|
VĂN PHÒNG QUỐC
HỘI
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 104/VBHN-VPQH
|
Hà Nội, ngày 27
tháng 8 năm 2025
|
BỘ LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Bộ luật Tố tụng hình sự số
101/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2016, được sửa đổi, bổ sung bởi:
1. Luật số 02/2021/QH15 ngày 12
tháng 11 năm 2021 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng
hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2021;
2. Luật Tổ chức Tòa án nhân dân
số 34/2024/QH15 ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2025;
3. Luật Tư pháp người chưa
thành niên số 59/2024/QH15 ngày 30 tháng 11 năm 2024 của Quốc hội, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026;
4. Luật số 99/2025/QH15 ngày 27
tháng 6 năm 2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng
hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Bộ luật Tố
tụng hình sự[1],
Phần thứ
nhất
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Chương
I
PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH,
NHIỆM VỤ, HIỆU LỰC CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Điều 1. Phạm
vi điều chỉnh
Bộ luật Tố tụng hình sự quy định
trình tự, thủ tục tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều
tra, truy tố, xét xử và một số thủ tục thi hành án hình sự; nhiệm vụ, quyền hạn
và mối quan hệ giữa các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng; nhiệm vụ, quyền
hạn và trách nhiệm của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ
của người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân; hợp tác quốc tế trong tố
tụng hình sự.
Điều 2. Nhiệm
vụ của Bộ luật Tố tụng hình sự
Bộ luật Tố tụng hình sự có nhiệm
vụ bảo đảm phát hiện chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội,
phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội;
góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ
xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ
chức, cá nhân, giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng
ngừa và chống tội phạm.
Điều 3. Hiệu
lực của Bộ luật Tố tụng hình sự
1. Bộ luật Tố tụng hình sự có
hiệu lực đối với mọi hoạt động tố tụng hình sự trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam.
2. Hoạt động tố tụng hình sự đối
với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam được tiến hành theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại.
Trường hợp người nước ngoài thuộc
đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt
Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc
tập quán quốc tế thì được giải quyết theo quy định của điều ước quốc tế hoặc tập
quán quốc tế đó; trường hợp điều ước quốc tế đó không quy định hoặc không có tập
quán quốc tế thì được giải quyết bằng con đường ngoại giao.
Điều 4. Giải
thích từ ngữ
1. Trong Bộ luật này, các từ ngữ
dưới đây được hiểu như sau:
a) Cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng gồm cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra.
b) Người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng gồm người tiến hành tố tụng và người được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra.
c) Người tham gia tố tụng là
cá nhân, cơ quan, tổ chức tham gia hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật
này.
d) Nguồn tin về tội phạm gồm
tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của cơ quan, tổ chức, cá nhân,
lời khai của người phạm tội tự thú và thông tin về tội phạm do cơ quan có thẩm
quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện.
đ) Người bị buộc tội gồm
người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
e) Người thân thích của người
tham gia tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là người có quan hệ
với người tham gia tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gồm vợ, chồng,
bố đẻ, mẹ đẻ, bố chồng, mẹ chồng, bố vợ, mẹ vợ, bố nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con
nuôi; ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột; cụ nội,
cụ ngoại, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, cháu ruột.
g) Đương sự gồm nguyên
đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
hình sự.
h) Tự thú là việc người
phạm tội tự nguyện khai báo với cơ quan, tổ chức về hành vi phạm tội của mình
trước khi tội phạm hoặc người phạm tội bị phát hiện.
i) Đầu thú là việc người
phạm tội sau khi bị phát hiện đã tự nguyện ra trình diện và khai báo với cơ
quan có thẩm quyền về hành vi phạm tội của mình.
k) Áp giải là việc cơ
quan có thẩm quyền cưỡng chế người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt, bị
tạm giữ, bị can, bị cáo đến địa điểm tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử.
l) Dẫn giải là việc cơ
quan có thẩm quyền cưỡng chế người làm chứng, người bị tố giác hoặc bị kiến nghị
khởi tố đến địa điểm tiến hành điều tra, truy tố, xét xử hoặc người bị hại từ
chối giám định.
m) Danh bản là bản ghi
thông tin tóm tắt về lý lịch, nhân dạng, ảnh chụp ba tư thế, in dấu vân hai
ngón tay trỏ của bị can do cơ quan có thẩm quyền lập và lưu giữ.
n) Chỉ bản là bản ghi
thông tin tóm tắt về lý lịch và in dấu vân tất cả các ngón tay của bị can do cơ
quan có thẩm quyền lập và lưu giữ.
o) Vi phạm nghiêm trọng thủ
tục tố tụng là việc cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong
quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử không thực hiện hoặc thực hiện
không đúng, không đầy đủ các trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và đã
xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng hoặc
làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án;
p)[2] Viện kiểm sát có thẩm quyền là Viện kiểm sát có trách nhiệm
thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết vụ
việc, vụ án.
2. Trong Bộ luật này, những từ
ngữ dưới đây được gọi như sau:
a)[3] (được bãi bỏ)
b) Cơ quan điều tra Công an tỉnh,
thành phố[4] sau đây gọi là Cơ quan
điều tra cấp tỉnh.
c) Cơ quan điều tra quân sự
quân khu và tương đương sau đây gọi là Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu.
d)[5] (được bãi bỏ)
đ) Viện kiểm sát nhân dân tỉnh,
thành phố[6] sau đây gọi là Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh.
e) Viện kiểm sát quân sự quân
khu và tương đương sau đây gọi là Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu.
g)[7] (được bãi bỏ)
h) Tòa án nhân dân tỉnh, thành
phố[8] sau đây gọi là Tòa án nhân
dân cấp tỉnh.
i) Tòa án quân sự quân khu và
tương đương sau đây gọi là Tòa án quân sự cấp quân khu;
k)[9] Xã, phường, đặc khu sau đây gọi là cấp xã.
Điều 5.
Trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân trong đấu tranh phòng, chống
tội phạm
1. Trong phạm vi trách nhiệm của
mình, cơ quan nhà nước phải áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm, phối hợp
với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc đấu tranh phòng, chống tội
phạm.
Cơ quan nhà nước phải thường
xuyên kiểm tra, thanh tra việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; phát hiện
kịp thời hành vi vi phạm pháp luật để xử lý và thông báo ngay cho Cơ quan điều
tra, Viện kiểm sát mọi hành vi phạm tội xảy ra trong cơ quan và trong lĩnh vực
quản lý của mình; kiến nghị và gửi tài liệu có liên quan cho Cơ quan điều tra,
Viện kiểm sát xem xét, khởi tố đối với người thực hiện hành vi phạm tội.
Thủ trưởng cơ quan nhà nước phải
chịu trách nhiệm về việc không thông báo hoặc cung cấp thông tin sai sự thật về
hành vi phạm tội xảy ra trong cơ quan và trong lĩnh vực quản lý của mình cho Cơ
quan điều tra, Viện kiểm sát.
2. Tổ chức, cá nhân có quyền và
nghĩa vụ phát hiện, tố giác, báo tin về tội phạm; tham gia đấu tranh phòng, chống
tội phạm.
3. Cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng có trách nhiệm tạo điều kiện để cơ quan nhà nước, tổ chức và cá
nhân tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm.
4. Cơ quan nhà nước, tổ chức và
cá nhân có trách nhiệm thực hiện yêu cầu và tạo điều kiện để cơ quan, người có
thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ.
5. Cơ quan thanh tra, kiểm toán
nhà nước có trách nhiệm phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
trong việc phát hiện và xử lý tội phạm. Khi phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội
phạm thì phải chuyển ngay các tài liệu, đồ vật có liên quan và kiến nghị Cơ
quan điều tra, Viện kiểm sát xem xét, khởi tố vụ án hình sự.
6. Nghiêm cấm mọi hành vi cản
trở hoạt động của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm
vụ.
Điều 6.
Phát hiện và khắc phục nguyên nhân, điều kiện phạm tội
1. Trong quá trình tiến hành tố
tụng hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm phát hiện
nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan
áp dụng các biện pháp khắc phục và phòng ngừa.
2. Cơ quan, tổ chức hữu quan phải
thực hiện yêu cầu, kiến nghị của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, kiến nghị, cơ quan, tổ chức hữu
quan phải trả lời bằng văn bản về việc thực hiện yêu cầu, kiến nghị của cơ quan
có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Chương II
NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN
Điều 7. Bảo
đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự[10]
Mọi hoạt động tố tụng hình sự
phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật này. Không được giải quyết nguồn
tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử ngoài những căn cứ và trình
tự, thủ tục do Bộ luật này quy định. Đối với việc tiếp nhận, giải quyết nguồn
tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử liên quan đến người chưa
thành niên thì còn phải thực hiện theo quy định của Luật Tư pháp người chưa
thành niên.
Điều 8. Tôn
trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân
Khi tiến hành tố tụng, trong phạm
vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
phải tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá
nhân; thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp
đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó nếu xét thấy có vi
phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết.
Điều 9. Bảo
đảm quyền bình đẳng trước pháp luật
Tố tụng hình sự được tiến hành
theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc,
giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần và địa vị xã hội. Bất cứ người nào
phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật.
Mọi pháp nhân đều bình đẳng trước
pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế.
Điều 10. Bảo
đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể
Mọi người có quyền bất khả xâm
phạm về thân thể. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định
hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang.
Việc giữ người trong trường hợp
khẩn cấp, việc bắt, tạm giữ, tạm giam người phải theo quy định của Bộ luật này.
Nghiêm cấm tra tấn, bức cung, dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào
khác xâm phạm thân thể, tính mạng, sức khỏe của con người.
Điều 11. Bảo
hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; danh dự, uy
tín, tài sản của pháp nhân
Mọi người có quyền được pháp luật
bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản.
Mọi hành vi xâm phạm trái pháp
luật tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; xâm phạm
danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân đều bị xử lý theo pháp luật.
Công dân Việt Nam không thể bị
trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác.
Điều 12. Bảo
đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật
gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân
Không ai được xâm phạm trái
pháp luật chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và
bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng
tư khác của cá nhân.
Việc khám xét chỗ ở; khám xét,
tạm giữ và thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, dữ liệu điện tử và các hình
thức trao đổi thông tin riêng tư khác phải được thực hiện theo quy định của Bộ
luật này.
Điều 13.
Suy đoán vô tội
Người bị buộc tội được coi là
không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này
quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Khi không đủ và không thể làm
sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định
thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc
tội không có tội.
Điều 14.
Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm
Không được khởi tố, điều tra,
truy tố, xét xử đối với người mà hành vi của họ đã có bản án của Tòa án đã có
hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp họ thực hiện hành vi nguy hiểm khác cho xã hội
mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm.
Điều 15.
Xác định sự thật của vụ án
Trách nhiệm chứng minh tội phạm
thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền
nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn
của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp
pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ,
làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng
và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội.
Điều 16. Bảo
đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
bị hại, đương sự
Người bị buộc tội có quyền tự
bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.
Cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc
tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp
pháp của họ theo quy định của Bộ luật này.
Điều 17.
Trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
Trong quá trình tiến hành tố tụng,
cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải nghiêm chỉnh thực hiện quy
định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm về hành vi, quyết định của mình.
Người vi phạm pháp luật trong
việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra,
truy tố, xét xử, thi hành án thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ
luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật.
Điều 18.
Trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự
Khi phát hiện hành vi có dấu hiệu
tội phạm, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng có trách nhiệm khởi tố vụ án, áp dụng các biện pháp do Bộ luật này
quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội, pháp nhân phạm tội.
Không được khởi tố vụ án ngoài
những căn cứ và trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định.
Điều 19.
Tuân thủ pháp luật trong hoạt động điều tra
Cơ quan điều tra, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải tuân thủ pháp luật khi
tiến hành hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật này.
Mọi hoạt động điều tra phải tôn
trọng sự thật, tiến hành khách quan, toàn diện và đầy đủ; phát hiện nhanh
chóng, chính xác mọi hành vi phạm tội, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng
cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự,
nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với việc
giải quyết vụ án.
Điều 20.
Trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
tố tụng hình sự[11]
Viện kiểm sát thực hành quyền
công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, quyết định
việc buộc tội, phát hiện vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội,
người phạm tội, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện
và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi
hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm
tội, pháp nhân phạm tội, không làm oan người vô tội.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao quy định thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân mỗi cấp trong thực
hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự
theo quy định của Bộ luật này.
Điều 21. Bảo
đảm sự vô tư của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng
Người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng, người phiên dịch, người dịch thuật, người giám định, người định giá tài sản,
người chứng kiến không được tham gia tố tụng nếu có lý do cho rằng họ có thể
không vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ.
Điều 22.
Thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia
Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án
có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn do Bộ luật này
quy định.
Điều 23.
Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc
lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp
vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân can
thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm dưới bất kỳ hình thức nào thì
tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính
hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật.
Điều 24.
Tòa án xét xử tập thể
Tòa án xét xử tập thể và quyết
định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn do Bộ luật này quy
định.
Điều 25.
Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai
Tòa án xét xử kịp thời trong thời
hạn luật định, bảo đảm công bằng.
Tòa án xét xử công khai, mọi
người đều có quyền tham dự phiên tòa, trừ trường hợp do Bộ luật này quy định. Trường
hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ
người dưới 18 tuổi hoặc để giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương
sự thì Tòa án có thể xét xử kín nhưng phải tuyên án công khai.
Điều 26. Tranh
tụng trong xét xử được bảo đảm
Trong quá trình khởi tố, điều
tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến
hành tố tụng, người bị buộc tội, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác
đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra
yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án.
Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ
vụ án do Viện kiểm sát chuyển đến Tòa án để xét xử phải đầy đủ và hợp pháp.
Phiên tòa xét xử vụ án hình sự phải có mặt đầy đủ những người theo quy định của
Bộ luật này, trường hợp vắng mặt phải vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại
khách quan hoặc trường hợp khác do Bộ luật này quy định. Tòa án có trách nhiệm
tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố
tụng khác thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và tranh tụng dân chủ, bình
đẳng trước Tòa án.
Mọi chứng cứ xác định có tội,
chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự để xác định tội danh,
quyết định hình phạt, mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo, xử lý vật chứng
và những tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết vụ án đều phải được trình bày,
tranh luận, làm rõ tại phiên tòa.
Bản án, quyết định của Tòa án
phải căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại
phiên tòa.
Điều 27.
Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm
1. Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc
thẩm được bảo đảm.
Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa
án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật này. Bản án, quyết
định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do Bộ luật này quy định
thì có hiệu lực pháp luật.
Bản án, quyết định sơ thẩm bị
kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm. Bản án, quyết định
phúc thẩm của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Bản án, quyết định của Tòa
án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc
có tình tiết mới theo quy định của Bộ luật này thì được xem xét lại theo trình
tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
Điều 28. Bảo
đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án
1. Bản án, quyết định của Tòa
án đã có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng. Cơ
quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành.
2. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền
hạn, nghĩa vụ của mình, cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm phối hợp, tạo điều
kiện và thực hiện yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân có nhiệm vụ thi hành bản
án, quyết định của Tòa án.
Điều 29.
Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hình sự
Tiếng nói và chữ viết dùng
trong tố tụng hình sự là tiếng Việt. Người tham gia tố tụng có quyền dùng tiếng
nói và chữ viết của dân tộc mình, trường hợp này phải có phiên dịch.
Điều 30.
Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự
Việc giải quyết vấn đề dân sự
trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự. Trường
hợp vụ án hình sự phải giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại, bồi hoàn mà chưa
có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự
thì vấn đề dân sự có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.
Điều 31. Bảo
đảm quyền được bồi thường của người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự
1. Người bị giữ trong trường hợp
khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử,
thi hành án oan, trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất,
tinh thần và phục hồi danh dự.
Nhà nước có trách nhiệm bồi thường
thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi cho người bị giữ trong trường hợp khẩn
cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử,
thi hành án oan, trái pháp luật do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
gây ra.
2. Người khác bị thiệt hại do
cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây ra có quyền được Nhà nước bồi
thường thiệt hại.
Điều 32. Bảo
đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự
Cá nhân, cơ quan, tổ chức có
quyền khiếu nại, cá nhân có quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động
tố tụng hình sự của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hoặc của bất
cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan đó.
Cơ quan, người có thẩm quyền phải
tiếp nhận, xem xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo kịp thời, đúng pháp luật; gửi
văn bản kết quả giải quyết cho người khiếu nại, tố cáo, cơ quan, tổ chức khiếu
nại và có biện pháp khắc phục.
Trình tự, thủ tục, thẩm quyền
giải quyết khiếu nại, tố cáo do Bộ luật này quy định.
Nghiêm cấm việc trả thù người
khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống người khác.
Điều 33.
Kiểm tra, giám sát trong tố tụng hình sự
1. Cơ quan, người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng phải thường xuyên kiểm tra việc tiến hành các hoạt động tố tụng
thuộc thẩm quyền; thực hiện kiểm soát giữa các cơ quan trong việc tiếp nhận, giải
quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.
2. Cơ quan nhà nước, Ủy ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, đại biểu dân cử
có quyền giám sát hoạt động của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng.
Nếu phát hiện hành vi trái pháp
luật của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì cơ quan nhà nước, đại
biểu dân cử có quyền yêu cầu, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức
thành viên của Mặt trận có quyền kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền tiến hành
tố tụng xem xét, giải quyết theo quy định của Bộ luật này. Cơ quan có thẩm quyền
tiến hành tố tụng phải xem xét, giải quyết và trả lời kiến nghị, yêu cầu đó
theo quy định của pháp luật.
Chương
III
CƠ QUAN CÓ THẨM QUYỀN TIẾN
HÀNH TỐ TỤNG, NGƯỜI CÓ THẨM QUYỀN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG
Điều 34.
Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng
1. Cơ quan tiến hành tố tụng gồm:
a) Cơ quan điều tra;
b) Viện kiểm sát;
c) Tòa án.
2. Người tiến hành tố tụng gồm:
a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng
Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra;
b) Viện trưởng, Phó Viện trưởng
Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên;
c) Chánh án, Phó Chánh án Tòa
án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên.
Điều 35.
Cơ quan và người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
1. Cơ quan được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra gồm:
a) Các cơ quan của Bộ đội biên
phòng;
b) Các cơ quan của Hải quan;
c) Các cơ quan của Kiểm lâm;
d) Các cơ quan của lực lượng Cảnh
sát biển;
đ) Các cơ quan của Kiểm ngư;
e) Các cơ quan của Công an nhân
dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;
g) Các cơ quan khác trong Quân
đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.
Các cơ quan cụ thể được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quy định tại khoản này được quy định
tại Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự.
2. Người được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra gồm:
a)[12] Người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra của Bộ đội biên phòng gồm Cục trưởng, Phó Cục trưởng Cục Trinh sát; Cục trưởng,
Phó Cục trưởng Cục Phòng, chống ma túy và tội phạm; Đoàn trưởng, Phó Đoàn trưởng
Đoàn Trinh sát; Đoàn trưởng, Phó Đoàn trưởng Đoàn Đặc nhiệm phòng, chống ma túy
và tội phạm; Chỉ huy trưởng, Phó Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Bộ đội biên phòng;
Đồn trưởng, Phó Đồn trưởng Đồn biên phòng; Chỉ huy trưởng, Phó Chỉ huy trưởng
Biên phòng Cửa khẩu cảng;
b)[13] Người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra của Hải quan gồm Chi cục trưởng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Điều tra chống
buôn lậu; Chi cục trưởng, Phó Chi cục trưởng Chi cục kiểm tra sau thông quan;
Chi cục trưởng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Hải quan khu vực; Đội trưởng, Phó Đội
trưởng Hải quan cửa khẩu;
c)[14] Người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra của Kiểm lâm gồm Cục trưởng, Phó Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm; Chi
cục trưởng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm vùng, Chi cục trưởng, Phó Chi
cục trưởng Chi cục Kiểm lâm; Hạt trưởng, Phó Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm;
d)[15] Người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra của lực lượng Cảnh sát biển gồm Tư lệnh, Phó Tư lệnh Cảnh sát biển; Tư lệnh
vùng, Phó Tư lệnh vùng Cảnh sát biển; Cục trưởng, Phó Cục trưởng Cục Nghiệp vụ
và pháp luật; Đoàn trưởng, Phó Đoàn trưởng Đoàn Trinh sát; Đoàn trưởng, Phó
Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy; Hải đoàn trưởng, Phó Hải
đoàn trưởng; Hải đội trưởng, Phó Hải đội trưởng; Đội trưởng, Phó Đội trưởng Đội
nghiệp vụ Cảnh sát biển;
đ)[16] Người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra của Kiểm ngư gồm Cục trưởng, Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư; Chi cục
trưởng, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng;
e)[17] Người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra của các cơ quan khác trong Công an nhân dân gồm Cục trưởng, Phó Cục trưởng,
Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra của Công an nhân dân, Giám thị, Phó Giám thị Trại giam theo
quy định của Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự;
g) Người được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra của các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân gồm
Giám thị, Phó Giám thị Trại giam; Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và
tương đương;
h) Cán bộ điều tra thuộc các cơ
quan quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 36.
Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều
tra
1. Thủ trưởng Cơ quan điều tra
có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Trực tiếp tổ chức và chỉ đạo
việc thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm, việc khởi tố, điều tra của Cơ
quan điều tra;
b) Quyết định phân công hoặc
thay đổi Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội
phạm, kiểm tra việc khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Phó Thủ trưởng Cơ quan điều
tra; quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái
pháp luật của Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra.
c) Quyết định phân công hoặc
thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra; kiểm tra các hoạt động thụ lý, giải
quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự của Điều tra viên,
Cán bộ điều tra; quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ các quyết định không có căn cứ
và trái pháp luật của Điều tra viên.
d) Giải quyết khiếu nại, tố cáo
thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra.
Khi vắng mặt, Thủ trưởng Cơ
quan điều tra ủy quyền cho một Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn của Thủ trưởng Cơ quan điều tra. Phó Thủ trưởng chịu trách nhiệm
trước Thủ trưởng về nhiệm vụ được ủy quyền.
2. Khi tiến hành tố tụng hình sự,
Thủ trưởng Cơ quan điều tra có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Quyết định tạm đình chỉ việc
giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; quyết định khởi tố,
không khởi tố, bổ sung hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án; quyết định khởi
tố, bổ sung hoặc thay đổi quyết định khởi tố bị can; quyết định nhập hoặc tách
vụ án; quyết định ủy thác điều tra;
b) Quyết định áp dụng, thay đổi,
hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, biện pháp điều tra tố tụng đặc
biệt theo quy định của Bộ luật này;
c) Quyết định truy nã, đình nã
bị can, khám xét, thu giữ, tạm giữ, xử lý vật chứng;
d) Quyết định trưng cầu giám định,
giám định bổ sung hoặc giám định lại, khai quật tử thi, thực nghiệm điều tra,
thay đổi hoặc yêu cầu thay đổi người giám định. Yêu cầu định giá, định giá lại
tài sản, yêu cầu thay đổi người định giá tài sản.
đ) Trực tiếp kiểm tra, xác minh
nguồn tin về tội phạm và tiến hành các biện pháp điều tra;
e) Kết luận điều tra vụ án;
g) Quyết định tạm đình chỉ điều
tra, đình chỉ điều tra, phục hồi điều tra vụ án, bị can;
h) Ra các lệnh, quyết định và
tiến hành các hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra.
3. Khi được phân công tiến hành
việc khởi tố, điều tra vụ án hình sự, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra có những
nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, trừ quy định tại điểm
b khoản 1 Điều này. Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra không được giải quyết khiếu
nại, tố cáo về hành vi, quyết định của mình.
4.[18] Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra phải chịu
trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình. Thủ trưởng, Phó Thủ
trưởng Cơ quan điều tra không được ủy quyền cho Điều tra viên thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn của mình, trừ trường hợp quy định tại khoản 1a Điều 37
của Bộ luật này.
Điều 37.
Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra viên
1. Điều tra viên được phân công
tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án hình sự có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Trực tiếp kiểm tra, xác minh
và lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm;
b) Lập hồ sơ vụ án hình sự;
c) Yêu cầu hoặc đề nghị cử,
thay đổi người bào chữa; yêu cầu cử, thay đổi người phiên dịch, người dịch thuật;
d) Triệu tập và hỏi cung bị
can; triệu tập và lấy lời khai người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố
giác, kiến nghị khởi tố, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân; lấy lời
khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ;
triệu tập và lấy lời khai của người làm chứng, bị hại, đương sự;
đ) Quyết định áp giải người bị
giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, bị tạm giữ, bị can; quyết định dẫn
giải người làm chứng, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại;[19]
e) Thi hành lệnh giữ người
trong trường hợp khẩn cấp, lệnh hoặc quyết định bắt, tạm giữ, tạm giam, khám
xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, xử lý vật chứng;
g) Tiến hành khám nghiệm hiện
trường, khai quật tử thi, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể, đối
chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra;
h) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra theo sự phân công của Thủ
trưởng Cơ quan điều tra theo quy định của Bộ luật này.
1a.[20] Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên cao cấp là Trưởng
Công an cấp xã hoặc Phó Trưởng Công an cấp xã được Thủ trưởng Cơ quan điều tra
cấp tỉnh phân công tiến hành hoạt động khởi tố, điều tra vụ án về tội ít nghiêm
trọng, tội nghiêm trọng xảy ra trên địa bàn cấp xã có nhiệm vụ, quyền hạn quy định
tại khoản 1 Điều này, các điểm a, c khoản 1 và khoản 2 Điều 36 của
Bộ luật này, trừ quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp điều tra tố
tụng đặc biệt.
Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì,
phối hợp với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định chi tiết khoản
này.
2. Điều tra viên phải chịu
trách nhiệm trước pháp luật và trước Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều
tra về hành vi, quyết định của mình.
Điều 38.
Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Cán bộ điều tra của Cơ quan điều tra
1. Cán bộ điều tra thực hiện những
nhiệm vụ, quyền hạn sau đây theo sự phân công của Điều tra viên:
a) Ghi biên bản lấy lời khai,
ghi biên bản hỏi cung và ghi các biên bản khác khi Điều tra viên tiến hành kiểm
tra, xác minh nguồn tin về tội phạm và điều tra vụ án hình sự;
b) Giao, chuyển, gửi các lệnh,
quyết định và các văn bản tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này;
c) Giúp Điều tra viên trong việc
lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm, hồ sơ vụ án và thực hiện hoạt động
tố tụng khác.
2. Cán bộ điều tra phải chịu
trách nhiệm trước pháp luật và trước Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều
tra, Điều tra viên về hành vi của mình.
Điều 39.
Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cấp trưởng, cấp phó, cán bộ điều tra của
các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển,
Kiểm ngư được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
1. Cấp trưởng các cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 2 Điều 35 của Bộ luật này có những
nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Trực tiếp chỉ đạo hoạt động
thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự theo
thẩm quyền;
b) Quyết định phân công hoặc
thay đổi cấp phó, cán bộ điều tra trong việc thụ lý, giải quyết nguồn tin về tội
phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự;
c) Kiểm tra hoạt động thụ lý,
giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự của cấp phó
và cán bộ điều tra;
d) Quyết định thay đổi hoặc hủy
bỏ quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của cấp phó, cán bộ điều tra;
đ)[21] (được bãi bỏ)
Khi vắng mặt, cấp trưởng ủy quyền
cho một cấp phó được thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cấp trưởng. Cấp phó chịu
trách nhiệm trước cấp trưởng về nhiệm vụ được ủy quyền. Cấp trưởng, cấp phó
không được ủy quyền cho cán bộ điều tra thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
2. Khi tiến hành tố tụng hình sự
đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ
và lý lịch người phạm tội rõ ràng, những người quy định tại các điểm
a, b, c, d và đ khoản 2 Điều 35 của Bộ luật này có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Thu thập chứng cứ, tài liệu,
đồ vật từ những người có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm;
b) Quyết định tạm đình chỉ việc
giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; quyết định khởi tố,
không khởi tố, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án; quyết định khởi
tố, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can;
c) Trực tiếp tổ chức và chỉ đạo
việc khám nghiệm hiện trường;
d) Quyết định trưng cầu giám định,
yêu cầu định giá tài sản; quyết định khám xét, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật
chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án;
đ) Triệu tập và hỏi cung bị
can; triệu tập và lấy lời khai bị hại, đương sự; triệu tập và lấy lời khai người
tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, kiến nghị khởi tố; triệu tập và
lấy lời khai người làm chứng; lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp;
e) Quyết định áp dụng biện pháp
ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế theo quy định của Bộ luật này;
g) Kết luận điều tra, đề nghị
truy tố hoặc kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra; quyết định tạm
đình chỉ điều tra; quyết định phục hồi điều tra.
3. Khi tiến hành tố tụng hình sự
đối với tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội
phạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp, những người được quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 2 Điều 35 của Bộ luật này có những
nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Thu thập chứng cứ, tài liệu,
đồ vật từ những người có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm;
b) Quyết định tạm đình chỉ việc
giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; quyết định khởi tố,
không khởi tố, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án;
c) Quyết định khám xét, thu giữ,
tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án;
d) Triệu tập và lấy lời khai
người làm chứng, bị hại, đương sự.
4. Cán bộ điều tra có những nhiệm
vụ, quyền hạn:
a) Lập hồ sơ giải quyết nguồn
tin về tội phạm; lấy lời khai của những người có liên quan để kiểm tra, xác
minh nguồn tin về tội phạm;
b) Lập hồ sơ vụ án hình sự;
c) Hỏi cung bị can; lấy lời
khai người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, người bị kiến nghị
khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ,
người làm chứng, bị hại, đương sự;
d) Tiến hành khám nghiệm hiện
trường; thi hành lệnh khám xét, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu
liên quan trực tiếp đến vụ án.
5. Trong phạm vi trách nhiệm của
mình, cấp trưởng, cấp phó, cán bộ điều tra của các cơ quan của Bộ đội biên
phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về
hành vi, quyết định của mình. Cấp trưởng, cấp phó không được ủy quyền cho cán bộ
điều tra thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Điều 40.
Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cấp trưởng, cấp phó, cán bộ điều tra của
các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra
1. Cấp trưởng các cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quy định tại điểm
e và điểm g khoản 2 Điều 35 của Bộ luật này có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Trực tiếp chỉ đạo hoạt động
khởi tố, điều tra vụ án hình sự theo thẩm quyền;
b) Quyết định phân công hoặc
thay đổi cấp phó, cán bộ điều tra trong việc khởi tố, điều tra vụ án hình sự;
c) Kiểm tra hoạt động thụ lý,
giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự của cấp phó
và cán bộ điều tra;
d) Quyết định thay đổi hoặc hủy
bỏ quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của cấp phó, cán bộ điều tra.
Khi cấp trưởng vắng mặt, một cấp
phó được ủy quyền thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cấp trưởng và chịu trách nhiệm
trước cấp trưởng về nhiệm vụ được ủy quyền.
2. Khi tiến hành tố tụng hình sự,
những người được quy định tại điểm e và điểm g khoản 2 Điều 35 của
Bộ luật này có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Thu thập chứng cứ, tài liệu,
đồ vật từ những người có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm;
b) Quyết định tạm đình chỉ việc
giải quyết nguồn tin về tội phạm; quyết định khởi tố, không khởi tố, thay đổi
hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án;
c) Trực tiếp tổ chức và chỉ đạo
việc khám nghiệm hiện trường;
d) Quyết định khám xét, thu giữ,
tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án;
đ) Triệu tập và lấy lời khai
người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố,
người làm chứng, bị hại, đương sự.
3. Cán bộ điều tra có những nhiệm
vụ, quyền hạn:
a) Lập hồ sơ giải quyết nguồn
tin về tội phạm; lấy lời khai của những người có liên quan để kiểm tra, xác
minh nguồn tin về tội phạm;
b) Lập hồ sơ vụ án hình sự;
c) Lấy lời khai người tố giác,
báo tin về tội phạm, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người làm chứng,
bị hại, đương sự;
d) Tiến hành khám nghiệm hiện
trường; thi hành lệnh khám xét, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu
liên quan trực tiếp đến vụ án;
đ) Giao, gửi các lệnh, quyết định
và các văn bản tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này.
4. Trong phạm vi trách nhiệm của
mình, cấp trưởng, cấp phó, cán bộ điều tra của các cơ quan của Công an nhân
dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải
chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình. Cấp trưởng, cấp
phó không được ủy quyền cho cán bộ điều tra thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của
mình.
Điều 41.
Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm
sát
1. Viện trưởng Viện kiểm sát có
những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Trực tiếp tổ chức và chỉ đạo
hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố
tụng hình sự;
b) Quyết định phân công hoặc
thay đổi Phó Viện trưởng Viện kiểm sát; kiểm tra hoạt động thực hành quyền công
tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự của Phó Viện trưởng
Viện kiểm sát; quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ quyết định không có căn cứ và
trái pháp luật của Phó Viện trưởng Viện kiểm sát;
c) Quyết định phân công hoặc
thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm tra viên; kiểm tra hoạt động thực hành quyền công
tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự của Kiểm sát
viên, Kiểm tra viên; quyết định thay đổi hoặc hủy bỏ quyết định không có căn cứ
và trái pháp luật của Kiểm sát viên;
d) Quyết định rút, đình chỉ hoặc
hủy bỏ quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Viện kiểm sát cấp dưới;
đ) Giải quyết khiếu nại, tố cáo
thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát.
Khi vắng mặt, Viện trưởng Viện
kiểm sát ủy quyền cho một Phó Viện trưởng Viện kiểm sát thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn của Viện trưởng và chịu trách nhiệm trước Viện trưởng Viện kiểm sát về nhiệm
vụ được ủy quyền.
2. Khi thực hành quyền công tố
và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự, Viện trưởng
Viện kiểm sát có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiếp nhận, giải quyết
nguồn tin về tội phạm, khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án
hình sự, khởi tố bị can; quyết định khởi tố, không khởi tố, thay đổi, bổ sung
quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can theo quy định của Bộ luật này;
b) Quyết định tạm đình chỉ việc
giải quyết nguồn tin về tội phạm; quyết định khởi tố, không khởi tố, bổ sung hoặc
thay đổi quyết định khởi tố vụ án; quyết định khởi tố, bổ sung hoặc thay đổi
quyết định khởi tố bị can; quyết định nhập, tách vụ án;
c) Quyết định áp dụng, thay đổi,
hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, biện pháp điều tra tố tụng đặc
biệt; quyết định việc gia hạn kiểm tra và xác minh nguồn tin về tội phạm, gia hạn
tạm giữ, gia hạn điều tra, gia hạn tạm giam, gia hạn truy tố;
d) Quyết định khám xét, thu giữ,
tạm giữ, xử lý vật chứng;
đ) Quyết định trưng cầu giám định,
giám định bổ sung hoặc giám định lại, thực nghiệm điều tra; thay đổi hoặc yêu cầu
thay đổi người giám định. Yêu cầu định giá, định giá lại tài sản, yêu cầu thay
đổi người định giá tài sản;
e) Yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều
tra, cấp trưởng cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra;
g) Phê chuẩn hoặc không phê chuẩn
quyết định, lệnh của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra;
h) Quyết định hủy bỏ các quyết
định, lệnh không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;
i) Giải quyết tranh chấp về thẩm
quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra; quyết định chuyển vụ
án;
k) Quyết định áp dụng, đình chỉ
biện pháp bắt buộc chữa bệnh;
l) Quyết định áp dụng thủ tục
rút gọn hoặc hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn;
m) Quyết định truy tố bị can,
trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc điều tra lại;
n) Yêu cầu phục hồi điều tra;
quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án đối
với bị can; quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin
về tội phạm; quyết định phục hồi điều tra vụ án, phục hồi điều tra đối với bị
can, phục hồi vụ án, phục hồi vụ án đối với bị can;
o) Kháng nghị theo thủ tục phúc
thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của Bộ
luật này;
p) Thực hiện quyền kiến nghị
theo quy định của pháp luật;
q) Ban hành quyết định, lệnh và
tiến hành các hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát.
3. Khi được phân công thực hành
quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, Phó
Viện trưởng Viện kiểm sát có những nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 và khoản
2 Điều này, trừ quy định tại điểm b khoản 1 Điều này. Phó Viện trưởng Viện kiểm
sát không được giải quyết khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của mình.
4.[22] Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát phải chịu trách
nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình. Viện trưởng, Phó Viện
trưởng Viện kiểm sát không được ủy quyền cho Kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn của mình, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều này.
5.[23] Trường hợp Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện
kiểm sát nhân dân tối cao giải quyết vụ án thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao có thể ủy quyền cho Kiểm sát viên giữ chức vụ Viện trưởng, Phó Viện
trưởng Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
sau đây:
a) Nhiệm vụ, quyền hạn quy định
tại điểm a khoản 1 và điểm p khoản 2 Điều này; kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của Bộ luật này;
b) Quyết định phân công hoặc
thay đổi Phó Viện trưởng Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm, Kiểm sát
viên, Kiểm tra viên; kiểm tra hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát việc
tuân theo pháp luật của Phó Viện trưởng Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm,
Kiểm sát viên, Kiểm tra viên;
c) Quyết định thay đổi hoặc hủy
bỏ quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Phó Viện trưởng Viện Công tố
và Kiểm sát xét xử phúc thẩm, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên.
Điều 42.
Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm sát viên
1. Kiểm sát viên được phân công
thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình
sự có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Kiểm sát việc tiếp nhận, giải
quyết nguồn tin về tội phạm của cơ quan, người có thẩm quyền;
b) Trực tiếp giải quyết và lập
hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm;
c) Kiểm sát việc thụ lý, giải
quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng
chế; kiểm sát việc lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm, việc lập hồ sơ vụ
án của cơ quan, người có thẩm quyền điều tra; kiểm sát hoạt động khởi tố, điều
tra của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra;
d) Trực tiếp kiểm sát việc khám
nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng
nói, thực nghiệm điều tra, khám xét;
đ) Kiểm sát việc tạm đình chỉ,
phục hồi việc giải quyết nguồn tin về tội phạm; việc tạm đình chỉ điều tra,
đình chỉ điều tra, phục hồi điều tra, kết thúc điều tra;
e) Đề ra yêu cầu điều tra; yêu
cầu Cơ quan điều tra truy nã, đình nã bị can;
g) Triệu tập và hỏi cung bị
can; triệu tập và lấy lời khai người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố
giác, người bị kiến nghị khởi tố, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân,
người làm chứng, bị hại, đương sự; lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp
khẩn cấp;
h) Quyết định áp giải người bị
bắt, bị can; quyết định dẫn giải người làm chứng, người bị tố giác, người bị kiến
nghị khởi tố, bị hại;[24]
i) Trực tiếp tiến hành một số
hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật này;
k) Yêu cầu thay đổi người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng; yêu cầu hoặc đề nghị cử, thay đổi người bào chữa; yêu
cầu cử, đề nghị thay đổi người phiên dịch, người dịch thuật;
l) Tiến hành tố tụng tại phiên
tòa; công bố cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, các quyết
định khác của Viện kiểm sát về việc buộc tội đối với bị cáo; xét hỏi, đưa ra chứng
cứ, tài liệu, đồ vật, luận tội, tranh luận, phát biểu quan điểm về việc giải
quyết vụ án tại phiên tòa, phiên họp;
m) Kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong giai đoạn xét xử của Tòa án và những người tham gia tố tụng; kiểm
sát bản án, quyết định và các văn bản tố tụng khác của Tòa án;
n) Kiểm sát việc thi hành bản
án, quyết định của Tòa án;
o) Thực hiện quyền yêu cầu, kiến
nghị theo quy định của pháp luật;
p) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát theo sự phân công của Viện trưởng
Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật này.
1a.[25] Kiểm sát viên giữ chức vụ Viện trưởng Viện Công tố và
Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền giải quyết
khiếu nại theo quy định của Bộ luật này.
2. Kiểm sát viên phải chịu
trách nhiệm trước pháp luật và trước Viện trưởng Viện kiểm sát, Phó Viện trưởng
Viện kiểm sát về hành vi, quyết định của mình.
Điều 43.
Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Kiểm tra viên
1. Kiểm tra viên thực hiện những
nhiệm vụ, quyền hạn sau đây theo sự phân công của Kiểm sát viên:
a) Ghi biên bản lấy lời khai, ghi
biên bản hỏi cung và ghi các biên bản khác trong tố tụng hình sự;
b) Giao, chuyển, gửi các lệnh,
quyết định và các văn bản tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này;
c) Giúp Kiểm sát viên trong việc
lập hồ sơ kiểm sát, hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm và tiến hành hoạt động
tố tụng khác.
2. Kiểm tra viên phải chịu
trách nhiệm trước pháp luật và trước Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát
và Kiểm sát viên về hành vi của mình.
Điều 44. Nhiệm
vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Chánh án, Phó Chánh án Tòa án
1. Chánh án Tòa án có những nhiệm
vụ, quyền hạn:
a) Trực tiếp tổ chức việc xét xử
vụ án hình sự; quyết định giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử;
b) Quyết định phân công Phó
Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm giải quyết, xét xử vụ án hình sự; quyết định
phân công Thư ký Tòa án tiến hành tố tụng đối với vụ án hình sự; quyết định
phân công Thẩm tra viên thẩm tra hồ sơ vụ án hình sự;
c) Quyết định thay đổi Thẩm
phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án trước khi mở phiên tòa;
d) Ra quyết định thi hành án
hình sự;
đ) Quyết định hoãn chấp hành án
phạt tù;
e) Quyết định tạm đình chỉ chấp
hành án phạt tù;
g) Quyết định xoá án tích;
h) Giải quyết khiếu nại, tố cáo
thuộc thẩm quyền của Tòa án.
Khi vắng mặt, Chánh án Tòa án ủy
quyền cho một Phó Chánh án Tòa án thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án.
Phó Chánh án Tòa án phải chịu trách nhiệm trước Chánh án Tòa án về nhiệm vụ được
ủy quyền.
2. Khi tiến hành việc giải quyết
vụ án hình sự, Chánh án Tòa án có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Quyết định áp dụng, thay đổi
hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam, xử lý vật chứng;
b) Quyết định áp dụng, đình chỉ
biện pháp bắt buộc chữa bệnh;
c) Quyết định áp dụng thủ tục
rút gọn hoặc hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn;
d) Kiến nghị, kháng nghị theo
thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án;
đ) Quyết định và tiến hành hoạt
động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Tòa án;
e) Tiến hành hoạt động tố tụng
khác theo quy định của Bộ luật này.
3. Khi được phân công giải quyết,
xét xử vụ án hình sự, Phó Chánh án Tòa án có những nhiệm vụ, quyền hạn quy định
tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, trừ quy định tại điểm b khoản 1 Điều này. Phó
Chánh án Tòa án không được giải quyết khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định
của mình.
4.[26] Chánh án, Phó Chánh án Tòa án phải chịu trách nhiệm trước
pháp luật về hành vi, quyết định của mình. Chánh án, Phó Chánh án Tòa án không
được ủy quyền cho Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, trừ trường
hợp quy định tại khoản 5 Điều này.
5.[27] Trường hợp Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao giải
quyết vụ án thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có thể ủy quyền cho Thẩm phán
giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
sau đây:
a) Trực tiếp tổ chức việc xét xử
vụ án hình sự thuộc thẩm quyền;
b) Nhiệm vụ, quyền hạn quy định
tại điểm b khoản 2 Điều này;
c) Quyết định phân công Phó
Chánh tòa Tòa Phúc thẩm, Thẩm phán xét xử vụ án hình sự; quyết định phân công
Thư ký Tòa án tiến hành tố tụng đối với vụ án hình sự; quyết định thay đổi Thẩm
phán, Thư ký Tòa án trước khi mở phiên tòa.
Điều 45.
Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán
1. Thẩm phán được phân công giải
quyết, xét xử vụ án hình sự có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Nghiên cứu hồ sơ vụ án trước
khi mở phiên tòa;
b) Tiến hành xét xử vụ án;
c) Tiến hành hoạt động tố tụng
và biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử;
d) Tiến hành hoạt động tố tụng
khác thuộc thẩm quyền của Tòa án theo sự phân công của Chánh án Tòa án.
2. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa
có những nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều này và những nhiệm vụ,
quyền hạn:
a) Quyết định áp dụng, thay đổi,
hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, trừ biện pháp tạm giam;
b) Quyết định trả hồ sơ để điều
tra bổ sung;
c) Quyết định đưa vụ án ra xét
xử; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án;
d) Điều hành việc xét xử vụ án,
tranh tụng tại phiên tòa;
đ) Quyết định trưng cầu giám định,
giám định bổ sung hoặc giám định lại, thực nghiệm điều tra; thay đổi hoặc yêu cầu
thay đổi người giám định; yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu thay đổi người định
giá tài sản;
e) Yêu cầu hoặc đề nghị cử,
thay đổi người bào chữa;[28] yêu
cầu cử, thay đổi người phiên dịch, người dịch thuật;
g) Quyết định triệu tập những
người cần xét hỏi đến phiên tòa;
h) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Tòa án theo sự phân công của Chánh án Tòa án
theo quy định của Bộ luật này.
2a.[29] Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa Phúc
thẩm Tòa án nhân dân tối cao có quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm
giam, xử lý vật chứng; Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án
nhân dân tối cao có quyền giải quyết khiếu nại theo quy định của Bộ luật này.
3. Thẩm phán phải chịu trách
nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình.
Điều 46.
Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Hội thẩm
1. Hội thẩm được phân công xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Nghiên cứu hồ sơ vụ án trước
khi mở phiên tòa;
b) Tiến hành xét xử vụ án;
c) Tiến hành hoạt động tố tụng
và biểu quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử.
2. Hội thẩm phải chịu trách nhiệm
trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình.
Điều 47.
Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thư ký Tòa án
1. Thư ký Tòa án được phân công
tiến hành tố tụng đối với vụ án hình sự có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Kiểm tra sự có mặt của những
người được Tòa án triệu tập; nếu có người vắng mặt thì phải nêu lý do;
b) Phổ biến nội quy phiên tòa;
c) Báo cáo Hội đồng xét xử danh
sách những người được triệu tập đến phiên tòa và những người vắng mặt;
d) Ghi biên bản phiên tòa;
đ) Tiến hành hoạt động tố tụng
khác thuộc thẩm quyền của Tòa án theo sự phân công của Chánh án Tòa án.
2. Thư ký Tòa án phải chịu
trách nhiệm trước pháp luật và trước Chánh án Tòa án về hành vi của mình.
Điều 48. Nhiệm
vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm tra viên
1. Thẩm tra viên được phân công
tiến hành tố tụng đối với vụ án hình sự có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Thẩm tra hồ sơ vụ án mà bản
án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo sự phân công của Chánh
án hoặc Phó Chánh án Tòa án;
b) Kết luận việc thẩm tra và
báo cáo kết quả thẩm tra với Chánh án Tòa án hoặc Phó Chánh án Tòa án;
c) Thẩm tra viên giúp Chánh án
Tòa án thực hiện nhiệm vụ về công tác thi hành án thuộc thẩm quyền của Tòa án
và nhiệm vụ khác theo sự phân công của Chánh án Tòa án hoặc Phó Chánh án Tòa
án.
2. Thẩm tra viên phải chịu
trách nhiệm trước pháp luật và trước Chánh án, Phó Chánh án Tòa án về hành vi của
mình.
Điều 49.
Các trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
Người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các
trường hợp:
1. Đồng thời là bị hại, đương sự;
là người đại diện, người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị
cáo;
2. Đã tham gia với tư cách là
người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người
phiên dịch, người dịch thuật trong vụ án đó;
3. Có căn cứ rõ ràng khác để
cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.
Điều 50.
Người có quyền đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
1. Kiểm sát viên.
2. Người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện của họ.
3. Người bào chữa, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự.
Điều 51.
Thay đổi Điều tra viên, Cán bộ điều tra
1. Điều tra viên, Cán bộ điều
tra phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường
hợp:
a) Trường hợp quy định tại Điều 49 của Bộ luật này;
b) Đã tiến hành tố tụng trong vụ
án đó với tư cách là Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Thẩm phán, Hội thẩm, Thẩm
tra viên hoặc Thư ký Tòa án.
2. Việc thay đổi Điều tra viên,
Cán bộ điều tra do Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra quyết định.
Điều tra viên bị thay đổi là Thủ
trưởng Cơ quan điều tra thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều
này thì việc điều tra vụ án do Cơ quan điều tra cấp trên trực tiếp tiến hành.
Điều 52.
Thay đổi Kiểm sát viên, Kiểm tra viên
1. Kiểm sát viên, Kiểm tra viên
phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường
hợp:
a) Trường hợp quy định tại Điều 49 của Bộ luật này;
b) Đã tiến hành tố tụng trong vụ
án đó với tư cách là Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Thẩm phán, Hội thẩm, Thẩm
tra viên hoặc Thư ký Tòa án.
2. Việc thay đổi Kiểm sát viên
trước khi mở phiên tòa do Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cùng
cấp được phân công giải quyết vụ án quyết định.
Kiểm sát viên bị thay đổi là Viện
trưởng Viện kiểm sát thì do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp quyết
định.
Trường hợp phải thay đổi Kiểm
sát viên tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa.
Điều 53.
Thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm
1. Thẩm phán, Hội thẩm phải từ chối
tham gia xét xử hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Trường hợp quy định tại Điều 49 của Bộ luật này;
b) Họ cùng trong một Hội đồng
xét xử và là người thân thích với nhau;
c) Đã tham gia xét xử sơ thẩm
hoặc phúc thẩm hoặc tiến hành tố tụng vụ án đó với tư cách là Điều tra viên,
Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án.
2. Việc thay đổi Thẩm phán, Hội
thẩm trước khi mở phiên tòa do Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án được phân công
giải quyết vụ án quyết định.
Thẩm phán bị thay đổi là Chánh
án Tòa án thì do Chánh án Tòa án trên một cấp quyết định.
Việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm
tại phiên tòa do Hội đồng xét xử quyết định trước khi bắt đầu xét hỏi bằng cách
biểu quyết tại phòng nghị án. Khi xem xét thay đổi thành viên nào thì thành
viên đó được trình bày ý kiến của mình, Hội đồng quyết định theo đa số.
Trường hợp phải thay đổi Thẩm
phán, Hội thẩm tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa.
Điều 54.
Thay đổi Thư ký Tòa án
1. Thư ký Tòa án phải từ chối
tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Trường hợp quy định tại Điều 49 của Bộ luật này;
b) Đã tiến hành tố tụng vụ án
đó với tư cách là Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Điều tra viên, Cán bộ điều tra,
Thẩm phán, Hội thẩm, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án.
2. Việc thay đổi Thư ký Tòa án
trước khi mở phiên tòa do Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án được phân công giải
quyết vụ án quyết định.
Việc thay đổi Thư ký Tòa án tại
phiên tòa do Hội đồng xét xử quyết định.
Trường hợp phải thay đổi Thư ký
Tòa án tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm ngừng phiên tòa.
Chương IV
NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG
Điều 55.
Người tham gia tố tụng
1. Người tố giác, báo tin về tội
phạm, kiến nghị khởi tố.
2. Người bị tố giác, người bị
kiến nghị khởi tố.
3. Người bị giữ trong trường hợp
khẩn cấp.
4. Người bị bắt.
5. Người bị tạm giữ.
6. Bị can.
7. Bị cáo.
8. Bị hại.
9. Nguyên đơn dân sự.
10. Bị đơn dân sự.
11. Người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đến vụ án.
12. Người làm chứng.
13. Người chứng kiến.
14. Người giám định.
15. Người định giá tài sản.
16. Người phiên dịch, người dịch
thuật.
17. Người bào chữa.
18. Người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của bị hại, đương sự.
19. Người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố.
20. Người đại diện theo pháp luật
của pháp nhân phạm tội, người đại diện khác theo quy định của Bộ luật này.
Điều 56.
Người tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố
1. Cá nhân đã tố giác, báo tin
về tội phạm; cơ quan, tổ chức đã báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố có quyền:
a) Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền
giữ bí mật việc tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố, bảo vệ tính mạng,
sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp
khác của họ, người thân thích của họ khi bị đe dọa;
b) Được thông báo kết quả giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;
c) Khiếu nại quyết định, hành
vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc tiếp
nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức
quy định tại khoản 1 Điều này phải có mặt theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền
giải quyết nguồn tin về tội phạm, trình bày trung thực về những tình tiết mà
mình biết về sự việc.
Điều 57.
Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố
1. Người bị tố giác, người bị
kiến nghị khởi tố có quyền:
a) Được thông báo về hành vi bị
tố giác, bị kiến nghị khởi tố;
b) Được thông báo, giải thích về
quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
c) Trình bày lời khai, trình
bày ý kiến;
d) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ
vật, yêu cầu;
đ) Trình bày ý kiến về chứng cứ,
tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm
tra, đánh giá;
e) Tự bảo vệ hoặc nhờ người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;
g) Được thông báo kết quả giải
quyết tố giác, kiến nghị khởi tố;
h) Khiếu nại quyết định, hành
vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
2. Người bị tố giác, người bị kiến
nghị khởi tố phải có mặt theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố
giác, kiến nghị khởi tố.
Điều 58.
Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt
1. Người bị giữ trong trường hợp
khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang và người bị bắt theo
quyết định truy nã có quyền:
a) Được nghe, nhận lệnh giữ người
trong trường hợp khẩn cấp, lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, quyết
định phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, quyết định truy
nã;
b) Được biết lý do mình bị giữ,
bị bắt;
c) Được thông báo, giải thích về
quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
d) Trình bày lời khai, trình
bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải
nhận mình có tội;
đ) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ
vật, yêu cầu;
e) Trình bày ý kiến về chứng cứ,
tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tố tụng kiểm tra,
đánh giá;
g) Tự bào chữa, nhờ người bào
chữa;
h) Khiếu nại quyết định, hành
vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc giữ
người, bắt người.
2. Người bị giữ trong trường hợp
khẩn cấp, người bị bắt có nghĩa vụ chấp hành lệnh giữ người, lệnh bắt người và
yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền giữ người, bắt người theo quy định của
Bộ luật này.
Điều 59.
Người bị tạm giữ
1. Người bị tạm giữ là người bị
giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt
theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có
quyết định tạm giữ.
2. Người bị tạm giữ có quyền:
a) Được biết lý do mình bị tạm
giữ; nhận quyết định tạm giữ, quyết định gia hạn tạm giữ, quyết định phê chuẩn
quyết định gia hạn tạm giữ và các quyết định tố tụng khác theo quy định của Bộ
luật này;
b) Được thông báo, giải thích về
quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
c) Trình bày lời khai, trình
bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải
nhận mình có tội;
d) Tự bào chữa, nhờ người bào
chữa;
đ) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ
vật, yêu cầu;
e) Trình bày ý kiến về chứng cứ,
tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm
tra, đánh giá;
g) Khiếu nại quyết định, hành
vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng về việc tạm giữ.
3. Người bị tạm giữ có nghĩa vụ
chấp hành các quy định của Bộ luật này và Luật thi hành tạm giữ, tạm giam.
Điều 60. Bị
can
1. Bị can là người hoặc pháp
nhân bị khởi tố về hình sự. Quyền và nghĩa vụ của bị can là pháp nhân được thực
hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ
luật này.
2. Bị can có quyền:
a) Được biết lý do mình bị khởi
tố;
b) Được thông báo, giải thích về
quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
c) Nhận quyết định khởi tố bị can;
quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can, quyết định phê chuẩn
quyết định khởi tố bị can, quyết định phê chuẩn quyết định thay đổi, bổ sung
quyết định khởi tố bị can; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn
chặn, biện pháp cưỡng chế; bản kết luận điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình
chỉ điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; bản cáo trạng, quyết định
truy tố và các quyết định tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này;
d) Trình bày lời khai, trình
bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải
nhận mình có tội;
đ) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ
vật, yêu cầu;
e) Trình bày ý kiến về chứng cứ,
tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm
tra, đánh giá;
g) Đề nghị giám định, định giá
tài sản; đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định,
người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;
h) Tự bào chữa, nhờ người bào
chữa;
i) Đọc, ghi chép bản sao tài liệu
hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài
liệu khác liên quan đến việc bào chữa kể từ khi kết thúc điều tra khi có yêu cầu;
k) Khiếu nại quyết định, hành
vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
3. Bị can có nghĩa vụ:
a) Có mặt theo giấy triệu tập của
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Trường hợp vắng mặt không vì lý do bất
khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể bị áp giải, nếu bỏ trốn
thì bị truy nã;
b) Chấp hành quyết định, yêu cầu
của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
4. Bộ trưởng Bộ Công an chủ
trì, phối hợp với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi tiết trình tự, thủ tục,
thời hạn, địa điểm bị can đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số
hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao tài liệu khác liên quan đến
việc bào chữa khi bị can có yêu cầu quy định tại điểm i khoản 2 Điều này.
Điều 61. Bị
cáo
1. Bị cáo là người hoặc pháp
nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Quyền và nghĩa vụ của bị cáo là
pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân
theo quy định của Bộ luật này.
2. Bị cáo có quyền:
a) Nhận quyết định đưa vụ án ra
xét xử; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng
chế; quyết định đình chỉ vụ án; bản án, quyết định của Tòa án và các quyết định
tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này;
b) Tham gia phiên tòa;
c) Được thông báo, giải thích về
quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
d) Đề nghị giám định, định giá
tài sản; đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định,
người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; đề nghị triệu tập
người làm chứng, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người
giám định, người định giá tài sản, người tham gia tố tụng khác và người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng tham gia phiên tòa;
đ) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ
vật, yêu cầu;
e) Trình bày ý kiến về chứng cứ,
tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm
tra, đánh giá;
g) Tự bào chữa, nhờ người bào
chữa;
h) Trình bày lời khai, trình
bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải
nhận mình có tội;
i) Đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi
hoặc tự mình hỏi người tham gia phiên tòa nếu được chủ tọa đồng ý; tranh luận tại
phiên tòa;
k) Nói lời sau cùng trước khi
nghị án;
l) Xem biên bản phiên tòa, yêu
cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa;
m) Kháng cáo bản án, quyết định
của Tòa án;
n) Khiếu nại quyết định, hành
vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
o) Các quyền khác theo quy định
của pháp luật.
3. Bị cáo có nghĩa vụ:
a) Có mặt theo giấy triệu tập của
Tòa án. Trường hợp vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại
khách quan thì có thể bị áp giải; nếu bỏ trốn thì bị truy nã;
b) Chấp hành quyết định, yêu cầu
của Tòa án.
Điều 62. Bị
hại
1. Bị hại là cá nhân trực tiếp
bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt
hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra.
2. Bị hại hoặc người đại diện của
họ có quyền:
a) Được thông báo, giải thích
quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
b) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ
vật, yêu cầu;
c) Trình bày ý kiến về chứng cứ,
tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm
tra, đánh giá;
d) Đề nghị giám định, định giá
tài sản theo quy định của pháp luật;
đ) Được thông báo kết quả điều tra,
giải quyết vụ án;
e) Đề nghị thay đổi người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch,
người dịch thuật;
g) Đề nghị hình phạt, mức bồi
thường thiệt hại, biện pháp bảo đảm bồi thường;
h) Tham gia phiên tòa; trình
bày ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo và người khác tham gia phiên
tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; xem
biên bản phiên tòa;
i) Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;
k) Tham gia các hoạt động tố tụng
theo quy định của Bộ luật này;
l) Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền
tiến hành tố tụng bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền
và lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa;
m) Kháng cáo bản án, quyết định
của Tòa án;
n) Khiếu nại quyết định, hành
vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
o) Các quyền khác theo quy định
của pháp luật.
3. Trường hợp vụ án được khởi tố
theo yêu cầu của bị hại thì bị hại hoặc người đại diện của họ trình bày lời buộc
tội tại phiên tòa.
4. Bị hại có nghĩa vụ:
a) Có mặt theo giấy triệu tập của
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; trường hợp cố ý vắng mặt không vì lý do
bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể bị dẫn giải;
b) Chấp hành quyết định, yêu cầu
của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
5. Trường hợp bị hại chết, mất
tích, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì người đại diện thực hiện
quyền và nghĩa vụ của người bị hại quy định tại Điều này.
Cơ quan, tổ chức là bị hại có sự
chia, tách, sáp nhập, hợp nhất thì người đại diện theo pháp luật hoặc tổ chức,
cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đó có những quyền và
nghĩa vụ theo quy định tại Điều này.
Điều 63.
Nguyên đơn dân sự
1. Nguyên đơn dân sự là cá
nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi
thường thiệt hại.
2. Nguyên đơn dân sự hoặc người
đại diện của họ có quyền:
a) Được thông báo, giải thích quyền
và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
b) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ
vật, yêu cầu;
c) Trình bày ý kiến về chứng cứ,
tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm
tra, đánh giá;
d) Được thông báo kết quả điều
tra, giải quyết vụ án;
đ) Yêu cầu giám định, định giá
tài sản theo quy định của pháp luật;
e) Đề nghị thay đổi người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch,
người dịch thuật;
g) Đề nghị mức bồi thường thiệt
hại, biện pháp bảo đảm bồi thường;
h) Tham gia phiên tòa; trình
bày ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi người tham gia phiên tòa; tranh luận
tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn; xem biên bản
phiên tòa;
i) Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;
k) Khiếu nại quyết định, hành
vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
l) Kháng cáo bản án, quyết định
của Tòa án về phần bồi thường thiệt hại;
m) Các quyền khác theo quy định
của pháp luật.
3. Nguyên đơn dân sự có nghĩa vụ:
a) Có mặt theo giấy triệu tập của
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
b) Trình bày trung thực những
tình tiết liên quan đến việc bồi thường thiệt hại;
c) Chấp hành quyết định, yêu cầu
của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Điều 64. Bị
đơn dân sự
1. Bị đơn dân sự là cá nhân, cơ
quan, tổ chức mà pháp luật quy định phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
2. Bị đơn dân sự hoặc người đại
diện của họ có quyền:
a) Được thông báo, giải thích
quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
b) Chấp nhận hoặc bác bỏ một phần
hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn dân sự;
c) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ
vật, yêu cầu;
d) Trình bày ý kiến về chứng cứ,
tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm
tra, đánh giá;
đ) Yêu cầu giám định, định giá
tài sản theo quy định của pháp luật;
e) Được thông báo kết quả điều
tra, giải quyết vụ án có liên quan đến việc đòi bồi thường thiệt hại;
g) Đề nghị thay đổi người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch,
người dịch thuật;
h) Tham gia phiên tòa; trình
bày ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi người tham gia phiên tòa; tranh luận
tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn; xem biên bản phiên
tòa;
i) Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;
k) Khiếu nại quyết định, hành
vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
l) Kháng cáo bản án, quyết định
của Tòa án về phần bồi thường thiệt hại;
m) Các quyền khác theo quy định
của pháp luật.
3. Bị đơn dân sự có nghĩa vụ:
a) Có mặt theo giấy triệu tập của
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
b) Trình bày trung thực những
tình tiết liên quan đến việc bồi thường thiệt hại;
c) Chấp hành quyết định, yêu cầu
của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Điều 65.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đến vụ án là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án hình sự.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đến vụ án hoặc người đại diện của họ có quyền:
a) Được thông báo, giải thích
quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
b) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ
vật, yêu cầu;
c) Yêu cầu giám định, định giá
tài sản theo quy định của pháp luật;
d) Tham gia phiên tòa; phát biểu
ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi những người tham gia phiên tòa; tranh luận
tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên
tòa;
đ) Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;
e) Trình bày ý kiến về chứng cứ,
tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm
tra, đánh giá;
g) Kháng cáo bản án, quyết định
của Tòa án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của
mình;
h) Khiếu nại quyết định, hành
vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
i) Các quyền khác theo quy định
của pháp luật.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đến vụ án có nghĩa vụ:
a) Có mặt theo giấy triệu tập của
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
b) Trình bày trung thực những
tình tiết liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình;
c) Chấp hành quyết định, yêu cầu
của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Điều 66.
