|
VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
--------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 17/VBHN-VPQH
|
Hà Nội, ngày 12 tháng 02 năm 2026
|
BỘ LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Bộ
luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016, được sửa đổi, bổ sung bởi:
1.
Luật số 02/2021/QH15 ngày 12 tháng 11 năm 2021 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một
số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 12 năm
2021;
2.
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15 ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Quốc
hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025;
3.
Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15 ngày 30 tháng 11 năm 2024 của
Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026;
4.
Luật số 99/2025/QH15 ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một
số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025;
5.
Luật Tương trợ tư pháp về hình sự số 103/2025/QH15 ngày 26 tháng 11 năm 2025 của
Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026;
6.
Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15 ngày 05 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 5 năm 2026;
7.
Luật Thi hành án dân sự số 106/2025/QH15 ngày 05 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026;
8.
Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú số 128/2025/QH15 ngày
10 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự[1],
Phần thứ nhất
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Chương I
PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH,
NHIỆM VỤ, HIỆU LỰC CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Bộ luật Tố tụng hình sự
quy định trình tự, thủ tục tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố,
điều tra, truy tố, xét xử và một số thủ tục thi hành án hình sự; nhiệm vụ, quyền
hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân; hợp
tác quốc tế trong tố tụng hình sự.
Điều 2. Nhiệm vụ của Bộ luật Tố tụng hình sự
Bộ
luật Tố tụng hình sự có nhiệm vụ bảo đảm phát hiện chính xác và xử lý công
minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, không để lọt
tội phạm, không làm oan người vô tội; góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con
người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi
ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giáo dục mọi
người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
Điều 3. Hiệu lực của Bộ luật Tố tụng hình sự
1. Bộ luật Tố tụng hình sự
có hiệu lực đối với mọi hoạt động tố tụng hình sự trên lãnh thổ nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2.
Hoạt động tố tụng hình sự đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tiến hành theo quy định của điều ước quốc
tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có
đi có lại.
Trường
hợp người nước ngoài thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc
lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là thành viên hoặc tập quán quốc tế thì được giải quyết theo quy định
của điều ước quốc tế hoặc tập quán quốc tế đó; trường hợp điều ước quốc tế đó
không quy định hoặc không có tập quán quốc tế thì được giải quyết bằng con đường
ngoại giao.
Điều 4. Giải thích từ ngữ
1. Trong Bộ luật này, các
từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
a)
Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng gồm cơ quan tiến hành tố tụng và
cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.
b)
Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gồm người tiến hành tố tụng và người
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.
c)
Người tham gia tố tụng là cá nhân, cơ quan, tổ chức tham gia hoạt động tố
tụng theo quy định của Bộ luật này.
d)
Nguồn tin về tội phạm gồm tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
của cơ quan, tổ chức, cá nhân, lời khai của người phạm tội tự thú và thông tin
về tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện.
đ)
Người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
e)
Người thân thích của người tham gia tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng là người có quan hệ với người tham gia tố tụng, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng gồm vợ, chồng, bố đẻ, mẹ đẻ, bố chồng, mẹ chồng, bố vợ, mẹ vợ, bố
nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi; ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột,
chị ruột, em ruột; cụ nội, cụ ngoại, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì
ruột, cháu ruột.
g)
Đương sự gồm nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan đến vụ án hình sự.
h)
Tự thú là việc người phạm tội tự nguyện khai báo với cơ quan, tổ chức về
hành vi phạm tội của mình trước khi tội phạm hoặc người phạm tội bị phát hiện.
i)
Đầu thú là việc người phạm tội sau khi bị phát hiện đã tự nguyện ra
trình diện và khai báo với cơ quan có thẩm quyền về hành vi phạm tội của mình.
k)
Áp giải là việc cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế người bị giữ trong trường
hợp khẩn cấp, bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo đến địa điểm tiến hành điều
tra, truy tố hoặc xét xử.
l)
Dẫn giải là việc cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế người làm chứng, người
bị tố giác hoặc bị kiến nghị khởi tố đến địa điểm tiến hành điều tra, truy tố,
xét xử hoặc người bị hại từ chối giám định.
m)
Danh bản là bản ghi thông tin tóm tắt về lý lịch, nhân dạng, ảnh chụp ba
tư thế, in dấu vân hai ngón tay trỏ của bị can do cơ quan có thẩm quyền lập và
lưu giữ.
n)
Chỉ bản là bản ghi thông tin tóm tắt về lý lịch và in dấu vân tất cả các
ngón tay của bị can do cơ quan có thẩm quyền lập và lưu giữ.
o)
Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là việc cơ quan, người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các trình tự, thủ tục do Bộ luật
này quy định và đã xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người
tham gia tố tụng hoặc làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn
diện của vụ án;
p)[2] Viện kiểm sát có thẩm quyền là Viện kiểm sát có trách nhiệm
thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ
việc, vụ án.
2.
Trong Bộ luật này, những từ ngữ dưới đây được gọi như sau:
a)[3] (được bãi bỏ)
b)
Cơ quan điều tra Công an tỉnh, thành phố[4] sau đây gọi là Cơ quan điều tra
cấp tỉnh.
c)
Cơ quan điều tra quân sự quân khu và tương đương sau đây gọi là Cơ quan điều
tra quân sự cấp quân khu.
d)[5] (được bãi bỏ)
đ)
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố[6] sau đây gọi là Viện kiểm sát
nhân dân cấp tỉnh.
e)
Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương sau đây gọi là Viện kiểm sát
quân sự cấp quân khu.
g)[7] (được bãi bỏ)
h)
Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố[8] sau đây gọi là Tòa án nhân dân cấp
tỉnh.
i)
Tòa án quân sự quân khu và tương đương sau đây gọi là Tòa án quân sự cấp quân
khu;
k)[9] Xã, phường, đặc khu sau đây gọi là cấp xã.
Điều 5. Trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức và cá
nhân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm
1. Trong phạm vi trách
nhiệm của mình, cơ quan nhà nước phải áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm,
phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc đấu tranh
phòng, chống tội phạm.
Cơ
quan nhà nước phải thường xuyên kiểm tra, thanh tra việc thực hiện chức năng,
nhiệm vụ được giao; phát hiện kịp thời hành vi vi phạm pháp luật để xử lý và
thông báo ngay cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát mọi hành vi phạm tội xảy ra
trong cơ quan và trong lĩnh vực quản lý của mình; kiến nghị và gửi tài liệu có
liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát xem xét, khởi tố đối với người thực
hiện hành vi phạm tội.
Thủ
trưởng cơ quan nhà nước phải chịu trách nhiệm về việc không thông báo hoặc cung
cấp thông tin sai sự thật về hành vi phạm tội xảy ra trong cơ quan và trong
lĩnh vực quản lý của mình cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát.
2.
Tổ chức, cá nhân có quyền và nghĩa vụ phát hiện, tố giác, báo tin về tội
phạm; tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm.
3.
Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm tạo điều kiện để cơ quan
nhà nước, tổ chức và cá nhân tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm.
4.
Cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm thực hiện yêu cầu và tạo điều
kiện để cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ.
5.
Cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước có trách nhiệm phối hợp với cơ quan có thẩm
quyền tiến hành tố tụng trong việc phát hiện và xử lý tội phạm. Khi phát hiện vụ
việc có dấu hiệu tội phạm thì phải chuyển ngay các tài liệu, đồ vật có liên
quan và kiến nghị Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát xem xét, khởi tố vụ án hình sự.
6.
Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở hoạt động của cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ.
Điều 6. Phát hiện và khắc phục nguyên nhân, điều kiện phạm
tội
1. Trong quá trình tiến
hành tố tụng hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm
phát hiện nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức
hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục và phòng ngừa.
2.
Cơ quan, tổ chức hữu quan phải thực hiện yêu cầu, kiến nghị của cơ quan có thẩm
quyền tiến hành tố tụng. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu,
kiến nghị, cơ quan, tổ chức hữu quan phải trả lời bằng văn bản về việc thực hiện
yêu cầu, kiến nghị của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Chương II
NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN
Điều 7. Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng
hình sự[10]
Mọi
hoạt động tố tụng hình sự phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật này.
Không được giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử
ngoài những căn cứ và trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định. Đối với việc
tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử
liên quan đến người chưa thành niên thì còn phải thực hiện theo quy định của Luật
Tư pháp người chưa thành niên.
Điều 8. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp
pháp của cá nhân
Khi
tiến hành tố tụng, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan, người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền
và lợi ích hợp pháp của cá nhân; thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần
thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện
pháp đó nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết.
Điều 9. Bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật
Tố
tụng hình sự được tiến hành theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp
luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần và địa
vị xã hội. Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật.
Mọi
pháp nhân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và
thành phần kinh tế.
Điều 10. Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể
Mọi
người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể. Không ai bị bắt nếu không có quyết
định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm
tội quả tang.
Việc
giữ người trong trường hợp khẩn cấp, việc bắt, tạm giữ, tạm giam người phải
theo quy định của Bộ luật này. Nghiêm cấm tra tấn, bức cung, dùng nhục hình
hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, tính mạng, sức khỏe
của con người.
Điều 11. Bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản
của cá nhân; danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân
Mọi
người có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm,
tài sản.
Mọi
hành vi xâm phạm trái pháp luật tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản
của cá nhân; xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân đều bị xử lý theo
pháp luật.
Công
dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác.
Điều 12. Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống
riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại,
điện tín của cá nhân
Không
ai được xâm phạm trái pháp luật chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật
gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao
đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân.
Việc
khám xét chỗ ở; khám xét, tạm giữ và thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, dữ
liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác phải được thực
hiện theo quy định của Bộ luật này.
Điều 13. Suy đoán vô tội
Người
bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự,
thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật.
Khi
không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ
tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
phải kết luận người bị buộc tội không có tội.
Điều 14. Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm
Không
được khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với người mà hành vi của họ đã có bản
án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp họ thực hiện hành vi
nguy hiểm khác cho xã hội mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm.
Điều 15. Xác định sự thật của vụ án
Trách
nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.
Trong
phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách
khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ
xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
của người bị buộc tội.
Điều 16. Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự
Người
bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.
Cơ
quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải
thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền
bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ
luật này.
Điều 17. Trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành
tố tụng
Trong
quá trình tiến hành tố tụng, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải
nghiêm chỉnh thực hiện quy định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm về hành
vi, quyết định của mình.
Người
vi phạm pháp luật trong việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, giam, giữ,
khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm
mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật.
Điều 18. Trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự
Khi
phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm khởi tố vụ án, áp
dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người
phạm tội, pháp nhân phạm tội.
Không
được khởi tố vụ án ngoài những căn cứ và trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định.
Điều 19. Tuân thủ pháp luật trong hoạt động điều tra
Cơ quan điều tra, cơ quan
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải tuân thủ pháp luật
khi tiến hành hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật này.
Mọi
hoạt động điều tra phải tôn trọng sự thật, tiến hành khách quan, toàn diện
và đầy đủ; phát hiện nhanh chóng, chính xác mọi hành vi phạm tội, làm rõ chứng
cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết
khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án.
Điều 20. Trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự[11]
Viện
kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố
tụng hình sự, quyết định việc buộc tội, phát hiện vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm
mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật đều
phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra,
truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt
tội phạm và người phạm tội, pháp nhân phạm tội, không làm oan người vô tội.
Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định thẩm quyền của Viện kiểm sát
nhân dân mỗi cấp trong thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong tố tụng hình sự theo quy định của Bộ luật này.
Điều 21. Bảo đảm sự vô tư của người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng, người tham gia tố tụng
Người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người phiên dịch, người dịch thuật, người giám
định, người định giá tài sản, người chứng kiến không được tham gia tố tụng nếu
có lý do cho rằng họ có thể không vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ.
Điều 22. Thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia
Việc
xét xử sơ thẩm của Tòa án có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ
tục rút gọn do Bộ luật này quy định.
Điều 23. Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp
luật
Thẩm
phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ
chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm.
Cơ
quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm dưới bất
kỳ hình thức nào thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt
vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật.
Điều 24. Tòa án xét xử tập thể
Tòa
án xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục
rút gọn do Bộ luật này quy định.
Điều 25. Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công
khai
Tòa
án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định, bảo đảm công bằng.
Tòa
án xét xử công khai, mọi người đều có quyền tham dự phiên tòa, trừ trường hợp
do Bộ luật này quy định. Trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần
phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người dưới 18 tuổi hoặc để giữ bí mật đời
tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự thì Tòa án có thể xét xử kín nhưng phải
tuyên án công khai.
Điều 26. Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm
Trong
quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên,
người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội, người
bào chữa và người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa
ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của
vụ án.
Tài
liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án do Viện kiểm sát chuyển đến Tòa án để xét xử
phải đầy đủ và hợp pháp. Phiên tòa xét xử vụ án hình sự phải có mặt đầy đủ những
người theo quy định của Bộ luật này, trường hợp vắng mặt phải vì lý do bất khả
kháng hoặc do trở ngại khách quan hoặc trường hợp khác do Bộ luật này
quy định. Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người
bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của
mình và tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước Tòa án.
Mọi
chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng, tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình
sự để xác định tội danh, quyết định hình phạt, mức bồi thường thiệt hại đối với
bị cáo, xử lý vật chứng và những tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết vụ án đều
phải được trình bày, tranh luận, làm rõ tại phiên tòa.
Bản
án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ
và kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
Điều 27. Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm
1.
Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm.
Bản
án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định
của Bộ luật này. Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
trong thời hạn do Bộ luật này quy định thì có hiệu lực pháp luật.
Bản
án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc
thẩm. Bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2.
Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm
pháp luật nghiêm trọng hoặc có tình tiết mới theo quy định của Bộ luật này thì
được xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
Điều 28. Bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án
1.
Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức,
cá nhân tôn trọng. Cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp
hành.
2.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của mình, cơ quan, tổ chức, cá nhân
có trách nhiệm phối hợp, tạo điều kiện và thực hiện yêu cầu của cơ quan, tổ chức,
cá nhân có nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định của Tòa án.
Điều 29. Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hình sự
Tiếng
nói và chữ viết dùng trong tố tụng hình sự là tiếng Việt. Người tham gia tố tụng
có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình, trường hợp này phải có
phiên dịch.
Điều 30. Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự
Việc
giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết
vụ án hình sự. Trường hợp vụ án hình sự phải giải quyết vấn đề bồi thường
thiệt hại, bồi hoàn mà chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc
giải quyết vụ án hình sự thì vấn đề dân sự có thể tách ra để giải quyết theo thủ
tục tố tụng dân sự.
Điều 31. Bảo đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại
trong hoạt động tố tụng hình sự
1.
Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án oan, trái pháp luật có quyền được bồi
thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự.
Nhà
nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi cho người
bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều
tra, truy tố, xét xử, thi hành án oan, trái pháp luật do cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng gây ra.
2.
Người khác bị thiệt hại do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây
ra có quyền được Nhà nước bồi thường thiệt hại.
Điều 32. Bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình
sự
Cá nhân, cơ quan, tổ chức
có quyền khiếu nại, cá nhân có quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt
động tố tụng hình sự của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc của
bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan đó.
Cơ
quan, người có thẩm quyền phải tiếp nhận, xem xét và giải quyết khiếu nại, tố
cáo kịp thời, đúng pháp luật; gửi văn bản kết quả giải quyết cho người khiếu nại,
tố cáo, cơ quan, tổ chức khiếu nại và có biện pháp khắc phục.
Trình
tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo do Bộ luật này quy định.
Nghiêm
cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo
để vu khống người khác.
Điều 33. Kiểm tra, giám sát trong tố tụng hình sự
1.
Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thường xuyên kiểm tra việc
tiến hành các hoạt động tố tụng thuộc thẩm quyền; thực hiện kiểm soát giữa các
cơ quan trong việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều
tra, truy tố, xét xử, thi hành án.
2.
Cơ quan nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của
Mặt trận, đại biểu dân cử có quyền giám sát hoạt động của cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ
quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Nếu
phát hiện hành vi trái pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng thì cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử có quyền yêu cầu, Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có quyền kiến nghị với cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xem xét, giải quyết theo quy định của Bộ
luật này. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xem xét, giải quyết và
trả lời kiến nghị, yêu cầu đó theo quy định của pháp luật.
Chương III
CƠ QUAN CÓ THẨM QUYỀN TIẾN
HÀNH TỐ TỤNG, NGƯỜI CÓ THẨM QUYỀN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG
Điều 34. Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng
1. Cơ quan tiến hành tố tụng
gồm:
a)
Cơ quan điều tra;
b)
Viện kiểm sát;
c)
Tòa án.
2.
Người tiến hành tố tụng gồm:
a)
Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra;
b)
Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên;
c)
Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án, Thẩm tra
viên.
Điều 35. Cơ quan và người được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra
1. Cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra gồm:
a)
Các cơ quan của Bộ đội biên phòng;
b)
Các cơ quan của Hải quan;
c)
Các cơ quan của Kiểm lâm;
d)
Các cơ quan của lực lượng Cảnh sát biển;
đ)
Các cơ quan của Kiểm ngư;
e)
Các cơ quan của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra;
g)
Các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra.
Các
cơ quan cụ thể được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra quy định tại khoản này được quy định tại Luật Tổ chức cơ quan điều
tra hình sự.
2.
Người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra gồm:
a)[12] Người được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra của Bộ đội biên phòng gồm Cục trưởng, Phó Cục
trưởng Cục Trinh sát; Cục trưởng, Phó Cục trưởng Cục Phòng, chống ma túy và tội phạm; Đoàn trưởng, Phó Đoàn trưởng Đoàn Trinh sát; Đoàn trưởng, Phó Đoàn trưởng Đoàn Đặc nhiệm phòng, chống ma
túy và tội phạm; Chỉ huy trưởng, Phó Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Bộ đội biên
phòng; Đồn trưởng, Phó Đồn trưởng Đồn biên phòng; Chỉ huy trưởng, Phó Chỉ huy
trưởng Biên phòng Cửa khẩu cảng;
b)[13] Người được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra của Hải quan gồm Chi cục trưởng, Phó Chi cục
trưởng Chi cục Điều tra chống buôn lậu; Chi cục trưởng, Phó Chi cục trưởng Chi
cục kiểm tra sau thông quan; Chi cục trưởng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Hải
quan khu vực; Đội
trưởng, Phó Đội trưởng Hải quan cửa khẩu;
c)[14] Người được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra của Kiểm lâm gồm Cục trưởng, Phó Cục trưởng Cục
Lâm nghiệp và Kiểm lâm; Chi cục trưởng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm
vùng, Chi cục trưởng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm; Hạt trưởng, Phó Hạt
trưởng Hạt Kiểm lâm;
d)[15] Người được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra của lực lượng Cảnh sát biển gồm Tư lệnh, Phó Tư
lệnh Cảnh sát biển; Tư lệnh vùng, Phó Tư lệnh vùng Cảnh sát biển; Cục trưởng,
Phó Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và pháp luật; Đoàn trưởng, Phó Đoàn trưởng Đoàn
Trinh sát; Đoàn trưởng, Phó Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma
túy; Hải đoàn trưởng, Phó Hải đoàn trưởng; Hải đội trưởng, Phó Hải đội trưởng;
Đội trưởng, Phó Đội trưởng Đội nghiệp vụ Cảnh sát biển;
đ)[16] Người được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra của Kiểm ngư gồm Cục trưởng, Phó Cục trưởng Cục
Thủy sản và Kiểm ngư; Chi cục trưởng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng;
e)[17] Người được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra của các cơ quan khác trong Công an nhân dân gồm
Cục trưởng, Phó Cục trưởng, Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng các cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Công an nhân dân, Giám
thị, Phó Giám thị Trại giam theo quy định của Luật Tổ chức cơ quan điều
tra hình sự;
g) Người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra của các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân gồm Giám thị, Phó Giám thị Trại
giam; Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương;
h) Cán bộ điều tra thuộc các cơ quan quy định tại khoản 1 Điều
này.
Điều 36. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra
1. Thủ trưởng
Cơ quan điều tra có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Trực tiếp tổ chức và chỉ đạo việc thụ lý, giải quyết nguồn
tin về tội phạm, việc khởi tố, điều tra của Cơ quan điều tra;
b) Quyết định phân công hoặc thay đổi Phó Thủ trưởng Cơ
quan điều tra, thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm, kiểm tra việc khởi tố,
điều tra vụ án hình sự của Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra; quyết định thay đổi
hoặc hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Phó Thủ trưởng
Cơ quan điều tra.
c) Quyết định phân công hoặc thay đổi Điều tra viên, Cán bộ
điều tra; kiểm tra các hoạt động thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi
tố, điều tra vụ án hình sự của Điều tra viên, Cán bộ điều tra; quyết định thay
đổi hoặc hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Điều tra
viên.
d) Giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Cơ
quan điều tra.
Khi vắng mặt, Thủ trưởng Cơ quan điều tra ủy quyền cho một
Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng Cơ
quan điều tra. Phó Thủ trưởng chịu trách nhiệm trước Thủ trưởng về nhiệm vụ được
ủy quyền.
2. Khi tiến hành tố tụng hình sự, Thủ trưởng Cơ quan điều
tra có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm, kiến nghị khởi tố; quyết định khởi tố, không khởi tố, bổ sung hoặc
thay đổi quyết định khởi tố vụ án; quyết định khởi tố, bổ sung hoặc thay đổi
quyết định khởi tố bị can; quyết định nhập hoặc tách vụ án; quyết định ủy thác điều
tra;
b) Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn,
biện pháp cưỡng chế, biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt theo quy định của Bộ
luật này;
c) Quyết định truy nã, đình nã bị can, khám xét, thu giữ, tạm
giữ, xử lý vật chứng;
d) Quyết định trưng cầu giám định, giám định bổ sung hoặc
giám định lại, khai quật tử thi, thực nghiệm điều tra, thay đổi hoặc yêu cầu
thay đổi người giám định. Yêu cầu định giá, định giá lại tài sản, yêu cầu thay
đổi người định giá tài sản.
đ) Trực tiếp kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm và tiến
hành các biện pháp điều tra;
e) Kết luận điều tra vụ án;
g) Quyết định tạm đình chỉ điều tra, đình chỉ điều tra, phục
hồi điều tra vụ án, bị can;
h) Ra các lệnh, quyết định và tiến hành các hoạt động tố tụng
khác thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra.
3. Khi được phân công tiến hành việc khởi tố, điều tra vụ
án hình sự, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra có những nhiệm vụ, quyền hạn quy định
tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, trừ quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.
Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra không được giải quyết khiếu nại, tố
cáo về hành vi, quyết định của mình.
4.[18] Thủ trưởng, Phó Thủ
trưởng Cơ quan điều tra phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết
định của mình. Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra không được ủy quyền
cho Điều tra viên thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, trừ trường hợp quy định
tại khoản 1a Điều 37 của Bộ luật này.
Điều 37. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Điều
tra viên
1. Điều tra
viên được phân công tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự có những
nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Trực tiếp kiểm tra, xác minh và lập hồ sơ giải quyết nguồn
tin về tội phạm;
b) Lập hồ sơ vụ án hình sự;
c) Yêu cầu hoặc đề nghị cử, thay đổi người bào chữa; yêu cầu
cử, thay đổi người phiên dịch, người dịch thuật;
d) Triệu tập và hỏi cung bị can; triệu tập và lấy lời khai
người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, kiến nghị khởi tố, người
đại diện theo pháp luật của pháp nhân; lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp
khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ; triệu tập và lấy lời khai của người
làm chứng, bị hại, đương sự;
đ) Quyết định áp giải người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp,
người bị bắt, bị tạm giữ, bị can; quyết định dẫn giải người làm chứng, người
bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại;[19]
e) Thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh
hoặc quyết định bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài
sản, phong tỏa tài khoản, xử lý vật chứng;
g) Tiến hành khám nghiệm hiện trường, khai quật tử thi,
khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể, đối chất, nhận dạng, thực
nghiệm điều tra;
h) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tố tụng khác thuộc
thẩm quyền của Cơ quan điều tra theo sự phân công của Thủ trưởng Cơ quan điều tra
theo quy định của Bộ luật này.
1a.[20] Điều tra viên
trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Trưởng Công an cấp xã hoặc Phó Trưởng Công
an cấp xã được Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh phân công tiến hành hoạt động
khởi tố, điều tra vụ án về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng xảy ra trên địa
bàn cấp xã có nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều này, các điểm a, c khoản 1 và khoản 2 Điều 36 của Bộ luật này, trừ quyết
định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.
Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao quy định chi tiết khoản này.
2. Điều tra viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước
Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra về hành vi, quyết định của mình.
Điều 38. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
Cán bộ điều tra của Cơ quan điều tra
1. Cán bộ điều
tra thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây theo sự phân công của Điều tra
viên:
a) Ghi biên bản lấy lời khai, ghi biên bản hỏi cung và ghi
các biên bản khác khi Điều tra viên tiến hành kiểm tra, xác minh nguồn tin về
tội phạm và điều tra vụ án hình sự;
b) Giao, chuyển, gửi các lệnh, quyết định và các văn bản tố
tụng khác theo quy định của Bộ luật này;
c) Giúp Điều tra viên trong việc lập hồ sơ giải quyết
nguồn tin về tội phạm, hồ sơ vụ án và thực hiện hoạt động tố tụng khác.
2. Cán bộ điều tra phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và
trước Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên về hành vi của
mình.
Điều 39. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
cấp trưởng, cấp phó, cán bộ điều tra của các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải
quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra
1. Cấp trưởng
các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quy định tại
các điểm a, b, c, d và đ khoản 2 Điều 35 của Bộ luật này có
những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Trực tiếp chỉ đạo hoạt động thụ lý, giải quyết nguồn tin
về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự theo thẩm quyền;
b) Quyết định phân công hoặc thay đổi cấp phó, cán bộ điều
tra trong việc thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ
án hình sự;
c) Kiểm tra hoạt động thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội
phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự của cấp phó và cán bộ điều tra;
d) Quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ quyết định không có căn
cứ và trái pháp luật của cấp phó, cán bộ điều tra;
đ)[21] (được bãi bỏ)
Khi vắng mặt, cấp trưởng ủy quyền cho một cấp phó được thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cấp trưởng. Cấp phó chịu trách nhiệm trước cấp trưởng
về nhiệm vụ được ủy quyền. Cấp trưởng, cấp phó không được ủy quyền cho cán bộ điều
tra thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
2. Khi tiến hành tố tụng hình sự đối với tội phạm ít nghiêm
trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lý lịch người phạm tội rõ
ràng, những người quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 2 Điều
35 của Bộ luật này có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật từ những người có
liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm;
b) Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm, kiến nghị khởi tố; quyết định khởi tố, không khởi tố, thay đổi hoặc
bổ sung quyết định khởi tố vụ án; quyết định khởi tố, thay đổi hoặc bổ sung quyết
định khởi tố bị can;
c) Trực tiếp tổ chức và chỉ đạo việc khám nghiệm hiện trường;
d) Quyết định trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản;
quyết định khám xét, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan
trực tiếp đến vụ án;
đ) Triệu tập và hỏi cung bị can; triệu tập và lấy lời khai
bị hại, đương sự; triệu tập và lấy lời khai người tố giác, báo tin về tội phạm,
người bị tố giác, kiến nghị khởi tố; triệu tập và lấy lời khai người làm chứng;
lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp;
e) Quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng
chế theo quy định của Bộ luật này;
g) Kết luận điều tra, đề nghị truy tố hoặc kết luận điều
tra và quyết định đình chỉ điều tra; quyết định tạm đình chỉ điều tra; quyết định
phục hồi điều tra.
3. Khi tiến hành tố tụng hình sự đối với tội phạm nghiêm trọng,
rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức
tạp, những người được quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản
2 Điều 35 của Bộ luật này có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật từ những người có
liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm;
b) Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm, kiến nghị khởi tố; quyết định khởi tố, không khởi tố, thay đổi hoặc
bổ sung quyết định khởi tố vụ án;
c) Quyết định khám xét, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng,
tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án;
d) Triệu tập và lấy lời khai người làm chứng, bị hại,
đương sự.
4. Cán bộ điều tra có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm; lấy lời khai
của những người có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm;
b) Lập hồ sơ vụ án hình sự;
c) Hỏi cung bị can; lấy lời khai người tố giác, báo tin về
tội phạm, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong
trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, người làm chứng, bị hại,
đương sự;
d) Tiến hành khám nghiệm hiện trường; thi hành lệnh khám
xét, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ
án.
5. Trong phạm vi trách nhiệm của mình, cấp trưởng, cấp phó,
cán bộ điều tra của các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm,
lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định
của mình. Cấp trưởng, cấp phó không được ủy quyền cho cán bộ điều tra thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Điều 40. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
cấp trưởng, cấp phó, cán bộ điều tra của các cơ quan khác của Công an nhân
dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
1. Cấp trưởng các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra quy định tại điểm e và điểm g khoản 2 Điều
35 của Bộ luật này có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Trực tiếp chỉ đạo hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình
sự theo thẩm quyền;
b) Quyết định phân công hoặc thay đổi cấp phó, cán bộ điều
tra trong việc khởi tố, điều tra vụ án hình sự;
c) Kiểm tra hoạt động thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội
phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự của cấp phó và cán bộ điều tra;
d) Quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ quyết định không có căn
cứ và trái pháp luật của cấp phó, cán bộ điều tra.
Khi cấp trưởng vắng mặt, một cấp phó được ủy quyền thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn của cấp trưởng và chịu trách nhiệm trước cấp trưởng về nhiệm
vụ được ủy quyền.
2. Khi tiến hành tố tụng hình sự, những người được quy định
tại điểm e và điểm g khoản 2 Điều 35 của Bộ luật này có những
nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật từ những người có
liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm;
b) Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội
phạm; quyết định khởi tố, không khởi tố, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi
tố vụ án;
c) Trực tiếp tổ chức và chỉ đạo việc khám nghiệm hiện trường;
d) Quyết định khám xét, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng,
tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án;
đ) Triệu tập và lấy lời khai người tố giác, báo tin về tội
phạm, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người làm chứng, bị hại,
đương sự.
3. Cán bộ điều tra có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm; lấy lời khai
của những người có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm;
b) Lập hồ sơ vụ án hình sự;
c) Lấy lời khai người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị
tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người làm chứng, bị hại, đương sự;
d) Tiến hành khám nghiệm hiện trường; thi hành lệnh khám
xét, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ
án;
đ) Giao, gửi các lệnh, quyết định và các văn bản tố tụng
khác theo quy định của Bộ luật này.
4. Trong phạm vi trách nhiệm của mình, cấp trưởng, cấp phó,
cán bộ điều tra của các cơ quan của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải chịu trách nhiệm trước
pháp luật về hành vi, quyết định của mình. Cấp trưởng, cấp phó không được ủy
quyền cho cán bộ điều tra thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Điều 41. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát
1. Viện trưởng
Viện kiểm sát có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Trực tiếp tổ chức và chỉ đạo hoạt động thực hành quyền
công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự;
b) Quyết định phân công hoặc thay đổi Phó Viện trưởng Viện
kiểm sát; kiểm tra hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong tố tụng hình sự của Phó Viện trưởng Viện kiểm sát; quyết định
thay đổi hoặc hủy bỏ quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Phó Viện
trưởng Viện kiểm sát;
c) Quyết định phân công hoặc thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm
tra viên; kiểm tra hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong tố tụng hình sự của Kiểm sát viên, Kiểm tra viên; quyết định
thay đổi hoặc hủy bỏ quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Kiểm sát
viên;
d) Quyết định rút, đình chỉ hoặc hủy bỏ quyết định không có
căn cứ và trái pháp luật của Viện kiểm sát cấp dưới;
đ) Giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Viện
kiểm sát.
Khi vắng mặt, Viện trưởng Viện kiểm sát ủy quyền cho một
Phó Viện trưởng Viện kiểm sát thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng và
chịu trách nhiệm trước Viện trưởng Viện kiểm sát về nhiệm vụ được ủy quyền.
2. Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự, Viện trưởng Viện kiểm sát có những
nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi
tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; quyết
định khởi tố, không khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố
bị can theo quy định của Bộ luật này;
b) Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội
phạm; quyết định khởi tố, không khởi tố, bổ sung hoặc thay đổi quyết định khởi
tố vụ án; quyết định khởi tố, bổ sung hoặc thay đổi quyết định khởi tố bị can;
quyết định nhập, tách vụ án;
c) Quyết định
áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, biện pháp điều
tra tố tụng đặc biệt; quyết định việc gia hạn kiểm tra và xác minh nguồn tin về
tội phạm, gia hạn tạm giữ, gia hạn điều tra, gia hạn tạm giam, gia hạn truy tố;
d) Quyết định khám xét, thu giữ, tạm giữ, xử lý vật chứng;
đ) Quyết định trưng cầu giám định, giám định bổ sung hoặc
giám định lại, thực nghiệm điều tra; thay đổi hoặc yêu cầu thay đổi người giám
định. Yêu cầu định giá, định giá lại tài sản, yêu cầu thay đổi người định giá tài
sản;
e) Yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra, cấp trưởng cơ quan
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thay đổi Điều tra viên,
Cán bộ điều tra;
g) Phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định, lệnh của Cơ
quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;
h) Quyết định hủy bỏ các quyết định, lệnh không có căn cứ
và trái pháp luật của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra;
i) Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết nguồn tin
về tội phạm, khởi tố, điều tra; quyết định chuyển vụ án;
k) Quyết định áp dụng, đình chỉ biện pháp bắt buộc chữa bệnh;
l) Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn hoặc hủy bỏ quyết định
áp dụng thủ tục rút gọn;
m) Quyết định truy tố bị can, trả hồ sơ để điều tra bổ sung
hoặc điều tra lại;
n) Yêu cầu phục hồi điều tra; quyết định tạm đình chỉ hoặc
đình chỉ vụ án, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với bị can; quyết định hủy
bỏ quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm; quyết định
phục hồi điều tra vụ án, phục hồi điều tra đối với bị can, phục hồi vụ án, phục
hồi vụ án đối với bị can;
o) Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm
bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của Bộ luật này;
p) Thực hiện quyền kiến nghị theo quy định của pháp luật;
q) Ban hành quyết định, lệnh và tiến hành các hoạt động tố
tụng khác thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát.
3. Khi được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát
có những nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, trừ quy
định tại điểm b khoản 1 Điều này. Phó Viện trưởng Viện kiểm sát không
được giải quyết khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của mình.
4.[22] Viện trưởng, Phó Viện
trưởng Viện kiểm sát phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định
của mình. Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát không được ủy quyền cho Kiểm
sát viên thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, trừ trường hợp quy định tại khoản
5 Điều này.
5.[23] Trường hợp Viện Công tố
và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao giải quyết vụ án
thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể ủy quyền cho Kiểm sát
viên giữ chức vụ Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện Công tố và Kiểm sát xét xử
phúc thẩm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại điểm a khoản
1 và điểm p khoản 2 Điều này; kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản án, quyết định
của Tòa án theo quy định của Bộ luật
này;
b) Quyết định phân công hoặc thay đổi Phó Viện trưởng
Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên; kiểm
tra hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của
Phó Viện trưởng Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm, Kiểm sát viên, Kiểm
tra viên;
c) Quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ quyết định không có căn
cứ và trái pháp luật của Phó Viện trưởng Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc
thẩm, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên.
Điều 42. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm
sát viên
1. Kiểm sát viên
được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong tố tụng hình sự có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm
của cơ quan, người có thẩm quyền;
b) Trực tiếp giải quyết và lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về
tội phạm;
c) Kiểm sát việc thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm,
khởi tố, áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; kiểm sát việc lập hồ
sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm, việc lập hồ sơ vụ án của cơ quan, người
có thẩm quyền điều tra; kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra của Cơ quan điều
tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;
d) Trực tiếp kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám
nghiệm tử thi, đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, thực nghiệm điều tra,
khám xét;
đ) Kiểm sát việc tạm đình chỉ, phục hồi việc giải quyết
nguồn tin về tội phạm; việc tạm đình chỉ điều tra, đình chỉ điều tra, phục
hồi điều tra, kết thúc điều tra;
e) Đề ra yêu cầu điều tra; yêu cầu Cơ quan điều tra truy
nã, đình nã bị can;
g) Triệu tập và hỏi cung bị can; triệu tập và lấy lời khai
người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi
tố, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, người làm chứng, bị hại, đương
sự; lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp;
h) Quyết định áp giải người bị bắt, bị can; quyết định dẫn
giải người làm chứng, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị
hại;[24]
i) Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định
của Bộ luật này;
k) Yêu cầu thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
yêu cầu hoặc đề nghị cử, thay đổi người bào chữa; yêu cầu cử, đề nghị thay đổi
người phiên dịch, người dịch thuật;
l) Tiến hành tố tụng tại phiên tòa; công bố cáo trạng hoặc
quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, các quyết định khác của Viện kiểm sát
về việc buộc tội đối với bị cáo; xét hỏi, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ
vật, luận tội, tranh luận, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án tại
phiên tòa, phiên họp;
m) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn xét xử
của Tòa án và những người tham gia tố tụng; kiểm sát bản án, quyết định và các
văn bản tố tụng khác của Tòa án;
n) Kiểm sát việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án;
o) Thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị theo quy định của
pháp luật;
p) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tố tụng khác thuộc
thẩm quyền của Viện kiểm sát theo sự phân công của Viện trưởng Viện kiểm sát
theo quy định của Bộ luật này.
1a.[25] Kiểm sát viên giữ chức vụ Viện
trưởng Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao
có quyền giải quyết khiếu nại theo quy định của Bộ luật này.
2. Kiểm sát viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và
trước Viện trưởng Viện kiểm sát, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát về hành vi, quyết
định của mình.
Điều 43. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm
tra viên
1. Kiểm tra viên
thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây theo sự phân công của Kiểm sát viên:
a) Ghi biên bản lấy lời khai, ghi biên bản hỏi cung và ghi
các biên bản khác trong tố tụng hình sự;
b) Giao, chuyển, gửi các lệnh, quyết định và các văn bản tố
tụng khác theo quy định của Bộ luật này;
c) Giúp Kiểm sát viên trong việc lập hồ sơ kiểm sát, hồ sơ
giải quyết nguồn tin về tội phạm và tiến hành hoạt động tố tụng khác.
2. Kiểm tra viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và
trước Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát và Kiểm sát viên về hành vi của
mình.
Điều 44. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Chánh
án, Phó Chánh án Tòa án
1. Chánh án Tòa
án có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Trực tiếp tổ chức việc xét xử vụ án hình sự; quyết định
giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử;
b) Quyết định phân công Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội
thẩm giải quyết, xét xử vụ án hình sự; quyết định phân công Thư ký Tòa án tiến
hành tố tụng đối với vụ án hình sự; quyết định phân công Thẩm tra viên thẩm tra
hồ sơ vụ án hình sự;
c) Quyết định thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án
trước khi mở phiên tòa;
d) Ra quyết định thi hành án hình sự;
đ) Quyết định hoãn chấp hành án phạt tù;
e) Quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù;
g) Quyết định xoá án tích;
h) Giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Tòa án.
Khi vắng mặt, Chánh án Tòa án ủy quyền cho một Phó Chánh
án Tòa án thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án. Phó Chánh án Tòa án phải
chịu trách nhiệm trước Chánh án Tòa án về nhiệm vụ được ủy quyền.
2. Khi tiến hành việc giải quyết vụ án hình sự, Chánh án
Tòa án có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm
giam, xử lý vật chứng;
b) Quyết định áp dụng, đình chỉ biện pháp bắt buộc chữa bệnh;
c) Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn hoặc hủy bỏ quyết định
áp dụng thủ tục rút gọn;
d) Kiến nghị, kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án;
đ) Quyết định và tiến hành hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm
quyền của Tòa án;
e) Tiến hành hoạt động tố tụng khác theo quy định của
Bộ luật này.
3. Khi được phân công giải quyết, xét xử vụ án hình sự, Phó
Chánh án Tòa án có những nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều
này, trừ quy định tại điểm b khoản 1 Điều này. Phó Chánh án Tòa án
không được giải quyết khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của
mình.
4.[26] Chánh án, Phó Chánh án
Tòa án phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình. Chánh án, Phó Chánh án
Tòa án không được ủy quyền cho Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của
mình, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều này.
5.[27] Trường hợp Tòa Phúc thẩm Tòa
án nhân dân tối cao giải quyết vụ án thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có thể
ủy quyền cho Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Trực tiếp tổ chức việc xét xử vụ án hình sự
thuộc thẩm quyền;
b) Nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại điểm b khoản
2 Điều này;
c) Quyết định phân công Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm, Thẩm phán xét xử vụ án
hình sự; quyết định phân công Thư ký Tòa án tiến hành tố tụng đối với vụ án hình
sự; quyết định thay đổi Thẩm phán, Thư ký Tòa án trước
khi mở phiên tòa.
Điều 45. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
Thẩm phán
1. Thẩm phán
được phân công giải quyết, xét xử vụ án hình sự có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa;
b) Tiến hành xét xử vụ án;
c) Tiến hành hoạt động tố tụng và biểu quyết những vấn đề thuộc
thẩm quyền của Hội đồng xét xử;
d) Tiến hành hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của
Tòa án theo sự phân công của Chánh án Tòa án.
2. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có những nhiệm vụ, quyền hạn
quy định tại khoản 1 Điều này và những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn,
biện pháp cưỡng chế, trừ biện pháp tạm giam;
b) Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung;
c) Quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định đình chỉ hoặc
tạm đình chỉ vụ án;
d) Điều hành việc xét xử vụ án, tranh tụng tại phiên tòa;
đ) Quyết định trưng cầu giám định, giám định bổ sung hoặc
giám định lại, thực nghiệm điều tra; thay đổi hoặc yêu cầu thay đổi người giám
định; yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu thay đổi người định giá tài sản;
e) Yêu cầu hoặc đề nghị cử, thay đổi người bào chữa;[28] yêu cầu cử, thay đổi người phiên dịch, người dịch
thuật;
g) Quyết định triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên
tòa;
h) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tố tụng khác thuộc
thẩm quyền của Tòa án theo sự phân công của Chánh án Tòa án theo quy định của
Bộ luật này.
2a.[29] Thẩm phán giữ chức vụ Chánh
tòa, Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao có quyền áp dụng, thay
đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam, xử lý vật chứng; Thẩm phán giữ chức vụ Chánh
tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao có quyền giải quyết khiếu nại theo quy định của Bộ luật
này.
3. Thẩm phán phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành
vi, quyết định của mình.
Điều 46. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
Hội thẩm
1. Hội thẩm được
phân công xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa;
b) Tiến hành xét xử vụ án;
c) Tiến hành hoạt động tố tụng và biểu quyết những vấn đề
thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử.
2. Hội thẩm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành
vi, quyết định của mình.
Điều 47. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
Thư ký Tòa án
1. Thư ký Tòa
án được phân công tiến hành tố tụng đối với vụ án hình sự có những nhiệm vụ,
quyền hạn:
a) Kiểm tra sự có mặt của những người được Tòa án triệu tập;
nếu có người vắng mặt thì phải nêu lý do;
b) Phổ biến nội quy phiên tòa;
c) Báo cáo Hội đồng xét xử danh sách những người được triệu
tập đến phiên tòa và những người vắng mặt;
d) Ghi biên bản phiên tòa;
đ) Tiến hành hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của
Tòa án theo sự phân công của Chánh án Tòa án.
2. Thư ký Tòa án phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và
trước Chánh án Tòa án về hành vi của mình.
Điều 48. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
Thẩm tra viên
1. Thẩm tra
viên được phân công tiến hành tố tụng đối với vụ án hình sự có những nhiệm vụ,
quyền hạn:
a) Thẩm tra hồ sơ vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án đã
có hiệu lực pháp luật theo sự phân công của Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án;
b) Kết luận việc thẩm tra và báo cáo kết quả thẩm tra với
Chánh án Tòa án hoặc Phó Chánh án Tòa án;
c) Thẩm tra viên giúp Chánh án Tòa án thực hiện nhiệm vụ về
công tác thi hành án thuộc thẩm quyền của Tòa án và nhiệm vụ khác theo sự phân
công của Chánh án Tòa án hoặc Phó Chánh án Tòa án.
2. Thẩm tra viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và
trước Chánh án, Phó Chánh án Tòa án về hành vi của mình.
Điều 49. Các trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
Người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc
một trong các trường hợp:
1. Đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người
thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo;
2. Đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng,
người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật
trong vụ án đó;
3. Có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư
trong khi làm nhiệm vụ.
Điều 50. Người có quyền đề nghị thay đổi người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng
1. Kiểm sát
viên.
2. Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, bị hại, nguyên đơn dân
sự, bị đơn dân sự và người đại diện của họ.
3. Người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự.
Điều 51. Thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra
1. Điều tra
viên, Cán bộ điều tra phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc
một trong các trường hợp:
a) Trường hợp quy định tại Điều 49 của Bộ luật
này;
b) Đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Kiểm
sát viên, Kiểm tra viên, Thẩm phán, Hội thẩm, Thẩm tra viên hoặc Thư ký Tòa án.
2. Việc thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra do Thủ trưởng
hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra quyết định.
Điều tra viên bị thay đổi là Thủ trưởng Cơ quan điều tra
thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này thì việc điều tra
vụ án do Cơ quan điều tra cấp trên trực tiếp tiến hành.
Điều 52. Thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm tra viên
1. Kiểm sát
viên, Kiểm tra viên phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một
trong các trường hợp:
a) Trường hợp quy định tại Điều 49 của Bộ luật
này;
b) Đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Điều
tra viên, Cán bộ điều tra, Thẩm phán, Hội thẩm, Thẩm tra viên hoặc Thư ký Tòa
án.
2. Việc thay đổi Kiểm sát viên trước khi mở phiên tòa do Viện
trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp được phân công giải quyết vụ
án quyết định.
Kiểm sát viên bị thay đổi là Viện trưởng Viện kiểm sát thì
do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp quyết định.
Trường hợp phải thay đổi Kiểm sát viên tại phiên tòa thì Hội
đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa.
Điều 53. Thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm
1. Thẩm phán,
Hội thẩm phải từ chối tham gia xét xử hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các
trường hợp:
a) Trường hợp quy định tại Điều 49 của Bộ
luật này;
b) Họ cùng trong một Hội đồng xét xử và là người thân thích
với nhau;
c) Đã tham gia xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm hoặc tiến hành
tố tụng vụ án đó với tư cách là Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên,
Kiểm tra viên, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án.
2. Việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm trước khi mở phiên tòa
do Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án được phân công giải quyết vụ án quyết định.
Thẩm phán bị thay đổi là Chánh án Tòa án thì do Chánh án
Tòa án trên một cấp quyết định.
Việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm tại phiên tòa do Hội đồng
xét xử quyết định trước khi bắt đầu xét hỏi bằng cách biểu quyết tại phòng nghị
án. Khi xem xét thay đổi thành viên nào thì thành viên đó được trình bày ý kiến
của mình, Hội đồng quyết định theo đa số.
Trường hợp phải thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm tại phiên tòa
thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa.
Điều 54. Thay đổi Thư ký Tòa án
1. Thư ký Tòa
án phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường
hợp:
a) Trường hợp quy định tại Điều 49 của Bộ
luật này;
b) Đã tiến hành tố tụng vụ án đó với tư cách là Kiểm sát
viên, Kiểm tra viên, Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Thẩm phán, Hội thẩm, Thẩm
tra viên, Thư ký Tòa án.
2. Việc thay đổi Thư ký Tòa án trước khi mở phiên tòa do
Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án được phân công giải quyết vụ án quyết định.
Việc thay đổi Thư ký Tòa án tại phiên tòa do Hội đồng xét xử
quyết định.
Trường hợp phải thay đổi Thư ký Tòa án tại phiên tòa thì Hội
đồng xét xử ra quyết định tạm ngừng phiên tòa.
Chương IV
NGƯỜI THAM
GIA TỐ TỤNG
Điều 55. Người tham gia tố tụng
1. Người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
2. Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố.
3. Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp.
4. Người bị bắt.
5. Người bị tạm giữ.
6.
Bị can.
7.
Bị cáo.
8.
Bị hại.
9.
Nguyên đơn dân sự.
10.
Bị đơn dân sự.
11.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
12.
Người làm chứng.
13.
Người chứng kiến.
14.
Người giám định.
15.
Người định giá tài sản.
16.
Người phiên dịch, người dịch thuật.
17.
Người bào chữa.
18.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự.
19.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi
tố.
20.
Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân phạm tội, người đại diện khác
theo quy định của Bộ luật này.
Điều 56. Người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi
tố
1. Cá nhân đã tố giác,
báo tin về tội phạm; cơ quan, tổ chức đã báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi
tố có quyền:
a)
Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giữ bí mật việc tố giác, báo tin về tội phạm, kiến
nghị khởi tố, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản,
các quyền và lợi ích hợp pháp khác của họ, người thân thích của họ khi bị đe
dọa;
b)
Được thông báo kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi
tố;
c)
Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm,
kiến nghị khởi tố.
2.
Cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 1 Điều này phải có mặt theo yêu cầu
của cơ quan có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm, trình bày trung thực
về những tình tiết mà mình biết về sự việc.
Điều 57. Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố
1. Người bị tố giác,
người bị kiến nghị khởi tố có quyền:
a)
Được thông báo về hành vi bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố;
b)
Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
c)
Trình bày lời khai, trình bày ý kiến;
d)
Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
đ)
Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
e)
Tự bảo vệ hoặc nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;
g)
Được thông báo kết quả giải quyết tố giác, kiến nghị khởi tố;
h)
Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng.
2.
Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố phải có mặt theo yêu cầu của cơ
quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, kiến nghị khởi tố.
Điều 58. Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt
1. Người bị giữ trong trường
hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang và người bị bắt
theo quyết định truy nã có quyền:
a)
Được nghe, nhận lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh bắt người bị giữ
trong trường hợp khẩn cấp, quyết định phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường
hợp khẩn cấp, quyết định truy nã;
b)
Được biết lý do mình bị giữ, bị bắt;
c)
Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
d)
Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại
chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội;
đ)
Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
e)
Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm
quyền tố tụng kiểm tra, đánh giá;
g)
Tự bào chữa, nhờ người bào chữa;
h)
Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng trong việc giữ người, bắt người.
2.
Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt có nghĩa vụ chấp hành lệnh
giữ người, lệnh bắt người và yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền giữ người,
bắt người theo quy định của Bộ luật này.
Điều 59. Người bị tạm giữ
1. Người bị tạm giữ là
người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả
tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối
với họ đã có quyết định tạm giữ.
2.
Người bị tạm giữ có quyền:
a)
Được biết lý do mình bị tạm giữ; nhận quyết định tạm giữ, quyết định gia hạn tạm
giữ, quyết định phê chuẩn quyết định gia hạn tạm giữ và các quyết định tố tụng
khác theo quy định của Bộ luật này;
b)
Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
c)
Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại
chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội;
d)
Tự bào chữa, nhờ người bào chữa;
đ)
Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
e)
Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
g)
Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng về việc tạm giữ.
3.
Người bị tạm giữ có nghĩa vụ chấp hành các quy định của Bộ luật này và
Luật thi hành tạm giữ, tạm giam.
Điều 60. Bị can
1. Bị can là người hoặc
pháp nhân bị khởi tố về hình sự. Quyền và nghĩa vụ của bị can là pháp nhân được
thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của
Bộ luật này.
2.
Bị can có quyền:
a)
Được biết lý do mình bị khởi tố;
b)
Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
c)
Nhận quyết định khởi tố bị can; quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố
bị can, quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, quyết định phê chuẩn
quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can; quyết định áp dụng,
thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; bản kết luận điều
tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình
chỉ vụ án; bản cáo trạng, quyết định truy tố và các quyết định tố tụng khác
theo quy định của Bộ luật này;
d)
Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại
chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội;
đ)
Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
e) Trình
bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
g)
Đề nghị giám định, định giá tài sản; đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người
dịch thuật;
h)
Tự bào chữa, nhờ người bào chữa;
i)
Đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc
tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa kể từ khi kết
thúc điều tra khi có yêu cầu;
k)
Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng.
3.
Bị can có nghĩa vụ:
a)
Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Trường hợp
vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có
thể bị áp giải, nếu bỏ trốn thì bị truy nã;
b)
Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
4.
Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi
tiết trình tự, thủ tục, thời hạn, địa điểm bị can đọc, ghi chép bản sao tài liệu
hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài
liệu khác liên quan đến việc bào chữa khi bị can có yêu cầu quy định tại điểm i
khoản 2 Điều này.
Điều 61. Bị cáo
1. Bị cáo là người hoặc
pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Quyền và nghĩa vụ của bị cáo
là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp
nhân theo quy định của Bộ luật này.
2.
Bị cáo có quyền:
a)
Nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện
pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; quyết định đình chỉ vụ án; bản án, quyết định
của Tòa án và các quyết định tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này;
b)
Tham gia phiên tòa;
c)
Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
d)
Đề nghị giám định, định giá tài sản; đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người
dịch thuật; đề nghị triệu tập người làm chứng, bị hại, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người giám định, người định giá tài sản, người
tham gia tố tụng khác và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tham
gia phiên tòa;
đ)
Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
e)
Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
g)
Tự bào chữa, nhờ người bào chữa;
h)
Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại
chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội;
i)
Đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi hoặc tự mình hỏi người tham gia phiên tòa nếu được
chủ tọa đồng ý; tranh luận tại phiên tòa;
k)
Nói lời sau cùng trước khi nghị án;
l)
Xem biên bản phiên tòa, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên
tòa;
m)
Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án;
n)
Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng;
o)
Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
3.
Bị cáo có nghĩa vụ:
a)
Có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Trường hợp vắng mặt không vì lý do bất khả
kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể bị áp giải; nếu bỏ trốn thì
bị truy nã;
b)
Chấp hành quyết định, yêu cầu của Tòa án.
Điều 62. Bị hại
1. Bị hại là cá nhân trực
tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị
thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra.
2.
Bị hại hoặc người đại diện của họ có quyền:
a)
Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
b)
Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
c)
Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
d)
Đề nghị giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật;
đ)
Được thông báo kết quả điều tra, giải quyết vụ án;
e)
Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người
định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;
g)
Đề nghị hình phạt, mức bồi thường thiệt hại, biện pháp bảo đảm bồi thường;
h)
Tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo và
người khác tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa;
i)
Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;
k)
Tham gia các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này;
l)
Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo vệ tính mạng, sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình, người
thân thích của mình khi bị đe dọa;
m)
Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án;
n)
Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng;
o)
Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
3.
Trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì bị hại hoặc người đại
diện của họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa.
4.
Bị hại có nghĩa vụ:
a)
Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; trường hợp
cố ý vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan
thì có thể bị dẫn giải;
b)
Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
5.
Trường hợp bị hại chết, mất tích, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự thì người đại diện thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bị hại quy định tại
Điều này.
Cơ
quan, tổ chức là bị hại có sự chia, tách, sáp nhập, hợp nhất thì người đại
diện theo pháp luật hoặc tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ của cơ
quan, tổ chức đó có những quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều này.
Điều 63. Nguyên đơn dân sự
1. Nguyên đơn dân sự là cá
nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi
thường thiệt hại.
2.
Nguyên đơn dân sự hoặc người đại diện của họ có quyền:
a)
Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
b)
Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
c)
Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
d)
Được thông báo kết quả điều tra, giải quyết vụ án;
đ)
Yêu cầu giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật;
e)
Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người
định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;
g)
Đề nghị mức bồi thường thiệt hại, biện pháp bảo đảm bồi thường;
h)
Tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi người tham
gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
nguyên đơn; xem biên bản phiên tòa;
i)
Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;
k)
Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng;
l)
Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về phần bồi thường thiệt hại;
m)
Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
3.
Nguyên đơn dân sự có nghĩa vụ:
a)
Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
b)
Trình bày trung thực những tình tiết liên quan đến việc bồi thường thiệt hại;
c)
Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Điều 64. Bị đơn dân sự
1. Bị đơn dân sự là cá
nhân, cơ quan, tổ chức mà pháp luật quy định phải chịu trách nhiệm bồi thường
thiệt hại.
2.
Bị đơn dân sự hoặc người đại diện của họ có quyền:
a)
Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
b)
Chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn dân sự;
c)
Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
d)
Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
đ)
Yêu cầu giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật;
e)
Được thông báo kết quả điều tra, giải quyết vụ án có liên quan đến việc đòi bồi
thường thiệt hại;
g)
Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người
định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;
h)
Tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi người tham
gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
bị đơn; xem biên bản phiên tòa;
i)
Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;
k)
Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng;
l)
Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về phần bồi thường thiệt hại;
m)
Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
3.
Bị đơn dân sự có nghĩa vụ:
a)
Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
b)
Trình bày trung thực những tình tiết liên quan đến việc bồi thường thiệt hại;
c)
Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Điều 65. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
1. Người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến vụ án là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đến vụ án hình sự.
2.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện của họ có
quyền:
a)
Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
b)
Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
c)
Yêu cầu giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật;
d)
Tham gia phiên tòa; phát biểu ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi những người
tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình; xem biên bản phiên tòa;
đ)
Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;
e)
Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
g)
Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến
quyền lợi, nghĩa vụ của mình;
h)
Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng;
i)
Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
3.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có nghĩa vụ:
a)
Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
b)
Trình bày trung thực những tình tiết liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình;
c)
Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Điều 66. Người làm chứng
1. Người làm chứng là người
biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và được
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng.
2.
Những người sau đây không được làm chứng:
a)
Người bào chữa của người bị buộc tội;
b)
Người do nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức được
những tình tiết liên quan nguồn tin về tội phạm, về vụ án hoặc không có khả
năng khai báo đúng đắn.
3.
Người làm chứng có quyền:
a)
Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
b)
Yêu cầu cơ quan triệu tập bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản
và quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe
dọa;
c)
Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng liên quan đến việc mình tham gia làm chứng;
d)
Được cơ quan triệu tập thanh toán chi phí đi lại và những chi phí khác theo quy
định của pháp luật.
4.
Người làm chứng có nghĩa vụ:
a)
Có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Trường hợp
cố ý vắng mặt mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan
và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc giải quyết nguồn tin về tội phạm,
khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử thì có thể bị dẫn giải;
b)
Trình bày trung thực những tình tiết mà mình biết liên quan đến nguồn tin về tội
phạm, về vụ án và lý do biết được những tình tiết đó.
5.
Người làm chứng khai báo gian dối hoặc từ chối khai báo, trốn tránh việc khai
báo mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì phải
chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.
6.
Cơ quan, tổ chức nơi người làm chứng làm việc hoặc học tập có trách nhiệm tạo điều
kiện để họ tham gia tố tụng.
Điều
67. Người chứng kiến
1. Người chứng kiến là
người được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu chứng kiến việc tiến
hành hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này.
2.
Những người sau đây không được làm người chứng kiến:
a)
Người thân thích của người bị buộc tội, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
b)
Người do nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức
đúng sự việc;
c)
Người dưới 18 tuổi;
d)
Có lý do khác cho thấy người đó không khách quan.
3.
Người chứng kiến có quyền:
a)
Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
b)
Yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tuân thủ quy định của pháp luật,
bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và quyền, lợi ích hợp
pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa;
c)
Xem biên bản tố tụng, đưa ra nhận xét về hoạt động tố tụng mà mình chứng kiến;
d)
Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng liên quan đến việc mình tham gia chứng kiến;
đ)
Được cơ quan triệu tập thanh toán chi phí theo quy định của pháp luật.
4.
Người chứng kiến có nghĩa vụ:
a)
Có mặt theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
b)
Chứng kiến đầy đủ hoạt động tố tụng được yêu cầu;
c)
Ký biên bản về hoạt động mà mình chứng kiến;
d)
Giữ bí mật về hoạt động điều tra mà mình chứng kiến;
đ)
Trình bày trung thực những tình tiết mà mình chứng kiến theo yêu cầu của cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Điều 68. Người giám định
1. Người giám định là người
có kiến thức chuyên môn về lĩnh vực cần giám định, được cơ quan có thẩm quyền
tiến hành tố tụng trưng cầu, người tham gia tố tụng yêu cầu giám định theo quy
định của pháp luật.
2.
Người giám định có quyền:
a)
Tìm hiểu tài liệu của vụ án có liên quan đến đối tượng phải giám định;
b)
Yêu cầu cơ quan trưng cầu, người tham gia tố tụng yêu cầu giám định cung cấp
tài liệu cần thiết cho việc kết luận;
c)
Tham dự vào việc hỏi cung, lấy lời khai và đặt câu hỏi về những vấn đề có liên
quan đến đối tượng giám định;
d)
Từ chối thực hiện giám định trong trường hợp thời gian không đủ để tiến hành
giám định, các tài liệu cung cấp không đủ hoặc không có giá trị để kết luận, nội
dung yêu cầu giám định vượt quá phạm vi hiểu biết chuyên môn của mình;
đ)
Ghi riêng ý kiến của mình vào bản kết luận chung nếu không thống nhất với
kết luận chung trong trường hợp giám định do tập thể giám định tiến hành;
e)
Các quyền khác theo quy định của Luật Giám định tư pháp.
