lúc nào, cả trong trường hợp người bị kết án đã chết
mà cần minh oan cho họ.
3. Việc kháng nghị về dân sự trong vụ án hình sự đối với
đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
4. Nếu không có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc
thẩm thì người có quyền kháng nghị phải trả lời bằng văn bản cho cơ quan, tổ chức,
cá nhân đã kiến nghị biết rõ lý do của việc không kháng nghị.
Điều 380. Gửi quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
1. Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm phải gửi ngay cho
Tòa án đã ra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị, người bị
kết án, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền
và những người khác có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến nội dung kháng nghị.
2. Trường hợp Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị
thì quyết định kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án phải gửi ngay cho Tòa án có thẩm
quyền giám đốc thẩm.
Trường hợp Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh[191], Chánh án Tòa án quân sự
trung ương kháng nghị thì quyết định kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án phải được
gửi ngay cho Viện kiểm sát có thẩm quyền.
Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm phải gửi quyết định
kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 30
ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát phải gửi lại hồ sơ vụ án
cho Tòa án.
3. Trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh[192],
Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương kháng nghị thì quyết định kháng
nghị kèm theo hồ sơ vụ án phải gửi ngay cho Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm.
Điều 381. Thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị
1. Trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa giám đốc thẩm,
người kháng nghị có quyền bổ sung, thay đổi kháng nghị nếu chưa hết thời hạn
kháng nghị. Việc bổ sung, thay đổi kháng nghị trước khi mở phiên tòa phải bằng
quyết định và được gửi theo quy định tại khoản 1 Điều 380 của Bộ luật này. Việc
bổ sung, thay đổi kháng nghị tại phiên tòa được ghi vào biên bản phiên tòa.
2. Trước khi bắt đầu hoặc tại phiên tòa giám đốc thẩm, người
kháng nghị có quyền rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị. Việc rút kháng nghị
trước khi mở phiên tòa phải bằng quyết định; việc rút kháng nghị tại phiên tòa
được ghi vào biên bản phiên tòa.
3. Trường hợp rút toàn bộ kháng nghị trước khi mở phiên tòa
thì Chánh án Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử
giám đốc thẩm. Trường hợp rút toàn bộ kháng nghị tại phiên tòa thì Hội đồng xét
xử ra quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm.
Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định, Tòa án gửi
quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm cho những người quy định tại khoản 1
Điều 380 của Bộ luật này và Viện kiểm sát cùng cấp.
Điều 382. Thẩm quyền giám đốc thẩm[193]
1. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm
bằng Hội đồng xét xử gồm năm Thẩm phán đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh,
Tòa án quân sự trung ương bị kháng nghị.
2. Hội đồng toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám
đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật quy định tại khoản
1 Điều này nhưng có tính chất phức tạp hoặc bản án, quyết định đã được Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm năm Thẩm
phán nhưng không thống nhất khi biểu quyết thông qua quyết định về việc giải
quyết vụ án.
Khi Hội đồng toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét
xử giám đốc thẩm thì phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham gia,
do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao làm chủ tọa phiên tòa. Quyết định của Hội đồng
toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải được quá nửa tổng số thành viên
Hội đồng biểu quyết tán thành; nếu không được quá nửa tổng số thành viên của Hội
đồng toàn thể Thẩm phán tán thành thì phải hoãn phiên tòa. Trong thời hạn 30
ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa thì Hội đồng toàn thể Thẩm phán phải
mở phiên tòa xét xử lại vụ án.
3. Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung
ương giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa
án quân sự cấp quân khu, Tòa án quân sự khu vực bị kháng nghị. Khi xét xử giám
đốc thẩm thì phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên của Ủy ban Thẩm
phán Tòa án quân sự trung ương tham gia, do Chánh án Tòa án quân sự trung ương
làm chủ tọa phiên tòa. Quyết định của Ủy ban Thẩm phán phải được quá nửa tổng số
thành viên biểu quyết tán thành; nếu không được quá nửa tổng số thành viên của Ủy
ban Thẩm phán tán thành thì phải hoãn phiên tòa. Trong thời hạn 30 ngày kể từ
ngày ra quyết định hoãn phiên tòa thì Ủy ban Thẩm phán phải mở phiên tòa xét xử
lại vụ án.
4. Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh giám đốc thẩm
đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân khu vực
bị kháng nghị. Khi xét xử giám đốc thẩm thì phải có ít nhất hai phần ba tổng số
thành viên của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh tham gia, do Chánh án
Tòa án nhân dân cấp tỉnh làm chủ tọa phiên tòa. Quyết định của Ủy ban Thẩm phán
phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành; nếu không được quá nửa
tổng số thành viên của Ủy ban Thẩm phán tán thành thì phải hoãn phiên tòa. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn
phiên tòa thì Ủy ban Thẩm phán phải mở phiên tòa xét xử lại vụ án.
5. Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật bị kháng nghị thuộc thẩm quyền giám đốc thẩm của các cấp khác nhau thì Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm toàn bộ vụ án.
Điều 383. Những người tham gia phiên tòa giám đốc thẩm
1. Phiên tòa giám đốc thẩm phải có sự tham gia của Kiểm sát
viên Viện kiểm sát cùng cấp.
2. Trường hợp xét thấy cần thiết hoặc có căn cứ sửa một phần
bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, Tòa án phải triệu tập người bị kết
án, người bào chữa và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc
kháng nghị tham gia phiên tòa giám đốc thẩm; nếu họ vắng mặt thì phiên tòa giám
đốc thẩm vẫn được tiến hành.
Điều 384. Chuẩn bị phiên tòa giám đốc thẩm
Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán là thành viên Hội đồng
giám đốc thẩm làm bản thuyết trình về vụ án. Bản thuyết trình tóm tắt nội dung
vụ án và các bản án, quyết định của các cấp Tòa án, nội dung của kháng nghị.
Bản thuyết trình và các tài liệu có liên quan phải gửi cho
các thành viên Hội đồng giám đốc thẩm chậm nhất là 07 ngày trước ngày mở phiên
tòa giám đốc thẩm.
Điều 385. Thời hạn mở phiên tòa giám đốc thẩm
Trong thời hạn 04 tháng kể từ ngày nhận được quyết định
kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án, Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm phải mở
phiên tòa.
Điều 386. Thủ tục phiên tòa giám đốc thẩm
1. Sau khi chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa, một thành
viên Hội đồng giám đốc thẩm trình bày bản thuyết trình về vụ án. Các thành viên
khác của Hội đồng giám đốc thẩm hỏi thêm Thẩm phán thuyết trình về những điểm
chưa rõ trước khi thảo luận và phát biểu ý kiến của mình về việc giải quyết vụ
án. Trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị thì Kiểm sát viên trình bày nội dung
kháng nghị.
2. Trường hợp người bị kết án, người bào chữa, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng nghị có mặt tại phiên tòa thì những người
này được trình bày ý kiến về những vấn đề mà Hội đồng giám đốc thẩm yêu cầu.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về quyết
định kháng nghị và việc giải quyết vụ án.
Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng tại phiên tòa giám đốc
thẩm tranh tụng về những vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ án. Chủ tọa
phiên tòa phải tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng trình
bày hết ý kiến, tranh luận dân chủ, bình đẳng trước Tòa án.
3. Các thành viên Hội đồng giám đốc thẩm phát biểu ý kiến của
mình và thảo luận. Hội đồng giám đốc thẩm biểu quyết về việc giải quyết vụ án
và công bố quyết định về việc giải quyết vụ án.
Điều 387. Phạm vi giám đốc thẩm
Hội đồng giám đốc thẩm phải xem xét toàn bộ vụ án mà không
chỉ hạn chế trong nội dung của kháng nghị.
Điều 388. Thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm
1. Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị.
2. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và giữ
nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc Tòa án cấp
phúc thẩm bị hủy, sửa không đúng pháp luật.
3. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều
tra lại hoặc xét xử lại.
4. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình
chỉ vụ án.
5. Sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
6. Đình chỉ xét xử giám đốc thẩm.
Điều 389. Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị
Hội đồng giám đốc thẩm không chấp nhận kháng nghị và giữ
nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị khi xét thấy bản
án, quyết định đó có căn cứ và đúng pháp luật.
Điều 390. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
và giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc Tòa
án cấp phúc thẩm bị hủy, sửa không đúng pháp luật
Hội đồng giám đốc thẩm ra quyết định hủy bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật và giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của
Tòa án cấp sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm nhưng bị hủy, sửa không đúng pháp
luật.
Điều 391. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để
điều tra lại hoặc xét xử lại
Hội đồng giám đốc thẩm hủy một phần hoặc toàn bộ bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại nếu có một
trong các căn cứ quy định tại Điều 371 của Bộ luật này. Nếu hủy để xét xử lại
thì tùy trường hợp, Hội đồng giám đốc thẩm có thể quyết định xét xử lại từ cấp
sơ thẩm hoặc cấp phúc thẩm.
Trường hợp xét thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo thì Hội đồng
giám đốc thẩm ra quyết định tạm giam cho đến khi Viện kiểm sát hoặc Tòa án thụ
lý lại vụ án.
Điều 392. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
và đình chỉ vụ án
Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật và đình chỉ vụ án nếu có một trong các căn cứ quy định tại Điều 157 của
Bộ luật này.
Điều 393. Sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật khi có đủ các điều kiện:
1. Các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã rõ ràng, đầy
đủ;
2. Việc sửa bản án, quyết định không làm thay đổi bản chất
của vụ án, không làm xấu đi tình trạng của người bị kết án, không gây bất lợi
cho bị hại, đương sự.
Điều 394. Quyết định giám đốc thẩm
1. Hội đồng giám đốc thẩm ra quyết định giám đốc thẩm nhân
danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Quyết định giám đốc thẩm có các nội dung:
a) Ngày, tháng, năm và địa điểm mở phiên tòa;
b) Họ tên các thành viên Hội đồng giám đốc thẩm;
c) Họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát
xét xử phiên tòa;
d) Tên vụ án mà Hội đồng đưa ra xét xử giám đốc thẩm;
đ) Tên, tuổi, địa chỉ của người bị kết án và những người
khác có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quyết định giám đốc thẩm;
e) Tóm tắt nội dung vụ án, phần quyết định của bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị;
g) Quyết định kháng nghị, căn cứ kháng nghị;
h) Nhận định của Hội đồng giám đốc thẩm, trong đó phải phân
tích những căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng nghị;
i) Điểm, khoản, điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật
Hình sự mà Hội đồng giám đốc thẩm căn cứ để ra quyết định;
k) Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm.
Điều 395. Hiệu lực của quyết định giám đốc thẩm và việc gửi
quyết định giám đốc thẩm
1. Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm có hiệu lực pháp
luật kể từ ngày ra quyết định.
2. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định, Hội đồng
giám đốc thẩm phải gửi quyết định giám đốc thẩm cho người bị kết án, người đã
kháng nghị; Viện kiểm sát cùng cấp; Viện kiểm sát, Tòa án nơi đã xét xử sơ thẩm,
phúc thẩm; cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị hoặc người đại diện
của họ; thông báo bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã[194]
nơi người bị kết án cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án làm việc,
học tập.
Điều 396. Thời hạn chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại hoặc
xét xử lại
Nếu Hội đồng giám đốc thẩm quyết định hủy bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
ra quyết định, hồ sơ vụ án phải được chuyển cho Viện kiểm sát cùng cấp để điều
tra lại theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này.
Nếu Hội đồng giám đốc thẩm quyết định hủy bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật để xét xử lại vụ án ở cấp sơ thẩm hoặc ở cấp phúc thẩm
thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định, hồ sơ vụ án phải được chuyển
cho Tòa án có thẩm quyền để xét xử lại theo thủ tục chung quy định tại Bộ
luật này.
Chương XXVI
THỦ TỤC TÁI THẨM
Điều 397. Tính chất của tái thẩm
Tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật của Tòa án nhưng bị kháng nghị vì có tình tiết mới được phát hiện có thể
làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án không biết được
khi ra bản án, quyết định đó.
Điều 398. Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị
kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi có một trong các căn cứ:
1. Có căn cứ chứng minh lời khai của người làm chứng, kết
luận giám định, kết luận định giá tài sản, lời dịch của người phiên dịch, bản dịch
thuật có những điểm quan trọng không đúng sự thật;
2. Có tình tiết mà Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán,
Hội thẩm do không biết được mà kết luận không đúng làm cho bản án, quyết định của
Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không đúng sự thật khách quan của vụ án;
3. Vật chứng, biên bản về hoạt động điều tra, truy tố, xét
xử, biên bản hoạt động tố tụng khác hoặc những chứng cứ, tài liệu, đồ vật khác
trong vụ án bị giả mạo hoặc không đúng sự thật;
4. Những tình tiết khác làm cho bản
án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không đúng sự thật khách
quan của vụ án.
Điều 399. Thông báo và xác minh những tình tiết mới được
phát hiện
1. Người bị kết án, cơ quan, tổ chức và mọi cá nhân có quyền
phát hiện tình tiết mới của vụ án và thông báo kèm theo các tài liệu liên quan
cho Viện kiểm sát hoặc Tòa án. Trường hợp Tòa án nhận được thông báo hoặc tự
mình phát hiện tình tiết mới của vụ án thì phải thông báo ngay bằng văn bản kèm
theo các tài liệu liên quan cho Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng
nghị tái thẩm. Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị tái thẩm ra
quyết định xác minh những tình tiết đó.
2. Viện kiểm sát phải xác minh những tình tiết mới; khi xét
thấy cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị tái thẩm yêu
cầu Cơ quan điều tra có thẩm quyền xác minh tình tiết mới của vụ án và chuyển kết
quả xác minh cho Viện kiểm sát.
3. Khi tiến hành xác minh tình tiết mới của vụ án, Viện kiểm
sát, Cơ quan điều tra có quyền áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng theo
quy định của Bộ luật này.
Điều 400. Những người có quyền kháng nghị theo thủ tục tái
thẩm
1. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền
kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật của Tòa án các cấp, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao.
2. Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương có quyền
kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật của Tòa án quân sự cấp quân khu, Tòa án quân sự khu vực.
3.[195] Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân khu vực thuộc phạm vi tỉnh,
thành phố.
Điều 401. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
1. Tái thẩm theo hướng không có lợi cho người bị kết án
chỉ được thực hiện trong thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại
Điều 27 của Bộ luật Hình sự và thời hạn kháng nghị không được quá 01 năm kể từ
ngày Viện kiểm sát nhận được tin báo về tình tiết mới được phát hiện.
2. Tái thẩm theo hướng có lợi cho người bị kết án thì không
hạn chế về thời gian và được thực hiện cả trong trường hợp người bị kết án
đã chết mà cần minh oan cho họ.
3. Việc kháng nghị về dân sự trong vụ án hình sự đối với
đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Điều 402. Thẩm quyền của Hội đồng tái thẩm
1. Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị.
2. Hủy bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
để điều tra lại hoặc xét xử lại.
3. Hủy bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp
luật và đình chỉ vụ án.
4. Đình chỉ việc xét xử tái thẩm.
Điều 403. Các thủ tục khác về tái thẩm
Các thủ tục khác về tái thẩm được thực hiện theo các quy định
về thủ tục giám đốc thẩm quy định tại Bộ luật này.
Chương XXVII
THỦ TỤC XEM XÉT LẠI QUYẾT ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Điều 404. Yêu cầu, kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
1. Khi có căn cứ xác định quyết định của Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc phát hiện tình
tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định mà Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao không biết được khi ra quyết định đó, nếu Ủy
ban Thường vụ Quốc hội yêu cầu, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[196], Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao kiến nghị, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đề nghị thì Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối phải mở phiên họp để xem xét lại quyết định đó.
2. Trường hợp Ủy ban Thường vụ Quốc hội yêu cầu thì Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm báo cáo Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao để xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao.
