|
VĂN BẢN HỢP
NHẤT
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 159/2026/VBHN-LQ-VPQH
|
Hà Nội, ngày 28 tháng 9 năm 2026
|
LUẬT
PHÒNG, CHỐNG RỬA TIỀN
Luật Phòng, chống rửa
tiền số 14/2022/QH15 ngày 15 tháng 11 năm 2022 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 3 năm 2023, được sửa đổi, bổ sung bởi:
Luật số 23/2026/QH16
ngày 24 tháng 8 năm 2026 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín
dụng, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2026.
Căn cứ Hiến pháp nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật
Phòng, chống rửa tiền.[1]
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều
chỉnh
1. Luật này quy định về
các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý tổ chức, cá nhân có hành
vi rửa tiền; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng, chống rửa
tiền; hợp tác quốc tế về phòng, chống rửa tiền.
2. Việc phòng, chống
hành vi rửa tiền của tổ chức, cá nhân có mục đích tài trợ khủng bố, tài trợ phổ
biến vũ khí hủy diệt hàng loạt được thực hiện theo quy định của Luật này, quy định
của pháp luật hình sự và pháp luật về phòng, chống khủng bố, phổ biến vũ khí hủy
diệt hàng loạt.
Điều 2. Đối tượng áp
dụng
1. Tổ chức tài chính.
2. Tổ chức, cá nhân
kinh doanh ngành, nghề phi tài chính có liên quan.
3. Tổ chức, cá nhân Việt
Nam, tổ chức nước ngoài, người nước ngoài, tổ chức quốc tế có giao dịch với tổ
chức tài chính, tổ chức, cá nhân kinh doanh ngành, nghề phi tài chính có liên
quan.
4. Tổ chức, cá nhân
khác và các cơ quan có liên quan đến phòng, chống rửa tiền.
Điều 3. Giải thích từ
ngữ
Trong Luật này, các từ
ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Rửa tiền là hành vi
của tổ chức, cá nhân nhằm hợp pháp hóa nguồn gốc của tài sản do phạm tội mà có.
2. Tài sản do phạm tội
mà có là tài sản có được trực tiếp hoặc gián tiếp từ hành vi phạm tội; phần thu
nhập, hoa lợi, lợi tức, lợi nhuận sinh ra từ tài sản có được từ hành vi phạm tội.
3. Giao dịch có giá trị
lớn phải báo cáo là giao dịch bằng tiền mặt hoặc ngoại tệ tiền mặt được thực hiện
một hoặc nhiều lần trong một ngày, có tổng giá trị bằng hoặc vượt mức quy định.
4. Người khởi tạo là chủ
tài khoản hoặc người yêu cầu tổ chức tài chính thực hiện chuyển tiền điện tử
trong trường hợp không qua tài khoản.
5. Chuyển tiền điện tử
là giao dịch được thực hiện bằng phương thức điện tử theo yêu cầu của người khởi
tạo thông qua tổ chức tài chính nhằm chuyển một số tiền nhất định cho người thụ
hưởng tại tổ chức tài chính của người thụ hưởng. Người thụ hưởng có thể là người
khởi tạo.
6. Khách hàng là tổ chức,
cá nhân đang sử dụng hoặc có ý định sử dụng dịch vụ, sản phẩm do tổ chức tài
chính, tổ chức, cá nhân kinh doanh ngành, nghề phi tài chính có liên quan cung
cấp.
7.[2] Chủ sở hữu
hưởng lợi là một hoặc nhiều cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp có quyền sở hữu
hoặc quyền kiểm soát cuối cùng trên thực tế đối với khách hàng, bao gồm cả thỏa
thuận pháp lý hoặc cá nhân mà khách hàng thực hiện giao dịch thay mặt họ.
8. Quan hệ ngân hàng đại
lý là quan hệ được hình thành từ việc một ngân hàng tại một quốc gia, vùng lãnh
thổ cung cấp dịch vụ ngân hàng, thanh toán và các dịch vụ khác cho một ngân
hàng đối tác tại một quốc gia, vùng lãnh thổ khác.
9. Danh sách đen bao gồm
danh sách tổ chức, cá nhân có liên quan đến khủng bố, tài trợ khủng bố do Bộ
Công an chủ trì lập và danh sách tổ chức, cá nhân bị chỉ định có liên quan đến
phổ biến và tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt do Bộ Quốc phòng chủ trì
lập theo quy định của pháp luật.
10. Danh sách cảnh báo
là danh sách tổ chức, cá nhân do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam lập nhằm cảnh báo
về tổ chức, cá nhân có rủi ro cao về rửa tiền.
11. Lực lượng đặc nhiệm
tài chính là tổ chức liên chính phủ, ban hành các chuẩn mực, thúc đẩy việc thực
thi có hiệu quả các biện pháp pháp lý, quản lý và hành động nhằm chống rửa tiền,
tài trợ khủng bố, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt và những hiểm họa
có liên quan khác đe dọa sự toàn vẹn của hệ thống tài chính toàn cầu.
12. Thỏa thuận pháp lý
là thỏa thuận dưới hình thức ủy thác hoặc hình thức khác có bản chất tương tự
được xác lập theo pháp luật nước ngoài, cho phép bên nhận ủy thác được nhận
chuyển giao quyền sở hữu hợp pháp tài sản từ bên ủy thác để thực hiện điều
hành, quản lý, giám sát tài sản vì lợi ích của người thụ hưởng hoặc vì mục đích
được xác định trong thỏa thuận.
13. Ngân hàng vỏ bọc là
ngân hàng không có sự hiện diện thực tế tại quốc gia hoặc vùng lãnh thổ mà tại
đó ngân hàng phải được thành lập và cấp phép, đồng thời không có sự liên kết hoặc
kiểm soát của bất kỳ định chế tài chính nào đã được quản lý và giám sát.
14. Tổ chức phi lợi nhuận
là tổ chức hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, bao gồm hội, quỹ xã hội, quỹ
từ thiện, tổ chức tôn giáo, tổ chức phi chính phủ nước ngoài được thành lập,
đăng ký, hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam.
15. Cá nhân nước ngoài
có ảnh hưởng chính trị là người giữ chức vụ cấp cao trong các cơ quan, tổ chức
nước ngoài và tổ chức quốc tế.
Điều 4. Đối tượng
báo cáo
1. Đối tượng báo cáo là
tổ chức tài chính được cấp giấy phép thực hiện một hoặc một số hoạt động sau
đây:
a) Nhận tiền gửi;
b) Cho vay;
c) Cho thuê tài chính;
d) Dịch vụ thanh toán;
đ) Dịch vụ trung gian
thanh toán;
e) Phát hành công cụ
chuyển nhượng, thẻ ngân hàng, lệnh chuyển tiền;
g) Bảo lãnh ngân hàng,
cam kết tài chính;
h) Cung ứng dịch vụ ngoại
hối, các công cụ tiền tệ trên thị trường tiền tệ;
i) Môi giới chứng
khoán; tư vấn đầu tư chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán;
k) Quản lý quỹ đầu tư
chứng khoán; quản lý danh mục đầu tư chứng khoán;
l) Kinh doanh bảo hiểm
nhân thọ;
m) Đổi tiền;
n)[3] Dịch vụ tài sản
mã hóa.
2. Đối tượng báo cáo là
tổ chức, cá nhân kinh doanh ngành, nghề phi tài chính có liên quan theo quy định
của pháp luật thực hiện một hoặc một số hoạt động sau đây:
a) Kinh doanh trò chơi
có thưởng, bao gồm: trò chơi điện tử có thưởng; trò chơi trên mạng viễn thông,
mạng Internet; casino; xổ số; đặt cược;
b) Kinh doanh bất động
sản, trừ hoạt động cho thuê, cho thuê lại bất động sản và dịch vụ tư vấn bất động
sản;
c) Kinh doanh kim khí
quý, đá quý;
d) Kinh doanh dịch vụ kế
toán; cung cấp dịch vụ công chứng; cung cấp dịch vụ pháp lý của luật sư, tổ chức
hành nghề luật sư;
đ) Cung cấp dịch vụ
thành lập, quản lý, điều hành doanh nghiệp; cung cấp dịch vụ giám đốc, thư ký
công ty cho bên thứ ba; cung cấp dịch vụ thỏa thuận pháp lý.
3. Chính phủ quy định
hoạt động mới phát sinh có rủi ro về rửa tiền của đối tượng báo cáo chưa được
quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này sau khi được sự đồng ý của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội.
Điều 5. Nguyên tắc
trong phòng, chống rửa tiền
1. Việc phòng, chống rửa
tiền phải thực hiện theo quy định của pháp luật trên cơ sở bảo đảm chủ quyền và
toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia, lợi ích quốc gia; bảo đảm hoạt động bình
thường về kinh tế, đầu tư; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá
nhân; chống lạm quyền, lợi dụng việc phòng, chống rửa tiền để xâm phạm quyền và
lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân có liên quan.
2. Hành vi rửa tiền phải
được xử lý theo quy định của pháp luật.
3. Biện pháp phòng, chống
rửa tiền phải được thực hiện đồng bộ, kịp thời.
Điều 6. Hợp tác quốc
tế về phòng, chống rửa tiền
1. Hợp tác quốc tế về
phòng, chống rửa tiền được thực hiện trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền
và toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia, các bên cùng có lợi, tuân thủ quy định
của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là thành viên, thỏa thuận quốc tế giữa bên ký kết Việt Nam với bên ký kết
nước ngoài.
Trường hợp giữa Việt
Nam và nước ngoài chưa có điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế, việc trao đổi,
cung cấp, chuyển giao thông tin trong hợp tác quốc tế về phòng, chống rửa tiền
được thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái với pháp luật Việt
Nam, phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế.
2. Cơ quan nhà nước có
thẩm quyền, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, thực hiện hợp tác quốc
tế về phòng, chống rửa tiền với các nội dung sau đây:
a) Xác định, phong tỏa
tài sản của người phạm tội rửa tiền;
b) Thực hiện tương trợ
tư pháp;
c) Trao đổi, cung cấp,
chuyển giao thông tin về phòng, chống rửa tiền với cơ quan có thẩm quyền nước
ngoài;
d) Nghiên cứu, đào tạo,
hỗ trợ thông tin, hỗ trợ kỹ thuật, trợ giúp tài chính và trao đổi kinh nghiệm về
phòng, chống rửa tiền;
đ) Nội dung hợp tác
khác về phòng, chống rửa tiền theo quy định của pháp luật.
3. Cơ quan nhà nước có
thẩm quyền, trong quá trình hợp tác quốc tế về phòng, chống rửa tiền, có thể từ
chối trao đổi, cung cấp, chuyển giao thông tin về phòng, chống rửa tiền trong
các trường hợp sau đây:
a) Thông tin được yêu cầu
trao đổi, cung cấp, chuyển giao có thể gây tổn hại đến độc lập, chủ quyền và
toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia, lợi ích quốc gia hoặc lợi ích quan trọng
khác của Việt Nam;
b) Thông tin được yêu cầu
trao đổi, cung cấp, chuyển giao không phù hợp với điều ước quốc tế mà nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, thỏa thuận quốc tế giữa bên ký kết
Việt Nam với bên ký kết nước ngoài hoặc quy định của pháp luật Việt Nam;
c) Yêu cầu trao đổi,
cung cấp, chuyển giao thông tin không đầy đủ nội dung theo quy định của pháp luật;
d) Cơ quan có thẩm quyền
nước ngoài không cam kết hoặc không thực hiện bảo mật thông tin được trao đổi,
cung cấp, chuyển giao theo chế độ bảo mật tương ứng với quy định về bảo vệ bí mật
nhà nước của Việt Nam đối với thông tin mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong
nước trao đổi, cung cấp, chuyển giao.
4. Quy trình, thủ tục,
phương thức hợp tác quốc tế về phòng, chống rửa tiền thực hiện theo điều ước quốc
tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, thỏa thuận quốc tế
giữa bên ký kết Việt Nam với bên ký kết nước ngoài, các quy định khác của pháp
luật có liên quan.
5. Hằng năm hoặc khi có
yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt
Nam có trách nhiệm cung cấp nội dung hợp tác quốc tế về phòng, chống rửa tiền với
các cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Điều 7. Đánh giá rủi
ro quốc gia về rửa tiền
1. Định kỳ 05 năm, Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan thực hiện
đánh giá rủi ro quốc gia về rửa tiền và trình Chính phủ phê duyệt kết quả đánh
giá, kế hoạch thực hiện sau đánh giá. Việc đánh giá rủi ro quốc gia về rửa tiền
được thực hiện đối với cả hoạt động mới phát sinh có thể có rủi ro về rửa tiền.
2. Các Bộ, ngành có trách
nhiệm sau đây:
a) Phổ biến kết quả
đánh giá rủi ro quốc gia về rửa tiền trong nội bộ Bộ, ngành mình và đến các đối
tượng báo cáo thuộc phạm vi quản lý, đồng thời có biện pháp nhằm giảm thiểu rủi
ro đã xác định;
b) Cập nhật rủi ro về rửa
tiền dựa trên việc triển khai kế hoạch thực hiện sau đánh giá hoặc khi có rủi
ro phát sinh thuộc phạm vi quản lý của Bộ, ngành mình gửi Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam. Trên cơ sở kết quả cập nhật rủi ro của các Bộ, ngành, Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam tổng hợp trình Chính phủ phê duyệt kết quả cập nhật rủi ro quốc gia về
rửa tiền, kế hoạch thực hiện sau cập nhật.