3.
Người giám định có nghĩa vụ:
a)
Có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
b)
Giữ bí mật điều tra mà mình biết được khi thực hiện giám định;
c)
Các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật Giám định tư pháp.
4.
Người giám định kết luận gian dối hoặc từ chối kết luận giám định mà không vì
lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì phải chịu trách nhiệm
hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.
5.
Người giám định phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một
trong các trường hợp sau:
a)
Đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người thân thích của bị hại,
đương sự hoặc của bị can, bị cáo;
b)
Đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người phiên dịch,
người dịch thuật, người định giá tài sản trong vụ án đó;
c)
Đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó.
6.
Việc thay đổi người giám định do cơ quan trưng cầu giám định quyết định.
Điều 69. Người định giá tài sản
1. Người định giá tài sản
là người có kiến thức chuyên môn về lĩnh vực giá, được cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng, người tham gia tố tụng yêu cầu định giá tài sản theo quy định của
pháp luật.
2.
Người định giá tài sản có quyền:
a)
Tìm hiểu tài liệu của vụ án liên quan đến đối tượng phải định giá;
b)
Yêu cầu cơ quan yêu cầu định giá, người tham gia tố tụng yêu cầu định giá
cung cấp tài liệu cần thiết cho việc định giá;
c)
Từ chối thực hiện định giá trong trường hợp thời gian không đủ để tiến hành định
giá, các tài liệu cung cấp không đủ hoặc không có giá trị để định giá, nội dung
yêu cầu định giá vượt quá phạm vi hiểu biết chuyên môn của mình;
d)
Ghi ý kiến kết luận của mình vào bản kết luận chung nếu không thống nhất với kết
luận của Hội đồng định giá tài sản;
đ)
Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
3.
Người định giá tài sản có nghĩa vụ:
a)
Có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
b)
Giữ bí mật điều tra mà mình biết được khi thực hiện định giá tài sản;
c)
Các nghĩa vụ khác theo quy định của luật.
4.
Người định giá tài sản kết luận gian dối hoặc từ chối tham gia định giá mà không
vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì phải chịu trách
nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.
5.
Người định giá tài sản phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc
một trong các trường hợp:
a)
Đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người thân thích của bị hại,
đương sự hoặc của bị can, bị cáo;
b)
Đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định,
người phiên dịch, người dịch thuật trong vụ án đó;
c)
Đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó.
6.
Việc thay đổi người định giá tài sản do cơ quan yêu cầu định giá tài sản
quyết định.
Điều 70. Người phiên dịch, người dịch thuật
1. Người phiên dịch, người
dịch thuật là người có khả năng phiên dịch, dịch thuật và được cơ quan có thẩm
quyền tiến hành tố tụng yêu cầu trong trường hợp có người tham gia tố tụng
không sử dụng được tiếng Việt hoặc có tài liệu tố tụng không thể hiện bằng tiếng
Việt.
2.
Người phiên dịch, người dịch thuật có quyền:
a)
Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
b)
Đề nghị cơ quan yêu cầu bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản
và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi
bị đe dọa;
c)
Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng liên quan đến việc phiên dịch, dịch thuật;
d)
Được cơ quan yêu cầu chi trả thù lao phiên dịch, dịch thuật và các chế độ khác
theo quy định của pháp luật.
3.
Người phiên dịch, người dịch thuật có nghĩa vụ:
a)
Có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
b)
Phiên dịch, dịch thuật trung thực. Nếu phiên dịch, dịch thuật gian dối thì người
phiên dịch, người dịch thuật phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ
luật Hình sự;
c)
Giữ bí mật điều tra mà mình biết được khi phiên dịch, dịch thuật;
d)
Phải cam đoan trước cơ quan đã yêu cầu về việc thực hiện nghĩa vụ của mình.
4.
Người phiên dịch, người dịch thuật phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi
khi thuộc một trong các trường hợp:
a)
Đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người thân thích của bị hại,
đương sự hoặc của bị can, bị cáo;
b)
Đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định,
người định giá tài sản trong vụ án đó;
c)
Đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó.
5.
Việc thay đổi người phiên dịch, người dịch thuật do cơ quan yêu cầu phiên
dịch, dịch thuật quyết định.
6.
Những quy định tại Điều này cũng áp dụng đối với người biết được cử chỉ, hành
vi của người câm, người điếc, chữ của người mù.
Điều 71. Trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm thực
hiện quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng
1. Cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm thực hiện
quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật này.
Trường
hợp người bị buộc tội, người bị hại thuộc diện được trợ giúp pháp lý theo quy định
của Luật Trợ giúp pháp lý thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có
trách nhiệm giải thích cho họ quyền được trợ giúp pháp lý; nếu họ đề nghị được
trợ giúp pháp lý thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thông báo
cho Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.
2.
Việc thông báo, giải thích phải ghi vào biên bản.
Chương
V
BÀO CHỮA, BẢO VỆ QUYỀN VÀ
LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA BỊ HẠI, ĐƯƠNG SỰ
Điều 72. Người bào chữa
1. Người bào chữa là người
được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc
đăng ký bào chữa.
2.
Người bào chữa có thể là:
a)
Luật sư;
b)
Người đại diện của người bị buộc tội;
c)
Bào chữa viên nhân dân;
d)
Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được
trợ giúp pháp lý.
3.
Bào chữa viên nhân dân là công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, trung thành với
Tổ quốc, có phẩm chất đạo đức tốt, có kiến thức pháp lý, đủ sức khỏe bảo đảm
hoàn thành nhiệm vụ được giao, được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc tổ chức
thành viên của Mặt trận cử tham gia bào chữa cho người bị buộc tội là thành
viên của tổ chức mình.
4.
Những người sau đây không được bào chữa:
a)
Người đã tiến hành tố tụng vụ án đó; người thân thích của người đã hoặc đang tiến
hành tố tụng vụ án đó;
b)
Người tham gia vụ án đó với tư cách là người làm chứng, người giám định, người
định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;
c)
Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người bị kết án mà chưa được xoá
án tích, người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc.
5.
Một người bào chữa có thể bào chữa cho nhiều người bị buộc tội trong cùng vụ án
nếu quyền và lợi ích của họ không đối lập nhau.
Nhiều
người bào chữa có thể bào chữa cho một người bị buộc tội.
Điều 73. Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa
1. Người bào chữa có quyền:
a)
Gặp, hỏi người bị buộc tội;
b)
Có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu
người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người
bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người
có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm
giữ, bị can;
c)
Có mặt trong hoạt động đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và
hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này;
d)
Được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm lấy
lời khai, hỏi cung và thời gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác
theo quy định của Bộ luật này;
đ)
Xem biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình, quyết định tố tụng
liên quan đến người mà mình bào chữa;
e)
Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người
định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; đề nghị thay đổi, hủy bỏ
biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế;
g)
Đề nghị tiến hành hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này; đề nghị triệu
tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng;
h)
Thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
i)
Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan
và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
k)
Đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ
sung, giám định lại, định giá lại tài sản;
l)
Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc
bào chữa từ khi kết thúc điều tra;
m)
Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa;
n)
Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng;
o)
Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi, người
có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất theo quy định của Bộ luật này.
2.
Người bào chữa có nghĩa vụ:
a)
Sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác
định người bị buộc tội vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của
bị can, bị cáo;
b)
Giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
họ;
c)
Không được từ chối bào chữa cho người bị buộc tội mà mình đã đảm nhận bào chữa
nếu không vì lý do bất khả kháng hoặc không phải do trở ngại khách quan;
d)
Tôn trọng sự thật; không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người khác khai
báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật;
đ)
Có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án; trường hợp chỉ định người bào chữa
theo quy định tại khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này thì phải
có mặt theo yêu cầu của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát;
e)
Không được tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết khi thực hiện bào chữa; không
được sử dụng tài liệu đã ghi chép, sao chụp trong hồ sơ vụ án vào mục đích xâm
phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ
quan, tổ chức, cá nhân;
g)
Không được tiết lộ thông tin về vụ án, về người bị buộc tội mà mình biết
khi bào chữa, trừ trường hợp người này đồng ý bằng văn bản và không được sử dụng
thông tin đó vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng,
quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
3.
Người bào chữa vi phạm pháp luật thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị hủy
bỏ việc đăng ký bào chữa, bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc
bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định
của luật.
Điều 74. Thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng
Người bào chữa tham gia tố
tụng từ khi khởi tố bị can.
Trường
hợp bắt, tạm giữ người thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi người bị bắt
có mặt tại trụ sở của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ.
Trường
hợp cần giữ bí mật điều tra đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện
trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng
từ khi kết thúc điều tra.
Điều 75. Lựa chọn người bào chữa
1. Người bào chữa do người
bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ lựa chọn.
2.
Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được đơn yêu cầu người bào chữa
của người bị bắt, bị tạm giữ thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý người bị
bắt, người bị tạm giữ có trách nhiệm chuyển đơn này cho người bào chữa, người đại
diện hoặc người thân thích của họ. Trường hợp người bị bắt, người bị tạm giữ
không nêu đích danh người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý người
bị bắt, bị tạm giữ phải chuyển đơn này cho người đại diện hoặc người thân thích
của họ để những người này nhờ người bào chữa.
Trong
thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được đơn yêu cầu người bào chữa của
người bị tạm giam thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý người bị tạm giam có
trách nhiệm chuyển đơn này cho người bào chữa, người đại diện hoặc người thân
thích của họ. Trường hợp người bị tạm giam không nêu đích danh người bào chữa
thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý người bị tạm giam phải chuyển đơn này
cho người đại diện hoặc người thân thích của họ để những người này nhờ người
bào chữa.
3.
Trường hợp người đại diện hoặc người thân thích của người bị bắt, người bị tạm
giữ, người bị tạm giam có đơn yêu cầu nhờ người bào chữa thì cơ quan có thẩm
quyền có trách nhiệm thông báo ngay cho người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị
tạm giam để có ý kiến về việc nhờ người bào chữa.
4.[30] Người bị buộc tội, người đại
diện hoặc người thân thích của họ đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
và các tổ chức thành viên của Mặt trận cử bào chữa viên
nhân dân để bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình.
Điều 76. Chỉ định người bào chữa
1. Trong các trường hợp
sau đây nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ
không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định
người bào chữa cho họ:
a)
Bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật Hình sự quy định mức cao nhất của khung hình
phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình;
b)
Người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có
nhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi.
2.
Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải yêu cầu hoặc đề nghị các tổ chức
sau đây cử người bào chữa cho các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này:
a)
Đoàn luật sư phân công tổ chức hành nghề luật sư cử người bào chữa;
b)
Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước cử Trợ giúp viên pháp lý, luật sư bào chữa
cho người thuộc diện được trợ giúp pháp lý;
c)
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận cử bào
chữa viên nhân dân bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình.
Điều 77. Thay đổi hoặc từ chối người bào chữa
1. Những người sau đây có
quyền từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa:
a)
Người bị buộc tội;
b)
Người đại diện của người bị buộc tội;
c)
Người thân thích của người bị buộc tội.
Mọi
trường hợp thay đổi hoặc từ chối người bào chữa đều phải có sự đồng ý của người
bị buộc tội và được lập biên bản đưa vào hồ sơ vụ án, trừ trường hợp quy định tại
điểm b khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này.
2.
Trường hợp người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam trong giai đoạn điều
tra có đề nghị từ chối người bào chữa do người thân thích của họ nhờ thì Điều
tra viên phải cùng người bào chữa đó trực tiếp gặp người bị bắt, người bị tạm
giữ, người bị tạm giam để xác nhận việc từ chối.
3.
Trường hợp chỉ định người bào chữa quy định tại khoản 1 Điều
76 của Bộ luật này, người bị buộc tội và người đại diện hoặc người thân
thích của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa.
Trường
hợp thay đổi người bào chữa thì việc chỉ định người bào chữa khác được thực hiện
theo quy định tại khoản 2 Điều 76 của Bộ luật này.
Trường
hợp từ chối người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng lập biên
bản về việc từ chối người bào chữa của người bị buộc tội hoặc người đại
diện, người thân thích của người bị buộc tội quy định tại điểm b khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này và chấm dứt việc
chỉ định người bào chữa.
Điều 78. Thủ tục đăng ký bào chữa
1. Trong mọi trường hợp
tham gia tố tụng, người bào chữa phải đăng ký bào chữa.
2.
Khi đăng ký bào chữa, người bào chữa phải xuất trình các giấy tờ:
a)
Luật sư xuất trình Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và giấy yêu cầu
luật sư của người bị buộc tội hoặc của người đại diện, người thân thích của người
bị buộc tội;
b)
Người đại diện của người bị buộc tội xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc thẻ
Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và giấy tờ có xác nhận của cơ
quan có thẩm quyền về mối quan hệ của họ với người bị buộc tội;
c)
Bào chữa viên nhân dân xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công
dân kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử bào chữa viên nhân dân của Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận;
d)
Trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý xuất trình văn
bản cử người thực hiện trợ giúp pháp lý của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp
lý và Thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực.
3.
Trường hợp chỉ định người bào chữa quy định tại Điều 76 của Bộ
luật này thì người bào chữa xuất trình các giấy tờ:
a)
Luật sư xuất trình Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử luật
sư của tổ chức hành nghề luật sư nơi luật sư đó hành nghề hoặc văn bản phân
công của Đoàn luật sư đối với luật sư hành nghề là cá nhân;
b)
Bào chữa viên nhân dân xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công
dân kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử bào chữa viên nhân dân của Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận;
c)
Trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý xuất trình Thẻ
trợ giúp viên pháp lý hoặc Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản
cử người thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.
4.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận đủ giấy tờ quy định tại khoản 2 hoặc khoản
3 Điều này, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kiểm tra giấy tờ và thấy
không thuộc trường hợp từ chối việc đăng ký bào chữa quy định tại khoản 5 Điều này
thì vào sổ đăng ký bào chữa, gửi ngay văn bản thông báo người bào chữa cho người
đăng ký bào chữa, cơ sở giam giữ và lưu giấy tờ liên quan đến việc đăng ký bào
chữa vào hồ sơ vụ án; nếu xét thấy không đủ điều kiện thì từ chối việc đăng ký
bào chữa và phải nêu rõ lý do bằng văn bản.
5.
Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng từ chối việc đăng ký bào chữa khi thuộc
một trong các trường hợp:
a)
Trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 72 của Bộ luật này;
b)
Người bị buộc tội thuộc trường hợp chỉ định người bào chữa từ chối người bào chữa.
6.
Văn bản thông báo người bào chữa có giá trị sử dụng trong suốt quá trình tham
gia tố tụng, trừ các trường hợp:
a)
Người bị buộc tội từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa;
b)
Người đại diện hoặc người thân thích của người bị buộc tội quy định tại
điểm b khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này từ chối hoặc đề nghị
thay đổi người bào chữa.
7.
Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hủy bỏ việc đăng ký bào chữa và
thông báo cho người bào chữa, cơ sở giam giữ khi thuộc một trong các trường hợp:
a)
Khi phát hiện người bào chữa thuộc trường hợp quy định tại khoản
4 Điều 72 của Bộ luật này;
b)
Vi phạm pháp luật khi tiến hành bào chữa.
Điều 79. Trách nhiệm thông báo cho người bào chữa
1. Cơ quan có thẩm quyền
tiến hành tố tụng phải báo trước một thời gian hợp lý cho người bào chữa về thời
gian, địa điểm tiến hành hoạt động tố tụng mà họ có quyền tham gia theo quy định
của Bộ luật này.
2.
Trường hợp người bào chữa đã được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo
trước mà không có mặt thì hoạt động tố tụng vẫn được tiến hành, trừ trường hợp
quy định tại Điều 291 của Bộ luật này.
Điều 80. Gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
đang bị tạm giam
1. Để gặp người bị bắt,
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam, người bào chữa phải
xuất trình văn bản thông báo người bào chữa, Thẻ luật sư hoặc Thẻ trợ giúp
viên pháp lý hoặc Chứng minh nhân dân hoặc thẻ
Căn cước công dân.
2.
Cơ quan quản lý người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm
giam phải phổ biến nội quy, quy chế của cơ sở giam giữ và yêu cầu người bào chữa
chấp hành nghiêm chỉnh. Trường hợp phát hiện người bào chữa vi phạm quy định về
việc gặp thì phải dừng ngay việc gặp và lập biên bản, báo cáo người có thẩm quyền
xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều 81. Thu thập, giao chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên
quan đến việc bào chữa
1. Người bào chữa thu thập
chứng cứ, tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa theo quy định
tại khoản 2 Điều 88 của Bộ luật này.
2.
Tùy từng giai đoạn tố tụng, khi thu thập được chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên
quan đến việc bào chữa, người bào chữa phải kịp thời giao cho cơ quan có thẩm
quyền tiến hành tố tụng để đưa vào hồ sơ vụ án. Việc giao, nhận chứng cứ, tài
liệu, đồ vật phải được lập biên bản theo quy định tại Điều 133
của Bộ luật này.
3.
Trường hợp không thể thu thập được chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc
bào chữa thì người bào chữa có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
thu thập.
Điều 82. Đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án
1. Sau khi kết thúc điều
tra, nếu có yêu cầu đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án liên
quan đến việc bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm
bố trí thời gian, địa điểm để người bào chữa đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu
trong hồ sơ vụ án.
2.
Sau khi đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu, người bào chữa phải bàn giao nguyên
trạng hồ sơ vụ án cho cơ quan đã cung cấp hồ sơ. Nếu để mất, thất lạc, hư hỏng
tài liệu, hồ sơ vụ án thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định
của pháp luật.
Điều 83. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị
tố giác, người bị kiến nghị khởi tố
1. Người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố là người được
người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố nhờ bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp.
2.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị
khởi tố có thể là:
a)
Luật sư;
b)
Bào chữa viên nhân dân;
c)
Người đại diện;
d)
Trợ giúp viên pháp lý.
3.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến
nghị khởi tố có quyền:
a)
Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
b) Kiểm
tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và
yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
c)
Có mặt khi lấy lời khai người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố và nếu được
Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên đồng ý thì được hỏi người bị tố giác, người bị
kiến nghị khởi tố. Sau mỗi lần lấy lời khai của người có thẩm quyền kết thúc
thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến
nghị khởi tố có quyền hỏi người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố;
d)
Có mặt khi đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói người bị tố giác,
người bị kiến nghị khởi tố;
đ)
Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng.
4.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị
khởi tố có nghĩa vụ:
a)
Sử dụng các biện pháp do pháp luật quy định để góp phần làm rõ sự thật khách
quan của vụ án;
b)
Giúp người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố về pháp lý nhằm bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của họ.
Điều 84. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại,
đương sự
1. Người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự là người được bị hại, đương sự nhờ bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp.
2.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự có thể là:
a)
Luật sư;
b)
Người đại diện;
c)
Bào chữa viên nhân dân;
d)
Trợ giúp viên pháp lý.
3.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự có quyền:
a)
Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
b)
Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan
và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
c)
Yêu cầu giám định, định giá tài sản;
d)
Có mặt khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng lấy lời khai, đối chất, nhận
dạng, nhận biết giọng nói của người mà mình bảo vệ; đọc, ghi chép, sao chụp
những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi của bị hại
và đương sự sau khi kết thúc điều tra;
đ)
Tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa; xem biên bản phiên tòa;
e)
Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng;
g)
Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người
định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;
h)
Kháng cáo phần bản án, quyết định của Tòa án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa
vụ của người mà mình bảo vệ là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm
thần hoặc thể chất.
4.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự có nghĩa vụ:
a)
Sử dụng các biện pháp do pháp luật quy định để góp phần làm rõ sự thật khách
quan của vụ án;
b)
Giúp bị hại, đương sự về pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Chương VI
CHỨNG MINH VÀ CHỨNG CỨ
Điều 85. Những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự
Khi điều tra, truy tố và
xét xử vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải
chứng minh:
1. Có hành vi phạm tội xảy
ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội;
2.
Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô
ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội;
3.
Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và đặc
điểm về nhân thân của bị can, bị cáo;
4.
Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra;
5.
Nguyên nhân và điều kiện phạm tội;
6.
Những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn
trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.
Điều 86. Chứng cứ
Chứng cứ là những gì có
thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng
làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành
vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án.
Điều 87. Nguồn chứng cứ
1.
Chứng cứ được thu thập, xác định từ các nguồn:
a)
Vật chứng;
b)
Lời khai, lời trình bày;
c)
Dữ liệu điện tử;
d)
Kết luận giám định, định giá tài sản;
đ)
Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án;
e)
Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác;
g)
Các tài liệu, đồ vật khác.
2.
Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật
này quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải
quyết vụ án hình sự.
Điều 88. Thu thập chứng cứ
1. Để thu thập chứng cứ,
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có quyền tiến hành hoạt động thu thập
chứng cứ theo quy định của Bộ luật này; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung
cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử, trình bày những tình tiết làm
sáng tỏ vụ án.
2.
Để thu thập chứng cứ, người bào chữa có quyền gặp người mà mình bào chữa, bị hại,
người làm chứng và những người khác biết về vụ án để hỏi, nghe họ trình bày về
những vấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp
tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa.
3.
Những người tham gia tố tụng khác, cơ quan, tổ chức hoặc bất cứ cá nhân nào đều
có thể đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử và trình bày những vấn
đề có liên quan đến vụ án.
4.
Khi tiếp nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến vụ án
do những người quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này cung cấp, cơ quan có thẩm
quyền tiến hành tố tụng phải lập biên bản giao nhận và kiểm tra, đánh giá theo
quy định của Bộ luật này.
5.
Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày lập biên bản về hoạt động điều tra, thu thập,
nhận được tài liệu liên quan đến vụ án mà Kiểm sát viên không trực tiếp kiểm
sát theo quy định của Bộ luật này thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm chuyển biên bản, tài liệu
này cho Viện kiểm sát để kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án. Trường hợp do trở
ngại khách quan thì thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá 15
ngày. Trong thời hạn 03 ngày, Viện kiểm sát đóng dấu bút lục và sao lưu
biên bản, tài liệu lưu hồ sơ kiểm sát và bàn giao nguyên trạng tài liệu,
biên bản đó cho Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra. Việc giao, nhận tài liệu, biên bản được lập biên
bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này.
Điều 89. Vật chứng
Vật chứng là vật được
dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối
tượng của tội phạm, tiền hoặc vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người
phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án.
Điều 90. Bảo quản vật chứng
1. Vật chứng phải được bảo
quản nguyên vẹn, không để mất mát, lẫn lộn, hư hỏng. Việc bảo quản vật chứng được
thực hiện như sau:
a)
Vật chứng cần được niêm phong thì phải niêm phong ngay sau khi thu thập. Việc
niêm phong, mở niêm phong được lập biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án. Việc
niêm phong, mở niêm phong vật chứng được thực hiện theo quy định của
Chính phủ;
b)
Vật chứng là tiền, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ, chất nổ, chất cháy,
chất độc, chất phóng xạ, vũ khí quân dụng phải được giám định ngay sau khi thu
thập và phải chuyển ngay để bảo quản tại Kho bạc Nhà nước hoặc cơ quan chuyên
trách khác. Nếu vật chứng là tiền, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ lưu dấu
vết của tội phạm thì tiến hành niêm phong theo quy định tại điểm a khoản này; vật
chứng là vi khuẩn nguy hại, bộ phận cơ thể người, mẫu mô, mẫu máu và các mẫu vật
khác của cơ thể người được bảo quản tại cơ quan chuyên trách theo quy định của
pháp luật;
c)
Vật chứng không thể đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản
thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng giao vật chứng đó cho chủ sở hữu,
người quản lý hợp pháp đồ vật, tài sản hoặc người thân thích của họ hoặc Ủy ban
nhân dân[31], cơ quan, tổ chức nơi có vật chứng bảo quản;
d)
Vật chứng thuộc loại mau hỏng hoặc khó bảo quản thì cơ quan có thẩm quyền trong
phạm vi quyền hạn của mình quyết định bán theo quy định của pháp luật và chuyển
tiền đến tài khoản tạm giữ của cơ quan có thẩm quyền tại Kho bạc Nhà nước để quản
lý;
đ)[32]
Vật chứng đưa về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo quản thì cơ
quan Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm bảo quản vật chứng trong
giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử.
Sau
khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, vật chứng tiếp tục được bảo quản,
lưu giữ tại nơi đang bảo quản; cơ quan thi hành án dân sự thực hiện các thủ tục
kiểm kê, tiếp nhận, niêm phong vật chứng trong giai đoạn thi hành án và xử lý
theo quy định của pháp luật về thi hành án dân
sự. Trường hợp
vật chứng đang được bảo quản tại kho thuê thì cơ quan thi hành án dân sự có
trách nhiệm thanh toán chi phí thuê kho kể từ thời điểm tiếp nhận đến khi tiêu
hủy, trả lại tài sản hoặc giao cho cơ quan tài chính cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân
cấp xã để sung quỹ nhà nước hoặc xử lý xong theo quy định của Luật Thi hành án
dân sự.
2. Người có trách nhiệm bảo quản vật chứng mà để mất
mát, hư hỏng, phá hủy niêm phong, tiêu dùng, sử dụng trái phép, chuyển nhượng,
đánh tráo, cất giấu, hủy hoại vật chứng của vụ án thì tuỳ tính chất, mức độ vi
phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của
luật.
Trường
hợp thêm, bớt, sửa đổi, đánh tráo, hủy, làm hư hỏng vật chứng của vụ án nhằm
làm sai lệch hồ sơ vụ án thì phải chịu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại
thì phải bồi thường theo quy định của luật.
Điều 91. Lời khai của người làm chứng
1. Người làm chứng trình
bày những gì mà họ biết nguồn tin về tội phạm, về vụ án, nhân thân của người bị
buộc tội, bị hại, quan hệ giữa họ với người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng
khác và trả lời những câu hỏi đặt ra.
2.
Không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do người làm chứng trình bày nếu họ
không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó.
Điều 92. Lời khai của bị hại
1. Bị hại trình bày những
tình tiết về nguồn tin về tội phạm, vụ án, quan hệ giữa họ với người bị buộc tội
và trả lời những câu hỏi đặt ra.
2.
Không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do bị hại trình bày nếu họ không
thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó.
Điều 93. Lời khai của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự
1. Nguyên đơn dân sự, bị
đơn dân sự trình bày những tình tiết liên quan đến việc bồi thường thiệt hại do
tội phạm gây ra.
2.
Không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự
trình bày nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó.
Điều 94. Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án
1. Người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến vụ án trình bày những tình tiết trực tiếp liên quan đến
quyền lợi, nghĩa vụ của họ.
2.
Không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đến vụ án trình bày nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết
đó.
Điều 95. Lời khai của người bị giữ trong trường hợp
khẩn cấp, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người phạm tội tự thú,
đầu thú, người bị bắt, bị tạm giữ
Người
bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố,
người phạm tội tự thú, đầu thú, người bị bắt, bị tạm giữ trình bày những tình
tiết liên quan đến việc họ bị nghi thực hiện tội phạm.
Điều 96. Lời khai của người tố giác, báo tin về tội phạm
Người
tố giác, báo tin về tội phạm trình bày những tình tiết liên quan đến việc họ tố
giác, báo tin về tội phạm.
Điều 97. Lời khai của người chứng kiến
Người
chứng kiến trình bày những tình tiết mà họ đã chứng kiến trong hoạt động tố tụng.
Điều 98. Lời khai của bị can, bị cáo
1.
Bị can, bị cáo trình bày những tình tiết của vụ án.
2.
Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với
những chứng cứ khác của vụ án.
Không
được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết
tội.
Điều 99. Dữ liệu điện tử
1. Dữ liệu điện tử là ký
hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu
trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử.
2.
Dữ liệu điện tử được thu thập từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn
thông, trên đường truyền và các nguồn điện tử khác.
3.
Giá trị chứng cứ của dữ liệu điện tử được xác định căn cứ vào cách thức khởi tạo,
lưu trữ hoặc truyền gửi dữ liệu điện tử; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn
vẹn của dữ liệu điện tử; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp
khác.
Điều 100. Kết luận giám định
1. Kết luận giám định là
văn bản do cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức giám định lập để kết luận chuyên môn về
những vấn đề được trưng cầu, yêu cầu giám định.
2.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân kết luận về vấn đề được trưng cầu, yêu cầu giám định
và phải chịu trách nhiệm về kết luận đó.
Nếu
việc giám định do tập thể giám định tiến hành thì tất cả thành viên đều ký vào
bản kết luận. Trường hợp có ý kiến khác nhau thì mỗi người ghi ý kiến kết luận
của mình vào bản kết luận.
3.
Trường hợp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không đồng ý với kết luận
giám định thì phải nêu rõ lý do, nếu kết luận chưa rõ hoặc chưa đầy đủ thì quyết
định giám định bổ sung hoặc giám định lại theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật
này.
4.
Kết luận giám định của người được trưng cầu giám định thuộc trường hợp phải từ
chối hoặc thay đổi thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để
giải quyết vụ án.
Điều 101. Kết luận định giá tài sản
1. Kết luận định giá tài sản
là văn bản do Hội đồng định giá tài sản lập để kết luận về giá của tài sản được
yêu cầu.
Hội
đồng định giá tài sản kết luận giá của tài sản và phải chịu trách nhiệm về kết luận
đó.
2.
Kết luận định giá tài sản phải có chữ ký của tất cả thành viên Hội đồng định
giá tài sản. Trường hợp không đồng ý với giá của tài sản do Hội đồng quyết định
thì thành viên của Hội đồng ghi ý kiến kết luận của mình vào bản kết luận.
3.
Trường hợp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không đồng ý với kết luận định
giá tài sản thì phải nêu rõ lý do; nếu kết luận chưa rõ thì quyết định định giá
lại theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này.
4.
Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản vi phạm quy định của Bộ luật
này, quy định khác của pháp luật về định giá thì không có giá trị pháp lý và
không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án.
Điều 102. Biên bản về hoạt động kiểm tra, xác minh nguồn
tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử
Những tình tiết được ghi
trong biên bản về hoạt động kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều
tra, truy tố, xét xử được lập theo quy định của Bộ luật này có thể được coi là
chứng cứ.
Điều 103. Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc
tế khác
Kết quả thực hiện ủy thác
tư pháp và hợp tác quốc tế khác do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cung cấp
có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với chứng cứ khác của vụ án.
Điều 104. Các tài liệu, đồ vật khác trong vụ án
Những
tình tiết liên quan đến vụ án ghi trong tài liệu, đồ vật do cơ quan, tổ chức,
cá nhân cung cấp có thể được coi là chứng cứ. Trường hợp tài liệu, đồ vật này
có đặc điểm quy định tại Điều 89 của Bộ luật này thì được
coi là vật chứng.
Điều 105. Thu thập vật chứng
Vật chứng phải được thu thập
kịp thời, đầy đủ, mô tả đúng thực trạng vào biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án.
Trường hợp vật chứng không thể đưa vào hồ sơ vụ án thì phải chụp ảnh, có thể
ghi hình để đưa vào hồ sơ vụ án. Vật chứng phải được niêm phong, bảo quản theo
quy định của pháp luật.
Điều 106. Xử lý vật chứng
1. Việc xử lý vật chứng do
Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát
quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Chánh án Tòa án quyết
định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn chuẩn bị xét xử; do Hội đồng xét xử
quyết định nếu vụ án đã đưa ra xét xử. Việc thi hành quyết định về xử lý vật chứng
phải được ghi vào biên bản.
2.
Vật chứng được xử lý như sau:
a)
Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm tàng trữ, lưu hành thì bị
tịch thu, nộp ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy;
b)
Vật chứng là tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch
thu, nộp ngân sách nhà nước;
c)
Vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu hủy.
3.
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan, người có thẩm quyền quy định
tại khoản 1 Điều này có quyền:
a)
Trả lại ngay tài sản đã thu giữ, tạm giữ nhưng không phải là vật chứng cho chủ
sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản đó;
b)
Trả lại ngay vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp nếu xét thấy
không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án;
c)
Vật chứng thuộc loại mau hỏng hoặc khó bảo quản thì có thể được bán theo quy định
của pháp luật; trường hợp không bán được thì tiêu hủy;
d)
Vật chứng là động vật hoang dã và thực vật ngoại lai thì ngay sau khi có kết
luận giám định phải giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền xử lý
theo quy định của pháp luật.
4.
Trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với vật chứng thì giải quyết theo
quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Điều 107. Thu thập phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử
1. Phương tiện điện tử phải
được thu giữ kịp thời, đầy đủ, mô tả đúng thực trạng và niêm phong ngay sau khi
thu giữ. Việc niêm phong, mở niêm phong được tiến hành theo quy định của pháp
luật.
Trường
hợp không thể thu giữ phương tiện lưu trữ dữ liệu điện tử thì cơ quan có thẩm
quyền tiến hành tố tụng sao lưu dữ liệu điện tử đó vào phương tiện điện tử và bảo
quản như đối với vật chứng, đồng thời yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân liên
quan lưu trữ, bảo toàn nguyên vẹn dữ liệu điện tử mà cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng đã sao lưu và cơ quan, tổ chức, cá nhân này phải chịu trách nhiệm
trước pháp luật.
2.
Khi thu thập, chặn thu, sao lưu dữ liệu điện tử từ phương tiện điện tử, mạng
máy tính, mạng viễn thông hoặc trên đường truyền, cơ quan có thẩm quyền tiến hành
tố tụng tiến hành phải lập biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án.
3.
Khi nhận được quyết định trưng cầu giám định của cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng thì cá nhân, tổ chức có trách nhiệm thực hiện phục hồi, tìm kiếm,
giám định dữ liệu điện tử.
4.
Việc phục hồi, tìm kiếm, giám định dữ liệu điện tử chỉ được thực hiện trên bản
sao; kết quả phục hồi, tìm kiếm, giám định phải chuyển sang dạng có thể đọc,
nghe hoặc nhìn được.
5.
Phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử được bảo quản như vật chứng theo quy định
của Bộ luật này. Khi xuất trình chứng cứ là dữ liệu điện tử phải kèm theo
phương tiện lưu trữ dữ liệu hoặc bản sao dữ liệu điện tử.
Điều 108. Kiểm tra, đánh giá chứng cứ
1. Mỗi chứng cứ
phải được kiểm tra, đánh giá để xác định tính hợp pháp, xác thực và liên quan đến
vụ án. Việc xác định những chứng cứ thu thập được phải bảo đảm đủ để giải quyết
vụ án hình sự.
2.
Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình phải kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện mọi chứng cứ đã thu
thập được về vụ án.
Chương VII
BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN, BIỆN
PHÁP CƯỠNG CHẾ
Mục I. BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
Điều 109. Các biện pháp ngăn chặn
1. Để kịp thời ngăn chặn
tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc
điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành
án, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của
mình có thể áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ,
tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất
cảnh.
2.
Các trường hợp bắt người gồm bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắt
người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, bắt bị can, bị cáo để tạm
giam, bắt người bị yêu cầu dẫn độ.
Điều 110. Giữ người trong trường hợp khẩn cấp
1.
Khi thuộc một trong các trường hợp khẩn cấp sau đây thì được giữ người:
a)
Có đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm
trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
b)
Người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội
phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét
thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn;
c)
Có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm việc hoặc trên
phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay
việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ.
2.
Những người sau đây có quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp:
a)[33]
Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Điều tra viên thuộc trường
hợp quy định tại khoản 1a Điều 37 của Bộ luật này;
b)[34]
Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương, Đồn trưởng Đồn biên
phòng, Chỉ huy trưởng Biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Bộ
đội biên phòng, Cục trưởng Cục Trinh sát Bộ đội biên phòng, Cục trưởng Cục phòng, chống ma
túy và tội phạm Bộ đội biên phòng, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma
túy và tội phạm Bộ đội biên phòng; Đoàn trưởng
Đoàn Trinh sát Bộ đội biên phòng; Tư lệnh vùng
lực lượng Cảnh sát biển, Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và pháp luật lực lượng Cảnh
sát biển, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy lực lượng Cảnh
sát biển, Đoàn trưởng Đoàn Trinh sát lực lượng
Cảnh sát biển; Chi cục trưởng Chi cục
Kiểm ngư vùng;
c)
Người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến
cảng.
3.
Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người
bị giữ, lý do, căn cứ giữ người quy định tại khoản 1 Điều này và các nội dung
quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này. Việc thi
hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải theo đúng quy
định tại khoản 2 Điều 113 của Bộ luật này.
4.[35]
Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp hoặc nhận
người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải lấy lời khai ngay và những
người quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này phải ra quyết định tạm giữ,
ra lệnh bắt người bị giữ hoặc trả tự do ngay cho người đó. Lệnh bắt người bị giữ
trong trường hợp khẩn cấp phải gửi ngay cho Viện kiểm sát có thẩm quyền kèm
theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn.
Sau
khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, những người quy định tại điểm c khoản
2 Điều này phải giải ngay người bị giữ kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ
người trong trường hợp khẩn cấp đến Cơ quan điều tra nơi có sân bay hoặc bến
cảng đầu tiên tàu trở về. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi tiếp nhận người bị giữ,
Cơ quan điều tra phải lấy lời khai ngay và những người quy định tại điểm a khoản
2 Điều này phải ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ trong trường
hợp khẩn cấp hoặc trả tự do ngay cho người đó. Lệnh bắt người bị giữ trong
trường hợp khẩn cấp phải gửi ngay cho Viện kiểm sát có thẩm quyền kèm theo tài
liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn.
Lệnh
bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người
bị giữ, lý do, căn cứ giữ người quy định tại khoản 1 Điều này và các nội dung
quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.
5.
Hồ sơ đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn
cấp gồm:
a)
Văn bản đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp
khẩn cấp;
b)
Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp
khẩn cấp, quyết định tạm giữ;
c)
Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp;
d)
Biên bản ghi lời khai của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp;
đ)
Chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp.
6.
Viện kiểm sát phải kiểm sát chặt chẽ căn cứ giữ người quy định tại khoản 1 Điều
này. Trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên phải trực tiếp gặp, hỏi người bị giữ
trong trường hợp khẩn cấp trước khi xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc quyết định
không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Biên bản ghi lời
khai của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp do Kiểm sát viên lập phải đưa
vào hồ sơ vụ việc, vụ án.
Trong
thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn lệnh bắt người
bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc
quyết định không phê chuẩn. Trường hợp Viện kiểm sát quyết định không phê chuẩn
lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì người đã ra lệnh giữ người
trong trường hợp khẩn cấp, Cơ quan điều tra đã nhận người bị giữ trong trường hợp
khẩn cấp phải trả tự do ngay cho người bị giữ.
Điều 111. Bắt người phạm tội quả tang
1. Đối với người đang thực
hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm mà bị phát hiện hoặc bị đuổi
bắt thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ
quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này
phải lập biên bản tiếp nhận và giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan
điều tra có thẩm quyền.
2.
Khi bắt người phạm tội quả tang thì người nào cũng có quyền tước vũ khí, hung
khí của người bị bắt.
3.
Trường hợp Công an cấp xã[36], Đồn Công an phát hiện bắt giữ,
tiếp nhận người phạm tội quả tang thì thu giữ, tạm giữ vũ khí, hung khí và bảo
quản tài liệu, đồ vật có liên quan, lập biên bản bắt giữ người, lấy lời khai
ban đầu, bảo vệ hiện trường theo quy định của pháp luật; giải ngay người bị bắt
hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
Điều 112. Bắt người đang bị truy nã
1. Đối với người đang bị
truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ
quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này
phải lập biên bản tiếp nhận và giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan
điều tra có thẩm quyền.
2.
Khi bắt người đang bị truy nã thì người nào cũng có quyền tước vũ khí, hung khí
của người bị bắt.
3.
Trường hợp Công an cấp xã[37], Đồn Công an phát hiện bắt giữ,
tiếp nhận người đang bị truy nã thì thu giữ, tạm giữ vũ khí, hung khí và bảo quản
tài liệu, đồ vật có liên quan, lập biên bản bắt giữ người, lấy lời khai ban đầu;
giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
Điều 113. Bắt bị can, bị cáo để tạm giam
1.[38] Những
người sau đây có quyền ra lệnh, quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam:
a)
Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Điều tra viên thuộc trường
hợp quy định tại khoản 1a Điều 37 của Bộ luật này. Trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát có
thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành;
b) Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp;
c) Chánh
án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp;
Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối
cao; Hội đồng xét xử.
2.
Lệnh bắt, quyết định phê chuẩn lệnh, quyết định bắt phải ghi rõ họ tên, địa chỉ
của người bị bắt; lý do bắt và các nội dung quy định tại khoản
2 Điều 132 của Bộ luật này.
Người
thi hành lệnh, quyết định phải đọc lệnh, quyết định; giải thích lệnh, quyết định,
quyền và nghĩa vụ của người bị bắt và phải lập biên bản về việc bắt; giao lệnh,
quyết định cho người bị bắt.
Khi
tiến hành bắt người tại nơi người đó cư trú phải có đại diện Ủy ban nhân dân cấp
xã[39]
và người khác chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó làm việc, học
tập phải có đại diện cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập chứng kiến.
Khi tiến hành bắt người tại nơi khác phải có sự chứng kiến của đại diện Ủy ban
nhân dân cấp xã[40] nơi tiến hành bắt người.
3.
Không được bắt người vào ban đêm, trừ trường hợp phạm tội quả tang hoặc bắt người
đang bị truy nã.
Điều
114. Những việc cần làm ngay sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp,
bắt người hoặc nhận người bị giữ, bị bắt
1. Sau khi giữ người
trong trường hợp khẩn cấp, bắt người hoặc nhận người bị giữ, bị bắt, Cơ
quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
phải lấy lời khai ngay và trong thời hạn 12 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc
trả tự do cho người bị bắt.
2.
Sau khi lấy lời khai người bị bắt theo quyết định truy nã thì Cơ quan điều tra
nhận người bị bắt phải thông báo ngay cho Cơ quan đã ra quyết định truy nã đến
nhận người bị bắt. Sau khi nhận người bị bắt, cơ quan đã ra quyết định truy nã
phải ra ngay quyết định đình nã.
Trường
hợp cơ quan đã ra quyết định truy nã không thể đến nhận ngay người bị bắt thì
sau khi lấy lời khai, Cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải ra ngay quyết định
tạm giữ và thông báo ngay cho cơ quan đã ra quyết định truy nã biết; nếu đã hết
thời hạn tạm giữ mà cơ quan ra quyết định truy nã vẫn chưa đến nhận thì Cơ
quan điều tra nhận người bị bắt gia hạn tạm giữ và gửi ngay quyết định gia hạn
tạm giữ kèm theo tài liệu liên quan cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[41]
để xét phê chuẩn.
Trường
hợp không thể đến nhận ngay người bị bắt thì cơ quan đã ra quyết định truy nã
có thẩm quyền bắt để tạm giam phải ra ngay lệnh tạm giam và gửi lệnh tạm giam
đã được Viện kiểm sát có thẩm quyền[42] phê
chuẩn cho Cơ quan điều tra nhận người bị bắt. Sau khi nhận được lệnh tạm giam,
Cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải giải ngay người đó đến Trại tạm giam
nơi gần nhất.
3.
Trường hợp người bị bắt có nhiều quyết định truy nã thì Cơ quan điều tra nhận
người bị bắt chuyển giao người bị bắt cho cơ quan đã ra quyết định truy nã nơi
gần nhất.
Điều 115. Biên bản về việc giữ người trong trường hợp khẩn
cấp, biên bản bắt người
1. Người thi hành lệnh giữ
người trong trường hợp khẩn cấp, thi hành lệnh hoặc quyết định bắt trong mọi
trường hợp đều phải lập biên bản.
Biên
bản phải ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm giữ, bắt, nơi lập biên bản; những
việc đã làm, tình hình diễn biến trong khi thi hành lệnh giữ, lệnh hoặc quyết định
bắt, tài liệu, đồ vật bị tạm giữ, tình trạng sức khỏe và ý kiến, khiếu nại của
người bị giữ, người bị bắt và các nội dung quy định tại Điều
133 của Bộ luật này.
Biên
bản được đọc cho người bị giữ, người bị bắt và người chứng kiến nghe. Người bị
giữ, người bị bắt, người thi hành lệnh giữ, lệnh hoặc quyết định bắt và người
chứng kiến cùng ký tên vào biên bản, nếu ai có ý kiến khác hoặc không đồng ý với
nội dung biên bản thì có quyền ghi vào biên bản và ký tên.
Việc
tạm giữ tài liệu, đồ vật của người bị giữ, người bị bắt phải được tiến hành
theo quy định của Bộ luật này.
2.
Khi giao, nhận người bị giữ, người bị bắt phải lập biên bản.
Ngoài
nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, biên bản giao nhận còn phải ghi rõ việc
bàn giao biên bản lấy lời khai, tài liệu, đồ vật đã thu thập được, tình trạng
sức khoẻ của người bị giữ, người bị bắt và những tình tiết xảy ra khi giao nhận.
Điều 116. Thông báo về việc giữ người trong trường hợp khẩn
cấp, bắt người
Sau
khi giữ người, bắt người, người ra lệnh giữ người, lệnh hoặc quyết định bắt
người phải thông báo ngay cho gia đình người bị giữ, bị bắt, Ủy ban nhân dân
cấp xã[43]
nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập biết.
Trong
thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận người bị giữ, bị bắt, Cơ quan điều tra nhận người
bị giữ, bị bắt phải thông báo cho gia đình người bị giữ, bị bắt, Ủy ban nhân
dân cấp xã[44] nơi người đó cư trú hoặc cơ
quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập biết; trường hợp người bị giữ, người
bị bắt là công dân nước ngoài thì phải thông báo cho cơ quan ngoại giao của Việt
Nam để thông báo cho cơ quan đại diện ngoại giao của nước có công dân bị giữ, bị
bắt.
Nếu
việc thông báo cản trở truy bắt đối tượng khác hoặc cản trở điều tra thì sau khi
cản trở đó không còn, người ra lệnh giữ người, lệnh hoặc quyết định bắt người,
Cơ quan điều tra nhận người bị giữ, người bị bắt phải thông báo ngay.
Điều 117. Tạm giữ
1. Tạm giữ có thể áp dụng
đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường
hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt
theo quyết định truy nã.
2.
Những người có thẩm quyền ra lệnh giữ người quy định tại khoản
2 Điều 110 của Bộ luật này có quyền ra quyết định tạm giữ.
Quyết
định tạm giữ phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người bị tạm giữ, lý do tạm
giữ, giờ, ngày bắt đầu và giờ, ngày hết thời hạn tạm giữ và các nội
dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này. Quyết
định tạm giữ phải giao cho người bị tạm giữ.
3.
Người thi hành quyết định tạm giữ phải thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ
của người bị tạm giữ quy định tại Điều 59 của Bộ luật này.
4.
Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi ra quyết định tạm giữ, người ra quyết định tạm
giữ phải gửi quyết định tạm giữ kèm theo các tài liệu làm căn cứ tạm giữ cho[45]
Viện kiểm sát có thẩm quyền. Nếu xét thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặc
không cần thiết thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ và
người ra quyết định tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.
Điều 118. Thời hạn tạm giữ
1. Thời hạn tạm giữ không
quá 03 ngày kể từ khi Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra nhận người bị giữ, người bị bắt hoặc áp giải người bị giữ,
người bị bắt về trụ sở của mình hoặc kể từ khi Cơ quan điều tra ra quyết định tạm
giữ người phạm tội tự thú, đầu thú.
2.
Trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ nhưng
không quá 03 ngày. Trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia
hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng không quá 03 ngày.
Mọi
trường hợp gia hạn tạm giữ đều phải được[46] Viện
kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận hồ sơ đề
nghị gia hạn tạm giữ, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định
không phê chuẩn.
3.
Trong khi tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì Cơ quan điều tra, cơ
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải trả tự do ngay
cho người bị tạm giữ; trường hợp đã gia hạn tạm giữ thì Viện kiểm sát phải trả
tự do ngay cho người bị tạm giữ.
4.
Thời gian tạm giữ được trừ vào thời hạn tạm giam. Một ngày tạm giữ được tính bằng
một ngày tạm giam.
Điều 119. Tạm giam
1. Tạm giam có thể áp dụng
đối với bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng.
2.
Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, tội ít
nghiêm trọng mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tù trên 02 năm khi có căn cứ
xác định người đó thuộc một trong các trường hợp:
a)
Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm;
b)
Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can;
c)
Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn;
d)
Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội;
đ)
Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp
tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu
tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị
hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.
3.
Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật
Hình sự quy định hình phạt tù đến 02 năm nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn
và bị bắt theo quyết định truy nã.
4.
Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi,
là người già yếu, người bị bệnh nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng thì
không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ các trường hợp:
a)
Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã;
b)
Tiếp tục phạm tội;
c)
Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp
tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu
tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị
hại, người tố giác tội phạm hoặc người thân thích của những người này;
d)
Bị can, bị cáo về tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ xác định nếu
không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia.
5.
Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ
luật này có quyền ra lệnh, quyết định tạm giam. Lệnh tạm giam của những người
được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này
phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền[47] chuẩn
trước khi thi hành. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được lệnh tạm giam,
đề nghị xét phê chuẩn và hồ sơ liên quan đến việc tạm giam, Viện kiểm sát phải
ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Viện kiểm sát phải
hoàn trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra ngay sau khi kết thúc việc xét phê chuẩn.
6.
Cơ quan điều tra phải kiểm tra căn cước của người bị tạm giam và thông báo ngay
cho gia đình người bị tạm giam, Ủy ban nhân dân cấp xã[48] nơi
người bị tạm giam cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị tạm giam làm việc,
học tập biết.
Điều 120. Việc chăm nom người thân thích và bảo quản tài sản
của người bị tạm giữ, tạm giam
1. Trường hợp người bị tạm
giữ, tạm giam có người thân thích là người tàn tật, già yếu, có nhược điểm về
tâm thần mà không có người chăm sóc thì cơ quan ra quyết định tạm giữ, lệnh hoặc
quyết định tạm giam giao người đó cho người thân thích khác chăm nom; trường hợp
không có người thân thích thì cơ quan ra quyết định tạm giữ, lệnh hoặc quyết định
tạm giam giao những người đó cho Ủy ban nhân dân cấp xã[49] nơi họ
cư trú chăm nom. Việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em là con của người bị tạm giữ,
tạm giam thực hiện theo quy định của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam.
2.
Trường hợp người bị tạm giữ, tạm giam có nhà ở hoặc tài sản khác mà không có
người bảo quản thì cơ quan ra quyết định tạm giữ, lệnh hoặc quyết định tạm giam
phải áp dụng những biện pháp bảo quản.
3.
Cơ quan ra quyết định tạm giữ, lệnh hoặc quyết định tạm giam thông báo cho người
bị tạm giữ, tạm giam biết việc chăm nom, chăm sóc người thân thích và bảo quản
tài sản của họ. Việc thông báo được lập văn bản và đưa vào hồ sơ vụ án.
Điều 121. Bảo lĩnh
1.
Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ
nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều
tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh.
2.
Cơ quan, tổ chức có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người của cơ quan,
tổ chức mình. Cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh phải có giấy cam đoan và có xác nhận
của người đứng đầu cơ quan, tổ chức.
Cá
nhân là người đủ 18 tuổi trở lên, nhân thân tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp
luật, thu nhập ổn định và có điều kiện quản lý người được bảo lĩnh thì có thể
nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người thân thích của họ và trong trường hợp
này thì ít nhất phải có 02 người. Cá nhân nhận bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan
có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã[50] nơi
người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập.
Trong
giấy cam đoan, cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh phải cam đoan không
để bị can, bị cáo vi phạm các nghĩa vụ quy định tại khoản 3 Điều này. Cơ quan,
tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh được thông báo về những tình tiết của vụ án liên
quan đến việc nhận bảo lĩnh.
3.
Bị can, bị cáo được bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ:
a)
Có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở
ngại khách quan;
b)
Không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội;
c)
Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài
liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án,
tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù người làm
chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.
Trường
hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản này thì bị tạm
giam.
4.
Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ
luật này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết định bảo lĩnh. Quyết
định của những người quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ
luật này phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền[51] phê
chuẩn trước khi thi hành.
5.
Thời hạn bảo lĩnh không được quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử theo
quy định của Bộ luật này. Thời hạn bảo lĩnh đối với người bị kết án phạt tù
không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành
án phạt tù.
6.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh để bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ đã
cam đoan thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị phạt tiền theo quy định
của pháp luật.
Điều 122. Đặt tiền để bảo đảm
1. Đặt tiền để bảo đảm là
biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho
xã hội của hành vi, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo, Cơ quan
điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ hoặc người thân thích
của họ đặt tiền để bảo đảm.
2.
Bị can, bị cáo được đặt tiền phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ:
a)
Có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở
ngại khách quan;
b)
Không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội;
c)
Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài
liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án,
tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù người làm
chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.
Trường
hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản này thì bị tạm
giam và số tiền đã đặt bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
3.
Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ
luật này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết định về việc đặt tiền
để bảo đảm. Quyết định của những người quy định tại điểm a khoản
1 Điều 113 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền[52]
phê chuẩn trước khi thi hành.
4.
Thời hạn đặt tiền không quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử theo quy định
tại Bộ luật này. Thời hạn đặt tiền đối với người bị kết án phạt tù không quá thời
hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù. Bị
can, bị cáo chấp hành đầy đủ các nghĩa vụ đã cam đoan thì Viện kiểm sát, Tòa án
có trách nhiệm trả lại cho họ số tiền đã đặt.
5.
Người thân thích của bị can, bị cáo được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa
án chấp nhận cho đặt tiền để bảo đảm phải làm giấy cam đoan không để bị can, bị
cáo vi phạm các nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều này, nếu vi phạm thì số tiền
đã đặt bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước. Khi làm giấy cam đoan, người này được
thông báo về những tình tiết của vụ án có liên quan đến bị can, bị cáo.
6.
Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi
tiết trình tự, thủ tục, mức tiền đặt, việc tạm giữ, hoàn trả, tịch thu, nộp
ngân sách nhà nước số tiền đã đặt để bảo đảm.
Điều 123. Cấm đi khỏi nơi cư trú
1. Cấm đi khỏi nơi cư trú
là biện pháp ngăn chặn có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo có nơi cư trú, lý
lịch rõ ràng nhằm bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của Cơ quan điều
tra, Viện kiểm sát, Tòa án.
2.[53]
Bị can, bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú phải làm giấy cam đoan thực hiện các
nghĩa vụ:
a)
Không đi khỏi nơi cư trú nếu không được người đã ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho phép, trừ trường hợp vì lý do bất
khả kháng hoặc do trở ngại khách quan;
b)
Có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở
ngại khách quan;
c)
Không bỏ trốn, không tiếp tục phạm tội;
d)
Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài
liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án,
tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù người làm
chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.
Trường
hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản này hoặc vi phạm
các nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi
nơi cư trú thuộc trường hợp bị đề nghị thay đổi biện pháp ngăn chặn thì bị tạm
giam.
3.
Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ
luật này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Đồn trưởng Đồn biên phòng có quyền
ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.
4.
Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú không quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử
theo quy định của Bộ luật này. Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với người bị
kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó
đi chấp hành án phạt tù.
5.[54]
Người ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú phải gửi lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho
Trưởng Công an cấp xã nơi bị can, bị cáo cư trú, đơn vị quân đội được giao quản lý, theo dõi bị can, bị cáo,
cơ quan khác có liên quan để quản lý, theo dõi
họ.
6. Nếu bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan thì
Ủy ban nhân dân cấp xã[55] nơi bị can, bị cáo cư trú, đơn
vị quân đội đang quản lý bị can, bị cáo phải báo ngay cho cơ quan đã ra lệnh cấm
đi khỏi nơi cư trú biết để xử lý theo thẩm quyền.
Điều 124. Tạm hoãn xuất cảnh
1. Có thể tạm hoãn xuất cảnh
đối với những người sau đây khi có căn cứ xác định việc xuất cảnh của họ có dấu
hiệu bỏ trốn:
a)
Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố mà qua kiểm tra, xác minh có đủ
căn cứ xác định người đó bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn
ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ;
b)
Bị can, bị cáo.
2.
Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ
luật này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền quyết định tạm hoãn xuất cảnh.
Quyết định tạm hoãn xuất cảnh của những người được quy định tại điểm
a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải được thông báo ngay cho Viện kiểm
sát có thẩm quyền[56] trước khi thi hành.
3.
Thời hạn tạm hoãn xuất cảnh không được quá thời hạn giải quyết nguồn tin về tội
phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của Bộ luật này. Thời hạn
tạm hoãn xuất cảnh đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi
tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.
Điều 125. Hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn
1. Mọi biện pháp ngăn chặn
đang áp dụng phải được hủy bỏ khi thuộc một trong các trường hợp:
a)
Quyết định không khởi tố vụ án hình sự;
b)
Đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án;
c)
Đình chỉ điều tra đối với bị can, đình chỉ vụ án đối với bị can;
d)
Bị cáo được Tòa án tuyên không có tội, miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn
hình phạt, hình phạt tù nhưng được hưởng án treo hoặc hình phạt cảnh cáo,
phạt tiền, cải tạo không giam giữ.
2.
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hủy bỏ biện pháp ngăn chặn khi thấy
không còn cần thiết hoặc có thể thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác.
Đối
với những biện pháp ngăn chặn do Viện kiểm sát phê chuẩn trong giai đoạn điều tra
thì việc hủy bỏ hoặc thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác phải do Viện kiểm
sát quyết định; trong thời hạn 10 ngày trước khi hết thời hạn áp dụng biện pháp
ngăn chặn, trừ biện pháp tạm giữ do Viện kiểm sát phê chuẩn, cơ quan đã đề nghị
áp dụng biện pháp ngặn chặn này phải thông báo cho Viện kiểm sát để quyết định
hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn khác.
Mục II. BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ
Điều 126. Các biện pháp cưỡng chế
Để bảo đảm hoạt động khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, trong phạm vi thẩm quyền của mình,
cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể áp dụng biện pháp áp giải,
dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản.
Điều 127. Áp giải, dẫn giải
1. Áp giải có thể áp dụng
đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội.
2.
Dẫn giải có thể áp dụng đối với:
a)
Người làm chứng trong trường hợp họ không có mặt theo giấy triệu tập mà không
vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan;
b)
Người bị hại trong trường hợp họ từ chối việc giám định theo quyết định trưng cầu
của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà không vì lý do bất khả kháng hoặc
không do trở ngại khách quan;
c)
Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố mà qua kiểm tra, xác minh có đủ
căn cứ xác định người đó liên quan đến hành vi phạm tội được khởi tố vụ án, đã
được triệu tập mà vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở
ngại khách quan.
3.
Điều tra viên, cấp trưởng của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra, Kiểm sát viên, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử có
quyền ra quyết định áp giải, dẫn giải.
4.
Quyết định áp giải, quyết định dẫn giải phải ghi rõ họ tên, ngày, tháng, năm
sinh, nơi cư trú của người bị áp giải, dẫn giải; thời gian, địa điểm người bị
áp giải, dẫn giải phải có mặt và các nội dung quy định tại khoản
2 Điều 132 của Bộ luật này.
5.
Người thi hành quyết định áp giải, dẫn giải phải đọc, giải thích quyết định và
lập biên bản về việc áp giải, dẫn giải theo quy định tại Điều
133 của Bộ luật này.
Cơ
quan Công an nhân dân, Quân đội nhân dân có thẩm quyền có trách nhiệm tổ chức
thi hành quyết định áp giải, dẫn giải.
6.
Không được bắt đầu việc áp giải, dẫn giải người vào ban đêm; không được áp
giải, dẫn giải người già yếu, người bị bệnh nặng có xác nhận của cơ quan y tế.
Điều 128. Kê biên tài sản
1. Kê biên tài sản chỉ áp
dụng đối với bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tiền
hoặc có thể bị tịch thu tài sản hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại.
2.
Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ
luật này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền ra lệnh kê biên tài sản. Lệnh
kê biên của những người được quy định tại điểm a khoản 1 Điều
113 của Bộ luật này phải được thông báo ngay cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[57]
trước khi thi hành.
3.
Chỉ kê biên phần tài sản tương ứng với mức có thể bị phạt tiền, bị tịch thu hoặc
phải bồi thường thiệt hại. Tài sản bị kê biên được giao cho chủ tài sản hoặc
người quản lý hợp pháp hoặc người thân thích của họ bảo quản. Người được giao bảo
quản mà có hành vi tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu, hủy hoại tài
sản bị kê biên thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình
sự.
4.