3. Trường hợp Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[197], Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao kiến nghị thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao mở
phiên họp xem xét kiến nghị đó.
Trường hợp Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đề nghị thì báo
cáo Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao mở phiên họp xem xét đề nghị đó.
Điều 405. Thành phần tham dự phiên họp của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét kiến nghị, đề nghị
1. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải tham dự
phiên họp của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét kiến nghị của
Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[198],
kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đề nghị của Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao.
2. Đại diện Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[199] được mời tham dự phiên họp của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét kiến nghị của Ủy ban Pháp
luật và Tư pháp của Quốc hội[200].
3. Trường hợp xét thấy cần thiết, Tòa án nhân dân tối cao
có thể mời cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham dự phiên họp.
Điều 406. Chuẩn bị mở phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị
1. Sau khi nhận được kiến nghị của Ủy ban Pháp luật và Tư
pháp của Quốc hội[201], của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc sau khi Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao có văn bản đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao gửi cho Viện kiểm sát nhân dân
tối cao bản sao văn bản kiến nghị hoặc đề nghị đó kèm theo hồ sơ vụ án để Viện
kiểm sát nhân dân tối cao chuẩn bị ý kiến phát biểu tại phiên họp xem xét kiến
nghị, đề nghị.
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức thẩm định hồ sơ để
báo cáo Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định tại
phiên họp.
2. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị của
Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[202],
kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc kể từ ngày Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao có văn bản đề nghị thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao phải mở phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị đó và thông báo bằng
văn bản cho Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về thời gian, địa điểm mở
phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị.
Điều 407. Thủ tục mở phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị
1. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tự mình hoặc phân công
một thành viên Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trình bày tóm tắt nội
dung vụ án và quá trình giải quyết vụ án.
2. Đại diện Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[203], Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có kiến nghị, đề nghị xem xét lại
quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trình bày về các vấn
đề sau:
a) Nội dung kiến nghị, đề nghị;
b) Căn cứ kiến nghị, đề nghị;
c) Phân tích chứng cứ cũ và chứng cứ mới bổ sung (nếu có) để
làm rõ việc vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quyết định của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao hoặc những tình tiết quan trọng mới có thể làm
thay đổi cơ bản nội dung quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao.
3. Trường hợp xem xét kiến nghị của Ủy ban Pháp luật và Tư
pháp của Quốc hội[204] hoặc
xem xét đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao phát biểu ý kiến về tính có căn cứ và hợp pháp của kiến
nghị, đề nghị; nêu rõ quan điểm và lý do nhất trí hoặc không nhất trí với kiến
nghị, đề nghị đó.
4. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thảo luận và
biểu quyết theo đa số về việc nhất trí hoặc không nhất trí với kiến nghị, đề
nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
5. Trường hợp nhất trí với kiến nghị của Ủy ban Pháp luật
và Tư pháp của Quốc hội[205], Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định về việc mở
phiên họp để xem xét lại quyết định của mình.
6. Mọi diễn biến tại phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị
và các quyết định được thông qua tại phiên họp được ghi vào biên bản phiên họp
và lưu hồ sơ xem xét kiến nghị, đề nghị.
Điều 408. Thông báo kết quả phiên họp xem xét kiến nghị, đề
nghị
Sau khi kết thúc phiên họp, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao gửi văn bản thông báo kết quả phiên họp về việc nhất trí hoặc
không nhất trí kiến nghị, đề nghị cho Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[206], Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao. Văn bản thông báo phải nêu rõ lý do của việc nhất trí hoặc
không nhất trí với kiến nghị, đề nghị đó.
Trường hợp không nhất trí kết quả xem xét kiến nghị, đề nghị
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì Ủy ban Pháp luật và Tư pháp
của Quốc hội[207], Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có quyền
báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.
Điều 409. Thẩm định hồ sơ vụ án; xác minh, thu thập chứng cứ,
tài liệu, đồ vật
1. Trường hợp có yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc
có quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhất trí xem xét lại
quyết định của mình thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức việc thẩm định
hồ sơ vụ án và tổ chức việc xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật trong
trường hợp cần thiết.
2. Việc thẩm định hồ sơ vụ án, xác minh, thu thập chứng cứ,
tài liệu, đồ vật phải làm rõ có hay không có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc
có hay không có tình tiết quan trọng mới làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Điều 410. Thời hạn mở phiên họp xem xét lại quyết định của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
1. Trong thời hạn 04 tháng kể từ ngày nhận được yêu cầu của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc kể từ ngày có quyết định của Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao nhất trí xem xét lại quyết định của mình, Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao phải mở phiên họp.
2. Tòa án nhân dân tối cao gửi cho Viện kiểm sát nhân dân tối
cao văn bản thông báo về thời gian, địa điểm mở phiên họp xem xét lại quyết định
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao kèm theo hồ sơ vụ án trong trường
hợp có yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Điều 411. Thủ tục và thẩm quyền xem xét lại quyết định của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
1. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải tham dự
phiên họp xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
và phát biểu quan điểm về việc có hay không có vi phạm pháp luật nghiêm trọng
hoặc có hay không có tình tiết mới quan trọng làm thay đổi cơ bản nội dung quyết
định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và quan điểm về việc giải
quyết vụ án.
2. Sau khi nghe Chánh án Tòa án nhân dân tối cao báo cáo,
nghe ý kiến của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, của cơ quan, tổ chức,
cá nhân có liên quan tham dự (nếu có), Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao quyết định:
a) Không chấp nhận yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
kiến nghị của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[208],
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đề nghị của Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao và giữ nguyên quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao;
b) Hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật và
quyết định về nội dung vụ án;
c) Hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và xác định trách nhiệm bồi
thường thiệt hại theo quy định của pháp luật;
d) Hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật để điều
tra lại hoặc xét xử lại.
3. Quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao phải được ít nhất ba phần tư tổng số thành viên của Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao biểu quyết tán thành.
Điều 412. Gửi quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao về việc xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao
Sau khi Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ra một
trong các quyết định quy định tại Điều 411 của Bộ luật này, Tòa án nhân dân tối
cao gửi quyết định cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của
Quốc hội[209], Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án đã giải
quyết vụ án và những người có liên quan.
Phần thứ bảy
THỦ TỤC ĐẶC BIỆT
Chương XXVIII[210] (được bãi bỏ)
Chương XXIX
THỦ TỤC TỐ TỤNG TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ PHÁP NHÂN
Điều 431. Phạm vi áp dụng
Thủ tục tố tụng đối với pháp nhân bị tố giác, báo tin về tội
phạm, kiến nghị khởi tố, bị điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được
tiến hành theo quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của
Bộ luật này không trái với quy định của Chương này.
Điều 432. Khởi tố vụ án, thay đổi, bổ sung quyết định khởi
tố vụ án hình sự
1. Khi xác định có dấu hiệu tội phạm do pháp nhân thực hiện
thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự theo quy định
tại các điều 143, 153 và 154 của Bộ luật này.
2. Căn cứ, trình tự, thủ tục thay đổi, bổ sung quyết định
khởi tố vụ án hình sự được thực hiện theo quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.
Điều 433. Khởi tố bị can, thay đổi, bổ sung quyết định khởi
tố bị can đối với pháp nhân
1. Khi có đủ căn cứ xác định pháp nhân đã thực hiện hành vi
mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định
khởi tố bị can đối với pháp nhân.
2. Quyết định khởi tố bị can đối với pháp nhân ghi rõ thời
gian, địa điểm ra quyết định; họ tên, chức vụ người ra quyết định; tên và địa
chỉ của pháp nhân theo quyết định thành lập của cơ quan có thẩm quyền; tội
danh, điều khoản của Bộ luật Hình sự đã áp dụng; thời gian, địa điểm phạm tội
và những tình tiết khác của tội phạm.
Nếu pháp nhân bị khởi tố về nhiều tội khác nhau thì trong
quyết định khởi tố bị can đối với pháp nhân phải ghi rõ từng tội danh và điều,
khoản của Bộ luật Hình sự đã áp dụng.
3. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục khởi tố bị can, thay đổi,
bổ sung quyết định khởi tố bị can đối với pháp nhân được thực hiện theo quy định
tại Điều 179 và 180 của Bộ luật này.
Điều 434. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân tham
gia tố tụng
1. Mọi hoạt động tố tụng của pháp nhân bị truy cứu trách
nhiệm hình sự được thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân. Pháp
nhân phải cử và bảo đảm cho người đại diện theo pháp luật của mình tham gia đầy
đủ các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án theo yêu cầu của
cơ quan, người có thẩm quyền.
Trường hợp người đại diện theo pháp luật của pháp nhân bị
khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử hoặc không thể tham gia tố tụng được thì
pháp nhân phải cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của mình tham
gia tố tụng. Trường hợp pháp nhân thay đổi người đại diện thì pháp nhân phải
thông báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Tại thời điểm khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử mà pháp
nhân không có người đại diện theo pháp luật hoặc có nhiều người cùng là đại diện
theo pháp luật thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định một người đại
diện cho pháp nhân tham gia tố tụng.
2. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân tham gia tố
tụng phải thông báo cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng họ tên, ngày,
tháng, năm sinh, quốc tịch, dân tộc, tôn giáo, giới tính, nghề nghiệp, chức vụ
của mình. Nếu có sự thay đổi những thông tin này thì người đại diện theo pháp
luật phải thông báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Điều 435. Quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật
của pháp nhân
1. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có quyền:
a) Được thông báo kết quả giải quyết nguồn tin về tội phạm;
b) Được biết lý do pháp nhân mà mình đại diện bị khởi tố;
c) Được thông báo, được giải thích về quyền và nghĩa vụ quy
định tại Điều này;
d) Được nhận quyết định khởi tố bị can đối với pháp nhân;
quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can đối với pháp nhân; quyết
định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can đối với pháp nhân; quyết định phê chuẩn
quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can đối với pháp nhân; quyết
định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp cưỡng chế; bản kết luận điều tra; quyết
định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án;
bản cáo trạng; quyết định đưa vụ án ra xét xử; bản án, quyết định của Tòa án và
quyết định tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này;
đ) Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải
đưa ra lời khai chống lại pháp nhân mà mình đại diện hoặc buộc phải thừa nhận
pháp nhân mà mình đại diện có tội;
e) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
g) Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng,
người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật
theo quy định của Bộ luật này;
h) Tự bào chữa, nhờ người bào chữa cho pháp nhân;
i) Được đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu đã được
số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan
đến việc bào chữa cho pháp nhân kể từ khi kết thúc điều tra khi có yêu cầu;
k) Tham gia phiên tòa, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi hoặc tự
mình hỏi những người tham gia phiên tòa nếu được chủ tọa đồng ý; tranh luận tại
phiên tòa;
l) Phát biểu ý kiến sau cùng trước khi nghị án;
m) Xem biên bản phiên tòa, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ
sung vào biên bản phiên tòa;
n) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án;
o) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
2. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có nghĩa vụ:
a) Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng. Trường hợp vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại
khách quan thì có thể bị dẫn giải;
b) Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng.
Điều 436. Biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân
1. Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể áp dụng các biện pháp cưỡng
chế sau đây đối với pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử:
a) Kê biên tài sản liên quan đến hành vi phạm tội của
pháp nhân;
b) Phong tỏa tài khoản của pháp nhân liên quan đến hành vi
phạm tội của pháp nhân;
c) Tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân liên
quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân;
d) Buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án.
2. Thời hạn áp dụng các biện pháp cưỡng chế quy
định tại khoản 1 Điều này không được quá thời hạn điều tra, truy tố,
xét xử.
Điều 437. Kê biên tài sản
1. Kê biên tài sản áp dụng đối với pháp nhân bị khởi tố, điều
tra, truy tố, xét xử về tội mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tiền hoặc để
bảo đảm bồi thường thiệt hại.
2. Chỉ kê biên phần tài sản tương ứng với mức có thể bị tịch
thu, phạt tiền hoặc bồi thường thiệt hại. Tài sản bị kê biên được giao cho người
đứng đầu pháp nhân có trách nhiệm bảo quản; nếu để xảy ra việc tiêu dùng, sử dụng
trái phép, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu, hủy hoại tài sản bị kê biên thì
người này phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.
3. Khi kê biên tài sản của pháp nhân phải có mặt những người
sau:
a) Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân;
b) Đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã[211]
nơi pháp nhân có tài sản bị kê biên;
c) Người chứng kiến.
4. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục kê biên tài sản được thực
hiện theo quy định tại Điều 128 của Bộ luật này.
Điều 438. Phong tỏa tài khoản
1. Phong tỏa tài khoản áp dụng đối với pháp nhân bị khởi tố,
điều tra, truy tố, xét xử về tội mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tiền hoặc
để bảo đảm bồi thường thiệt hại và có căn cứ xác định pháp nhân đó có tài khoản
tại tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc Nhà nước.
2. Phong tỏa tài khoản cũng được áp dụng đối với tài khoản
của cá nhân, tổ chức khác nếu có căn cứ xác định số tiền trong tài khoản đó
liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân.
3. Chỉ phong tỏa số tiền trong tài khoản tương ứng với mức
có thể phạt tiền hoặc bồi thường thiệt hại.
4. Cơ quan có thẩm quyền phong tỏa tài khoản phải giao quyết
định phong tỏa tài khoản cho đại diện tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc Nhà nước
đang quản lý tài khoản của pháp nhân hoặc tài khoản của cá nhân, tổ chức khác
liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân.
5. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục phong tỏa tài khoản được
thực hiện theo quy định tại Điều 129 của Bộ luật này.
Điều 439. Tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp
nhân liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân; buộc nộp một khoản tiền để bảo
đảm thi hành án
1. Tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân chỉ áp
dụng khi có căn cứ xác định hành vi phạm tội của pháp nhân gây thiệt hại hoặc
có khả năng gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của con người, môi trường hoặc
trật tự, an toàn xã hội.
Người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ
luật này có quyền ra quyết định tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp
nhân. Quyết định tạm đình chỉ hoạt động của pháp nhân của những người quy định
tại điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền[212] phê chuẩn trước khi thi hành.
Thời hạn tạm đình chỉ hoạt động của pháp nhân không được
quá thời hạn điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của Bộ luật này. Thời hạn
tạm đình chỉ đối với pháp nhân bị kết án không quá thời hạn kể từ khi tuyên án
cho đến thời điểm pháp nhân chấp hành án.
2. Buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án áp dụng đối
với pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội mà Bộ luật Hình sự
quy định hình phạt tiền hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại.
Chỉ buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án tương ứng
với mức có thể bị phạt tiền hoặc để bồi thường thiệt hại.
Người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ
luật này có quyền ra quyết định buộc pháp nhân phải nộp một khoản tiền để bảo đảm
thi hành án. Quyết định buộc pháp nhân phải nộp một khoản tiền để bảo đảm thi
hành án của những người quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải
được Viện kiểm sát có thẩm quyền[213] phê
chuẩn trước khi thi hành.
Chính phủ quy định chi tiết trình tự, thủ tục, mức tiền phải
nộp để bảo đảm thi hành án; việc tạm giữ, hoàn trả, nộp ngân sách nhà nước số
tiền đã nộp.
Điều 440. Triệu tập người đại diện theo pháp luật của pháp
nhân
1. Khi triệu tập người đại diện theo pháp luật của pháp
nhân, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải gửi giấy triệu tập. Giấy triệu
tập ghi rõ họ tên, chỗ ở hoặc làm việc của người đại diện theo pháp luật của
pháp nhân; giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm có mặt, gặp ai và trách nhiệm về việc
vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan.
2. Giấy triệu tập được gửi cho người đại diện theo pháp luật
của pháp nhân hoặc pháp nhân nơi người đó làm việc hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã[214] nơi người đại diện theo pháp
luật của pháp nhân cư trú. Cơ quan, tổ chức nhận được giấy triệu tập có trách
nhiệm chuyển ngay giấy triệu tập cho người đại diện theo pháp luật của pháp
nhân.