Người làm chứng
1. Người làm chứng là người biết
được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và được cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng.
2. Những người sau đây không được
làm chứng:
a) Người bào chữa của người bị
buộc tội;
b) Người do nhược điểm về tâm thần
hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức được những tình tiết liên quan nguồn
tin về tội phạm, về vụ án hoặc không có khả năng khai báo đúng đắn.
3. Người làm chứng có quyền:
a) Được thông báo, giải thích
quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
b) Yêu cầu cơ quan triệu tập bảo
vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và quyền, lợi ích hợp pháp
khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa;
c) Khiếu nại quyết định, hành
vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc
mình tham gia làm chứng;
d) Được cơ quan triệu tập thanh
toán chi phí đi lại và những chi phí khác theo quy định của pháp luật.
4. Người làm chứng có nghĩa vụ:
a) Có mặt theo giấy triệu tập của
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Trường hợp cố ý vắng mặt mà không vì
lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan và việc vắng mặt của họ
gây trở ngại cho việc giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy
tố, xét xử thì có thể bị dẫn giải;
b) Trình bày trung thực những
tình tiết mà mình biết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và lý do
biết được những tình tiết đó.
5. Người làm chứng khai báo
gian dối hoặc từ chối khai báo, trốn tránh việc khai báo mà không vì lý do bất
khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì phải chịu trách nhiệm hình sự
theo quy định của Bộ luật Hình sự.
6. Cơ quan, tổ chức nơi người
làm chứng làm việc hoặc học tập có trách nhiệm tạo điều kiện để họ tham gia tố
tụng.
Điều 67.
Người chứng kiến
1. Người chứng kiến là người được
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu chứng kiến việc tiến hành hoạt
động tố tụng theo quy định của Bộ luật này.
2. Những người sau đây không được
làm người chứng kiến:
a) Người thân thích của người bị
buộc tội, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
b) Người do nhược điểm về tâm
thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức đúng sự việc;
c) Người dưới 18 tuổi;
d) Có lý do khác cho thấy người
đó không khách quan.
3. Người chứng kiến có quyền:
a) Được thông báo, giải thích
quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
b) Yêu cầu người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng tuân thủ quy định của pháp luật, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ,
danh dự, nhân phẩm, tài sản và quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người
thân thích của mình khi bị đe dọa;
c) Xem biên bản tố tụng, đưa ra
nhận xét về hoạt động tố tụng mà mình chứng kiến;
d) Khiếu nại quyết định, hành
vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc
mình tham gia chứng kiến;
đ) Được cơ quan triệu tập thanh
toán chi phí theo quy định của pháp luật.
4. Người chứng kiến có nghĩa vụ:
a) Có mặt theo yêu cầu của cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
b) Chứng kiến đầy đủ hoạt động
tố tụng được yêu cầu;
c) Ký biên bản về hoạt động mà
mình chứng kiến;
d) Giữ bí mật về hoạt động điều
tra mà mình chứng kiến;
đ) Trình bày trung thực những
tình tiết mà mình chứng kiến theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố
tụng.
Điều 68.
Người giám định
1. Người giám định là người có
kiến thức chuyên môn về lĩnh vực cần giám định, được cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng trưng cầu, người tham gia tố tụng yêu cầu giám định theo quy định
của pháp luật.
2. Người giám định có quyền:
a) Tìm hiểu tài liệu của vụ án
có liên quan đến đối tượng phải giám định;
b) Yêu cầu cơ quan trưng cầu,
người tham gia tố tụng yêu cầu giám định cung cấp tài liệu cần thiết cho việc kết
luận;
c) Tham dự vào việc hỏi cung, lấy
lời khai và đặt câu hỏi về những vấn đề có liên quan đến đối tượng giám định;
d) Từ chối thực hiện giám định
trong trường hợp thời gian không đủ để tiến hành giám định, các tài liệu cung cấp
không đủ hoặc không có giá trị để kết luận, nội dung yêu cầu giám định vượt quá
phạm vi hiểu biết chuyên môn của mình;
đ) Ghi riêng ý kiến của mình
vào bản kết luận chung nếu không thống nhất với kết luận chung trong trường hợp
giám định do tập thể giám định tiến hành;
e) Các quyền khác theo quy định
của Luật Giám định tư pháp.
3. Người giám định có nghĩa vụ:
a) Có mặt theo giấy triệu tập của
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
b) Giữ bí mật điều tra mà mình
biết được khi thực hiện giám định;
c) Các nghĩa vụ khác theo quy định
của Luật Giám định tư pháp.
4. Người giám định kết luận
gian dối hoặc từ chối kết luận giám định mà không vì lý do bất khả kháng hoặc
không do trở ngại khách quan thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của
Bộ luật Hình sự.
5. Người giám định phải từ chối
tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Đồng thời là bị hại, đương sự;
là người đại diện, người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị
cáo;
b) Đã tham gia với tư cách là
người bào chữa, người làm chứng, người phiên dịch, người dịch thuật, người định
giá tài sản trong vụ án đó;
c) Đã tiến hành tố tụng trong vụ
án đó.
6. Việc thay đổi người giám định
do cơ quan trưng cầu giám định quyết định.
Điều 69.
Người định giá tài sản
1. Người định giá tài sản là
người có kiến thức chuyên môn về lĩnh vực giá, được cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng, người tham gia tố tụng yêu cầu định giá tài sản theo quy định của
pháp luật.
2. Người định giá tài sản có
quyền:
a) Tìm hiểu tài liệu của vụ án
liên quan đến đối tượng phải định giá;
b) Yêu cầu cơ quan yêu cầu định
giá, người tham gia tố tụng yêu cầu định giá cung cấp tài liệu cần thiết cho việc
định giá;
c) Từ chối thực hiện định giá
trong trường hợp thời gian không đủ để tiến hành định giá, các tài liệu cung cấp
không đủ hoặc không có giá trị để định giá, nội dung yêu cầu định giá vượt quá
phạm vi hiểu biết chuyên môn của mình;
d) Ghi ý kiến kết luận của mình
vào bản kết luận chung nếu không thống nhất với kết luận của Hội đồng định giá
tài sản;
đ) Các quyền khác theo quy định
của pháp luật.
3. Người định giá tài sản có
nghĩa vụ:
a) Có mặt theo giấy triệu tập của
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
b) Giữ bí mật điều tra mà mình
biết được khi thực hiện định giá tài sản;
c) Các nghĩa vụ khác theo quy định
của luật.
4. Người định giá tài sản kết
luận gian dối hoặc từ chối tham gia định giá mà không vì lý do bất khả kháng hoặc
không do trở ngại khách quan thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của
Bộ luật Hình sự.
5. Người định giá tài sản phải
từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Đồng thời là bị hại, đương sự;
là người đại diện, người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị
cáo;
b) Đã tham gia với tư cách là
người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch, người dịch
thuật trong vụ án đó;
c) Đã tiến hành tố tụng trong vụ
án đó.
6. Việc thay đổi người định giá
tài sản do cơ quan yêu cầu định giá tài sản quyết định.
Điều 70.
Người phiên dịch, người dịch thuật
1. Người phiên dịch, người dịch
thuật là người có khả năng phiên dịch, dịch thuật và được cơ quan có thẩm quyền
tiến hành tố tụng yêu cầu trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng
được tiếng Việt hoặc có tài liệu tố tụng không thể hiện bằng tiếng Việt.
2. Người phiên dịch, người dịch
thuật có quyền:
a) Được thông báo, giải thích
quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
b) Đề nghị cơ quan yêu cầu bảo
vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp
pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa;
c) Khiếu nại quyết định, hành
vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc
phiên dịch, dịch thuật;
d) Được cơ quan yêu cầu chi trả
thù lao phiên dịch, dịch thuật và các chế độ khác theo quy định của pháp luật.
3. Người phiên dịch, người dịch
thuật có nghĩa vụ:
a) Có mặt theo giấy triệu tập của
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
b) Phiên dịch, dịch thuật trung
thực. Nếu phiên dịch, dịch thuật gian dối thì người phiên dịch, người dịch thuật
phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự;
c) Giữ bí mật điều tra mà mình
biết được khi phiên dịch, dịch thuật;
d) Phải cam đoan trước cơ quan
đã yêu cầu về việc thực hiện nghĩa vụ của mình.
4. Người phiên dịch, người dịch
thuật phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các
trường hợp:
a) Đồng thời là bị hại, đương sự;
là người đại diện, người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị
cáo;
b) Đã tham gia với tư cách là
người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản trong
vụ án đó;
c) Đã tiến hành tố tụng trong vụ
án đó.
5. Việc thay đổi người phiên dịch,
người dịch thuật do cơ quan yêu cầu phiên dịch, dịch thuật quyết định.
6. Những quy định tại Điều này
cũng áp dụng đối với người biết được cử chỉ, hành vi của người câm, người điếc,
chữ của người mù.
Điều 71.
Trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của
người tham gia tố tụng
1. Cơ quan, người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền
và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật này.
Trường hợp người bị buộc tội,
người bị hại thuộc diện được trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật Trợ giúp
pháp lý thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm giải
thích cho họ quyền được trợ giúp pháp lý; nếu họ đề nghị được trợ giúp pháp lý
thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thông báo cho Trung tâm trợ
giúp pháp lý nhà nước.
2. Việc thông báo, giải thích
phải ghi vào biên bản.
Chương V
BÀO CHỮA, BẢO VỆ QUYỀN
VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA BỊ HẠI, ĐƯƠNG SỰ
Điều 72.
Người bào chữa
1. Người bào chữa là người được
người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ
định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng
ký bào chữa.
2. Người bào chữa có thể là:
a) Luật sư;
b) Người đại diện của người bị
buộc tội;
c) Bào chữa viên nhân dân;
d) Trợ giúp viên pháp lý trong
trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý.
3. Bào chữa viên nhân dân là
công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, trung thành với Tổ quốc, có phẩm chất đạo
đức tốt, có kiến thức pháp lý, đủ sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được
giao, được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc tổ chức thành viên của Mặt trận
cử tham gia bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình.
4. Những người sau đây không được
bào chữa:
a) Người đã tiến hành tố tụng vụ
án đó; người thân thích của người đã hoặc đang tiến hành tố tụng vụ án đó;
b) Người tham gia vụ án đó với
tư cách là người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người
phiên dịch, người dịch thuật;
c) Người đang bị truy cứu trách
nhiệm hình sự, người bị kết án mà chưa được xoá án tích, người đang bị áp dụng
biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt
buộc.
5. Một người bào chữa có thể
bào chữa cho nhiều người bị buộc tội trong cùng vụ án nếu quyền và lợi ích của
họ không đối lập nhau.
Nhiều người bào chữa có thể bào
chữa cho một người bị buộc tội.
Điều 73.
Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa
1. Người bào chữa có quyền:
a) Gặp, hỏi người bị buộc tội;
b) Có mặt khi lấy lời khai của
người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến
hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ,
bị can. Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì
người bào chữa có thể hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can;
c) Có mặt trong hoạt động đối
chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói và hoạt động điều tra khác theo quy định của
Bộ luật này;
d) Được cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng báo trước về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung và thời
gian, địa điểm tiến hành hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này;
đ) Xem biên bản về hoạt động tố
tụng có sự tham gia của mình, quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình
bào chữa;
e) Đề nghị thay đổi người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch,
người dịch thuật; đề nghị thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng
chế;
g) Đề nghị tiến hành hoạt động
tố tụng theo quy định của Bộ luật này; đề nghị triệu tập người làm chứng, người
tham gia tố tụng khác, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
h) Thu thập, đưa ra chứng cứ,
tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
i) Kiểm tra, đánh giá và trình
bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
k) Đề nghị cơ quan có thẩm quyền
tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá
lại tài sản;
l) Đọc, ghi chép và sao chụp những
tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa từ khi kết thúc điều
tra;
m) Tham gia hỏi, tranh luận tại
phiên tòa;
n) Khiếu nại quyết định, hành
vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
o) Kháng cáo bản án, quyết định
của Tòa án nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc
thể chất theo quy định của Bộ luật này.
2. Người bào chữa có nghĩa vụ:
a) Sử dụng mọi biện pháp do
pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị buộc tội vô
tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo;
b) Giúp người bị buộc tội về mặt
pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ;
c) Không được từ chối bào chữa
cho người bị buộc tội mà mình đã đảm nhận bào chữa nếu không vì lý do bất khả
kháng hoặc không phải do trở ngại khách quan;
d) Tôn trọng sự thật; không được
mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu
sai sự thật;
đ) Có mặt theo giấy triệu tập của
Tòa án; trường hợp chỉ định người bào chữa theo quy định tại khoản
1 Điều 76 của Bộ luật này thì phải có mặt theo yêu cầu của Cơ quan điều
tra, Viện kiểm sát;
e) Không được tiết lộ bí mật điều
tra mà mình biết khi thực hiện bào chữa; không được sử dụng tài liệu đã ghi
chép, sao chụp trong hồ sơ vụ án vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi
ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
g) Không được tiết lộ thông tin
về vụ án, về người bị buộc tội mà mình biết khi bào chữa, trừ trường hợp người này
đồng ý bằng văn bản và không được sử dụng thông tin đó vào mục đích xâm phạm lợi
ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ
chức, cá nhân.
3. Người bào chữa vi phạm pháp
luật thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị hủy bỏ việc đăng ký bào chữa, bị
xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự;
nếu gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của luật.
Điều 74.
Thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng
Người bào chữa tham gia tố tụng
từ khi khởi tố bị can.
Trường hợp bắt, tạm giữ người
thì người bào chữa tham gia tố tụng từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở của
Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra hoặc từ khi có quyết định tạm giữ.
Trường hợp cần giữ bí mật điều
tra đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát có
thẩm quyền quyết định để người bào chữa tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều
tra.
Điều 75. Lựa
chọn người bào chữa
1. Người bào chữa do người bị
buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ lựa chọn.
2. Trong thời hạn 12 giờ kể từ
khi nhận được đơn yêu cầu người bào chữa của người bị bắt, bị tạm giữ thì cơ
quan có thẩm quyền đang quản lý người bị bắt, người bị tạm giữ có trách nhiệm
chuyển đơn này cho người bào chữa, người đại diện hoặc người thân thích của họ.
Trường hợp người bị bắt, người bị tạm giữ không nêu đích danh người bào chữa
thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý người bị bắt, bị tạm giữ phải chuyển đơn
này cho người đại diện hoặc người thân thích của họ để những người này nhờ người
bào chữa.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi
nhận được đơn yêu cầu người bào chữa của người bị tạm giam thì cơ quan có thẩm
quyền đang quản lý người bị tạm giam có trách nhiệm chuyển đơn này cho người
bào chữa, người đại diện hoặc người thân thích của họ. Trường hợp người bị tạm
giam không nêu đích danh người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý
người bị tạm giam phải chuyển đơn này cho người đại diện hoặc người thân thích
của họ để những người này nhờ người bào chữa.
3. Trường hợp người đại diện hoặc
người thân thích của người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam có đơn
yêu cầu nhờ người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo
ngay cho người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam để có ý kiến về việc
nhờ người bào chữa.
4.[30] Người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích
của họ đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt
trận cử bào chữa viên nhân dân để bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên
của tổ chức mình.
Điều 76.
Chỉ định người bào chữa
1. Trong các trường hợp sau đây
nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời
người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người
bào chữa cho họ:
a) Bị can, bị cáo về tội mà Bộ
luật Hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung
thân, tử hình;
b) Người bị buộc tội có nhược điểm
về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là
người dưới 18 tuổi.
2. Cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng phải yêu cầu hoặc đề nghị các tổ chức sau đây cử người bào chữa
cho các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này:
a) Đoàn luật sư phân công tổ chức
hành nghề luật sư cử người bào chữa;
b) Trung tâm trợ giúp pháp lý
nhà nước cử Trợ giúp viên pháp lý, luật sư bào chữa cho người thuộc diện được
trợ giúp pháp lý;
c) Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận cử bào chữa viên nhân dân bào chữa
cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình.
Điều 77.
Thay đổi hoặc từ chối người bào chữa
1. Những người sau đây có quyền
từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa:
a) Người bị buộc tội;
b) Người đại diện của người bị
buộc tội;
c) Người thân thích của người bị
buộc tội.
Mọi trường hợp thay đổi hoặc từ
chối người bào chữa đều phải có sự đồng ý của người bị buộc tội và được lập
biên bản đưa vào hồ sơ vụ án, trừ trường hợp quy định tại điểm
b khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này.
2. Trường hợp người bị bắt, người
bị tạm giữ, người bị tạm giam trong giai đoạn điều tra có đề nghị từ chối người
bào chữa do người thân thích của họ nhờ thì Điều tra viên phải cùng người bào
chữa đó trực tiếp gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam để xác
nhận việc từ chối.
3. Trường hợp chỉ định người
bào chữa quy định tại khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này, người
bị buộc tội và người đại diện hoặc người thân thích của họ vẫn có quyền yêu cầu
thay đổi hoặc từ chối người bào chữa.
Trường hợp thay đổi người bào
chữa thì việc chỉ định người bào chữa khác được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 76 của Bộ luật này.
Trường hợp từ chối người bào chữa
thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng lập biên bản về việc từ chối người
bào chữa của người bị buộc tội hoặc người đại diện, người thân thích của người
bị buộc tội quy định tại điểm b khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này
và chấm dứt việc chỉ định người bào chữa.
Điều 78.
Thủ tục đăng ký bào chữa
1. Trong mọi trường hợp tham
gia tố tụng, người bào chữa phải đăng ký bào chữa.
2. Khi đăng ký bào chữa, người
bào chữa phải xuất trình các giấy tờ:
a) Luật sư xuất trình Thẻ luật
sư kèm theo bản sao có chứng thực và giấy yêu cầu luật sư của người bị buộc tội
hoặc của người đại diện, người thân thích của người bị buộc tội;
b) Người đại diện của người bị
buộc tội xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản
sao có chứng thực và giấy tờ có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về mối quan
hệ của họ với người bị buộc tội;
c) Bào chữa viên nhân dân xuất
trình Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng
thực và văn bản cử bào chữa viên nhân dân của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
và các tổ chức thành viên của Mặt trận;
d) Trợ giúp viên pháp lý, luật
sư thực hiện trợ giúp pháp lý xuất trình văn bản cử người thực hiện trợ giúp
pháp lý của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và Thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc
Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực.
3. Trường hợp chỉ định người
bào chữa quy định tại Điều 76 của Bộ luật này thì người bào
chữa xuất trình các giấy tờ:
a) Luật sư xuất trình Thẻ luật
sư kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử luật sư của tổ chức hành nghề
luật sư nơi luật sư đó hành nghề hoặc văn bản phân công của Đoàn luật sư đối với
luật sư hành nghề là cá nhân;
b) Bào chữa viên nhân dân xuất
trình Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng
thực và văn bản cử bào chữa viên nhân dân của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
và các tổ chức thành viên của Mặt trận;
c) Trợ giúp viên pháp lý, luật
sư thực hiện trợ giúp pháp lý xuất trình Thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc Thẻ luật
sư kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử người thực hiện trợ giúp pháp
lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.
4. Trong thời hạn 24 giờ kể từ
khi nhận đủ giấy tờ quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, cơ quan có thẩm
quyền tiến hành tố tụng phải kiểm tra giấy tờ và thấy không thuộc trường hợp từ
chối việc đăng ký bào chữa quy định tại khoản 5 Điều này thì vào sổ đăng ký bào
chữa, gửi ngay văn bản thông báo người bào chữa cho người đăng ký bào chữa, cơ
sở giam giữ và lưu giấy tờ liên quan đến việc đăng ký bào chữa vào hồ sơ vụ án;
nếu xét thấy không đủ điều kiện thì từ chối việc đăng ký bào chữa và phải nêu
rõ lý do bằng văn bản.
5. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành
tố tụng từ chối việc đăng ký bào chữa khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 72 của Bộ luật này;
b) Người bị buộc tội thuộc trường
hợp chỉ định người bào chữa từ chối người bào chữa.
6. Văn bản thông báo người bào chữa
có giá trị sử dụng trong suốt quá trình tham gia tố tụng, trừ các trường hợp:
a) Người bị buộc tội từ chối hoặc
đề nghị thay đổi người bào chữa;
b) Người đại diện hoặc người
thân thích của người bị buộc tội quy định tại điểm b khoản 1 Điều
76 của Bộ luật này từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa.
7. Cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng hủy bỏ việc đăng ký bào chữa và thông báo cho người bào chữa, cơ sở
giam giữ khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Khi phát hiện người bào chữa
thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 72 của Bộ luật này;
b) Vi phạm pháp luật khi tiến
hành bào chữa.
Điều 79.
Trách nhiệm thông báo cho người bào chữa
1. Cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng phải báo trước một thời gian hợp lý cho người bào chữa về thời
gian, địa điểm tiến hành hoạt động tố tụng mà họ có quyền tham gia theo quy định
của Bộ luật này.
2. Trường hợp người bào chữa đã
được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng báo trước mà không có mặt thì hoạt
động tố tụng vẫn được tiến hành, trừ trường hợp quy định tại Điều
291 của Bộ luật này.
Điều 80. Gặp
người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam
1. Để gặp người bị bắt, người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam, người bào chữa phải xuất trình văn bản
thông báo người bào chữa, Thẻ luật sư hoặc Thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc Chứng
minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân.
2. Cơ quan quản lý người bị bắt,
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam phải phổ biến nội quy, quy chế
của cơ sở giam giữ và yêu cầu người bào chữa chấp hành nghiêm chỉnh. Trường hợp
phát hiện người bào chữa vi phạm quy định về việc gặp thì phải dừng ngay việc gặp
và lập biên bản, báo cáo người có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều 81.
Thu thập, giao chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa
1. Người bào chữa thu thập chứng
cứ, tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa theo quy định tại khoản 2 Điều 88 của Bộ luật này.
2. Tùy từng giai đoạn tố tụng,
khi thu thập được chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa, người
bào chữa phải kịp thời giao cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để đưa
vào hồ sơ vụ án. Việc giao, nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật phải được lập biên
bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này.
3. Trường hợp không thể thu thập
được chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa thì người bào chữa
có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập.
Điều 82. Đọc,
ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án
1. Sau khi kết thúc điều tra, nếu
có yêu cầu đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc
bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm bố trí thời
gian, địa điểm để người bào chữa đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ
án.
2. Sau khi đọc, ghi chép, sao chụp
tài liệu, người bào chữa phải bàn giao nguyên trạng hồ sơ vụ án cho cơ quan đã
cung cấp hồ sơ. Nếu để mất, thất lạc, hư hỏng tài liệu, hồ sơ vụ án thì tùy
tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều 83.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị
khởi tố
1. Người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố là người được người
bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố nhờ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.
2. Người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có thể là:
a) Luật sư;
b) Bào chữa viên nhân dân;
c) Người đại diện;
d) Trợ giúp viên pháp lý.
3. Người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền:
a) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ
vật, yêu cầu;
b) Kiểm tra, đánh giá và trình
bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
c) Có mặt khi lấy lời khai người
bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố và nếu được Điều tra viên hoặc Kiểm sát
viên đồng ý thì được hỏi người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Sau mỗi
lần lấy lời khai của người có thẩm quyền kết thúc thì người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền hỏi người
bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố;
d) Có mặt khi đối chất, nhận dạng,
nhận biết giọng nói người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố;
đ) Khiếu nại quyết định, hành
vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
4. Người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có nghĩa vụ:
a) Sử dụng các biện pháp do
pháp luật quy định để góp phần làm rõ sự thật khách quan của vụ án;
b) Giúp người bị tố giác, người
bị kiến nghị khởi tố về pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Điều 84.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự
1. Người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của bị hại, đương sự là người được bị hại, đương sự nhờ bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp.
2. Người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của bị hại, đương sự có thể là:
a) Luật sư;
b) Người đại diện;
c) Bào chữa viên nhân dân;
d) Trợ giúp viên pháp lý.
3. Người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của bị hại, đương sự có quyền:
a) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ
vật, yêu cầu;
b) Kiểm tra, đánh giá và trình
bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
c) Yêu cầu giám định, định giá
tài sản;
d) Có mặt khi cơ quan có thẩm
quyền tiến hành tố tụng lấy lời khai, đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói
của người mà mình bảo vệ; đọc, ghi chép, sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ
án liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi của bị hại và đương sự sau khi kết thúc điều
tra;
đ) Tham gia hỏi, tranh luận tại
phiên tòa; xem biên bản phiên tòa;
e) Khiếu nại quyết định, hành
vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
g) Đề nghị thay đổi người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch,
người dịch thuật;
h) Kháng cáo phần bản án, quyết
định của Tòa án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ
là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.
4. Người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của bị hại, đương sự có nghĩa vụ:
a) Sử dụng các biện pháp do
pháp luật quy định để góp phần làm rõ sự thật khách quan của vụ án;
b) Giúp bị hại, đương sự về
pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Chương VI
CHỨNG MINH VÀ CHỨNG CỨ
Điều 85.
Những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự
Khi điều tra, truy tố và xét xử
vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chứng minh:
1. Có hành vi phạm tội xảy ra
hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội;
2. Ai là người thực hiện hành
vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm
hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội;
3. Những tình tiết giảm nhẹ, tăng
nặng trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và đặc điểm về nhân thân của bị
can, bị cáo;
4. Tính chất và mức độ thiệt hại
do hành vi phạm tội gây ra;
5. Nguyên nhân và điều kiện phạm
tội;
6. Những tình tiết khác liên
quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình
phạt.
Điều 86.
Chứng cứ
Chứng cứ là những gì có thật,
được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm
căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm
tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án.
Điều 87.
Nguồn chứng cứ
1. Chứng cứ được thu thập, xác
định từ các nguồn:
a) Vật chứng;
b) Lời khai, lời trình bày;
c) Dữ liệu điện tử;
d) Kết luận giám định, định giá
tài sản;
đ) Biên bản trong hoạt động khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án;
e) Kết quả thực hiện ủy thác tư
pháp và hợp tác quốc tế khác;
g) Các tài liệu, đồ vật khác.
2. Những gì có thật nhưng không
được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì không có giá
trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự.
Điều 88.
Thu thập chứng cứ
1. Để thu thập chứng cứ, cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có quyền tiến hành hoạt động thu thập chứng
cứ theo quy định của Bộ luật này; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp chứng
cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ
án.
2. Để thu thập chứng cứ, người
bào chữa có quyền gặp người mà mình bào chữa, bị hại, người làm chứng và những
người khác biết về vụ án để hỏi , nghe họ trình bày về những vấn đề liên quan đến
vụ án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện
tử liên quan đến việc bào chữa.
3. Những người tham gia tố tụng
khác, cơ quan, tổ chức hoặc bất cứ cá nhân nào đều có thể đưa ra chứng cứ, tài
liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử và trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ án.
4. Khi tiếp nhận chứng cứ, tài
liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến vụ án do những người quy định tại khoản
2 và khoản 3 Điều này cung cấp, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải lập
biên bản giao nhận và kiểm tra, đánh giá theo quy định của Bộ luật này.
5. Trong thời hạn 05 ngày kể từ
ngày lập biên bản về hoạt động điều tra, thu thập, nhận được tài liệu liên quan
đến vụ án mà Kiểm sát viên không trực tiếp kiểm sát theo quy định của Bộ luật
này thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra có trách nhiệm chuyển biên bản, tài liệu này cho Viện kiểm sát để kiểm
sát việc lập hồ sơ vụ án. Trường hợp do trở ngại khách quan thì thời hạn này có
thể kéo dài nhưng không quá 15 ngày. Trong thời hạn 03 ngày, Viện kiểm sát đóng
dấu bút lục và sao lưu biên bản, tài liệu lưu hồ sơ kiểm sát và bàn giao nguyên
trạng tài liệu, biên bản đó cho Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra. Việc giao, nhận tài liệu, biên bản được lập
biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này.
Điều 89. Vật
chứng
Vật chứng là vật được dùng làm
công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của
tội phạm, tiền hoặc vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội
hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án.
Điều 90. Bảo
quản vật chứng
1. Vật chứng phải được bảo quản
nguyên vẹn, không để mất mát, lẫn lộn, hư hỏng. Việc bảo quản vật chứng được thực
hiện như sau:
a) Vật chứng cần được niêm
phong thì phải niêm phong ngay sau khi thu thập. Việc niêm phong, mở niêm phong
được lập biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án. Việc niêm phong, mở niêm phong vật chứng
được thực hiện theo quy định của Chính phủ;
b) Vật chứng là tiền, vàng, bạc,
kim khí quý, đá quý, đồ cổ, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, vũ khí
quân dụng phải được giám định ngay sau khi thu thập và phải chuyển ngay để bảo
quản tại Kho bạc Nhà nước hoặc cơ quan chuyên trách khác. Nếu vật chứng là tiền,
vàng, bạc, kim khí quý, đá quý, đồ cổ lưu dấu vết của tội phạm thì tiến hành
niêm phong theo quy định tại điểm a khoản này; vật chứng là vi khuẩn nguy hại,
bộ phận cơ thể người, mẫu mô, mẫu máu và các mẫu vật khác của cơ thể người được
bảo quản tại cơ quan chuyên trách theo quy định của pháp luật;
c) Vật chứng không thể đưa về
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để bảo quản thì cơ quan có thẩm quyền
tiến hành tố tụng giao vật chứng đó cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp đồ vật,
tài sản hoặc người thân thích của họ hoặc Ủy ban nhân dân[31], cơ quan, tổ chức nơi có vật chứng bảo quản;
d) Vật chứng thuộc loại mau hỏng
hoặc khó bảo quản thì cơ quan có thẩm quyền trong phạm vi quyền hạn của mình
quyết định bán theo quy định của pháp luật và chuyển tiền đến tài khoản tạm giữ
của cơ quan có thẩm quyền tại Kho bạc Nhà nước để quản lý;
đ) Vật chứng đưa về cơ quan có
thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo quản thì cơ quan Công an nhân dân, Quân đội
nhân dân, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có
trách nhiệm bảo quản vật chứng trong giai đoạn điều tra, truy tố; cơ quan thi
hành án dân sự có trách nhiệm bảo quản vật chứng trong giai đoạn xét xử và thi
hành án.
2. Người có trách nhiệm bảo quản
vật chứng mà để mất mát, hư hỏng, phá hủy niêm phong, tiêu dùng, sử dụng trái
phép, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu, hủy hoại vật chứng của vụ án thì tuỳ
tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình
sự theo quy định của luật.
Trường hợp thêm, bớt, sửa đổi,
đánh tráo, hủy, làm hư hỏng vật chứng của vụ án nhằm làm sai lệch hồ sơ vụ án
thì phải chịu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo
quy định của luật.
Điều 91. Lời
khai của người làm chứng
1. Người làm chứng trình bày những
gì mà họ biết nguồn tin về tội phạm, về vụ án, nhân thân của người bị buộc tội,
bị hại, quan hệ giữa họ với người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng khác và trả
lời những câu hỏi đặt ra.
2. Không được dùng làm chứng cứ
những tình tiết do người làm chứng trình bày nếu họ không thể nói rõ vì sao biết
được tình tiết đó.
Điều 92. Lời
khai của bị hại
1. Bị hại trình bày những tình tiết
về nguồn tin về tội phạm, vụ án, quan hệ giữa họ với người bị buộc tội và trả lời
những câu hỏi đặt ra.
2. Không được dùng làm chứng cứ
những tình tiết do bị hại trình bày nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được
tình tiết đó.
Điều 93. Lời
khai của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự
1. Nguyên đơn dân sự, bị đơn
dân sự trình bày những tình tiết liên quan đến việc bồi thường thiệt hại do tội
phạm gây ra.
2. Không được dùng làm chứng cứ
những tình tiết do nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự trình bày nếu họ không thể
nói rõ vì sao biết được tình tiết đó.
Điều 94. Lời
khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đến vụ án trình bày những tình tiết trực tiếp liên quan đến quyền lợi,
nghĩa vụ của họ.
2. Không được dùng làm chứng cứ
những tình tiết do người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án trình bày nếu
họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó.
Điều 95. Lời
khai của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị tố giác, người bị kiến
nghị khởi tố, người phạm tội tự thú, đầu thú, người bị bắt, bị tạm giữ
Người bị giữ trong trường hợp
khẩn cấp, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người phạm tội tự thú,
đầu thú, người bị bắt, bị tạm giữ trình bày những tình tiết liên quan đến việc
họ bị nghi thực hiện tội phạm.
Điều 96. Lời
khai của người tố giác, báo tin về tội phạm
Người tố giác, báo tin về tội
phạm trình bày những tình tiết liên quan đến việc họ tố giác, báo tin về tội phạm.
Điều 97. Lời
khai của người chứng kiến
Người chứng kiến trình bày những
tình tiết mà họ đã chứng kiến trong hoạt động tố tụng.
Điều 98. Lời
khai của bị can, bị cáo
1. Bị can, bị cáo trình bày những
tình tiết của vụ án.
2. Lời nhận tội của bị can, bị
cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với những chứng cứ khác của vụ
án.
Không được dùng lời nhận tội của
bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội.
Điều 99. Dữ
liệu điện tử
1. Dữ liệu điện tử là ký hiệu,
chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ,
truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử.
2. Dữ liệu điện tử được thu thập
từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông, trên đường truyền và
các nguồn điện tử khác.
3. Giá trị chứng cứ của dữ liệu
điện tử được xác định căn cứ vào cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi dữ
liệu điện tử; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của dữ liệu điện tử;
cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác.
Điều 100.
Kết luận giám định
1. Kết luận giám định là văn bản
do cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức giám định lập để kết luận chuyên môn về những
vấn đề được trưng cầu, yêu cầu giám định.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân kết
luận về vấn đề được trưng cầu, yêu cầu giám định và phải chịu trách nhiệm về kết
luận đó.
Nếu việc giám định do tập thể
giám định tiến hành thì tất cả thành viên đều ký vào bản kết luận. Trường hợp
có ý kiến khác nhau thì mỗi người ghi ý kiến kết luận của mình vào bản kết luận.
3. Trường hợp cơ quan có thẩm
quyền tiến hành tố tụng không đồng ý với kết luận giám định thì phải nêu rõ lý
do, nếu kết luận chưa rõ hoặc chưa đầy đủ thì quyết định giám định bổ sung hoặc
giám định lại theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này.
4. Kết luận giám định của người
được trưng cầu giám định thuộc trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi thì không
có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án.
Điều 101.
Kết luận định giá tài sản
1. Kết luận định giá tài sản là
văn bản do Hội đồng định giá tài sản lập để kết luận về giá của tài sản được
yêu cầu.
Hội đồng định giá tài sản kết
luận giá của tài sản và phải chịu trách nhiệm về kết luận đó.
2. Kết luận định giá tài sản phải
có chữ ký của tất cả thành viên Hội đồng định giá tài sản. Trường hợp không đồng
ý với giá của tài sản do Hội đồng quyết định thì thành viên của Hội đồng ghi ý
kiến kết luận của mình vào bản kết luận.
3. Trường hợp cơ quan có thẩm
quyền tiến hành tố tụng không đồng ý với kết luận định giá tài sản thì phải nêu
rõ lý do; nếu kết luận chưa rõ thì quyết định định giá lại theo thủ tục chung
quy định tại Bộ luật này.
4. Kết luận định giá của Hội đồng
định giá tài sản vi phạm quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật
về định giá thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải
quyết vụ án.
Điều 102.
Biên bản về hoạt động kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều
tra, truy tố, xét xử
Những tình tiết được ghi trong
biên bản về hoạt động kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều
tra, truy tố, xét xử được lập theo quy định của Bộ luật này có thể được coi là
chứng cứ.
Điều 103.
Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác
Kết quả thực hiện ủy thác tư
pháp và hợp tác quốc tế khác do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cung cấp
có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với chứng cứ khác của vụ án.
Điều 104.
Các tài liệu, đồ vật khác trong vụ án
Những tình tiết liên quan đến vụ
án ghi trong tài liệu, đồ vật do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp có thể được
coi là chứng cứ. Trường hợp tài liệu, đồ vật này có đặc điểm quy định tại Điều 89 của Bộ luật này thì được coi là vật chứng.
Điều 105.
Thu thập vật chứng
Vật chứng phải được thu thập kịp
thời, đầy đủ, mô tả đúng thực trạng vào biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án. Trường
hợp vật chứng không thể đưa vào hồ sơ vụ án thì phải chụp ảnh, có thể ghi hình để
đưa vào hồ sơ vụ án. Vật chứng phải được niêm phong, bảo quản theo quy định của
pháp luật.
Điều 106.
Xử lý vật chứng
1. Việc xử lý vật chứng do Cơ
quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết
định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Chánh án Tòa án quyết định
nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn chuẩn bị xét xử; do Hội đồng xét xử quyết định
nếu vụ án đã đưa ra xét xử. Việc thi hành quyết định về xử lý vật chứng phải được
ghi vào biên bản.
2. Vật chứng được xử lý như
sau:
a) Vật chứng là công cụ, phương
tiện phạm tội, vật cấm tàng trữ, lưu hành thì bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước
hoặc tiêu hủy;
b) Vật chứng là tiền bạc hoặc
tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước;
c) Vật chứng không có giá trị
hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu hủy.
3. Trong quá trình điều tra,
truy tố, xét xử, cơ quan, người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này có
quyền:
a) Trả lại ngay tài sản đã thu
giữ, tạm giữ nhưng không phải là vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp
pháp tài sản đó;
b) Trả lại ngay vật chứng cho
chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử
lý vụ án và thi hành án;
c) Vật chứng thuộc loại mau hỏng
hoặc khó bảo quản thì có thể được bán theo quy định của pháp luật; trường hợp
không bán được thì tiêu hủy;
d) Vật chứng là động vật hoang
dã và thực vật ngoại lai thì ngay sau khi có kết luận giám định phải giao cho
cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp có tranh chấp về
quyền sở hữu đối với vật chứng thì giải quyết theo quy định của pháp luật về tố
tụng dân sự.
Điều 107.
Thu thập phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử
1. Phương tiện điện tử phải được
thu giữ kịp thời, đầy đủ, mô tả đúng thực trạng và niêm phong ngay sau khi thu
giữ. Việc niêm phong, mở niêm phong được tiến hành theo quy định của pháp luật.
Trường hợp không thể thu giữ
phương tiện lưu trữ dữ liệu điện tử thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
sao lưu dữ liệu điện tử đó vào phương tiện điện tử và bảo quản như đối với vật
chứng, đồng thời yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan lưu trữ, bảo toàn
nguyên vẹn dữ liệu điện tử mà cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã sao
lưu và cơ quan, tổ chức, cá nhân này phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
2. Khi thu thập, chặn thu, sao
lưu dữ liệu điện tử từ phương tiện điện tử, mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc
trên đường truyền, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiến hành phải lập
biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án.
3. Khi nhận được quyết định
trưng cầu giám định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thì cá nhân, tổ
chức có trách nhiệm thực hiện phục hồi, tìm kiếm, giám định dữ liệu điện tử.
4. Việc phục hồi, tìm kiếm,
giám định dữ liệu điện tử chỉ được thực hiện trên bản sao; kết quả phục hồi,
tìm kiếm, giám định phải chuyển sang dạng có thể đọc, nghe hoặc nhìn được.
5. Phương tiện điện tử, dữ liệu
điện tử được bảo quản như vật chứng theo quy định của Bộ luật này. Khi xuất
trình chứng cứ là dữ liệu điện tử phải kèm theo phương tiện lưu trữ dữ liệu hoặc
bản sao dữ liệu điện tử.
Điều 108.
Kiểm tra, đánh giá chứng cứ
1. Mỗi chứng cứ phải được kiểm
tra, đánh giá để xác định tính hợp pháp, xác thực và liên quan đến vụ án. Việc
xác định những chứng cứ thu thập được phải bảo đảm đủ để giải quyết vụ án hình
sự.
2. Người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải kiểm tra, đánh giá
đầy đủ, khách quan, toàn diện mọi chứng cứ đã thu thập được về vụ án.
Chương
VII
BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN, BIỆN
PHÁP CƯỠNG CHẾ
Mục I. BIỆN
PHÁP NGĂN CHẶN
Điều 109.
Các biện pháp ngăn chặn
1. Để kịp thời ngăn chặn tội phạm
hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều
tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án, cơ
quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình
có thể áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm
giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh.
2. Các trường hợp bắt người gồm
bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt
người đang bị truy nã, bắt bị can, bị cáo để tạm giam, bắt người bị yêu cầu dẫn
độ.
Điều 110.
Giữ người trong trường hợp khẩn cấp
1. Khi thuộc một trong các trường
hợp khẩn cấp sau đây thì được giữ người:
a) Có đủ căn cứ để xác định người
đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng;
b) Người cùng thực hiện tội phạm
hoặc bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và
xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc
người đó trốn;
c) Có dấu vết của tội phạm ở
người hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi
thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu
hủy chứng cứ.
2. Những người sau đây có quyền
ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp:
a)[32] Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Điều
tra viên thuộc trường hợp quy định tại khoản 1a Điều 37 của Bộ
luật này;
b)[33] Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương,
Đồn trưởng Đồn biên phòng, Chỉ huy trưởng Biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng
Ban Chỉ huy Bộ đội biên phòng, Cục trưởng Cục Trinh sát Bộ đội biên phòng, Cục
trưởng Cục phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng, Đoàn trưởng Đoàn
đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng; Đoàn trưởng Đoàn
Trinh sát Bộ đội biên phòng; Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh sát biển, Cục trưởng
Cục Nghiệp vụ và pháp luật lực lượng Cảnh sát biển, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm
phòng, chống tội phạm ma túy lực lượng Cảnh sát biển, Đoàn trưởng Đoàn Trinh
sát lực lượng Cảnh sát biển; Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng;
c) Người chỉ huy tàu bay, tàu
biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng.
3. Lệnh giữ người trong trường
hợp khẩn cấp phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người bị giữ, lý do, căn cứ giữ
người quy định tại khoản 1 Điều này và các nội dung quy định tại khoản
2 Điều 132 của Bộ luật này. Việc thi hành lệnh giữ người trong trường hợp
khẩn cấp phải theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 113 của Bộ luật
này.
4.[34] Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi giữ người trong trường
hợp khẩn cấp hoặc nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì Cơ quan điều
tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải lấy lời
khai ngay và những người quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này phải ra
quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ hoặc trả tự do ngay cho người đó.
Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải gửi ngay cho Viện kiểm sát
có thẩm quyền kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn.
Sau khi giữ người trong trường
hợp khẩn cấp, những người quy định tại điểm c khoản 2 Điều này phải giải ngay
người bị giữ kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người trong trường hợp khẩn
cấp đến Cơ quan điều tra nơi có sân bay hoặc bến cảng đầu tiên tàu trở về.
Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi tiếp nhận người bị giữ, Cơ quan điều tra phải lấy
lời khai ngay và những người quy định tại điểm a khoản 2 Điều này phải ra quyết
định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp hoặc trả tự do
ngay cho người đó. Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải gửi
ngay cho Viện kiểm sát có thẩm quyền kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ
người để xét phê chuẩn.
Lệnh bắt người bị giữ trong trường
hợp khẩn cấp phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người bị giữ, lý do, căn cứ giữ
người quy định tại khoản 1 Điều này và các nội dung quy định tại khoản
2 Điều 132 của Bộ luật này.
5. Hồ sơ đề nghị Viện kiểm sát
phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp gồm:
a) Văn bản đề nghị Viện kiểm
sát phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp;
b) Lệnh giữ người trong trường
hợp khẩn cấp, lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, quyết định tạm
giữ;
c) Biên bản giữ người trong trường
hợp khẩn cấp;
d) Biên bản ghi lời khai của
người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp;
đ) Chứng cứ, tài liệu, đồ vật
liên quan đến việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp.
6. Viện kiểm sát phải kiểm sát
chặt chẽ căn cứ giữ người quy định tại khoản 1 Điều này. Trường hợp cần thiết,
Kiểm sát viên phải trực tiếp gặp, hỏi người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp
trước khi xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn lệnh bắt
người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Biên bản ghi lời khai của người bị giữ
trong trường hợp khẩn cấp do Kiểm sát viên lập phải đưa vào hồ sơ vụ việc, vụ
án.
Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi
nhận được hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn
cấp, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn.
Trường hợp Viện kiểm sát quyết định không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong
trường hợp khẩn cấp thì người đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp,
Cơ quan điều tra đã nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải trả tự do
ngay cho người bị giữ.
Điều 111.
Bắt người phạm tội quả tang
1. Đối với người đang thực hiện
tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm mà bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt
thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan
Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải
lập biên bản tiếp nhận và giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều
tra có thẩm quyền.
2. Khi bắt người phạm tội quả
tang thì người nào cũng có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt.
3. Trường hợp Công an cấp xã[35], Đồn Công an phát hiện bắt giữ,
tiếp nhận người phạm tội quả tang thì thu giữ, tạm giữ vũ khí, hung khí và bảo
quản tài liệu, đồ vật có liên quan, lập biên bản bắt giữ người, lấy lời khai
ban đầu, bảo vệ hiện trường theo quy định của pháp luật; giải ngay người bị bắt
hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
Điều 112.
Bắt người đang bị truy nã
1. Đối với người đang bị truy
nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan
Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải
lập biên bản tiếp nhận và giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều
tra có thẩm quyền.
2. Khi bắt người đang bị truy
nã thì người nào cũng có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt.
3. Trường hợp Công an cấp xã[36], Đồn Công an phát hiện bắt giữ,
tiếp nhận người đang bị truy nã thì thu giữ, tạm giữ vũ khí, hung khí và bảo quản
tài liệu, đồ vật có liên quan, lập biên bản bắt giữ người, lấy lời khai ban đầu;
giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
Điều 113.
Bắt bị can, bị cáo để tạm giam
1.[37] Những người sau đây có quyền ra lệnh, quyết định bắt bị
can, bị cáo để tạm giam:
a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng
Cơ quan điều tra các cấp; Điều tra viên thuộc trường hợp quy định tại khoản 1a Điều 37 của Bộ luật này. Trường hợp này, lệnh bắt phải
được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành;
b) Viện trưởng, Phó Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự
các cấp;
c) Chánh án, Phó Chánh án Tòa
án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp; Thẩm phán giữ chức
vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao; Hội đồng xét
xử.
2. Lệnh bắt, quyết định phê chuẩn
lệnh, quyết định bắt phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người bị bắt; lý do bắt và
các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.
Người thi hành lệnh, quyết định
phải đọc lệnh, quyết định; giải thích lệnh, quyết định, quyền và nghĩa vụ của
người bị bắt và phải lập biên bản về việc bắt; giao lệnh, quyết định cho người
bị bắt.
Khi tiến hành bắt người tại nơi
người đó cư trú phải có đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã[38] và người khác chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại
nơi người đó làm việc, học tập phải có đại diện cơ quan, tổ chức nơi người đó
làm việc, học tập chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi khác phải có sự
chứng kiến của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã[39] nơi tiến hành bắt người.
3. Không được bắt người vào ban
đêm, trừ trường hợp phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã.
Điều 114.
Những việc cần làm ngay sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người
hoặc nhận người bị giữ, bị bắt
1. Sau khi giữ người trong trường
hợp khẩn cấp, bắt người hoặc nhận người bị giữ, bị bắt, Cơ quan điều tra, cơ
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải lấy lời khai
ngay và trong thời hạn 12 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người
bị bắt.
2. Sau khi lấy lời khai người bị
bắt theo quyết định truy nã thì Cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải thông
báo ngay cho Cơ quan đã ra quyết định truy nã đến nhận người bị bắt. Sau khi nhận
người bị bắt, cơ quan đã ra quyết định truy nã phải ra ngay quyết định đình nã.
Trường hợp cơ quan đã ra quyết
định truy nã không thể đến nhận ngay người bị bắt thì sau khi lấy lời khai, Cơ
quan điều tra nhận người bị bắt phải ra ngay quyết định tạm giữ và thông báo
ngay cho cơ quan đã ra quyết định truy nã biết; nếu đã hết thời hạn tạm giữ mà
cơ quan ra quyết định truy nã vẫn chưa đến nhận thì Cơ quan điều tra nhận người
bị bắt gia hạn tạm giữ và gửi ngay quyết định gia hạn tạm giữ kèm theo tài liệu
liên quan cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[40] để xét phê chuẩn.
Trường hợp không thể đến nhận
ngay người bị bắt thì cơ quan đã ra quyết định truy nã có thẩm quyền bắt để tạm
giam phải ra ngay lệnh tạm giam và gửi lệnh tạm giam đã được Viện kiểm sát có
thẩm quyền[41] phê chuẩn cho Cơ
quan điều tra nhận người bị bắt. Sau khi nhận được lệnh tạm giam, Cơ quan điều
tra nhận người bị bắt phải giải ngay người đó đến Trại tạm giam nơi gần nhất.
3. Trường hợp người bị bắt có
nhiều quyết định truy nã thì Cơ quan điều tra nhận người bị bắt chuyển giao người
bị bắt cho cơ quan đã ra quyết định truy nã nơi gần nhất.
Điều 115.
Biên bản về việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, biên bản bắt người
1. Người thi hành lệnh giữ người
trong trường hợp khẩn cấp, thi hành lệnh hoặc quyết định bắt trong mọi trường hợp
đều phải lập biên bản.
Biên bản phải ghi rõ giờ, ngày,
tháng, năm, địa điểm giữ, bắt, nơi lập biên bản; những việc đã làm, tình hình
diễn biến trong khi thi hành lệnh giữ, lệnh hoặc quyết định bắt, tài liệu, đồ vật
bị tạm giữ, tình trạng sức khỏe và ý kiến, khiếu nại của người bị giữ, người bị
bắt và các nội dung quy định tại Điều 133 của Bộ luật này.
Biên bản được đọc cho người bị
giữ, người bị bắt và người chứng kiến nghe. Người bị giữ, người bị bắt, người
thi hành lệnh giữ, lệnh hoặc quyết định bắt và người chứng kiến cùng ký tên
vào biên bản, nếu ai có ý kiến khác hoặc không đồng ý với nội dung biên bản thì
có quyền ghi vào biên bản và ký tên.
Việc tạm giữ tài liệu, đồ vật của
người bị giữ, người bị bắt phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật này.
2. Khi giao, nhận người bị giữ,
người bị bắt phải lập biên bản.
Ngoài nội dung quy định tại khoản
1 Điều này, biên bản giao nhận còn phải ghi rõ việc bàn giao biên bản lấy lời
khai, tài liệu, đồ vật đã thu thập được, tình trạng sức khoẻ của người bị giữ,
người bị bắt và những tình tiết xảy ra khi giao nhận.
Điều 116.
Thông báo về việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người
Sau khi giữ người, bắt người,
người ra lệnh giữ người, lệnh hoặc quyết định bắt người phải thông báo ngay cho
gia đình người bị giữ, bị bắt, Ủy ban nhân dân cấp xã[42] nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó
làm việc, học tập biết.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi
nhận người bị giữ, bị bắt, Cơ quan điều tra nhận người bị giữ, bị bắt phải
thông báo cho gia đình người bị giữ, bị bắt, Ủy ban nhân dân cấp xã[43] nơi người đó cư trú hoặc cơ
quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập biết; trường hợp người bị giữ, người
bị bắt là công dân nước ngoài thì phải thông báo cho cơ quan ngoại giao của Việt
Nam để thông báo cho cơ quan đại diện ngoại giao của nước có công dân bị giữ, bị
bắt.
Nếu việc thông báo cản trở truy
bắt đối tượng khác hoặc cản trở điều tra thì sau khi cản trở đó không còn, người
ra lệnh giữ người, lệnh hoặc quyết định bắt người, Cơ quan điều tra nhận người
bị giữ, người bị bắt phải thông báo ngay.
Điều 117.
Tạm giữ
1. Tạm giữ có thể áp dụng đối với
người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội
quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định
truy nã.
2. Những người có thẩm quyền ra
lệnh giữ người quy định tại khoản 2 Điều 110 của Bộ luật này
có quyền ra quyết định tạm giữ.
Quyết định tạm giữ phải ghi rõ
họ tên, địa chỉ của người bị tạm giữ, lý do tạm giữ, giờ, ngày bắt đầu và giờ,
ngày hết thời hạn tạm giữ và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều
132 của Bộ luật này. Quyết định tạm giữ phải giao cho người bị tạm giữ.
3. Người thi hành quyết định tạm
giữ phải thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ quy định
tại Điều 59 của Bộ luật này.
4. Trong thời hạn 12 giờ kể từ
khi ra quyết định tạm giữ, người ra quyết định tạm giữ phải gửi quyết định tạm
giữ kèm theo các tài liệu làm căn cứ tạm giữ cho[44] Viện kiểm sát có thẩm quyền. Nếu xét thấy việc tạm giữ không
có căn cứ hoặc không cần thiết thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định
tạm giữ và người ra quyết định tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.
Điều 118.
Thời hạn tạm giữ
1. Thời hạn tạm giữ không quá
03 ngày kể từ khi Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra nhận người bị giữ, người bị bắt hoặc áp giải người bị giữ,
người bị bắt về trụ sở của mình hoặc kể từ khi Cơ quan điều tra ra quyết định tạm
giữ người phạm tội tự thú, đầu thú.
2. Trường hợp cần thiết, người
ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ nhưng không quá 03 ngày. Trường hợp
đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng
không quá 03 ngày.
Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ
đều phải được[45] Viện kiểm sát
có thẩm quyền phê chuẩn. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận hồ sơ đề nghị gia
hạn tạm giữ, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không
phê chuẩn.
3. Trong khi tạm giữ, nếu không
đủ căn cứ khởi tố bị can thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ; trường
hợp đã gia hạn tạm giữ thì Viện kiểm sát phải trả tự do ngay cho người bị tạm
giữ.
4. Thời gian tạm giữ được trừ
vào thời hạn tạm giam. Một ngày tạm giữ được tính bằng một ngày tạm giam.
Điều 119.
Tạm giam
1. Tạm giam có thể áp dụng đối
với bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng.
2. Tạm giam có thể áp dụng đối
với bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật Hình sự
quy định hình phạt tù trên 02 năm khi có căn cứ xác định người đó thuộc một
trong các trường hợp:
a) Đã bị áp dụng biện pháp ngăn
chặn khác nhưng vi phạm;
b) Không có nơi cư trú rõ ràng
hoặc không xác định được lý lịch của bị can;
c) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết
định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn;
d) Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu
hiệu tiếp tục phạm tội;
đ) Có hành vi mua chuộc, cưỡng
ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu
hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến
vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội
phạm và người thân thích của những người này.
3. Tạm giam có thể áp dụng đối
với bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt
tù đến 02 năm nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định
truy nã.
4. Đối với bị can, bị cáo là phụ
nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh
nặng mà có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện
pháp ngăn chặn khác, trừ các trường hợp:
a) Bỏ trốn và bị bắt theo quyết
định truy nã;
b) Tiếp tục phạm tội;
c) Có hành vi mua chuộc, cưỡng
ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu
hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến
vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội
phạm hoặc người thân thích của những người này;
d) Bị can, bị cáo về tội xâm phạm
an ninh quốc gia và có đủ căn cứ xác định nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ
gây nguy hại đến an ninh quốc gia.
5. Những người có thẩm quyền
quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này có quyền ra lệnh,
quyết định tạm giam. Lệnh tạm giam của những người được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải được Viện kiểm
sát có thẩm quyền[46] chuẩn trước
khi thi hành. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được lệnh tạm giam, đề nghị
xét phê chuẩn và hồ sơ liên quan đến việc tạm giam, Viện kiểm sát phải ra quyết
định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Viện kiểm sát phải hoàn trả hồ
sơ cho Cơ quan điều tra ngay sau khi kết thúc việc xét phê chuẩn.
6. Cơ quan điều tra phải kiểm
tra căn cước của người bị tạm giam và thông báo ngay cho gia đình người bị tạm
giam, Ủy ban nhân dân cấp xã[47]
nơi người bị tạm giam cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị tạm giam làm việc,
học tập biết.
Điều 120.
Việc chăm nom người thân thích và bảo quản tài sản của người bị tạm giữ, tạm
giam
1. Trường hợp người bị tạm giữ,
tạm giam có người thân thích là người tàn tật, già yếu, có nhược điểm về tâm thần
mà không có người chăm sóc thì cơ quan ra quyết định tạm giữ, lệnh hoặc quyết định
tạm giam giao người đó cho người thân thích khác chăm nom; trường hợp không có
người thân thích thì cơ quan ra quyết định tạm giữ, lệnh hoặc quyết định tạm
giam giao những người đó cho Ủy ban nhân dân cấp xã[48] nơi họ cư trú chăm nom. Việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ
em là con của người bị tạm giữ, tạm giam thực hiện theo quy định của Luật Thi
hành tạm giữ, tạm giam.
2. Trường hợp người bị tạm giữ,
tạm giam có nhà ở hoặc tài sản khác mà không có người bảo quản thì cơ quan ra
quyết định tạm giữ, lệnh hoặc quyết định tạm giam phải áp dụng những biện pháp
bảo quản.
3. Cơ quan ra quyết định tạm giữ,
lệnh hoặc quyết định tạm giam thông báo cho người bị tạm giữ, tạm giam biết việc
chăm nom, chăm sóc người thân thích và bảo quản tài sản của họ. Việc thông báo
được lập văn bản và đưa vào hồ sơ vụ án.
Điều 121.
Bảo lĩnh
1. Bảo lĩnh là biện pháp ngăn
chặn thay thế tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của
hành vi và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa
án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh.
2. Cơ quan, tổ chức có thể nhận
bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người của cơ quan, tổ chức mình. Cơ quan, tổ chức
nhận bảo lĩnh phải có giấy cam đoan và có xác nhận của người đứng đầu cơ quan,
tổ chức.
Cá nhân là người đủ 18 tuổi trở
lên, nhân thân tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, thu nhập ổn định và có điều
kiện quản lý người được bảo lĩnh thì có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là
người thân thích của họ và trong trường hợp này thì ít nhất phải có 02 người.
Cá nhân nhận bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp
xã[49] nơi người đó cư trú hoặc
cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập.
Trong giấy cam đoan, cơ quan, tổ
chức, cá nhân nhận bảo lĩnh phải cam đoan không để bị can, bị cáo vi phạm các
nghĩa vụ quy định tại khoản 3 Điều này. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh
được thông báo về những tình tiết của vụ án liên quan đến việc nhận bảo lĩnh.
3. Bị can, bị cáo được bảo lĩnh
phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ:
a) Có mặt theo giấy triệu tập,
trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan;
b) Không bỏ trốn hoặc tiếp tục
phạm tội;
c) Không mua chuộc, cưỡng ép,
xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không
tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên
quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người
tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.
Trường hợp bị can, bị cáo vi phạm
nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản này thì bị tạm giam.
4. Những người có thẩm quyền
quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này, Thẩm phán chủ
tọa phiên tòa có quyền ra quyết định bảo lĩnh. Quyết định của những người quy định
tại điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải được Viện
kiểm sát có thẩm quyền[50] phê
chuẩn trước khi thi hành.
5. Thời hạn bảo lĩnh không được
quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử theo quy định của Bộ luật này. Thời
hạn bảo lĩnh đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi
tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.
6. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận
bảo lĩnh để bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan thì tùy tính chất, mức
độ vi phạm mà bị phạt tiền theo quy định của pháp luật.
Điều 122.
Đặt tiền để bảo đảm
1. Đặt tiền để bảo đảm là biện
pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội
của hành vi, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo, Cơ quan điều
tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ hoặc người thân thích của họ
đặt tiền để bảo đảm.
2. Bị can, bị cáo được đặt tiền
phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ:
a) Có mặt theo giấy triệu tập,
trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan;
b) Không bỏ trốn hoặc tiếp tục
phạm tội;
c) Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi
giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy,
giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ
án; không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội
phạm và người thân thích của những người này.
Trường hợp bị can, bị cáo vi phạm
nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản này thì bị tạm giam và số tiền đã đặt bị tịch
thu, nộp ngân sách nhà nước.
3. Những người có thẩm quyền
quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này, Thẩm phán chủ
tọa phiên tòa có quyền ra quyết định về việc đặt tiền để bảo đảm. Quyết định của
những người quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật
này phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền[51] phê chuẩn trước khi thi hành.
4. Thời hạn đặt tiền không quá
thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử theo quy định tại Bộ luật này. Thời hạn
đặt tiền đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án
cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù. Bị can, bị cáo chấp hành đầy
đủ các nghĩa vụ đã cam đoan thì Viện kiểm sát, Tòa án có trách nhiệm trả lại
cho họ số tiền đã đặt.
5. Người thân thích của bị can,
bị cáo được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án chấp nhận cho đặt tiền để bảo
đảm phải làm giấy cam đoan không để bị can, bị cáo vi phạm các nghĩa vụ quy định
tại khoản 2 Điều này, nếu vi phạm thì số tiền đã đặt bị tịch thu, nộp ngân sách
nhà nước. Khi làm giấy cam đoan, người này được thông báo về những tình tiết của
vụ án có liên quan đến bị can, bị cáo.
6. Bộ trưởng Bộ Công an chủ
trì, phối hợp với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi tiết trình tự, thủ tục,
mức tiền đặt, việc tạm giữ, hoàn trả, tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền
đã đặt để bảo đảm.
Điều 123.
Cấm đi khỏi nơi cư trú
1. Cấm đi khỏi nơi cư trú là biện
pháp ngăn chặn có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo có nơi cư trú, lý lịch rõ
ràng nhằm bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát, Tòa án.
2. Bị can, bị cáo bị cấm đi khỏi
nơi cư trú phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ:
a) Không đi khỏi nơi cư trú nếu
không được cơ quan đã ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho phép;
b) Có mặt theo giấy triệu tập,
trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan;
c) Không bỏ trốn hoặc tiếp tục
phạm tội;
d) Không mua chuộc, cưỡng ép,
xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không
tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên
quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người
tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.
Trường hợp bị can, bị cáo vi phạm
nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản này thì bị tạm giam.
3. Những người có thẩm quyền
quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này, Thẩm phán chủ
tọa phiên tòa, Đồn trưởng Đồn biên phòng có quyền ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư
trú.
4. Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư
trú không quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử theo quy định của Bộ luật
này. Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với người bị kết án phạt tù không quá
thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt
tù.
5. Người ra lệnh cấm đi khỏi
nơi cư trú phải thông báo về việc áp dụng biện pháp này cho Ủy ban nhân dân cấp
xã[52] nơi bị can, bị cáo cư trú,
đơn vị quân đội đang quản lý bị can, bị cáo và giao bị can, bị cáo cho Ủy ban
nhân dân cấp xã[53] hoặc đơn vị
quân đội đó để quản lý, theo dõi họ.
Trường hợp bị can, bị cáo vì lý
do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan phải tạm thời đi khỏi nơi cư trú
thì phải được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã[54] nơi người đó cư trú hoặc đơn vị quân đội quản lý họ và
phải có giấy cho phép của người đã ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.
6. Nếu bị can, bị cáo vi phạm
nghĩa vụ cam đoan thì Ủy ban nhân dân cấp xã[55] nơi bị can, bị cáo cư trú, đơn vị quân đội đang quản lý
bị can, bị cáo phải báo ngay cho cơ quan đã ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú biết
để xử lý theo thẩm quyền.