Khi tiến hành kê biên tài sản phải có mặt những người:
a)
Bị can, bị cáo hoặc người đủ 18 tuổi trở lên trong gia đình hoặc người đại
diện của bị can, bị cáo;
b)
Đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã[58] nơi có tài sản bị kê biên;
c)
Người chứng kiến.
Người
tiến hành kê biên phải lập biên bản, ghi rõ tên và tình trạng từng tài sản bị
kê biên. Biên bản được lập theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật
này, đọc cho những người có mặt nghe và cùng ký tên. Ý kiến, khiếu nại của
những người quy định tại điểm a khoản này liên quan đến việc kê biên được ghi
vào biên bản, có chữ ký xác nhận của họ và của người tiến hành kê biên.
Biên
bản kê biên được lập thành bốn bản, trong đó một bản được giao ngay cho người
được quy định tại điểm a khoản này sau khi kê biên xong, một bản giao ngay cho Ủy
ban nhân dân cấp xã[59] nơi có tài sản bị kê biên, một
bản gửi cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[60] và một
bản đưa vào hồ sơ vụ án.
Điều 129. Phong tỏa tài khoản
1. Phong tỏa tài khoản
chỉ áp dụng đối với người bị buộc tội về tội mà Bộ luật Hình sự quy định hình
phạt tiền, bị tịch thu tài sản hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại khi có căn
cứ xác định người đó có tài khoản tại tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc Nhà nước.
Phong tỏa tài khoản cũng được áp dụng đối với tài khoản của người khác nếu có
căn cứ cho rằng số tiền trong tài khoản đó liên quan đến hành vi phạm tội của
người bị buộc tội.
2.
Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ
luật này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có quyền ra lệnh phong tỏa tài khoản.
Lệnh phong tỏa tài khoản của những người được quy định tại điểm
a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải được thông báo ngay cho Viện kiểm
sát có thẩm quyền[61] trước khi thi hành.
3.
Chỉ phong tỏa số tiền trong tài khoản tương ứng với mức có thể bị phạt tiền, bị
tịch thu tài sản hoặc bồi thường thiệt hại. Người được giao thực hiện lệnh
phong tỏa, quản lý tài khoản bị phong tỏa mà giải tỏa việc phong tỏa tài khoản
thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.
4.
Khi tiến hành phong tỏa tài khoản, cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền phải
giao quyết định phong tỏa tài khoản cho tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc Nhà nước
đang quản lý tài khoản của người bị buộc tội hoặc tài khoản của người khác có
liên quan đến hành vi phạm tội của người bị buộc tội. Việc giao, nhận lệnh
phong tỏa tài khoản phải được lập thành biên bản theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật này.
Ngay
sau khi nhận được lệnh phong tỏa tài khoản, tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc Nhà
nước đang quản lý tài khoản của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc
tài khoản của người khác có liên quan đến hành vi phạm tội của người bị bắt,
bị tạm giữ, bị can, bị cáo phải thực hiện ngay việc phong tỏa tài khoản và lập
biên bản về việc phong tỏa tài khoản.
Biên
bản về việc phong tỏa tài khoản được lập thành năm bản, trong đó một bản được
giao ngay cho người bị buộc tội, một bản giao cho người khác có liên quan đến
người bị buộc tội, một bản gửi cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[62], một
bản đưa vào hồ sơ vụ án, một bản lưu tại tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc Nhà nước.
Điều 130. Hủy bỏ biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản
1. Biện pháp kê biên tài
sản, phong tỏa tài khoản đang áp dụng phải được hủy bỏ khi thuộc một
trong các trường hợp:
a)
Đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án;
b)
Đình chỉ điều tra đối với bị can, đình chỉ vụ án đối với bị can;
c)
Bị cáo được Tòa án tuyên không có tội;
d)
Bị cáo không bị phạt tiền, tịch thu tài sản và bồi thường thiệt hại.
2.
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hủy bỏ biện pháp kê biên tài sản, phong
tỏa tài khoản khi thấy không còn cần thiết.
Đối
với biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản trong giai đoạn điều tra,
truy tố thì việc hủy bỏ hoặc thay thế phải thông báo cho Viện kiểm sát trước
khi quyết định.
Chương VIII
HỒ SƠ VỤ ÁN, VĂN BẢN TỐ
TỤNG, THỜI HẠN VÀ CHI PHÍ TỐ TỤNG
Điều 131. Hồ sơ vụ án
1. Khi tiến hành tố tụng
trong giai đoạn khởi tố, điều tra, Cơ quan điều tra phải lập hồ sơ vụ án.
2.
Hồ sơ vụ án gồm:
a)
Lệnh, quyết định, yêu cầu của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát;
b)
Các biên bản tố tụng do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát lập;
c)
Các chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án.
3.
Các chứng cứ, tài liệu do Viện kiểm sát, Tòa án thu thập trong giai đoạn truy tố,
xét xử phải đưa vào hồ sơ vụ án.
4.
Hồ sơ vụ án phải có thống kê tài liệu kèm theo. Thống kê tài liệu ghi rõ tên
tài liệu, số bút lục và đặc điểm của tài liệu (nếu có). Trường hợp có bổ sung
tài liệu vào hồ sơ vụ án thì phải có thống kê tài liệu bổ sung. Hồ sơ vụ án phải
được quản lý, lưu giữ, sử dụng theo quy định của pháp luật.
5.[63]
Hồ sơ vụ án được lập bằng văn bản giấy hoặc được số hóa theo quy định.
Bộ
trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết khoản
này.
Điều 132. Văn bản tố tụng
1. Văn bản tố tụng gồm lệnh,
quyết định, yêu cầu, kết luận điều tra, bản cáo trạng, bản án và các văn bản tố
tụng khác trong hoạt động tố tụng được lập theo mẫu thống nhất.
2.
Văn bản tố tụng ghi rõ:
a)
Số, ngày, tháng, năm, địa điểm ban hành văn bản tố tụng;
b)
Căn cứ ban hành văn bản tố tụng;
c)
Nội dung của văn bản tố tụng;
d)
Họ tên, chức vụ, chữ ký của người ban hành văn bản tố tụng và đóng dấu.
3.[64]
Chữ ký của người ban hành văn bản tố tụng là chữ ký trực tiếp hoặc chữ ký số.
Bộ
trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết khoản
này.
Điều 133. Biên bản
1. Khi tiến hành hoạt động
tố tụng phải lập biên bản theo mẫu thống nhất.
Biên
bản ghi rõ địa điểm, giờ, ngày, tháng, năm tiến hành tố tụng, thời gian bắt đầu
và thời gian kết thúc, nội dung của hoạt động tố tụng, người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng hoặc người liên quan đến hoạt động
tố tụng, khiếu nại, yêu cầu hoặc đề nghị của họ.
2.
Biên bản phải có chữ ký của những người mà Bộ luật này quy định. Những điểm sửa
chữa, thêm, bớt, tẩy xóa trong biên bản phải được xác nhận bằng chữ ký của họ.
Trường
hợp người tham gia tố tụng không ký vào biên bản thì người lập biên bản ghi rõ
lý do và mời người chứng kiến ký vào biên bản.
Trường
hợp người tham gia tố tụng không biết chữ thì người lập biên bản đọc biên bản
cho họ nghe với sự có mặt của người chứng kiến. Biên bản phải có điểm chỉ của
người tham gia tố tụng và chữ ký của người chứng kiến.
Trường
hợp người tham gia tố tụng có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc vì lý
do khác mà không thể ký vào biên bản thì người lập biên bản đọc biên bản cho họ
nghe với sự có mặt của người chứng kiến và những người tham gia tố tụng khác.
Biên bản phải có chữ ký của người chứng kiến.
Điều 134. Tính thời hạn
1. Thời hạn mà Bộ luật
này quy định được tính theo giờ, ngày, tháng, năm. Đêm được tính từ 22 giờ đến
06 giờ sáng ngày hôm sau.
Khi
tính thời hạn theo ngày thì thời hạn sẽ hết vào lúc 24 giờ ngày cuối cùng của
thời hạn.
Khi
tính thời hạn theo tháng thì thời hạn hết vào ngày trùng của tháng sau; nếu
tháng đó không có ngày trùng thì thời hạn hết vào ngày cuối cùng của tháng đó;
nếu thời hạn hết vào ngày nghỉ thì ngày làm việc đầu tiên tiếp theo được tính
là ngày cuối cùng của thời hạn.
Khi
tính thời hạn tạm giữ, tạm giam thì thời hạn hết vào ngày kết thúc thời hạn được
ghi trong lệnh, quyết định. Nếu thời hạn được tính bằng tháng thì 01 tháng được
tính là 30 ngày.
2.
Trường hợp có đơn hoặc giấy tờ gửi qua dịch vụ bưu chính thì thời hạn được
tính theo dấu bưu chính nơi gửi. Nếu có đơn hoặc giấy tờ gửi qua cơ sở giam
giữ thì thời hạn được tính từ ngày Trưởng Nhà tạm giữ, Trưởng phân trại
thuộc trại tạm giam[65], Trưởng Buồng tạm giữ
thuộc Đồn biên phòng, Giám thị Trại tạm giam, Giám thị Trại giam nhận đơn
hoặc giấy tờ đó.
Điều 135. Chi phí trong tố tụng hình sự[66]
1.
Chi phí trong tố tụng hình sự gồm án phí, lệ phí và các chi phí tố tụng.
2.
Án phí gồm án phí sơ thẩm, phúc thẩm hình sự, án phí sơ thẩm, phúc thẩm dân sự
trong vụ án hình sự.
3.
Lệ phí gồm lệ phí cấp bản sao bản án, quyết định, các giấy tờ khác của cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng và các khoản lệ phí khác mà pháp luật quy định.
4.
Chi phí tố tụng gồm:
a)
Chi phí cho người làm chứng, người phiên dịch, người dịch thuật, người bào chữa
trong trường hợp chỉ định người bào chữa;
b)
Chi phí giám định, định giá tài sản;
c)
Các khoản chi phí khác theo quy định của pháp luật.
5.[67]
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định cụ thể về chi phí tố tụng và việc miễn, giảm
chi phí tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
Điều 136. Trách nhiệm chi trả chi phí tố tụng, lệ phí
1.[68] Chi phí quy định tại điểm
a, chi phí định giá tài sản quy định tại điểm b và chi phí
quy định tại điểm c khoản 4 Điều 135 của Bộ luật này do
các cơ quan, người đã trưng cầu, yêu cầu, chỉ định chi trả; trường hợp Trung
tâm trợ giúp pháp lý nhà nước cử người bào chữa thì do Trung tâm
này chi trả. Chi phí giám định tư pháp thực hiện theo quy định của pháp luật
về giám định tư pháp.
2.
Án phí do người bị kết án hoặc Nhà nước chịu theo quy định của pháp luật. Người
bị kết án phải trả án phí theo quyết định của Tòa án. Mức án phí và căn cứ áp dụng
được ghi rõ trong bản án, quyết định của Tòa án.
3.
Trường hợp vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại, nếu Tòa án tuyên bố bị cáo
không có tội hoặc vụ án bị đình chỉ khi có căn cứ quy định tại khoản
2 Điều 155 của Bộ luật này thì bị hại phải trả án phí.
4.
Đối với các hoạt động tố tụng do người tham gia tố tụng yêu cầu thì việc chi
trả lệ phí, chi phí theo quy định của pháp luật.
Điều 137. Việc cấp, giao, chuyển, gửi, niêm yết hoặc thông
báo văn bản tố tụng
1. Việc cấp, giao, chuyển,
gửi, niêm yết hoặc thông báo văn bản tố tụng được thực hiện thông qua các phương
thức:
a)
Cấp, giao, chuyển trực tiếp;
b)
Gửi qua dịch vụ bưu chính;
c)
Niêm yết công khai;
d)[69]
Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, qua nền tảng số, phần
mềm ứng dụng dùng chung triển khai tại Trung tâm dữ liệu quốc gia, cổng thông
tin hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan tiến hành tố tụng.
2.
Việc cấp, giao, chuyển, gửi, niêm yết hoặc thông báo văn bản tố tụng phải thực
hiện theo quy định của Bộ luật này.
Điều 138. Thủ tục cấp, giao, chuyển trực tiếp văn bản tố tụng
1. Người thực hiện việc cấp,
giao, chuyển văn bản tố tụng phải trực tiếp chuyển giao cho người được nhận.
Người nhận phải ký nhận vào biên bản hoặc sổ giao nhận. Thời điểm để tính thời
hạn tố tụng là ngày họ ký nhận vào biên bản hoặc sổ giao nhận.
2.
Trường hợp người được nhận văn bản tố tụng vắng mặt thì văn bản tố tụng có thể
được giao cho người thân thích của họ có đủ năng lực hành vi dân sự ký nhận và
yêu cầu người này cam kết giao lại ngay cho người được nhận. Ngày ký nhận của
người thân thích là ngày được cấp, giao văn bản tố tụng.
Trường
hợp không thể giao cho người được nhận văn bản tố tụng quy định tại khoản này
thì có thể chuyển giao văn bản đó cho Ủy ban nhân dân cấp xã[70] nơi
người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập để giao lại
cho người được nhận. Cơ quan, tổ chức phải thông báo ngay kết quả việc cấp,
giao, gửi văn bản tố tụng cho các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
đã yêu cầu. Ngày ký nhận của cơ quan, tổ chức là ngày được cấp, giao văn bản
tố tụng.
3.
Trường hợp người được nhận văn bản tố tụng vắng mặt hoặc không rõ địa chỉ thì
người thực hiện việc cấp, giao phải lập biên bản về việc không thực hiện được
việc cấp, giao, có xác nhận của đại diện cơ quan, tổ chức nơi người đó cư trú,
làm việc, học tập.
Trường
hợp người được nhận văn bản tố tụng từ chối nhận văn bản tố tụng thì người thực
hiện việc cấp, giao phải lập biên bản về việc từ chối và có xác nhận của Ủy ban
nhân dân cấp xã[71] nơi người đó cư trú hoặc cơ
quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập.
4.
Trường hợp người được cấp, giao văn bản tố
tụng là cơ quan, tổ chức thì văn bản tố tụng được giao trực tiếp cho người đại diện
của cơ quan, tổ chức đó và phải được người này ký nhận. Thời điểm để tính thời
hạn tố tụng là ngày họ ký nhận vào biên bản hoặc sổ giao nhận.
Điều 139. Thủ tục gửi văn bản tố tụng qua dịch vụ bưu chính
Việc
gửi văn bản tố tụng qua dịch vụ bưu chính phải bằng thư bảo đảm và có xác nhận
của người nhận văn bản tố tụng. Văn bản có xác nhận phải được chuyển lại cho cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Thời điểm để tính thời hạn tố tụng là
ngày họ xác nhận đã nhận được văn bản tố tụng.
Điều 140. Thủ tục niêm yết công khai văn bản tố tụng
1. Việc niêm yết công
khai văn bản tố tụng được thực hiện khi không rõ địa chỉ hoặc không rõ người được
cấp, giao đang ở đâu.
2.
Việc niêm yết công khai văn bản tố tụng được thực hiện tại trụ sở Ủy ban nhân
dân cấp xã[72] nơi cuối cùng người được
cấp, giao văn bản tố tụng cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi cuối cùng
người đó làm việc, học tập.
Văn
bản tố tụng phải được niêm yết công khai ít nhất là 15 ngày kể từ ngày niêm yết.
Việc niêm yết công khai được lập biên bản ghi rõ ngày, tháng, năm niêm yết.
Thời
điểm để tính thời hạn tố tụng là ngày kết thúc việc niêm yết.
Điều 141. Thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại
chúng, qua nền tảng số, phần mềm ứng dụng dùng chung triển khai tại Trung tâm dữ
liệu quốc gia, cổng thông tin hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan tiến
hành tố tụng[73]
1.
Việc thông báo văn bản tố tụng trên phương tiện thông tin đại chúng, qua nền tảng
số, phần mềm ứng dụng dùng chung triển khai tại Trung tâm dữ liệu quốc gia, cổng
thông tin hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan tiến hành tố tụng được thực
hiện khi việc niêm yết công khai không có kết quả hoặc các trường hợp khác theo
quy định của pháp luật.
2.
Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng được đăng trên báo hàng ngày của
trung ương trong 03 số liên tiếp và phát sóng trên Đài Phát thanh hoặc Đài Truyền
hình của trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp.
Thời
điểm để tính thời hạn tố tụng là ngày kết thúc việc thông báo.
3.
Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định chi
tiết Điều này.
Điều 142. Trách nhiệm cấp, giao, chuyển, gửi, niêm yết,
thông báo văn bản tố tụng
1. Cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng phải cấp, giao, chuyển, gửi, niêm yết, thông báo văn bản
tố tụng cho người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan theo
quy định của Bộ luật này.
2.
Người được giao trách nhiệm cấp, giao, chuyển, gửi, niêm yết, thông báo văn bản
tố tụng nhưng không thực hiện, thực hiện không đầy đủ theo quy định của Bộ luật
này thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành
chính theo quy định của pháp luật.
Phần thứ hai
KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VỤ
ÁN HÌNH SỰ
Chương IX
KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ
Điều 143. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự
Chỉ được khởi tố vụ án
khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên
những căn cứ:
1.
Tố giác của cá nhân;
2.
Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
3.
Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;
4.
Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;
5.
Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;
6.
Người phạm tội tự thú.
Điều 144. Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
1. Tố giác về tội phạm là
việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm
quyền.
2.
Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ
chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm
trên phương tiện thông tin đại chúng.
3.
Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn
bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát có thẩm quyền xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm.
4.
Tố giác, tin báo về tội phạm có thể bằng lời hoặc bằng văn bản.
5.
Người nào cố ý tố giác, báo tin về tội phạm sai sự thật thì tuỳ tính chất, mức
độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu
trách nhiệm hình sự theo quy định của luật.
Điều 145. Trách nhiệm tiếp nhận và thẩm quyền giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
1. Mọi tố giác, tin báo về
tội phạm, kiến nghị khởi tố phải được tiếp nhận đầy đủ, giải quyết kịp thời. Cơ
quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận không được từ chối tiếp nhận tố giác,
tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
2.
Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến
nghị khởi tố gồm:
a)
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến
nghị khởi tố;
b)
Cơ quan, tổ chức khác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm.
3.
Thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố:
a)
Cơ quan điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
theo thẩm quyền điều tra của mình;
b)
Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm theo thẩm quyền điều tra của mình;
c)
Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong
trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm
tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu
bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc
phục.
4.
Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
có trách nhiệm thông báo kết quả giải quyết cho cá nhân, cơ quan, tổ chức đã
tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
Điều 146. Thủ tục tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm,
kiến nghị khởi tố
1.
Khi cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị
khởi tố thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền quy định tại khoản
2 Điều 145 của Bộ luật này phải lập biên bản tiếp nhận và ghi vào sổ
tiếp nhận; có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh việc tiếp nhận.
Trường
hợp tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gửi qua dịch vụ bưu chính,
điện thoại hoặc qua phương tiện thông tin khác thì ghi vào sổ tiếp nhận.
2.
Trường hợp phát hiện tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố không thuộc
thẩm quyền giải quyết của mình thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm chuyển ngay tố giác, tin báo
về tội phạm, kiến nghị khởi tố kèm theo tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho
Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
Viện
kiểm sát có trách nhiệm chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm, kiến
nghị khởi tố kèm theo tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra
có thẩm quyền.
Trường
hợp quy định tại điểm c khoản 3 Điều 145 của Bộ luật này
thì trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày Viện kiểm sát có yêu cầu, cơ quan có thẩm
quyền đang thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
đó phải chuyển hồ sơ có liên quan cho Viện kiểm sát để xem xét, giải quyết.
3.[74]
Công an cấp xã[75], Đồn Công an có trách nhiệm tiếp
nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận, tiến hành kiểm tra,
xác minh sơ bộ và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu,
đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
4.
Các cơ quan, tổ chức khác sau khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạm thì
chuyển ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Trường hợp khẩn cấp thì có thể báo tin trực tiếp qua điện thoại hoặc hình
thức khác cho Cơ quan điều tra nhưng sau đó phải thể hiện bằng văn bản.
5.
Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến
nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về việc tiếp nhận đó cho[76]
Viện kiểm sát có thẩm quyền.
Điều 147. Thời hạn, thủ tục giải quyết tố giác, tin báo về
tội phạm, kiến nghị khởi tố
1.
Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến
nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra phải kiểm tra, xác minh và ra một trong các quyết định:
a)
Quyết định khởi tố vụ án hình sự;
b)
Quyết định không khởi tố vụ án hình sự;
c)
Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị
khởi tố.
2.
Trường hợp vụ việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có
nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời
hạn giải quyết tố giác, tin báo, kiến nghị khởi tố có thể kéo dài nhưng không
quá 02 tháng. Trường hợp chưa thể kết thúc việc kiểm tra, xác minh trong thời hạn
quy định tại khoản này thì[77] Viện trưởng Viện kiểm sát
có thẩm quyền có thể gia hạn một lần nhưng không quá 02 tháng.
Chậm
nhất là 05 ngày trước khi hết thời hạn kiểm tra, xác minh quy định tại khoản này,
Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra phải có văn bản đề nghị[78] Viện kiểm sát có thẩm
quyền gia hạn thời hạn kiểm tra, xác minh.
3.
Khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm
quyền có quyền tiến hành các hoạt động:
a)
Thu thập thông tin, tài liệu, đồ vật từ cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan
để kiểm tra, xác minh nguồn tin;
b)
Khám nghiệm hiện trường;
c)
Khám nghiệm tử thi;
d)
Trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản.
4.
Trình tự, thủ tục, thời hạn Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm,
kiến nghị khởi tố được thực hiện theo quy định tại Điều này.
Điều 148. Tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về
tội phạm, kiến nghị khởi tố
1.
Hết thời hạn quy định tại Điều 147 của Bộ luật này, cơ quan
có thẩm quyền giải quyết quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố khi thuộc một trong các trường hợp:
a)[79]
Đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản nhưng chưa có kết quả; đã yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa kết thúc theo quy định của
Luật Tương trợ tư pháp về hình sự;
b)
Đã yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật quan trọng có ý
nghĩa quyết định đối với việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án nhưng chưa có kết
quả;
c)[80]
Không thể kết thúc việc kiểm tra, xác minh để quyết định khởi tố hoặc không khởi
tố vụ án vì lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh.
Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Công
an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và thủ trưởng các cơ quan khác có liên quan quy định
chi tiết điểm này.
2.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải gửi quyết định tạm đình
chỉ kèm theo tài liệu liên quan đến[81] Viện
kiểm sát có thẩm quyền để kiểm sát và gửi quyết định tạm đình chỉ đó cho
cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
Trường
hợp quyết định tạm đình chỉ không có căn cứ thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy
bỏ quyết định tạm đình chỉ để tiếp tục giải quyết. Trong thời hạn 24 giờ kể từ
khi ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ, Viện kiểm sát phải gửi quyết
định đó cho Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra, cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến
nghị khởi tố. Thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi
tố tiếp không quá 01 tháng kể từ ngày Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận được quyết định hủy bỏ quyết định tạm
đình chỉ.
3.[82]
Trường hợp tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị
khởi tố thì việc giám định, định giá tài sản tiếp tục được tiến hành cho đến
khi có kết quả; việc tương trợ tư pháp tiếp tục
được tiến hành cho đến khi kết thúc theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp về
hình sự.
Điều 149. Phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm,
kiến nghị khởi tố
1.[83]
Khi lý do tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị
khởi tố không còn, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định phục hồi giải quyết tố giác,
tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về
tội phạm, kiến nghị khởi tố tiếp không quá 01 tháng kể từ ngày ra quyết định phục
hồi.
2.
Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định phục hồi giải quyết tố giác,
tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải gửi quyết định phục hồi
cho[84]
Viện kiểm sát có thẩm quyền, cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo
tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
Điều 150. Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
1.
Tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi
tố do Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp giải quyết. Tranh chấp thẩm quyền giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra do Viện kiểm sát có thẩm quyền giải quyết.
2.[85] Tranh chấp về thẩm quyền
giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố giữa các Cơ quan điều
tra quân sự khu vực thuộc các quân khu khác nhau do Viện kiểm sát quân sự cấp
quân khu nơi đầu tiên tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
giải quyết.
3.
Tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi
tố giữa các Cơ quan điều tra của Công an nhân dân, Cơ quan điều tra trong Quân
đội nhân dân và Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao giải quyết.
Điều 151. Giải quyết vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện
Cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm thì
quyết định việc khởi tố vụ án theo thẩm quyền hoặc chuyển cho Cơ quan điều tra
có thẩm quyền giải quyết.
Điều 152. Người phạm tội tự thú, đầu thú
1.
Khi người phạm tội đến tự thú, đầu thú, cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập
biên bản ghi rõ họ tên, tuổi, nghề nghiệp, chỗ ở và lời khai của người tự thú,
đầu thú. Cơ quan, tổ chức tiếp nhận người phạm tội tự thú, đầu thú có trách
nhiệm thông báo ngay cho Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát.
2.
Trường hợp xác định tội phạm do người tự thú, đầu thú thực hiện không thuộc
thẩm quyền điều tra của mình thì Cơ quan điều tra tiếp nhận người tự thú, đầu
thú phải thông báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền để tiếp nhận, giải
quyết.
3.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi tiếp nhận người phạm tội tự thú, đầu thú, Cơ
quan điều tra có thẩm quyền phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát có
thẩm quyền[86].
Điều 153. Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự
1.
Cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tất cả vụ việc có dấu
hiệu tội phạm, trừ những vụ việc do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử đang thụ lý,
giải quyết quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này.
2.
Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định khởi
tố vụ án hình sự trong trường hợp quy định tại Điều 164 của Bộ
luật này.
3.
Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp:
a)
Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều
tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;
b)
Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi
tố;
c)
Viện kiểm sát trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm hoặc theo yêu cầu khởi tố của
Hội đồng xét xử.
4.[87]
Hội đồng xét xử yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử
tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm.
Điều 154. Quyết định khởi tố vụ án hình sự
1.
Quyết định khởi tố vụ án hình sự phải ghi rõ căn cứ khởi tố, điều, khoản của Bộ
luật Hình sự được áp dụng và các nội dung quy định tại khoản 2
Điều 132 của Bộ luật này.
2.[88]
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm
sát phải gửi quyết định đó đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền để tiến hành điều
tra.
Trong
thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Cơ quan điều
tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải gửi
quyết định đó kèm theo tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát có thẩm quyền để kiểm
sát việc khởi tố.
Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại
1.[89]
Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều
134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 của Bộ luật Hình sự khi có yêu cầu
của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược
điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.
2.
Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ,
trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với
ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu
cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối
với vụ án.
3.
Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền
yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.
Điều 156. Thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án
hình sự
1.
Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra, Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự khi
có căn cứ xác định tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội xảy ra;
ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự khi có căn cứ xác định
còn tội phạm khác chưa bị khởi tố.
2.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định
khởi tố vụ án hình sự, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra phải gửi quyết định kèm theo các tài liệu liên quan đến
việc thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự cho[90] Viện
kiểm sát có thẩm quyền để kiểm sát việc khởi tố.
Trong
thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố
vụ án hình sự, Viện kiểm sát phải gửi cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều
tra.
Điều 157. Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự
Không
được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong các căn cứ sau:
1.
Không có sự việc phạm tội;
2.
Hành vi không cấu thành tội phạm;
3.
Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm
hình sự;
4.
Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có
hiệu lực pháp luật;
5.
Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
6.
Tội phạm đã được đại xá;
7.
Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm
đối với người khác;
8.[91]
Tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155
và 156 của Bộ luật Hình sự mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu
khởi tố.
Điều 158. Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định
hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự
1.
Khi có một trong các căn cứ quy định tại Điều 157 của Bộ luật
này thì người có quyền khởi tố vụ án ra quyết định không khởi tố vụ án hình
sự; nếu đã khởi tố thì phải ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án
hình sự và thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội
phạm, kiến nghị khởi tố biết rõ lý do; nếu xét thấy cần xử lý bằng biện pháp
khác thì chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Quyết
định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án
hình sự và các tài liệu có liên quan phải gửi cho[92] Viện
kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định.
2.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác hoặc báo tin về tội phạm có quyền khiếu nại
quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Thẩm quyền và thủ tục giải quyết khiếu
nại được thực hiện theo quy định tại Chương XXXIII của Bộ luật này.
Điều 159. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực
hành quyền công tố trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm
1.
Phê chuẩn, không phê chuẩn việc bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, gia
hạn tạm giữ; phê chuẩn, không phê chuẩn các biện pháp khác hạn chế quyền con
người, quyền công dân trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm theo quy định
của Bộ luật này.
2.
Khi cần thiết, đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền
giải quyết nguồn tin về tội phạm thực hiện.
3.
Quyết định gia hạn thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị
khởi tố; quyết định khởi tố vụ án hình sự.
4.
Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra khởi tố vụ án hình sự.
5.
Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong các
trường hợp do Bộ luật này quy định.
6.
Hủy bỏ quyết định tạm giữ, quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định không
khởi tố vụ án hình sự, quyết định tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm
và các quyết định tố tụng khác trái pháp luật của Cơ quan điều tra, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.
7.
Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc thực hành quyền công tố theo quy
định của Bộ luật này nhằm chống bỏ lọt tội phạm, chống làm oan người vô tội.
Điều 160. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong việc
tiếp nhận và kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm
1.
Tiếp nhận đầy đủ tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố do cơ quan, tổ
chức, cá nhân chuyển đến, tiếp nhận người phạm tội tự thú, đầu thú và chuyển
ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết.
2.
Kiểm sát việc tiếp nhận, trực tiếp kiểm sát, kiểm sát việc kiểm tra, xác minh
và việc lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm của Cơ quan điều tra, cơ
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; kiểm sát việc tạm
đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm; kiểm sát việc phục hồi giải quyết
nguồn tin về tội phạm.
3.
Khi phát hiện việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm không đầy đủ, vi
phạm pháp luật thì yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra thực hiện các hoạt động:
a)
Tiếp nhận, kiểm tra, xác minh, ra quyết định giải quyết nguồn tin về tội phạm đầy
đủ, đúng pháp luật;
b)
Kiểm tra việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm và thông báo kết quả
cho Viện kiểm sát;
c)
Cung cấp tài liệu về vi phạm pháp luật trong việc tiếp nhận, giải quyết nguồn
tin về tội phạm;
d)
Khắc phục vi phạm pháp luật và xử lý nghiêm người vi phạm;
đ)
Yêu cầu thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra.
4.
Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm.
5.
Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra cung cấp tài liệu liên quan để kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội
phạm.
6.
Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết
nguồn tin về tội phạm theo quy định của Bộ luật này.
Điều 161. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền
công tố và kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự
1.
Khi thực hành quyền công tố trong việc khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát có
những nhiệm vụ, quyền hạn:
a)
Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự;
b)
Hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố
vụ án hình sự, quyết định không khởi tố vụ án hình sự không có căn cứ và
trái pháp luật;
c)[93]
(được bãi bỏ)
d)
Khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự trong các trường
hợp do Bộ luật này quy định;
đ)
Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác để thực hành quyền công tố trong việc
khởi tố vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật này.
2.
Khi kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát có những nhiệm vụ, quyền
hạn:
a)
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố của Cơ quan điều tra, cơ
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, bảo đảm mọi tội phạm
được phát hiện đều phải được khởi tố, việc khởi tố vụ án có căn cứ và đúng
pháp luật;
b)
Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra cung cấp tài liệu liên quan để kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự;
c)
Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự
theo quy định của Bộ luật này.
Điều 162. Trách nhiệm của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong việc thực hiện yêu cầu, quyết định
của Viện kiểm sát trong việc khởi tố
1.
Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra phải thực hiện yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát trong việc khởi tố.
2.
Đối với quyết định quy định tại khoản 1 và khoản 6 Điều 159, điểm
b khoản 1 Điều 161 của Bộ luật này, nếu không nhất trí, Cơ quan điều tra,
cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra vẫn phải thực hiện
nhưng có quyền kiến nghị với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn
20 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị của Cơ quan điều tra hoặc trong thời hạn
05 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải
quyết và thông báo kết quả giải quyết cho cơ quan đã kiến nghị.
Chương X
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ
ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
Điều 163. Thẩm quyền điều tra
1.
Cơ quan điều tra của Công an nhân dân điều tra tất cả các tội phạm, trừ những tội
phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và
Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
2.
Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân điều tra các tội phạm thuộc thẩm quyền
xét xử của Tòa án quân sự.
3.
Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát
quân sự trung ương điều tra tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về
tham nhũng, chức vụ quy định tại Chương XXIII và Chương XXIV của Bộ luật Hình
sự xảy ra trong hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc
Cơ quan điều tra, Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền
tiến hành hoạt động tư pháp.
4.
Cơ quan điều tra có thẩm quyền điều tra những vụ án hình sự mà tội phạm xảy ra
trên địa phận của mình. Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác
nhau hoặc không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm thì việc điều tra thuộc
thẩm quyền của Cơ quan điều tra nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can cư trú hoặc
bị bắt.
5.
Việc phân cấp thẩm quyền điều tra như sau:
a)[94] Cơ quan điều tra cấp tỉnh
điều tra vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án
nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực;
b)[95] Cơ quan điều tra quân sự khu vực
điều tra vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án
quân sự khu vực; Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu điều tra vụ án hình sự về
những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự cấp quân khu hoặc những
vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp khu vực nếu xét thấy
cần trực tiếp điều tra;
c)
Cơ quan điều tra Bộ Công an, Cơ quan điều tra Bộ Quốc phòng điều tra vụ án
hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao hủy để điều tra lại; vụ án hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng,
phức tạp liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố[96], vụ án
hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp liên quan đến nhiều quốc
gia nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra.
Điều 164. Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan của Bộ đội
biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư và cơ quan
khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra
1.
Khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm trong lĩnh vực và địa bàn quản lý của
mình thì các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh
sát biển, Kiểm ngư được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra có nhiệm vụ, quyền hạn:
a)
Đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ
và lý lịch người phạm tội rõ ràng thì quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi
tố bị can, tiến hành điều tra và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm
quyền trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án hình sự;
b)
Đối với tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp thì quyết định khởi tố
vụ án hình sự, tiến hành hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ vụ án cho
Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định
khởi tố vụ án hình sự.
2.
Trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân, ngoài các Cơ quan điều tra quy định
tại Điều 163 của Bộ luật này, các cơ quan khác được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong khi làm nhiệm vụ của mình, nếu
phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm thì có quyền khởi tố vụ án hình sự, tiến
hành hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra có
thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.
3.
Các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát
biển, Kiểm ngư, cơ quan khác trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải thực hiện đúng nhiệm vụ,
quyền hạn quy định tại Điều 39 và Điều 40 của Bộ luật này
và thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự, thủ tục tố tụng đối với hoạt động điều
tra do Bộ luật này quy định. Viện kiểm sát có trách nhiệm thực hành quyền công
tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra của các cơ quan
này.
4.
Thẩm quyền điều tra cụ thể của các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan,
Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư và cơ quan khác của Công an nhân
dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
thực hiện theo quy định của Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự.
Điều 165. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực
hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
1.
Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi
tố bị can.
2.
Phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết
định khởi tố bị can không có căn cứ và trái pháp luật.
3.
Khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can
trong các trường hợp do Bộ luật này quy định.
4.
Phê chuẩn, không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, gia
hạn tạm giữ, việc tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, khám xét, thu giữ,
tạm giữ đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, áp dụng biện pháp điều
tra tố tụng đặc biệt; phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định tố tụng khác
không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật này; hủy bỏ
các quyết định tố tụng không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra,
cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Trường hợp
không phê chuẩn hoặc hủy bỏ thì trong quyết định không phê chuẩn hoặc hủy bỏ phải
nêu rõ lý do.
5.
Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế
theo quy định của Bộ luật này.
6.
Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành điều tra để làm rõ tội phạm, người
phạm tội; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can, áp dụng biện pháp điều tra tố
tụng đặc biệt.
7.
Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong trường hợp để kiểm tra, bổ
sung tài liệu, chứng cứ khi xét phê chuẩn lệnh, quyết định của Cơ quan điều
tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc trường
hợp phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm, vi phạm pháp luật mà Viện
kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục hoặc trường hợp để
kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi quyết định việc truy tố.
8.
Khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện hành vi của người có thẩm quyền trong việc
giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố,
điều tra có dấu hiệu tội phạm; yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự
khi phát hiện hành vi của người có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác,
tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra có dấu
hiệu tội phạm.
9.
Quyết định việc gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam; quyết định chuyển
vụ án, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh; hủy bỏ
quyết định tách, nhập vụ án.
10.
Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc thực hành quyền công tố theo quy
định của Bộ luật này.
Điều 166. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm
sát điều tra vụ án hình sự
1.
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, điều tra và lập hồ sơ vụ
án của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra.
2.
Kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến
nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố
tụng vi phạm pháp luật.
3.
Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra.
4.
Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra cung cấp tài liệu liên quan để kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
việc khởi tố, điều tra khi cần thiết.
5.
Khi phát hiện việc điều tra không đầy đủ, vi phạm pháp luật thì Viện kiểm sát
yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra thực hiện các hoạt động:
a)
Tiến hành hoạt động điều tra đúng pháp luật;
b)
Kiểm tra việc điều tra và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát;
c)
Cung cấp tài liệu liên quan đến hành vi, quyết định tố tụng có vi phạm pháp luật
trong việc điều tra.
6.
Kiến nghị, yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra khắc phục vi phạm trong việc khởi tố, điều tra.
7.
Yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra, xử lý nghiêm minh Điều
tra viên, Cán bộ điều tra vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng.
8.
Kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm
và vi phạm pháp luật.
9.
Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc kiểm sát điều tra vụ án hình sự
theo quy định của Bộ luật này.
Điều 167. Trách nhiệm của Cơ quan điều tra, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong việc thực hiện yêu cầu,
quyết định của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra
1.
Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra phải thực hiện yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát trong giai đoạn
điều tra.
2.
Đối với quyết định quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 165 của
Bộ luật này nếu không nhất trí, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra vẫn phải thực hiện nhưng có quyền kiến nghị
với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được
kiến nghị của Cơ quan điều tra hoặc trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được
kiến nghị của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra,
Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết và thông báo kết quả
giải quyết cho cơ quan đã kiến nghị.
Điều 168. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân
trong việc thực hiện quyết định, yêu cầu của Cơ quan điều tra, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát
Cơ
quan, tổ chức, cá nhân phải nghiêm chỉnh thực hiện quyết định, yêu cầu của Cơ
quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra,
Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự; trường hợp không chấp
hành mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì bị xử
lý theo quy định của pháp luật.
Điều 169. Chuyển vụ án để điều tra
1.
Viện kiểm sát có thẩm quyền[97] quyết định việc chuyển vụ án để
điều tra khi thuộc một trong các trường hợp:
a)
Cơ quan điều tra cùng cấp xét thấy vụ án không thuộc thẩm quyền điều tra và đề
nghị chuyển vụ án;
b)
Cơ quan điều tra cấp trên rút vụ án để điều tra;
c)
Điều tra viên bị thay đổi là Thủ trưởng Cơ quan điều tra;
d)
Viện kiểm sát đã yêu cầu chuyển vụ án mà Cơ quan điều tra không thực hiện.
2.
Việc chuyển vụ án ra ngoài phạm vi tỉnh, thành phố[98] hoặc
ngoài phạm vi quân khu do Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự
cấp quân khu quyết định.
3.
Thủ tục chuyển vụ án để điều tra theo thẩm quyền:
a)
Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị của Cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát có thẩm quyền phải ra quyết định chuyển vụ án;
b)
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định chuyển vụ án, Viện kiểm sát phải
gửi quyết định đó đến Cơ quan điều tra đang điều tra vụ án, Cơ quan điều tra
có thẩm quyền tiếp tục điều tra vụ án, bị can hoặc người đại diện của bị can,
người bào chữa, bị hại và Viện kiểm sát có thẩm quyền.
4.
Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định chuyển vụ án, Cơ quan điều
tra đang điều tra vụ án có trách nhiệm chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra
có thẩm quyền để tiếp tục điều tra.
5.
Thời hạn điều tra được tính tiếp từ ngày Cơ quan điều tra nhận được hồ sơ vụ
án cho đến hết thời hạn điều tra vụ án theo quy định của Bộ luật này. Trường hợp
hết thời hạn điều tra mà không thể kết thúc việc điều tra thì Viện kiểm sát có
thẩm quyền xem xét, quyết định gia hạn điều tra theo thủ tục chung quy định tại
Bộ luật này.
Điều 170. Nhập hoặc tách vụ án hình sự để tiến hành điều
tra
1.
Cơ quan điều tra có thể nhập để tiến hành điều tra theo thẩm quyền trong cùng một
vụ án khi thuộc một trong các trường hợp:
a)
Bị can phạm nhiều tội;
b)
Bị can phạm tội nhiều lần;
c)
Nhiều bị can cùng thực hiện một tội phạm hoặc cùng với bị can còn có
những người khác che giấu tội phạm hoặc không tố giác tội phạm, tiêu thụ tài sản
do bị can phạm tội mà có.
2.
Cơ quan điều tra chỉ được tách vụ án trong trường hợp cần thiết khi không thể
hoàn thành sớm việc điều tra đối với tất cả các tội phạm và nếu việc tách đó
không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án.
3.
Quyết định nhập hoặc tách vụ án phải gửi cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[99]
trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định. Trường hợp không nhất trí với
quyết định nhập hoặc tách vụ án của Cơ quan điều tra thì Viện kiểm sát ra quyết
định hủy bỏ và nêu rõ lý do.
Điều 171. Ủy thác điều tra
1.[100] Khi cần thiết, Cơ quan điều
tra ủy thác cho Cơ quan điều tra khác tiến hành một số hoạt động điều tra. Quyết
định ủy thác điều tra phải ghi rõ yêu cầu và gửi cho Cơ quan điều tra được ủy
thác, Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát đối với hoạt
động điều tra được ủy thác.
2.
Cơ quan điều tra được ủy thác phải thực hiện đầy đủ những việc được ủy thác
trong thời hạn mà Cơ quan điều tra ủy thác yêu cầu và chịu trách nhiệm trước
pháp luật về kết quả thực hiện ủy thác điều tra. Trường hợp không thực hiện được
việc ủy thác thì phải có ngay văn bản nêu rõ lý do gửi Cơ quan điều tra đã ủy
thác.
3.[101] Viện kiểm sát có thẩm quyền
có trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát đối với hoạt động điều tra
được ủy thác và phải chuyển ngay kết quả cho Viện kiểm sát đã ủy thác thực hành
quyền công tố và kiểm sát điều tra.
Điều 172. Thời hạn điều tra
1.
Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm
trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối
với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ khi khởi
tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.
2.
Trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án thì chậm nhất
là 10 ngày trước khi hết thời hạn điều tra, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề
nghị Viện kiểm sát gia hạn điều tra.
Việc
gia hạn điều tra được quy định như sau:
a)
Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá
02 tháng;
b)
Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, lần thứ nhất
không quá 03 tháng và lần thứ hai không quá 02 tháng;
c)
Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, mỗi lần
không quá 04 tháng;
d)
Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra ba lần, mỗi
lần không quá 04 tháng.
3.
Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà thời hạn gia hạn điều tra đã hết
nhưng do tính chất rất phức tạp của vụ án mà chưa thể kết thúc việc điều tra
thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể gia hạn thêm một lần
không quá 04 tháng.
Đối
với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao có quyền gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng.
4.
Trường hợp thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, nhập vụ án
thì tổng thời hạn điều tra không vượt quá thời hạn quy định tại các khoản 1, 2
và 3 Điều này.
5.
Thẩm quyền gia hạn điều tra của Viện kiểm sát:
a)[102] Đối với tội phạm ít nghiêm trọng
thì Viện kiểm sát nhân dân khu vực, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều
tra. Trường hợp vụ án do Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự
cấp quân khu thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra thì Viện kiểm sát nhân
dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra;
b)[103] Đối với tội phạm nghiêm trọng
thì Viện kiểm sát nhân dân khu vực, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều
tra lần thứ nhất và lần thứ hai. Trường hợp vụ án do Viện kiểm sát nhân dân cấp
tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu thực hành quyền công tố, kiểm sát điều
tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia
hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai;
c)[104] Đối với tội phạm rất nghiêm
trọng thì Viện kiểm sát nhân dân khu vực, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn
điều tra lần thứ nhất; Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp
quân khu gia hạn điều tra lần thứ hai. Trường hợp vụ án do Viện kiểm sát nhân
dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu thực hành quyền công tố, kiểm
sát điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp
quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai;
d)
Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện
kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai; Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương gia hạn điều tra lần
thứ ba.
6.
Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra Bộ Công an, Cơ quan điều tra Bộ Quốc
phòng, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao thụ lý điều tra
thì việc gia hạn điều tra thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
Viện kiểm sát quân sự trung ương.
Điều 173. Thời hạn tạm giam để điều tra
1.
Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá 02 tháng đối với tội phạm ít
nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04
tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
2.
Trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn
cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam
thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn tạm giam, Cơ quan điều tra phải
có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn tạm giam.
Việc
gia hạn tạm giam được quy định như sau:
a)
Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá
01 tháng;
b)
Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 02
tháng;
c)
Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không
quá 03 tháng;
d)
Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, mỗi
lần không quá 04 tháng.
3.
Thẩm quyền gia hạn tạm giam của Viện kiểm sát:
a)[105] Viện kiểm sát nhân dân khu vực,
Viện kiểm sát quân sự khu vực có quyền gia hạn tạm giam đối với tội phạm ít
nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng. Trường hợp vụ
án do Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu thực
hành quyền công tố, kiểm sát điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện
kiểm sát quân sự cấp quân khu có quyền gia hạn tạm giam đối với tội phạm ít
nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng.
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp
quân khu gia hạn tạm giam lần thứ nhất đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
b)
Trường hợp thời hạn gia hạn tạm giam lần thứ nhất quy định tại điểm a khoản này
đã hết mà chưa thể kết thúc việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy
bỏ biện pháp tạm giam thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự
cấp quân khu có thể gia hạn tạm giam lần thứ hai đối với tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng.
4.
Trường hợp vụ án do Cơ quan điều tra Bộ Công an, Cơ quan điều tra Bộ Quốc
phòng, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao thụ lý điều tra
thì việc gia hạn tạm giam thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
Viện kiểm sát quân sự trung ương.
5.
Trường hợp cần thiết đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng. Trường
hợp thời hạn gia hạn tạm giam quy định tại khoản này đã hết mà chưa thể kết
thúc việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm
giam thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần
nhưng không quá 01 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 02 tháng đối
với tội phạm rất nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng. Trường hợp đặc biệt đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
xâm phạm an ninh quốc gia mà không có căn cứ để hủy bỏ biện pháp tạm giam
thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định việc tạm giam cho đến
khi kết thúc việc điều tra.
6.
Trường hợp cần thiết đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng không phải là tội
xâm phạm an ninh quốc gia và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp
tạm giam thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một
lần nhưng không quá 04 tháng; trường hợp đặc biệt không có căn cứ để hủy bỏ biện
pháp tạm giam thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định việc tạm
giam cho đến khi kết thúc việc điều tra.
7.
Trong thời hạn tạm giam, nếu xét thấy không cần thiết phải tiếp tục tạm giam
thì Cơ quan điều tra phải kịp thời đề nghị Viện kiểm sát hủy bỏ việc tạm giam để
trả tự do cho người bị tạm giam hoặc xét thấy cần thiết thì áp dụng biện
pháp ngăn chặn khác.
Khi
đã hết thời hạn tạm giam thì người bị tạm giam phải được trả tự do. Trường hợp
xét thấy cần thiết thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng
biện pháp ngăn chặn khác.
Điều 174. Thời hạn phục hồi điều tra, điều tra bổ sung, điều
tra lại
1.
Trường hợp phục hồi điều tra quy định tại Điều 235 của Bộ luật
này thì thời hạn điều tra tiếp không quá 02 tháng đối với tội phạm ít
nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và không quá 03 tháng đối với tội phạm rất
nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ khi có quyết định phục hồi điều
tra cho đến khi kết thúc điều tra.
Trường
hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án thì chậm nhất là 10
ngày trước khi hết thời hạn điều tra, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị
Viện kiểm sát gia hạn điều tra.
Việc
gia hạn điều tra được quy định như sau:
a)
Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá
01 tháng;
b)
Đối với tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều
tra một lần không quá 02 tháng;
c)
Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần
không quá 03 tháng.
Thẩm
quyền gia hạn điều tra đối với từng loại tội phạm theo quy định tại khoản 5 Điều 172 của Bộ luật này.
2.
Trường hợp vụ án do Viện kiểm sát trả lại để yêu cầu điều tra bổ sung thì thời
hạn điều tra bổ sung không quá 02 tháng; nếu do Tòa án trả lại để yêu cầu điều
tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không quá 01 tháng. Viện kiểm sát chỉ
được trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung hai lần. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa chỉ
được trả hồ sơ để điều tra bổ sung một lần và Hội đồng xét xử chỉ được trả hồ
sơ để điều tra bổ sung một lần.
Thời
hạn điều tra bổ sung tính từ ngày Cơ quan điều tra nhận lại hồ sơ vụ án và yêu
cầu điều tra bổ sung.
3.
Trường hợp vụ án được trả lại để điều tra lại thì thời hạn điều tra và gia hạn điều
tra thực hiện theo quy định tại Điều 172 của Bộ luật này.
Thời
hạn điều tra được tính từ khi Cơ quan điều tra nhận hồ sơ và yêu cầu điều tra lại.
4.
Khi phục hồi điều tra, điều tra bổ sung, điều tra lại, Cơ quan điều tra có quyền
áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế theo
quy định của Bộ luật này.
Trường
hợp có căn cứ theo quy định của Bộ luật này cần phải tạm giam thì thời hạn tạm
giam để phục hồi điều tra, điều tra bổ sung không được quá thời hạn phục hồi điều
tra, điều tra bổ sung quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Thời
hạn tạm giam và gia hạn tạm giam trong trường hợp vụ án được điều tra lại thực
hiện theo quy định tại Điều 173 của Bộ luật này.
Điều 175. Giải quyết yêu cầu, đề nghị của người tham gia
tố tụng
1.
Khi người tham gia tố tụng có yêu cầu, đề nghị về những vấn đề liên quan đến
vụ án thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra, Viện kiểm sát trong phạm vi trách nhiệm của mình giải quyết yêu cầu,
đề nghị đó và báo cho họ biết kết quả. Trường hợp không chấp nhận yêu cầu,
đề nghị thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra hoặc Viện kiểm sát phải trả lời và nêu rõ lý do.
2.
Trường hợp không đồng ý với kết quả giải quyết của Cơ quan điều tra, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc Viện kiểm sát thì người
tham gia tố tụng có quyền khiếu nại. Việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại được
thực hiện theo quy định tại Chương XXXIII của Bộ luật này.
Điều 176. Sự tham dự của người chứng kiến
Người
chứng kiến được triệu tập để chứng kiến hoạt động điều tra trong các trường hợp
do Bộ luật này quy định.
Người
chứng kiến có trách nhiệm xác nhận nội dung, kết quả công việc mà người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng đã tiến hành trong khi mình có mặt và có thể nêu ý
kiến cá nhân. Ý kiến này được ghi vào biên bản.
Điều 177. Không được tiết lộ bí mật điều tra
Trường
hợp cần giữ bí mật điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm
tra viên phải yêu cầu người tham gia tố tụng không được tiết lộ bí mật điều
tra. Yêu cầu này được ghi vào biên bản.
Điều
tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, người tham gia tố tụng
tiết lộ bí mật điều tra thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật,
xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định
của luật.
Điều 178. Biên bản điều tra
Khi
tiến hành hoạt động điều tra, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải lập
biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này.
Điều
tra viên, Cán bộ điều tra lập biên bản phải đọc biên bản cho người tham gia tố
tụng nghe, giải thích cho họ quyền được bổ sung và nhận xét về biên bản. Ý kiến
bổ sung, nhận xét được ghi vào biên bản; trường hợp không chấp nhận bổ sung thì
ghi rõ lý do vào biên bản. Người tham gia tố tụng, Điều tra viên, Cán bộ điều
tra cùng ký tên vào biên bản.
Trường
hợp Kiểm sát viên, Kiểm tra viên lập biên bản thì biên bản được thực hiện theo
quy định tại Điều này. Biên bản phải được chuyển ngay cho Điều tra viên để đưa
vào hồ sơ vụ án.
Việc
lập biên bản trong giai đoạn khởi tố được thực hiện theo quy định tại Điều này.
Chương XI
KHỞI TỐ BỊ CAN VÀ HỎI
CUNG BỊ CAN
Điều 179. Khởi tố bị can
1. Khi có đủ căn cứ để
xác định một người hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định
là tội phạm thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can.
2.
Quyết định khởi tố bị can ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết định; họ tên, chức
vụ người ra quyết định; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, quốc tịch, dân tộc, tôn
giáo, giới tính, chỗ ở, nghề nghiệp của bị can; bị can bị khởi tố về tội gì,
theo điều, khoản nào của Bộ luật Hình sự; thời gian, địa điểm phạm tội và những
tình tiết khác của tội phạm.
Trường
hợp bị can bị khởi tố về nhiều tội khác nhau thì quyết định khởi tố bị can phải
ghi rõ từng tội danh và điều, khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng.
3.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, Cơ quan điều tra
phải gửi quyết định khởi tố và tài liệu liên quan đến việc khởi tố bị can cho
Viện kiểm sát có thẩm quyền[106] để xét phê chuẩn. Trong thời
hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải quyết
định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can hoặc yêu cầu bổ
sung chứng cứ, tài liệu làm căn cứ để quyết định việc phê chuẩn và gửi ngay cho
Cơ quan điều tra.
Trường
hợp Viện kiểm sát yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu thì trong thời hạn 03 ngày
kể từ ngày nhận được chứng cứ, tài liệu bổ sung, Viện kiểm sát phải ra quyết định
phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can.
4.
Trường hợp phát hiện có người đã thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định
là tội phạm chưa bị khởi tố thì Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết
định khởi tố bị can hoặc trực tiếp ra quyết định khởi tố bị can nếu đã yêu cầu
nhưng Cơ quan điều tra không thực hiện. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết
định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải gửi cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều
tra.
Sau
khi nhận hồ sơ và kết luận điều tra nếu Viện kiểm sát phát hiện có người khác
đã thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm trong vụ án chưa bị
khởi tố thì Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố bị can và trả hồ sơ cho Cơ quan
điều tra để điều tra bổ sung.
5.
Sau khi nhận được quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can hoặc quyết định
khởi tố bị can của Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra phải giao ngay quyết định khởi
tố bị can, quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và giải thích quyền,
nghĩa vụ cho bị can.
Sau
khi nhận được quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, Cơ quan điều tra
phải chụp ảnh, lập danh bản, chỉ bản của người bị khởi tố và đưa vào hồ sơ vụ
án.
Việc
giao, nhận các quyết định nêu trên được lập biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này.
Điều 180. Thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị
can
1. Cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát thay đổi quyết định khởi tố bị can khi thuộc một trong các trường hợp:
a)
Khi tiến hành điều tra nếu có căn cứ xác định hành vi của bị can không phạm vào
tội đã bị khởi tố;
b)
Quyết định khởi tố ghi không đúng họ, tên, tuổi, nhân thân của bị can.
2.
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phải bổ sung quyết định khởi tố bị can nếu có
căn cứ xác định bị can còn thực hiện hành vi khác mà Bộ luật Hình sự quy định
là tội phạm.
3.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định
khởi tố bị can, Cơ quan điều tra phải gửi quyết định này và tài liệu có liên
quan đến việc thay đổi hoặc bổ sung đó cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[107]
để xét phê chuẩn. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định thay đổi
hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải quyết định phê chuẩn
hoặc quyết định hủy bỏ quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị
can hoặc yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu làm căn cứ để quyết định việc phê
chuẩn và gửi ngay cho Cơ quan điều tra.
Trường
hợp Viện kiểm sát yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu thì trong thời hạn 03 ngày
kể từ ngày nhận được chứng cứ, tài liệu bổ sung, Viện kiểm sát ra quyết định
phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị
can.
Trong
thời hạn 24 giờ kể từ khi Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết
định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải gửi cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều
tra.
4.
Sau khi nhận được quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định thay đổi
hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết
định khởi tố bị can của Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra phải giao ngay quyết định
này cho người đã bị khởi tố.
Việc
giao, nhận các quyết định nêu trên được lập biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này.
Điều 181. Tạm đình chỉ chức vụ bị can đang đảm nhiệm
Khi
xét thấy việc bị can tiếp tục giữ chức vụ gây khó khăn cho việc điều tra thì Cơ
quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra,
Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý bị
can tạm đình chỉ chức vụ của bị can. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được
kiến nghị, cơ quan, tổ chức này phải trả lời bằng văn bản cho Cơ quan điều tra,
cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát
đã kiến nghị biết.
Điều 182. Triệu tập bị can
1.
Khi triệu tập bị can, Điều tra viên phải gửi giấy triệu tập. Giấy triệu tập bị
can ghi rõ họ tên, chỗ ở của bị can; giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm có mặt,
thời gian làm việc, gặp ai và trách nhiệm về việc vắng mặt không vì lý do bất
khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan.
2.
Giấy triệu tập bị can được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã[108] nơi
bị can cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi bị can làm việc, học tập. Cơ quan, tổ
chức nhận được giấy triệu tập có trách nhiệm chuyển ngay giấy triệu tập cho bị
can.
Khi
nhận giấy triệu tập, bị can phải ký nhận và ghi rõ giờ, ngày nhận. Người chuyển
giấy triệu tập phải chuyển phần giấy triệu tập có ký nhận của bị can cho cơ
quan đã triệu tập bị can; nếu bị can không ký nhận thì lập biên bản về việc đó
và gửi cho cơ quan triệu tập bị can; nếu bị can vắng mặt thì có thể giao giấy
triệu tập cho người thân thích của bị can có đủ năng lực hành vi dân sự để ký
xác nhận và chuyển cho bị can.
3.
Bị can phải có mặt theo giấy triệu tập. Trường hợp vắng mặt không vì lý do bất
khả kháng hoặc do trở ngại khách quan hoặc có biểu hiện trốn tránh thì Điều tra
viên có thể ra quyết định áp giải.
4.
Trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên có thể triệu tập bị can. Việc triệu tập bị
can được tiến hành theo quy định tại Điều này.
Điều 183. Hỏi cung bị can
1.
Việc hỏi cung bị can do Điều tra viên tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi
tố bị can. Có thể hỏi cung bị can tại nơi tiến hành điều tra hoặc tại nơi ở của
người đó. Trước khi hỏi cung bị can, Điều tra viên phải thông báo cho Kiểm sát
viên và người bào chữa thời gian, địa điểm hỏi cung. Khi xét thấy cần thiết, Kiểm
sát viên tham gia việc hỏi cung bị can.
2.
Trước khi tiến hành hỏi cung lần đầu, Điều tra viên phải giải thích cho bị can
biết rõ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 60 của Bộ luật
này. Việc này phải ghi vào biên bản.
Trường
hợp vụ án có nhiều bị can thì hỏi riêng từng người và không để họ tiếp xúc với
nhau. Có thể cho bị can viết bản tự khai của mình.
3.
Không hỏi cung bị can vào ban đêm, trừ trường hợp không thể trì hoãn được nhưng
phải ghi rõ lý do vào biên bản.
4.
Kiểm sát viên hỏi cung bị can trong trường hợp bị can kêu oan, khiếu nại hoạt động
điều tra hoặc có căn cứ xác định việc điều tra vi phạm pháp luật hoặc trong trường
hợp khác khi xét thấy cần thiết. Việc Kiểm sát viên hỏi cung bị can được tiến
hành theo quy định tại Điều này.
5.
Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên bức cung, dùng nhục
hình đối với bị can thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật
Hình sự.
6.
Việc hỏi cung bị can tại cơ sở giam giữ hoặc tại trụ sở Cơ quan điều tra, cơ
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải được ghi âm hoặc
ghi hình có âm thanh.
Việc
hỏi cung bị can tại địa điểm khác được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh theo
yêu cầu của bị can hoặc của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Điều 184. Biên bản hỏi cung bị can
1.
Mỗi lần hỏi cung bị can đều phải lập biên bản.
Biên
bản hỏi cung bị can được lập theo quy định tại Điều 178 của Bộ
luật này; phải ghi đầy đủ lời trình bày của bị can, các câu hỏi và câu trả
lời. Nghiêm cấm Điều tra viên, Cán bộ điều tra tự mình thêm, bớt hoặc sửa chữa
lời khai của bị can.
2.