Khi nhận giấy triệu tập, người đại diện theo pháp luật của
pháp nhân phải ký nhận và ghi rõ ngày, giờ nhận. Người chuyển giấy triệu tập phải
chuyển phần giấy triệu tập có ký nhận của người đại diện cho cơ quan đã triệu tập;
nếu người đại diện không ký nhận thì phải lập biên bản về việc đó và gửi cho cơ
quan triệu tập; nếu người đại diện vắng mặt thì có thể giao giấy triệu tập cho
một người đủ 18 tuổi trở lên trong gia đình để ký xác nhận và chuyển cho người
đại diện.
3. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân phải có mặt
theo giấy triệu tập. Trường hợp vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc
không do trở ngại khách quan thì người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể
ra quyết định dẫn giải.
Điều 441. Những vấn đề cần phải chứng minh khi tiến
hành tố tụng đối với pháp nhân bị buộc tội
1. Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm
và những tình tiết khác của hành vi phạm tội thuộc trách nhiệm hình sự của pháp
nhân theo quy định của Bộ luật Hình sự.
2. Lỗi của pháp nhân, lỗi của cá nhân là thành viên của
pháp nhân.
3. Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội của
pháp nhân gây ra.
4. Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự
và tình tiết khác liên quan đến miễn hình phạt.
5. Nguyên nhân và điều kiện phạm tội.
Điều 442. Lấy lời khai người đại diện theo pháp luật của
pháp nhân
1. Việc lấy lời khai người đại diện theo pháp luật của pháp
nhân phải do Điều tra viên, cán bộ điều tra của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra thực hiện tại nơi tiến hành điều tra, tại trụ
sở Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra hoặc tại trụ sở của pháp nhân. Trước khi lấy lời khai, Điều tra
viên, cán bộ điều tra phải thông báo cho Kiểm sát viên và người bào chữa thời
gian, địa điểm lấy lời khai. Khi xét thấy cần thiết, Kiểm sát viên tham gia việc
lấy lời khai.
2. Trước khi tiến hành lấy lời khai lần đầu, Điều tra viên,
cán bộ điều tra của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra phải giải thích cho người đại diện theo pháp luật của pháp nhân biết rõ quyền
và nghĩa vụ quy định tại Điều 435 của Bộ luật này và phải ghi vào biên bản. Có
thể cho người đại diện theo pháp luật của pháp nhân tự viết lời khai của mình.
3. Không được lấy lời khai người đại diện theo pháp luật của
pháp nhân vào ban đêm.
4. Kiểm sát viên lấy lời khai người đại diện theo pháp luật
của pháp nhân trong trường hợp người này không thừa nhận hành vi phạm tội của
pháp nhân, khiếu nại hoạt động điều tra hoặc có căn cứ xác định việc điều tra
vi phạm pháp luật hoặc trong trường hợp khác khi xét thấy cần thiết.
Việc Kiểm sát viên lấy lời khai người đại diện theo pháp luật
của pháp nhân cũng được tiến hành theo quy định tại Điều này.
5. Việc lấy lời khai của người đại diện theo pháp luật của
pháp nhân tại trụ sở Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra phải được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh.
Việc lấy lời khai của người đại diện theo pháp luật của
pháp nhân tại các địa điểm khác được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh theo yêu
cầu của người đại diện, của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
6. Biên bản lấy lời khai người đại diện theo pháp luật của
pháp nhân được lập theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật này.
Điều 443. Tạm đình chỉ điều tra, đình chỉ điều tra, đình chỉ
vụ án, đình chỉ bị can, bị cáo
1.[215] Cơ
quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
ra quyết định tạm đình chỉ điều tra khi đã trưng cầu giám định, yêu cầu định
giá tài sản nhưng chưa có kết quả hoặc đã yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp
nhưng chưa kết thúc theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự mà đã hết
thời hạn điều tra. Trong trường hợp này, việc giám định, định giá
tài sản tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả; việc tương trợ tư pháp
tiếp tục được tiến hành cho đến khi kết thúc theo quy định của Luật Tương trợ
tư pháp về hình sự.
2. Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án ra
quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can, bị cáo là pháp nhân khi thuộc một
trong các trường hợp:
a) Không có sự việc phạm tội;
b) Hành vi của pháp nhân không cấu thành tội phạm;
c) Hành vi phạm tội của pháp nhân đã có bản án hoặc quyết định
đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;
d) Hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được pháp nhân
thực hiện tội phạm;
đ) Hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều 444. Thẩm quyền và thủ tục xét xử đối với pháp nhân
1. Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự về các tội phạm
do pháp nhân thực hiện là Tòa án nơi pháp nhân thực hiện tội phạm. Trường hợp tội
phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là
Tòa án nơi pháp nhân đó có trụ sở chính hoặc nơi có chi nhánh của pháp nhân đó
thực hiện tội phạm.
2. Việc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm
đối với pháp nhân phạm tội được thực hiện theo thủ tục chung quy định tại Phần
thứ tư và Phần thứ sáu của Bộ luật này. Phiên tòa xét xử đối với pháp
nhân phải có mặt người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, Kiểm sát viên Viện
kiểm sát cùng cấp; có mặt bị hại hoặc người đại diện của bị hại.
Điều 445. Thẩm quyền, thủ tục thi hành án đối với pháp nhân
1. Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra
quyết định thi hành hình phạt tiền đối với pháp nhân. Trình tự, thủ tục thi
hành hình phạt tiền được thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.
2. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thi hành các hình phạt
khác và các biện pháp tư pháp quy định tại Bộ luật Hình sự đối với pháp nhân
theo quy định của pháp luật.
3. Trường hợp pháp nhân bị kết án thực hiện chia, tách, hợp
nhất, sáp nhập thì pháp nhân kế thừa các quyền và nghĩa vụ của pháp nhân bị kết
án có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thi hành án phạt tiền, bồi thường thiệt hại.
Điều 446. Thủ tục đương nhiên xóa án tích đối với
pháp nhân
Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu
cầu của pháp nhân được đương nhiên xóa án tích và xét thấy có đủ
điều kiện quy định tại Điều 89 của Bộ luật hình sự thì Chánh án
Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án cấp giấy chứng nhận pháp nhân đã
được xóa án tích.
Chương XXX
THỦ TỤC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP BẮT BUỘC CHỮA BỆNH
Điều 447. Điều kiện và thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt buộc
chữa bệnh
1. Khi có căn cứ cho rằng người thực hiện hành vi nguy hiểm
cho xã hội không có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 21 của
Bộ luật Hình sự thì tuỳ từng giai đoạn tố tụng, Cơ quan điều tra, Viện kiểm
sát, Tòa án phải trưng cầu giám định pháp y tâm thần.
2. Căn cứ kết luận giám định pháp y tâm thần, Viện kiểm sát
quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn điều tra, truy
tố; Tòa án quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn xét
xử và thi hành án.
Điều 448. Điều tra đối với người bị nghi về năng lực
trách nhiệm hình sự
1. Đối với vụ án mà có căn cứ cho rằng người thực hiện hành
vi nguy hiểm cho xã hội không có năng lực trách nhiệm hình sự, Cơ quan điều tra
phải làm sáng tỏ:
a) Hành vi nguy hiểm cho xã hội đã xảy ra;
b) Tình trạng tâm thần và bệnh tâm thần của người có hành
vi nguy hiểm cho xã hội;
c) Người có hành vi nguy hiểm cho xã hội có mất khả năng nhận
thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình hay không.
2. Khi tiến hành tố tụng, Cơ quan điều tra phải bảo đảm
có người bào chữa tham gia tố tụng từ khi xác định được người có hành vi nguy
hiểm cho xã hội mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc
khả năng điều khiển hành vi. Người đại diện của người đó có thể tham gia tố tụng
trong trường hợp cần thiết.
Điều 449. Áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong giai
đoạn điều tra
1. Khi Cơ quan điều tra trưng cầu giám định pháp y tâm thần
mà kết quả giám định xác định bị can mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả
năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì Cơ quan điều tra gửi văn bản
đề nghị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh cùng kết luận giám định cho Viện
kiểm sát có thẩm quyền[216] để
xem xét, quyết định.
Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị
của Cơ quan điều tra cùng kết luận giám định, Viện kiểm sát quyết định áp dụng
biện pháp chữa bệnh đối với bị can hoặc yêu cầu Cơ quan điều tra trưng cầu giám
định bổ sung, giám định lại nếu thấy chưa đủ căn cứ để quyết định.
2. Trường hợp Viện kiểm sát ra quyết định áp dụng biện pháp
bắt buộc chữa bệnh thì Cơ quan điều tra phải ra quyết định tạm đình chỉ hoặc
đình chỉ điều tra đối với bị can.
Điều 450. Quyết định của Viện kiểm sát trong giai
đoạn truy tố
1. Sau khi nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra,
nếu có căn cứ cho rằng bị can không có năng lực trách nhiệm hình sự thì Viện kiểm
sát trưng cầu giám định pháp y tâm thần.
2. Căn cứ vào kết luận giám định, Viện kiểm sát có thể ra một
trong các quyết định:
a) Tạm đình chỉ vụ án và áp dụng biện pháp bắt buộc chữa
bệnh;
b) Đình chỉ vụ án và áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh;
c) Trả hồ sơ để điều tra bổ sung;
d) Truy tố bị can trước Tòa án.
3. Ngoài quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh,
Viện kiểm sát có thể giải quyết vấn đề khác liên quan đến vụ án.
Điều 451. Quyết định của Tòa án trong giai đoạn xét
xử
1. Sau khi thụ lý vụ án, nếu có căn cứ cho rằng bị can,
bị cáo không có năng lực trách nhiệm hình sự thì Tòa án trưng cầu giám định
pháp y tâm thần.
2. Căn cứ vào kết luận giám định, Tòa án có thể ra một
trong những quyết định:
a) Quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án và áp dụng
biện pháp bắt buộc chữa bệnh;
b) Trả hồ sơ để điều tra lại hoặc điều tra bổ sung;
c) Miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt và áp dụng
biện pháp bắt buộc chữa bệnh;
d) Đưa vụ án ra xét xử.
3. Ngoài quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh,
Tòa án có thể giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc vấn đề khác liên quan
đến vụ án.
Điều 452. Áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người
đang chấp hành án phạt tù
1. Trường hợp có căn cứ cho rằng người đang chấp hành án
phạt tù mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả
năng điều khiển hành vi thì Trại giam, Trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình
sự Công an cấp tỉnh đề nghị Tòa án nhân dân khu vực[217],
Tòa án quân sự cấp quân khu nơi người bị kết án chấp hành án phạt tù trưng cầu
giám định pháp y tâm thần.
2. Căn cứ kết luận giám định pháp y tâm thần, Chánh án Tòa
án nhân dân khu vực[218] hoặc
Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu nơi người bị kết án đang chấp hành án phạt
tù ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù và áp dụng biện pháp bắt
buộc chữa bệnh.
Sau khi có
kết luận khỏi bệnh hoặc có kết luận đủ khả năng nhận thức, đủ khả năng điều khiển
hành vi[219], người đó phải tiếp tục chấp
hành án phạt tù nếu không có lý do để miễn chấp hành hình phạt tù.
Điều 453. Khiếu nại, kháng cáo, kháng nghị
1. Việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại quyết định của Viện
kiểm sát về việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh được thực hiện theo quy định
tại Chương XXXIII của Bộ luật này.
2. Việc kháng cáo, kháng nghị quyết định của Tòa án về việc
áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh được thực hiện như đối với quyết định sơ
thẩm quy định tại Bộ luật này.
3. Quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh có hiệu
lực thi hành cho đến khi có quyết định khác thay thế hoặc hủy bỏ quyết định áp
dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
Điều 454. Đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh
1. Biện pháp bắt buộc chữa bệnh được thực hiện ở cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh[220] do
Viện kiểm sát hoặc Tòa án chỉ định theo quy định của pháp luật.
2. Khi có thông báo của thủ trưởng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh[221] về việc người bị bắt buộc chữa
bệnh đã khỏi bệnh hoặc có đủ khả năng nhận thức, đủ khả năng điều khiển hành vi[222] thì cơ quan đã đề nghị áp dụng
biện pháp bắt buộc chữa bệnh hoặc Viện kiểm sát, Tòa án đã ra quyết định áp dụng
biện pháp bắt buộc chữa bệnh trưng cầu giám định pháp y tâm thần về tình trạng
bệnh của người bị bắt buộc chữa bệnh.
Căn cứ kết luận giám định về việc người bị bắt buộc chữa bệnh
đã khỏi bệnh hoặc có đủ khả năng nhận thức, đủ khả năng điều khiển hành vi[223], Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết
định đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
3. Quyết định đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh
phải được cơ quan đã đề nghị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh hoặc Viện kiểm
sát, Tòa án gửi ngay cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh[224]
và người đại diện của người bị bắt buộc chữa bệnh.
4. Các hoạt động tố tụng, việc chấp hành hình phạt đã bị tạm
đình chỉ có thể được phục hồi theo quy định của Bộ luật này.
Chương XXXI
THỦ TỤC RÚT GỌN
Điều 455. Phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn
Thủ tục rút gọn đối với việc điều tra, truy tố, xét xử sơ
thẩm, xét xử phúc thẩm được thực hiện theo quy định của Chương này và những quy
định khác của Bộ luật này không trái với quy định của Chương này.
Điều 456. Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn
1. Thủ tục rút gọn được áp dụng trong giai đoạn điều tra,
truy tố, xét xử sơ thẩm khi có đủ các điều kiện:
a) Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang hoặc
người đó tự thú;
b) Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng;
c) Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng;
d) Người phạm tội có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng.
2. Thủ tục rút gọn được áp dụng trong xét xử phúc thẩm khi
có một trong các điều kiện:
a) Vụ án đã được áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử sơ thẩm
và chỉ có kháng cáo, kháng nghị giảm nhẹ hình phạt hoặc cho bị cáo được hưởng
án treo;
b) Vụ án chưa được áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử sơ
thẩm nhưng có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này và chỉ có kháng
cáo, kháng nghị giảm nhẹ hình phạt hoặc cho bị cáo được hưởng án treo.
Điều 457. Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn
1. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi vụ án có đủ điều kiện
quy định tại Điều 456 của Bộ luật này, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án
phải ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn.
Thủ tục rút gọn được áp dụng kể từ khi ra quyết định cho đến
khi kết thúc việc xét xử phúc thẩm, trừ trường hợp bị hủy bỏ theo quy định tại
Điều 458 của Bộ luật này.
2. Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn được giao cho bị
can, bị cáo hoặc người đại diện của họ, gửi cho người bào chữa trong thời hạn
24 giờ kể từ khi ra quyết định.
Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của Cơ quan điều tra,
Tòa án được gửi cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[225]
trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định.
3. Trường hợp xét thấy quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của
Cơ quan điều tra không đúng pháp luật thì trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận
được quyết định, Viện kiểm sát phải ra quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng thủ
tục rút gọn và gửi cho Cơ quan điều tra.
4. Trường hợp xét thấy quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của
Tòa án không đúng pháp luật thì Viện kiểm sát kiến nghị với Chánh án Tòa án đã
ra quyết định. Chánh án Tòa án phải xem xét, trả lời trong thời hạn 24 giờ kể từ
khi nhận được kiến nghị của Viện kiểm sát.
5. Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn có thể bị khiếu nại.
Bị can, bị cáo hoặc người đại diện của họ có quyền khiếu nại quyết định áp dụng
thủ tục rút gọn; thời hiệu khiếu nại là 05 ngày kể từ ngày nhận được quyết định.
Khiếu nại được gửi đến Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án đã ra quyết định
áp dụng thủ tục rút gọn và phải được giải quyết trong thời hạn 03 ngày, kể từ
ngày nhận được khiếu nại.