Điều 124.
Tạm hoãn xuất cảnh
1. Có thể tạm hoãn xuất cảnh đối
với những người sau đây khi có căn cứ xác định việc xuất cảnh của họ có dấu hiệu
bỏ trốn:
a) Người bị tố giác, người bị
kiến nghị khởi tố mà qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó bị
nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc
tiêu hủy chứng cứ;
b) Bị can, bị cáo.
2. Những người có thẩm quyền
quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này, Thẩm phán chủ
tọa phiên tòa có quyền quyết định tạm hoãn xuất cảnh. Quyết định tạm hoãn xuất
cảnh của những người được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113
của Bộ luật này phải được thông báo ngay cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[56] trước khi thi hành.
3. Thời hạn tạm hoãn xuất cảnh
không được quá thời hạn giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra,
truy tố, xét xử theo quy định của Bộ luật này. Thời hạn tạm hoãn xuất cảnh đối
với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời
điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.
Điều 125.
Hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn
1. Mọi biện pháp ngăn chặn đang
áp dụng phải được hủy bỏ khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Quyết định không khởi tố vụ
án hình sự;
b) Đình chỉ điều tra, đình chỉ
vụ án;
c) Đình chỉ điều tra đối với bị
can, đình chỉ vụ án đối với bị can;
d) Bị cáo được Tòa án tuyên
không có tội, miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt, hình phạt tù nhưng
được hưởng án treo hoặc hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ.
2. Cơ quan điều tra, Viện kiểm
sát, Tòa án hủy bỏ biện pháp ngăn chặn khi thấy không còn cần thiết hoặc có thể
thay thế bằng biện pháp ngăn chặn khác.
Đối với những biện pháp ngăn chặn
do Viện kiểm sát phê chuẩn trong giai đoạn điều tra thì việc hủy bỏ hoặc thay
thế bằng biện pháp ngăn chặn khác phải do Viện kiểm sát quyết định; trong thời
hạn 10 ngày trước khi hết thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn, trừ biện pháp tạm
giữ do Viện kiểm sát phê chuẩn, cơ quan đã đề nghị áp dụng biện pháp ngăn chặn này
phải thông báo cho Viện kiểm sát để quyết định hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp
ngăn chặn khác.
Mục II. BIỆN
PHÁP CƯỠNG CHẾ
Điều 126.
Các biện pháp cưỡng chế
Để bảo đảm hoạt động khởi tố, điều
tra, truy tố, xét xử, thi hành án, trong phạm vi thẩm quyền của mình, cơ quan,
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể áp dụng biện pháp áp giải, dẫn giải,
kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản.
Điều 127.
Áp giải, dẫn giải
1. Áp giải có thể áp dụng đối với
người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội.
2. Dẫn giải có thể áp dụng đối
với:
a) Người làm chứng trong trường
hợp họ không có mặt theo giấy triệu tập mà không vì lý do bất khả kháng hoặc
không do trở ngại khách quan;
b) Người bị hại trong trường hợp
họ từ chối việc giám định theo quyết định trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền
tiến hành tố tụng mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách
quan;
c) Người bị tố giác, người bị
kiến nghị khởi tố mà qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó liên
quan đến hành vi phạm tội được khởi tố vụ án, đã được triệu tập mà vẫn vắng mặt
không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan.
3. Điều tra viên, cấp trưởng của
cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Kiểm sát viên,
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử có quyền ra quyết định áp giải, dẫn
giải.
4. Quyết định áp giải, quyết định
dẫn giải phải ghi rõ họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người bị áp
giải, dẫn giải; thời gian, địa điểm người bị áp giải, dẫn giải phải có mặt và
các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.
5. Người thi hành quyết định áp
giải, dẫn giải phải đọc, giải thích quyết định và lập biên bản về việc áp giải,
dẫn giải theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này.
Cơ quan Công an nhân dân, Quân
đội nhân dân có thẩm quyền có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định áp giải,
dẫn giải.
6. Không được bắt đầu việc áp
giải, dẫn giải người vào ban đêm; không được áp giải, dẫn giải người già yếu,
người bị bệnh nặng có xác nhận của cơ quan y tế.
Điều 128.
Kê biên tài sản
1. Kê biên tài sản chỉ áp dụng
đối với bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tiền hoặc
có thể bị tịch thu tài sản hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại.
2. Những người có thẩm quyền
quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này, Thẩm phán chủ
tọa phiên tòa có quyền ra lệnh kê biên tài sản. Lệnh kê biên của những người được
quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải
được thông báo ngay cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[57] trước khi thi hành.
3. Chỉ kê biên phần tài sản
tương ứng với mức có thể bị phạt tiền, bị tịch thu hoặc phải bồi thường thiệt hại.
Tài sản bị kê biên được giao cho chủ tài sản hoặc người quản lý hợp pháp hoặc
người thân thích của họ bảo quản. Người được giao bảo quản mà có hành vi tiêu
dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu, hủy hoại tài sản bị kê biên thì phải
chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.
4. Khi tiến hành kê biên tài sản
phải có mặt những người:
a) Bị can, bị cáo hoặc người đủ
18 tuổi trở lên trong gia đình hoặc người đại diện của bị can, bị cáo;
b) Đại diện Ủy ban nhân dân cấp
xã[58] nơi có tài sản bị kê biên;
c) Người chứng kiến.
Người tiến hành kê biên phải lập
biên bản, ghi rõ tên và tình trạng từng tài sản bị kê biên. Biên bản được lập
theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật này, đọc cho những
người có mặt nghe và cùng ký tên. Ý kiến, khiếu nại của những người quy định tại
điểm a khoản này liên quan đến việc kê biên được ghi vào biên bản, có chữ ký
xác nhận của họ và của người tiến hành kê biên.
Biên bản kê biên được lập thành
bốn bản, trong đó một bản được giao ngay cho người được quy định tại điểm a khoản
này sau khi kê biên xong, một bản giao ngay cho Ủy ban nhân dân cấp xã[59] nơi có tài sản bị kê biên, một
bản gửi cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[60]
và một bản đưa vào hồ sơ vụ án.
Điều 129.
Phong tỏa tài khoản
1. Phong tỏa tài khoản chỉ áp dụng
đối với người bị buộc tội về tội mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tiền, bị
tịch thu tài sản hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại khi có căn cứ xác định
người đó có tài khoản tại tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc Nhà nước. Phong tỏa tài
khoản cũng được áp dụng đối với tài khoản của người khác nếu có căn cứ cho rằng
số tiền trong tài khoản đó liên quan đến hành vi phạm tội của người bị buộc tội.
2. Những người có thẩm quyền
quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này, Thẩm phán chủ
tọa phiên tòa có quyền ra lệnh phong tỏa tài khoản. Lệnh phong tỏa tài khoản của
những người được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật
này phải được thông báo ngay cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[61] trước khi thi hành.
3. Chỉ phong tỏa số tiền trong
tài khoản tương ứng với mức có thể bị phạt tiền, bị tịch thu tài sản hoặc bồi
thường thiệt hại. Người được giao thực hiện lệnh phong tỏa, quản lý tài khoản bị
phong tỏa mà giải tỏa việc phong tỏa tài khoản thì phải chịu trách nhiệm hình sự
theo quy định của Bộ luật Hình sự.
4. Khi tiến hành phong tỏa tài khoản,
cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền phải giao quyết định phong tỏa tài khoản
cho tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc Nhà nước đang quản lý tài khoản của người bị buộc
tội hoặc tài khoản của người khác có liên quan đến hành vi phạm tội của người bị
buộc tội. Việc giao, nhận lệnh phong tỏa tài khoản phải được lập thành biên bản
theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật này.
Ngay sau khi nhận được lệnh
phong tỏa tài khoản, tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc Nhà nước đang quản lý tài khoản
của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc tài khoản của người khác có
liên quan đến hành vi phạm tội của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo phải
thực hiện ngay việc phong tỏa tài khoản và lập biên bản về việc phong tỏa tài khoản.
Biên bản về việc phong tỏa tài khoản
được lập thành năm bản, trong đó một bản được giao ngay cho người bị buộc tội,
một bản giao cho người khác có liên quan đến người bị buộc tội, một bản gửi cho
Viện kiểm sát có thẩm quyền[62],
một bản đưa vào hồ sơ vụ án, một bản lưu tại tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc Nhà
nước.
Điều 130.
Hủy bỏ biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản
1. Biện pháp kê biên tài sản,
phong tỏa tài khoản đang áp dụng phải được hủy bỏ khi thuộc một trong các trường
hợp:
a) Đình chỉ điều tra, đình chỉ
vụ án;
b) Đình chỉ điều tra đối với bị
can, đình chỉ vụ án đối với bị can;
c) Bị cáo được Tòa án tuyên
không có tội;
d) Bị cáo không bị phạt tiền, tịch
thu tài sản và bồi thường thiệt hại.
2. Cơ quan điều tra, Viện kiểm
sát, Tòa án hủy bỏ biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản khi thấy
không còn cần thiết.
Đối với biện pháp kê biên tài sản,
phong tỏa tài khoản trong giai đoạn điều tra, truy tố thì việc hủy bỏ hoặc thay
thế phải thông báo cho Viện kiểm sát trước khi quyết định.
Chương
VIII
HỒ SƠ VỤ ÁN, VĂN BẢN TỐ
TỤNG, THỜI HẠN VÀ CHI PHÍ TỐ TỤNG
Điều 131.
Hồ sơ vụ án
1. Khi tiến hành tố tụng trong
giai đoạn khởi tố, điều tra, Cơ quan điều tra phải lập hồ sơ vụ án.
2. Hồ sơ vụ án gồm:
a) Lệnh, quyết định, yêu cầu của
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát;
b) Các biên bản tố tụng do Cơ
quan điều tra, Viện kiểm sát lập;
c) Các chứng cứ, tài liệu liên
quan đến vụ án.
3. Các chứng cứ, tài liệu do Viện
kiểm sát, Tòa án thu thập trong giai đoạn truy tố, xét xử phải đưa vào hồ sơ vụ
án.
4. Hồ sơ vụ án phải có thống kê
tài liệu kèm theo. Thống kê tài liệu ghi rõ tên tài liệu, số bút lục và đặc điểm
của tài liệu (nếu có). Trường hợp có bổ sung tài liệu vào hồ sơ vụ án thì phải
có thống kê tài liệu bổ sung. Hồ sơ vụ án phải được quản lý, lưu giữ, sử dụng
theo quy định của pháp luật.
5.[63] Hồ sơ vụ án được lập bằng văn bản giấy hoặc được số hóa
theo quy định.
Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối
hợp với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết khoản này.
Điều 132.
Văn bản tố tụng
1. Văn bản tố tụng gồm lệnh,
quyết định, yêu cầu, kết luận điều tra, bản cáo trạng, bản án và các văn bản tố
tụng khác trong hoạt động tố tụng được lập theo mẫu thống nhất.
2. Văn bản tố tụng ghi rõ:
a) Số, ngày, tháng, năm, địa điểm
ban hành văn bản tố tụng;
b) Căn cứ ban hành văn bản tố tụng;
c) Nội dung của văn bản tố tụng;
d) Họ tên, chức vụ, chữ ký của
người ban hành văn bản tố tụng và đóng dấu.
3.[64] Chữ ký của người ban hành văn bản tố tụng là chữ ký trực
tiếp hoặc chữ ký số.
Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì,
phối hợp với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết khoản này.
Điều 133.
Biên bản
1. Khi tiến hành hoạt động tố tụng
phải lập biên bản theo mẫu thống nhất.
Biên bản ghi rõ địa điểm, giờ,
ngày, tháng, năm tiến hành tố tụng, thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc, nội
dung của hoạt động tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham
gia tố tụng hoặc người liên quan đến hoạt động tố tụng, khiếu nại, yêu cầu hoặc
đề nghị của họ.
2. Biên bản phải có chữ ký của
những người mà Bộ luật này quy định. Những điểm sửa chữa, thêm, bớt, tẩy xóa
trong biên bản phải được xác nhận bằng chữ ký của họ.
Trường hợp người tham gia tố tụng
không ký vào biên bản thì người lập biên bản ghi rõ lý do và mời người chứng kiến
ký vào biên bản.
Trường hợp người tham gia tố tụng
không biết chữ thì người lập biên bản đọc biên bản cho họ nghe với sự có mặt của
người chứng kiến. Biên bản phải có điểm chỉ của người tham gia tố tụng và chữ
ký của người chứng kiến.
Trường hợp người tham gia tố tụng
có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc vì lý do khác mà không thể ký vào
biên bản thì người lập biên bản đọc biên bản cho họ nghe với sự có mặt của người
chứng kiến và những người tham gia tố tụng khác. Biên bản phải có chữ ký của
người chứng kiến.
Điều 134.
Tính thời hạn
1. Thời hạn mà Bộ luật này quy
định được tính theo giờ, ngày, tháng, năm. Đêm được tính từ 22 giờ đến 06 giờ
sáng ngày hôm sau.
Khi tính thời hạn theo ngày thì
thời hạn sẽ hết vào lúc 24 giờ ngày cuối cùng của thời hạn.
Khi tính thời hạn theo tháng
thì thời hạn hết vào ngày trùng của tháng sau; nếu tháng đó không có ngày
trùng thì thời hạn hết vào ngày cuối cùng của tháng đó; nếu thời hạn hết vào
ngày nghỉ thì ngày làm việc đầu tiên tiếp theo được tính là ngày cuối cùng của
thời hạn.
Khi tính thời hạn tạm giữ, tạm
giam thì thời hạn hết vào ngày kết thúc thời hạn được ghi trong lệnh, quyết định.
Nếu thời hạn được tính bằng tháng thì 01 tháng được tính là 30 ngày.
2. Trường hợp có đơn hoặc giấy
tờ gửi qua dịch vụ bưu chính thì thời hạn được tính theo dấu bưu chính nơi gửi.
Nếu có đơn hoặc giấy tờ gửi qua cơ sở giam giữ thì thời hạn được tính từ ngày
Trưởng Nhà tạm giữ, Trưởng phân trại thuộc trại tạm giam[65], Trưởng Buồng tạm giữ thuộc Đồn biên phòng, Giám thị Trại
tạm giam, Giám thị Trại giam nhận đơn hoặc giấy tờ đó.
Điều 135.
Chi phí trong tố tụng hình sự[66]
1. Chi phí trong tố tụng hình sự
gồm án phí, lệ phí và các chi phí tố tụng.
2. Án phí gồm án phí sơ thẩm,
phúc thẩm hình sự, án phí sơ thẩm, phúc thẩm dân sự trong vụ án hình sự.
3. Lệ phí gồm lệ phí cấp bản
sao bản án, quyết định, các giấy tờ khác của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố
tụng và các khoản lệ phí khác mà pháp luật quy định.
4. Chi phí tố tụng gồm:
a) Chi phí cho người làm chứng,
người phiên dịch, người dịch thuật, người bào chữa trong trường hợp chỉ định
người bào chữa;
b) Chi phí giám định, định giá
tài sản;
c) Các khoản chi phí khác theo
quy định của pháp luật.
5.[67] Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định cụ thể về chi phí tố
tụng và việc miễn, giảm chi phí tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.
Điều 136.
Trách nhiệm chi trả chi phí tố tụng, lệ phí
1. Chi phí quy định tại khoản 4 Điều 135 của Bộ luật này do các cơ quan, người đã
trưng cầu, yêu cầu, chỉ định chi trả; trường hợp Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà
nước cử người bào chữa thì do Trung tâm này chi trả.
2. Án phí do người bị kết án hoặc
Nhà nước chịu theo quy định của pháp luật. Người bị kết án phải trả án phí theo
quyết định của Tòa án. Mức án phí và căn cứ áp dụng được ghi rõ trong bản án,
quyết định của Tòa án.
3. Trường hợp vụ án khởi tố
theo yêu cầu của bị hại, nếu Tòa án tuyên bố bị cáo không có tội hoặc vụ án bị
đình chỉ khi có căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 của Bộ luật
này thì bị hại phải trả án phí.
4. Đối với các hoạt động tố tụng
do người tham gia tố tụng yêu cầu thì việc chi trả lệ phí, chi phí theo quy định
của pháp luật.
Điều 137.
Việc cấp, giao, chuyển, gửi, niêm yết hoặc thông báo văn bản tố tụng
1. Việc cấp, giao, chuyển, gửi,
niêm yết hoặc thông báo văn bản tố tụng được thực hiện thông qua các phương thức:
a) Cấp, giao, chuyển trực tiếp;
b) Gửi qua dịch vụ bưu chính;
c) Niêm yết công khai;
d)[68] Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, qua nền
tảng số, phần mềm ứng dụng dùng chung triển khai tại Trung tâm dữ liệu quốc
gia, cổng thông tin hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan tiến hành tố tụng.
2. Việc cấp, giao, chuyển, gửi,
niêm yết hoặc thông báo văn bản tố tụng phải thực hiện theo quy định của Bộ luật
này.
Điều 138.
Thủ tục cấp, giao, chuyển trực tiếp văn bản tố tụng
1. Người thực hiện việc cấp,
giao, chuyển văn bản tố tụng phải trực tiếp chuyển giao cho người được nhận.
Người nhận phải ký nhận vào biên bản hoặc sổ giao nhận. Thời điểm để tính thời
hạn tố tụng là ngày họ ký nhận vào biên bản hoặc sổ giao nhận.
2. Trường hợp người được nhận
văn bản tố tụng vắng mặt thì văn bản tố tụng có thể được giao cho người thân
thích của họ có đủ năng lực hành vi dân sự ký nhận và yêu cầu người này cam kết
giao lại ngay cho người được nhận. Ngày ký nhận của người thân thích là ngày được
cấp, giao văn bản tố tụng.
Trường hợp không thể giao cho
người được nhận văn bản tố tụng quy định tại khoản này thì có thể chuyển giao
văn bản đó cho Ủy ban nhân dân cấp xã[69]
nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập để
giao lại cho người được nhận. Cơ quan, tổ chức phải thông báo ngay kết quả việc
cấp, giao, gửi văn bản tố tụng cho các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
đã yêu cầu. Ngày ký nhận của cơ quan, tổ chức là ngày được cấp, giao văn bản tố
tụng.
3. Trường hợp người được nhận
văn bản tố tụng vắng mặt hoặc không rõ địa chỉ thì người thực hiện việc cấp,
giao phải lập biên bản về việc không thực hiện được việc cấp, giao, có xác nhận
của đại diện cơ quan, tổ chức nơi người đó cư trú, làm việc, học tập.
Trường hợp người được nhận văn
bản tố tụng từ chối nhận văn bản tố tụng thì người thực hiện việc cấp, giao phải
lập biên bản về việc từ chối và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã[70] nơi người đó cư trú hoặc cơ
quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập.
4. Trường hợp người được cấp,
giao văn bản tố tụng là cơ quan, tổ chức thì văn bản tố tụng được giao trực tiếp
cho người đại diện của cơ quan, tổ chức đó và phải được người này ký nhận. Thời
điểm để tính thời hạn tố tụng là ngày họ ký nhận vào biên bản hoặc sổ giao nhận.
Điều 139.
Thủ tục gửi văn bản tố tụng qua dịch vụ bưu chính
Việc gửi văn bản tố tụng qua dịch
vụ bưu chính phải bằng thư bảo đảm và có xác nhận của người nhận văn bản tố tụng.
Văn bản có xác nhận phải được chuyển lại cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố
tụng. Thời điểm để tính thời hạn tố tụng là ngày họ xác nhận đã nhận được văn bản
tố tụng.
Điều 140.
Thủ tục niêm yết công khai văn bản tố tụng
1. Việc niêm yết công khai văn
bản tố tụng được thực hiện khi không rõ địa chỉ hoặc không rõ người được cấp,
giao đang ở đâu.
2. Việc niêm yết công khai văn bản
tố tụng được thực hiện tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã[71] nơi cuối cùng người được cấp, giao văn bản tố tụng cư
trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi cuối cùng người đó làm việc, học tập.
Văn bản tố tụng phải được niêm yết
công khai ít nhất là 15 ngày kể từ ngày niêm yết. Việc niêm yết công khai được
lập biên bản ghi rõ ngày, tháng, năm niêm yết.
Thời điểm để tính thời hạn tố tụng
là ngày kết thúc việc niêm yết.
Điều 141.
Thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, qua nền tảng số, phần mềm
ứng dụng dùng chung triển khai tại Trung tâm dữ liệu quốc gia, cổng thông tin
hoặc trang thông tin điện tử của cơ quan tiến hành tố tụng[72]
1. Việc thông báo văn bản tố tụng
trên phương tiện thông tin đại chúng, qua nền tảng số, phần mềm ứng dụng dùng
chung triển khai tại Trung tâm dữ liệu quốc gia, cổng thông tin hoặc trang
thông tin điện tử của cơ quan tiến hành tố tụng được thực hiện khi việc niêm yết
công khai không có kết quả hoặc các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
2. Thông báo trên phương tiện
thông tin đại chúng được đăng trên báo hàng ngày của trung ương trong 03 số
liên tiếp và phát sóng trên Đài Phát thanh hoặc Đài Truyền hình của trung ương
ba lần trong 03 ngày liên tiếp.
Thời điểm để tính thời hạn tố tụng
là ngày kết thúc việc thông báo.
3. Bộ trưởng Bộ Công an chủ
trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết Điều này.
Điều 142.
Trách nhiệm cấp, giao, chuyển, gửi, niêm yết, thông báo văn bản tố tụng
1. Cơ quan, người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng phải cấp, giao, chuyển, gửi, niêm yết, thông báo văn bản tố tụng
cho người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định
của Bộ luật này.
2. Người được giao trách nhiệm
cấp, giao, chuyển, gửi, niêm yết, thông báo văn bản tố tụng nhưng không thực hiện,
thực hiện không đầy đủ theo quy định của Bộ luật này thì tuỳ tính chất, mức độ
vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp
luật.
Phần thứ
hai
KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VỤ
ÁN HÌNH SỰ
Chương IX
KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ
Điều 143.
Căn cứ khởi tố vụ án hình sự
Chỉ được khởi tố vụ án khi đã
xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những
căn cứ:
1. Tố giác của cá nhân;
2. Tin báo của cơ quan, tổ chức,
cá nhân;
3. Tin báo trên phương tiện
thông tin đại chúng;
4. Kiến nghị khởi tố của cơ
quan nhà nước;
5. Cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;
6. Người phạm tội tự thú.
Điều 144.
Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
1. Tố giác về tội phạm là việc
cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm
quyền.
2. Tin báo về tội phạm là thông
tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với
cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại
chúng.
3. Kiến nghị khởi tố là việc cơ
quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm theo chứng cứ,
tài liệu liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, xử
lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm.
4. Tố giác, tin báo về tội phạm
có thể bằng lời hoặc bằng văn bản.
5. Người nào cố ý tố giác, báo tin
về tội phạm sai sự thật thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật,
xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của
luật.
Điều 145.
Trách nhiệm tiếp nhận và thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến
nghị khởi tố
1. Mọi tố giác, tin báo về tội
phạm, kiến nghị khởi tố phải được tiếp nhận đầy đủ, giải quyết kịp thời. Cơ
quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận không được từ chối tiếp nhận tố giác,
tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
2. Cơ quan, tổ chức có trách
nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gồm:
a) Cơ quan điều tra, Viện kiểm
sát tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;
b) Cơ quan, tổ chức khác tiếp
nhận tố giác, tin báo về tội phạm.
3. Thẩm quyền giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố:
a) Cơ quan điều tra giải quyết
tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo thẩm quyền điều tra của
mình;
b) Cơ quan được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
theo thẩm quyền điều tra của mình;
c) Viện kiểm sát giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan
điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi
phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo
về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm
sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục.
4. Cơ quan có thẩm quyền giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có trách nhiệm thông báo
kết quả giải quyết cho cá nhân, cơ quan, tổ chức đã tố giác, báo tin về tội phạm,
kiến nghị khởi tố.
Điều 146.
Thủ tục tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
1. Khi cơ quan, tổ chức, cá
nhân trực tiếp tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì Cơ quan điều
tra, Viện kiểm sát, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 145 của Bộ luật này
phải lập biên bản tiếp nhận và ghi vào sổ tiếp nhận; có thể ghi âm hoặc ghi
hình có âm thanh việc tiếp nhận.
Trường hợp tố giác, tin báo về
tội phạm, kiến nghị khởi tố gửi qua dịch vụ bưu chính, điện thoại hoặc qua
phương tiện thông tin khác thì ghi vào sổ tiếp nhận.
2. Trường hợp phát hiện tố
giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố không thuộc thẩm quyền giải quyết
của mình thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra có trách nhiệm chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị
khởi tố kèm theo tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm
quyền.
Viện kiểm sát có trách nhiệm
chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố kèm theo tài liệu
có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
Trường hợp quy định tại điểm c khoản 3 Điều 145 của Bộ luật này thì trong thời hạn 05
ngày kể từ ngày Viện kiểm sát có yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền đang thụ lý, giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đó phải chuyển hồ sơ có
liên quan cho Viện kiểm sát để xem xét, giải quyết.
3.[73] Công an cấp xã[74],
Đồn Công an có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản
tiếp nhận, tiến hành kiểm tra, xác minh sơ bộ và chuyển ngay tố giác, tin báo về
tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm
quyền.
4. Các cơ quan, tổ chức khác
sau khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạm thì chuyển ngay cho Cơ quan điều
tra có thẩm quyền. Trường hợp khẩn cấp thì có thể báo tin trực tiếp qua điện
thoại hoặc hình thức khác cho Cơ quan điều tra nhưng sau đó phải thể hiện bằng
văn bản.
5. Trong thời hạn 03 ngày kể từ
ngày tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều
tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách
nhiệm thông báo bằng văn bản về việc tiếp nhận đó cho[75] Viện kiểm sát có thẩm quyền.
Điều 147.
Thời hạn, thủ tục giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
1. Trong thời hạn 20 ngày kể từ
ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều
tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải kiểm
tra, xác minh và ra một trong các quyết định:
a) Quyết định khởi tố vụ án
hình sự;
b) Quyết định không khởi tố vụ
án hình sự;
c) Quyết định tạm đình chỉ việc
giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
2. Trường hợp vụ việc bị tố
giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc
phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn giải quyết tố giác, tin
báo, kiến nghị khởi tố có thể kéo dài nhưng không quá 02 tháng. Trường hợp chưa
thể kết thúc việc kiểm tra, xác minh trong thời hạn quy định tại khoản này thì[76] Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm
quyền có thể gia hạn một lần nhưng không quá 02 tháng.
Chậm nhất là 05 ngày trước khi
hết thời hạn kiểm tra, xác minh quy định tại khoản này, Cơ quan điều tra, cơ
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải có văn bản đề
nghị[77] Viện kiểm sát có thẩm
quyền gia hạn thời hạn kiểm tra, xác minh.
3. Khi giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền có quyền tiến hành các hoạt
động:
a) Thu thập thông tin, tài liệu,
đồ vật từ cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để kiểm tra, xác minh nguồn
tin;
b) Khám nghiệm hiện trường;
c) Khám nghiệm tử thi;
d) Trưng cầu giám định, yêu cầu
định giá tài sản.
4. Trình tự, thủ tục, thời hạn
Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố được
thực hiện theo quy định tại Điều này.
Điều 148.
Tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
1. Hết thời hạn quy định tại Điều 147 của Bộ luật này, cơ quan có thẩm quyền giải quyết quyết
định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi
tố khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Đã trưng cầu giám định, yêu
cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa có kết quả;
b) Đã yêu cầu cơ quan, tổ chức,
cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với việc
khởi tố hoặc không khởi tố vụ án nhưng chưa có kết quả;
c)[78] Không thể kết thúc việc kiểm tra, xác minh để quyết định
khởi tố hoặc không khởi tố vụ án vì lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng
và thủ trưởng các cơ quan khác có liên quan quy định chi tiết điểm này.
2. Trong thời hạn 24 giờ kể từ
khi ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến
nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra phải gửi quyết định tạm đình chỉ kèm theo tài liệu liên quan đến[79] Viện kiểm sát có thẩm quyền để
kiểm sát và gửi quyết định tạm đình chỉ đó cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố
giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
Trường hợp quyết định tạm đình
chỉ không có căn cứ thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình
chỉ để tiếp tục giải quyết. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định hủy bỏ
quyết định tạm đình chỉ, Viện kiểm sát phải gửi quyết định đó cho Cơ quan điều
tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, cơ quan, tổ
chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Thời hạn giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố tiếp không quá 01 tháng kể
từ ngày Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra nhận được quyết định hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ.
3. Trường hợp tạm đình chỉ việc
giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì việc giám định,
định giá tài sản hoặc tương trợ tư pháp vẫn tiếp tục được tiến hành cho đến khi
có kết quả.
Điều 149.
Phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
1.[80] Khi lý do tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm, kiến nghị khởi tố không còn, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định phục
hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Thời hạn giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố tiếp không quá 01 tháng kể
từ ngày ra quyết định phục hồi.
2. Trong thời hạn 03 ngày kể từ
ngày ra quyết định phục hồi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị
khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra phải gửi quyết định phục hồi cho[81] Viện kiểm sát có thẩm quyền, cơ quan, tổ chức, cá nhân
đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
Điều 150.
Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến
nghị khởi tố
1. Tranh chấp về thẩm quyền giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố do Viện kiểm sát cấp trên
trực tiếp giải quyết. Tranh chấp thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm, kiến nghị khởi tố của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra do Viện kiểm sát có thẩm quyền giải quyết.
2.[82] Tranh chấp về thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về
tội phạm, kiến nghị khởi tố giữa các Cơ quan điều tra quân sự khu vực thuộc các
quân khu khác nhau do Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu nơi đầu tiên tiếp nhận
tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố giải quyết.
3. Tranh chấp về thẩm quyền giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố giữa các Cơ quan điều tra
của Công an nhân dân, Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và Cơ quan điều
tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao giải quyết.
Điều 151.
Giải quyết vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
trực tiếp phát hiện
Cơ quan có thẩm quyền tiến hành
tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm thì quyết định việc khởi tố vụ án
theo thẩm quyền hoặc chuyển cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết.
Điều 152.
Người phạm tội tự thú, đầu thú
1. Khi người phạm tội đến tự
thú, đầu thú, cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản ghi rõ họ tên, tuổi,
nghề nghiệp, chỗ ở và lời khai của người tự thú, đầu thú. Cơ quan, tổ chức tiếp
nhận người phạm tội tự thú, đầu thú có trách nhiệm thông báo ngay cho Cơ quan điều
tra hoặc Viện kiểm sát.
2. Trường hợp xác định tội phạm
do người tự thú, đầu thú thực hiện không thuộc thẩm quyền điều tra của mình thì
Cơ quan điều tra tiếp nhận người tự thú, đầu thú phải thông báo ngay cho Cơ
quan điều tra có thẩm quyền để tiếp nhận, giải quyết.
3. Trong thời hạn 24 giờ kể từ
khi tiếp nhận người phạm tội tự thú, đầu thú, Cơ quan điều tra có thẩm quyền phải
thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[83].
Điều 153.
Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự
1. Cơ quan điều tra quyết định khởi
tố vụ án hình sự đối với tất cả vụ việc có dấu hiệu tội phạm, trừ những vụ việc
do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm
sát, Hội đồng xét xử đang thụ lý, giải quyết quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều
này.
2. Cơ quan được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong
trường hợp quy định tại Điều 164 của Bộ luật này.
3. Viện kiểm sát ra quyết định
khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp:
a) Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định
không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra;
b) Viện kiểm sát trực tiếp giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;
c) Viện kiểm sát trực tiếp phát
hiện dấu hiệu tội phạm hoặc theo yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử.
4.[84] Hội đồng xét xử yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án
hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm.
Điều 154.
Quyết định khởi tố vụ án hình sự
1. Quyết định khởi tố vụ án
hình sự phải ghi rõ căn cứ khởi tố, điều, khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng
và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.
2.[85] Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ
án hình sự, Viện kiểm sát phải gửi quyết định đó đến Cơ quan điều tra có thẩm
quyền để tiến hành điều tra.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi
ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải gửi quyết định đó kèm theo tài liệu
liên quan đến Viện kiểm sát có thẩm quyền để kiểm sát việc khởi tố.
Điều 155.
Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại
1.[86] Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại
khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155 và 156 của Bộ luật Hình
sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi,
người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.
2. Trường hợp người đã yêu cầu
khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác
định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc,
cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.
3. Bị hại hoặc người đại diện của
bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp
rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.
Điều 156.
Thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự
1. Cơ quan điều tra, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định
thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự khi có căn cứ xác định tội phạm đã khởi
tố không đúng với hành vi phạm tội xảy ra; ra quyết định bổ sung quyết định khởi
tố vụ án hình sự khi có căn cứ xác định còn tội phạm khác chưa bị khởi tố.
2. Trong thời hạn 24 giờ kể từ
khi ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, Cơ
quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
phải gửi quyết định kèm theo các tài liệu liên quan đến việc thay đổi hoặc bổ
sung quyết định khởi tố vụ án hình sự cho[87] Viện kiểm sát có thẩm quyền để kiểm sát việc khởi tố.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi
ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm
sát phải gửi cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra.
Điều 157.
Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự
Không được khởi tố vụ án hình sự
khi có một trong các căn cứ sau:
1. Không có sự việc phạm tội;
2. Hành vi không cấu thành tội
phạm;
3. Người thực hiện hành vi nguy
hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;
4. Người mà hành vi phạm tội của
họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;
5. Đã hết thời hiệu truy cứu
trách nhiệm hình sự;
6. Tội phạm đã được đại xá;
7. Người thực hiện hành vi nguy
hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;
8.[88] Tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136,
138, 139, 141, 143, 155 và 156 của Bộ luật Hình sự mà bị hại hoặc người đại diện
của bị hại không yêu cầu khởi tố.
Điều 158.
Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ
án hình sự
1. Khi có một trong các căn cứ
quy định tại Điều 157 của Bộ luật này thì người có quyền khởi
tố vụ án ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự; nếu đã khởi tố thì phải ra
quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự và thông báo cho cơ quan, tổ
chức, cá nhân đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố biết rõ lý do;
nếu xét thấy cần xử lý bằng biện pháp khác thì chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm
quyền giải quyết.
Quyết định không khởi tố vụ án
hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự và các tài liệu có
liên quan phải gửi cho[89] Viện
kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân đã
tố giác hoặc báo tin về tội phạm có quyền khiếu nại quyết định không khởi tố vụ
án hình sự. Thẩm quyền và thủ tục giải quyết khiếu nại được thực hiện theo quy
định tại Chương XXXIII của Bộ luật này.
Điều 159.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong việc giải
quyết nguồn tin về tội phạm
1. Phê chuẩn, không phê chuẩn
việc bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ; phê chuẩn,
không phê chuẩn các biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyền công dân
trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm theo quy định của Bộ luật này.
2. Khi cần thiết, đề ra yêu cầu
kiểm tra, xác minh và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết nguồn tin về tội
phạm thực hiện.
3. Quyết định gia hạn thời hạn
giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; quyết định khởi tố
vụ án hình sự.
4. Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi tố vụ án hình
sự.
5. Trực tiếp giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong các trường hợp do Bộ luật
này quy định.
6. Hủy bỏ quyết định tạm giữ,
quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết
định tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm và các quyết định tố tụng
khác trái pháp luật của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành
một số hoạt động điều tra.
7. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
khác trong việc thực hành quyền công tố theo quy định của Bộ luật này nhằm chống
bỏ lọt tội phạm, chống làm oan người vô tội.
Điều 160.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong việc tiếp nhận và kiểm sát việc giải
quyết nguồn tin về tội phạm
1. Tiếp nhận đầy đủ tố giác,
tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố do cơ quan, tổ chức, cá nhân chuyển đến,
tiếp nhận người phạm tội tự thú, đầu thú và chuyển ngay cho Cơ quan điều tra có
thẩm quyền giải quyết.
2. Kiểm sát việc tiếp nhận, trực
tiếp kiểm sát, kiểm sát việc kiểm tra, xác minh và việc lập hồ sơ giải quyết
nguồn tin về tội phạm của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra; kiểm sát việc tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn
tin về tội phạm; kiểm sát việc phục hồi giải quyết nguồn tin về tội phạm.
3. Khi phát hiện việc tiếp nhận,
giải quyết nguồn tin về tội phạm không đầy đủ, vi phạm pháp luật thì yêu cầu Cơ
quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
thực hiện các hoạt động:
a) Tiếp nhận, kiểm tra, xác
minh, ra quyết định giải quyết nguồn tin về tội phạm đầy đủ, đúng pháp luật;
b) Kiểm tra việc tiếp nhận, giải
quyết nguồn tin về tội phạm và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát;
c) Cung cấp tài liệu về vi phạm
pháp luật trong việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm;
d) Khắc phục vi phạm pháp luật
và xử lý nghiêm người vi phạm;
đ) Yêu cầu thay đổi Điều tra
viên, Cán bộ điều tra.
4. Giải quyết tranh chấp về thẩm
quyền giải quyết nguồn tin về tội phạm.
5. Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cung cấp tài liệu
liên quan để kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm.
6. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
khác trong kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm theo quy định
của Bộ luật này.
Điều 161.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố và kiểm sát
việc khởi tố vụ án hình sự
1. Khi thực hành quyền công tố
trong việc khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi tố hoặc thay đổi,
bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự;
b) Hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết
định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định không
khởi tố vụ án hình sự không có căn cứ và trái pháp luật;
c)[90] (được bãi bỏ)
d) Khởi tố, thay đổi, bổ sung
quyết định khởi tố vụ án hình sự trong các trường hợp do Bộ luật này quy định;
đ) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
khác để thực hành quyền công tố trong việc khởi tố vụ án hình sự theo quy định
của Bộ luật này.
2. Khi kiểm sát việc khởi tố vụ
án hình sự, Viện kiểm sát có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong việc khởi tố của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra, bảo đảm mọi tội phạm được phát hiện đều phải được
khởi tố, việc khởi tố vụ án có căn cứ và đúng pháp luật;
b) Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cung cấp tài liệu
liên quan để kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự;
c) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
khác trong kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật này.
Điều 162.
Trách nhiệm của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra trong việc thực hiện yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát
trong việc khởi tố
1. Cơ quan điều tra, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải thực hiện yêu cầu, quyết
định của Viện kiểm sát trong việc khởi tố.
2. Đối với quyết định quy định
tại khoản 1 và khoản 6 Điều 159, điểm b khoản 1 Điều 161 của Bộ
luật này, nếu không nhất trí, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra vẫn phải thực hiện nhưng có quyền kiến nghị
với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được
kiến nghị của Cơ quan điều tra hoặc trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được
kiến nghị của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra,
Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết và thông báo kết quả
giải quyết cho cơ quan đã kiến nghị.
Chương X
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ
ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
Điều 163.
Thẩm quyền điều tra
1. Cơ quan điều tra của Công an
nhân dân điều tra tất cả các tội phạm, trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều
tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra Viện kiểm
sát nhân dân tối cao.
2. Cơ quan điều tra trong Quân
đội nhân dân điều tra các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự.
3. Cơ quan điều tra Viện kiểm
sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương điều
tra tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ quy định
tại Chương XXIII và Chương XXIV của Bộ luật Hình sự xảy ra trong hoạt động tư
pháp mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc Cơ quan điều tra, Tòa án, Viện
kiểm sát, cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp.
4. Cơ quan điều tra có thẩm quyền
điều tra những vụ án hình sự mà tội phạm xảy ra trên địa phận của mình. Trường
hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được địa
điểm xảy ra tội phạm thì việc điều tra thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra
nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can cư trú hoặc bị bắt.
5. Việc phân cấp thẩm quyền điều
tra như sau:
a)[91] Cơ quan điều tra cấp tỉnh điều tra vụ án hình sự về những
tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân
khu vực;
b)[92] Cơ quan điều tra quân sự khu vực điều tra vụ án hình sự
về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự khu vực; Cơ quan điều
tra quân sự cấp quân khu điều tra vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm
quyền xét xử của Tòa án quân sự cấp quân khu hoặc những vụ án thuộc thẩm quyền điều
tra của Cơ quan điều tra cấp khu vực nếu xét thấy cần trực tiếp điều tra;
c) Cơ quan điều tra Bộ Công an,
Cơ quan điều tra Bộ Quốc phòng điều tra vụ án hình sự về tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng do Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy để điều tra lại;
vụ án hình sự về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp liên quan đến nhiều tỉnh,
thành phố[93], vụ án hình sự về tội
phạm đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp liên quan đến nhiều quốc gia nếu xét thấy
cần trực tiếp điều tra.
Điều 164.
Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm,
lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư và cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội
nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
1. Khi phát hiện hành vi có dấu
hiệu tội phạm trong lĩnh vực và địa bàn quản lý của mình thì các cơ quan của Bộ
đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Đối với tội phạm ít nghiêm
trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lý lịch người phạm tội rõ
ràng thì quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, tiến hành điều tra
và chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn 01 tháng kể
từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án hình sự;
b) Đối với tội phạm nghiêm trọng,
tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít
nghiêm trọng nhưng phức tạp thì quyết định khởi tố vụ án hình sự, tiến hành hoạt
động điều tra ban đầu và chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền
trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.
2. Trong Công an nhân dân, Quân
đội nhân dân, ngoài các Cơ quan điều tra quy định tại Điều 163
của Bộ luật này, các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra trong khi làm nhiệm vụ của mình, nếu phát hiện sự việc có dấu hiệu
tội phạm thì có quyền khởi tố vụ án hình sự, tiến hành hoạt động điều tra ban đầu
và chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày
kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.
3. Các cơ quan của Bộ đội biên
phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư, cơ quan khác
trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra phải thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 39 và Điều 40 của Bộ luật này và thực hiện đúng nguyên tắc,
trình tự, thủ tục tố tụng đối với hoạt động điều tra do Bộ luật này quy định.
Viện kiểm sát có trách nhiệm thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong hoạt động điều tra của các cơ quan này.
4. Thẩm quyền điều tra cụ thể của
các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển,
Kiểm ngư và cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện theo quy định của Luật Tổ chức
cơ quan điều tra hình sự.
Điều 165.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn
điều tra vụ án hình sự
1. Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi tố hoặc thay đổi,
bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can.
2. Phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết
định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can không
có căn cứ và trái pháp luật.
3. Khởi tố, thay đổi, bổ sung
quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can trong các trường hợp do Bộ luật
này quy định.
4. Phê chuẩn, không phê chuẩn lệnh
bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, việc tạm giam, bảo
lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, khám xét, thu giữ, tạm giữ đồ vật, thư tín, điện
tín, bưu kiện, bưu phẩm, áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; phê chuẩn,
không phê chuẩn các quyết định tố tụng khác không có căn cứ và trái pháp luật của
Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra theo quy định của Bộ luật này; hủy bỏ các quyết định tố tụng không có căn cứ
và trái pháp luật của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra. Trường hợp không phê chuẩn hoặc hủy bỏ thì trong quyết định
không phê chuẩn hoặc hủy bỏ phải nêu rõ lý do.
5. Quyết định áp dụng, thay đổi,
hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế theo quy định của Bộ luật này.
6. Đề ra yêu cầu điều tra và
yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra tiến hành điều tra để làm rõ tội phạm, người phạm tội; yêu cầu Cơ quan
điều tra truy nã bị can, áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.
7. Trực tiếp tiến hành một số
hoạt động điều tra trong trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi
xét phê chuẩn lệnh, quyết định của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc trường hợp phát hiện có dấu hiệu oan,
sai, bỏ lọt tội phạm, vi phạm pháp luật mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản
nhưng không được khắc phục hoặc trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng
cứ khi quyết định việc truy tố.
8. Khởi tố vụ án hình sự khi
phát hiện hành vi của người có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra có dấu hiệu
tội phạm; yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện hành vi
của người có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến
nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra có dấu hiệu tội phạm.
9. Quyết định việc gia hạn thời
hạn điều tra, thời hạn tạm giam; quyết định chuyển vụ án, áp dụng thủ tục rút gọn,
áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh; hủy bỏ quyết định tách, nhập vụ án.
10. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
khác trong việc thực hành quyền công tố theo quy định của Bộ luật này.
Điều 166.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát điều tra vụ án hình sự
1. Kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong việc khởi tố, điều tra và lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra, cơ quan
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.
2. Kiểm sát hoạt động tố tụng
hình sự của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật.
3. Giải quyết tranh chấp về thẩm
quyền điều tra.
4. Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cung cấp tài liệu
liên quan để kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, điều tra khi
cần thiết.
5. Khi phát hiện việc điều tra
không đầy đủ, vi phạm pháp luật thì Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện các hoạt
động:
a) Tiến hành hoạt động điều tra
đúng pháp luật;
b) Kiểm tra việc điều tra và thông
báo kết quả cho Viện kiểm sát;
c) Cung cấp tài liệu liên quan
đến hành vi, quyết định tố tụng có vi phạm pháp luật trong việc điều tra.
6. Kiến nghị, yêu cầu Cơ quan điều
tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khắc phục vi
phạm trong việc khởi tố, điều tra.
7. Yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều
tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thay đổi Điều
tra viên, Cán bộ điều tra, xử lý nghiêm minh Điều tra viên, Cán bộ điều tra vi
phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng.
8. Kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu
quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật.
9. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
khác trong việc kiểm sát điều tra vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật này.
Điều 167.
Trách nhiệm của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra trong việc thực hiện yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát
trong giai đoạn điều tra
1. Cơ quan điều tra, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải thực hiện yêu cầu, quyết
định của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra.
2. Đối với quyết định quy định
tại khoản 4 và khoản 5 Điều 165 của Bộ luật này nếu không
nhất trí, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra vẫn phải thực hiện nhưng có quyền kiến nghị với Viện kiểm sát cấp trên
trực tiếp. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị của Cơ quan điều
tra hoặc trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị của cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát cấp trên trực
tiếp phải xem xét, giải quyết và thông báo kết quả giải quyết cho cơ quan đã kiến
nghị.
Điều 168.
Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện quyết định, yêu
cầu của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra, Viện kiểm sát
Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải
nghiêm chỉnh thực hiện quyết định, yêu cầu của Cơ quan điều tra, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát trong giai đoạn
điều tra vụ án hình sự; trường hợp không chấp hành mà không vì lý do bất khả
kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều 169.
Chuyển vụ án để điều tra
1. Viện kiểm sát có thẩm quyền[94] quyết định việc chuyển vụ án để
điều tra khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Cơ quan điều tra cùng cấp
xét thấy vụ án không thuộc thẩm quyền điều tra và đề nghị chuyển vụ án;
b) Cơ quan điều tra cấp trên
rút vụ án để điều tra;
c) Điều tra viên bị thay đổi là
Thủ trưởng Cơ quan điều tra;
d) Viện kiểm sát đã yêu cầu
chuyển vụ án mà Cơ quan điều tra không thực hiện.
2. Việc chuyển vụ án ra ngoài
phạm vi tỉnh, thành phố[95] hoặc
ngoài phạm vi quân khu do Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự
cấp quân khu quyết định.
3. Thủ tục chuyển vụ án để điều
tra theo thẩm quyền:
a) Trong thời hạn 03 ngày kể từ
ngày nhận được đề nghị của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền phải
ra quyết định chuyển vụ án;
b) Trong thời hạn 24 giờ kể từ
khi ra quyết định chuyển vụ án, Viện kiểm sát phải gửi quyết định đó đến Cơ
quan điều tra đang điều tra vụ án, Cơ quan điều tra có thẩm quyền tiếp tục điều
tra vụ án, bị can hoặc người đại diện của bị can, người bào chữa, bị hại và Viện
kiểm sát có thẩm quyền.
4. Trong thời hạn 03 ngày kể từ
ngày nhận được quyết định chuyển vụ án, Cơ quan điều tra đang điều tra vụ án có
trách nhiệm chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền để tiếp tục điều
tra.
5. Thời hạn điều tra được tính
tiếp từ ngày Cơ quan điều tra nhận được hồ sơ vụ án cho đến hết thời hạn điều
tra vụ án theo quy định của Bộ luật này. Trường hợp hết thời hạn điều tra mà
không thể kết thúc việc điều tra thì Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, quyết
định gia hạn điều tra theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này.
Điều 170.
Nhập hoặc tách vụ án hình sự để tiến hành điều tra
1. Cơ quan điều tra có thể nhập
để tiến hành điều tra theo thẩm quyền trong cùng một vụ án khi thuộc một trong
các trường hợp:
a) Bị can phạm nhiều tội;
b) Bị can phạm tội nhiều lần;
c) Nhiều bị can cùng thực hiện
một tội phạm hoặc cùng với bị can còn có những người khác che giấu tội phạm hoặc
không tố giác tội phạm, tiêu thụ tài sản do bị can phạm tội mà có.
2. Cơ quan điều tra chỉ được
tách vụ án trong trường hợp cần thiết khi không thể hoàn thành sớm việc điều
tra đối với tất cả các tội phạm và nếu việc tách đó không ảnh hưởng đến việc
xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án.
3. Quyết định nhập hoặc tách vụ
án phải gửi cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[96] trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định. Trường hợp
không nhất trí với quyết định nhập hoặc tách vụ án của Cơ quan điều tra thì Viện
kiểm sát ra quyết định hủy bỏ và nêu rõ lý do.
Điều 171.
Ủy thác điều tra
1.[97] Khi cần thiết, Cơ quan điều tra ủy thác cho Cơ quan điều
tra khác tiến hành một số hoạt động điều tra. Quyết định ủy thác điều tra phải
ghi rõ yêu cầu và gửi cho Cơ quan điều tra được ủy thác, Viện kiểm sát có thẩm
quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát đối với hoạt động điều tra được ủy
thác.
2. Cơ quan điều tra được ủy
thác phải thực hiện đầy đủ những việc được ủy thác trong thời hạn mà Cơ quan điều
tra ủy thác yêu cầu và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả thực hiện ủy
thác điều tra. Trường hợp không thực hiện được việc ủy thác thì phải có ngay
văn bản nêu rõ lý do gửi Cơ quan điều tra đã ủy thác.
3.[98] Viện kiểm sát có thẩm quyền có trách nhiệm thực hành
quyền công tố và kiểm sát đối với hoạt động điều tra được ủy thác và phải chuyển
ngay kết quả cho Viện kiểm sát đã ủy thác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều
tra.
Điều 172.
Thời hạn điều tra
1. Thời hạn điều tra vụ án hình
sự không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối
với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng
và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều
tra.
2. Trường hợp cần gia hạn điều
tra do tính chất phức tạp của vụ án thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời
hạn điều tra, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn điều
tra.
Việc gia hạn điều tra được quy
định như sau:
a) Đối với tội phạm ít nghiêm
trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá 02 tháng;
b) Đối với tội phạm nghiêm trọng
có thể được gia hạn điều tra hai lần, lần thứ nhất không quá 03 tháng và lần thứ
hai không quá 02 tháng;
c) Đối với tội phạm rất nghiêm
trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, mỗi lần không quá 04 tháng;
d) Đối với tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra ba lần, mỗi lần không quá 04 tháng.
3. Đối với tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng mà thời hạn gia hạn điều tra đã hết nhưng do tính chất rất phức tạp
của vụ án mà chưa thể kết thúc việc điều tra thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao có thể gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng.
Đối với tội xâm phạm an ninh quốc
gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần
không quá 04 tháng.
4. Trường hợp thay đổi hoặc bổ
sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, nhập vụ án thì tổng thời hạn điều tra
không vượt quá thời hạn quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này.
5. Thẩm quyền gia hạn điều tra
của Viện kiểm sát:
a)[99] Đối với tội phạm ít nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân
dân khu vực, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra. Trường hợp vụ án
do Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu thực
hành quyền công tố, kiểm sát điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện
kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra;
b)[100] Đối với tội phạm nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân
dân khu vực, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần
thứ hai. Trường hợp vụ án do Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát
quân sự cấp quân khu thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra thì Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần
thứ nhất và lần thứ hai;
c)[101] Đối với tội phạm rất nghiêm trọng thì Viện kiểm sát
nhân dân khu vực, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra lần thứ nhất;
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều
tra lần thứ hai. Trường hợp vụ án do Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm
sát quân sự cấp quân khu thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra thì Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần
thứ nhất và lần thứ hai;
d) Đối với tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp
quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai; Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương gia hạn điều tra lần thứ ba.
6. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều
tra Bộ Công an, Cơ quan điều tra Bộ Quốc phòng, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát
nhân dân tối cao thụ lý điều tra thì việc gia hạn điều tra thuộc thẩm quyền của
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương.
Điều 173.
Thời hạn tạm giam để điều tra
1. Thời hạn tạm giam bị can để điều
tra không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối
với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng
và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
2. Trường hợp vụ án có nhiều
tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và
không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì chậm nhất là 10
ngày trước khi hết thời hạn tạm giam, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị
Viện kiểm sát gia hạn tạm giam.
Việc gia hạn tạm giam được quy
định như sau:
a) Đối với tội phạm ít nghiêm
trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 01 tháng;
b) Đối với tội phạm nghiêm trọng
có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 02 tháng;
c) Đối với tội phạm rất nghiêm
trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá 03 tháng;
d) Đối với tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, mỗi lần không quá 04 tháng.
3. Thẩm quyền gia hạn tạm giam
của Viện kiểm sát:
a)[102] Viện kiểm sát nhân dân khu vực, Viện kiểm sát quân sự
khu vực có quyền gia hạn tạm giam đối với tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm
nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng. Trường hợp vụ án do Viện kiểm sát
nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu thực hành quyền công tố,
kiểm sát điều tra thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp
quân khu có quyền gia hạn tạm giam đối với tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm
nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng.
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh,
Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn tạm giam lần thứ nhất đối với tội phạm
đặc biệt nghiêm trọng;
b) Trường hợp thời hạn gia hạn
tạm giam lần thứ nhất quy định tại điểm a khoản này đã hết mà chưa thể kết thúc
việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì
Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có thể gia
hạn tạm giam lần thứ hai đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
4. Trường hợp vụ án do Cơ quan điều
tra Bộ Công an, Cơ quan điều tra Bộ Quốc phòng, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát
nhân dân tối cao thụ lý điều tra thì việc gia hạn tạm giam thuộc thẩm quyền của
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương.
5. Trường hợp cần thiết đối với
tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có
quyền gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng. Trường hợp thời hạn gia hạn tạm
giam quy định tại khoản này đã hết mà chưa thể kết thúc việc điều tra và không
có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần nhưng không quá 01 tháng đối
với tội phạm nghiêm trọng, không quá 02 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng,
không quá 04 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Trường hợp đặc biệt
đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia mà không có
căn cứ để hủy bỏ biện pháp tạm giam thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao quyết định việc tạm giam cho đến khi kết thúc việc điều tra.
6. Trường hợp cần thiết đối với
tội phạm đặc biệt nghiêm trọng không phải là tội xâm phạm an ninh quốc gia và
không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần nhưng không quá 04
tháng; trường hợp đặc biệt không có căn cứ để hủy bỏ biện pháp tạm giam thì Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định việc tạm giam cho đến khi kết
thúc việc điều tra.
7. Trong thời hạn tạm giam, nếu
xét thấy không cần thiết phải tiếp tục tạm giam thì Cơ quan điều tra phải kịp
thời đề nghị Viện kiểm sát hủy bỏ việc tạm giam để trả tự do cho người bị tạm
giam hoặc xét thấy cần thiết thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.
Khi đã hết thời hạn tạm giam
thì người bị tạm giam phải được trả tự do. Trường hợp xét thấy cần thiết thì cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.
Điều 174.
Thời hạn phục hồi điều tra, điều tra bổ sung, điều tra lại
1. Trường hợp phục hồi điều tra
quy định tại Điều 235 của Bộ luật này thì thời hạn điều tra
tiếp không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng
và không quá 03 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng kể từ khi có quyết định phục hồi điều tra cho đến khi kết thúc điều
tra.
Trường hợp cần gia hạn điều tra
do tính chất phức tạp của vụ án thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn
điều tra, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn điều
tra.
Việc gia hạn điều tra được quy
định như sau:
a) Đối với tội phạm ít nghiêm
trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá 01 tháng;
b) Đối với tội phạm nghiêm trọng
và tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá 02
tháng;
c) Đối với tội phạm đặc biệt
nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá 03 tháng.
Thẩm quyền gia hạn điều tra đối
với từng loại tội phạm theo quy định tại khoản 5 Điều 172 của Bộ
luật này.
2. Trường hợp vụ án do Viện kiểm
sát trả lại để yêu cầu điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không quá
02 tháng; nếu do Tòa án trả lại để yêu cầu điều tra bổ sung thì thời hạn điều
tra bổ sung không quá 01 tháng. Viện kiểm sát chỉ được trả lại hồ sơ để điều
tra bổ sung hai lần. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa chỉ được trả hồ sơ để điều tra
bổ sung một lần và Hội đồng xét xử chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sung một lần.
Thời hạn điều tra bổ sung tính
từ ngày Cơ quan điều tra nhận lại hồ sơ vụ án và yêu cầu điều tra bổ sung.
3. Trường hợp vụ án được trả lại
để điều tra lại thì thời hạn điều tra và gia hạn điều tra thực hiện theo quy định
tại Điều 172 của Bộ luật này.
Thời hạn điều tra được tính từ
khi Cơ quan điều tra nhận hồ sơ và yêu cầu điều tra lại.
4. Khi phục hồi điều tra, điều
tra bổ sung, điều tra lại, Cơ quan điều tra có quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ
biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế theo quy định của Bộ luật này.
Trường hợp có căn cứ theo quy định
của Bộ luật này cần phải tạm giam thì thời hạn tạm giam để phục hồi điều tra, điều
tra bổ sung không được quá thời hạn phục hồi điều tra, điều tra bổ sung quy định
tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Thời hạn tạm giam và gia hạn tạm
giam trong trường hợp vụ án được điều tra lại thực hiện theo quy định tại Điều 173 của Bộ luật này.
Điều 175.
Giải quyết yêu cầu, đề nghị của người tham gia tố tụng
1. Khi người tham gia tố tụng
có yêu cầu, đề nghị về những vấn đề liên quan đến vụ án thì Cơ quan điều tra,
cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát
trong phạm vi trách nhiệm của mình giải quyết yêu cầu, đề nghị đó và báo cho họ
biết kết quả. Trường hợp không chấp nhận yêu cầu, đề nghị thì Cơ quan điều tra,
cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc Viện kiểm
sát phải trả lời và nêu rõ lý do.
2. Trường hợp không đồng ý với
kết quả giải quyết của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra hoặc Viện kiểm sát thì người tham gia tố tụng có quyền
khiếu nại. Việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại được thực hiện theo quy định
tại Chương XXXIII của Bộ luật này.
Điều 176.
Sự tham dự của người chứng kiến
Người chứng kiến được triệu tập
để chứng kiến hoạt động điều tra trong các trường hợp do Bộ luật này quy định.
Người chứng kiến có trách nhiệm
xác nhận nội dung, kết quả công việc mà người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
đã tiến hành trong khi mình có mặt và có thể nêu ý kiến cá nhân. Ý kiến này được
ghi vào biên bản.
Điều 177.
Không được tiết lộ bí mật điều tra
Trường hợp cần giữ bí mật điều
tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên phải yêu cầu
người tham gia tố tụng không được tiết lộ bí mật điều tra. Yêu cầu này được ghi
vào biên bản.
Điều tra viên, Cán bộ điều tra,
Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, người tham gia tố tụng tiết lộ bí mật điều tra
thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính
hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật.
Điều 178.
Biên bản điều tra
Khi tiến hành hoạt động điều
tra, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải lập biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này.
Điều tra viên, Cán bộ điều tra
lập biên bản phải đọc biên bản cho người tham gia tố tụng nghe, giải thích cho
họ quyền được bổ sung và nhận xét về biên bản. Ý kiến bổ sung, nhận xét được
ghi vào biên bản; trường hợp không chấp nhận bổ sung thì ghi rõ lý do vào biên
bản. Người tham gia tố tụng, Điều tra viên, Cán bộ điều tra cùng ký tên vào
biên bản.
Trường hợp Kiểm sát viên, Kiểm
tra viên lập biên bản thì biên bản được thực hiện theo quy định tại Điều này.
Biên bản phải được chuyển ngay cho Điều tra viên để đưa vào hồ sơ vụ án.
Việc lập biên bản trong giai đoạn
khởi tố được thực hiện theo quy định tại Điều này.
Chương
XI
KHỞI TỐ BỊ CAN VÀ HỎI
CUNG BỊ CAN
Điều 179.
Khởi tố bị can
1. Khi có đủ căn cứ để xác định
một người hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội
phạm thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can.
2. Quyết định khởi tố bị can
ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết định; họ tên, chức vụ người ra quyết định;
họ tên, ngày, tháng, năm sinh, quốc tịch, dân tộc, tôn giáo, giới tính, chỗ ở,
nghề nghiệp của bị can; bị can bị khởi tố về tội gì, theo điều, khoản nào của Bộ
luật Hình sự; thời gian, địa điểm phạm tội và những tình tiết khác của tội phạm.
Trường hợp bị can bị khởi tố về
nhiều tội khác nhau thì quyết định khởi tố bị can phải ghi rõ từng tội danh và điều,
khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng.
3. Trong thời hạn 24 giờ kể từ
khi ra quyết định khởi tố bị can, Cơ quan điều tra phải gửi quyết định khởi tố
và tài liệu liên quan đến việc khởi tố bị can cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[103] để xét phê chuẩn. Trong thời
hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải
quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can hoặc yêu
cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu làm căn cứ để quyết định việc phê chuẩn và gửi
ngay cho Cơ quan điều tra.
Trường hợp Viện kiểm sát yêu cầu
bổ sung chứng cứ, tài liệu thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng
cứ, tài liệu bổ sung, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định
hủy bỏ quyết định khởi tố bị can.
4. Trường hợp phát hiện có người
đã thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm chưa bị khởi tố
thì Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can hoặc trực
tiếp ra quyết định khởi tố bị can nếu đã yêu cầu nhưng Cơ quan điều tra không
thực hiện. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, Viện
kiểm sát phải gửi cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra.
Sau khi nhận hồ sơ và kết luận điều
tra nếu Viện kiểm sát phát hiện có người khác đã thực hiện hành vi mà Bộ luật
Hình sự quy định là tội phạm trong vụ án chưa bị khởi tố thì Viện kiểm sát ra
quyết định khởi tố bị can và trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ
sung.
5. Sau khi nhận được quyết định
phê chuẩn quyết định khởi tố bị can hoặc quyết định khởi tố bị can của Viện kiểm
sát, Cơ quan điều tra phải giao ngay quyết định khởi tố bị can, quyết định phê
chuẩn quyết định khởi tố bị can và giải thích quyền, nghĩa vụ cho bị can.
Sau khi nhận được quyết định
phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, Cơ quan điều tra phải chụp ảnh, lập danh bản,
chỉ bản của người bị khởi tố và đưa vào hồ sơ vụ án.
Việc giao, nhận các quyết định
nêu trên được lập biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật
này.
Điều 180.
Thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can
1. Cơ quan điều tra, Viện kiểm
sát thay đổi quyết định khởi tố bị can khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Khi tiến hành điều tra nếu
có căn cứ xác định hành vi của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố;
b) Quyết định khởi tố ghi không
đúng họ, tên, tuổi, nhân thân của bị can.
2. Cơ quan điều tra, Viện kiểm
sát phải bổ sung quyết định khởi tố bị can nếu có căn cứ xác định bị can còn thực
hiện hành vi khác mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm.
3. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi
ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, Cơ quan điều tra
phải gửi quyết định này và tài liệu có liên quan đến việc thay đổi hoặc bổ sung
đó cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[104]
để xét phê chuẩn. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định thay đổi
hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải quyết định phê chuẩn
hoặc quyết định hủy bỏ quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị
can hoặc yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu làm căn cứ để quyết định việc phê
chuẩn và gửi ngay cho Cơ quan điều tra.
Trường hợp Viện kiểm sát yêu cầu
bổ sung chứng cứ, tài liệu thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng
cứ, tài liệu bổ sung, Viện kiểm sát ra quyết định phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định
thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi
Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, Viện
kiểm sát phải gửi cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra.
4. Sau khi nhận được quyết định
phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi
tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can của Viện
kiểm sát, Cơ quan điều tra phải giao ngay quyết định này cho người đã bị khởi tố.
Việc giao, nhận các quyết định
nêu trên được lập biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật
này.
Điều 181.
Tạm đình chỉ chức vụ bị can đang đảm nhiệm
Khi xét thấy việc bị can tiếp tục
giữ chức vụ gây khó khăn cho việc điều tra thì Cơ quan điều tra, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát có quyền kiến
nghị với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý bị can tạm đình chỉ chức vụ của
bị can. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị, cơ quan, tổ chức
này phải trả lời bằng văn bản cho Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ
tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát đã kiến nghị biết.
Điều 182.
Triệu tập bị can
1. Khi triệu tập bị can, Điều
tra viên phải gửi giấy triệu tập. Giấy triệu tập bị can ghi rõ họ tên, chỗ ở của
bị can; giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm có mặt, thời gian làm việc, gặp ai và
trách nhiệm về việc vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại
khách quan.
2. Giấy triệu tập bị can được gửi
cho Ủy ban nhân dân cấp xã[105]
nơi bị can cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi bị can làm việc, học tập. Cơ quan,
tổ chức nhận được giấy triệu tập có trách nhiệm chuyển ngay giấy triệu tập cho
bị can.
Khi nhận giấy triệu tập, bị can
phải ký nhận và ghi rõ giờ, ngày nhận. Người chuyển giấy triệu tập phải chuyển
phần giấy triệu tập có ký nhận của bị can cho cơ quan đã triệu tập bị can; nếu
bị can không ký nhận thì lập biên bản về việc đó và gửi cho cơ quan triệu tập bị
can; nếu bị can vắng mặt thì có thể giao giấy triệu tập cho người thân thích của
bị can có đủ năng lực hành vi dân sự để ký xác nhận và chuyển cho bị can.
3. Bị can phải có mặt theo giấy
triệu tập. Trường hợp vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại
khách quan hoặc có biểu hiện trốn tránh thì Điều tra viên có thể ra quyết định
áp giải.
4. Trường hợp cần thiết, Kiểm
sát viên có thể triệu tập bị can. Việc triệu tập bị can được tiến hành theo quy
định tại Điều này.
Điều 183.
Hỏi cung bị can
1. Việc hỏi cung bị can do Điều
tra viên tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can. Có thể hỏi cung bị
can tại nơi tiến hành điều tra hoặc tại nơi ở của người đó. Trước khi hỏi cung
bị can, Điều tra viên phải thông báo cho Kiểm sát viên và người bào chữa thời
gian, địa điểm hỏi cung. Khi xét thấy cần thiết, Kiểm sát viên tham gia việc hỏi
cung bị can.
2. Trước khi tiến hành hỏi cung
lần đầu, Điều tra viên phải giải thích cho bị can biết rõ quyền và nghĩa vụ
theo quy định tại Điều 60 của Bộ luật này. Việc này phải
ghi vào biên bản.
Trường hợp vụ án có nhiều bị
can thì hỏi riêng từng người và không để họ tiếp xúc với nhau. Có thể cho bị
can viết bản tự khai của mình.
3. Không hỏi cung bị can vào
ban đêm, trừ trường hợp không thể trì hoãn được nhưng phải ghi rõ lý do vào biên
bản.
4. Kiểm sát viên hỏi cung bị
can trong trường hợp bị can kêu oan, khiếu nại hoạt động điều tra hoặc có căn cứ
xác định việc điều tra vi phạm pháp luật hoặc trong trường hợp khác khi xét thấy
cần thiết. Việc Kiểm sát viên hỏi cung bị can được tiến hành theo quy định tại Điều
này.
5. Điều tra viên, Cán bộ điều
tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên bức cung, dùng nhục hình đối với bị can thì
phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.
6. Việc hỏi cung bị can tại cơ
sở giam giữ hoặc tại trụ sở Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra phải được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh.
Việc hỏi cung bị can tại địa điểm
khác được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh theo yêu cầu của bị can hoặc của cơ
quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Điều 184.
Biên bản hỏi cung bị can
1. Mỗi lần hỏi cung bị can đều
phải lập biên bản.
Biên bản hỏi cung bị can được lập
theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật này; phải ghi đầy đủ
lời trình bày của bị can, các câu hỏi và câu trả lời. Nghiêm cấm Điều tra viên,
Cán bộ điều tra tự mình thêm, bớt hoặc sửa chữa lời khai của bị can.
2. Sau khi hỏi cung, Điều tra
viên, Cán bộ điều tra phải đọc biên bản cho bị can nghe hoặc để bị can tự đọc.
Trường hợp bổ sung, sửa chữa biên bản thì Điều tra viên, Cán bộ điều tra và bị
can cùng ký xác nhận. Nếu biên bản có nhiều trang thì bị can ký vào từng trang
biên bản. Trường hợp bị can viết bản tự khai thì Điều tra viên, Cán bộ điều tra
và bị can cùng ký xác nhận vào bản tự khai đó.
3. Trường hợp hỏi cung bị can
có người phiên dịch thì Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải giải thích quyền và
nghĩa vụ của người phiên dịch, đồng thời giải thích cho bị can biết quyền yêu cầu
thay đổi người phiên dịch; người phiên dịch phải ký vào từng trang của biên bản
hỏi cung.
Trường hợp hỏi cung bị can có mặt
người bào chữa, người đại diện của bị can thì Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải
giải thích cho những người này biết quyền và nghĩa vụ của họ trong khi hỏi cung
bị can. Bị can, người bào chữa, người đại diện cùng ký vào biên bản hỏi cung.
Trường hợp người bào chữa được hỏi bị can thì biên bản phải ghi đầy đủ câu hỏi
của người bào chữa và trả lời của bị can.
4. Trường hợp Kiểm sát viên hỏi
cung bị can thì biên bản được thực hiện theo quy định của Điều này. Biên bản hỏi
cung bị can được chuyển ngay cho Điều tra viên để đưa vào hồ sơ vụ án.
Chương
XII
LẤY LỜI KHAI NGƯỜI LÀM
CHỨNG, NGƯỜI BỊ HẠI, NGUYÊN ĐƠN DÂN SỰ, BỊ ĐƠN DÂN SỰ, NGƯỜI CÓ QUYỀN LỢI,
NGHĨA VỤ LIÊN QUAN ĐẾN VỤ ÁN, ĐỐI CHẤT VÀ NHẬN DẠNG
Điều 185.
Triệu tập người làm chứng
1. Khi triệu tập người làm chứng
đến lấy lời khai, Điều tra viên phải gửi giấy triệu tập.
2. Giấy triệu tập người làm chứng
ghi rõ họ tên, chỗ ở hoặc nơi làm việc, học tập của người làm chứng; giờ, ngày,
tháng, năm và địa điểm có mặt; mục đích và nội dung làm việc, thời gian làm việc;
gặp ai và trách nhiệm về việc vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không
do trở ngại khách quan.
3. Việc giao giấy triệu tập được
thực hiện như sau:
a) Giấy triệu tập được giao trực
tiếp cho người làm chứng hoặc thông qua Ủy ban nhân dân cấp xã[106] nơi người làm chứng cư trú
hoặc cơ quan, tổ chức nơi người làm chứng làm việc, học tập. Trong mọi trường hợp,
việc giao giấy triệu tập phải được ký nhận. Ủy ban nhân dân cấp xã[107] nơi người làm chứng cư trú
hoặc cơ quan, tổ chức nơi người làm chứng làm việc, học tập có trách nhiệm tạo điều
kiện cho người làm chứng thực hiện nghĩa vụ;
b) Giấy triệu tập người làm chứng
dưới 18 tuổi được giao cho cha, mẹ hoặc người đại diện khác của họ;
c) Việc giao giấy triệu tập người
làm chứng theo ủy thác tư pháp của nước ngoài được thực hiện theo quy định tại khoản
này và Luật Tương trợ tư pháp.
4. Trường hợp cần thiết, Kiểm
sát viên có thể triệu tập người làm chứng để lấy lời khai. Việc triệu tập người
làm chứng được thực hiện theo quy định tại Điều này.
Điều 186.
Lấy lời khai người làm chứng
1. Việc lấy lời khai người làm
chứng được tiến hành tại nơi tiến hành điều tra, nơi cư trú, nơi làm việc hoặc
nơi học tập của người đó.
2. Nếu vụ án có nhiều người làm
chứng thì phải lấy lời khai riêng từng người và không để cho họ tiếp xúc, trao
đổi với nhau trong thời gian lấy lời khai.
3. Trước khi lấy lời khai, Điều
tra viên, Cán bộ điều tra phải giải thích cho người làm chứng biết quyền và
nghĩa vụ của họ theo quy định tại Điều 66 của Bộ luật này.
Việc này phải ghi vào biên bản.
4. Trước khi hỏi về nội dung vụ
án, Điều tra viên phải hỏi về mối quan hệ giữa người làm chứng với bị can, bị hại
và những tình tiết khác về nhân thân của người làm chứng. Điều tra viên yêu cầu
người làm chứng trình bày hoặc tự viết một cách trung thực và tự nguyện những
gì họ biết về vụ án, sau đó mới đặt câu hỏi.
5. Trường hợp xét thấy việc lấy
lời khai của Điều tra viên không khách quan hoặc có vi phạm pháp luật hoặc xét
cần làm rõ chứng cứ, tài liệu để quyết định việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn
quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra hoặc để quyết định việc truy tố thì Kiểm
sát viên có thể lấy lời khai người làm chứng. Việc lấy lời khai người làm chứng
được tiến hành theo quy định tại Điều này.
Điều 187.
Biên bản ghi lời khai của người làm chứng
Biên bản ghi lời khai của người
làm chứng được lập theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật này.
Việc lấy lời khai của người làm
chứng có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh.
Điều 188.
Triệu tập, lấy lời khai của bị hại, đương sự
Việc triệu tập, lấy lời khai của
bị hại, đương sự được thực hiện theo quy định tại các điều 185,
186 và 187 của Bộ luật này.
Việc lấy lời khai của bị hại,
đương sự có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh.
Điều 189.
Đối chất
1. Trường hợp có mâu thuẫn
trong lời khai giữa hai người hay nhiều người mà đã tiến hành các biện pháp điều
tra khác nhưng chưa giải quyết được mâu thuẫn thì Điều tra viên tiến hành đối
chất. Trước khi tiến hành đối chất, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm
sát có thẩm quyền[108] để cử Kiểm
sát viên kiểm sát việc đối chất. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc đối
chất. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản đối chất.
2. Nếu có người làm chứng hoặc
bị hại tham gia thì trước khi đối chất Điều tra viên phải giải thích cho họ biết
trách nhiệm về việc từ chối, trốn tránh khai báo hoặc cố tình khai báo gian dối.
Việc này phải ghi vào biên bản.
3. Khi bắt đầu đối chất, Điều
tra viên hỏi về mối quan hệ giữa những người tham gia đối chất, sau đó hỏi họ về
những tình tiết cần làm sáng tỏ. Sau khi nghe đối chất, Điều tra viên có thể hỏi
thêm từng người.
Trong quá trình đối chất, Điều
tra viên có thể đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật có liên quan; có thể để cho
những người tham gia đối chất hỏi lẫn nhau; câu hỏi và trả lời của những người này
phải ghi vào biên bản.
Chỉ sau khi những người tham
gia đối chất đã khai xong mới được nhắc lại những lời khai trước đó của họ.
4. Biên bản đối chất được lập
theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật này. Việc đối chất
có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh.
5. Trường hợp cần thiết, Kiểm
sát viên có thể tiến hành đối chất. Việc đối chất được tiến hành theo quy định tại
Điều này.
Điều 190.
Nhận dạng
1. Khi cần thiết, Điều tra viên
có thể đưa người, ảnh hoặc vật cho người làm chứng, bị hại hoặc bị can nhận dạng.
Số người, ảnh hoặc vật đưa ra để
nhận dạng ít nhất phải là ba và bề ngoài phải tương tự nhau, trừ trường hợp nhận
dạng tử thi.
Trước khi tiến hành nhận dạng, Điều
tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[109] để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc nhận dạng. Kiểm sát
viên phải có mặt để kiểm sát việc nhận dạng. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi
rõ vào biên bản nhận dạng.
2. Những người sau đây phải
tham gia việc nhận dạng:
a) Người làm chứng, bị hại hoặc
bị can;
b) Người chứng kiến.
3. Nếu người làm chứng hoặc bị
hại là người nhận dạng thì trước khi tiến hành, Điều tra viên phải giải thích
cho họ biết trách nhiệm về việc từ chối, trốn tránh khai báo hoặc cố ý khai báo
gian dối. Việc này phải ghi vào biên bản.
4. Điều tra viên phải hỏi trước
người nhận dạng về những tình tiết, vết tích và đặc điểm mà nhờ đó họ có thể nhận
dạng được.
Trong quá trình tiến hành nhận
dạng, Điều tra viên không được đặt câu hỏi gợi ý. Sau khi người nhận dạng đã
xác nhận một người, một vật hay một ảnh trong số được đưa ra để nhận dạng thì Điều
tra viên yêu cầu họ giải thích là họ đã căn cứ vào các vết tích hoặc đặc điểm
gì mà xác nhận được người, vật hay ảnh đó.
5. Biên bản nhận dạng được lập
theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật này. Biên bản ghi rõ
nhân thân, tình trạng sức khỏe của người nhận dạng và của những người được đưa
ra để nhận dạng; đặc điểm của vật, ảnh được đưa ra để nhận dạng; các lời khai
báo, trình bày của người nhận dạng; điều kiện ánh sáng khi thực hiện nhận dạng.
Điều 191.
Nhận biết giọng nói
1. Khi cần thiết, Điều tra viên
có thể cho bị hại, người làm chứng hoặc người bị bắt, bị tạm giữ, bị can nhận
biết giọng nói.
Số giọng nói được đưa ra để nhận
biết ít nhất phải là ba và phải có âm sắc, âm lượng tương tự nhau.
Trước khi tiến hành nhận biết
giọng nói, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[110] để cử Kiểm sát viên kiểm sát
việc nhận biết giọng nói. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc nhận biết
giọng nói. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản nhận biết giọng
nói.
2. Những người sau đây phải
tham gia việc nhận biết giọng nói:
a) Giám định viên về âm thanh;
b) Người được yêu cầu nhận biết
giọng nói;
c) Người được đưa ra để nhận biết
giọng nói, trừ trường hợp việc nhận biết giọng nói được thực hiện qua phương tiện
ghi âm;
d) Người chứng kiến.
3. Nếu người làm chứng, bị hại
được yêu cầu nhận biết giọng nói thì trước khi tiến hành, Điều tra viên phải giải
thích cho họ biết trách nhiệm về việc từ chối, trốn tránh khai báo hoặc cố ý
khai báo gian dối. Việc này phải ghi vào biên bản.
4. Điều tra viên phải hỏi trước
người được yêu cầu nhận biết giọng nói về những đặc điểm mà nhờ đó họ có thể nhận
biết được giọng nói.
Trong quá trình tiến hành nhận
biết giọng nói, Điều tra viên không được đặt câu hỏi gợi ý. Sau khi người được
yêu cầu nhận biết giọng nói đã xác nhận được tiếng nói trong số giọng nói được
đưa ra thì Điều tra viên yêu cầu họ giải thích là họ đã căn cứ vào đặc điểm gì
mà xác nhận giọng nói đó.
5. Biên bản nhận biết giọng nói
được lập theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật này. Biên bản
ghi rõ nhân thân, tình trạng sức khỏe của người được yêu cầu nhận biết giọng
nói và của những người được đưa ra để nhận biết giọng nói; đặc điểm của giọng
nói được đưa ra để nhận biết, lời trình bày của người nhận biết giọng nói; điều
kiện về không gian khi thực hiện nhận biết giọng nói.
Chương
XIII
KHÁM XÉT, THU GIỮ, TẠM
GIỮ TÀI LIỆU, ĐỒ VẬT
Điều 192.
Căn cứ khám xét người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện, tài liệu, đồ
vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử
1. Việc khám xét người, chỗ ở, nơi
làm việc, địa điểm, phương tiện chỉ được tiến hành khi có căn cứ để nhận định
trong người, chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện có công cụ, phương tiện
phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, dữ liệu điện
tử, tài liệu khác có liên quan đến vụ án.
Việc khám xét chỗ ở, nơi làm việc,
địa điểm, phương tiện cũng được tiến hành khi cần phát hiện người đang bị truy
nã, truy tìm và giải cứu nạn nhân.
2. Khi có căn cứ để nhận định
trong thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử có công cụ, phương
tiện phạm tội, tài liệu, đồ vật, tài sản liên quan đến vụ án thì có thể khám
xét thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, dữ liệu điện tử.
Điều 193.
Thẩm quyền ra lệnh khám xét
1. Những người có thẩm quyền
quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này có quyền ra lệnh
khám xét. Lệnh khám xét của những người được quy định tại khoản
2 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải được Viện kiểm
sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành.
2.[111] Trong trường hợp khẩn cấp, những người có thẩm quyền
quy định tại khoản 2 Điều 110 của Bộ luật này có quyền ra lệnh
khám xét. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi khám xét xong, người ra lệnh khám xét
phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát có thẩm quyền.
3. Trước khi tiến hành khám
xét, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[112] về thời gian và địa điểm tiến
hành khám xét để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc khám xét, trừ trường hợp khám
xét khẩn cấp. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc khám xét. Nếu Kiểm sát
viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản khám xét.
4. Mọi trường hợp khám xét đều
được lập biên bản theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật này
và đưa vào hồ sơ vụ án.
Điều 194.
Khám xét người
1. Khi bắt đầu khám xét người,
người thi hành lệnh khám xét phải đọc lệnh và đưa cho người bị khám xét đọc lệnh
đó; giải thích cho người bị khám xét và những người có mặt biết quyền và nghĩa
vụ của họ.
Người tiến hành khám xét phải
yêu cầu người bị khám xét đưa ra các tài liệu, đồ vật có liên quan đến vụ án, nếu
họ từ chối hoặc đưa ra không đầy đủ các tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án
thì tiến hành khám xét.
2. Việc khám xét người phải do
người cùng giới thực hiện và có người khác cùng giới chứng kiến. Việc khám
xét không được xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của
người bị khám xét.
3. Có thể tiến hành khám xét
người mà không cần có lệnh trong trường hợp bắt người hoặc khi có căn cứ để khẳng
định người có mặt tại nơi khám xét giấu trong người vũ khí, hung khí, chứng cứ,
tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án.
Điều 195.
Khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện
1. Khi khám xét chỗ ở thì phải
có mặt người đó hoặc người từ đủ 18 tuổi trở lên cùng chỗ ở, có đại diện Ủy
ban nhân dân cấp xã[113] và người
chứng kiến; trường hợp người đó, người từ đủ 18 tuổi trở lên cùng chỗ ở cố
tình vắng mặt, bỏ trốn hoặc vì lý do khác họ không có mặt mà việc khám xét
không thể trì hoãn thì việc khám xét vẫn được tiến hành nhưng phải có đại diện Ủy
ban nhân dân cấp xã[114] nơi
khám xét và hai người chứng kiến.
Không được bắt đầu việc khám
xét chỗ ở vào ban đêm, trừ trường hợp khẩn cấp nhưng phải ghi rõ lý do vào biên
bản.
2. Khi khám xét nơi làm việc của
một người thì phải có mặt người đó, trừ trường hợp không thể trì hoãn nhưng phải
ghi rõ lý do vào biên bản.
Việc khám xét nơi làm việc phải
có đại diện của cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc chứng kiến. Trong trường
hợp không có đại diện cơ quan, tổ chức thì việc khám xét vẫn được tiến hành
nhưng phải có đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã[115] nơi khám xét và 02 người chứng kiến.
3. Khi khám xét địa điểm phải
có đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã[116]
nơi khám xét và người chứng kiến.
4. Việc khám xét phương tiện phải
có mặt chủ sở hữu hoặc người quản lý phương tiện và người chứng kiến. Trường hợp
chủ sở hữu hoặc người quản lý phương tiện vắng mặt, bỏ trốn hoặc vì lý do khác
họ không có mặt mà việc khám xét không thể trì hoãn thì việc khám xét vẫn được
tiến hành nhưng phải có hai người chứng kiến.
Khi khám xét phương tiện có thể
mời người có chuyên môn liên quan đến phương tiện tham gia.
5. Khi tiến hành khám xét chỗ ở,
nơi làm việc, địa điểm, phương tiện, những người có mặt không được tự ý rời khỏi
nơi đang bị khám, không được liên hệ, trao đổi với nhau hoặc với những người
khác cho đến khi khám xét xong.
Điều 196.
Thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử
1. Việc thu giữ phương tiện điện
tử, dữ liệu điện tử do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện và có thể
mời người có chuyên môn liên quan tham gia. Trường hợp không thể thu giữ được
thì phải sao lưu vào phương tiện lưu trữ và thu giữ như đối với vật chứng.
2. Khi thu giữ các phương tiện
điện tử có thể thu thiết bị ngoại vi kèm theo và các tài liệu có liên quan.
Điều 197.
Thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại cơ quan, tổ chức bưu chính,
viễn thông
1. Khi cần thiết phải thu giữ thư
tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn thông
thì Cơ quan điều tra ra lệnh thu giữ. Lệnh này phải được Viện kiểm sát có thẩm
quyền[117] phê chuẩn trước khi
thi hành.
2. Trường hợp không thể trì
hoãn việc thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại cơ quan, tổ chức
bưu chính, viễn thông thì Cơ quan điều tra có thể tiến hành thu giữ nhưng phải
ghi rõ lý do vào biên bản. Sau khi thu giữ phải thông báo ngay cho [118] bằng văn bản kèm theo tài liệu
liên quan đến việc thu giữ để xét phê chuẩn.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi
nhận được đề nghị xét phê chuẩn và tài liệu liên quan đến việc thu giữ thư tín,
điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc
quyết định không phê chuẩn. Nếu Viện kiểm sát quyết định không phê chuẩn thì
người đã ra lệnh thu giữ phải trả lại ngay cho cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn
thông, đồng thời thông báo cho người có thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm bị
thu giữ biết.
3. Người thi hành lệnh phải
thông báo cho người phụ trách cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn thông hữu quan
trước khi tiến hành thu giữ. Người quản lý cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn
thông hữu quan phải tạo điều kiện để người thi hành lệnh thu giữ hoàn thành nhiệm
vụ.
Khi thu giữ thư tín, điện tín,
bưu kiện, bưu phẩm, phải có đại diện của cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn thông
chứng kiến và ký xác nhận vào biên bản.
Cơ quan ra lệnh thu giữ phải
thông báo cho người có thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm bị thu giữ biết. Nếu
việc thông báo cản trở điều tra thì sau khi cản trở đó không còn nữa, cơ quan
ra lệnh thu giữ phải thông báo ngay.
Điều 198.
Tạm giữ tài liệu, đồ vật khi khám xét
1. Khi khám xét, Điều tra viên
được tạm giữ đồ vật là vật chứng và tài liệu có liên quan trực tiếp đến vụ án.
Đối với đồ vật thuộc loại cấm tàng trữ, lưu hành thì phải thu giữ và chuyển
ngay cho cơ quan quản lý có thẩm quyền. Trường hợp cần thiết phải niêm phong
thì tiến hành trước mặt chủ sở hữu đồ vật, người quản lý đồ vật, người chứng kiến,
đại diện gia đình, đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã[119] nơi khám xét.
2. Việc tạm giữ tài liệu, đồ vật
khi tiến hành khám xét được lập biên bản theo quy định tại Điều
133 của Bộ luật này. Biên bản tạm giữ được lập thành bốn bản, trong đó một
bản giao cho người chủ tài liệu, đồ vật hoặc người quản lý tài liệu, đồ vật, một
bản đưa vào hồ sơ vụ án, một bản giao cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[120] và một bản giao cho cơ quan
quản lý tài liệu, đồ vật bị tạm giữ.
Điều 199.
Trách nhiệm bảo quản phương tiện, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử, thư tín,
điện tín, bưu kiện, bưu phẩm bị thu giữ, tạm giữ hoặc bị niêm phong
1. Phương tiện, tài liệu, đồ vật,
dữ liệu điện tử, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm bị thu giữ, tạm giữ hoặc
bị niêm phong phải được bảo quản nguyên vẹn.
2. Người nào phá hủy niêm
phong, tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc hủy hoại phương tiện,
tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm thì phải
chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Điều 200.
Trách nhiệm của người ra lệnh, người thi hành lệnh khám xét, thu giữ, tạm giữ
Người ra lệnh, người thi hành lệnh
khám xét, thu giữ, tạm giữ trái pháp luật thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà
bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật.
Chương
XIV
KHÁM NGHIỆM HIỆN TRƯỜNG,
KHÁM NGHIỆM TỬ THI, XEM XÉT DẤU VẾT TRÊN THÂN THỂ, THỰC NGHIỆM ĐIỀU TRA
Điều 201.
Khám nghiệm hiện trường
1. Điều tra viên chủ trì tiến
hành khám nghiệm nơi xảy ra, nơi phát hiện tội phạm để phát hiện dấu vết của tội
phạm, thu giữ vật chứng, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử khác liên quan và
làm sáng tỏ những tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án.
2. Trước khi tiến hành khám
nghiệm hiện trường, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[121] biết về thời gian, địa điểm
tiến hành khám nghiệm để cử Kiểm sát viên kiểm sát khám nghiệm hiện trường. Kiểm
sát viên phải có mặt để kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường.
Khi khám nghiệm hiện trường phải
có người chứng kiến; có thể cho bị can, người bào chữa, bị hại, người làm chứng
tham gia và mời người có chuyên môn tham dự việc khám nghiệm.
3. Khi khám nghiệm hiện trường
phải tiến hành chụp ảnh, vẽ sơ đồ, mô tả hiện trường, đo đạc, dựng mô hình; xem
xét tại chỗ và thu lượm dấu vết của tội phạm, tài liệu, đồ vật có liên quan đến
vụ án; ghi rõ kết quả khám nghiệm vào biên bản. Biên bản khám nghiệm hiện trường
được lập theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật này.
Trường hợp không thể xem xét
ngay được thì tài liệu, đồ vật thu giữ phải được bảo quản, giữ nguyên trạng hoặc
niêm phong đưa về nơi tiến hành điều tra.
Điều 202.
Khám nghiệm tử thi
1. Việc khám nghiệm tử thi do
giám định viên pháp y tiến hành dưới sự chủ trì của Điều tra viên và phải có
người chứng kiến.
Trước khi khám nghiệm tử thi, Điều
tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[122] biết về thời gian và địa điểm tiến hành khám nghiệm để
cử Kiểm sát viên kiểm sát việc khám nghiệm tử thi. Kiểm sát viên phải có mặt để
kiểm sát việc khám nghiệm tử thi.
2. Giám định viên kỹ thuật hình
sự có thể được mời tham gia khám nghiệm tử thi để phát hiện, thu thập dấu vết
phục vụ việc giám định.
3. Khi khám nghiệm tử thi phải
tiến hành chụp ảnh, mô tả dấu vết để lại trên tử thi; chụp ảnh, thu thập, bảo
quản mẫu vật phục vụ công tác trưng cầu giám định; ghi rõ kết quả khám nghiệm
vào biên bản. Biên bản khám nghiệm tử thi được lập theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật này.
4. Trường hợp cần khai quật tử
thi thì phải có quyết định của Cơ quan điều tra và thông báo cho người thân
thích của người chết biết trước khi tiến hành. Trường hợp người chết không có hoặc
không xác định được người thân thích của họ thì thông báo cho đại diện Ủy ban
nhân dân cấp xã[123] nơi chôn cất
tử thi biết.
Điều 203.
Xem xét dấu vết trên thân thể
1. Khi cần thiết, Điều tra viên
tiến hành xem xét dấu vết của tội phạm hoặc các dấu vết khác có ý nghĩa đối với
việc giải quyết vụ án trên thân thể người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người
bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị hại, người làm chứng. Trong trường hợp cần
thiết thì Cơ quan điều tra trưng cầu giám định.
2. Việc xem xét dấu vết trên
thân thể phải do người cùng giới tiến hành và phải có người cùng giới chứng
kiến. Trường hợp cần thiết thì có thể mời bác sĩ tham gia.
Nghiêm cấm xâm phạm sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm của người bị xem xét dấu vết trên thân thể.
Khi xem xét dấu vết trên thân
thể phải lập biên bản mô tả dấu vết để lại trên thân thể; trường hợp cần thiết
phải chụp ảnh, trưng cầu giám định. Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể được
lập theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật này.
Điều 204.
Thực nghiệm điều tra
1. Để kiểm tra, xác minh tài liệu,
tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra có thể thực
nghiệm điều tra bằng cách dựng lại hiện trường, diễn lại hành vi, tình huống hoặc
những tình tiết khác của một sự việc nhất định và tiến hành các hoạt động thực
nghiệm cần thiết. Khi thực nghiệm điều tra phải đo đạc, chụp ảnh, ghi hình, vẽ
sơ đồ, ghi rõ kết quả thực nghiệm điều tra vào biên bản.
Nghiêm cấm việc thực nghiệm điều
tra xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người
tham gia thực nghiệm điều tra và người khác.
2. Trước khi tiến hành thực
nghiệm điều tra, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[124] biết về thời gian và địa điểm
tiến hành thực nghiệm điều tra. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc thực
nghiệm điều tra. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì phải ghi rõ vào biên bản.
3. Điều tra viên chủ trì tiến
hành thực nghiệm điều tra và việc thực nghiệm điều tra phải có người chứng kiến.
Khi tiến hành thực nghiệm điều
tra, Cơ quan điều tra có thể mời người có chuyên môn tham gia. Trường hợp cần
thiết, người bị tạm giữ, bị can, người bào chữa, bị hại, người làm chứng có thể
tham gia.
4. Trường hợp cần thiết, Viện
kiểm sát tiến hành thực nghiệm điều tra. Việc thực nghiệm điều tra được tiến
hành theo quy định tại Điều này.
Chương
XV
GIÁM ĐỊNH VÀ ĐỊNH GIÁ
TÀI SẢN
Điều 205.
Trưng cầu giám định
1. Khi thuộc một trong các trường
hợp quy định tại Điều 206 của Bộ luật này hoặc khi xét thấy
cần thiết thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra quyết định trưng cầu
giám định.
2. Quyết định trưng cầu giám định
có các nội dung:
a) Tên cơ quan trưng cầu giám định;
họ tên người có thẩm quyền trưng cầu giám định;
b) Tên tổ chức; họ tên người được
trưng cầu giám định;
c) Tên và đặc điểm của đối tượng
cần giám định;
d) Tên tài liệu có liên quan hoặc
mẫu so sánh gửi kèm theo (nếu có);
đ) Nội dung yêu cầu giám định;
e) Ngày, tháng, năm trưng cầu
giám định và thời hạn trả kết luận giám định.
3. Trong thời hạn 24 giờ kể từ
khi ra quyết định trưng cầu giám định, cơ quan trưng cầu giám định phải giao hoặc
gửi quyết định trưng cầu giám định, hồ sơ, đối tượng trưng cầu giám định cho tổ
chức, cá nhân thực hiện giám định; gửi quyết định trưng cầu giám định cho Viện
kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra.
Điều 206.
Các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định
Bắt buộc phải trưng cầu giám định
khi cần xác định:
1. Tình trạng tâm thần của người
bị buộc tội khi có sự nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ; tình trạng
tâm thần của người làm chứng hoặc bị hại khi có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức,
khả năng khai báo đúng đắn về những tình tiết của vụ án;
2. Tuổi của bị can, bị cáo, bị
hại nếu việc đó có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án và không có tài liệu để
xác định chính xác tuổi của họ hoặc có nghi ngờ về tính xác thực của những tài
liệu đó;
3. Nguyên nhân chết người;
4. Tính chất thương tích, mức độ
tổn hại sức khoẻ hoặc khả năng lao động;
5. Chất ma tuý, vũ khí quân dụng,
vật liệu nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, tiền giả, vàng, bạc, kim khí
quý, đá quý, đồ cổ;
6. Mức độ ô nhiễm môi trường.
Điều 207.
Yêu cầu giám định
1. Đương sự hoặc người đại diện
của họ có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu giám
định những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ, trừ trường hợp
việc giám định liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình sự của người bị buộc
tội.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ
ngày nhận được văn bản đề nghị, cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét, ra quyết
định trưng cầu giám định. Trường hợp không chấp nhận đề nghị thì thông báo cho
người đã đề nghị giám định biết bằng văn bản và nêu rõ lý do. Hết thời hạn này
hoặc kể từ ngày nhận được thông báo từ chối trưng cầu giám định của cơ quan có
thẩm quyền tiến hành tố tụng thì người đề nghị giám định có quyền tự mình yêu cầu
giám định.
2. Người yêu cầu giám định có
các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật Giám định tư pháp.
Điều 208.
Thời hạn giám định
1. Thời hạn giám định đối với
trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định:
a) Không quá 03 tháng đối với
trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 206 của Bộ luật này;
b) Không quá 01 tháng đối với
trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 6 Điều 206 của Bộ luật
này;
c) Không quá 09 ngày đối với
trường hợp quy định tại các khoản 2, 4 và 5 Điều 206 của Bộ luật
này.
2.[125] Thời hạn giám định đối với các trường hợp khác thực
hiện theo quy định của Luật Giám định tư pháp.
3. Trường hợp việc giám định
không thể tiến hành trong thời hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì
tổ chức, cá nhân tiến hành giám định phải kịp thời thông báo bằng văn bản, nêu
rõ lý do cho cơ quan trưng cầu, người yêu cầu giám định.
4. Thời hạn giám định quy định
tại Điều này cũng áp dụng đối với trường hợp giám định bổ sung, giám định lại.
Điều 209.
Tiến hành giám định
1. Việc giám định có thể tiến
hành tại cơ quan giám định hoặc tại nơi tiến hành điều tra vụ án ngay sau khi
có quyết định trưng cầu, yêu cầu giám định.
Điều tra viên, Kiểm sát viên,
Thẩm phán, người yêu cầu giám định có thể tham dự giám định nhưng phải báo trước
cho người giám định biết.
2. Việc giám định do cá nhân hoặc
do tập thể thực hiện.
Điều 210.
Giám định bổ sung
1. Việc giám định bổ sung được
tiến hành trong trường hợp:
a) Nội dung kết luận giám định
chưa rõ, chưa đầy đủ;
b) Khi phát sinh vấn đề mới cần
phải giám định liên quan đến tình tiết của vụ án đã có kết luận giám định trước
đó.
2. Việc giám định bổ sung có thể
do tổ chức, cá nhân đã giám định hoặc tổ chức, cá nhân khác thực hiện.
3. Việc trưng cầu, yêu cầu giám
định bổ sung được thực hiện như giám định lần đầu.
Điều 211.
Giám định lại
1. Việc giám định lại được thực
hiện khi có nghi ngờ kết luận giám định lần đầu không chính xác. Việc giám định
lại phải do người giám định khác thực hiện.
2. Cơ quan trưng cầu giám định
tự mình hoặc theo đề nghị của người tham gia tố tụng quyết định việc trưng cầu
giám định lại. Trường hợp người trưng cầu giám định không chấp nhận yêu cầu
giám định lại thì phải thông báo cho người đề nghị giám định bằng văn bản và
nêu rõ lý do.
3. Trường hợp có sự khác nhau
giữa kết luận giám định lần đầu và kết luận giám định lại về cùng một nội dung
giám định thì việc giám định lại lần thứ hai do người trưng cầu giám định quyết
định. Việc giám định lại lần thứ hai phải do Hội đồng giám định thực hiện theo
quy định của Luật Giám định tư pháp.
Điều 212.
Giám định lại trong trường hợp đặc biệt
Trường hợp đặc biệt, Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định việc
giám định lại sau khi đã có kết luận của Hội đồng giám định. Việc giám định lại
trong trường hợp đặc biệt phải do Hội đồng mới thực hiện, những người đã tham
gia giám định trước đó không được giám định lại. Kết luận giám định lại trong
trường hợp này được sử dụng để giải quyết vụ án.
Điều 213.
Kết luận giám định
1. Kết luận giám định phải ghi
rõ kết quả giám định đối với những nội dung đã được trưng cầu, yêu cầu và những
nội dung khác theo quy định của Luật Giám định tư pháp.
2. Trong thời hạn 24 giờ kể từ
khi ra kết luận giám định, tổ chức, cá nhân đã tiến hành giám định phải gửi kết
luận giám định cho cơ quan đã trưng cầu, người yêu cầu giám định.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi
nhận được kết luận giám định, cơ quan đã trưng cầu, người yêu cầu giám định phải
gửi kết luận giám định cho Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát điều
tra.
3. Để làm sáng tỏ nội dung kết
luận giám định, cơ quan trưng cầu, người yêu cầu giám định có quyền yêu cầu tổ
chức, cá nhân đã tiến hành giám định giải thích kết luận giám định; hỏi thêm
người giám định về những tình tiết cần thiết.
Điều 214.
Quyền của bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác đối với kết luận
giám định
1. Trong thời hạn 07 ngày kể từ
ngày nhận được đề nghị trưng cầu giám định của bị can, bị cáo, bị hại, người
tham gia tố tụng khác, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xem xét, ra
quyết định trưng cầu giám định.
2. Trong thời hạn 07 ngày kể từ
ngày nhận được kết luận giám định thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
phải thông báo kết luận giám định cho bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố
tụng khác có liên quan.
3. Bị can, bị cáo, bị hại, người
tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến của mình về kết luận giám định;
đề nghị giám định bổ sung hoặc giám định lại. Trường hợp họ trình bày trực tiếp
thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải lập biên bản.
4. Trường hợp Cơ quan điều tra,
Viện kiểm sát, Tòa án không chấp nhận đề nghị của bị can, bị cáo, bị hại, người
tham gia tố tụng khác thì phải thông báo cho người đề nghị bằng văn bản và nêu
rõ lý do.
Điều 215.
Yêu cầu định giá tài sản
1. Khi cần xác định giá của tài
sản để giải quyết vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra văn
bản yêu cầu định giá tài sản.
2. Văn bản yêu cầu định giá tài
sản có các nội dung:
a) Tên cơ quan yêu cầu định
giá; họ tên người có thẩm quyền yêu cầu định giá;
b) Tên Hội đồng định giá tài sản
được yêu cầu;
c) Thông tin và đặc điểm của
tài sản cần định giá;
d) Tên tài liệu có liên quan (nếu
có);
đ) Nội dung yêu cầu định giá
tài sản;
e) Ngày, tháng, năm yêu cầu định
giá tài sản, thời hạn trả kết luận định giá tài sản.
3. Trong thời hạn 24 giờ kể từ
khi ra văn bản yêu cầu định giá tài sản, cơ quan yêu cầu định giá phải giao hoặc
gửi văn bản yêu cầu định giá tài sản, hồ sơ, đối tượng yêu cầu định giá tài sản
cho Hội đồng định giá tài sản được yêu cầu; gửi văn bản yêu cầu định giá tài sản
cho Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra.
4. Việc yêu cầu định giá tài sản
để giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được thực hiện theo quy định của
pháp luật về tố tụng dân sự.
Điều 216.
Thời hạn định giá tài sản
Việc định giá tài sản, trả kết luận
định giá tài sản thực hiện theo thời hạn nêu trong văn bản yêu cầu định giá tài
sản. Trường hợp việc định giá tài sản không thể tiến hành trong thời hạn yêu cầu,
Hội đồng định giá tài sản phải kịp thời thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do
cho cơ quan, người đã yêu cầu định giá biết.
Điều 217.
Tiến hành định giá tài sản
1. Việc định giá tài sản do Hội
đồng định giá tài sản tiến hành. Phiên họp định giá tài sản có thể thực hiện tại
nơi có tài sản được định giá hoặc nơi khác theo quyết định của Hội đồng định
giá tài sản.
Điều tra viên, Kiểm sát viên,
Thẩm phán có thể tham dự phiên họp định giá tài sản nhưng phải báo trước cho Hội
đồng định giá tài sản biết; khi được sự đồng ý của Hội đồng định giá tài sản
thì có quyền đưa ra ý kiến.
2. Chính phủ quy định chi tiết
việc thành lập và hoạt động của Hội đồng định giá tài sản; trình tự, thủ tục định
giá tài sản.
Điều 218.
Định giá lại tài sản
1. Trường hợp có nghi ngờ kết
luận định giá lần đầu, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tự mình hoặc
theo đề nghị của người bị buộc tội, người tham gia tố tụng khác ra văn bản yêu
cầu định giá lại tài sản. Việc định giá lại tài sản do Hội đồng định giá tài sản
cấp trên trực tiếp thực hiện.
2. Trường hợp có mâu thuẫn giữa
kết luận định giá lần đầu và kết luận định giá lại về giá của tài sản cần định
giá, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra văn bản yêu cầu định giá lại lần
thứ hai. Việc định giá lại lần thứ hai do Hội đồng định giá tài sản có thẩm quyền
thực hiện. Kết luận định giá lại trong trường hợp này được sử dụng để giải quyết
vụ án.
Điều 219.
Định giá tài sản trong trường hợp tài sản bị thất lạc hoặc không còn
Trường hợp tài sản cần định giá
bị thất lạc hoặc không còn thì việc định giá tài sản được thực hiện theo hồ sơ
của tài sản trên cơ sở các thông tin, tài liệu thu thập được về tài sản cần định
giá.
Điều 220.
Định giá lại tài sản trong trường hợp đặc biệt
Trường hợp đặc biệt, Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định việc
định giá lại tài sản khi đã có kết luận định giá lại lần hai của Hội đồng định
giá tài sản. Việc định giá lại tài sản trong trường hợp đặc biệt phải do Hội đồng
mới thực hiện. Người đã tham gia định giá trước đó không được định giá lại. Kết
luận định giá lại trong trường hợp này được sử dụng để giải quyết vụ án.
Điều 221.
Kết luận định giá tài sản
1. Kết luận định giá tài sản phải
ghi rõ kết luận về giá của tài sản theo nội dung yêu cầu định giá và các nội
dung khác theo quy định của pháp luật.
2. Trong thời hạn 24 giờ kể từ
khi ra kết luận định giá tài sản, Hội đồng định giá tài sản phải gửi kết luận
cho cơ quan yêu cầu định giá tài sản, người yêu cầu định giá tài sản.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi
nhận được kết luận định giá tài sản, cơ quan đã yêu cầu, người yêu cầu định giá
tài sản phải gửi kết luận định giá tài sản cho Viện kiểm sát thực hành quyền
công tố và kiểm sát điều tra.
3. Để làm sáng tỏ nội dung kết
luận định giá tài sản, cơ quan yêu cầu định giá tài sản có quyền yêu cầu Hội đồng
định giá tài sản giải thích kết luận định giá; hỏi thêm Hội đồng định giá tài sản
về những tình tiết cần thiết.
Điều 222.
Quyền của bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác đối với kết luận
định giá tài sản
1. Trong thời hạn 07 ngày kể từ
ngày nhận được đề nghị định giá tài sản của bị can, bị cáo, bị hại, người tham
gia tố tụng khác, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xem xét, ra văn
bản yêu cầu định giá tài sản.
2. Trong thời hạn 07 ngày kể từ
ngày nhận được kết luận định giá tài sản thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố
tụng phải thông báo kết luận định giá tài sản cho bị can, bị cáo, bị hại, người
tham gia tố tụng khác có liên quan.
3. Bị can, bị cáo, bị hại, người
tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến của mình về kết luận định giá;
đề nghị định giá lại. Trường hợp họ trình bày trực tiếp thì Cơ quan điều tra,
Viện kiểm sát, Tòa án phải lập biên bản.
4. Trường hợp Cơ quan điều tra,
Viện kiểm sát, Tòa án không chấp nhận đề nghị của bị can, bị cáo, bị hại, người
tham gia tố tụng khác thì phải thông báo cho người đề nghị bằng văn bản và nêu
rõ lý do.
Chương
XVI
BIỆN PHÁP ĐIỀU TRA TỐ TỤNG
ĐẶC BIỆT
Điều 223.
Các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
Sau khi khởi tố vụ án, trong
quá trình điều tra, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể áp dụng các biện
pháp điều tra tố tụng đặc biệt:
1. Ghi âm, ghi hình bí mật;
2. Nghe điện thoại bí mật;
3. Thu thập bí mật dữ liệu điện
tử.
Điều 224.
Trường hợp áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
Có thể áp dụng biện pháp điều
tra tố tụng đặc biệt đối với các trường hợp:
1. Tội xâm phạm an ninh quốc
gia, tội phạm về ma túy, tội phạm về tham nhũng, tội khủng bố, tội rửa tiền;
2. Tội phạm khác có tổ chức thuộc
loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Điều 225.
Thẩm quyền, trách nhiệm quyết định và thi hành quyết định áp dụng biện pháp điều
tra tố tụng đặc biệt
1.[126] Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp tỉnh, Thủ trưởng Cơ
quan điều tra quân sự cấp quân khu trở lên tự mình hoặc theo yêu cầu của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp
quân khu trở lên có quyền ra quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc
biệt.
Trường hợp vụ án do Cơ quan điều
tra quân sự khu vực thụ lý, điều tra thì Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự
khu vực đề nghị Thủ trưởng Cơ quan điều tra quân sự cấp quân khu xem xét, quyết
định áp dụng.
2. Quyết định áp dụng biện pháp
điều tra tố tụng đặc biệt ghi rõ thông tin cần thiết về đối tượng bị áp dụng,
tên biện pháp được áp dụng, thời hạn, địa điểm áp dụng, cơ quan tiến hành biện
pháp điều tra tố tụng đặc biệt và các nội dung quy định tại khoản
2 Điều 132 của Bộ luật này.
3. Quyết định áp dụng biện pháp
điều tra tố tụng đặc biệt phải được Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn
trước khi thi hành. Thủ trưởng Cơ quan điều tra đã ra quyết định áp dụng có
trách nhiệm kiểm tra chặt chẽ việc áp dụng biện pháp này, kịp thời đề nghị Viện
kiểm sát hủy bỏ nếu xét thấy không còn cần thiết.
Cơ quan chuyên trách trong Công
an nhân dân, Quân đội nhân dân theo quy định của pháp luật có trách nhiệm thi
hành quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.
4. Thủ trưởng Cơ quan điều tra,
Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền và người thi hành quyết định áp dụng biện
pháp điều tra tố tụng đặc biệt phải giữ bí mật.
Điều 226.
Thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
1. Thời hạn áp dụng biện pháp điều
tra tố tụng đặc biệt không quá 02 tháng kể từ ngày Viện trưởng Viện kiểm sát
phê chuẩn. Trường hợp phức tạp có thể gia hạn nhưng không quá thời hạn điều tra
theo quy định của Bộ luật này.
2. Chậm nhất là 10 ngày trước
khi hết thời hạn áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, nếu xét thấy cần
gia hạn thì Thủ trưởng Cơ quan điều tra đã ra quyết định áp dụng phải có văn bản
đề nghị Viện trưởng Viện kiểm sát đã phê chuẩn xem xét, quyết định việc gia hạn.
Điều 227.
Sử dụng thông tin, tài liệu thu thập được bằng biện pháp điều tra tố tụng đặc
biệt
1. Thông tin, tài liệu thu thập
được bằng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt chỉ được sử dụng vào việc khởi tố,
điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự; thông tin, tài liệu không liên quan đến
vụ án phải tiêu hủy kịp thời.
Nghiêm cấm sử dụng thông tin,
tài liệu, chứng cứ thu thập được vào mục đích khác.
2. Thông tin, tài liệu thu thập
được bằng việc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt có thể dùng làm chứng
cứ để giải quyết vụ án.
3. Cơ quan điều tra có trách
nhiệm thông báo ngay kết quả việc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
cho Viện trưởng Viện kiểm sát đã phê chuẩn.
Điều 228.
Hủy bỏ việc áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
Viện trưởng Viện kiểm sát đã
phê chuẩn quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt phải kịp thời
hủy bỏ quyết định đó khi thuộc một trong các trường hợp:
1. Có đề nghị bằng văn bản của
Thủ trưởng Cơ quan điều tra có thẩm quyền;
2. Có vi phạm trong quá trình
áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt;
3. Không cần thiết tiếp tục áp
dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.
Chương
XVII
TẠM ĐÌNH CHỈ ĐIỀU TRA
VÀ KẾT THÚC ĐIỀU TRA
Điều 229.
Tạm đình chỉ điều tra
1. Cơ quan điều tra ra quyết định
tạm đình chỉ điều tra khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Khi chưa xác định được bị
can hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu nhưng đã hết thời hạn điều tra vụ án.
Trường hợp không biết rõ bị can đang ở đâu, Cơ quan điều tra phải ra quyết định
truy nã trước khi tạm đình chỉ điều tra;
b) Khi có kết luận giám định tư
pháp xác định bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo thì có thể tạm đình
chỉ điều tra trước khi hết thời hạn điều tra;
c) Khi trưng cầu giám định, yêu
cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp chưa có kết quả
nhưng đã hết thời hạn điều tra. Trong trường hợp này, việc giám định, định giá
tài sản, tương trợ tư pháp vẫn tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả;
d)[127] Khi không thể kết thúc điều tra vì lý do bất khả
kháng do thiên tai, dịch bệnh nhưng đã hết thời hạn điều tra.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng
và thủ trưởng các cơ quan khác có liên quan quy định chi tiết điểm này.
2. Trường hợp vụ án có nhiều bị
can mà lý do tạm đình chỉ điều tra không liên quan đến tất cả bị can thì có thể
tạm đình chỉ điều tra đối với từng bị can.
3. Trong thời hạn 02 ngày kể từ
ngày ra quyết định tạm đình chỉ điều tra, Cơ quan điều tra phải gửi quyết định
này cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[128],
bị can, người bào chữa hoặc người đại diện của bị can; thông báo cho bị hại,
đương sự và người bảo vệ quyền lợi của họ.
Điều 230.
Đình chỉ điều tra
1. Cơ quan điều tra ra quyết định
đình chỉ điều tra khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Có một trong các căn cứ quy
định tại khoản 2 Điều 155 và Điều 157 của Bộ luật này hoặc
có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 của Bộ luật Hình sự hoặc người chưa
thành niên được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng theo quy định của Luật Tư
pháp người chưa thành niên[129];
b) Đã hết thời hạn điều tra vụ
án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm.
2. Quyết định đình chỉ điều tra
ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết định, lý do và căn cứ đình chỉ điều tra, việc
hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, trả lại tài liệu, đồ vật đã tạm
giữ (nếu có), việc xử lý vật chứng và những vấn đề khác có liên quan.
Trường hợp vụ án có nhiều bị
can mà căn cứ để đình chỉ điều tra không liên quan đến tất cả bị can thì có thể
đình chỉ điều tra đối với từng bị can.
3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được quyết định đình chỉ điều tra kèm theo hồ sơ vụ án của Cơ quan điều
tra, nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra có căn cứ thì Viện kiểm sát phải trả
lại hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra để giải quyết theo thẩm quyền; nếu thấy
quyết định đình chỉ điều tra không có căn cứ thì hủy bỏ quyết định đình chỉ điều
tra và yêu cầu Cơ quan điều tra phục hồi điều tra; nếu thấy đủ căn cứ để truy tố
thì hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra và ra quyết định truy tố theo thời hạn,
trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật này.
Điều 231.
Truy nã bị can
1. Khi bị can trốn hoặc không
biết rõ bị can đang ở đâu thì Cơ quan điều tra phải ra quyết định truy nã bị
can.
2. Quyết định truy nã ghi rõ họ
tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của bị can, đặc điểm để nhận dạng bị
can, tội phạm mà bị can đã bị khởi tố và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này; kèm theo ảnh bị can (nếu
có).
Quyết định truy nã bị can được
gửi cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[130]
và thông báo công khai để mọi người phát hiện, bắt người bị truy nã.
3. Sau khi bắt được bị can theo
quyết định truy nã thì Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã phải ra quyết
định đình nã. Quyết định đình nã được gửi cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[131] và thông báo công khai.
Điều 232.
Kết thúc điều tra
1. Khi kết thúc điều tra, Cơ
quan điều tra phải ra bản kết luận điều tra.
2. Việc điều tra kết thúc khi
Cơ quan điều tra ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc ra bản kết luận điều
tra và quyết định đình chỉ điều tra.
3. Bản kết luận điều tra ghi rõ
ngày, tháng, năm; họ tên, chức vụ và chữ ký của người ra kết luận.
4. Trong thời hạn 02 ngày kể từ
ngày ra bản kết luận điều tra, Cơ quan điều tra phải giao bản kết luận điều tra
đề nghị truy tố hoặc bản kết luận điều tra kèm theo quyết định đình chỉ điều
tra cùng hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[132]; giao bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết
định đình chỉ điều tra cho bị can hoặc người đại diện của bị can; gửi bản kết
luận điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra cho người bào
chữa; thông báo cho bị hại, đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của họ.
Điều 233.
Kết luận điều tra trong trường hợp đề nghị truy tố[133]
1. Trong trường hợp đề nghị truy
tố thì bản kết luận điều tra ghi rõ diễn biến hành vi phạm tội; chứng cứ xác định
hành vi phạm tội của bị can, thủ đoạn, động cơ, mục đích phạm tội, tính chất, mức
độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện
pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự, đặc điểm nhân thân của bị can; việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật
và việc xử lý vật chứng; nguyên nhân và điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội và
tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án; lý do và căn cứ đề nghị truy tố; tội
danh, điều, khoản, điểm của Bộ luật Hình sự được áp dụng; những ý kiến đề xuất
giải quyết vụ án.
Bản kết luận điều tra phải ghi
rõ ngày, tháng, năm ra kết luận; họ tên, chức vụ và chữ ký của người ra kết luận
điều tra.
2. Cơ quan điều tra có thể kết
luận điều tra đề nghị truy tố bị can khi đã có đủ căn cứ và bảo đảm quyền bào
chữa cho bị can theo quy định của Bộ luật này trong các trường hợp sau:
a) Bị can trốn hoặc không biết
bị can ở đâu và việc truy nã không có kết quả;
b) Bị can đang ở nước ngoài mà
không thể triệu tập để phục vụ các hoạt động điều tra.
3. Trong thời hạn 02 ngày kể từ
ngày ban hành kết luận điều tra đề nghị truy tố đối với bị can quy định tại khoản
2 Điều này, kết luận điều tra phải được niêm yết nếu không thể giao được cho bị
can.
4. Bộ trưởng Bộ Công an chủ
trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết khoản 2 và khoản 3 Điều
này.
Điều 234.
Kết luận điều tra trong trường hợp đình chỉ điều tra
Trong trường hợp đình chỉ điều
tra thì bản kết luận điều tra ghi rõ diễn biến sự việc, quá trình điều tra, lý
do và căn cứ đình chỉ điều tra.
Bản kết luận điều tra phải ghi
rõ ngày, tháng, năm ra kết luận; họ tên, chức vụ và chữ ký của người ra kết luận
điều tra.
Quyết định đình chỉ điều tra
ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết định, lý do và căn cứ đình chỉ điều tra, việc
hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, trả lại tài liệu, đồ vật đã tạm
giữ (nếu có), việc xử lý vật chứng và các vấn đề khác có liên quan.
Điều 235.
Phục hồi điều tra
1. Khi có lý do để hủy bỏ quyết
định đình chỉ điều tra hoặc quyết định tạm đình chỉ điều tra thì Cơ quan điều
tra ra quyết định phục hồi điều tra, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm
hình sự.
Nếu việc điều tra bị đình chỉ
theo quy định tại khoản 5 và khoản 6 Điều 157 của Bộ luật này
mà bị can không đồng ý và yêu cầu điều tra lại thì Cơ quan điều tra hoặc Viện
kiểm sát có thẩm quyền[134] ra
quyết định phục hồi điều tra.
2. Trong thời hạn 02 ngày kể từ
ngày ra quyết định phục hồi điều tra, Cơ quan điều tra phải gửi quyết định này
cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[135],
bị can, người bào chữa hoặc người đại diện của bị can; thông báo cho bị hại,
đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Phần thứ
ba
TRUY TỐ
Chương
XVIII
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 236.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn
truy tố
1. Quyết định áp dụng, thay đổi,
hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; yêu cầu Cơ quan điều tra truy
nã bị can.
2. Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá
nhân cung cấp tài liệu liên quan đến vụ án trong trường hợp cần thiết.
3. Trực tiếp tiến hành một số
hoạt động điều tra nhằm kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ để quyết định việc
truy tố hoặc khi Tòa án yêu cầu điều tra bổ sung mà xét thấy không cần thiết phải
trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra.
4. Quyết định khởi tố, quyết định
thay đổi, quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án, bị can trong trường hợp
phát hiện còn có hành vi phạm tội, người phạm tội khác trong vụ án chưa được khởi
tố, điều tra.
5. Quyết định trả hồ sơ cho Cơ
quan điều tra để yêu cầu điều tra bổ sung.
6. Quyết định tách, nhập vụ án;
chuyển vụ án để truy tố theo thẩm quyền, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện
pháp bắt buộc chữa bệnh.
7. Quyết định gia hạn, không
gia hạn thời hạn truy tố, thời hạn áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp
cưỡng chế.
8. Quyết định truy tố.
9. Quyết định đình chỉ, tạm
đình chỉ vụ án; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án đối với bị can; quyết định
phục hồi vụ án, quyết định phục hồi vụ án đối với bị can.
10. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
khác để quyết định việc truy tố theo quy định của Bộ luật này.
Điều 237.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát trong giai đoạn truy tố
1. Khi kiểm sát trong giai đoạn
truy tố, Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Kiểm sát hoạt động tố tụng
hình sự của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật;
b) Kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu
quan áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật;
c) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
khác để kiểm sát trong giai đoạn truy tố theo quy định của Bộ luật này.
2. Trong thời hạn 10 ngày kể từ
ngày nhận được yêu cầu, kiến nghị quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này,
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo việc thực hiện
yêu cầu, kiến nghị cho Viện kiểm sát.
Điều 238.
Giao, nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra
1. Khi Cơ quan điều tra, cơ
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giao hồ sơ vụ án
kèm theo bản kết luận điều tra đề nghị truy tố và vật chứng (nếu có) thì Viện
kiểm sát phải kiểm tra và xử lý như sau:
a) Trường hợp tài liệu trong hồ
sơ vụ án, vật chứng kèm theo (nếu có) đã đầy đủ so với bảng kê tài liệu, vật chứng
và bản kết luận điều tra đã được giao cho bị can hoặc người đại diện của bị can
thì nhận hồ sơ vụ án;
b) Trường hợp tài liệu trong hồ
sơ vụ án, vật chứng kèm theo (nếu có) không đủ so với bảng kê tài liệu, vật chứng
hoặc bản kết luận điều tra chưa được giao cho bị can hoặc người đại diện của bị
can thì chưa nhận hồ sơ vụ án và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra bổ sung tài liệu, vật chứng; yêu cầu
giao bản kết luận điều tra cho bị can hoặc người đại diện của bị can.
2. Việc giao, nhận hồ sơ vụ án
và bản kết luận điều tra được lập biên bản theo quy định tại Điều
133 của Bộ luật này và đưa vào hồ sơ vụ án.
Điều 239.
Thẩm quyền truy tố
1.[136] Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định việc truy tố
là Viện kiểm sát đã thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra. Thẩm quyền
truy tố của Viện kiểm sát được xác định theo thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với
vụ án.
Trường hợp vụ án không thuộc thẩm
quyền truy tố của mình, Viện kiểm sát ra ngay quyết định chuyển vụ án cho Viện
kiểm sát có thẩm quyền. Việc chuyển vụ án cho Viện kiểm sát ngoài phạm vi tỉnh,
thành phố hoặc ngoài phạm vi quân khu do Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện
kiểm sát quân sự cấp quân khu quyết định.
Đối với vụ án do Viện kiểm sát
cấp trên thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra thì Viện kiểm sát cấp trên
quyết định việc truy tố. Chậm nhất là 02 tháng trước khi kết thúc điều tra, Viện
kiểm sát cấp trên phải thông báo cho Viện kiểm sát cấp dưới cùng cấp với Tòa
án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án để cử Kiểm sát viên tham gia nghiên cứu hồ
sơ vụ án. Ngay sau khi quyết định truy tố, Viện kiểm sát cấp trên ra quyết định
phân công cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử;
sau khi nhận được hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng, Viện kiểm sát cấp dưới có
thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử theo đúng quy định của Bộ
luật này.
2. Trong thời hạn 03 ngày kể từ
ngày ra quyết định chuyển vụ án, Viện kiểm sát phải thông báo bằng văn bản cho
Cơ quan đã kết thúc điều tra vụ án, bị can hoặc người đại diện của bị can, người
bào chữa, bị hại, người tham gia tố tụng khác.
Việc giao, gửi hồ sơ vụ án kèm
theo bản cáo trạng được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều
240 của Bộ luật này. Trong trường hợp này, thời hạn truy tố được tính từ
ngày Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố nhận được hồ sơ vụ án.
Điều 240.
Thời hạn quyết định việc truy tố
1. Trong thời hạn 20 ngày đối với
tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, 30 ngày đối với tội phạm rất
nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án và bản
kết luận điều tra, Viện kiểm sát phải ra một trong các quyết định:
a) Truy tố bị can trước Tòa án;
b) Trả hồ sơ để yêu cầu điều
tra bổ sung;
c) Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ
án; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với bị can.
Trường hợp cần thiết, Viện trưởng
Viện kiểm sát có thể gia hạn thời hạn quyết định việc truy tố nhưng không quá
10 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 15
ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm đặc
biệt nghiêm trọng.
2. Trong thời hạn 03 ngày kể từ
ngày ra một trong các quyết định quy định tại khoản 1 Điều này, Viện kiểm sát
phải thông báo cho bị can, người bào chữa hoặc người đại diện của bị can, bị hại
biết việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung; giao cho bị can hoặc người đại diện của
bị can và gửi cho Cơ quan điều tra, người bào chữa bản cáo trạng, quyết định
đình chỉ vụ án hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án, quyết định đình chỉ vụ án đối
với bị can hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can; thông báo cho bị
hại, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Việc giao, nhận các văn bản nêu
trên được lập biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật
này và đưa vào hồ sơ vụ án.
Trường hợp vụ án phức tạp thì thời
hạn giao bản cáo trạng, quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định tạm đình chỉ
vụ án cho bị can hoặc người đại diện của bị can có thể kéo dài nhưng không quá
10 ngày.
3. Các quyết định nêu tại khoản
1 Điều này phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát cấp trên. Viện trưởng Viện kiểm
sát cấp trên có quyền rút, đình chỉ, hủy bỏ các quyết định đó nếu thấy không có
căn cứ hoặc trái pháp luật và yêu cầu Viện kiểm sát cấp dưới ra quyết định đúng
pháp luật.
Điều 241.
Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế
Sau khi nhận hồ sơ vụ án và bản
kết luận điều tra, Viện kiểm sát có quyền quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ
biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế theo quy định của Bộ luật này.
Thời hạn áp dụng biện pháp ngăn
chặn trong giai đoạn truy tố không được quá thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 240 của Bộ luật này.
Điều 242.
Nhập hoặc tách vụ án trong giai đoạn truy tố
1. Viện kiểm sát quyết định nhập
vụ án khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Bị can phạm nhiều tội;
b) Bị can phạm tội nhiều lần;
c) Nhiều bị can cùng thực hiện
một tội phạm hoặc cùng với bị can còn có những người khác che giấu tội phạm hoặc
không tố giác tội phạm, tiêu thụ tài sản do bị can phạm tội mà có.
2. Viện kiểm sát quyết định
tách vụ án khi thuộc một trong các trường hợp sau đây nếu xét thấy việc tách đó
không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện và đã có quyết
định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can:
a) Bị can bỏ trốn;
b) Bị can mắc bệnh hiểm nghèo;
c) Bị can bị áp dụng biện pháp
bắt buộc chữa bệnh.
Chương
XIX
QUYẾT ĐỊNH VIỆC TRUY TỐ
BỊ CAN
Điều 243.
Quyết định truy tố bị can[137]
1. Viện kiểm sát quyết định
truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng.
Bản cáo trạng ghi rõ diễn biến
hành vi phạm tội; chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị can, thủ đoạn, động
cơ, mục đích phạm tội, tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra;
việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; tình tiết
tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị can; việc
thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và việc xử lý vật chứng; nguyên nhân và điều
kiện dẫn đến hành vi phạm tội và tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.
Phần kết luận của bản cáo trạng
ghi rõ tội danh và điều, khoản, điểm của Bộ luật Hình sự được áp dụng.
Bản cáo trạng phải ghi rõ ngày,
tháng, năm ra cáo trạng; họ tên, chức vụ và chữ ký của người ra bản cáo trạng.
2. Viện kiểm sát có thể quyết định
truy tố bị can khi đã có đủ căn cứ và bảo đảm quyền bào chữa cho bị can theo
quy định của Bộ luật này trong các trường hợp sau:
a) Bị can trốn hoặc không biết
bị can ở đâu và việc truy nã không có kết quả;
b) Bị can đang ở nước ngoài mà
không thể triệu tập để phục vụ các hoạt động nhằm quyết định việc truy tố.
3. Trong thời hạn 03 ngày kể từ
ngày ra bản cáo trạng theo quy định tại khoản 2 Điều này, cáo trạng phải được
niêm yết nếu không thể giao được cho bị can.
4. Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết khoản 2 và khoản 3 Điều
này.
Điều 244.
Chuyển hồ sơ vụ án và bản cáo trạng đến Tòa án
Trong thời hạn 03 ngày kể từ
ngày ra bản cáo trạng, Viện kiểm sát phải chuyển hồ sơ vụ án và bản cáo trạng đến
Tòa án. Trường hợp vụ án phức tạp thì thời hạn chuyển hồ sơ vụ án và bản cáo trạng
đến Tòa án có thể kéo dài nhưng không quá 10 ngày.
Trường hợp vụ án có bị can bị tạm
giam thì trước khi hết thời hạn tạm giam 07 ngày thì Viện kiểm sát thông báo
cho Tòa án biết để xem xét, quyết định việc tạm giam bị can khi nhận hồ sơ vụ
án.
Điều 245.
Trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung
1. Viện kiểm sát ra quyết định
trả hồ sơ vụ án, yêu cầu Cơ quan điều tra điều tra bổ sung khi thuộc một trong
các trường hợp:
a) Còn thiếu chứng cứ để chứng
minh một trong những vấn đề quy định tại Điều 85 của Bộ luật
này mà Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung được;
b) Có căn cứ khởi tố bị can về
một hay nhiều tội phạm khác;
c) Có người đồng phạm hoặc người
phạm tội khác liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố bị can;
d) Có vi phạm nghiêm trọng thủ
tục tố tụng.
2. Quyết định trả hồ sơ để yêu
cầu điều tra bổ sung phải ghi rõ vấn đề cần điều tra bổ sung quy định tại khoản
1 Điều này và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ
luật này.
3. Cơ quan điều tra có trách
nhiệm thực hiện đầy đủ yêu cầu nêu trong quyết định trả hồ sơ yêu cầu điều tra
bổ sung của Viện kiểm sát; trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại
khách quan mà không thực hiện được thì phải nêu rõ lý do bằng văn bản.
Kết thúc điều tra bổ sung, Cơ
quan điều tra phải có bản kết luận điều tra bổ sung. Bản kết luận điều tra bổ
sung phải ghi rõ kết quả điều tra bổ sung, quan điểm giải quyết vụ án. Nếu kết
quả điều tra bổ sung làm thay đổi cơ bản kết luận điều tra trước đó thì Cơ quan
điều tra phải ra bản kết luận điều tra mới thay thế.
Việc chuyển hồ sơ vụ án kèm
theo kết luận điều tra bổ sung cho Viện kiểm sát; việc giao, nhận, gửi thông
báo kết quả điều tra bổ sung được thực hiện theo quy định tại Điều
232 và Điều 238 của Bộ luật này.
Điều 246.
Giải quyết yêu cầu điều tra bổ sung của Tòa án
Trường hợp Tòa án quyết định trả
hồ sơ vụ án yêu cầu điều tra bổ sung thì Viện kiểm sát phải xem xét căn cứ của
việc yêu cầu điều tra bổ sung và giải quyết như sau:
1. Nếu quyết định trả hồ sơ yêu
cầu điều tra bổ sung có căn cứ mà xét thấy không cần phải trả hồ sơ cho Cơ quan
điều tra thì Viện kiểm sát trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra để bổ
sung tài liệu, chứng cứ; trường hợp Viện kiểm sát không thể tự điều tra bổ sung
được thì Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung và chuyển
ngay hồ sơ cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra.
Trường hợp kết quả điều tra bổ
sung làm thay đổi cơ bản nội dung bản cáo trạng trước đó thì Viện kiểm sát phải
ra bản cáo trạng mới thay thế và chuyển hồ sơ đến Tòa án. Trường hợp kết quả điều
tra bổ sung dẫn đến đình chỉ vụ án thì Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ
án và thông báo cho Tòa án biết;
2. Nếu quyết định trả hồ sơ yêu
cầu điều tra bổ sung không có căn cứ thì Viện kiểm sát có văn bản nêu rõ lý do,
giữ nguyên quyết định truy tố và chuyển lại hồ sơ cho Tòa án.
Điều 247.
Tạm đình chỉ vụ án
1. Viện kiểm sát quyết định tạm
đình chỉ vụ án trong các trường hợp:
a) Khi có kết luận giám định tư
pháp xác định bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo thì có thể tạm đình
chỉ vụ án trước khi hết thời hạn quyết định việc truy tố;
b) Khi bị can bỏ trốn mà không
biết rõ bị can đang ở đâu nhưng đã hết thời hạn quyết định việc truy tố; trong
trường hợp này phải yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can trước khi tạm đình
chỉ vụ án. Việc truy nã bị can được thực hiện theo quy định tại Điều
231 của Bộ luật này;
c) Khi trưng cầu giám định, yêu
cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp mà chưa có kết quả
nhưng đã hết thời hạn quyết định việc truy tố. Trong trường hợp này, việc giám
định, định giá tài sản, tương trợ tư pháp tiếp tục tiến hành cho đến khi có kết
quả;
d)[138] Khi không thể tiến hành các hoạt động tố tụng để quyết
định việc truy tố vì lý do bất khả kháng do thiên tai, dịch bệnh nhưng đã hết
thời hạn quyết định việc truy tố.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng
và thủ trưởng các cơ quan khác có liên quan quy định chi tiết điểm này.
2. Quyết định tạm đình chỉ vụ
án phải ghi rõ lý do, căn cứ tạm đình chỉ vụ án, các vấn đề khác có liên quan
và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.
Trường hợp vụ án có nhiều bị
can mà căn cứ để tạm đình chỉ vụ án không liên quan đến tất cả bị can thì tạm
đình chỉ vụ án đối với từng bị can.
Điều 248.
Đình chỉ vụ án
1. Viện kiểm sát quyết định
không truy tố và ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong các căn cứ quy định
tại khoản 2 Điều 155 và Điều 157 của Bộ luật này hoặc có
căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 của Bộ luật Hình sự hoặc người chưa
thành niên được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng theo quy định của Luật Tư
pháp người chưa thành niên[139].
2. Quyết định đình chỉ vụ án phải
ghi rõ lý do và căn cứ đình chỉ vụ án, việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện
pháp cưỡng chế, xử lý vật chứng, tài liệu, đồ vật đã tạm giữ (nếu có), các vấn
đề khác có liên quan và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều
132 của Bộ luật này.
Trường hợp vụ án có nhiều bị
can mà căn cứ đình chỉ vụ án không liên quan đến tất cả các bị can thì quyết định
đình chỉ vụ án đối với từng bị can.
Điều 249.
Phục hồi vụ án
1. Khi có lý do để hủy bỏ quyết
định đình chỉ vụ án hoặc quyết định tạm đình chỉ vụ án thì Viện kiểm sát ra quyết
định phục hồi vụ án nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu vụ
án bị đình chỉ theo quy định tại khoản 5 và khoản 6 Điều 157 của
Bộ luật này mà bị can không đồng ý và yêu cầu phục hồi vụ án thì Viện kiểm
sát ra quyết định phục hồi vụ án. Có thể phục hồi đối với toàn bộ vụ án hoặc phục
hồi vụ án đối với từng bị can.
2. Quyết định phục hồi vụ án phải
ghi rõ lý do và căn cứ phục hồi vụ án, các vấn đề khác có liên quan và các nội
dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.
3. Trong thời hạn 03 ngày kể từ
ngày ra quyết định, Viện kiểm sát phải giao quyết định phục hồi vụ án hoặc quyết
định phục hồi vụ án đối với bị can cho bị can hoặc người đại diện của bị can; gửi
cho cơ quan đã kết thúc điều tra vụ án, người bào chữa; thông báo cho bị hại,
đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Việc giao, nhận quyết định phục
hồi vụ án, quyết định phục hồi vụ án đối với bị can được lập biên bản và đưa
vào hồ sơ vụ án.
4. Thời hạn quyết định việc
truy tố khi phục hồi vụ án được tính theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật
này kể từ ngày Viện kiểm sát ra quyết định phục hồi vụ án.
5. Khi phục hồi vụ án, Viện kiểm
sát có quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế
theo quy định của Bộ luật này.
Trường hợp có căn cứ theo quy định
của Bộ luật này cần phải tạm giam thì thời hạn tạm giam để phục hồi vụ án không
được quá thời hạn quyết định việc truy tố.
Phần thứ
tư
XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ
Chương
XX
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 250.
Xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục
1. Việc xét xử được tiến hành bằng
lời nói.
Hội đồng xét xử phải trực tiếp
xác định những tình tiết của vụ án bằng cách hỏi, nghe ý kiến của bị cáo, bị hại,
đương sự hoặc người đại diện của họ, người làm chứng, người giám định, người
khác tham gia phiên tòa được Tòa án triệu tập; xem xét, kiểm tra tài liệu, chứng
cứ đã thu thập; công bố biên bản, tài liệu và tiến hành hoạt động tố tụng khác
để kiểm tra chứng cứ; nghe ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự.
2. Việc xét xử được tiến hành
liên tục, trừ thời gian nghỉ và thời gian tạm ngừng phiên tòa.
Điều 251.
Tạm ngừng phiên tòa
1. Việc xét xử có thể tạm ngừng
khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Cần phải xác minh, thu thập,
bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật mà không thể thực hiện ngay tại phiên tòa và
có thể thực hiện được trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày tạm ngừng phiên tòa;
b) Do tình trạng sức khỏe, sự
kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng hoặc người tham gia tố tụng không thể tiếp tục tham gia phiên tòa nhưng họ
có thể tham gia lại phiên tòa trong thời gian 05 ngày, kể từ ngày tạm ngừng
phiên tòa;
c) Vắng mặt Thư ký Tòa án tại
phiên tòa.
2. Việc tạm ngừng phiên tòa phải
được ghi vào biên bản phiên tòa và thông báo cho những người tham gia tố tụng
biết. Thời hạn tạm ngừng phiên tòa không quá 05 ngày kể từ ngày quyết định tạm
ngừng phiên tòa. Hết thời hạn tạm ngừng phiên tòa, việc xét xử vụ án được tiếp
tục. Trường hợp không thể tiếp tục xét xử vụ án thì phải hoãn phiên tòa.
Điều 252.
Tòa án xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ
Tòa án tiến hành việc xác minh,
thu thập, bổ sung chứng cứ bằng các hoạt động:
1. Tiếp nhận chứng cứ, tài liệu,
đồ vật liên quan đến vụ án do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp;
2. Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá
nhân cung cấp tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án;
3. Xem xét tại chỗ vật chứng
không thể đưa đến phiên tòa;
4. Xem xét tại chỗ nơi đã xảy ra
tội phạm hoặc địa điểm khác có liên quan đến vụ án;
5. Trưng cầu giám định, yêu cầu
định giá tài sản ngoài các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định, cần định
giá tài sản quy định tại Điều 206 và Điều 215 của Bộ luật này;
trưng cầu giám định bổ sung, giám định lại; yêu cầu định giá lại tài sản;
6. Trường hợp Tòa án đã yêu cầu
Viện kiểm sát bổ sung chứng cứ nhưng Viện kiểm sát không bổ sung được thì Tòa
án có thể tiến hành xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ để giải quyết vụ án.
Điều 253.
Tiếp nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án
1. Khi cơ quan, tổ chức, cá
nhân cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án thì Thẩm phán chủ
tọa phiên tòa phải tiếp nhận và có thể hỏi người đã cung cấp về những vấn đề có
liên quan đến chứng cứ, tài liệu, đồ vật đó. Việc tiếp nhận được lập biên bản.
2. Ngay sau khi nhận được chứng
cứ, tài liệu, đồ vật do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thì Tòa án phải chuyển
cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng
cứ, tài liệu, đồ vật, Viện kiểm sát phải xem xét và chuyển lại cho Tòa án để
đưa vào hồ sơ vụ án.
Điều 254.
Thành phần Hội đồng xét xử
1. Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm
một Thẩm phán và hai Hội thẩm. Trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức
tạp thì Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm.
Đối với vụ án có bị cáo về tội
mà Bộ luật Hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là tù chung thân,
tử hình thì Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm.
2. Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm
ba Thẩm phán.
Điều 255.
Quyết định đưa vụ án ra xét xử
1. Quyết định đưa vụ án ra xét
xử sơ thẩm ghi rõ:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;
tên Tòa án ra quyết định; giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm mở phiên tòa;
b) Xét xử công khai hay xét xử
kín;
c) Họ tên, ngày, tháng, năm
sinh, nơi sinh, nghề nghiệp, nơi cư trú của bị cáo;
d) Tội danh và điểm, khoản, điều
của Bộ luật Hình sự mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo;
đ) Họ tên Thẩm phán, Hội thẩm,
Thư ký Tòa án; họ tên Thẩm phán dự khuyết, Hội thẩm dự khuyết, Thư ký Tòa án dự
khuyết (nếu có);
e) Họ tên Kiểm sát viên thực
hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa; họ tên Kiểm sát viên dự khuyết
(nếu có);
g) Họ tên người bào chữa (nếu
có);
h) Họ tên người phiên dịch (nếu
có);
i) Họ tên những người khác được
triệu tập đến phiên tòa;
k) Vật chứng cần đưa ra xem xét
tại phiên tòa.
2. Quyết định đưa vụ án ra xét
xử phúc thẩm ghi rõ các nội dung quy định tại các điểm a, b, e, g, h, i và k khoản
1 Điều này; tội danh và hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định; họ tên
người kháng cáo, người bị kháng cáo, người bị kháng nghị; Viện kiểm sát kháng
nghị; họ tên Thẩm phán, Thư ký Tòa án; họ tên Thẩm phán dự khuyết, Thư ký Tòa
án dự khuyết (nếu có).
Điều 256.
Nội quy phiên tòa
1. Mọi người vào phòng xử án phải
mặc trang phục nghiêm túc, chấp hành việc kiểm tra an ninh và thực hiện đúng hướng
dẫn của Thư ký Tòa án.
2. Mọi người trong phòng xử án
phải tôn trọng Hội đồng xét xử, giữ gìn trật tự và tuân theo sự điều hành của
chủ tọa phiên tòa.
3. Mọi người trong phòng xử án
phải đứng dậy khi Hội đồng xét xử vào phòng xử án và khi tuyên án. Bị cáo phải
đứng khi Kiểm sát viên công bố cáo trạng hoặc quyết định truy tố. Người được
Tòa án triệu tập đến phiên tòa muốn trình bày ý kiến phải được chủ tọa phiên
tòa đồng ý; người trình bày ý kiến phải đứng khi trình bày ý kiến, khi được hỏi.
Những người vì lý do sức khỏe
có thể được chủ tọa phiên tòa cho phép ngồi.
4. Tại phiên tòa, bị cáo đang bị
tạm giam chỉ được tiếp xúc với người bào chữa cho mình. Việc tiếp xúc với những
người khác phải được chủ tọa phiên tòa cho phép.
5. Người dưới 16 tuổi không được
vào phòng xử án, trừ trường hợp được Tòa án triệu tập đến phiên tòa.
Điều 257.
Phòng xử án
1. Phòng xử án phải được bố trí
thể hiện sự trang nghiêm, an toàn, bảo đảm sự bình đẳng giữa người thực hành
quyền công tố và luật sư, người bào chữa khác.
2. Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao quy định chi tiết Điều này.
Điều 258.
Biên bản phiên tòa
1. Biên bản phiên tòa phải ghi
rõ giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm mở phiên tòa và mọi diễn biến tại phiên tòa
từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc phiên tòa. Cùng với việc ghi biên bản, có
thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh về diễn biến phiên tòa.
2. Các câu hỏi, câu trả lời, lời
trình bày và quyết định tại phiên tòa đều được ghi vào biên bản.
3. Ngay sau khi kết thúc phiên
tòa, chủ tọa phiên tòa phải kiểm tra biên bản và cùng với Thư ký Tòa án ký vào
biên bản đó.
4. Sau khi chủ tọa phiên tòa và
Thư ký Tòa án ký vào biên bản phiên tòa, Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa,
bị hại, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự
hoặc đại diện của những người đó được xem biên bản phiên tòa. Nếu có người yêu
cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa thì Thư ký Tòa án phải
ghi sửa đổi, bổ sung đó vào biên bản phiên tòa. Không được tẩy xóa, sửa chữa trực
tiếp mà phải ghi sửa đổi, bổ sung tiếp vào cuối biên bản phiên tòa và cùng chủ
tọa phiên tòa ký xác nhận; nếu chủ tọa phiên tòa không chấp nhận yêu cầu thì phải
nêu rõ lý do và ghi vào biên bản phiên tòa.
Điều 259.
Biên bản nghị án
1. Khi nghị án phải lập biên bản.
Biên bản nghị án phải được tất
cả thành viên Hội đồng xét xử ký tại phòng nghị án trước khi tuyên án.
2. Biên bản nghị án của Hội đồng
xét xử sơ thẩm phải ghi rõ:
a) Giờ, ngày, tháng, năm ra
biên bản; tên Tòa án xét xử;
b) Họ tên Thẩm phán, Hội thẩm;
c) Vụ án được đưa ra xét xử;
d) Kết quả biểu quyết của Hội đồng
xét xử về từng vấn đề đã thảo luận quy định tại khoản 3 Điều
326 của Bộ luật này, ý kiến khác (nếu có).
3. Biên bản nghị án của Hội đồng
xét xử phúc thẩm phải ghi rõ các điểm a, c và d khoản 2 Điều này và họ tên các
Thẩm phán.
Điều 260.
Bản án
1. Tòa án ra bản án nhân danh
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Bản án phải có chữ ký của tất cả
thành viên Hội đồng xét xử.
2. Bản án sơ thẩm phải ghi rõ:
a) Tên Tòa án xét xử sơ thẩm; số
và ngày thụ lý vụ án; số của bản án và ngày tuyên án; họ tên của các thành viên
Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên; họ tên, ngày, tháng, năm sinh,
nơi sinh, nơi cư trú, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, dân tộc, tiền án, tiền sự
của bị cáo; ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam; họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi
sinh, nơi cư trú của người đại diện của bị cáo; họ tên của người bào chữa, người
làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch
thuật và những người khác được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa; họ tên, tuổi,
nghề nghiệp, nơi cư trú của bị hại, đương sự, người đại diện của họ; số, ngày,
tháng, năm của quyết định đưa vụ án ra xét xử; xét xử công khai hoặc xét xử
kín; thời gian và địa điểm xét xử;
b) Số, ngày, tháng, năm của bản
cáo trạng hoặc quyết định truy tố; tên Viện kiểm sát truy tố; hành vi của bị
cáo theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố; tội danh, điểm, khoản, điều của Bộ
luật Hình sự và mức hình phạt, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, trách nhiệm
bồi thường thiệt hại mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo; xử lý vật
chứng;
c) Ý kiến của người bào chữa, bị
hại, đương sự, người khác tham gia phiên tòa được Tòa án triệu tập;
d) Nhận định của Hội đồng xét xử
phải phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội,
xác định bị cáo có tội hay không và nếu bị cáo có tội thì là tội gì, theo điểm,
khoản, điều nào của Bộ luật Hình sự và của văn bản quy phạm pháp luật khác được
áp dụng, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và cần phải
xử lý như thế nào. Nếu bị cáo không có tội thì bản án phải ghi rõ những căn cứ
xác định bị cáo không có tội và việc giải quyết khôi phục danh dự, quyền và lợi
ích hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật;
đ) Phân tích lý do mà Hội đồng
xét xử không chấp nhận những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội, yêu cầu, đề
nghị của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, bị hại, đương sự và người đại
diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ đưa ra;
e) Phân tích tính hợp pháp của
các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa
trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử;
g) Quyết định của Hội đồng xét
xử về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về án phí và quyền kháng cáo đối
với bản án. Trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì ghi rõ quyết định
đó.
3. Bản án phúc thẩm phải ghi
rõ:
a) Tên Tòa án xét xử phúc thẩm;
số và ngày thụ lý vụ án; số của bản án và ngày tuyên án; họ tên của các thành
viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên; họ tên, ngày, tháng, năm
sinh, nơi sinh, nơi cư trú, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, dân tộc, tiền án, tiền
sự của bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo, bị kháng nghị và những bị cáo không
kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị nhưng Tòa án cấp phúc thẩm
có xem xét; ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam; họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi
sinh, nơi cư trú của người đại diện của bị cáo; họ tên của người bào chữa, người
giám định, người phiên dịch và những người khác được Tòa án triệu tập tham gia
phiên tòa; họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi cư trú, địa chỉ của bị hại, đương sự,
người đại diện của họ; tên của Viện kiểm sát có kháng nghị; xét xử công khai hoặc
xét xử kín; thời gian và địa điểm xét xử;
b) Tóm tắt nội dung vụ án, quyết
định trong bản án sơ thẩm; nội dung kháng cáo, kháng nghị; nhận định của Hội đồng
xét xử phúc thẩm, những căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng cáo,
kháng nghị; điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự và của văn bản quy phạm pháp
luật khác mà Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ để giải quyết vụ án;
c) Quyết định của Hội đồng xét
xử phúc thẩm về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án do có kháng cáo, kháng
nghị, về án phí sơ thẩm, phúc thẩm.
Điều 261.
Sửa chữa, bổ sung bản án
1. Không được sửa chữa, bổ sung
bản án trừ trường hợp phát hiện có lỗi rõ ràng về chính tả, số liệu do nhầm lẫn
hoặc do tính toán sai.
Việc sửa chữa, bổ sung bản án
không được làm thay đổi bản chất vụ án hoặc bất lợi cho bị cáo và những người
tham gia tố tụng khác.
Việc sửa chữa, bổ sung bản án
được thể hiện bằng văn bản và giao ngay cho những người được quy định tại Điều 262 của Bộ luật này.
2. Việc sửa chữa, bổ sung bản
án quy định tại khoản 1 Điều này do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa đã ra bản án,
quyết định thực hiện. Trường hợp Thẩm phán chủ tọa phiên tòa không thể thực hiện
được thì việc sửa chữa, bổ sung bản án do Chánh án Tòa án đã xét xử vụ án đó thực
hiện.
Điều 262.
Giao, gửi bản án
1. Trong thời hạn 10 ngày kể từ
ngày tuyên án, Tòa án cấp sơ thẩm phải giao bản án cho bị cáo, bị hại, Viện kiểm
sát cùng cấp, người bào chữa; gửi bản án cho bị cáo bị xét xử vắng mặt quy định
tại điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật này, Viện kiểm sát
cấp trên trực tiếp, Cơ quan điều tra có thẩm quyền[140], cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Trại tạm
giam, Trại giam nơi đang giam giữ bị cáo; thông báo bằng văn bản cho Ủy ban
nhân dân cấp xã[141] nơi bị cáo
cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi bị cáo làm việc, học tập; cấp bản sao bản án
hoặc trích lục bản án về những phần có liên quan cho đương sự hoặc người đại diện
của họ.
Trường hợp xét xử vắng mặt bị
cáo theo quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản 2 Điều 290 của Bộ
luật này thì trong thời hạn nêu trên, bản án phải được niêm yết tại trụ sở Ủy
ban nhân dân cấp xã[142] nơi cư
trú cuối cùng hoặc cơ quan, tổ chức nơi làm việc, học tập cuối cùng của bị
cáo.
Tòa án cấp sơ thẩm gửi bản án
cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong trường hợp bản án sơ thẩm có
tuyên hình phạt tiền, tịch thu tài sản và quyết định dân sự theo quy định của
Luật Thi hành án dân sự.
2.[143] Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc kể từ
ngày ra quyết định, Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi bản án hoặc quyết định phúc
thẩm cho Viện kiểm sát cùng cấp; cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền; Cơ
quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án nơi đã xét xử sơ thẩm; Trại tạm giam, Trại
giam nơi đang giam giữ bị cáo; người đã kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị hoặc người đại diện của họ; cơ quan
thi hành án dân sự có thẩm quyền trong trường hợp bản án phúc thẩm có tuyên
hình phạt tiền, tịch thu tài sản và quyết định dân sự; thông báo bằng văn bản
cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi làm việc, học tập
của bị cáo. Trường hợp Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án quân sự
trung ương xét xử phúc thẩm thì thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá 25
ngày.
Điều 263.
Phiên dịch tại phiên tòa
1. Trường hợp bị cáo, bị hại,
đương sự, người làm chứng không biết tiếng Việt, là người câm, người điếc thì
người phiên dịch phải dịch cho họ nghe, hiểu lời trình bày, các câu hỏi, câu trả
lời tại phiên tòa, nội dung quyết định của Hội đồng xét xử và các vấn đề khác
có liên quan đến họ.
2. Người phiên dịch phải dịch lời
trình bày, câu hỏi, câu trả lời của những người quy định tại khoản 1 Điều này
ra tiếng Việt cho Hội đồng xét xử và người khác tham gia phiên tòa cùng nghe.
Điều 264.
Kiến nghị sửa chữa thiếu sót, vi phạm trong công tác quản lý
1. Cùng với việc ra bản án,
Tòa án ra kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng biện pháp cần thiết để khắc
phục nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm tại các cơ quan, tổ chức đó.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị của Tòa án, cơ quan, tổ
chức nhận được kiến nghị phải thông báo bằng văn bản cho Tòa án biết về những
biện pháp được áp dụng.
2. Kiến nghị của Tòa án có thể
được đọc tại phiên tòa cùng với bản án hoặc chỉ gửi riêng cho cơ quan, tổ chức
hữu quan.
Điều 265.
Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý văn bản pháp luật
Trong quá trình xét xử vụ án
hình sự, Tòa án phát hiện và kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi,
bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của
Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để bảo đảm quyền
và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Việc xem xét, trả lời Tòa án về
kết quả xử lý văn bản pháp luật bị kiến nghị được thực hiện theo quy định của
pháp luật.
Điều 266.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn
xét xử
1. Khi thực hành quyền công tố
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Công bố cáo trạng, công bố
quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, quyết định khác về việc buộc tội đối với
bị cáo tại phiên tòa;
b) Xét hỏi, xem xét vật chứng,
xem xét tại chỗ;
c) Luận tội, tranh luận, rút một
phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố; kết luận về tội khác bằng hoặc nhẹ hơn;
phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa;
d) Kháng nghị bản án, quyết định
của Tòa án trong trường hợp oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội;
đ) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
khác khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm theo quy định của
Bộ luật này.
2. Khi thực hành quyền công tố
trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Trình bày ý kiến về nội dung
kháng cáo, kháng nghị;
b) Bổ sung chứng cứ mới;
c) Bổ sung, thay đổi kháng nghị;
rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị;
d) Xét hỏi, xem xét vật chứng,
xem xét tại chỗ;
đ) Phát biểu quan điểm của Viện
kiểm sát về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa, phiên họp;
e) Tranh luận với bị cáo, người
bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa;
g) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
khác khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử phúc thẩm theo quy định
của Bộ luật này.
Điều 267.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát xét xử
1. Kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong việc xét xử vụ án hình sự của Tòa án.
2. Kiểm sát việc tuân theo pháp
luật của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật.
3. Kiểm sát bản án, quyết định,
văn bản tố tụng khác của Tòa án.
4. Yêu cầu Tòa án cùng cấp, cấp
dưới chuyển hồ sơ vụ án hình sự để xem xét, quyết định việc kháng nghị.
5. Kháng nghị bản án, quyết định
của Tòa án có vi phạm pháp luật nghiêm trọng về thủ tục tố tụng.
6. Kiến nghị, yêu cầu Tòa án,
cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật
này; kiến nghị Tòa án khắc phục vi phạm trong hoạt động tố tụng.
7. Kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu
quan áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật trong hoạt động
quản lý.
8. Thực hiện quyền yêu cầu, kiến
nghị, nhiệm vụ, quyền hạn khác khi kiểm sát xét xử vụ án hình sự theo quy định
của Bộ luật này.
Chương
XXI
XÉT XỬ SƠ THẨM
Mục I. THẨM
QUYỀN CỦA TÒA ÁN CÁC CẤP
Điều 268.
Thẩm quyền xét xử của Tòa án[144]
1. Tòa án nhân dân khu vực xét
xử sơ thẩm những vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng,
tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà mức cao nhất của
khung hình phạt do Bộ luật Hình sự quy định đến 20 năm tù.
2. Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét
xử sơ thẩm những vụ án:
a) Vụ án hình sự về các tội phạm
không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực;
b) Vụ án hình sự thuộc thẩm quyền
xét xử của Tòa án nhân dân khu vực nhưng có nhiều tình tiết phức tạp, liên quan
đến nhiều cấp, nhiều ngành, dư luận xã hội đặc biệt quan tâm; vụ án mà khi xử
lý có ảnh hưởng đến chính trị, đối ngoại; vụ án mà người phạm tội là cán bộ
lãnh đạo chủ chốt từ cấp tỉnh trở lên, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có
uy tín cao trong dân tộc thiểu số.
Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao chủ trì, phối hợp với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định
chi tiết điểm này.
3. Tòa án quân sự khu vực xét xử
sơ thẩm những vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng
và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ tội phạm, vụ án:
a) Các tội xâm phạm an ninh quốc
gia;
b) Các tội phá hoại hòa bình,
chống loài người và tội phạm chiến tranh;
c) Các tội quy định tại các điều
123, 125, 126, 227, 277, 278, 279, 280, 282, 283, 284, 286, 287, 288, 337, 368,
369, 370, 371, 399 và 400 của Bộ luật Hình sự;
d) Các tội phạm được thực hiện ở
ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
đ) Vụ án hình sự có bị cáo, bị
hại, đương sự ở nước ngoài hoặc tài sản có liên quan đến vụ án ở nước ngoài.
4. Tòa án quân sự cấp quân khu
xét xử sơ thẩm những vụ án:
a) Vụ án hình sự về các tội phạm
không thuộc thẩm quyền của Tòa án quân sự khu vực;
b) Vụ án hình sự thuộc thẩm quyền
xét xử của Tòa án quân sự khu vực nhưng có nhiều tình tiết phức tạp khó đánh
giá, thống nhất về tính chất vụ án hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành; vụ
án mà bị cáo là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt
từ cấp tỉnh, Trung đoàn trưởng và tương đương trở lên, người có chức sắc trong
tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc thiểu số.
Điều 269.
Thẩm quyền theo lãnh thổ
1. Tòa án có thẩm quyền xét xử
vụ án hình sự là Tòa án nơi tội phạm được thực hiện. Trường hợp tội phạm được
thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm
thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi kết thúc việc điều tra.
2.[145] Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt Nam
thì Tòa án nhân dân nơi cư trú cuối cùng của bị cáo ở trong nước xét xử theo thẩm
quyền. Nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng ở trong nước của bị cáo thì
tùy từng trường hợp, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định giao cho một
Tòa án nhân dân khu vực thuộc Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, thành phố Đà Nẵng
hoặc Thành phố Hồ Chí Minh hoặc giao cho Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội,
thành phố Đà Nẵng hoặc Thành phố Hồ Chí Minh xét xử.
Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu
thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự thì Tòa án quân sự cấp quân khu xét
xử theo quyết định của Chánh án Tòa án quân sự trung ương.
Điều 270.
Thẩm quyền xét xử tội phạm xảy ra trên tàu bay, tàu biển của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoài không phận hoặc ngoài lãnh hải của Việt
Nam
Tội phạm xảy ra trên tàu bay hoặc
tàu biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang hoạt động ngoài không
phận hoặc ngoài lãnh hải của Việt Nam thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án Việt
Nam nơi có sân bay hoặc bến cảng trở về đầu tiên hoặc nơi tàu bay, tàu biển đó
được đăng ký.
Điều 271.
Việc xét xử bị cáo phạm nhiều tội thuộc thẩm quyền của các Tòa án khác cấp
Khi bị cáo phạm nhiều tội,
trong đó có tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp trên thì Tòa án cấp
trên xét xử toàn bộ vụ án.
Điều 272.
Thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự
1. Tòa án quân sự có thẩm quyền
xét xử:
a) Vụ án hình sự mà bị cáo là
quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị
trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu;
dân quân, tự vệ trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc phối thuộc với Quân đội
nhân dân trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu; công dân được điều động, trưng tập
hoặc hợp đồng vào phục vụ trong Quân đội nhân dân;
b) Vụ án hình sự mà bị cáo
không thuộc đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều này liên quan đến bí mật
quân sự hoặc gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của quân
nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong
thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu hoặc
gây thiệt hại đến tài sản, danh dự, uy tín của Quân đội nhân dân hoặc phạm tội
trong doanh trại quân đội hoặc khu vực quân sự do Quân đội nhân dân quản lý, bảo
vệ.
2. Tòa án quân sự có thẩm quyền
xét xử tất cả tội phạm xảy ra trong địa bàn thiết quân luật.
Điều 273.
Việc xét xử bị cáo phạm nhiều tội thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân và Tòa
án quân sự
Khi vụ án vừa có bị cáo hoặc tội
phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự, vừa có bị cáo hoặc tội phạm
thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân thì thẩm quyền xét xử được thực hiện:
1. Trường hợp có thể tách vụ án
thì Tòa án quân sự xét xử những bị cáo và tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của
Tòa án quân sự; Tòa án nhân dân xét xử những bị cáo và tội phạm thuộc thẩm quyền
xét xử của Tòa án nhân dân;
2. Trường hợp không thể tách vụ
án thì Tòa án quân sự xét xử toàn bộ vụ án.
Điều 274.
Chuyển vụ án trong giai đoạn xét xử
1. Khi vụ án không thuộc thẩm
quyền xét xử của mình thì Tòa án trả hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát đã truy tố để
chuyển đến Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố.
Trong thời hạn 03 ngày kể từ
ngày nhận lại hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát đã truy tố phải ra quyết định chuyển hồ
sơ vụ án đến Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố để giải quyết theo thẩm quyền.
Việc chuyển vụ án ra ngoài phạm vi tỉnh, thành phố[146] hoặc ngoài phạm vi quân khu thực hiện theo quy định tại
Điều 239 của Bộ luật này.
Khi xét thấy vụ án vẫn thuộc thẩm
quyền xét xử của Tòa án đã trả hồ sơ thì Viện kiểm sát chuyển lại hồ sơ vụ án đến
Tòa án kèm theo văn bản nêu rõ lý do; nếu Tòa án xét thấy vụ án vẫn không thuộc
thẩm quyền xét xử của mình thì việc giải quyết tranh chấp thẩm quyền xét xử thực
hiện theo Điều 275 của Bộ luật này. Viện kiểm sát phải thực
hiện theo quyết định của Tòa án có thẩm quyền.
2. Thời hạn truy tố và áp dụng
biện pháp ngăn chặn được thực hiện theo quy định tại Điều 240
và Điều 241 của Bộ luật này.
Điều 275.
Giải quyết việc tranh chấp về thẩm quyền xét xử
1. Việc giải quyết tranh chấp về
thẩm quyền xét xử giữa các Tòa án nhân dân khu vực[147] trong cùng một tỉnh, thành phố[148], giữa các Tòa án quân sự khu vực trong cùng một quân
khu do Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu
quyết định.
2. Việc giải quyết tranh chấp về
thẩm quyền xét xử giữa các Tòa án nhân dân khu vực[149] thuộc các tỉnh, thành phố[150] khác nhau, giữa các Tòa án quân sự khu vực thuộc các
quân khu khác nhau do Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự
cấp quân khu nơi kết thúc việc điều tra quyết định.
3. Việc giải quyết tranh chấp về
thẩm quyền xét xử giữa các Tòa án nhân dân cấp tỉnh, giữa các Tòa án quân sự cấp
quân khu do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án quân sự trung
ương quyết định.
4. Việc giải quyết tranh chấp về
thẩm quyền xét xử giữa Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự do Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao quyết định.
Việc chuyển vụ án để xét xử
theo thẩm quyền được thực hiện theo quy định tại Điều 274 của Bộ
luật này.
Mục II.
CHUẨN BỊ XÉT XỬ
Điều 276.
Nhận hồ sơ vụ án, bản cáo trạng và thụ lý vụ án
1. Khi Viện kiểm sát giao bản
cáo trạng, hồ sơ vụ án và vật chứng kèm theo (nếu có), Tòa án phải kiểm tra và
xử lý:
a) Trường hợp tài liệu trong hồ
sơ vụ án, vật chứng kèm theo (nếu có) đã đầy đủ so với bảng kê tài liệu, vật chứng
và bản cáo trạng đã được giao cho bị can hoặc người đại diện của bị can thì nhận
hồ sơ vụ án;
b) Trường hợp tài liệu trong hồ
sơ vụ án, vật chứng kèm theo (nếu có) không đủ so với bảng kê tài liệu, vật chứng
hoặc bản cáo trạng chưa được giao cho bị can hoặc người đại diện của bị can thì
chưa nhận hồ sơ vụ án và yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, vật chứng; yêu
cầu giao bản cáo trạng cho bị can hoặc người đại diện của bị can.
2. Việc giao, nhận hồ sơ vụ án
và bản cáo trạng được lập biên bản theo quy định tại Điều 133
của Bộ luật này và đưa vào hồ sơ vụ án.
Ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ
án kèm theo bản cáo trạng thì Tòa án phải thụ lý vụ án. Trong thời hạn 03 ngày
kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án phải phân công Thẩm phán chủ tọa phiên
tòa giải quyết vụ án.
Điều 277.
Thời hạn chuẩn bị xét xử
1. Trong thời hạn 30 ngày đối với
tội phạm ít nghiêm trọng, 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, 02 tháng đối với
tội phạm rất nghiêm trọng, 03 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ
ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra một trong các quyết định:
a) Đưa vụ án ra xét xử;
b) Trả hồ sơ để yêu cầu điều
tra bổ sung;
c) Tạm đình chỉ vụ án hoặc đình
chỉ vụ án.
Đối với vụ án phức tạp, Chánh
án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 15
ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 30
ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Việc
gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử phải thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp.
2. Đối với vụ án được trả lại để
yêu cầu điều tra bổ sung thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận lại hồ sơ,
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Trường hợp
phục hồi vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục chung quy định tại Bộ
luật này kể từ ngày Tòa án ra quyết định phục hồi vụ án.
3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp vì
lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Tòa án có thể mở phiên tòa
trong thời hạn 30 ngày.
Điều 278.
Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế
1. Sau khi thụ lý vụ án, Thẩm
phán chủ tọa phiên tòa quyết định việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn
chặn, biện pháp cưỡng chế, trừ việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm
giam do Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quyết định.
2. Thời hạn tạm giam để chuẩn bị
xét xử không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản
1 Điều 277 của Bộ luật này.
3. Đối với bị cáo đang bị tạm
giam mà đến ngày mở phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết, nếu xét thấy cần tiếp tục
tạm giam để hoàn thành việc xét xử thì Hội đồng xét xử ra lệnh tạm giam cho đến
khi kết thúc phiên tòa.
Điều 279.
Giải quyết yêu cầu, đề nghị trước khi mở phiên tòa
1. Trước khi mở phiên tòa, Thẩm
phán chủ tọa phiên tòa phải giải quyết các yêu cầu, đề nghị:
a) Yêu cầu của Kiểm sát viên,
người tham gia tố tụng về việc cung cấp, bổ sung chứng cứ; triệu tập người làm
chứng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác đến
phiên tòa; về việc thay đổi thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án;
b) Đề nghị của bị cáo hoặc người
đại diện của bị cáo, người bào chữa về việc thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn,
biện pháp cưỡng chế;
c) Đề nghị của Kiểm sát viên,
người tham gia tố tụng về việc xét xử theo thủ tục rút gọn, xét xử công khai hoặc
xét xử kín;
d) Đề nghị của người tham gia tố
tụng về việc vắng mặt tại phiên tòa.
2. Nếu xét thấy yêu cầu, đề nghị
có căn cứ thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa giải quyết theo thẩm quyền hoặc thông
báo cho người có thẩm quyền giải quyết theo quy định của Bộ luật này và thông
báo cho người đã yêu cầu, đề nghị biết; nếu không chấp nhận thì thông báo cho họ
bằng văn bản nêu rõ lý do.
Điều 280.
Trả hồ sơ để điều tra bổ sung
1. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa
ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung khi thuộc một
trong các trường hợp:
a) Khi thiếu chứng cứ dùng để
chứng minh một trong những vấn đề quy định tại Điều 85 của Bộ
luật này mà không thể bổ sung tại phiên tòa được;
b) Có căn cứ cho rằng ngoài
hành vi mà Viện kiểm sát đã truy tố, bị can còn thực hiện hành vi khác mà Bộ luật
Hình sự quy định là tội phạm;
c) Có căn cứ cho rằng còn có đồng
phạm khác hoặc có người khác thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội
phạm liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can;
d) Việc khởi tố, điều tra, truy
tố vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng.
2. Trường hợp Viện kiểm sát
phát hiện có căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì Viện kiểm sát có văn bản
đề nghị Tòa án trả hồ sơ.
3. Quyết định trả hồ sơ để điều
tra bổ sung phải ghi rõ những vấn đề cần điều tra bổ sung và gửi cho Viện kiểm
sát kèm theo hồ sơ vụ án trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định.
Nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn
tới việc đình chỉ vụ án thì Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án và thông
báo cho Tòa án biết trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định.
Nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn
tới phải thay đổi quyết định truy tố thì Viện kiểm sát ban hành bản cáo trạng mới
thay thế bản cáo trạng trước đó.
Trường hợp Viện kiểm sát không
bổ sung được những vấn đề mà Tòa án yêu cầu và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố
thì Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
Điều 281.
Tạm đình chỉ vụ án
1. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa
ra quyết định tạm đình chỉ vụ án khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Có căn cứ quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 229 của Bộ luật này;
b) Không biết rõ bị can, bị cáo
đang ở đâu mà đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử; trường hợp này phải yêu cầu Cơ
quan điều tra ra quyết định truy nã bị can, bị cáo trước khi tạm đình chỉ vụ
án. Việc truy nã bị can, bị cáo được thực hiện theo quy định tại Điều 231 của Bộ luật này;
c) Chờ kết quả xử lý văn bản
pháp luật mà Tòa án kiến nghị.
2. Trường hợp vụ án có nhiều bị
can, bị cáo mà căn cứ để tạm đình chỉ không liên quan đến tất cả bị can, bị cáo
thì có thể tạm đình chỉ vụ án đối với từng bị can, bị cáo.
3. Quyết định tạm đình chỉ vụ án
phải ghi rõ lý do tạm đình chỉ và các nội dung quy định tại khoản
2 Điều 132 của Bộ luật này.
Điều 282.
Đình chỉ vụ án
1. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa
ra quyết định đình chỉ vụ án khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Có một trong các căn cứ quy
định tại khoản 2 Điều 155 hoặc các điểm 3, 4, 5, 6 và 7 Điều
157 của Bộ luật này hoặc người chưa thành niên được áp dụng biện pháp xử lý
chuyển hướng theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên[151];
b) Viện kiểm sát rút toàn bộ
quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa.
Trường hợp vụ án có nhiều bị
can, bị cáo mà căn cứ để đình chỉ vụ án không liên quan đến tất cả bị can, bị
cáo thì có thể đình chỉ vụ án đối với từng bị can, bị cáo.
2. Quyết định đình chỉ vụ án phải
ghi rõ lý do đình chỉ và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều
132 của Bộ luật này.
Điều 283.
Phục hồi vụ án
1. Khi có lý do để hủy bỏ quyết
định tạm đình chỉ vụ án hoặc có lý do để hủy bỏ quyết định đình chỉ vụ án nếu
chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì Thẩm phán đã ra quyết định
tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án ra quyết định phục hồi vụ án.
Trường hợp Thẩm phán đã ra quyết
định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án không thể thực hiện được thì Chánh
án ra quyết định phục hồi.
2. Trường hợp tạm đình chỉ,
đình chỉ đối với từng bị can, bị cáo thì ra quyết định phục hồi vụ án đối với từng
bị can, bị cáo.
3. Quyết định phục hồi vụ án phải
ghi rõ lý do phục hồi vụ án và các nội dung quy định tại khoản
2 Điều 132 của Bộ luật này.
4. Khi phục hồi vụ án, Tòa án
có quyền áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế
theo quy định của Bộ luật này.
Trường hợp có căn cứ theo quy định
của Bộ luật này cần phải tạm giam thì thời hạn tạm giam để phục hồi vụ án không
được quá thời hạn chuẩn bị xét xử.
Điều 284.
Yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ
1. Khi xét thấy cần bổ sung tài
liệu, chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án mà không phải trả hồ sơ để điều
tra bổ sung thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung.
2. Yêu cầu bổ sung tài liệu, chứng
cứ phải bằng văn bản, nêu rõ tài liệu, chứng cứ cần bổ sung và gửi cho Viện kiểm
sát cùng cấp trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra văn bản yêu cầu.
3. Trong thời hạn 05 ngày kể từ
ngày nhận được yêu cầu của Tòa án, Viện kiểm sát gửi cho Tòa án tài liệu, chứng
cứ được yêu cầu bổ sung. Trường hợp Viện kiểm sát không bổ sung được tài liệu,
chứng cứ thì Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
Điều 285.
Viện kiểm sát rút quyết định truy tố
Khi xét thấy có một trong các
căn cứ quy định tại Điều 157 của Bộ luật này hoặc có căn cứ
quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29[152]
của Bộ luật Hình sự thì Viện kiểm sát rút quyết định truy tố trước khi mở phiên
tòa và đề nghị Tòa án đình chỉ vụ án.
Điều 286.
Việc giao, gửi quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm
1. Quyết định đưa vụ án ra xét
xử được giao cho bị cáo hoặc người đại diện của họ; gửi cho người bào chữa, bị
hại, đương sự chậm nhất là 10 ngày trước khi mở phiên tòa.
Trường hợp xét xử vắng mặt bị
cáo thì quyết định đưa vụ án ra xét xử được giao cho người bào chữa hoặc người
đại diện của bị cáo; quyết định đưa vụ án ra xét xử còn phải được niêm yết tại
trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã[153]
nơi bị cáo cư trú cuối cùng hoặc cơ quan, tổ chức nơi làm việc, học tập cuối
cùng của bị cáo.
2. Quyết định tạm đình chỉ, quyết
định đình chỉ vụ án, quyết định phục hồi vụ án của Tòa án được giao cho bị can,
bị cáo, bị hại hoặc người đại diện của họ và gửi cho người tham gia tố tụng
khác trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định.
3. Quyết định phân công Thẩm
phán làm chủ tọa phiên tòa, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định đình chỉ,
quyết định tạm đình chỉ, quyết định phục hồi vụ án phải gửi cho Viện kiểm sát
cùng cấp trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định. Quyết định đình chỉ,
quyết định tạm đình chỉ vụ án phải gửi cho Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp
trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định.
4. Quyết định áp dụng, thay đổi,
hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế được giao cho bị can, bị cáo,
Viện kiểm sát cùng cấp, cơ sở giam giữ nơi bị can, bị cáo đang bị tạm giam
trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định.
Điều 287.
Triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên tòa
Căn cứ vào quyết định đưa vụ án
ra xét xử, yêu cầu của Kiểm sát viên, người bào chữa, người tham gia tố tụng
khác, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên
tòa.
Mục III.
QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TÒA
Điều 288.
Sự có mặt của thành viên Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án
1. Phiên tòa chỉ được tiến hành
khi có đủ thành viên Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án. Các thành viên Hội đồng
xét xử phải xét xử vụ án từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc.
2. Trường hợp có Thẩm phán, Hội
thẩm không tiếp tục tham gia xét xử vụ án nhưng có Thẩm phán, Hội thẩm dự khuyết
tham gia phiên tòa từ đầu thì những người này được thay thế làm thành viên Hội
đồng xét xử. Trường hợp Hội đồng xét xử có hai Thẩm phán mà Thẩm phán chủ tọa
phiên tòa không tiếp tục tham gia xét xử được thì Thẩm phán là thành viên Hội đồng
xét xử làm chủ tọa phiên tòa và Thẩm phán dự khuyết được bổ sung làm thành viên
Hội đồng xét xử.
3. Trường hợp không có Thẩm
phán, Hội thẩm dự khuyết để thay thế hoặc phải thay đổi chủ tọa phiên tòa mà
không có Thẩm phán để thay thế theo quy định tại khoản 2 Điều này thì phải hoãn
phiên tòa.
4. Trường hợp Thư ký Tòa án bị
thay đổi hoặc không thể tiếp tục tham gia phiên tòa thì Tòa án vẫn có thể xét xử
vụ án nếu có Thư ký Tòa án dự khuyết; nếu không có người thay thế thì tạm ngừng
phiên tòa.
Điều 289.
Sự có mặt của Kiểm sát viên
1. Kiểm sát viên Viện kiểm sát
cùng cấp phải có mặt để thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên
tòa; nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa. Đối với vụ án có tính
chất nghiêm trọng, phức tạp thì có thể có nhiều Kiểm sát viên. Trường hợp Kiểm
sát viên không thể có mặt tại phiên tòa thì Kiểm sát viên dự khuyết có mặt tại
phiên tòa từ đầu được thay thế để thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại
phiên tòa.
2. Trường hợp Kiểm sát viên bị
thay đổi hoặc không thể tiếp tục thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử mà
không có Kiểm sát viên dự khuyết để thay thế thì Hội đồng xét xử hoãn phiên
tòa.
Điều 290.
Sự có mặt của bị cáo tại phiên tòa
1. Bị cáo phải có mặt tại phiên
tòa theo giấy triệu tập của Tòa án trong suốt thời gian xét xử vụ án; nếu vắng
mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì bị áp giải;
nếu bị cáo vắng mặt vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì phải
hoãn phiên tòa.
Nếu bị cáo bị bệnh tâm thần hoặc
bị bệnh hiểm nghèo thì Hội đồng xét xử tạm đình chỉ vụ án cho đến khi bị cáo có
kết luận khỏi bệnh hoặc có kết luận đủ khả năng nhận thức, đủ khả năng điều khiển
hành vi[154].
Nếu bị cáo trốn thì Hội đồng
xét xử tạm đình chỉ vụ án và yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị cáo.
2. Tòa án chỉ có thể xét xử vắng
mặt bị cáo trong các trường hợp:
a)[155] Bị cáo trốn hoặc không biết bị cáo ở đâu và việc truy
nã không có kết quả;
b) Bị cáo đang ở nước ngoài và
không thể triệu tập đến phiên tòa;
c) Bị cáo đề nghị xét xử vắng mặt
và được Hội đồng xét xử chấp nhận;
d) Nếu sự vắng mặt của bị cáo
không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan và sự vắng mặt của
bị cáo không gây trở ngại cho việc xét xử.
Điều 291.
Sự có mặt của người bào chữa
1. Người bào chữa phải có mặt tại
phiên tòa để bào chữa cho người mà mình đã nhận bào chữa. Người bào chữa có thể
gửi trước bản bào chữa cho Tòa án. Trường hợp người bào chữa vắng mặt lần thứ
nhất vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Tòa án phải hoãn
phiên tòa, trừ trường hợp bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa. Nếu người
bào chữa vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách
quan hoặc được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án vẫn mở
phiên tòa xét xử.
2. Trường hợp chỉ định người
bào chữa quy định tại khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này mà
người bào chữa vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp
bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa.
Điều 292.
Sự có mặt của bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ
1. Nếu bị hại, đương sự hoặc
người đại diện của họ vắng mặt thì tùy trường hợp, Hội đồng xét xử quyết định
hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử.
2. Trường hợp xét thấy sự vắng
mặt của bị hại, đương sự chỉ trở ngại cho việc giải quyết bồi thường thiệt hại
thì Hội đồng xét xử có thể tách việc bồi thường để xét xử sau theo quy định của
pháp luật.
Điều 293.
Sự có mặt của người làm chứng
1. Người làm chứng tham gia
phiên tòa để làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án. Nếu người làm chứng vắng mặt
nhưng trước đó đã có lời khai ở Cơ quan điều tra thì chủ tọa phiên tòa công bố
những lời khai đó. Nếu người làm chứng về những vấn đề quan trọng của vụ án vắng
mặt thì tùy trường hợp, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến
hành xét xử.
2. Trường hợp người làm chứng
được Tòa án triệu tập nhưng cố ý vắng mặt mà không vì lý do bất khả kháng hoặc
không do trở ngại khách quan và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc xét
xử thì Hội đồng xét xử có thể quyết định dẫn giải theo quy định của Bộ luật này.
Điều 294.
Sự có mặt của người giám định, người định giá tài sản
1. Người giám định, người định giá
tài sản tham gia phiên tòa khi được Tòa án triệu tập.
2. Nếu người giám định, người định
giá tài sản vắng mặt thì tùy trường hợp, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên
tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử.
Điều 295.
Sự có mặt của người phiên dịch, người dịch thuật
1. Người phiên dịch, người dịch
thuật tham gia phiên tòa khi được Tòa án triệu tập.
2. Trường hợp người phiên dịch,
người dịch thuật vắng mặt mà không có người khác thay thế thì Hội đồng xét xử
quyết định hoãn phiên tòa.
Điều 296.
Sự có mặt của Điều tra viên và những người khác
Trong quá trình xét xử, khi xét
thấy cần thiết, Hội đồng xét xử có thể triệu tập Điều tra viên, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng đã thụ lý, giải quyết vụ án và những người khác đến
phiên tòa để trình bày các vấn đề liên quan đến vụ án.
Điều 297.
Hoãn phiên tòa
1. Tòa án hoãn phiên tòa khi
thuộc một trong các trường hợp:
a) Có một trong những căn cứ
quy định tại các điều 52, 53, 288, 289,
290, 291, 292, 293, 294 và 295 của Bộ
luật này;
b) Cần phải xác minh, thu thập
bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật mà không thể thực hiện ngay tại phiên tòa;
c) Cần tiến hành giám định bổ
sung, giám định lại;
d) Cần định giá tài sản, định
giá lại tài sản.
Trường hợp hoãn phiên tòa thì vụ
án phải được xét xử lại từ đầu.
2. Thời hạn hoãn phiên tòa sơ
thẩm không được quá 30 ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa.
3. Quyết định hoãn phiên tòa có
các nội dung chính:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;
b) Tên Tòa án và họ tên Thẩm
phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án;
c) Họ tên Kiểm sát viên thực
hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa;
d) Vụ án được đưa ra xét xử;
đ) Lý do của việc hoãn phiên
tòa;
e) Thời gian, địa điểm mở lại
phiên tòa.
4. Quyết định hoãn phiên tòa phải
được chủ tọa phiên tòa thay mặt Hội đồng xét xử ký tên. Trường hợp chủ tọa
phiên tòa vắng mặt hoặc bị thay đổi thì Chánh án Tòa án ra quyết định hoãn
phiên tòa.
Quyết định hoãn phiên tòa phải
được thông báo ngay cho những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa; gửi
cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người vắng mặt tại phiên tòa trong thời hạn
02 ngày kể từ ngày ra quyết định.
Điều 298.
Giới hạn của việc xét xử
1. Tòa án xét xử những bị cáo
và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định
đưa vụ án ra xét xử.
2. Tòa án có thể xét xử bị cáo
theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật
hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố.
3. Trường hợp xét thấy cần xét xử
bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố thì Tòa án trả hồ sơ
để Viện kiểm sát truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện
của bị cáo, người bào chữa biết; nếu Viện kiểm sát vẫn giữ tội danh đã truy tố
thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó.
Điều 299.
Việc ra bản án, quyết định của Tòa án
1. Bản án phải được Hội đồng
xét xử thảo luận và thông qua tại phòng nghị án.
2. Quyết định về việc thay đổi
thành viên Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án, người giám định, người
định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ
vụ án, hoãn phiên tòa, bắt tạm giam hoặc trả tự do cho bị cáo phải được thảo luận,
thông qua tại phòng nghị án và được lập văn bản.
3. Quyết định các vấn đề khác
được Hội đồng xét xử thảo luận và thông qua tại phòng xử án không phải lập văn
bản nhưng phải được ghi vào biên bản phiên tòa.
Mục IV.
THỦ TỤC BẮT ĐẦU PHIÊN TÒA
Điều 300.
Chuẩn bị khai mạc phiên tòa
Trước khi khai mạc phiên tòa,
Thư ký Tòa án phải tiến hành các công việc:
1. Kiểm tra sự có mặt của những
người được Tòa án triệu tập; nếu có người vắng mặt thì phải nêu lý do;
2. Phổ biến nội quy phiên tòa.
Điều 301.
Khai mạc phiên tòa
1. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa
khai mạc phiên tòa và đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử.
2. Thư ký Tòa án báo cáo Hội đồng
xét xử về sự có mặt, vắng mặt của những người được Tòa án triệu tập và lý do vắng
mặt.
3. Chủ tọa phiên tòa kiểm tra lại
sự có mặt của những người có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án
và kiểm tra lý lịch, phổ biến quyền và nghĩa vụ của họ.
Điều 302.
Giải quyết việc đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa
án, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật
Chủ tọa phiên tòa phải hỏi Kiểm
sát viên và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa xem họ có đề nghị
thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án, người giám định,
người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật hay không, lý do của
việc đề nghị thay đổi. Nếu có người đề nghị thì Hội đồng xét xử xem xét, quyết
định.
Điều 303.
Cam đoan của người phiên dịch, người dịch thuật, người giám định, người định
giá tài sản
Sau khi giải thích quyền và
nghĩa vụ cho người phiên dịch, người dịch thuật, người giám định, người định
giá tài sản thì chủ tọa phiên tòa yêu cầu những người này phải cam đoan làm
tròn nhiệm vụ.
Điều 304.
Cam đoan của người làm chứng, cách ly người làm chứng
1. Sau khi giải thích quyền và
nghĩa vụ cho người làm chứng, chủ tọa phiên tòa yêu cầu người làm chứng phải
cam đoan khai trung thực.
2. Trước khi người làm chứng được
hỏi về vụ án, chủ tọa phiên tòa quyết định biện pháp để cho những người làm chứng
không nghe được lời khai của nhau hoặc tiếp xúc với những người có liên quan.
Trường hợp lời khai của bị cáo và người làm chứng có ảnh hưởng lẫn nhau thì chủ
tọa phiên tòa phải quyết định cách ly bị cáo với người làm chứng trước khi hỏi
người làm chứng.
Điều 305.
Giải quyết yêu cầu về xem xét chứng cứ và hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt
Chủ tọa phiên tòa phải hỏi Kiểm
sát viên và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa xem có ai yêu cầu
triệu tập thêm người làm chứng hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng, tài liệu ra xem
xét hay không. Nếu có người tham gia tố tụng vắng mặt hoặc tuy có mặt tại phiên
tòa nhưng vì lý do sức khỏe không thể tham gia tố tụng thì chủ tọa phiên tòa phải
hỏi xem có ai yêu cầu hoãn phiên tòa hay không; nếu có người yêu cầu thì Hội đồng
xét xử xem xét, quyết định.
Mục V. THỦ
TỤC TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA
Điều 306.
Công bố bản cáo trạng
Trước khi tiến hành xét hỏi, Kiểm
sát viên công bố bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung (nếu có). Ý kiến bổ
sung không được làm xấu đi tình trạng của bị cáo.
Điều 307.
Trình tự xét hỏi
1. Hội đồng xét xử phải xác định
đầy đủ những tình tiết về từng sự việc, từng tội trong vụ án và từng người. Chủ
tọa phiên tòa điều hành việc hỏi, quyết định người hỏi trước, hỏi sau theo thứ
tự hợp lý.
2. Khi xét hỏi từng người, chủ
tọa phiên tòa hỏi trước sau đó quyết định để Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát
viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực
hiện việc hỏi.
Người tham gia tố tụng tại
phiên tòa có quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết cần
làm sáng tỏ.
Người giám định, người định giá
tài sản được hỏi về những vấn đề có liên quan đến việc giám định, định giá tài
sản.
3. Khi xét hỏi, Hội đồng xét xử
xem xét vật chứng có liên quan trong vụ án.
Điều 308.
Công bố lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố
1. Nếu người được xét hỏi có mặt
tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên không được công bố lời khai của
họ trong giai đoạn điều tra, truy tố.
2. Chỉ được công bố những lời
khai trong giai đoạn điều tra, truy tố khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Lời khai của người được xét
hỏi tại phiên tòa mâu thuẫn với lời khai của họ trong giai đoạn điều tra, truy
tố;
b) Người được xét hỏi không
khai tại phiên tòa hoặc không nhớ những lời khai của mình trong giai đoạn điều
tra, truy tố;
c) Người được xét hỏi đề nghị
công bố lời khai của họ trong giai đoạn điều tra, truy tố;
d) Người được xét hỏi vắng mặt
hoặc đã chết.
3. Trường hợp đặc biệt cần giữ
bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, giữ bí mật nghề nghiệp,
bí mật kinh doanh, bí mật đời tư của cá nhân, bí mật gia đình theo yêu cầu của
người tham gia tố tụng hoặc tự xét thấy cần thiết thì Hội đồng xét xử không
công bố tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Điều 309.
Hỏi bị cáo
1. Chủ tọa phiên tòa phải quyết
định hỏi riêng từng bị cáo. Nếu lời khai của bị cáo này có thể ảnh hưởng đến lời
khai của bị cáo khác thì chủ tọa phiên tòa phải cách ly họ. Bị cáo bị cách ly
được thông báo lại nội dung lời khai của bị cáo trước và có quyền đặt câu hỏi đối
với bị cáo đó.
2. Bị cáo trình bày ý kiến về bản
cáo trạng và những tình tiết của vụ án. Hội đồng xét xử hỏi thêm về những điểm
mà bị cáo trình bày chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn.
Kiểm sát viên hỏi bị cáo về những
chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội và những tình tiết
khác của vụ án.
