|
VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
--------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 110/VBHN-VPQH
|
Hà Nội, ngày 19 tháng 5 năm 2026
|
LUẬT
PHÒNG, CHỐNG
MUA BÁN NGƯỜI
Luật Phòng, chống mua bán người số 53 /2024/QH15 ngày 28 tháng 11 năm 2024 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025, được sửa đổi, bổ sung bởi:
1. Luật số 86/2025/QH15 ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025;
2. Luật số 05/2026/QH16 ngày 23 tháng 4 năm 2026 của Quốc hội sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01
năm 2027.
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Phòng, chống mua bán người[1].
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định về phòng ngừa, phát hiện, xử lý hành vi mua bán người và
các hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống mua bán người; tiếp nhận,
xác minh, xác định, hỗ trợ, bảo vệ nạn nhân, người đang trong quá trình xác định
là nạn nhân; quản lý nhà nước và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá
nhân trong phòng, chống mua bán người; hợp tác quốc tế trong phòng, chống mua
bán người.
Điều 2. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Mua bán người là hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chứa
chấp, chuyển giao hoặc tiếp nhận người nhằm mục đích nhận tiền, tài sản, lợi
ích vật chất khác, bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể người
hoặc nhằm mục đích vô nhân đạo khác bằng cách dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực,
lừa gạt hoặc thủ đoạn khác.
Hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp, chuyển giao hoặc tiếp nhận
người dưới 18 tuổi nhằm mục đích nhận tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác, bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy
bộ phận cơ thể người hoặc nhằm mục đích vô nhân đạo khác cũng được coi là mua
bán người ngay cả khi không dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc thủ
đoạn khác.
2. Bóc lột tình dục là việc ép buộc nạn
nhân bán dâm, tổ chức cho nạn nhân bán dâm, đưa nạn nhân đến cơ sở chứa mại
dâm để bán dâm, sử dụng nạn nhân làm đối tượng
để sản xuất
sách, báo, tranh, ảnh, phim, nhạc hoặc vật phẩm khác có nội dung khiêu dâm, ép buộc nạn nhân trình diễn khiêu dâm, ép buộc nạn nhân do bị lệ thuộc phải phục vụ nhu cầu tình dục.
3. Cưỡng bức lao động là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng
vũ lực hoặc thủ đoạn khác để ép buộc nạn nhân phải lao động trái ý muốn của họ.
4. Bộ phận cơ thể người là một phần của cơ thể được hình thành từ
nhiều loại mô khác nhau để thực hiện các chức năng sinh lý nhất định.
5. Mục đích vô nhân đạo khác là sử dụng nạn nhân để làm thí nghiệm; ép buộc nạn nhân đi
ăn xin, kết hôn trái ý muốn, sinh con trái ý muốn, thực hiện hành vi phạm tội
hoặc sử dụng nạn nhân vào mục đích tàn ác khác.
6. Thủ đoạn khác là lợi dụng việc môi giới hôn
nhân, môi giới việc làm, tư vấn du học, nuôi con nuôi, đưa người đi du lịch ở
nước ngoài để lừa gạt; lợi dụng tình thế bị lệ thuộc, tình thế dễ bị tổn thương
hoặc tình trạng quẫn bách của nạn nhân; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; bắt cóc,
uy hiếp tinh thần, đầu độc nạn nhân; cho nạn nhân sử dụng thuốc ngủ, thuốc gây
mê, rượu, bia hoặc chất kích thích khác làm nạn nhân lâm vào tình trạng mất khả
năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi.
7. Nạn nhân là người bị xâm hại bởi hành vi quy định tại khoản 1
Điều này và được cơ quan có thẩm quyền xác nhận.
8. Người đang trong quá trình xác định là nạn nhân là người có dấu
hiệu bị xâm hại bởi hành vi quy định tại khoản 1 Điều này và đang được cơ quan
có thẩm quyền tiến hành xác minh.
9. Người thân thích bao gồm vợ, chồng, bố đẻ, mẹ đẻ, bố chồng, mẹ
chồng, bố vợ, mẹ vợ, bố nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi; ông nội, bà nội, ông
ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột; cụ nội, cụ ngoại, bác ruột,
chú ruột, cậu ruột, dì ruột, cô ruột, cháu ruột.
Điều 3. Các hành vi bị nghiêm cấm
1. Mua bán người theo quy định tại khoản 1 Điều 2 của Luật
này.
2. Thỏa thuận mua bán người từ khi còn đang là bào thai.
3. Cưỡng bức, môi giới hoặc xúi giục người khác thực hiện hành vi quy định
tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
4. Đe dọa, trả thù nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn
nhân, người thân thích của họ, người làm chứng, người tố giác, báo tin, tố cáo,
khai báo hoặc người ngăn chặn hành vi quy định tại Điều này.
5. Dung túng, bao che, tiếp tay, cản trở, can thiệp, không xử lý hoặc xử
lý không đúng quy định của pháp luật đối với hành vi mua bán người.
6. Lợi dụng hoạt động phòng, chống mua bán người để trục lợi, thực hiện
hành vi trái pháp luật.
7. Cản trở việc giải cứu, tiếp nhận, xác minh, xác định, bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân, người đang
trong quá trình xác định là nạn nhân.
8. Cản trở việc phát hiện, tố giác, báo tin, tố cáo, khai báo, xử lý
hành vi quy định tại Điều này.
9. Xúc phạm, kỳ thị, phân biệt đối xử đối với nạn nhân, người đang trong
quá trình xác định là nạn nhân.
10. Tiết lộ thông tin về nạn nhân, người đang trong quá trình xác định
là nạn nhân khi chưa có sự đồng ý của họ hoặc người đại diện hợp pháp của họ,
trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
11. Giả mạo là nạn nhân.
12. Hành vi khác vi phạm quy định của Luật này.
Điều 4. Nguyên tắc phòng, chống mua bán người
1. Tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân; lấy
nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân làm trung tâm; bảo đảm
bình đẳng giới.
2. Thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng ngừa mua bán người; phát hiện,
ngăn chặn, xử lý nghiêm minh, kịp thời, chính xác hành vi quy định tại Điều 3 của Luật này.
3. Giải cứu, tiếp nhận, xác minh, xác định, bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân,
người đang trong quá trình xác định là nạn nhân kịp thời, chính xác; giữ bí mật
thông tin và không xúc phạm, kỳ thị, phân biệt đối xử đối với nạn nhân, người
đang trong quá trình xác định là nạn nhân.
4. Bảo đảm nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân được
sử dụng ngôn ngữ mà họ có thể hiểu được và được hưởng chế độ hỗ trợ phù hợp với
tín ngưỡng, tôn giáo của họ trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam, phù hợp với độ
tuổi, giới tính, tình trạng sức khỏe, đặc điểm cá nhân của họ.
5. Tùy từng trường hợp cụ thể và theo quy định của pháp luật có liên
quan, nạn nhân thực hiện hành vi vi phạm pháp luật là hệ quả trực tiếp của hành
vi mua bán người có thể không bị xử lý hành chính hoặc không bị truy cứu trách
nhiệm hình sự về hành vi này.
6. Phát huy vai trò, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cộng
đồng, gia đình, cá nhân trong phòng, chống mua bán người.
7. Tăng cường hợp tác quốc tế, phối
hợp liên ngành, chủ động, tích cực tham gia các tổ chức quốc tế, điều ước quốc
tế, thỏa thuận quốc tế về phòng, chống mua bán người trên cơ sở tuân thủ Hiến pháp, phù hợp với pháp luật của Việt Nam
và pháp luật, tập quán quốc tế.
Điều 5. Chính sách của Nhà nước về phòng, chống mua bán người
1. Phòng, chống mua bán người là nội dung của chiến lược quốc gia phòng,
chống tội phạm và được kết hợp với việc thực hiện các chương trình khác về phát
triển kinh tế - xã hội.
2. Khuyến khích cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước tham
gia, hợp tác, tài trợ cho hoạt động phòng, chống mua bán người và hỗ trợ nạn nhân,
người đang trong quá trình xác định là nạn nhân; khuyến khích tổ chức, cá nhân
trong nước thành lập cơ sở hỗ trợ nạn nhân theo quy định của pháp luật.
3. Ưu tiên ứng dụng khoa học và công nghệ, chuyển đổi số trong phòng, chống
mua bán người; hỗ trợ bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho người làm công tác
phòng, chống mua bán người.
4. Bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn
nhân, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân tham gia phòng, chống mua bán người
theo quy định của pháp luật.
5. Khen thưởng cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong công tác
phòng, chống mua bán người; bảo đảm chế độ, chính sách đối với người tham gia
phòng, chống mua bán người bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản theo
quy định của pháp luật.
6. Hằng năm, Nhà nước bố trí ngân sách cho công tác phòng, chống mua bán
người, ưu tiên vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội
đặc biệt khó khăn, địa bàn có tình hình mua bán người diễn biến phức tạp.
Điều 6. Quyền và nghĩa vụ của nạn nhân, người đang trong
quá trình xác định là nạn nhân
1. Nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân có quyền
sau đây:
a) Đề nghị cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo
vệ mình, người thân thích của mình theo quy định của Luật này khi bị xâm hại, bị
đe dọa xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân
phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác có liên quan đến phòng, chống mua
bán người;
b) Được thông tin về quyền, lợi ích hợp pháp của mình và các biện pháp
phòng ngừa mua bán người;
c) Được hưởng chế độ hỗ trợ theo quy định của Luật này hoặc từ chối nhận
hỗ trợ;
d) Được bảo vệ bí mật thông tin, dữ liệu về đời sống riêng tư, bí mật cá
nhân, bí mật gia đình, nơi cư trú, nơi làm việc và thông tin khác theo quy định
của pháp luật;
đ) Được cơ quan, người có thẩm quyền cấp giấy tờ, tài liệu xác nhận nạn
nhân;
e) Được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật;
g) Được từ chối áp dụng biện pháp bảo vệ;
h) Quyền khác theo quy định của pháp luật có liên quan.
2. Nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân có nghĩa vụ
sau đây:
a) Chấp hành đầy đủ yêu cầu của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền
trong quá trình áp dụng các biện pháp bảo vệ, hỗ trợ;
b) Cung cấp thông tin liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật về phòng,
chống mua bán người cho cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền;
c) Thực hiện yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền trong phát hiện,
điều tra, xử lý vụ việc mua bán người;
d) Nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật có liên quan.
Chương II
PHÒNG NGỪA MUA BÁN NGƯỜI
Điều 7. Thông tin, tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống
mua bán người
1. Thông tin, tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống mua bán người nhằm
nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng,
gia đình, cá nhân trong phòng, chống mua bán người, đề cao cảnh giác, tích cực
tham gia phòng, chống mua bán người.
2. Nội dung thông tin, tuyên truyền, giáo dục bao gồm:
a) Chính sách, pháp luật về phòng, chống mua bán người và pháp luật có
liên quan;
b) Mục đích, thủ đoạn, hành vi mua bán người và các hành vi bị nghiêm cấm
khác theo quy định của Luật này;
c) Kỹ năng ứng xử trong trường hợp có nghi ngờ về việc mua bán người;
d) Biện pháp, kinh nghiệm phòng, chống mua bán người;
đ) Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, gia đình, cá nhân
trong phòng, chống mua bán người;
e) Chống xúc phạm, kỳ thị, phân biệt đối xử đối với nạn nhân, người đang
trong quá trình xác định là nạn nhân;
g) Các biện pháp bảo vệ và chính sách hỗ trợ nạn nhân, người đang trong
quá trình xác định là nạn nhân; kết quả xử lý vụ việc mua bán người theo quy định
của pháp luật;
h) Các nội dung khác có liên quan đến phòng, chống mua bán người.
3. Việc thông tin, tuyên truyền, giáo dục được thực hiện bằng các hình
thức sau đây:
a) Gặp gỡ, nói chuyện trực tiếp;
b) Cung cấp tài liệu;
c) Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, hoạt động thông tin cơ
sở;
d) Thông qua hoạt động ngoại khóa tại cơ sở giáo dục, cơ sở giáo dục nghề
nghiệp;
đ) Thông qua hoạt động văn học, nghệ thuật, sinh hoạt cộng đồng và các
loại hình văn hóa khác;
e) Sử dụng mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính;
g) Thông qua hội nghị, hội thảo, tập huấn, nói chuyện chuyên đề; phổ biến,
giáo dục pháp luật trực tiếp;
h) Thông qua tổ chức cuộc thi, chiến dịch truyền thông;
i) Các hình thức phù hợp khác.
4. Xây dựng mạng lưới tuyên truyền viên ở cơ sở, huy động sự tham gia
tích cực của các tổ chức chính trị - xã hội, khuyến khích sự tham gia của nạn
nhân vào công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống mua bán người.
5. Công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục cần được tăng cường đối với
phụ nữ, thanh niên, trẻ em, học sinh, sinh viên, người khuyết tật, người lao động
tại các khu công nghiệp, người làm việc tại cơ sở kinh
doanh casino, kinh doanh dịch vụ karaoke, vũ trường, xoa bóp và người cư
trú tại khu vực biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều
kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có nhiều công dân kết hôn với người nước
ngoài, đi làm việc ở nước ngoài, địa bàn có tình hình mua bán người diễn biến
phức tạp.
Điều 8. Tư vấn về phòng ngừa mua bán người
Người chuẩn bị tham gia vào quan hệ về lao động, việc làm, hôn nhân,
nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài hoặc các dịch vụ khác dễ bị lợi dụng để mua
bán người được cơ quan, tổ chức quy định tại các điều 19, 20 và
21 của Luật này tư vấn các nội dung sau đây:
1. Kiến thức pháp luật về phòng, chống mua bán người;
2. Hướng nghiệp, việc làm, di cư an toàn; thông tin về mục đích, thủ đoạn,
hành vi mua bán người, kỹ năng xử lý trong trường hợp là nạn nhân bị mua bán và
hướng dẫn kỹ năng ứng xử trong trường hợp có nghi ngờ về việc mua bán người;
3. Thông tin về quyền, nghĩa vụ của nạn nhân, người đang trong quá trình
xác định là nạn nhân và hướng dẫn cách thức thực hiện quyền, nghĩa vụ đó.
Điều 9. Quản lý về an ninh, trật tự
Cơ quan, người có thẩm quyền trong quản lý về an ninh, trật tự có trách
nhiệm thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
1. Quản lý đăng ký cư trú, quản lý xuất nhập cảnh trên địa bàn, nắm rõ
biến động dân cư có liên quan đến hoạt động mua bán người;
2. Quản lý, giám sát đối tượng đã từng bị kết án về tội mua bán người và
đối tượng khác có dấu hiệu thực hiện hành vi mua bán người theo quy định của
pháp luật;
3. Quản lý và sử dụng có hiệu quả cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở
dữ liệu về căn cước, cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác; việc định danh và xác thực
điện tử; thông tin về tàng thư, lý lịch tư pháp phục vụ công tác phòng, chống
mua bán người;
4. Tuần tra, kiểm soát tại biên giới, khu vực biên giới, cửa khẩu, trên
biển và hải đảo nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn hành vi mua bán người;
5. Quản lý chặt chẽ mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính để
phòng, chống mua bán người;
6. Quản lý công tác cấp giấy tờ tùy thân, giấy tờ có giá trị xuất nhập cảnh;
ứng dụng khoa học và công nghệ tiên tiến trong việc làm, cấp phát, quản lý giấy
tờ tùy thân và giấy tờ có giá trị xuất nhập cảnh để phòng, chống mua bán người;
7. Phối hợp với cơ quan có thẩm quyền của quốc gia có chung đường biên
giới trong việc tuần tra, kiểm soát biên giới, cửa khẩu để phòng, chống mua bán
người.
Điều 10. Quản lý hoạt động kinh doanh, dịch vụ
1. Các hoạt động kinh doanh, dịch vụ sau đây phải được quản lý, kiểm tra
nhằm phát hiện, ngăn chặn, xử lý việc lợi dụng để thực hiện hành vi mua bán người:
a) Kinh doanh dịch vụ karaoke, vũ trường, xoa bóp; kinh
doanh casino; kinh doanh trò chơi trên mạng viễn thông, mạng Internet; kinh
doanh dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông, mạng Internet; kinh
doanh dịch vụ việc làm, cho thuê lại lao động, tư vấn du học, đưa người lao động
Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, tuyển dụng người nước ngoài
làm việc tại Việt Nam; kinh doanh dịch vụ lữ hành,
lưu trú;
b) Hoạt động hỗ trợ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài,
nuôi con nuôi;
c) Hoạt động kinh doanh, dịch vụ khác dễ bị lợi dụng để mua bán người.
2. Trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các Bộ, cơ quan ngang Bộ
có trách nhiệm hướng dẫn, quản lý, kiểm tra hoạt động kinh doanh, dịch vụ quy định
tại khoản 1 Điều này để phòng, chống mua bán người.
Điều 11. Quản lý hoạt động xuất nhập cảnh
Cơ quan và người có thẩm quyền trong hoạt động quản lý xuất
nhập cảnh thông qua hoạt động nghiệp vụ của mình có trách nhiệm chủ động phát
hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời hành vi lợi dụng hoạt động xuất nhập cảnh, làm
giả giấy tờ hoặc thủ đoạn khác để thực hiện hành vi mua bán người.
Điều 12. Trao đổi thông tin để quản lý hoạt động xuất nhập
cảnh
Cơ quan có thẩm quyền phòng, chống tội phạm mua bán người, cơ quan quản
lý nhà nước về xuất nhập cảnh, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển có trách nhiệm
trao đổi, cung cấp thông tin về đối tượng đã từng bị kết án về tội mua bán người
và đối tượng khác có dấu hiệu thực hiện hành vi mua bán người.
Điều 13. Lồng ghép nội dung phòng ngừa mua bán người vào
các chương trình phát triển kinh tế - xã hội
Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương thực hiện việc lồng ghép nội dung
phòng ngừa mua bán người vào chương trình phòng, chống tội phạm, phòng, chống tệ
nạn xã hội, đào tạo nghề, giải quyết việc làm, giảm nghèo, bình đẳng giới, bảo
vệ trẻ em, chương trình vì sự tiến bộ của phụ nữ và chương trình khác về phát
triển kinh tế - xã hội.
Điều 14. Quyền và trách nhiệm của cá nhân tham gia phòng ngừa
mua bán người
1. Tham gia các hoạt động phòng ngừa mua bán người.
2. Kịp thời tố giác, báo tin, tố cáo hành vi quy định tại Điều
3 của Luật này.
3. Được bảo vệ, giữ bí mật thông tin của cá nhân khi tham gia phòng, chống
mua bán người, hỗ trợ nạn nhân theo quy định của pháp luật.