Điều 458. Hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn
Trong quá trình áp dụng thủ tục rút gọn, nếu một trong các
điều kiện quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều 456 của Bộ luật này
không còn hoặc vụ án thuộc trường hợp tạm đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ vụ án
hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo quy định của Bộ luật này thì Cơ quan điều
tra, Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút
gọn và giải quyết vụ án theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này.
Thời hạn tố tụng của vụ án được tính tiếp theo thủ tục
chung quy định tại Bộ luật này kể từ khi có quyết định hủy bỏ quyết định
áp dụng thủ tục rút gọn.
Điều 459. Tạm giữ, tạm giam để điều tra, truy tố, xét xử
1. Căn cứ, thẩm quyền và thủ tục tạm giữ, tạm giam được
thực hiện theo quy định của Bộ luật này.
2. Thời hạn tạm giữ không được quá 03 ngày kể từ ngày Cơ
quan điều tra nhận người bị bắt.
3. Thời hạn tạm giam trong giai đoạn điều tra không quá 20
ngày, trong giai đoạn truy tố không quá 05 ngày, trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
không quá 17 ngày, trong giai đoạn xét xử phúc thẩm không quá 22 ngày.
Điều 460. Điều tra
1. Thời hạn điều tra theo thủ tục rút gọn là 20 ngày kể từ
ngày ra quyết định khởi tố vụ án.
2. Khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra ra quyết định
đề nghị truy tố.
Quyết định đề nghị truy tố ghi tóm tắt hành vi phạm tội,
thủ đoạn, động cơ, mục đích phạm tội, tính chất, mức độ thiệt hại
do hành vi phạm tội gây ra; việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp
ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ
vật và xử lý vật chứng; đặc điểm nhân thân của bị can, những tình tiết
tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; lý do và căn cứ đề nghị truy tố;
tội danh, điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự được áp dụng; ghi
rõ thời gian, địa điểm, họ tên và chữ ký của người ra quyết định.
3. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định đề nghị
truy tố, Cơ quan điều tra phải giao quyết định đề nghị truy tố cho bị can
hoặc người đại diện của bị can, gửi cho người bào chữa, bị hại, đương
sự hoặc người đại diện của họ và chuyển quyết định đề nghị truy tố cùng hồ
sơ vụ án cho Viện kiểm sát.
Điều 461. Quyết định truy tố
1. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được quyết định đề
nghị truy tố và hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát ra một trong các quyết định:
a) Truy tố bị can trước Tòa án bằng quyết định truy tố;
b) Không truy tố bị can và ra quyết định đình chỉ vụ án;
c) Trả hồ sơ để điều tra bổ sung;
d) Tạm đình chỉ vụ án;
đ) Đình chỉ vụ án.
2. Quyết định truy tố ghi tóm tắt hành vi phạm tội, thủ
đoạn, động cơ, mục đích phạm tội, tính chất, mức độ thiệt hại do
hành vi phạm tội gây ra; việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp
ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ
vật và việc xử lý vật chứng; đặc điểm nhân thân của bị can, những tình
tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nêu rõ lý do và căn cứ truy
tố; tội danh, điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự được áp dụng;
ghi rõ thời gian, địa điểm, họ tên và chữ ký của người ra quyết định.
3. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định truy tố,
Viện kiểm sát phải giao quyết định cho bị can hoặc người đại diện của họ; gửi
cho Cơ quan điều tra, người bào chữa, bị hại, đương sự hoặc người đại diện
của họ và chuyển quyết định truy tố cùng hồ sơ vụ án cho Tòa án.
Điều 462. Chuẩn bị xét xử sơ thẩm
1. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm
phán được phân công xét xử ra một trong các quyết định:
a) Đưa vụ án ra xét xử;
b) Trả hồ sơ để điều tra bổ sung;
c) Tạm đình chỉ vụ án;
d) Đình chỉ vụ án.
2. Trường hợp quyết định đưa vụ án ra xét xử thì trong thời
hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định, Tòa án phải mở phiên tòa xét xử vụ án.
3. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định đưa vụ án
ra xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi quyết định đó cho Viện kiểm sát cùng cấp;
giao cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo; gửi cho người bào chữa, bị
hại, đương sự hoặc người đại diện của họ.
Điều 463. Phiên tòa xét xử sơ thẩm
1. Phiên tòa xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn do một Thẩm
phán tiến hành.
2. Sau phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, Kiểm sát viên
công bố quyết định truy tố.
3. Các trình tự, thủ tục khác tại phiên tòa xét xử
sơ thẩm được thực hiện theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này nhưng
không tiến hành nghị án.
Điều 464. Chuẩn bị xét xử phúc thẩm
1. Việc nhận và thụ lý hồ sơ vụ án được Tòa án cấp phúc
thẩm thực hiện theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án phải chuyển ngay hồ sơ vụ án
cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 05 ngày Viện kiểm sát phải trả hồ sơ
vụ án cho Tòa án.
2. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm
phán được phân công xét xử ra một trong các quyết định:
a) Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm;
b) Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án.
3. Trường hợp quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm thì
trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định, Tòa án phải mở phiên tòa xét xử
vụ án.
4. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định đưa vụ án
ra xét xử, Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi quyết định đó cho Viện kiểm sát cùng cấp,
người bào chữa; giao cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, bị hại,
đương sự hoặc người đại diện của họ.
Điều 465. Phiên tòa xét xử phúc thẩm
1. Việc xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn do một Thẩm
phán tiến hành.
2. Các trình tự, thủ tục khác tại phiên tòa phúc thẩm
được thực hiện theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này nhưng không
tiến hành nghị án.
Chương XXXII
XỬ LÝ CÁC HÀNH VI CẢN TRỞ HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Điều 466. Xử lý người có hành vi cản trở hoạt động tố tụng
của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
Người bị buộc tội, người tham gia tố tụng khác có
một trong các hành vi sau đây thì tuỳ mức độ vi phạm có thể bị cơ quan có thẩm
quyền tiến hành tố tụng quyết định áp giải, dẫn giải, phạt cảnh cáo, phạt tiền,
tạm giữ hành chính, buộc khắc phục hậu quả hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự
theo quy định của luật:
1. Làm giả, hủy hoại chứng cứ gây trở ngại cho việc giải
quyết vụ việc, vụ án;
2. Khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật;
3. Từ chối khai báo hoặc từ chối cung cấp tài liệu, đồ vật;
4. Người giám định, người định giá tài sản kết luận gian dối
hoặc từ chối kết luận giám định, định giá tài sản mà không vì lý do bất khả
kháng hoặc không do trở ngại khách quan;
5. Lừa dối, đe doạ, mua chuộc, sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản
người làm chứng ra làm chứng hoặc buộc người khác ra làm chứng gian dối;
6. Lừa dối, đe doạ, mua chuộc, sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản
người bị hại tham gia tố tụng hoặc buộc người bị hại khai báo gian dối;
7. Lừa dối, đe doạ, mua chuộc, sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản
người giám định, người định giá tài sản thực hiện nhiệm vụ hoặc buộc người giám
định, người định giá tài sản kết luận sai với sự thật khách quan;
8. Lừa dối, đe doạ, mua chuộc, sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản
người phiên dịch, người dịch thuật thực hiện nhiệm vụ hoặc buộc người phiên dịch,
người dịch thuật dịch gian dối;
9. Lừa dối, đe doạ, mua chuộc, sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản
đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân khác tham gia tố tụng;
10. Xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng; đe doạ, sử dụng vũ lực hoặc có hành vi khác cản trở hoạt
động tố tụng của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
11. Đã được triệu tập mà vắng mặt không vì lý do bất khả
kháng hoặc không do trở ngại khách quan và việc vắng mặt của họ gây trở ngại
cho hoạt động tố tụng;
12. Ngăn cản việc cấp, giao, nhận hoặc thông báo văn bản tố
tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Điều 467. Xử lý người vi phạm nội quy phiên tòa
1. Người vi phạm nội quy phiên tòa thì tùy tính chất, mức độ
vi phạm có thể bị Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyết định xử phạt hành chính
theo quy định của pháp luật.
2. Chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết định buộc người vi
phạm rời khỏi phòng xử án hoặc tạm giữ hành chính. Cơ quan công an có nhiệm vụ
bảo vệ trật tự phiên tòa hoặc người có nhiệm vụ bảo vệ trật tự phiên tòa thi
hành quyết định của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa về việc buộc rời khỏi phòng xử
án hoặc tạm giữ hành chính người gây rối trật tự phiên tòa.
3.[226] Trường
hợp hành vi của người vi phạm nội quy phiên tòa có dấu hiệu tội phạm thì Tòa án
yêu cầu, kiến nghị khởi tố theo quy định của Bộ luật này.
4. Quy định tại Điều này cũng được áp dụng đối với người có
hành vi vi phạm tại phiên họp của Tòa án.
Điều 468. Hình thức xử phạt, thẩm quyền, trình tự, thủ tục
xử phạt
Hình thức xử phạt, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử phạt đối
với các hành vi cản trở hoạt động tố tụng hình sự được thực hiện theo quy định
của Luật Xử lý vi phạm hành chính và pháp luật khác có liên quan.
Chương XXXIII
KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Điều 469. Người có quyền khiếu nại
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại quyết định,
hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi có căn cứ
cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp
pháp của mình.
2. Đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp
luật, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, cáo trạng hoặc
quyết định truy tố, quyết định áp dụng thủ tục rút gọn, quyết định của Hội đồng
xét xử sơ thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm, Hội đồng giám đốc thẩm, Hội đồng tái
thẩm, Hội đồng xét giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt, tha tù trước thời
hạn có điều kiện nếu có khiếu nại, kháng cáo, kháng nghị thì giải quyết theo
quy định tại các chương XXI, XXII, XXIV, XXV, XXVI và XXXI của Bộ luật này.
Điều 470. Các quyết định, hành vi tố tụng có thể bị khiếu nại
1. Quyết định tố tụng có thể bị khiếu nại là các quyết định
của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng,
Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm
phán, người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra được ban hành
theo quy định của Bộ luật này và quyết định tố tụng quy định tại chương VII và
chương VIII của Luật Tư pháp người chưa thành niên[227].
2. Hành vi tố tụng có thể bị khiếu nại là hành vi được thực
hiện trong hoạt động tố tụng của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra,
Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm
sát viên, Kiểm tra viên, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Thẩm tra
viên, người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được thực hiện
theo quy định của Bộ luật này và hành vi tố tụng quy định tại chương VII và
chương VIII của Luật Tư pháp người chưa thành niên[228].
Điều 471. Thời hiệu khiếu nại
1. Thời hiệu khiếu nại là 15 ngày kể từ ngày người khiếu nại
nhận được hoặc biết được quyết định, hành vi tố tụng mà người đó cho rằng có vi
phạm pháp luật.
2. Trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách
quan mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu
thì thời gian có lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào
thời hiệu khiếu nại.
Điều 472. Quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại
1. Người khiếu nại có quyền:
a) Tự mình khiếu nại hoặc thông qua người bào chữa, người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hoặc người đại diện để khiếu nại;
b) Khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải
quyết vụ án hình sự;
c) Rút khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình
giải quyết khiếu nại;
d) Được nhận quyết định giải quyết khiếu nại;
đ) Được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm,
được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
2. Người khiếu nại có nghĩa vụ:
a) Trình bày trung thực sự việc, cung cấp thông tin, tài liệu
cho người giải quyết khiếu nại; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung
trình bày và việc cung cấp các thông tin, tài liệu đó;
b) Chấp hành quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực
pháp luật.
Điều 473. Quyền và nghĩa vụ của người bị khiếu nại
1. Người bị khiếu nại có quyền:
a) Được thông báo về nội dung khiếu nại;
b) Đưa ra bằng chứng về tính hợp pháp của quyết định, hành
vi tố tụng bị khiếu nại;
c) Được nhận quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định,
hành vi tố tụng của mình.
2. Người bị khiếu nại có nghĩa vụ:
a) Giải trình về quyết định, hành vi tố tụng bị khiếu nại;
cung cấp các thông tin, tài liệu liên quan khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền yêu cầu;
b) Chấp hành quyết định giải quyết khiếu nại;
c) Bồi thường thiệt hại, bồi hoàn, khắc phục hậu quả do quyết
định, hành vi tố tụng trái pháp luật của mình gây ra theo quy định của pháp luật.
Điều 474. Thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại quyết
định, hành vi tố tụng trong việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm
giữ, tạm giam
1. Khiếu nại đối với lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp,
lệnh bắt, quyết định tạm giữ, lệnh tạm giam, quyết định tạm giam, quyết định
phê chuẩn việc bắt, quyết định gia hạn tạm giữ, quyết định gia hạn tạm giam và
khiếu nại các hành vi thực hiện các lệnh và quyết định đó phải được giải quyết
ngay trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được khiếu nại. Trường hợp cần phải
có thời gian để xác minh thêm thì thời hạn giải quyết không được quá 03 ngày kể
từ ngày nhận được khiếu nại.
2.[229] Viện
trưởng Viện kiểm sát có trách nhiệm giải quyết khiếu nại quyết định, hành vi tố
tụng trong việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam
trong giai đoạn điều tra, truy tố. Cơ quan, người có thẩm quyền trong việc giữ
người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam phải chuyển ngay cho Viện
kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án, vụ việc khiếu nại
của người bị giữ, người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam trong thời
hạn 24 giờ kể từ khi nhận được khiếu nại.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Thủ trưởng,
Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên,
Kiểm tra viên, người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
trong việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam do Viện
trưởng Viện kiểm sát giải quyết.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Phó Viện
trưởng Viện kiểm sát trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam do Viện trưởng Viện kiểm
sát giải quyết.
Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Viện
trưởng Viện kiểm sát thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định
giải quyết khiếu nại, người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Viện trưởng Viện
kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu
nại, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết. Quyết
định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là quyết định
có hiệu lực pháp luật.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Viện trưởng
Viện kiểm sát trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp
trên trực tiếp xem xét, giải quyết. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được
khiếu nại, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết.
Quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là quyết
định có hiệu lực pháp luật.
3.[230] Tòa
án có trách nhiệm giải quyết khiếu nại quyết định bắt, tạm giam trong giai đoạn
xét xử.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Phó Chánh
án trong việc bắt, tạm giam do Chánh án Tòa án xem xét, giải quyết. Nếu không đồng
ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Chánh án thì trong thời hạn 03 ngày kể
từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, người khiếu nại có quyền khiếu
nại đến Chánh án Tòa án trên một cấp. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được
khiếu nại, Chánh án Tòa án trên một cấp phải xem xét, giải quyết. Quyết định giải
quyết của Chánh án Tòa án trên một cấp là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Chánh án
Tòa án trong việc bắt, tạm giam do Chánh án Tòa án trên một cấp xem xét, giải
quyết. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Chánh án Tòa án
trên một cấp phải xem xét, giải quyết. Quyết định giải quyết của Chánh án Tòa
án trên một cấp là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm phán
giữ chức vụ Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao trong việc bắt,
tạm giam do Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao xem xét, giải quyết.
Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Chánh tòa Tòa Phúc thẩm
Tòa án nhân dân tối cao thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định
giải quyết khiếu nại, người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao phải xem xét, giải quyết. Quyết định giải quyết của
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm phán
giữ chức vụ Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao trong việc bắt, tạm
giam do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, giải quyết. Trong thời hạn 07
ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phải xem
xét, giải quyết. Quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao là
quyết định có hiệu lực pháp luật.