3. Chính phủ quy định
nguyên tắc, tiêu chí, phương pháp đánh giá rủi ro quốc gia về rửa tiền.
Điều 8. Các hành vi
bị nghiêm cấm trong phòng, chống rửa tiền
1. Tổ chức, tham gia hoặc
tạo điều kiện, trợ giúp thực hiện hành vi rửa tiền.
2. Thiết lập, duy trì
tài khoản vô danh hoặc tài khoản sử dụng tên giả.
3. Thiết lập, duy trì
quan hệ kinh doanh với ngân hàng vỏ bọc.
4. Cung cấp trái phép dịch
vụ nhận tiền mặt, séc, công cụ tiền tệ khác hoặc công cụ lưu trữ giá trị và thực
hiện thanh toán cho người thụ hưởng.
5. Lợi dụng chức vụ,
quyền hạn trong phòng, chống rửa tiền xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ
chức, cá nhân.
6. Cản trở việc cung cấp
thông tin phục vụ công tác phòng, chống rửa tiền.
7. Đe dọa, trả thù người
phát hiện, cung cấp thông tin, báo cáo, tố cáo về hành vi rửa tiền.
Chương II
BIỆN PHÁP PHÒNG, CHỐNG RỬA TIỀN
Mục 1. NHẬN BIẾT
KHÁCH HÀNG, THU THẬP, CẬP NHẬT, XÁC MINH THÔNG TIN NHẬN BIẾT KHÁCH HÀNG
Điều 9. Nhận biết
khách hàng
1. Nhận biết khách hàng
bao gồm thu thập, cập nhật, xác minh thông tin quy định tại các điều 10, 11,
12, 13 và 14 của Luật này.
2. Tổ chức tài chính phải
nhận biết khách hàng trong các trường hợp sau đây:
a) Khách hàng lần đầu mở
tài khoản hoặc thiết lập quan hệ với tổ chức tài chính;
b) Khách hàng thực hiện
giao dịch không thường xuyên có giá trị bằng hoặc vượt mức quy định; thực hiện
giao dịch chuyển tiền điện tử mà thiếu thông tin về tên, địa chỉ, số tài khoản
của người khởi tạo hoặc mã giao dịch trong trường hợp người khởi tạo không có
tài khoản;
c)[4] Khi nghi ngờ
khách hàng hoặc giao dịch của khách hàng hoặc các bên liên quan đến giao dịch,
kể cả trường hợp giao dịch chưa hoàn thành, có liên quan đến rửa tiền;
d) Nghi ngờ về tính
chính xác hoặc tính đầy đủ của các thông tin nhận biết khách hàng đã thu thập
trước đó.
3. Tổ chức, cá nhân
kinh doanh ngành, nghề phi tài chính có liên quan phải nhận biết khách hàng
trong các trường hợp sau đây:
a) Tổ chức, cá nhân
kinh doanh ngành, nghề quy định tại điểm a khoản 2 Điều 4 của Luật này phải nhận
biết khách hàng khi khách hàng có giao dịch có giá trị bằng hoặc vượt mức quy định;
b) Tổ chức, cá nhân
kinh doanh ngành, nghề quy định tại điểm b khoản 2 Điều 4 của Luật này phải nhận
biết khách hàng khi cung cấp dịch vụ kinh doanh bất động sản;
c) Tổ chức, cá nhân
kinh doanh ngành, nghề quy định tại điểm c khoản 2 Điều 4 của Luật này phải nhận
biết khách hàng khi khách hàng có giao dịch mua, bán kim khí quý, đá quý bằng
tiền mặt hoặc ngoại tệ tiền mặt có giá trị bằng hoặc vượt mức quy định;
d) Tổ chức, cá nhân
kinh doanh ngành, nghề quy định tại điểm d khoản 2 Điều 4 của Luật này phải nhận
biết khách hàng khi kinh doanh dịch vụ kế toán; thực hiện thủ tục công chứng,
thay mặt khách hàng chuẩn bị các điều kiện để thực hiện giao dịch hoặc thay mặt
khách hàng thực hiện giao dịch chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà, tài
sản khác gắn liền với đất; quản lý tiền, chứng khoán hoặc tài sản khác của
khách hàng; quản lý tài khoản của khách hàng tại ngân hàng, công ty chứng
khoán; điều hành, quản lý công ty; tham gia vào hoạt động mua, bán doanh nghiệp;
đ) Tổ chức, cá nhân
kinh doanh ngành, nghề quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 4 của Luật này phải nhận
biết khách hàng khi cung cấp dịch vụ thành lập, quản lý, điều hành doanh nghiệp;
cung cấp dịch vụ giám đốc, thư ký công ty cho bên thứ ba; cung cấp dịch vụ thỏa
thuận pháp lý.
4. Chính phủ quy định
chi tiết Điều này.
Điều 10. Thông tin
nhận biết khách hàng
Đối tượng báo cáo phải
thu thập các thông tin nhận biết khách hàng, bao gồm:
1. Thông tin nhận dạng
khách hàng, kể cả thông tin về người đại diện của khách hàng cá nhân (nếu có):
a)[5] Đối với khách
hàng cá nhân có một quốc tịch là người Việt Nam và người gốc Việt Nam chưa xác
định được quốc tịch: họ và tên; ngày, tháng, năm sinh; quốc tịch (nếu có); nghề
nghiệp, chức vụ; số điện thoại liên lạc; số định danh cá nhân hoặc số Hộ chiếu,
ngày cấp, nơi cấp; địa chỉ đăng ký thường trú và nơi ở hiện tại khác (nếu có);
b) Đối với khách hàng
cá nhân có một quốc tịch là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam: họ và tên;
ngày, tháng, năm sinh; quốc tịch; nghề nghiệp, chức vụ; số điện thoại liên lạc;
số Hộ chiếu, ngày cấp, nơi cấp; số thị thực nhập cảnh, trừ trường hợp được miễn
thị thực theo quy định của pháp luật; địa chỉ cư trú ở nước ngoài và địa chỉ
đăng ký cư trú ở Việt Nam;
c) Đối với khách hàng
cá nhân có một quốc tịch là người nước ngoài không cư trú tại Việt Nam: họ và
tên; ngày, tháng, năm sinh; quốc tịch; nghề nghiệp, chức vụ; số Hộ chiếu hoặc
thông tin định danh do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp, ngày cấp, nơi cấp;
địa chỉ cư trú ở nước ngoài;
d) Đối với khách hàng
cá nhân là người có từ hai quốc tịch trở lên: thông tin tương ứng quy định tại
điểm a, b hoặc c khoản này; quốc tịch, địa chỉ cư trú ở quốc gia mang quốc tịch
còn lại;
đ) Đối với khách hàng
cá nhân là người không quốc tịch: họ và tên; ngày, tháng, năm sinh; nghề nghiệp,
chức vụ; số giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế (nếu có), số thị thực; cơ quan cấp
thị thực nhập cảnh, trừ trường hợp được miễn thị thực theo quy định của pháp luật;
địa chỉ cư trú ở nước ngoài (nếu có), địa chỉ đăng ký cư trú ở Việt Nam;
e)[6] Đối với khách
hàng tổ chức: tên giao dịch đầy đủ; tên viết tắt (nếu có); hình thức pháp lý, địa
chỉ trụ sở chính và địa điểm kinh doanh (nếu khác với địa chỉ trụ sở chính); số
giấy phép thành lập, mã số doanh nghiệp hoặc mã số thuế; số định danh của tổ chức
(nếu có); số điện thoại liên lạc; số fax, trang thông tin điện tử (nếu có);
lĩnh vực hoạt động và kinh doanh; thông tin về người thành lập, người đại diện
theo pháp luật, người đại diện theo ủy quyền (nếu có), Giám đốc hoặc Tổng giám
đốc, Kế toán trưởng hoặc người phụ trách kế toán của tổ chức bao gồm các thông
tin tương ứng quy định tại điểm a, b, c, d hoặc đ khoản này và các thông tin tại
điểm này đối với trường hợp người thành lập là tổ chức;
2. Thông tin về chủ sở
hữu hưởng lợi bao gồm thông tin nhận dạng khách hàng tương ứng quy định tại các
điểm a, b, c, d hoặc đ khoản 1 Điều này. Đối tượng báo cáo phải xác định chủ sở
hữu hưởng lợi và áp dụng các biện pháp để nhận biết, cập nhật thông tin về chủ
sở hữu hưởng lợi. Chính phủ quy định chi tiết tiêu chí xác định chủ sở hữu hưởng
lợi;
3. Mục đích và bản chất
của mối quan hệ kinh doanh của khách hàng với đối tượng báo cáo.
4.[7] Ngoài các
thông tin nhận biết khách hàng quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này, đối
tượng báo cáo thu thập các thông tin khác trong một số trường hợp cụ thể sau
đây:
a) Khi khách hàng tham
gia thỏa thuận pháp lý dưới hình thức ủy thác, đối tượng báo cáo thu thập các
thông tin bao gồm: tên giao dịch đầy đủ; tên viết tắt (nếu có) đối với tổ chức
nhận ủy thác hoặc họ và tên người nhận ủy thác đối với cá nhân nhận ủy thác; địa
chỉ trụ sở chính đối với tổ chức nhận ủy thác, địa chỉ tại quốc gia mà cá nhân
nhận ủy thác mang quốc tịch; thông tin đăng ký hoặc cấp phép do cơ quan có thẩm
quyền nước ngoài cấp đối với bên nhận ủy thác (nếu có); cơ cấu của ủy thác;
thông tin về tên, số định danh của bên ủy thác, người thụ hưởng hoặc nhóm người
thụ hưởng, người thụ hưởng tiềm năng, người giám sát (nếu có), bất kỳ cá nhân
nào có quyền kiểm soát cuối cùng đối với ủy thác và người có liên quan khác của
ủy thác (nếu có).
Khi khách hàng tham gia
thỏa thuận pháp lý dưới hình thức khác có bản chất tương tự ủy thác, đối tượng
báo cáo thu thập thông tin đối với tất cả các bên giữ vai trò tương đương với
hình thức ủy thác nêu trên;
b) Đối tượng báo cáo
xác định và thu thập thông tin về người thụ hưởng của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
ngay khi người thụ hưởng được chỉ định bởi bên mua bảo hiểm hoặc người được bảo
hiểm.
Trong trường hợp người
thụ hưởng là cá nhân hoặc pháp nhân hoặc thỏa thuận pháp lý, thông tin thu thập
bao gồm họ và tên hoặc tên giao dịch đầy đủ của người thụ hưởng.
Trong trường hợp bảo hiểm
nhóm, thông tin thu thập bao gồm giấy tờ tùy thân, tài liệu chứng minh quan hệ
với người được bảo hiểm của người thụ hưởng và các tài liệu cần thiết khác cho
phép đối tượng báo cáo có thể xác định được người thụ hưởng ở thời điểm chi trả.
Việc xác minh thông tin
về người thụ hưởng phải được thực hiện tại thời điểm chi trả.
5.[8] Trường hợp đối
tượng báo cáo có thể kết nối, khai thác được thông tin quy định tại Điều này
trong cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành theo quy định của pháp
luật thì không yêu cầu khách hàng cung cấp thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu.
Điều 11. Cập nhật
thông tin nhận biết khách hàng
Đối tượng báo cáo phải
cập nhật thông tin nhận biết khách hàng trong thời gian thiết lập quan hệ với
khách hàng nhằm bảo đảm các giao dịch mà khách hàng đang tiến hành phù hợp với
các thông tin về khách hàng trong hồ sơ hiện có, những thông tin đã biết về
khách hàng, hoạt động kinh doanh, mức độ rủi ro về rửa tiền và nguồn gốc tài sản
của khách hàng.
Điều 12. Xác minh
thông tin nhận biết khách hàng
1.[9] Đối tượng báo
cáo sử dụng các tài liệu, dữ liệu để xác minh thông tin nhận biết khách hàng,
bao gồm:
a) Đối với khách hàng
cá nhân: Căn cước, Căn cước điện tử, Căn cước công dân hoặc Hộ chiếu còn hiệu lực;
giấy tờ khác do cơ quan có thẩm quyền cấp, văn bản chứng minh tư cách đại diện
(nếu có);
b) Đối với khách hàng tổ
chức: giấy phép thành lập, quyết định thành lập hoặc Giấy chứng nhận đăng ký
doanh nghiệp còn hiệu lực; tài khoản định danh điện tử, quyết định về tổ chức lại,
giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động của tổ chức (nếu có); điều lệ của tổ chức
(nếu có); quyết định bổ nhiệm hoặc hợp đồng thuê Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Kế
toán trưởng hoặc người phụ trách kế toán; các tài liệu, dữ liệu liên quan đến
người thành lập, người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo ủy quyền (nếu
có) của tổ chức, chủ sở hữu hưởng lợi;
c) Đối với khách hàng
tham gia thỏa thuận pháp lý: văn bản xác lập thỏa thuận pháp lý; tài liệu đăng
ký thỏa thuận pháp lý (nếu có) và các tài liệu khác có liên quan đến việc xác lập
thỏa thuận pháp lý (nếu có);
d) Các tài liệu, dữ liệu
và nguồn thông tin đáng tin cậy khác có liên quan.