4. Được khen thưởng, được bảo đảm chế độ, chính sách khi tham gia phòng,
chống mua bán người, hỗ trợ nạn nhân theo quy định của pháp luật.
Điều 15. Trách nhiệm của gia đình tham gia phòng ngừa mua
bán người
1. Giáo dục, nhắc nhở thành viên trong gia đình thực hiện quy định của
pháp luật về phòng, chống mua bán người; cung cấp thông tin cho thành viên
trong gia đình về mục đích, thủ đoạn, hành vi mua bán người và các biện pháp
phòng, chống mua bán người.
2. Phối hợp với cơ sở giáo dục, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ quan, tổ
chức trong phòng, chống mua bán người.
3. Chăm sóc, giúp đỡ nạn nhân là thành viên của gia đình để họ hòa nhập
cuộc sống gia đình và cộng đồng.
4. Động viên, hỗ trợ và tạo điều kiện cho nạn nhân, người đang trong quá
trình xác định là nạn nhân là thành viên của gia đình hợp tác với cơ quan có thẩm
quyền trong phòng, chống mua bán người.
Điều 16. Trách nhiệm của cơ sở giáo dục, cơ sở giáo dục nghề
nghiệp tham gia phòng ngừa mua bán người
1. Tổ chức tuyên truyền, giáo dục ngoại khóa về phòng, chống mua bán người
phù hợp với cấp học và trình độ đào tạo.
2. Tạo điều kiện thuận lợi để nạn nhân được học văn hóa, học nghề, tư vấn
việc làm, hòa nhập cộng đồng.
3. Phối hợp với cơ quan, tổ chức, gia đình thực hiện các biện pháp
phòng, chống mua bán người.
Điều 17. Trách nhiệm phòng ngừa mua bán người trong tổ chức,
doanh nghiệp, cơ sở hoạt động kinh doanh, dịch vụ
Các tổ chức, doanh nghiệp, cơ sở hoạt động kinh doanh, dịch vụ quy định
tại Điều 10 của Luật này có trách nhiệm sau đây:
1. Cam kết chấp hành quy định của pháp luật về phòng, chống mua bán người;
2. Nắm thông tin về đối tượng được cung cấp dịch vụ và thông báo cho cơ
quan có thẩm quyền khi có yêu cầu để phòng ngừa mua bán người;
3. Ký hợp đồng lao động bằng văn bản với người lao động, đăng ký lao động
với cơ quan quản lý lao động địa phương để phòng ngừa mua bán người;
4. Thực hiện đầy đủ yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền trong việc thanh
tra, kiểm tra về phòng, chống mua bán người đối với hoạt động của tổ chức,
doanh nghiệp, cơ sở;
5. Phối hợp, thực hiện đầy đủ yêu cầu khi cơ quan có thẩm quyền sàng lọc
dấu hiệu bị mua bán đối với người lao động tại tổ chức, doanh nghiệp, cơ sở;
6. Chủ động phòng ngừa, kịp thời báo cáo cơ quan có thẩm quyền về hành
vi có dấu hiệu mua bán người.
Điều 18. Trách nhiệm của cơ quan báo chí, thông tấn tham
gia phòng ngừa mua bán người
1. Thông tin, tuyên truyền, phổ biến kịp thời, chính xác chính sách,
pháp luật về phòng, chống mua bán người; phản ánh trung thực về tình hình mua
bán người và công tác phòng, chống mua bán người; nêu gương điển hình tiên tiến,
mô hình phòng, chống mua bán người có hiệu quả.
2. Giữ bí mật thông tin về nạn nhân, người đang trong quá trình xác định
là nạn nhân, người dưới 18 tuổi đi cùng, trừ trường hợp pháp luật có quy định
khác.
Điều 19. Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ
chức thành viên của Mặt trận tham gia phòng ngừa mua bán người
1. Giám sát, phản biện xã hội trong xây dựng, thực hiện chính sách, pháp
luật về phòng, chống mua bán người theo quy định của pháp luật.
2. Tuyên truyền, vận động Nhân dân, thành viên, hội viên chấp hành pháp
luật về phòng, chống mua bán người và quy định khác của pháp luật có liên quan;
vận động Nhân dân, thành viên, hội viên tích cực phát hiện, tố giác, báo tin, tố
cáo, ngăn chặn hành vi bị nghiêm cấm theo quy định của Luật này; tham gia xây dựng
mạng lưới tuyên truyền viên về phòng, chống mua bán người ở cơ sở.
3. Kiến nghị biện pháp cần thiết với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để
thực hiện pháp luật về phòng, chống mua bán người và quy định khác của pháp luật
có liên quan; tham gia phòng, chống mua bán người, chăm sóc, hỗ trợ, bảo vệ nạn
nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân.
4. Tư vấn, tham gia tư vấn về phòng ngừa mua bán người theo quy định tại
Điều 8 của Luật này.
5. Tham gia dạy nghề, tạo việc làm và hoạt động hỗ trợ khác giúp nạn
nhân hòa nhập cộng đồng.
6. Phối hợp phòng, chống mua bán người theo quy định của Luật này.
Điều 20. Trách nhiệm của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tham
gia phòng ngừa mua bán người
1. Tuyên truyền, giáo dục, vận động phụ nữ, trẻ em nâng cao ý thức chấp
hành pháp luật về phòng, chống mua bán người.
2. Tham gia xây dựng mạng lưới tuyên truyền viên về phòng, chống mua bán
người ở cơ sở.
3. Thực hiện trách nhiệm quy định tại Điều 19 của Luật
này trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình.
Điều 21. Trách nhiệm của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh tham gia phòng ngừa mua bán người
1. Tuyên truyền, giáo dục, vận động thanh niên, trẻ em nâng cao ý thức
chấp hành pháp luật về phòng, chống mua bán người.
2. Tham gia xây dựng mạng lưới tuyên truyền viên về phòng, chống mua bán
người ở cơ sở.
3. Thực hiện trách nhiệm quy định tại Điều 19 của Luật
này trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình.
Chương III
PHÁT HIỆN, XỬ LÝ HÀNH VI
VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG MUA BÁN NGƯỜI
Điều 22. Tố cáo, tố giác, báo tin, kiến nghị khởi tố về
hành vi vi phạm
1. Cá nhân có quyền và nghĩa vụ tố cáo, tố giác, báo tin về hành vi quy
định tại Điều 3 của Luật này với cơ quan Công an, Bộ đội
Biên phòng, Cảnh sát biển, Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu[2] (sau
đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã), cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố
cáo, tổng đài điện thoại quốc gia về phòng, chống mua bán người hoặc với bất kỳ
cơ quan, tổ chức nào.
2. Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố cáo, tố giác, tin
báo, kiến nghị khởi tố về hành vi quy định tại Điều 3 của Luật
này có trách nhiệm giải quyết theo thẩm quyền hoặc kịp thời thông báo, kiến
nghị khởi tố với cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật.
3. Chính phủ quy định về tổng đài điện thoại quốc gia về phòng, chống mua
bán người để tiếp nhận tố giác, tin báo về hành vi mua bán người.
Điều 23. Phát hiện hành vi vi phạm thông qua hoạt động kiểm
tra, thanh tra
1. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm thường xuyên tự kiểm tra việc thực hiện
chức năng, nhiệm vụ của mình; trường hợp phát hiện hành vi quy định tại Điều 3 của Luật này thì kịp thời giải quyết theo thẩm quyền hoặc
kiến nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
2. Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thông qua hoạt động kiểm tra, thanh
tra chủ động phát hiện, kịp thời giải quyết theo thẩm quyền hoặc kiến nghị xử
lý hành vi quy định tại Điều 3 của Luật này.
Điều 24. Phát hiện, ngăn chặn, xử lý hành vi vi phạm thông
qua hoạt động nghiệp vụ phòng, chống tội phạm
Cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền trong Công an nhân dân, Quân đội
nhân dân được giao nhiệm vụ phòng, chống mua bán người thông qua hoạt động nghiệp
vụ có trách nhiệm sau đây:
1. Chủ trì, phối hợp với cơ quan, đơn vị có liên quan, áp dụng biện pháp
nghiệp vụ theo quy định của pháp luật để kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý
hành vi quy định tại Điều 3 của Luật này tại địa bàn được
phân công phụ trách;
2. Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin, tài liệu có
liên quan theo quy định của pháp luật phục vụ cho việc phát hiện, ngăn chặn, xử
lý hành vi mua bán người;
3. Áp dụng biện pháp theo quy định của pháp luật để bảo vệ các đối tượng
được quy định tại Điều 34 của Luật này;
4. Khi có căn cứ cho rằng một người bị mua bán thì áp dụng các biện pháp
cần thiết để giải cứu.
Điều 25. Giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị
khởi tố hành vi phạm tội mua bán người, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về
phòng, chống mua bán người
1. Việc giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố hành vi phạm tội mua bán người
được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.
2. Việc giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống mua
bán người được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo.
Điều 26. Xử lý vi phạm
1. Người thực hiện hành vi quy định tại Điều 3 của Luật
này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý hành chính hoặc bị
truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định
của pháp luật.
2. Người lợi dụng chức vụ, quyền hạn để dung túng, bao che, xử lý không
đúng hoặc không xử lý hành vi quy định tại Điều 3 của Luật này
thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử lý hành chính hoặc
bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy
định của pháp luật.
3. Người giả mạo là nạn nhân ngoài việc bị xử lý theo quy định của pháp
luật còn phải hoàn trả khoản kinh phí hỗ trợ đã nhận.