Điều 475. Thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại đối với
Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Phó Thủ trưởng và Thủ trưởng Cơ quan điều tra,
người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
1.[231] Khiếu
nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Phó
Thủ trưởng Cơ quan điều tra trừ khiếu nại về việc giữ người trong trường hợp khẩn
cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam do Thủ trưởng Cơ quan điều tra xem xét, giải quyết
trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với quyết
định giải quyết của Thủ trưởng Cơ quan điều tra thì trong thời hạn 03 ngày kể từ
ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, người khiếu nại có quyền khiếu
nại đến Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền. Trong thời hạn 07 ngày kể từ
ngày nhận được khiếu nại, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền phải xem xét,
giải quyết. Quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền
là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Thủ trưởng
Cơ quan điều tra và các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra đã được Viện kiểm
sát phê chuẩn do Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền giải quyết trong thời
hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với quyết định giải
quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền thì trong thời hạn 03 ngày kể
từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, người khiếu nại có quyền khiếu
nại đến Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn 15 ngày kể
từ ngày nhận được khiếu nại, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải
xem xét, giải quyết. Quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp
trên trực tiếp là quyết định có hiệu lực pháp luật.
2. Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của cấp
phó, cán bộ điều tra của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra trừ việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ do cấp trưởng
cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra xem xét, giải
quyết trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với
quyết định giải quyết của cấp trưởng thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận
được quyết định giải quyết khiếu nại, người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Viện
kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra. Trong thời hạn 07 ngày kể
từ ngày nhận được khiếu nại, Viện trưởng Viện kiểm sát phải xem xét, giải quyết.
Quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát là quyết định có hiệu lực
pháp luật.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của cấp trưởng
cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra do Viện trưởng
Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra xem xét, giải quyết.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện trưởng Viện kiểm
sát phải xem xét, giải quyết. Quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm
sát là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Điều 476. Thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại đối với
Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Phó Viện trưởng, Viện trưởng Viện kiểm sát, Phó
Viện trưởng và Viện trưởng Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm
sát nhân dân tối cao[232]
1. Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Kiểm
sát viên, Kiểm tra viên, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát do Viện trưởng Viện kiểm
sát xem xét, giải quyết trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại.
Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát thì
trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại,
người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp
phải xem xét, giải quyết. Quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp
trên trực tiếp là quyết định có hiệu lực pháp luật.
2. Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Viện
trưởng Viện kiểm sát do Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp xem xét, giải quyết
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Quyết định giải quyết của
Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là quyết định có hiệu lực pháp luật.
3. Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Phó Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên và Kiểm tra viên công tác
tại Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên và Kiểm tra viên công tác tại
Viện kiểm sát quân sự trung ương, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung
ương do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát
quân sự trung ương xem xét, giải quyết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
được khiếu nại. Quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương là quyết định có hiệu lực
pháp luật.
Trường hợp khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của
Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Phó Viện trưởng Viện Công tố và Kiểm sát xét xử
phúc thẩm do Viện trưởng Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm xem xét, giải
quyết trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với
quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm
thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại,
người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao phải xem xét, giải quyết. Quyết định giải quyết của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Viện trưởng
Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
tối cao xem xét, giải quyết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại.
Quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là quyết định
có hiệu lực pháp luật.
Điều 477. Thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại đối với
Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên, Phó Chánh án, Chánh án Tòa án, Phó
Chánh tòa, Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao[233]
1. Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm
phán, Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên, Phó Chánh án Tòa án nhân dân khu vực, Tòa
án quân sự khu vực trước khi mở phiên tòa do Chánh án Tòa án nhân dân khu vực,
Chánh án Tòa án quân sự khu vực giải quyết trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận
được khiếu nại.
Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết của Chánh án Tòa
án nhân dân khu vực, Chánh án Tòa án quân sự khu vực thì trong thời hạn 03 ngày
kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, người khiếu nại có quyền
khiếu nại đến Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp
quân khu. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Chánh án Tòa
án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu phải xem xét, giải
quyết. Quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án
Tòa án quân sự cấp quân khu là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Chánh án
Tòa án nhân dân khu vực, Chánh án Tòa án quân sự khu vực trước khi mở phiên tòa
do Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu xem
xét, giải quyết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Quyết định
giải quyết của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp
quân khu là quyết định có hiệu lực pháp luật.
2. Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm
phán, Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên, Phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa
án quân sự cấp quân khu trước khi mở phiên tòa do Chánh án Tòa án nhân dân cấp
tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu xem xét, giải quyết trong thời hạn
07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với quyết định giải
quyết của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân
khu thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu
nại, người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Chánh án Tòa án nhân dân tối cao,
Chánh án Tòa án quân sự trung ương xem xét, giải quyết trong thời hạn 15 ngày.
Quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án
quân sự trung ương là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Chánh án
Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu do Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án quân sự trung ương xem xét, giải quyết
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Quyết định giải quyết của
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án quân sự trung ương là quyết định
có hiệu lực pháp luật.
3. Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên công tác
tại Tòa án nhân dân tối cao, Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán,
Thư ký Tòa án và Thẩm tra viên công tác tại Tòa án quân sự trung ương, Phó
Chánh án Tòa án quân sự trung ương do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh
án Tòa án quân sự trung ương xem xét, giải quyết trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được khiếu nại. Quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao, Chánh án Tòa án quân sự trung ương là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Trường hợp khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của
Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên, Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án
nhân dân tối cao trước khi mở phiên tòa do Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân
dân tối cao xem xét, giải quyết trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu
nại. Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết của Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa
án nhân dân tối cao thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định
giải quyết khiếu nại, người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao xem xét, giải quyết trong thời hạn 15 ngày. Quyết định giải
quyết của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Chánh tòa
Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem
xét, giải quyết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Quyết định
giải quyết của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao là quyết định có hiệu lực pháp
luật.
Điều 478. Người có quyền tố cáo
Cá nhân có quyền tố cáo với cơ quan, người có thẩm quyền về
hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nào
gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp
pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Điều 479. Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo
1. Người tố cáo có quyền:
a) Gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, người
có thẩm quyền;
b) Yêu cầu giữ bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích của
mình;
c) Được nhận quyết định giải quyết tố cáo;
d) Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
bảo vệ khi bị đe doạ, trù dập, trả thù.
2. Người tố cáo có nghĩa vụ:
a) Trình bày trung thực về nội dung tố cáo, cung cấp
thông tin, tài liệu liên quan đến việc tố cáo;
b) Nêu rõ họ tên, địa chỉ của mình;
c) Chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu cố ý tố cáo
sai sự thật.
Điều 480. Quyền và nghĩa vụ của người bị tố cáo
1. Người bị tố cáo có quyền:
a) Được thông báo về nội dung tố cáo;
b) Đưa ra bằng chứng để chứng minh nội dung tố cáo
là không đúng sự thật;
c) Được nhận quyết định giải quyết tố cáo;
d) Được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm,
được phục hồi danh dự, được bồi thường thiệt hại do việc tố cáo không đúng gây
ra;
đ) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
xử lý người tố cáo sai sự thật.
2. Người bị tố cáo có nghĩa vụ:
a) Giải trình về hành vi bị tố cáo; cung cấp thông
tin, tài liệu liên quan khi cơ quan, người có thẩm quyền yêu cầu;
b) Chấp hành quyết định giải quyết tố cáo;
c) Bồi thường thiệt hại, bồi hoàn, khắc phục hậu quả
do hành vi tố tụng trái pháp luật của mình gây ra.
Điều 481. Thẩm quyền và thời hạn giải quyết tố cáo
1.[234] Tố
cáo hành vi vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nào thì người đứng đầu cơ quan đó có thẩm
quyền giải quyết.
Trường hợp người bị tố cáo là Thủ trưởng Cơ quan điều tra,
Viện trưởng Viện kiểm sát thì Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm
sát cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết.
Trường hợp người bị tố cáo là Chánh án Tòa án nhân dân khu
vực, Chánh án Tòa án quân sự khu vực thì Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh,
Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu có thẩm quyền giải quyết.
Trường hợp người bị tố cáo là Chánh án Tòa án nhân dân cấp
tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu thì Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao, Chánh án Tòa án quân sự trung ương có thẩm quyền giải quyết.
Trường hợp người bị tố cáo là Chánh án Tòa án quân sự trung
ương thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền giải quyết.
Tố cáo hành vi tố tụng của người được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra do Viện kiểm sát thực hành quyền công tố,
kiểm sát điều tra có thẩm quyền xem xét, giải quyết.
2. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội
phạm thì được giải quyết theo quy định tại Điều 145 của Bộ luật này.
3. Thời hạn giải quyết tố cáo không quá 30 ngày kể
từ ngày nhận được tố cáo; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết tố
cáo có thể kéo dài nhưng không quá 60 ngày.
4. Tố cáo liên quan đến hành vi giữ người trong trường
hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam trong giai đoạn điều tra, truy tố phải được[235] Viện trưởng Viện kiểm sát có
thẩm quyền xem xét, giải quyết trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được tố
cáo. Trường hợp phải xác minh thêm thì thời hạn không quá 03 ngày kể từ ngày nhận
được tố cáo.
Điều 482. Trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền giải
quyết khiếu nại, tố cáo
1. Cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại,
tố cáo trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tiếp nhận, giải
quyết kịp thời, đúng pháp luật khiếu nại, tố cáo và gửi văn bản giải quyết khiếu
nại, tố cáo cho người đã khiếu nại, tố cáo; xử lý nghiêm minh người vi phạm
pháp luật; áp dụng biện pháp bảo vệ người tố cáo khi có yêu cầu, ngăn chặn thiệt
hại có thể xảy ra; bảo đảm kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo được thi hành
nghiêm chỉnh và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc giải quyết của
mình.
2. Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo
mà không giải quyết, thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết, giải quyết trái
pháp luật thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu
trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại, bồi hoàn
theo quy định của luật.
3. Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra, Tòa án có trách nhiệm thông báo việc tiếp nhận
và gửi văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện
kiểm sát có thẩm quyền.
Điều 483. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm
sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo
1.[236] Viện
kiểm sát có thẩm quyền và Viện kiểm sát cấp trên
kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Cơ quan điều tra, cơ quan
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Tòa án.
2. Khi kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo,
Viện kiểm sát có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Yêu cầu Cơ quan điều tra, Tòa án, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định giải quyết khiếu
nại, ra văn bản giải quyết tố cáo theo quy định tại Chương này;
b) Yêu cầu Cơ quan điều tra, Tòa án, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tự kiểm tra việc giải quyết
khiếu nại, tố cáo của cấp mình và cấp dưới; thông báo kết quả kiểm tra cho Viện
kiểm sát;
c) Yêu cầu Cơ quan điều tra, Tòa án, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cung cấp hồ sơ, tài liệu liên
quan đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo cho Viện kiểm sát;
d) Trực tiếp kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố
cáo tại Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra, Tòa án cùng cấp và cấp dưới;
đ) Ban hành kết luận kiểm sát; thực hiện quyền kiến
nghị, kháng nghị, yêu cầu Cơ quan điều tra, Tòa án, cơ quan được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra khắc phục vi phạm trong việc giải quyết khiếu
nại, tố cáo.
3. Viện kiểm sát cấp trên có trách nhiệm thanh tra,
kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Viện kiểm sát cấp dưới. Viện kiểm
sát nhân dân tối cao thanh tra, kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Viện
kiểm sát các cấp.
Chương XXXIV
BẢO VỆ NGƯỜI TỐ GIÁC TỘI PHẠM, NGƯỜI LÀM CHỨNG, BỊ HẠI
VÀ NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG KHÁC
Điều 484. Người được bảo vệ
1. Những người được bảo vệ gồm:
a) Người tố giác tội phạm;
b) Người làm chứng;
c) Bị hại;
d) Người thân thích của người tố giác tội phạm, người làm
chứng, bị hại.
2. Người được bảo vệ có quyền:
a) Đề nghị được bảo vệ;
b) Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ;
c) Được biết về việc áp dụng biện pháp bảo vệ; đề nghị thay
đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp bảo vệ;
d) Được bồi thường thiệt hại, khôi phục danh dự, bảo đảm
các quyền và lợi ích hợp pháp trong thời gian bảo vệ.
3. Người được bảo vệ có nghĩa vụ:
a) Chấp hành nghiêm chỉnh các yêu cầu của cơ quan bảo vệ
liên quan đến việc bảo vệ;
b) Giữ bí mật thông tin bảo vệ;
c) Thông báo kịp thời đến cơ quan có trách nhiệm bảo vệ về
những vấn đề nghi vấn trong thời gian được bảo vệ.
Điều 485. Cơ quan, người có thẩm quyền quyết định áp dụng
biện pháp bảo vệ
1. Cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ gồm:
a) Cơ quan điều tra của Công an nhân dân;
b) Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân.
2. Người có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp bảo
vệ gồm:
a)[237] Thủ
trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra của Công an nhân dân, Điều tra viên thuộc
trường hợp quy định tại khoản 1a Điều 37 của Bộ luật này có thẩm quyền ra quyết
định áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người được bảo vệ trong các vụ việc, vụ
án hình sự do cơ quan mình thụ lý, giải quyết, điều tra hoặc theo đề nghị của
Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân có thẩm quyền, đề nghị của Viện kiểm
sát nhân dân tối cao;
b) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra trong Quân đội
nhân dân có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người được
bảo vệ trong các vụ việc, vụ án hình sự do cơ quan mình thụ lý, giải quyết, điều
tra hoặc theo đề nghị của Viện kiểm sát quân sự, Tòa án quân sự cùng cấp; đề
nghị của Viện kiểm sát quân sự trung ương.
3. Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân các cấp nếu xét
thấy cần áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người được bảo vệ thì đề nghị Cơ quan
điều tra trực tiếp thụ lý vụ án hình sự ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ
đối với người được bảo vệ. Đề nghị phải được thể hiện bằng văn bản.
Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều
tra Viện kiểm sát quân sự trung ương nếu xét thấy cần áp dụng biện pháp bảo
vệ đối với người được bảo vệ trong vụ việc, vụ án hình sự do cơ quan mình thụ
lý, giải quyết, điều tra thì báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương có văn bản đề nghị với Cơ
quan Cảnh sát điều tra, Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an, Cơ quan điều tra
hình sự, Cơ quan An ninh điều tra Bộ Quốc phòng ra quyết định áp dụng biện pháp
bảo vệ.
Điều 486. Các biện pháp bảo vệ
1. Khi có căn cứ xác định tính mạng, sức khỏe, tài sản,
danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ bị xâm hại hoặc bị đe dọa xâm hại do
việc cung cấp chứng cứ, tài liệu, thông tin liên quan đến tội phạm thì cơ quan,
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết định áp dụng những biện pháp sau
đây để bảo vệ họ:
a) Bố trí lực lượng, tiến hành các biện pháp nghiệp vụ, sử
dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ và các phương tiện khác để canh gác, bảo vệ;
b) Hạn chế việc đi lại, tiếp xúc của người được bảo vệ để bảo
đảm an toàn cho họ;
c) Giữ bí mật và yêu cầu người khác giữ bí mật các thông
tin liên quan đến người được bảo vệ;
d) Di chuyển, giữ bí mật chỗ ở, nơi làm việc, học tập; thay
đổi tung tích, lý lịch, đặc điểm nhân dạng của người được bảo vệ, nếu được họ đồng
ý;
đ) Răn đe, cảnh cáo, vô hiệu hóa các hành vi xâm hại người
được bảo vệ; ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi xâm hại theo quy định của
pháp luật;
e) Các biện pháp bảo vệ khác theo quy định của pháp luật.
2. Việc áp dụng, thay đổi các biện pháp bảo vệ quy định
tại khoản 1 Điều này không được làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp
pháp của người được bảo vệ.
Điều 487. Đề nghị, yêu cầu áp dụng các biện pháp bảo vệ
1. Người được bảo vệ có quyền làm văn bản đề nghị, yêu cầu
cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ. Văn bản đề nghị, yêu cầu có các
nội dung chính:
a) Ngày, tháng, năm;
b) Tên, địa chỉ của người đề nghị;
c) Lý do và nội dung đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ;
d) Chữ ký hoặc điểm chỉ của người đề nghị. Trường hợp đề nghị
của cơ quan, tổ chức thì người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức đó
ký tên và đóng dấu.