Người bào chữa hỏi bị cáo về những
chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa và tình tiết khác của vụ
án.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của bị hại, đương sự hỏi bị cáo về những tình tiết liên quan đến việc bảo
vệ quyền và lợi ích của đương sự.
Những người tham gia tố tụng tại
phiên tòa có quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết liên
quan đến họ.
3. Nếu bị cáo không trả lời các
câu hỏi thì Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự tiếp tục hỏi những người khác và xem
xét vật chứng, tài liệu có liên quan đến vụ án.
Khi được chủ tọa phiên tòa đồng
ý, bị cáo được đặt câu hỏi với bị cáo khác về các vấn đề có liên quan đến bị
cáo.
Điều 310.
Hỏi bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ
Bị hại, đương sự hoặc người đại
diện của họ trình bày những tình tiết của vụ án có liên quan đến họ. Sau đó, Hội
đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của bị hại, đương sự hỏi thêm về những điểm mà họ trình bày chưa đầy đủ hoặc
có mâu thuẫn.
Khi được chủ tọa phiên tòa đồng
ý, bị cáo có thể hỏi bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ về các vấn đề
có liên quan đến bị cáo.
Điều 311.
Hỏi người làm chứng
1. Việc hỏi phải được tiến hành
riêng đối với từng người làm chứng và không để cho những người làm chứng khác
biết được nội dung xét hỏi đó.
2. Khi hỏi người làm chứng, Hội
đồng xét xử phải hỏi rõ về quan hệ giữa họ với bị cáo và các đương sự trong vụ
án. Chủ tọa phiên tòa yêu cầu người làm chứng trình bày rõ những tình tiết của
vụ án mà họ đã biết, sau đó hỏi thêm về những điểm mà họ khai chưa đầy đủ hoặc
có mâu thuẫn. Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của bị hại, đương sự có thể hỏi thêm người làm chứng.
Khi được chủ tọa phiên tòa đồng
ý, bị cáo có thể hỏi người làm chứng về các vấn đề có liên quan đến bị cáo.
3. Sau khi đã trình bày xong, người
làm chứng ở lại phòng xử án để có thể được hỏi thêm.
4. Trường hợp có căn cứ xác định
người làm chứng, người thân thích của họ bị xâm hại hoặc bị đe dọa xâm phạm đến
tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm thì Hội đồng xét xử phải quyết
định biện pháp bảo vệ họ theo quy định của Bộ luật này và pháp luật khác có
liên quan.
5. Trường hợp cần thiết, Tòa án
quyết định hỏi người làm chứng qua mạng máy tính, mạng viễn thông.
Điều 312.
Xem xét vật chứng
1. Vật chứng, ảnh hoặc biên bản
xác nhận vật chứng được đưa ra để xem xét tại phiên tòa.
Khi cần thiết, Hội đồng xét xử
có thể cùng với Kiểm sát viên, người bào chữa, người khác tham gia phiên tòa đến
xem xét tại chỗ những vật chứng không thể đưa đến phiên tòa được. Việc xem xét
vật chứng tại chỗ được lập biên bản theo quy định tại Điều 133
của Bộ luật này.
2. Kiểm sát viên, người bào chữa,
người khác tham gia phiên tòa có quyền trình bày nhận xét của mình về vật chứng.
Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của bị hại, đương sự có thể hỏi thêm người tham gia phiên tòa về những vấn
đề có liên quan đến vật chứng.
Điều 313.
Nghe, xem nội dung được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh
Trường hợp cần kiểm tra chứng cứ,
tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án hoặc khi bị cáo tố cáo bị bức cung, dùng
nhục hình, Hội đồng xét xử quyết định việc cho nghe, xem nội dung được ghi âm
hoặc ghi hình có âm thanh liên quan tại phiên tòa.
Điều 314.
Xem xét tại chỗ
Khi xét thấy cần thiết, Hội đồng
xét xử có thể cùng với Kiểm sát viên, người bào chữa, người khác tham gia
phiên tòa đến xem xét nơi đã xảy ra tội phạm hoặc địa điểm khác có liên quan đến
vụ án. Kiểm sát viên, người bào chữa, người khác tham gia phiên tòa có quyền
trình bày nhận xét của mình về nơi đã xảy ra tội phạm hoặc địa điểm khác có
liên quan đến vụ án. Hội đồng xét xử có thể hỏi thêm người tham gia phiên tòa về
những vấn đề có liên quan đến nơi đó.
Việc xem xét tại chỗ được lập
biên bản theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này.
Điều 315.
Trình bày, công bố báo cáo, tài liệu của cơ quan, tổ chức
Báo cáo, tài liệu của cơ quan,
tổ chức về những tình tiết của vụ án do đại diện cơ quan, tổ chức đó trình bày;
trường hợp không có đại diện của cơ quan, tổ chức tham dự thì Hội đồng xét xử
công bố báo cáo, tài liệu tại phiên tòa.
Kiểm sát viên, bị cáo, người
bào chữa, người khác tham gia phiên tòa có quyền nhận xét về báo cáo, tài liệu
đó và hỏi thêm người đại diện của cơ quan, tổ chức, người khác tham gia phiên
tòa về những vấn đề liên quan đến báo cáo, tài liệu đó.
Điều 316.
Hỏi người giám định, người định giá tài sản
1. Hội đồng xét xử tự mình hoặc
theo đề nghị của Kiểm sát viên, người bào chữa, người khác tham gia phiên tòa
yêu cầu người giám định, người định giá tài sản trình bày kết luận của mình về
vấn đề được giám định, định giá tài sản. Khi trình bày, người giám định, người
định giá tài sản có quyền giải thích bổ sung về kết luận giám định, định giá
tài sản, căn cứ để đưa ra kết luận giám định, định giá tài sản.
2. Kiểm sát viên, người bào chữa,
người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa có quyền nhận xét về kết luận
giám định, định giá tài sản, được hỏi những vấn đề còn chưa rõ hoặc có mâu thuẫn
trong kết luận giám định, định giá tài sản hoặc có mâu thuẫn với những tình tiết
khác của vụ án.
3. Trường hợp người giám định,
người định giá tài sản không có mặt tại phiên tòa thì chủ tọa phiên tòa công bố
kết luận giám định, định giá tài sản.
4. Khi xét thấy cần thiết, Hội
đồng xét xử quyết định giám định bổ sung hoặc giám định lại, định giá lại tài sản.
Điều 317.
Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người
tham gia tố tụng trình bày ý kiến
Khi xét thấy cần thiết, Hội đồng
xét xử tự mình hoặc theo đề nghị của người tham gia tố tụng yêu cầu Điều tra
viên, Kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia
tố tụng trình bày ý kiến để làm rõ những quyết định, hành vi tố tụng trong giai
đoạn điều tra, truy tố, xét xử.
Điều 318.
Kết thúc việc xét hỏi
Khi xét thấy những tình tiết của
vụ án đã được xem xét đầy đủ thì chủ tọa phiên tòa hỏi Kiểm sát viên, bị cáo,
người bào chữa, người khác tham gia phiên tòa xem họ có yêu cầu xét hỏi vấn đề
gì nữa không. Nếu không có yêu cầu xét hỏi thì kết thúc việc xét hỏi; nếu có
người yêu cầu và xét thấy yêu cầu đó là cần thiết thì chủ tọa phiên tòa quyết định
tiếp tục việc xét hỏi.
Điều 319.
Kiểm sát viên rút quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn tại phiên tòa
Sau khi kết thúc việc xét hỏi,
Kiểm sát viên có thể rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố hoặc kết luận
về tội nhẹ hơn.
Điều 320.
Trình tự phát biểu khi tranh luận
1. Sau khi kết thúc việc xét hỏi,
Kiểm sát viên trình bày luận tội; nếu thấy không có căn cứ để kết tội thì rút
toàn bộ quyết định truy tố và đề nghị Tòa án tuyên bố bị cáo không có tội.
2. Bị cáo trình bày lời bào chữa;
người bào chữa trình bày lời bào chữa cho bị cáo; bị cáo, người đại diện của bị
cáo có quyền bổ sung ý kiến bào chữa.
3. Bị hại, đương sự, người đại
diện của họ trình bày ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích của mình; nếu có người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ thì người này có quyền trình bày, bổ
sung ý kiến.
4. Trường hợp vụ án được khởi tố
theo yêu cầu của bị hại thì bị hại hoặc người đại diện của họ trình bày, bổ
sung ý kiến sau khi Kiểm sát viên trình bày luận tội.
Điều 321.
Luận tội của Kiểm sát viên
1. Luận tội của Kiểm sát viên
phải căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu, đồ vật đã được kiểm tra tại phiên tòa
và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
bị hại, đương sự, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa.
2. Nội dung luận tội phải phân
tích, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ những chứng cứ xác định có tội, chứng
cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội;
hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ
án; tội danh, hình phạt, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự, những
tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; mức bồi thường thiệt hại, xử
lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết
khác có ý nghĩa đối với vụ án.
3. Đề nghị kết tội bị cáo theo
toàn bộ hay một phần nội dung bản cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn; đề
nghị mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, trách nhiệm bồi
thường thiệt hại, xử lý vật chứng.
4. Kiến nghị các biện pháp
phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật.
Điều 322.
Tranh luận tại phiên tòa
1. Bị cáo, người bào chữa, người
tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập
luận của mình để đối đáp với Kiểm sát viên về những chứng cứ xác định có tội,
chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm
tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong
vụ án; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt;
trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện
phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.
Bị cáo, người bào chữa, người
tham gia tố tụng khác có quyền đưa ra đề nghị của mình.
2. Kiểm sát viên phải đưa ra chứng
cứ, tài liệu và lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào
chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa.
Người tham gia tranh luận có
quyền đáp lại ý kiến của người khác.
3. Chủ tọa phiên tòa không được
hạn chế thời gian tranh luận, phải tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người
bào chữa, bị hại, người tham gia tố tụng khác tranh luận, trình bày hết ý kiến
nhưng có quyền cắt những ý kiến không liên quan đến vụ án và ý kiến lặp lại.
Chủ tọa phiên tòa yêu cầu Kiểm
sát viên phải đáp lại những ý kiến của người bào chữa, người tham gia tố tụng
khác mà những ý kiến đó chưa được Kiểm sát viên tranh luận.
4. Hội đồng xét xử phải lắng
nghe, ghi nhận đầy đủ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người
tham gia tranh luận tại phiên tòa để đánh giá khách quan, toàn diện sự thật của
vụ án. Trường hợp không chấp nhận ý kiến của những người tham gia phiên tòa thì
Hội đồng xét xử phải nêu rõ lý do và được ghi trong bản án.
Điều 323.
Trở lại việc xét hỏi
Nếu qua tranh luận mà thấy còn
có tình tiết vụ án chưa được hỏi, chưa được làm sáng tỏ thì Hội đồng xét xử phải
quyết định trở lại việc xét hỏi. Xét hỏi xong phải tiếp tục tranh luận.
Điều 324.
Bị cáo nói lời sau cùng
1. Sau khi những người tham gia
tranh luận không trình bày gì thêm, chủ tọa phiên tòa tuyên bố kết thúc tranh
luận.
2. Bị cáo được nói lời sau
cùng. Không được đặt câu hỏi khi bị cáo nói lời sau cùng. Nếu trong lời nói
sau cùng, bị cáo trình bày thêm tình tiết mới có ý nghĩa quan trọng đối với vụ
án thì Hội đồng xét xử phải quyết định trở lại việc hỏi. Hội đồng xét xử có quyền
yêu cầu bị cáo không được trình bày những điểm không liên quan đến vụ án nhưng
không được hạn chế thời gian đối với bị cáo.
Điều 325.
Xem xét việc rút quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn tại phiên tòa
1. Khi Kiểm sát viên rút một phần
quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn thì Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục
xét xử vụ án.
2. Trường hợp Kiểm sát viên rút
toàn bộ quyết định truy tố thì trước khi nghị án, Hội đồng xét xử yêu cầu những
người tham gia phiên tòa trình bày ý kiến về việc rút quyết định truy tố đó.
Mục VI.
NGHỊ ÁN VÀ TUYÊN ÁN
Điều 326.
Nghị án
1. Chỉ Thẩm phán và Hội thẩm mới
có quyền nghị án. Việc nghị án phải được tiến hành tại phòng nghị án.
Chủ tọa phiên tòa chủ trì việc
nghị án có trách nhiệm đưa ra từng vấn đề của vụ án phải được giải quyết để Hội
đồng xét xử thảo luận, quyết định. Chủ tọa phiên tòa tự mình hoặc phân công một
thành viên Hội đồng xét xử ghi biên bản nghị án. Các thành viên Hội đồng xét xử
phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số về
từng vấn đề. Hội thẩm biểu quyết trước, Thẩm phán biểu quyết sau cùng. Nếu
không có ý kiến nào chiếm đa số thì phải thảo luận và biểu quyết lại từng ý kiến
của các thành viên Hội đồng xét xử đã đưa ra để xác định ý kiến chiếm đa số.
Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được
đưa vào hồ sơ vụ án.
2. Việc nghị án chỉ được căn cứ
vào những chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét
đầy đủ, toàn diện chứng cứ của vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người
bào chữa, người tham gia tố tụng khác.
3. Các vấn đề của vụ án phải được
giải quyết khi nghị án gồm:
a) Vụ án có thuộc trường hợp tạm
đình chỉ hoặc thuộc trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung hay không;
b) Tính hợp pháp của những chứng
cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên
thu thập; do luật sư, bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp;
c) Có hay không có căn cứ kết tội
bị cáo. Trường hợp đủ căn cứ kết tội thì phải xác định rõ điểm, khoản, điều của
Bộ luật Hình sự được áp dụng;
d) Hình phạt, biện pháp tư pháp
áp dụng đối với bị cáo; trách nhiệm bồi thường thiệt hại; vấn đề dân sự trong vụ
án hình sự;
đ) Bị cáo có thuộc trường hợp
miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hay không;
e) Án phí hình sự, án phí dân sự;
xử lý vật chứng; tài sản bị kê biên, tài khoản bị phong tỏa;
g) Tính hợp pháp của hành vi,
quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá
trình điều tra, truy tố, xét xử;
h) Kiến nghị phòng ngừa tội phạm,
khắc phục vi phạm.
4. Trường hợp Kiểm sát viên rút
toàn bộ quyết định truy tố thì Hội đồng xét xử vẫn giải quyết những vấn đề của
vụ án theo trình tự quy định tại khoản 1 Điều này. Nếu có căn cứ xác định bị
cáo không có tội thì Hội đồng xét xử tuyên bị cáo không có tội; nếu thấy việc
rút quyết định truy tố không có căn cứ thì quyết định tạm đình chỉ vụ án và kiến
nghị Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát cấp
trên trực tiếp.
5. Trường hợp vụ án có nhiều
tình tiết phức tạp thì Hội đồng xét xử có thể quyết định kéo dài thời gian nghị
án nhưng không quá 07 ngày kể từ ngày kết thúc tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng
xét xử phải thông báo cho những người có mặt tại phiên tòa và người tham gia tố
tụng vắng mặt tại phiên tòa biết giờ, ngày, tháng, năm và địa điểm tuyên án.
6. Kết thúc việc nghị án, Hội đồng
xét xử phải quyết định một trong các vấn đề:
a) Ra bản án và tuyên án;
b) Trở lại việc xét hỏi và
tranh luận nếu có tình tiết vụ án chưa được xét hỏi, chưa được làm sáng tỏ;
c) Trả hồ sơ vụ án để Viện kiểm
sát điều tra bổ sung; yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ;
d) Tạm đình chỉ vụ án.
Hội đồng xét xử phải thông báo
cho những người có mặt tại phiên tòa và người tham gia tố tụng vắng mặt tại
phiên tòa về các quyết định tại điểm c và điểm d khoản này.
7.[156] (được bãi bỏ)
Điều 327.
Tuyên án
Chủ tọa phiên tòa hoặc một
thành viên khác của Hội đồng xét xử đọc bản án. Trường hợp xét xử kín thì chỉ đọc
phần quyết định trong bản án. Sau khi đọc xong có thể giải thích thêm về việc
chấp hành bản án và quyền kháng cáo.
Điều 328.
Trả tự do cho bị cáo
Trong các trường hợp sau đây, Hội
đồng xét xử phải tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo đang bị tạm
giam, nếu họ không bị tạm giam về một tội phạm khác:
1. Bị cáo không có tội;
2. Bị cáo được miễn trách nhiệm
hình sự hoặc được miễn hình phạt;
3. Bị cáo bị xử phạt bằng hình
phạt không phải là hình phạt tù;
4. Bị cáo bị xử phạt tù nhưng
được hưởng án treo;
5. Thời hạn phạt tù bằng hoặc
ngắn hơn thời gian bị cáo đã bị tạm giam.
Điều 329.
Bắt tạm giam bị cáo sau khi tuyên án
1. Trường hợp bị cáo đang bị tạm
giam mà bị xử phạt tù nhưng xét thấy cần tiếp tục tạm giam để bảo đảm thi hành
án thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam bị cáo, trừ trường hợp được quy định
tại khoản 4 và khoản 5 Điều 328 của Bộ luật này.
2. Trường hợp bị cáo không bị tạm
giam nhưng bị xử phạt tù thì họ chỉ bị bắt tạm giam để chấp hành hình phạt khi
bản án đã có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử có thể ra quyết định bắt tạm
giam bị cáo ngay tại phiên tòa nếu có căn cứ cho thấy bị cáo có thể trốn hoặc
tiếp tục phạm tội.
3. Thời hạn tạm giam bị cáo quy
định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này là 45 ngày kể từ ngày tuyên án.
4. Trường hợp bị cáo bị xử phạt
tử hình thì Hội đồng xét xử quyết định trong bản án việc tiếp tục tạm giam bị
cáo để bảo đảm thi hành án.
Chương
XXII
XÉT XỬ PHÚC THẨM
Mục I.
TÍNH CHẤT CỦA XÉT XỬ PHÚC THẨM VÀ QUYỀN KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ
Điều 330.
Tính chất của xét xử phúc thẩm
1. Xét xử phúc thẩm là việc Tòa
án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản
án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo
hoặc kháng nghị.
2.[157] Quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị là quyết
định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ vụ án, quyết định tạm đình chỉ vụ án đối
với bị can, bị cáo, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo và quyết định
khác của Tòa án cấp sơ thẩm theo quy định của Bộ luật này, Luật Tư pháp người
chưa thành niên.
Điều 331.
Người có quyền kháng cáo
1. Bị cáo, bị hại, người đại diện
của họ có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm.
2. Người bào chữa có quyền
kháng cáo để bảo vệ lợi ích của người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm
thần hoặc thể chất mà mình bào chữa.
3. Nguyên đơn dân sự, bị đơn
dân sự, người đại diện của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có
liên quan đến việc bồi thường thiệt hại.
4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đến vụ án, người đại diện của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc
quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ.
5. Người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của bị hại, đương sự là người dưới 18 tuổi hoặc người có nhược điểm
về tâm thần hoặc thể chất có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có
liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ.
6. Người được Tòa án tuyên
không có tội có quyền kháng cáo về các căn cứ mà bản án sơ thẩm đã xác định là
họ không có tội.
Điều 332.
Thủ tục kháng cáo
1. Người kháng cáo phải gửi đơn
kháng cáo đến Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm.
Trường hợp bị cáo đang bị tạm
giam, Giám thị Trại tạm giam, Trưởng Nhà tạm giữ, Trưởng phân trại thuộc trại tạm
giam[158] phải bảo đảm cho bị
cáo thực hiện quyền kháng cáo, nhận đơn kháng cáo và chuyển cho Tòa án cấp sơ
thẩm đã ra bản án, quyết định bị kháng cáo.
Người kháng cáo có thể trình
bày trực tiếp với Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm về việc
kháng cáo. Tòa án phải lập biên bản về việc kháng cáo theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này.
Tòa án cấp phúc thẩm đã lập
biên bản về việc kháng cáo hoặc nhận được đơn kháng cáo thì phải gửi biên bản
hoặc đơn kháng cáo cho Tòa án cấp sơ thẩm để thực hiện theo quy định chung.
2. Đơn kháng cáo có các nội
dung chính:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn
kháng cáo;
b) Họ tên, địa chỉ của người
kháng cáo;
c) Lý do và yêu cầu của người
kháng cáo;
d) Chữ ký hoặc điểm chỉ của người
kháng cáo.
3. Kèm theo đơn kháng cáo hoặc
cùng với việc trình bày trực tiếp là chứng cứ, tài liệu, đồ vật bổ sung (nếu có)
để chứng minh tính có căn cứ của kháng cáo.
Điều 333.
Thời hạn kháng cáo
1. Thời hạn kháng cáo đối với bản
án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại
phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản
án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
2. Thời hạn kháng cáo đối với
quyết định sơ thẩm là 07 ngày kể từ ngày người có quyền kháng cáo nhận được quyết
định.
3. Ngày kháng cáo được xác định
như sau:
a) Trường hợp đơn kháng cáo gửi
qua dịch vụ bưu chính thì ngày kháng cáo là ngày theo dấu bưu chính nơi gửi;
b) Trường hợp đơn kháng cáo gửi
qua Giám thị Trại tạm giam, Trưởng Nhà tạm giữ, Trưởng phân trại thuộc trại tạm
giam[159] thì ngày kháng cáo là
ngày Giám thị Trại tạm giam, Trưởng Nhà tạm giữ, Trưởng phân trại thuộc trại tạm
giam[160] nhận được đơn. Giám
thị Trại tạm giam, Trưởng Nhà tạm giữ, Trưởng phân trại thuộc trại tạm giam[161] phải ghi rõ ngày nhận đơn và
ký xác nhận vào đơn;
c) Trường hợp người kháng cáo nộp
đơn kháng cáo tại Tòa án thì ngày kháng cáo là ngày Tòa án nhận đơn. Trường hợp
người kháng cáo trình bày trực tiếp với Tòa án thì ngày kháng cáo là ngày Tòa
án lập biên bản về việc kháng cáo.
Điều 334.
Thủ tục tiếp nhận và xử lý kháng cáo
1. Sau khi nhận được đơn kháng
cáo hoặc biên bản về việc kháng cáo, Tòa án cấp sơ thẩm phải vào sổ tiếp nhận
và kiểm tra tính hợp lệ của đơn kháng cáo theo quy định của Bộ luật này.
2. Trường hợp đơn kháng cáo hợp
lệ thì Tòa án cấp sơ thẩm thông báo về việc kháng cáo theo quy định tại Điều 338 của Bộ luật này.
3. Trường hợp đơn kháng cáo hợp
lệ nhưng nội dung kháng cáo chưa rõ thì Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo ngay
cho người kháng cáo để làm rõ.
4. Trường hợp nội dung đơn
kháng cáo đúng quy định của Bộ luật này nhưng quá thời hạn kháng cáo thì Tòa án
cấp sơ thẩm yêu cầu người kháng cáo trình bày lý do và xuất trình chứng cứ, tài
liệu, đồ vật (nếu có) để chứng minh lý do nộp đơn kháng cáo quá hạn là chính
đáng.
5. Trường hợp người làm đơn
kháng cáo không có quyền kháng cáo thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận
đơn, Tòa án trả lại đơn và thông báo bằng văn bản cho người làm đơn, Viện kiểm
sát cùng cấp. Văn bản thông báo phải ghi rõ lý do của việc trả lại đơn.
Việc trả lại đơn có thể bị khiếu
nại trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được thông báo. Việc giải quyết khiếu
nại được thực hiện theo quy định tại Chương XXXIII của Bộ luật này.
Điều 335.
Kháng cáo quá hạn
1. Việc kháng cáo quá hạn được
chấp nhận nếu có lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan mà người kháng
cáo không thể thực hiện được việc kháng cáo trong thời hạn do Bộ luật này quy định.
2. Trong thời hạn 03 ngày kể từ
ngày nhận được đơn kháng cáo quá hạn, Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi đơn kháng
cáo, bản tường trình của người kháng cáo về lý do kháng cáo quá hạn và chứng cứ,
tài liệu, đồ vật kèm theo (nếu có) cho Tòa án cấp phúc thẩm.
3. Trong thời hạn 10 ngày kể từ
ngày nhận được đơn kháng cáo quá hạn và chứng cứ, tài liệu, đồ vật kèm theo (nếu
có), Tòa án cấp phúc thẩm thành lập Hội đồng gồm ba Thẩm phán để xem xét kháng
cáo quá hạn. Hội đồng xét kháng cáo quá hạn có quyền ra quyết định chấp nhận hoặc
không chấp nhận kháng cáo quá hạn và phải ghi rõ lý do của việc chấp nhận hoặc
không chấp nhận trong quyết định.
4. Phiên họp xét kháng cáo quá
hạn phải có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn
03 ngày trước ngày xét đơn kháng cáo quá hạn, Tòa án cấp phúc thẩm gửi bản sao
đơn kháng cáo quá hạn và chứng cứ, tài liệu kèm theo (nếu có) cho Viện kiểm sát
cùng cấp. Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc xét
kháng cáo quá hạn.
5. Quyết định của Hội đồng xét
kháng cáo quá hạn được gửi cho người kháng cáo quá hạn, Tòa án cấp sơ thẩm và
Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án cấp phúc thẩm.
Trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm
chấp nhận kháng cáo quá hạn thì Tòa án cấp sơ thẩm phải tiến hành các thủ tục
do Bộ luật này quy định và gửi hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp phúc thẩm.
Điều 336.
Kháng nghị của Viện kiểm sát
1. Viện kiểm sát cùng cấp, Viện
kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án hoặc quyết định sơ thẩm.
2. Quyết định kháng nghị của Viện
kiểm sát có các nội dung chính:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định
kháng nghị và số của quyết định kháng nghị;
b) Tên của Viện kiểm sát ra quyết
định kháng nghị;
c) Kháng nghị đối với toàn bộ
hay một phần bản án, quyết định sơ thẩm;
d) Lý do, căn cứ kháng nghị và
yêu cầu của Viện kiểm sát;
đ) Họ tên, chức vụ của người ký
quyết định kháng nghị.
Điều 337.
Thời hạn kháng nghị
1. Thời hạn kháng nghị của Viện
kiểm sát cùng cấp đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, của Viện
kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày kể từ ngày Tòa án tuyên án.
2. Thời hạn kháng nghị của Viện
kiểm sát cùng cấp đối với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, của Viện
kiểm sát cấp trên trực tiếp là 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Điều 338.
Thông báo về việc kháng cáo, gửi quyết định kháng nghị
1. Việc kháng cáo phải được Tòa
án cấp sơ thẩm thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người
liên quan đến kháng cáo trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng
cáo. Thông báo phải nêu rõ yêu cầu của người kháng cáo.
2. Trong thời hạn 02 ngày kể từ
ngày ra quyết định kháng nghị, Viện kiểm sát phải gửi quyết định kháng nghị kèm
theo chứng cứ, tài liệu, đồ vật bổ sung (nếu có) cho Tòa án đã xét xử sơ thẩm,
gửi quyết định kháng nghị cho bị cáo và những người liên quan đến kháng nghị.
Viện kiểm sát đã kháng nghị phải gửi quyết định kháng nghị cho Viện kiểm sát
khác có thẩm quyền kháng nghị.
3. Người tham gia tố tụng nhận
được thông báo về việc kháng cáo, kháng nghị có quyền gửi văn bản nêu ý kiến của
mình về nội dung kháng cáo, kháng nghị cho Tòa án cấp phúc thẩm. Ý kiến của họ
được đưa vào hồ sơ vụ án.
Điều 339.
Hậu quả của việc kháng cáo, kháng nghị
Những phần của bản án, quyết định
của Tòa án bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp
quy định tại Điều 363 của Bộ luật này. Khi có kháng cáo,
kháng nghị đối với toàn bộ bản án, quyết định thì toàn bộ bản án, quyết định
chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp quy định tại Điều
363 của Bộ luật này.
Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi hồ
sơ vụ án, kháng cáo, kháng nghị và chứng cứ, tài liệu, đồ vật kèm theo (nếu có)
cho Tòa án cấp phúc thẩm trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng
cáo, kháng nghị.
Điều 340.
Thụ lý vụ án
1. Ngay sau khi nhận được hồ sơ
vụ án có kháng cáo, kháng nghị và chứng cứ, tài liệu, đồ vật kèm theo (nếu có),
Tòa án cấp phúc thẩm phải vào sổ thụ lý.
2. Trong thời hạn 03 ngày kể từ
ngày thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án cấp phúc thẩm phân công Thẩm phán làm chủ tọa
phiên tòa, phiên họp.
Điều 341.
Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát
1. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án
cấp phúc thẩm phải chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn
15 ngày đối với Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và Viện kiểm sát quân sự cấp
quân khu, 20 ngày đối với Viện kiểm sát nhân dân tối cao[162], Viện kiểm sát quân sự trung ương kể từ ngày nhận được
hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát phải trả lại hồ sơ vụ án cho Tòa án. Trường hợp vụ
án thuộc loại tội đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp thì thời hạn này có thể kéo
dài nhưng không quá 25 ngày đối với Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm
sát quân sự cấp quân khu, 30 ngày đối với Viện kiểm sát nhân dân tối cao[163], Viện kiểm sát quân sự trung
ương.
2. Trường hợp Tòa án cấp phúc
thẩm nhận được chứng cứ, tài liệu, đồ vật bổ sung trước khi xét xử thì phải
chuyển chứng cứ, tài liệu, đồ vật này cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn
03 ngày kể từ ngày nhận được chứng cứ, tài liệu, đồ vật bổ sung thì Viện kiểm
sát phải trả lại cho Tòa án.
Điều 342.
Thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị
1. Trước khi bắt đầu phiên tòa
hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo có quyền thay đổi, bổ sung kháng
cáo, Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị có quyền thay đổi, bổ sung kháng
nghị nhưng không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo; người kháng cáo rút một
phần hoặc toàn bộ kháng cáo; Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị hoặc Viện
kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền rút một phần hoặc toàn bộ kháng nghị.
2. Việc thay đổi, bổ sung, rút
kháng cáo, kháng nghị trước khi mở phiên tòa phải lập văn bản và gửi cho Tòa án
cấp phúc thẩm. Tòa án cấp phúc thẩm phải thông báo cho Viện kiểm sát, bị cáo và
những người có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị biết về việc thay đổi, bổ
sung, rút kháng cáo, kháng nghị. Việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng
nghị tại phiên tòa được ghi vào biên bản phiên tòa.
3. Trường hợp người kháng cáo
rút một phần kháng cáo, Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị tại phiên tòa mà
xét thấy không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị khác thì Hội đồng xét xử
phúc thẩm nhận định về việc rút một phần kháng cáo, kháng nghị và quyết định
đình chỉ xét xử phần kháng cáo, kháng nghị đó trong bản án phúc thẩm.
Điều 343.
Hiệu lực của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không có kháng cáo, kháng
nghị
Bản án, quyết định và những phần
của bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị thì có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Mục II.
THỦ TỤC XÉT XỬ PHÚC THẨM
Điều 344.
Tòa án có thẩm quyền xét xử phúc thẩm
1.[164] Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử phúc thẩm
bản án, quyết định của Tòa án nhân dân khu vực bị kháng cáo, kháng nghị.
2.[165] Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền xét
xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh bị kháng cáo,
kháng nghị.
3. Tòa án quân sự cấp quân khu
có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án quân sự khu vực bị
kháng cáo, kháng nghị.
4. Tòa án quân sự trung ương có
thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án quân sự cấp quân khu
bị kháng cáo, kháng nghị.
Điều 345.
Phạm vi xét xử phúc thẩm
Tòa án cấp phúc thẩm xem xét phần
nội dung của bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị. Nếu xét thấy cần thiết,
có thể xem xét các phần khác của bản án, quyết định không bị kháng cáo, kháng
nghị.
Điều 346.
Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm
1.[166] Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu
phải mở phiên tòa phúc thẩm trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ
án; trường hợp xét xử vụ án về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có mức cao nhất của
khung hình phạt đến 20 năm tù thì thời hạn mở phiên tòa phúc thẩm là 90 ngày kể
từ ngày nhận được hồ sơ vụ án.
Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối
cao, Tòa án quân sự trung ương phải mở phiên tòa phúc thẩm trong thời hạn 90
ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án.
2.[167] Trong thời hạn 45 ngày đối với Tòa án nhân dân cấp tỉnh,
Tòa án quân sự cấp quân khu, 75 ngày đối với Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối
cao, Tòa án quân sự trung ương kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán chủ tọa phiên
tòa phải ra một trong các quyết định:
a) Đình chỉ xét xử phúc thẩm;
b) Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.
3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa phúc thẩm.
4. Chậm nhất là 10 ngày trước
khi mở phiên tòa, Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử
cho Viện kiểm sát cùng cấp, người bào chữa, bị hại, người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đến kháng cáo, kháng nghị.
Điều 347.
Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế
1.[168] Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm có quyền
quyết định việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng
chế.
Việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy
bỏ biện pháp tạm giam do Chánh án, Phó Chánh án Tòa án; Thẩm phán giữ chức vụ
Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao quyết định. Việc
áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn khác, biện pháp cưỡng chế do
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyết định.
2.[169] Thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử không được quá
thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm quy định tại Điều 346 của Bộ
luật này.
Trường hợp còn thời hạn tạm
giam bị cáo mà xét thấy cần phải tiếp tục tạm giam bị cáo thì Tòa án cấp phúc
thẩm sử dụng thời hạn tạm giam theo quyết định tạm giam của Tòa án cấp sơ thẩm.
Trường hợp đã hết thời hạn tạm giam bị cáo theo quyết định tạm giam của Tòa án
cấp sơ thẩm thì Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa,
Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao ra quyết định tạm giam mới.
Đối với bị cáo đang bị tạm
giam, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc xét xử thì Hội đồng
xét xử ra quyết định tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa.
3. Đối với bị cáo đang bị tạm
giam bị xử phạt tù mà đến ngày kết thúc phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết thì
Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án, trừ
trường hợp quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 328 của Bộ luật
này.
Đối với bị cáo không bị tạm
giam nhưng bị xử phạt tù thì Hội đồng xét xử có thể ra quyết định bắt tạm giam
bị cáo ngay sau khi tuyên án.
Thời hạn tạm giam là 45 ngày kể
từ ngày tuyên án.
Điều 348.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm
1. Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ
việc xét xử phúc thẩm đối với vụ án mà người kháng cáo đã rút toàn bộ kháng cáo,
Viện kiểm sát đã rút toàn bộ kháng nghị. Việc đình chỉ xét xử phúc thẩm trước
khi mở phiên tòa do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyết định, tại phiên tòa do Hội
đồng xét xử quyết định. Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Tòa án
cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.
2. Trường hợp người kháng cáo
rút một phần kháng cáo, Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị trước khi mở
phiên tòa mà xét thấy không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị khác thì Thẩm
phán chủ tọa phiên tòa phải ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần
kháng cáo, kháng nghị đã rút.
3. Quyết định đình chỉ xét xử
phúc thẩm ghi rõ lý do đình chỉ và các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.
Trong thời hạn 03 ngày kể từ
ngày ra quyết định, Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi quyết định đình chỉ xét xử
phúc thẩm cho Viện kiểm sát cùng cấp, Tòa án đã xét xử sơ thẩm, người bào chữa,
bị hại, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự,
người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng
nghị.
Điều 349.
Sự có mặt của thành viên Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký Tòa án
1. Phiên tòa chỉ được tiến hành
khi có đủ thành viên Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án. Các thành viên Hội đồng xét
xử phải xét xử vụ án từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc phiên tòa.
2. Trường hợp có Thẩm phán
không tiếp tục tham gia xét xử vụ án nhưng có Thẩm phán dự khuyết tham gia
phiên tòa từ đầu thì những người này được thay thế làm thành viên Hội đồng xét
xử. Trường hợp Thẩm phán chủ tọa phiên tòa không tiếp tục tham gia xét xử được
thì Thẩm phán là thành viên Hội đồng xét xử làm chủ tọa phiên tòa và Thẩm phán
dự khuyết được bổ sung làm thành viên Hội đồng xét xử.
3. Trường hợp không có Thẩm
phán dự khuyết hoặc phải thay đổi chủ tọa phiên tòa mà không có Thẩm phán để
thay thế thì phải hoãn phiên tòa.
4. Trường hợp Thư ký Tòa án bị
thay đổi hoặc không thể tiếp tục tham gia phiên tòa thì Tòa án vẫn có thể xét xử
vụ án nếu có Thư ký Tòa án dự khuyết; nếu không có người thay thế thì tạm ngừng
phiên tòa.
Điều 350.
Sự có mặt của Kiểm sát viên
1. Kiểm sát viên Viện kiểm sát
cùng cấp phải có mặt để thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên
tòa, nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa. Đối với vụ án có tính
chất nghiêm trọng, phức tạp thì có thể có nhiều Kiểm sát viên. Trường hợp Kiểm
sát viên không thể có mặt tại phiên tòa thì Kiểm sát viên dự khuyết có mặt tại
phiên tòa từ đầu được thay thế để thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại
phiên tòa.
2. Trường hợp Kiểm sát viên bị
thay đổi hoặc không thể tiếp tục thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử mà
không có Kiểm sát viên dự khuyết để thay thế thì Hội đồng xét xử hoãn phiên
tòa.
Điều 351.
Sự có mặt của người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại,
đương sự, người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng
cáo, kháng nghị
1. Người bào chữa, người bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người kháng cáo, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị được triệu tập đến phiên tòa
thì phải có mặt tại phiên tòa. Nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử giải
quyết:
a) Trường hợp người bào chữa vắng
mặt lần thứ nhất vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì phải
hoãn phiên tòa, trừ trường hợp bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa.
Trường hợp người bào chữa vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do
trở ngại khách quan hoặc được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì
Tòa án vẫn tiến hành xét xử.
Trường hợp phải chỉ định người
bào chữa theo quy định tại khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này
mà người bào chữa vắng mặt thì phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp bị cáo hoặc
người đại diện của bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa;
b) Trường hợp người kháng cáo,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị là bị hại,
đương sự và người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị
hại, đương sự vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại
khách quan thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử. Trường hợp những người này
vắng mặt vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì Hội đồng xét xử
có thể tiến hành xét xử nhưng không được ra bản án hoặc quyết định không có lợi
cho bị hại, đương sự;
c) Bị cáo có kháng cáo hoặc bị
kháng cáo, bị kháng nghị nếu vắng mặt vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại
khách quan thì Hội đồng xét xử có thể vẫn tiến hành xét xử nhưng không được ra
bản án, quyết định không có lợi cho bị cáo. Nếu sự vắng mặt của bị cáo vì lý do
bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan và sự vắng mặt đó không gây trở ngại
cho việc xét xử thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.
2. Khi xét thấy cần thiết, Tòa
án cấp phúc thẩm quyết định triệu tập những người khác tham gia phiên tòa.
Điều 352.
Hoãn phiên tòa phúc thẩm
1. Tòa án cấp phúc thẩm chỉ được
hoãn phiên tòa khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Có một trong những căn cứ
quy định tại các điều 52, 53, 349, 350 và
351 của Bộ luật này;
b) Cần phải xác minh, thu thập
bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật mà không thể thực hiện được ngay tại phiên
tòa.
Trường hợp hoãn phiên tòa thì vụ
án phải được xét xử lại từ đầu.
2.[170] Thời hạn hoãn phiên tòa phúc thẩm được thực hiện theo
quy định tại khoản 2 Điều 297 của Bộ luật này.
3.[171] Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm phải được chủ tọa
phiên tòa thay mặt Hội đồng xét xử ký tên. Trường hợp chủ tọa phiên tòa vắng mặt
hoặc bị thay đổi thì Chánh án Tòa án, Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa Tòa Phúc
thẩm Tòa án nhân dân tối cao ký quyết định hoãn phiên tòa.
Quyết định hoãn phiên tòa phải
thông báo ngay cho những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa; gửi cho
Viện kiểm sát cùng cấp và những người vắng mặt tại phiên tòa trong thời hạn 02
ngày kể từ ngày ra quyết định.
Điều 353.
Bổ sung, xem xét chứng cứ, tài liệu, đồ vật
1. Trước khi xét xử hoặc tại
phiên tòa phúc thẩm, Viện kiểm sát có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của Tòa án
bổ sung chứng cứ mới; người đã kháng cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến kháng cáo, kháng nghị, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của bị hại, đương sự cũng có quyền bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật.
2. Chứng cứ cũ, chứng cứ mới,
tài liệu, đồ vật mới bổ sung đều phải được xem xét tại phiên tòa phúc thẩm. Bản
án phúc thẩm phải căn cứ vào cả chứng cứ cũ và chứng cứ mới.
Điều 354.
Thủ tục phiên tòa phúc thẩm
1. Thủ tục bắt đầu phiên tòa và
thủ tục tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm được tiến hành như phiên tòa sơ thẩm
nhưng trước khi xét hỏi, một thành viên của Hội đồng xét xử trình bày tóm tắt nội
dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung kháng cáo, kháng nghị.
2. Chủ tọa phiên tòa hỏi người
kháng cáo có thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo hay không; nếu có thì chủ tọa
phiên tòa yêu cầu Kiểm sát viên trình bày ý kiến về việc thay đổi, bổ sung, rút
kháng cáo.
Chủ tọa phiên tòa hỏi Kiểm sát
viên có thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị hay không; nếu có thì chủ tọa phiên tòa
yêu cầu bị cáo và những người liên quan đến kháng nghị trình bày ý kiến về việc
thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị.
3. Khi tranh tụng tại phiên
tòa, Kiểm sát viên, người khác liên quan đến kháng cáo, kháng nghị phát biểu ý
kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị; Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của
Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án.
Điều 355.
Thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm
1. Hội đồng xét xử phúc thẩm có
quyền:
a) Không chấp nhận kháng cáo,
kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm;
b) Sửa bản án sơ thẩm;
c) Hủy bản án sơ thẩm và chuyển
hồ sơ vụ án để điều tra lại hoặc xét xử lại;
d) Hủy bản án sơ thẩm và đình
chỉ vụ án;
đ) Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm.
2. Bản án phúc thẩm có hiệu lực
pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Điều 356.
Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tòa án cấp phúc thẩm không chấp
nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm khi xét thấy các quyết
định của bản án sơ thẩm có căn cứ và đúng pháp luật.
Điều 357.
Sửa bản án sơ thẩm
1. Khi có căn cứ xác định bản
án sơ thẩm đã tuyên không đúng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm
tội, nhân thân bị cáo hoặc có tình tiết mới thì Hội đồng xét xử phúc thẩm có
quyền sửa bản án sơ thẩm như sau:
a) Miễn trách nhiệm hình sự hoặc
miễn hình phạt cho bị cáo; không áp dụng hình phạt bổ sung; không áp dụng biện
pháp tư pháp;
b) Áp dụng điều, khoản của Bộ
luật Hình sự về tội nhẹ hơn;
c) Giảm hình phạt cho bị cáo;
d) Giảm mức bồi thường thiệt hại
và sửa quyết định xử lý vật chứng;
đ) Chuyển sang hình phạt khác
thuộc loại nhẹ hơn;
e) Giữ nguyên hoặc giảm mức
hình phạt tù và cho hưởng án treo.
2. Trường hợp Viện kiểm sát
kháng nghị hoặc bị hại kháng cáo yêu cầu thì Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể:
a) Tăng hình phạt, áp dụng điều,
khoản của Bộ luật Hình sự về tội nặng hơn; áp dụng hình phạt bổ sung; áp dụng
biện pháp tư pháp;
b) Tăng mức bồi thường thiệt hại;
c) Chuyển sang hình phạt khác
thuộc loại nặng hơn;
d) Không cho bị cáo hưởng án
treo.
Nếu có căn cứ thì Hội đồng xét
xử vẫn có thể giảm hình phạt, áp dụng điều, khoản của Bộ luật Hình sự về tội nhẹ
hơn, chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn, giữ nguyên mức hình phạt
tù và cho hưởng án treo, giảm mức bồi thường thiệt hại.
3. Trường hợp có căn cứ, Hội đồng
xét xử phúc thẩm có thể sửa bản án sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều này
cho những bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị.
Điều 358.
Hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại
1. Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy
bản án sơ thẩm để điều tra lại trong các trường hợp:
a) Có căn cứ cho rằng cấp sơ thẩm
bỏ lọt tội phạm, người phạm tội hoặc để khởi tố, điều tra về tội nặng hơn tội
đã tuyên trong bản án sơ thẩm;
b) Việc điều tra ở cấp sơ thẩm
không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được;
c) Có vi phạm nghiêm trọng thủ
tục tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố.
2. Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy
bản án sơ thẩm để xét xử lại ở cấp sơ thẩm với thành phần Hội đồng xét xử mới
trong các trường hợp:
a) Hội đồng xét xử sơ thẩm
không đúng thành phần mà Bộ luật này quy định;
b) Có vi phạm nghiêm trọng thủ
tục tố tụng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm;
c) Người được Tòa án cấp sơ thẩm
tuyên không có tội nhưng có căn cứ cho rằng người đó đã phạm tội;
d) Miễn trách nhiệm hình sự, miễn
hình phạt hoặc áp dụng biện pháp tư pháp đối với bị cáo không có căn cứ;
đ) Bản án sơ thẩm có sai lầm
nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật nhưng không thuộc trường hợp Hội đồng
xét xử phúc thẩm sửa bản án theo quy định tại Điều 357 của Bộ
luật này.
3. Khi hủy bản án sơ thẩm để điều
tra lại hoặc xét xử lại, Hội đồng xét xử phúc thẩm phải ghi rõ lý do của việc hủy
bản án sơ thẩm.
4. Khi hủy bản án sơ thẩm để
xét xử lại, Hội đồng xét xử phúc thẩm không quyết định trước những chứng cứ mà
Tòa án cấp sơ thẩm cần phải chấp nhận hoặc cần phải bác bỏ, cũng như không quyết
định trước về điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự cần áp dụng và hình phạt đối
với bị cáo.
5. Trường hợp hủy bản án sơ thẩm
để điều tra lại hoặc xét xử lại mà thời hạn tạm giam đối với bị cáo đã hết và
xét thấy cần phải tiếp tục tạm giam bị cáo thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết
định tiếp tục tạm giam bị cáo cho đến khi Viện kiểm sát hoặc Tòa án cấp sơ thẩm
thụ lý lại vụ án.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên hủy bản án sơ thẩm, hồ sơ vụ án phải được chuyển cho Viện kiểm sát
hoặc Tòa án cấp sơ thẩm để giải quyết theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật
này.
Điều 359.
Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án
1. Khi có một trong các căn cứ
quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 157 của Bộ luật này
thì Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, tuyên bị cáo không có tội và
đình chỉ vụ án.
2. Khi có một trong các căn cứ
quy định tại các khoản 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 157 của Bộ luật
này thì Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.
Điều 360.
Điều tra lại hoặc xét xử lại vụ án hình sự
1. Sau khi Hội đồng xét xử phúc
thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và
Tòa án cấp sơ thẩm có thẩm quyền tiến hành điều tra, truy tố, xét xử lại vụ án
theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này.
2. Sau khi Hội đồng xét xử phúc
thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại thì Tòa án cấp sơ thẩm có thẩm quyền tiến
hành xét xử lại vụ án theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này.
Điều 361.
Thẩm quyền của Hội đồng phúc thẩm đối với quyết định sơ thẩm
1. Hội đồng phúc thẩm có quyền:
a) Không chấp nhận kháng cáo,
kháng nghị và giữ nguyên quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm khi xét thấy các quyết
định của Tòa án cấp sơ thẩm có căn cứ và đúng pháp luật;
b) Sửa quyết định của Tòa án cấp
sơ thẩm;
c) Hủy quyết định của Tòa án cấp
sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ
án.
2. Quyết định phúc thẩm có hiệu
lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
Điều 362.
Thủ tục phúc thẩm đối với quyết định sơ thẩm
1. Khi phúc thẩm đối với quyết
định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì Hội đồng xét xử phúc thẩm phải triệu
tập người kháng cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị tham
gia phiên họp. Trường hợp họ vắng mặt thì Hội đồng xét xử phúc thẩm vẫn tiến
hành phiên họp.
2. Trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày thụ lý hồ sơ vụ án, Tòa án phải mở phiên họp để xem xét quyết định sơ thẩm
bị kháng cáo, kháng nghị.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ
ngày ra quyết định mở phiên họp, Hội đồng xét xử phúc thẩm phải mở phiên họp.
Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định thì Tòa án phải chuyển hồ sơ vụ
án kèm theo quyết định mở phiên họp cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn
05 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát phải trả hồ sơ vụ án
cho Tòa án.
3. Tại phiên họp, một thành
viên của Hội đồng xét xử phúc thẩm trình bày tóm tắt nội dung quyết định sơ thẩm,
nội dung kháng cáo, kháng nghị và chứng cứ, tài liệu, đồ vật kèm theo (nếu có).
Kiểm sát viên Viện kiểm sát
cùng cấp phải có mặt tại phiên họp và phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về
việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị trước khi Hội đồng xét xử phúc thẩm ra
quyết định.
Phần thứ
năm
MỘT SỐ QUY ĐỊNH VỀ THI
HÀNH BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Chương
XXIII
BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH ĐƯỢC
THI HÀNH NGAY VÀ THẨM QUYỀN RA QUYẾT ĐỊNH THI HÀNH ÁN
Điều 363.
Bản án, quyết định của Tòa án được thi hành ngay
Trường hợp bị cáo đang bị tạm
giam mà Tòa án cấp sơ thẩm quyết định đình chỉ vụ án, tuyên bị cáo không có tội,
miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt cho bị cáo, hình phạt không phải là
hình phạt tù hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo hoặc khi thời hạn phạt tù
bằng hoặc ngắn hơn thời hạn đã tạm giam thì bản án hoặc quyết định của Tòa án
được thi hành ngay, mặc dù vẫn có thể bị kháng cáo, kháng nghị.
Hình phạt cảnh cáo được thi
hành ngay tại phiên tòa.
Điều 364.
Thẩm quyền và thủ tục ra quyết định thi hành án
1. Chánh án Tòa án đã xét xử sơ
thẩm có thẩm quyền ra quyết định thi hành án hoặc ủy thác cho Chánh án Tòa án
khác cùng cấp ra quyết định thi hành án.
2. Thời hạn ra quyết định thi
hành án là 07 ngày kể từ ngày bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật
hoặc kể từ ngày nhận được bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm,
quyết định tái thẩm.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ
ngày nhận được quyết định ủy thác thi hành của Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm
thì Chánh án Tòa án được ủy thác phải ra quyết định thi hành án.
3. Trường hợp người bị kết án
phạt tù đang tại ngoại thì quyết định thi hành án phạt tù phải ghi rõ trong
thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định, người đó phải có mặt tại cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh[172] để thi hành án.
Trường hợp người bị kết án phạt
tù đang tại ngoại mà bỏ trốn thì Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án
yêu cầu cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi người bị kết án phạt
tù đang tại ngoại ra quyết định truy nã.
Điều 365.
Giải thích, sửa chữa bản án, quyết định của Tòa án
1. Cơ quan thi hành án hình sự,
cơ quan thi hành án dân sự, Viện kiểm sát, người bị kết án, bị hại, đương sự
liên quan đến việc thi hành án có quyền yêu cầu Tòa án đã ra bản án, quyết định
giải thích, sửa chữa những điểm chưa rõ trong bản án, quyết định để thi hành.
2. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa
đã ra bản án, quyết định có trách nhiệm giải thích, sửa chữa những điểm chưa rõ
trong bản án, quyết định của Tòa án. Trường hợp Thẩm phán chủ tọa phiên tòa
không thể thực hiện được thì việc giải thích, sửa chữa do Chánh án Tòa án đã ra
bản án, quyết định đó thực hiện.
Điều 366.
Giải quyết kiến nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án
Trường hợp cơ quan thi hành án
hình sự, cơ quan thi hành án dân sự kiến nghị về việc xem xét lại bản án, quyết
định của Tòa án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì Tòa án có thẩm quyền
có trách nhiệm trả lời trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận được văn bản kiến
nghị. Trường hợp vụ án phức tạp thì thời hạn trả lời có thể kéo dài nhưng không
quá 120 ngày kể từ ngày nhận được văn bản kiến nghị.
Chương
XXIV
MỘT SỐ THỦ TỤC VỀ THI
HÀNH ÁN TỬ HÌNH, XÉT THA TÙ TRƯỚC THỜI HẠN CÓ ĐIỀU KIỆN, XÓA ÁN TÍCH
Điều 367.
Thủ tục xem xét bản án tử hình trước khi thi hành
1. Thủ tục xem xét bản án tử
hình trước khi thi hành được thực hiện:
a) Sau khi bản án tử hình có hiệu
lực pháp luật, hồ sơ vụ án phải được gửi ngay cho Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao và bản án phải được gửi ngay cho Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao;
b) Sau khi đã xem xét hồ sơ vụ án
để quyết định kháng nghị hoặc quyết định không kháng nghị giám đốc thẩm hoặc
tái thẩm, Tòa án nhân dân tối cao phải chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát
nhân dân tối cao. Trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao phải trả lại hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tối cao;
c) Trong thời hạn 02 tháng kể từ
ngày nhận được hồ sơ vụ án, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao phải quyết định kháng nghị hoặc quyết định không
kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm;
d) Trong thời hạn 07 ngày kể từ
ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người bị kết án được gửi đơn xin ân giảm lên
Chủ tịch nước;
đ) Bản án tử hình được thi hành
nếu Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm và người bị kết
án không có đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước.
Trường hợp bản án tử hình bị
kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm mà Hội đồng giám đốc thẩm,
Hội đồng tái thẩm Tòa án nhân dân tối cao quyết định không chấp nhận kháng nghị
và giữ nguyên bản án tử hình thì Tòa án nhân dân tối cao phải thông báo ngay
cho người bị kết án biết để họ làm đơn xin ân giảm hình phạt tử hình;
e)[173] Trường hợp người bị kết án có đơn xin ân giảm gửi Chủ
tịch nước thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao có ý kiến trình Chủ tịch nước về việc xét đơn xin ân giảm. Trường hợp
Chủ tịch nước quyết định ân giảm thì Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm ra quyết
định chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân cho người bị kết án. Hết thời
hạn 01 năm kể từ ngày nhận được ý kiến của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao mà Chủ tịch nước không có quyết định ân
giảm thì cơ quan có thẩm quyền thông báo ngay về việc không có quyết định ân giảm
của Chủ tịch nước để Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm tổ chức việc thi hành bản
án tử hình theo quy định.
2. Khi có căn cứ quy định tại khoản
3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự thì Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm không ra
quyết định thi hành án tử hình và báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao để
xem xét chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân cho người bị kết án.
3.[174] Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ
Quốc phòng quy định chi tiết Điều này.
Điều 368.
Thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện
1. Trại giam; Trại tạm giam thuộc
Bộ Công an, Trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm lập hồ sơ
đề nghị tha tù trước thời hạn và chuyển cho Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh,
Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp
quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án phạt tù.
Hồ sơ đề nghị tha tù trước thời
hạn gồm:
a) Đơn xin tha tù trước thời hạn
của phạm nhân kèm theo cam kết không vi phạm pháp luật, các nghĩa vụ phải chấp
hành khi được tha tù trước thời hạn;
b) Bản sao bản án có hiệu lực
pháp luật; quyết định thi hành án;
c) Bản sao quyết định giảm thời
hạn chấp hành án phạt tù đối với người bị kết án về tội phạm nghiêm trọng trở
lên;
d) Văn bản, tài liệu thể hiện
việc chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, án phí, các nghĩa vụ
dân sự;
đ) Tài liệu về cá nhân, hoàn cảnh
gia đình của phạm nhân;
e) Kết quả xếp loại chấp hành
án phạt tù quý, 06 tháng, năm; quyết định khen thưởng hoặc giấy xác nhận của
cơ quan có thẩm quyền về việc phạm nhân lập công (nếu có);
g) Văn bản đề nghị tha tù trước
thời hạn của cơ quan lập hồ sơ.
2. Văn bản đề nghị tha tù trước
thời hạn của cơ quan lập hồ sơ gồm các nội dung chính:
a) Số, ngày, tháng, năm của văn
bản;
b) Họ tên, chức vụ, chữ ký của
người có thẩm quyền đề nghị;
c) Họ tên, giới tính, năm sinh,
nơi cư trú của phạm nhân; nơi phạm nhân chấp hành thời gian thử thách;
d) Thời gian đã chấp hành án phạt
tù; thời gian chấp hành án phạt tù còn lại;
đ) Nhận xét và đề nghị của cơ
quan lập hồ sơ.
3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được hồ sơ đề nghị tha tù trước thời hạn, Viện kiểm sát nhân dân cấp
tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu phải ra văn bản thể hiện quan điểm về
việc đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện của cơ quan đề nghị.
Trường hợp Viện kiểm sát yêu cầu
cơ quan lập hồ sơ bổ sung tài liệu thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận
được yêu cầu, cơ quan lập hồ sơ phải bổ sung tài liệu và gửi cho Viện kiểm sát,
Tòa án.
4. Trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được hồ sơ của cơ quan đề nghị, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh,
Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu phải mở phiên họp xét tha tù trước thời hạn
có điều kiện; đồng thời thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp để cử
Kiểm sát viên tham gia phiên họp. Trường hợp Tòa án yêu cầu cơ quan lập hồ sơ bổ
sung tài liệu thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu, cơ quan
lập hồ sơ phải bổ sung tài liệu và gửi cho Tòa án, Viện kiểm sát.
5. Hội đồng xét tha tù trước
thời hạn có điều kiện gồm Chánh án và 02 Thẩm phán, do Chánh án làm Chủ tịch Hội
đồng.
6. Tại phiên họp, một thành
viên của Hội đồng trình bày tóm tắt hồ sơ đề nghị. Kiểm sát viên trình bày quan
điểm của Viện kiểm sát về việc đề nghị xét tha tù trước thời hạn có điều kiện
của cơ quan đề nghị và việc tuân thủ pháp luật trong việc xét, quyết định tha
tù trước thời hạn có điều kiện. Đại diện cơ quan đã lập hồ sơ đề nghị có thể
trình bày bổ sung để làm rõ việc đề nghị tha tù trước thời hạn.
7. Phiên họp xét tha tù trước
thời hạn có điều kiện được lập biên bản. Biên bản ghi rõ ngày, tháng, năm, địa điểm
mở phiên họp; thành phần tham gia phiên họp; nội dung, diễn biến phiên họp và
quyết định của Hội đồng về việc chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị tha tù
trước thời hạn có điều kiện đối với từng phạm nhân.
Sau khi kết thúc phiên họp, Kiểm
sát viên xem biên bản phiên họp, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung (nếu có)
vào biên bản phiên họp; Chủ tịch Hội đồng phải kiểm tra biên bản, cùng với thư
ký phiên họp ký vào biên bản.
8. Trong thời hạn 03 ngày kể từ
ngày ra quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, Tòa án phải gửi quyết định
cho phạm nhân, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, cơ
quan đã lập hồ sơ đề nghị, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp tỉnh[175],
cấp quân khu, Ủy ban nhân dân cấp xã[176]
nơi người được tha tù trước thời hạn về cư trú, đơn vị quân đội được giao quản
lý người đó, Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định có trụ sở.
9. Ngay sau khi nhận được quyết
định tha tù trước thời hạn có điều kiện, cơ sở giam giữ phải tổ chức công bố quyết
định này và thực hiện các thủ tục thi hành quyết định tha tù trước thời hạn có
điều kiện. Trong thời gian thử thách mà người được tha tù trước thời hạn có điều
kiện không vi phạm các quy định tại khoản 4 Điều 66 của Bộ luật hình sự thì khi
hết thời gian thử thách, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh[177], cơ quan thi hành án hình sự
cấp quân khu nơi đã quản lý họ có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận chấp hành
xong án phạt tù.
10. Trường hợp người được tha
tù trước thời hạn vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 66 của Bộ luật Hình sự thì
cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh[178] nơi người được tha tù trước thời hạn về cư trú, đơn
vị quân đội được giao quản lý người đó phải lập hồ sơ chuyển đến Viện kiểm sát và
Tòa án đã ra quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện để xem xét, hủy quyết
định đã ban hành và buộc người đó phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại
chưa chấp hành.
Trong thời hạn 05 ngày kể từ
ngày nhận được hồ sơ đề nghị, Tòa án phải mở phiên họp để xem xét, quyết định.
Trong thời hạn 03 ngày kể từ
ngày ra quyết định hủy bỏ quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, Tòa
án phải gửi quyết định cho cơ quan, cá nhân quy định tại khoản 8 Điều này.
11. Viện kiểm sát có quyền
kháng nghị, phạm nhân có quyền khiếu nại đối với quyết định về việc chấp nhận
hoặc không chấp nhận đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện, quyết định hủy
quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện.
Trình tự, thủ tục, thẩm quyền
giải quyết kháng nghị, khiếu nại các quyết định quy định tại khoản này được thực
hiện theo quy định tại Chương XXII và Chương XXXIII của Bộ luật này.
Điều 369.
Thủ tục xóa án tích
1. Trong thời hạn 05 ngày kể từ
ngày nhận được yêu cầu của người được đương nhiên xóa án tích và xét thấy có đủ
điều kiện quy định tại Điều 70 của Bộ luật Hình sự thì cơ quan quản lý cơ sở dữ
liệu lý lịch tư pháp cấp phiếu lý lịch tư pháp là họ không có án tích.
2. Những trường hợp quy định tại
Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật Hình sự thì việc xóa án tích do Tòa án quyết định.
Người bị kết án phải có đơn gửi Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án có nhận xét của Ủy
ban nhân dân cấp xã[179] nơi họ
cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ làm việc, học tập.
Trong thời hạn 03 ngày kể từ
ngày nhận được đơn của người bị kết án, Tòa án đã xét xử sơ thẩm chuyển tài liệu
về việc xin xoá án tích cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 05 ngày kể
từ ngày nhận tài liệu do Tòa án chuyển đến, Viện kiểm sát cùng cấp có ý kiến bằng
văn bản và chuyển lại tài liệu cho Tòa án.
Nếu xét thấy đủ điều kiện thì
trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận tài liệu do Viện kiểm sát chuyển đến,
Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải ra quyết định xóa án tích; trường hợp
chưa đủ điều kiện thì quyết định bác đơn xin xóa án tích.
Trong thời hạn 05 ngày kể từ
ngày ra quyết định xóa án tích hoặc quyết định bác đơn xin xóa án tích, Tòa án
đã ra quyết định phải gửi quyết định này cho người bị kết án, Viện kiểm sát
cùng cấp, Ủy ban nhân dân cấp xã[180]
nơi họ cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ làm việc, học tập.
Phần thứ
sáu
XÉT LẠI BẢN ÁN VÀ QUYẾT
ĐỊNH ĐÃ CÓ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT
Chương
XXV
THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM
Điều 370.
Tính chất của giám đốc thẩm
Giám đốc thẩm là xét lại bản
án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát
hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án.
Điều 371.
Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
Bản án, quyết định của Tòa án
đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một
trong các căn cứ:
1. Kết luận trong bản án, quyết
định của Tòa án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án;
2. Có vi phạm nghiêm trọng thủ
tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong
việc giải quyết vụ án;
3. Có sai lầm nghiêm trọng
trong việc áp dụng pháp luật.
Điều 372.
Phát hiện bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật cần xét lại theo thủ tục
giám đốc thẩm
1. Người bị kết án, cơ quan, tổ
chức và mọi cá nhân có quyền phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định
của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và thông báo cho người có thẩm quyền kháng
nghị.
2.[181] Tòa án quân sự cấp quân khu thực hiện việc kiểm tra bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự khu vực để phát hiện
vi phạm pháp luật và kiến nghị Chánh án Tòa án quân sự trung ương xem xét kháng
nghị.
3. Khi thực hiện công tác giám
đốc việc xét xử, kiểm sát việc xét xử hoặc qua các nguồn thông tin khác mà Tòa
án, Viện kiểm sát phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa
án đã có hiệu lực pháp luật thì thông báo ngay bằng văn bản cho người có thẩm
quyền kháng nghị.
Điều 373.
Những người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
1.[182] Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm
sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án
nhân dân cấp tỉnh; bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác
khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao.
2. Chánh án Tòa án quân sự
trung ương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương có quyền kháng nghị
theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa
án quân sự cấp quân khu, Tòa án quân sự khu vực.
3.[183] Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân khu vực trong phạm
vi tỉnh, thành phố.
Điều 374.
Thủ tục thông báo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật cần
xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm
1. Khi phát hiện vi phạm pháp
luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì người bị
kết án, cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo bằng văn bản hoặc trình bày trực tiếp
với người có thẩm quyền kháng nghị hoặc với Tòa án, Viện kiểm sát nơi gần nhất
kèm theo chứng cứ, tài liệu, đồ vật (nếu có).
2. Văn bản thông báo có các nội
dung chính:
a) Ngày, tháng, năm;
b) Tên, địa chỉ của cơ quan, tổ
chức, cá nhân thông báo;
c) Bản án, quyết định của Tòa
án đã có hiệu lực pháp luật bị phát hiện có vi phạm pháp luật;
d) Nội dung vi phạm pháp luật
được phát hiện;
đ) Kiến nghị người có thẩm quyền
xem xét kháng nghị.
3. Người thông báo là cá nhân
phải ký tên hoặc điểm chỉ; trường hợp cơ quan, tổ chức thông báo thì người đại
diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu.
Điều 375.
Thủ tục tiếp nhận thông báo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp
luật cần xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm
1. Khi nhận được thông báo bằng
văn bản thì Tòa án, Viện kiểm sát phải vào sổ nhận thông báo.
2. Khi người bị kết án, cơ
quan, tổ chức, cá nhân trình bày trực tiếp về vi phạm pháp luật trong bản án,
quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì Tòa án, Viện kiểm sát phải lập
biên bản; nếu người thông báo cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật thì Tòa án,
Viện kiểm sát phải lập biên bản thu giữ. Biên bản được lập theo quy định tại Điều 133 của Bộ luật này.
3. Tòa án, Viện kiểm sát đã nhận
thông báo, lập biên bản phải gửi ngay thông báo, biên bản kèm theo chứng cứ,
tài liệu, đồ vật (nếu có) cho người có thẩm quyền kháng nghị và thông báo bằng
văn bản cho người bị kết án, cơ quan, tổ chức, cá nhân đã kiến nghị, đề nghị biết.
Điều 376.
Chuyển hồ sơ vụ án để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
1. Trường hợp cần thiết phải
nghiên cứu hồ sơ vụ án để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm thì Tòa
án, Viện kiểm sát có thẩm quyền yêu cầu bằng văn bản để Tòa án đang quản lý hồ
sơ chuyển hồ sơ vụ án.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ
ngày nhận được văn bản yêu cầu, Tòa án đang quản lý hồ sơ vụ án phải chuyển hồ
sơ vụ án cho Tòa án, Viện kiểm sát đã yêu cầu.
2. Trường hợp Tòa án và Viện kiểm
sát cùng có văn bản yêu cầu thì Tòa án đang quản lý hồ sơ vụ án chuyển hồ sơ
cho cơ quan yêu cầu trước và thông báo cho cơ quan yêu cầu sau biết.
Điều 377.
Tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định bị kháng nghị giám đốc thẩm
Người ra quyết định kháng nghị
giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì có quyền
quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đó.
Quyết định tạm đình chỉ thi
hành bản án, quyết định bị kháng nghị giám đốc thẩm phải gửi cho Tòa án, Viện
kiểm sát nơi đã xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
Điều 378.
Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
Quyết định kháng nghị giám đốc
thẩm có các nội dung chính:
1. Số, ngày, tháng, năm của quyết
định;
2. Người có thẩm quyền ra quyết
định;
3. Số, ngày, tháng, năm của bản
án, quyết định bị kháng nghị;
4. Nhận xét, phân tích những vi
phạm pháp luật, sai lầm của bản án, quyết định bị kháng nghị;
5. Căn cứ pháp luật để quyết định
kháng nghị;
6. Quyết định kháng nghị toàn bộ
hay một phần bản án, quyết định;
7. Tên của Tòa án có thẩm quyền
giám đốc thẩm vụ án;
8. Yêu cầu của người kháng nghị.
Điều 379.
Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
1. Việc kháng nghị theo hướng
không có lợi cho người bị kết án chỉ được tiến hành trong thời hạn 01 năm kể từ
ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
2. Việc kháng nghị theo hướng
có lợi cho người bị kết án có thể được tiến hành bất cứ lúc nào, cả trong trường
hợp người bị kết án đã chết mà cần minh oan cho họ.
3. Việc kháng nghị về dân sự
trong vụ án hình sự đối với đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật
về tố tụng dân sự.
4. Nếu không có căn cứ để kháng
nghị theo thủ tục giám đốc thẩm thì người có quyền kháng nghị phải trả lời bằng
văn bản cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã kiến nghị biết rõ lý do của việc không
kháng nghị.
Điều 380.
Gửi quyết định kháng nghị giám đốc thẩm
1. Quyết định kháng nghị giám đốc
thẩm phải gửi ngay cho Tòa án đã ra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
bị kháng nghị, người bị kết án, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan thi hành
án dân sự có thẩm quyền và những người khác có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến
nội dung kháng nghị.
2. Trường hợp Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao kháng nghị thì quyết định kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án phải
gửi ngay cho Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm.
Trường hợp Chánh án Tòa án nhân
dân cấp tỉnh[184], Chánh án Tòa
án quân sự trung ương kháng nghị thì quyết định kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án
phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát có thẩm quyền.
Tòa án có thẩm quyền giám đốc
thẩm phải gửi quyết định kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát
cùng cấp. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm
sát phải gửi lại hồ sơ vụ án cho Tòa án.
3. Trường hợp Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh[185], Viện trưởng Viện kiểm sát
quân sự trung ương kháng nghị thì quyết định kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án phải
gửi ngay cho Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm.
Điều 381.
Thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị
1. Trước khi mở phiên tòa hoặc
tại phiên tòa giám đốc thẩm, người kháng nghị có quyền bổ sung, thay đổi kháng
nghị nếu chưa hết thời hạn kháng nghị. Việc bổ sung, thay đổi kháng nghị trước
khi mở phiên tòa phải bằng quyết định và được gửi theo quy định tại khoản 1 Điều 380 của Bộ luật này. Việc bổ sung, thay đổi
kháng nghị tại phiên tòa được ghi vào biên bản phiên tòa.
2. Trước khi bắt đầu hoặc tại
phiên tòa giám đốc thẩm, người kháng nghị có quyền rút một phần hoặc toàn bộ
kháng nghị. Việc rút kháng nghị trước khi mở phiên tòa phải bằng quyết định; việc
rút kháng nghị tại phiên tòa được ghi vào biên bản phiên tòa.
3. Trường hợp rút toàn bộ kháng
nghị trước khi mở phiên tòa thì Chánh án Tòa án có thẩm quyền giám đốc thẩm ra
quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm. Trường hợp rút toàn bộ kháng nghị tại
phiên tòa thì Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm.
Trong thời hạn 02 ngày kể từ
ngày ra quyết định, Tòa án gửi quyết định đình chỉ xét xử giám đốc thẩm cho những
người quy định tại khoản 1 Điều 380 của Bộ luật này và Viện
kiểm sát cùng cấp.
Điều 382.
Thẩm quyền giám đốc thẩm[186]
1. Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm năm Thẩm phán đối với bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối
cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự trung ương bị kháng nghị.
2. Hội đồng toàn thể Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực
pháp luật quy định tại khoản 1 Điều này nhưng có tính chất phức tạp hoặc bản án,
quyết định đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm bằng
Hội đồng xét xử gồm năm Thẩm phán nhưng không thống nhất khi biểu quyết thông
qua quyết định về việc giải quyết vụ án.
Khi Hội đồng toàn thể Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm thì phải có ít nhất hai phần ba tổng
số thành viên tham gia, do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao làm chủ tọa phiên
tòa. Quyết định của Hội đồng toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải được
quá nửa tổng số thành viên Hội đồng biểu quyết tán thành; nếu không được quá nửa
tổng số thành viên của Hội đồng toàn thể Thẩm phán tán thành thì phải hoãn
phiên tòa. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa thì Hội
đồng toàn thể Thẩm phán phải mở phiên tòa xét xử lại vụ án.
3. Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân
sự trung ương giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
của Tòa án quân sự cấp quân khu, Tòa án quân sự khu vực bị kháng nghị. Khi xét
xử giám đốc thẩm thì phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên của Ủy ban
Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương tham gia, do Chánh án Tòa án quân sự trung
ương làm chủ tọa phiên tòa. Quyết định của Ủy ban Thẩm phán phải được quá nửa tổng
số thành viên biểu quyết tán thành; nếu không được quá nửa tổng số thành viên của
Ủy ban Thẩm phán tán thành thì phải hoãn phiên tòa. Trong thời hạn 30 ngày kể từ
ngày ra quyết định hoãn phiên tòa thì Ủy ban Thẩm phán phải mở phiên tòa xét xử
lại vụ án.
4. Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân
dân cấp tỉnh giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
của Tòa án nhân dân khu vực bị kháng nghị. Khi xét xử giám đốc thẩm thì phải có
ít nhất hai phần ba tổng số thành viên của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp
tỉnh tham gia, do Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh làm chủ tọa phiên tòa. Quyết
định của Ủy ban Thẩm phán phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán
thành; nếu không được quá nửa tổng số thành viên của Ủy ban Thẩm phán tán thành
thì phải hoãn phiên tòa. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn
phiên tòa thì Ủy ban Thẩm phán phải mở phiên tòa xét xử lại vụ án.
5. Bản án, quyết định đã có hiệu
lực pháp luật bị kháng nghị thuộc thẩm quyền giám đốc thẩm của các cấp khác
nhau thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm toàn bộ vụ án.
Điều 383.
Những người tham gia phiên tòa giám đốc thẩm
1. Phiên tòa giám đốc thẩm phải
có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp.
2. Trường hợp xét thấy cần thiết
hoặc có căn cứ sửa một phần bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, Tòa án
phải triệu tập người bị kết án, người bào chữa và những người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên tòa giám đốc thẩm; nếu họ
vắng mặt thì phiên tòa giám đốc thẩm vẫn được tiến hành.
Điều 384.
Chuẩn bị phiên tòa giám đốc thẩm
Chánh án Tòa án phân công một
Thẩm phán là thành viên Hội đồng giám đốc thẩm làm bản thuyết trình về vụ án. Bản
thuyết trình tóm tắt nội dung vụ án và các bản án, quyết định của các cấp Tòa
án, nội dung của kháng nghị.
Bản thuyết trình và các tài liệu
có liên quan phải gửi cho các thành viên Hội đồng giám đốc thẩm chậm nhất là 07
ngày trước ngày mở phiên tòa giám đốc thẩm.
Điều 385.
Thời hạn mở phiên tòa giám đốc thẩm
Trong thời hạn 04 tháng kể từ
ngày nhận được quyết định kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án, Tòa án có thẩm quyền
giám đốc thẩm phải mở phiên tòa.
Điều 386.
Thủ tục phiên tòa giám đốc thẩm
1. Sau khi chủ tọa phiên tòa
khai mạc phiên tòa, một thành viên Hội đồng giám đốc thẩm trình bày bản thuyết
trình về vụ án. Các thành viên khác của Hội đồng giám đốc thẩm hỏi thêm Thẩm
phán thuyết trình về những điểm chưa rõ trước khi thảo luận và phát biểu ý kiến
của mình về việc giải quyết vụ án. Trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị thì Kiểm
sát viên trình bày nội dung kháng nghị.
2. Trường hợp người bị kết án,
người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng nghị có mặt tại
phiên tòa thì những người này được trình bày ý kiến về những vấn đề mà Hội đồng
giám đốc thẩm yêu cầu.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến
của Viện kiểm sát về quyết định kháng nghị và việc giải quyết vụ án.
Kiểm sát viên, người tham gia tố
tụng tại phiên tòa giám đốc thẩm tranh tụng về những vấn đề liên quan đến việc
giải quyết vụ án. Chủ tọa phiên tòa phải tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, người
tham gia tố tụng trình bày hết ý kiến, tranh luận dân chủ, bình đẳng trước Tòa
án.
3. Các thành viên Hội đồng giám
đốc thẩm phát biểu ý kiến của mình và thảo luận. Hội đồng giám đốc thẩm biểu
quyết về việc giải quyết vụ án và công bố quyết định về việc giải quyết vụ án.
Điều 387.
Phạm vi giám đốc thẩm
Hội đồng giám đốc thẩm phải xem
xét toàn bộ vụ án mà không chỉ hạn chế trong nội dung của kháng nghị.
Điều 388.
Thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm
1. Không chấp nhận kháng nghị
và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị.
2. Hủy bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật và giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp
sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm bị hủy, sửa không đúng pháp luật.
3. Hủy bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại.
4. Hủy bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án.
5. Sửa bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật.
6. Đình chỉ xét xử giám đốc thẩm.
Điều 389.
Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật bị kháng nghị
Hội đồng giám đốc thẩm không chấp
nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị
kháng nghị khi xét thấy bản án, quyết định đó có căn cứ và đúng pháp luật.
Điều 390.
Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và giữ nguyên bản án, quyết định
đúng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm bị hủy, sửa
không đúng pháp luật
Hội đồng giám đốc thẩm ra quyết
định hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và giữ nguyên bản án, quyết
định đúng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm nhưng bị hủy,
sửa không đúng pháp luật.
Điều 391.
Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại
Hội đồng giám đốc thẩm hủy một
phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại
hoặc xét xử lại nếu có một trong các căn cứ quy định tại Điều
371 của Bộ luật này. Nếu hủy để xét xử lại thì tùy trường hợp, Hội đồng
giám đốc thẩm có thể quyết định xét xử lại từ cấp sơ thẩm hoặc cấp phúc thẩm.
Trường hợp xét thấy cần tiếp tục
tạm giam bị cáo thì Hội đồng giám đốc thẩm ra quyết định tạm giam cho đến khi
Viện kiểm sát hoặc Tòa án thụ lý lại vụ án.
Điều 392.
Hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án
Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án nếu có một trong các
căn cứ quy định tại Điều 157 của Bộ luật này.
Điều 393.
Sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật khi có đủ các điều kiện:
1. Các tài liệu, chứng cứ trong
hồ sơ vụ án đã rõ ràng, đầy đủ;
2. Việc sửa bản án, quyết định không
làm thay đổi bản chất của vụ án, không làm xấu đi tình trạng của người bị kết
án, không gây bất lợi cho bị hại, đương sự.
Điều 394.
Quyết định giám đốc thẩm
1. Hội đồng giám đốc thẩm ra
quyết định giám đốc thẩm nhân danh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Quyết định giám đốc thẩm có
các nội dung:
a) Ngày, tháng, năm và địa điểm
mở phiên tòa;
b) Họ tên các thành viên Hội đồng
giám đốc thẩm;
c) Họ tên Kiểm sát viên thực
hành quyền công tố, kiểm sát xét xử phiên tòa;
d) Tên vụ án mà Hội đồng đưa ra
xét xử giám đốc thẩm;
đ) Tên, tuổi, địa chỉ của người
bị kết án và những người khác có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quyết định
giám đốc thẩm;
e) Tóm tắt nội dung vụ án, phần
quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị;
g) Quyết định kháng nghị, căn cứ
kháng nghị;
h) Nhận định của Hội đồng giám
đốc thẩm, trong đó phải phân tích những căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận
kháng nghị;
i) Điểm, khoản, điều của Bộ luật
Tố tụng hình sự, Bộ luật Hình sự mà Hội đồng giám đốc thẩm căn cứ để ra quyết định;
k) Quyết định của Hội đồng giám
đốc thẩm.
Điều 395.
Hiệu lực của quyết định giám đốc thẩm và việc gửi quyết định giám đốc thẩm
1. Quyết định của Hội đồng giám
đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
2. Trong thời hạn 10 ngày kể từ
ngày ra quyết định, Hội đồng giám đốc thẩm phải gửi quyết định giám đốc thẩm
cho người bị kết án, người đã kháng nghị; Viện kiểm sát cùng cấp; Viện kiểm
sát, Tòa án nơi đã xét xử sơ thẩm, phúc thẩm; cơ quan thi hành án hình sự, cơ
quan thi hành án dân sự có thẩm quyền, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến
việc kháng nghị hoặc người đại diện của họ; thông báo bằng văn bản cho Ủy ban
nhân dân cấp xã[187] nơi người
bị kết án cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án làm việc, học tập.
Điều 396.
Thời hạn chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại hoặc xét xử lại
Nếu Hội đồng giám đốc thẩm quyết
định hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại thì trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định, hồ sơ vụ án phải được chuyển cho Viện
kiểm sát cùng cấp để điều tra lại theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này.
Nếu Hội đồng giám đốc thẩm quyết
định hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử lại vụ án ở cấp
sơ thẩm hoặc ở cấp phúc thẩm thì trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định,
hồ sơ vụ án phải được chuyển cho Tòa án có thẩm quyền để xét xử lại theo thủ tục
chung quy định tại Bộ luật này.
Chương
XXVI
THỦ TỤC TÁI THẨM
Điều 397.
Tính chất của tái thẩm
Tái thẩm là xét lại bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhưng bị kháng nghị vì có tình tiết mới
được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà
Tòa án không biết được khi ra bản án, quyết định đó.
Điều 398.
Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
Bản án, quyết định của Tòa án
đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi có một trong
các căn cứ:
1. Có căn cứ chứng minh lời
khai của người làm chứng, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản, lời dịch
của người phiên dịch, bản dịch thuật có những điểm quan trọng không đúng sự thật;
2. Có tình tiết mà Điều tra
viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm do không biết được mà kết luận không
đúng làm cho bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không đúng
sự thật khách quan của vụ án;
3. Vật chứng, biên bản về hoạt
động điều tra, truy tố, xét xử, biên bản hoạt động tố tụng khác hoặc những chứng
cứ, tài liệu, đồ vật khác trong vụ án bị giả mạo hoặc không đúng sự thật;
4. Những tình tiết khác làm cho
bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không đúng sự thật khách
quan của vụ án.
Điều 399.
Thông báo và xác minh những tình tiết mới được phát hiện
1. Người bị kết án, cơ quan, tổ
chức và mọi cá nhân có quyền phát hiện tình tiết mới của vụ án và thông báo kèm
theo các tài liệu liên quan cho Viện kiểm sát hoặc Tòa án. Trường hợp Tòa án nhận
được thông báo hoặc tự mình phát hiện tình tiết mới của vụ án thì phải thông
báo ngay bằng văn bản kèm theo các tài liệu liên quan cho Viện trưởng Viện kiểm
sát có thẩm quyền kháng nghị tái thẩm. Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền
kháng nghị tái thẩm ra quyết định xác minh những tình tiết đó.
2. Viện kiểm sát phải xác minh
những tình tiết mới; khi xét thấy cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm
quyền kháng nghị tái thẩm yêu cầu Cơ quan điều tra có thẩm quyền xác minh tình tiết
mới của vụ án và chuyển kết quả xác minh cho Viện kiểm sát.
3. Khi tiến hành xác minh tình tiết
mới của vụ án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra có quyền áp dụng các biện pháp điều
tra tố tụng theo quy định của Bộ luật này.
Điều 400.
Những người có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
1. Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án các cấp, trừ quyết định của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
2. Viện trưởng Viện kiểm sát
quân sự trung ương có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu, Tòa án
quân sự khu vực.
3.[188] Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền
kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật của Tòa án nhân dân khu vực thuộc phạm vi tỉnh, thành phố.
Điều 401.
Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm
1. Tái thẩm theo hướng không có
lợi cho người bị kết án chỉ được thực hiện trong thời hiệu truy cứu trách nhiệm
hình sự quy định tại Điều 27 của Bộ luật Hình sự và thời hạn kháng nghị không
được quá 01 năm kể từ ngày Viện kiểm sát nhận được tin báo về tình tiết mới được
phát hiện.
2. Tái thẩm theo hướng có lợi
cho người bị kết án thì không hạn chế về thời gian và được thực hiện cả trong
trường hợp người bị kết án đã chết mà cần minh oan cho họ.
3. Việc kháng nghị về dân sự
trong vụ án hình sự đối với đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật
về tố tụng dân sự.
Điều 402.
Thẩm quyền của Hội đồng tái thẩm
1. Không chấp nhận kháng nghị và
giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị.
2. Hủy bản án, quyết định của
Tòa án đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại.
3. Hủy bản án, quyết định của
Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án.
4. Đình chỉ việc xét xử tái thẩm.
Điều 403.
Các thủ tục khác về tái thẩm
Các thủ tục khác về tái thẩm được
thực hiện theo các quy định về thủ tục giám đốc thẩm quy định tại Bộ luật này.
Chương
XXVII
THỦ TỤC XEM XÉT LẠI QUYẾT
ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Điều 404.
Yêu cầu, kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao
1. Khi có căn cứ xác định quyết
định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có vi phạm pháp luật nghiêm
trọng hoặc phát hiện tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội
dung quyết định mà Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao không biết được
khi ra quyết định đó, nếu Ủy ban Thường vụ Quốc hội yêu cầu, Ủy ban Pháp luật
và Tư pháp của Quốc hội[189],
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiến nghị, Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao đề nghị thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối phải mở phiên họp để
xem xét lại quyết định đó.
2. Trường hợp Ủy ban Thường vụ
Quốc hội yêu cầu thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm báo cáo Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét lại quyết định của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
3. Trường hợp Ủy ban Pháp luật
và Tư pháp của Quốc hội[190],
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kiến nghị thì Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao mở phiên họp xem xét kiến nghị đó.
Trường hợp Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao đề nghị thì báo cáo Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao mở
phiên họp xem xét đề nghị đó.
Điều 405.
Thành phần tham dự phiên họp của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để
xem xét kiến nghị, đề nghị
1. Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao phải tham dự phiên họp của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao để xem xét kiến nghị của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[191], kiến nghị của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao.
2. Đại diện Ủy ban Pháp luật và
Tư pháp của Quốc hội[192] được
mời tham dự phiên họp của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét
kiến nghị của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[193].
3. Trường hợp xét thấy cần thiết,
Tòa án nhân dân tối cao có thể mời cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham
dự phiên họp.
Điều 406.
Chuẩn bị mở phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị
1. Sau khi nhận được kiến nghị
của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[194], của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc
sau khi Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có văn bản đề nghị xem xét lại quyết định
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao gửi cho
Viện kiểm sát nhân dân tối cao bản sao văn bản kiến nghị hoặc đề nghị đó kèm
theo hồ sơ vụ án để Viện kiểm sát nhân dân tối cao chuẩn bị ý kiến phát biểu tại
phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị.
Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao tổ chức thẩm định hồ sơ để báo cáo Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao xem xét, quyết định tại phiên họp.
2. Trong thời hạn 30 ngày kể từ
ngày nhận được kiến nghị của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[195], kiến nghị của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc kể từ ngày Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
có văn bản đề nghị thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải mở phiên
họp xem xét kiến nghị, đề nghị đó và thông báo bằng văn bản cho Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao về thời gian, địa điểm mở phiên họp xem xét kiến nghị,
đề nghị.
Điều 407.
Thủ tục mở phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị
1. Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao tự mình hoặc phân công một thành viên Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao trình bày tóm tắt nội dung vụ án và quá trình giải quyết vụ án.
2. Đại diện Ủy ban Pháp luật và
Tư pháp của Quốc hội[196],
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có
kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao trình bày về các vấn đề sau:
a) Nội dung kiến nghị, đề nghị;
b) Căn cứ kiến nghị, đề nghị;
c) Phân tích chứng cứ cũ và chứng
cứ mới bổ sung (nếu có) để làm rõ việc vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quyết
định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hoặc những tình tiết quan
trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định của Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao.
3. Trường hợp xem xét kiến nghị
của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[197] hoặc xem xét đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phát biểu ý kiến về tính có
căn cứ và hợp pháp của kiến nghị, đề nghị; nêu rõ quan điểm và lý do nhất trí
hoặc không nhất trí với kiến nghị, đề nghị đó.
4. Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao thảo luận và biểu quyết theo đa số về việc nhất trí hoặc không
nhất trí với kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao.
5. Trường hợp nhất trí với kiến
nghị của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[198], Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đề
nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao quyết định về việc mở phiên họp để xem xét lại quyết định của mình.
6. Mọi diễn biến tại phiên họp
xem xét kiến nghị, đề nghị và các quyết định được thông qua tại phiên họp được
ghi vào biên bản phiên họp và lưu hồ sơ xem xét kiến nghị, đề nghị.
Điều 408.
Thông báo kết quả phiên họp xem xét kiến nghị, đề nghị
Sau khi kết thúc phiên họp, Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao gửi văn bản thông báo kết quả phiên họp
về việc nhất trí hoặc không nhất trí kiến nghị, đề nghị cho Ủy ban Pháp luật và
Tư pháp của Quốc hội[199], Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Văn bản thông báo phải nêu rõ lý do của
việc nhất trí hoặc không nhất trí với kiến nghị, đề nghị đó.
Trường hợp không nhất trí kết
quả xem xét kiến nghị, đề nghị của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
thì Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[200], Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao có quyền báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết
định.
Điều 409.
Thẩm định hồ sơ vụ án; xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật
1. Trường hợp có yêu cầu của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội hoặc có quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao nhất trí xem xét lại quyết định của mình thì Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao tổ chức việc thẩm định hồ sơ vụ án và tổ chức việc xác minh, thu thập
chứng cứ, tài liệu, đồ vật trong trường hợp cần thiết.
2. Việc thẩm định hồ sơ vụ án,
xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật phải làm rõ có hay không có vi phạm
pháp luật nghiêm trọng hoặc có hay không có tình tiết quan trọng mới làm thay đổi
cơ bản nội dung quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Điều 410.
Thời hạn mở phiên họp xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao
1. Trong thời hạn 04 tháng kể từ
ngày nhận được yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc kể từ ngày có quyết định
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhất trí xem xét lại quyết định
của mình, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải mở phiên họp.
2. Tòa án nhân dân tối cao gửi
cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao văn bản thông báo về thời gian, địa điểm mở
phiên họp xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
kèm theo hồ sơ vụ án trong trường hợp có yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Điều 411.
Thủ tục và thẩm quyền xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao
1. Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao phải tham dự phiên họp xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao và phát biểu quan điểm về việc có hay không có vi
phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có hay không có tình tiết mới quan trọng làm
thay đổi cơ bản nội dung quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao và quan điểm về việc giải quyết vụ án.
2. Sau khi nghe Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao báo cáo, nghe ý kiến của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham dự (nếu có), Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định:
a) Không chấp nhận yêu cầu của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội, kiến nghị của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[201], Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao, đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và giữ nguyên
quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
b) Hủy quyết định của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật có vi phạm pháp luật và quyết định về nội dung vụ án;
c) Hủy quyết định của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật và xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật;
d) Hủy quyết định của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật có vi phạm pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại.
3. Quyết định của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao phải được ít nhất ba phần tư tổng số thành viên của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao biểu quyết tán thành.
Điều 412.
Gửi quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc xem xét lại
quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Sau khi Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao ra một trong các quyết định quy định tại Điều
411 của Bộ luật này, Tòa án nhân dân tối cao gửi quyết định cho Ủy ban Thường
vụ Quốc hội, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội[202], Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát và Tòa án đã giải quyết vụ án và những người có liên quan.
Phần thứ
bảy
THỦ TỤC ĐẶC BIỆT
Chương
XXVIII[203] (được bãi bỏ)
Chương
XXIX
THỦ TỤC TỐ TỤNG TRUY CỨU
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ PHÁP NHÂN
Điều 431.
Phạm vi áp dụng
Thủ tục tố tụng đối với pháp nhân
bị tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố, bị điều tra, truy tố, xét xử,
thi hành án được tiến hành theo quy định của Chương này, đồng thời theo những
quy định khác của Bộ luật này không trái với quy định của Chương này.
Điều 432.
Khởi tố vụ án, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự
1. Khi xác định có dấu hiệu tội
phạm do pháp nhân thực hiện thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ
án hình sự theo quy định tại các điều 143, 153 và 154 của Bộ
luật này.
2. Căn cứ, trình tự, thủ tục
thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự được thực hiện theo quy định
tại Điều 156 của Bộ luật này.
Điều 433.
Khởi tố bị can, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can đối với pháp nhân
1. Khi có đủ căn cứ xác định
pháp nhân đã thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm thì cơ
quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố bị can đối với pháp nhân.
2. Quyết định khởi tố bị can đối
với pháp nhân ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết định; họ tên, chức vụ người
ra quyết định; tên và địa chỉ của pháp nhân theo quyết định thành lập của cơ
quan có thẩm quyền; tội danh, điều khoản của Bộ luật Hình sự đã áp dụng; thời
gian, địa điểm phạm tội và những tình tiết khác của tội phạm.
Nếu pháp nhân bị khởi tố về nhiều
tội khác nhau thì trong quyết định khởi tố bị can đối với pháp nhân phải ghi rõ
từng tội danh và điều, khoản của Bộ luật Hình sự đã áp dụng.
3. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục
khởi tố bị can, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can đối với pháp nhân
được thực hiện theo quy định tại Điều 179 và 180 của Bộ luật
này.
Điều 434.
Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân tham gia tố tụng
1. Mọi hoạt động tố tụng của
pháp nhân bị truy cứu trách nhiệm hình sự được thông qua người đại diện theo
pháp luật của pháp nhân. Pháp nhân phải cử và bảo đảm cho người đại diện theo
pháp luật của mình tham gia đầy đủ các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố,
xét xử, thi hành án theo yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền.
Trường hợp người đại diện theo
pháp luật của pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử hoặc không thể
tham gia tố tụng được thì pháp nhân phải cử người khác làm người đại diện theo
pháp luật của mình tham gia tố tụng. Trường hợp pháp nhân thay đổi người đại diện
thì pháp nhân phải thông báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Tại thời điểm khởi tố, điều
tra, truy tố, xét xử mà pháp nhân không có người đại diện theo pháp luật hoặc
có nhiều người cùng là đại diện theo pháp luật thì cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng chỉ định một người đại diện cho pháp nhân tham gia tố tụng.
2. Người đại diện theo pháp luật
của pháp nhân tham gia tố tụng phải thông báo cho cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng họ tên, ngày, tháng, năm sinh, quốc tịch, dân tộc, tôn giáo, giới
tính, nghề nghiệp, chức vụ của mình. Nếu có sự thay đổi những thông tin này thì
người đại diện theo pháp luật phải thông báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng.
Điều 435.
Quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của pháp nhân
1. Người đại diện theo pháp luật
của pháp nhân có quyền:
a) Được thông báo kết quả giải
quyết nguồn tin về tội phạm;
b) Được biết lý do pháp nhân mà
mình đại diện bị khởi tố;
c) Được thông báo, được giải
thích về quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
d) Được nhận quyết định khởi tố
bị can đối với pháp nhân; quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị
can đối với pháp nhân; quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can đối với
pháp nhân; quyết định phê chuẩn quyết định thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố
bị can đối với pháp nhân; quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp cưỡng
chế; bản kết luận điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra; quyết định
đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; bản cáo trạng; quyết định đưa vụ án ra xét xử; bản
án, quyết định của Tòa án và quyết định tố tụng khác theo quy định của Bộ luật
này;
đ) Trình bày lời khai, trình
bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại pháp nhân mà mình đại diện
hoặc buộc phải thừa nhận pháp nhân mà mình đại diện có tội;
e) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ
vật, yêu cầu;
g) Đề nghị thay đổi người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch,
người dịch thuật theo quy định của Bộ luật này;
h) Tự bào chữa, nhờ người bào
chữa cho pháp nhân;
i) Được đọc, ghi chép bản sao
tài liệu hoặc tài liệu đã được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc
bản sao tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa cho pháp nhân kể từ khi kết
thúc điều tra khi có yêu cầu;
k) Tham gia phiên tòa, đề nghị chủ
tọa phiên tòa hỏi hoặc tự mình hỏi những người tham gia phiên tòa nếu được chủ
tọa đồng ý; tranh luận tại phiên tòa;
l) Phát biểu ý kiến sau cùng
trước khi nghị án;
m) Xem biên bản phiên tòa, yêu
cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa;
n) Kháng cáo bản án, quyết định
của Tòa án;
o) Khiếu nại quyết định, hành
vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
2. Người đại diện theo pháp luật
của pháp nhân có nghĩa vụ:
a) Có mặt theo giấy triệu tập của
người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Trường hợp vắng mặt không vì lý do bất
khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì có thể bị dẫn giải;
b) Chấp hành quyết định, yêu cầu
của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Điều 436.
Biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân
1. Cơ quan điều tra, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể
áp dụng các biện pháp cưỡng chế sau đây đối với pháp nhân bị khởi tố, điều tra,
truy tố, xét xử:
a) Kê biên tài sản liên quan đến
hành vi phạm tội của pháp nhân;
b) Phong tỏa tài khoản của pháp
nhân liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân;
c) Tạm đình chỉ có thời hạn hoạt
động của pháp nhân liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân;
d) Buộc nộp một khoản tiền để bảo
đảm thi hành án.
2. Thời hạn áp dụng các biện
pháp cưỡng chế quy định tại khoản 1 Điều này không được quá thời hạn điều tra,
truy tố, xét xử.
Điều 437.
Kê biên tài sản
1. Kê biên tài sản áp dụng đối
với pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội mà Bộ luật Hình sự
quy định hình phạt tiền hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại.
2. Chỉ kê biên phần tài sản
tương ứng với mức có thể bị tịch thu, phạt tiền hoặc bồi thường thiệt hại. Tài
sản bị kê biên được giao cho người đứng đầu pháp nhân có trách nhiệm bảo quản;
nếu để xảy ra việc tiêu dùng, sử dụng trái phép, chuyển nhượng, đánh tráo, cất
giấu, hủy hoại tài sản bị kê biên thì người này phải chịu trách nhiệm theo quy
định của pháp luật.
3. Khi kê biên tài sản của pháp
nhân phải có mặt những người sau:
a) Người đại diện theo pháp luật
của pháp nhân;
b) Đại diện Ủy ban nhân dân cấp
xã[204] nơi pháp nhân có tài sản
bị kê biên;
c) Người chứng kiến.
4. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục
kê biên tài sản được thực hiện theo quy định tại Điều 128 của Bộ
luật này.
Điều 438.
Phong tỏa tài khoản
1. Phong tỏa tài khoản áp dụng
đối với pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội mà Bộ luật Hình
sự quy định hình phạt tiền hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại và có căn cứ
xác định pháp nhân đó có tài khoản tại tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc Nhà nước.
2. Phong tỏa tài khoản cũng được
áp dụng đối với tài khoản của cá nhân, tổ chức khác nếu có căn cứ xác định số
tiền trong tài khoản đó liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân.
3. Chỉ phong tỏa số tiền trong
tài khoản tương ứng với mức có thể phạt tiền hoặc bồi thường thiệt hại.
4. Cơ quan có thẩm quyền phong
tỏa tài khoản phải giao quyết định phong tỏa tài khoản cho đại diện tổ chức tín
dụng hoặc Kho bạc Nhà nước đang quản lý tài khoản của pháp nhân hoặc tài khoản
của cá nhân, tổ chức khác liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân.
5. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục
phong tỏa tài khoản được thực hiện theo quy định tại Điều 129
của Bộ luật này.
Điều 439.
Tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân liên quan đến hành vi phạm tội
của pháp nhân; buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án
1. Tạm đình chỉ có thời hạn hoạt
động của pháp nhân chỉ áp dụng khi có căn cứ xác định hành vi phạm tội của pháp
nhân gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của
con người, môi trường hoặc trật tự, an toàn xã hội.
Người có thẩm quyền quy định tại
khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này có quyền ra quyết định tạm
đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân. Quyết định tạm đình chỉ hoạt động
của pháp nhân của những người quy định tại điểm a khoản 1 Điều
113 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền[205] phê chuẩn trước khi thi
hành.
Thời hạn tạm đình chỉ hoạt động
của pháp nhân không được quá thời hạn điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của
Bộ luật này. Thời hạn tạm đình chỉ đối với pháp nhân bị kết án không quá thời hạn
kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm pháp nhân chấp hành án.
2. Buộc nộp một khoản tiền để bảo
đảm thi hành án áp dụng đối với pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử
về tội mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tiền hoặc để bảo đảm bồi thường
thiệt hại.
Chỉ buộc nộp một khoản tiền để
bảo đảm thi hành án tương ứng với mức có thể bị phạt tiền hoặc để bồi thường
thiệt hại.
Người có thẩm quyền quy định tại
khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này có quyền ra quyết định buộc
pháp nhân phải nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án. Quyết định buộc pháp
nhân phải nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án của những người quy định tại
điểm a khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này phải được Viện kiểm
sát có thẩm quyền[206] phê chuẩn
trước khi thi hành.
Chính phủ quy định chi tiết
trình tự, thủ tục, mức tiền phải nộp để bảo đảm thi hành án; việc tạm giữ, hoàn
trả, nộp ngân sách nhà nước số tiền đã nộp.
Điều 440.
Triệu tập người đại diện theo pháp luật của pháp nhân
1. Khi triệu tập người đại diện
theo pháp luật của pháp nhân, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải gửi giấy
triệu tập. Giấy triệu tập ghi rõ họ tên, chỗ ở hoặc làm việc của người đại diện
theo pháp luật của pháp nhân; giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm có mặt, gặp ai và
trách nhiệm về việc vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại
khách quan.
2. Giấy triệu tập được gửi cho
người đại diện theo pháp luật của pháp nhân hoặc pháp nhân nơi người đó làm việc
hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã[207]
nơi người đại diện theo pháp luật của pháp nhân cư trú. Cơ quan, tổ chức nhận được
giấy triệu tập có trách nhiệm chuyển ngay giấy triệu tập cho người đại diện
theo pháp luật của pháp nhân.
Khi nhận giấy triệu tập, người
đại diện theo pháp luật của pháp nhân phải ký nhận và ghi rõ ngày, giờ nhận.
Người chuyển giấy triệu tập phải chuyển phần giấy triệu tập có ký nhận của người
đại diện cho cơ quan đã triệu tập; nếu người đại diện không ký nhận thì phải lập
biên bản về việc đó và gửi cho cơ quan triệu tập; nếu người đại diện vắng mặt
thì có thể giao giấy triệu tập cho một người đủ 18 tuổi trở lên trong gia đình
để ký xác nhận và chuyển cho người đại diện.
3. Người đại diện theo pháp luật
của pháp nhân phải có mặt theo giấy triệu tập. Trường hợp vắng mặt không vì lý
do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng có thể ra quyết định dẫn giải.
Điều 441.
Những vấn đề cần phải chứng minh khi tiến hành tố tụng đối với pháp nhân bị buộc
tội
1. Có hành vi phạm tội xảy ra
hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội thuộc
trách nhiệm hình sự của pháp nhân theo quy định của Bộ luật Hình sự.
2. Lỗi của pháp nhân, lỗi của
cá nhân là thành viên của pháp nhân.
3. Tính chất và mức độ thiệt hại
do hành vi phạm tội của pháp nhân gây ra.
4. Những tình tiết giảm nhẹ,
tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết khác liên quan đến miễn hình phạt.
5. Nguyên nhân và điều kiện phạm
tội.
Điều 442.
Lấy lời khai người đại diện theo pháp luật của pháp nhân
1. Việc lấy lời khai người đại
diện theo pháp luật của pháp nhân phải do Điều tra viên, cán bộ điều tra của cơ
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện tại nơi
tiến hành điều tra, tại trụ sở Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra hoặc tại trụ sở của pháp nhân. Trước khi lấy lời
khai, Điều tra viên, cán bộ điều tra phải thông báo cho Kiểm sát viên và người
bào chữa thời gian, địa điểm lấy lời khai. Khi xét thấy cần thiết, Kiểm sát
viên tham gia việc lấy lời khai.
2. Trước khi tiến hành lấy lời
khai lần đầu, Điều tra viên, cán bộ điều tra của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra phải giải thích cho người đại diện theo pháp luật
của pháp nhân biết rõ quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 435
của Bộ luật này và phải ghi vào biên bản. Có thể cho người đại diện theo
pháp luật của pháp nhân tự viết lời khai của mình.
3. Không được lấy lời khai người
đại diện theo pháp luật của pháp nhân vào ban đêm.
4. Kiểm sát viên lấy lời khai
người đại diện theo pháp luật của pháp nhân trong trường hợp người này không thừa
nhận hành vi phạm tội của pháp nhân, khiếu nại hoạt động điều tra hoặc có căn cứ
xác định việc điều tra vi phạm pháp luật hoặc trong trường hợp khác khi xét thấy
cần thiết.
Việc Kiểm sát viên lấy lời khai
người đại diện theo pháp luật của pháp nhân cũng được tiến hành theo quy định tại
Điều này.
5. Việc lấy lời khai của người
đại diện theo pháp luật của pháp nhân tại trụ sở Cơ quan điều tra, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải được ghi âm hoặc ghi
hình có âm thanh.
Việc lấy lời khai của người đại
diện theo pháp luật của pháp nhân tại các địa điểm khác được ghi âm hoặc ghi
hình có âm thanh theo yêu cầu của người đại diện, của cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng.
6. Biên bản lấy lời khai người đại
diện theo pháp luật của pháp nhân được lập theo quy định tại Điều
178 của Bộ luật này.
Điều 443.
Tạm đình chỉ điều tra, đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can, bị
cáo
1. Cơ quan điều tra, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định tạm đình chỉ điều
tra khi trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương
trợ tư pháp nhưng chưa có kết quả mà đã hết thời hạn điều tra. Trường hợp này
việc giám định, định giá tài sản, tương trợ tư pháp vẫn tiếp tục được tiến hành
cho đến khi có kết quả.
2. Cơ quan điều tra, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định đình chỉ điều
tra, Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can, bị
cáo là pháp nhân khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Không có sự việc phạm tội;
b) Hành vi của pháp nhân không
cấu thành tội phạm;
c) Hành vi phạm tội của pháp
nhân đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;
d) Hết thời hạn điều tra mà
không chứng minh được pháp nhân thực hiện tội phạm;
đ) Hết thời hiệu truy cứu trách
nhiệm hình sự.
Điều 444.
Thẩm quyền và thủ tục xét xử đối với pháp nhân
1. Tòa án có thẩm quyền xét xử
vụ án hình sự về các tội phạm do pháp nhân thực hiện là Tòa án nơi pháp nhân thực
hiện tội phạm. Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau thì
Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi pháp nhân đó có trụ sở chính hoặc nơi
có chi nhánh của pháp nhân đó thực hiện tội phạm.
2. Việc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm,
giám đốc thẩm, tái thẩm đối với pháp nhân phạm tội được thực hiện theo thủ tục
chung quy định tại Phần thứ tư và Phần thứ sáu của Bộ luật này. Phiên tòa xét xử
đối với pháp nhân phải có mặt người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, Kiểm
sát viên Viện kiểm sát cùng cấp; có mặt bị hại hoặc người đại diện của bị hại.
Điều 445.
Thẩm quyền, thủ tục thi hành án đối với pháp nhân
1. Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành hình phạt tiền đối với pháp
nhân. Trình tự, thủ tục thi hành hình phạt tiền được thực hiện theo quy định của
Luật Thi hành án dân sự.
2. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền
thi hành các hình phạt khác và các biện pháp tư pháp quy định tại Bộ luật Hình
sự đối với pháp nhân theo quy định của pháp luật.
3. Trường hợp pháp nhân bị kết
án thực hiện chia, tách, hợp nhất, sáp nhập thì pháp nhân kế thừa các quyền và
nghĩa vụ của pháp nhân bị kết án có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thi hành án
phạt tiền, bồi thường thiệt hại.
Điều 446.
Thủ tục đương nhiên xóa án tích đối với pháp nhân
Trong thời hạn 05 ngày kể từ
ngày nhận được yêu cầu của pháp nhân được đương nhiên xóa án tích và xét thấy
có đủ điều kiện quy định tại Điều 89 của Bộ luật hình sự thì Chánh án Tòa án đã
xét xử sơ thẩm vụ án cấp giấy chứng nhận pháp nhân đã được xóa án tích.
Chương
XXX
THỦ TỤC ÁP DỤNG BIỆN
PHÁP BẮT BUỘC CHỮA BỆNH
Điều 447.
Điều kiện và thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh
1. Khi có căn cứ cho rằng người
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không có năng lực trách nhiệm hình sự
theo quy định tại Điều 21 của Bộ luật Hình sự thì tuỳ từng giai đoạn tố tụng,
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải trưng cầu giám định pháp y tâm thần.
2. Căn cứ kết luận giám định
pháp y tâm thần, Viện kiểm sát quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh
trong giai đoạn điều tra, truy tố; Tòa án quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc
chữa bệnh trong giai đoạn xét xử và thi hành án.
Điều 448.
Điều tra đối với người bị nghi về năng lực trách nhiệm hình sự
1. Đối với vụ án mà có căn cứ
cho rằng người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không có năng lực trách
nhiệm hình sự, Cơ quan điều tra phải làm sáng tỏ:
a) Hành vi nguy hiểm cho xã hội
đã xảy ra;
b) Tình trạng tâm thần và bệnh
tâm thần của người có hành vi nguy hiểm cho xã hội;
c) Người có hành vi nguy hiểm
cho xã hội có mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình
hay không.
2. Khi tiến hành tố tụng, Cơ
quan điều tra phải bảo đảm có người bào chữa tham gia tố tụng từ khi xác định
được người có hành vi nguy hiểm cho xã hội mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm
mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi. Người đại diện của người
đó có thể tham gia tố tụng trong trường hợp cần thiết.
Điều 449.
Áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn điều tra
1. Khi Cơ quan điều tra trưng cầu
giám định pháp y tâm thần mà kết quả giám định xác định bị can mắc bệnh tâm thần
hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì
Cơ quan điều tra gửi văn bản đề nghị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh cùng
kết luận giám định cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[208] để xem xét, quyết định.
Trong thời hạn 03 ngày kể từ
ngày nhận được văn bản đề nghị của Cơ quan điều tra cùng kết luận giám định,
Viện kiểm sát quyết định áp dụng biện pháp chữa bệnh đối với bị can hoặc yêu cầu
Cơ quan điều tra trưng cầu giám định bổ sung, giám định lại nếu thấy chưa đủ
căn cứ để quyết định.
2. Trường hợp Viện kiểm sát ra
quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh thì Cơ quan điều tra phải ra
quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ điều tra đối với bị can.
Điều 450.
Quyết định của Viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố
1. Sau khi nhận được hồ sơ vụ
án và bản kết luận điều tra, nếu có căn cứ cho rằng bị can không có năng lực
trách nhiệm hình sự thì Viện kiểm sát trưng cầu giám định pháp y tâm thần.
2. Căn cứ vào kết luận giám định,
Viện kiểm sát có thể ra một trong các quyết định:
a) Tạm đình chỉ vụ án và áp dụng
biện pháp bắt buộc chữa bệnh;
b) Đình chỉ vụ án và áp dụng biện
pháp bắt buộc chữa bệnh;
c) Trả hồ sơ để điều tra bổ
sung;
d) Truy tố bị can trước Tòa án.
3. Ngoài quyết định áp dụng biện
pháp bắt buộc chữa bệnh, Viện kiểm sát có thể giải quyết vấn đề khác liên quan
đến vụ án.
Điều 451.
Quyết định của Tòa án trong giai đoạn xét xử
1. Sau khi thụ lý vụ án, nếu có
căn cứ cho rằng bị can, bị cáo không có năng lực trách nhiệm hình sự thì Tòa án
trưng cầu giám định pháp y tâm thần.
2. Căn cứ vào kết luận giám định,
Tòa án có thể ra một trong những quyết định:
a) Quyết định tạm đình chỉ hoặc
đình chỉ vụ án và áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh;
b) Trả hồ sơ để điều tra lại hoặc
điều tra bổ sung;
c) Miễn trách nhiệm hình sự hoặc
miễn hình phạt và áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh;
d) Đưa vụ án ra xét xử.
3. Ngoài quyết định áp dụng biện
pháp bắt buộc chữa bệnh, Tòa án có thể giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại
hoặc vấn đề khác liên quan đến vụ án.
Điều 452.
Áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người đang chấp hành án phạt tù
1. Trường hợp có căn cứ cho rằng
người đang chấp hành án phạt tù mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất
khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì Trại giam, Trại tạm
giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh đề nghị Tòa án nhân dân khu
vực[209], Tòa án quân sự cấp
quân khu nơi người bị kết án chấp hành án phạt tù trưng cầu giám định pháp y
tâm thần.
2. Căn cứ kết luận giám định
pháp y tâm thần, Chánh án Tòa án nhân dân khu vực[210] hoặc Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu nơi người bị
kết án đang chấp hành án phạt tù ra quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt
tù và áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
Sau khi có kết luận khỏi bệnh
hoặc có kết luận đủ khả năng nhận thức, đủ khả năng điều khiển hành vi[211], người đó phải tiếp tục chấp
hành án phạt tù nếu không có lý do để miễn chấp hành hình phạt tù.
Điều 453.
Khiếu nại, kháng cáo, kháng nghị
1. Việc khiếu nại và giải quyết
khiếu nại quyết định của Viện kiểm sát về việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa
bệnh được thực hiện theo quy định tại Chương XXXIII của Bộ luật này.
2. Việc kháng cáo, kháng nghị
quyết định của Tòa án về việc áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh được thực hiện
như đối với quyết định sơ thẩm quy định tại Bộ luật này.
3. Quyết định áp dụng biện pháp
bắt buộc chữa bệnh có hiệu lực thi hành cho đến khi có quyết định khác thay thế
hoặc hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
Điều 454.
Đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh
1. Biện pháp bắt buộc chữa bệnh
được thực hiện ở cơ sở khám bệnh, chữa bệnh[212] do Viện kiểm sát hoặc Tòa án chỉ định theo quy định của
pháp luật.
2. Khi có thông báo của thủ trưởng
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh[213]
về việc người bị bắt buộc chữa bệnh đã khỏi bệnh hoặc có đủ khả năng nhận thức,
đủ khả năng điều khiển hành vi[214]
thì cơ quan đã đề nghị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh hoặc Viện kiểm sát,
Tòa án đã ra quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trưng cầu giám định
pháp y tâm thần về tình trạng bệnh của người bị bắt buộc chữa bệnh.
Căn cứ kết luận giám định về việc
người bị bắt buộc chữa bệnh đã khỏi bệnh hoặc có đủ khả năng nhận thức, đủ khả
năng điều khiển hành vi[215],
Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định đình chỉ thi hành biện pháp bắt buộc chữa bệnh.
3. Quyết định đình chỉ thi hành
biện pháp bắt buộc chữa bệnh phải được cơ quan đã đề nghị áp dụng biện pháp bắt
buộc chữa bệnh hoặc Viện kiểm sát, Tòa án gửi ngay cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh[216] và người đại diện của người
bị bắt buộc chữa bệnh.
4. Các hoạt động tố tụng, việc
chấp hành hình phạt đã bị tạm đình chỉ có thể được phục hồi theo quy định của Bộ
luật này.
Chương
XXXI
THỦ TỤC RÚT GỌN
Điều 455.
Phạm vi áp dụng thủ tục rút gọn
Thủ tục rút gọn đối với việc điều
tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm được thực hiện theo quy định của
Chương này và những quy định khác của Bộ luật này không trái với quy định của
Chương này.
Điều 456.
Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn
1. Thủ tục rút gọn được áp dụng
trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm khi có đủ các điều kiện:
a) Người thực hiện hành vi phạm
tội bị bắt quả tang hoặc người đó tự thú;
b) Sự việc phạm tội đơn giản,
chứng cứ rõ ràng;
c) Tội phạm đã thực hiện là tội
phạm ít nghiêm trọng;
d) Người phạm tội có nơi cư
trú, lý lịch rõ ràng.
2. Thủ tục rút gọn được áp dụng
trong xét xử phúc thẩm khi có một trong các điều kiện:
a) Vụ án đã được áp dụng thủ tục
rút gọn trong xét xử sơ thẩm và chỉ có kháng cáo, kháng nghị giảm nhẹ hình phạt
hoặc cho bị cáo được hưởng án treo;
b) Vụ án chưa được áp dụng thủ
tục rút gọn trong xét xử sơ thẩm nhưng có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1
Điều này và chỉ có kháng cáo, kháng nghị giảm nhẹ hình phạt hoặc cho bị cáo được
hưởng án treo.
Điều 457.
Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn
1. Trong thời hạn 24 giờ kể từ
khi vụ án có đủ điều kiện quy định tại Điều 456 của Bộ luật
này, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải ra quyết định áp dụng thủ
tục rút gọn.
Thủ tục rút gọn được áp dụng kể
từ khi ra quyết định cho đến khi kết thúc việc xét xử phúc thẩm, trừ trường hợp
bị hủy bỏ theo quy định tại Điều 458 của Bộ luật này.
2. Quyết định áp dụng thủ tục
rút gọn được giao cho bị can, bị cáo hoặc người đại diện của họ, gửi cho người
bào chữa trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định.
Quyết định áp dụng thủ tục rút
gọn của Cơ quan điều tra, Tòa án được gửi cho Viện kiểm sát có thẩm quyền[217] trong thời hạn 24 giờ kể từ
khi ra quyết định.
3. Trường hợp xét thấy quyết định
áp dụng thủ tục rút gọn của Cơ quan điều tra không đúng pháp luật thì trong thời
hạn 24 giờ kể từ khi nhận được quyết định, Viện kiểm sát phải ra quyết định hủy
bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn và gửi cho Cơ quan điều tra.
4. Trường hợp xét thấy quyết định
áp dụng thủ tục rút gọn của Tòa án không đúng pháp luật thì Viện kiểm sát kiến
nghị với Chánh án Tòa án đã ra quyết định. Chánh án Tòa án phải xem xét, trả lời
trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được kiến nghị của Viện kiểm sát.
5. Quyết định áp dụng thủ tục
rút gọn có thể bị khiếu nại. Bị can, bị cáo hoặc người đại diện của họ có quyền
khiếu nại quyết định áp dụng thủ tục rút gọn; thời hiệu khiếu nại là 05 ngày kể
từ ngày nhận được quyết định. Khiếu nại được gửi đến Cơ quan điều tra, Viện kiểm
sát, Tòa án đã ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn và phải được giải quyết
trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại.
Điều 458.
Hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn
Trong quá trình áp dụng thủ tục
rút gọn, nếu một trong các điều kiện quy định tại các điểm b,
c và d khoản 1 Điều 456 của Bộ luật này không còn hoặc vụ án thuộc trường hợp
tạm đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ vụ án hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung
theo quy định của Bộ luật này thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án ra
quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn và giải quyết vụ án theo
thủ tục chung quy định tại Bộ luật này.
Thời hạn tố tụng của vụ án được
tính tiếp theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này kể từ khi có quyết định hủy
bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn.
Điều 459.
Tạm giữ, tạm giam để điều tra, truy tố, xét xử
1. Căn cứ, thẩm quyền và thủ tục
tạm giữ, tạm giam được thực hiện theo quy định của Bộ luật này.
2. Thời hạn tạm giữ không được
quá 03 ngày kể từ ngày Cơ quan điều tra nhận người bị bắt.
3. Thời hạn tạm giam trong giai
đoạn điều tra không quá 20 ngày, trong giai đoạn truy tố không quá 05 ngày,
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm không quá 17 ngày, trong giai đoạn xét xử phúc
thẩm không quá 22 ngày.
Điều 460.
Điều tra
1. Thời hạn điều tra theo thủ tục
rút gọn là 20 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố vụ án.
2. Khi kết thúc điều tra, Cơ
quan điều tra ra quyết định đề nghị truy tố.
Quyết định đề nghị truy tố ghi
tóm tắt hành vi phạm tội, thủ đoạn, động cơ, mục đích phạm tội, tính chất, mức
độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện
pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và
xử lý vật chứng; đặc điểm nhân thân của bị can, những tình tiết tăng nặng, giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự; lý do và căn cứ đề nghị truy tố; tội danh, điểm, khoản,
điều của Bộ luật Hình sự được áp dụng; ghi rõ thời gian, địa điểm, họ tên và chữ
ký của người ra quyết định.
3. Trong thời hạn 24 giờ kể từ
khi ra quyết định đề nghị truy tố, Cơ quan điều tra phải giao quyết định đề nghị
truy tố cho bị can hoặc người đại diện của bị can, gửi cho người bào chữa, bị hại,
đương sự hoặc người đại diện của họ và chuyển quyết định đề nghị truy tố cùng
hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát.
Điều 461.
Quyết định truy tố
1. Trong thời hạn 05 ngày kể từ
ngày nhận được quyết định đề nghị truy tố và hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát ra một
trong các quyết định:
a) Truy tố bị can trước Tòa án
bằng quyết định truy tố;
b) Không truy tố bị can và ra
quyết định đình chỉ vụ án;
c) Trả hồ sơ để điều tra bổ
sung;
d) Tạm đình chỉ vụ án;
đ) Đình chỉ vụ án.
2. Quyết định truy tố ghi tóm tắt
hành vi phạm tội, thủ đoạn, động cơ, mục đích phạm tội, tính chất, mức độ thiệt
hại do hành vi phạm tội gây ra; việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn
chặn, biện pháp cưỡng chế; việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và việc xử lý
vật chứng; đặc điểm nhân thân của bị can, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự, nêu rõ lý do và căn cứ truy tố; tội danh, điểm, khoản, điều
của Bộ luật Hình sự được áp dụng; ghi rõ thời gian, địa điểm, họ tên và chữ ký
của người ra quyết định.
3. Trong thời hạn 24 giờ kể từ
khi ra quyết định truy tố, Viện kiểm sát phải giao quyết định cho bị can hoặc
người đại diện của họ; gửi cho Cơ quan điều tra, người bào chữa, bị hại, đương
sự hoặc người đại diện của họ và chuyển quyết định truy tố cùng hồ sơ vụ án cho
Tòa án.
Điều 462.
Chuẩn bị xét xử sơ thẩm
1. Trong thời hạn 10 ngày kể từ
ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công xét xử ra một trong các quyết định:
a) Đưa vụ án ra xét xử;
b) Trả hồ sơ để điều tra bổ
sung;
c) Tạm đình chỉ vụ án;
d) Đình chỉ vụ án.
2. Trường hợp quyết định đưa vụ
án ra xét xử thì trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định, Tòa án phải mở
phiên tòa xét xử vụ án.
3. Trong thời hạn 24 giờ kể từ
khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm phải gửi quyết định
đó cho Viện kiểm sát cùng cấp; giao cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo;
gửi cho người bào chữa, bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ.
Điều 463.
Phiên tòa xét xử sơ thẩm
1. Phiên tòa xét xử sơ thẩm
theo thủ tục rút gọn do một Thẩm phán tiến hành.
2. Sau phần thủ tục bắt đầu
phiên tòa, Kiểm sát viên công bố quyết định truy tố.
3. Các trình tự, thủ tục khác tại
phiên tòa xét xử sơ thẩm được thực hiện theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật
này nhưng không tiến hành nghị án.
Điều 464.
Chuẩn bị xét xử phúc thẩm
1. Việc nhận và thụ lý hồ sơ vụ
án được Tòa án cấp phúc thẩm thực hiện theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật
này.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án phải
chuyển ngay hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 05 ngày Viện
kiểm sát phải trả hồ sơ vụ án cho Tòa án.
2. Trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công xét xử ra một trong các quyết định:
a) Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm;
b) Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ
án.
3. Trường hợp quyết định đưa vụ
án ra xét xử phúc thẩm thì trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày ra quyết định, Tòa
án phải mở phiên tòa xét xử vụ án.
4. Trong thời hạn 24 giờ kể từ
khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi quyết định
đó cho Viện kiểm sát cùng cấp, người bào chữa; giao cho bị cáo hoặc người đại
diện của bị cáo, bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ.
Điều 465.
Phiên tòa xét xử phúc thẩm
1. Việc xét xử phúc thẩm theo
thủ tục rút gọn do một Thẩm phán tiến hành.
2. Các trình tự, thủ tục khác tại
phiên tòa phúc thẩm được thực hiện theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này
nhưng không tiến hành nghị án.
Chương
XXXII
XỬ LÝ CÁC HÀNH VI CẢN
TRỞ HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Điều 466. Xử
lý người có hành vi cản trở hoạt động tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng
Người bị buộc tội, người tham gia
tố tụng khác có một trong các hành vi sau đây thì tuỳ mức độ vi phạm có thể bị
cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết định áp giải, dẫn giải, phạt cảnh
cáo, phạt tiền, tạm giữ hành chính, buộc khắc phục hậu quả hoặc bị truy cứu
trách nhiệm hình sự theo quy định của luật:
1. Làm giả, hủy hoại chứng cứ
gây trở ngại cho việc giải quyết vụ việc, vụ án;
2. Khai báo gian dối hoặc cung
cấp tài liệu sai sự thật;
3. Từ chối khai báo hoặc từ chối
cung cấp tài liệu, đồ vật;
4. Người giám định, người định
giá tài sản kết luận gian dối hoặc từ chối kết luận giám định, định giá tài sản
mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan;
5. Lừa dối, đe dọa, mua chuộc,
sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người làm chứng ra làm chứng hoặc buộc người khác
ra làm chứng gian dối;
6. Lừa dối, đe dọa, mua chuộc,
sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người bị hại tham gia tố tụng hoặc buộc người bị hại
khai báo gian dối;
7. Lừa dối, đe dọa, mua chuộc, sử
dụng vũ lực nhằm ngăn cản người giám định, người định giá tài sản thực hiện nhiệm
vụ hoặc buộc người giám định, người định giá tài sản kết luận sai với sự thật
khách quan;
8. Lừa dối, đe dọa, mua chuộc,
sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản người phiên dịch, người dịch thuật thực hiện nhiệm
vụ hoặc buộc người phiên dịch, người dịch thuật dịch gian dối;
9. Lừa dối, đe dọa, mua chuộc,
sử dụng vũ lực nhằm ngăn cản đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân khác tham gia tố
tụng;
10. Xúc phạm danh dự, nhân phẩm,
uy tín của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; đe dọa, sử dụng vũ lực hoặc
có hành vi khác cản trở hoạt động tố tụng của người có thẩm quyền tiến hành tố
tụng;
11. Đã được triệu tập mà vắng mặt
không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan và việc vắng mặt
của họ gây trở ngại cho hoạt động tố tụng;
12. Ngăn cản việc cấp, giao, nhận
hoặc thông báo văn bản tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Điều 467.
Xử lý người vi phạm nội quy phiên tòa
1. Người vi phạm nội quy phiên
tòa thì tùy tính chất, mức độ vi phạm có thể bị Thẩm phán chủ tọa phiên tòa
quyết định xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật.
2. Chủ tọa phiên tòa có quyền
ra quyết định buộc người vi phạm rời khỏi phòng xử án hoặc tạm giữ hành chính.
Cơ quan công an có nhiệm vụ bảo vệ trật tự phiên tòa hoặc người có nhiệm vụ bảo
vệ trật tự phiên tòa thi hành quyết định của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa về việc
buộc rời khỏi phòng xử án hoặc tạm giữ hành chính người gây rối trật tự phiên
tòa.
3.[218] Trường hợp hành vi của người vi phạm nội quy phiên
tòa có dấu hiệu tội phạm thì Tòa án yêu cầu, kiến nghị khởi tố theo quy định của
Bộ luật này.
4. Quy định tại Điều này cũng
được áp dụng đối với người có hành vi vi phạm tại phiên họp của Tòa án.
Điều 468.
Hình thức xử phạt, thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử phạt
Hình thức xử phạt, thẩm quyền,
trình tự, thủ tục xử phạt đối với các hành vi cản trở hoạt động tố tụng hình sự
được thực hiện theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và pháp luật
khác có liên quan.
Chương
XXXIII
KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG
TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Điều 469.
Người có quyền khiếu nại
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có
quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật,
xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
2. Đối với bản án, quyết định
sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
của Tòa án, cáo trạng hoặc quyết định truy tố, quyết định áp dụng thủ tục rút gọn,
quyết định của Hội đồng xét xử sơ thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm, Hội đồng
giám đốc thẩm, Hội đồng tái thẩm, Hội đồng xét giảm thời hạn hoặc miễn chấp
hành hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện nếu có khiếu nại, kháng
cáo, kháng nghị thì giải quyết theo quy định tại các chương XXI, XXII, XXIV,
XXV, XXVI và XXXI của Bộ luật này.
Điều 470.
Các quyết định, hành vi tố tụng có thể bị khiếu nại
1. Quyết định tố tụng có thể bị
khiếu nại là các quyết định của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều
tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án,
Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, người có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều
tra được ban hành theo quy định của Bộ luật này và quyết định tố tụng quy định
tại chương VII và chương VIII của Luật Tư pháp người chưa thành niên[219].
2. Hành vi tố tụng có thể bị
khiếu nại là hành vi được thực hiện trong hoạt động tố tụng của Thủ trưởng, Phó
Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Viện trưởng, Phó
Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Chánh án, Phó Chánh án
Tòa án, Thẩm phán, Thẩm tra viên, người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra được thực hiện theo quy định của Bộ luật này và hành vi tố tụng
quy định tại chương VII và chương VIII của Luật Tư pháp người chưa thành niên[220].
Điều 471.
Thời hiệu khiếu nại
1. Thời hiệu khiếu nại là 15
ngày kể từ ngày người khiếu nại nhận được hoặc biết được quyết định, hành vi tố
tụng mà người đó cho rằng có vi phạm pháp luật.
2. Trường hợp vì lý do bất khả
kháng hoặc do trở ngại khách quan mà người khiếu nại không thực hiện được quyền
khiếu nại theo đúng thời hiệu thì thời gian có lý do bất khả kháng hoặc trở ngại
khách quan đó không tính vào thời hiệu khiếu nại.
Điều 472.
Quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại
1. Người khiếu nại có quyền:
a) Tự mình khiếu nại hoặc thông
qua người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hoặc người
đại diện để khiếu nại;
b) Khiếu nại trong bất kỳ giai
đoạn nào của quá trình giải quyết vụ án hình sự;
c) Rút khiếu nại trong bất kỳ
giai đoạn nào của quá trình giải quyết khiếu nại;
d) Được nhận quyết định giải
quyết khiếu nại;
đ) Được khôi phục quyền, lợi
ích hợp pháp đã bị xâm phạm, được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp
luật.
2. Người khiếu nại có nghĩa vụ:
a) Trình bày trung thực sự việc,
cung cấp thông tin, tài liệu cho người giải quyết khiếu nại; chịu trách nhiệm
trước pháp luật về nội dung trình bày và việc cung cấp các thông tin, tài liệu
đó;
b) Chấp hành quyết định giải
quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật.
Điều 473.
Quyền và nghĩa vụ của người bị khiếu nại
1. Người bị khiếu nại có quyền:
a) Được thông báo về nội dung
khiếu nại;
b) Đưa ra bằng chứng về tính hợp
pháp của quyết định, hành vi tố tụng bị khiếu nại;
c) Được nhận quyết định giải
quyết khiếu nại về quyết định, hành vi tố tụng của mình.
2. Người bị khiếu nại có nghĩa
vụ:
a) Giải trình về quyết định,
hành vi tố tụng bị khiếu nại; cung cấp các thông tin, tài liệu liên quan khi cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu;
b) Chấp hành quyết định giải
quyết khiếu nại;
c) Bồi thường thiệt hại, bồi
hoàn, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi tố tụng trái pháp luật của mình
gây ra theo quy định của pháp luật.
Điều 474.
Thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng trong
việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam
1. Khiếu nại đối với lệnh giữ
người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh bắt, quyết định tạm giữ, lệnh tạm giam,
quyết định tạm giam, quyết định phê chuẩn việc bắt, quyết định gia hạn tạm giữ,
quyết định gia hạn tạm giam và khiếu nại các hành vi thực hiện các lệnh và quyết
định đó phải được giải quyết ngay trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được khiếu
nại. Trường hợp cần phải có thời gian để xác minh thêm thì thời hạn giải quyết
không được quá 03 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại.
2.[221] Viện trưởng Viện kiểm sát có trách nhiệm giải quyết
khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng trong việc giữ người trong trường hợp khẩn
cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam trong giai đoạn điều tra, truy tố. Cơ quan, người
có thẩm quyền trong việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm
giam phải chuyển ngay cho Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát điều
tra vụ án, vụ việc khiếu nại của người bị giữ, người bị bắt, người bị tạm giữ,
người bị tạm giam trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được khiếu nại.
Khiếu nại đối với quyết định,
hành vi tố tụng của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên,
Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, người được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra trong việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp,
bắt, tạm giữ, tạm giam do Viện trưởng Viện kiểm sát giải quyết.
Khiếu nại đối với quyết định,
hành vi tố tụng của Phó Viện trưởng Viện kiểm sát trong việc bắt, tạm giữ, tạm
giam do Viện trưởng Viện kiểm sát giải quyết.
Nếu không đồng ý với quyết định
giải quyết khiếu nại của Viện trưởng Viện kiểm sát thì trong thời hạn 03 ngày kể
từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, người khiếu nại có quyền khiếu
nại đến Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn 07 ngày kể
từ ngày nhận được khiếu nại, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải
xem xét, giải quyết. Quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp
trên trực tiếp là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Khiếu nại đối với quyết định,
hành vi tố tụng của Viện trưởng Viện kiểm sát trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam
do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp xem xét, giải quyết. Trong thời
hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên
trực tiếp phải xem xét, giải quyết. Quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện
kiểm sát cấp trên trực tiếp là quyết định có hiệu lực pháp luật.
3.[222] Tòa án có trách nhiệm giải quyết khiếu nại quyết định
bắt, tạm giam trong giai đoạn xét xử.
Khiếu nại đối với quyết định,
hành vi tố tụng của Phó Chánh án trong việc bắt, tạm giam do Chánh án Tòa án
xem xét, giải quyết. Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của
Chánh án thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết
khiếu nại, người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Chánh án Tòa án trên một cấp.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Chánh án Tòa án trên một
cấp phải xem xét, giải quyết. Quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án trên một
cấp là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Khiếu nại đối với quyết định,
hành vi tố tụng của Chánh án Tòa án trong việc bắt, tạm giam do Chánh án Tòa án
trên một cấp xem xét, giải quyết. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được
khiếu nại, Chánh án Tòa án trên một cấp phải xem xét, giải quyết. Quyết định giải
quyết của Chánh án Tòa án trên một cấp là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Khiếu nại đối với quyết định,
hành vi tố tụng của Thẩm phán giữ chức vụ Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án
nhân dân tối cao trong việc bắt, tạm giam do Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án
nhân dân tối cao xem xét, giải quyết. Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết
khiếu nại của Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao thì trong thời hạn
03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, người khiếu nại
có quyền khiếu nại đến Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Trong thời hạn 07 ngày
kể từ ngày nhận được khiếu nại, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phải xem xét,
giải quyết. Quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao là quyết
định có hiệu lực pháp luật.
Khiếu nại đối với quyết định,
hành vi tố tụng của Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân
dân tối cao trong việc bắt, tạm giam do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem
xét, giải quyết. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Chánh
án Tòa án nhân dân tối cao phải xem xét, giải quyết. Quyết định giải quyết của
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Điều 475.
Thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại đối với Điều tra viên, Cán bộ điều
tra, Phó Thủ trưởng và Thủ trưởng Cơ quan điều tra, người được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra
1.[223] Khiếu nại đối với quyết định, hành vi tố tụng của Điều
tra viên, Cán bộ điều tra, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra trừ khiếu nại về việc
giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam do Thủ trưởng Cơ
quan điều tra xem xét, giải quyết trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được
khiếu nại. Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết của Thủ trưởng Cơ quan điều
tra thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu
nại, người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm
quyền. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện trưởng Viện
kiểm sát có thẩm quyền phải xem xét, giải quyết. Quyết định giải quyết của Viện
trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Khiếu nại đối với quyết định,
hành vi tố tụng của Thủ trưởng Cơ quan điều tra và các quyết định tố tụng của
Cơ quan điều tra đã được Viện kiểm sát phê chuẩn do Viện trưởng Viện kiểm sát
có thẩm quyền giải quyết trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại.
Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm
quyền thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu
nại, người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên
trực tiếp. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện trưởng
Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết. Quyết định giải quyết
của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là quyết định có hiệu lực pháp
luật.
2. Khiếu nại đối với quyết định,
hành vi tố tụng của cấp phó, cán bộ điều tra của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra trừ việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt,
tạm giữ do cấp trưởng cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra xem xét, giải quyết trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại.
Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết của cấp trưởng thì trong thời hạn 03
ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, người khiếu nại có
quyền khiếu nại đến Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện trưởng Viện kiểm
sát phải xem xét, giải quyết. Quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm
sát là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Khiếu nại đối với quyết định,
hành vi tố tụng của cấp trưởng cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra do Viện trưởng Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát điều
tra xem xét, giải quyết. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại,
Viện trưởng Viện kiểm sát phải xem xét, giải quyết. Quyết định giải quyết của
Viện trưởng Viện kiểm sát là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Điều 476.
Thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại đối với Kiểm sát viên, Kiểm tra
viên, Phó Viện trưởng, Viện trưởng Viện kiểm sát, Phó Viện trưởng và Viện trưởng
Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao[224]
1. Khiếu nại đối với quyết định,
hành vi tố tụng của Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát
do Viện trưởng Viện kiểm sát xem xét, giải quyết trong thời hạn 07 ngày kể từ
ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết của Viện
trưởng Viện kiểm sát thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định
giải quyết khiếu nại, người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Viện kiểm sát cấp
trên trực tiếp. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện kiểm
sát cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết. Quyết định giải quyết của Viện
trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là quyết định có hiệu lực pháp luật.
2. Khiếu nại đối với quyết định,
hành vi tố tụng của Viện trưởng Viện kiểm sát do Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp
xem xét, giải quyết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Quyết
định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là quyết định
có hiệu lực pháp luật.
3. Khiếu nại đối với quyết định,
hành vi tố tụng của Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát
viên và Kiểm tra viên công tác tại Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát
viên và Kiểm tra viên công tác tại Viện kiểm sát quân sự trung ương, Phó Viện
trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối
cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương xem xét, giải quyết trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Quyết định giải quyết của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương là
quyết định có hiệu lực pháp luật.
Trường hợp khiếu nại đối với
quyết định, hành vi tố tụng của Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Phó Viện trưởng
Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm do Viện trưởng Viện Công tố và Kiểm
sát xét xử phúc thẩm xem xét, giải quyết trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận
được khiếu nại. Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện
Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận
được quyết định giải quyết khiếu nại, người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
được khiếu nại, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải xem xét, giải
quyết. Quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là
quyết định có hiệu lực pháp luật.
Khiếu nại đối với quyết định,
hành vi tố tụng của Viện trưởng Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm do Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét, giải quyết trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Quyết định giải quyết của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Điều 477.
Thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại đối với Thẩm phán, Thư ký Tòa án,
Thẩm tra viên, Phó Chánh án, Chánh án Tòa án, Phó Chánh tòa, Chánh tòa Tòa Phúc
thẩm Tòa án nhân dân tối cao[225]
1. Khiếu nại đối với quyết định,
hành vi tố tụng của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên, Phó Chánh án Tòa
án nhân dân khu vực, Tòa án quân sự khu vực trước khi mở phiên tòa do Chánh án
Tòa án nhân dân khu vực, Chánh án Tòa án quân sự khu vực giải quyết trong thời
hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại.
Nếu không đồng ý với quyết định
giải quyết của Chánh án Tòa án nhân dân khu vực, Chánh án Tòa án quân sự khu vực
thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại,
người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh
án Tòa án quân sự cấp quân khu. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu
nại, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu phải
xem xét, giải quyết. Quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh,
Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Khiếu nại đối với quyết định,
hành vi tố tụng của Chánh án Tòa án nhân dân khu vực, Chánh án Tòa án quân sự
khu vực trước khi mở phiên tòa do Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án
Tòa án quân sự cấp quân khu xem xét, giải quyết trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được khiếu nại. Quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án nhân dân cấp
tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu là quyết định có hiệu lực pháp luật.
2. Khiếu nại đối với quyết định,
hành vi tố tụng của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên, Phó Chánh án Tòa
án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu trước khi mở phiên tòa do
Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu xem
xét, giải quyết trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu
không đồng ý với quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh,
Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận
được quyết định giải quyết khiếu nại, người khiếu nại có quyền khiếu nại đến
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án quân sự trung ương xem xét,
giải quyết trong thời hạn 15 ngày. Quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án quân sự trung ương là quyết định có hiệu lực
pháp luật.
Khiếu nại đối với quyết định,
hành vi tố tụng của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự
cấp quân khu do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án quân sự trung
ương xem xét, giải quyết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại.
Quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án
quân sự trung ương là quyết định có hiệu lực pháp luật.
3. Khiếu nại đối với quyết định,
hành vi tố tụng của Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán, Thư ký Tòa
án, Thẩm tra viên công tác tại Tòa án nhân dân tối cao, Phó Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao, Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Thẩm tra viên công tác tại Tòa án
quân sự trung ương, Phó Chánh án Tòa án quân sự trung ương do Chánh án Tòa án
nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án quân sự trung ương xem xét, giải quyết trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Quyết định giải quyết của
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án quân sự trung ương là quyết định
có hiệu lực pháp luật.
Trường hợp khiếu nại đối với
quyết định, hành vi tố tụng của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên, Phó
Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao trước khi mở phiên tòa do Chánh
tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao xem xét, giải quyết trong thời hạn 07
ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết
của Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao thì trong thời hạn 03 ngày
kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, người khiếu nại có quyền
khiếu nại đến Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, giải quyết trong thời hạn
15 ngày. Quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao là quyết định
có hiệu lực pháp luật.
Khiếu nại đối với quyết định,
hành vi tố tụng của Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao do Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao xem xét, giải quyết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
nhận được khiếu nại. Quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
là quyết định có hiệu lực pháp luật.
Điều 478.
Người có quyền tố cáo
Cá nhân có quyền tố cáo với cơ
quan, người có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của
Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Điều 479.
Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo
1. Người tố cáo có quyền:
a) Gửi đơn hoặc trực tiếp tố
cáo với cơ quan, người có thẩm quyền;
b) Yêu cầu giữ bí mật họ tên, địa
chỉ, bút tích của mình;
c) Được nhận quyết định giải
quyết tố cáo;
d) Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền
tiến hành tố tụng bảo vệ khi bị đe dọa, trù dập, trả thù.
2. Người tố cáo có nghĩa vụ:
a) Trình bày trung thực về nội
dung tố cáo, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc tố cáo;
b) Nêu rõ họ tên, địa chỉ của
mình;
c) Chịu trách nhiệm trước pháp
luật nếu cố ý tố cáo sai sự thật.
Điều 480.
Quyền và nghĩa vụ của người bị tố cáo
1. Người bị tố cáo có quyền:
a) Được thông báo về nội dung tố
cáo;
b) Đưa ra bằng chứng để chứng
minh nội dung tố cáo là không đúng sự thật;
c) Được nhận quyết định giải
quyết tố cáo;
d) Được khôi phục quyền, lợi
ích hợp pháp bị xâm phạm, được phục hồi danh dự, được bồi thường thiệt hại do
việc tố cáo không đúng gây ra;
đ) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền xử lý người tố cáo sai sự thật.
2. Người bị tố cáo có nghĩa vụ:
a) Giải trình về hành vi bị tố
cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan khi cơ quan, người có thẩm quyền
yêu cầu;
b) Chấp hành quyết định giải
quyết tố cáo;
c) Bồi thường thiệt hại, bồi
hoàn, khắc phục hậu quả do hành vi tố tụng trái pháp luật của mình gây ra.
Điều 481.
Thẩm quyền và thời hạn giải quyết tố cáo
1.[226] Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng thuộc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nào thì
người đứng đầu cơ quan đó có thẩm quyền giải quyết.
Trường hợp người bị tố cáo là
Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát thì Thủ trưởng Cơ quan điều
tra, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có thẩm quyền giải quyết.
Trường hợp người bị tố cáo là
Chánh án Tòa án nhân dân khu vực, Chánh án Tòa án quân sự khu vực thì Chánh án
Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu có thẩm quyền giải
quyết.
Trường hợp người bị tố cáo là
Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu thì
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án quân sự trung ương có thẩm
quyền giải quyết.
Trường hợp người bị tố cáo là
Chánh án Tòa án quân sự trung ương thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có thẩm
quyền giải quyết.
Tố cáo hành vi tố tụng của người
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra do Viện kiểm sát thực
hành quyền công tố, kiểm sát điều tra có thẩm quyền xem xét, giải quyết.
2. Tố cáo hành vi vi phạm pháp
luật có dấu hiệu tội phạm thì được giải quyết theo quy định tại Điều
145 của Bộ luật này.
3. Thời hạn giải quyết tố cáo
không quá 30 ngày kể từ ngày nhận được tố cáo; đối với vụ việc phức tạp thì thời
hạn giải quyết tố cáo có thể kéo dài nhưng không quá 60 ngày.
4. Tố cáo liên quan đến hành vi
giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam trong giai đoạn điều
tra, truy tố phải được[227] Viện
trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, giải quyết trong thời hạn 24 giờ kể
từ khi nhận được tố cáo. Trường hợp phải xác minh thêm thì thời hạn không quá
03 ngày kể từ ngày nhận được tố cáo.
Điều 482.
Trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo
1. Cơ quan, người có thẩm quyền
giải quyết khiếu nại, tố cáo trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có
trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết kịp thời, đúng pháp luật khiếu nại, tố cáo và
gửi văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo cho người đã khiếu nại, tố cáo; xử lý
nghiêm minh người vi phạm pháp luật; áp dụng biện pháp bảo vệ người tố cáo khi
có yêu cầu, ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra; bảo đảm kết quả giải quyết khiếu
nại, tố cáo được thi hành nghiêm chỉnh và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
về việc giải quyết của mình.
2. Người có thẩm quyền giải quyết
khiếu nại, tố cáo mà không giải quyết, thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết,
giải quyết trái pháp luật thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật
hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt
hại, bồi hoàn theo quy định của luật.
3. Cơ quan điều tra, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Tòa án có trách nhiệm thông
báo việc tiếp nhận và gửi văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo cho Viện kiểm
sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền.
Điều 483.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố
cáo
1.[228] Viện kiểm sát có thẩm quyền và Viện kiểm sát cấp trên
kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Cơ quan điều tra, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Tòa án.
2. Khi kiểm sát việc giải quyết
khiếu nại, tố cáo, Viện kiểm sát có những nhiệm vụ, quyền hạn:
a) Yêu cầu Cơ quan điều tra,
Tòa án, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết
định giải quyết khiếu nại, ra văn bản giải quyết tố cáo theo quy định tại
Chương này;
b) Yêu cầu Cơ quan điều tra,
Tòa án, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tự kiểm
tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cấp mình và cấp dưới; thông báo kết
quả kiểm tra cho Viện kiểm sát;
c) Yêu cầu Cơ quan điều tra,
Tòa án, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cung cấp
hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo cho Viện kiểm
sát;
d) Trực tiếp kiểm sát việc giải
quyết khiếu nại, tố cáo tại Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến
hành một số hoạt động điều tra, Tòa án cùng cấp và cấp dưới;
đ) Ban hành kết luận kiểm sát;
thực hiện quyền kiến nghị, kháng nghị, yêu cầu Cơ quan điều tra, Tòa án, cơ
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khắc phục vi phạm
trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo.
3. Viện kiểm sát cấp trên có
trách nhiệm thanh tra, kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Viện kiểm
sát cấp dưới. Viện kiểm sát nhân dân tối cao thanh tra, kiểm tra việc giải quyết
khiếu nại, tố cáo của Viện kiểm sát các cấp.
Chương
XXXIV
BẢO VỆ NGƯỜI TỐ GIÁC TỘI
PHẠM, NGƯỜI LÀM CHỨNG, BỊ HẠI VÀ NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG KHÁC
Điều 484.
Người được bảo vệ
1. Những người được bảo vệ gồm:
a) Người tố giác tội phạm;
b) Người làm chứng;
c) Bị hại;
d) Người thân thích của người tố
giác tội phạm, người làm chứng, bị hại.
2. Người được bảo vệ có quyền:
a) Đề nghị được bảo vệ;
b) Được thông báo, giải thích về
quyền và nghĩa vụ;
c) Được biết về việc áp dụng biện
pháp bảo vệ; đề nghị thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp bảo vệ;
d) Được bồi thường thiệt hại,
khôi phục danh dự, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp trong thời gian bảo vệ.
3. Người được bảo vệ có nghĩa vụ:
a) Chấp hành nghiêm chỉnh các
yêu cầu của cơ quan bảo vệ liên quan đến việc bảo vệ;
b) Giữ bí mật thông tin bảo vệ;
c) Thông báo kịp thời đến cơ
quan có trách nhiệm bảo vệ về những vấn đề nghi vấn trong thời gian được bảo vệ.
Điều 485.
Cơ quan, người có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ
1. Cơ quan có thẩm quyền áp dụng
các biện pháp bảo vệ gồm:
a) Cơ quan điều tra của Công an
nhân dân;
b) Cơ quan điều tra trong Quân
đội nhân dân.
2. Người có thẩm quyền ra quyết
định áp dụng biện pháp bảo vệ gồm:
a)[229] Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra của Công
an nhân dân, Điều tra viên thuộc trường hợp quy định tại khoản
1a Điều 37 của Bộ luật này có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp bảo
vệ đối với người được bảo vệ trong các vụ việc, vụ án hình sự do cơ quan mình
thụ lý, giải quyết, điều tra hoặc theo đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân, Tòa
án nhân dân có thẩm quyền, đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
b) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ
quan điều tra trong Quân đội nhân dân có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện
pháp bảo vệ đối với người được bảo vệ trong các vụ việc, vụ án hình sự do cơ
quan mình thụ lý, giải quyết, điều tra hoặc theo đề nghị của Viện kiểm sát quân
sự, Tòa án quân sự cùng cấp; đề nghị của Viện kiểm sát quân sự trung ương.
3. Viện kiểm sát nhân dân, Tòa
án nhân dân các cấp nếu xét thấy cần áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người được
bảo vệ thì đề nghị Cơ quan điều tra trực tiếp thụ lý vụ án hình sự ra quyết định
áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người được bảo vệ. Đề nghị phải được thể hiện
bằng văn bản.
Cơ quan điều tra Viện kiểm sát
nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương nếu xét thấy
cần áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người được bảo vệ trong vụ việc, vụ án
hình sự do cơ quan mình thụ lý, giải quyết, điều tra thì báo cáo Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương có văn
bản đề nghị với Cơ quan Cảnh sát điều tra, Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an,
Cơ quan điều tra hình sự, Cơ quan An ninh điều tra Bộ Quốc phòng ra quyết định
áp dụng biện pháp bảo vệ.
Điều 486.
Các biện pháp bảo vệ
1. Khi có căn cứ xác định tính
mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ bị xâm hại hoặc
bị đe dọa xâm hại do việc cung cấp chứng cứ, tài liệu, thông tin liên quan đến
tội phạm thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng quyết định áp dụng
những biện pháp sau đây để bảo vệ họ:
a) Bố trí lực lượng, tiến hành
các biện pháp nghiệp vụ, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ và các phương tiện khác
để canh gác, bảo vệ;
b) Hạn chế việc đi lại, tiếp
xúc của người được bảo vệ để bảo đảm an toàn cho họ;
c) Giữ bí mật và yêu cầu người
khác giữ bí mật các thông tin liên quan đến người được bảo vệ;
d) Di chuyển, giữ bí mật chỗ ở,
nơi làm việc, học tập; thay đổi tung tích, lý lịch, đặc điểm nhân dạng của người
được bảo vệ, nếu được họ đồng ý;
đ) Răn đe, cảnh cáo, vô hiệu
hóa các hành vi xâm hại người được bảo vệ; ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành
vi xâm hại theo quy định của pháp luật;
e) Các biện pháp bảo vệ khác
theo quy định của pháp luật.
2. Việc áp dụng, thay đổi các
biện pháp bảo vệ quy định tại khoản 1 Điều này không được làm ảnh hưởng đến quyền
và lợi ích hợp pháp của người được bảo vệ.
Điều 487.
Đề nghị, yêu cầu áp dụng các biện pháp bảo vệ
1. Người được bảo vệ có quyền
làm văn bản đề nghị, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ.
Văn bản đề nghị, yêu cầu có các nội dung chính:
a) Ngày, tháng, năm;
b) Tên, địa chỉ của người đề
nghị;
c) Lý do và nội dung đề nghị áp
dụng biện pháp bảo vệ;
d) Chữ ký hoặc điểm chỉ của người
đề nghị. Trường hợp đề nghị của cơ quan, tổ chức thì người đại diện theo pháp
luật của cơ quan, tổ chức đó ký tên và đóng dấu.
2. Trường hợp khẩn cấp, người
được bảo vệ trực tiếp đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo
vệ hoặc thông qua phương tiện thông tin liên lạc nhưng sau đó phải thể hiện bằng
văn bản đề nghị. Cơ quan, người có thẩm quyền nhận được đề nghị, yêu cầu phải lập
biên bản và đưa vào hồ sơ bảo vệ.
3.[230] Khi tiến hành tố tụng đối với vụ việc, vụ án, cơ quan
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án
nhận được đề nghị, yêu cầu áp dụng biện pháp bảo vệ có trách nhiệm xem xét, đề nghị
Cơ quan điều tra cùng cấp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ. Trường
hợp Viện kiểm sát nhân dân khu vực, Tòa án nhân dân khu vực nhận được đề nghị,
yêu cầu bảo vệ thì đề nghị Cơ quan điều tra cấp tỉnh xem xét, quyết định áp dụng
biện pháp bảo vệ.
4. Cơ quan điều tra phải kiểm
tra căn cứ, tính xác thực của đề nghị, yêu cầu bảo vệ. Trường hợp xét thấy
không cần thiết áp dụng biện pháp bảo vệ thì phải giải thích rõ lý do cho người
đã yêu cầu, đề nghị biết.
Điều 488.
Quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ
1. Quyết định áp dụng biện pháp
bảo vệ gồm các nội dung chính:
a) Số, ngày, tháng, năm; địa điểm
ra quyết định;
b) Chức vụ của người ra quyết định;
c) Căn cứ ra quyết định;
d) Họ tên, ngày, tháng, năm
sinh, nơi cư trú của người được bảo vệ;
đ) Biện pháp bảo vệ và thời
gian bắt đầu thực hiện biện pháp bảo vệ.
2. Quyết định áp dụng biện pháp
bảo vệ được gửi cho người yêu cầu bảo vệ, người được bảo vệ, Viện kiểm sát, Tòa
án đã đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ và cơ quan, tổ chức, đơn vị liên quan đến
việc bảo vệ.
3. Sau khi ra quyết định áp dụng
biện pháp bảo vệ, Cơ quan điều tra có thẩm quyền áp dụng phải tổ chức thực hiện
ngay biện pháp bảo vệ. Trường hợp cần thiết có thể phối hợp với các cơ quan,
đơn vị trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân để thực hiện việc bảo vệ.
4. Cơ quan điều tra đã ra quyết
định áp dụng có thể thay đổi, bổ sung biện pháp bảo vệ trong quá trình bảo vệ nếu
xét thấy cần thiết.
5. Thời gian bảo vệ được tính từ
khi áp dụng biện pháp bảo vệ cho đến khi có quyết định chấm dứt áp dụng biện
pháp bảo vệ.
Điều 489.
Chấm dứt việc bảo vệ
1. Khi xét thấy căn cứ xâm hại
hoặc đe dọa xâm hại tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người
được bảo vệ không còn, Thủ trưởng Cơ quan điều tra đã quyết định áp dụng biện
pháp bảo vệ phải ra quyết định chấm dứt áp dụng biện pháp bảo vệ.
2. Quyết định chấm dứt áp dụng
các biện pháp bảo vệ phải được gửi cho người được bảo vệ, cơ quan đã đề nghị áp
dụng biện pháp bảo vệ và cơ quan, tổ chức, đơn vị liên quan đến việc bảo vệ.
Điều 490.
Hồ sơ bảo vệ
1. Cơ quan điều tra đã ra quyết
định áp dụng biện pháp bảo vệ phải lập hồ sơ bảo vệ.
2. Hồ sơ bảo vệ gồm:
a) Văn bản đề nghị, yêu cầu áp
dụng biện pháp bảo vệ; biên bản về việc đề nghị, yêu cầu áp dụng biện pháp bảo
vệ;
b) Kết quả xác minh về hành vi
xâm hại hoặc đe dọa xâm hại tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của
người được bảo vệ;
c) Tài liệu về hậu quả thiệt hại
đã xảy ra (nếu có) và việc xử lý của cơ quan có thẩm quyền;
d) Văn bản yêu cầu, đề nghị
thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp bảo vệ;
đ) Quyết định áp dụng, thay đổi,
bổ sung, hủy bỏ biện pháp bảo vệ;
e) Tài liệu phản ánh diễn biến
quá trình áp dụng biện pháp bảo vệ;
g) Văn bản yêu cầu, đề nghị cơ
quan, tổ chức, cá nhân phối hợp bảo vệ;
h) Báo cáo kết quả thực hiện biện
pháp bảo vệ;
i) Quyết định chấm dứt biện
pháp bảo vệ;
k) Các văn bản, tài liệu khác
có liên quan đến việc bảo vệ.
Phần thứ
tám
HỢP TÁC QUỐC TẾ
Chương
XXXV
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 491.
Phạm vi hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự
1. Hợp tác quốc tế trong tố tụng
hình sự là việc các cơ quan có thẩm quyền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam và các cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài phối hợp, hỗ trợ nhau để thực
hiện hoạt động phục vụ yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
2. Hợp tác quốc tế trong tố tụng
hình sự gồm tương trợ tư pháp về hình sự; dẫn độ; tiếp nhận, chuyển giao người
đang chấp hành án phạt tù và các hoạt động hợp tác quốc tế khác được quy định
tại Bộ luật này, pháp luật về tương trợ tư pháp và điều ước quốc tế mà Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
3. Hợp tác quốc tế trong tố tụng
hình sự trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thực hiện
theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại, theo quy định của Bộ luật này,
pháp luật về tương trợ tư pháp và quy định khác của pháp luật Việt Nam có liên
quan.
Điều 492.
Nguyên tắc hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự
1. Hợp tác quốc tế trong tố tụng
hình sự được thực hiện trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn
lãnh thổ quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và
cùng có lợi, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật của Việt Nam và điều ước quốc tế
mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2. Trường hợp Việt Nam chưa ký
kết hoặc chưa gia nhập điều ước quốc tế có liên quan thì việc hợp tác quốc tế
trong tố tụng hình sự được thực hiện theo nguyên tắc có đi có lại nhưng không
trái pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế.
Điều 493.
Cơ quan trung ương trong hợp tác quốc tế về tố tụng hình sự
1. Bộ Công an là Cơ quan trung
ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong hoạt động dẫn độ và chuyển
giao người đang chấp hành án phạt tù.
2. Viện kiểm sát nhân dân tối
cao là Cơ quan trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong hoạt
động tương trợ tư pháp về hình sự và những hoạt động hợp tác quốc tế khác theo
quy định của pháp luật.
Điều 494.
Giá trị pháp lý của tài liệu, đồ vật thu thập được qua hợp tác quốc tế trong tố
tụng hình sự
Tài liệu, đồ vật do cơ quan có
thẩm quyền của nước ngoài thu thập theo ủy thác tư pháp của cơ quan có thẩm quyền
của Việt Nam hoặc tài liệu, đồ vật do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài gửi
đến Việt Nam để ủy thác truy cứu trách nhiệm hình sự có thể được coi là chứng cứ.
Trường hợp tài liệu, đồ vật này có đặc điểm quy định tại Điều
89 của Bộ luật này thì có thể được coi là vật chứng.
Điều 495.
Việc tiến hành tố tụng của người có thẩm quyền của Việt Nam ở nước ngoài và người
có thẩm quyền của nước ngoài ở Việt Nam
Việc tiến hành tố tụng của người
có thẩm quyền của Việt Nam ở nước ngoài và người có thẩm quyền của nước ngoài ở
Việt Nam được thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc thực hiện theo nguyên tắc có đi có lại.
Điều 496.
Sự có mặt của người làm chứng, người giám định, người đang chấp hành án phạt tù
tại Việt Nam ở nước ngoài; người làm chứng, người giám định, người đang chấp
hành án phạt tù tại nước ngoài ở Việt Nam
1. Cơ quan có thẩm quyền của Việt
Nam có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cho người làm chứng,
người giám định, người đang chấp hành án phạt tù tại nước được đề nghị có mặt ở
Việt Nam để phục vụ việc giải quyết vụ án hình sự.
2. Theo đề nghị của cơ quan có
thẩm quyền nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có thể cho phép người
làm chứng, người giám định, người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam có mặt
ở nước đã đề nghị để phục vụ việc giải quyết vụ án hình sự.
Chương
XXXVI
MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG HỢP
TÁC QUỐC TẾ
Điều 497.
Việc tiếp nhận, chuyển giao tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án
Việc tiếp nhận, chuyển giao tài
liệu, đồ vật liên quan đến vụ án được thực hiện theo quy định của điều ước quốc
tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, quy định của Bộ luật
này, pháp luật về tương trợ tư pháp và quy định khác của pháp luật Việt Nam có
liên quan.
Điều 498.
Xử lý trường hợp từ chối dẫn độ công dân Việt Nam
Theo yêu cầu của cơ quan có thẩm
quyền của nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có trách nhiệm xem xét
để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc cho thi hành bản án, quyết định hình sự của
Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ.
Điều 499.
Trình tự, thủ tục xem xét, xử lý yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với
công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ
1. Trong thời hạn 10 ngày kể từ
ngày ra quyết định từ chối dẫn độ công dân Việt Nam theo yêu cầu của cơ quan có
thẩm quyền của nước ngoài, Tòa án đã ra quyết định từ chối dẫn độ chuyển hồ sơ
và các tài liệu kèm theo của nước ngoài đến Viện kiểm sát nhân dân tối cao để
xem xét việc truy cứu trách nhiệm hình sự.
2. Viện kiểm sát nhân dân tối
cao xem xét, xử lý yêu cầu của nước ngoài về truy cứu trách nhiệm hình sự công
dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ theo quy định của luật.
3. Việc khởi tố, điều tra, truy
tố, xét xử đối với người bị yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự được tiến hành
theo quy định của Bộ luật này.
4. Cơ quan có thẩm quyền của Việt
Nam có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cung cấp, bổ sung chứng
cứ, tài liệu, đồ vật để bảo đảm việc điều tra, truy tố, xét xử có căn cứ, đúng
pháp luật.
Điều 500.
Điều kiện cho thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với
công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ
Bản án, quyết định hình sự của
Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ có thể được thi
hành tại Việt Nam khi có đủ các điều kiện:
1. Có văn bản yêu cầu của cơ
quan có thẩm quyền của nước ngoài về việc thi hành bản án, quyết định hình sự của
Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ;
2. Hành vi phạm tội mà công dân
Việt Nam bị kết án ở nước ngoài cũng cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật
Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
3. Bản án, quyết định hình sự của
Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam đã có hiệu lực pháp luật và không
còn thủ tục tố tụng nào đối với người đó.
Điều 501.
Trình tự, thủ tục xem xét yêu cầu thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa
án nước ngoài đối với công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ
1.[231] Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của
cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về việc thi hành bản án, quyết định hình sự
của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam bị từ chối dẫn độ, Tòa án nhân
dân khu vực đã ra quyết định từ chối dẫn độ xem xét yêu cầu của nước ngoài.
2. Tòa án có thẩm quyền mở
phiên họp bằng Hội đồng gồm ba Thẩm phán để xem xét yêu cầu thi hành bản án,
quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam bị từ chối dẫn
độ. Phiên họp phải có mặt của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp, người bị
yêu cầu thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài, luật sư hoặc
người đại diện của họ (nếu có).
3. Sau khi khai mạc phiên họp,
một thành viên của Hội đồng trình bày những vấn đề liên quan đến yêu cầu thi
hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam
và nêu ý kiến về cơ sở pháp lý của việc cho thi hành bản án, quyết định hình sự
của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam tại Việt Nam.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm
của Viện kiểm sát về việc cho thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước
ngoài đối với công dân Việt Nam tại Việt Nam.
Người bị yêu cầu thi hành bản
án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài, luật sư, người đại diện của người
này trình bày ý kiến (nếu có).
Hội đồng thảo luận và quyết định
theo đa số việc cho thi hành hoặc không cho thi hành bản án, quyết định hình sự
của Tòa án nước ngoài đối với người bị yêu cầu.
4. Quyết định cho thi hành bản
án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam tại Việt
Nam phải ghi rõ thời hạn mà người đó phải thi hành án phạt tù tại Việt Nam
trên cơ sở xem xét, quyết định:
a) Trường hợp thời hạn của hình
phạt do nước ngoài đã tuyên phù hợp với pháp luật Việt Nam thì thời hạn phải
thi hành án tại Việt Nam được quyết định tương ứng với thời hạn đó;
b) Trường hợp tính chất hoặc thời
hạn của hình phạt do Tòa án nước ngoài đã tuyên không phù hợp pháp luật Việt
Nam thì quyết định chuyển đổi hình phạt cho phù hợp với pháp luật Việt Nam
nhưng không được dài hơn hình phạt đã tuyên của Tòa án nước ngoài.
5.[232] Chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày ra quyết định cho thi
hành hoặc không cho thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài,
Tòa án nhân dân khu vực gửi quyết định cho người bị yêu cầu thi hành, Viện kiểm
sát nhân dân cùng cấp, Bộ Công an để thực hiện.
Người bị yêu cầu thi hành bản
án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát
nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát
nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Tòa án
nhân dân khu vực ra quyết định.
Tòa án nhân dân khu vực phải gửi
hồ sơ và kháng cáo, kháng nghị cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh trong thời hạn 07
ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6.[233] Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ xem
xét yêu cầu thi hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án nước ngoài có kháng
cáo, kháng nghị, Tòa án nhân dân cấp tỉnh mở phiên họp xem xét quyết định của
Tòa án nhân dân khu vực bị kháng cáo, kháng nghị.
Thủ tục xem xét kháng cáo,
kháng nghị đối với quyết định của Tòa án nhân dân khu vực được thực hiện theo
quy định tại Điều này.
7.[234] Quyết định thi hành bản án, quyết định hình sự của
Tòa án nước ngoài đối với công dân Việt Nam tại Việt Nam có hiệu lực pháp luật
gồm:
a) Quyết định của Tòa án nhân
dân khu vực không bị kháng cáo, kháng nghị;
b) Quyết định của Tòa án nhân
dân cấp tỉnh.
8. Trình tự, thủ tục thi hành
quyết định thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài đối với công dân
Việt Nam tại Việt Nam được thực hiện theo quy định Bộ luật này và Luật Thi hành
án hình sự.
9. Khi nhận được thông báo về
quyết định đặc xá, đại xá hoặc miễn, giảm hình phạt của nước ngoài đối với công
dân Việt Nam phạm tội ở nước ngoài bị Việt Nam từ chối dẫn độ và người đó đang
thi hành án tại Việt Nam thì Bộ Công an gửi ngay thông báo đó cho Tòa án, Viện
kiểm sát có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Điều 502.
Các biện pháp ngăn chặn, căn cứ và thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn
1. Các biện pháp ngăn chặn để bảo
đảm cho việc xem xét yêu cầu dẫn độ hoặc thi hành quyết định dẫn độ gồm bắt, tạm
giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, đặt tiền để bảo đảm, tạm hoãn xuất cảnh.
2. Biện pháp ngăn chặn chỉ được
áp dụng đối với người bị xem xét yêu cầu dẫn độ hoặc bị dẫn độ khi có đủ các điều
kiện:
a) Tòa án đã có quyết định xem
xét yêu cầu dẫn độ đối với người đó hoặc quyết định dẫn độ đối với người đó đã
có hiệu lực pháp luật;
b) Có căn cứ cho rằng người bị
yêu cầu dẫn độ bỏ trốn hoặc gây khó khăn, cản trở việc xem xét yêu cầu dẫn độ
hoặc thi hành quyết định dẫn độ.
3.[235] Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân khu vực, Chánh
án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh quyết định việc áp dụng các biện pháp
ngăn chặn quy định tại khoản 1 Điều này. Thẩm phán chủ tọa phiên họp xem xét
yêu cầu dẫn độ có quyền quyết định việc áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư
trú, biện pháp đặt tiền để bảo đảm sự có mặt của người bị yêu cầu dẫn độ tại
phiên họp.
Điều 503.
Bắt tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ
1. Việc bắt người bị yêu cầu dẫn
độ để tạm giam hoặc thi hành quyết định dẫn độ được thực hiện theo quy định tại
Điều 113 của Bộ luật này.
2.[236] Thời hạn tạm giam để xem xét yêu cầu dẫn độ không quá
thời hạn trong lệnh bắt giam của cơ quan có thẩm quyền của nước yêu cầu dẫn độ
hoặc thời hạn phải thi hành hoặc còn phải thi hành hình phạt tù trong bản án,
quyết định hình sự của Tòa án nước yêu cầu dẫn độ.
Trường hợp cần thiết, Tòa án
nhân dân khu vực, Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thể gửi văn bản yêu cầu cơ quan
có thẩm quyền của nước yêu cầu dẫn độ ra lệnh, quyết định tạm giam hoặc gia hạn
tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ để bảo đảm việc xem xét yêu cầu dẫn độ; văn bản
yêu cầu được gửi thông qua Bộ Công an.
Điều 504.
Cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh
1. Cấm đi khỏi nơi cư trú là biện
pháp ngăn chặn có thể áp dụng đối với người bị yêu cầu dẫn độ có nơi cư trú rõ
ràng nhằm bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của Tòa án.
Việc áp dụng biện pháp cấm đi
khỏi nơi cư trú được thực hiện theo quy định tại Điều 123 của Bộ
luật này.
Thời hạn áp dụng biện pháp cấm
đi khỏi nơi cư trú không được quá thời hạn bảo đảm việc xem xét yêu cầu dẫn độ
và thời hạn xem xét kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định dẫn độ hoặc quyết
định từ chối dẫn độ theo quy định của pháp luật về tương trợ tư pháp.
2. Tạm hoãn xuất cảnh là biện
pháp ngăn chặn có thể áp dụng đối với người bị yêu cầu dẫn độ nhằm bảo đảm sự
có mặt của họ theo giấy triệu tập của Tòa án.
Việc áp dụng biện pháp tạm hoãn
xuất cảnh được thực hiện theo quy định tại Điều 124 của Bộ luật
này.
Thời hạn áp dụng biện pháp tạm
hoãn xuất cảnh không được quá thời hạn bảo đảm việc xem xét yêu cầu dẫn độ và
thời hạn xem xét kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định dẫn độ hoặc quyết định
từ chối dẫn độ theo quy định của pháp luật về tương trợ tư pháp.
Điều 505.
Đặt tiền để bảo đảm
1. Đặt tiền để bảo đảm là biện
pháp ngăn chặn có thể áp dụng đối với người bị yêu cầu dẫn độ căn cứ vào tình
trạng tài sản của người đó nhằm bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của
Tòa án.
2. Việc áp dụng biện pháp đặt
tiền để bảo đảm thực hiện theo quy định tại Điều 122 của Bộ luật
này.
3. Thời hạn áp dụng biện pháp đặt
tiền để bảo đảm không được quá thời hạn bảo đảm việc xem xét yêu cầu dẫn độ và
thời hạn xem xét kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định dẫn độ hoặc quyết định
từ chối dẫn độ theo quy định của pháp luật về tương trợ tư pháp.
Điều 506.
Hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn
1. Khi Tòa án có thẩm quyền quyết
định từ chối dẫn độ hoặc hết thời hạn 15 ngày kể từ ngày quyết định thi hành
quyết định dẫn độ có hiệu lực mà nước yêu cầu dẫn độ không tiếp nhận người bị dẫn
độ thì mọi biện pháp ngăn chặn đã áp dụng đều phải được hủy bỏ.
2. Người có thẩm quyền áp dụng
biện pháp ngăn chặn quy định tại Điều 502 của Bộ luật này
phải kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi biện pháp ngăn chặn do mình quyết định nếu
xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết.
Điều
506a. Giữ người trong trường hợp khẩn cấp trước khi có yêu cầu dẫn độ[237]
Việc giữ người trong trường hợp
khẩn cấp trước khi có yêu cầu dẫn độ của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài
được thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là thành viên và pháp luật về dẫn độ.
Điều 507.
Xử lý tài sản do phạm tội mà có
1. Cơ quan có thẩm quyền của Việt
Nam hợp tác với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài trong việc truy tìm, tạm giữ,
kê biên, phong tỏa, tịch thu, xử lý tài sản do phạm tội mà có để phục vụ yêu cầu
điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
2. Việc truy tìm, tạm giữ, kê
biên, phong tỏa, tịch thu tài sản do phạm tội mà có tại Việt Nam được thực hiện
theo quy định của Bộ luật này và quy định khác của pháp luật Việt Nam có liên
quan.
3. Việc xử lý tài sản do phạm tội
mà có tại Việt Nam thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo thoả thuận trong từng vụ việc cụ
thể giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và cơ quan có thẩm quyền của nước
ngoài có liên quan.
Điều 508.
Phối hợp điều tra, áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt
1. Cơ quan có thẩm quyền của Việt
Nam có thể hợp tác với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài trong việc phối hợp
điều tra hoặc áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. Việc hợp tác phối
hợp điều tra hoặc áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt được thực hiện
trên cơ sở điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên
hoặc theo thoả thuận trong từng vụ việc cụ thể giữa cơ quan có thẩm quyền của
Việt Nam và cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài có liên quan.
2. Các hoạt động phối hợp điều
tra thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thực
hiện theo quy định của Bộ luật này và quy định khác của pháp luật Việt Nam có
liên quan.
Phần thứ
chín
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH[238]
Điều 509.
Hiệu lực thi hành
1. Bộ luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2016.
2. Bộ luật Tố tụng hình sự số
19/2003/QH11 hết hiệu lực kể từ ngày Bộ luật này có hiệu lực.
3. Bãi bỏ quy định về việc cấp
giấy chứng nhận người bào chữa tại khoản 3 và khoản 4 Điều 27 của Luật Luật sư
số 65/2006/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 20/2012/QH13.
Điều 510.
Quy định chi tiết
Chính phủ, Viện kiểm sát nhân
dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết các điều, khoản được
giao trong Bộ luật này.
|
Nơi nhận:
- Văn phòng Chính phủ (để đăng Công
báo);
- Cục KTVB và QLXLVPHC, Bộ Tư pháp (để đăng trên CSDL Quốc gia về VBPL);
- Vụ Thông tin, VPQH (để đăng trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội);
- Vụ Chuyển đổi số, VPQH (để đăng trên trang nội bộ Intranet);
- Lưu: HC, TH.
|
XÁC THỰC VĂN BẢN
HỢP NHẤT
CHỦ NHIỆM
Lê Quang Tùng
|
[1] Luật số 02/2021/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Bộ luật Tố tụng hình sự có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13.”.
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số
34/2024/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Tổ chức
Tòa án nhân dân.”.
Luật Tư pháp người chưa thành
niên số 59/2024/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Tư
pháp người chưa thành niên.”.
Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị
quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Luật số 02/2021/QH15, Luật số 34/2024/QH15 và Luật số 59/2024/QH15.”.
[2] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[3] Điểm
này được bãi bỏ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[4] Cụm
từ “thành phố trực thuộc Trung ương” được thay thế bằng cụm từ “thành phố” theo
quy định tại khoản 68 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[5] Điểm
này được bãi bỏ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[6] Cụm
từ “thành phố trực thuộc Trung ương” được thay thế bằng cụm từ “thành phố” theo
quy định tại khoản 68 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[7] Điểm
này được bãi bỏ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[8] Cụm
từ “thành phố trực thuộc Trung ương” được thay thế bằng cụm từ “thành phố” theo
quy định tại khoản 68 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[9] Điểm
này được bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[10] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 177 của Luật Tư
pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01
năm 2026.
[11] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[12] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[13] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[14] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[15] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[16] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[17] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[18] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[19]
Cụm từ “quyết định giao người dưới 18 tuổi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có
trách nhiệm giám sát; quyết định thay đổi người giám sát người dưới 18 tuổi phạm
tội;” được bỏ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 177 của Luật Tư pháp người
chưa thành niên số 59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[20] Khoản
này được bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[21] Điểm
này được bãi bỏ theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 177 của Luật Tư pháp người
chưa thành niên số 59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[22] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[23] Khoản
này được bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[24]
Cụm từ “quyết định giao người dưới 18 tuổi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có
trách nhiệm giám sát; quyết định thay đổi người giám sát người dưới 18 tuổi phạm
tội;” được bỏ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 177 của Luật Tư pháp người
chưa thành niên số 59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[25] Khoản
này được bổ sung theo quy định tại khoản 7 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[26] Khoản
này này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 8 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[27] Khoản
này này được bổ sung theo quy định tại khoản 8 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[28]
Cụm từ “thay đổi người giám sát người dưới 18 tuổi phạm tội;” được bỏ theo quy
định tại điểm d khoản 2 Điều 177 của Luật Tư pháp người chưa thành niên số
59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[29] Khoản
này này được bổ sung theo quy định tại khoản 9 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[30] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 10 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[31]
Cụm từ “chính quyền địa phương” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân”
theo quy định tại khoản 60 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[32] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 11 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[33] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 11 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[34] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 11 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[35]
Cụm từ “Công an xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Công an cấp
xã” theo quy định tại khoản 56 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[36]
Cụm từ “Công an xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Công an cấp
xã” theo quy định tại khoản 56 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[37] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 12 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[38]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban
nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[39]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban
nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[40]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[41]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[42]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban
nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[43]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban
nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[44]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp hoặc” được bỏ theo quy định tại khoản 69 Điều 1
của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình
sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[45]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp hoặc” được bỏ theo quy định tại khoản 69 Điều 1
của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình
sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[46]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[47]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban
nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[48]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban
nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[49]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban
nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[50]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[51]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[52]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban
nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[53]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban
nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[54]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban
nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[55]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban
nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[56]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[57]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[58]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban
nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[59]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban
nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[60]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[61]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[62]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[63] Khoản
này được bổ sung theo quy định tại khoản 13 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[64] Khoản
này được bổ sung theo quy định tại khoản 14 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[65]
Cụm từ “, Trưởng phân trại thuộc trại tạm giam” được bổ sung vào sau cụm từ
“Trưởng Nhà tạm giữ” theo quy định tại khoản 55 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[66]
Tên Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 15 Điều 1 của
Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[67] Khoản
này được bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 15 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[68] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 16 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[69]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban
nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[70]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban
nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[71]
Cụm từ “Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban
nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 61 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[72] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 17 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[73] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều 1 của Luật số
02/2021/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2021.
[74]
Cụm từ “Công an xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Công an cấp
xã” theo quy định tại khoản 56 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[75]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp hoặc” được bỏ theo quy định tại khoản 69 Điều 1
của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình
sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[76]
Cụm từ “Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc” được bỏ theo quy định tại khoản
70 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố
tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[77]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp hoặc” được bỏ theo quy định tại khoản 69 Điều 1
của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình
sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[78] Điểm
này được bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 1 của Luật số 02/2021/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 12 năm 2021.
[79]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp hoặc” được bỏ theo quy định tại khoản 69 Điều 1
của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình
sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[80] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 18 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[81]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp hoặc” được bỏ theo quy định tại khoản 69 Điều 1
của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình
sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[82] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 19 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[83]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[84] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 150 của Luật Tổ
chức Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm
2025.
[85] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 150 của Luật Tổ
chức Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm
2025.
[86] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Luật số
02/2021/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2021.
[87]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp hoặc” được bỏ theo quy định tại khoản 69 Điều 1
của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình
sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[88] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 1 của Luật số
02/2021/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2021.
[89]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp hoặc” được bỏ theo quy định tại khoản 69 Điều 1
của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình
sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[90] Điểm
này được bãi bỏ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 150 của Luật Tổ chức Tòa
án nhân dân số 34/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025.
[91] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 20 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[92] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 20 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[93]
Cụm từ “thành phố trực thuộc Trung ương” được thay thế bằng cụm từ “thành phố”
theo quy định tại khoản 68 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[94]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[95]
Cụm từ “thành phố trực thuộc Trung ương” được thay thế bằng cụm từ “thành phố”
theo quy định tại khoản 68 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[96]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[97] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 21 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[98] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 21 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[99] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 22 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[100]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 22 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[101]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 22 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[102]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 23 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[103]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[104]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[105]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban
nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[106]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban
nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[107]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban nhân
dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[108]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[109]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[110]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[111]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 24 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[112]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[113]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban
nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[114]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban
nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[115]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban nhân
dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[116]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban
nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[117]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[118]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[119]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban
nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[120]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[121]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[122]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[123]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban
nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[124]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[125]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 25 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[126]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 26 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[127]
Điểm này được bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 1 của Luật số 02/2021/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 12 năm 2021.
[128]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[129]
Cụm từ “hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 của
Bộ luật Hình sự” được thay bằng cụm từ “hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc
Điều 29 của Bộ luật Hình sự hoặc người chưa thành niên được áp dụng biện pháp xử
lý chuyển hướng theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên” theo quy
định tại điểm đ khoản 2 Điều 177 của Luật Tư pháp người chưa thành niên, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[130]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[131]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[132]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[133]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 27 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[134]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[135]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[136]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 28 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[137]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 29 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[138]
Điểm này được bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 1 của Luật số 02/2021/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 12 năm 2021.
[139]
Cụm từ “hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 của
Bộ luật Hình sự” được thay bằng cụm từ “hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc
Điều 29 của Bộ luật Hình sự hoặc người chưa thành niên được áp dụng biện pháp xử
lý chuyển hướng theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên” theo quy
định tại điểm đ khoản 2 Điều 177 của Luật Tư pháp người chưa thành niên, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[140]
Cụm từ “Cơ quan điều tra cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Cơ quan điều tra
có thẩm quyền” theo quy định tại khoản 67 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[141]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban
nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[142]
Cụm từ “Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban
nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 61 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[143]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[144]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 31 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[145]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 32 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[146]
Cụm từ “thành phố trực thuộc Trung ương” được thay thế bằng cụm từ “thành phố”
theo quy định tại khoản 68 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[147]
Cụm từ “Tòa án nhân dân cấp huyện” được thay thế bằng cụm từ “Tòa án nhân dân
khu vực” theo quy định tại khoản 62 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[148]
Cụm từ “thành phố trực thuộc Trung ương” được thay thế bằng cụm từ “thành phố”
theo quy định tại khoản 68 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[149]
Cụm từ “Tòa án nhân dân cấp huyện” được thay thế bằng cụm từ “Tòa án nhân dân
khu vực” theo quy định tại khoản 62 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[150]
Cụm từ “thành phố trực thuộc Trung ương” được thay thế bằng cụm từ “thành phố”
theo quy định tại khoản 68 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[151]
Cụm từ “hoặc người chưa thành niên được áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng
theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên” được bổ sung theo quy định
tại điểm e khoản 2 Điều 177 của Luật Tư pháp người chưa thành niên số
59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[152]
Cụm từ “hoặc khoản 2 Điều 91” được bỏ theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 177
của Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 01 năm 2026.
[153]
Cụm từ “Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban
nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 61 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[154]
Cụm từ “khỏi bệnh” được thay thế bằng cụm từ “có kết luận khỏi bệnh hoặc có kết
luận đủ khả năng nhận thức, đủ khả năng điều khiển hành vi” theo quy định tại khoản
63 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố
tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[155]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 33 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[156]
Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 150 của Luật Tổ chức
Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025.
[157]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 177 của
Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2026.
[158]
Cụm từ “, Trưởng phân trại thuộc trại tạm giam” được bổ sung vào sau cụm từ
“Trưởng Nhà tạm giữ” theo quy định tại khoản 55 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[159]
Cụm từ “, Trưởng phân trại thuộc trại tạm giam” được bổ sung vào sau cụm từ
“Trưởng Nhà tạm giữ” theo quy định tại khoản 55 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[160]
Cụm từ “, Trưởng phân trại thuộc trại tạm giam” được bổ sung vào sau cụm từ
“Trưởng Nhà tạm giữ” theo quy định tại khoản 55 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[161]
Cụm từ “, Trưởng phân trại thuộc trại tạm giam” được bổ sung vào sau cụm từ
“Trưởng Nhà tạm giữ” theo quy định tại khoản 55 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[162]
Cụm từ “Viện kiểm sát nhân dân cấp cao” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm
sát nhân dân tối cao” theo quy định tại khoản 58 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[163]
Cụm từ “Viện kiểm sát nhân dân cấp cao” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm
sát nhân dân tối cao” theo quy định tại khoản 58 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[164]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 34 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[165]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 34 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[166]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 35 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[167]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 35 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[168]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 36 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[169]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 36 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[170]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 37 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[171]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 37 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[172]
Cụm từ “cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện” được thay thế bằng cụm từ
“cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh” theo quy định tại khoản 64 Điều
1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng
hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[173]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 38 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[174]
Khoản này được bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 38 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[175]
Cụm từ “cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện” được thay thế bằng cụm từ
“cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh” theo quy định tại khoản 64 Điều
1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng
hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[176]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban
nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[177]
Cụm từ “cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện” được thay thế bằng cụm từ
“cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh” theo quy định tại khoản 64 Điều
1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng
hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[178]
Cụm từ “cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện” được thay thế bằng cụm từ
“cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh” theo quy định tại khoản 64 Điều
1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng
hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[179]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban
nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[180]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban
nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[181]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 39 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[182]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 40 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[183]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 40 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[184]
Cụm từ “cấp cao” được thay thế bằng cụm từ “cấp tỉnh” theo quy định tại khoản
66 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố
tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[185]
Cụm từ “cấp cao” được thay thế bằng cụm từ “cấp tỉnh” theo quy định tại khoản
66 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố
tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[186]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 41 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[187]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban
nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[188]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 42 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[189]
Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của Quốc hội” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật
và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[190]
Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của Quốc hội” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật
và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[191]
Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của Quốc hội” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật
và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[192]
Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của Quốc hội” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật
và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[193]
Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của Quốc hội” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật
và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[194]
Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của Quốc hội” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật
và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[195]
Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của Quốc hội” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật
và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[196]
Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của Quốc hội” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật
và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[197]
Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của Quốc hội” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật
và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[198]
Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của Quốc hội” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật
và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[199]
Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của Quốc hội” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật
và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[200]
Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của Quốc hội” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật
và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[201]
Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của Quốc hội” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật
và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[202]
Cụm từ “Ủy ban Tư pháp của Quốc hội” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban Pháp luật
và Tư pháp của Quốc hội” theo quy định tại khoản 65 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[203]
Chương này được bãi bỏ theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 177 của Luật Tư
pháp chưa thành niên số 59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm
2026.
[204]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban
nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[205]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[206]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[207]
Cụm từ “chính quyền xã, phường, thị trấn” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban
nhân dân cấp xã” theo quy định tại khoản 59 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[208]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[209]
Cụm từ “Tòa án nhân dân cấp tỉnh” được thay thế bằng cụm từ “Tòa án nhân dân
khu vực” theo quy định tại khoản 62 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[210]
Cụm từ “Tòa án nhân dân cấp tỉnh” được thay thế bằng cụm từ “Tòa án nhân dân
khu vực” theo quy định tại khoản 62 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[211]
Cụm từ “khỏi bệnh” được thay thế bằng cụm từ “có kết luận khỏi bệnh hoặc có kết
luận đủ khả năng nhận thức, đủ khả năng điều khiển hành vi” theo quy định tại khoản
63 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố
tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[212]
Cụm từ “cơ sở bắt buộc chữa bệnh tâm thần” được thay thế bằng cụm từ “cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh” theo quy định tại khoản 63 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[213]
Cụm từ “cơ sở bắt buộc chữa bệnh tâm thần” được thay thế bằng cụm từ “cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh” theo quy định tại khoản 63 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[214]
Cụm từ “hoặc có đủ khả năng nhận thức, đủ khả năng điều khiển hành vi” được bổ
sung vào sau cụm từ “đã khỏi bệnh” theo quy định tại khoản 55 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[215]
Cụm từ “hoặc có đủ khả năng nhận thức, đủ khả năng điều khiển hành vi” được bổ
sung vào sau cụm từ “đã khỏi bệnh” theo quy định tại khoản 55 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[216]
Cụm từ “cơ sở bắt buộc chữa bệnh” được thay thế bằng cụm từ “cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh” theo quy định tại khoản 63 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
[217]
Cụm từ “Viện kiểm sát cùng cấp” được thay thế bằng cụm từ “Viện kiểm sát có thẩm
quyền” theo quy định tại khoản 57 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
[218]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 150 của
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
01 năm 2025.
[219]
Cụm từ “và quyết định tố tụng quy định tại chương VII và chương VIII của Luật Tư
pháp người chưa thành niên” được bổ sung theo quy định tại điểm k khoản 2 Điều
177 của Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[220]
Cụm từ “và hành vi tố tụng quy định tại chương VII và chương VIII của Luật Tư
pháp người chưa thành niên” được bổ sung theo quy định tại điểm l khoản 2 Điều
177 của Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[221]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 43 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[222]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 43 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[223]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 44 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[224]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 45 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[225]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 46 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[226]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 47 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[227]
Cụm từ “Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc” được bỏ theo quy định tại khoản
70 Điều 1 của Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố
tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[228]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 48 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[229]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 49 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[230]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 50 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[231]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 51 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[232]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 51 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[233]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 51 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[234]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 51 Điều 1 của Luật
số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[235]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 52 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[236]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 53 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[237]
Điều này được bổ sung theo quy định tại khoản 54 Điều 1 của Luật số
99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[238] Khoản 2 Điều 2 của Luật số 02/2021/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
12 năm 2021 quy định như sau:
“2. Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 12 năm 2021.”.
Điều 151 của Luật Tổ chức Tòa
án nhân dân số 34/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025 quy định
như sau:
“Điều 151. Hiệu lực thi
hành
1. Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2025.
2. Luật Tổ chức Tòa án nhân
dân số 62/2014/QH13 hết hiệu lực từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ trường
hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 152 của Luật này.”.
Điều 178 của Luật Tư pháp người
chưa thành niên số 59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026
quy định như sau:
“Điều 178. Hiệu lực thi
hành
1. Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2026, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Quy định tại Điều 139, khoản
1 và khoản 2 Điều 162 của Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm
2028.”.
Điều 2 của Luật số 99/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025 quy định như sau:
“Điều 2. Hiệu lực thi
hành
Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.”.
Việc thi hành Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự được thực hiện theo Nghị quyết số
225/2025/QH15 ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội về việc thi hành Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, các luật tố tụng và luật khác
có liên quan, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.