Sau khi hỏi cung, Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải đọc biên bản cho bị
can nghe hoặc để bị can tự đọc. Trường hợp bổ sung, sửa chữa biên bản thì Điều tra
viên, Cán bộ điều tra và bị can cùng ký xác nhận. Nếu biên bản có nhiều trang
thì bị can ký vào từng trang biên bản. Trường hợp bị can viết bản tự khai thì Điều
tra viên, Cán bộ điều tra và bị can cùng ký xác nhận vào bản tự khai đó.
3.
Trường hợp hỏi cung bị can có người phiên dịch thì Điều tra viên, Cán bộ điều
tra phải giải thích quyền và nghĩa vụ của người phiên dịch, đồng thời giải
thích cho bị can biết quyền yêu cầu thay đổi người phiên dịch; người phiên dịch
phải ký vào từng trang của biên bản hỏi cung.
Trường
hợp hỏi cung bị can có mặt người bào chữa, người đại diện của bị can thì Điều
tra viên, Cán bộ điều tra phải giải thích cho những người này biết quyền và
nghĩa vụ của họ trong khi hỏi cung bị can. Bị can, người bào chữa, người đại diện
cùng ký vào biên bản hỏi cung. Trường hợp người bào chữa được hỏi bị can thì
biên bản phải ghi đầy đủ câu hỏi của người bào chữa và trả lời của bị can.
4.
Trường hợp Kiểm sát viên hỏi cung bị can thì biên bản được thực hiện theo quy định
của Điều này. Biên bản hỏi cung bị can được chuyển ngay cho Điều tra viên để
đưa vào hồ sơ vụ án.
Chương XII
LẤY LỜI KHAI NGƯỜI LÀM
CHỨNG, NGƯỜI BỊ HẠI, NGUYÊN ĐƠN DÂN SỰ, BỊ ĐƠN DÂN SỰ, NGƯỜI CÓ QUYỀN LỢI,
NGHĨA VỤ LIÊN QUAN ĐẾN VỤ ÁN, ĐỐI CHẤT VÀ NHẬN DẠNG
Điều 185. Triệu tập người làm chứng
1.
Khi triệu tập người làm chứng đến lấy lời khai, Điều tra viên phải gửi giấy triệu
tập.
2.
Giấy triệu tập người làm chứng ghi rõ họ tên, chỗ ở hoặc nơi làm việc, học
tập của người làm chứng; giờ, ngày, tháng, năm và địa điểm có mặt; mục đích
và nội dung làm việc, thời gian làm việc; gặp ai và trách nhiệm về việc vắng mặt
không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan.
3.
Việc giao giấy triệu tập được thực hiện như sau:
a)
Giấy triệu tập được giao trực tiếp cho người làm chứng hoặc thông qua Ủy ban
nhân dân cấp xã[109] nơi người làm chứng cư trú hoặc
cơ quan, tổ chức nơi người làm chứng làm việc, học tập. Trong mọi trường hợp,
việc giao giấy triệu tập phải được ký nhận. Ủy ban nhân dân cấp xã[110]
nơi người làm chứng cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người làm chứng làm việc,
học tập có trách nhiệm tạo điều kiện cho người làm chứng thực hiện nghĩa vụ;
b)
Giấy triệu tập người làm chứng dưới 18 tuổi được giao cho cha, mẹ hoặc người đại
diện khác của họ;
c)
Việc giao giấy triệu tập người làm chứng theo ủy thác tư pháp của nước ngoài được
thực hiện theo quy định tại khoản này và Luật Tương trợ tư pháp về hình sự[111].
4.
Trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên có thể triệu tập người làm chứng để lấy
lời khai. Việc triệu tập người làm chứng được thực hiện theo quy định tại Điều
này.
Điều 186. Lấy lời khai người làm chứng
1.
Việc lấy lời khai người làm chứng được tiến hành tại nơi tiến hành điều tra,
nơi cư trú, nơi làm việc hoặc nơi học tập của người đó.
2.
Nếu vụ án có nhiều người làm chứng thì phải lấy lời khai riêng từng người và
không để cho họ tiếp xúc, trao đổi với nhau trong thời gian lấy lời khai.
3.
Trước khi lấy lời khai, Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải giải thích cho người
làm chứng biết quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định tại Điều
66 của Bộ luật này. Việc này phải ghi vào biên bản.
4.
Trước khi hỏi về nội dung vụ án, Điều tra viên phải hỏi về mối quan hệ giữa người
làm chứng với bị can, bị hại và những tình tiết khác về nhân thân của người làm
chứng. Điều tra viên yêu cầu người làm chứng trình bày hoặc tự viết một cách
trung thực và tự nguyện những gì họ biết về vụ án, sau đó mới đặt câu hỏi.
5.
Trường hợp xét thấy việc lấy lời khai của Điều tra viên không khách quan hoặc
có vi phạm pháp luật hoặc xét cần làm rõ chứng cứ, tài liệu để quyết định việc
phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra hoặc để
quyết định việc truy tố thì Kiểm sát viên có thể lấy lời khai người làm chứng.
Việc lấy lời khai người làm chứng được tiến hành theo quy định tại Điều này.
Điều 187. Biên bản ghi lời khai của người làm chứng
Biên
bản ghi lời khai của người làm chứng được lập theo quy định tại Điều
178 của Bộ luật này.
Việc
lấy lời khai của người làm chứng có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh.
Điều 188. Triệu tập, lấy lời khai của bị hại, đương sự
Việc
triệu tập, lấy lời khai của bị hại, đương sự được thực hiện theo quy định tại
các điều 185, 186 và 187 của Bộ luật này.
Việc
lấy lời khai của bị hại, đương sự có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm
thanh.
Điều 189. Đối chất
1.
Trường hợp có mâu thuẫn trong lời khai giữa hai người hay nhiều người mà đã tiến
hành các biện pháp điều tra khác nhưng chưa giải quyết được mâu thuẫn thì Điều
tra viên tiến hành đối chất. Trước khi tiến hành đối chất, Điều tra viên phải
thông báo cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[112] để cử
Kiểm sát viên kiểm sát việc đối chất. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc
đối chất. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản đối
chất.
2.
Nếu có người làm chứng hoặc bị hại tham gia thì trước khi đối chất Điều tra
viên phải giải thích cho họ biết trách nhiệm về việc từ chối, trốn tránh khai
báo hoặc cố tình khai báo gian dối. Việc này phải ghi vào biên bản.
3.
Khi bắt đầu đối chất, Điều tra viên hỏi về mối quan hệ giữa những người tham
gia đối chất, sau đó hỏi họ về những tình tiết cần làm sáng tỏ. Sau khi nghe đối
chất, Điều tra viên có thể hỏi thêm từng người.
Trong
quá trình đối chất, Điều tra viên có thể đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật có
liên quan; có thể để cho những người tham gia đối chất hỏi lẫn nhau; câu hỏi và
trả lời của những người này phải ghi vào biên bản.
Chỉ
sau khi những người tham gia đối chất đã khai xong mới được nhắc lại những lời
khai trước đó của họ.
4.
Biên bản đối chất được lập theo quy định tại Điều 178 của Bộ
luật này. Việc đối chất có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh.
5.
Trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên có thể tiến hành đối chất. Việc đối chất được
tiến hành theo quy định tại Điều này.
Điều 190. Nhận dạng
1.
Khi cần thiết, Điều tra viên có thể đưa người, ảnh hoặc vật cho người làm chứng,
bị hại hoặc bị can nhận dạng.
Số
người, ảnh hoặc vật đưa ra để nhận dạng ít nhất phải là ba và bề ngoài phải
tương tự nhau, trừ trường hợp nhận dạng tử thi.
Trước
khi tiến hành nhận dạng, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát có thẩm
quyền[113]
để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc nhận dạng. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm
sát việc nhận dạng. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản
nhận dạng.
2.
Những người sau đây phải tham gia việc nhận dạng:
a)
Người làm chứng, bị hại hoặc bị can;
b)
Người chứng kiến.
3.
Nếu người làm chứng hoặc bị hại là người nhận dạng thì trước khi tiến hành, Điều
tra viên phải giải thích cho họ biết trách nhiệm về việc từ chối, trốn tránh
khai báo hoặc cố ý khai báo gian dối. Việc này phải ghi vào biên bản.
4.
Điều tra viên phải hỏi trước người nhận dạng về những tình tiết, vết tích và đặc
điểm mà nhờ đó họ có thể nhận dạng được.
Trong
quá trình tiến hành nhận dạng, Điều tra viên không được đặt câu hỏi gợi ý. Sau
khi người nhận dạng đã xác nhận một người, một vật hay một ảnh trong số được
đưa ra để nhận dạng thì Điều tra viên yêu cầu họ giải thích là họ đã căn cứ vào
các vết tích hoặc đặc điểm gì mà xác nhận được người, vật hay ảnh đó.
5.
Biên bản nhận dạng được lập theo quy định tại Điều 178 của Bộ
luật này. Biên bản ghi rõ nhân thân, tình trạng sức khỏe của người nhận dạng
và của những người được đưa ra để nhận dạng; đặc điểm của vật, ảnh được đưa ra
để nhận dạng; các lời khai báo, trình bày của người nhận dạng; điều kiện ánh
sáng khi thực hiện nhận dạng.
Điều 191. Nhận biết giọng nói
1.
Khi cần thiết, Điều tra viên có thể cho bị hại, người làm chứng hoặc người bị bắt,
bị tạm giữ, bị can nhận biết giọng nói.
Số
giọng nói được đưa ra để nhận biết ít nhất phải là ba và phải có âm sắc, âm lượng
tương tự nhau.
Trước
khi tiến hành nhận biết giọng nói, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm
sát có thẩm quyền[114] để cử Kiểm sát viên kiểm sát
việc nhận biết giọng nói. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc nhận biết
giọng nói. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản nhận
biết giọng nói.
2.
Những người sau đây phải tham gia việc nhận biết giọng nói:
a)
Giám định viên về âm thanh;
b)
Người được yêu cầu nhận biết giọng nói;
c)
Người được đưa ra để nhận biết giọng nói, trừ trường hợp việc nhận biết giọng
nói được thực hiện qua phương tiện ghi âm;
d)
Người chứng kiến.
3.
Nếu người làm chứng, bị hại được yêu cầu nhận biết giọng nói thì trước khi tiến
hành, Điều tra viên phải giải thích cho họ biết trách nhiệm về việc từ chối, trốn
tránh khai báo hoặc cố ý khai báo gian dối. Việc này phải ghi vào biên bản.
4.
Điều tra viên phải hỏi trước người được yêu cầu nhận biết giọng nói về những đặc
điểm mà nhờ đó họ có thể nhận biết được giọng nói.
Trong
quá trình tiến hành nhận biết giọng nói, Điều tra viên không được đặt câu hỏi gợi
ý. Sau khi người được yêu cầu nhận biết giọng nói đã xác nhận được tiếng nói
trong số giọng nói được đưa ra thì Điều tra viên yêu cầu họ giải thích là họ đã
căn cứ vào đặc điểm gì mà xác nhận giọng nói đó.
5.
Biên bản nhận biết giọng nói được lập theo quy định tại Điều
178 của Bộ luật này. Biên bản ghi rõ nhân thân, tình trạng sức khỏe của người
được yêu cầu nhận biết giọng nói và của những người được đưa ra để nhận biết giọng
nói; đặc điểm của giọng nói được đưa ra để nhận biết, lời trình bày của người
nhận biết giọng nói; điều kiện về không gian khi thực hiện nhận biết giọng
nói.
Chương
XIII
KHÁM XÉT, THU GIỮ, TẠM
GIỮ TÀI LIỆU, ĐỒ VẬT
Điều 192. Căn cứ khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm,
phương tiện, tài liệu, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu
điện tử
1.
Việc khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện chỉ được tiến
hành khi có căn cứ để nhận định trong người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm,
phương tiện có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản do phạm
tội mà có hoặc đồ vật, dữ liệu điện tử, tài liệu khác có liên quan đến vụ án.
Việc
khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện cũng được tiến hành khi cần
phát hiện người đang bị truy nã, truy tìm và giải cứu nạn nhân.
2.
Khi có căn cứ để nhận định trong thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu
điện tử có công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản liên quan đến
vụ án thì có thể khám xét thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử.
Điều 193. Thẩm quyền ra lệnh khám xét
1.
Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ
luật này có quyền ra lệnh khám xét. Lệnh khám xét của những người được quy
định tại khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật
này phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành.
2.[115] Trong trường hợp khẩn cấp, những
người có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 110 của Bộ luật
này có quyền ra lệnh khám xét. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi khám xét
xong, người ra lệnh khám xét phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát có
thẩm quyền.
3.
Trước khi tiến hành khám xét, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát có
thẩm quyền[116] về thời gian và địa điểm tiến
hành khám xét để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc khám xét, trừ trường hợp
khám xét khẩn cấp. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc khám xét. Nếu
Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản khám xét.
4.
Mọi trường hợp khám xét đều được lập biên bản theo quy định tại Điều
178 của Bộ luật này và đưa vào hồ sơ vụ án.
Điều 194. Khám xét người
1.
Khi bắt đầu khám xét người, người thi hành lệnh khám xét phải đọc lệnh và đưa
cho người bị khám xét đọc lệnh đó; giải thích cho người bị khám xét và những
người có mặt biết quyền và nghĩa vụ của họ.
Người
tiến hành khám xét phải yêu cầu người bị khám xét đưa ra các tài liệu, đồ vật
có liên quan đến vụ án, nếu họ từ chối hoặc đưa ra không đầy đủ các tài liệu, đồ
vật liên quan đến vụ án thì tiến hành khám xét.
2.
Việc khám xét người phải do người cùng giới thực hiện và có người khác cùng giới
chứng kiến. Việc khám xét không được xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản,
danh dự, nhân phẩm của người bị khám xét.
3.
Có thể tiến hành khám xét người mà không cần có lệnh trong trường hợp bắt người
hoặc khi có căn cứ để khẳng định người có mặt tại nơi khám xét giấu trong người
vũ khí, hung khí, chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án.
Điều 195. Khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện
1.
Khi khám xét chỗ ở thì phải có mặt người đó hoặc người từ đủ 18 tuổi trở
lên cùng chỗ ở, có đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã[117] và
người chứng kiến; trường hợp người đó, người từ đủ 18 tuổi trở lên cùng chỗ
ở cố tình vắng mặt, bỏ trốn hoặc vì lý do khác họ không có mặt mà việc khám xét
không thể trì hoãn thì việc khám xét vẫn được tiến hành nhưng phải có đại diện Ủy
ban nhân dân cấp xã[118] nơi khám xét và hai người
chứng kiến.
Không
được bắt đầu việc khám xét chỗ ở vào ban đêm, trừ trường hợp khẩn cấp nhưng phải
ghi rõ lý do vào biên bản.
2.
Khi khám xét nơi làm việc của một người thì phải có mặt người đó, trừ trường hợp
không thể trì hoãn nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.
Việc
khám xét nơi làm việc phải có đại diện của cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc
chứng kiến. Trong trường hợp không có đại diện cơ quan, tổ chức thì việc khám
xét vẫn được tiến hành nhưng phải có đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã[119]
nơi khám xét và 02 người chứng kiến.
3.
Khi khám xét địa điểm phải có đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã[120] nơi
khám xét và người chứng kiến.
4.
Việc khám xét phương tiện phải có mặt chủ sở hữu hoặc người quản lý phương tiện
và người chứng kiến. Trường hợp chủ sở hữu hoặc người quản lý phương tiện vắng
mặt, bỏ trốn hoặc vì lý do khác họ không có mặt mà việc khám xét không
thể trì hoãn thì việc khám xét vẫn được tiến hành nhưng phải có hai người chứng
kiến.
Khi
khám xét phương tiện có thể mời người có chuyên môn liên quan đến phương tiện
tham gia.
5.
Khi tiến hành khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện, những người
có mặt không được tự ý rời khỏi nơi đang bị khám, không được liên hệ, trao đổi
với nhau hoặc với những người khác cho đến khi khám xét xong.
Điều 196. Thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử
1.
Việc thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử do người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng thực hiện và có thể mời người có chuyên môn liên quan tham gia.
Trường hợp không thể thu giữ được thì phải sao lưu vào phương tiện lưu
trữ và thu giữ như đối với vật chứng.
2.
Khi thu giữ các phương tiện điện tử có thể thu thiết bị ngoại vi kèm theo và
các tài liệu có liên quan.
Điều 197. Thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại
cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn thông
1.
Khi cần thiết phải thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại cơ quan, tổ
chức bưu chính, viễn thông thì Cơ quan điều tra ra lệnh thu giữ. Lệnh này phải
được Viện kiểm sát có thẩm quyền[121] phê chuẩn trước khi thi hành.
2.
Trường hợp không thể trì hoãn việc thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm
tại cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn thông thì Cơ quan điều tra có thể tiến
hành thu giữ nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản. Sau khi thu giữ phải thông
báo ngay cho [122] bằng văn bản kèm theo tài liệu
liên quan đến việc thu giữ để xét phê chuẩn.
Trong
thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được đề nghị xét phê chuẩn và tài liệu liên quan
đến việc thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, Viện kiểm sát phải ra
quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Nếu Viện kiểm sát quyết định
không phê chuẩn thì người đã ra lệnh thu giữ phải trả lại ngay cho cơ quan, tổ
chức bưu chính, viễn thông, đồng thời thông báo cho người có thư tín, điện tín,
bưu kiện, bưu phẩm bị thu giữ biết.
3.
Người thi hành lệnh phải thông báo cho người phụ trách cơ quan, tổ chức bưu
chính, viễn thông hữu quan trước khi tiến hành thu giữ. Người quản lý cơ quan,
tổ chức bưu chính, viễn thông hữu quan phải tạo điều kiện để người thi hành lệnh
thu giữ hoàn thành nhiệm vụ.
Khi
thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, phải có đại diện của cơ quan, tổ
chức bưu chính, viễn thông chứng kiến và ký xác nhận vào biên bản.
Cơ
quan ra lệnh thu giữ phải thông báo cho người có thư tín, điện tín, bưu kiện,
bưu phẩm bị thu giữ biết. Nếu việc thông báo cản trở điều tra thì sau khi cản
trở đó không còn nữa, cơ quan ra lệnh thu giữ phải thông báo ngay.
Điều 198. Tạm giữ tài liệu, đồ vật khi khám xét
1.
Khi khám xét, Điều tra viên được tạm giữ đồ vật là vật chứng và tài liệu có
liên quan trực tiếp đến vụ án. Đối với đồ vật thuộc loại cấm tàng trữ, lưu hành
thì phải thu giữ và chuyển ngay cho cơ quan quản lý có thẩm quyền. Trường hợp cần
thiết phải niêm phong thì tiến hành trước mặt chủ sở hữu đồ vật, người quản lý
đồ vật, người chứng kiến, đại diện gia đình, đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã[123]
nơi khám xét.
2.
Việc tạm giữ tài liệu, đồ vật khi tiến hành khám xét được lập biên bản theo quy
định tại Điều 133 của Bộ luật này. Biên bản tạm giữ được lập
thành bốn bản, trong đó một bản giao cho người chủ tài liệu, đồ vật hoặc người
quản lý tài liệu, đồ vật, một bản đưa vào hồ sơ vụ án, một bản giao cho Viện kiểm
sát có thẩm quyền[124] và một bản giao cho cơ quan
quản lý tài liệu, đồ vật bị tạm giữ.
Điều 199. Trách nhiệm bảo quản phương tiện, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện
tử, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm bị thu giữ, tạm giữ hoặc bị
niêm phong
1.
Phương tiện, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử, thư tín, điện tín, bưu kiện,
bưu phẩm bị thu giữ, tạm giữ hoặc bị niêm phong phải được bảo quản nguyên vẹn.
2.
Người nào phá hủy niêm phong, tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc
hủy hoại phương tiện, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử, thư tín, điện tín, bưu
kiện, bưu phẩm thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình
sự.
Điều 200. Trách nhiệm của người ra lệnh, người thi hành lệnh
khám xét, thu giữ, tạm giữ
Người
ra lệnh, người thi hành lệnh khám xét, thu giữ, tạm giữ trái pháp luật thì tùy
tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình
sự theo quy định của luật.
Chương XIV
KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG,
KHÁM NGHIỆM TỬ THI, XEM XÉT DẤU VẾT TRÊN THÂN THỂ, THỰC NGHIỆM ĐIỀU TRA
Điều 201. Khám nghiệm hiện trường
1.
Điều tra viên chủ trì tiến hành khám nghiệm nơi xảy ra, nơi phát hiện tội phạm
để phát hiện dấu vết của tội phạm, thu giữ vật chứng, tài liệu, đồ vật, dữ liệu
điện tử khác liên quan và làm sáng tỏ những tình tiết có ý nghĩa đối với việc
giải quyết vụ án.
2.
Trước khi tiến hành khám nghiệm hiện trường, Điều tra viên phải thông báo cho
Viện kiểm sát có thẩm quyền[125] biết về thời gian, địa điểm
tiến hành khám nghiệm để cử Kiểm sát viên kiểm sát khám nghiệm hiện
trường. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường.
Khi
khám nghiệm hiện trường phải có người chứng kiến; có thể cho bị can, người bào
chữa, bị hại, người làm chứng tham gia và mời người có chuyên môn tham dự việc
khám nghiệm.
3.
Khi khám nghiệm hiện trường phải tiến hành chụp ảnh, vẽ sơ đồ, mô tả hiện trường,
đo đạc, dựng mô hình; xem xét tại chỗ và thu lượm dấu vết của tội phạm, tài liệu,
đồ vật có liên quan đến vụ án; ghi rõ kết quả khám nghiệm vào biên bản. Biên bản
khám nghiệm hiện trường được lập theo quy định tại Điều 178 của
Bộ luật này.
Trường
hợp không thể xem xét ngay được thì tài liệu, đồ vật thu giữ phải được bảo quản,
giữ nguyên trạng hoặc niêm phong đưa về nơi tiến hành điều tra.
Điều 202. Khám nghiệm tử thi
1.
Việc khám nghiệm tử thi do giám định viên pháp y tiến hành dưới sự chủ trì của Điều
tra viên và phải có người chứng kiến.
Trước
khi khám nghiệm tử thi, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát có thẩm
quyền[126]
biết về thời gian và địa điểm tiến hành khám nghiệm để cử Kiểm sát viên
kiểm sát việc khám nghiệm tử thi. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát
việc khám nghiệm tử thi.
2.
Giám định viên kỹ thuật hình sự có thể được mời tham gia khám nghiệm tử thi để
phát hiện, thu thập dấu vết phục vụ việc giám định.
3.
Khi khám nghiệm tử thi phải tiến hành chụp ảnh, mô tả dấu vết để lại trên tử
thi; chụp ảnh, thu thập, bảo quản mẫu vật phục vụ công tác trưng cầu giám định;
ghi rõ kết quả khám nghiệm vào biên bản. Biên bản khám nghiệm tử thi được lập
theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật này.
4.
Trường hợp cần khai quật tử thi thì phải có quyết định của Cơ quan điều tra và
thông báo cho người thân thích của người chết biết trước khi tiến hành. Trường
hợp người chết không có hoặc không xác định được người thân thích của họ thì
thông báo cho đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã[127] nơi
chôn cất tử thi biết.
Điều 203. Xem xét dấu vết trên thân thể
1.
Khi cần thiết, Điều tra viên tiến hành xem xét dấu vết của tội phạm hoặc các dấu
vết khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án trên thân thể người bị giữ
trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị hại,
người làm chứng. Trong trường hợp cần thiết thì Cơ quan điều tra trưng cầu giám
định.
2.
Việc xem xét dấu vết trên thân thể phải do người cùng giới tiến hành và phải
có người cùng giới chứng kiến. Trường hợp cần thiết thì có thể mời bác sĩ
tham gia.
Nghiêm
cấm xâm phạm sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người bị xem xét dấu vết trên
thân thể.
Khi
xem xét dấu vết trên thân thể phải lập biên bản mô tả dấu vết để lại trên thân
thể; trường hợp cần thiết phải chụp ảnh, trưng cầu giám định. Biên bản xem
xét dấu vết trên thân thể được lập theo quy định tại Điều
178 của Bộ luật này.
Điều 204. Thực nghiệm điều tra
1.
Để kiểm tra, xác minh tài liệu, tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ
án, Cơ quan điều tra có thể thực nghiệm điều tra bằng cách dựng lại hiện trường,
diễn lại hành vi, tình huống hoặc những tình tiết khác của một sự việc nhất định
và tiến hành các hoạt động thực nghiệm cần thiết. Khi thực nghiệm điều tra phải
đo đạc, chụp ảnh, ghi hình, vẽ sơ đồ, ghi rõ kết quả thực nghiệm điều tra vào
biên bản.
Nghiêm
cấm việc thực nghiệm điều tra xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân
phẩm, tài sản của người tham gia thực nghiệm điều tra và người khác.
2.
Trước khi tiến hành thực nghiệm điều tra, Điều tra viên phải thông báo cho Viện
kiểm sát có thẩm quyền[128] biết về thời gian và địa điểm
tiến hành thực nghiệm điều tra. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc thực
nghiệm điều tra. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì phải ghi rõ vào biên
bản.
3.
Điều tra viên chủ trì tiến hành thực nghiệm điều tra và việc thực nghiệm điều
tra phải có người chứng kiến.
Khi
tiến hành thực nghiệm điều tra, Cơ quan điều tra có thể mời người có chuyên môn
tham gia. Trường hợp cần thiết, người bị tạm giữ, bị can, người bào chữa, bị hại,
người làm chứng có thể tham gia.
4.
Trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát tiến hành thực nghiệm điều tra. Việc thực
nghiệm điều tra được tiến hành theo quy định tại Điều này.
Chương XV
GIÁM ĐỊNH VÀ ĐỊNH GIÁ
TÀI SẢN
Điều 205. Trưng cầu giám định
1.
Khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 206 của Bộ
luật này hoặc khi xét thấy cần thiết thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố
tụng ra quyết định trưng cầu giám định.
2.
Quyết định trưng cầu giám định có các nội dung:
a)
Tên cơ quan trưng cầu giám định; họ tên người có thẩm quyền trưng cầu giám định;
b)
Tên tổ chức; họ tên người được trưng cầu giám định;
c)
Tên và đặc điểm của đối tượng cần giám định;
d)
Tên tài liệu có liên quan hoặc mẫu so sánh gửi kèm theo (nếu có);
đ)
Nội dung yêu cầu giám định;
e)
Ngày, tháng, năm trưng cầu giám định và thời hạn trả kết luận giám định.
3.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định trưng cầu giám định, cơ quan
trưng cầu giám định phải giao hoặc gửi quyết định trưng cầu giám định, hồ sơ, đối
tượng trưng cầu giám định cho tổ chức, cá nhân thực hiện giám định; gửi quyết định
trưng cầu giám định cho Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố và
kiểm sát điều tra.
Điều 206. Các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định
Bắt
buộc phải trưng cầu giám định khi cần xác định:
1.
Tình trạng tâm thần của người bị buộc tội khi có sự nghi ngờ về năng lực trách
nhiệm hình sự của họ; tình trạng tâm thần của người làm chứng hoặc bị hại khi
có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức, khả năng khai báo đúng đắn về những
tình tiết của vụ án;
2.
Tuổi của bị can, bị cáo, bị hại nếu việc đó có ý nghĩa đối với việc giải quyết
vụ án và không có tài liệu để xác định chính xác tuổi của họ hoặc có nghi ngờ về
tính xác thực của những tài liệu đó;
3.
Nguyên nhân chết người;
4.
Tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khoẻ hoặc khả năng lao động;
5.
Chất ma tuý, vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ,
tiền giả, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ;
6.
Mức độ ô nhiễm môi trường.
Điều 207. Yêu cầu giám định
1.
Đương sự hoặc người đại diện của họ có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng trưng cầu giám định những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích hợp
pháp của họ, trừ trường hợp việc giám định liên quan đến việc xác định trách
nhiệm hình sự của người bị buộc tội.
Trong
thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, cơ quan tiến hành tố tụng
phải xem xét, ra quyết định trưng cầu giám định. Trường hợp không chấp nhận đề
nghị thì thông báo cho người đã đề nghị giám định biết bằng văn bản và nêu rõ
lý do. Hết thời hạn này hoặc kể từ ngày nhận được thông báo từ chối trưng cầu
giám định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì người đề nghị giám
định có quyền tự mình yêu cầu giám định.
2.
Người yêu cầu giám định có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật Giám định
tư pháp.
Điều 208. Thời hạn giám định
1.
Thời hạn giám định đối với trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định:
a)
Không quá 03 tháng đối với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều
206 của Bộ luật này;
b)
Không quá 01 tháng đối với trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản
6 Điều 206 của Bộ luật này;
c)
Không quá 09 ngày đối với trường hợp quy định tại các khoản 2,
4 và 5 Điều 206 của Bộ luật này.
2.[129]
Thời hạn giám định đối với các trường hợp khác thực hiện theo quy định của Luật
Giám định tư pháp.
3.
Trường hợp việc giám định không thể tiến hành trong thời hạn quy định tại khoản
1 và khoản 2 Điều này thì tổ chức, cá nhân tiến hành giám định phải kịp thời
thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do cho cơ quan trưng cầu, người yêu cầu giám
định.
4.
Thời hạn giám định quy định tại Điều này cũng áp dụng đối với trường hợp giám định
bổ sung, giám định lại.
Điều 209. Tiến hành giám định
1.
Việc giám định có thể tiến hành tại cơ quan giám định hoặc tại nơi tiến hành điều
tra vụ án ngay sau khi có quyết định trưng cầu, yêu cầu giám định.
Điều
tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, người yêu cầu giám định có thể tham dự giám
định nhưng phải báo trước cho người giám định biết.
2.
Việc giám định do cá nhân hoặc do tập thể thực hiện.
Điều 210. Giám định bổ sung
1.
Việc giám định bổ sung được tiến hành trong trường hợp:
a)
Nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ;
b)
Khi phát sinh vấn đề mới cần phải giám định liên quan đến tình tiết của vụ án
đã có kết luận giám định trước đó.
2.
Việc giám định bổ sung có thể do tổ chức, cá nhân đã giám định hoặc tổ chức, cá
nhân khác thực hiện.
3.
Việc trưng cầu, yêu cầu giám định bổ sung được thực hiện như giám định lần đầu.
Điều 211. Giám định lại
1.
Việc giám định lại được thực hiện khi có nghi ngờ kết luận giám định lần đầu
không chính xác. Việc giám định lại phải do người giám định khác thực hiện.
2.
Cơ quan trưng cầu giám định tự mình hoặc theo đề nghị của người tham gia tố tụng
quyết định việc trưng cầu giám định lại. Trường hợp người trưng cầu giám định
không chấp nhận yêu cầu giám định lại thì phải thông báo cho người đề nghị giám
định bằng văn bản và nêu rõ lý do.
3.
Trường hợp có sự khác nhau giữa kết luận giám định lần đầu và kết luận giám định
lại về cùng một nội dung giám định thì việc giám định lại lần thứ hai do người
trưng cầu giám định quyết định. Việc giám định lại lần thứ hai phải do Hội đồng
giám định thực hiện theo quy định của Luật Giám định tư pháp.
Điều 212. Giám định lại trong trường hợp đặc biệt
Trường
hợp đặc biệt, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao quyết định việc giám định lại sau khi đã có kết luận của Hội đồng
giám định. Việc giám định lại trong trường hợp đặc biệt phải do Hội đồng mới thực
hiện, những người đã tham gia giám định trước đó không được giám định lại. Kết
luận giám định lại trong trường hợp này được sử dụng để giải quyết vụ án.
Điều 213. Kết luận giám định
1.
Kết luận giám định phải ghi rõ kết quả giám định đối với những nội dung đã được
trưng cầu, yêu cầu và những nội dung khác theo quy định của Luật Giám định tư
pháp.
2.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra kết luận giám định, tổ chức, cá nhân đã tiến
hành giám định phải gửi kết luận giám định cho cơ quan đã trưng cầu, người yêu
cầu giám định.
Trong
thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được kết luận giám định, cơ quan đã trưng cầu,
người yêu cầu giám định phải gửi kết luận giám định cho Viện kiểm sát thực hành
quyền công tố và kiểm sát điều tra.
3.
Để làm sáng tỏ nội dung kết luận giám định, cơ quan trưng cầu, người yêu cầu
giám định có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân đã tiến hành giám định giải thích kết
luận giám định; hỏi thêm người giám định về những tình tiết cần thiết.
Điều 214. Quyền của bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia
tố tụng khác đối với kết luận giám định
1.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị trưng cầu giám định của bị
can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác, cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng phải xem xét, ra quyết định trưng cầu giám định.
2.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được kết luận giám định thì cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông báo kết luận giám định cho bị
can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác có liên quan.
3.
Bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến của
mình về kết luận giám định; đề nghị giám định bổ sung hoặc giám định lại. Trường
hợp họ trình bày trực tiếp thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải lập
biên bản.
4.
Trường hợp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án không chấp nhận đề nghị của
bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác thì phải thông báo cho người
đề nghị bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Điều 215. Yêu cầu định giá tài sản
1.
Khi cần xác định giá của tài sản để giải quyết vụ án hình sự, cơ quan có thẩm
quyền tiến hành tố tụng ra văn bản yêu cầu định giá tài sản.
2.
Văn bản yêu cầu định giá tài sản có các nội dung:
a)
Tên cơ quan yêu cầu định giá; họ tên người có thẩm quyền yêu cầu định giá;
b)
Tên Hội đồng định giá tài sản được yêu cầu;
c)
Thông tin và đặc điểm của tài sản cần định giá;
d)
Tên tài liệu có liên quan (nếu có);
đ)
Nội dung yêu cầu định giá tài sản;
e)
Ngày, tháng, năm yêu cầu định giá tài sản, thời hạn trả kết luận định giá tài
sản.
3.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra văn bản yêu cầu định giá tài sản, cơ quan
yêu cầu định giá phải giao hoặc gửi văn bản yêu cầu định giá tài sản, hồ sơ, đối
tượng yêu cầu định giá tài sản cho Hội đồng định giá tài sản được yêu cầu; gửi
văn bản yêu cầu định giá tài sản cho Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền
công tố và kiểm sát điều tra.
4.
Việc yêu cầu định giá tài sản để giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự
được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Điều 216. Thời hạn định giá tài sản
Việc
định giá tài sản, trả kết luận định giá tài sản thực hiện theo thời hạn nêu
trong văn bản yêu cầu định giá tài sản. Trường hợp việc định giá tài sản không
thể tiến hành trong thời hạn yêu cầu, Hội đồng định giá tài sản phải kịp thời
thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do cho cơ quan, người đã yêu cầu định giá biết.
Điều 217. Tiến hành định giá tài sản
1.
Việc định giá tài sản do Hội đồng định giá tài sản tiến hành. Phiên họp định
giá tài sản có thể thực hiện tại nơi có tài sản được định giá hoặc nơi khác
theo quyết định của Hội đồng định giá tài sản.
Điều
tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán có thể tham dự phiên họp định giá tài sản
nhưng phải báo trước cho Hội đồng định giá tài sản biết; khi được sự đồng ý của
Hội đồng định giá tài sản thì có quyền đưa ra ý kiến.
2.
Chính phủ quy định chi tiết việc thành lập và hoạt động của Hội đồng định
giá tài sản; trình tự, thủ tục định giá tài sản.
Điều 218. Định giá lại tài sản
1. Trường hợp có nghi ngờ
kết luận định giá lần đầu, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tự mình
hoặc theo đề nghị của người bị buộc tội, người tham gia tố tụng khác ra văn bản
yêu cầu định giá lại tài sản. Việc định giá lại tài sản do Hội đồng định giá
tài sản cấp trên trực tiếp thực hiện.
2.
Trường hợp có mâu thuẫn giữa kết luận định giá lần đầu và kết luận định giá lại
về giá của tài sản cần định giá, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra
văn bản yêu cầu định giá lại lần thứ hai. Việc định giá lại lần thứ hai do Hội
đồng định giá tài sản có thẩm quyền thực hiện. Kết luận định giá lại trong trường
hợp này được sử dụng để giải quyết vụ án.
Điều 219. Định giá tài sản trong trường hợp tài sản bị thất
lạc hoặc không còn
Trường
hợp tài sản cần định giá bị thất lạc hoặc không còn thì việc định giá tài sản được
thực hiện theo hồ sơ của tài sản trên cơ sở các thông tin, tài liệu thu thập được
về tài sản cần định giá.
Điều 220. Định giá lại tài sản trong trường hợp đặc biệt
Trường
hợp đặc biệt, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao quyết định việc định giá lại tài sản khi đã có kết luận định giá lại lần
hai của Hội đồng định giá tài sản. Việc định giá lại tài sản trong trường hợp đặc
biệt phải do Hội đồng mới thực hiện. Người đã tham gia định giá trước đó không
được định giá lại. Kết luận định giá lại trong trường hợp này được sử dụng để
giải quyết vụ án.
Điều 221. Kết luận định giá tài sản
1.
Kết luận định giá tài sản phải ghi rõ kết luận về giá của tài sản theo nội dung
yêu cầu định giá và các nội dung khác theo quy định của pháp luật.
2.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra kết luận định giá tài sản, Hội đồng định giá
tài sản phải gửi kết luận cho cơ quan yêu cầu định giá tài sản, người yêu cầu định
giá tài sản.
Trong
thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được kết luận định giá tài sản, cơ quan đã yêu cầu,
người yêu cầu định giá tài sản phải gửi kết luận định giá tài sản cho Viện kiểm
sát thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra.
3.
Để làm sáng tỏ nội dung kết luận định giá tài sản, cơ quan yêu cầu định giá tài
sản có quyền yêu cầu Hội đồng định giá tài sản giải thích kết luận định giá; hỏi
thêm Hội đồng định giá tài sản về những tình tiết cần thiết.
Điều 222. Quyền của bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia
tố tụng khác đối với kết luận định giá tài sản
1.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị định giá tài sản của bị
can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác, cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng phải xem xét, ra văn bản yêu cầu định giá tài sản.
2.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được kết luận định giá tài sản
thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông báo kết luận định
giá tài sản cho bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác có liên
quan.
3.
Bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến của
mình về kết luận định giá; đề nghị định giá lại. Trường hợp họ trình bày trực
tiếp thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải lập biên bản.
4.
Trường hợp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án không chấp nhận đề nghị của
bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác thì phải thông báo cho người
đề nghị bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Chương XVI
BIỆN PHÁP ĐIỀU TRA TỐ TỤNG
ĐẶC BIỆT
Điều 223. Các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
Sau
khi khởi tố vụ án, trong quá trình điều tra, người có thẩm quyền tiến hành
tố tụng có thể áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt:
1.
Ghi âm, ghi hình bí mật;
2.
Nghe điện thoại bí mật;
3.
Thu thập bí mật dữ liệu điện tử.
Điều 224. Trường hợp áp dụng biện pháp điều tra tố
tụng đặc biệt
Có
thể áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt đối với các trường hợp:
1.
Tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm về ma túy, tội phạm về tham nhũng, tội
khủng bố, tội rửa tiền;
2.
Tội phạm khác có tổ chức thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Điều 225. Thẩm quyền, trách nhiệm quyết định và thi hành
quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
1.[130] Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh,
Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu trở lên tự mình hoặc theo yêu
cầu của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát
quân sự cấp quân khu trở lên có quyền ra quyết định áp dụng biện pháp điều tra
tố tụng đặc biệt.
Trường
hợp vụ án do Cơ quan điều tra quân sự khu vực thụ lý, điều tra thì Thủ trưởng
Cơ quan điều tra quân sự khu vực đề nghị Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp
quân khu xem xét, quyết định áp dụng.
2.
Quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt ghi rõ thông tin cần thiết
về đối tượng bị áp dụng, tên biện pháp được áp dụng, thời hạn, địa điểm áp dụng,
cơ quan tiến hành biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt và các nội dung quy định
tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.
3.
Quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt phải được Viện trưởng Viện
kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Thủ trưởng Cơ quan điều tra đã
ra quyết định áp dụng có trách nhiệm kiểm tra chặt chẽ việc áp dụng biện pháp này,
kịp thời đề nghị Viện kiểm sát hủy bỏ nếu xét thấy không còn cần thiết.
Cơ
quan chuyên trách trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân theo quy định của
pháp luật có trách nhiệm thi hành quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng
đặc biệt.
4.
Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền và người
thi hành quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt phải giữ bí mật.
Điều 226. Thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng
đặc biệt
1.
Thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt không quá 02 tháng kể từ
ngày Viện trưởng Viện kiểm sát phê chuẩn. Trường hợp phức tạp có thể gia hạn
nhưng không quá thời hạn điều tra theo quy định của Bộ luật này.
2.
Chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng
đặc biệt, nếu xét thấy cần gia hạn thì Thủ trưởng Cơ quan điều tra đã ra quyết
định áp dụng phải có văn bản đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát đã phê chuẩn xem
xét, quyết định việc gia hạn.
Điều 227. Sử dụng thông tin, tài liệu thu thập được bằng
biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
1.
Thông tin, tài liệu thu thập được bằng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt chỉ
được sử dụng vào việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự; thông
tin, tài liệu không liên quan đến vụ án phải tiêu hủy kịp thời.
Nghiêm
cấm sử dụng thông tin, tài liệu, chứng cứ thu thập được vào mục đích khác.
2.
Thông tin, tài liệu thu thập được bằng việc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng
đặc biệt có thể dùng làm chứng cứ để giải quyết vụ án.
3.
Cơ quan điều tra có trách nhiệm thông báo ngay kết quả việc áp dụng biện pháp điều
tra tố tụng đặc biệt cho Viện trưởng Viện kiểm sát đã phê chuẩn.
Điều 228. Hủy bỏ việc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc
biệt
Viện
trưởng Viện kiểm sát đã phê chuẩn quyết định áp dụng biện pháp điều tra
tố tụng đặc biệt phải kịp thời hủy bỏ quyết định đó khi thuộc một trong
các trường hợp:
1.
Có đề nghị bằng văn bản của Thủ trưởng Cơ quan điều tra có thẩm quyền;
2.
Có vi phạm trong quá trình áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt;
3.
Không cần thiết tiếp tục áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.
Chương XVII
TẠM ĐÌNH CHỈ ĐIỀU TRA
VÀ KẾT THÚC ĐIỀU TRA
Điều 229. Tạm đình chỉ điều tra
1.
Cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra khi thuộc một trong các
trường hợp:
a)
Khi chưa xác định được bị can hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu nhưng đã hết
thời hạn điều tra vụ án. Trường hợp không biết rõ bị can đang ở đâu, Cơ quan điều
tra phải ra quyết định truy nã trước khi tạm đình chỉ điều tra;
b)
Khi có kết luận giám định tư pháp xác định bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm
nghèo thì có thể tạm đình chỉ điều tra trước khi hết thời hạn điều tra;
c)[131]
Khi đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản nhưng chưa có kết quả hoặc
đã yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa kết thúc theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự mà đã hết thời hạn điều tra. Trong trường hợp này, việc
giám định, định giá tài sản tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả; việc tương trợ tư
pháp tiếp tục được tiến hành cho đến khi kết thúc theo quy định của Luật Tương trợ tư
pháp về hình sự;
d)[132]
Khi không thể kết thúc điều tra vì lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh
nhưng đã hết thời hạn điều tra.
Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Công
an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và thủ trưởng các cơ quan khác có liên quan quy định
chi tiết điểm này.
2.
Trường hợp vụ án có nhiều bị can mà lý do tạm đình chỉ điều tra không liên quan
đến tất cả bị can thì có thể tạm đình chỉ điều tra đối với từng bị can.
3.
Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định tạm đình chỉ điều tra, Cơ quan điều
tra phải gửi quyết định này cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[133], bị
can, người bào chữa hoặc người đại diện của bị can; thông báo cho bị hại,
đương sự và người bảo vệ quyền lợi của họ.
Điều 230. Đình chỉ điều tra
1.
Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra khi thuộc một trong các trường
hợp:
a)
Có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 và Điều
157 của Bộ luật này hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều
29 của Bộ luật Hình sự hoặc người chưa thành niên được áp dụng biện pháp xử
lý chuyển hướng theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên[134];
b)
Đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội
phạm.
2.
Quyết định đình chỉ điều tra ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết định, lý do và
căn cứ đình chỉ điều tra, việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế,
trả lại tài liệu, đồ vật đã tạm giữ (nếu có), việc xử lý vật chứng và những vấn
đề khác có liên quan.
Trường
hợp vụ án có nhiều bị can mà căn cứ để đình chỉ điều tra không liên quan đến tất
cả bị can thì có thể đình chỉ điều tra đối với từng bị can.
3.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định đình chỉ điều tra kèm
theo hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra, nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra có
căn cứ thì Viện kiểm sát phải trả lại hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra để giải
quyết theo thẩm quyền; nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra không có căn cứ
thì hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra phục hồi điều
tra; nếu thấy đủ căn cứ để truy tố thì hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra và
ra quyết định truy tố theo thời hạn, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật này.
Điều 231. Truy nã bị can
1.
Khi bị can trốn hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu thì Cơ quan điều tra phải
ra quyết định truy nã bị can.
2.
Quyết định truy nã ghi rõ họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của bị can,
đặc điểm để nhận dạng bị can, tội phạm mà bị can đã bị khởi tố và các nội dung
quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này; kèm theo ảnh
bị can (nếu có).
Quyết
định truy nã bị can được gửi cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[135] và
thông báo công khai để mọi người phát hiện, bắt người bị truy nã.
3.
Sau khi bắt được bị can theo quyết định truy nã thì Cơ quan điều tra đã ra quyết
định truy nã phải ra quyết định đình nã. Quyết định đình nã được gửi cho Viện
kiểm sát có thẩm quyền[136] và thông báo công khai.
Điều 232. Kết thúc điều tra
1.
Khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra phải ra bản kết luận điều tra.
2.
Việc điều tra kết thúc khi Cơ quan điều tra ra bản kết luận điều tra đề nghị
truy tố hoặc ra bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra.
3.
Bản kết luận điều tra ghi rõ ngày, tháng, năm; họ tên, chức vụ và chữ ký của
người ra kết luận.
4.
Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra bản kết luận điều tra, Cơ quan điều tra phải
giao bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc bản kết luận điều tra kèm theo
quyết định đình chỉ điều tra cùng hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[137];
giao bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra
cho bị can hoặc người đại diện của bị can; gửi bản kết luận điều tra đề nghị
truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra cho người bào chữa; thông báo cho bị
hại, đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Điều 233. Kết luận điều tra trong trường hợp đề nghị truy tố[138]
1.
Trong trường hợp đề nghị truy tố thì bản kết luận điều tra ghi rõ diễn biến
hành vi phạm tội; chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị can, thủ đoạn, động
cơ, mục đích phạm tội, tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra;
việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; tình
tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị can; việc
thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và việc xử lý vật chứng; nguyên nhân và điều
kiện dẫn đến hành vi phạm tội và tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án; lý do
và căn cứ đề nghị truy tố; tội danh, điều, khoản, điểm của Bộ luật Hình sự được
áp dụng; những ý kiến đề xuất giải quyết vụ án.
Bản
kết luận điều tra phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra kết luận; họ tên, chức vụ và
chữ ký của người ra kết luận điều tra.
2. Cơ quan điều tra có thể kết luận điều tra đề nghị truy tố
bị can khi đã có đủ căn cứ và bảo đảm quyền bào chữa cho bị can theo quy định của
Bộ luật này trong các trường hợp sau:
a) Bị can trốn hoặc không biết bị can ở đâu và việc truy nã
không có kết quả;
b) Bị can đang ở nước ngoài mà không thể triệu tập để phục
vụ các hoạt động điều tra.
3. Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ban hành kết luận điều tra đề nghị truy tố đối với bị can quy định tại khoản 2 Điều này,
kết luận điều tra phải được niêm yết nếu không thể giao được cho bị can.
4. Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ
Quốc phòng, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao quy định chi tiết khoản 2 và khoản 3 Điều này.
Điều 234. Kết luận điều tra trong trường hợp đình chỉ điều
tra
Trong
trường hợp đình chỉ điều tra thì bản kết luận điều tra ghi rõ diễn biến sự việc,
quá trình điều tra, lý do và căn cứ đình chỉ điều tra.
Bản
kết luận điều tra phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra kết luận; họ tên, chức vụ và
chữ ký của người ra kết luận điều tra.
Quyết
định đình chỉ điều tra ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết định, lý do và căn cứ
đình chỉ điều tra, việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, trả lại
tài liệu, đồ vật đã tạm giữ (nếu có), việc xử lý vật chứng và các vấn đề khác
có liên quan.
Điều 235. Phục hồi điều tra
1.
Khi có lý do để hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định tạm đình chỉ
điều tra thì Cơ quan điều tra ra quyết định phục hồi điều tra, nếu chưa hết thời
hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Nếu
việc điều tra bị đình chỉ theo quy định tại khoản 5 và khoản 6 Điều
157 của Bộ luật này mà bị can không đồng ý và yêu cầu điều tra lại thì Cơ
quan điều tra hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền[139] ra
quyết định phục hồi điều tra.
2.
Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định phục hồi điều tra, Cơ quan điều
tra phải gửi quyết định này cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[140], bị
can, người bào chữa hoặc người đại diện của bị can; thông báo cho bị hại,
đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Phần thứ ba
TRUY TỐ
Chương XVIII
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 236. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực
hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố
1. Quyết định áp dụng,
thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; yêu cầu Cơ quan
điều tra truy nã bị can.
2.
Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu liên quan đến vụ án trong
trường hợp cần thiết.
3.
Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm kiểm tra, bổ sung tài liệu,
chứng cứ để quyết định việc truy tố hoặc khi Tòa án yêu cầu điều tra bổ sung mà
xét thấy không cần thiết phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra.
4.
Quyết định khởi tố, quyết định thay đổi, quyết định bổ sung quyết định khởi tố
vụ án, bị can trong trường hợp phát hiện còn có hành vi phạm tội, người phạm tội
khác trong vụ án chưa được khởi tố, điều tra.
5.
Quyết định trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để yêu cầu điều tra bổ sung.
6.
Quyết định tách, nhập vụ án; chuyển vụ án để truy tố theo thẩm quyền, áp dụng
thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
7.
Quyết định gia hạn, không gia hạn thời hạn truy tố, thời hạn áp dụng các biện
pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế.
8.
Quyết định truy tố.
9.
Quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ
án đối với bị can; quyết định phục hồi vụ án, quyết định phục hồi vụ án đối với
bị can.
10.
Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác để quyết định việc truy tố theo quy định của
Bộ luật này.
Điều 237. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm
sát trong giai đoạn truy tố
1. Khi kiểm sát trong
giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn:
a)
Kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến
nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố
tụng vi phạm pháp luật;
b)
Kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi
phạm pháp luật;
c)
Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác để kiểm sát trong giai đoạn truy tố
theo quy định của Bộ luật này.
2.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, kiến nghị quy định tại điểm
a và điểm b khoản 1 Điều này, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có trách
nhiệm thông báo việc thực hiện yêu cầu, kiến nghị cho Viện kiểm sát.
Điều 238. Giao, nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra
1.
Khi Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra giao hồ sơ vụ án kèm theo bản kết luận điều tra đề nghị truy tố và vật chứng
(nếu có) thì Viện kiểm sát phải kiểm tra và xử lý như sau:
a)
Trường hợp tài liệu trong hồ sơ vụ án, vật chứng kèm theo (nếu có) đã đầy đủ so
với bảng kê tài liệu, vật chứng và bản kết luận điều tra đã được giao cho bị
can hoặc người đại diện của bị can thì nhận hồ sơ vụ án;
b)
Trường hợp tài liệu trong hồ sơ vụ án, vật chứng kèm theo (nếu có) không đủ so
với bảng kê tài liệu, vật chứng hoặc bản kết luận điều tra chưa được giao cho bị
can hoặc người đại diện của bị can thì chưa nhận hồ sơ vụ án và yêu cầu Cơ quan
điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra bổ
sung tài liệu, vật chứng; yêu cầu giao bản kết luận điều tra cho bị can hoặc
người đại diện của bị can.
2.
Việc giao, nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra được lập biên bản theo quy
định tại Điều 133 của Bộ luật này và đưa vào hồ sơ vụ án.
Điều 239. Thẩm quyền truy tố
1.[141] Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết
định việc truy tố là Viện kiểm sát đã thực hành quyền công tố và kiểm sát điều
tra. Thẩm quyền truy tố của Viện kiểm sát được xác định theo thẩm quyền xét xử
của Tòa án đối với vụ án.
Trường
hợp vụ án không thuộc thẩm quyền truy tố của mình, Viện kiểm sát ra ngay quyết
định chuyển vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền. Việc chuyển vụ án cho Viện
kiểm sát ngoài phạm vi tỉnh, thành phố hoặc ngoài phạm vi quân khu do Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu quyết định.
Đối
với vụ án do Viện kiểm sát cấp trên thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra
thì Viện kiểm sát cấp trên quyết định việc truy tố. Chậm nhất là 02 tháng trước
khi kết thúc điều tra, Viện kiểm sát cấp trên phải thông báo cho Viện kiểm sát
cấp dưới cùng cấp với Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án để cử Kiểm sát
viên tham gia nghiên cứu hồ sơ vụ án. Ngay sau khi quyết định truy tố, Viện kiểm
sát cấp trên ra quyết định phân công cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền
công tố, kiểm sát xét xử; sau khi nhận được hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng,
Viện kiểm sát cấp dưới có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử
theo đúng quy định của Bộ luật này.
2.
Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định chuyển vụ án, Viện kiểm sát phải
thông báo bằng văn bản cho Cơ quan đã kết thúc điều tra vụ án, bị can hoặc người
đại diện của bị can, người bào chữa, bị hại, người tham gia tố tụng khác.
Việc
giao, gửi hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 240 của Bộ luật này. Trong trường hợp này, thời
hạn truy tố được tính từ ngày Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố nhận được hồ
sơ vụ án.
Điều 240. Thời hạn quyết định việc truy tố
1.
Trong thời hạn 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng,
30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể
từ ngày nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát phải ra một
trong các quyết định:
a)
Truy tố bị can trước Tòa án;
b)
Trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung;
c)
Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với bị
can.
Trường
hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn thời hạn quyết định việc
truy tố nhưng không quá 10 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm
nghiêm trọng, không quá 15 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng, không quá 30
ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
2.
Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra một trong các quyết định quy định tại khoản
1 Điều này, Viện kiểm sát phải thông báo cho bị can, người bào chữa hoặc người
đại diện của bị can, bị hại biết việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung; giao cho bị
can hoặc người đại diện của bị can và gửi cho Cơ quan điều tra, người bào chữa
bản cáo trạng, quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án,
quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án đối
với bị can; thông báo cho bị hại, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của họ.
Việc
giao, nhận các văn bản nêu trên được lập biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này và đưa vào hồ sơ vụ án.
Trường
hợp vụ án phức tạp thì thời hạn giao bản cáo trạng, quyết định đình chỉ vụ án
hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án cho bị can hoặc người đại diện của bị can có
thể kéo dài nhưng không quá 10 ngày.
3.
Các quyết định nêu tại khoản 1 Điều này phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát cấp
trên. Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên có quyền rút, đình chỉ, hủy bỏ các quyết
định đó nếu thấy không có căn cứ hoặc trái pháp luật và yêu cầu Viện kiểm sát cấp
dưới ra quyết định đúng pháp luật.
Điều 241. Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện
pháp cưỡng chế
Sau
khi nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát có quyền quyết định
áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế theo quy định
của Bộ luật này.
Thời
hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn truy tố không được quá thời hạn
quy định tại khoản 1 Điều 240 của Bộ luật này.
Điều 242. Nhập hoặc tách vụ án trong giai đoạn truy tố
1.
Viện kiểm sát quyết định nhập vụ án khi thuộc một trong các trường hợp:
a)
Bị can phạm nhiều tội;
b)
Bị can phạm tội nhiều lần;
c)
Nhiều bị can cùng thực hiện một tội phạm hoặc cùng với bị can còn có những
người khác che giấu tội phạm hoặc không tố giác tội phạm, tiêu thụ tài sản do bị
can phạm tội mà có.
2.
Viện kiểm sát quyết định tách vụ án khi thuộc một trong các trường hợp sau đây
nếu xét thấy việc tách đó không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan,
toàn diện và đã có quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can:
a)
Bị can bỏ trốn;
b)
Bị can mắc bệnh hiểm nghèo;
c)
Bị can bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
Chương XIX
QUYẾT ĐỊNH VIỆC TRUY TỐ
BỊ CAN
Điều 243. Quyết định truy tố bị can[142]
1.
Viện kiểm sát quyết định truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng.
Bản cáo trạng ghi rõ diễn
biến hành vi phạm tội; chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị can, thủ đoạn,
động cơ, mục đích phạm tội, tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây
ra; việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế;
tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị
can; việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và việc xử lý vật chứng; nguyên
nhân và điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội và tình tiết khác có ý nghĩa đối với
vụ án.
Phần
kết luận của bản cáo trạng ghi rõ tội danh và điều, khoản, điểm của Bộ luật
Hình sự được áp dụng.
Bản
cáo trạng phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra cáo trạng; họ tên, chức vụ và chữ ký
của người ra bản cáo trạng.
2. Viện kiểm sát có thể quyết định truy tố bị can khi đã có
đủ căn cứ và bảo đảm quyền bào chữa cho bị can theo quy định của Bộ luật này
trong các trường hợp sau:
a) Bị can trốn hoặc không biết bị can ở đâu và việc truy nã
không có kết quả;
b) Bị can đang ở nước ngoài mà không thể triệu tập để phục
vụ các hoạt động nhằm quyết định việc truy tố.
3. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra bản cáo trạng theo quy định tại khoản 2 Điều này, cáo trạng phải được niêm yết nếu
không thể giao được cho bị can.
4. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối
hợp với Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao quy định chi tiết khoản 2 và khoản 3 Điều này.
Điều 244. Chuyển hồ sơ vụ án và bản cáo trạng đến Tòa án
Trong
thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra bản cáo trạng, Viện kiểm sát phải chuyển hồ sơ vụ
án và bản cáo trạng đến Tòa án. Trường hợp vụ án phức tạp thì thời hạn chuyển hồ
sơ vụ án và bản cáo trạng đến Tòa án có thể kéo dài nhưng không quá 10 ngày.
Trường
hợp vụ án có bị can bị tạm giam thì trước khi hết thời hạn tạm giam 07
ngày thì Viện kiểm sát thông báo cho Tòa án biết để xem xét, quyết định việc tạm
giam bị can khi nhận hồ sơ vụ án.
Điều 245. Trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung
1.
Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ vụ án, yêu cầu Cơ quan điều tra điều
tra bổ sung khi thuộc một trong các trường hợp:
a)
Còn thiếu chứng cứ để chứng minh một trong những vấn đề quy định tại Điều 85 của Bộ luật này mà Viện kiểm sát không thể tự mình bổ
sung được;
b)
Có căn cứ khởi tố bị can về một hay nhiều tội phạm khác;
c)
Có người đồng phạm hoặc người phạm tội khác liên quan đến vụ án nhưng chưa được
khởi tố bị can;
d)
Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
2.
Quyết định trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung phải ghi rõ vấn đề cần điều
tra bổ sung quy định tại khoản 1 Điều này và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.
3.
Cơ quan điều tra có trách nhiệm thực hiện đầy đủ yêu cầu nêu trong quyết định
trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung của Viện kiểm sát; trường hợp vì lý do bất
khả kháng hoặc do trở ngại khách quan mà không thực hiện được thì phải nêu rõ
lý do bằng văn bản.
Kết
thúc điều tra bổ sung, Cơ quan điều tra phải có bản kết luận điều tra bổ sung.
Bản kết luận điều tra bổ sung phải ghi rõ kết quả điều tra bổ sung, quan điểm
giải quyết vụ án. Nếu kết quả điều tra bổ sung làm thay đổi cơ bản kết luận điều
tra trước đó thì Cơ quan điều tra phải ra bản kết luận điều tra mới thay thế.
Việc
chuyển hồ sơ vụ án kèm theo kết luận điều tra bổ sung cho Viện kiểm sát; việc
giao, nhận, gửi thông báo kết quả điều tra bổ sung được thực hiện theo quy định
tại Điều 232 và Điều 238 của Bộ luật này.
Điều 246. Giải quyết yêu cầu điều tra bổ sung của Tòa án
Trường
hợp Tòa án quyết định trả hồ sơ vụ án yêu cầu điều tra bổ sung thì Viện kiểm
sát phải xem xét căn cứ của việc yêu cầu điều tra bổ sung và giải quyết như sau:
1.