2. Trường hợp khẩn cấp, người được bảo vệ trực tiếp đề nghị
cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ hoặc thông qua phương tiện
thông tin liên lạc nhưng sau đó phải thể hiện bằng văn bản đề nghị. Cơ quan,
người có thẩm quyền nhận được đề nghị, yêu cầu phải lập biên bản và đưa vào hồ
sơ bảo vệ.
3.[238] Khi
tiến hành tố tụng đối với vụ việc, vụ án, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án nhận được đề nghị, yêu cầu áp
dụng biện pháp bảo vệ có trách nhiệm xem xét, đề nghị Cơ quan điều tra cùng cấp
xem xét, quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ. Trường hợp Viện kiểm sát nhân dân
khu vực, Tòa án nhân dân khu vực nhận được đề nghị, yêu cầu bảo vệ thì đề nghị
Cơ quan điều tra cấp tỉnh xem xét, quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ.
4. Cơ quan điều tra phải kiểm tra căn cứ, tính xác thực của
đề nghị, yêu cầu bảo vệ. Trường hợp xét thấy không cần thiết áp dụng biện pháp
bảo vệ thì phải giải thích rõ lý do cho người đã yêu cầu, đề nghị biết.
Điều 488. Quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ
1. Quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ gồm các nội dung
chính:
a) Số, ngày, tháng, năm; địa điểm ra quyết định;
b) Chức vụ của người ra quyết định;
c) Căn cứ ra quyết định;
d) Họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người được
bảo vệ;
đ) Biện pháp bảo vệ và thời gian bắt đầu thực hiện biện
pháp bảo vệ.
2. Quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ được gửi cho người
yêu cầu bảo vệ, người được bảo vệ, Viện kiểm sát, Tòa án đã đề nghị áp dụng
biện pháp bảo vệ và cơ quan, tổ chức, đơn vị liên quan đến việc bảo vệ.
3. Sau khi ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ, Cơ quan
điều tra có thẩm quyền áp dụng phải tổ chức thực hiện ngay biện pháp bảo vệ.
Trường hợp cần thiết có thể phối hợp với các cơ quan, đơn vị trong Công an nhân
dân, Quân đội nhân dân để thực hiện việc bảo vệ.
4. Cơ quan điều tra đã ra quyết định áp dụng có thể thay đổi,
bổ sung biện pháp bảo vệ trong quá trình bảo vệ nếu xét thấy cần thiết.
5. Thời gian bảo vệ được tính từ khi áp dụng biện pháp bảo
vệ cho đến khi có quyết định chấm dứt áp dụng biện pháp bảo vệ.
Điều 489. Chấm dứt việc bảo vệ
1. Khi xét thấy căn cứ xâm hại hoặc đe dọa xâm hại tính mạng,
sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ không còn, Thủ trưởng
Cơ quan điều tra đã quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ phải ra quyết định chấm
dứt áp dụng biện pháp bảo vệ.
2. Quyết định chấm dứt áp dụng các biện pháp bảo vệ phải được
gửi cho người được bảo vệ, cơ quan đã đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ và cơ
quan, tổ chức, đơn vị liên quan đến việc bảo vệ.
Điều 490. Hồ sơ bảo vệ
1. Cơ quan điều tra đã ra quyết định áp dụng biện pháp bảo
vệ phải lập hồ sơ bảo vệ.
2. Hồ sơ bảo vệ gồm:
a) Văn bản đề nghị, yêu cầu áp dụng biện pháp bảo vệ; biên
bản về việc đề nghị, yêu cầu áp dụng biện pháp bảo vệ;
b) Kết quả xác minh về hành vi xâm hại hoặc đe dọa xâm hại
tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ;
c) Tài liệu về hậu quả thiệt hại đã xảy ra (nếu có) và
việc xử lý của cơ quan có thẩm quyền;
d) Văn bản yêu cầu, đề nghị thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện
pháp bảo vệ;
đ) Quyết định áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp
bảo vệ;
e) Tài liệu phản ánh diễn biến quá trình áp dụng biện
pháp bảo vệ;
g) Văn bản yêu cầu, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân phối
hợp bảo vệ;
h) Báo cáo kết quả thực hiện biện pháp bảo vệ;
i) Quyết định chấm dứt biện pháp bảo vệ;
k) Các văn bản, tài liệu khác có liên quan đến việc bảo vệ.
Phần thứ tám
HỢP TÁC QUỐC TẾ
Chương XXXV
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 491. Phạm vi hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự
1. Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự là việc các cơ
quan có thẩm quyền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các cơ
quan có thẩm quyền của nước ngoài phối hợp, hỗ trợ nhau để thực hiện hoạt động
phục vụ yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
2. Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự gồm tương trợ tư
pháp về hình sự; dẫn độ; tiếp nhận, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù
và các hoạt động hợp tác quốc tế khác được quy định tại Bộ luật này, pháp luật
về tương trợ tư pháp và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là thành viên.
3. Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự trên lãnh thổ nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thực hiện theo quy định của điều ước quốc
tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có
đi có lại, theo quy định của Bộ luật này, pháp luật về tương trợ tư pháp và quy
định khác của pháp luật Việt Nam có liên quan.
Điều 492. Nguyên tắc hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự
1. Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự được thực hiện
trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, không
can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi, phù hợp với
Hiến pháp, pháp luật của Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là thành viên.
2. Trường hợp Việt Nam chưa ký kết hoặc chưa gia nhập điều
ước quốc tế có liên quan thì việc hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự được thực
hiện theo nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái pháp luật Việt Nam, phù hợp với
pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế.
Điều 493. Cơ quan trung ương trong hợp tác quốc tế về tố tụng
hình sự
1. Bộ Công an là Cơ quan trung ương của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam trong hoạt động dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành
án phạt tù.
2. Viện kiểm sát nhân dân tối cao là Cơ quan trung ương của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong hoạt động tương trợ tư pháp về
hình sự và những hoạt động hợp tác quốc tế khác theo quy định của pháp luật.
Điều 494. Giá trị pháp lý của tài liệu, đồ vật thu thập được
qua hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự
Tài liệu, đồ vật do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài
thu thập theo ủy thác tư pháp của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc tài
liệu, đồ vật do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài gửi đến Việt Nam để ủy
thác truy cứu trách nhiệm hình sự có thể được coi là chứng cứ. Trường hợp tài
liệu, đồ vật này có đặc điểm quy định tại Điều 89 của Bộ luật này thì có thể được
coi là vật chứng.
Điều 495. Việc tiến hành tố tụng của người có thẩm quyền
của Việt Nam ở nước ngoài và người có thẩm quyền của nước ngoài ở Việt Nam
Việc tiến hành tố tụng của người có thẩm quyền của Việt Nam
ở nước ngoài và người có thẩm quyền của nước ngoài ở Việt Nam được thực hiện
theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên hoặc thực hiện theo nguyên tắc có đi có lại.
Điều 496. Sự có mặt của người làm chứng, người giám định,
người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam ở nước ngoài; người làm chứng, người
giám định, người đang bị tạm giam,[239] người đang chấp hành án
phạt tù tại nước ngoài ở Việt Nam
1. Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có thể đề nghị cơ
quan có thẩm quyền của nước ngoài cho người làm chứng, người giám định, người
đang bị tạm giam,[240] người
đang chấp hành án phạt tù tại nước được đề nghị có mặt ở Việt Nam để phục vụ việc
giải quyết vụ án hình sự.
2. Theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài, cơ
quan có thẩm quyền của Việt Nam có thể cho phép người làm chứng, người giám định,
người đang bị tạm giam,[241] người
đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam có mặt ở nước đã đề nghị để phục vụ việc
giải quyết vụ án hình sự.
Chương XXXVI
MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG HỢP TÁC QUỐC TẾ
Điều 497. Việc tiếp nhận, chuyển giao tài liệu, đồ vật liên
quan đến vụ án
Việc tiếp nhận, chuyển giao tài liệu, đồ vật liên quan đến
vụ án được thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là thành viên, quy định của Bộ luật này, pháp luật về tương trợ
tư pháp và quy định khác của pháp luật Việt Nam có liên quan.
Điều 498. Xử lý trường hợp từ chối dẫn độ công dân Việt Nam
Theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, cơ
quan có thẩm quyền của Việt Nam có trách nhiệm xem xét để truy cứu trách nhiệm
hình sự hoặc cho thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối
với công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ.
Điều 499. Trình tự, thủ tục xem xét, xử lý yêu cầu truy cứu
trách nhiệm hình sự đối với công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ
1. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định từ chối
dẫn độ công dân Việt Nam theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài,
Tòa án đã ra quyết định từ chối dẫn độ chuyển hồ sơ và các tài liệu kèm theo của
nước ngoài đến Viện kiểm sát nhân dân tối cao để xem xét việc truy cứu trách
nhiệm hình sự.
2. Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét, xử lý yêu cầu của
nước ngoài về truy cứu trách nhiệm hình sự công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ
theo quy định của luật.
3. Việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với người
bị yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự được tiến hành theo quy định của Bộ luật
này.
4. Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có thể yêu cầu cơ
quan có thẩm quyền của nước ngoài cung cấp, bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ
vật để bảo đảm việc điều tra, truy tố, xét xử có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 500. Điều kiện cho thi hành bản án, quyết định hình sự
của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ
Bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với
công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ có thể được thi hành tại Việt Nam khi có đủ
các điều kiện:
1. Có văn bản yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của nước
ngoài về việc thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với
công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ;
2. Hành vi phạm tội mà công dân Việt Nam bị kết án ở nước
ngoài cũng cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
3. Bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với
công dân Việt Nam đã có hiệu lực pháp luật và không còn thủ tục tố tụng nào đối
với người đó.
Điều 501. Trình tự, thủ tục xem xét yêu cầu thi hành bản
án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam bị từ chối
dẫn độ
1.[242]
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của
nước ngoài về việc thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối
với công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ, Tòa án nhân dân khu vực đã ra quyết định
từ chối dẫn độ xem xét yêu cầu của nước ngoài.
2. Tòa án có thẩm quyền mở phiên họp bằng Hội đồng gồm ba
Thẩm phán để xem xét yêu cầu thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước
ngoài đối với công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ. Phiên họp phải có mặt của Kiểm
sát viên Viện kiểm sát cùng cấp, người bị yêu cầu thi hành bản án, quyết định
hình sự của Tòa án nước ngoài, luật sư hoặc người đại diện của họ (nếu có).
3. Sau khi khai mạc phiên họp, một thành viên của Hội đồng
trình bày những vấn đề liên quan đến yêu cầu thi hành bản án, quyết định hình sự
của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam và nêu ý kiến về cơ sở pháp lý
của việc cho thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với
công dân Việt Nam tại Việt Nam.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc
cho thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với công dân
Việt Nam tại Việt Nam.
Người bị yêu cầu thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa
án nước ngoài, luật sư, người đại diện của người này trình bày ý kiến (nếu có).
Hội đồng thảo luận và quyết định theo đa số việc cho thi
hành hoặc không cho thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối
với người bị yêu cầu.
4. Quyết định cho thi hành bản án, quyết định hình sự của
Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam tại Việt Nam phải ghi rõ thời hạn
mà người đó phải thi hành án phạt tù tại Việt Nam trên cơ sở xem xét, quyết định:
a) Trường hợp thời hạn của hình phạt do nước ngoài đã tuyên
phù hợp với pháp luật Việt Nam thì thời hạn phải thi hành án tại Việt Nam được
quyết định tương ứng với thời hạn đó;
b) Trường hợp tính chất hoặc thời hạn của hình phạt do Tòa
án nước ngoài đã tuyên không phù hợp pháp luật Việt Nam thì quyết định chuyển đổi
hình phạt cho phù hợp với pháp luật Việt Nam nhưng không được dài hơn hình phạt
đã tuyên của Tòa án nước ngoài.
5.[243] Chậm
nhất là 10 ngày kể từ ngày ra quyết định cho thi hành hoặc không cho thi hành bản
án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài, Tòa án nhân dân khu vực gửi quyết
định cho người bị yêu cầu thi hành, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Bộ Công an
để thực hiện.
Người bị yêu cầu thi hành bản án, quyết định hình sự của
Tòa án nước ngoài có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền
kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền
kháng nghị trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Tòa án nhân dân khu vực ra quyết
định.
Tòa án nhân dân khu vực phải gửi hồ sơ và kháng cáo, kháng
nghị cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn
kháng cáo, kháng nghị.
6.[244]
Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ xem xét yêu cầu thi hành bản
án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài có kháng cáo, kháng nghị, Tòa án
nhân dân cấp tỉnh mở phiên họp xem xét quyết định của Tòa án nhân dân khu vực bị
kháng cáo, kháng nghị.
Thủ tục xem xét kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định của
Tòa án nhân dân khu vực được thực hiện theo quy định tại Điều này.
7.[245] Quyết
định thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với công dân
Việt Nam tại Việt Nam có hiệu lực pháp luật gồm:
a) Quyết định của Tòa án nhân dân khu vực không bị kháng
cáo, kháng nghị;
b) Quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
8. Trình tự, thủ tục thi hành quyết định thi hành bản án,
quyết định của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam tại Việt Nam được thực
hiện theo quy định Bộ luật này và Luật Thi hành án hình sự.
9. Khi nhận được thông báo về quyết định đặc xá, đại xá hoặc
miễn, giảm hình phạt của nước ngoài đối với công dân Việt Nam phạm tội ở
nước ngoài bị Việt Nam từ chối dẫn độ và người đó đang thi hành án tại
Việt Nam thì Bộ Công an gửi ngay thông báo đó cho Tòa án, Viện kiểm sát
có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Điều 502. Các biện pháp ngăn chặn, căn cứ và thẩm quyền áp
dụng biện pháp ngăn chặn
1. Các biện pháp ngăn chặn để bảo đảm cho việc xem xét yêu
cầu dẫn độ hoặc thi hành quyết định dẫn độ gồm bắt, tạm giam, cấm đi khỏi nơi
cư trú, đặt tiền để bảo đảm, tạm hoãn xuất cảnh.
2. Biện pháp ngăn chặn chỉ được áp dụng đối với người bị
xem xét yêu cầu dẫn độ hoặc bị dẫn độ khi có đủ các điều kiện:
a) Tòa án đã có quyết định xem xét yêu cầu dẫn độ đối với
người đó hoặc quyết định dẫn độ đối với người đó đã có hiệu lực pháp luật;
b) Có căn cứ cho rằng người bị yêu cầu dẫn độ bỏ trốn hoặc
gây khó khăn, cản trở việc xem xét yêu cầu dẫn độ hoặc thi hành quyết định dẫn
độ.
3.[246]
Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân khu vực, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án
nhân dân cấp tỉnh quyết định việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn quy định tại
khoản 1 Điều này. Thẩm phán chủ tọa phiên họp xem xét yêu cầu dẫn độ có quyền
quyết định việc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, biện pháp đặt tiền để
bảo đảm sự có mặt của người bị yêu cầu dẫn độ tại phiên họp.
Điều 503. Bắt tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ
1. Việc bắt người bị yêu cầu dẫn độ để tạm giam hoặc thi
hành quyết định dẫn độ được thực hiện theo quy định tại Điều 113 của Bộ luật
này.
2.[247] Thời
hạn tạm giam để xem xét yêu cầu dẫn độ không quá thời hạn trong lệnh bắt giam của
cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu dẫn độ hoặc thời hạn phải thi hành hoặc
còn phải thi hành hình phạt tù trong bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước
yêu cầu dẫn độ.
Trường hợp cần thiết, Tòa án nhân dân khu vực, Tòa án nhân
dân cấp tỉnh có thể gửi văn bản yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu
dẫn độ ra lệnh, quyết định tạm giam hoặc gia hạn tạm giam người bị yêu cầu dẫn
độ để bảo đảm việc xem xét yêu cầu dẫn độ; văn bản yêu cầu được gửi thông qua Bộ
Công an.