2. Đối tượng báo cáo có
thể khai thác thông tin trong các cơ sở dữ liệu quốc gia theo quy định của pháp
luật, thông qua cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tổ chức khác quy định tại Điều
13 hoặc bên thứ ba quy định tại Điều 14 của Luật này để đối chiếu, xác minh
thông tin do khách hàng cung cấp.
Điều 13. Xác minh
thông tin nhận biết khách hàng thông qua việc thuê tổ chức khác
1. Đối tượng báo cáo có
thể thuê tổ chức khác được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp
luật để xác minh thông tin nhận biết khách hàng, trừ trường hợp quy định tại
Điều 14 của Luật này. Việc thuê tổ chức khác để xác minh thông tin nhận biết
khách hàng thực hiện theo thỏa thuận của các bên và quy định của pháp luật có
liên quan.
2. Đối tượng báo cáo phải
bảo đảm tổ chức được thuê bảo mật thông tin nhận biết khách hàng theo quy định
của pháp luật và chịu trách nhiệm về kết quả xác minh thông tin nhận biết khách
hàng của tổ chức được thuê.
Điều 14. Nhận biết
khách hàng thông qua bên thứ ba
1. Đối tượng báo cáo có
thể nhận biết khách hàng thông qua bên thứ ba và bảo đảm bên thứ ba đáp ứng các
yêu cầu sau đây:
a) Là tổ chức tài chính
hoặc tổ chức kinh doanh ngành, nghề phi tài chính có liên quan có thiết lập
quan hệ với khách hàng, không bao gồm các mối quan hệ đại lý và thuê ngoài;
b) Thực hiện nhận biết
khách hàng theo quy định của Luật này hoặc các khuyến nghị của Lực lượng đặc
nhiệm tài chính trong trường hợp bên thứ ba là tổ chức ở nước ngoài;
c) Lưu trữ và cung cấp
kịp thời, đầy đủ các thông tin nhận biết khách hàng cho đối tượng báo cáo khi
được yêu cầu; thực hiện bảo mật thông tin theo quy định của pháp luật;
d) Là đối tượng chịu sự
quản lý, giám sát của cơ quan có thẩm quyền.
2. Trường hợp bên thứ
ba là tổ chức tài chính và có công ty mẹ là tổ chức tài chính, đối tượng báo
cáo phải bảo đảm bên thứ ba đáp ứng yêu cầu quy định tại khoản 1 Điều này và
công ty mẹ của bên thứ ba đáp ứng các yêu cầu về nhận biết khách hàng, cá nhân nước
ngoài có ảnh hưởng chính trị, lưu trữ thông tin, hồ sơ, tài liệu, báo cáo và bảo
đảm bí mật thông tin, hồ sơ, tài liệu, báo cáo quy định tại các điều 9, 17, 38
và 40 của Luật này hoặc các khuyến nghị liên quan của Lực lượng đặc nhiệm tài
chính trong trường hợp công ty mẹ của tổ chức tài chính là tổ chức nước ngoài
và phải được áp dụng, kiểm soát trong toàn hệ thống; áp dụng các chính sách để
giảm thiểu rủi ro đối với các lĩnh vực có rủi ro cao về rửa tiền.
3. Đối tượng báo cáo phải
chịu trách nhiệm về kết quả nhận biết khách hàng của bên thứ ba.
Điều 15. Đánh giá rủi
ro về rửa tiền của đối tượng báo cáo
1. Đối tượng báo cáo phải
thực hiện đánh giá rủi ro về rửa tiền. Kết quả đánh giá rủi ro về rửa tiền của
đối tượng báo cáo phải được cập nhật hằng năm. Trường hợp đối tượng báo cáo là
tổ chức, kết quả đánh giá, cập nhật rủi ro về rửa tiền phải được phê duyệt theo
quy định nội bộ của đối tượng báo cáo.
2. Đối tượng báo cáo phải
báo cáo kết quả đánh giá, cập nhật rủi ro về rửa tiền cho Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam và Bộ, ngành quản lý nhà nước theo lĩnh vực của đối tượng báo cáo trong thời
hạn 45 ngày kể từ ngày hoàn thành đối với đối tượng báo cáo là cá nhân hoặc được
phê duyệt đối với đối tượng báo cáo là tổ chức. Kết quả đánh giá, cập nhật rủi
ro về rửa tiền phải được phổ biến trong toàn hệ thống của đối tượng báo cáo.
3. Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam quy định tiêu chí, phương pháp đánh giá rủi ro về rửa tiền của
đối tượng báo cáo.
Điều 16. Phân loại
khách hàng theo mức độ rủi ro về rửa tiền
1. Căn cứ kết quả đánh
giá, cập nhật rủi ro về rửa tiền quy định tại Điều 15 của Luật này, đối tượng
báo cáo xây dựng quy trình quản lý rủi ro về rửa tiền. Quy trình quản lý rủi ro
về rửa tiền bao gồm cả việc phân loại khách hàng theo mức độ rủi ro thấp, trung
bình, cao và các biện pháp áp dụng tương ứng với các mức độ rủi ro về rửa tiền
của khách hàng.
2. Đối tượng báo cáo áp
dụng các biện pháp tương ứng với các mức độ rủi ro về rửa tiền của khách hàng
theo quy định sau đây:
a) Đối với khách hàng
có mức độ rủi ro về rửa tiền thấp, đối tượng báo cáo có thể thu thập, cập nhật,
xác minh thông tin nhận biết khách hàng ở mức độ giảm nhẹ sau lần đầu thiết lập
quan hệ với khách hàng;
b) Đối với khách hàng
có mức độ rủi ro về rửa tiền trung bình, đối tượng báo cáo phải nhận biết khách
hàng quy định tại Điều 9 của Luật này;
c) Đối với khách hàng
có mức độ rủi ro về rửa tiền cao, ngoài các biện pháp quy định tại điểm b khoản
này, đối tượng báo cáo phải áp dụng biện pháp tăng cường bao gồm thu thập, cập
nhật, xác minh thông tin nhận biết khách hàng tăng cường và giám sát chặt chẽ
các giao dịch của khách hàng.
3. Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam quy định chi tiết Điều này.
Điều 17. Trách nhiệm
của đối tượng báo cáo liên quan đến cá nhân nước ngoài có ảnh hưởng chính trị
1. Đối tượng báo cáo rà
soát các nguồn thông tin, bao gồm cả nguồn thông tin về danh sách cá nhân nước
ngoài có ảnh hưởng chính trị do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thông báo, để lập
danh sách khách hàng là cá nhân nước ngoài có ảnh hưởng chính trị áp dụng tại đối
tượng báo cáo.
2. Đối tượng báo cáo phải
đáp ứng các yêu cầu sau đây:
a) Có hệ thống quản lý
rủi ro phù hợp nhằm xác định khách hàng hoặc chủ sở hữu hưởng lợi là cá nhân nước
ngoài có ảnh hưởng chính trị; người thụ hưởng hoặc chủ sở hữu hưởng lợi của người
thụ hưởng trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là cá nhân nước ngoài có ảnh hưởng
chính trị;
b) Được sự chấp thuận của
quản lý cấp cao theo quy định nội bộ trước khi thiết lập mối quan hệ kinh doanh
với khách hàng là cá nhân nước ngoài có ảnh hưởng chính trị;
c) Thực hiện các biện
pháp thích hợp để xác minh nguồn gốc tài sản của khách hàng và chủ sở hữu hưởng
lợi là cá nhân nước ngoài có ảnh hưởng chính trị, những người có liên quan đến
cá nhân nước ngoài có ảnh hưởng chính trị quy định tại khoản 3 Điều này và thực
hiện giám sát mối quan hệ kinh doanh trong suốt quá trình giao dịch với đối tượng
báo cáo; thực hiện giám sát chặt chẽ mối quan hệ kinh doanh với chủ hợp đồng bảo
hiểm nhân thọ có người thụ hưởng hoặc chủ sở hữu hưởng lợi của người thụ hưởng là
cá nhân nước ngoài có ảnh hưởng chính trị và xem xét báo cáo giao dịch đáng ngờ
nếu cần thiết.
3. Đối tượng báo cáo phải
thực hiện quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều này đối với khách hàng cá
nhân thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Là cha, mẹ, vợ, chồng,
con, anh ruột, chị ruột, em ruột của cá nhân trong danh sách quy định tại khoản
1 Điều này;
b) Là đồng sở hữu với
cá nhân trong danh sách quy định tại khoản 1 Điều này của một hoặc nhiều pháp
nhân, thỏa thuận pháp lý;
c) Là chủ sở hữu hưởng
lợi của một hoặc nhiều pháp nhân, thỏa thuận pháp lý do cá nhân trong danh sách
quy định tại khoản 1 Điều này sở hữu.
Điều 18. Quan hệ
ngân hàng đại lý
1. Đối tượng báo cáo là
ngân hàng khi thiết lập quan hệ với ngân hàng đối tác để cung cấp dịch vụ ngân
hàng, thanh toán và các dịch vụ khác cho ngân hàng đối tác phải đáp ứng các yêu
cầu sau đây:
a) Thu thập thông tin về
ngân hàng đối tác để hiểu biết đầy đủ về bản chất kinh doanh, uy tín của ngân
hàng đối tác và thông tin về việc ngân hàng đối tác có bị điều tra về rửa tiền
hoặc các vi phạm pháp luật khác về phòng, chống rửa tiền;
b) Đánh giá việc thực
hiện các biện pháp về phòng, chống rửa tiền của ngân hàng đối tác;
c) Hiểu rõ về trách nhiệm
phòng, chống rửa tiền của ngân hàng đối tác trong quan hệ ngân hàng đại lý.
2. Trường hợp khách
hàng của ngân hàng đối tác có thể thanh toán thông qua tài khoản của ngân hàng
đối tác mở tại đối tượng báo cáo, đối tượng báo cáo phải bảo đảm ngân hàng đối
tác đã thực hiện đầy đủ việc nhận biết khách hàng và có khả năng cung cấp thông
tin nhận biết khách hàng theo yêu cầu của đối tượng báo cáo. Tài khoản của ngân
hàng đối tác mở tại đối tượng báo cáo không được phép sử dụng bởi ngân hàng vỏ
bọc.
3. Việc thiết lập quan
hệ ngân hàng đại lý của đối tượng báo cáo phải được sự chấp thuận của Giám đốc
hoặc Tổng giám đốc hoặc người được Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của đối tượng
báo cáo ủy quyền.
Điều 19. Trách nhiệm
của đối tượng báo cáo đối với sản phẩm, dịch vụ mới; sản phẩm, dịch vụ hiện có
áp dụng công nghệ đổi mới
1.[10] Đối tượng
báo cáo phải ban hành và thực hiện đầy đủ các chính sách, quy trình để nhận diện
và đánh giá mức độ rủi ro về rửa tiền trước khi cung cấp sản phẩm, dịch vụ mới;
sản phẩm, dịch vụ hiện có áp dụng công nghệ đổi mới nhằm mục đích sau đây:
a) Phát hiện, ngăn chặn
việc sử dụng sản phẩm, dịch vụ mới; sản phẩm, dịch vụ hiện có áp dụng công nghệ
đổi mới để rửa tiền;
b) Quản lý rủi ro về rửa
tiền khi thiết lập giao dịch với khách hàng sử dụng sản phẩm, dịch vụ mới; sản
phẩm, dịch vụ hiện có áp dụng công nghệ đổi mới.
2. Đối tượng báo cáo phải
áp dụng các biện pháp khi cung cấp sản phẩm, dịch vụ mới; sản phẩm, dịch vụ hiện
có áp dụng công nghệ đổi mới để giảm thiểu rủi ro về rửa tiền.
Điều 20. Giám sát một
số giao dịch đặc biệt
1. Đối tượng báo cáo phải
giám sát đối với giao dịch đặc biệt sau đây:
a) Giao dịch có giá trị
lớn bất thường hoặc phức tạp theo quy định của Chính phủ;
b) Giao dịch với tổ chức,
cá nhân tại quốc gia, vùng lãnh thổ nằm trong danh sách do Lực lượng đặc nhiệm
tài chính công bố nhằm chống rửa tiền hoặc Danh sách cảnh báo.
2. Để giám sát giao dịch
đặc biệt, đối tượng báo cáo phải áp dụng các biện pháp tăng cường quy định tại
điểm c khoản 2 Điều 16 của Luật này; kiểm tra thông tin và mục đích của giao dịch;
trường hợp có nghi ngờ, đối tượng báo cáo phải xem xét, phân tích, báo cáo giao
dịch đáng ngờ và có thể từ chối giao dịch đó.