Nếu quyết định trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung có căn cứ mà xét thấy không cần
phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra thì Viện kiểm sát trực tiếp tiến hành một số
hoạt động điều tra để bổ sung tài liệu, chứng cứ; trường hợp Viện kiểm sát
không thể tự điều tra bổ sung được thì Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ để
điều tra bổ sung và chuyển ngay hồ sơ cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều
tra.
Trường
hợp kết quả điều tra bổ sung làm thay đổi cơ bản nội dung bản cáo trạng trước
đó thì Viện kiểm sát phải ra bản cáo trạng mới thay thế và chuyển hồ sơ đến
Tòa án. Trường hợp kết quả điều tra bổ sung dẫn đến đình chỉ vụ án thì Viện kiểm
sát ra quyết định đình chỉ vụ án và thông báo cho Tòa án biết;
2.
Nếu quyết định trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung không có căn cứ thì Viện kiểm
sát có văn bản nêu rõ lý do, giữ nguyên quyết định truy tố và chuyển lại hồ sơ
cho Tòa án.
Điều 247. Tạm đình chỉ vụ án
1.
Viện kiểm sát quyết định tạm đình chỉ vụ án trong các trường hợp:
a)
Khi có kết luận giám định tư pháp xác định bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm
nghèo thì có thể tạm đình chỉ vụ án trước khi hết thời hạn quyết định việc truy
tố;
b)
Khi bị can bỏ trốn mà không biết rõ bị can đang ở đâu nhưng đã hết thời hạn quyết
định việc truy tố; trong trường hợp này phải yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị
can trước khi tạm đình chỉ vụ án. Việc truy nã bị can được thực hiện theo quy định
tại Điều 231 của Bộ luật này;
c)[143]
Khi đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản nhưng chưa có kết quả hoặc
đã yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa kết thúc
theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự mà đã hết thời hạn quyết định việc truy tố. Trong trường hợp
này, việc giám định, định giá tài sản tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết
quả;
việc tương trợ tư pháp tiếp tục được tiến hành cho đến khi kết thúc theo quy định của Luật Tương
trợ tư pháp về hình sự;
d)[144]
Khi không thể tiến hành các hoạt động tố tụng để quyết định việc truy tố vì lý
do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh nhưng đã hết thời hạn quyết định việc
truy tố.
Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Công
an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và thủ trưởng các cơ quan khác có liên quan quy định
chi tiết điểm này.
2.
Quyết định tạm đình chỉ vụ án phải ghi rõ lý do, căn cứ tạm đình chỉ vụ án, các
vấn đề khác có liên quan và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều
132 của Bộ luật này.
Trường
hợp vụ án có nhiều bị can mà căn cứ để tạm đình chỉ vụ án không liên quan đến tất
cả bị can thì tạm đình chỉ vụ án đối với từng bị can.
Điều 248. Đình chỉ vụ án
1.
Viện kiểm sát quyết định không truy tố và ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một
trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 và Điều 157 của
Bộ luật này hoặc có căn cứ quy định tại Điều
16 hoặc Điều 29 của Bộ luật Hình sự hoặc người chưa thành niên được áp dụng
biện pháp xử lý chuyển hướng theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành
niên[145].
2.
Quyết định đình chỉ vụ án phải ghi rõ lý do và căn cứ đình chỉ vụ án, việc hủy
bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, xử lý vật chứng, tài liệu, đồ vật
đã tạm giữ (nếu có), các vấn đề khác có liên quan và các nội dung quy định
tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.
Trường
hợp vụ án có nhiều bị can mà căn cứ đình chỉ vụ án không liên quan đến tất cả
các bị can thì quyết định đình chỉ vụ án đối với từng bị can.
Điều 249. Phục hồi vụ án
1.
Khi có lý do để hủy bỏ quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ
án thì Viện kiểm sát ra quyết định phục hồi vụ án nếu chưa hết thời hiệu truy cứu
trách nhiệm hình sự. Nếu vụ án bị đình chỉ theo quy định tại khoản
5 và khoản 6 Điều 157 của Bộ luật này mà bị can không đồng ý và yêu cầu phục
hồi vụ án thì Viện kiểm sát ra quyết định phục hồi vụ án. Có thể phục hồi đối với
toàn bộ vụ án hoặc phục hồi vụ án đối với từng bị can.
2.
Quyết định phục hồi vụ án phải ghi rõ lý do và căn cứ phục hồi vụ án, các vấn đề
khác có liên quan và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều
132 của Bộ luật này.
3.
Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định, Viện kiểm sát phải giao quyết
định phục hồi vụ án hoặc quyết định phục hồi vụ án đối với bị can cho bị can hoặc
người đại diện của bị can; gửi cho cơ quan đã kết thúc điều tra vụ án, người
bào chữa; thông báo cho bị hại, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của họ.
Việc
giao, nhận quyết định phục hồi vụ án, quyết định phục hồi vụ án đối với bị can
được lập biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án.
4.
Thời hạn quyết định việc truy tố khi phục hồi vụ án được tính theo thủ tục
chung quy định tại Bộ luật này kể từ ngày Viện kiểm sát ra quyết định phục hồi
vụ án.
5.
Khi phục hồi vụ án, Viện kiểm sát có quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp
ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế theo quy định của Bộ luật này.
Trường
hợp có căn cứ theo quy định của Bộ luật này cần phải tạm giam thì thời hạn tạm
giam để phục hồi vụ án không được quá thời hạn quyết định việc truy tố.
Phần thứ tư
XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ
Chương XX
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 250. Xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục
1.
Việc xét xử được tiến hành bằng lời nói.
Hội
đồng xét xử phải trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án bằng cách hỏi,
nghe ý kiến của bị cáo, bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ, người làm
chứng, người giám định, người khác tham gia phiên tòa được Tòa án triệu tập;
xem xét, kiểm tra tài liệu, chứng cứ đã thu thập; công bố biên bản, tài liệu và
tiến hành hoạt động tố tụng khác để kiểm tra chứng cứ; nghe ý kiến của Kiểm sát
viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương
sự.
2.
Việc xét xử được tiến hành liên tục, trừ thời gian nghỉ và thời gian tạm ngừng
phiên tòa.
Điều 251. Tạm ngừng phiên tòa
1.
Việc xét xử có thể tạm ngừng khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Cần phải xác minh, thu
thập, bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật mà không thể thực hiện ngay tại phiên
tòa và có thể thực hiện được trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày tạm ngừng phiên
tòa;
b)
Do tình trạng sức khỏe, sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng không thể tiếp tục
tham gia phiên tòa nhưng họ có thể tham gia lại phiên tòa trong thời gian 05
ngày, kể từ ngày tạm ngừng phiên tòa;
c)
Vắng mặt Thư ký Tòa án tại phiên tòa.
2.
Việc tạm ngừng phiên tòa phải được ghi vào biên bản phiên tòa và thông báo cho
những người tham gia tố tụng biết. Thời hạn tạm ngừng phiên tòa không quá 05
ngày kể từ ngày quyết định tạm ngừng phiên tòa. Hết thời hạn tạm ngừng phiên
tòa, việc xét xử vụ án được tiếp tục. Trường hợp không thể tiếp tục xét xử vụ
án thì phải hoãn phiên tòa.
Điều 252. Tòa án xác minh, thu thập,
bổ sung chứng cứ
Tòa án tiến hành việc xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ
bằng các hoạt động:
1. Tiếp nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án
do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp;
2. Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ
vật liên quan đến vụ án;
3. Xem xét tại chỗ vật chứng không thể đưa đến phiên tòa;
4. Xem xét tại chỗ nơi đã xảy ra tội phạm hoặc địa điểm
khác có liên quan đến vụ án;
5. Trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản ngoài các
trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định, cần định giá tài sản quy định tại
Điều 206 và Điều 215 của Bộ luật này; trưng cầu giám định
bổ sung, giám định lại; yêu cầu định giá lại tài sản;
6. Trường hợp Tòa án đã yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung chứng
cứ nhưng Viện kiểm sát không bổ sung được thì Tòa án có thể tiến hành xác minh,
thu thập tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án.
Điều 253. Tiếp nhận chứng cứ, tài
liệu, đồ vật liên quan đến vụ án
1. Khi cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp chứng cứ, tài liệu,
đồ vật liên quan đến vụ án thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải tiếp nhận và có
thể hỏi người đã cung cấp về những vấn đề có liên quan đến chứng cứ, tài liệu, đồ
vật đó. Việc tiếp nhận được lập biên bản.
2. Ngay sau khi nhận được chứng cứ, tài liệu, đồ vật do cơ
quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thì Tòa án phải chuyển cho Viện kiểm sát cùng cấp.
Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng cứ, tài liệu, đồ vật, Viện kiểm
sát phải xem xét và chuyển lại cho Tòa án để đưa vào hồ sơ vụ án.
Điều 254. Thành phần Hội đồng xét xử
1.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm. Trường hợp vụ án có tính
chất nghiêm trọng, phức tạp thì Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm
phán và ba Hội thẩm.
Đối
với vụ án có bị cáo về tội mà Bộ luật Hình sự quy định mức cao nhất của khung
hình phạt là tù chung thân, tử hình thì Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm hai Thẩm
phán và ba Hội thẩm.
2.
Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba Thẩm phán.
Điều 255. Quyết định đưa vụ án ra
xét xử
1. Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm ghi rõ:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định; tên Tòa án ra quyết
định; giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm mở phiên tòa;
b) Xét xử công khai hay xét xử kín;
c) Họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, nghề nghiệp, nơi
cư trú của bị cáo;
d) Tội danh và điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự
mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo;
đ) Họ tên Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án; họ tên
Thẩm phán dự khuyết, Hội thẩm dự khuyết, Thư ký Tòa án dự khuyết (nếu có);
e) Họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát
xét xử tại phiên tòa; họ tên Kiểm sát viên dự khuyết (nếu có);
g) Họ tên người bào chữa (nếu có);
h) Họ tên người phiên dịch (nếu có);
i) Họ tên những người khác được triệu tập đến phiên
tòa;
k) Vật chứng cần đưa ra xem xét tại phiên tòa.
2. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm ghi rõ các
nội dung quy định tại các điểm a, b, e, g, h, i và k khoản 1 Điều này; tội danh
và hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định; họ tên người kháng cáo, người
bị kháng cáo, người bị kháng nghị; Viện kiểm sát kháng nghị; họ tên Thẩm phán,
Thư ký Tòa án; họ tên Thẩm phán dự khuyết, Thư ký Tòa án dự khuyết (nếu có).
Điều 256. Nội quy phiên tòa
1.
Mọi người vào phòng xử án phải mặc trang phục nghiêm túc, chấp hành việc kiểm
tra an ninh và thực hiện đúng hướng dẫn của Thư ký Tòa án.
2.
Mọi người trong phòng xử án phải tôn trọng Hội đồng xét xử, giữ gìn trật tự và
tuân theo sự điều hành của chủ tọa phiên tòa.
3.
Mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy khi Hội đồng xét xử vào phòng xử án
và khi tuyên án. Bị cáo phải đứng khi Kiểm sát viên công bố cáo trạng hoặc quyết
định truy tố. Người được Tòa án triệu tập đến phiên tòa muốn trình bày ý kiến
phải được chủ tọa phiên tòa đồng ý; người trình bày ý kiến phải đứng khi trình
bày ý kiến, khi được hỏi.
Những
người vì lý do sức khỏe có thể được chủ tọa phiên tòa cho phép ngồi.
4.
Tại phiên tòa, bị cáo đang bị tạm giam chỉ được tiếp xúc với người bào chữa cho
mình. Việc tiếp xúc với những người khác phải được chủ tọa phiên tòa cho phép.
5.
Người dưới 16 tuổi không được vào phòng xử án, trừ trường hợp được Tòa án triệu
tập đến phiên tòa.
Điều 257. Phòng xử án
1.
Phòng xử án phải được bố trí thể hiện sự trang nghiêm, an toàn, bảo đảm sự
bình đẳng giữa người thực hành quyền công tố và luật sư, người bào chữa khác.
2.
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết Điều này.
Điều 258. Biên bản phiên tòa
1.
Biên bản phiên tòa phải ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm mở phiên tòa và
mọi diễn biến tại phiên tòa từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc phiên tòa. Cùng
với việc ghi biên bản, có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh về diễn biến
phiên tòa.
2.
Các câu hỏi, câu trả lời, lời trình bày và quyết định tại phiên tòa đều được
ghi vào biên bản.
3.
Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, chủ tọa phiên tòa phải kiểm tra biên bản và
cùng với Thư ký Tòa án ký vào biên bản đó.
4.
Sau khi chủ tọa phiên tòa và Thư ký Tòa án ký vào biên bản phiên tòa, Kiểm sát
viên, bị cáo, người bào chữa, bị hại, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của bị hại, đương sự hoặc đại diện của những người đó được xem biên bản
phiên tòa. Nếu có người yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên
tòa thì Thư ký Tòa án phải ghi sửa đổi, bổ sung đó vào biên bản phiên tòa.
Không được tẩy xóa, sửa chữa trực tiếp mà phải ghi sửa đổi, bổ sung tiếp vào cuối
biên bản phiên tòa và cùng chủ tọa phiên tòa ký xác nhận; nếu chủ tọa phiên tòa
không chấp nhận yêu cầu thì phải nêu rõ lý do và ghi vào biên bản phiên tòa.
Điều 259. Biên bản nghị án
1.
Khi nghị án phải lập biên bản.
Biên
bản nghị án phải được tất cả thành viên Hội đồng xét xử ký tại phòng nghị án trước
khi tuyên án.
2.
Biên bản nghị án của Hội đồng xét xử sơ thẩm phải ghi rõ:
a) Giờ, ngày, tháng, năm ra biên bản; tên Tòa án xét xử;
b) Họ tên Thẩm phán, Hội thẩm;
c) Vụ án được đưa ra xét xử;
d) Kết quả biểu quyết của Hội đồng xét xử về từng vấn đề đã
thảo luận quy định tại khoản 3 Điều 326 của Bộ luật này, ý
kiến khác (nếu có).
3.
Biên bản nghị án của Hội đồng xét xử phúc thẩm phải ghi rõ các điểm a, c và d khoản
2 Điều này và họ tên các Thẩm phán.
Điều 260. Bản án
1.
Tòa án ra bản án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Bản
án phải có chữ ký của tất cả thành viên Hội đồng xét xử.
2.
Bản án sơ thẩm phải ghi rõ:
a)
Tên Tòa án xét xử sơ thẩm; số và ngày thụ lý vụ án; số của bản án và ngày tuyên
án; họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên; họ
tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, nơi cư trú, nghề nghiệp, trình độ văn
hóa, dân tộc, tiền án, tiền sự của bị cáo; ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam; họ
tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi sinh, nơi cư trú của người đại diện của bị cáo; họ
tên của người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản,
người phiên dịch, người dịch thuật và những người khác được Tòa án triệu tập
tham gia phiên tòa; họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi cư trú của bị hại, đương sự,
người đại diện của họ; số, ngày, tháng, năm của quyết định đưa vụ án ra xét xử;
xét xử công khai hoặc xét xử kín; thời gian và địa điểm xét xử;
b)
Số, ngày, tháng, năm của bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố; tên Viện kiểm
sát truy tố; hành vi của bị cáo theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố; tội
danh, điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự và mức hình phạt, hình phạt bổ
sung, biện pháp tư pháp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà Viện kiểm sát đề
nghị áp dụng đối với bị cáo; xử lý vật chứng;
c)
Ý kiến của người bào chữa, bị hại, đương sự, người khác tham gia phiên tòa được
Tòa án triệu tập;
d)
Nhận định của Hội đồng xét xử phải phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng
cứ xác định không có tội, xác định bị cáo có tội hay không và nếu bị cáo có tội
thì là tội gì, theo điểm, khoản, điều nào của Bộ luật Hình sự và của văn bản
quy phạm pháp luật khác được áp dụng, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự và cần phải xử lý như thế nào. Nếu bị cáo không có tội thì
bản án phải ghi rõ những căn cứ xác định bị cáo không có tội và việc giải quyết
khôi phục danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật;
đ)
Phân tích lý do mà Hội đồng xét xử không chấp nhận những chứng cứ buộc tội, chứng
cứ gỡ tội, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, bị hại,
đương sự và người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ đưa
ra;
e)
Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên,
Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử;
g)
Quyết định của Hội đồng xét xử về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án,
về án phí và quyền kháng cáo đối với bản án. Trường hợp có quyết định phải thi
hành ngay thì ghi rõ quyết định đó.
3.
Bản án phúc thẩm phải ghi rõ:
a)
Tên Tòa án xét xử phúc thẩm; số và ngày thụ lý vụ án; số của bản án và ngày
tuyên án; họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, Kiểm sát
viên; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi
sinh, nơi cư trú, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, dân tộc, tiền án, tiền sự của
bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo, bị kháng nghị và những bị cáo không kháng
cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị nhưng Tòa án cấp phúc thẩm có xem
xét; ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam; họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi sinh, nơi
cư trú của người đại diện của bị cáo; họ tên của người bào chữa, người
giám định, người phiên dịch và những người khác được Tòa án triệu tập tham gia
phiên tòa; họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi
cư trú, địa chỉ của bị hại, đương sự, người đại diện của họ; tên của Viện
kiểm sát có kháng nghị; xét xử công khai hoặc xét xử kín; thời gian và địa điểm
xét xử;
b)
Tóm tắt nội dung vụ án, quyết định trong bản án sơ thẩm; nội dung kháng cáo,
kháng nghị; nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm, những căn cứ để chấp nhận
hoặc không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị; điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình
sự và của văn bản quy phạm pháp luật khác mà Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ để
giải quyết vụ án;
c)
Quyết định của Hội đồng xét xử phúc thẩm về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ
án do có kháng cáo, kháng nghị, về án phí sơ thẩm, phúc thẩm.
Điều 261. Sửa chữa, bổ sung bản án
1.
Không được sửa chữa, bổ sung bản án trừ trường hợp phát hiện có lỗi rõ ràng về
chính tả, số liệu do nhầm lẫn hoặc do tính toán sai.
Việc
sửa chữa, bổ sung bản án không được làm thay đổi bản chất vụ án hoặc bất lợi
cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
Việc
sửa chữa, bổ sung bản án được thể hiện bằng văn bản và giao ngay cho những người
được quy định tại Điều 262 của Bộ luật này.
2.
Việc sửa chữa, bổ sung bản án quy định tại khoản 1 Điều này do Thẩm phán chủ tọa
phiên tòa đã ra bản án, quyết định thực hiện. Trường hợp Thẩm phán chủ tọa
phiên tòa không thể thực hiện được thì việc sửa chữa, bổ sung bản án do Chánh
án Tòa án đã xét xử vụ án đó thực hiện.
Điều 262. Giao, gửi bản án
1.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tuyên án, Tòa án cấp sơ thẩm phải giao bản án
cho bị cáo, bị hại, Viện kiểm sát cùng cấp, người bào chữa; gửi bản án cho bị cáo
bị xét xử vắng mặt quy định tại điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ
luật này, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, Cơ quan điều tra có thẩm quyền[146],
cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Trại tạm giam, Trại giam nơi đang
giam giữ bị cáo; thông báo bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã[147]
nơi bị cáo cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi bị cáo làm việc, học tập; cấp bản
sao bản án hoặc trích lục bản án về những phần có liên quan cho đương sự hoặc
người đại diện của họ.
Trường
hợp xét xử vắng mặt bị cáo theo quy định tại điểm a hoặc điểm
b khoản 2 Điều 290 của Bộ luật này thì trong thời hạn nêu trên, bản án phải
được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã[148] nơi
cư trú cuối cùng hoặc cơ quan, tổ chức nơi làm việc, học tập cuối cùng của bị
cáo.
Tòa
án cấp sơ thẩm gửi bản án cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong
trường hợp bản án sơ thẩm có tuyên hình phạt tiền, tịch thu tài sản và quyết định
dân sự theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.
2.[149]
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc kể từ ngày ra quyết định, Tòa
án cấp phúc thẩm phải gửi bản án hoặc quyết định phúc thẩm cho Viện kiểm sát cùng cấp; cơ quan thi hành án hình sự có
thẩm quyền; Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án nơi đã xét xử sơ thẩm; Trại
tạm giam, Trại giam nơi đang giam giữ bị cáo; người đã kháng cáo, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị hoặc người đại diện của
họ; cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong trường hợp bản án phúc thẩm
có tuyên hình phạt tiền, tịch thu tài sản và quyết định dân sự; thông báo bằng
văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi làm việc,
học tập của bị cáo. Trường hợp Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án
quân sự trung ương xét xử phúc thẩm thì thời hạn này có thể kéo dài nhưng không
quá 25 ngày.
Điều 263. Phiên dịch tại phiên tòa
1.
Trường hợp bị cáo, bị hại, đương sự, người làm chứng không biết tiếng Việt, là
người câm, người điếc thì người phiên dịch phải dịch cho họ nghe, hiểu lời
trình bày, các câu hỏi, câu trả lời tại phiên tòa, nội dung quyết định của Hội
đồng xét xử và các vấn đề khác có liên quan đến họ.
2.
Người phiên dịch phải dịch lời trình bày, câu hỏi, câu trả lời của những người
quy định tại khoản 1 Điều này ra tiếng Việt cho Hội đồng xét xử và người khác
tham gia phiên tòa cùng nghe.
Điều 264. Kiến nghị sửa chữa thiếu sót, vi phạm trong công
tác quản lý
1.
Cùng với việc ra bản án, Tòa án ra kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng
biện pháp cần thiết để khắc phục nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm tại
các cơ quan, tổ chức đó. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị
của Tòa án, cơ quan, tổ chức nhận được kiến nghị phải thông báo bằng văn bản
cho Tòa án biết về những biện pháp được áp dụng.
2.
Kiến nghị của Tòa án có thể được đọc tại phiên tòa cùng với bản án hoặc chỉ gửi
riêng cho cơ quan, tổ chức hữu quan.
Điều 265. Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý
văn bản pháp luật
Trong
quá trình xét xử vụ án hình sự, Tòa án phát hiện và kiến nghị các cơ quan có thẩm
quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản pháp luật trái với Hiến
pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Việc
xem xét, trả lời Tòa án về kết quả xử lý văn bản pháp luật bị kiến nghị được
thực hiện theo quy định của pháp luật.
Điều 266. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực
hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử
1.
Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, Viện kiểm sát có
nhiệm vụ, quyền hạn:
a)
Công bố cáo trạng, công bố quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, quyết định khác
về việc buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa;
b)
Xét hỏi, xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ;
c)
Luận tội, tranh luận, rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố; kết luận về
tội khác bằng hoặc nhẹ hơn; phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải
quyết vụ án tại phiên tòa;
d)
Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp oan, sai, bỏ lọt tội
phạm, người phạm tội;
đ)
Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác khi thực hành quyền công tố trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm theo quy định của Bộ luật này.
2.
Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, Viện kiểm sát có
nhiệm vụ, quyền hạn:
a)
Trình bày ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị;
b)
Bổ sung chứng cứ mới;
c)
Bổ sung, thay đổi kháng nghị; rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị;
d)
Xét hỏi, xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ;
đ)
Phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa,
phiên họp;
e)
Tranh luận với bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên
tòa;
g)
Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác khi thực hành quyền công tố trong giai
đoạn xét xử phúc thẩm theo quy định của Bộ luật này.
Điều 267. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm
sát xét xử
1.
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử vụ án hình sự của Tòa án.
2.
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị
cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm
pháp luật.
3.
Kiểm sát bản án, quyết định, văn bản tố tụng khác của Tòa án.
4.
Yêu cầu Tòa án cùng cấp, cấp dưới chuyển hồ sơ vụ án hình sự để xem xét, quyết
định việc kháng nghị.
5.
Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật nghiêm trọng về
thủ tục tố tụng.
6.
Kiến nghị, yêu cầu Tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tố tụng
theo quy định của Bộ luật này; kiến nghị Tòa án khắc phục vi phạm trong hoạt động
tố tụng.
7.
Kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi
phạm pháp luật trong hoạt động quản lý.
8.
Thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, nhiệm vụ, quyền hạn khác khi kiểm sát xét xử
vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật này.
Chương XXI
XÉT XỬ SƠ THẨM
Mục I. THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN CÁC CẤP
Điều 268. Thẩm quyền xét xử của Tòa án[150]
1.
Tòa án nhân dân khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về tội phạm ít
nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc
biệt nghiêm trọng mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định
đến 20 năm tù.
2.
Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử sơ thẩm những vụ án:
a)
Vụ án hình sự về các tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực;
b)
Vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân khu vực nhưng có
nhiều tình tiết phức tạp, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, dư luận xã hội
đặc biệt quan tâm; vụ án mà khi xử lý có ảnh hưởng đến chính trị, đối ngoại; vụ
án mà người phạm tội là cán bộ lãnh đạo chủ chốt từ
cấp tỉnh trở lên, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân
tộc thiểu số.
Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao quy định chi tiết điểm này.
3.
Tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm
trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ tội phạm, vụ án:
a)
Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;
b)
Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;
c)
Các tội quy định tại các điều 123, 125, 126, 227, 277, 278, 279, 280, 282, 283,
284, 286, 287, 288, 337, 368, 369, 370, 371, 399 và 400 của Bộ luật Hình sự;
d)
Các tội phạm được thực hiện ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam;
đ)
Vụ án hình sự có bị cáo, bị hại, đương sự ở nước ngoài hoặc tài sản có liên
quan đến vụ án ở nước ngoài.
4.
Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án:
a)
Vụ án hình sự về các tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án quân sự khu vực;
b)
Vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án
quân sự khu vực nhưng có nhiều tình tiết phức tạp khó đánh giá, thống nhất về
tính chất vụ án hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành; vụ án mà bị cáo là
Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt từ cấp tỉnh,
Trung đoàn trưởng và tương đương trở lên, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc
có uy tín cao trong dân tộc thiểu số.
Điều 269. Thẩm quyền theo lãnh thổ
1.
Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là Tòa án nơi tội phạm được thực hiện.
Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định
được nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi kết
thúc việc điều tra.
2.[151]
Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt Nam thì Tòa án nhân dân nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước xét xử
theo thẩm quyền. Nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng ở trong nước của
bị cáo thì tùy từng trường hợp, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định
giao cho một Tòa án nhân dân khu vực thuộc Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội,
thành phố Đà Nẵng hoặc Thành phố Hồ Chí Minh hoặc giao cho Tòa án nhân dân
thành phố Hà Nội, thành phố Đà Nẵng hoặc Thành phố Hồ Chí Minh xét xử.
Bị
cáo phạm tội ở nước ngoài nếu thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự thì
Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử theo quyết định của Chánh án Tòa án quân sự
trung ương.
Điều 270. Thẩm quyền xét xử tội phạm xảy ra trên tàu bay,
tàu biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoài không
phận hoặc ngoài lãnh hải của Việt Nam
Tội
phạm xảy ra trên tàu bay hoặc tàu biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc ngoài lãnh hải của Việt Nam thuộc thẩm
quyền xét xử của Tòa án Việt Nam nơi có sân bay hoặc bến cảng trở về đầu tiên
hoặc nơi tàu bay, tàu biển đó được đăng ký.
Điều 271. Việc xét xử bị cáo phạm nhiều tội thuộc thẩm quyền
của các Tòa án khác cấp
Khi
bị cáo phạm nhiều tội, trong đó có tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án
cấp trên thì Tòa án cấp trên xét xử toàn bộ vụ án.
Điều 272. Thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự
1.
Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử:
a)
Vụ án hình sự mà bị cáo là quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức
quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra
tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân, tự vệ trong thời gian tập trung huấn
luyện hoặc phối thuộc với Quân đội nhân dân trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu;
công dân được điều động, trưng tập hoặc hợp đồng vào phục vụ trong Quân đội
nhân dân;
b)
Vụ án hình sự mà bị cáo không thuộc đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều này
liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự,
nhân phẩm của quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng,
quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn
sàng chiến đấu hoặc gây thiệt hại đến tài sản, danh dự, uy tín của Quân đội
nhân dân hoặc phạm tội trong doanh trại quân đội hoặc khu vực quân sự do Quân đội
nhân dân quản lý, bảo vệ.
2.
Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử tất cả tội phạm xảy ra trong địa bàn thiết
quân luật.
Điều 273. Việc xét xử bị cáo phạm nhiều tội thuộc thẩm quyền
của Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự
Khi
vụ án vừa có bị cáo hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự, vừa
có bị cáo hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân thì thẩm
quyền xét xử được thực hiện:
1.
Trường hợp có thể tách vụ án thì Tòa án quân sự xét xử những bị cáo và tội phạm
thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự; Tòa án nhân dân xét xử những bị cáo
và tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân;
2.
Trường hợp không thể tách vụ án thì Tòa án quân sự xét xử toàn bộ vụ án.
Điều 274. Chuyển vụ án trong giai đoạn xét xử
1.
Khi vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của mình thì Tòa án trả hồ sơ vụ án cho
Viện kiểm sát đã truy tố để chuyển đến Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố.
Trong
thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận lại hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát đã truy tố phải
ra quyết định chuyển hồ sơ vụ án đến Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố để giải
quyết theo thẩm quyền. Việc chuyển vụ án ra ngoài phạm vi tỉnh, thành phố[152]
hoặc ngoài phạm vi quân khu thực hiện theo quy định tại Điều
239 của Bộ luật này.
Khi
xét thấy vụ án vẫn thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án đã trả hồ sơ thì Viện kiểm
sát chuyển lại hồ sơ vụ án đến Tòa án kèm theo văn bản nêu rõ lý do; nếu Tòa
án xét thấy vụ án vẫn không thuộc thẩm quyền xét xử của mình thì
việc giải quyết tranh chấp thẩm quyền xét xử thực hiện theo Điều 275 của Bộ luật này. Viện kiểm sát phải thực hiện
theo quyết định của Tòa án có thẩm quyền.
2.
Thời hạn truy tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn được thực hiện theo quy định tại
Điều 240 và Điều 241 của Bộ luật này.
Điều 275. Giải quyết việc tranh chấp về thẩm quyền xét xử
1.
Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa các Tòa án nhân dân khu vực[153]
trong cùng một tỉnh, thành phố[154], giữa các Tòa án quân sự khu
vực trong cùng một quân khu do Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa
án quân sự cấp quân khu quyết định.
2.
Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa các Tòa án nhân dân khu vực[155]
thuộc các tỉnh, thành phố[156] khác nhau, giữa các Tòa án
quân sự khu vực thuộc các quân khu khác nhau do Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh,
Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu nơi kết thúc việc điều tra quyết định.
3.
Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa các Tòa án nhân dân cấp tỉnh,
giữa các Tòa án quân sự cấp quân khu do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh
án Tòa án quân sự trung ương quyết định.
4.
Việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa Tòa án nhân dân và Tòa án
quân sự do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định.
Việc
chuyển vụ án để xét xử theo thẩm quyền được thực hiện theo quy định tại Điều 274 của Bộ luật này.
Mục II. CHUẨN BỊ XÉT XỬ
Điều 276. Nhận hồ sơ vụ án, bản
cáo trạng và thụ lý vụ án
1.
Khi Viện kiểm sát giao bản cáo trạng, hồ sơ vụ án và vật chứng kèm theo (nếu
có), Tòa án phải kiểm tra và xử lý:
a)
Trường hợp tài liệu trong hồ sơ vụ án, vật chứng kèm theo (nếu có) đã đầy đủ so
với bảng kê tài liệu, vật chứng và bản cáo trạng đã được giao cho bị can hoặc
người đại diện của bị can thì nhận hồ sơ vụ án;
b)
Trường hợp tài liệu trong hồ sơ vụ án, vật chứng kèm theo (nếu có) không đủ so
với bảng kê tài liệu, vật chứng hoặc bản cáo trạng chưa được giao cho bị can
hoặc người đại diện của bị can thì chưa nhận hồ sơ vụ án và yêu cầu Viện kiểm
sát bổ sung tài liệu, vật chứng; yêu cầu giao bản cáo trạng cho bị can hoặc người
đại diện của bị can.
2.
Việc giao, nhận hồ sơ vụ án và bản cáo trạng được lập biên bản theo quy định tại
Điều 133 của Bộ luật này và đưa vào hồ sơ vụ án.
Ngay
sau khi nhận được hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng thì Tòa án phải thụ lý vụ
án. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án phải phân
công Thẩm phán chủ tọa phiên tòa giải quyết vụ án.
Điều 277. Thời hạn chuẩn bị
xét xử
1. Trong
thời hạn 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 45 ngày đối với tội phạm
nghiêm trọng, 02 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, 03 tháng đối với tội
phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa
phải ra một trong các quyết định:
a)
Đưa vụ án ra xét xử;
b)
Trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung;
c)
Tạm đình chỉ vụ án hoặc đình chỉ vụ án.
Đối
với vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị
xét xử nhưng không quá 15 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm
nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc
biệt nghiêm trọng. Việc gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử phải thông
báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp.
2.
Đối với vụ án được trả lại để yêu cầu điều tra bổ sung thì trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày nhận lại hồ sơ, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra quyết
định đưa vụ án ra xét xử. Trường hợp phục hồi vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử
theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này kể từ ngày Tòa án ra quyết định phục
hồi vụ án.
3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có quyết định đưa vụ
án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc
do trở ngại khách quan thì Tòa án có thể mở phiên tòa trong thời hạn 30 ngày.
Điều 278. Áp dụng, thay đổi,
hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế
1. Sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán chủ toạ phiên tòa
quyết định việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng
chế, trừ việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam do Chánh án, Phó
Chánh án Tòa án quyết định.
2. Thời
hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử quy định
tại khoản 1 Điều 277 của Bộ luật này.
3.
Đối với bị cáo đang bị tạm giam mà đến ngày mở phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết,
nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc xét xử thì Hội đồng xét xử
ra lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa.
Điều 279. Giải quyết yêu cầu, đề nghị trước khi mở phiên
tòa
1.
Trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải giải quyết các yêu cầu,
đề nghị:
a)
Yêu cầu của Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng về việc cung cấp, bổ sung chứng
cứ; triệu tập người làm chứng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người
tham gia tố tụng khác đến phiên tòa; về việc thay đổi thành viên Hội đồng xét xử,
Thư ký Tòa án;
b)
Đề nghị của bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa về việc
thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế;
c)
Đề nghị của Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng về việc xét xử theo thủ tục
rút gọn, xét xử công khai hoặc xét xử kín;
d)
Đề nghị của người tham gia tố tụng về việc vắng mặt tại phiên tòa.
2.
Nếu xét thấy yêu cầu, đề nghị có căn cứ thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa giải
quyết theo thẩm quyền hoặc thông báo cho người có thẩm quyền giải quyết theo
quy định của Bộ luật này và thông báo cho người đã yêu cầu, đề nghị biết; nếu
không chấp nhận thì thông báo cho họ bằng văn bản nêu rõ lý do.
Điều 280. Trả hồ sơ để điều tra bổ sung
1.
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều
tra bổ sung khi thuộc một trong các trường hợp:
a)
Khi thiếu chứng cứ dùng để chứng minh một trong những vấn đề quy định tại Điều 85 của Bộ luật này mà không thể bổ sung tại phiên tòa được;
b)
Có căn cứ cho rằng ngoài hành vi mà Viện kiểm sát đã truy tố, bị can còn thực
hiện hành vi khác mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm;
c)
Có căn cứ cho rằng còn có đồng phạm khác hoặc có người khác thực hiện hành vi
mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi
tố vụ án, khởi tố bị can;
d)
Việc khởi tố, điều tra, truy tố vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng.
2.
Trường hợp Viện kiểm sát phát hiện có căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì
Viện kiểm sát có văn bản đề nghị Tòa án trả hồ sơ.
3.
Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung phải ghi rõ những vấn đề cần điều tra
bổ sung và gửi cho Viện kiểm sát kèm theo hồ sơ vụ án trong thời hạn 03 ngày kể
từ ngày ra quyết định.
Nếu
kết quả điều tra bổ sung dẫn tới việc đình chỉ vụ án thì Viện kiểm sát ra quyết
định đình chỉ vụ án và thông báo cho Tòa án biết trong thời hạn 03 ngày kể từ
ngày ra quyết định.
Nếu
kết quả điều tra bổ sung dẫn tới phải thay đổi quyết định truy tố thì Viện kiểm
sát ban hành bản cáo trạng mới thay thế bản cáo trạng trước đó.
Trường
hợp Viện kiểm sát không bổ sung được những vấn đề mà Tòa án yêu cầu và vẫn giữ
nguyên quyết định truy tố thì Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
Điều 281. Tạm đình chỉ vụ án
1. Thẩm
phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định tạm đình chỉ vụ án khi thuộc một trong các
trường hợp:
a)
Có căn cứ quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 229
của Bộ luật này;
b)
Không biết rõ bị can, bị cáo đang ở đâu mà đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử; trường
hợp này phải yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã bị can, bị cáo trước
khi tạm đình chỉ vụ án. Việc truy nã bị can, bị cáo được thực hiện theo quy định
tại Điều 231 của Bộ luật này;
c)
Chờ kết quả xử lý văn bản pháp luật mà Tòa án kiến nghị.
2.
Trường hợp vụ án có nhiều bị can, bị cáo mà căn cứ để tạm đình chỉ không liên
quan đến tất cả bị can, bị cáo thì có thể tạm đình chỉ vụ án đối với từng bị
can, bị cáo.
3.
Quyết định tạm đình chỉ vụ án phải ghi rõ lý do tạm đình chỉ và các nội dung
quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.
Điều 282. Đình chỉ vụ án
1.
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ vụ án khi thuộc một
trong các trường hợp:
a)
Có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều
155 hoặc các điểm 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 157 của Bộ
luật này hoặc người chưa thành niên được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng
theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên[157];
b)
Viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa.
Trường
hợp vụ án có nhiều bị can, bị cáo mà căn cứ để đình chỉ vụ án không liên
quan đến tất cả bị can, bị cáo thì có thể đình chỉ vụ án đối với từng bị can, bị
cáo.
2. Quyết
định đình chỉ vụ án phải ghi rõ lý do đình chỉ và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.
Điều 283. Phục hồi vụ án
1.
Khi có lý do để hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ vụ án hoặc có lý do để hủy
bỏ quyết định đình chỉ vụ án nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm
hình sự thì Thẩm phán đã ra quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ
vụ án ra quyết định phục hồi vụ án.
Trường
hợp Thẩm phán đã ra quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án
không thể thực hiện được thì Chánh án ra quyết định phục hồi.
2.
Trường hợp tạm đình chỉ, đình chỉ đối với từng bị can, bị cáo thì ra quyết định
phục hồi vụ án đối với từng bị can, bị cáo.
3.
Quyết định phục hồi vụ án phải ghi rõ lý do phục hồi vụ án và các nội dung quy
định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.
4.
Khi phục hồi vụ án, Tòa án có quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn,
biện pháp cưỡng chế theo quy định của Bộ luật này.
Trường
hợp có căn cứ theo quy định của Bộ luật này cần phải tạm giam thì thời hạn tạm
giam để phục hồi vụ án không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử.
Điều 284. Yêu cầu Viện kiểm sát bổ
sung tài liệu, chứng cứ
1.
Khi xét thấy cần bổ sung tài liệu, chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án
mà không phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì Thẩm phán chủ toạ phiên tòa yêu
cầu Viện kiểm sát bổ sung.
2.
Yêu cầu bổ sung tài liệu, chứng cứ phải bằng văn bản, nêu rõ tài liệu, chứng cứ
cần bổ sung và gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày
ra văn bản yêu cầu.
3. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của
Tòa án, Viện kiểm sát gửi cho Tòa án tài liệu, chứng cứ được yêu cầu bổ sung.
Trường hợp Viện kiểm sát không bổ sung được tài liệu, chứng cứ thì Tòa án tiến
hành xét xử vụ án.
Điều 285. Viện kiểm sát rút quyết
định truy tố
Khi xét thấy có một trong các căn cứ quy định tại Điều 157 của Bộ luật này hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16
hoặc Điều 29[158] của Bộ luật Hình sự thì Viện
kiểm sát rút quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa và đề nghị Tòa án đình
chỉ vụ án.
Điều 286. Việc giao, gửi quyết
định của Tòa án cấp sơ thẩm
1. Quyết
định đưa vụ án ra xét xử được giao cho bị cáo hoặc người đại diện của họ;
gửi cho người bào chữa, bị hại, đương sự chậm nhất là 10 ngày trước khi mở
phiên tòa.
Trường hợp xét xử vắng mặt bị cáo thì quyết định đưa
vụ án ra xét xử được giao cho người bào chữa hoặc người đại diện của bị cáo;
quyết định đưa vụ án ra xét xử còn phải được niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân
dân cấp xã[159] nơi bị cáo cư trú cuối cùng
hoặc cơ quan, tổ chức nơi làm việc, học tập cuối cùng của bị cáo.
2. Quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ
án, quyết định phục hồi vụ án của Tòa án được giao cho bị can, bị cáo, bị hại
hoặc người đại diện của họ và gửi cho người tham gia tố tụng khác
trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định.
3. Quyết định phân công Thẩm phán làm chủ tọa phiên
tòa, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định đình chỉ, quyết định tạm đình
chỉ, quyết định phục hồi vụ án phải gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn
02 ngày kể từ ngày ra quyết định. Quyết định đình chỉ, quyết định tạm đình chỉ
vụ án phải gửi cho Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp trong thời hạn 02 ngày kể từ
ngày ra quyết định.
4. Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn,
biện pháp cưỡng chế được giao cho bị can, bị cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, cơ
sở giam giữ nơi bị can, bị cáo đang bị tạm giam trong thời hạn 24 giờ kể
từ khi ra quyết định.
Điều 287. Triệu tập những người cần
xét hỏi đến phiên tòa
Căn cứ vào quyết định đưa vụ án ra xét xử, yêu cầu của Kiểm
sát viên, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác, Thẩm phán chủ tọa phiên
tòa triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên tòa.
Mục III. QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỦ TỤC
TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TÒA
Điều 288. Sự có mặt của thành viên
Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án
1. Phiên tòa chỉ được tiến hành khi có đủ thành viên Hội đồng
xét xử và Thư ký Tòa án. Các thành viên Hội đồng xét xử phải xét xử vụ án từ
khi bắt đầu cho đến khi kết thúc.
2. Trường hợp có Thẩm phán, Hội thẩm không tiếp tục tham
gia xét xử vụ án nhưng có Thẩm phán, Hội thẩm dự khuyết tham gia phiên tòa từ đầu
thì những người này được thay thế làm thành viên Hội đồng xét xử. Trường hợp Hội
đồng xét xử có hai Thẩm phán mà Thẩm phán chủ tọa phiên tòa không tiếp tục tham
gia xét xử được thì Thẩm phán là thành viên Hội đồng xét xử làm chủ toạ phiên
tòa và Thẩm phán dự khuyết được bổ sung làm thành viên Hội đồng xét xử.
3. Trường hợp không có Thẩm phán, Hội thẩm dự khuyết để
thay thế hoặc phải thay đổi chủ tọa phiên tòa mà không có Thẩm phán để thay thế
theo quy định tại khoản 2 Điều này thì phải hoãn phiên tòa.
4. Trường hợp Thư ký Tòa án bị thay đổi hoặc không thể tiếp
tục tham gia phiên tòa thì Tòa án vẫn có thể xét xử vụ án nếu có Thư ký Tòa án
dự khuyết; nếu không có người thay thế thì tạm ngừng phiên tòa.
Điều 289. Sự có mặt của Kiểm sát viên
1.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải có mặt để thực hành quyền công tố, kiểm
sát xét xử tại phiên tòa; nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa. Đối
với vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì có thể có nhiều Kiểm sát
viên. Trường hợp Kiểm sát viên không thể có mặt tại phiên tòa thì Kiểm sát viên
dự khuyết có mặt tại phiên tòa từ đầu được thay thế để thực hành quyền công tố,
kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
2.
Trường hợp Kiểm sát viên bị thay đổi hoặc không thể tiếp tục thực hành quyền
công tố, kiểm sát xét xử mà không có Kiểm sát viên dự khuyết để thay thế thì Hội
đồng xét xử hoãn phiên tòa.
Điều 290. Sự có mặt của bị cáo tại phiên tòa
1.
Bị cáo phải có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án trong suốt thời
gian xét xử vụ án; nếu vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở
ngại khách quan thì bị áp giải; nếu bị cáo vắng mặt vì lý do bất khả kháng hoặc
do trở ngại khách quan thì phải hoãn phiên tòa.
Nếu
bị cáo bị bệnh tâm thần hoặc bị bệnh hiểm nghèo thì Hội đồng xét xử tạm đình chỉ
vụ án cho đến khi bị cáo có kết luận khỏi bệnh hoặc có kết luận đủ khả năng nhận thức, đủ
khả năng điều khiển hành vi[160].
Nếu
bị cáo trốn thì Hội đồng xét xử tạm đình chỉ vụ án và yêu cầu Cơ quan điều tra
truy nã bị cáo.
2.
Tòa án chỉ có thể xét xử vắng mặt bị cáo trong các trường hợp:
a)[161]
Bị cáo
trốn hoặc không biết bị cáo ở đâu và việc truy nã không có kết quả;
b)
Bị cáo đang ở nước ngoài và không thể triệu tập đến phiên tòa;
c)
Bị cáo đề nghị xét xử vắng mặt và được Hội đồng xét xử chấp nhận;
d)
Nếu sự vắng mặt của bị cáo không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại
khách quan và sự vắng mặt của bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử.
Điều 291. Sự có mặt của người bào chữa
1.
Người bào chữa phải có mặt tại phiên tòa để bào chữa cho người mà mình đã nhận
bào chữa. Người bào chữa có thể gửi trước bản bào chữa cho Tòa án. Trường hợp
người bào chữa vắng mặt lần thứ nhất vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại
khách quan thì Tòa án phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp bị cáo đồng ý xét xử
vắng mặt người bào chữa. Nếu người bào chữa vắng mặt không vì lý do bất khả
kháng hoặc không do trở ngại khách quan hoặc được triệu tập hợp lệ lần thứ hai
mà vẫn vắng mặt thì Tòa án vẫn mở phiên tòa xét xử.
2.
Trường hợp chỉ định người bào chữa quy định tại khoản 1 Điều
76 của Bộ luật này mà người bào chữa vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn
phiên tòa, trừ trường hợp bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo đồng ý xét xử
vắng mặt người bào chữa.
Điều 292. Sự có mặt của bị hại, đương sự hoặc người đại diện
của họ
1.
Nếu bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ vắng mặt thì tùy trường hợp, Hội
đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử.
2.
Trường hợp xét thấy sự vắng mặt của bị hại, đương sự chỉ trở ngại cho việc
giải quyết bồi thường thiệt hại thì Hội đồng xét xử có thể tách việc bồi thường
để xét xử sau theo quy định của pháp luật.
Điều 293. Sự có mặt của người làm chứng
1.
Người làm chứng tham gia phiên tòa để làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án. Nếu
người làm chứng vắng mặt nhưng trước đó đã có lời khai ở Cơ quan điều tra thì
chủ tọa phiên tòa công bố những lời khai đó. Nếu người làm chứng về những vấn đề
quan trọng của vụ án vắng mặt thì tùy trường hợp, Hội đồng xét xử quyết định
hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử.
2.
Trường hợp người làm chứng được Tòa án triệu tập nhưng cố ý vắng mặt mà không
vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan và việc vắng mặt của họ
gây trở ngại cho việc xét xử thì Hội đồng xét xử có thể quyết định dẫn giải
theo quy định của Bộ luật này.
Điều 294. Sự có mặt của người giám định, người định giá tài
sản
1.
Người giám định, người định giá tài sản tham gia phiên tòa khi được Tòa án triệu
tập.
2.
Nếu người giám định, người định giá tài sản vắng mặt thì tùy trường hợp, Hội đồng
xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử.
Điều 295. Sự có mặt của người phiên dịch, người dịch thuật
1.
Người phiên dịch, người dịch thuật tham gia phiên tòa khi được Tòa án triệu tập.
2.
Trường hợp người phiên dịch, người dịch thuật vắng mặt mà không có người khác
thay thế thì Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa.
Điều 296. Sự có mặt của Điều tra viên và những người khác
Trong
quá trình xét xử, khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử có thể triệu tập Điều
tra viên, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thụ lý, giải
quyết vụ án và những người khác đến phiên tòa để trình bày các vấn đề liên
quan đến vụ án.
Điều 297. Hoãn phiên tòa
1.
Tòa án hoãn phiên tòa khi thuộc một trong các trường hợp:
a)
Có một trong những căn cứ quy định tại các điều 52, 53,
288, 289, 290, 291, 292, 293, 294 và 295 của Bộ luật này;
b)
Cần phải xác minh, thu thập bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật mà không thể thực
hiện ngay tại phiên tòa;
c)
Cần tiến hành giám định bổ sung, giám định lại;
d)
Cần định giá tài sản, định giá lại tài sản.
Trường
hợp hoãn phiên tòa thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu.
2.
Thời hạn hoãn phiên tòa sơ thẩm không được quá 30 ngày kể từ ngày ra quyết định
hoãn phiên tòa.
3.
Quyết định hoãn phiên tòa có các nội dung chính:
a)
Ngày, tháng, năm ra quyết định;
b)
Tên Tòa án và họ tên Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án;
c)
Họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa;
d)
Vụ án được đưa ra xét xử;
đ)
Lý do của việc hoãn phiên tòa;
e)
Thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa.
4.
Quyết định hoãn phiên tòa phải được chủ tọa phiên tòa thay mặt Hội đồng xét xử
ký tên. Trường hợp chủ tọa phiên tòa vắng mặt hoặc bị thay đổi thì Chánh án Tòa
án ra quyết định hoãn phiên tòa.
Quyết
định hoãn phiên tòa phải được thông báo ngay cho những người tham gia tố tụng
có mặt tại phiên tòa; gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người vắng mặt tại
phiên tòa trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định.
Điều 298. Giới hạn của việc xét xử
1.
Tòa án xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện
kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử.
2.
Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy
tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện
kiểm sát đã truy tố.
3.
Trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm
sát truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại và thông báo rõ
lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết; nếu Viện
kiểm sát vẫn giữ tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội
danh nặng hơn đó.
Điều 299. Việc ra bản án, quyết định của Tòa án
1.
Bản án phải được Hội đồng xét xử thảo luận và thông qua tại phòng nghị án.
2.
Quyết định về việc thay đổi thành viên Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký
Tòa án, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch
thuật, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án, hoãn phiên tòa, bắt tạm giam hoặc trả
tự do cho bị cáo phải được thảo luận, thông qua tại phòng nghị án và được lập
văn bản.
3.
Quyết định các vấn đề khác được Hội đồng xét xử thảo luận và thông qua tại
phòng xử án không phải lập văn bản nhưng phải được ghi vào biên bản phiên tòa.
Mục IV. THỦ TỤC BẮT ĐẦU PHIÊN TÒA
Điều 300. Chuẩn bị khai mạc phiên tòa
Trước
khi khai mạc phiên tòa, Thư ký Tòa án phải tiến hành các công việc:
1.
Kiểm tra sự có mặt của những người được Tòa án triệu tập; nếu có người vắng mặt
thì phải nêu lý do;
2.
Phổ biến nội quy phiên tòa.
Điều 301. Khai mạc phiên tòa
1. Thẩm phán chủ tọa
phiên tòa khai mạc phiên tòa và đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử.
2.
Thư ký Tòa án báo cáo Hội đồng xét xử về sự có mặt, vắng mặt của những người được
Tòa án triệu tập và lý do vắng mặt.
3.
Chủ tọa phiên tòa kiểm tra lại sự có mặt của những người có mặt tại phiên tòa
theo giấy triệu tập của Tòa án và kiểm tra lý lịch, phổ biến quyền và nghĩa vụ
của họ.
Điều 302. Giải quyết việc đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội
thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án, người giám định, người định giá tài sản,
người phiên dịch, người dịch thuật
Chủ
toạ phiên tòa phải hỏi Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có mặt
tại phiên tòa xem họ có đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên,
Thư ký Tòa án, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người
dịch thuật hay không, lý do của việc đề nghị thay đổi. Nếu có người
đề nghị thì Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
Điều 303. Cam đoan của người phiên dịch, người dịch thuật,
người giám định, người định giá tài sản
Sau
khi giải thích quyền và nghĩa vụ cho người phiên dịch, người dịch thuật, người
giám định, người định giá tài sản thì chủ tọa phiên tòa yêu cầu những người này
phải cam đoan làm tròn nhiệm vụ.
Điều 304. Cam đoan của người làm chứng, cách ly người làm
chứng
1.
Sau khi giải thích quyền và nghĩa vụ cho người làm chứng, chủ tọa phiên tòa yêu
cầu người làm chứng phải cam đoan khai trung thực.
2.
Trước khi người làm chứng được hỏi về vụ án, chủ tọa phiên tòa quyết định biện
pháp để cho những người làm chứng không nghe được lời khai của nhau hoặc tiếp
xúc với những người có liên quan. Trường hợp lời khai của bị cáo và người làm
chứng có ảnh hưởng lẫn nhau thì chủ tọa phiên tòa phải quyết định cách ly bị
cáo với người làm chứng trước khi hỏi người làm chứng.
Điều
305. Giải quyết yêu cầu về xem xét chứng cứ và hoãn phiên tòa khi có người vắng
mặt
Chủ
tọa phiên tòa phải hỏi Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng có mặt
tại phiên tòa xem có ai yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng
hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng, tài liệu ra xem xét hay không. Nếu có
người tham gia tố tụng vắng mặt hoặc tuy có mặt tại phiên tòa nhưng vì lý do
sức khỏe không thể tham gia tố tụng thì chủ tọa phiên tòa phải hỏi xem có ai
yêu cầu hoãn phiên tòa hay không; nếu có người yêu cầu thì Hội đồng xét xử xem
xét, quyết định.
Mục V. THỦ TỤC TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA
Điều 306. Công bố bản cáo trạng
Trước
khi tiến hành xét hỏi, Kiểm sát viên công bố bản cáo trạng và trình bày ý kiến
bổ sung (nếu có). Ý kiến bổ sung không được làm xấu đi tình trạng của bị cáo.
Điều 307. Trình tự xét hỏi
1.
Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ những tình tiết về từng sự việc, từng tội
trong vụ án và từng người. Chủ tọa phiên tòa điều hành việc hỏi, quyết định người
hỏi trước, hỏi sau theo thứ tự hợp lý.
2.
Khi xét hỏi từng người, chủ tọa phiên tòa hỏi trước sau đó quyết định để Thẩm
phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự thực hiện việc hỏi.
Người
tham gia tố tụng tại phiên tòa có quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về
những tình tiết cần làm sáng tỏ.
Người
giám định, người định giá tài sản được hỏi về những vấn đề có liên quan đến việc
giám định, định giá tài sản.
3.
Khi xét hỏi, Hội đồng xét xử xem xét vật chứng có liên quan trong vụ án.
Điều 308. Công bố lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố
1.
Nếu người được xét hỏi có mặt tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên
không được công bố lời khai của họ trong giai đoạn điều tra, truy tố.
2.
Chỉ được công bố những lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố khi thuộc một
trong các trường hợp:
a)
Lời khai của người được xét hỏi tại phiên tòa mâu thuẫn với lời khai của họ
trong giai đoạn điều tra, truy tố;
b)
Người được xét hỏi không khai tại phiên tòa hoặc không nhớ những lời khai của
mình trong giai đoạn điều tra, truy tố;
c)
Người được xét hỏi đề nghị công bố lời khai của họ trong giai đoạn điều tra,
truy tố;
d)
Người được xét hỏi vắng mặt hoặc đã chết.
3.
Trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân
tộc, giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư của cá nhân, bí mật
gia đình theo yêu cầu của người tham gia tố tụng hoặc tự xét thấy cần thiết thì
Hội đồng xét xử không công bố tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Điều 309. Hỏi bị cáo
1.
Chủ tọa phiên tòa phải quyết định hỏi riêng từng bị cáo. Nếu lời khai của bị
cáo này có thể ảnh hưởng đến lời khai của bị cáo khác thì chủ tọa phiên tòa phải
cách ly họ. Bị cáo bị cách ly được thông báo lại nội dung lời khai của bị cáo
trước và có quyền đặt câu hỏi đối với bị cáo đó.
2.
Bị cáo trình bày ý kiến về bản cáo trạng và những tình tiết của vụ án. Hội đồng
xét xử hỏi thêm về những điểm mà bị cáo trình bày chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn.
Kiểm
sát viên hỏi bị cáo về những chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc buộc
tội, gỡ tội và những tình tiết khác của vụ án.
Người
bào chữa hỏi bị cáo về những chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa
và tình tiết khác của vụ án.
Người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự hỏi bị cáo về những tình
tiết liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự.
Những
người tham gia tố tụng tại phiên tòa có quyền đề nghị chủ toạ phiên tòa hỏi
thêm về những tình tiết liên quan đến họ.
3.
Nếu bị cáo không trả lời các câu hỏi thì Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người
bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự tiếp tục
hỏi những người khác và xem xét vật chứng, tài liệu có liên quan đến vụ án.
Khi
được chủ tọa phiên tòa đồng ý, bị cáo được đặt câu hỏi với bị cáo khác về
các vấn đề có liên quan đến bị cáo.
Điều 310. Hỏi bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ
Bị
hại, đương sự hoặc người đại diện của họ trình bày những tình tiết của vụ án
có liên quan đến họ. Sau đó, Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa và
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự hỏi thêm về những điểm
mà họ trình bày chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn.
Khi
được chủ tọa phiên tòa đồng ý, bị cáo có thể hỏi bị hại, đương sự hoặc người
đại diện của họ về các vấn đề có liên quan đến bị cáo.
Điều 311. Hỏi người làm chứng
1.
Việc hỏi phải được tiến hành riêng đối với từng người làm chứng và không để cho
những người làm chứng khác biết được nội dung xét hỏi đó.
2.
Khi hỏi người làm chứng, Hội đồng xét xử phải hỏi rõ về quan hệ giữa họ với bị
cáo và các đương sự trong vụ án. Chủ tọa phiên tòa yêu cầu người làm chứng
trình bày rõ những tình tiết của vụ án mà họ đã biết, sau đó hỏi thêm về những
điểm mà họ khai chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn. Kiểm sát viên, người bào chữa,
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự có thể hỏi thêm người
làm chứng.
Khi
được chủ tọa phiên tòa đồng ý, bị cáo có thể hỏi người làm chứng về các vấn đề
có liên quan đến bị cáo.
3.
Sau khi đã trình bày xong, người làm chứng ở lại phòng xử án để có thể được hỏi
thêm.
4.
Trường hợp có căn cứ xác định người làm chứng, người thân thích của họ bị
xâm hại hoặc bị đe dọa xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản,
danh dự, nhân phẩm thì Hội đồng xét xử phải quyết định biện pháp bảo vệ họ
theo quy định của Bộ luật này và pháp luật khác có liên quan.
5.
Trường hợp cần thiết, Tòa án quyết định hỏi người làm chứng qua mạng máy tính,
mạng viễn thông.
Điều 312. Xem xét vật chứng
1.
Vật chứng, ảnh hoặc biên bản xác nhận vật chứng được đưa ra để xem xét tại
phiên tòa.
Khi
cần thiết, Hội đồng xét xử có thể cùng với Kiểm sát viên, người bào chữa, người
khác tham gia phiên tòa đến xem xét tại chỗ những vật chứng không thể đưa đến
phiên tòa được. Việc xem xét vật chứng tại chỗ được lập biên bản theo quy định
tại Điều 133 của Bộ luật này.
2.
Kiểm sát viên, người bào chữa, người khác tham gia phiên tòa có quyền trình bày
nhận xét của mình về vật chứng. Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào
chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự
có thể hỏi thêm người tham gia phiên tòa về những vấn đề có liên quan đến vật
chứng.
Điều 313. Nghe, xem nội dung được ghi âm hoặc ghi hình có
âm thanh
Trường
hợp cần kiểm tra chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án hoặc khi bị cáo
tố cáo bị bức cung, dùng nhục hình, Hội đồng xét xử quyết định việc cho nghe,
xem nội dung được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh liên quan tại phiên tòa.
Điều 314. Xem xét tại chỗ
Khi
xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử có thể cùng với Kiểm sát viên, người bào chữa,
người khác tham gia phiên tòa đến xem xét nơi đã xảy ra tội phạm hoặc địa điểm
khác có liên quan đến vụ án. Kiểm sát viên, người bào chữa, người khác tham gia
phiên tòa có quyền trình bày nhận xét của mình về nơi đã xảy ra tội phạm hoặc địa
điểm khác có liên quan đến vụ án. Hội đồng xét xử có thể hỏi thêm người tham
gia phiên tòa về những vấn đề có liên quan đến nơi đó.
Việc
xem xét tại chỗ được lập biên bản theo quy định tại Điều 133 của
Bộ luật này.