Điều 504. Cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh
1. Cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn có thể áp
dụng đối với người bị yêu cầu dẫn độ có nơi cư trú rõ ràng nhằm bảo đảm sự có mặt
của họ theo giấy triệu tập của Tòa án.
Việc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú được thực hiện
theo quy định tại Điều 123 của Bộ luật này.
Thời hạn áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú không được
quá thời hạn bảo đảm việc xem xét yêu cầu dẫn độ và thời hạn xem xét kháng cáo,
kháng nghị đối với quyết định dẫn độ hoặc quyết định từ chối dẫn độ theo quy định
của pháp luật về tương trợ tư pháp.
2. Tạm hoãn xuất cảnh là biện pháp ngăn chặn
có thể áp dụng đối với người bị yêu cầu dẫn độ nhằm bảo đảm sự có mặt của họ
theo giấy triệu tập của Tòa án.
Việc áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh được thực hiện
theo quy định tại Điều 124 của Bộ luật này.
Thời hạn áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh không được
quá thời hạn bảo đảm việc xem xét yêu cầu dẫn độ và thời hạn xem xét kháng cáo,
kháng nghị đối với quyết định dẫn độ hoặc quyết định từ chối dẫn độ theo quy định
của pháp luật về tương trợ tư pháp.
Điều 505. Đặt tiền để bảo đảm
1. Đặt tiền để bảo đảm là biện pháp ngăn chặn có thể áp dụng
đối với người bị yêu cầu dẫn độ căn cứ vào tình trạng tài sản của người đó nhằm
bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của Tòa án.
2. Việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm thực hiện
theo quy định tại Điều 122 của Bộ luật này.
3. Thời hạn áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm không được
quá thời hạn bảo đảm việc xem xét yêu cầu dẫn độ và thời hạn xem xét kháng cáo,
kháng nghị đối với quyết định dẫn độ hoặc quyết định từ chối dẫn độ theo quy định
của pháp luật về tương trợ tư pháp.
Điều 506. Hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn
1. Khi Tòa án có thẩm quyền quyết định từ chối dẫn độ hoặc
hết thời hạn 15 ngày kể từ ngày quyết định thi hành quyết định dẫn độ có hiệu lực
mà nước yêu cầu dẫn độ không tiếp nhận người bị dẫn độ thì mọi biện pháp ngăn
chặn đã áp dụng đều phải được hủy bỏ.
2. Người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn quy định
tại Điều 502 của Bộ luật này phải kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi biện pháp ngăn
chặn do mình quyết định nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần
thiết.
Điều 506a. Giữ người trong trường hợp khẩn cấp trước khi có
yêu cầu dẫn độ[248]
Việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp trước khi có yêu cầu
dẫn độ của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài được thực hiện theo quy định của
điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và pháp luật
về dẫn độ.
Điều 507. Xử lý tài sản do phạm tội mà có
1. Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hợp tác với cơ quan
có thẩm quyền của nước ngoài trong việc truy tìm, tạm giữ, kê biên, phong tỏa,
tịch thu, xử lý tài sản do phạm tội mà có để phục vụ yêu cầu điều tra, truy tố,
xét xử và thi hành án hình sự.
2. Việc truy tìm, tạm giữ, kê biên, phong tỏa, tịch thu tài
sản do phạm tội mà có tại Việt Nam được thực hiện theo quy định của Bộ luật này
và quy định khác của pháp luật Việt Nam có liên quan.
3. Việc xử lý tài sản do phạm tội mà có tại Việt Nam thực
hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là thành viên hoặc theo thoả thuận trong từng vụ việc cụ thể giữa cơ quan có thẩm
quyền của Việt Nam và cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài có liên quan.
Điều 508. Phối hợp điều tra, áp dụng biện pháp điều tra tố
tụng đặc biệt
1. Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có thể hợp tác với cơ
quan có thẩm quyền của nước ngoài trong việc phối hợp điều tra hoặc áp dụng các
biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Việc hợp tác phối hợp điều tra hoặc áp dụng
các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt được thực hiện trên cơ sở điều ước quốc
tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo thoả thuận
trong từng vụ việc cụ thể giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và cơ quan có
thẩm quyền của nước ngoài có liên quan.
2. Các hoạt động phối hợp điều tra thực hiện trên lãnh thổ
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thực hiện theo quy định của Bộ luật
này và quy định khác của pháp luật Việt Nam có liên quan.
Phần thứ chín
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH[249]
Điều 509. Hiệu lực thi hành
1. Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm
2016.
2. Bộ luật Tố tụng hình sự số 19/2003/QH11 hết hiệu lực kể
từ ngày Bộ luật này có hiệu lực.
3. Bãi bỏ quy định về việc cấp giấy chứng nhận
người bào chữa tại khoản 3 và khoản 4 Điều 27 của Luật Luật sư số
65/2006/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 20/2012/QH13.
Điều 510. Quy định chi tiết
Chính phủ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân
tối cao quy định chi tiết các điều, khoản được giao trong Bộ luật này.
|
|
VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
--------
XÁC THỰC VĂN BẢN HỢP NHẤT
CHỦ NHIỆM
Lê Quang Mạnh
|
[1] Luật số 02/2021/QH15 có căn cứ
ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13.”.
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Tổ chức Tòa án nhân dân.”.
Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15 có căn cứ ban hành
như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Tư pháp người chưa thành niên.”.
Luật số 99/2025/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo
Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 đã
được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 02/2021/QH15, Luật số 34/2024/QH15 và Luật số 59/2024/QH15.”.
Luật Tương trợ tư pháp về hình sự số 103/2025/QH15 có căn cứ ban hành
như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa
đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật Tương trợ tư pháp về hình sự.”.
Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa
đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật Giám định tư pháp.”.
Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa
đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật Thi hành án dân sự.”.
Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú số
128/2025/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa
đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi
khỏi nơi cư trú.”.
Luật số 11/2026/QH16 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 54/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một
số điều theo Luật số 71/2014/QH13, Luật số 35/2018/QH14, Luật số 07/2022/QH15, Luật số 90/2025/QH15 và Luật số
133/2025/QH15.”.
[2] Điểm này được bổ sung
theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[3] Điểm này được bãi bỏ theo
quy định tại điểm c khoản 1 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[4] Cụm từ “thành phố trực
thuộc Trung ương” được thay thế bởi cụm từ “thành phố” theo quy định tại khoản
68 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[5] Điểm này được bãi bỏ theo
quy định tại điểm c khoản 1 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[6] Cụm từ “thành phố trực
thuộc Trung ương” được thay thế bởi cụm từ “thành phố” theo quy định tại khoản
68 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[7] Điểm này được bãi bỏ theo
quy định tại điểm c khoản 1 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[8] Cụm từ “thành phố trực
thuộc Trung ương” được thay thế bởi cụm từ “thành phố” theo quy định tại khoản
68 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[9] Điểm này được bổ sung
theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[10] Điều này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 177 của Luật Tư pháp người chưa
thành niên số 59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[11] Điều này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 2 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[12] Điểm này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[13] Điểm này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[14] Cụm từ “Chi cục trưởng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Hải
quan khu vực; Đội trưởng, Phó Đội trưởng Hải quan cửa khẩu” được thay thế bởi cụm từ “Trưởng Hải quan khu vực,
Phó Trưởng Hải quan khu vực; Trưởng Hải quan cửa khẩu, Phó Trưởng Hải quan cửa
khẩu” theo
quy định tại khoản 3 Điều 2 của Luật số 11/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
[15] Điểm này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[16] Điểm này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[17] Điểm này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[18] Điểm này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[19] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 4 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[20] Cụm từ “quyết định giao
người dưới 18 tuổi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm giám sát;
quyết định thay đổi người giám sát người dưới 18 tuổi phạm tội;” được bãi bỏ
theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 177 của Luật Tư pháp người chưa thành
niên số 59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[21] Khoản này được bổ sung
theo quy định tại khoản 5 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[22] Điểm này được bãi bỏ theo
quy định tại điểm c khoản 2 Điều 177 của Luật Tư pháp người chưa thành niên số
59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[23] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 6 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[24] Khoản này được bổ sung
theo quy định tại khoản 6 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[25] Cụm từ “quyết định giao
người dưới 18 tuổi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm giám sát;
quyết định thay đổi người giám sát người dưới 18 tuổi phạm tội;” được bãi bỏ
theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 177 của Luật Tư pháp người chưa thành
niên số 59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[26] Khoản này được bổ sung
theo quy định tại khoản 7 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[27] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 8 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[28] Khoản này được bổ
sung theo quy định tại khoản 8 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[29] Cụm từ “thay đổi người
giám sát người dưới 18 tuổi phạm tội;” được bãi bỏ theo quy định tại điểm d
khoản 2 Điều 177 của Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[30] Khoản này được bổ sung
theo quy định tại khoản 9 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[31] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 10 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[32] Cụm từ “chính quyền địa
phương” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân” theo quy định tại khoản 60
Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[33] Điểm này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 1 Điều 114 của Luật Thi hành án dân sự số
106/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[34] Điểm này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại điểm a khoản 11 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[35] Điểm này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại điểm a khoản 11 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[36] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại điểm b khoản 11 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[37] Cụm từ “Công an xã, phường,
thị trấn” được thay thế bởi cụm từ “Công an cấp xã” theo quy định tại khoản 56
Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[38] Cụm từ “Công an xã, phường,
thị trấn” được thay thế bởi cụm từ “Công an cấp xã” theo quy định tại khoản 56
Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[39] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 12 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[40] Cụm từ “chính quyền xã,
phường, thị trấn” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định
tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[41] Cụm từ “chính quyền xã,
phường, thị trấn” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định
tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[42] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp” được thay thế bởi cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định
tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[43] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp” được thay thế bởi cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định
tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[44] Cụm từ “chính quyền xã,
phường, thị trấn” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định
tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[45] Cụm từ “chính quyền xã,
phường, thị trấn” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định
tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[46] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp hoặc” được bãi bỏ theo quy định tại khoản 69 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[47] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp hoặc” được bãi bỏ theo quy định tại khoản 69 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[48] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp” được thay thế bởi cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định
tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[49] Cụm từ “chính quyền xã,
phường, thị trấn” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo
quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[50] Cụm từ “chính quyền xã,
phường, thị trấn” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định
tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[51] Cụm từ “chính quyền xã,
phường, thị trấn” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định
tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[52] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp” được thay thế bởi cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định
tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[53] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp” được thay thế bởi cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định
tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[54] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 1 Điều 73 của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm
đi khỏi nơi cư trú số 128/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[55] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 2 Điều 73 của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm
đi khỏi nơi cư trú số 128/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[56] Cụm từ “chính quyền xã,
phường, thị trấn” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định
tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[57] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp” được thay thế bởi cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định
tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[58] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp” được thay thế bởi cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định
tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[59] Cụm từ “chính quyền xã,
phường, thị trấn” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định
tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[60] Cụm từ “chính quyền xã,
phường, thị trấn” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định
tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[61] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp” được thay thế bởi cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định
tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[62] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp” được thay thế bởi cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định
tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[63] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp” được thay thế bởi cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định
tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[64] Khoản này được bổ sung
theo quy định tại khoản 13 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[65] Khoản này được bổ sung
theo quy định tại khoản 14 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[66] Cụm từ “, Trưởng phân trại
thuộc trại tạm giam” được bổ sung vào sau cụm từ “Trưởng Nhà tạm giữ” theo quy
định tại khoản 55 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[67] Tên Điều này được sửa đổi,
bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 15 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[68] Khoản này được bổ sung
theo quy định tại điểm b khoản 15 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[69] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại Điều 43 của Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 5 năm 2026.
[70] Điểm này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 16 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[71] Cụm từ “chính quyền xã,
phường, thị trấn” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định
tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[72] Cụm từ “chính quyền xã,
phường, thị trấn” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định
tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[73] Cụm từ “Ủy ban nhân dân
xã, phường, thị trấn” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo
quy định tại khoản 61 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[74] Điều này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 17 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[75] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 1 Điều 1 của Luật số 02/2021/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 12 năm 2021.
[76] Cụm từ “Công an xã, phường,
thị trấn” được thay thế bởi cụm từ “Công an cấp xã” theo quy định tại khoản 56
Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[77] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp hoặc” được bãi bỏ theo quy định tại khoản 69 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[78] Cụm từ “Viện trưởng Viện
kiểm sát cùng cấp hoặc” được bãi bỏ theo quy định tại khoản 70 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[79] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp hoặc” được bãi bỏ theo quy định tại khoản 69 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[80] Điểm này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 40 của Luật Tương trợ tư pháp về
hình sự số 103/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[81] Điểm này được bổ sung
theo quy định tại khoản 2 Điều 1 của Luật số 02/2021/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 12 năm 2021.
[82] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp hoặc” được bãi bỏ theo quy định tại khoản 69 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[83] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 40 của Luật Tương trợ tư pháp về
hình sự số 103/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[84] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 18 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[85] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp hoặc” được bãi bỏ theo quy định tại khoản 69 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[86] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 19 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[87] Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bởi cụm từ
“Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[88] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 150 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân
số 34/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025.
[89] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 150 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân
số 34/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025.
[90] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Luật số 02/2021/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 12 năm 2021.
[91] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp hoặc” được bãi bỏ theo quy định tại khoản 69 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[92] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 1 của Luật số 02/2021/QH15, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2021.
[93] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp hoặc” được bãi bỏ theo quy định tại khoản 69 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[94] Điểm này được bãi bỏ theo
quy định tại điểm c khoản 1 Điều 150 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số
34/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025.
[95] Điểm này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 20 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[96] Điểm này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 20 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[97] Cụm từ “thành phố trực
thuộc Trung ương” được thay thế bởi cụm từ “thành phố” theo quy định tại khoản
68 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[98] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp” được thay thế bởi cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định
tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[99] Cụm từ “thành phố trực
thuộc Trung ương” được thay thế bởi cụm từ “thành phố” theo quy định tại khoản
68 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[100] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp” được thay thế bởi cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định
tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[101] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại điểm a khoản 21 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[102] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại điểm b khoản 21 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[103] Điểm này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 22 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[104] Điểm này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 22 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[105] Điểm này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 22 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[106] Điểm này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 23 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[107] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp” được thay thế bởi cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định
tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[108] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp” được thay thế bởi cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định
tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[109] Cụm từ “chính quyền xã,
phường, thị trấn” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định
tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[110] Cụm từ “chính quyền xã,
phường, thị trấn” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định
tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[111] Cụm từ “chính quyền xã,
phường, thị trấn” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định
tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[112] Cụm từ “Luật Tương trợ tư
pháp” được thay thế bởi cụm từ “Luật Tương trợ tư pháp về hình sự” theo quy định
tại điểm e khoản 1 điều 40 của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự số
103/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[113] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp” được thay thế bởi cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định
tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[114] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp” được thay thế bởi cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định
tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[115] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp” được thay thế bởi cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định
tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[116] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 24 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[117] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp” được thay thế bởi cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định
tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[118] Cụm từ “chính quyền xã,
phường, thị trấn” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định
tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[119] Cụm từ “chính quyền xã,
phường, thị trấn” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định
tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[120] Cụm từ “chính quyền xã,
phường, thị trấn” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định
tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[121] Cụm từ “chính quyền xã,
phường, thị trấn” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định
tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[122] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp” được thay thế bởi cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định
tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[123] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp” được thay thế bởi cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định
tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[124] Cụm từ “chính quyền xã,
phường, thị trấn” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định
tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[125] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp” được thay thế bởi cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định
tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[126] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp” được thay thế bởi cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định
tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[127] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp” được thay thế bởi cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định
tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[128] Cụm từ “chính quyền xã,
phường, thị trấn” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định
tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[129] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp” được thay thế bởi cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định
tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[130] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 25 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[131] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 26 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[132] Điểm này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 40 của Luật Tương trợ tư pháp về
hình sự số 103/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[133] Điểm này được bổ sung
theo quy định tại khoản 5 Điều 1 của Luật số 02/2021/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 12 năm 2021.