Chương IV
TIẾP NHẬN, XÁC MINH, XÁC
ĐỊNH VÀ BẢO VỆ NẠN NHÂN
Mục 1. TIẾP NHẬN, XÁC MINH, XÁC ĐỊNH NẠN NHÂN
Điều 27. Tiếp nhận, xác minh người đến trình báo[3]
1. Người nào có căn cứ cho rằng mình là nạn nhân hoặc người đại diện hợp
pháp có căn cứ cho rằng người được họ đại diện là nạn nhân thì đến Ủy ban nhân
dân cấp xã, cơ quan Công an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển hoặc cơ quan, tổ
chức nơi gần nhất trình báo về việc bị mua bán. Cơ quan Công an, Bộ đội Biên
phòng, Cảnh sát biển, cơ quan, tổ chức tiếp nhận trình báo có trách nhiệm đưa
ngay người đó đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cơ quan, tổ chức có trụ sở. Ủy ban
nhân dân cấp xã có trách nhiệm thông báo ngay với cơ quan chuyên môn về y tế
cấp tỉnh. Trong trường hợp cần thiết, Ủy ban nhân dân cấp xã đã tiếp nhận thực
hiện việc hỗ trợ theo quy định tại Chương V của Luật này.
2. Khi nhận được thông
báo của Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan chuyên môn về y tế cấp tỉnh thực hiện ngay việc tiếp nhận, hỗ trợ và chậm nhất là 03
ngày phải chủ trì, phối hợp với Công an tỉnh, thành phố (sau đây gọi chung là
Công an cấp tỉnh) xác minh thông tin ban đầu.
Sau khi xác minh thông tin ban đầu, nếu chưa có giấy tờ, tài liệu quy định
tại khoản 1 Điều 33 của Luật này thì cơ quan chuyên môn về
y tế cấp tỉnh đề nghị Công an cấp tỉnh tiến hành xác minh nạn nhân.
3. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị của cơ quan
chuyên môn về y tế cấp tỉnh, Công an cấp tỉnh có trách nhiệm xác minh nạn nhân
và trả lời bằng văn bản cho cơ quan đã đề nghị.
Đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn xác minh nạn nhân không quá 02
tháng; trường hợp chưa thể xác định được nạn
nhân trong thời hạn 02 tháng thì thời hạn xác minh có thể kéo dài thêm, nhưng tổng
thời hạn xác minh không quá 04 tháng.
4. Ngay sau khi có kết quả xác minh hoặc hết thời hạn theo quy định tại
khoản 3 Điều này thì Công an cấp tỉnh phải cấp một trong các giấy tờ quy định tại
điểm a khoản 1 Điều 33 của Luật này.
5. Sau khi tiếp nhận, cơ quan chuyên môn về y tế cấp tỉnh thực hiện việc
hỗ trợ cho nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân theo quy định
tại Chương V của Luật này. Trường hợp họ có nguyện vọng trở về nơi cư trú thì
được hỗ trợ chi phí đi lại; nếu cần được chăm sóc về sức khỏe, tâm lý hoặc chưa
xác định được nơi cư trú mà có nguyện vọng được lưu trú thì cơ quan chuyên môn
về y tế cấp tỉnh chuyển giao cho cơ sở trợ giúp xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn
nhân.
Đối với nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân là trẻ
em thì cơ quan chuyên môn về y tế cấp tỉnh có trách nhiệm thông báo cho người
thân thích đến nhận hoặc bố trí người đưa về nơi người thân thích cư trú, trường
hợp không có nơi nương tựa hoặc có căn cứ cho rằng họ có thể gặp nguy hiểm khi
đưa về nơi người thân thích cư trú thì chuyển giao cho cơ sở trợ giúp xã hội hoặc
cơ sở hỗ trợ nạn nhân.
6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 28. Tiếp nhận, xác minh nạn nhân được giải cứu[4]
1. Cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền trong Công an nhân dân, Quân đội
nhân dân đã giải cứu nạn nhân tiến hành sơ cứu, cấp cứu nếu họ bị thương tích,
tổn hại sức khỏe, hỗ trợ nhu cầu thiết yếu, hỗ trợ phiên dịch và đưa ngay người
đó đến cơ quan chuyên môn về y tế cấp tỉnh gần nơi họ được giải cứu.
Cơ quan giải cứu có trách nhiệm xác minh, cấp giấy xác nhận theo quy định
tại điểm a khoản 1 Điều 33 của Luật này cho người được giải
cứu; trường hợp chưa có đủ căn cứ xác định nạn nhân thì sau khi tiếp nhận, cơ
quan chuyên môn về y tế cấp tỉnh đề nghị Công an cấp tỉnh tiến hành xác minh nạn
nhân; thời hạn xác minh và cấp giấy xác nhận được thực hiện theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 27 của Luật này.
2. Sau khi tiếp nhận, cơ quan chuyên môn về y tế cấp tỉnh thực hiện việc
hỗ trợ đối với người được giải cứu theo quy định tại khoản 5 Điều
27 và Chương V của Luật này.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 29. Giải cứu, tiếp nhận, xác minh nạn nhân đang ở nước
ngoài
1. Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự hoặc cơ quan
khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài (sau
đây gọi chung là cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài) khi tiếp nhận thông
tin, tài liệu về người là nạn nhân do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, tổ
chức quốc tế, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam ở trong nước trao đổi, do người
tự trình báo là nạn nhân hoặc do người biết việc đến trình báo thì thực hiện các công việc
sau đây:
a) Trường hợp người đó chưa được giải cứu thì thông báo ngay cho cơ quan
có thẩm quyền của nước sở tại để phối hợp kiểm tra, xác minh và giải cứu;
b) Trường hợp người tự trình báo là nạn nhân hoặc đã được giải cứu thì
phối hợp với cơ quan có thẩm quyền nước sở tại và
cơ quan có thẩm
quyền của Việt
Nam ở trong nước tiến hành kiểm tra, xác minh thông tin, thu thập tài liệu
liên quan, thực hiện hỗ trợ theo quy định tại Chương V của Luật này và cấp một trong các giấy tờ, tài liệu theo quy định tại khoản 1 Điều 33 của Luật này.
2. Ngay sau khi nhận được đề nghị xác minh của cơ quan đại diện Việt Nam
ở nước ngoài theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam ở trong nước có
trách nhiệm tổ chức xác minh, trả lời cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và
phối hợp cấp giấy tờ cần thiết, làm thủ tục đưa
về nước.
3. Trường hợp chưa đủ căn cứ cấp một trong các giấy tờ, tài liệu theo
quy định tại khoản 1 Điều 33 của Luật này thì cơ quan đại
diện Việt Nam ở nước ngoài thực hiện các biện pháp bảo hộ công dân theo quy định
của pháp luật và đề nghị cơ quan có thẩm quyền ở trong nước xác minh, cấp một
trong các giấy tờ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 33 của Luật
này; thời hạn xác minh được thực hiện theo quy định tại khoản
3 Điều 27 của Luật này.
4. Trường hợp thỏa thuận quốc tế có quy định về việc trao đổi thông tin
trực tiếp, hợp tác về phòng, chống mua bán người giữa cơ quan có thẩm quyền của
nước ngoài, tổ chức quốc tế với cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì thực hiện
theo thỏa thuận đó.
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 30. Tiếp nhận, xác minh nạn nhân từ nước ngoài trở về[5]
1. Việc tiếp nhận, xác minh, hỗ trợ nạn nhân từ nước ngoài trở về qua cơ
quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài được thực hiện như sau:
a) Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài tiếp nhận, xử lý thông tin,
tài liệu về nạn nhân và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền của Bộ Công an trong
việc xác minh nhân thân của nạn nhân, cấp giấy tờ cần thiết, làm thủ tục đưa về
nước;
b) Cơ quan có thẩm quyền của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng thực hiện việc tiếp
nhận; tiến hành xác minh và cấp một trong các giấy tờ, tài liệu xác nhận nạn
nhân theo đề nghị của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài quy định tại khoản 3 Điều 29 của Luật này; thực hiện hỗ trợ nhu cầu thiết yếu,
hỗ trợ phiên dịch, hỗ trợ y tế trong trường hợp cần thiết và đưa ngay người đó
đến cơ quan chuyên môn về y tế cấp tỉnh nơi tiếp nhận để thực hiện việc hỗ trợ
theo quy định tại Chương V của Luật này.
Trường hợp họ có nguyện vọng trở về nơi cư trú thì được hỗ trợ chi phí
đi lại; nếu cần được chăm sóc về sức khỏe, tâm lý hoặc chưa xác định được nơi
cư trú mà có nguyện vọng được lưu trú thì chuyển giao họ cho cơ sở trợ giúp xã
hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân.
Đối với nạn nhân là trẻ em thì cơ quan chuyên môn về y tế cấp tỉnh có
trách nhiệm thông báo cho người thân thích đến nhận hoặc bố trí người đưa về
nơi người thân thích cư trú, trường hợp không có nơi nương tựa hoặc có căn cứ
cho rằng họ có thể gặp nguy hiểm khi đưa về nơi người thân thích cư trú thì làm
thủ tục chuyển giao cho cơ sở trợ giúp xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân.
2. Việc tiếp nhận người trở về Việt Nam theo thỏa thuận quốc tế song phương
có liên quan về phòng, chống mua bán người được thực hiện theo thỏa thuận đó.