Điều 315. Trình bày, công bố báo cáo, tài liệu của cơ quan,
tổ chức
Báo
cáo, tài liệu của cơ quan, tổ chức về những tình tiết của vụ án do đại diện cơ
quan, tổ chức đó trình bày; trường hợp không có đại diện của cơ quan, tổ chức
tham dự thì Hội đồng xét xử công bố báo cáo, tài liệu tại phiên tòa.
Kiểm
sát viên, bị cáo, người bào chữa, người khác tham gia phiên tòa có quyền nhận
xét về báo cáo, tài liệu đó và hỏi thêm người đại diện của cơ quan, tổ chức,
người khác tham gia phiên tòa về những vấn đề liên quan đến báo cáo, tài liệu
đó.
Điều 316. Hỏi người giám định, người định giá tài sản
1.
Hội đồng xét xử tự mình hoặc theo đề nghị của Kiểm sát viên, người bào chữa,
người khác tham gia phiên tòa yêu cầu người giám định, người định giá tài sản
trình bày kết luận của mình về vấn đề được giám định, định giá tài sản. Khi
trình bày, người giám định, người định giá tài sản có quyền giải thích bổ sung
về kết luận giám định, định giá tài sản, căn cứ để đưa ra kết luận giám định,
định giá tài sản.
2.
Kiểm sát viên, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa
có quyền nhận xét về kết luận giám định, định giá tài sản, được hỏi những vấn
đề còn chưa rõ hoặc có mâu thuẫn trong kết luận giám định, định giá tài sản
hoặc có mâu thuẫn với những tình tiết khác của vụ án.
3.
Trường hợp người giám định, người định giá tài sản không có mặt tại phiên tòa
thì chủ tọa phiên tòa công bố kết luận giám định, định giá tài sản.
4.
Khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử quyết định giám định bổ sung hoặc giám
định lại, định giá lại tài sản.
Điều 317. Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có
thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trình bày ý kiến
Khi
xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử tự mình hoặc theo đề nghị của người tham
gia tố tụng yêu cầu Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền
tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trình bày ý kiến để làm rõ những
quyết định, hành vi tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử.
Điều 318. Kết thúc việc xét hỏi
Khi
xét thấy những tình tiết của vụ án đã được xem xét đầy đủ thì chủ tọa phiên tòa
hỏi Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người khác tham gia phiên tòa xem họ
có yêu cầu xét hỏi vấn đề gì nữa không. Nếu không có yêu cầu xét hỏi thì
kết thúc việc xét hỏi; nếu có người yêu cầu và xét thấy yêu cầu đó là cần
thiết thì chủ tọa phiên tòa quyết định tiếp tục việc xét hỏi.
Điều 319. Kiểm sát viên rút quyết định truy tố hoặc kết luận
về tội nhẹ hơn tại phiên tòa
Sau
khi kết thúc việc xét hỏi, Kiểm sát viên có thể rút một phần hoặc toàn bộ
quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn.
Điều 320. Trình tự phát biểu khi tranh luận
1.
Sau khi kết thúc việc xét hỏi, Kiểm sát viên trình bày luận tội; nếu thấy không
có căn cứ để kết tội thì rút toàn bộ quyết định truy tố và đề nghị Tòa án tuyên
bố bị cáo không có tội.
2.
Bị cáo trình bày lời bào chữa; người bào chữa trình bày lời bào chữa cho bị
cáo; bị cáo, người đại diện của bị cáo có quyền bổ sung ý kiến bào chữa.
3.
Bị hại, đương sự, người đại diện của họ trình bày ý kiến để bảo vệ quyền và lợi
ích của mình; nếu có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ thì người này
có quyền trình bày, bổ sung ý kiến.
4.
Trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì bị hại hoặc người đại
diện của họ trình bày, bổ sung ý kiến sau khi Kiểm sát viên trình bày luận tội.
Điều 321. Luận tội của Kiểm sát viên
1.
Luận tội của Kiểm sát viên phải căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu, đồ vật đã
được kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người tham gia tố tụng khác tại
phiên tòa.
2.
Nội dung luận tội phải phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ những
chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ
nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra;
nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; tội danh, hình phạt, áp dụng điểm,
khoản, điều của Bộ luật Hình sự, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự; mức bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên
nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.
3.
Đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung bản cáo trạng hoặc kết
luận về tội nhẹ hơn; đề nghị mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp
tư pháp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng.
4.
Kiến nghị các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật.
Điều 322. Tranh luận tại phiên tòa
1.
Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến,
đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận của mình để đối đáp với Kiểm sát viên về
những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức
độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây
ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; những tình tiết tăng nặng, giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt; trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, biện
pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý
nghĩa đối với vụ án.
Bị
cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền đưa ra đề nghị của
mình.
2.
Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận để đối đáp đến cùng từng
ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa.
Người
tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác.
3.
Chủ toạ phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận, phải tạo điều kiện
cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, bị hại, người tham gia tố tụng khác
tranh luận, trình bày hết ý kiến nhưng có quyền cắt những ý kiến không liên quan
đến vụ án và ý kiến lặp lại.
Chủ
tọa phiên tòa yêu cầu Kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến của người bào chữa,
người tham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó chưa được Kiểm sát viên tranh luận.
4.
Hội đồng xét xử phải lắng nghe, ghi nhận đầy đủ ý kiến của Kiểm sát viên, bị
cáo, người bào chữa, người tham gia tranh luận tại phiên tòa để đánh giá khách
quan, toàn diện sự thật của vụ án. Trường hợp không chấp nhận ý kiến của những
người tham gia phiên tòa thì Hội đồng xét xử phải nêu rõ lý do và được ghi
trong bản án.
Điều 323. Trở lại việc xét hỏi
Nếu
qua tranh luận mà thấy còn có tình tiết vụ án chưa được hỏi, chưa được làm sáng
tỏ thì Hội đồng xét xử phải quyết định trở lại việc xét hỏi. Xét hỏi xong phải
tiếp tục tranh luận.
Điều 324. Bị cáo nói lời sau cùng
1.
Sau khi những người tham gia tranh luận không trình bày gì thêm, chủ tọa phiên
tòa tuyên bố kết thúc tranh luận.
2.
Bị cáo được nói lời sau cùng. Không được đặt câu hỏi khi bị cáo nói lời sau
cùng. Nếu trong lời nói sau cùng, bị cáo trình bày thêm tình tiết mới có ý
nghĩa quan trọng đối với vụ án thì Hội đồng xét xử phải quyết định trở lại việc
hỏi. Hội đồng xét xử có quyền yêu cầu bị cáo không được trình bày những điểm
không liên quan đến vụ án nhưng không được hạn chế thời gian đối với bị cáo.
Điều 325. Xem xét việc rút quyết định truy tố hoặc kết luận
về tội nhẹ hơn tại phiên tòa
1.
Khi Kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ
hơn thì Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án.
2.
Trường hợp Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố thì trước khi nghị án,
Hội đồng xét xử yêu cầu những người tham gia phiên tòa trình bày ý kiến về việc
rút quyết định truy tố đó.
Mục VI. NGHỊ ÁN VÀ TUYÊN ÁN
Điều 326. Nghị án
1.
Chỉ Thẩm phán và Hội thẩm mới có quyền nghị án. Việc nghị án phải được tiến
hành tại phòng nghị án.
Chủ
tọa phiên tòa chủ trì việc nghị án có trách nhiệm đưa ra từng vấn đề của vụ án
phải được giải quyết để Hội đồng xét xử thảo luận, quyết định. Chủ tọa phiên
tòa tự mình hoặc phân công một thành viên Hội đồng xét xử ghi biên bản nghị án.
Các thành viên Hội đồng xét xử phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng
cách biểu quyết theo đa số về từng vấn đề. Hội thẩm biểu quyết trước, Thẩm phán
biểu quyết sau cùng. Nếu không có ý kiến nào chiếm đa số thì phải thảo luận và
biểu quyết lại từng ý kiến của các thành viên Hội đồng xét xử đã đưa ra để xác
định ý kiến chiếm đa số. Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của
mình bằng văn bản và được đưa vào hồ sơ vụ án.
2.
Việc nghị án chỉ được căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại
phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ của vụ án, ý kiến của
Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác.
3.
Các vấn đề của vụ án phải được giải quyết khi nghị án gồm:
a)
Vụ án có thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc thuộc trường hợp trả hồ sơ để điều
tra bổ sung hay không;
b)
Tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên,
Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do luật sư, bị can, bị cáo, người tham
gia tố tụng khác cung cấp;
c)
Có hay không có căn cứ kết tội bị cáo. Trường hợp đủ căn cứ kết tội thì phải
xác định rõ điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự được áp dụng;
d)
Hình phạt, biện pháp tư pháp áp dụng đối với bị cáo; trách nhiệm bồi thường thiệt
hại; vấn đề dân sự trong vụ án hình sự;
đ)
Bị cáo có thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hay không;
e)
Án phí hình sự, án phí dân sự; xử lý vật chứng; tài sản bị kê biên, tài khoản bị
phong tỏa;
g)
Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên,
người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử;
h)
Kiến nghị phòng ngừa tội phạm, khắc phục vi phạm.
4.
Trường hợp Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố thì Hội đồng xét xử vẫn
giải quyết những vấn đề của vụ án theo trình tự quy định tại khoản 1 Điều này.
Nếu có căn cứ xác định bị cáo không có tội thì Hội đồng xét xử tuyên bị cáo
không có tội; nếu thấy việc rút quyết định truy tố không có căn cứ thì quyết
định tạm đình chỉ vụ án và kiến nghị Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện
trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp.
5.
Trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp thì Hội đồng xét xử có thể quyết định
kéo dài thời gian nghị án nhưng không quá 07 ngày kể từ ngày kết thúc tranh luận
tại phiên tòa. Hội đồng xét xử phải thông báo cho những người có mặt tại phiên
tòa và người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa biết giờ, ngày, tháng,
năm và địa điểm tuyên án.
6.
Kết thúc việc nghị án, Hội đồng xét xử phải quyết định một trong các vấn đề:
a)
Ra bản án và tuyên án;
b)
Trở lại việc xét hỏi và tranh luận nếu có tình tiết vụ án chưa được xét hỏi,
chưa được làm sáng tỏ;
c) Trả hồ sơ vụ án để Viện
kiểm sát điều tra bổ sung; yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ;
d)
Tạm đình chỉ vụ án.
Hội
đồng xét xử phải thông báo cho những người có mặt tại phiên tòa và người tham
gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa về các quyết định tại điểm c và điểm d khoản
này.
7.[162]
(được bãi bỏ)
Điều 327. Tuyên án
Chủ
tọa phiên tòa hoặc một thành viên khác của Hội đồng xét xử đọc bản án. Trường hợp
xét xử kín thì chỉ đọc phần quyết định trong bản án. Sau khi đọc
xong có thể giải thích thêm về việc chấp hành bản án và quyền kháng cáo.
Điều 328. Trả tự do cho bị cáo
Trong
các trường hợp sau đây, Hội đồng xét xử phải tuyên bố trả tự do ngay tại phiên
tòa cho bị cáo đang bị tạm giam, nếu họ không bị tạm giam về một tội phạm khác:
1.
Bị cáo không có tội;
2.
Bị cáo được miễn trách nhiệm hình sự hoặc được miễn hình phạt;
3.
Bị cáo bị xử phạt bằng hình phạt không phải là hình phạt tù;
4.
Bị cáo bị xử phạt tù nhưng được hưởng án treo;
5.
Thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời gian bị cáo đã bị tạm giam.
Điều 329. Bắt tạm giam bị cáo sau khi tuyên án
1.
Trường hợp bị cáo đang bị tạm giam mà bị xử phạt tù nhưng xét thấy cần tiếp
tục tạm giam để bảo đảm thi hành án thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam
bị cáo, trừ trường hợp được quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều
328 của Bộ luật này.
2.
Trường hợp bị cáo không bị tạm giam nhưng bị xử phạt tù thì họ chỉ bị bắt tạm
giam để chấp hành hình phạt khi bản án đã có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử
có thể ra quyết định bắt tạm giam bị cáo ngay tại phiên tòa nếu có căn cứ cho
thấy bị cáo có thể trốn hoặc tiếp tục phạm tội.
3.
Thời hạn tạm giam bị cáo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này là 45 ngày kể
từ ngày tuyên án.
4.
Trường hợp bị cáo bị xử phạt tử hình thì Hội đồng xét xử quyết định trong bản
án việc tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án.
Chương XXII
XÉT XỬ PHÚC THẨM
Mục I. TÍNH CHẤT CỦA XÉT XỬ PHÚC THẨM VÀ QUYỀN KHÁNG CÁO,
KHÁNG NGHỊ
Điều 330. Tính chất của xét
xử phúc thẩm
1. Xét xử phúc thẩm là việc
Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản
án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo
hoặc kháng nghị.
2.[163]
Quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị là quyết định tạm đình chỉ, quyết định
đình chỉ vụ án, quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo, quyết định
đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo và quyết định khác của Tòa án cấp sơ thẩm
theo quy định của Bộ luật này, Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Điều 331. Người có quyền kháng cáo
1.
Bị cáo, bị hại, người đại diện của họ có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định
sơ thẩm.
2.
Người bào chữa có quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích của người dưới 18 tuổi,
người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà mình bào chữa.
3.
Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người đại diện của họ có quyền kháng cáo phần
bản án hoặc quyết định có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại.
4.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện của họ có quyền
kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của
họ.
5.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự là người dưới 18
tuổi hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất có quyền kháng cáo phần
bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo
vệ.
6.
Người được Tòa án tuyên không có tội có quyền kháng cáo về các căn cứ mà bản án
sơ thẩm đã xác định là họ không có tội.
Điều 332. Thủ tục kháng cáo
1.
Người kháng cáo phải gửi đơn kháng cáo đến Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án
cấp phúc thẩm.
Trường
hợp bị cáo đang bị tạm giam, Giám thị Trại tạm giam, Trưởng Nhà tạm giữ,
Trưởng phân trại thuộc trại tạm giam[164] phải
bảo đảm cho bị cáo thực hiện quyền kháng cáo, nhận đơn kháng cáo và chuyển cho
Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định bị kháng cáo.
Người
kháng cáo có thể trình bày trực tiếp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp
phúc thẩm về việc kháng cáo. Tòa án phải lập biên bản về việc kháng cáo theo
quy định tại Điều 133 của Bộ luật này.
Tòa
án cấp phúc thẩm đã lập biên bản về việc kháng cáo hoặc nhận được đơn kháng cáo
thì phải gửi biên bản hoặc đơn kháng cáo cho Tòa án cấp sơ thẩm để thực hiện
theo quy định chung.
2.
Đơn kháng cáo có các nội dung chính:
a)
Ngày, tháng, năm làm đơn kháng cáo;
b)
Họ tên, địa chỉ của người kháng cáo;
c)
Lý do và yêu cầu của người kháng cáo;
d)
Chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo.
3.
Kèm theo đơn kháng cáo hoặc cùng với việc trình bày trực tiếp là chứng cứ, tài
liệu, đồ vật bổ sung (nếu có) để chứng minh tính có căn cứ của kháng cáo.
Điều 333. Thời hạn kháng cáo
1.
Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với
bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ
nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
2.
Thời hạn kháng cáo đối với quyết định sơ thẩm là 07 ngày kể từ ngày người có
quyền kháng cáo nhận được quyết định.
3.
Ngày kháng cáo được xác định như sau:
a)
Trường hợp đơn kháng cáo gửi qua dịch vụ bưu chính thì ngày kháng cáo là
ngày theo dấu bưu chính nơi gửi;
b)
Trường hợp đơn kháng cáo gửi qua Giám thị Trại tạm giam, Trưởng Nhà tạm
giữ, Trưởng phân trại thuộc trại tạm giam[165] thì
ngày kháng cáo là ngày Giám thị Trại tạm giam, Trưởng Nhà tạm giữ, Trưởng
phân trại thuộc trại tạm giam[166] nhận được đơn. Giám thị Trại
tạm giam, Trưởng Nhà tạm giữ, Trưởng phân trại thuộc trại tạm giam[167]
phải ghi rõ ngày nhận đơn và ký xác nhận vào đơn;
c)
Trường hợp người kháng cáo nộp đơn kháng cáo tại Tòa án thì ngày kháng cáo là
ngày Tòa án nhận đơn. Trường hợp người kháng cáo trình bày trực tiếp với Tòa án
thì ngày kháng cáo là ngày Tòa án lập biên bản về việc kháng cáo.
Điều 334. Thủ tục tiếp nhận và xử lý kháng cáo
1.
Sau khi nhận được đơn kháng cáo hoặc biên bản về việc kháng cáo, Tòa án cấp sơ
thẩm phải vào sổ tiếp nhận và kiểm tra tính hợp lệ của đơn kháng cáo theo quy định
của Bộ luật này.
2.
Trường hợp đơn kháng cáo hợp lệ thì Tòa án cấp sơ thẩm thông báo về việc kháng
cáo theo quy định tại Điều 338 của Bộ luật này.
3.
Trường hợp đơn kháng cáo hợp lệ nhưng nội dung kháng cáo chưa rõ thì Tòa án cấp
sơ thẩm phải thông báo ngay cho người kháng cáo để làm rõ.
4.
Trường hợp nội dung đơn kháng cáo đúng quy định của Bộ luật này nhưng quá thời
hạn kháng cáo thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu người kháng cáo trình bày lý do và
xuất trình chứng cứ, tài liệu, đồ vật (nếu có) để chứng minh lý do nộp đơn
kháng cáo quá hạn là chính đáng.
5.
Trường hợp người làm đơn kháng cáo không có quyền kháng cáo thì trong thời hạn
03 ngày kể từ ngày nhận đơn, Tòa án trả lại đơn và thông báo bằng văn bản cho
người làm đơn, Viện kiểm sát cùng cấp. Văn bản thông báo phải ghi rõ lý do của
việc trả lại đơn.
Việc
trả lại đơn có thể bị khiếu nại trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được
thông báo. Việc giải quyết khiếu nại được thực hiện theo quy định tại Chương
XXXIII của Bộ luật này.
Điều 335. Kháng cáo quá hạn
1.
Việc kháng cáo quá hạn được chấp nhận nếu có lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại
khách quan mà người kháng cáo không thể thực hiện được việc kháng cáo trong thời
hạn do Bộ luật này quy định.
2.
Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được đơn kháng cáo quá hạn, Tòa án cấp
sơ thẩm phải gửi đơn kháng cáo, bản tường trình của người kháng cáo về lý do
kháng cáo quá hạn và chứng cứ, tài liệu, đồ vật kèm theo (nếu có) cho Tòa án cấp
phúc thẩm.
3.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đơn kháng cáo quá hạn và chứng cứ,
tài liệu, đồ vật kèm theo (nếu có), Tòa án cấp phúc thẩm thành lập Hội đồng gồm
ba Thẩm phán để xem xét kháng cáo quá hạn. Hội đồng xét kháng cáo quá hạn có quyền
ra quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng cáo quá hạn và phải ghi rõ
lý do của việc chấp nhận hoặc không chấp nhận trong quyết định.
4.
Phiên họp xét kháng cáo quá hạn phải có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm
sát cùng cấp. Trong thời hạn 03 ngày trước ngày xét đơn kháng cáo quá hạn, Tòa
án cấp phúc thẩm gửi bản sao đơn kháng cáo quá hạn và chứng cứ, tài liệu kèm
theo (nếu có) cho Viện kiểm sát cùng cấp. Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của
Viện kiểm sát về việc xét kháng cáo quá hạn.
5.
Quyết định của Hội đồng xét kháng cáo quá hạn được gửi cho người kháng cáo quá
hạn, Tòa án cấp sơ thẩm và Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án cấp phúc thẩm.
Trường
hợp Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo quá hạn thì Tòa án cấp sơ thẩm phải
tiến hành các thủ tục do Bộ luật này quy định và gửi hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp
phúc thẩm.
Điều 336. Kháng nghị của Viện kiểm sát
1.
Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản
án hoặc quyết định sơ thẩm.
2.
Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát có các nội dung chính:
a)
Ngày, tháng, năm ra quyết định kháng nghị và số của quyết định kháng nghị;
b)
Tên của Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị;
c)
Kháng nghị đối với toàn bộ hay một phần bản án, quyết định sơ thẩm;
d)
Lý do, căn cứ kháng nghị và yêu cầu của Viện kiểm sát;
đ)
Họ tên, chức vụ của người ký quyết định kháng nghị.
Điều 337. Thời hạn kháng nghị
1.
Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với bản án của Tòa án cấp sơ
thẩm là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày kể từ ngày Tòa
án tuyên án.
2.
Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với quyết định của Tòa án cấp
sơ thẩm là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 15 ngày kể từ ngày
Tòa án ra quyết định.
Điều 338. Thông báo về việc kháng cáo, gửi quyết định kháng
nghị
1.
Việc kháng cáo phải được Tòa án cấp sơ thẩm thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm
sát cùng cấp và những người liên quan đến kháng cáo trong thời hạn 07 ngày kể từ
ngày hết thời hạn kháng cáo. Thông báo phải nêu rõ yêu cầu của người kháng cáo.
2.
Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định kháng nghị, Viện kiểm sát phải
gửi quyết định kháng nghị kèm theo chứng cứ, tài liệu, đồ vật bổ sung (nếu có)
cho Tòa án đã xét xử sơ thẩm, gửi quyết định kháng nghị cho bị cáo và những người
liên quan đến kháng nghị. Viện kiểm sát đã kháng nghị phải gửi quyết
định kháng nghị cho Viện kiểm sát khác có thẩm quyền kháng nghị.
3.
Người tham gia tố tụng nhận được thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị có quyền
gửi văn bản nêu ý kiến của mình về nội dung kháng cáo, kháng nghị cho Tòa án cấp
phúc thẩm. Ý kiến của họ được đưa vào hồ sơ vụ án.
Điều 339. Hậu quả của việc kháng cáo, kháng nghị
Những
phần của bản án, quyết định của Tòa án bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được
đưa ra thi hành, trừ trường hợp quy định tại Điều 363 của Bộ
luật này. Khi có kháng cáo, kháng nghị đối với toàn bộ bản án, quyết định
thì toàn bộ bản án, quyết định chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp quy định
tại Điều 363 của Bộ luật này.
Tòa
án cấp sơ thẩm phải gửi hồ sơ vụ án, kháng cáo, kháng nghị và chứng cứ, tài liệu,
đồ vật kèm theo (nếu có) cho Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn 07 ngày kể từ
ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Điều 340. Thụ lý vụ án
1.
Ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ án có kháng cáo, kháng nghị và chứng cứ, tài
liệu, đồ vật kèm theo (nếu có), Tòa án cấp phúc thẩm phải vào sổ thụ lý.
2.
Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án cấp phúc thẩm
phân công Thẩm phán làm chủ tọa phiên tòa, phiên họp.
Điều 341. Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát
1.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm phải chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm
sát cùng cấp. Trong thời hạn 15 ngày đối với Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh
và Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu, 20 ngày đối với Viện kiểm sát nhân
dân tối cao[168], Viện kiểm sát quân sự
trung ương kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát phải trả lại hồ sơ vụ
án cho Tòa án. Trường hợp vụ án thuộc loại tội đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp
thì thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá 25 ngày đối với Viện kiểm sát
nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu, 30 ngày đối với Viện
kiểm sát nhân dân tối cao[169], Viện kiểm sát quân sự
trung ương.
2.
Trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm nhận được chứng cứ, tài liệu, đồ vật bổ sung
trước khi xét xử thì phải chuyển chứng cứ, tài liệu, đồ vật này cho Viện kiểm
sát cùng cấp. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng cứ, tài liệu, đồ
vật bổ sung thì Viện kiểm sát phải trả lại cho Tòa án.
Điều 342. Thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị
1.
Trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo có
quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo, Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị có
quyền thay đổi, bổ sung kháng nghị nhưng không được làm xấu hơn tình trạng của
bị cáo; người kháng cáo rút một phần hoặc toàn bộ kháng cáo; Viện kiểm sát ra
quyết định kháng nghị hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền rút một phần
hoặc toàn bộ kháng nghị.
2.
Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị trước khi mở phiên tòa phải lập
văn bản và gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm phải thông báo
cho Viện kiểm sát, bị cáo và những người có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị
biết về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị. Việc thay đổi, bổ
sung, rút kháng cáo, kháng nghị tại phiên tòa được ghi vào biên bản phiên tòa.
3.
Trường hợp người kháng cáo rút một phần kháng cáo, Viện kiểm sát rút một phần
kháng nghị tại phiên tòa mà xét thấy không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị
khác thì Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định về việc rút một phần kháng cáo,
kháng nghị và quyết định đình chỉ xét xử phần kháng cáo, kháng nghị đó trong bản
án phúc thẩm.
Điều 343. Hiệu lực của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa
án không có kháng cáo, kháng nghị
Bản
án, quyết định và những phần của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị
kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng
cáo, kháng nghị.
Mục II. THỦ TỤC XÉT XỬ PHÚC THẨM
Điều 344. Tòa án có thẩm quyền xét xử phúc thẩm
1.[170]
Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của
Tòa án nhân dân khu vực bị kháng cáo, kháng nghị.
2.[171]
Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án,
quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị.
3.
Tòa án quân sự cấp quân khu có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của
Tòa án quân sự khu vực bị kháng cáo, kháng nghị.
4.
Tòa án quân sự trung ương có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của
Tòa án quân sự cấp quân khu bị kháng cáo, kháng nghị.
Điều 345. Phạm vi xét xử phúc thẩm
Tòa
án cấp phúc thẩm xem xét phần nội dung của bản án, quyết định bị kháng cáo,
kháng nghị. Nếu xét thấy cần thiết, có thể xem xét các phần khác của bản án,
quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị.
Điều 346. Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm
1.[172]
Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu phải mở phiên tòa phúc thẩm
trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án; trường hợp xét xử vụ án
về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có mức cao nhất của khung hình phạt đến 20
năm tù thì thời hạn mở phiên tòa phúc thẩm là 90 ngày kể từ ngày nhận được hồ
sơ vụ án.
Tòa
Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án quân sự trung ương phải mở phiên tòa
phúc thẩm trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án.
2.[173]
Trong thời hạn 45 ngày đối với Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp
quân khu, 75 ngày đối với Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án quân sự
trung ương kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra một
trong các quyết định:
a)
Đình chỉ xét xử phúc thẩm;
b)
Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.
3.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải
mở phiên tòa phúc thẩm.
4. Chậm nhất là 10 ngày trước khi mở phiên tòa, Tòa án
cấp phúc thẩm phải gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát cùng cấp,
người bào chữa, bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại,
đương sự, người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng
cáo, kháng nghị.
Điều 347. Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện
pháp cưỡng chế
1.[174]
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm có quyền quyết định việc áp dụng,
thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế.
Việc áp dụng, thay đổi hoặc
hủy bỏ biện pháp tạm giam do Chánh án, Phó Chánh án Tòa án; Thẩm phán giữ chức
vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa
án nhân dân tối cao quyết định. Việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp
ngăn chặn khác, biện pháp cưỡng chế do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyết định.
2.[175]
Thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử
phúc thẩm quy định tại Điều 346 của Bộ luật này.
Trường
hợp còn thời hạn tạm giam bị cáo mà xét thấy cần phải tiếp tục tạm giam bị cáo
thì Tòa án cấp phúc thẩm sử dụng thời hạn tạm giam theo quyết định tạm giam của
Tòa án cấp sơ thẩm. Trường hợp đã hết thời hạn tạm giam bị cáo theo quyết định
tạm giam của Tòa án cấp sơ thẩm thì Chánh án, Phó
Chánh án Tòa án, Thẩm phán giữ chức vụ Chánh
tòa, Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định tạm giam
mới.
Đối
với bị cáo đang bị tạm giam, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành
việc xét xử thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam cho đến khi kết thúc
phiên tòa.
3. Đối với bị cáo đang bị
tạm giam bị xử phạt tù mà đến ngày kết thúc phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết
thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án,
trừ trường hợp quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 328 của Bộ
luật này.
Đối
với bị cáo không bị tạm giam nhưng bị xử phạt tù thì Hội đồng xét xử có thể ra
quyết định bắt tạm giam bị cáo ngay sau khi tuyên án.
Thời
hạn tạm giam là 45 ngày kể từ ngày tuyên án.
Điều 348. Đình chỉ xét xử phúc thẩm
1.
Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với vụ án mà người
kháng cáo đã rút toàn bộ kháng cáo, Viện kiểm sát đã rút toàn bộ kháng nghị. Việc
đình chỉ xét xử phúc thẩm trước khi mở phiên tòa do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa
quyết định, tại phiên tòa do Hội đồng xét xử quyết định. Bản án sơ thẩm có hiệu
lực pháp luật kể từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử
phúc thẩm.
2.
Trường hợp người kháng cáo rút một phần kháng cáo, Viện kiểm sát rút một phần
kháng nghị trước khi mở phiên tòa mà xét thấy không liên quan đến kháng cáo,
kháng nghị khác thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra quyết định đình chỉ xét
xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo, kháng nghị đã rút.
3.
Quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm ghi rõ lý do đình chỉ và các nội dung theo
quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.
Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định, Tòa án cấp
phúc thẩm phải gửi quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm cho Viện kiểm
sát cùng cấp, Tòa án đã xét xử sơ thẩm, người bào chữa, bị hại, đương sự,
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người kháng cáo,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị.
Điều 349. Sự có mặt của thành viên Hội đồng xét xử phúc thẩm,
Thư ký Tòa án
1. Phiên tòa chỉ được tiến hành khi có đủ thành viên Hội đồng
xét xử và Thư ký Tòa án. Các thành viên Hội đồng xét xử phải xét xử vụ án từ
khi bắt đầu cho đến khi kết thúc phiên tòa.
2. Trường hợp có Thẩm phán không tiếp tục tham gia xét xử vụ
án nhưng có Thẩm phán dự khuyết tham gia phiên tòa từ đầu thì những người này
được thay thế làm thành viên Hội đồng xét xử. Trường hợp Thẩm phán chủ tọa
phiên tòa không tiếp tục tham gia xét xử được thì Thẩm phán là thành viên Hội đồng
xét xử làm chủ toạ phiên tòa và Thẩm phán dự khuyết được bổ sung làm thành viên
Hội đồng xét xử.
3. Trường hợp không có Thẩm phán dự khuyết hoặc phải thay đổi
chủ tọa phiên tòa mà không có Thẩm phán để thay thế thì phải hoãn phiên tòa.
4. Trường hợp Thư ký Tòa án bị thay đổi hoặc không thể tiếp
tục tham gia phiên tòa thì Tòa án vẫn có thể xét xử vụ án nếu có Thư ký Tòa án
dự khuyết; nếu không có người thay thế thì tạm ngừng phiên tòa.
Điều 350. Sự có mặt của Kiểm sát viên
1.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải có mặt để thực hành quyền công tố, kiểm
sát xét xử tại phiên tòa, nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa. Đối
với vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì có thể có nhiều Kiểm sát viên.
Trường hợp Kiểm sát viên không thể có mặt tại phiên tòa thì Kiểm sát viên dự
khuyết có mặt tại phiên tòa từ đầu được thay thế để thực hành quyền công tố, kiểm
sát xét xử tại phiên tòa.
2.
Trường hợp Kiểm sát viên bị thay đổi hoặc không thể tiếp tục thực hành quyền
công tố, kiểm sát xét xử mà không có Kiểm sát viên dự khuyết để thay thế thì Hội
đồng xét xử hoãn phiên tòa.
Điều 351. Sự có mặt của người bào chữa, người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người kháng cáo, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị
1. Người bào chữa, người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người kháng cáo, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị được triệu tập đến
phiên tòa thì phải có mặt tại phiên tòa. Nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét
xử giải quyết:
a)
Trường hợp người bào chữa vắng mặt lần thứ nhất vì lý do bất khả kháng hoặc do
trở ngại khách quan thì phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp bị cáo đồng ý xét xử
vắng mặt người bào chữa. Trường hợp người bào chữa vắng mặt không vì lý do bất
khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan hoặc được triệu tập hợp lệ lần thứ
hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử.
Trường
hợp phải chỉ định người bào chữa theo quy định tại khoản 1
Điều 76 của Bộ luật này mà người bào chữa vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa,
trừ trường hợp bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt
người bào chữa;
b)
Trường hợp người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo,
kháng nghị là bị hại, đương sự và người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự vắng mặt không vì lý do bất khả kháng
hoặc không do trở ngại khách quan thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử. Trường
hợp những người này vắng mặt vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan
thì Hội đồng xét xử có thể tiến hành xét xử nhưng không được ra bản án hoặc quyết
định không có lợi cho bị hại, đương sự;
c)
Bị cáo có kháng cáo hoặc bị kháng cáo, bị kháng nghị nếu vắng mặt vì lý do bất
khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Hội đồng xét xử có thể vẫn tiến hành
xét xử nhưng không được ra bản án, quyết định không có lợi cho bị cáo. Nếu sự vắng
mặt của bị cáo vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan và sự vắng mặt
đó không gây trở ngại cho việc xét xử thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.
2.
Khi xét thấy cần thiết, Tòa án cấp phúc thẩm quyết định triệu tập những người
khác tham gia phiên tòa.
Điều 352. Hoãn phiên tòa phúc thẩm
1.
Tòa án cấp phúc thẩm chỉ được hoãn phiên tòa khi thuộc một trong các trường hợp:
a)
Có một trong những căn cứ quy định tại các điều 52, 53, 349,
350 và 351 của Bộ luật này;
b)
Cần phải xác minh, thu thập bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật mà không thể thực
hiện được ngay tại phiên tòa.
Trường
hợp hoãn phiên tòa thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu.
2.[176]
Thời hạn hoãn phiên tòa phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 297 của Bộ luật này.
3.[177]
Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm phải được chủ tọa phiên tòa
thay mặt Hội đồng xét xử ký tên. Trường hợp chủ tọa phiên tòa vắng mặt hoặc bị
thay đổi thì Chánh án Tòa án, Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao ký quyết định hoãn phiên tòa.
Quyết
định hoãn phiên tòa phải thông báo ngay cho những người tham gia tố tụng có mặt
tại phiên tòa; gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người vắng mặt tại phiên
tòa trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định.
Điều 353. Bổ sung, xem xét chứng cứ, tài liệu, đồ vật
1.
Trước khi xét xử hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, Viện kiểm sát có thể tự mình hoặc
theo yêu cầu của Tòa án bổ sung chứng cứ mới; người đã kháng cáo và người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị, người bào chữa, người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự cũng có quyền bổ sung
chứng cứ, tài liệu, đồ vật.
2.
Chứng cứ cũ, chứng cứ mới, tài liệu, đồ vật mới bổ sung đều phải được xem xét tại
phiên tòa phúc thẩm. Bản án phúc thẩm phải căn cứ vào cả chứng cứ cũ và chứng
cứ mới.
Điều 354. Thủ tục phiên tòa phúc thẩm
1.
Thủ tục bắt đầu phiên tòa và thủ tục tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm được tiến
hành như phiên tòa sơ thẩm nhưng trước khi xét hỏi, một thành viên của Hội đồng
xét xử trình bày tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội
dung kháng cáo, kháng nghị.
2.
Chủ tọa phiên tòa hỏi người kháng cáo có thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo hay
không; nếu có thì chủ tọa phiên tòa yêu cầu Kiểm sát viên trình bày ý kiến về
việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo.
Chủ
tọa phiên tòa hỏi Kiểm sát viên có thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị hay không;
nếu có thì chủ tọa phiên tòa yêu cầu bị cáo và những người liên quan đến kháng
nghị trình bày ý kiến về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị.
3.
Khi tranh tụng tại phiên tòa, Kiểm sát viên, người khác liên quan đến kháng
cáo, kháng nghị phát biểu ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị; Kiểm sát
viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án.
Điều 355. Thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm đối với
bản án sơ thẩm
1.
Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền:
a)
Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm;
b)
Sửa bản án sơ thẩm;
c)
Hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại hoặc xét xử lại;
d)
Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án;
đ)
Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm.
2.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Điều 356. Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ
nguyên bản án sơ thẩm
Tòa
án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ
thẩm khi xét thấy các quyết định của bản án sơ thẩm có căn cứ và đúng pháp luật.
Điều 357. Sửa bản án sơ thẩm
1.
Khi có căn cứ xác định bản án sơ thẩm đã tuyên không đúng với tính chất, mức
độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo hoặc có tình tiết mới thì Hội
đồng xét xử phúc thẩm có quyền sửa bản án sơ thẩm như sau:
a)
Miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho bị cáo; không áp dụng hình phạt
bổ sung; không áp dụng biện pháp tư pháp;
b)
Áp dụng điều, khoản của Bộ luật Hình sự về tội nhẹ hơn;
c)
Giảm hình phạt cho bị cáo;
d)
Giảm mức bồi thường thiệt hại và sửa quyết định xử lý vật chứng;
đ)
Chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn;
e)
Giữ nguyên hoặc giảm mức hình phạt tù và cho hưởng án treo.
2.
Trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị hoặc bị hại kháng cáo yêu cầu thì Hội đồng
xét xử phúc thẩm có thể:
a)
Tăng hình phạt, áp dụng điều, khoản của Bộ luật Hình sự về tội nặng hơn; áp dụng
hình phạt bổ sung; áp dụng biện pháp tư pháp;
b)
Tăng mức bồi thường thiệt hại;
c)
Chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nặng hơn;
d)
Không cho bị cáo hưởng án treo.
Nếu
có căn cứ thì Hội đồng xét xử vẫn có thể giảm hình phạt, áp dụng điều, khoản của
Bộ luật Hình sự về tội nhẹ hơn, chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn,
giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo, giảm mức bồi thường thiệt hại.
3.
Trường hợp có căn cứ, Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể sửa bản án sơ thẩm theo
quy định tại khoản 1 Điều này cho những bị cáo không kháng cáo hoặc không bị
kháng cáo, kháng nghị.
Điều 358. Hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại
1.
Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại trong các trường hợp:
a)
Có căn cứ cho rằng cấp sơ thẩm bỏ lọt tội phạm, người phạm tội hoặc để khởi tố,
điều tra về tội nặng hơn tội đã tuyên trong bản án sơ thẩm;
b)
Việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được;
c)
Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố.
2.
Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại ở cấp sơ thẩm với
thành phần Hội đồng xét xử mới trong các trường hợp:
a)
Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng thành phần mà Bộ luật này quy định;
b)
Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm;
c)
Người được Tòa án cấp sơ thẩm tuyên không có tội nhưng có căn cứ cho rằng người
đó đã phạm tội;
d)
Miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hoặc áp dụng biện pháp tư pháp đối với
bị cáo không có căn cứ;
đ)
Bản án sơ thẩm có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật nhưng không
thuộc trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật này.
3.
Khi hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại, Hội đồng xét xử phúc thẩm
phải ghi rõ lý do của việc hủy bản án sơ thẩm.
4.
Khi hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại, Hội đồng xét xử phúc thẩm không quyết định
trước những chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm cần phải chấp nhận hoặc cần phải bác
bỏ, cũng như không quyết định trước về điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự cần
áp dụng và hình phạt đối với bị cáo.
5.
Trường hợp hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại mà thời hạn tạm
giam đối với bị cáo đã hết và xét thấy cần phải tiếp tục tạm giam bị cáo thì Hội
đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo cho đến khi Viện
kiểm sát hoặc Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý lại vụ án.
Trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên hủy bản án sơ thẩm, hồ sơ vụ án phải được
chuyển cho Viện kiểm sát hoặc Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết theo thủ tục
chung quy định tại Bộ luật này.
Điều 359. Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án
1.
Khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều
157 của Bộ luật này thì Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, tuyên
bị cáo không có tội và đình chỉ vụ án.
2.
Khi có một trong các căn cứ quy định tại các khoản 3, 4, 5, 6
và 7 Điều 157 của Bộ luật này thì Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án
sơ thẩm và đình chỉ vụ án.
Điều 360. Điều tra lại hoặc xét xử lại vụ án hình sự
1.
Sau khi Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại thì Cơ
quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án cấp sơ thẩm có thẩm quyền tiến hành điều
tra, truy tố, xét xử lại vụ án theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này.
2.
Sau khi Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại thì Tòa án cấp
sơ thẩm có thẩm quyền tiến hành xét xử lại vụ án theo thủ tục chung quy định
tại Bộ luật này.
Điều 361. Thẩm quyền của Hội đồng phúc thẩm đối với quyết định
sơ thẩm
1.
Hội đồng phúc thẩm có quyền:
a)
Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên quyết định của Tòa án cấp
sơ thẩm khi xét thấy các quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có căn cứ và đúng
pháp luật;
b)
Sửa quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm;
c)
Hủy quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ
thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án.
2.
Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
Điều 362. Thủ tục phúc thẩm đối với quyết định sơ thẩm
1.
Khi phúc thẩm đối với quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì Hội đồng
xét xử phúc thẩm phải triệu tập người kháng cáo, người bào chữa, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến kháng cáo, kháng nghị tham gia phiên họp. Trường hợp họ vắng mặt thì Hội đồng
xét xử phúc thẩm vẫn tiến hành phiên họp.
2.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thụ lý hồ sơ vụ án, Tòa án phải mở phiên họp
để xem xét quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị.
Trong
thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp, Hội đồng xét xử phúc
thẩm phải mở phiên họp. Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định thì Tòa
án phải chuyển hồ sơ vụ án kèm theo quyết định mở phiên họp cho Viện kiểm sát
cùng cấp. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm
sát phải trả hồ sơ vụ án cho Tòa án.
3.
Tại phiên họp, một thành viên của Hội đồng xét xử phúc thẩm trình bày tóm tắt nội
dung quyết định sơ thẩm, nội dung kháng cáo, kháng nghị và chứng cứ, tài liệu,
đồ vật kèm theo (nếu có).
Kiểm
sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải có mặt tại phiên họp và phát biểu quan điểm
của Viện kiểm sát về việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị trước khi Hội đồng
xét xử phúc thẩm ra quyết định.
Phần thứ năm
MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ THI
HÀNH BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Chương XXIII
BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH ĐƯỢC
THI HÀNH NGAY VÀ THẨM QUYỀN RA QUYẾT ĐỊNH THI HÀNH ÁN
Điều 363. Bản án, quyết định của Tòa án được thi hành ngay
Trường
hợp bị cáo đang bị tạm giam mà Tòa án cấp sơ thẩm quyết định đình chỉ vụ án,
tuyên bị cáo không có tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt cho bị cáo,
hình phạt không phải là hình phạt tù hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo hoặc
khi thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời hạn đã tạm giam thì bản án hoặc
quyết định của Tòa án được thi hành ngay, mặc dù vẫn có thể bị kháng cáo,
kháng nghị.
Hình
phạt cảnh cáo được thi hành ngay tại phiên tòa.
Điều 364. Thẩm quyền và thủ tục ra quyết
định thi hành án
1.
Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm có thẩm quyền ra quyết định thi hành án hoặc ủy
thác cho Chánh án Tòa án khác cùng cấp ra quyết định thi hành án.
2.
Thời hạn ra quyết định thi hành án là 07 ngày kể từ ngày bản án, quyết định sơ
thẩm có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định phúc thẩm,
quyết định giám đốc thẩm, quyết định tái thẩm.
Trong
thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác thi hành của Chánh án
Tòa án đã xét xử sơ thẩm thì Chánh án Tòa án được ủy thác phải ra quyết định
thi hành án.
3.
Trường hợp người bị kết án phạt tù đang tại ngoại thì quyết định thi hành án
phạt tù phải ghi rõ trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định, người
đó phải có mặt tại cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh[178]
để thi hành án.
Trường
hợp người bị kết án phạt tù đang tại ngoại mà bỏ trốn thì Chánh án Tòa án đã ra
quyết định thi hành án yêu cầu cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi
người bị kết án phạt tù đang tại ngoại ra quyết định truy nã.
Điều 365. Giải thích, sửa chữa bản án, quyết định của Tòa án
1.
Cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án dân sự, Viện kiểm sát, người bị
kết án, bị hại, đương sự liên quan đến việc thi hành án có quyền yêu cầu Tòa
án đã ra bản án, quyết định giải thích, sửa chữa những điểm chưa rõ trong bản
án, quyết định để thi hành.
2.
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đã ra bản án, quyết định có trách nhiệm giải thích,
sửa chữa những điểm chưa rõ trong bản án, quyết định của Tòa án. Trường hợp Thẩm
phán chủ tọa phiên tòa không thể thực hiện được thì việc giải thích, sửa chữa
do Chánh án Tòa án đã ra bản án, quyết định đó thực hiện.
Điều 366. Giải quyết kiến nghị đối với bản án, quyết định của
Tòa án
Trường
hợp cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án dân sự kiến nghị về việc
xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
thì Tòa án có thẩm quyền có trách nhiệm trả lời trong thời hạn 90 ngày kể từ
ngày nhận được văn bản kiến nghị. Trường hợp vụ án phức tạp thì thời hạn trả lời
có thể kéo dài nhưng không quá 120 ngày kể từ ngày nhận được văn bản kiến nghị.
Chương XXIV
MỘT SỐ THỦ TỤC VỀ THI
HÀNH ÁN TỬ HÌNH, XÉT THA TÙ TRƯỚC THỜI HẠN CÓ ĐIỀU KIỆN, XÓA ÁN TÍCH
Điều 367. Thủ tục xem xét bản án tử hình trước khi thi
hành
1.
Thủ tục xem xét bản án tử hình trước khi thi hành được thực hiện:
a)
Sau khi bản án tử hình có hiệu lực pháp luật, hồ sơ vụ án phải được gửi ngay
cho Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và bản án phải được gửi ngay cho Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
b)
Sau khi đã xem xét hồ sơ vụ án để quyết định kháng nghị hoặc quyết định không
kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, Tòa án nhân dân tối cao phải chuyển hồ
sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày
nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải trả lại hồ sơ vụ án
cho Tòa án nhân dân tối cao;
c)
Trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải quyết định kháng
nghị hoặc quyết định không kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm;
d)
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người bị kết án
được gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước;
đ)
Bản án tử hình được thi hành nếu Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc
tái thẩm và người bị kết án không có đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước.
Trường
hợp bản án tử hình bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm mà Hội
đồng giám đốc thẩm, Hội đồng tái thẩm Tòa án nhân dân tối cao quyết định không
chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án tử hình thì Tòa án nhân dân tối cao
phải thông báo ngay cho người bị kết án biết để họ làm đơn xin ân giảm hình
phạt tử hình;
e)[179]
Trường hợp người bị kết án có đơn xin ân giảm gửi Chủ tịch nước thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao có ý kiến trình Chủ tịch nước về việc xét đơn
xin ân giảm. Trường hợp Chủ tịch nước quyết định ân giảm thì Chánh án Tòa án đã
xét xử sơ thẩm ra quyết định chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân cho
người bị kết án. Hết thời hạn 01 năm kể từ ngày nhận được ý kiến của Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao mà Chủ tịch
nước không có quyết định ân giảm thì cơ quan có thẩm quyền thông báo ngay về việc
không có quyết định ân giảm của Chủ tịch nước để Chánh án Tòa án đã xét xử sơ
thẩm tổ chức việc thi hành bản án tử hình theo quy định.
2.
Khi có căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự thì Chánh án Tòa
án đã xét xử sơ thẩm không ra quyết định thi hành án tử hình và báo cáo Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao để xem xét chuyển hình phạt tử hình thành tù chung
thân cho người bị kết án.
3.[180]
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định
chi tiết Điều này.
Điều 368. Thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều
kiện
1.
Trại giam; Trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng,
cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn và chuyển cho
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu, Tòa án
nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án
phạt tù.
Hồ
sơ đề nghị tha tù trước thời hạn gồm:
a)
Đơn xin tha tù trước thời hạn của phạm nhân kèm theo cam kết không vi phạm pháp
luật, các nghĩa vụ phải chấp hành khi được tha tù trước thời hạn;
b)
Bản sao bản án có hiệu lực pháp luật; quyết định thi hành án;
c)
Bản sao quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù đối với người bị kết
án về tội phạm nghiêm trọng trở lên;
d)
Văn bản, tài liệu thể hiện việc chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt
tiền, án phí, các nghĩa vụ dân sự;
đ)
Tài liệu về cá nhân, hoàn cảnh gia đình của phạm nhân;
e)
Kết quả xếp loại chấp hành án phạt tù quý, 06 tháng, năm; quyết
định khen thưởng hoặc giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về
việc phạm nhân lập công (nếu có);
g)
Văn bản đề nghị tha tù trước thời hạn của cơ quan lập hồ sơ.
2.
Văn bản đề nghị tha tù trước thời hạn của cơ quan lập hồ sơ gồm các nội
dung chính:
a)
Số, ngày, tháng, năm của văn bản;
b)
Họ tên, chức vụ, chữ ký của người có thẩm quyền đề nghị;
c)
Họ tên, giới tính, năm sinh, nơi cư trú của phạm nhân; nơi phạm nhân
chấp hành thời gian thử thách;
d)
Thời gian đã chấp hành án phạt tù; thời gian chấp hành án phạt tù
còn lại;
đ)
Nhận xét và đề nghị của cơ quan lập hồ sơ.
3.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị tha tù trước
thời hạn, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự
cấp quân khu phải ra văn bản thể hiện quan điểm về việc đề nghị tha tù trước
thời hạn có điều kiện của cơ quan đề nghị.
Trường
hợp Viện kiểm sát yêu cầu cơ quan lập hồ sơ bổ sung tài liệu thì
trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, cơ quan lập hồ
sơ phải bổ sung tài liệu và gửi cho Viện kiểm sát, Tòa án.
4.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ của cơ quan đề nghị,
Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu phải
mở phiên họp xét tha tù trước thời hạn có điều kiện; đồng thời thông báo
bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp để cử Kiểm sát viên tham gia phiên họp.
Trường hợp Tòa án yêu cầu cơ quan lập hồ sơ bổ sung tài liệu thì trong
thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, cơ quan lập hồ sơ
phải bổ sung tài liệu và gửi cho Tòa án, Viện kiểm sát.
5.
Hội đồng xét tha tù trước thời hạn có điều kiện gồm Chánh án và
02 Thẩm phán, do Chánh án làm Chủ tịch Hội đồng.
6.
Tại phiên họp, một thành viên của Hội đồng trình bày tóm tắt hồ sơ
đề nghị. Kiểm sát viên trình bày quan điểm của Viện kiểm sát về việc đề
nghị xét tha tù trước thời hạn có điều kiện của cơ quan đề nghị và
việc tuân thủ pháp luật trong việc xét, quyết định tha tù trước thời
hạn có điều kiện. Đại diện cơ quan đã lập hồ sơ đề nghị có thể
trình bày bổ sung để làm rõ việc đề nghị tha tù trước thời hạn.
7.
Phiên họp xét tha tù trước thời hạn có điều kiện được lập biên bản.
Biên bản ghi rõ ngày, tháng, năm, địa điểm mở phiên họp; thành phần
tham gia phiên họp; nội dung, diễn biến phiên họp và quyết định của
Hội đồng về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị tha tù trước thời hạn
có điều kiện đối với từng phạm nhân.
Sau
khi kết thúc phiên họp, Kiểm sát viên xem biên bản phiên họp, yêu cầu
ghi những sửa đổi, bổ sung (nếu có) vào biên bản phiên họp; Chủ tịch
Hội đồng phải kiểm tra biên bản, cùng với thư ký phiên họp ký vào
biên bản.
8.
Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định tha tù trước thời hạn có điều
kiện, Tòa án phải gửi quyết định cho phạm nhân, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm
sát cấp trên trực tiếp, cơ quan đã lập hồ sơ đề nghị, Tòa án đã ra quyết định
thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh[181], cấp
quân khu, Ủy ban nhân dân cấp xã[182] nơi người được tha tù
trước thời hạn về cư trú, đơn vị quân đội được giao quản lý người
đó, Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định có trụ sở.
9.
Ngay sau khi nhận được quyết định tha tù trước thời hạn có điều
kiện, cơ sở giam giữ phải tổ chức công bố quyết định này và thực hiện
các thủ tục thi hành quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện.
Trong thời gian thử thách mà người được tha tù trước thời hạn có điều
kiện không vi phạm các quy định tại khoản 4 Điều 66 của Bộ luật hình
sự thì khi hết thời gian thử thách, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh[183],
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi đã quản lý họ có trách
nhiệm cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù.
10.
Trường hợp người được tha tù trước thời hạn vi phạm quy định tại khoản
4 Điều 66 của Bộ luật Hình sự thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh[184]
nơi người được tha tù trước thời hạn về cư trú, đơn vị quân đội được
giao quản lý người đó phải lập hồ sơ chuyển đến Viện kiểm sát và Tòa án
đã ra quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện để xem xét, hủy
quyết định đã ban hành và buộc người đó phải chấp hành phần hình
phạt tù còn lại chưa chấp hành.
Trong
thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị, Tòa án phải mở
phiên họp để xem xét, quyết định.
Trong
thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định hủy bỏ quyết định tha tù
trước thời hạn có điều kiện, Tòa án phải gửi quyết định cho cơ
quan, cá nhân quy định tại khoản 8 Điều này.
11.
Viện kiểm sát có quyền kháng nghị, phạm nhân có quyền khiếu nại đối với quyết định
về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện,
quyết định hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện.
Trình
tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết kháng nghị, khiếu nại các quyết định quy định
tại khoản này được thực hiện theo quy định tại Chương XXII và Chương XXXIII của
Bộ luật này.
Điều 369. Thủ tục xóa án tích
1.
Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của người được đương nhiên
xóa án tích và xét thấy có đủ điều kiện quy định tại Điều 70 của Bộ luật Hình sự
thì cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp cấp phiếu lý lịch tư pháp là
họ không có án tích.
2.
Những trường hợp quy định tại Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật Hình sự thì việc
xóa án tích do Tòa án quyết định. Người bị kết án phải có đơn gửi Tòa án đã xét
xử sơ thẩm vụ án có nhận xét của Ủy ban nhân dân cấp xã[185] nơi
họ cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ làm việc, học tập.
Trong
thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được đơn của người bị kết án, Tòa án đã xét xử
sơ thẩm chuyển tài liệu về việc xin xoá án tích cho Viện kiểm sát cùng cấp.
Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận tài liệu do Tòa án chuyển đến, Viện kiểm
sát cùng cấp có ý kiến bằng văn bản và chuyển lại tài liệu cho Tòa án.
Nếu
xét thấy đủ điều kiện thì trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận tài liệu do Viện
kiểm sát chuyển đến, Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải ra quyết định
xóa án tích; trường hợp chưa đủ điều kiện thì quyết định bác đơn xin xóa án
tích.
Trong
thời hạn 05 ngày kể từ ngày ra quyết định xóa án tích hoặc quyết định bác đơn xin
xóa án tích, Tòa án đã ra quyết định phải gửi quyết định này cho người
bị kết án, Viện kiểm sát cùng cấp, Ủy ban nhân dân cấp xã[186] nơi
họ cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ làm việc, học tập.
Phần thứ sáu
XÉT LẠI BẢN ÁN VÀ QUYẾT
ĐỊNH ĐÃ CÓ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT
Chương XXV
THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM
Điều 370. Tính chất của giám đốc thẩm
Giám
đốc thẩm là xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc
giải quyết vụ án.
Điều 371. Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
Bản
án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục
giám đốc thẩm khi có một trong các căn cứ:
1.
Kết luận trong bản án, quyết định của Tòa án không phù hợp với những tình tiết
khách quan của vụ án;
2.
Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến
sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án;
3.
Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.
Điều 372. Phát hiện bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm
1.
Người bị kết án, cơ quan, tổ chức và mọi cá nhân có quyền phát hiện vi phạm
pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và thông
báo cho người có thẩm quyền kháng nghị.
2.[187]
Tòa án quân sự cấp quân khu thực hiện việc kiểm tra bản án, quyết định đã có hiệu
lực pháp luật của Tòa án quân sự khu vực để phát hiện vi phạm pháp luật và kiến
nghị Chánh án Tòa án quân sự trung ương xem xét kháng nghị.
3.
Khi thực hiện công tác giám đốc việc xét xử, kiểm sát việc xét xử hoặc qua các
nguồn thông tin khác mà Tòa án, Viện kiểm sát phát hiện vi phạm pháp luật trong
bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì thông báo ngay bằng
văn bản cho người có thẩm quyền kháng nghị.
Điều 373. Những người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám
đốc thẩm
1.[188]
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có
quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh;
bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần
thiết, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
2.
Chánh án Tòa án quân sự trung ương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung
ương có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu
lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu, Tòa án quân sự khu vực.
3.[189]
Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân khu vực
trong phạm vi tỉnh, thành phố.
Điều 374. Thủ tục thông báo bản án, quyết định của Tòa án
đã có hiệu lực pháp luật cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm
1.
Khi phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu
lực pháp luật thì người bị kết án, cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo bằng văn
bản hoặc trình bày trực tiếp với người có thẩm quyền kháng nghị hoặc với Tòa
án, Viện kiểm sát nơi gần nhất kèm theo chứng cứ, tài liệu, đồ vật (nếu có).
2.
Văn bản thông báo có các nội dung chính:
a)
Ngày, tháng, năm;
b)
Tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo;
c)
Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị phát hiện có vi phạm
pháp luật;
d)
Nội dung vi phạm pháp luật được phát hiện;
đ)
Kiến nghị người có thẩm quyền xem xét kháng nghị.
3.
Người thông báo là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; trường hợp cơ quan, tổ chức
thông báo thì người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên
và đóng dấu.
Điều 375. Thủ tục tiếp nhận thông báo bản án, quyết
định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm
1.
Khi nhận được thông báo bằng văn bản thì Tòa án, Viện kiểm sát phải vào sổ nhận
thông báo.
2.
Khi người bị kết án, cơ quan, tổ chức, cá nhân trình bày trực tiếp về vi phạm
pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì Tòa
án, Viện kiểm sát phải lập biên bản; nếu người thông báo cung cấp chứng cứ, tài
liệu, đồ vật thì Tòa án, Viện kiểm sát phải lập biên bản thu giữ. Biên bản
được lập theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này.
3.
Tòa án, Viện kiểm sát đã nhận thông báo, lập biên bản phải gửi ngay thông báo,
biên bản kèm theo chứng cứ, tài liệu, đồ vật (nếu có) cho người có thẩm quyền
kháng nghị và thông báo bằng văn bản cho người bị kết án, cơ quan, tổ chức, cá
nhân đã kiến nghị, đề nghị biết.
Điều 376. Chuyển hồ sơ vụ án để xem xét kháng nghị theo thủ
tục giám đốc thẩm
1.
Trường hợp cần thiết phải nghiên cứu hồ sơ vụ án để xem xét kháng nghị theo thủ
tục giám đốc thẩm thì Tòa án, Viện kiểm sát có thẩm quyền yêu cầu bằng văn bản
để Tòa án đang quản lý hồ sơ chuyển hồ sơ vụ án.
Trong
thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu, Tòa án đang quản lý hồ
sơ vụ án phải chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án, Viện kiểm sát đã yêu cầu.
2.
Trường hợp Tòa án và Viện kiểm sát cùng có văn bản yêu cầu thì Tòa án đang quản
lý hồ sơ vụ án chuyển hồ sơ cho cơ quan yêu cầu trước và thông báo cho cơ quan
yêu cầu sau biết.
Điều 377. Tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định bị kháng
nghị giám đốc thẩm
Người
ra quyết định kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật thì có quyền quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết
định đó.
Quyết
định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định bị kháng nghị giám đốc thẩm phải
gửi cho Tòa án, Viện kiểm sát nơi đã xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và cơ quan thi
hành án có thẩm quyền.
Điều 378. Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Quyết
định kháng nghị giám đốc thẩm có các nội dung chính:
1.
Số, ngày, tháng, năm của quyết định;
2.
Người có thẩm quyền ra quyết định;
3.
Số, ngày, tháng, năm của bản án, quyết định bị kháng nghị;
4.
Nhận xét, phân tích những vi phạm pháp luật, sai lầm của bản án, quyết định bị
kháng nghị;
5.
Căn cứ pháp luật để quyết định kháng nghị;
6.
Quyết định kháng nghị toàn bộ hay một phần bản án, quyết định;
7.
Tên của Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm vụ án;
8.
Yêu cầu của người kháng nghị.
Điều 379. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
1.
Việc kháng nghị theo hướng không có lợi cho người bị kết án chỉ được tiến hành
trong thời hạn 01 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
2.
Việc kháng nghị theo hướng có lợi cho người bị kết án có thể được tiến hành bất
cứ lúc nào, cả trong trường hợp người bị kết án đã chết mà cần minh oan cho họ.
3.
Việc kháng nghị về dân sự trong vụ án hình sự đối với đương sự được thực
hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
4.
Nếu không có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm thì người có quyền
kháng nghị phải trả lời bằng văn bản cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã kiến nghị
biết rõ lý do của việc không kháng nghị.
Điều 380. Gửi quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
1.
Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm phải gửi ngay cho Tòa án đã ra bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị, người bị kết án, cơ quan thi hành
án hình sự, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền và những người khác có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến nội dung kháng nghị.
2.
Trường hợp Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị thì quyết định kháng nghị
kèm theo hồ sơ vụ án phải gửi ngay cho Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm.
Trường
hợp Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh[190],
Chánh án Tòa án quân sự trung ương kháng nghị thì quyết định kháng nghị kèm
theo hồ sơ vụ án phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát có thẩm quyền.
Tòa
án có thẩm quyền giám đốc thẩm phải gửi quyết định kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ
án cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ
sơ vụ án, Viện kiểm sát phải gửi lại hồ sơ vụ án cho Tòa án.
3.
Trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh[191], Viện trưởng Viện kiểm sát
quân sự trung ương kháng nghị thì quyết định kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án phải
gửi ngay cho Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm.
Điều 381. Thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị
1.
Trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa giám đốc thẩm, người kháng nghị có
quyền bổ sung, thay đổi kháng nghị nếu chưa hết thời hạn kháng nghị. Việc bổ
sung, thay đổi kháng nghị trước khi mở phiên tòa phải bằng quyết định và được gửi
theo quy định tại khoản 1 Điều 380 của Bộ luật này. Việc bổ
sung, thay đổi kháng nghị tại phiên tòa được ghi vào biên bản phiên tòa.
2.
Trước khi bắt đầu hoặc tại phiên tòa giám đốc thẩm, người kháng nghị có quyền
rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị. Việc rút kháng nghị trước khi mở phiên
tòa phải bằng quyết định; việc rút kháng nghị tại phiên tòa được ghi vào biên bản
phiên tòa.
3.
Trường hợp rút toàn bộ kháng nghị trước khi mở phiên tòa thì Chánh án Tòa án có
thẩm quyền giám đốc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm. Trường hợp
rút toàn bộ kháng nghị tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ
xét xử giám đốc thẩm.
Trong
thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định, Tòa án gửi quyết định đình chỉ xét xử
giám đốc thẩm cho những người quy định tại khoản 1 Điều 380 của
Bộ luật này và Viện kiểm sát cùng cấp.
Điều 382. Thẩm quyền giám đốc thẩm[192]
1.
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm
năm Thẩm phán đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa Phúc
thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự trung
ương bị kháng nghị.
2.
Hội đồng toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm đối với bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật quy định tại khoản 1 Điều này nhưng có
tính chất phức tạp hoặc bản án, quyết định đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm năm Thẩm phán nhưng
không thống nhất khi biểu quyết thông qua quyết định về việc giải quyết vụ án.
Khi
Hội đồng toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm thì phải
có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên tham gia, do Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao làm chủ tọa phiên tòa. Quyết định của Hội đồng toàn thể Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao phải được quá nửa tổng số thành viên Hội đồng biểu quyết
tán thành; nếu không được quá nửa tổng số thành viên của Hội đồng toàn thể Thẩm
phán tán thành thì phải hoãn phiên tòa. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra
quyết định hoãn phiên tòa thì Hội đồng toàn thể Thẩm phán phải mở phiên tòa xét
xử lại vụ án.
3. Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương giám đốc thẩm đối
với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân
khu, Tòa án quân sự khu vực bị kháng nghị. Khi xét xử giám đốc thẩm thì phải có
ít nhất hai phần ba tổng số thành viên của Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự
trung ương tham gia, do Chánh án Tòa án quân sự trung ương làm chủ tọa phiên
tòa. Quyết định của Ủy ban Thẩm phán phải được quá nửa tổng số thành viên biểu
quyết tán thành; nếu không được quá nửa tổng số thành viên của Ủy ban Thẩm phán
tán thành thì phải hoãn phiên tòa. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra quyết định
hoãn phiên tòa thì Ủy ban Thẩm phán phải mở phiên tòa xét xử lại vụ án.
4.
Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân khu vực bị kháng nghị. Khi xét xử
giám đốc thẩm thì phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên của Ủy ban Thẩm
phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh tham gia, do Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh
làm chủ tọa phiên tòa. Quyết định của Ủy ban Thẩm phán phải được quá nửa tổng số
thành viên biểu quyết tán thành; nếu không được quá nửa tổng số thành viên của Ủy
ban Thẩm phán tán thành thì phải hoãn phiên tòa.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa thì Ủy ban Thẩm
phán phải mở phiên tòa xét xử lại vụ án.
5. Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị
thuộc thẩm quyền giám đốc thẩm của các cấp khác nhau thì Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao giám đốc thẩm toàn bộ vụ án.
Điều 383. Những người tham gia phiên tòa giám đốc thẩm
1.
Phiên tòa giám đốc thẩm phải có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát
cùng cấp.
2.
Trường hợp xét thấy cần thiết hoặc có căn cứ sửa một phần bản án, quyết định đã
có hiệu lực pháp luật, Tòa án phải triệu tập người bị kết án, người bào chữa và
những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên
tòa giám đốc thẩm; nếu họ vắng mặt thì phiên tòa giám đốc thẩm vẫn được tiến
hành.
Điều 384. Chuẩn bị phiên tòa giám đốc thẩm
Chánh
án Tòa án phân công một Thẩm phán là thành viên Hội đồng giám đốc thẩm làm bản
thuyết trình về vụ án. Bản thuyết trình tóm tắt nội dung vụ án và các bản án,
quyết định của các cấp Tòa án, nội dung của kháng nghị.
Bản
thuyết trình và các tài liệu có liên quan phải gửi cho các thành viên Hội đồng
giám đốc thẩm chậm nhất là 07 ngày trước ngày mở phiên tòa giám đốc thẩm.
Điều 385. Thời hạn mở phiên tòa giám đốc thẩm
Trong
thời hạn 04 tháng kể từ ngày nhận được quyết định kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ
án, Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm phải mở phiên tòa.
Điều 386. Thủ tục phiên tòa giám đốc thẩm
1.
Sau khi chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa, một thành viên Hội đồng giám đốc
thẩm trình bày bản thuyết trình về vụ án. Các thành viên khác của Hội đồng giám
đốc thẩm hỏi thêm Thẩm phán thuyết trình về những điểm chưa rõ trước khi thảo
luận và phát biểu ý kiến của mình về việc giải quyết vụ án. Trường hợp Viện kiểm
sát kháng nghị thì Kiểm sát viên trình bày nội dung kháng nghị.
2.
Trường hợp người bị kết án, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến kháng nghị có mặt tại phiên tòa thì những người này được trình bày ý
kiến về những vấn đề mà Hội đồng giám đốc thẩm yêu cầu.
Kiểm
sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về quyết định kháng nghị và việc
giải quyết vụ án.
Kiểm
sát viên, người tham gia tố tụng tại phiên tòa giám đốc thẩm tranh tụng về những
vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ án. Chủ tọa phiên tòa phải tạo điều kiện
cho Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng trình bày hết ý kiến, tranh luận dân
chủ, bình đẳng trước Tòa án.
3.
Các thành viên Hội đồng giám đốc thẩm phát biểu ý kiến của mình và thảo luận. Hội
đồng giám đốc thẩm biểu quyết về việc giải quyết vụ án và công bố quyết định về
việc giải quyết vụ án.
Điều 387. Phạm vi giám đốc thẩm
Hội
đồng giám đốc thẩm phải xem xét toàn bộ vụ án mà không chỉ hạn chế trong nội
dung của kháng nghị.
Điều 388. Thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm
1.
Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật bị kháng nghị.
2.
Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và giữ nguyên bản án, quyết định
đúng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm bị hủy, sửa
không đúng pháp luật.
3.
Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại.
4.
Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án.
5.
Sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
6.
Đình chỉ xét xử giám đốc thẩm.
Điều 389. Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị
Hội
đồng giám đốc thẩm không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị khi xét thấy bản án, quyết định đó có
căn cứ và đúng pháp luật.
Điều 390. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
và giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc Tòa
án cấp phúc thẩm bị hủy, sửa không đúng pháp luật
Hội
đồng giám đốc thẩm ra quyết định hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
và giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc Tòa
án cấp phúc thẩm nhưng bị hủy, sửa không đúng pháp luật.
Điều 391. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để
điều tra lại hoặc xét xử lại
Hội
đồng giám đốc thẩm hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại nếu có một trong các căn cứ quy định
tại Điều 371 của Bộ luật này. Nếu hủy để xét xử lại thì
tùy trường hợp, Hội đồng giám đốc thẩm có thể quyết định xét xử lại từ cấp sơ
thẩm hoặc cấp phúc thẩm.
Trường
hợp xét thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo thì Hội đồng giám đốc thẩm ra quyết định
tạm giam cho đến khi Viện kiểm sát hoặc Tòa án thụ lý lại vụ án.
Điều 392. Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
và đình chỉ vụ án
Hội
đồng giám đốc thẩm hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ
vụ án nếu có một trong các căn cứ quy định tại Điều 157 của Bộ
luật này.
Điều 393. Sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
Hội
đồng giám đốc thẩm sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật khi có đủ
các điều kiện:
1.
Các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã rõ ràng, đầy đủ;
2.
Việc sửa bản án, quyết định không làm thay đổi bản chất của vụ án, không làm xấu
đi tình trạng của người bị kết án, không gây bất lợi cho bị hại, đương sự.
Điều 394. Quyết định giám đốc thẩm
1.
Hội đồng giám đốc thẩm ra quyết định giám đốc thẩm nhân danh nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam.
2.
Quyết định giám đốc thẩm có các nội dung:
a)
Ngày, tháng, năm và địa điểm mở phiên tòa;
b)
Họ tên các thành viên Hội đồng giám đốc thẩm;
c)
Họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử phiên tòa;
d)
Tên vụ án mà Hội đồng đưa ra xét xử giám đốc thẩm;
đ)
Tên, tuổi, địa chỉ của người bị kết án và những người khác có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan theo quyết định giám đốc thẩm;
e)
Tóm tắt nội dung vụ án, phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật bị kháng nghị;
g)
Quyết định kháng nghị, căn cứ kháng nghị;
h)
Nhận định của Hội đồng giám đốc thẩm, trong đó phải phân tích những căn cứ để
chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng nghị;
i)
Điểm, khoản, điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Hình sự mà Hội đồng giám
đốc thẩm căn cứ để ra quyết định;
k)
Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm.
Điều 395. Hiệu lực của quyết định giám đốc thẩm và việc gửi
quyết định giám đốc thẩm
1.
Quyết định của Hội đồng giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết
định.
2.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định, Hội đồng giám đốc thẩm phải gửi
quyết định giám đốc thẩm cho người bị kết án, người đã kháng nghị; Viện kiểm
sát cùng cấp; Viện kiểm sát, Tòa án nơi đã xét xử sơ thẩm, phúc thẩm; cơ quan
thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị hoặc người đại diện của họ; thông báo bằng
văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã[193] nơi
người bị kết án cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án làm việc, học
tập.
Điều 396. Thời hạn chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại hoặc
xét xử lại
Nếu
Hội đồng giám đốc thẩm quyết định hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
để điều tra lại thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định, hồ sơ vụ
án phải được chuyển cho Viện kiểm sát cùng cấp để điều tra lại theo thủ tục
chung quy định tại Bộ luật này.
Nếu
Hội đồng giám đốc thẩm quyết định hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
để xét xử lại vụ án ở cấp sơ thẩm hoặc ở cấp phúc thẩm thì trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày ra quyết định, hồ sơ vụ án phải được chuyển cho Tòa án có thẩm
quyền để xét xử lại theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này.
Chương XXVI
THỦ TỤC TÁI THẨM
Điều 397. Tính chất của tái thẩm
Tái
thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhưng bị
kháng nghị vì có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội
dung của bản án, quyết định mà Tòa án không biết được khi ra bản án, quyết định
đó.
Điều 398. Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
Bản
án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục
tái thẩm khi có một trong các căn cứ:
1.
Có căn cứ chứng minh lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, kết luận
định giá tài sản, lời dịch của người phiên dịch, bản dịch thuật có những điểm
quan trọng không đúng sự thật;
2.
Có tình tiết mà Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm do không biết
được mà kết luận không đúng làm cho bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật không đúng sự thật khách quan của vụ án;
3.
Vật chứng, biên bản về hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, biên bản hoạt động
tố tụng khác hoặc những chứng cứ, tài liệu, đồ vật khác trong vụ án bị giả mạo
hoặc không đúng sự thật;
4.
Những tình tiết khác làm cho bản án, quyết định của Tòa án đã có
hiệu lực pháp luật không đúng sự thật khách quan của vụ án.
Điều 399. Thông báo và xác minh những tình tiết mới được
phát hiện
1.
Người bị kết án, cơ quan, tổ chức và mọi cá nhân có quyền phát hiện tình tiết
mới của vụ án và thông báo kèm theo các tài liệu liên quan cho Viện kiểm sát hoặc
Tòa án. Trường hợp Tòa án nhận được thông báo hoặc tự mình phát hiện tình tiết
mới của vụ án thì phải thông báo ngay bằng văn bản kèm theo các tài liệu liên
quan cho Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị tái thẩm. Viện trưởng
Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị tái thẩm ra quyết định xác minh những
tình tiết đó.
2.
Viện kiểm sát phải xác minh những tình tiết mới; khi xét thấy cần thiết, Viện
trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị tái thẩm yêu cầu Cơ quan điều tra
có thẩm quyền xác minh tình tiết mới của vụ án và chuyển kết quả xác minh cho
Viện kiểm sát.
3.
Khi tiến hành xác minh tình tiết mới của vụ án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra
có quyền áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng theo quy định của Bộ luật này.
Điều 400. Những người có quyền kháng nghị theo thủ tục tái
thẩm
1.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục tái
thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp, trừ
quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
2.
Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương có quyền kháng nghị theo thủ tục
tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự
cấp quân khu, Tòa án quân sự khu vực.
3.[194] Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân khu
vực thuộc phạm vi tỉnh, thành phố.
Điều 401. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
1.
Tái thẩm theo hướng không có lợi cho người bị kết án chỉ được thực hiện
trong thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 27 của Bộ luật Hình
sự và thời hạn kháng nghị không được quá 01 năm kể từ ngày Viện kiểm sát nhận
được tin báo về tình tiết mới được phát hiện.
2.
Tái thẩm theo hướng có lợi cho người bị kết án thì không hạn chế về thời gian
và được thực hiện cả trong trường hợp người bị kết án đã chết mà cần minh
oan cho họ.
3.
Việc kháng nghị về dân sự trong vụ án hình sự đối với đương sự được thực hiện
theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Điều 402. Thẩm quyền của Hội đồng tái thẩm
1.
Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật bị kháng nghị.
2.
Hủy bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc
xét xử lại.
3.
Hủy bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án.
4.
Đình chỉ việc xét xử tái thẩm.
Điều 403. Các thủ tục khác về tái thẩm
Các
thủ tục khác về tái thẩm được thực hiện theo các quy định về thủ tục giám đốc
thẩm quy định tại Bộ luật này.
Chương XXVII
THỦ TỤC XEM XÉT LẠI QUYẾT ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Điều 404. Yêu cầu, kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
1.
Khi có căn cứ xác định quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc phát hiện tình tiết quan trọng mới
có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định mà Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao không biết được khi ra quyết định đó, nếu Ủy ban Thường vụ Quốc
hội yêu cầu, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[195], Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiến nghị, Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao đề nghị thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối phải mở phiên họp để xem
xét lại quyết định đó.
2.
Trường hợp Ủy ban Thường vụ Quốc hội yêu cầu thì Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao có trách nhiệm báo cáo Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem
xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
3.
Trường hợp Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[196], Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiến nghị thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao mở phiên họp xem xét kiến nghị đó.
Trường
hợp Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đề nghị thì báo cáo Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao mở phiên họp xem xét đề nghị đó.
Điều 405. Thành phần tham dự phiên họp của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét kiến nghị, đề nghị
1.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải tham dự phiên họp của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét kiến nghị của Ủy ban Pháp luật và
Tư pháp của Quốc hội[197], kiến nghị của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
2.
Đại diện Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[198] được
mời tham dự phiên họp của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét
kiến nghị của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[199].
3.
Trường hợp xét thấy cần thiết, Tòa án nhân dân tối cao có thể mời cơ quan, tổ
chức, cá nhân có liên quan tham dự phiên họp.
Điều 406. Chuẩn bị mở phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị
1.
Sau khi nhận được kiến nghị của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[200],
của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc sau khi Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao có văn bản đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao gửi cho Viện kiểm sát
nhân dân tối cao bản sao văn bản kiến nghị hoặc đề nghị đó kèm theo hồ sơ vụ án
để Viện kiểm sát nhân dân tối cao chuẩn bị ý kiến phát biểu tại phiên họp xem
xét kiến nghị, đề nghị.
Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức thẩm định hồ sơ để báo cáo Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định tại phiên họp.
2.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị của Ủy ban Pháp luật và
Tư pháp của Quốc hội[201], kiến nghị của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao hoặc kể từ ngày Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có
văn bản đề nghị thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải mở phiên họp
xem xét kiến nghị, đề nghị đó và thông báo bằng văn bản cho Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao về thời gian, địa điểm mở phiên họp xem xét kiến nghị, đề
nghị.
Điều 407. Thủ tục mở phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị
1.
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tự mình hoặc phân công một thành viên Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trình bày tóm tắt nội dung vụ án và quá trình
giải quyết vụ án.
2.
Đại diện Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[202],
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có
kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao trình bày về các vấn đề sau:
a)
Nội dung kiến nghị, đề nghị;
b)
Căn cứ kiến nghị, đề nghị;
c)
Phân tích chứng cứ cũ và chứng cứ mới bổ sung (nếu có) để làm rõ việc vi phạm
pháp luật nghiêm trọng trong quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao hoặc những tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung
quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
3.
Trường hợp xem xét kiến nghị của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[203]
hoặc xem xét đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao phát biểu ý kiến về tính có căn cứ và hợp pháp của kiến
nghị, đề nghị; nêu rõ quan điểm và lý do nhất trí hoặc không nhất trí với kiến
nghị, đề nghị đó.
4.
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thảo luận và biểu quyết theo đa số về
việc nhất trí hoặc không nhất trí với kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
5.
Trường hợp nhất trí với kiến nghị của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[204],
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đề nghị của Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định về
việc mở phiên họp để xem xét lại quyết định của mình.
6.
Mọi diễn biến tại phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị và các quyết định được
thông qua tại phiên họp được ghi vào biên bản phiên họp và lưu hồ sơ xem xét kiến
nghị, đề nghị.
Điều 408. Thông báo kết quả phiên họp xem xét kiến nghị, đề
nghị
Sau
khi kết thúc phiên họp, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao gửi văn bản
thông báo kết quả phiên họp về việc nhất trí hoặc không nhất trí kiến
nghị, đề nghị cho Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[205], Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Văn bản thông báo phải nêu rõ lý do của
việc nhất trí hoặc không nhất trí với kiến nghị, đề nghị đó.
Trường
hợp không nhất trí kết quả xem xét kiến nghị, đề nghị của Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao thì Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[206],
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có
quyền báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định.
Điều 409. Thẩm định hồ sơ vụ án; xác minh, thu thập chứng cứ,
tài liệu, đồ vật
1.
Trường hợp có yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc có quyết định của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhất trí xem xét lại quyết định của mình
thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức việc thẩm định hồ sơ vụ án và tổ
chức việc xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật trong trường hợp cần
thiết.
2.
Việc thẩm định hồ sơ vụ án, xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật phải
làm rõ có hay không có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có hay không có tình
tiết quan trọng mới làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao.
Điều 410. Thời hạn mở phiên họp xem xét lại quyết định của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
1.
Trong thời hạn 04 tháng kể từ ngày nhận được yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội hoặc kể từ ngày có quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao nhất trí xem xét lại quyết định của mình, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao phải mở phiên họp.
2.
Tòa án nhân dân tối cao gửi cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao văn bản thông
báo về thời gian, địa điểm mở phiên họp xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao kèm theo hồ sơ vụ án trong trường hợp có yêu cầu
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Điều 411. Thủ tục và thẩm quyền xem xét lại quyết định của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
1.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải tham dự phiên họp xem xét lại
quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và phát biểu quan điểm
về việc có hay không có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có hay không có
tình tiết mới quan trọng làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và quan điểm về việc giải quyết vụ án.
2.
Sau khi nghe Chánh án Tòa án nhân dân tối cao báo cáo, nghe ý kiến của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan
tham dự (nếu có), Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định:
a)
Không chấp nhận yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, kiến nghị của Ủy ban
Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[207], Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao và giữ nguyên quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
b)
Hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hủy bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật và quyết định về nội dung vụ
án;
c)
Hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hủy bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật và xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo
quy định của pháp luật;
d)
Hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hủy bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử
lại.
3.
Quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải được ít nhất ba phần
tư tổng số thành viên của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao biểu quyết
tán thành.
Điều 412. Gửi quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao về việc xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao
Sau
khi Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ra một trong các quyết định quy
định tại Điều 411 của Bộ luật này, Tòa án nhân dân tối cao
gửi quyết định cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của
Quốc hội[208], Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án đã giải quyết vụ án và những người
có liên quan.
Phần thứ bảy
THỦ TỤC ĐẶC BIỆT
Chương XXVIII[209] (được
bãi bỏ)
Chương XXIX
THỦ TỤC TỐ TỤNG TRUY CỨU
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ PHÁP NHÂN
Điều 431. Phạm vi áp dụng
Thủ
tục tố tụng đối với pháp nhân bị tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị
khởi tố, bị điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được tiến hành theo quy
định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của Bộ luật này không
trái với quy định của Chương này.
Điều 432. Khởi tố vụ án, thay đổi, bổ sung quyết định khởi
tố vụ án hình sự
1.
Khi xác định có dấu hiệu tội phạm do pháp nhân thực hiện thì cơ quan có thẩm
quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại các điều 143, 153 và 154 của Bộ luật này.
2.
Căn cứ, trình tự, thủ tục thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự được
thực hiện theo quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.
Điều 433. Khởi tố bị can, thay đổi, bổ sung quyết định khởi
tố bị can đối với pháp nhân
1.
Khi có đủ căn cứ xác định pháp nhân đã thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy
định là tội phạm thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố bị can đối với
pháp nhân.
2.
Quyết định khởi tố bị can đối với pháp nhân ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết
định; họ tên, chức vụ người ra quyết định; tên và địa chỉ của pháp nhân theo
quyết định thành lập của cơ quan có thẩm quyền; tội danh, điều khoản của Bộ luật
Hình sự đã áp dụng; thời gian, địa điểm phạm tội và những tình tiết khác của
tội phạm.
Nếu
pháp nhân bị khởi tố về nhiều tội khác nhau thì trong quyết định khởi tố bị can
đối với pháp nhân phải ghi rõ từng tội danh và điều, khoản của Bộ luật Hình sự
đã áp dụng.
3.
Thẩm quyền, trình tự, thủ tục khởi tố bị can, thay đổi, bổ sung quyết định khởi
tố bị can đối với pháp nhân được thực hiện theo quy định tại Điều
179 và 180 của Bộ luật này.
Điều 434. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân tham
gia tố tụng
1.
Mọi hoạt động tố tụng của pháp nhân bị truy cứu trách nhiệm hình sự được thông
qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân. Pháp nhân phải cử và bảo đảm
cho người đại diện theo pháp luật của mình tham gia đầy đủ các hoạt động khởi tố,
điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án theo yêu cầu của cơ quan, người có thẩm
quyền.
Trường
hợp người đại diện theo pháp luật của pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố,
xét xử hoặc không thể tham gia tố tụng được thì pháp nhân phải cử người khác
làm người đại diện theo pháp luật của mình tham gia tố tụng. Trường hợp pháp
nhân thay đổi người đại diện thì pháp nhân phải thông báo ngay cho cơ quan có
thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Tại
thời điểm khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử mà pháp nhân không có người đại diện
theo pháp luật hoặc có nhiều người cùng là đại diện theo pháp luật thì cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định một người đại diện cho pháp nhân tham
gia tố tụng.
2.
Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân tham gia tố tụng phải thông báo cho
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng họ tên, ngày, tháng, năm sinh, quốc tịch,
dân tộc, tôn giáo, giới tính, nghề nghiệp, chức vụ của mình. Nếu có sự thay đổi
những thông tin này thì người đại diện theo pháp luật phải thông báo ngay cho
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Điều 435. Quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật
của pháp nhân
1.
Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có quyền:
a)
Được thông báo kết quả giải quyết nguồn tin về tội phạm;
b)
Được biết lý do pháp nhân mà mình đại diện bị khởi tố;
c)
Được thông báo, được giải thích về quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
d)
Được nhận quyết định khởi tố bị can đối với pháp nhân; quyết định thay đổi, bổ
sung quyết định khởi tố bị can đối với pháp nhân; quyết định phê chuẩn quyết định
khởi tố bị can đối với pháp nhân; quyết định phê chuẩn quyết định thay đổi, bổ
sung quyết định khởi tố bị can đối với pháp nhân; quyết định áp dụng, thay đổi,
hủy bỏ biện pháp cưỡng chế; bản kết luận điều tra; quyết định đình chỉ, tạm
đình chỉ điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; bản cáo trạng; quyết
định đưa vụ án ra xét xử; bản án, quyết định của Tòa án và quyết định tố tụng
khác theo quy định của Bộ luật này;
đ)
Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại
pháp nhân mà mình đại diện hoặc buộc phải thừa nhận pháp nhân mà mình đại diện
có tội;
e)
Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
g)
Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người
định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật theo quy định của Bộ luật
này;
h)
Tự bào chữa, nhờ người bào chữa cho pháp nhân;
i)
Được đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu đã được số hóa liên quan đến
việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa cho
pháp nhân kể từ khi kết thúc điều tra khi có yêu cầu;
k)
Tham gia phiên tòa, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi hoặc tự mình hỏi những người
tham gia phiên tòa nếu được chủ tọa đồng ý; tranh luận tại phiên tòa;
l)
Phát biểu ý kiến sau cùng trước khi nghị án;
m)
Xem biên bản phiên tòa, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên
tòa;
n)
Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án;
o)
Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng.
2.
Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có nghĩa vụ:
a)
Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Trường hợp
vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì có thể bị
dẫn giải;
b)
Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Điều 436. Biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân
1.
Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế sau đây đối với
pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử:
a)
Kê biên tài sản liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân;
b)
Phong tỏa tài khoản của pháp nhân liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân;
c)
Tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân liên quan đến hành vi phạm tội
của pháp nhân;
d)
Buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án.
2.
Thời hạn áp dụng các biện pháp cưỡng chế quy định tại khoản 1 Điều
này không được quá thời hạn điều tra, truy tố, xét xử.
Điều 437. Kê biên tài sản
1.
Kê biên tài sản áp dụng đối với pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử
về tội mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tiền hoặc để bảo đảm bồi thường
thiệt hại.
2.
Chỉ kê biên phần tài sản tương ứng với mức có thể bị tịch thu, phạt tiền hoặc bồi
thường thiệt hại. Tài sản bị kê biên được giao cho người đứng đầu pháp nhân có
trách nhiệm bảo quản; nếu để xảy ra việc tiêu dùng, sử dụng trái phép, chuyển
nhượng, đánh tráo, cất giấu, hủy hoại tài sản bị kê biên thì người này phải chịu
trách nhiệm theo quy định của pháp luật.
3.
Khi kê biên tài sản của pháp nhân phải có mặt những người sau:
a)
Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân;
b)
Đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã[210] nơi pháp nhân có tài sản bị
kê biên;
c)
Người chứng kiến.
4.
Thẩm quyền, trình tự, thủ tục kê biên tài sản được thực hiện theo quy định tại Điều 128 của Bộ luật này.
Điều 438. Phong tỏa tài khoản
1.
Phong tỏa tài khoản áp dụng đối với pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét
xử về tội mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tiền hoặc để bảo đảm bồi thường
thiệt hại và có căn cứ xác định pháp nhân đó có tài khoản tại tổ chức tín dụng
hoặc Kho bạc Nhà nước.
2.
Phong tỏa tài khoản cũng được áp dụng đối với tài khoản của cá nhân, tổ chức
khác nếu có căn cứ xác định số tiền trong tài khoản đó liên quan đến hành vi phạm
tội của pháp nhân.
3.
Chỉ phong tỏa số tiền trong tài khoản tương ứng với mức có thể phạt tiền hoặc bồi
thường thiệt hại.
4.
Cơ quan có thẩm quyền phong tỏa tài khoản phải giao quyết định phong tỏa tài khoản
cho đại diện tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc Nhà nước đang quản lý tài khoản của
pháp nhân hoặc tài khoản của cá nhân, tổ chức khác liên quan đến hành vi phạm tội
của pháp nhân.
5.
Thẩm quyền, trình tự, thủ tục phong tỏa tài khoản được thực hiện theo quy định
tại Điều 129 của Bộ luật này.
Điều 439. Tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp
nhân liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân; buộc nộp một khoản tiền để bảo
đảm thi hành án
1.
Tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân chỉ áp dụng khi có căn cứ xác
định hành vi phạm tội của pháp nhân gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại
đến tính mạng, sức khỏe của con người, môi trường hoặc trật tự, an toàn xã hội.
Người
có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này
có quyền ra quyết định tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân. Quyết
định tạm đình chỉ hoạt động của pháp nhân của những người quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải được Viện kiểm
sát có thẩm quyền[211] phê chuẩn trước khi thi hành.
Thời
hạn tạm đình chỉ hoạt động của pháp nhân không được quá thời hạn điều tra, truy
tố, xét xử theo quy định của Bộ luật này. Thời hạn tạm đình chỉ đối với pháp
nhân bị kết án không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm pháp
nhân chấp hành án.
2.
Buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án áp dụng đối với pháp nhân bị khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tiền
hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại.
Chỉ
buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án tương ứng với mức có thể bị phạt
tiền hoặc để bồi thường thiệt hại.
Người
có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này
có quyền ra quyết định buộc pháp nhân phải nộp một khoản tiền để bảo đảm thi
hành án. Quyết định buộc pháp nhân phải nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành
án của những người quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ
luật này phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền[212] phê
chuẩn trước khi thi hành.
Chính
phủ quy định chi tiết trình tự, thủ tục, mức tiền phải nộp để bảo đảm thi hành
án; việc tạm giữ, hoàn trả, nộp ngân sách nhà nước số tiền đã nộp.
Điều 440. Triệu tập người đại diện theo pháp luật của pháp
nhân
1.
Khi triệu tập người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng phải gửi giấy triệu tập. Giấy triệu tập ghi rõ họ tên, chỗ ở
hoặc làm việc của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân; giờ, ngày, tháng,
năm, địa điểm có mặt, gặp ai và trách nhiệm về việc vắng mặt không vì lý do bất
khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan.
2.
Giấy triệu tập được gửi cho người đại diện theo pháp luật của pháp nhân hoặc
pháp nhân nơi người đó làm việc hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã[213] nơi
người đại diện theo pháp luật của pháp nhân cư trú. Cơ quan, tổ chức nhận được
giấy triệu tập có trách nhiệm chuyển ngay giấy triệu tập cho người đại diện
theo pháp luật của pháp nhân.
Khi
nhận giấy triệu tập, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân phải ký nhận
và ghi rõ ngày, giờ nhận. Người chuyển giấy triệu tập phải chuyển phần giấy triệu
tập có ký nhận của người đại diện cho cơ quan đã triệu tập; nếu người đại diện
không ký nhận thì phải lập biên bản về việc đó và gửi cho cơ quan triệu tập; nếu
người đại diện vắng mặt thì có thể giao giấy triệu tập cho một người đủ 18
tuổi trở lên trong gia đình để ký xác nhận và chuyển cho người đại diện.
3.
Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân phải có mặt theo giấy triệu tập.
Trường hợp vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách
quan thì người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể ra quyết định dẫn giải.
Điều 441. Những vấn đề cần phải chứng minh khi tiến
hành tố tụng
đối với pháp nhân bị buộc tội
1.
Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết
khác của hành vi phạm tội thuộc trách nhiệm hình sự của pháp nhân theo quy định
của Bộ luật Hình sự.
2.
Lỗi của pháp nhân, lỗi của cá nhân là thành viên của pháp nhân.
3.
Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội của pháp nhân gây ra.
4.
Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết khác liên
quan đến miễn hình phạt.
5.
Nguyên nhân và điều kiện phạm tội.
Điều 442. Lấy lời khai người đại diện theo pháp luật của
pháp nhân
1.
Việc lấy lời khai người đại diện theo pháp luật của pháp nhân phải do Điều tra
viên, cán bộ điều tra của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra thực hiện tại nơi tiến hành điều tra, tại trụ sở Cơ quan điều tra,
cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc tại
trụ sở của pháp nhân. Trước khi lấy lời khai, Điều tra viên, cán bộ điều tra phải
thông báo cho Kiểm sát viên và người bào chữa thời gian, địa điểm lấy lời khai.
Khi xét thấy cần thiết, Kiểm sát viên tham gia việc lấy lời khai.
2.
Trước khi tiến hành lấy lời khai lần đầu, Điều tra viên, cán bộ điều tra của cơ
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải giải thích cho
người đại diện theo pháp luật của pháp nhân biết rõ quyền và nghĩa vụ quy định
tại Điều 435 của Bộ luật này và phải ghi vào biên bản. Có
thể cho người đại diện theo pháp luật của pháp nhân tự viết lời khai của mình.
3.
Không được lấy lời khai người đại diện theo pháp luật của pháp nhân vào ban
đêm.
4.
Kiểm sát viên lấy lời khai người đại diện theo pháp luật của pháp nhân trong
trường hợp người này không thừa nhận hành vi phạm tội của pháp nhân, khiếu nại
hoạt động điều tra hoặc có căn cứ xác định việc điều tra vi phạm pháp luật hoặc
trong trường hợp khác khi xét thấy cần thiết.
Việc
Kiểm sát viên lấy lời khai người đại diện theo pháp luật của pháp nhân cũng được
tiến hành theo quy định tại Điều này.
5.
Việc lấy lời khai của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân tại trụ sở
Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra phải được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh.
Việc
lấy lời khai của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân tại các địa điểm
khác được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh theo yêu cầu của người đại diện, của
cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
6.
Biên bản lấy lời khai người đại diện theo pháp luật của pháp nhân được lập theo
quy định tại Điều 178 của Bộ luật này.
Điều 443. Tạm đình chỉ điều tra, đình chỉ điều tra, đình chỉ
vụ án, đình chỉ bị can, bị cáo
1.[214]
Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra ra quyết định tạm đình chỉ điều tra khi đã trưng cầu giám định, yêu cầu định
giá tài sản nhưng chưa có kết quả hoặc đã yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp
nhưng chưa kết thúc theo quy định của Luật Tương trợ
tư pháp về hình sự mà đã hết thời hạn điều tra.
Trong trường hợp này, việc giám định, định giá tài sản tiếp tục
được tiến hành cho đến khi có kết quả; việc
tương trợ tư pháp tiếp tục được tiến hành cho đến khi kết thúc theo quy định của
Luật Tương trợ tư pháp về hình sự.
2.
Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra ra quyết định đình chỉ điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định đình
chỉ vụ án, đình chỉ bị can, bị cáo là pháp nhân khi thuộc một trong các trường
hợp:
a)
Không có sự việc phạm tội;
b)
Hành vi của pháp nhân không cấu thành tội phạm;
c)
Hành vi phạm tội của pháp nhân đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có
hiệu lực pháp luật;
d)
Hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được pháp nhân thực hiện tội phạm;
đ)
Hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều 444. Thẩm quyền và thủ tục xét xử đối với pháp nhân
1.
Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự về các tội phạm do pháp nhân thực hiện
là Tòa án nơi pháp nhân thực hiện tội phạm. Trường hợp tội phạm được thực hiện
tại nhiều nơi khác nhau thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi pháp nhân
đó có trụ sở chính hoặc nơi có chi nhánh của pháp nhân đó thực hiện tội phạm.
2.
Việc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm đối với pháp nhân phạm
tội được thực hiện theo thủ tục chung quy định tại Phần thứ tư và Phần thứ
sáu của Bộ luật này. Phiên tòa xét xử đối với pháp nhân phải có mặt người đại
diện theo pháp luật của pháp nhân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp; có
mặt bị hại hoặc người đại diện của bị hại.
Điều 445. Thẩm quyền, thủ tục thi hành án đối với pháp nhân
1.
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành hình
phạt tiền đối với pháp nhân. Trình tự, thủ tục thi hành hình phạt tiền được thực
hiện theo quy định của Luật Thi hành án dân sự.
2.
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thi hành các hình phạt khác và các biện pháp tư
pháp quy định tại Bộ luật Hình sự đối với pháp nhân theo quy định của pháp luật.
3.
Trường hợp pháp nhân bị kết án thực hiện chia, tách, hợp nhất, sáp nhập thì
pháp nhân kế thừa các quyền và nghĩa vụ của pháp nhân bị kết án có trách nhiệm
thực hiện nghĩa vụ thi hành án phạt tiền, bồi thường thiệt hại.
Điều 446. Thủ tục đương nhiên xóa án tích đối với
pháp nhân
Trong
thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của pháp nhân được
đương nhiên xóa án tích và xét thấy có đủ điều kiện quy định tại Điều
89 của Bộ luật hình sự thì Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ
án cấp giấy chứng nhận pháp nhân đã được xóa án tích.
Chương XXX
THỦ TỤC ÁP
DỤNG BIỆN PHÁP BẮT BUỘC CHỮA BỆNH
Điều 447. Điều kiện và thẩm quyền
áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh
1. Khi có căn cứ cho rằng người thực hiện hành vi nguy hiểm
cho xã hội không có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 21 của
Bộ luật Hình sự thì tuỳ từng giai đoạn tố tụng, Cơ quan điều tra, Viện kiểm
sát, Tòa án phải trưng cầu giám định pháp y tâm thần.
2.
Căn cứ kết luận giám định pháp y tâm thần, Viện kiểm sát quyết định áp dụng biện
pháp bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn điều tra, truy tố; Tòa án quyết định áp
dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn xét xử và thi hành án.
Điều 448. Điều tra đối với
người bị nghi về năng lực trách nhiệm hình sự
1. Đối với vụ án mà có căn cứ cho rằng người thực hiện hành
vi nguy hiểm cho xã hội không có năng lực trách nhiệm hình sự, Cơ quan điều tra
phải làm sáng tỏ:
a) Hành vi nguy hiểm cho xã hội đã xảy ra;
b) Tình trạng tâm thần và bệnh tâm thần của người có hành
vi nguy hiểm cho xã hội;
c) Người có hành vi nguy hiểm cho xã hội có mất khả năng nhận
thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình hay không.
2. Khi tiến hành tố tụng, Cơ quan điều tra phải bảo đảm
có người bào chữa tham gia tố tụng từ khi xác định được người có hành vi nguy
hiểm cho xã hội mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc
khả năng điều khiển hành vi. Người đại diện của người đó có thể tham gia tố tụng
trong trường hợp cần thiết.
Điều 449. Áp dụng biện pháp bắt
buộc chữa bệnh trong giai đoạn điều tra
1. Khi Cơ quan điều tra trưng cầu giám định pháp y tâm thần
mà kết quả giám định xác định bị can mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi
thì Cơ quan điều tra gửi văn bản đề nghị áp dụng
biện pháp bắt buộc chữa bệnh cùng kết luận giám định cho Viện kiểm sát có thẩm
quyền[215]
để xem xét, quyết định.
Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị
của Cơ quan điều tra cùng kết luận giám định, Viện kiểm sát quyết định áp dụng
biện pháp chữa bệnh đối với bị can hoặc yêu cầu Cơ quan điều tra trưng cầu giám
định bổ sung, giám định lại nếu thấy chưa đủ căn cứ để quyết định.
2. Trường hợp Viện kiểm sát ra quyết định áp dụng biện pháp
bắt buộc chữa bệnh thì Cơ quan điều tra phải ra quyết định tạm đình chỉ hoặc
đình chỉ điều tra đối với bị can.
Điều 450. Quyết định của Viện
kiểm sát trong giai đoạn truy tố
1. Sau khi nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra,
nếu có căn cứ cho rằng bị can không có năng lực trách nhiệm hình sự thì Viện kiểm
sát trưng cầu giám định pháp y tâm thần.
2. Căn cứ vào kết luận giám định, Viện kiểm sát có thể ra một
trong các quyết định:
a) Tạm đình chỉ vụ án và áp dụng biện pháp bắt buộc chữa
bệnh;
b) Đình chỉ vụ án và áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh;
c) Trả hồ sơ để điều tra bổ sung;
d) Truy tố bị can trước Tòa án.
3.
Ngoài quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, Viện kiểm sát có thể giải
quyết vấn đề khác liên quan đến vụ án.
Điều 451. Quyết định của Tòa án
trong giai đoạn xét xử
1.
Sau khi thụ lý vụ án, nếu có căn cứ cho rằng bị can, bị cáo không có năng lực
trách nhiệm hình sự thì Tòa án trưng cầu giám định pháp y tâm thần.
2. Căn cứ vào kết luận giám định, Tòa án có thể ra một
trong những quyết định:
a) Quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án và áp dụng
biện pháp bắt buộc chữa bệnh;
b) Trả hồ sơ để điều tra lại hoặc điều tra bổ sung;
c) Miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt và áp dụng
biện pháp bắt buộc chữa bệnh;
d) Đưa vụ án ra xét xử.
3.
Ngoài quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh, Tòa án có thể giải quyết
vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc vấn đề khác liên quan đến vụ án.
Điều 452. Áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người
đang chấp hành án phạt tù
1.
Trường hợp có căn cứ cho rằng người đang chấp hành án phạt tù mắc bệnh tâm thần
hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi
thì Trại giam, Trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh đề
nghị Tòa án nhân dân khu vực[216],
Tòa án quân sự cấp quân khu nơi người bị kết án chấp hành án phạt tù trưng cầu
giám định pháp y tâm thần.
2. Căn cứ kết luận giám định
pháp y tâm thần, Chánh án Tòa án nhân dân khu vực[217] hoặc
Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu nơi người bị kết án đang chấp hành án phạt
tù ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù và áp dụng biện pháp bắt
buộc chữa bệnh.
Sau
khi có kết luận khỏi bệnh hoặc có kết luận đủ khả năng
nhận thức, đủ khả
năng điều khiển hành vi[218],
người đó phải tiếp tục chấp hành án phạt tù nếu không có lý do để miễn chấp
hành hình phạt tù.
Điều 453. Khiếu nại, kháng cáo,
kháng nghị
1. Việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại quyết định của Viện
kiểm sát về việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh được thực hiện theo quy định
tại Chương XXXIII của Bộ luật này.
2. Việc kháng cáo, kháng nghị quyết định của Tòa án về việc
áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh được thực hiện như đối với quyết định sơ
thẩm quy định tại Bộ luật này.
3. Quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh có hiệu
lực thi hành cho đến khi có quyết định khác thay thế hoặc hủy bỏ quyết định áp
dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
Điều 454. Đình chỉ thi hành biện
pháp bắt buộc chữa bệnh
1. Biện pháp bắt buộc chữa bệnh được thực hiện ở cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh[219] do Viện kiểm sát hoặc Tòa án
chỉ định theo quy định của pháp luật.
2. Khi có thông báo của thủ trưởng cơ
sở khám bệnh, chữa bệnh[220]
về việc người bị bắt buộc chữa bệnh đã khỏi bệnh hoặc có đủ khả năng nhận thức,
đủ khả năng điều khiển hành vi[221] thì cơ quan đã đề nghị áp dụng
biện pháp bắt buộc chữa bệnh hoặc Viện kiểm sát, Tòa án đã ra quyết định áp dụng
biện pháp bắt buộc chữa bệnh trưng cầu giám định pháp y tâm thần về tình trạng
bệnh của người bị bắt buộc chữa bệnh.
Căn cứ kết luận giám định về việc người bị bắt buộc chữa bệnh
đã khỏi bệnh hoặc có đủ khả năng nhận thức, đủ khả năng điều khiển hành vi[222],
Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
3. Quyết định đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh
phải được cơ quan đã đề nghị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh hoặc Viện kiểm
sát, Tòa án gửi ngay cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh[223] và
người đại diện của người bị bắt buộc chữa bệnh.
4. Các hoạt động tố tụng, việc chấp hành hình phạt đã bị tạm
đình chỉ có thể được phục hồi theo quy định của Bộ luật này.
Chương XXXI
THỦ TỤC RÚT
GỌN
Điều 455. Phạm vi áp dụng thủ tục
rút gọn
Thủ tục rút gọn đối với việc điều tra, truy tố, xét xử sơ
thẩm, xét xử phúc thẩm được thực hiện theo quy định của Chương này và những quy
định khác của Bộ luật này không trái với quy định của Chương này.
Điều 456. Điều kiện áp dụng thủ tục
rút gọn
1. Thủ tục rút gọn được áp dụng trong giai đoạn điều tra,
truy tố, xét xử sơ thẩm khi có đủ các điều kiện:
a) Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang hoặc
người đó tự thú;
b) Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng;
c) Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng;
d) Người phạm tội có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng.
2. Thủ tục rút gọn được áp dụng trong xét xử phúc thẩm khi
có một trong các điều kiện:
a) Vụ án đã được áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử sơ thẩm
và chỉ có kháng cáo, kháng nghị giảm nhẹ hình phạt hoặc cho bị cáo được hưởng
án treo;
b) Vụ án chưa được áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử sơ
thẩm nhưng có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này và chỉ có kháng
cáo, kháng nghị giảm nhẹ hình phạt hoặc cho bị cáo được hưởng án treo.
Điều 457. Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn
1.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi vụ án có đủ điều kiện quy định tại Điều 456 của Bộ luật này, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát,
Tòa án phải ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn.
Thủ
tục rút gọn được áp dụng kể từ khi ra quyết định cho đến khi kết thúc việc xét
xử phúc thẩm, trừ trường hợp bị hủy bỏ theo quy định tại Điều
458 của Bộ luật này.
2.
Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn được giao cho bị can, bị cáo hoặc người đại
diện của họ, gửi cho người bào chữa trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định.
Quyết
định áp dụng thủ tục rút gọn của Cơ quan điều tra, Tòa án được gửi cho Viện kiểm
sát có thẩm quyền[224] trong thời hạn 24 giờ kể từ
khi ra quyết định.
3.
Trường hợp xét thấy quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của Cơ quan điều tra không
đúng pháp luật thì trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được quyết định, Viện
kiểm sát phải ra quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn và gửi
cho Cơ quan điều tra.
4.
Trường hợp xét thấy quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của Tòa án không đúng
pháp luật thì Viện kiểm sát kiến nghị với Chánh án Tòa án đã ra quyết định.
Chánh án Tòa án phải xem xét, trả lời trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được
kiến nghị của Viện kiểm sát.
5.
Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn có thể bị khiếu nại. Bị can, bị cáo hoặc người
đại diện của họ có quyền khiếu nại quyết định áp dụng thủ tục rút gọn; thời hiệu
khiếu nại là 05 ngày kể từ ngày nhận được quyết định. Khiếu nại được gửi đến Cơ
quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án đã ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn
và phải được giải quyết trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại.
Điều 458. Hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn
Trong
quá trình áp dụng thủ tục rút gọn, nếu một trong các điều kiện quy định tại các
điểm b, c và d khoản 1 Điều 456 của Bộ luật này không còn
hoặc vụ án thuộc trường hợp tạm đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ vụ án hoặc trả
hồ sơ để điều tra bổ sung theo quy định của Bộ luật này thì Cơ quan điều tra,
Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn
và giải quyết vụ án theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này.
Thời
hạn tố tụng của vụ án được tính tiếp theo thủ tục chung quy định tại Bộ
luật này kể từ khi có quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn.
Điều 459. Tạm giữ, tạm giam để điều tra, truy tố, xét xử
1.
Căn cứ, thẩm quyền và thủ tục tạm giữ, tạm giam được thực hiện theo quy định
của Bộ luật này.
2.
Thời hạn tạm giữ không được quá 03 ngày kể từ ngày Cơ quan điều tra nhận người
bị bắt.
3.
Thời hạn tạm giam trong giai đoạn điều tra không quá 20 ngày, trong giai đoạn
truy tố không quá 05 ngày, trong giai đoạn xét xử sơ thẩm không quá 17 ngày,
trong giai đoạn xét xử phúc thẩm không quá 22 ngày.
Điều 460. Điều tra
1.
Thời hạn điều tra theo thủ tục rút gọn là 20 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi
tố vụ án.
2.
Khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra ra quyết định đề nghị truy tố.
Quyết
định đề nghị truy tố ghi tóm tắt hành vi phạm tội, thủ đoạn, động cơ, mục
đích phạm tội, tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây
ra; việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp
cưỡng chế; việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật
chứng; đặc điểm nhân thân của bị can, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự; lý do và căn cứ đề nghị truy tố; tội danh, điểm,
khoản, điều của Bộ luật Hình sự được áp dụng; ghi rõ thời gian, địa điểm,
họ tên và chữ ký của người ra quyết định.
3.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định đề nghị truy tố, Cơ quan điều
tra phải giao quyết định đề nghị truy tố cho bị can hoặc người đại diện
của bị can, gửi cho người bào chữa, bị hại, đương sự hoặc người đại diện
của họ và chuyển quyết định đề nghị truy tố cùng hồ sơ vụ án cho Viện kiểm
sát.
Điều 461. Quyết định truy tố
1.
Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được quyết định đề nghị truy tố và hồ sơ
vụ án, Viện kiểm sát ra một trong các quyết định:
a)
Truy tố bị can trước Tòa án bằng quyết định truy tố;
b)
Không truy tố bị can và ra quyết định đình chỉ vụ án;
c)
Trả hồ sơ để điều tra bổ sung;
d)
Tạm đình chỉ vụ án;
đ)
Đình chỉ vụ án.
2.
Quyết định truy tố ghi tóm tắt hành vi phạm tội, thủ đoạn, động cơ, mục
đích phạm tội, tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây
ra; việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp
cưỡng chế; việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và việc xử lý
vật chứng; đặc điểm nhân thân của bị can, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự, nêu rõ lý do và căn cứ truy tố; tội danh, điểm,
khoản, điều của Bộ luật Hình sự được áp dụng; ghi rõ thời gian, địa điểm,
họ tên và chữ ký của người ra quyết định.
3.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định truy tố, Viện kiểm sát phải giao
quyết định cho bị can hoặc người đại diện của họ; gửi cho Cơ quan điều tra,
người bào chữa, bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ và chuyển
quyết định truy tố cùng hồ sơ vụ án cho Tòa án.
Điều 462. Chuẩn bị xét xử sơ thẩm
1.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công xét xử
ra một trong các quyết định:
a)
Đưa vụ án ra xét xử;
b)
Trả hồ sơ để điều tra bổ sung;
c)
Tạm đình chỉ vụ án;
d)
Đình chỉ vụ án.
2.
Trường hợp quyết định đưa vụ án ra xét xử thì trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày
ra quyết định, Tòa án phải mở phiên tòa xét xử vụ án.
3.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án cấp sơ
thẩm phải gửi quyết định đó cho Viện kiểm sát cùng cấp; giao cho bị cáo hoặc
người đại diện của bị cáo; gửi cho người bào chữa, bị hại, đương sự hoặc
người đại diện của họ.
Điều 463. Phiên tòa xét xử sơ thẩm
1.
Phiên tòa xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn do một Thẩm phán tiến hành.
2.
Sau phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, Kiểm sát viên công bố quyết định truy tố.
3.
Các trình tự, thủ tục khác tại phiên tòa xét xử sơ thẩm được thực hiện
theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này nhưng không tiến hành nghị án.
Điều 464. Chuẩn bị xét xử phúc thẩm
1.
Việc nhận và thụ lý hồ sơ vụ án được Tòa án cấp phúc thẩm thực hiện theo thủ
tục chung quy định tại Bộ luật này.
Sau
khi thụ lý vụ án, Tòa án phải chuyển ngay hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng
cấp. Trong thời hạn 05 ngày Viện kiểm sát phải trả hồ sơ vụ án cho Tòa án.
2.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công xét xử
ra một trong các quyết định:
a)
Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm;
b)
Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án.
3.
Trường hợp quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm thì trong thời hạn 07 ngày
kể từ ngày ra quyết định, Tòa án phải mở phiên tòa xét xử vụ án.
4.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án cấp
phúc thẩm phải gửi quyết định đó cho Viện kiểm sát cùng cấp, người bào chữa;
giao cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, bị hại, đương sự hoặc người
đại diện của họ.
Điều 465. Phiên tòa xét xử phúc thẩm
1.
Việc xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn do một Thẩm phán tiến hành.
2.
Các trình tự, thủ tục khác tại phiên tòa phúc thẩm được thực hiện theo
thủ tục chung quy định tại Bộ luật này nhưng không tiến hành nghị án.
Chương XXXII
XỬ LÝ CÁC
HÀNH VI CẢN TRỞ HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Điều 466. Xử lý người có hành vi cản trở hoạt động tố tụng
của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
Người
bị buộc tội, người tham gia tố tụng khác có một trong các hành vi sau
đây thì tuỳ mức độ vi phạm có thể bị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
quyết định áp giải, dẫn giải, phạt cảnh cáo, phạt tiền, tạm giữ hành chính, buộc
khắc phục hậu quả hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật:
1.
Làm giả, hủy hoại chứng cứ gây trở ngại cho việc giải quyết vụ việc, vụ án;
2.
Khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật;
3.
Từ chối khai báo hoặc từ chối cung cấp tài liệu, đồ vật;
4.
Người giám định, người định giá tài sản kết luận gian dối hoặc từ chối kết luận
giám định, định giá tài sản mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở
ngại khách quan;
5.
Lừa dối, đe doạ, mua chuộc, sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người làm chứng ra làm
chứng hoặc buộc người khác ra làm chứng gian dối;
6.
Lừa dối, đe doạ, mua chuộc, sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người bị hại tham gia
tố tụng hoặc buộc người bị hại khai báo gian dối;
7.
Lừa dối, đe doạ, mua chuộc, sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người giám định, người
định giá tài sản thực hiện nhiệm vụ hoặc buộc người giám định, người định giá
tài sản kết luận sai với sự thật khách quan;
8.
Lừa dối, đe doạ, mua chuộc, sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người phiên dịch, người
dịch thuật thực hiện nhiệm vụ hoặc buộc người phiên dịch, người dịch thuật dịch
gian dối;
9.
Lừa dối, đe doạ, mua chuộc, sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản đại diện cơ quan, tổ
chức, cá nhân khác tham gia tố tụng;
10.
Xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
đe doạ, sử dụng vũ lực hoặc có hành vi khác cản trở hoạt động tố tụng của người
có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
11.
Đã được triệu tập mà vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại
khách quan và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho hoạt động tố tụng;
12.
Ngăn cản việc cấp, giao, nhận hoặc thông báo văn bản tố tụng của cơ quan có thẩm
quyền tiến hành tố tụng.
Điều 467. Xử lý người vi phạm nội quy phiên tòa
1.
Người vi phạm nội quy phiên tòa thì tùy tính chất, mức độ vi phạm có thể bị Thẩm
phán chủ tọa phiên tòa quyết định xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật.
2.
Chủ tọa phiên tòa có quyền ra quyết định buộc người vi phạm rời khỏi phòng xử
án hoặc tạm giữ hành chính. Cơ quan công an có nhiệm vụ bảo vệ trật tự phiên
tòa hoặc người có nhiệm vụ bảo vệ trật tự phiên tòa thi hành quyết định của Thẩm
phán chủ tọa phiên tòa về việc buộc rời khỏi phòng xử án hoặc tạm giữ hành
chính người gây rối trật tự phiên tòa.
3.[225]
Trường hợp hành vi của người vi phạm nội quy phiên tòa có dấu hiệu tội phạm thì
Tòa án yêu cầu, kiến nghị khởi tố theo quy định của Bộ luật này.
4.
Quy định tại Điều này cũng được áp dụng đối với người có hành vi vi phạm tại
phiên họp của Tòa án.
Điều 468. Hình thức xử phạt, thẩm quyền, trình tự, thủ tục
xử phạt
Hình
thức xử phạt, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử phạt đối với các hành vi cản trở
hoạt động tố tụng hình sự được thực hiện theo quy định của Luật Xử lý vi phạm
hành chính và pháp luật khác có liên quan.
Chương XXXIII
KHIẾU NẠI,
TỐ CÁO TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Điều 469. Người có quyền khiếu nại
1.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ
quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi có căn cứ cho rằng quyết định,
hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
2.
Đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, cáo trạng hoặc quyết định truy tố, quyết định
áp dụng thủ tục rút gọn, quyết định của Hội đồng xét xử sơ thẩm, Hội đồng xét xử
phúc thẩm, Hội đồng giám đốc thẩm, Hội đồng tái thẩm, Hội đồng xét giảm thời hạn
hoặc miễn chấp hành hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện nếu có khiếu
nại, kháng cáo, kháng nghị thì giải quyết theo quy định tại các chương XXI,
XXII, XXIV, XXV, XXVI và XXXI của Bộ luật này.
Điều 470. Các quyết định, hành vi tố tụng có thể bị khiếu nại
1.
Quyết định tố tụng có thể bị khiếu nại là các quyết định của Thủ trưởng, Phó Thủ
trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm
sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, người có thẩm quyền
tiến hành một số hoạt động điều tra được ban hành theo quy định của Bộ luật này
và quyết định tố tụng quy định tại chương VII và chương VIII của Luật Tư pháp
người chưa thành niên[226].
2.
Hành vi tố tụng có thể bị khiếu nại là hành vi được thực hiện trong hoạt động tố
tụng của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều
tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên,
Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Thẩm tra viên, người được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được thực hiện theo quy định của Bộ luật
này và hành vi tố tụng quy định tại chương VII và chương VIII của Luật Tư pháp
người chưa thành niên[227].
Điều 471. Thời hiệu khiếu nại
1.
Thời hiệu khiếu nại là 15 ngày kể từ ngày người khiếu nại nhận được hoặc biết
được quyết định, hành vi tố tụng mà người đó cho rằng có vi phạm pháp luật.
2.
Trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan mà người khiếu nại
không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu thì thời gian có lý do
bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hiệu khiếu nại.
Điều 472. Quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại
1.
Người khiếu nại có quyền:
a)
Tự mình khiếu nại hoặc thông qua người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của đương sự hoặc người đại diện để khiếu nại;
b)
Khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết vụ án hình sự;
c)
Rút khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết khiếu nại;
d)
Được nhận quyết định giải quyết khiếu nại;
đ)
Được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm, được bồi thường thiệt hại
theo quy định của pháp luật.
2.
Người khiếu nại có nghĩa vụ:
a)
Trình bày trung thực sự việc, cung cấp thông tin, tài liệu cho người giải quyết
khiếu nại; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày và việc cung
cấp các thông tin, tài liệu đó;
b)
Chấp hành quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật.
Điều 473. Quyền và nghĩa vụ của người bị khiếu nại
1.
Người bị khiếu nại có quyền:
a)
Được thông báo về nội dung khiếu nại;
b)
Đưa ra bằng chứng về tính hợp pháp của quyết định, hành vi tố tụng bị khiếu nại;
c)
Được nhận quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định, hành vi tố tụng của
mình.
2.
Người bị khiếu nại có nghĩa vụ:
a)
Giải trình về quyết định, hành vi tố tụng bị khiếu nại; cung cấp các thông tin,
tài liệu liên quan khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu;
b)
Chấp hành quyết định giải quyết khiếu nại;
c)
Bồi thường thiệt hại, bồi hoàn, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi tố tụng
trái pháp luật của mình gây ra theo quy định của pháp luật.
Điều 474. Thẩm quyền và thời hạn
giải quyết khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng trong việc giữ người trong trường
hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam
1. Khiếu nại đối với lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp,
lệnh bắt, quyết định tạm giữ, lệnh tạm giam, quyết định tạm giam, quyết định
phê chuẩn việc bắt, quyết định gia hạn tạm giữ, quyết định gia hạn tạm giam và
khiếu nại các hành vi thực hiện các lệnh và quyết định đó phải được giải quyết
ngay trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được khiếu nại. Trường hợp cần phải
có thời gian để xác minh thêm thì thời hạn giải quyết không được quá 03 ngày kể
từ ngày nhận được khiếu nại.
2.[228]
Viện trưởng Viện kiểm sát có trách nhiệm giải quyết khiếu nại quyết định, hành
vi tố tụng trong việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm
giam trong giai đoạn điều tra, truy tố. Cơ quan, người có thẩm quyền trong việc
giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam phải chuyển ngay
cho Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án, vụ việc
khiếu nại của người bị giữ, người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam
trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được khiếu nại.
Khiếu
nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều
tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, người được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong việc giữ người trong
trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam do Viện trưởng Viện kiểm sát giải
quyết.