Điều 21. Minh bạch
thông tin của pháp nhân
1. Cơ quan đăng ký kinh
doanh, cơ quan cấp phép thành lập, hoạt động cho pháp nhân phải cập nhật, lưu
trữ thông tin cơ bản của pháp nhân bao gồm tên và loại hình pháp nhân, quyết định
thành lập, giấy phép liên quan đến hoạt động, tình trạng pháp lý, địa chỉ trụ sở
chính, cơ cấu tổ chức quản lý; danh sách người quản lý của pháp nhân, điều lệ;
chủ sở hữu hưởng lợi của pháp nhân (nếu có). Các thông tin này phải được lưu trữ
ít nhất 05 năm sau ngày pháp nhân chấm dứt hoạt động theo quy định của pháp luật.
2. Pháp nhân có trách
nhiệm thu thập, cập nhật, lưu trữ thông tin cơ bản của mình bao gồm tên và loại
hình pháp nhân, quyết định thành lập, giấy phép hoạt động, tình trạng pháp lý,
địa chỉ trụ sở chính, cơ cấu tổ chức quản lý; danh sách người quản lý của pháp
nhân, điều lệ; chủ sở hữu hưởng lợi của pháp nhân.
3. Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình thực hiện chức
năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về phòng, chống rửa tiền, thực hiện điều tra,
truy tố, xét xử có quyền yêu cầu cơ quan, pháp nhân cung cấp thông tin quy định
tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Điều 22. Minh bạch
thông tin của thỏa thuận pháp lý[11]
1. Bên nhận ủy thác
trong thỏa thuận pháp lý dưới hình thức ủy thác có trách nhiệm thu thập, cập nhật
các thông tin nhận dạng về bên ủy thác, bên nhận ủy thác, người thụ hưởng hoặc
nhóm người thụ hưởng, người thụ hưởng tiềm năng, người giám sát (nếu có), bất kỳ
cá nhân nào có quyền kiểm soát cuối cùng đối với ủy thác (nếu có).
Trường hợp các bên có
liên quan trong thỏa thuận pháp lý nêu trên là pháp nhân hoặc thỏa thuận pháp
lý, thông tin thu thập, cập nhật bao gồm các thông tin cơ bản và thông tin về
chủ sở hữu hưởng lợi của pháp nhân hoặc thỏa thuận pháp lý đó.
2. Bên giữ vai trò
tương đương với vai trò bên nhận ủy thác trong thỏa thuận pháp lý dưới hình thức
khác có bản chất tương tự ủy thác có trách nhiệm thu thập, cập nhật các thông
tin nhận dạng đối với các bên giữ vai trò tương đương như đối với hình thức ủy
thác quy định tại khoản 1 Điều này.
Trường hợp các bên có
liên quan trong thỏa thuận pháp lý dưới hình thức khác có bản chất tương tự ủy
thác là pháp nhân hoặc thỏa thuận pháp lý, thông tin thu thập, cập nhật bao gồm
các thông tin cơ bản và thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của pháp nhân hoặc thỏa
thuận pháp lý đó.
3. Ngoài các thông tin
thu thập tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, bên nhận ủy thác hoặc bên giữ vai trò
tương đương với vai trò bên nhận ủy thác có trách nhiệm thu thập thông tin cơ bản
về các đại lý hoặc nhà cung cấp dịch vụ được quản lý khác của thỏa thuận pháp
lý (nếu có).
4. Các thông tin quy định
tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này phải được lưu trữ ít nhất 05 năm kể từ thời điểm
bên nhận ủy thác hoặc bên giữ vai trò tương đương với vai trò bên nhận ủy thác
ngừng tham gia vào hoạt động thỏa thuận pháp lý.
5. Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình thực hiện chức
năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về phòng, chống rửa tiền, thực hiện điều tra,
truy tố, xét xử có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin quy định tại
các khoản 1, 2 và 3 Điều này.
Điều 23. Minh bạch
trong hoạt động của tổ chức phi lợi nhuận
1. Tổ chức phi lợi nhuận
phải thu thập, cập nhật, lưu trữ thông tin, hồ sơ, tài liệu sau đây:
a) Thông tin về tổ chức,
cá nhân tài trợ, bao gồm tên đầy đủ, địa chỉ, số tiền tài trợ, phương thức tài
trợ và các thông tin khác (nếu có);
b) Thông tin về tổ chức,
cá nhân tiếp nhận tài trợ, bao gồm tên đầy đủ, địa chỉ, số tiền nhận tài trợ,
phương thức nhận tài trợ, mục đích sử dụng tiền tài trợ và các thông tin khác
(nếu có);
c) Hồ sơ, tài liệu, chứng
từ liên quan đến việc tài trợ và tiếp nhận tài trợ.
2. Tổ chức phi lợi nhuận
phải lưu trữ thông tin, hồ sơ, tài liệu quy định tại khoản 1 Điều này ít nhất
05 năm kể từ thời điểm hoạt động tài trợ hoặc tiếp nhận tài trợ kết thúc.
3. Trường hợp tổ chức
phi lợi nhuận giải thể hoặc kết thúc hoạt động, thông tin, hồ sơ, tài liệu quy
định tại khoản 1 Điều này phải được bàn giao cho cơ quan có thẩm quyền quản lý
đối với tổ chức phi lợi nhuận đó.
4. Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình thực hiện chức
năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về phòng, chống rửa tiền, thực hiện điều tra,
truy tố, xét xử có quyền yêu cầu tổ chức phi lợi nhuận cung cấp thông tin, hồ
sơ, tài liệu quy định tại khoản 1 Điều này.
Mục 2. TRÁCH NHIỆM
XÂY DỰNG QUY ĐỊNH NỘI BỘ VÀ BÁO CÁO, CUNG CẤP, LƯU TRỮ THÔNG TIN, HỒ SƠ VỀ
PHÒNG, CHỐNG RỬA TIỀN
Điều 24. Quy định nội
bộ về phòng, chống rửa tiền
1. Đối tượng báo cáo là
tổ chức phải ban hành quy định nội bộ về phòng, chống rửa tiền bao gồm nội dung
chính sau đây:
a) Chính sách chấp nhận
khách hàng, trong đó có nội dung về từ chối mở tài khoản, thiết lập mối quan hệ
kinh doanh, thực hiện giao dịch hoặc chấm dứt mối quan hệ kinh doanh với khách
hàng trong trường hợp đối tượng báo cáo không thể hoàn thành việc nhận biết
khách hàng do khách hàng từ chối cung cấp thông tin hoặc cung cấp thông tin
không đầy đủ;
b) Quy trình, thủ tục
nhận biết khách hàng;
c) Chính sách, quy
trình quản lý rủi ro, trong đó có các nội dung quy định tại khoản 1 Điều 16,
khoản 1 Điều 19 và khoản 2 Điều 34 của Luật này;
d) Quy trình báo cáo
giao dịch phải báo cáo;
đ) Quy trình rà soát,
phát hiện, xử lý và báo cáo giao dịch đáng ngờ; cách thức giao tiếp với khách
hàng thực hiện giao dịch đáng ngờ;
e) Lưu trữ và bảo mật
thông tin;
g) Áp dụng biện pháp tạm
thời, nguyên tắc xử lý trong các trường hợp trì hoãn giao dịch;
h) Chế độ báo cáo, cung
cấp thông tin cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền;
i) Tuyển dụng nhân sự, đào
tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ phòng, chống rửa tiền;
k) Kiểm soát, kiểm toán
nội bộ việc tuân thủ các chính sách, quy định, quy trình và thủ tục liên quan đến
hoạt động phòng, chống rửa tiền; trách nhiệm của từng cá nhân, bộ phận trong việc
thực hiện quy định nội bộ về phòng, chống rửa tiền.
2. Đối tượng báo cáo là
doanh nghiệp siêu nhỏ, cá nhân phải ban hành quy định nội bộ về phòng, chống rửa
tiền có nội dung quy định tại các điểm a, b, c, đ, e và g khoản 1 Điều này.
3. Quy định nội bộ phải
bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý các hoạt động có nghi ngờ liên
quan đến rửa tiền; phù hợp với cơ cấu tổ chức, quy mô hoạt động và mức độ rủi
ro về rửa tiền trong hoạt động của đối tượng báo cáo và được áp dụng, phổ biến
trong toàn hệ thống và đại lý của đối tượng báo cáo.
4. Hằng năm, đối tượng
báo cáo phải đánh giá quy định nội bộ về phòng, chống rửa tiền để xem xét sửa đổi,
bổ sung cho phù hợp.
5. Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam quy định chi tiết Điều này.
Điều 25. Báo cáo
giao dịch có giá trị lớn phải báo cáo
1. Đối tượng báo cáo có
trách nhiệm báo cáo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khi thực hiện các giao dịch có
giá trị lớn phải báo cáo.
2. Thủ tướng Chính phủ
quyết định mức giao dịch có giá trị lớn phải báo cáo phù hợp với điều kiện kinh
tế - xã hội trong từng thời kỳ.
3. Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam quy định chế độ báo cáo về giao dịch có giá trị lớn phải báo
cáo.
Điều 26. Báo cáo
giao dịch đáng ngờ[12]
1. Đối tượng báo cáo có
trách nhiệm báo cáo giao dịch đáng ngờ cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khi có
cơ sở hợp lý để nghi ngờ tài sản trong giao dịch là tài sản do phạm tội mà có.
Việc xác định cơ sở hợp
lý để nghi ngờ được thực hiện dựa trên phân tích, đánh giá thông tin khách hàng
và giao dịch, bao gồm dấu hiệu đáng ngờ quy định tại các điều 27, 28, 29, 30,
31, 32, 33 và 33a của Luật này và các dấu hiệu khác do đối tượng báo cáo xác định.
2. Khi phát hiện dấu hiệu
đáng ngờ ngoài các dấu hiệu quy định tại các điều 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33 và
33a của Luật này, đối tượng báo cáo, các Bộ, ngành có liên quan thông báo cho
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
3. Căn cứ yêu cầu của
công tác phòng, chống rửa tiền trong từng thời kỳ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
trình Chính phủ bổ sung dấu hiệu đáng ngờ theo các ngành, lĩnh vực ngoài các dấu
hiệu quy định tại các điều 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33 và 33a của Luật này.
4. Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam quy định chế độ báo cáo về giao dịch đáng ngờ.
Điều 27. Các dấu hiệu
đáng ngờ cơ bản
1. Khách hàng từ chối
cung cấp thông tin hoặc cung cấp thông tin nhận biết khách hàng không chính
xác, không đầy đủ, không nhất quán.
2. Khách hàng thuyết phục
đối tượng báo cáo không báo cáo giao dịch cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
3. Không thể xác định
được khách hàng theo thông tin khách hàng cung cấp hoặc giao dịch liên quan đến
một bên không xác định được danh tính.
4. Số điện thoại do
khách hàng cung cấp không thể liên lạc được hoặc không tồn tại số điện thoại
này sau khi mở tài khoản hoặc thực hiện giao dịch.
5. Giao dịch được thực
hiện theo lệnh hoặc theo ủy quyền của tổ chức, cá nhân có trong Danh sách cảnh
báo.
6. Giao dịch mà qua
thông tin nhận biết khách hàng hoặc qua xem xét về cơ sở kinh tế và pháp lý của
giao dịch có thể xác định được mối liên hệ giữa các bên tham gia giao dịch với
các hoạt động phạm tội hoặc có liên quan đến tổ chức, cá nhân có trong Danh
sách cảnh báo.
7. Tổ chức, cá nhân
tham gia giao dịch với số tiền lớn không phù hợp với hoạt động kinh doanh, thu
nhập của tổ chức, cá nhân này.
8. Khách hàng yêu cầu đối
tượng báo cáo thực hiện giao dịch không đúng trình tự, thủ tục theo quy định của
pháp luật.
Điều 28. Dấu hiệu
đáng ngờ trong lĩnh vực ngân hàng
1. Có sự thay đổi đột
biến trong doanh số giao dịch trên tài khoản; tiền vào và rút ra nhanh khỏi tài
khoản; doanh số giao dịch lớn trong ngày nhưng số dư tài khoản rất nhỏ hoặc bằng
không.
2. Các giao dịch chuyển
tiền có giá trị nhỏ từ nhiều tài khoản khác nhau về một tài khoản hoặc ngược lại
trong một thời gian ngắn; tiền được chuyển qua nhiều tài khoản; các bên liên
quan không quan tâm đến phí giao dịch; thực hiện nhiều giao dịch, mỗi giao dịch
gần mức giá trị lớn phải báo cáo.
3. Sử dụng thư tín dụng
và các phương thức tài trợ thương mại khác có giá trị lớn bất thường, tỷ lệ chiết
khấu với giá trị cao so với bình thường.
4. Khách hàng mở nhiều
tài khoản tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài ở khu vực địa lý
khác nơi khách hàng cư trú, làm việc hoặc có hoạt động kinh doanh.
5. Tài khoản của khách
hàng đột nhiên nhận được một khoản tiền gửi hoặc chuyển tiền có giá trị lớn bất
thường.
6. Chuyển số tiền lớn từ
tài khoản của doanh nghiệp ra nước ngoài sau khi nhận được nhiều khoản tiền nhỏ
được chuyển vào bằng chuyển tiền điện tử, séc, hối phiếu.
7. Tổ chức kinh tế có vốn
đầu tư nước ngoài chuyển tiền ra nước ngoài ngay sau khi nhận được vốn đầu tư
hoặc chuyển tiền ra nước ngoài không phù hợp với hoạt động kinh doanh; nhà đầu
tư nước ngoài chuyển tiền ra nước ngoài ngay sau khi nhận được tiền từ nước
ngoài chuyển vào tài khoản mở tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước
ngoài hoạt động tại Việt Nam.
8. Khách hàng thường
xuyên đổi tiền có mệnh giá nhỏ sang mệnh giá lớn.
9. Giao dịch gửi tiền,
rút tiền hay chuyển tiền được thực hiện bởi tổ chức hoặc cá nhân liên quan đến tội
phạm tạo ra tài sản bất hợp pháp đã được đăng tải trên phương tiện thông tin đại
chúng.
10. Khách hàng yêu cầu
vay số tiền tối đa được phép trên cơ sở bảo đảm bằng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
đóng phí một lần ngay sau khi thanh toán phí bảo hiểm.
11. Thông tin về nguồn
gốc tài sản sử dụng để tài trợ, đầu tư, cho vay hoặc ủy thác đầu tư của khách
hàng không rõ ràng, minh bạch.
12. Thông tin về nguồn
gốc tài sản bảo đảm của khách hàng đề nghị vay vốn không đầy đủ, không chính
xác.
13. Có dấu hiệu nghi ngờ
khách hàng sử dụng tài khoản cá nhân để thực hiện giao dịch liên quan đến hoạt
động của tổ chức hoặc giao dịch thay cho đối tượng cá nhân khác.
14. Các giao dịch trực
tuyến qua tài khoản liên tục thay đổi về thiết bị đăng nhập hoặc địa chỉ giao
thức Internet (sau đây gọi là địa chỉ IP) ở nước ngoài.
Điều 29. Dấu hiệu
đáng ngờ trong lĩnh vực trung gian thanh toán
1. Có sự thay đổi đột
biến trong doanh số giao dịch trên ví điện tử; tiền nạp vào và rút ra nhanh khỏi
ví điện tử; doanh số giao dịch lớn trong ngày nhưng số dư ví điện tử rất nhỏ hoặc
bằng không.
2. Khách hàng thường
xuyên thực hiện nạp tiền nhiều lần với giá trị nhỏ vào một ví điện tử, sau đó
thực hiện giao dịch chuyển tiền giá trị lớn sang ví điện tử khác hoặc thực hiện
giao dịch rút tiền giá trị lớn về tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ của khách
hàng tại ngân hàng hoặc ngược lại.
3. Các giao dịch chuyển
tiền thường xuyên có giá trị nhỏ từ nhiều ví điện tử khác nhau về một ví điện tử
hoặc ngược lại trong một thời gian ngắn; tiền được chuyển qua nhiều ví điện tử;
các bên liên quan không quan tâm đến phí giao dịch; thực hiện nhiều giao dịch,
mỗi giao dịch gần mức giá trị lớn phải báo cáo; ví điện tử phát sinh nhiều giao
dịch chuyển tiền cho ví điện tử khác với thời gian khởi tạo giao dịch nhanh bất
thường.
4. Ví điện tử của khách
hàng đột nhiên nhận được một khoản tiền nạp vào có giá trị lớn bất thường.
5. Giao dịch nạp tiền
vào ví điện tử, rút tiền ra khỏi ví điện tử hay chuyển tiền giữa các ví điện tử
được thực hiện bởi tổ chức hoặc cá nhân có liên quan đến tội phạm tạo ra tài sản
bất hợp pháp đã được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng.
6. Có dấu hiệu nghi ngờ
khách hàng sử dụng ví điện tử cá nhân để thực hiện giao dịch liên quan đến hoạt
động của tổ chức hoặc giao dịch thay cho đối tượng cá nhân khác.
7. Khách hàng là đơn vị
chấp nhận thanh toán vẫn phát sinh giao dịch mặc dù trang thông tin điện tử
chính thức hoặc trụ sở của khách hàng này qua xác minh đã ngừng hoạt động.
8. Các giao dịch trực
tuyến qua ví điện tử liên tục thay đổi về thiết bị đăng nhập hoặc địa chỉ IP.
9. Khách hàng thường
xuyên sử dụng thiết bị đăng nhập hoặc địa chỉ IP ở nước ngoài để truy cập vào
ví điện tử hoặc thực hiện giao dịch trên ví điện tử; khách hàng thường xuyên sử
dụng một thiết bị đăng nhập hoặc một địa chỉ IP để thực hiện giao dịch trên nhiều
ví điện tử không cùng một chủ ví điện tử.
Điều 30. Dấu hiệu
đáng ngờ trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
1. Khách hàng yêu cầu
mua một hợp đồng bảo hiểm có giá trị lớn bất thường hoặc yêu cầu thanh toán trọn
gói phí bảo hiểm một lần đối với sản phẩm bảo hiểm không áp dụng hình thức
thanh toán trọn gói, trong khi những hợp đồng bảo hiểm hiện tại của khách hàng
chỉ có giá trị nhỏ và thanh toán định kỳ.
2. Khách hàng yêu cầu
giao kết hợp đồng bảo hiểm với khoản phí bảo hiểm định kỳ không phù hợp với thu
nhập hiện tại của khách hàng.
3. Bên mua bảo hiểm
thanh toán phí bảo hiểm từ tài khoản không phải là tài khoản của bên mua bảo hiểm
hoặc không phải là tài khoản của tổ chức, cá nhân được bên mua bảo hiểm ủy quyền
hoặc thanh toán bằng các công cụ chuyển nhượng không ghi tên.
4. Bên mua bảo hiểm yêu
cầu thay đổi người thụ hưởng đã chỉ định bằng người không có mối quan hệ rõ
ràng với bên mua bảo hiểm.
5. Khách hàng chấp nhận
tất cả các điều kiện bất lợi không liên quan đến tuổi tác, sức khỏe của mình;
khách hàng đề nghị mua bảo hiểm với mục đích không rõ ràng; điều kiện và giá trị
hợp đồng bảo hiểm mâu thuẫn với nhu cầu của khách hàng.
6. Bên mua bảo hiểm hủy
hợp đồng bảo hiểm ngay sau khi mua và yêu cầu chuyển tiền phí bảo hiểm đã đóng
cho bên thứ ba; khách hàng thường xuyên tham gia bảo hiểm và chuyển giao hợp đồng
bảo hiểm cho bên thứ ba.
7. Khách hàng là doanh
nghiệp có số lượng hợp đồng bảo hiểm cho nhân viên hoặc mức phí bảo hiểm của hợp
đồng đóng phí một lần tăng bất thường.
8. Doanh nghiệp bảo hiểm
thường xuyên trả tiền bảo hiểm với số tiền lớn cho cùng một khách hàng.
Điều 31. Dấu hiệu
đáng ngờ trong lĩnh vực chứng khoán
1. Giao dịch mua, bán
chứng khoán có dấu hiệu bất thường trong một ngày hoặc một số ngày do một tổ chức
hoặc một cá nhân thực hiện.
2. Công ty chứng khoán
chuyển tiền không phù hợp với hoạt động kinh doanh chứng khoán.
3. Người không cư trú
chuyển số tiền lớn từ tài khoản giao dịch chứng khoán hoặc thanh lý hợp đồng ủy
thác đầu tư chứng khoán để chuyển tiền ra khỏi Việt Nam.
4. Khách hàng thường
xuyên bán tất cả cổ phiếu trong danh mục đầu tư và đề nghị công ty chứng khoán
ký ủy nhiệm chi để khách hàng rút tiền mặt từ ngân hàng thương mại.
5. Khách hàng đầu tư bất
thường vào nhiều loại chứng khoán không có lợi trong khoảng thời gian ngắn.
6. Tài khoản chứng
khoán của khách hàng đột nhiên nhận được một khoản tiền lớn không phù hợp với
khả năng tài chính của khách hàng.
7. Giao dịch mua, bán
chứng khoán có nguồn tiền từ quỹ đầu tư được mở ở quốc gia, vùng lãnh thổ có rủi
ro cao về rửa tiền.
8. Nhà đầu tư nước
ngoài cư trú ở quốc gia, vùng lãnh thổ có rủi ro cao về rửa tiền góp vốn thành
lập quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán tại Việt Nam.
Điều 32. Dấu hiệu
đáng ngờ trong lĩnh vực kinh doanh trò chơi có thưởng
1. Khách hàng có dấu hiệu
liên tục cố tình thua tại tổ chức kinh doanh trò chơi có thưởng.
2. Khách hàng đổi số lượng
đồng tiền quy ước có giá trị lớn bất thường tại casino, điểm kinh doanh trò
chơi điện tử có thưởng nhưng không tham gia chơi hoặc chơi với số lượng rất nhỏ
sau đó đổi lại thành tiền mặt hoặc séc, hối phiếu ngân hàng hoặc chuyển tiền đến
tài khoản khác.
3. Khách hàng yêu cầu
chuyển tiền thắng cược, trúng thưởng cho bên thứ ba không có mối quan hệ rõ
ràng với khách hàng.
4. Khách hàng bổ sung
tiền mặt hoặc séc vào số tiền thắng cược, trúng thưởng và yêu cầu điểm kinh
doanh trò chơi có thưởng chuyển thành séc có giá trị lớn bất thường.
5. Khách hàng nhiều lần
trong một ngày yêu cầu casino, điểm kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng đổi số
lượng đồng tiền quy ước thành tiền mặt.
6. Khách hàng nhiều lần
trong một ngày yêu cầu bên thứ ba đổi hộ số lượng đồng tiền quy ước có giá trị
lớn bất thường và nhờ bên thứ ba đặt cược hộ.
7. Khách hàng nhiều lần
trong một ngày mua vé xổ số, vé đặt cược, đổi đồng tiền quy ước ở gần mức giới
hạn giao dịch có giá trị lớn phải báo cáo.
8. Khách hàng mua lại
vé số trúng thưởng có giá trị lớn từ người khác.
Điều 33. Dấu hiệu
đáng ngờ trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản
1. Các giao dịch bất động
sản là giao dịch ủy quyền nhưng không có cơ sở pháp lý.
2. Khách hàng không
quan tâm đến giá bất động sản, phí giao dịch phải trả.
3. Khách hàng không
cung cấp được các thông tin liên quan đến bất động sản hoặc không muốn cung cấp
bổ sung thông tin về nhân thân.
4. Giá giao dịch giữa
các bên không phù hợp giá thị trường.
Điều 33a. Dấu hiệu
đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa[13]
1. Chia nhỏ giao dịch
tài sản mã hóa thành nhiều khoản có giá trị thấp hơn mức quy định về nhận biết
khách hàng hoặc về báo cáo theo quy định hoặc thực hiện nhiều giao dịch tài sản
mã hóa giá trị lớn trong thời gian ngắn mà không có mục đích kinh doanh rõ ràng.
2. Phát sinh một trong
các trường hợp sau đây mà không phù hợp với hồ sơ và đặc điểm của khách hàng: nạp,
giao dịch và rút tài sản mã hóa liên tiếp trong thời gian rất ngắn ngay sau khi
thiết lập quan hệ khách hàng, nạp lần đầu với giá trị lớn ngay sau khi mở tài
khoản tài sản mã hóa hoặc tài khoản tài sản mã hóa không hoạt động trong thời
gian dài phát sinh giao dịch có giá trị lớn hoặc tần suất bất thường.
3. Chuyển ngay tài sản
mã hóa tới nhiều tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa tại quốc gia, vùng
lãnh thổ nằm trong danh sách do Lực lượng đặc nhiệm tài chính công bố nhằm chống
rửa tiền, tài trợ khủng bố, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt hoặc tại
quốc gia, vùng lãnh thổ chưa ban hành hoặc ban hành chưa đầy đủ khung pháp lý về
phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng
loạt đối với tài sản mã hóa và tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa nằm
trong danh sách do Lực lượng đặc nhiệm tài chính công bố liên quan đến tài sản
mã hóa trong khi không có mối liên hệ hợp lý với nơi cư trú hoặc địa điểm hoạt
động của khách hàng.
4. Chuyển đổi tài sản
mã hóa sang nhiều loại tài sản mã hóa khác nhau mà không có mục đích kinh
doanh, đầu tư hợp lý hoặc chuyển đổi tài sản mã hóa sang tiền pháp định trong
điều kiện bất lợi về giá, chấp nhận thua lỗ hoặc chịu mức phí giao dịch cao bất
thường so với tình trạng mạng lưới chuỗi khối tại thời điểm giao dịch.
5. Nhiều tài khoản hoặc
nhiều địa chỉ ví không có mối liên hệ rõ ràng cùng chuyển tài sản mã hóa về
cùng một địa chỉ ví hoặc một tài khoản chuyển tài sản mã hóa tới nhiều địa chỉ
ví khác nhau với giá trị tương đương nhau liên tiếp trong thời gian ngắn.