Cơ quan đã tiếp nhận có trách nhiệm xác minh theo thời hạn quy định tại khoản 3 Điều 27 và cấp một trong các giấy tờ, tài liệu theo
quy định tại khoản 1 Điều 33 của Luật này; thực hiện hỗ trợ
nhu cầu thiết yếu, hỗ trợ y tế, hỗ trợ phiên dịch trong trường hợp cần thiết và
đưa ngay người đó đến cơ quan chuyên môn về y tế cấp tỉnh nơi tiếp nhận để thực
hiện việc hỗ trợ theo quy định tại Chương V của Luật này.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 31. Tiếp nhận, xác minh, giải cứu và trao trả người nước
ngoài bị mua bán tại Việt Nam[6]
1. Khi nhận được thông tin, tài liệu về người nước ngoài bị mua bán tại
Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, tổ chức quốc tế, cơ quan, tổ
chức trong nước trao đổi hoặc do người biết việc đến trình báo, cơ quan, tổ chức
đã tiếp nhận thông tin, tài liệu có trách nhiệm báo ngay cho Công an cấp tỉnh
nơi người nước ngoài đang có mặt để xác minh, giải cứu.
Trường hợp thông qua hoạt động nghiệp vụ mà phát hiện người nước ngoài
có dấu hiệu bị mua bán tại Việt Nam hoặc người nước ngoài đến trình báo họ là nạn
nhân bị mua bán thì cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền trong Công an nhân
dân, Quân đội nhân dân tiến hành giải cứu, xác minh.
Khi có đủ căn cứ xác định người được giải cứu, người tự trình báo là nạn
nhân thì cơ quan đã giải cứu, tiếp nhận trình báo cấp giấy xác nhận quy định tại
khoản 1 Điều 33 của Luật này trước khi chuyển giao.
2. Sau khi tiếp nhận hoặc giải cứu người nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền
quy định tại khoản 1 Điều này tiến hành sơ cứu, cấp cứu nếu họ bị thương tích,
tổn hại sức khỏe; thực hiện việc hỗ trợ nhu cầu thiết yếu, hỗ trợ phiên dịch và
đưa người đó đến cơ quan chuyên môn về y tế cấp tỉnh nơi cơ quan tiếp nhận có
trụ sở hoặc nơi họ được giải cứu.
3. Sau khi tiếp nhận người nước ngoài bị mua bán tại Việt Nam, cơ quan
chuyên môn về y tế cấp tỉnh tiến hành hỗ trợ theo quy định tại Chương V của
Luật này và thông báo cho cơ quan chuyên môn về ngoại vụ cấp tỉnh, Phòng Quản
lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh thực hiện các công việc để trao trả về nước
mà họ là công dân hoặc nước họ thường trú.
4. Khi nhận được công hàm của cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam
mà nạn nhân là công dân hoặc là người đang thường trú tại nước đó trả lời đồng
ý nhận trở về, kèm theo giấy tờ có giá trị xuất cảnh, nhập cảnh đã được cấp cho
nạn nhân, cơ quan có thẩm quyền của Bộ Ngoại giao có trách nhiệm thống nhất với
phía nước ngoài về các vấn đề để đưa nạn nhân về nước, sau đó thông báo bằng
văn bản và chuyển giấy tờ xuất cảnh, nhập cảnh của nạn nhân cho cơ quan có thẩm
quyền của Bộ Công an.
5. Cơ quan có thẩm quyền của Bộ Công an có trách nhiệm thực hiện cấp thị
thực, chứng nhận tạm trú cho nạn nhân, thông báo kế hoạch đưa nạn nhân về nước
cho Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh, cơ quan chuyên môn về y tế
cấp tỉnh nơi đang lưu giữ nạn nhân, Công an cửa khẩu sân bay quốc tế hoặc Bộ
đội Biên phòng cửa khẩu nơi nạn nhân sẽ xuất cảnh, cơ quan đại diện nước ngoài
tại Việt Nam mà nạn nhân là công dân hoặc thường trú, các tổ chức quốc tế có
liên quan để phối hợp đưa nạn nhân về nước.
6. Cơ quan chuyên môn về y tế cấp tỉnh nơi lưu giữ nạn nhân chỉ đạo
cơ sở trợ giúp xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân đưa nạn nhân tới cửa khẩu và
phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện việc đưa nạn nhân về nước.
7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Mục 2. CĂN CỨ ĐỂ XÁC ĐỊNH NẠN NHÂN; GIẤY TỜ, TÀI LIỆU XÁC
NHẬN NẠN NHÂN
Điều 32. Căn cứ để xác định nạn nhân
1. Việc xác định nạn nhân căn cứ vào tài liệu, chứng cứ sau đây:
a) Tài liệu, chứng cứ do cơ quan tiến hành tố tụng cung cấp;
b) Thông tin, tài liệu do cơ quan giải cứu nạn nhân cung cấp;
c) Thông tin, tài liệu do cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cung cấp;
d) Thông tin, tài liệu do cơ quan, tổ chức khác trong nước cung cấp;
đ) Tài liệu do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nước ngoài cung cấp;
e) Lời khai, tài liệu do người đang
trong quá trình xác định là nạn nhân, người thân thích của họ cung cấp;
g) Lời khai, tài liệu do người thực hiện hành vi mua
bán người cung cấp;
h) Lời khai, tài liệu do nạn nhân khác hoặc những người biết sự việc
cung cấp;
i) Tài liệu, chứng cứ hợp pháp khác.
2. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền căn cứ quy định tại khoản 1
Điều này nhưng chưa chứng minh được một người có phải là nạn nhân hay không,
sau khi xác minh lý lịch, thời gian vắng mặt tại
nơi cư trú, lý do vắng mặt phù hợp với lời khai
của họ về việc bị
mua bán thì xem xét các dấu hiệu sau đây để xác định họ là nạn nhân:
a) Người đó được phát hiện, giải cứu cùng với nạn nhân khác;
b) Người đó đã có thời gian chung sống cùng với nạn nhân tại nơi các đối
tượng thực hiện hành vi mua bán người giam giữ,
quản lý và bị đối xử như nạn nhân này;
c) Người đó có dấu hiệu bị bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể, bị đối xử tàn tệ, bị thương tích, sợ hãi, hoảng loạn, trầm cảm,
ốm yếu theo xác nhận của cơ quan y tế có thẩm
quyền hoặc bị xâm hại bởi hành vi nhằm mục đích vô nhân đạo khác quy định tại khoản 5 Điều 2 của Luật này;
d) Người thân thích trình báo về việc mất tích của họ trong thời gian họ
vắng mặt tại nơi cư trú;
đ) Căn cứ hợp pháp khác có cơ sở để tin rằng người đó là nạn nhân.
Điều 33. Giấy tờ, tài liệu xác nhận nạn nhân và thẩm quyền cấp
giấy tờ, tài liệu xác nhận nạn nhân
1. Giấy tờ, tài liệu xác nhận nạn nhân là một trong các giấy tờ, tài liệu
sau đây:
a) Giấy xác nhận là nạn nhân hoặc giấy xác nhận không phải là nạn nhân;
b) Giấy tờ, tài liệu chứng minh người đó là nạn nhân do cơ quan nước
ngoài cấp đã được cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài hoặc Bộ Ngoại giao Việt
Nam hợp pháp hóa lãnh sự.
2. Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy xác nhận quy định tại khoản 1 Điều này
bao gồm:
a)[7] Công an cấp tỉnh quy định tại khoản
4 Điều 27 và khoản 1 Điều 28 của Luật này;
b) Cơ quan giải cứu, tiếp nhận quy định tại các điều từ Điều
28 đến Điều 31 của Luật này;
c) Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân;
d) Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài quy định tại khoản
1 Điều 29 của Luật này.
3. Trường hợp đã cấp giấy xác nhận quy định tại điểm a khoản 1 Điều này
nhưng sau đó cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều này chứng minh được
việc cấp giấy xác nhận chưa đúng thì có trách nhiệm hủy và cấp lại giấy xác nhận.
Mục 3. BẢO VỆ NẠN NHÂN, NGƯỜI ĐANG TRONG QUÁ TRÌNH XÁC ĐỊNH
LÀ NẠN NHÂN VÀ NGƯỜI THÂN THÍCH CỦA HỌ
Điều 34. Điều kiện và đối tượng được bảo vệ
Những người sau đây nếu bị xâm hại, bị đe dọa xâm hại, có nguy cơ bị xâm
hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp
pháp khác do có liên quan đến vụ việc, vụ án mua bán người thì tùy từng trường
hợp được áp dụng các biện pháp bảo vệ quy định tại Điều 35 của
Luật này:
1. Nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân và người dưới
18 tuổi đi cùng;
2. Người thân thích của nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là
nạn nhân;
3. Cá nhân tham gia phòng, chống mua bán người hoặc hỗ trợ nạn nhân.
Điều 35. Biện pháp bảo vệ và thẩm quyền áp dụng
1. Trường hợp đối tượng quy định tại Điều 34 của Luật
này là người tố cáo thì áp dụng các biện pháp bảo vệ họ theo quy định của
pháp luật về tố cáo.
2. Trường hợp đối tượng quy định tại Điều 34 của Luật
này là người tham gia tố tụng hình sự thì áp dụng các biện pháp bảo vệ họ
theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.
3. Đối tượng quy định tại Điều 34 của Luật này nếu
không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì áp dụng các
biện pháp bảo vệ sau đây:
a) Bố trí nơi tạm lánh khi họ có nguy cơ bị xâm hại đến tính mạng, sức
khỏe;
b) Các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn hành vi xâm hại, đe dọa xâm hại đến
tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp
khác theo quy định của pháp luật.