Khiếu
nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Phó Viện trưởng Viện kiểm sát trong
việc bắt, tạm giữ, tạm giam do Viện trưởng Viện kiểm sát giải quyết.
Nếu
không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Viện trưởng Viện kiểm sát
thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại,
người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực
tiếp. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện trưởng Viện
kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết. Quyết định giải quyết của
Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Viện trưởng
Viện kiểm sát trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp
trên trực tiếp xem xét, giải quyết. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được
khiếu nại, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết.
Quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là quyết
định có hiệu lực pháp luật.
3.[229]
Tòa án có trách nhiệm giải quyết khiếu nại quyết định bắt, tạm giam trong giai
đoạn xét xử.
Khiếu
nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Phó Chánh án trong việc bắt, tạm
giam do Chánh án Tòa án xem xét, giải quyết. Nếu không đồng ý với quyết định giải
quyết khiếu nại của Chánh án thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được
quyết định giải quyết khiếu nại, người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Chánh
án Tòa án trên một cấp. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại,
Chánh án Tòa án trên một cấp phải xem xét, giải quyết. Quyết định giải quyết của
Chánh án Tòa án trên một cấp là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Khiếu
nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Chánh án Tòa án trong việc bắt, tạm
giam do Chánh án Tòa án trên một cấp xem xét, giải quyết. Trong thời hạn 07
ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Chánh án Tòa án trên một cấp phải xem xét,
giải quyết. Quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án trên một cấp là quyết định
có hiệu lực pháp luật.
Khiếu
nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm phán giữ chức vụ Phó Chánh tòa
Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao trong việc bắt, tạm giam do Chánh tòa Tòa
Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao xem xét, giải quyết. Nếu không đồng ý với quyết
định giải quyết khiếu nại của Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao
thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại,
người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Trong
thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao phải xem xét, giải quyết. Quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm phán
giữ chức vụ Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao trong việc bắt, tạm
giam do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, giải quyết. Trong thời hạn 07
ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phải xem
xét, giải quyết. Quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao là
quyết định có hiệu lực pháp luật.
Điều 475. Thẩm quyền và thời hạn
giải quyết khiếu nại đối với Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Phó Thủ trưởng và
Thủ trưởng Cơ quan điều tra, người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra
1.[230]
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Cán bộ điều
tra, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra trừ khiếu nại về việc giữ người trong trường
hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam do Thủ trưởng Cơ quan điều tra xem xét, giải
quyết trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với
quyết định giải quyết của Thủ trưởng Cơ quan điều tra thì trong thời hạn 03
ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, người khiếu nại có
quyền khiếu nại đến Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền. Trong thời hạn 07
ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền phải
xem xét, giải quyết. Quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm
quyền là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Khiếu
nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Thủ trưởng Cơ quan điều tra và các
quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra đã được Viện kiểm sát phê chuẩn do Viện
trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền giải quyết trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày
nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết của Viện trưởng
Viện kiểm sát có thẩm quyền thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết
định giải quyết khiếu nại, người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Viện trưởng
Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được
khiếu nại, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết.
Quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là quyết
định có hiệu lực pháp luật.
2.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của cấp phó, cán bộ điều tra của
cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trừ việc giữ người
trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ do cấp trưởng cơ quan được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra xem xét, giải quyết trong thời hạn 07 ngày
kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết của
cấp trưởng thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết
khiếu nại, người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Viện kiểm sát thực hành quyền
công tố và kiểm sát điều tra. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu
nại, Viện trưởng Viện kiểm sát phải xem xét, giải quyết. Quyết định giải quyết
của Viện trưởng Viện kiểm sát là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Khiếu
nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của cấp trưởng cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra do Viện trưởng Viện kiểm sát thực hành
quyền công tố và kiểm sát điều tra xem xét, giải quyết. Trong thời hạn 07 ngày
kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện trưởng Viện kiểm sát phải xem xét, giải
quyết. Quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát là quyết định có hiệu
lực pháp luật.
Điều 476. Thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại đối với
Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Phó Viện trưởng, Viện trưởng Viện kiểm sát, Phó
Viện trưởng và Viện trưởng Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm
sát nhân dân tối cao[231]
1.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Kiểm sát viên, Kiểm tra viên,
Phó Viện trưởng Viện kiểm sát do Viện trưởng Viện kiểm sát xem xét, giải quyết
trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với quyết
định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát thì trong thời hạn 03 ngày kể từ
ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, người khiếu nại có quyền khiếu
nại đến Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
được khiếu nại, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết. Quyết
định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là quyết định
có hiệu lực pháp luật.
2.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Viện trưởng Viện kiểm sát do
Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp xem xét, giải quyết trong thời hạn 15 ngày kể
từ ngày nhận được khiếu nại. Quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm
sát cấp trên trực tiếp là quyết định có hiệu lực pháp luật.
3.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Phó Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao, Kiểm sát viên và Kiểm tra viên công tác tại Viện kiểm sát
nhân dân tối cao, Kiểm sát viên và Kiểm tra viên công tác tại Viện kiểm sát
quân sự trung ương, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương do Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung
ương xem xét, giải quyết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại.
Quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng
Viện kiểm sát quân sự trung ương là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Trường
hợp khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Kiểm sát viên, Kiểm tra
viên, Phó Viện trưởng Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm do Viện trưởng
Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm xem xét, giải quyết trong thời hạn 07
ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết
của Viện trưởng Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm thì trong thời hạn 03
ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, người khiếu nại có
quyền khiếu nại đến Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trong thời hạn
15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao phải xem xét, giải quyết. Quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Khiếu
nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Viện trưởng Viện Công tố và Kiểm
sát xét xử phúc thẩm do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét, giải
quyết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Quyết định giải
quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là quyết định có hiệu lực
pháp luật.
Điều 477. Thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại đối với
Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên, Phó Chánh án, Chánh án Tòa án, Phó
Chánh tòa, Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao[232]
1.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Thẩm
tra viên, Phó Chánh án Tòa án nhân dân khu vực, Tòa án quân sự khu vực trước
khi mở phiên tòa do Chánh án Tòa án nhân dân khu vực, Chánh án Tòa án quân sự
khu vực giải quyết trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại.
Nếu
không đồng ý với quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án nhân dân khu vực,
Chánh án Tòa án quân sự khu vực thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được
quyết định giải quyết khiếu nại, người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Chánh
án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu. Trong thời hạn
15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh,
Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu phải xem xét, giải quyết. Quyết định giải
quyết của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân
khu là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Khiếu
nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Chánh án Tòa án nhân dân khu vực,
Chánh án Tòa án quân sự khu vực trước khi mở phiên tòa do Chánh án Tòa án nhân
dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu xem xét, giải quyết trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Quyết định giải quyết của Chánh án
Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu là quyết định có
hiệu lực pháp luật.
2.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Thẩm
tra viên, Phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu
trước khi mở phiên tòa do Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án
quân sự cấp quân khu xem xét, giải quyết trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận
được khiếu nại. Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án
nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu thì trong thời hạn 03
ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, người khiếu nại có
quyền khiếu nại đến Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án quân sự
trung ương xem xét, giải quyết trong thời hạn 15 ngày. Quyết định giải quyết của
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án quân sự trung ương là quyết định
có hiệu lực pháp luật.
Khiếu
nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh,
Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh
án Tòa án quân sự trung ương xem xét, giải quyết trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được khiếu nại. Quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao, Chánh án Tòa án quân sự trung ương là quyết định có hiệu lực pháp luật.
3.
Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên công tác tại Tòa án nhân dân tối
cao, Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Thẩm tra
viên công tác tại Tòa án quân sự trung ương, Phó Chánh án Tòa án quân sự trung
ương do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án quân sự trung ương xem
xét, giải quyết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Quyết định
giải quyết của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án quân sự trung
ương là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Trường
hợp khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm phán, Thư ký Tòa án,
Thẩm tra viên, Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao trước khi mở
phiên tòa do Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao xem xét, giải quyết
trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với quyết
định giải quyết của Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao thì trong
thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, người
khiếu nại có quyền khiếu nại đến Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, giải
quyết trong thời hạn 15 ngày. Quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Khiếu
nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân
dân tối cao do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, giải quyết trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Quyết định giải quyết của Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Điều 478. Người có quyền tố cáo
Cá
nhân có quyền tố cáo với cơ quan, người có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp
luật của bất kỳ người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nào gây thiệt hại hoặc đe
dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ
chức, cá nhân.
Điều 479. Quyền và nghĩa vụ của
người tố cáo
1. Người tố cáo có quyền:
a) Gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, người có thẩm
quyền;
b) Yêu cầu giữ bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích của mình;
c) Được nhận quyết định giải quyết tố cáo;
d) Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo vệ khi
bị đe doạ, trù dập, trả thù.
2. Người tố cáo có nghĩa vụ:
a) Trình bày trung thực về nội dung tố cáo, cung cấp thông
tin, tài liệu liên quan đến việc tố cáo;
b) Nêu rõ họ tên, địa chỉ của mình;
c) Chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu cố ý tố cáo sai sự
thật.
Điều 480. Quyền và nghĩa vụ của
người bị tố cáo
1. Người bị tố cáo có quyền:
a) Được thông báo về nội dung tố cáo;
b) Đưa ra bằng chứng để chứng minh nội dung tố cáo là không
đúng sự thật;
c) Được nhận quyết định giải quyết tố cáo;
d) Được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, được
phục hồi danh dự, được bồi thường thiệt hại do việc tố cáo không đúng gây ra;
đ) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý
người tố cáo sai sự thật.
2. Người bị tố cáo có nghĩa vụ:
a) Giải trình về hành vi bị tố cáo; cung cấp thông tin, tài
liệu liên quan khi cơ quan, người có thẩm quyền yêu cầu;
b) Chấp hành quyết định giải quyết tố cáo;
c) Bồi thường thiệt hại, bồi hoàn, khắc phục hậu quả do
hành vi tố tụng trái pháp luật của mình gây ra.
Điều 481. Thẩm quyền và thời hạn
giải quyết tố cáo
1.[233]
Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nào thì người đứng đầu cơ quan đó có thẩm
quyền giải quyết.
Trường
hợp người bị tố cáo là Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát
thì Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp
có thẩm quyền giải quyết.
Trường
hợp người bị tố cáo là Chánh án Tòa án nhân dân khu vực, Chánh án Tòa án quân sự
khu vực thì Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân
khu có thẩm quyền giải quyết.
Trường
hợp người bị tố cáo là Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân
sự cấp quân khu thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao,
Chánh án Tòa án quân sự trung ương có thẩm quyền giải quyết.
Trường
hợp người bị tố cáo là Chánh án Tòa án quân sự trung ương thì Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao có thẩm quyền giải quyết.
Tố cáo hành vi tố tụng của người được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra do Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, kiểm
sát điều tra có thẩm quyền xem xét, giải quyết.
2. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm
thì được giải quyết theo quy định tại Điều 145 của Bộ luật này.
3. Thời hạn giải quyết tố cáo không quá 30 ngày kể từ ngày
nhận được tố cáo; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết tố cáo có thể
kéo dài nhưng không quá 60 ngày.
4. Tố cáo liên quan đến hành vi giữ người trong trường hợp
khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam trong giai đoạn điều tra, truy tố phải được[234]
Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, giải quyết trong thời hạn 24
giờ kể từ khi nhận được tố cáo. Trường hợp phải xác minh thêm thì thời hạn
không quá 03 ngày kể từ ngày nhận được tố cáo.
Điều 482. Trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền giải
quyết khiếu nại, tố cáo
1. Cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố
cáo trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết
kịp thời, đúng pháp luật khiếu nại, tố cáo và gửi văn bản giải quyết khiếu nại,
tố cáo cho người đã khiếu nại, tố cáo; xử lý nghiêm minh người vi phạm pháp luật;
áp dụng biện pháp bảo vệ người tố cáo khi có yêu cầu, ngăn chặn thiệt hại có thể
xảy ra; bảo đảm kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo được thi hành nghiêm chỉnh
và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc giải quyết của mình.
2. Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo mà
không giải quyết, thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết, giải quyết trái pháp
luật thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu
trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại, bồi hoàn
theo quy định của luật.
3. Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra, Tòa án có trách nhiệm thông báo việc tiếp nhận và gửi
văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm
sát có thẩm quyền.
Điều 483. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm
sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo
1.[235] Viện kiểm sát có thẩm quyền và Viện kiểm sát cấp trên kiểm sát việc giải
quyết khiếu nại, tố cáo của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra, Tòa án.
2. Khi kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, Viện kiểm
sát có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Yêu cầu Cơ quan điều tra, Tòa án, cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định giải quyết khiếu nại, ra
văn bản giải quyết tố cáo theo quy định tại Chương này;
b) Yêu cầu Cơ quan điều tra, Tòa án, cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tự kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố
cáo của cấp mình và cấp dưới; thông báo kết quả kiểm tra cho Viện kiểm sát;
c) Yêu cầu Cơ quan điều tra, Tòa án, cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến
việc giải quyết khiếu nại, tố cáo cho Viện kiểm sát;
d) Trực tiếp kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo tại
Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra, Tòa án cùng cấp và cấp dưới;
đ) Ban hành kết luận kiểm sát; thực hiện quyền kiến nghị,
kháng nghị, yêu cầu Cơ quan điều tra, Tòa án, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra khắc phục vi phạm trong việc giải quyết khiếu nại,
tố cáo.
3. Viện kiểm sát cấp trên có trách nhiệm thanh tra, kiểm
tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Viện kiểm sát cấp dưới. Viện kiểm sát
nhân dân tối cao thanh tra, kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Viện
kiểm sát các cấp.
Chương XXXIV
BẢO VỆ NGƯỜI
TỐ GIÁC TỘI PHẠM, NGƯỜI LÀM CHỨNG, BỊ HẠI VÀ NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG KHÁC
Điều 484. Người được bảo vệ
1.
Những người được bảo vệ gồm:
a)
Người tố giác tội phạm;
b)
Người làm chứng;
c)
Bị hại;
d)
Người thân thích của người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại.
2.
Người được bảo vệ có quyền:
a)
Đề nghị được bảo vệ;
b)
Được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ;
c)
Được biết về việc áp dụng biện pháp bảo vệ; đề nghị thay đổi, bổ sung, hủy bỏ
biện pháp bảo vệ;
d)
Được bồi thường thiệt hại, khôi phục danh dự, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp
pháp trong thời gian bảo vệ.
3.
Người được bảo vệ có nghĩa vụ:
a)
Chấp hành nghiêm chỉnh các yêu cầu của cơ quan bảo vệ liên quan đến việc bảo vệ;
b)
Giữ bí mật thông tin bảo vệ;
c)
Thông báo kịp thời đến cơ quan có trách nhiệm bảo vệ về những vấn đề nghi vấn
trong thời gian được bảo vệ.
Điều 485. Cơ quan, người có thẩm quyền quyết định áp dụng
biện pháp bảo vệ
1.
Cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ gồm:
a)
Cơ quan điều tra của Công an nhân dân;
b)
Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân.
2.
Người có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ gồm:
a)[236]
Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra của Công an nhân dân, Điều tra viên
thuộc trường hợp quy định tại khoản 1a Điều 37 của Bộ luật này
có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người được bảo vệ
trong các vụ việc, vụ án hình sự do cơ quan mình thụ lý, giải quyết, điều tra
hoặc theo đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân có thẩm quyền, đề
nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
b)
Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân có thẩm quyền
ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người được bảo vệ trong các vụ
việc, vụ án hình sự do cơ quan mình thụ lý, giải quyết, điều tra hoặc theo đề
nghị của Viện kiểm sát quân sự, Tòa án quân sự cùng cấp; đề nghị của Viện kiểm
sát quân sự trung ương.
3.
Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân các cấp nếu xét thấy cần áp dụng biện
pháp bảo vệ đối với người được bảo vệ thì đề nghị Cơ quan điều tra trực tiếp thụ
lý vụ án hình sự ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người được bảo
vệ. Đề nghị phải được thể hiện bằng văn bản.
Cơ
quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát
quân sự trung ương nếu xét thấy cần áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người được
bảo vệ trong vụ việc, vụ án hình sự do cơ quan mình thụ lý, giải quyết, điều
tra thì báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm
sát quân sự trung ương có văn bản đề nghị với Cơ quan Cảnh sát điều tra, Cơ
quan An ninh điều tra Bộ Công an, Cơ quan điều tra hình sự, Cơ quan An ninh điều
tra Bộ Quốc phòng ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ.
Điều 486. Các biện pháp bảo vệ
1.
Khi có căn cứ xác định tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người
được bảo vệ bị xâm hại hoặc bị đe dọa xâm hại do việc cung cấp chứng cứ, tài liệu,
thông tin liên quan đến tội phạm thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng quyết định áp dụng những biện pháp sau đây để bảo vệ họ:
a)
Bố trí lực lượng, tiến hành các biện pháp nghiệp vụ, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ
trợ và các phương tiện khác để canh gác, bảo vệ;
b)
Hạn chế việc đi lại, tiếp xúc của người được bảo vệ để bảo đảm an toàn cho họ;
c)
Giữ bí mật và yêu cầu người khác giữ bí mật các thông tin liên quan đến người
được bảo vệ;
d)
Di chuyển, giữ bí mật chỗ ở, nơi làm việc, học tập; thay đổi tung tích, lý lịch,
đặc điểm nhân dạng của người được bảo vệ, nếu được họ đồng ý;
đ)
Răn đe, cảnh cáo, vô hiệu hóa các hành vi xâm hại người được bảo vệ; ngăn chặn,
xử lý kịp thời các hành vi xâm hại theo quy định của pháp luật;
e)
Các biện pháp bảo vệ khác theo quy định của pháp luật.
2.
Việc áp dụng, thay đổi các biện pháp bảo vệ quy định tại khoản 1 Điều này
không được làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được bảo vệ.
Điều 487. Đề nghị, yêu cầu áp dụng các biện pháp bảo vệ
1.
Người được bảo vệ có quyền làm văn bản đề nghị, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền
áp dụng biện pháp bảo vệ. Văn bản đề nghị, yêu cầu có các nội dung chính:
a)
Ngày, tháng, năm;
b)
Tên, địa chỉ của người đề nghị;
c)
Lý do và nội dung đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ;
d)
Chữ ký hoặc điểm chỉ của người đề nghị. Trường hợp đề nghị của cơ quan, tổ chức
thì người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức đó ký tên và đóng dấu.
2.
Trường hợp khẩn cấp, người được bảo vệ trực tiếp đề nghị cơ quan, người có thẩm
quyền áp dụng biện pháp bảo vệ hoặc thông qua phương tiện thông tin liên lạc
nhưng sau đó phải thể hiện bằng văn bản đề nghị. Cơ quan, người có thẩm quyền
nhận được đề nghị, yêu cầu phải lập biên bản và đưa vào hồ sơ bảo vệ.
3.[237]
Khi tiến hành tố tụng đối với vụ việc, vụ án, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án nhận được đề nghị, yêu cầu
áp dụng biện pháp bảo vệ có trách nhiệm xem xét, đề nghị Cơ quan điều tra cùng
cấp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ. Trường hợp Viện kiểm sát nhân
dân khu vực, Tòa án nhân dân khu vực nhận được đề nghị, yêu cầu bảo vệ thì đề
nghị Cơ quan điều tra cấp tỉnh xem xét, quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ.
4.
Cơ quan điều tra phải kiểm tra căn cứ, tính xác thực của đề nghị, yêu cầu bảo vệ.
Trường hợp xét thấy không cần thiết áp dụng biện pháp bảo vệ thì phải giải
thích rõ lý do cho người đã yêu cầu, đề nghị biết.
Điều 488. Quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ
1.
Quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ gồm các nội dung chính:
a)
Số, ngày, tháng, năm; địa điểm ra quyết định;
b)
Chức vụ của người ra quyết định;
c)
Căn cứ ra quyết định;
d)
Họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người được bảo vệ;
đ)
Biện pháp bảo vệ và thời gian bắt đầu thực hiện biện pháp bảo vệ.
2.
Quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ được gửi cho người yêu cầu bảo vệ,
người được bảo vệ, Viện kiểm sát, Tòa án đã đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ
và cơ quan, tổ chức, đơn vị liên quan đến việc bảo vệ.
3.
Sau khi ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ, Cơ quan điều tra có thẩm quyền
áp dụng phải tổ chức thực hiện ngay biện pháp bảo vệ. Trường hợp cần thiết có
thể phối hợp với các cơ quan, đơn vị trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân
để thực hiện việc bảo vệ.
4.
Cơ quan điều tra đã ra quyết định áp dụng có thể thay đổi, bổ sung biện pháp bảo
vệ trong quá trình bảo vệ nếu xét thấy cần thiết.
5.
Thời gian bảo vệ được tính từ khi áp dụng biện pháp bảo vệ cho đến khi có quyết
định chấm dứt áp dụng biện pháp bảo vệ.
Điều 489. Chấm dứt việc bảo vệ
1.
Khi xét thấy căn cứ xâm hại hoặc đe dọa xâm hại tính mạng, sức khỏe, tài sản,
danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ không còn, Thủ trưởng Cơ quan điều tra
đã quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ phải ra quyết định chấm dứt áp dụng biện
pháp bảo vệ.
2.
Quyết định chấm dứt áp dụng các biện pháp bảo vệ phải được gửi cho người được bảo
vệ, cơ quan đã đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ và cơ quan, tổ chức, đơn vị
liên quan đến việc bảo vệ.
Điều 490. Hồ sơ bảo vệ
1.
Cơ quan điều tra đã ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ phải lập hồ sơ bảo
vệ.
2.
Hồ sơ bảo vệ gồm:
a)
Văn bản đề nghị, yêu cầu áp dụng biện pháp bảo vệ; biên bản về việc đề nghị,
yêu cầu áp dụng biện pháp bảo vệ;
b)
Kết quả xác minh về hành vi xâm hại hoặc đe dọa xâm hại tính mạng, sức khỏe,
tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ;
c)
Tài liệu về hậu quả thiệt hại đã xảy ra (nếu có) và việc xử lý của cơ quan
có thẩm quyền;
d)
Văn bản yêu cầu, đề nghị thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp bảo vệ;
đ)
Quyết định áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp bảo vệ;
e)
Tài liệu phản ánh diễn biến quá trình áp dụng biện pháp bảo vệ;
g)
Văn bản yêu cầu, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân phối hợp bảo vệ;
h)
Báo cáo kết quả thực hiện biện pháp bảo vệ;
i)
Quyết định chấm dứt biện pháp bảo vệ;
k)
Các văn bản, tài liệu khác có liên quan đến việc bảo vệ.
Phần thứ tám
HỢP TÁC QUỐC
TẾ
Chương XXXV
NHỮNG QUY ĐỊNH
CHUNG
Điều 491. Phạm vi hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự
1.
Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự là việc các cơ quan có thẩm quyền của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các cơ quan có thẩm quyền của nước
ngoài phối hợp, hỗ trợ nhau để thực hiện hoạt động phục vụ yêu cầu điều tra,
truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
2.
Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự gồm tương trợ tư pháp về hình sự; dẫn độ;
tiếp nhận, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và các hoạt động hợp tác
quốc tế khác được quy định tại Bộ luật này, pháp luật về tương trợ tư pháp và điều
ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
3.
Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam được thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại, theo
quy định của Bộ luật này, pháp luật về tương trợ tư pháp và quy định khác của
pháp luật Việt Nam có liên quan.
Điều 492. Nguyên tắc hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự
1.
Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự được thực hiện trên nguyên tắc tôn trọng
độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, không can thiệp vào công việc nội
bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật của Việt
Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2.
Trường hợp Việt Nam chưa ký kết hoặc chưa gia nhập điều ước quốc tế có liên
quan thì việc hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự được thực hiện theo nguyên
tắc có đi có lại nhưng không trái pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật quốc
tế và tập quán quốc tế.
Điều 493. Cơ quan trung ương trong hợp tác quốc tế về tố tụng
hình sự
1.
Bộ Công an là Cơ quan trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
trong hoạt động dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
2.
Viện kiểm sát nhân dân tối cao là Cơ quan trung ương của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam trong hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự và những hoạt động
hợp tác quốc tế khác theo quy định của pháp luật.
Điều 494. Giá trị pháp lý của tài liệu, đồ vật thu thập được
qua hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự
Tài
liệu, đồ vật do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thu thập theo ủy thác tư
pháp của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc tài liệu, đồ vật do cơ quan có
thẩm quyền của nước ngoài gửi đến Việt Nam để ủy thác truy cứu trách nhiệm hình
sự có thể được coi là chứng cứ. Trường hợp tài liệu, đồ vật này có đặc điểm quy
định tại Điều 89 của Bộ luật này thì có thể được coi là vật
chứng.
Điều 495. Việc tiến hành tố tụng của người có thẩm quyền của Việt
Nam ở nước ngoài và người có thẩm quyền của nước ngoài ở Việt Nam
Việc
tiến hành tố tụng của người có thẩm quyền của Việt Nam ở nước ngoài và người có
thẩm quyền của nước ngoài ở Việt Nam được thực hiện theo quy định của điều ước
quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc thực hiện theo
nguyên tắc có đi có lại.
Điều 496. Sự có mặt của người làm chứng, người giám định,
người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam ở nước ngoài; người làm chứng, người
giám định, người đang bị tạm giam,[238] người đang
chấp hành án phạt tù tại nước ngoài ở Việt Nam
1.
Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nước
ngoài cho người làm chứng, người giám định, người đang bị tạm giam,[239]
người đang chấp hành án phạt tù tại nước được đề nghị có mặt ở Việt Nam để phục
vụ việc giải quyết vụ án hình sự.
2.
Theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền của Việt
Nam có thể cho phép người làm chứng, người giám định, người đang bị tạm giam,[240]
người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam có mặt ở nước đã đề nghị để phục vụ
việc giải quyết vụ án hình sự.
Chương XXXVI
MỘT SỐ HOẠT
ĐỘNG HỢP TÁC QUỐC TẾ
Điều 497. Việc tiếp nhận, chuyển giao tài liệu, đồ vật liên quan đến
vụ án
Việc
tiếp nhận, chuyển giao tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án được thực hiện
theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên, quy định của Bộ luật này, pháp luật về tương trợ tư pháp và quy định
khác của pháp luật Việt Nam có liên quan.
Điều 498. Xử lý trường hợp từ chối dẫn độ công dân Việt Nam
Theo
yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền của Việt
Nam có trách nhiệm xem xét để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc cho thi hành bản
án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam bị từ chối
dẫn độ.
Điều 499. Trình tự, thủ tục xem xét, xử lý yêu cầu truy cứu
trách nhiệm hình sự đối với công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ
1.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định từ chối dẫn độ công dân Việt Nam
theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, Tòa án đã ra quyết định
từ chối dẫn độ chuyển hồ sơ và các tài liệu kèm theo của nước ngoài đến Viện kiểm
sát nhân dân tối cao để xem xét việc truy cứu trách nhiệm hình sự.
2.
Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét, xử lý yêu cầu của nước ngoài về truy cứu
trách nhiệm hình sự công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ theo quy định của luật.
3.
Việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với người bị yêu cầu truy cứu
trách nhiệm hình sự được tiến hành theo quy định của Bộ luật này.
4.
Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của
nước ngoài cung cấp, bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật để bảo đảm việc điều
tra, truy tố, xét xử có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 500. Điều kiện cho thi hành bản án, quyết định hình sự
của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ
Bản
án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam bị từ chối
dẫn độ có thể được thi hành tại Việt Nam khi có đủ các điều kiện:
1.
Có văn bản yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về việc thi hành bản
án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam bị từ chối
dẫn độ;
2.
Hành vi phạm tội mà công dân Việt Nam bị kết án ở nước ngoài cũng cấu thành tội
phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
3.
Bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam đã
có hiệu lực pháp luật và không còn thủ tục tố tụng nào đối với người đó.
Điều 501. Trình tự, thủ tục xem xét yêu cầu thi hành bản
án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam bị từ chối
dẫn độ
1.[241]
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của
nước ngoài về việc thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối
với công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ, Tòa án nhân dân khu vực đã ra quyết định
từ chối dẫn độ xem xét yêu cầu của nước ngoài.
2.
Tòa án có thẩm quyền mở phiên họp bằng Hội đồng gồm ba Thẩm phán để xem xét yêu
cầu thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với công dân
Việt Nam bị từ chối dẫn độ. Phiên họp phải có mặt của Kiểm sát viên Viện kiểm
sát cùng cấp, người bị yêu cầu thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án
nước ngoài, luật sư hoặc người đại diện của họ (nếu có).
3.
Sau khi khai mạc phiên họp, một thành viên của Hội đồng trình bày những vấn đề
liên quan đến yêu cầu thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài
đối với công dân Việt Nam và nêu ý kiến về cơ sở pháp lý của việc cho thi hành
bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam tại
Việt Nam.
Kiểm
sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc cho thi hành bản án, quyết
định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam tại Việt Nam.
Người
bị yêu cầu thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài, luật sư,
người đại diện của người này trình bày ý kiến (nếu có).
Hội
đồng thảo luận và quyết định theo đa số việc cho thi hành hoặc không cho thi
hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với người bị yêu cầu.
4.
Quyết định cho thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với
công dân Việt Nam tại Việt Nam phải ghi rõ thời hạn mà người đó phải thi hành
án phạt tù tại Việt Nam trên cơ sở xem xét, quyết định:
a)
Trường hợp thời hạn của hình phạt do nước ngoài đã tuyên phù hợp với pháp luật
Việt Nam thì thời hạn phải thi hành án tại Việt Nam được quyết định tương ứng với
thời hạn đó;
b)
Trường hợp tính chất hoặc thời hạn của hình phạt do Tòa án nước ngoài đã tuyên
không phù hợp pháp luật Việt Nam thì quyết định chuyển đổi hình phạt cho phù hợp
với pháp luật Việt Nam nhưng không được dài hơn hình phạt đã tuyên của Tòa án
nước ngoài.
5.[242]
Chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày ra quyết định cho thi hành hoặc không cho thi
hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài, Tòa án nhân dân khu vực
gửi quyết định cho người bị yêu cầu thi hành, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp,
Bộ Công an để thực hiện.
Người
bị yêu cầu thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài có quyền
kháng cáo, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn
15 ngày, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền
kháng nghị trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Tòa án nhân dân khu vực ra quyết
định.
Tòa
án nhân dân khu vực phải gửi hồ sơ và kháng cáo, kháng nghị cho Tòa án nhân dân
cấp tỉnh trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6.[243]
Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ xem xét yêu cầu thi hành bản
án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài có kháng cáo, kháng nghị, Tòa án
nhân dân cấp tỉnh mở phiên họp xem xét quyết định của Tòa án nhân dân khu vực bị
kháng cáo, kháng nghị.
Thủ
tục xem xét kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định của Tòa án nhân dân khu vực
được thực hiện theo quy định tại Điều này.
7.[244]
Quyết định thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với
công dân Việt Nam tại Việt Nam có hiệu lực pháp luật gồm:
a)
Quyết định của Tòa án nhân dân khu vực không bị kháng cáo, kháng nghị;
b)
Quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
8.
Trình tự, thủ tục thi hành quyết định thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước
ngoài đối với công dân Việt Nam tại Việt Nam được thực hiện theo quy định Bộ luật
này và Luật Thi hành án hình sự.
9.
Khi nhận được thông báo về quyết định đặc xá, đại xá hoặc miễn, giảm hình phạt
của nước ngoài đối với công dân Việt Nam phạm tội ở nước ngoài bị Việt
Nam từ chối dẫn độ và người đó đang thi hành án tại Việt Nam thì Bộ Công
an gửi ngay thông báo đó cho Tòa án, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét,
quyết định.
Điều 502. Các biện pháp ngăn chặn, căn cứ và thẩm quyền áp
dụng biện pháp ngăn chặn
1.
Các biện pháp ngăn chặn để bảo đảm cho việc xem xét yêu cầu dẫn độ hoặc thi
hành quyết định dẫn độ gồm bắt, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, đặt tiền để bảo
đảm, tạm hoãn xuất cảnh.
2.
Biện pháp ngăn chặn chỉ được áp dụng đối với người bị xem xét yêu cầu dẫn độ hoặc
bị dẫn độ khi có đủ các điều kiện:
a)
Tòa án đã có quyết định xem xét yêu cầu dẫn độ đối với người đó hoặc quyết định
dẫn độ đối với người đó đã có hiệu lực pháp luật;
b)
Có căn cứ cho rằng người bị yêu cầu dẫn độ bỏ trốn hoặc gây khó khăn, cản trở
việc xem xét yêu cầu dẫn độ hoặc thi hành quyết định dẫn độ.
3.[245]
Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân khu vực, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân
dân cấp tỉnh quyết định việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn quy định tại khoản
1 Điều này. Thẩm phán chủ tọa phiên họp xem xét yêu cầu dẫn độ có quyền quyết định
việc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, biện pháp đặt tiền để bảo đảm sự
có mặt của người bị yêu cầu dẫn độ tại phiên họp.
Điều 503. Bắt tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ
1.
Việc bắt người bị yêu cầu dẫn độ để tạm giam hoặc thi hành quyết định dẫn độ
được thực hiện theo quy định tại Điều 113 của Bộ luật này.
2.[246]
Thời hạn tạm giam để xem xét yêu cầu dẫn độ không quá thời hạn trong lệnh bắt
giam của cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu dẫn độ hoặc thời hạn phải thi
hành hoặc còn phải thi hành hình phạt tù trong bản án, quyết định hình sự của
Tòa án nước yêu cầu dẫn độ.
Trường
hợp cần thiết, Tòa án nhân dân khu vực, Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thể gửi văn
bản yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu dẫn độ ra lệnh, quyết định
tạm giam hoặc gia hạn tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ để bảo đảm việc xem xét
yêu cầu dẫn độ; văn bản yêu cầu được gửi thông qua Bộ Công an.
Điều 504. Cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh
1.
Cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn có thể áp dụng đối với người bị
yêu cầu dẫn độ có nơi cư trú rõ ràng nhằm bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy
triệu tập của Tòa án.
Việc
áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú được thực hiện theo quy định tại Điều 123 của Bộ luật này.
Thời
hạn áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú không được quá thời hạn bảo đảm việc
xem xét yêu cầu dẫn độ và thời hạn xem xét kháng cáo, kháng nghị đối với quyết
định dẫn độ hoặc quyết định từ chối dẫn độ theo quy định của pháp luật về
tương trợ tư pháp.
2.
Tạm hoãn xuất cảnh là biện pháp ngăn chặn có thể áp dụng đối với người
bị yêu cầu dẫn độ nhằm bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của Tòa án.
Việc
áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh được thực hiện theo quy định tại Điều 124 của Bộ luật này.
Thời
hạn áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh không được quá thời hạn bảo đảm việc
xem xét yêu cầu dẫn độ và thời hạn xem xét kháng cáo, kháng nghị đối với quyết
định dẫn độ hoặc quyết định từ chối dẫn độ theo quy định của pháp luật về
tương trợ tư pháp.
Điều 505. Đặt tiền để bảo đảm
1.
Đặt tiền để bảo đảm là biện pháp ngăn chặn có thể áp dụng đối với người bị yêu
cầu dẫn độ căn cứ vào tình trạng tài sản của người đó nhằm bảo đảm sự có mặt của
họ theo giấy triệu tập của Tòa án.
2.
Việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm thực hiện theo quy định tại Điều 122 của Bộ luật này.
3.
Thời hạn áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm không được quá thời hạn bảo đảm
việc xem xét yêu cầu dẫn độ và thời hạn xem xét kháng cáo, kháng nghị đối với
quyết định dẫn độ hoặc quyết định từ chối dẫn độ theo quy định của pháp luật về
tương trợ tư pháp.
Điều 506. Hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn
1.
Khi Tòa án có thẩm quyền quyết định từ chối dẫn độ hoặc hết thời hạn 15 ngày kể
từ ngày quyết định thi hành quyết định dẫn độ có hiệu lực mà nước yêu cầu dẫn độ
không tiếp nhận người bị dẫn độ thì mọi biện pháp ngăn chặn đã áp dụng đều phải
được hủy bỏ.
2.
Người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn quy định tại Điều
502 của Bộ luật này phải kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi biện pháp ngăn chặn
do mình quyết định nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết.
Điều 506a. Giữ người trong trường hợp khẩn cấp trước khi có
yêu cầu dẫn độ[247]
Việc
giữ người trong trường hợp khẩn cấp trước khi có yêu cầu dẫn độ của cơ quan có
thẩm quyền của nước ngoài được thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và pháp luật về dẫn độ.
Điều 507. Xử lý tài sản do phạm tội mà có
1.
Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hợp tác với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài
trong việc truy tìm, tạm giữ, kê biên, phong tỏa, tịch thu, xử lý tài sản do phạm
tội mà có để phục vụ yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
2.
Việc truy tìm, tạm giữ, kê biên, phong tỏa, tịch thu tài sản do phạm tội mà có
tại Việt Nam được thực hiện theo quy định của Bộ luật này và quy định khác của
pháp luật Việt Nam có liên quan.
3.
Việc xử lý tài sản do phạm tội mà có tại Việt Nam thực hiện theo quy định của điều
ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo thoả
thuận trong từng vụ việc cụ thể giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và cơ
quan có thẩm quyền của nước ngoài có liên quan.
Điều 508. Phối hợp điều tra, áp dụng biện pháp điều tra tố
tụng đặc biệt
1.
Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có thể hợp tác với cơ quan có thẩm quyền của
nước ngoài trong việc phối hợp điều tra hoặc áp dụng các biện pháp điều tra tố
tụng đặc biệt. Việc hợp tác phối hợp điều tra hoặc áp dụng các biện pháp điều
tra tố tụng đặc biệt được thực hiện trên cơ sở điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo thoả thuận trong từng vụ việc cụ
thể giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và cơ quan có thẩm quyền của nước
ngoài có liên quan.
2.
Các hoạt động phối hợp điều tra thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam được thực hiện theo quy định của Bộ luật này và quy định khác của
pháp luật Việt Nam có liên quan.
Phần thứ chín
ĐIỀU KHOẢN
THI HÀNH[248]
Điều 509. Hiệu lực thi hành
1.
Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2016.
2.
Bộ luật Tố tụng hình sự số 19/2003/QH11 hết hiệu lực kể từ ngày Bộ luật này có
hiệu lực.
3.
Bãi bỏ quy định về việc cấp giấy chứng nhận người bào chữa tại khoản
3 và khoản 4 Điều 27 của Luật Luật sư số 65/2006/QH11 đã được sửa đổi, bổ
sung một số điều theo Luật số 20/2012/QH13.
Điều 510. Quy định chi tiết
Chính
phủ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết
các điều, khoản được giao trong Bộ luật này.
|
|
XÁC THỰC VĂN BẢN HỢP NHẤT
CHỦ NHIỆM
Lê Quang Mạnh
|
[1] Luật số 02/2021/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến
pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội
ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự số
101/2015/QH13.”.
Luật Tổ chức
Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến
pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội
ban hành Luật Tổ chức Tòa án nhân dân.”.
Luật Tư pháp
người chưa thành niên số 59/2024/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến
pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội
ban hành Luật Tư pháp người chưa thành niên.”.
Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự có căn cứ
ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo
Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban
hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 02/2021/QH15, Luật số 34/2024/QH15 và Luật số 59/2024/QH15.”.
Luật Tương trợ Tư pháp về
hình sự số 103/2025/QH15 có căn cứ ban hành như sau:“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị
quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật
Tương trợ tư pháp về hình sự.”.
Luật Giám định tư pháp số
105/2025/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo
Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật
Giám định tư pháp.”.
Luật Thi hành án dân sự số
106/2025/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo
Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật
Thi hành án dân sự.”.
Luật Thi hành tạm giữ, tạm
giam và cấm đi khỏi nơi cư trú số 128/2025/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã
được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban
hành Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú.”.
[2] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định
tại điểm a khoản 1 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[3] Điểm này được bãi bỏ theo quy định tại điểm
c khoản 1 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[4] Cụm
từ “thành phố trực thuộc Trung
ương” được thay thế bằng cụm từ “thành phố” theo
quy định tại khoản 68 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[5] Điểm này được bãi bỏ theo quy định tại điểm
c khoản 1 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[6] Cụm
từ “thành phố trực thuộc Trung
ương” được thay thế bằng cụm từ “thành phố” theo
quy định tại khoản 68 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[7] Điểm này được bãi bỏ theo quy định tại điểm
c khoản 1 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[8] Cụm
từ “thành phố trực thuộc Trung
ương” được thay thế bằng cụm từ “thành phố” theo
quy định tại khoản 68 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[9] Điểm này được bổ sung theo quy định tại điểm
b khoản 1 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[10] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định
tại điểm a khoản 2 Điều 177 của Luật Tư pháp người chưa thành niên số
59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[11] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[12] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[13] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[14] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[15] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[16] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[17] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[18] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[19]
Cụm từ “quyết định giao người
dưới 18 tuổi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm giám sát; quyết
định thay đổi người giám sát người dưới 18 tuổi phạm tội;” được bỏ theo quy
định tại điểm b khoản 2 Điều 177 của Luật Tư pháp người chưa thành niên số
59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[20] Khoản
này được bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật
Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[21] Điểm
này được bãi bỏ theo quy định tại điểm
c khoản 2 Điều 177 của Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[22] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[23] Khoản
này được bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật
Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[24]
Cụm từ “quyết định giao người
dưới 18 tuổi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm giám sát; quyết
định thay đổi người giám sát người dưới 18 tuổi phạm tội;” được bỏ theo quy
định tại điểm b khoản 2 Điều 177 của Luật Tư pháp người chưa thành niên số
59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[25] Khoản
này được bổ sung theo quy định tại khoản 7 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật
Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[26] Khoản
này này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 8 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[27] Khoản
này này được bổ sung theo quy định tại khoản 8 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[28]
Cụm từ “thay đổi người giám sát người
dưới 18 tuổi phạm tội;” được bỏ theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 177 của
Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2026.
[29] Khoản
này này được bổ sung theo quy định tại khoản 9 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[30] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 10 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[31]
Cụm từ “chính quyền địa phương” được
thay thế bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân” theo
quy định tại khoản 60 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[32] Điểm này được sửa đổi, bổ sung
theo quy định tại khoản 1 Điều 114 của Luật Thi hành án dân sự số
106/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[33] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 11 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[34] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 11 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[35] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 11 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[36] Cụm từ “Công an xã, phường, thị trấn” được thay
thế bằng cụm từ “Công an cấp xã” theo quy định tại khoản 56 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[37] Cụm từ “Công an xã, phường, thị trấn” được thay
thế bằng cụm từ “Công an cấp xã” theo quy định tại khoản 56 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[38] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 12 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[39]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị
trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[40]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị
trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[41] Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ
“Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[42] Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ
“Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[43]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị
trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[44]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị
trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[45] Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp hoặc” được bỏ theo quy định tại khoản 69 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[46] Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp hoặc” được bỏ theo quy định tại khoản 69 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[47]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được
thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[48]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị
trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[49]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị
trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[50]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị
trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[51]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được
thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[52]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được
thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[53] Khoản này được sửa đổi, bổ sung
theo quy định tại khoản 1 Điều 73 của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi
khỏi nơi cư trú số 128/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[54] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 73 của Luật Thi hành tạm
giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú số 128/2025/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[55]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị
trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[56]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được
thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[57]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được
thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[58]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị
trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[59]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị
trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[60]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được
thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[61]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được
thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[62]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được
thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[63] Khoản
này được bổ sung theo quy định tại khoản 13 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật
Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[64] Khoản
này được bổ sung theo quy định tại khoản 14 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật
Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[65]
Cụm từ “, Trưởng phân trại thuộc trại
tạm giam” được bổ sung vào sau cụm từ “Trưởng Nhà tạm giữ” theo quy định tại khoản
55 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật
Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[66]
Tên Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 15 Điều 1 của
Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[67] Khoản này được bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 15 Điều 1 của
Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[68] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại Điều 43 của Luật Giám định tư pháp
số 105/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 5 năm 2026.
[69] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 16 Điều 1
của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[70]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị
trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[71]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị
trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[72]
Cụm từ “Ủy ban nhân dân xã, phường,
thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 61 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[73] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 17 Điều 1
của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[74] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều 1 của Luật số 02/2021/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2021.
[75] Cụm từ “Công an xã, phường, thị trấn” được thay
thế bằng cụm từ “Công an cấp xã” theo quy định tại khoản 56 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[76] Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp hoặc” được bỏ theo quy định tại khoản 69 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[77] Cụm từ “Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc”
được bỏ theo quy định tại khoản 70 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[78] Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp hoặc” được bỏ theo quy định tại khoản 69 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[79] Điểm này được sửa đổi, bổ sung
theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 40 của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự
số 103/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[80] Điểm
này được bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 1 của Luật số 02/2021/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật
Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2021.
[81] Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp hoặc” được bỏ theo quy định tại khoản 69 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[82] Khoản này được sửa đổi, bổ sung
theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 40 của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự
số 103/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[83] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 18 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[84] Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp hoặc” được bỏ theo quy định tại khoản 69 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[85] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 19 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[86]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được
thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[87] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 150 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025.
[88] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 150 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025.
[89] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1
của Luật số 02/2021/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
12 năm 2021.
[90] Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp hoặc” được bỏ theo quy định tại khoản 69 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[91] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 1
của Luật số 02/2021/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
12 năm 2021.
[92] Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp hoặc” được bỏ theo quy định tại khoản 69 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[93] Điểm
này được bãi bỏ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 150 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025.
[94] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 20 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[95] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 20 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[96]
Cụm từ “thành phố trực thuộc Trung
ương” được thay thế bằng cụm từ “thành phố” theo
quy định tại khoản 68 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[97]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được
thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[98]
Cụm từ “thành phố trực thuộc Trung
ương” được thay thế bằng cụm từ “thành phố” theo
quy định tại khoản 68 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[99]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được
thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[100]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 21 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[101]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 21 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[102]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 22 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[103]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 22 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[104]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 22 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[105]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 23 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[106]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được
thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[107]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được
thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[108]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị
trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[109]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị
trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[110]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị
trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[111] Cụm từ “Luật
Tương trợ tư pháp” được thay thế bằng cụm từ “Luật Tương trợ tư pháp về hình sự”
theo quy định tại điểm e khoản 1 điều 40 của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự
số 103/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[112]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[113]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[114]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[115]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 24 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[116]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[117]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị
trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[118]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị
trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[119]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị
trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[120]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị
trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[121]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[122]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[123]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị
trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[124]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[125]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[126]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[127]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị
trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[128]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[129]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 25 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[130]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 26 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[131] Điểm này được sửa đổi, bổ sung
theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 40 của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự
số 103/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[132] Điểm này được bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 1 của Luật số 02/2021/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2021.
[133]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[134] Cụm từ “hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16
hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 của Bộ luật Hình sự” được thay bằng
cụm từ “hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 của Bộ luật
Hình sự hoặc người chưa thành niên được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng
theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên” theo quy định tại điểm đ khoản
2 Điều 177 của Luật Tư pháp người chưa thành niên, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2026.
[135]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[136]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[137]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[138]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 27 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[139]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[140]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[141]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 28 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[142]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 29 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[143] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều
40 của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự số 103/2025/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[144] Điểm này được bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 1 của Luật số 02/2021/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2021.
[145] Cụm từ “hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16
hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 của Bộ luật Hình sự” được thay bằng
cụm từ “hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 của Bộ luật
Hình sự hoặc người chưa thành niên được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng
theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên” theo quy định tại điểm đ khoản
2 Điều 177 của Luật Tư pháp người chưa thành niên, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2026.
[146]
Cụm từ “Cơ quan điều tra cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Cơ quan điều tra có thẩm quyền”
theo quy định tại khoản 67 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[147]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị
trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[148]
Cụm từ “Ủy ban nhân dân xã, phường,
thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 61 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[149]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[150] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 31 Điều
1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng
hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[151] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 32 Điều
1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng
hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[152]
Cụm từ “thành phố trực thuộc Trung
ương” được thay thế bằng cụm từ “thành phố” theo
quy định tại khoản 68 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[153]
Cụm từ “Tòa án nhân dân cấp huyện”
được thay thế bằng cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực” theo quy định tại khoản 62 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[154]
Cụm từ “thành phố trực thuộc Trung
ương” được thay thế bằng cụm từ “thành phố” theo
quy định tại khoản 68 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[155]
Cụm từ “Tòa án nhân dân cấp huyện”
được thay thế bằng cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực” theo quy định tại khoản 62 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[156]
Cụm từ “thành phố trực thuộc Trung
ương” được thay thế bằng cụm từ “thành phố” theo
quy định tại khoản 68 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[157] Cụm từ “hoặc người chưa thành niên được áp dụng
biện pháp xử lý chuyển hướng theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành
niên” được bổ sung theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 177 của Luật Tư pháp
người chưa thành niên số 59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm
2026.
[158]
Cụm từ “hoặc khoản 2 Điều 91” được
bỏ theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 177 của Luật Tư pháp người chưa thành
niên số 59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[159]
Cụm từ “Ủy ban nhân dân xã, phường,
thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 61 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[160]
Cụm từ “khỏi bệnh” được thay thế bằng
cụm từ “có kết luận khỏi bệnh hoặc có kết luận đủ khả năng nhận thức, đủ khả năng điều khiển hành vi” theo quy định
tại khoản 63 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[161] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 33 Điều
1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng
hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[162]
Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 150 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025.
[163] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy
định tại điểm h khoản 2 Điều 177 của Luật Tư pháp người chưa thành niên số
59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[164]
Cụm từ “, Trưởng phân trại thuộc trại
tạm giam” được bổ sung vào sau cụm từ “Trưởng Nhà tạm giữ” theo quy định tại khoản
55 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật
Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[165]
Cụm từ “, Trưởng phân trại thuộc trại
tạm giam” được bổ sung vào sau cụm từ “Trưởng Nhà tạm giữ” theo quy định tại khoản
55 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật
Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[166]
Cụm từ “, Trưởng phân trại thuộc trại
tạm giam” được bổ sung vào sau cụm từ “Trưởng Nhà tạm giữ” theo quy định tại khoản
55 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật
Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[167]
Cụm từ “, Trưởng phân trại thuộc trại
tạm giam” được bổ sung vào sau cụm từ “Trưởng Nhà tạm giữ” theo quy định tại khoản
55 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật
Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[168]
Cụm từ “Viện kiểm sát nhân dân cấp
cao” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát nhân dân tối cao” theo quy định tại khoản 58 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[169]
Cụm từ “Viện kiểm sát nhân dân cấp
cao” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát nhân dân tối cao” theo quy định tại khoản 58 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[170] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 34 Điều
1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng
hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[171]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 34 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[172]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 35 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[173]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 35 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[174]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 36 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[175]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 36 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[176]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 37 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[177]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 37 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[178] Cụm từ “cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
huyện” được thay thế bằng cụm từ “cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh”
theo quy định tại khoản 64 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[179] Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản
38 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố
tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[180] Khoản này được bổ sung theo quy
định tại điểm b khoản 38 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[181] Cụm từ “cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp huyện” được thay thế bằng cụm từ “cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh” theo quy định tại khoản 64 Điều 1
của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[182]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị
trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[183] Cụm từ “cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
huyện” được thay thế bằng cụm từ “cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh”
theo quy định tại khoản 64 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[184]
Cụm từ “cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp huyện” được thay thế bằng cụm từ “cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp tỉnh” theo quy định tại khoản 64 Điều 1
của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[185]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị
trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[186]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị
trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[187] Khoản này được sửa đổi, bổ sung
theo quy định tại khoản 39 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[188] Khoản này được sửa đổi, bổ sung
theo quy định tại điểm a khoản 40 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật
Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[189] Khoản này được sửa đổi, bổ sung
theo quy định tại điểm b khoản 40 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật
Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[190]
Cụm từ “cấp cao” được thay thế bằng
cụm từ “cấp tỉnh” theo quy định tại khoản 66 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[191]
Cụm từ “cấp cao” được thay thế bằng
cụm từ “cấp tỉnh” theo quy định tại khoản 66 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[192]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 41 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[193]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị
trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[194]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 42 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[195]
Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của Quốc hội”
được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[196]
Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của Quốc hội”
được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[197]
Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của Quốc hội”
được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[198]
Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của Quốc hội”
được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[199]
Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của Quốc hội”
được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[200]
Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của Quốc hội”
được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[201]
Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của Quốc hội”
được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[202]
Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của Quốc hội”
được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[203]
Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của Quốc hội”
được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[204]
Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của Quốc hội”
được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[205]
Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của Quốc hội”
được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[206]
Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của Quốc hội”
được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[207]
Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của Quốc hội”
được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[208]
Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của Quốc hội”
được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[209] Chương này gồm các điều 413, 414, 415, 416,
417, 418, 419, 420, 421, 422, 423, 424, 425, 426, 427, 428, 429 và 430 được bãi
bỏ theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 177 của Luật Tư pháp chưa thành niên số
59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[210]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị
trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[211]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[212]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[213]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị
trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[214] Khoản này được sửa đổi, bổ sung
theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 40 của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự
số 103/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[215]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[216]
Cụm từ “Tòa án nhân dân cấp tỉnh”
được thay thế bằng cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực” theo quy định tại khoản 62 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[217]
Cụm từ “Tòa án nhân dân cấp tỉnh”
được thay thế bằng cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực” theo quy định tại khoản 62 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[218]
Cụm từ “khỏi bệnh” được thay thế bằng
cụm từ “có kết luận khỏi bệnh hoặc có kết luận đủ khả năng nhận thức, đủ khả năng điều khiển hành vi” theo quy định
tại khoản 63 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[219] Cụm từ “cơ sở bắt buộc chữa bệnh tâm thần” được
thay thế bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh” theo quy định tại khoản 63 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[220]
Cụm từ “cơ sở bắt buộc chữa bệnh
tâm thần” được thay thế bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh” theo quy định tại khoản 63 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[221]
Cụm từ “hoặc có đủ khả năng nhận thức,
đủ khả năng điều khiển hành vi” được bổ sung vào sau cụm từ “đã khỏi bệnh” theo
quy định tại khoản 55 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[222]
Cụm từ “hoặc có đủ khả năng nhận thức,
đủ khả năng điều khiển hành vi” được bổ sung vào sau cụm từ “đã khỏi bệnh” theo
quy định tại khoản 55 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[223] Cụm từ “cơ sở bắt buộc chữa bệnh” được thay thế
bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh, chữa bệnh” theo
quy định tại khoản 63 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[224]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[225]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 150 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025.
[226] Cụm từ “và quyết định tố tụng quy định tại
chương VII và chương VIII của Luật Tư pháp người chưa thành niên” được bổ sung
theo quy định tại điểm k khoản 2 Điều 177 của Luật Tư pháp người chưa thành
niên số 59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[227] Cụm từ “và hành vi tố tụng quy định tại chương
VII và chương VIII của Luật Tư pháp người chưa thành niên” được bổ sung theo
quy định tại điểm l khoản 2 Điều 177 của Luật Tư pháp người chưa thành niên số
59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[228]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 43 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[229]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 43 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[230]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 44 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[231]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 45 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[232]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 46 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[233]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 47 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[234] Cụm từ “Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc”
được bỏ theo quy định tại khoản 70 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[235]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 48 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[236]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 49 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[237]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 50 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[238] Cụm từ “người đang
bị tạm giam,” được bổ sung theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 40 của Luật
Tương trợ tư pháp về hình sự số 103/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2026.
[239] Cụm từ “người
đang bị tạm giam,” được bổ sung theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 40 của Luật
Tương trợ tư pháp về hình sự số 103/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2026.
[240] Cụm từ “người
đang bị tạm giam,” được bổ sung theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 40 của Luật
Tương trợ tư pháp về hình sự số 103/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2026.
[241]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 51 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[242]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 51 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[243]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 51 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[244]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 51 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[245]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 52 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[246]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 53 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[247]
Điều này được bổ sung theo quy định tại khoản 54 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[248] Khoản 2 Điều 2 của Luật số 02/2021/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 12 năm 2021 quy định như sau:
“2. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 12 năm
2021.”.
Điều 151 của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025 quy định như sau:
“Điều 151. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm
2025.
2. Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 62/2014/QH13 hết hiệu lực
từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản
2 Điều 152 của Luật này.”.
Điều 178 của
Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2026 quy định như sau:
“Điều
178. Hiệu lực thi hành
1. Luật này
có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2026, trừ trường hợp quy định tại khoản
2 Điều này.
2. Quy định tại Điều 139, khoản 1 và khoản 2 Điều 162 của Luật này có hiệu
lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2028.”.
Điều
2 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng
hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025
quy định như sau:
“Điều
2. Hiệu lực thi hành
Luật này có hiệu lực
thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.”.
Việc
thi hành Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng
hình sự được thực hiện theo Nghị quyết số 225/2025/QH15 ngày 27 tháng 6 năm
2025 của Quốc hội về việc thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ
chức Tòa án nhân dân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Viện
kiểm sát nhân dân, các luật tố tụng và luật khác có liên quan, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
Điều
41 và Điều 42 của Luật Tương trợ tư pháp về hình sự số 103/2025/QH15, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026 quy định như sau:
“Điều 41. Hiệu lực thi
hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm
2026.
2. Luật Tương trợ tư pháp số 08/2007/QH12 được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Luật số 81/2025/QH15 hết hiệu lực từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành,
trừ trường hợp chuyển tiếp quy định tại khoản 1 Điều 42 của Luật này, Điều 45 của
Luật Dẫn độ, Điều 48 của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và khoản
1 Điều 38 của Luật Tương trợ tư pháp về dân sự.
Điều 42. Điều khoản chuyển tiếp
1. Các yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân tối
cao lập hoặc tiếp nhận trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục được
xem xét, giải quyết theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp số 08/2007/QH12 đã
được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 81/2025/QH15.
2. Quy định “ủy thác tư pháp” trong lĩnh vực hình sự theo khoản 1 Điều 6
của Luật Tương trợ tư pháp số 08/2007/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Luật số 81/2025/QH15 tại các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành được sử
dụng tương đương quy định “yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự” quy định tại Luật
này.”.
Điều
44 và khoản 4 Điều 45 của Luật Giám định tư pháp số 105/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 5 năm 2026 quy định như
sau:
“Điều 44. Hiệu lực thi
hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 5 năm
2026.
2. Luật Giám định tư pháp số 13/2012/QH13 đã được sửa đổi,
bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14 và Luật số 56/2020/QH14 (sau đây
gọi là Luật Giám định tư pháp số 13/2012/QH13) hết hiệu lực kể từ ngày Luật này
có hiệu lực thi hành, trừ quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 45 của Luật
này.
Điều 45. Quy định chuyển tiếp
4. Trường hợp việc giám định đã được tiếp nhận, thực hiện
trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì người giám định tư pháp, tổ chức
giám định tư pháp tiếp tục thực hiện giám định, thanh toán, quyết toán chi phí
giám định, bồi dưỡng giám định tư pháp theo quy định của Luật Giám định tư pháp
số 13/2012/QH13.”.
Khoản
1, khoản 3 Điều 115 và khoản 6 Điều 116 của Luật Thi
hành án dân sự số 106/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026 quy định như
sau:
“Điều 115. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026, trừ quy định tại khoản 2 Điều này.
3. Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội về thực hiện chế
định Thừa phát lại; Luật Thi hành án dân sự số
26/2008/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Luật số 64/2014/QH13, Luật số
23/2018/QH14, Luật số 67/2020/QH14, Luật số 03/2022/QH15, Luật số 31/2024/QH15,
Luật số 43/2024/QH15, Luật số 59/2024/QH15, Luật số 81/2025/QH15 và Luật số 84/2025/QH15 (sau đây gọi là Luật Thi
hành án dân sự số 26/2008/QH12) hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ quy định tại khoản 1 Điều 116 của Luật này.
Điều 116. Điều khoản
chuyển tiếp
6. Vật chứng đã được cơ quan thi hành án dân sự tiếp nhận trước ngày Luật
này có hiệu lực thi hành thì cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục bảo quản và xử
lý theo quy định của pháp luật.
Đối với vật chứng đã được cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố tiếp
nhận và đang bảo quản tại các kho vật chứng không thuộc khuôn viên trụ sở cơ
quan thi hành án dân sự thì Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Tài chính phối hợp thực
hiện việc chuyển giao các kho vật chứng cùng vật chứng đang bảo quản tại kho về
Bộ Công an để quản lý trước ngày 01 tháng 7 năm 2028.
Nhà nước bố trí các điều kiện cần thiết để đầu tư nâng cấp, xây dựng hệ
thống kho vật chứng của cơ quan Công an nhân dân, Quân đội nhân dân và cơ quan
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.”.
Điều
74 của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam và cấm đi khỏi nơi cư trú số 128/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
7 năm 2026 quy định như sau:
“Điều 74. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
2. Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 hết hiệu lực kể từ
ngày Luật này có hiệu lực thi hành.”.