6. Thực hiện giao dịch
tài sản mã hóa có tính năng tăng cường ẩn danh, dịch vụ trộn giao dịch hoặc thực
hiện nhiều lần chuyển đổi từ tài sản mã hóa trên sổ cái phân tán công khai,
minh bạch sang tài sản mã hóa có tính năng tăng cường ẩn danh, làm gián đoạn khả
năng truy vết giao dịch.
7. Giao dịch tài sản mã
hóa từ các địa chỉ ví hoặc các tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa đã được
cơ quan có thẩm quyền xác định hoặc cảnh báo có liên quan đến trang mạng ẩn
danh giao dịch hàng hóa, dịch vụ bất hợp pháp, hoạt động tống tiền, lừa đảo, cờ
bạc trực tuyến bất hợp pháp, tài sản bị đánh cắp hoặc hoạt động phạm tội khác.
8. Khách hàng truy cập
nền tảng của tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa qua công cụ cho phép ẩn
danh danh tính hoặc ẩn danh địa chỉ giao thức Internet hoặc nhiều tài khoản tài
sản mã hóa đứng tên các danh tính khác nhau nhưng có dấu hiệu được vận hành từ
cùng một thiết bị hoặc địa chỉ giao thức Internet.
9. Khách hàng từ chối,
trì hoãn cung cấp tài liệu nhận biết khách hàng hoặc thông tin về nguồn gốc tài
sản; cung cấp tài liệu có dấu hiệu giả mạo hoặc thông tin không nhất quán hoặc
không thể giải thích hợp lý về mục đích giao dịch, nguồn gốc tài sản và mối
quan hệ với bên đối tác.
10. Địa chỉ ví tài sản
mã hóa của khách hàng xuất hiện trên các nguồn thông tin công khai có liên quan
đến hoạt động bất hợp pháp hoặc tài sản mã hóa nạp, rút có lịch sử qua các cầu
nối liên chuỗi được đánh giá có rủi ro cao.
11. Khách hàng có dấu
hiệu đứng tên hộ, bị lợi dụng làm trung gian hoặc là nạn nhân của lừa đảo, bao
gồm cả trường hợp khách hàng có hiểu biết hạn chế về tài sản mã hóa nhưng thực
hiện giao dịch với tần suất và giá trị lớn không tương xứng với hồ sơ và đặc điểm
của khách hàng hoặc thực hiện giao dịch theo chỉ dẫn của bên thứ ba.
12. Nguồn tài sản của
khách hàng chủ yếu hình thành từ các đợt phát hành tài sản mã hóa lần đầu thiếu
minh bạch hoặc có dấu hiệu gian lận hoặc tài sản mã hóa của khách hàng có nguồn
gốc trực tiếp từ các dịch vụ trộn giao dịch hoặc từ các tổ chức cung cấp dịch vụ
tài sản mã hóa thiếu kiểm soát về phòng, chống rửa tiền.
13. Giao dịch với tổ chức
cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa không xác định được tư cách pháp lý hợp lệ, bao
gồm trường hợp hoạt động tại quốc gia, vùng lãnh thổ chưa có khung pháp lý về
tài sản mã hóa theo danh sách do Lực lượng đặc nhiệm tài chính công bố liên
quan đến tài sản mã hóa hoặc không có trong danh sách được cấp phép của cơ quan
quản lý có thẩm quyền nước sở tại hoặc đã bị cơ quan có thẩm quyền cảnh báo,
đình chỉ hoặc thu hồi giấy phép hoạt động.
14. Nội dung ghi chú
kèm theo giao dịch tài sản mã hóa có dấu hiệu liên quan đến hoạt động bất hợp
pháp hoặc khách hàng thường xuyên thay đổi các thông tin nhận dạng và xác thực
quan trọng không phù hợp với hành vi sử dụng thông thường hoặc thực hiện giao dịch
từ địa chỉ giao thức Internet không nhất quán với thông tin khách hàng đã cung
cấp hoặc nhiều lần mở tài khoản tài sản mã hóa từ cùng một địa chỉ giao thức
Internet.
15. Khách hàng thực hiện
giao dịch thông qua tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa có trụ sở hoặc hoạt
động tại quốc gia, vùng lãnh thổ nằm trong danh sách do Lực lượng đặc nhiệm tài
chính công bố nhằm chống rửa tiền, tài trợ khủng bố, tài trợ phổ biến vũ khí hủy
diệt hàng loạt hoặc tại quốc gia, vùng lãnh thổ chưa ban hành hoặc ban hành
chưa đầy đủ khung pháp lý về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố, tài trợ
phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt đối với tài sản mã hóa và tổ chức cung cấp dịch
vụ tài sản mã hóa nằm trong danh sách do Lực lượng đặc nhiệm tài chính công bố
liên quan đến tài sản mã hóa.
Điều 34. Giao dịch
chuyển tiền điện tử
1. Đối tượng báo cáo có
trách nhiệm báo cáo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khi thực hiện các giao dịch
chuyển tiền điện tử vượt quá mức giá trị theo quy định của Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam.
2. Đối tượng báo cáo
tham gia vào giao dịch chuyển tiền điện tử phải có chính sách, quy trình quản
lý rủi ro để thực hiện, từ chối, tạm dừng, kiểm soát sau giao dịch hoặc xem
xét, báo cáo giao dịch đáng ngờ các giao dịch chuyển tiền điện tử không chính
xác, không đầy đủ các thông tin theo yêu cầu.
3. Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam quy định các nội dung liên quan đến giao dịch chuyển tiền điện
tử phục vụ cho công tác phòng, chống rửa tiền; chế độ báo cáo về giao dịch chuyển
tiền điện tử.
Điều 35. Khai báo,
cung cấp thông tin về việc vận chuyển tiền mặt, kim khí quý, đá quý và công cụ
chuyển nhượng qua biên giới
1. Cá nhân khi nhập cảnh,
xuất cảnh mang theo ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam bằng tiền mặt, kim khí
quý, đá quý và công cụ chuyển nhượng trên mức quy định của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền phải khai báo hải quan hoặc khai báo với bộ đội biên phòng nơi không
có cơ quan hải quan.
2. Cơ quan hải quan, bộ
đội biên phòng có trách nhiệm thu thập, lưu trữ các thông tin khai báo quy định
tại khoản 1 Điều này và cung cấp cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam khi có yêu cầu
hoặc khi có nghi ngờ liên quan đến rửa tiền, tài trợ khủng bố hoặc tài trợ phổ
biến vũ khí hủy diệt hàng loạt.
Điều 36. Hình thức
báo cáo
1. Đối tượng báo cáo gửi
dữ liệu điện tử hoặc báo cáo bằng văn bản giấy khi chưa thiết lập được hệ thống
công nghệ thông tin tương thích phục vụ cho yêu cầu gửi dữ liệu điện tử đối với
các báo cáo được quy định tại các điều 25, 26 và 34 của Luật này.
2. Trường hợp cần thiết,
đối tượng báo cáo có thể báo cáo qua fax, điện thoại, thư điện tử nhưng phải bảo
đảm an toàn, bảo mật dữ liệu thông tin báo cáo và phải xác nhận lại bằng một
trong hai hình thức quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Đối với báo cáo giao
dịch đáng ngờ, đối tượng báo cáo phải gửi kèm hồ sơ mở tài khoản đối với các
giao dịch thực hiện thông qua tài khoản, thông tin nhận biết khách hàng, các chứng
từ và tài liệu khác liên quan đến giao dịch đáng ngờ, các biện pháp phòng ngừa
đã thực hiện.
Điều 37. Thời hạn
báo cáo
1. Đối tượng báo cáo phải
báo cáo giao dịch có giá trị lớn phải báo cáo quy định tại Điều 25 và giao dịch
chuyển tiền điện tử quy định tại Điều 34 của Luật này trong thời hạn 01 ngày
làm việc kể từ ngày phát sinh giao dịch trong trường hợp báo cáo bằng dữ liệu
điện tử; trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày phát sinh giao dịch trong
trường hợp báo cáo bằng văn bản giấy.
2. Đối tượng báo cáo phải
báo cáo giao dịch đáng ngờ quy định tại Điều 26 của Luật này trong thời hạn 03
ngày làm việc kể từ ngày phát sinh giao dịch hoặc trong thời hạn 01 ngày làm việc
kể từ ngày đối tượng báo cáo phát hiện được giao dịch đáng ngờ.
3. Trường hợp phát hiện
giao dịch đáng ngờ do khách hàng yêu cầu có dấu hiệu liên quan đến tội phạm thì
đối tượng báo cáo phải báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền và Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam trong thời hạn 24 giờ kể từ thời điểm phát hiện.
Điều 38. Lưu trữ
thông tin, hồ sơ, tài liệu, báo cáo
1.[14] Đối tượng
báo cáo có trách nhiệm lưu trữ tất cả hồ sơ của khách hàng và tất cả các giao dịch
dưới dạng bản giấy hoặc dữ liệu điện tử theo quy định của pháp luật, trong đó
bao gồm:
a) Thông tin, hồ sơ,
tài liệu nhận biết khách hàng;
b) Kết quả phân tích, đánh
giá đối với khách hàng, giao dịch phục vụ mục đích phòng, chống rửa tiền;
c) Thông tin, hồ sơ,
tài liệu khác liên quan đến khách hàng, giao dịch;
d) Báo cáo giao dịch
quy định tại các điều 25, 26 và 34 của Luật này và thông tin, hồ sơ, tài liệu
kèm theo giao dịch báo cáo.
2. Thời hạn lưu trữ quy
định như sau:
a) 05 năm kể từ ngày kết
thúc giao dịch hoặc ngày đóng tài khoản hoặc ngày báo cáo đối với các thông
tin, hồ sơ, tài liệu quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều này;
b) 05 năm kể từ ngày phát
sinh giao dịch đối với các báo cáo quy định tại điểm d khoản 1 Điều này.
Điều 39. Trách nhiệm
báo cáo, cung cấp thông tin, hồ sơ, tài liệu, báo cáo
1. Đối tượng báo cáo phải
cung cấp kịp thời thông tin, hồ sơ, tài liệu, báo cáo quy định tại khoản 1 Điều
38 của Luật này cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và cơ quan nhà nước có thẩm quyền
theo quy định của Chính phủ.
2. Đối tượng báo cáo,
cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện nghĩa vụ báo cáo hoặc cung cấp thông tin
cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Luật này không bị coi là vi phạm
quy định của pháp luật về bảo đảm bí mật thông tin.
3.[15] Đối tượng
báo cáo, cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện nghĩa vụ báo cáo cho cơ quan có thẩm
quyền theo quy định của Luật này một cách trung thực thì không phải chịu trách
nhiệm về việc báo cáo.
4.[16] Người báo
cáo, tố cáo, cung cấp thông tin phục vụ công tác phòng, chống rửa tiền được áp
dụng các biện pháp bảo vệ như bảo vệ người tố cáo theo quy định của pháp luật về
tố cáo.
Điều 40. Bảo đảm bí
mật thông tin, hồ sơ, tài liệu, báo cáo
1. Đối tượng báo cáo và
tổ chức, cá nhân có liên quan phải tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ bí
mật nhà nước và bảo mật thông tin nhận biết khách hàng đối với thông tin, hồ
sơ, tài liệu, báo cáo liên quan đến các giao dịch phải báo cáo theo quy định của
Luật này.
2. Đối tượng báo cáo,
người quản lý, người lao động thuộc đối tượng báo cáo không được tiết lộ thông
tin về việc đã báo cáo giao dịch đáng ngờ hoặc các thông tin có liên quan đến
giao dịch đáng ngờ cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Mục 3. THU THẬP, XỬ
LÝ, PHÂN TÍCH, TRAO ĐỔI, CUNG CẤP VÀ CHUYỂN GIAO THÔNG TIN VỀ PHÒNG, CHỐNG RỬA
TIỀN
Điều 41. Thu thập, xử
lý và phân tích thông tin về phòng, chống rửa tiền
1. Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam được quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, hồ
sơ, tài liệu cần thiết để thực hiện phân tích, chuyển giao thông tin về phòng,
chống rửa tiền, hợp tác quốc tế về phòng, chống rửa tiền.
2. Tổ chức, cá nhân có
liên quan có trách nhiệm cung cấp cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thông tin, hồ
sơ, tài liệu quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Chính phủ quy định
chi tiết Điều này.
Điều 42. Trao đổi,
cung cấp, chuyển giao thông tin về phòng, chống rửa tiền với cơ quan có thẩm
quyền trong nước
1. Khi có cơ sở hợp lý
để nghi ngờ giao dịch được nêu trong thông tin, báo cáo liên quan đến rửa tiền,
trong thời hạn 07 ngày làm việc, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm
chuyển giao thông tin hoặc hồ sơ vụ việc cho cơ quan có thẩm quyền để phục vụ
việc xác minh, điều tra, truy tố, xét xử.
Thông tin giao dịch
đáng ngờ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chuyển giao cho cơ quan có thẩm quyền
là bí mật nhà nước.
2. Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam có trách nhiệm phối hợp, trao đổi thông tin về phòng, chống rửa tiền với
các cơ quan có thẩm quyền trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.
3. Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam có trách nhiệm trao đổi, cung cấp thông tin với các Bộ, ngành có liên
quan nhằm mục đích phòng, chống rửa tiền.
4. Chính phủ quy định
chi tiết Điều này.
Điều 43. Trao đổi,
cung cấp, chuyển giao thông tin về phòng, chống rửa tiền với cơ quan có thẩm
quyền nước ngoài
1. Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam gửi yêu cầu đến cơ quan phòng, chống rửa tiền và cơ quan có thẩm quyền
nước ngoài để thu thập, bổ sung thông tin phục vụ cho việc xử lý, phân tích và
chuyển giao thông tin về phòng, chống rửa tiền; tiếp nhận thông tin phản hồi,
thông tin chuyển giao của cơ quan phòng, chống rửa tiền, cơ quan có thẩm quyền
nước ngoài và xử lý thông tin nhận được theo quy định của Luật này.
2. Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin từ cơ quan có thẩm quyền nước
ngoài với mục đích phục vụ cho công tác phòng, chống rửa tiền và cung cấp thông
tin phản hồi.
3. Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam cung cấp, chuyển giao thông tin cho cơ quan có thẩm quyền nước ngoài
theo quy định của Luật này.
4. Thông tin giao dịch
đáng ngờ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trao đổi, cung cấp, chuyển giao cho cơ
quan có thẩm quyền nước ngoài là bí mật nhà nước.
Mục 4. ÁP DỤNG CÁC
BIỆN PHÁP TẠM THỜI VÀ XỬ LÝ VI PHẠM
Điều 44. Trì hoãn
giao dịch
1. Đối tượng báo cáo phải
áp dụng ngay biện pháp trì hoãn giao dịch trong các trường hợp sau đây:
a) Khi có căn cứ để
nghi ngờ hoặc phát hiện các bên liên quan đến giao dịch thuộc Danh sách đen;
b) Khi có lý do để tin
rằng giao dịch được yêu cầu thực hiện có liên quan đến hoạt động phạm tội, bao
gồm: giao dịch do người bị kết án theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự
yêu cầu thực hiện và tài sản trong giao dịch thuộc quyền sở hữu hoặc có nguồn gốc
thuộc quyền sở hữu, quyền kiểm soát của người bị kết án đó; giao dịch liên quan
đến tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi có liên quan đến tội phạm tài trợ khủng
bố;
c) Khi có yêu cầu của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại các luật có liên quan.
2. Khi thực hiện biện
pháp trì hoãn giao dịch, đối tượng báo cáo phải báo cáo ngay cho cơ quan nhà nước
có thẩm quyền và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
3. Thời hạn áp dụng biện
pháp trì hoãn giao dịch không quá 03 ngày làm việc kể từ ngày bắt đầu áp dụng.
4. Đối tượng báo cáo
không phải chịu trách nhiệm pháp lý về những hậu quả phát sinh khi áp dụng biện
pháp trì hoãn giao dịch theo đúng quy định tại Điều này.
5. Chính phủ quy định
chi tiết điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Điều 45. Phong tỏa
tài khoản, niêm phong, phong tỏa hoặc tạm giữ tài sản
Đối tượng báo cáo phải
thực hiện quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc phong tỏa tài
khoản, niêm phong, phong tỏa hoặc tạm giữ tài sản của các tổ chức, cá nhân theo
quy định của pháp luật.
Điều 46. Xử lý vi phạm
Tổ chức, cá nhân có
hành vi vi phạm quy định pháp luật về phòng, chống rửa tiền thì tùy theo tính
chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy
cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của
pháp luật.
Chương III
TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC TRONG PHÒNG, CHỐNG
RỬA TIỀN
Điều 47. Trách nhiệm
của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ
1. Chính phủ thống nhất
quản lý nhà nước về phòng, chống rửa tiền.
2. Chính phủ ban hành
văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền về phòng, chống rửa tiền.
3. Thủ tướng Chính phủ
chỉ đạo các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ phối hợp với Tòa án
nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong công tác phòng, chống rửa
tiền; chỉ đạo việc phối hợp công tác phòng, chống rửa tiền và công tác phòng,
chống tài trợ khủng bố, tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt.
Điều 48. Trách nhiệm
của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống
rửa tiền và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Xây dựng và trình cấp
có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp
luật, kế hoạch về phòng, chống rửa tiền;
2. Chủ trì, phối hợp với
các cơ quan có liên quan triển khai các biện pháp phòng, chống rửa tiền trong
lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng;
3. Thanh tra, kiểm tra,
giám sát hoạt động phòng, chống rửa tiền đối với đối tượng báo cáo thuộc trách
nhiệm quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng, trong đó có căn cứ vào
kết quả đánh giá rủi ro quốc gia về rửa tiền, kết quả đánh giá rủi ro về rửa tiền
của đối tượng báo cáo đó;
4. Hợp tác, trao đổi,
cung cấp thông tin với các cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động thanh tra,
giám sát, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án liên quan đến rửa tiền;
5. Thực hiện hợp tác quốc
tế về phòng, chống rửa tiền, làm đầu mối tham gia, triển khai thực hiện nghĩa vụ
của Việt Nam với tư cách thành viên của tổ chức quốc tế về phòng, chống rửa tiền;
6. Tổ chức nghiên cứu, ứng
dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin vào công tác phòng, chống
rửa tiền;
7. Chủ trì, phối hợp với
các cơ quan có liên quan phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống rửa tiền,
truyền thông về chủ trương, chính sách, pháp luật về phòng, chống rửa tiền, triển
khai công tác đào tạo về phòng, chống rửa tiền;
8. Tổng hợp thông tin,
hằng năm báo cáo Chính phủ về công tác phòng, chống rửa tiền của Việt Nam;
9. Chủ trì thực hiện
đánh giá rủi ro quốc gia về rửa tiền quy định tại khoản 1 Điều 7 của Luật này;
thực hiện đánh giá, cập nhật rủi ro về rửa tiền trong lĩnh vực tiền tệ, ngân
hàng và tổng hợp trình Chính phủ phê duyệt kết quả cập nhật rủi ro quốc gia về
rửa tiền theo quy định tại khoản 2 Điều 7 của Luật này;
10. Phối hợp với Bộ Ngoại
giao, các Bộ, ngành có liên quan đề xuất, chủ trì ký kết và tổ chức thực hiện
điều ước quốc tế, thoả thuận quốc tế về phòng, chống rửa tiền;
11. Giám sát đối tượng
báo cáo trong việc thực hiện báo cáo quy định tại các điều 25, 26 và 34 của Luật
này; phối hợp cung cấp thông tin giám sát cho các Bộ, ngành để phục vụ công tác
thanh tra, kiểm tra, giám sát về phòng, chống rửa tiền.
Điều 48a. Trách nhiệm
của Thanh tra Chính phủ[17]
1. Thanh tra hoạt động
phòng, chống rửa tiền của đối tượng báo cáo thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của
các Bộ không có thanh tra Bộ, trừ trách nhiệm thanh tra của Bộ Tài chính quy định
tại khoản 2 Điều 51 của Luật này. Việc thanh tra hoạt động phòng, chống rửa tiền
phải căn cứ vào kết quả đánh giá rủi ro quốc gia về rửa tiền, kết quả đánh giá
rủi ro về rửa tiền của đối tượng báo cáo.
2. Phối hợp với Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam và các Bộ, ngành có liên quan định kỳ thực hiện đánh
giá, cập nhật rủi ro về rửa tiền quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 7 của Luật
này.
Điều 49. Trách nhiệm
của Bộ Công an
1. Thu thập, tiếp nhận,
xử lý thông tin đấu tranh phòng, chống tội phạm rửa tiền.
2. Thông báo kết quả xử
lý thông tin có liên quan đến giao dịch đáng ngờ cho Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam.
3. Chủ trì, phối hợp với
cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan trong phòng ngừa, phát hiện, điều tra
và xử lý tội phạm về rửa tiền.
4. Trao đổi thông tin,
tài liệu về phương thức, thủ đoạn hoạt động mới của tội phạm rửa tiền trong nước
và nước ngoài với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
5. Chủ trì lập danh
sách tổ chức, cá nhân có liên quan đến khủng bố, tài trợ khủng bố.
6. Thực hiện tương trợ
tư pháp trong phòng, chống rửa tiền thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình.
7. Phối hợp với Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện đánh giá rủi ro quốc gia về rửa tiền quy định
tại khoản 1 Điều 7 của Luật này; thực hiện đánh giá, cập nhật rủi ro về rửa tiền
đối với các loại tội phạm nguồn có rủi ro cao quy định tại khoản 2 Điều 7 của
Luật này.
Điều 50. Trách nhiệm
của Bộ Quốc phòng
1. Trao đổi thông tin,
tài liệu về hoạt động rửa tiền nhằm tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt
trong nước và nước ngoài với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
2. Chủ trì lập danh
sách tổ chức, cá nhân bị chỉ định có liên quan đến phổ biến và tài trợ phổ biến
vũ khí hủy diệt hàng loạt.
3. Phối hợp với Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện đánh giá rủi ro quốc gia về rửa tiền quy định
tại khoản 1 Điều 7 của Luật này.
Điều 51. Trách nhiệm
của Bộ Tài chính[18]
1. Chủ trì, phối hợp với
các cơ quan có liên quan triển khai các biện pháp phòng, chống rửa tiền trong
lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, chứng khoán, tài sản mã hóa, dịch vụ kế toán,
trò chơi điện tử có thưởng, casino, xổ số, đặt cược và dịch vụ khác thuộc phạm
vi quản lý nhà nước của Bộ Tài chính.
2. Thanh tra hoạt động
phòng, chống rửa tiền đối với đối tượng báo cáo thuộc lĩnh vực tài sản mã hóa
khi được Chính phủ giao, lĩnh vực chứng khoán. Kiểm tra, giám sát hoạt động
phòng, chống rửa tiền đối với đối tượng báo cáo thuộc lĩnh vực quy định tại khoản
1 Điều này. Việc thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động phòng, chống rửa tiền
phải căn cứ vào kết quả đánh giá rủi ro quốc gia về rửa tiền, kết quả đánh giá
rủi ro về rửa tiền của đối tượng báo cáo.
3. Phối hợp với Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện đánh giá rủi ro quốc gia về rửa tiền quy định
tại khoản 1 Điều 7 của Luật này; thực hiện đánh giá, cập nhật rủi ro về rửa tiền
quy định tại khoản 2 Điều 7 của Luật này đối với lĩnh vực quy định tại khoản 1
Điều này.
Điều 52. Trách nhiệm
của Bộ Xây dựng[19]
1. Chủ trì, phối hợp với
các cơ quan có liên quan triển khai các biện pháp phòng, chống rửa tiền trong
lĩnh vực kinh doanh bất động sản, trừ việc cho thuê, cho thuê lại bất động sản
và dịch vụ tư vấn bất động sản.
2. Kiểm tra, giám sát
hoạt động phòng, chống rửa tiền đối với đối tượng báo cáo thuộc lĩnh vực quy định
tại khoản 1 Điều này, trong đó có căn cứ vào kết quả đánh giá rủi ro quốc gia về
rửa tiền, kết quả đánh giá rủi ro về rửa tiền của đối tượng báo cáo đó.
3. Phối hợp với Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện đánh giá rủi ro quốc gia về rửa tiền quy định
tại khoản 1 Điều 7 của Luật này; thực hiện đánh giá, cập nhật rủi ro về rửa tiền
quy định tại khoản 2 Điều 7 của Luật này đối với lĩnh vực quy định tại khoản 1
Điều này.
Điều 53. Trách nhiệm
của Bộ Tư pháp[20]
1. Chủ trì, phối hợp với
các cơ quan có liên quan triển khai các biện pháp phòng, chống rửa tiền trong
lĩnh vực công chứng, hành nghề luật sư.
2. Phối hợp với Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống rửa
tiền.
3. Kiểm tra, giám sát
hoạt động phòng, chống rửa tiền đối với các đối tượng báo cáo thuộc lĩnh vực
quy định tại khoản 1 Điều này, trong đó có căn cứ vào kết quả đánh giá rủi ro
quốc gia về rửa tiền, kết quả đánh giá rủi ro về rửa tiền của đối tượng báo cáo
đó.
4. Phối hợp với Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện đánh giá rủi ro quốc gia về rửa tiền quy định
tại khoản 1 Điều 7 của Luật này; thực hiện đánh giá, cập nhật rủi ro về rửa tiền
quy định tại khoản 2 Điều 7 của Luật này đối với lĩnh vực quy định tại khoản 1
Điều này.
Điều 54. Trách nhiệm
của Bộ Công Thương[21]
1. Chủ trì, phối hợp với
các cơ quan có liên quan triển khai các biện pháp phòng, chống rửa tiền trong
lĩnh vực kinh doanh kim khí quý, đá quý, trừ hoạt động kinh doanh vàng miếng.
2. Kiểm tra, giám sát
hoạt động phòng, chống rửa tiền đối với đối tượng báo cáo thuộc lĩnh vực kinh
doanh quy định tại khoản 1 Điều này, trong đó có căn cứ vào kết quả đánh giá rủi
ro quốc gia về rửa tiền, kết quả đánh giá rủi ro về rửa tiền của đối tượng báo
cáo đó.
3. Phối hợp với Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện đánh giá rủi ro quốc gia về rửa tiền quy định
tại khoản 1 Điều 7 của Luật này; thực hiện đánh giá, cập nhật rủi ro về rửa tiền
quy định tại khoản 2 Điều 7 của Luật này đối với lĩnh vực quy định tại khoản 1
Điều này.
Điều 55.[22] (được
bãi bỏ)
Điều 56. Trách nhiệm
của Bộ Nội vụ
1. Chủ trì, phối hợp với
các cơ quan có liên quan triển khai công tác phòng, chống rửa tiền đối với các
hội, quỹ xã hội, quỹ từ thiện và tổ chức tôn giáo.
2. Phối hợp với Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện đánh giá rủi ro quốc gia về rửa tiền quy định
tại khoản 1 Điều 7 của Luật này; chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan
thực hiện đánh giá, cập nhật rủi ro về rửa tiền đối với các hội, quỹ xã hội, quỹ
từ thiện và tổ chức tôn giáo quy định tại khoản 2 Điều 7 của Luật này.
3. Phối hợp với các cơ
quan có liên quan thực hiện đánh giá rủi ro về rửa tiền đối với các tổ chức phi
chính phủ nước ngoài.
Điều 57. Trách nhiệm
của Bộ Ngoại giao
1. Chủ trì, phối hợp với
các cơ quan có liên quan triển khai công tác phòng, chống rửa tiền đối với các
tổ chức phi chính phủ nước ngoài.
2. Phối hợp với Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện đánh giá rủi ro quốc gia về rửa tiền quy định
tại khoản 1 Điều 7 của Luật này; chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan
thực hiện đánh giá, cập nhật rủi ro về rửa tiền đối với các tổ chức phi chính
phủ nước ngoài quy định tại khoản 2 Điều 7 của Luật này.
3. Phối hợp với Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam ký kết và tổ chức thực hiện các điều ước quốc tế, thỏa
thuận quốc tế về phòng, chống rửa tiền.
Điều 58. Trách nhiệm
của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch[23]
1. Chủ trì, phối hợp với
các cơ quan có liên quan triển khai các biện pháp phòng, chống rửa tiền trong
lĩnh vực kinh doanh trò chơi điện tử trên mạng.
2. Kiểm tra, giám sát
hoạt động phòng, chống rửa tiền đối với đối tượng báo cáo thuộc lĩnh vực quy định
tại khoản 1 Điều này, trong đó có căn cứ vào kết quả đánh giá rủi ro quốc gia về
rửa tiền, kết quả đánh giá rủi ro về rửa tiền của đối tượng báo cáo đó.
3. Phối hợp với Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện đánh giá rủi ro quốc gia về rửa tiền quy định
tại khoản 1 Điều 7 của Luật này; thực hiện đánh giá, cập nhật rủi ro về rửa tiền
quy định tại khoản 2 Điều 7 của Luật này đối với lĩnh vực quy định tại khoản 1
Điều này.
Điều 59. Trách nhiệm
của các Bộ, ngành khác[24]
1. Phối hợp với Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống rửa tiền.
2. Kiểm tra, giám sát
hoạt động phòng, chống rửa tiền đối với đối tượng báo cáo thuộc phạm vi quản lý
nhà nước của mình, trong đó có căn cứ vào kết quả đánh giá rủi ro quốc gia về rửa
tiền, kết quả đánh giá rủi ro về rửa tiền của đối tượng báo cáo đó.
3. Phối hợp với Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam và các Bộ, ngành có liên quan định kỳ thực hiện đánh
giá, cập nhật rủi ro về rửa tiền quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 7 của Luật
này.
Điều 60. Trách nhiệm
của Viện kiểm sát nhân dân
1. Viện kiểm sát nhân
dân, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý kịp thời,
nghiêm minh hành vi rửa tiền; phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan
trong đấu tranh phòng, chống rửa tiền.
2. Viện kiểm sát nhân
dân tối cao, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, có trách nhiệm thực hiện
hợp tác quốc tế về tương trợ tư pháp về hình sự; kịp thời tiếp nhận, xử lý, yêu
cầu tương trợ tư pháp về hình sự trong phòng, chống rửa tiền.
3. Viện kiểm sát nhân
dân tối cao phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các Bộ, ngành có liên
quan trong việc thực hiện đánh giá, cập nhật rủi ro quốc gia về rửa tiền quy định
tại khoản 1 và khoản 2 Điều 7 của Luật này.
Điều 61. Trách nhiệm
của Tòa án nhân dân
1. Tòa án nhân dân,
trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý kịp thời, nghiêm
minh hành vi rửa tiền; phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan trong đấu
tranh phòng, chống rửa tiền.
2. Tòa án nhân dân tối
cao, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, có trách nhiệm thực hiện hợp
tác quốc tế về tương trợ tư pháp trong phòng, chống rửa tiền.
3. Tòa án nhân dân tối
cao phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các Bộ, ngành có liên quan
trong việc thực hiện đánh giá, cập nhật rủi ro quốc gia về rửa tiền quy định tại
khoản 1 và khoản 2 Điều 7 của Luật này.
Điều 62. Trách nhiệm
của Ủy ban nhân dân các cấp
1. Thực hiện phổ biến,
giáo dục pháp luật về phòng, chống rửa tiền tại địa phương.
2. Phối hợp với các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền triển khai và đôn đốc thực hiện kế hoạch phòng, chống
rửa tiền, thực hiện đánh giá rủi ro quốc gia về rửa tiền.
3. Phát hiện, xử lý kịp
thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống rửa tiền theo
thẩm quyền.
Điều 63. Trách nhiệm
bảo mật thông tin
1. Cơ quan nhà nước quy
định tại Luật này có trách nhiệm thực hiện chế độ bảo mật thông tin theo quy định
của pháp luật.
2. Cơ quan nhà nước có
thẩm quyền trong quá trình trao đổi, cung cấp, chuyển giao thông tin quy định tại
Điều 6 của Luật này cho cơ quan có thẩm quyền nước ngoài phải bảo đảm các thông
tin được bảo mật và sử dụng đúng mục đích tại yêu cầu trao đổi, cung cấp, chuyển
giao thông tin.
Chương IV
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH[25]
Điều 64. Sửa đổi, bổ
sung một số điều của các luật có liên quan đến phòng, chống rửa tiền
1.[26] (được
bãi bỏ)
2. Sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Phòng, chống khủng bố số 28/2013/QH13 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung Điều
34 như sau:
“Điều 34. Thực hiện
các biện pháp phòng, chống tài trợ khủng bố và áp dụng biện pháp tạm thời; đánh
giá rủi ro quốc gia về phòng, chống tài trợ khủng bố
1. Tổ chức tài chính, tổ
chức, cá nhân kinh doanh ngành, nghề phi tài chính có liên quan áp dụng quy định
tại các điều từ Điều 9 đến Điều 40 của Luật Phòng, chống rửa tiền để nhận biết
khách hàng, thu thập, cập nhật, xác minh thông tin nhận biết khách hàng; xây dựng
quy định nội bộ và báo cáo, cung cấp, lưu trữ thông tin, hồ sơ, tài liệu, báo
cáo về phòng, chống tài trợ khủng bố.
2. Ngay khi có nghi ngờ
khách hàng hoặc giao dịch của khách hàng liên quan đến tài trợ khủng bố hoặc
khách hàng nằm trong Danh sách đen thì tổ chức tài chính, tổ chức, cá nhân kinh
doanh ngành, nghề phi tài chính có liên quan báo cáo cho lực lượng chống khủng
bố của Bộ Công an, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và phải áp dụng các biện pháp tạm
thời theo quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền.
3. Định kỳ 05 năm, Bộ
Công an chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan thực hiện đánh giá rủi
ro quốc gia về tài trợ khủng bố tại Việt Nam và trình Chính phủ phê duyệt kết
quả đánh giá, kế hoạch thực hiện sau đánh giá.”;
b) Sửa đổi, bổ sung Điều
35 như sau:
“Điều 35. Kiểm soát
vận chuyển tiền mặt, kim khí quý, đá quý và công cụ chuyển nhượng qua biên giới
Tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền thực hiện việc kiểm soát vận chuyển tiền mặt, kim khí quý, đá quý và công
cụ chuyển nhượng qua biên giới Việt Nam quy định tại Điều 24 của Luật này và Điều
35 của Luật Phòng, chống rửa tiền có trách nhiệm phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp
thời hành vi lợi dụng các hoạt động này để tài trợ khủng bố.”.
Điều 65. Áp dụng quy
định của Luật này trong phòng, chống tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt
Tổ chức tài chính, tổ
chức, cá nhân kinh doanh ngành, nghề phi tài chính có liên quan áp dụng quy định
tại các điều từ Điều 9 đến Điều 40 của Luật này để nhận biết khách hàng, thu thập,
cập nhật, xác minh thông tin nhận biết khách hàng; xây dựng quy định nội bộ và
báo cáo, cung cấp, lưu trữ thông tin, hồ sơ, tài liệu, báo cáo về phòng, chống
tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt.
Điều 66. Hiệu lực
thi hành
1. Luật này có hiệu lực
thi hành từ ngày 01 tháng 3 năm 2023, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều
này.
2. Khoản 1 Điều 64 của Luật
này có hiệu lực thi hành từ ngày quy định khác về cơ quan thực hiện chức năng,
nhiệm vụ phòng, chống rửa tiền do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành có hiệu
lực.
3. Luật Phòng, chống rửa
tiền số 07/2012/QH13 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
|
|
VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
--------
XÁC THỰC VĂN BẢN
HỢP NHẤT
CHỦ NHIỆM
Lê Quang Mạnh
|
[1] Luật số 23/2026/QH16 có căn cứ ban hành
như sau:
“Căn
cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một
số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc
hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam số 46/2010/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số
14/2022/QH15; Luật Phòng, chống rửa tiền số 14/2022/QH15; Luật Các tổ chức tín
dụng số 32/2024/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số
43/2024/QH15, Luật số 96/2025/QH15 và Luật số 142/2025/QH15.”.
[2] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định
tại khoản 1 Điều 2 của Luật số 23/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 12
năm 2026.
[3] Điểm này được bổ sung theo quy định tại
khoản 2 Điều 2 của Luật số 23/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 12 năm
2026.
[4] Điểm này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 3 Điều 2 của Luật số 23/2026/QH16, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 12 năm 2026.
[5] Điểm này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 2 của Luật số 23/2026/QH16, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2026.
[6] Điểm này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 2 của Luật số 23/2026/QH16, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2026.
[7] Khoản này được bổ sung theo quy định tại
điểm c khoản 4 Điều 2 của Luật số 23/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
12 năm 2026.
[8] Khoản này được bổ sung theo quy định tại điểm
c khoản 4 Điều 2 của Luật số 23/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 12
năm 2026.
[9] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định
tại khoản 5 Điều 2 của Luật số 23/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 12
năm 2026.
[10] Khoản này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 6 Điều 2 của Luật số 23/2026/QH16, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 12 năm 2026.
[11] Điều này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 7 Điều 2 của Luật số 23/2026/QH16, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 12 năm 2026.
[12] Điều này được sửa đổi, bổ
sung theo quy định tại khoản 8 Điều 2 của Luật số 23/2026/QH16, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 12 năm 2026.
[13] Điều này được bổ sung theo quy định tại
khoản 9 Điều 2 của Luật số 23/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 12 năm
2026.
[14] Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định
tại khoản 10 Điều 2 của Luật số 23/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
12 năm 2026.
[15] Khoản này được bổ sung theo quy định tại
khoản 11 Điều 2 của Luật số 23/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 12
năm 2026.
[16] Khoản này được bổ sung theo quy định tại
khoản 11 Điều 2 của Luật số 23/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 12
năm 2026.
[17] Điều này được bổ sung theo
quy định tại khoản 12 Điều 2 của Luật số 23/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 12 năm 2026.
[18] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định
tại khoản 13 Điều 2 của Luật số 23/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
12 năm 2026.
[19] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định
tại khoản 14 Điều 2 của Luật số 23/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
12 năm 2026.
[20] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định
tại khoản 15 Điều 2 của Luật số 23/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
12 năm 2026.
[21] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định
tại khoản 16 Điều 2 của Luật số 23/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
12 năm 2026.
[22] Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản
19 Điều 2 của Luật số 23/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2026.
[23] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định
tại khoản 17 Điều 2 của Luật số 23/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
12 năm 2026.
[24] Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định
tại khoản 18 Điều 2 của Luật số 23/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
12 năm 2026.
[25] Khoản 1 Điều 4 của Luật số 23/2026/QH16,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2026 quy định như sau:
“Điều
4. Điều khoản thi hành
1.
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 12 năm 2026.”.
[26] Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại
khoản 19 Điều 2 của Luật số 23/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 12
năm 2026.