4. Người được bảo vệ từ chối hoặc không chấp hành đầy đủ biện pháp bảo vệ
do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền áp dụng thì tự chịu trách nhiệm về an
toàn của bản thân, người thân thích của mình.
Trường hợp người được bảo vệ từ chối biện pháp bảo vệ do bị đe dọa hoặc
bị ép buộc thì cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền vẫn áp dụng biện pháp bảo
vệ.
5. Cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền trong Công an nhân dân, Quân đội
nhân dân và cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền khác áp dụng biện pháp bảo vệ
theo quy định của pháp luật.
6. Chính phủ quy định chi tiết các khoản 3, 4 và 5 Điều này.
Điều 36. Bảo vệ bí mật thông tin về nạn nhân, người đang
trong quá trình xác định là nạn nhân và người dưới 18 tuổi đi cùng
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm giữ bí mật về nơi cư trú,
nơi làm việc, học tập, thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia
đình của nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân và người dưới
18 tuổi đi cùng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Tòa án xem xét, quyết định việc xét xử kín đối với vụ án mua bán người
theo yêu cầu của nạn nhân hoặc người đại diện hợp pháp của nạn nhân theo quy định
của pháp luật.
Chương V
HỖ TRỢ NẠN NHÂN, NGƯỜI
ĐANG TRONG QUÁ TRÌNH XÁC ĐỊNH LÀ NẠN NHÂN
Điều 37. Đối tượng và chế độ hỗ trợ
1. Nạn nhân là công dân Việt Nam, người không quốc tịch thường trú ở Việt
Nam được hưởng chế độ hỗ trợ sau đây:
a) Hỗ trợ nhu cầu thiết yếu;
b) Hỗ trợ y tế;
c) Hỗ trợ phiên dịch;
d) Hỗ trợ pháp luật;
đ) Trợ giúp pháp lý;
e) Hỗ trợ chi phí đi lại;
g) Hỗ trợ tâm lý;
h) Hỗ trợ học văn hóa;
i) Hỗ trợ học nghề, tư vấn, tạo điều kiện để có việc làm;
k) Trợ cấp khó khăn ban đầu, hỗ trợ vay vốn.
2. Người dưới 18 tuổi đi cùng nạn nhân là công dân Việt Nam, người không
quốc tịch thường trú ở Việt Nam được hưởng chế độ hỗ trợ quy định tại các điểm
từ điểm a đến điểm h khoản 1 Điều này.
3. Người đang trong quá trình xác định là nạn nhân là công dân Việt Nam
và người dưới 18 tuổi đi cùng đang ở nước ngoài được hưởng chế độ hỗ trợ quy định
tại các điểm từ điểm a đến điểm d khoản 1 Điều này.
Người đang trong quá trình xác định là nạn nhân là công dân Việt Nam,
người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam và người dưới 18 tuổi đi cùng ở
trong nước được hưởng chế độ hỗ trợ quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm g
khoản 1 Điều này.
4. Nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân là người nước
ngoài bị mua bán tại Việt Nam thì tùy từng trường hợp được hưởng chế độ hỗ trợ
quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và g khoản 1 Điều này.
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 38. Hỗ trợ nhu cầu thiết yếu
Trong trường hợp cần thiết, nạn nhân, người đang trong quá trình xác định
là nạn nhân và người dưới 18 tuổi đi cùng được bố trí chỗ ở tạm thời, được hỗ
trợ về ăn, mặc và các vật dụng cá nhân thiết yếu khác trên cơ sở điều kiện thực
tế và đặc điểm về tín ngưỡng, tôn giáo, độ tuổi, giới tính, tình trạng sức khỏe,
đặc điểm cá nhân của họ.
Điều 39. Hỗ trợ y tế
1. Nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân và người dưới
18 tuổi đi cùng được khám sức khỏe khi tiếp nhận, được sơ cứu, cấp cứu nếu họ bị
thương tích, tổn hại sức khỏe; trong thời gian lưu trú tại cơ sở trợ giúp xã hội
hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân nếu cần được chăm sóc để phục hồi sức khỏe thì được
hỗ trợ chi phí khám bệnh, chữa bệnh.
2. Nạn nhân chưa có bảo hiểm y tế thì được hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế
trong năm đầu tiên kể từ khi họ được cơ quan có thẩm quyền xác nhận là nạn
nhân.
Điều 40. Hỗ trợ phiên dịch
1. Người đang trong quá trình xác định là nạn nhân và người dưới 18 tuổi
đi cùng không biết, không hiểu tiếng Việt được hỗ trợ chi phí phiên dịch trong
thời gian làm thủ tục xác minh là nạn nhân.
2. Nạn nhân và người dưới 18 tuổi đi cùng không biết, không hiểu tiếng
Việt được hỗ trợ chi phí phiên dịch trong thời gian lưu trú tại cơ sở trợ giúp
xã hội hoặc cơ sở hỗ trợ nạn nhân.
Điều 41. Hỗ trợ pháp luật, trợ giúp pháp lý
1. Nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân và người dưới
18 tuổi đi cùng được hỗ trợ pháp luật bằng hình thức tư vấn để phòng ngừa bị
mua bán trở lại, tư vấn làm thủ tục đăng ký cư trú, hộ tịch, làm thẻ căn cước,
nhận chế độ hỗ trợ.
2. Nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân và người dưới
18 tuổi đi cùng được trợ giúp pháp lý bằng các hình thức theo quy định của pháp
luật về trợ giúp pháp lý đối với nội dung có liên quan đến vụ việc, vụ án mua
bán người.
Điều 42. Hỗ trợ chi phí đi lại
Nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân và người dưới
18 tuổi đi cùng có nguyện vọng trở về nơi cư trú thì được hỗ trợ chi phí tiền
tàu, xe đi lại trong nước và tiền ăn trong thời gian đi đường.
Điều 43. Hỗ trợ tâm lý
Nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân và người dưới
18 tuổi đi cùng được hỗ trợ để ổn định tâm lý trong thời gian không quá 03
tháng.
Điều 44. Hỗ trợ học văn hóa, học nghề, tư vấn, tạo điều kiện
để có việc làm
1. Nạn nhân là người dưới 18 tuổi, người dưới 18 tuổi đi cùng nạn nhân nếu
tiếp tục đi học thì được hỗ trợ tiền học phí, tiền mua sách giáo khoa và đồ
dùng học tập trong năm học đầu tiên và năm liền kề kể từ khi được cơ quan có thẩm
quyền xác nhận là nạn nhân.
2. Nạn nhân khi trở về nơi cư trú được xem xét hỗ trợ học nghề, tư vấn,
tạo điều kiện để có việc làm ổn định cuộc sống.
Điều 45. Trợ cấp khó khăn ban đầu, hỗ trợ vay vốn
1. Nạn nhân khi trở về nơi cư trú được hỗ trợ một lần tiền trợ cấp khó
khăn ban đầu.
2. Nạn nhân khi trở về nơi cư trú có nhu cầu vay vốn để sản xuất, kinh
doanh được xem xét để Ngân hàng Chính sách xã hội cho vay với các chính sách
tín dụng ưu đãi theo quy định của pháp luật.
Điều 46. Cơ quan, tổ chức thực hiện việc hỗ trợ
1. Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đã thực hiện việc tiếp nhận hỗ
trợ nhu cầu thiết yếu, hỗ trợ phiên dịch, hỗ trợ y tế, hỗ trợ pháp luật theo
quy định của Luật này và pháp luật có liên quan.
2. Cơ quan Công an, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển đã thực hiện việc
giải cứu, tiếp nhận hỗ trợ nhu cầu thiết yếu, hỗ trợ phiên dịch, hỗ trợ y tế.
3. Ủy ban nhân dân cấp xã đã thực hiện việc tiếp nhận hỗ trợ nhu cầu thiết
yếu, hỗ trợ y tế, hỗ trợ pháp luật.
4.[8] Cơ quan chuyên môn về y tế cấp tỉnh thực
hiện hỗ trợ chi phí đi lại, hỗ trợ phiên dịch, hỗ trợ y tế, hỗ trợ tâm lý, hỗ
trợ học văn hóa, học nghề, tư vấn, tạo điều kiện để có việc làm, trợ cấp khó
khăn ban đầu, hỗ trợ vay vốn.
5. Cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn nhân thực hiện hỗ trợ nhu cầu
thiết yếu, hỗ trợ tâm lý, hỗ trợ y tế, hỗ trợ phiên dịch, hỗ trợ học văn hóa, học
nghề, tư vấn việc làm trong thời gian lưu trú tại cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở
hỗ trợ nạn nhân.
6. Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và các tổ chức tham gia trợ giúp
pháp lý thực hiện trợ giúp pháp lý.
7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 47. Cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn nhân
1. Cơ sở trợ giúp xã hội công lập thực hiện các nhiệm vụ sau đây trong
việc hỗ trợ nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân và người
dưới 18 tuổi đi cùng:
a) Tiếp nhận và bố trí nơi lưu trú; lập hồ sơ quản lý trong thời gian
lưu trú tại cơ sở trợ giúp xã hội;
b) Thực hiện chế độ hỗ trợ theo quy định tại khoản 5 Điều
46 của Luật này;
c) Giáo dục kỹ năng sống;
d) Đánh giá khả năng hòa nhập cộng đồng của nạn nhân, cung cấp thông tin
về chính sách, chế độ, hỗ trợ nạn nhân tại cộng đồng;
đ) Cung cấp thông tin cần thiết cho cơ quan có thẩm quyền để đấu tranh
phòng, chống mua bán người;
e) Phối hợp với cơ quan có thẩm quyền trong việc xác minh nạn nhân;
g) Phối hợp với trung tâm trợ giúp pháp lý để thực hiện trợ giúp pháp lý.
2. Cơ sở hỗ trợ nạn nhân do tổ chức, cá nhân Việt Nam thành lập tham gia
thực hiện nhiệm vụ quy định tại khoản 1 Điều này phù hợp với giấy phép thành lập;
việc thành lập và hoạt động không sử dụng ngân sách nhà nước.
3. Cơ sở trợ giúp xã hội khác do tổ chức, cá nhân Việt Nam thành lập,
không sử dụng ngân sách nhà nước có thể được tham gia hỗ trợ nạn nhân, người
đang trong quá trình xác định là nạn nhân và người dưới 18 tuổi đi cùng theo
quy định tại khoản 1 Điều này và hoạt động theo giấy phép hoạt động.
4. Chính phủ quy định chi tiết khoản 2 và khoản 3 Điều này.
Chương VI
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
PHÒNG, CHỐNG MUA BÁN NGƯỜI
Điều 48. Nội dung quản lý nhà nước về phòng, chống mua bán
người
1. Ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống
mua bán người.
2. Thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống
mua bán người.
3. Thực hiện công tác thống kê, báo cáo về phòng, chống mua bán người.
4. Đào tạo, bồi dưỡng người làm công tác phòng, chống mua bán người.
5. Nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế về phòng, chống mua bán người.
6. Khen thưởng cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong phòng, chống
mua bán người.
7. Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm
pháp luật về phòng, chống mua bán người.
Điều 49. Trách nhiệm quản lý nhà nước về phòng, chống mua
bán người
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về phòng, chống mua bán người.
2. Bộ Công an chịu trách nhiệm giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước
về phòng, chống mua bán người.
3. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình,
có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công an thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống
mua bán người, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật này và quy
định khác của pháp luật có liên quan.
4. Ủy ban nhân dân các cấp, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình,
có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống mua bán người tại địa
phương, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật này.
Điều 50. Trách nhiệm của Bộ Công an
1. Trong việc thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống mua bán người,
Bộ Công an có trách nhiệm sau đây:
a) Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành
chính sách, pháp luật về phòng, chống mua bán người;
b) Đề xuất với Chính phủ trong việc ký kết, gia nhập điều ước quốc tế hoặc
triển khai hoạt động hợp tác quốc tế có liên quan đến phòng, chống mua bán người;
c) Thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống
mua bán người theo quy định của pháp luật;
d) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan và Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống mua bán người;
đ) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan ban hành và tổ
chức thực hiện quy định về công tác đào tạo, bồi dưỡng; tổng kết kinh nghiệm thực
tiễn, nhân rộng các mô hình và khen thưởng cá nhân, tập thể có thành tích trong
phòng, chống mua bán người;
e) Thanh tra, kiểm tra về công tác phòng, chống mua bán người;
g) Thực hiện hợp tác quốc tế trong phòng, chống mua bán người theo thẩm
quyền;
h) Thực hiện chế độ báo cáo thống kê về phòng, chống mua bán người; giúp
Chính phủ xây dựng báo cáo trình Quốc hội về công tác phòng, chống mua bán người
lồng ghép vào báo cáo hằng năm của Chính phủ về công tác phòng, chống tội phạm
và vi phạm pháp luật.
2. Trong công tác đấu tranh phòng, chống mua bán người, Bộ Công an có
trách nhiệm sau đây:
a) Tổ chức, bố trí lực lượng trực tiếp thực hiện hoặc phối hợp thực hiện
nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống mua bán người;
b) Thực hiện quản lý an ninh, trật tự để phòng ngừa mua bán người;
c) Chỉ đạo công an các cấp thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn về phòng, chống
mua bán người theo quy định của Luật này;
d) Xây dựng phong trào toàn dân tham gia phòng ngừa, phát hiện, đấu
tranh chống tội phạm mua bán người, bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
đ) Thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin trong phòng, chống mua bán người
gắn với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu về căn cước và cơ sở dữ
liệu chuyên ngành khác.
Điều 51. Trách nhiệm của Bộ Quốc phòng
1. Phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan và Ủy ban nhân dân các cấp tổ
chức tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân ở khu vực biên giới, trên biển,
hải đảo, cửa khẩu thuộc thẩm quyền tham gia các hoạt động phòng, chống mua bán
người theo quy định của pháp luật.
2. Chỉ đạo lực lượng Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển thực hiện nhiệm vụ
phòng, chống mua bán người tại khu vực biên giới, trên biển, hải đảo, cửa khẩu
thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật; tiếp nhận, hỗ trợ, bảo vệ nạn
nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân theo quy định của Luật
này.
3. Thực hiện quản lý an ninh, trật tự tại khu vực biên giới, trên biển,
hải đảo, cửa khẩu thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật để phòng ngừa
mua bán người.
4. Thực hiện hợp tác quốc tế trong phòng, chống mua bán người theo thẩm
quyền.
Điều 52.[9] (được
bãi bỏ)
Điều 53. Trách nhiệm của Bộ Y tế[10]
1. Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành
văn bản quy phạm pháp luật về chính sách hỗ trợ nạn nhân, người đang trong quá
trình xác định là nạn nhân.
2. Hướng dẫn, quản lý, kiểm tra công tác hỗ trợ nạn nhân, người đang
trong quá trình xác định là nạn nhân.
3. Hướng dẫn về điều trị y tế, hỗ trợ tâm lý.
4. Thực hiện công tác tiếp nhận thông tin, tin báo, tố giác về mua bán
người tới tổng đài điện thoại quốc gia về phòng, chống mua bán người.
5. Chủ trì phối hợp với Bộ Công an hướng dẫn cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
phát hiện, báo cáo, cung cấp thông tin trường hợp có dấu hiệu mua bán người,
mua bán bộ phận cơ thể người, thỏa thuận mua bán người từ khi còn đang là bào
thai.
6. Thực hiện hợp tác quốc tế trong phòng, chống mua bán người theo thẩm
quyền.
Điều 54. Trách nhiệm của Bộ Ngoại giao
1. Chỉ đạo, hướng dẫn đơn vị có thẩm quyền, cơ quan đại diện Việt Nam ở
nước ngoài triển khai công tác phòng, chống mua bán người và thực hiện công tác
bảo hộ nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân bị mua bán ra
nước ngoài là công dân Việt Nam; phối hợp với cơ quan có thẩm quyền của Việt
Nam và của nước ngoài thực hiện giải cứu, tiếp nhận, xác định nạn nhân, đưa nạn
nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân là công dân Việt Nam về
nước.
2. Chỉ đạo việc phối hợp với cơ quan đại diện của nước có liên quan và
cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam để đưa nạn nhân là người nước ngoài về nước.
3. Chỉ đạo nghiên cứu các giải pháp phòng, chống mua bán người trong xây
dựng chính sách về các vấn đề di cư quốc tế theo thẩm quyền.
4. Thực hiện hợp tác quốc tế trong phòng, chống mua bán người theo thẩm
quyền.
Điều 55. Trách nhiệm của Bộ Tư pháp
1. Phối hợp với Bộ Công an và các cơ quan có liên quan trong việc xây dựng,
hoàn thiện và theo dõi thi hành pháp luật về phòng, chống mua bán người.
2. Hướng dẫn, quản lý, kiểm tra[11] hoạt
động đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài, đăng ký việc nuôi con nuôi nhằm
phòng, chống việc lợi dụng các hoạt động này để mua bán người.
3. Quản lý, hướng dẫn trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và các tổ chức
tham gia trợ giúp pháp lý thực hiện trợ giúp pháp lý cho nạn nhân, người đang
trong quá trình xác định là nạn nhân theo quy định của pháp luật về trợ giúp
pháp lý.
4. Thực hiện hợp tác quốc tế trong phòng, chống mua bán người theo thẩm
quyền.
Điều 56. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp
1. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Ủy ban nhân dân các cấp
có trách nhiệm sau đây:
a) Triển khai thực hiện việc thông tin, tuyên truyền về phòng, chống mua
bán người;
b) Lồng ghép nội dung phòng, chống mua bán người vào các chương trình
phát triển kinh tế - xã hội;
c) Tổ chức thực hiện công tác phòng, chống mua bán người;
d) Bố trí ngân sách cho công tác phòng, chống mua bán người;
đ) Xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật về phòng,
chống mua bán người;
e) Tổ chức thực hiện công tác quản lý an ninh, trật tự để phòng, chống
mua bán người;
g) Cấp giấy phép thành lập cho cơ sở hỗ trợ nạn nhân, cấp giấy phép hoạt
động cho cơ sở trợ giúp xã hội khác để thực hiện việc hỗ trợ.
2. Cùng với việc thực hiện quy định tại khoản 1 Điều này, Ủy ban nhân
dân cấp xã còn có trách nhiệm sau đây:
a) Chủ trì, phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và
các tổ chức thành viên của Mặt trận tổ chức, tạo điều kiện cho hoạt động tư vấn
về phòng, chống mua bán người ở cơ sở;
b) Tiếp nhận và thực hiện việc hỗ trợ nạn nhân, người đang trong quá
trình xác định là nạn nhân và người dưới 18 tuổi đi cùng theo quy định của Luật
này;
c) Tạo điều kiện cho nạn nhân hòa nhập cộng đồng.
3. Chính phủ quy định chi tiết điểm g khoản 1 Điều này.
Chương VII
HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG
PHÒNG, CHỐNG MUA BÁN NGƯỜI
Điều 57. Nguyên tắc hợp tác quốc tế trong phòng, chống mua
bán người
Nhà nước Việt Nam thực hiện hợp tác quốc tế trong phòng, chống mua bán người
trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp
vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi.
Điều 58. Thực hiện hợp tác quốc tế trong phòng, chống mua
bán người
1. Trên cơ sở điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là thành viên, quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên
quan, thỏa thuận quốc tế đã ký kết, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hợp tác
với cơ quan có thẩm quyền của các nước, tổ chức quốc tế, tổ chức, cá nhân nước
ngoài trong việc tăng cường năng lực pháp luật, thông tin, công nghệ và đào tạo
cho hoạt động phòng, chống mua bán người.
2. Việc phối hợp giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và của nước
ngoài để giải quyết vụ việc về mua bán người được thực hiện theo quy định của
điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Trong trường hợp Việt Nam và nước có liên quan không cùng tham gia điều
ước quốc tế thì cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thực hiện việc hợp tác quốc
tế trên nguyên tắc có đi có lại, phù hợp với pháp luật của Việt Nam, pháp luật
và tập quán quốc tế.
Điều 59. Hợp tác quốc tế trong việc giải cứu và đưa nạn
nhân về nước
1. Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có trách nhiệm hợp tác với cơ quan
có thẩm quyền của nước ngoài trong việc giải cứu, hỗ trợ, bảo vệ nạn nhân, người
đang trong quá trình xác định là nạn nhân.
2. Nhà nước Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi trong việc đưa nạn nhân là
người nước ngoài về nước mà người đó có quốc tịch hoặc có nơi thường trú cuối
cùng; áp dụng các biện pháp để việc đưa nạn nhân về nước được tiến hành trên cơ
sở điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên,
theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan, thỏa thuận quốc tế giữa
Việt Nam với các nước, bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm
của nạn nhân.
Điều 60. Tương trợ tư pháp trong phòng, chống mua bán người
Việc tương trợ tư pháp trong phòng, chống mua bán người giữa Việt Nam và
nước có liên quan được thực hiện trên cơ sở điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước đó cùng là thành viên hoặc trên nguyên tắc có
đi có lại, phù hợp với pháp luật của Việt Nam, pháp luật và tập quán quốc tế.
Chương VIII
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH[12]
Điều 61.[13] (được
bãi bỏ)
Điều 62. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
2. Luật Phòng, chống mua bán người số 66/2011/QH12 hết hiệu lực kể từ
ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp quy định tại Điều
63 của Luật này.
Điều 63. Quy định chuyển tiếp
Người
được xác định là nạn nhân trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành và người dưới
18 tuổi đi cùng thì được hưởng chế độ hỗ trợ theo quy định của Luật Phòng, chống
mua bán người số 66/2011/QH12.
|
|
XÁC
THỰC VĂN BẢN HỢP NHẤT
CHỦ NHIỆM
Lê Quang Mạnh
|
[1]
Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự có căn cứ
ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã
được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc
hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13
đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và Luật số
59/2024/QH15.”.
Luật số
05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý có căn cứ
ban hành như sau:
“Căn
cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một
số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc
hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý số
11/2017/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 53/2024/QH15 và
Luật số 59/2024/QH15.”.
[2]
Cụm từ “xã, phường, thị trấn” được thay thế bởi cụm từ “xã, phường, đặc khu”
theo quy định tại điểm e khoản 3 Điều 2 của Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[3]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 2 của Luật
số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[4]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 2 của Luật
số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[5]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 2 của Luật
số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[6]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 2 của Luật
số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[7]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 2 của Luật
số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[8]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 2 của Luật
số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[9]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 2 của Luật số
86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[10]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm đ khoản 3 Điều 2 của Luật
số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[11]
Cụm từ “, thanh tra” được bỏ theo quy định tại điểm g khoản 3 Điều 2 của Luật số
86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[12]
Điều 3 và Điều 4 của Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ
luật Hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025 quy định như sau:
“Điều 3. Hiệu lực thi hành
Luật
này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
Điều
4. Điều khoản chuyển tiếp
1.
Kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025, Luật này được áp dụng như sau:
a)
Các quy định tại Điều 1 của Luật này được áp dụng để khởi tố, điều tra,
truy tố, xét xử và thi hành án đối với người thực hiện hành vi phạm tội từ 0 giờ
00 phút ngày 01 tháng 7 năm 2025;
b)
Quy định có lợi cho người phạm tội tại các điều 40, 63, 109, 110, 114, 194,
248, 250, 251, 353, 354 và 421 của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa
đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và Luật số 59/2024/QH15 (sau
đây gọi là Bộ luật Hình sự) được sửa đổi, bổ sung tại các khoản 1, 4, 5, 6, 7,
10, 18, 22, 23 và 29 Điều 1 của Luật này và các quy định khác có lợi cho người
phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành
vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 7 năm 2025 mà sau thời điểm
đó mới bị phát hiện hoặc đang bị điều tra, truy tố, xét xử;
c)
Quy định không có lợi cho người phạm tội tại các điều 63, 192, 193, 194, 195,
235, 236, 237, 238, 239, 240, 241, 242, 243, 244, 245, 246, 248, 249, 250, 251,
252, 255, 317, 353, 354, 355, 356, 357, 358 và 359 của Bộ luật Hình sự được sửa
đổi, bổ sung tại các khoản 4, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 21,
22, 23, 24, 25, 26, 27 và 28 Điều 1 của Luật này và các quy định khác không có
lợi cho người phạm tội thì không áp dụng đối với những hành vi xảy ra trước 0
giờ 00 phút ngày 01 tháng 7 năm 2025 mà sau thời điểm đó mới phát hiện hoặc
đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn
chấp hành hình phạt, xóa án tích; trong trường hợp này, áp dụng quy định tương ứng
của các văn bản quy phạm pháp luật về hình sự có hiệu lực trước 0 giờ 00 phút
ngày 01 tháng 7 năm 2025 để giải quyết, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều
này;
d)
Đối với những hành vi phạm tội đã có bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực
pháp luật trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 7 năm 2025 thì không căn cứ vào những
quy định của Luật này có nội dung khác so với các điều luật đã được áp dụng
khi tuyên án để kháng nghị giám đốc thẩm; trường hợp kháng nghị dựa vào căn cứ
khác hoặc đã kháng nghị trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 thì việc xét xử giám đốc
thẩm được áp dụng quy định tại điểm b và điểm c khoản này.
2.
Hình phạt tử hình đã tuyên trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 đối với người phạm tội
về các tội quy định tại các điều 109, 110, 114, 194, 250, 353, 354 và 421 của Bộ luật Hình sự hoặc thuộc trường hợp quy định tại
điểm c khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều
1 của Luật này mà chưa thi hành án thì không thi hành và Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao quyết định chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân.
3.
Hình phạt tử hình đã tuyên trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 đối với người phạm tội
về các tội quy định tại Điều 248 hoặc Điều 251 của Bộ luật Hình sự mà chưa thi
hành án thì không thi hành và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định chuyển
hình phạt tử hình thành tù chung thân đối với các trường hợp sau:
a)
Khối lượng, thể tích chất ma túy được xác định trong bản án để quyết định hình
phạt bằng hoặc thấp hơn khối lượng, thể tích chất ma túy thấp nhất quy định tại
khoản 5 Điều 248 hoặc khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ
sung tại khoản 18 Điều 1 của Luật này;
b)
Khối lượng, thể tích chất ma túy được xác định trong bản án để quyết định hình
phạt lớn hơn khối lượng, thể tích chất ma túy thấp nhất quy định tại khoản 5 Điều
248 hoặc khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung tại khoản
18 Điều 1 của Luật này mà người phạm tội không phải là người chủ mưu, cầm đầu,
chỉ huy hoặc không có 02 tình tiết tăng nặng trở lên.
4.
Người phạm tội về các tội quy định tại Điều 353 và Điều 354 của Bộ luật Hình sự
mà theo quy định tại khoản 2 Điều này được chuyển thành tù chung thân thì vẫn áp
dụng quy định tại điểm a khoản 4 Điều 1 của Luật này khi xét giảm mức hình phạt
đã tuyên.
5.
Hình phạt tù chung thân đã tuyên trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 khi xét giảm mức
hình phạt đã tuyên đối với người phạm tội về các tội quy định tại Điều 353 và Điều
354 của Bộ luật Hình sự thì không áp dụng quy định tại điểm a khoản 4 Điều 1 của
Luật này khi xét giảm mức hình phạt đã tuyên.
6.
Trách nhiệm triển khai, thi hành Luật này được quy định như sau:
a)
Giao Tòa án nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng,
Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan có liên quan tổ chức việc rà soát
người bị kết án tử hình thuộc diện được chuyển từ hình phạt tử hình thành tù
chung thân để thực hiện theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này;
b) Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, phối hợp tổ chức rà
soát các văn bản có liên quan để kịp thời hủy bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban
hành mới hoặc đề nghị Quốc hội, Ủy ban Thường
vụ Quốc hội hủy bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật cho phù hợp với quy định của Luật này.”.
Điều 3 của
Luật số 05/2026/QH16 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026 quy định như sau:
“Điều
3. Hiệu lực thi hành
Luật
này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.”.
[13]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 2 Điều 2 của Luật số 05/2026/QH16
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2027.