[134] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp” được thay thế bởi cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định
tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[135] Cụm từ “hoặc có căn cứ
quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 của Bộ luật
Hình sự” được thay thế bởi cụm từ “hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc
Điều 29 của Bộ luật Hình sự hoặc người chưa thành niên được áp dụng biện
pháp xử lý chuyển hướng theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên”
theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 177 của Luật Tư pháp người chưa thành
niên số 59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[136] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp” được thay thế bởi cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định
tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[137] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp” được thay thế bởi cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định
tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[138] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp” được thay thế bởi cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định
tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[139] Điều này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 27 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[140] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp” được thay thế bởi cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định
tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[141] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp” được thay thế bởi cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định
tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[142] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 28 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[143] Điều này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 29 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[144] Điểm này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 40 của Luật Tương trợ tư pháp về
hình sự số 103/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[145] Điểm này được bổ sung
theo quy định tại khoản 6 Điều 1 của Luật số 02/2021/QH15, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 12 năm 2021.
[146] Cụm từ “hoặc có căn cứ
quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 của Bộ luật
Hình sự” được thay thế bởi cụm từ “hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc
Điều 29 của Bộ luật Hình sự hoặc người chưa thành niên được áp dụng biện
pháp xử lý chuyển hướng theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên”
theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 177 của Luật Tư pháp người chưa thành
niên, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[147] Cụm từ “Cơ quan điều tra
cùng cấp” được thay thế bởi cụm từ “Cơ quan điều tra có thẩm quyền” theo quy định
tại khoản 67 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[148] Cụm từ “chính quyền xã,
phường, thị trấn” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định
tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[149] Cụm từ “Ủy ban nhân dân
xã, phường, thị trấn” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo
quy định tại khoản 61 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[150] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[151] Điều này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 31 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[152] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 32 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[153] Cụm từ “thành phố trực
thuộc Trung ương” được thay thế bởi cụm từ “thành phố” theo quy định tại khoản
68 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[154] Cụm từ “Tòa án nhân dân cấp
huyện” được thay thế bởi cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực” theo quy định tại khoản
62 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[155] Cụm từ “thành phố trực
thuộc Trung ương” được thay thế bởi cụm từ “thành phố” theo quy định tại khoản
68 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[156] Cụm từ “Tòa án nhân dân cấp
huyện” được thay thế bởi cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực” theo quy định tại khoản
62 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[157] Cụm từ “thành phố
trực thuộc Trung ương” được thay thế bởi cụm từ “thành phố” theo quy định tại
khoản 68 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[158] Cụm từ “hoặc người chưa
thành niên được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng theo quy định của Luật Tư
pháp người chưa thành niên” được bổ sung theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều
177 của Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[159] Cụm từ “hoặc khoản 2 Điều
91” được bãi bỏ theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 177 của Luật Tư pháp người
chưa thành niên số 59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[160] Cụm từ “Ủy ban nhân dân
xã, phường, thị trấn” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo
quy định tại khoản 61 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
[161] Cụm từ “khỏi bệnh” được
thay thế bởi cụm từ “có kết luận khỏi bệnh hoặc có kết luận đủ khả năng nhận thức,
đủ khả năng điều khiển hành vi” theo quy định tại khoản 63 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[162] Điểm này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 33 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[163] Khoản này được bãi bỏ
theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 150 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số
34/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025.
[164] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 177 của Luật Tư pháp người chưa
thành niên số 59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[165] Cụm từ “, Trưởng phân trại
thuộc trại tạm giam” được bổ sung vào sau cụm từ “Trưởng Nhà tạm giữ” theo quy
định tại khoản 55 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[166] Cụm từ “, Trưởng phân trại
thuộc trại tạm giam” được bổ sung vào sau cụm từ “Trưởng Nhà tạm giữ” theo quy
định tại khoản 55 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[167] Cụm từ “, Trưởng phân trại
thuộc trại tạm giam” được bổ sung vào sau cụm từ “Trưởng Nhà tạm giữ” theo quy
định tại khoản 55 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[168] Cụm từ “, Trưởng phân trại
thuộc trại tạm giam” được bổ sung vào sau cụm từ “Trưởng Nhà tạm giữ” theo quy
định tại khoản 55 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[169] Cụm từ “Viện kiểm sát
nhân dân cấp cao” được thay thế bởi cụm từ “Viện kiểm sát nhân dân tối cao”
theo quy định tại khoản 58 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[170] Cụm từ “Viện kiểm sát
nhân dân cấp cao” được thay thế bởi cụm từ “Viện kiểm sát nhân dân tối cao”
theo quy định tại khoản 58 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[171] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 34 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[172] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 34 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[173] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 35 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[174] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 35 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[175] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 36 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[176] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 36 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[177] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 37 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[178] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 37 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[179] Cụm từ “cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp huyện” được thay thế bởi cụm từ “cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh” theo quy định tại khoản 64 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[180] Điểm này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại điểm a khoản 38 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[181] Khoản này được bổ
sung theo quy định tại điểm b khoản 38 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[182] Cụm từ “cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp huyện” được thay thế bởi cụm từ “cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh” theo quy định tại khoản 64 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[183] Cụm từ “chính quyền xã,
phường, thị trấn” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định
tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[184] Cụm từ “cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp huyện” được thay thế bởi cụm từ “cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh” theo quy định tại khoản 64 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[185] Cụm từ “cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp huyện” được thay thế bởi cụm từ “cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh” theo quy định tại khoản 64 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[186] Cụm từ “chính quyền xã,
phường, thị trấn” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định
tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[187] Cụm từ “chính quyền xã,
phường, thị trấn” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định
tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[188] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 39 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[189] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại điểm a khoản 40 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[190] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại điểm b khoản 40 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[191] Cụm từ “cấp cao” được
thay thế bởi cụm từ “cấp tỉnh” theo quy định tại khoản 66 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[192] Cụm từ “cấp cao” được
thay thế bởi cụm từ “cấp tỉnh” theo quy định tại khoản 66 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[193] Điều này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 41 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[194] Cụm từ “chính quyền xã,
phường, thị trấn” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định
tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[195] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 42 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[196] Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của
Quốc hội” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội”
theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[197] Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của
Quốc hội” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội”
theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[198] Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của
Quốc hội” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội”
theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[199] Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của
Quốc hội” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội”
theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[200] Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của
Quốc hội” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội”
theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[201] Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của
Quốc hội” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội”
theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[202] Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của
Quốc hội” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội”
theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[203] Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của
Quốc hội” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội”
theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[204] Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của
Quốc hội” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội”
theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[205] Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của
Quốc hội” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội”
theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[206] Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của
Quốc hội” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội”
theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[207] Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của
Quốc hội” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội”
theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[208] Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của
Quốc hội” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội”
theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[209] Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của
Quốc hội” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội”
theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[210] Chương này gồm các điều
413, 414, 415, 416, 417, 418, 419, 420, 421, 422, 423, 424, 425, 426, 427, 428,
429 và 430 được bãi bỏ theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 177 của Luật Tư
pháp chưa thành niên số 59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm
2026.
[211] Cụm từ “chính quyền xã,
phường, thị trấn” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định
tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[212] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp” được thay thế bởi cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định
tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[213] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp” được thay thế bởi cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định
tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[214] Cụm từ “chính quyền xã,
phường, thị trấn” được thay thế bởi cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định
tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[215] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 40 của Luật Tương trợ tư pháp về
hình sự số 103/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[216] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp” được thay thế bởi cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định
tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[217] Cụm từ “Tòa án nhân dân cấp
tỉnh” được thay thế bởi cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực” theo quy định tại khoản
62 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[218] Cụm từ “Tòa án nhân dân cấp
tỉnh” được thay thế bởi cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực” theo quy định tại khoản
62 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[219] Cụm từ “khỏi bệnh” được
thay thế bởi cụm từ “có kết luận khỏi bệnh hoặc có kết luận đủ khả năng nhận thức,
đủ khả năng điều khiển hành vi” theo quy định tại khoản 63 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[220] Cụm từ “cơ sở bắt buộc chữa
bệnh tâm thần” được thay thế bởi cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh” theo quy định
tại khoản 63 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[221] Cụm từ “cơ sở bắt buộc chữa
bệnh tâm thần” được thay thế bởi cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh” theo quy định
tại khoản 63 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[222] Cụm từ “hoặc có đủ khả
năng nhận thức, đủ khả năng điều khiển hành vi” được bổ sung vào sau cụm từ “đã
khỏi bệnh” theo quy định tại khoản 55 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[223] Cụm từ “hoặc có đủ khả
năng nhận thức, đủ khả năng điều khiển hành vi” được bổ sung vào sau cụm từ “đã
khỏi bệnh” theo quy định tại khoản 55 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[224] Cụm từ “cơ sở bắt buộc chữa
bệnh” được thay thế bởi cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh” theo quy định tại
khoản 63 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[225] Cụm từ “Viện kiểm sát
cùng cấp” được thay thế bởi cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định
tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[226] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 150 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân
số 34/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025.
[227] Cụm từ “và quyết định tố
tụng quy định tại chương VII và chương VIII của Luật Tư pháp người chưa thành
niên” được bổ sung theo quy định tại điểm k khoản 2 Điều 177 của Luật Tư pháp
người chưa thành niên số 59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm
2026.
[228] Cụm từ “và hành vi tố tụng
quy định tại chương VII và chương VIII của Luật Tư pháp người chưa thành niên” được
bổ sung theo quy định tại điểm l khoản 2 Điều 177 của Luật Tư pháp người chưa
thành niên số 59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[229] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 43 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[230] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 43 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[231] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 44 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[232] Điều này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 45 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[233] Điều này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 46 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[234] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 47 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[235] Cụm từ “Viện trưởng Viện
kiểm sát cùng cấp hoặc” được bãi bỏ theo quy định tại khoản 70 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[236] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 48 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[237] Điểm này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 49 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[238] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 50 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[239] Cụm từ “người đang bị tạm
giam,” được bổ sung theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 40 của Luật Tương trợ
tư pháp về hình sự số 103/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[240] Cụm từ “người đang bị tạm
giam,” được bổ sung theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 40 của Luật Tương trợ
tư pháp về hình sự số 103/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[241] Cụm từ “người đang bị tạm
giam,” được bổ sung theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 40 của Luật Tương trợ
tư pháp về hình sự số 103/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[242] Khoản này được sửa
đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 51 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[243] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại điểm b khoản 51 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[244] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại điểm b khoản 51 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[245] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại điểm b khoản 51 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[246] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 52 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[247] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 53 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[248] Điều này được bổ sung
theo quy định tại khoản 54 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[249] Khoản 2 Điều 2 của Luật số
02/2021/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2021 quy định như sau:
“Điều 2. Điều khoản thi hành
2. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 12 năm
2021.”.
Điều 151 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025 quy định như sau:
“Điều 151. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm
2025.
2. Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 62/2014/QH13 hết hiệu lực
từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 và
khoản 2 Điều 152 của Luật này.”.
Điều 178 của Luật Tư pháp người chưa thành niên số
59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026 quy định như sau:
“Điều 178. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm
2026, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Quy định tại Điều 139, khoản 1 và khoản 2 Điều 162 của
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2028.”.
Điều 2 của
Luật số 99/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025 quy định như
sau:
“Điều 2. Hiệu
lực thi hành
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.”.
Việc thi hành Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Bộ luật Tố tụng hình sự được thực hiện theo Nghị quyết số
225/2025/QH15 ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội về việc thi hành Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, các luật tố tụng và luật khác
có liên quan, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
Điều 41 và Điều 42 của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự số
103/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026 quy định như sau:
“Điều 41. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm
2026.
2. Luật Tương trợ tư pháp số 08/2007/QH12 được sửa đổi, bổ
sung một số điều theo Luật số 81/2025/QH15 hết hiệu lực từ ngày Luật này có hiệu
lực thi hành, trừ trường hợp chuyển tiếp quy định tại khoản 1 Điều 42 của Luật
này, Điều 45 của Luật Dẫn độ, Điều 48 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành
án phạt tù và khoản 1 Điều 38 của Luật Tương trợ tư pháp về dân sự.
Điều 42. Điều khoản chuyển tiếp
1. Các yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự mà Viện kiểm
sát nhân dân tối cao lập hoặc tiếp nhận trước ngày Luật này có hiệu lực thi
hành thì tiếp tục được xem xét, giải quyết theo quy định của Luật Tương trợ tư
pháp số 08/2007/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số
81/2025/QH15.
2. Quy định “ủy thác tư pháp” trong lĩnh vực hình sự theo
khoản 1 Điều 6 của Luật Tương trợ tư pháp số 08/2007/QH12 đã được sửa đổi, bổ
sung một số điều theo Luật số 81/2025/QH15 tại các văn bản quy phạm pháp luật
hiện hành được sử dụng tương đương quy định “yêu cầu tương trợ tư pháp về hình
sự” quy định tại Luật này.”.
Điều 44 và khoản 4 Điều 45 của Luật Giám định tư pháp số
105/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 5 năm 2026 quy định như sau:
“Điều 44. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 5 năm
2026.
2. Luật Giám định tư pháp số 13/2012/QH13 đã được sửa đổi,
bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14 và Luật số 56/2020/QH14 (sau đây
gọi là Luật Giám định tư pháp số 13/2012/QH13) hết hiệu lực kể từ ngày Luật này
có hiệu lực thi hành, trừ quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 45 của Luật
này.
Điều 45. Quy định chuyển tiếp
4. Trường hợp việc giám định đã được tiếp nhận, thực hiện
trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì người giám định tư pháp, tổ chức
giám định tư pháp tiếp tục thực hiện giám định, thanh toán, quyết toán chi phí
giám định, bồi dưỡng giám định tư pháp theo quy định của Luật Giám định tư pháp
số 13/2012/QH13.”.
Khoản 1, khoản 3 Điều 115 và khoản 6 Điều 116 của Luật Thi
hành án dân sự số 106/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026 quy
định như sau:
“Điều
115. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm
2026, trừ quy định tại khoản 2 Điều này.
3. Nghị quyết số
107/2015/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội về thực hiện chế định Thừa
phát lại; Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một
số điều theo Luật số 64/2014/QH13, Luật số 23/2018/QH14, Luật số 67/2020/QH14,
Luật số 03/2022/QH15, Luật số 31/2024/QH15, Luật số 43/2024/QH15, Luật số
59/2024/QH15, Luật số 81/2025/QH15 và Luật số 84/2025/QH15 (sau đây gọi là Luật
Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12) hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực
thi hành, trừ quy định tại khoản 1 Điều 116 của Luật này.
Điều 116. Điều khoản chuyển tiếp
6. Vật chứng đã được cơ quan thi hành án dân sự tiếp nhận
trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục
bảo quản và xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với vật chứng đã được cơ quan thi hành án dân sự tỉnh,
thành phố tiếp nhận và đang bảo quản tại các kho vật chứng không thuộc khuôn
viên trụ sở cơ quan thi hành án dân sự thì Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Tài chính
phối hợp thực hiện việc chuyển giao các kho vật chứng cùng vật chứng đang bảo
quản tại kho về Bộ Công an để quản lý trước ngày 01 tháng 7 năm 2028.
Nhà nước bố trí các điều kiện cần thiết để đầu tư nâng cấp,
xây dựng hệ thống kho vật chứng của cơ quan Công an nhân dân, Quân đội nhân dân
và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.”.
Điều 74 của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi
nơi cư trú số 128/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026 quy định
như sau:
“Điều 74. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm
2026.
2. Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 hết hiệu
lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.”.
Khoản 1 Điều 3 của Luật số 11/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027 quy định như sau: