|
VĂN BẢN HỢP NHẤT
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 138/2026/VBHN-LQ-VPQH
|
Hà Nội, ngày 21 tháng 9 năm 2026
|
LUẬT
CHUYỂN
GIAO CÔNG NGHỆ
Luật Chuyển
giao công nghệ số 07/2017/QH14 ngày 19 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2018, được sửa đổi, bổ sung bởi:
1. Luật
Giá số 16/2023/QH15 ngày 19 tháng 6 năm 2023 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2024;
2. Luật
Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15 ngày 27 tháng 6 năm
2025 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2025;
3. Luật
số 115/2025/QH15 ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Chuyển giao công nghệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026;
4. Luật
số 20/2026/QH16 ngày 24 tháng 8 năm 2026 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và
Luật Chuyển giao công nghệ, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027.
Căn
cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc
hội ban hành Luật Chuyển giao công nghệ.[1]
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Luật
này quy định về hoạt động chuyển giao công nghệ tại Việt Nam, từ nước ngoài vào
Việt Nam, từ Việt Nam ra nước ngoài; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân
tham gia hoạt động chuyển giao công nghệ; thẩm định công nghệ dự án đầu tư; hợp
đồng chuyển giao công nghệ; biện pháp khuyến khích chuyển giao công nghệ, phát
triển thị trường khoa học và công nghệ; quản lý nhà nước về chuyển giao công
nghệ.
Điều 2. Giải thích từ ngữ
Trong
Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Bí
quyết là thông tin được tích lũy, khám phá trong quá trình nghiên cứu, sản
xuất, kinh doanh có ý nghĩa quyết định chất lượng, khả năng cạnh tranh của công
nghệ, sản phẩm công nghệ. Bí quyết bao gồm bí quyết kỹ thuật, bí quyết công nghệ.
2.[2] (được
bãi bỏ)
3. Công
nghệ tiên tiến là công nghệ có trình độ công nghệ cao hơn trình độ công nghệ
cùng loại hiện có tại Việt Nam, đã được ứng dụng trong thực tiễn, nâng cao năng
suất, chất lượng sản phẩm vượt trội và thân thiện với môi trường.
4.
Công nghệ mới là công nghệ lần đầu tiên được tạo ra hoặc ứng dụng tại Việt
Nam hoặc trên thế giới, có trình độ cao hơn trình độ công nghệ cùng loại hiện
có tại Việt Nam, thân thiện với môi trường, có tính ứng dụng trong thực tiễn và
khả năng nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm.
5. Công
nghệ sạch là công nghệ phát thải ở mức thấp chất gây ô nhiễm môi trường
theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, sử dụng ít tài
nguyên không tái tạo hơn so với công nghệ hiện có.
5a.[3] Công
nghệ xanh là công nghệ nhằm sử dụng hiệu quả
tài nguyên, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải, thân thiện với môi trường,
góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
6.[4] (được
bãi bỏ)
7.[5] Chuyển
giao công nghệ là hoạt động khoa học, công
nghệ và đổi mới sáng tạo được thực hiện thông qua việc chuyển nhượng quyền sở hữu
công nghệ hoặc chuyển giao quyền sử dụng công nghệ nhằm đưa công nghệ vào ứng dụng
thực tế để tạo ra sản phẩm, dịch vụ hoặc phương thức sản xuất mới.
8. Chuyển
giao công nghệ trong nước là việc chuyển giao công nghệ được thực hiện
trong lãnh thổ Việt Nam.
9. Chuyển
giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam là việc chuyển giao công nghệ qua
biên giới vào lãnh thổ Việt Nam.
10. Chuyển
giao công nghệ từ Việt Nam ra nước ngoài là việc chuyển giao công nghệ từ
lãnh thổ Việt Nam qua biên giới ra nước ngoài.
11.[6] Thương
mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo là hoạt động khai thác, hoàn thiện, ứng dụng, chuyển giao,
hoạt động khác có liên quan đến kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công
nghệ và đổi mới sáng tạo nhằm mục đích thu lợi nhuận.
12. Ươm
tạo công nghệ là quá trình nhằm tạo ra, hoàn thiện, thương mại hóa công nghệ
từ ý tưởng công nghệ, kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ hoặc
từ công nghệ chưa hoàn thiện thông qua các hoạt động trợ giúp về hạ tầng kỹ thuật,
nguồn lực và dịch vụ cần thiết.
13. Ươm
tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ là quá trình hình thành, phát triển
doanh nghiệp khoa học và công nghệ thông qua các hoạt động trợ giúp về hạ tầng
kỹ thuật, nguồn lực và dịch vụ cần thiết.
14. Cơ
sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ là cơ sở
cung cấp các điều kiện theo quy định của pháp luật về hạ tầng kỹ thuật, nguồn lực
và dịch vụ cần thiết phục vụ việc ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa
học và công nghệ.
15.
Đổi mới công nghệ là hoạt động thay thế một phần hoặc toàn bộ công nghệ
đang sử dụng bằng một phần hoặc toàn bộ công nghệ khác nhằm nâng cao năng suất,
chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
16. Giải
mã công nghệ là quá trình tìm nguyên lý công nghệ thông qua nghiên cứu,
phân tích cấu trúc, thiết kế, chức năng và hoạt động của một thiết bị, đối tượng,
hệ thống cần giải mã nhằm bảo trì, khai thác, cải tiến hoặc tạo ra thiết bị, đối
tượng, hệ thống mới có tính năng tương đương hoặc đáp ứng yêu cầu về tiêu chuẩn,
quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.
17. Đánh
giá công nghệ là hoạt động xác định trình độ, hiệu quả kinh tế, tác động của
công nghệ đến môi trường, kinh tế - xã hội.
18.[7] Thẩm
định giá công nghệ là hoạt động tư vấn xác
định giá trị công nghệ được thẩm định giá tại một địa điểm, thời điểm, phục vụ
cho mục đích nhất định do doanh nghiệp thẩm định giá, hội đồng thẩm định giá thực
hiện theo Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam.
19. Giám
định công nghệ là hoạt động xác định các chỉ tiêu của công nghệ đạt được
trong quá trình ứng dụng so với các chỉ tiêu đã được các bên thỏa thuận.
20. Môi
giới chuyển giao công nghệ là hoạt động hỗ trợ tìm kiếm đối tác để thực hiện
chuyển giao công nghệ.
21. Tư
vấn chuyển giao công nghệ là hoạt động hỗ trợ lựa chọn, ứng dụng công nghệ;
khai thác thông tin công nghệ, thông tin sáng chế, kết quả nghiên cứu khoa học
và phát triển công nghệ; đàm phán, ký kết và thực hiện chuyển giao công nghệ.
22. Xúc
tiến chuyển giao công nghệ là hoạt động thúc đẩy cơ hội chuyển giao công
nghệ; cung ứng dịch vụ quảng cáo, trưng bày, giới thiệu công nghệ; tổ chức chợ,
hội chợ, triển lãm công nghệ, điểm kết nối cung cầu công nghệ, trung tâm giao dịch
công nghệ.
Điều 3. Chính sách của Nhà nước đối với hoạt động chuyển
giao công nghệ
1. Bảo
đảm quyền và lợi ích hợp pháp, điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân hoạt động
chuyển giao công nghệ; phát triển thị trường khoa học và công nghệ, hệ thống đổi
mới sáng tạo quốc gia với doanh nghiệp là trung tâm; nâng cao trình độ, tiềm lực
công nghệ quốc gia nhằm bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát triển nhanh và bền vững
kinh tế - xã hội.
2. Đa
dạng hóa hình thức, phương thức chuyển giao công nghệ; khuyến khích chuyển giao
công nghệ từ nhiều nguồn khác nhau.
3.[8] Ưu tiên chuyển giao công nghệ cao, công nghệ chiến lược,
công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ sạch, công nghệ xanh, công nghệ
phục vụ dự án quan trọng quốc gia, dự án trọng điểm, công nghệ phục vụ quốc
phòng, an ninh từ nước ngoài vào Việt Nam và chuyển giao trong nước; bố trí nguồn
lực đầu tư cho hoạt động chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp, nông thôn;
chú trọng hoạt động chuyển giao công nghệ cho địa bàn có điều kiện kinh tế - xã
hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng miền
núi, hải đảo.
4. Hỗ
trợ ý tưởng công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo, ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh
nghiệp khoa học và công nghệ; hoạt động ứng dụng, đổi mới công nghệ, liên kết
giữa tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với cơ sở đào tạo, cơ
sở sản xuất; chú trọng thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển
công nghệ được tạo ra trong nước; phát triển tổ chức trung gian của thị trường
khoa học và công nghệ.
5.[9] Đẩy mạnh chuyển giao công nghệ cao, công nghệ chiến lược,
công nghệ tiên tiến từ nước ngoài vào Việt Nam; khuyến khích chuyển giao công
nghệ từ Việt Nam ra nước ngoài; thúc đẩy chuyển giao công nghệ trong nước; chú
trọng lan tỏa công nghệ cao, công nghệ chiến lược, công nghệ tiên tiến từ doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sang doanh nghiệp trong nước; thúc đẩy phong
trào đổi mới sáng tạo của tổ chức, cá nhân.
5a.[10]
Khuyến khích tổ chức, cá nhân nước ngoài thực
hiện hoạt động chuyển giao công nghệ cho tổ chức, cá nhân Việt Nam nhằm nâng
cao năng lực tiếp thu, làm chủ và đổi mới công nghệ trong nước; việc chuyển
giao công nghệ trong hoạt động đầu tư nước ngoài được thực hiện trên cơ sở tự
nguyện, thỏa thuận giữa các bên, bảo đảm tuân thủ pháp luật về sở hữu trí tuệ
và phù hợp với điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên.
Ưu
tiên áp dụng chính sách ưu đãi về đầu tư, thuế, đất đai, tín dụng và các biện
pháp khuyến khích khác đối với dự án đầu tư nước ngoài có nội dung chuyển giao
công nghệ, đào tạo nhân lực, phát triển năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo
hoặc ứng dụng công nghệ tại Việt Nam.
6.
Ngăn chặn, loại bỏ công nghệ lạc hậu, công nghệ ảnh hưởng xấu đến kinh tế - xã
hội, quốc phòng, an ninh, môi trường, sức khỏe con người.
Điều 4. Đối tượng công nghệ được chuyển giao
1.
Công nghệ được chuyển giao là một hoặc các đối tượng sau đây:
a) Bí
quyết kỹ thuật, bí quyết công nghệ;
b)[11]
Phương án, quy trình công nghệ; giải pháp,
thông số, thiết kế, sơ đồ kỹ thuật; mô hình, thuật toán, công thức, phần mềm,
thông tin, dữ liệu;
c) Giải
pháp hợp lý hóa sản xuất, đổi mới công nghệ;
d) Máy
móc, thiết bị đi kèm một trong các đối tượng quy định tại các điểm a, b và c
khoản này.
2. Trường
hợp đối tượng công nghệ quy định tại khoản 1 Điều này được bảo hộ quyền sở hữu
trí tuệ thì việc chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ được thực hiện theo quy định
của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
Điều 5. Hình thức chuyển giao công nghệ
1.
Chuyển giao công nghệ độc lập.
2. Phần
chuyển giao công nghệ trong trường hợp sau đây:
a) Dự
án đầu tư;
b) Góp
vốn bằng công nghệ;
c) Nhượng
quyền thương mại;
d)
Chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ;
đ)
Mua, bán máy móc, thiết bị quy định tại điểm d khoản 1 Điều 4 của
Luật này.
3.
Chuyển giao công nghệ bằng hình thức khác theo quy định của pháp luật.
4. Việc
chuyển giao công nghệ quy định tại khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều này phải được
lập thành hợp đồng; việc chuyển giao công nghệ tại các điểm a, c, d và đ khoản
2 và khoản 3 Điều này được thể hiện dưới hình thức hợp đồng hoặc điều, khoản,
phụ lục của hợp đồng hoặc của hồ sơ dự án đầu tư có các nội dung quy định tại Điều 23 của Luật này.
Điều 6. Phương thức chuyển giao công nghệ
1.[12]
Chuyển giao tài liệu về công nghệ, quy trình quản
lý chất lượng, tiêu chuẩn, thông số kỹ thuật liên quan.
2. Đào
tạo cho bên nhận công nghệ nắm vững và làm chủ công nghệ trong thời hạn thỏa
thuận.
3. Cử
chuyên gia tư vấn kỹ thuật cho bên nhận công nghệ đưa công nghệ vào ứng dụng, vận
hành để đạt được các chỉ tiêu về chất lượng sản phẩm, tiến độ theo thỏa thuận.
4.
Chuyển giao máy móc, thiết bị kèm theo công nghệ quy định tại điểm
d khoản 1 Điều 4 của Luật này kèm theo các phương thức quy định tại Điều
này.
5.
Phương thức chuyển giao khác do các bên thỏa thuận.
Điều 7. Quyền chuyển giao công nghệ[13]
1. Quyền
sở hữu và quyền sử dụng công nghệ được xác lập, công nhận và bảo vệ phù hợp với
quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi
mới sáng tạo, pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công, pháp luật về dân sự,
quy định khác của pháp luật có liên quan và điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2. Chủ
sở hữu công nghệ có quyền chuyển nhượng quyền sở hữu, chuyển giao quyền sử dụng
công nghệ.
3. Tổ
chức, cá nhân có quyền sử dụng công nghệ được chuyển giao quyền sử dụng công
nghệ đó cho tổ chức, cá nhân khác khi chủ sở hữu công nghệ đồng ý bằng văn bản
hoặc hình thức khác theo quy định pháp luật.
4. Phạm
vi chuyển giao quyền sử dụng công nghệ do các bên thỏa thuận bao gồm:
a) Quyền
sử dụng công nghệ độc quyền hoặc không độc quyền;
b) Quyền
chuyển giao tiếp quyền sử dụng công nghệ của bên nhận chuyển giao cho bên thứ
ba.
5. Bên
nhận chuyển giao công nghệ có quyền cải tiến, phát triển và khai thác công nghệ
trên cơ sở công nghệ được chuyển giao theo quy định của pháp luật về sở hữu trí
tuệ và quy định khác của pháp luật có liên quan.
6. Trường
hợp công nghệ thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng của nhiều tổ chức, cá nhân, việc
chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng công nghệ được thực hiện theo quy định
của Luật này, pháp luật về dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.
7.
Trong trường hợp công nghệ được tích hợp trong sản phẩm, máy móc, thiết bị hoặc
hệ thống thì quyền sở hữu, quyền sử dụng công nghệ không đương nhiên phát sinh
cùng với quyền sở hữu sản phẩm, máy móc, thiết bị hoặc hệ thống đó, trừ trường
hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác phù hợp với quy
định của pháp luật. Quyền sở hữu, quyền sử dụng công nghệ phải được xác định
riêng biệt với quyền sở hữu sản phẩm, máy móc, thiết bị hoặc hệ thống có tích hợp
công nghệ.
Điều 8. Góp vốn bằng công nghệ[14]
1. Tổ
chức, cá nhân là chủ sở hữu hợp pháp công nghệ được góp vốn bằng công nghệ vào
dự án đầu tư hoặc doanh nghiệp, được thương mại hóa công nghệ theo quy định của
pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, pháp luật về sở hữu trí
tuệ, pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công, pháp luật về doanh nghiệp và
quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Trường
hợp dự án đầu tư có sử dụng vốn nhà nước thì công nghệ đưa vào góp vốn phải được
thẩm định giá theo quy định của pháp luật về giá và xác nhận quyền sở hữu hoặc
quyền sử dụng hợp pháp trước khi thực hiện góp vốn.
3. Nhà
nước khuyến khích góp vốn bằng công nghệ tạo ra từ hoạt động khoa học, công nghệ
và đổi mới sáng tạo của tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp Việt Nam thông qua các
biện pháp hỗ trợ thẩm định giá, xác lập quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng công
nghệ hợp pháp.
Điều 9. Công nghệ khuyến khích chuyển giao
1.[15]
Công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển,
công nghệ chiến lược theo quy định của pháp luật về công nghệ cao.
2.
Công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ sạch, công nghệ xanh phù hợp với
điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam được khuyến khích chuyển giao từ nước
ngoài vào Việt Nam, chuyển giao trong nước khi đáp ứng một trong các yêu cầu
sau đây:[16]
a) Tạo
ra sản phẩm có chất lượng, có khả năng cạnh tranh cao hơn so với sản phẩm được
tạo ra từ công nghệ cùng loại hiện có;
b)[17]
Tạo ra sản phẩm, dịch vụ mới;
c) Tạo
ra dịch vụ, ngành, nghề sản xuất, chế tạo, chế biến sản phẩm mới; nuôi, trồng
giống mới đã qua kiểm nghiệm;
d) Tiết
kiệm tài nguyên, năng lượng, nguyên liệu so với công nghệ cùng loại hiện có ở
Việt Nam;
đ) Sản
xuất, sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo; lưu trữ năng lượng hiệu suất
cao;
e) Tạo
ra máy móc, thiết bị nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo; máy móc, thiết bị y
tế, dược phẩm phục vụ khám, điều trị, bảo vệ sức khỏe con người, nâng cao chất
lượng thể chất người Việt Nam;
g)
Phát hiện, xử lý, dự báo để phòng chống thiên tai, dịch bệnh; cứu hộ, cứu nạn;
bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm phát thải khí nhà kính;
h) Sản
xuất đồng bộ theo chuỗi có hiệu quả kinh tế - xã hội cao;
i) Tạo
ra sản phẩm sử dụng đồng thời cho quốc phòng, an ninh và dân dụng;
k)
Phát triển, hiện đại hóa nghề thủ công truyền thống.
3.
Công nghệ; máy móc, thiết bị kèm theo công nghệ quy định tại điểm
d khoản 1 Điều 4 của Luật này hiện có ở Việt Nam trừ công nghệ quy định tại
khoản 1 và khoản 2 Điều này, khoản 2 Điều 10 của Luật này;
công nghệ sử dụng nguyên liệu là sản phẩm, bán sản phẩm, vật tư sản xuất trong
nước được khuyến khích chuyển giao ra nước ngoài.
4.
Chính phủ ban hành Danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao.
Điều 10. Công nghệ hạn chế chuyển giao
1. Hạn
chế chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam và chuyển giao công nghệ
trong nước trong trường hợp sau đây:
a)
Công nghệ; máy móc, thiết bị kèm theo công nghệ không còn sử dụng phổ biến ở
các quốc gia công nghiệp phát triển;
b) Sử
dụng hóa chất độc hại hoặc phát sinh chất thải nguy hại đáp ứng tiêu chuẩn, quy
chuẩn kỹ thuật quốc gia;
c) Tạo
ra sản phẩm bằng phương pháp biến đổi gen;
d) Sử
dụng chất phóng xạ, tạo ra chất phóng xạ mà đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ
thuật quốc gia;
đ) Sử
dụng tài nguyên, khoáng sản hạn chế khai thác trong nước;
e)
Công nghệ nhân giống, nuôi, trồng giống mới chưa được kiểm nghiệm;
g) Tạo
ra sản phẩm có ảnh hưởng xấu đến phong tục, tập quán, truyền thống và đạo đức
xã hội.
2. Hạn
chế chuyển giao công nghệ từ Việt Nam ra nước ngoài trong trường hợp sau đây:
a) Tạo
ra các sản phẩm truyền thống, sản xuất theo bí quyết truyền thống hoặc sử dụng,
tạo ra chủng, loại giống trong nông nghiệp, khoáng chất, vật liệu quý hiếm đặc
trưng của Việt Nam;
b) Tạo
ra sản phẩm xuất khẩu vào thị trường cạnh tranh với mặt hàng xuất khẩu chủ lực
quốc gia của Việt Nam.
3.
Chính phủ ban hành Danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao.
Điều 11. Công nghệ cấm chuyển giao
1. Cấm
chuyển giao từ nước ngoài vào Việt Nam và chuyển giao trong nước công nghệ sau
đây:
a)
Không đáp ứng quy định của pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động, bảo
đảm sức khỏe con người, bảo vệ tài nguyên, môi trường và đa dạng sinh học;
b) Tạo
ra sản phẩm gây hậu quả xấu đến phát triển kinh tế - xã hội; ảnh hưởng xấu đến
quốc phòng, an ninh, trật tự và an toàn xã hội;
c)
Công nghệ; máy móc, thiết bị kèm theo công nghệ không còn sử dụng phổ biến và
chuyển giao ở các quốc gia đang phát triển và không đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn
kỹ thuật quốc gia;
d)
Công nghệ sử dụng hóa chất độc hại hoặc phát sinh chất thải không đáp ứng tiêu
chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường;
đ) Sử
dụng chất phóng xạ, tạo ra chất phóng xạ không đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ
thuật quốc gia.
2. Cấm
chuyển giao từ Việt Nam ra nước ngoài công nghệ thuộc Danh mục bí mật nhà nước,
trừ trường hợp luật khác cho phép chuyển giao.
3.
Chính phủ ban hành Danh mục công nghệ cấm chuyển giao.
Điều 12. Những hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động chuyển
giao công nghệ
1. Lợi
dụng chuyển giao công nghệ làm ảnh hưởng xấu đến quốc phòng, an ninh, lợi ích
quốc gia, sức khỏe con người, môi trường, đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc;
xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; hủy hoại tài nguyên
thiên nhiên, đa dạng sinh học.
2.
Chuyển giao công nghệ cấm chuyển giao; chuyển giao trái phép công nghệ hạn chế
chuyển giao.
3. Vi
phạm quy định về quyền chuyển giao công nghệ.
4. Lừa
dối, giả tạo trong việc lập, thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ, hợp đồng
dịch vụ chuyển giao công nghệ, nội dung công nghệ trong hợp đồng, hồ sơ dự án đầu
tư.
5. Cản
trở, từ chối cung cấp thông tin về hoạt động chuyển giao công nghệ theo yêu cầu
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
6. Tiết
lộ bí mật công nghệ trái quy định của pháp luật, cản trở hoạt động chuyển giao
công nghệ.
7. Sử
dụng công nghệ không đúng với công nghệ đã được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm
quyền phê duyệt, cấp phép.
Chương II
THẨM ĐỊNH CÔNG NGHỆ[18]
Điều 13. Thẩm định hoặc có ý kiến về công nghệ dự án đầu tư[19]
1.
Trong giai đoạn xem xét quyết định chủ trương đầu tư, việc thẩm định nội dung về
công nghệ dự án đầu tư sử dụng vốn đầu tư công thực hiện theo quy định của pháp
luật về đầu tư công, dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư thực hiện
theo quy định của pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư.
2.
Trong giai đoạn chấp thuận chủ trương đầu tư hoặc cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu
tư đối với dự án không thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của
Luật Đầu tư, trừ dự án đầu tư theo Luật Đầu tư thuộc trường hợp quy định tại điểm
a và điểm b khoản 3 Điều này, dự án đầu tư sau đây phải được thẩm định hoặc có
ý kiến về công nghệ theo quy định của Luật này:
a) Dự
án đầu tư sử dụng công nghệ hạn chế chuyển giao;
b) Dự
án đầu tư có nguy cơ tác động xấu đến môi trường theo quy định của pháp luật về
bảo vệ môi trường có sử dụng công nghệ.
3.
Trong giai đoạn xem xét quyết định đầu tư hoặc phê duyệt dự án, việc thẩm định
hoặc có ý kiến về công nghệ được thực hiện như sau:
a) Dự
án đầu tư xây dựng sử dụng công nghệ hạn chế chuyển giao hoặc dự án đầu tư xây
dựng có nguy cơ tác động xấu đến môi trường theo quy định của pháp luật về bảo
vệ môi trường có sử dụng công nghệ phải được thẩm định hoặc có ý kiến về công
nghệ theo quy định của Luật này;
b) Dự
án đầu tư xây dựng có sử dụng công nghệ không thuộc trường hợp quy định tại điểm
a khoản này được thẩm định nội dung về công nghệ theo quy định của pháp luật về
xây dựng;
c) Dự
án đầu tư sử dụng vốn đầu tư công mà không có cấu phần xây dựng, dự án đầu tư
theo phương thức đối tác công tư mà có hoặc không có cấu phần xây dựng, việc thẩm
định nội dung về công nghệ được thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư
công, pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư.
4. Trường
hợp triển khai thực hiện dự án đầu tư đã được phê duyệt, nếu điều chỉnh chấp
thuận chủ trương đầu tư, cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, quyết định đầu tư
hoặc phê duyệt dự án đầu tư mà có điều chỉnh, thay đổi nội dung công nghệ đã được
cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thẩm định hoặc có ý kiến về công nghệ
thì dự án phải tiến hành thủ tục thẩm định hoặc có ý kiến về công nghệ theo quy
định tại khoản 2, điểm a và điểm b khoản 3 Điều này.
5.
Chính phủ quy định chi tiết nội dung giải trình về sử dụng công nghệ trong hồ
sơ dự án đầu tư; thẩm quyền, hồ sơ, thủ tục, nội dung, kinh phí thẩm định hoặc
có ý kiến về công nghệ các dự án đầu tư quy định tại khoản 2, điểm a khoản 3 và
khoản 4 Điều này.
Điều 14.[20] (được bãi bỏ)
Điều 15.[21] (được bãi bỏ)
Điều 16.[22] (được bãi bỏ)
Điều 17.[23] (được bãi bỏ)
Điều 18.[24] (được bãi bỏ)
Điều 19.[25] (được bãi bỏ)
Điều 20. Thực hiện thẩm định hoặc lấy ý kiến về công nghệ dự
án đầu tư
1. Cơ
quan có thẩm quyền thẩm định hoặc có ý kiến về công nghệ dự án đầu tư thực hiện
thẩm định hoặc có ý kiến về công nghệ dự án đầu tư; trường hợp cần tham vấn
chuyên môn thì thực hiện thông qua các hình thức sau đây:
a)[26]
Hội đồng đánh giá, thẩm định, giám định công
nghệ;
b) Lấy
ý kiến tổ chức, chuyên gia tư vấn độc lập.
2. Hội
đồng tư vấn do cơ quan chủ trì có ý kiến về công nghệ quyết định thành lập. Hội
đồng làm việc theo nguyên tắc dân chủ, khách quan, trung thực, tuân thủ pháp luật
và đạo đức nghề nghiệp. Hội đồng tư vấn chịu trách nhiệm về kết luận và kiến
nghị trước cơ quan thành lập hội đồng. Kết luận và kiến nghị của hội đồng phải
được lập thành văn bản.
3.[27]
Thành viên hội đồng tư vấn, tổ chức tư vấn độc lập,
chuyên gia tư vấn độc lập chịu trách nhiệm trước pháp luật về ý kiến của mình
và giữ bí mật thông tin liên quan đến dự án đầu tư.
4.
Kinh phí tổ chức lấy ý kiến về công nghệ trong dự án đầu tư được thực hiện như
sau:
a)[28]
Trong giai đoạn quyết định chủ trương đầu tư, cấp
Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư được bảo đảm bằng ngân sách nhà nước;
b)
Trong giai đoạn quyết định đầu tư do chủ đầu tư chịu trách nhiệm và được tính
trong tổng mức đầu tư.
Điều 21. Kiểm tra, giám sát công nghệ trong dự án đầu tư và
chuyển giao công nghệ
1.[29]
Việc ứng dụng công nghệ trong dự án đầu tư theo
quy định tại Điều 13 của Luật này phải được kiểm tra, giám
sát trong quá trình triển khai, thực hiện.
2.[30]
Việc kiểm tra, giám sát công nghệ trong dự án đầu
tư theo quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện theo quy định của Luật
này, pháp luật về đầu tư và quy định khác của pháp luật có liên quan.
3. Cơ
quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ có trách nhiệm chủ trì, phối hợp
với các cơ quan có liên quan kiểm tra hoạt động chuyển giao công nghệ trong các
trường hợp sau đây:
a)
Theo kế hoạch;
b) Khi
có dấu hiệu vi phạm về ứng dụng, chuyển giao công nghệ trong quá trình triển
khai, thực hiện dự án đầu tư và hoạt động chuyển giao công nghệ;
c)[31]
Thực hiện kiểm tra đối với tổ chức, doanh nghiệp,
cá nhân được hưởng ưu đãi, hỗ trợ liên quan đến hoạt động chuyển giao công nghệ.
4.[32]
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 21a. Thẩm định, chuyển giao công nghệ trong trường hợp
đặc thù[33]
1. Thẩm
định công nghệ trong trường hợp tổ chức, cá nhân có nhu cầu thẩm định công nghệ
do mình nghiên cứu tạo ra hoặc công nghệ do mình đầu tư nhằm ứng dụng trong sản
xuất, kinh doanh.
2.
Trong gói thầu được tổ chức đấu thầu quốc tế để thực hiện dự án quan trọng quốc
gia, hồ sơ mời thầu phải có điều kiện cam kết của tổng thầu, nhà thầu nước
ngoài về việc chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực cho tổ chức, doanh
nghiệp Việt Nam. Việc chuyển giao công nghệ thực hiện theo quy định của Luật
này.
3.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Chương III
HỢP ĐỒNG CHUYỂN GIAO
CÔNG NGHỆ
Điều 22. Giao kết và thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ
1. Việc
giao kết hợp đồng chuyển giao công nghệ phải được lập thành văn bản hoặc hình
thức khác được coi là giao dịch bằng văn bản theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Văn bản hợp đồng phải được các bên ký, đóng dấu (nếu có); ký, đóng dấu giáp lai
(nếu có) vào các trang của hợp đồng, phụ lục hợp đồng.
2.
Ngôn ngữ trong hợp đồng chuyển giao công nghệ do các bên thỏa thuận.
3. Hợp
đồng chuyển giao công nghệ được giao kết và thực hiện theo quy định của Luật
này, Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Cạnh tranh và
quy định khác của pháp luật có liên quan.
Điều 23. Nội dung hợp đồng chuyển giao công nghệ
1. Tên
công nghệ được chuyển giao.
2. Đối
tượng công nghệ được chuyển giao, sản phẩm do công nghệ tạo ra, tiêu chuẩn, chất
lượng sản phẩm.
3.
Chuyển nhượng quyền sở hữu, chuyển giao quyền sử dụng công nghệ.
4.
Phương thức chuyển giao công nghệ.
5. Quyền
và nghĩa vụ của các bên.
6.
Giá, phương thức thanh toán.
7. Thời
hạn, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng.
8.
Khái niệm, thuật ngữ sử dụng trong hợp đồng (nếu có).
9. Kế
hoạch, tiến độ chuyển giao công nghệ, địa điểm thực hiện chuyển giao công nghệ.
10.
Trách nhiệm bảo hành công nghệ được chuyển giao.
11. Phạt
vi phạm hợp đồng.
12.
Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.
13. Cơ
quan giải quyết tranh chấp.
14. Nội
dung khác do các bên thỏa thuận.
Điều 24. Thời hạn thực hiện và thời điểm có hiệu lực của hợp
đồng chuyển giao công nghệ
1. Thời
hạn thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ do các bên thỏa thuận.
2. Thời
điểm có hiệu lực của hợp đồng chuyển giao công nghệ do các bên thỏa thuận; trường
hợp các bên không thỏa thuận về thời điểm có hiệu lực của hợp đồng thì thời điểm
có hiệu lực của hợp đồng là thời điểm giao kết, trừ trường hợp quy định tại khoản
3 Điều này.
3. Hợp
đồng chuyển giao công nghệ hạn chế chuyển giao có hiệu lực từ thời điểm được cấp
Giấy phép chuyển giao công nghệ.
Hợp đồng
chuyển giao công nghệ thuộc trường hợp đăng ký theo quy định tại khoản
1 và khoản 2 Điều 31 của Luật này có hiệu lực từ thời điểm được cấp Giấy chứng
nhận đăng ký chuyển giao công nghệ; trường hợp gia hạn, sửa đổi, bổ sung thì hợp
đồng gia hạn, sửa đổi, bổ sung có hiệu lực từ thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm
quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký gia hạn, sửa đổi, bổ sung chuyển giao công
nghệ.
Điều 25. Quyền và nghĩa vụ của bên giao công nghệ
1. Bên
giao công nghệ có quyền sau đây:
a) Yêu
cầu bên nhận công nghệ thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng;
b) Được
thanh toán đầy đủ và hưởng quyền, lợi ích khác theo thỏa thuận trong hợp đồng;
c) Được
thuê tổ chức, cá nhân thực hiện dịch vụ chuyển giao công nghệ theo quy định của
pháp luật;
d) Yêu
cầu cơ quan có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp liên quan đến công nghệ
được chuyển giao;
đ) Yêu
cầu bên nhận công nghệ áp dụng biện pháp khắc phục, bồi thường thiệt hại trong
trường hợp bên nhận công nghệ không thực hiện đúng nghĩa vụ quy định trong hợp
đồng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;
e) Các
quyền khác theo quy định của pháp luật.
2. Bên
giao công nghệ có nghĩa vụ sau đây:
a) Bảo
đảm quyền chuyển giao công nghệ là hợp pháp và không bị hạn chế bởi bên thứ ba,
trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;
b) Thực
hiện đúng cam kết trong hợp đồng; bồi thường thiệt hại cho bên nhận công nghệ,
bên thứ ba do vi phạm hợp đồng;
c) Giữ
bí mật thông tin về công nghệ và thông tin khác trong quá trình đàm phán, ký kết,
thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ theo thỏa thuận;
d)
Thông báo cho bên nhận công nghệ và thực hiện các biện pháp thích hợp khi phát
hiện có khó khăn về kỹ thuật của công nghệ được chuyển giao làm cho kết quả
chuyển giao công nghệ có khả năng không đúng cam kết trong hợp đồng;
đ) Đề
nghị cấp Giấy phép chuyển giao công nghệ trong trường hợp chuyển giao công nghệ
hạn chế chuyển giao từ Việt Nam ra nước ngoài, trừ trường hợp các bên có thỏa
thuận khác;
e) Thực
hiện nghĩa vụ về tài chính, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Điều 26. Quyền và nghĩa vụ của bên nhận công nghệ
1. Bên
nhận công nghệ có quyền sau đây:
a) Yêu
cầu bên giao công nghệ thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng;
b) Yêu
cầu cơ quan có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp liên quan đến công nghệ
được chuyển giao;
c) Được
thuê tổ chức, cá nhân thực hiện dịch vụ chuyển giao công nghệ theo quy định của
pháp luật;
d) Yêu
cầu bên giao công nghệ áp dụng biện pháp khắc phục, bồi thường thiệt hại trong
trường hợp bên giao công nghệ không thực hiện đúng nghĩa vụ quy định trong hợp
đồng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;
đ) Các
quyền khác theo quy định của pháp luật.
2. Bên
nhận công nghệ có nghĩa vụ sau đây:
a) Thực
hiện đúng cam kết trong hợp đồng; bồi thường thiệt hại cho bên giao công nghệ,
bên thứ ba do vi phạm hợp đồng;
b) Giữ
bí mật thông tin về công nghệ và thông tin khác trong quá trình đàm phán, ký kết,
thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ theo thỏa thuận;
c) Đề
nghị cấp Giấy phép chuyển giao công nghệ trong trường hợp chuyển giao công nghệ
hạn chế chuyển giao từ nước ngoài vào Việt Nam, trừ trường hợp các bên có thỏa
thuận khác;
d) Thực
hiện nghĩa vụ về tài chính, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Điều 27. Giá, phương thức thanh toán chuyển giao công nghệ
1. Giá
công nghệ chuyển giao do các bên thỏa thuận.
2. Việc
thanh toán được thực hiện bằng phương thức sau đây:
a) Trả
một lần hoặc nhiều lần bằng tiền hoặc hàng hóa;
b)
Chuyển giá trị công nghệ thành vốn góp vào dự án đầu tư hoặc vào vốn của doanh
nghiệp theo quy định của pháp luật;
c) Trả
theo phần trăm (%) giá bán tịnh;
d) Trả
theo phần trăm (%) doanh thu thuần;
đ) Trả
theo phần trăm (%) lợi nhuận trước thuế của bên nhận;
e)
Phương thức thanh toán khác do các bên thỏa thuận.
3. Giá
công nghệ chuyển giao phải được kiểm toán và thực hiện theo quy định của pháp
luật về thuế và giá trong trường hợp sau đây:
a) Giữa
các bên mà một hoặc nhiều bên có vốn nhà nước;
b) Giữa
các bên có quan hệ theo mô hình công ty mẹ - công ty con;
c) Giữa
các bên có quan hệ liên kết theo quy định của pháp luật về thuế.
4.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 28. Chuyển giao công nghệ hạn chế chuyển giao
1. Tổ
chức, cá nhân chuyển giao công nghệ hạn chế chuyển giao quy định tại Điều 10 của Luật này phải thực hiện thủ tục đề nghị cấp Giấy
phép chuyển giao công nghệ.
2. Việc
cấp Giấy phép chuyển giao công nghệ được thực hiện theo trình tự sau đây:
a) Chấp
thuận chuyển giao công nghệ.
Đối với
chuyển giao công nghệ của dự án đầu tư đã được thẩm định, lấy ý kiến công nghệ
trong giai đoạn quyết định chủ trương đầu tư hoặc quyết định đầu tư thì không
phải chấp thuận chuyển giao công nghệ;
b) Cấp
Giấy phép chuyển giao công nghệ.
3. Hằng
năm, bên nhận công nghệ trong trường hợp chuyển giao công nghệ từ nước ngoài
vào Việt Nam, chuyển giao công nghệ trong nước; bên giao công nghệ trong trường
hợp chuyển giao công nghệ từ Việt Nam ra nước ngoài phải thực hiện báo cáo việc
thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ theo quy định của Bộ Khoa học và Công
nghệ.
Điều 29. Hồ sơ, trình tự, thủ tục chấp thuận chuyển giao
công nghệ
1. Hồ
sơ đề nghị chấp thuận chuyển giao công nghệ bao gồm:
a) Văn
bản đề nghị chấp thuận chuyển giao công nghệ;
b) Văn
bản về tư cách pháp lý của bên đề nghị;
c) Tài
liệu giải trình về công nghệ;
d) Tài
liệu giải trình về điều kiện sử dụng công nghệ theo quy định của pháp luật;
đ) Tài
liệu giải trình về việc phù hợp với quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy
chuẩn kỹ thuật.
2.[34]
Tổ chức, cá nhân chuyển giao công nghệ hạn chế
chuyển giao gửi hồ sơ đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi nhận chuyển giao công
nghệ để đề nghị chấp thuận chuyển giao công nghệ.
3.[35]
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận
được hồ sơ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xem xét hồ sơ; trường hợp hồ
sơ không hợp lệ thì có văn bản đề nghị tổ chức, cá nhân bổ sung hồ sơ theo quy
định.
4.[36]
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ
sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra văn bản chấp thuận chuyển giao công nghệ;
trường hợp không chấp thuận thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
5. Bộ
trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành mẫu văn bản đề nghị chấp thuận chuyển
giao công nghệ, mẫu tài liệu giải trình về công nghệ.
Điều 30. Hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp Giấy phép chuyển giao
công nghệ
1. Hồ
sơ đề nghị cấp Giấy phép chuyển giao công nghệ bao gồm:
a) Văn
bản đề nghị cấp Giấy phép chuyển giao công nghệ, trong đó ghi rõ cam kết trách
nhiệm của các bên bảo đảm nội dung hợp đồng tuân thủ các quy định của pháp luật
có liên quan;
b) Văn
bản về tư cách pháp lý của các bên trong hợp đồng chuyển giao công nghệ;
c) Bản
gốc bằng tiếng Việt hoặc bản sao có chứng thực hợp đồng chuyển giao công nghệ;
trường hợp không có hợp đồng bằng tiếng Việt thì phải có bản dịch sang tiếng Việt
và được công chứng hoặc chứng thực;
d)
Danh mục tài liệu công nghệ, máy móc, thiết bị (nếu có) kèm theo hợp đồng chuyển
giao công nghệ;
đ) Bản
sao có chứng thực văn bằng bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ (nếu có);
e)
Tiêu chuẩn, chất lượng sản phẩm, dịch vụ do ứng dụng công nghệ chuyển giao;
g) Giải
trình về điều kiện sử dụng công nghệ;
h) Văn
bản thẩm định giá công nghệ được chuyển giao trong trường hợp bên nhận chuyển
giao công nghệ sử dụng vốn nhà nước.
2.[37]
Sau khi nhận được văn bản chấp thuận của Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh , tổ chức, cá nhân chuyển giao công nghệ tiến hành ký
kết hợp đồng chuyển giao công nghệ.
3.[38]
Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày ký kết hợp đồng
chuyển giao công nghệ, bên có nghĩa vụ thực hiện việc đề nghị cấp Giấy phép
chuyển giao công nghệ gửi 01 bộ hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép chuyển giao công
nghệ đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
4.[39]
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận
được hồ sơ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xem xét hồ sơ; trường hợp hồ
sơ không hợp lệ thì có văn bản đề nghị tổ chức, cá nhân bổ sung hồ sơ theo quy
định.
Trong
thời hạn 60 ngày kể từ ngày có văn bản yêu cầu, các bên bổ sung hồ sơ theo yêu
cầu hoặc có văn bản đề nghị gia hạn thời gian thực hiện. Thời gian gia hạn
không quá 60 ngày, hết thời hạn này, nếu các bên không bổ sung hồ sơ theo yêu cầu
thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra thông báo từ chối cấp Giấy phép chuyển giao
công nghệ và trả lại hồ sơ nếu có yêu cầu.
5.[40]
Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận
được hồ sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm thẩm định và cấp Giấy
phép chuyển giao công nghệ; trường hợp từ chối cấp Giấy phép thì phải trả lời bằng
văn bản và nêu rõ lý do.
6. Trường
hợp cần thay đổi nội dung ghi trong Giấy phép chuyển giao công nghệ thì phải đề
nghị cấp Giấy phép mới.
7. Bộ
trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành mẫu văn bản đề nghị cấp Giấy phép chuyển
giao công nghệ, mẫu Giấy phép chuyển giao công nghệ.
Điều 31. Đăng ký chuyển giao công nghệ và cung cấp thông tin
chuyển giao công nghệ[41]
1a.[42]
Khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động
chuyển giao công nghệ cung cấp đầy đủ, chính xác và kịp thời thông tin liên
quan đến hoạt động chuyển giao công nghệ trên Nền tảng số quản lý khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia.
1. Hợp
đồng chuyển giao công nghệ và phần chuyển giao công nghệ quy định tại khoản 2 Điều 5 của Luật này thuộc một trong những trường hợp
sau đây phải đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ, trừ
công nghệ hạn chế chuyển giao đã được cấp Giấy phép chuyển giao công nghệ:
a)
Chuyển giao công nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam;
b)
Chuyển giao công nghệ từ Việt Nam ra nước ngoài;
c)[43]
Chuyển giao công nghệ trong nước có sử dụng vốn
nhà nước hoặc ngân sách nhà nước.
2.[44]
Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đăng ký
hợp đồng chuyển giao công nghệ không thuộc trường hợp phải đăng ký quy định tại
khoản 1 Điều này.
Giấy
chứng nhận đăng ký chuyển giao công nghệ là cơ sở để xem xét ưu tiên khi tuyển
chọn, giao trực tiếp nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, áp dụng
các chính sách ưu đãi.
3. Hồ
sơ đăng ký chuyển giao công nghệ bao gồm:
a) Văn
bản đề nghị đăng ký chuyển giao công nghệ, trong đó ghi rõ cam kết trách nhiệm
của các bên bảo đảm nội dung hợp đồng tuân thủ các quy định của pháp luật có
liên quan;
b) Bản
gốc hoặc bản sao có chứng thực văn bản giao kết chuyển giao công nghệ thể hiện
nội dung theo quy định tại Điều 23 của Luật này; trường hợp
không có văn bản giao kết bằng tiếng Việt thì phải có bản dịch sang tiếng Việt
và được công chứng hoặc chứng thực.
4.
Trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày ký văn bản giao kết chuyển giao công nghệ, bên
có nghĩa vụ thực hiện việc đăng ký chuyển giao công nghệ gửi 01 bộ hồ sơ đến cơ
quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ đề nghị cấp
Giấy chứng nhận đăng ký chuyển giao công nghệ.
5.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đầy đủ, cơ quan thực
hiện chức năng quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ có thẩm quyền xem xét,
cấp Giấy chứng nhận đăng ký chuyển giao công nghệ; trường hợp từ chối phải trả
lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
6. Cơ
quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ từ chối cấp
Giấy chứng nhận đăng ký chuyển giao công nghệ trong trường hợp sau đây:
a) Hợp
đồng chuyển giao công nghệ hạn chế chuyển giao;
b) Hợp
đồng không có đối tượng công nghệ, nội dung chuyển giao công nghệ;
c) Nội
dung hợp đồng trái với quy định của Luật này.
7.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 32. Hiệu lực Giấy phép chuyển giao công nghệ, Giấy chứng
nhận đăng ký chuyển giao công nghệ
1. Giấy
phép chuyển giao công nghệ, Giấy chứng nhận đăng ký chuyển giao công nghệ có hiệu
lực kể từ ngày cấp.
2. Cơ
quan cấp Giấy phép chuyển giao công nghệ, Giấy chứng nhận đăng ký chuyển giao
công nghệ có thẩm quyền hủy bỏ hiệu lực Giấy phép chuyển giao công nghệ, Giấy
chứng nhận đăng ký chuyển giao công nghệ trong trường hợp sau đây:
a) Vi
phạm nội dung trong Giấy phép chuyển giao công nghệ hoặc Giấy chứng nhận đăng
ký chuyển giao công nghệ;
b) Giả
mạo hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép chuyển giao công nghệ hoặc đăng ký chuyển giao
công nghệ;
c)
Theo đề nghị của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp vi phạm pháp
luật có liên quan.
3. Trường
hợp tổ chức, cá nhân đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký chuyển giao công nghệ
và được hưởng hỗ trợ, ưu đãi theo quy định của pháp luật mà Giấy chứng nhận
đăng ký chuyển giao công nghệ bị hủy bỏ hiệu lực thì phải hoàn trả Nhà nước các
khoản hỗ trợ, ưu đãi đã được nhận theo quy định của Chính phủ.
Điều 33. Gia hạn, sửa đổi, bổ sung nội dung chuyển giao công
nghệ
1. Các
bên có thỏa thuận gia hạn, sửa đổi, bổ sung nội dung chuyển giao công nghệ đã
được cấp Giấy chứng nhận đăng ký thì phải gửi hồ sơ quy định tại khoản 2 Điều
này đến cơ quan đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký chuyển giao công nghệ để được cấp
Giấy chứng nhận đăng ký gia hạn, sửa đổi, bổ sung nội dung chuyển giao công nghệ.
2. Hồ
sơ đăng ký gia hạn, sửa đổi, bổ sung nội dung chuyển giao công nghệ bao gồm:
a) Văn
bản đề nghị đăng ký gia hạn, sửa đổi, bổ sung nội dung chuyển giao công nghệ;
b) Bản
gốc bằng tiếng Việt hoặc bản sao có chứng thực văn bản gia hạn, sửa đổi, bổ
sung; trường hợp không có văn bản bằng tiếng Việt thì phải có bản dịch sang tiếng
Việt và được công chứng hoặc chứng thực.
3.
Trình tự, thủ tục gia hạn, sửa đổi, bổ sung nội dung chuyển giao công nghệ được
thực hiện theo quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều 31 của Luật
này.
4. Bộ
trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành mẫu văn bản đề nghị gia hạn, sửa đổi,
bổ sung nội dung chuyển giao công nghệ, mẫu Giấy chứng nhận đăng ký gia hạn, sửa
đổi, bổ sung nội dung chuyển giao công nghệ.
Điều 34. Nghĩa vụ bảo mật trong việc cấp Giấy phép chuyển
giao công nghệ, Giấy chứng nhận đăng ký chuyển giao công nghệ
Cơ
quan, cá nhân có trách nhiệm trong việc cấp Giấy phép chuyển giao công nghệ, Giấy
chứng nhận đăng ký chuyển giao công nghệ có trách nhiệm giữ bí mật thông tin hồ
sơ.
Chương IV
BIỆN PHÁP KHUYẾN KHÍCH
CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ, PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Mục 1. THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG,
ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ
Điều 35. Hỗ trợ, khuyến khích tổ chức, cá nhân ứng dụng, đổi
mới công nghệ[45]
1. Nhà
nước hỗ trợ doanh nghiệp có dự án thuộc địa bàn, lĩnh vực ưu đãi đầu tư thực hiện
hoạt động chuyển giao công nghệ với tổ chức khoa học và công nghệ.
2. Nhà
nước khuyến khích các hình thức hợp tác giữa doanh nghiệp với cơ quan, tổ chức,
cá nhân để triển khai các dự án đầu tư đổi mới công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo,
phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới
sáng tạo.
3. Tổ
chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp theo chức
năng nhiệm vụ của mình tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao công nghệ
cho tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân.
4. Nhà
nước hỗ trợ tổ chức, doanh nghiệp thực hiện hoạt động chuyển giao công nghệ
thông qua Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia, quỹ phát triển khoa học, công nghệ và
đổi mới sáng tạo của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan
khác ở trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các hình thức hỗ trợ khác theo
quy định của pháp luật.
5. Nhà
nước dành ngân sách để phát triển mạng lưới các tổ chức khoa học và công nghệ
có chức năng ứng dụng, chuyển giao, đổi mới công nghệ, đổi mới sáng tạo, các
trung tâm đổi mới sáng tạo, các trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo, các tổ
chức trung gian của thị trường khoa học và công nghệ thực hiện hoạt động hỗ trợ
doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, cá nhân kinh doanh
áp dụng các quy trình, kỹ thuật tiên tiến, công nghệ sẵn có, phương pháp quản
lý đã được kiểm chứng về hiệu quả để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, dịch
vụ, sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
6.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 35a. Nhà nước mua và phổ biến công nghệ[46]
1. Nhà
nước mua quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng công nghệ để phổ biến nhằm các mục
đích sau đây:
a) Phục
vụ quốc phòng, an ninh;
b) Phục
vụ hoạt động giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh.
2. Việc
mua công nghệ phải bảo đảm các yêu cầu sau đây: công nghệ có giá trị sử dụng,
phù hợp năng lực triển khai, quyền sở hữu trí tuệ rõ ràng và sử dụng ngân sách
minh bạch, hiệu quả.
3. Nhà
nước phổ biến công nghệ bằng một hoặc nhiều hình thức: miễn phí, ưu đãi hoặc cấp
quyền sử dụng có điều kiện; thúc đẩy hợp tác cùng phát triển công nghệ để nâng
cao năng lực của tổ chức, doanh nghiệp Việt Nam.
4.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 36.[47] (được bãi bỏ)
Điều 37.[48] (được bãi bỏ)
Điều 38. Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia[49]
Quỹ đổi
mới công nghệ quốc gia thực hiện theo quy định của Luật Khoa học, công nghệ và
đổi mới sáng tạo.
Điều 39. Chính sách thuế để thúc đẩy hoạt động chuyển giao, ứng
dụng, đổi mới công nghệ
Những
đối tượng sau đây được hưởng ưu đãi theo quy định của pháp luật về thuế:
1. Máy
móc, thiết bị, phụ tùng, vật tư, vật mẫu, công nghệ trong nước chưa tạo ra được
nhập khẩu để sử dụng trực tiếp vào hoạt động nghiên cứu và phát triển, giải mã,
đổi mới công nghệ, chuyển giao công nghệ; tài liệu, sách báo khoa học phục vụ
hoạt động khởi nghiệp sáng tạo, phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ;
2. Cơ
sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ, tổ chức, cá
nhân đầu tư và hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo; tổ chức trung gian của thị trường
khoa học và công nghệ có thu nhập từ hoạt động cung ứng dịch vụ chuyển giao
công nghệ;
3.[50]
Tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao công nghệ từ nước
ngoài vào Việt Nam; tổ chức, cá nhân chuyển giao công nghệ từ Việt Nam ra nước
ngoài; tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển
công nghệ, chuyển giao công nghệ, giải mã công nghệ, đổi mới sáng tạo tại doanh
nghiệp.
4. Tổ chức,
cá nhân chuyển giao công nghệ khuyến khích chuyển giao.
Điều 40.[51] (được bãi bỏ)
Mục 2. PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Điều 41. Biện pháp phát triển thị trường khoa học và công
nghệ
1. Nhà
nước có chính sách và biện pháp hỗ trợ, đầu tư từ ngân sách nhà nước dành cho
khoa học và công nghệ và huy động các nguồn vốn hợp pháp khác để phát triển thị
trường khoa học và công nghệ thông qua các hoạt động phát triển nguồn cung, nguồn
cầu công nghệ và tổ chức trung gian của thị trường khoa học và công nghệ quy định
tại Điều 42 và Điều 43 của Luật này.
2.[52]
Căn cứ vào nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước trong từng thời kỳ, Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với
các Bộ, cơ quan liên quan xây dựng, ban hành chương trình để phát triển thị trường
khoa học và công nghệ quốc gia theo quy định của pháp luật về khoa học, công
nghệ và đổi mới sáng tạo.
Điều 42. Phát triển nguồn cung, nguồn cầu của thị trường
khoa học và công nghệ
Phát
triển nguồn cung, nguồn cầu của thị trường khoa học và công nghệ thông qua các
hoạt động sau đây:
1.[53]
Nhập khẩu, giải mã, làm chủ công nghệ cao, công
nghệ chiến lược, công nghệ tiên tiến, công nghệ sạch, công nghệ xanh phục vụ mục
tiêu chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia,
ngành, vùng, địa phương;
2.
Mua, nghiên cứu hoàn thiện sáng chế, sáng kiến đã được áp dụng hiệu quả ở quy
mô nhỏ để chuyển giao cho doanh nghiệp áp dụng, phổ biến cho công chúng;
3.[54]
Thúc đẩy việc khai thác, sử dụng kết quả nghiên
cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo, ý tưởng công nghệ phục vụ
doanh nghiệp, cá nhân, nhóm cá nhân khởi nghiệp sáng tạo, tổ chức hỗ trợ đổi mới
sáng tạo, hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo, cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh
nghiệp khoa học và công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao;
4.[55]
Đánh giá, thẩm định công nghệ mới, sản phẩm mới
tạo ra tại Việt Nam từ kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi
mới sáng tạo để khuyến khích sử dụng trong dự án đầu tư có sử dụng ngân sách
nhà nước và hưởng ưu đãi theo quy định của pháp luật về đấu thầu;
5.[56]
Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực hấp thụ,
làm chủ công nghệ của doanh nghiệp; thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học,
phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo; liên kết, hợp tác trao đổi nhân lực
khoa học và công nghệ giữa cơ sở nghiên cứu, cơ sở đào tạo với cơ sở sản xuất,
kinh doanh;
6.
Khai thác, cung cấp thông tin công nghệ cho doanh nghiệp, tổ chức hiệp hội của
doanh nghiệp, tổ chức hiệp hội ngành nghề, hợp tác xã, tổ chức dịch vụ sở hữu
trí tuệ, xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại;
7.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 43. Phát triển tổ chức trung gian của thị trường
khoa học và công nghệ
1. Tổ
chức trung gian của thị trường khoa học và công nghệ là tổ chức cung cấp dịch vụ
môi giới, tư vấn, xúc tiến chuyển giao công nghệ, đánh giá, thẩm định giá, giám
định công nghệ, dịch vụ kết nối, hỗ trợ bên cung, bên cầu và các bên khác trong
giao dịch liên quan đến công nghệ.
2. Nhà
nước thực hiện biện pháp sau đây để phát triển tổ chức trung gian của thị trường
khoa học và công nghệ:
a)[57]
Xây dựng hạ tầng kỹ thuật và hỗ trợ hoạt động của
sàn giao dịch khoa học và công nghệ, trung tâm đổi mới sáng tạo, trung tâm hỗ
trợ khởi nghiệp sáng tạo và các tổ chức trung gian của thị trường khoa học và
công nghệ;
b) Hỗ
trợ đào tạo nguồn nhân lực cho tổ chức trung gian;
c) Hỗ
trợ, nâng cao năng lực khai thác thông tin về công nghệ, sở hữu trí tuệ, kết quả
nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong nước và ngoài nước cho tổ chức,
cá nhân thực hiện dịch vụ tư vấn, môi giới, xúc tiến chuyển giao công nghệ,
đánh giá, thẩm định giá và giám định công nghệ;
d)[58]
Hợp tác công tư, huy động nguồn lực xã hội
trong đầu tư và vận hành các tổ chức trung gian.
3.
Khuyến khích tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động môi giới, tư vấn và xúc tiến
chuyển giao công nghệ trong các cơ sở nghiên cứu, cơ sở đào tạo; hình thành mạng
lưới liên kết hoạt động tư vấn, chuyển giao công nghệ trong và ngoài nước.
4. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 44. Công bố, trình diễn, giới thiệu công nghệ
1. Chợ
công nghệ, hội chợ công nghệ, triển lãm công nghệ, điểm kết nối cung cầu công
nghệ, sàn giao dịch công nghệ, trung tâm giao dịch công nghệ là nơi trưng bày,
giới thiệu, mua, bán công nghệ, xúc tiến chuyển giao công nghệ.
2.
Trong việc công bố, trình diễn, giới thiệu công nghệ, cơ quan quản lý nhà nước
về khoa học và công nghệ có thẩm quyền có trách nhiệm sau đây:
a) Hằng
năm, công bố danh mục công nghệ được tạo ra bằng ngân sách nhà nước trên Cổng
thông tin điện tử của cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác;
b)
Khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân công bố công nghệ mới do
mình tạo ra.
3. Nhà
nước có biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có công nghệ mới được tạo
ra trong nước công bố, trình diễn, giới thiệu công nghệ, tham gia chợ, hội chợ
công nghệ trong nước, ngoài nước.
4.[59]
Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân chuyển
giao công nghệ ra nước ngoài thông qua hỗ trợ chi phí xúc tiến thị trường.
5.[60]
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Mục 3. DỊCH VỤ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ
Điều 45. Các loại hình dịch vụ chuyển giao công nghệ
1. Môi
giới chuyển giao công nghệ.
2. Tư
vấn chuyển giao công nghệ.
3.
Đánh giá công nghệ.
4. Thẩm
định giá công nghệ.
5.
Giám định công nghệ.
6. Xúc
tiến chuyển giao công nghệ.
Điều 46. Quyền của tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ chuyển
giao công nghệ
1. Tổ
chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ chuyển giao công nghệ có các quyền sau đây:
a) Yêu
cầu người sử dụng dịch vụ cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho việc cung ứng
dịch vụ chuyển giao công nghệ;
b) Hưởng
thu nhập từ kinh doanh dịch vụ và lợi ích khác từ việc cung ứng dịch vụ chuyển
giao công nghệ theo thỏa thuận;
c) Sử
dụng cộng tác viên, chuyên gia phục vụ hoạt động dịch vụ chuyển giao công nghệ;
d) Hưởng
quyền sử dụng cơ sở dữ liệu về công nghệ theo quy định của pháp luật;
đ) Yêu
cầu người sử dụng dịch vụ bồi thường thiệt hại do lỗi của người sử dụng dịch vụ
gây ra;
e) Hợp
tác, liên doanh với tổ chức, cá nhân để tiến hành hoạt động dịch vụ chuyển giao
công nghệ;
g)
Tham gia hội nghề nghiệp trong nước, quốc tế theo quy định của pháp luật;
h) Các
quyền khác theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan.
2. Tổ
chức, cá nhân thực hiện hoạt động môi giới, tư vấn, xúc tiến chuyển giao công
nghệ có các quyền quy định tại khoản 1 Điều này và được hưởng lợi nhuận từ việc
sử dụng, chuyển giao quyền sử dụng, chuyển nhượng, góp vốn bằng kết quả nghiên
cứu khoa học và phát triển công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước.
Điều 47. Nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ
chuyển giao công nghệ
1. Tổ
chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ chuyển giao công nghệ có nghĩa vụ sau đây:
a) Thực
hiện hợp đồng dịch vụ chuyển giao công nghệ đã giao kết;
b) Chịu
trách nhiệm về kết quả thực hiện dịch vụ chuyển giao công nghệ của mình;
c) Bồi
thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra cho bên sử dụng dịch vụ chuyển giao
công nghệ;
d) Bảo
quản, giao lại cho bên sử dụng dịch vụ tài liệu, phương tiện được giao sau khi
hoàn thành dịch vụ theo thỏa thuận;
đ)
Thông báo kịp thời cho bên sử dụng dịch vụ về thông tin, tài liệu không đủ để
hoàn thành dịch vụ;
e) Giữ
bí mật thông tin theo thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ chuyển giao công nghệ;
g) Thực
hiện nghĩa vụ về tài chính, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
2. Tổ
chức đánh giá, thẩm định giá, giám định công nghệ, ngoài nghĩa vụ quy định tại
khoản 1 Điều này còn có nghĩa vụ sau đây:
a)
Đăng ký đáp ứng điều kiện hoạt động dịch vụ đánh giá, thẩm định giá, giám định
công nghệ theo quy định của pháp luật;
b)[61]
Hằng năm, gửi báo cáo kết quả hoạt động đánh
giá, giám định công nghệ tới cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ.
Điều 48. Tổ chức thực hiện hoạt động đánh giá, thẩm định
giá, giám định công nghệ
1. Tổ
chức thực hiện hoạt động đánh giá, thẩm định giá, giám định công nghệ là tổ chức
khoa học và công nghệ hoặc doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đánh giá, thẩm
định giá, giám định công nghệ.
2.[62]
(được bãi bỏ)
3.
Chính phủ quy định cụ thể thẩm quyền, trình tự, thủ tục, điều kiện cấp Giấy chứng
nhận đủ điều kiện hoạt động dịch vụ đánh giá, giám định công nghệ; điều kiện đặc
thù về nhân lực, cơ sở vật chất - kỹ thuật đối với tổ chức thực hiện hoạt động
thẩm định giá công nghệ.
Mục 4. CHUYỂN GIAO
CÔNG NGHỆ CHO VÙNG NÔNG THÔN, MIỀN NÚI, HẢI ĐẢO, ĐỊA BÀN CÓ ĐIỀU KIỆN KINH TẾ -
XÃ HỘI KHÓ KHĂN, ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN
Điều 49. Công nghệ khuyến khích chuyển giao cho vùng nông
thôn, miền núi, hải đảo, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt
khó khăn
Công
nghệ quy định tại Điều 9 của Luật này và công nghệ sau đây
được khuyến khích chuyển giao cho vùng nông thôn, miền núi, hải đảo, địa bàn có
điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn:
1.
Công nghệ trong lĩnh vực bảo tồn và phát triển nguồn gen; chọn tạo, nâng cao
giá trị kinh tế của giống cây trồng, giống vật nuôi;
2.
Công nghệ nuôi trồng, bảo quản, chế biến sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm
nghiệp, cây dược liệu, nấm, vi sinh vật nông nghiệp, thủy sản;
3.
Công nghệ phòng, chống dịch bệnh cho giống cây trồng, giống vật nuôi, cây dược
liệu;
4.
Công nghệ tạo ra, khai thác và sử dụng tiết kiệm nguồn nước sạch; công nghệ xử
lý nước trong nuôi trồng thủy sản;
5.
Công nghệ nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản phẩm truyền thống của
làng nghề, địa phương.
Điều 50. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong hoạt động
chuyển giao công nghệ cho vùng nông thôn, miền núi, hải đảo, địa bàn có điều kiện
kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó
khăn
1.
Chương trình, dự án phổ biến giống cây trồng, giống vật nuôi hoặc công nghệ
nuôi trồng, bảo quản, chế biến sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, diêm
nghiệp phải có nội dung chuyển giao công nghệ.
2. Tổ
chức, cá nhân khi phổ biến, chuyển giao công nghệ nuôi trồng, bảo quản, chế biến
sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, diêm nghiệp phải báo cáo cơ quan quản
lý nhà nước về khoa học và công nghệ tại địa phương nơi thực hiện chuyển giao
công nghệ.
3. Tổ
chức, cá nhân cung cấp giống cây trồng, giống vật nuôi, chuyển giao công nghệ
nuôi trồng, bảo quản, chế biến sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, diêm
nghiệp có trách nhiệm hướng dẫn công nghệ nuôi trồng, bảo quản, chế biến cho
người sử dụng và phải bồi thường thiệt hại phát sinh do việc cung cấp giống cây
trồng, giống vật nuôi, chuyển giao công nghệ gây ra.
4.
Trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.
Điều 51. Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước trong hoạt
động chuyển giao công nghệ cho vùng nông thôn, miền núi, hải đảo, địa bàn có điều
kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn
1. Cơ
quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ ở địa phương có trách nhiệm hướng
dẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động phổ biến, chuyển giao giống cây trồng,
giống vật nuôi hoặc công nghệ nuôi trồng, bảo quản, chế biến sản phẩm nông nghiệp,
lâm nghiệp, thủy sản, diêm nghiệp; thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ tại
địa phương; kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn kịp thời việc phổ biến, cung cấp giống
cây trồng, giống vật nuôi, công nghệ gây thiệt hại cho người sử dụng.
2. Hằng
năm, Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ có liên quan đánh giá hoạt động chuyển giao công nghệ ở
vùng nông thôn, miền núi, hải đảo, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó
khăn, đặc biệt khó khăn.
Điều 52. Chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp
1.
Khuyến khích chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về giống, sản phẩm, quy trình sản xuất,
giải pháp kỹ thuật, giải pháp quản lý trong nông nghiệp.
2.
Chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp được thực hiện theo hình thức quy định
tại Luật này hoặc theo hình thức đặc thù bao gồm chương trình, kế hoạch khuyến
nông; chương trình, kế hoạch chuyển giao công nghệ khác được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền phê duyệt.
3.
Chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp được thực hiện theo phương thức quy định
tại Luật này hoặc theo phương thức đặc thù bao gồm đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng,
mô hình trình diễn, thông tin tuyên truyền.
4.
Chính phủ quy định chi tiết hình thức, phương thức đặc thù quy định tại khoản 2
và khoản 3 Điều này; đối tượng nhận chuyển giao, đối tượng thực hiện chuyển
giao theo hình thức, phương thức đặc thù theo quy định tại khoản 2 và khoản 3
Điều này; chính sách chuyển giao công nghệ trong nông nghiệp.
5.[63]
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành
Danh mục tiến bộ kỹ thuật về giống, sản phẩm, quy trình sản xuất, giải pháp kỹ
thuật, giải pháp quản lý khuyến khích chuyển giao trong nông nghiệp; tiêu chí,
trình tự, thủ tục công nhận tiến bộ kỹ thuật.
Chương V
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHUYỂN
GIAO CÔNG NGHỆ
Điều 53. Trách nhiệm của Chính phủ
1. Thống
nhất quản lý nhà nước về hoạt động chuyển giao công nghệ.
2. Chỉ
đạo, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, kế
hoạch, cơ chế, chính sách, biện pháp thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ, đổi
mới công nghệ phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
3.
Phân công, phân cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động chuyển
giao công nghệ.
4. Ban
hành Danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao, Danh mục công nghệ hạn chế
chuyển giao và Danh mục công nghệ cấm chuyển giao.
Điều 54. Trách nhiệm của Bộ Khoa học và Công nghệ
1. Là
cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về chuyển giao công
nghệ.
1a.[64]
Xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định về
tổ chức và hoạt động của Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia.
2.[65]
Chủ trì, phối hợp với các Bộ, Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh, cơ quan liên quan xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm
quyền ban hành chương trình, đề án, chính sách về nhập khẩu công nghệ, phát triển
thị trường khoa học và công nghệ, thúc đẩy hoạt động chuyển giao, ứng dụng, đổi
mới công nghệ theo quy định của pháp luật.
3. Xây
dựng Danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao, Danh mục công nghệ hạn chế
chuyển giao, Danh mục công nghệ cấm chuyển giao trình Chính phủ ban hành.
4.[66]
(được bãi bỏ)
5. Thẩm
định, có ý kiến, kiểm tra, giám sát về công nghệ của dự án đầu tư theo thẩm quyền.
6. Hướng
dẫn việc đánh giá trình độ công nghệ, năng lực công nghệ trong các ngành, lĩnh
vực theo nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế của từng
thời kỳ.
7. Tổ
chức đánh giá, lựa chọn, công bố công nghệ tạo ra từ kết quả nghiên cứu khoa học
và phát triển công nghệ.
8. Tổ
chức đào tạo, tập huấn, nâng cao trình độ, nghiệp vụ trong hoạt động chuyển
giao, thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, ứng dụng
và đổi mới công nghệ.
9. Tổ
chức thực hiện công tác thống kê về chuyển giao công nghệ, ứng dụng và đổi mới
công nghệ theo quy định của pháp luật, xây d ựng cơ sở dữ liệu về công nghệ.
9a.[67]
Đánh giá hiệu quả chuyển giao công nghệ có sử dụng
ngân sách nhà nước. Kết quả đánh giá là căn cứ để hoạch định chính sách, kiểm
soát rủi ro, phân bổ nguồn lực ưu đãi, hỗ trợ và nâng cao hiệu quả quản lý nhà
nước đối với hoạt động chuyển giao công nghệ.
10.[68]
Kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý
vi phạm pháp luật về chuyển giao công nghệ.
11. Hợp
tác quốc tế về hoạt động chuyển giao công nghệ theo thẩm quyền.
12. Tổ
chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về chuyển giao công nghệ.
13. Lập
báo cáo Chính phủ về hoạt động chuyển giao công nghệ và định kỳ 05 năm lập báo
cáo về đổi mới công nghệ trên cả nước.
14. Thực
hiện nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
Điều 55. Trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ
1. Bộ,
cơ quan ngang Bộ trong lĩnh vực quản lý theo thẩm quyền có trách nhiệm phối hợp
với Bộ Khoa học và Công nghệ trong việc thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động
chuyển giao công nghệ như sau:
a) Đề
xuất công nghệ để xây dựng Danh mục công nghệ khuyến khích chuyển giao, Danh mục
công nghệ hạn chế chuyển giao, Danh mục công nghệ cấm chuyển giao;
b) Xây
dựng kế hoạch, đề án, chương trình, biện pháp, cơ chế, chính sách thúc đẩy hoạt
động chuyển giao, ứng dụng, đổi mới công nghệ;
c) Kiểm
tra, giám sát công nghệ, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ tạo ra từ việc
chuyển giao, ứng dụng, đổi mới công nghệ.
2. Tổ
chức đánh giá, lựa chọn, công bố công nghệ tạo ra từ kết quả nghiên cứu khoa học
và phát triển công nghệ và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp nhận
chuyển giao công nghệ đó trong lĩnh vực quản lý theo thẩm quyền.
3. Tạo
điều kiện cho hoạt động chuyển giao công nghệ, đặc biệt là công nghệ được khuyến
khích chuyển giao và việc chuyển giao công nghệ ở các địa bàn được khuyến khích
chuyển giao công nghệ.
4. Tổ
chức thẩm định, có ý kiến, kiểm tra, giám sát về công nghệ của dự án đầu tư và
chuyển giao công nghệ theo quy định của pháp luật.
5. Hợp
tác quốc tế về hoạt động chuyển giao công nghệ theo thẩm quyền.
6. Hằng
năm, thống kê về tình hình chuyển giao, ứng dụng, đổi mới công nghệ và gửi Bộ
Khoa học và Công nghệ.
Điều 56. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Trong
phạm vi chức năng, quyền hạn của mình, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản
lý nhà nước về hoạt động chuyển giao công nghệ có trách nhiệm sau đây:
1. Ban
hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành, tổ chức thực hiện
văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách, chiến lược, đề án, chương
trình, kế hoạch về chuyển giao, ứng dụng, đổi mới công nghệ tại địa phương;
2. Tổ
chức thẩm định, có ý kiến về công nghệ của dự án đầu tư theo quy định của pháp
luật;
3. Tạo
điều kiện cho tổ chức, cá nhân trong hoạt động chuyển giao, ứng dụng, đổi mới
công nghệ tại địa phương;
3a.[69]
Cấp, thu hồi Giấy phép chuyển giao công nghệ đối
với công nghệ thuộc Danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao;
4.
Ngăn chặn kịp thời việc chuyển giao giống cây trồng, giống vật nuôi chưa được
công nhận tiến bộ kỹ thuật; vật tư nông nghiệp chưa được phép sản xuất, kinh
doanh, sử dụng, lưu hành theo quy định của pháp luật;
5.[70]
Tổ chức kiểm tra, đánh giá hiệu quả chuyển giao
công nghệ đối với các chương trình, dự án, nhiệm vụ có sử dụng ngân sách nhà nước
tại địa phương; xây dựng, quản lý và cập nhật hệ thống cơ sở dữ liệu, thông
tin, thống kê về hoạt động chuyển giao, ứng dụng và đổi mới công nghệ; định kỳ
hằng năm báo cáo Bộ Khoa học và Công nghệ kết quả kiểm tra, đánh giá hiệu quả,
số liệu thống kê chuyển giao công nghệ;
6.
Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục và hướng dẫn thực hiện pháp luật về chuyển
giao công nghệ;
7. Thanh
tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về chuyển
giao công nghệ theo thẩm quyền.
Điều 57. Thống kê chuyển giao, ứng dụng, đổi mới công nghệ
Việc
thống kê chuyển giao, ứng dụng, đổi mới công nghệ được thực hiện theo quy định
của pháp luật về thống kê và các quy định sau đây:
1. Thống
kê chuyển giao, ứng dụng, đổi mới công nghệ là một nội dung trong báo cáo thống
kê hàng năm của cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ.
Hằng
năm, Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ, cơ quan ngang Bộ thống
kê chuyển giao, ứng dụng, đổi mới công nghệ trong phạm vi cả nước;
2.[71]
Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Bộ Tài
chính xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê và tổ chức thu thập thông tin thống
kê về chuyển giao, ứng dụng, đổi mới công nghệ của doanh nghiệp; thực hiện việc
kết nối và chia sẻ dữ liệu thống kê về chuyển giao, ứng dụng, đổi mới công nghệ;
3. Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm thực hiện thống kê chuyển giao, ứng dụng,
đổi mới công nghệ thuộc địa bàn quản lý;
4. Tổ
chức, cá nhân được yêu cầu cung cấp thông tin về chuyển giao, ứng dụng, đổi mới
công nghệ có trách nhiệm cung cấp thông tin trung thực, chính xác, đầy đủ và
đúng thời hạn theo yêu cầu của cơ quan thực hiện thống kê;
5. Bộ
Khoa học và Công nghệ quy định cụ thể việc triển khai thu thập số liệu thống kê
về chuyển giao, ứng dụng, đổi mới công nghệ.
Điều 58. Trách nhiệm của cơ quan đại diện ngoại giao Việt
Nam ở nước ngoài đối với hoạt động chuyển giao công nghệ
Cơ quan
đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm tìm kiếm công nghệ, hỗ
trợ, thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ
chức, cá nhân thực hiện hoạt động xúc tiến chuyển giao công nghệ từ nước ngoài
vào Việt Nam và từ Việt Nam ra nước ngoài.
Chương VI
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH[72]
Điều 59. Hiệu lực thi hành
1. Luật
này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2018.
2. Luật
Chuyển giao công nghệ số 80/2006/QH11 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu
lực thi hành.
Điều 60. Quy định chuyển tiếp
1. Thỏa
thuận chuyển giao công nghệ được các bên ký kết trước ngày Luật này có hiệu lực,
trường hợp có nhu cầu gia hạn thỏa thuận đó sau ngày Luật này có hiệu lực thì
thực hiện thủ tục đăng ký, gia hạn theo quy định của Luật này.
2. Hồ
sơ đề nghị đăng ký hợp đồng chuyển giao công nghệ được thụ lý trước ngày Luật
này có hiệu lực mà chưa được giải quyết thì áp dụng theo quy định của Luật Chuyển
giao công nghệ số 80/2006/QH11.
3. Tổ
chức thực hiện dịch vụ đánh giá, thẩm định giá, giám định công nghệ được thành
lập và hoạt động trước ngày Luật này có hiệu lực, trong thời hạn 12 tháng kể từ
ngày Luật này có hiệu lực, phải tiến hành đăng ký đủ điều kiện hoạt động tại cơ
quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.
|
|
VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
--------
|
|
Nơi nhận:
- Văn phòng
Chính phủ (để đăng Công báo);
- Cục KTVB và TCTHPL, Bộ TP (để đăng trên CSDL Quốc gia về VBPL);
- Cục Chuyển đổi số, VPQH (để đăng trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội
và trang thông tin nội bộ Intranet);
- Lưu: HC, TH.
|
XÁC THỰC VĂN BẢN HỢP NHẤT
CHỦ NHIỆM
Lê Quang Mạnh
|
[1]
Luật Giá số 16/2023/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn
cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Quốc hội ban hành Luật
Giá.”.
Luật
Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15 có căn cứ ban hành như
sau:
“Căn
cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung
một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc
hội ban hành Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.”.
Luật số
115/2025/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn
cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một
số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc
hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ số
07/2017/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 16/2023/QH15 và
Luật số 93/2025/QH15.”.
Luật số
20/2026/QH16 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn
cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một
số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Tần số vô tuyến điện số 42/2009/QH12 đã được sửa đổi, bổ
sung một số điều theo Luật số 09/2022/QH15, Luật số 24/2023/QH15 và Luật
số 84/2025/QH15; Luật Viễn thông số 24/2023/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung một số
điều theo Luật số 47/2024/QH15, Luật số 112/2025/QH15 và Luật số 116/2025/QH15;
Luật Giao dịch điện tử số 20/2023/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Luật số 60/2024/QH15, Luật số 116/2025/QH15 và Luật số 148/2025/QH15; Luật
Chuyển giao công nghệ số 07/2017/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Luật số 16/2023/QH15, Luật số 93/2025/QH15 và Luật số
115/2025/QH15.”.
[2] Khoản
này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 24 Điều 1 của Luật số 115/2025/QH15, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[3] Khoản
này được bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 1 của Luật số
115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[4] Khoản
này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 24 Điều 1 của Luật số 115/2025/QH15, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[5] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 1 của Luật số
115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[6] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 1 của Luật số
115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[7] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 1 của Luật số 115/2025/QH15,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[8] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 1 của Luật số
115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[9] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 1 của Luật số
115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[10]
Khoản này được bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 1 của Luật số
115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[11]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Luật số
115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[12]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 1 của Luật số
115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[13]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 1 của Luật số
115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[14]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 1 của Luật số
115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[15]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 7 Điều 1 của Luật
số 115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[16]
Đoạn mở đầu này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 7 Điều 1 của
Luật số 115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[17]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 7 Điều 1 của Luật
số 115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[18]
Tên Chương này được sửa đổi theo quy định tại khoản 8 Điều 1 của Luật số
115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[19]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 9 Điều 1 của Luật số
115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[20]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 24 Điều 1 của Luật số
115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[21]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 24 Điều 1 của Luật số
115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[22] Điều
này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 24 Điều 1 của Luật số 115/2025/QH15, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[23]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 24 Điều 1 của Luật số
115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[24]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 24 Điều 1 của Luật số
115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[25] Điều
này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 24 Điều 1 của Luật số 115/2025/QH15, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[26]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 10 Điều 1 của Luật
số 115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[27]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 10 Điều 1 của Luật
số 115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[28]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 10 Điều 1 của Luật
số 115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[29]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 11 Điều 1 của Luật
số 115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[30]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 11 Điều 1 của Luật
số 115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[31]
Điểm này được bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 11 Điều 1 của Luật số
115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[32]
Khoản này được bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 11 Điều 1 của Luật số
115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[33]
Điều này được bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 71 của Luật Khoa học,
công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng
10 năm 2025.
[34]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 12 Điều 1 của Luật
số 115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[35]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 12 Điều 1 của Luật
số 115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[36]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 12 Điều 1 của Luật
số 115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[37]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 13 Điều 1 của Luật
số 115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[38]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 13 Điều 1 của Luật
số 115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[39]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 13 Điều 1 của Luật
số 115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[40]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 13 Điều 1 của Luật
số 115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[41]
Tên Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 14 Điều 1 của
Luật số 115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[42]
Khoản này được bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 14 Điều 1 của Luật số
115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[43]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 14 Điều 1 của Luật
số 115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[44]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 14 Điều 1 của Luật
số 115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[45]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 15 Điều 1 của Luật số
115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[46] Điều
này được bổ sung theo quy định tại khoản 16 Điều 1 của Luật số 115/2025/QH15,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[47]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 24 Điều 1 của Luật số
115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[48]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 24 Điều 1 của Luật số
115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[49]
Điều này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 71 của Luật
Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 10 năm 2025.
[50]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 71 của Luật
Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 10 năm 2025.
[51]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 24 Điều 1 của Luật số 115/2025/QH15,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[52]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều 4 của Luật số
20/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2026.
[53]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 17 Điều 1 của Luật
số 115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[54]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 17 Điều 1 của Luật
số 115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[55]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 17 Điều 1 của Luật
số 115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[56]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm d khoản 17 Điều 1 của Luật
số 115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[57]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 18 Điều 1 của Luật
số 115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[58]
Điểm này được bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 18 Điều 1 của Luật số
115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[59]
Khoản này được bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 19 Điều 1 của Luật số
115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[60]
Khoản này được bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 19 Điều 1 của Luật số
115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[61]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 11 Điều 73 của Luật
Giá số 16/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.
[62]
Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại điểm b khoản 11 Điều 73 của Luật Giá số
16/2023/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024.
[63]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 20 Điều 1 của Luật số
115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[64]
Khoản này được bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 21 Điều 1 của Luật số 115/2025/QH15,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[65]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Luật số
20/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2026.
[66]
Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 24 Điều 1 của Luật số
115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[67]
Khoản này được bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 21 Điều 1 của Luật số 115/2025/QH15,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[68]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 21 Điều 1 của Luật
số 115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[69]
Khoản này được bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 22 Điều 1 của Luật số
115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[70]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 22 Điều 1 của Luật
số 115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[71]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 23 Điều 1 của Luật số
115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026.
[72] Điều 74 và Điều 75 của Luật Giá số 16/2023/QH15, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024 quy định như sau:
“Điều
74. Hiệu lực thi hành
1.
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2024, trừ trường hợp quy định
tại khoản 2 Điều này.
2.
Quy định tại khoản 2 Điều 60 của Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 01 năm 2026. Kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024 đến hết ngày 31 tháng 12 năm
2025, hội đồng thẩm định giá phải có ít nhất 01 thành viên có một trong các chứng
nhận chuyên môn sau đây:
a)
Bằng tốt nghiệp cao đẳng trở lên về chuyên ngành giá, thẩm định giá;
b)
Thẻ thẩm định viên về giá;
c)
Chứng chỉ đào tạo nghiệp vụ về thẩm định giá;
d)
Chứng chỉ bồi dưỡng thẩm định giá nhà nước.
3. Luật
Giá số 11/2012/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 61/2014/QH13, Luật số 64/2020/QH14 và Luật số
07/2022/QH15 (sau đây gọi chung là Luật Giá số 11/2012/QH13) hết hiệu lực kể từ
ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ các quy định tại Điều 75 của Luật này.
Điều
75. Quy định chuyển tiếp
1.
Trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, các doanh
nghiệp thẩm định giá đã được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ
thẩm định giá theo quy định tại Luật Giá số 11/2012/QH13 phải bảo đảm điều
kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá theo quy định tại Luật này. Sau thời hạn
nêu trên mà doanh nghiệp thẩm định giá không bảo đảm điều kiện kinh doanh dịch
vụ thẩm định giá theo quy định của Luật này, Bộ Tài chính thực hiện thu hồi giấy
chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá.
2.
Người được cấp thẻ thẩm định viên về giá theo quy định của Luật Giá số
11/2012/QH13 thì được tiếp tục đăng ký hành nghề thẩm định giá trong lĩnh vực
thẩm định giá tài sản và thẩm định giá doanh nghiệp theo quy định của Luật này.”.
Điều
72 và Điều 73 của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo số 93/2025/QH15,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2025 quy định như sau:
“Điều
72. Hiệu lực thi hành
1.
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 10 năm 2025, trừ trường hợp quy
định tại khoản 2 Điều này.
2.
Các điều 15, 61, 62, 63, 64, 65 và 66 của Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày
01 tháng 7 năm 2025.
3.
Luật Khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Luật số 28/2018/QH14 và Luật số 07/2022/QH15 (sau đây gọi chung là Luật
Khoa học và Công nghệ số 29/2013/QH13) hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu
lực thi hành, trừ trường hợp quy định tại các khoản 1, 2, 3, 6, 8 và 9 Điều 73
của Luật này.
Điều
73. Quy định chuyển tiếp
1.
Đối với đề xuất nhiệm vụ khoa học và công nghệ, đề xuất đặt hàng nhiệm vụ khoa
học và công nghệ đã nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng đến ngày 01
tháng 10 năm 2025 chưa được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền phê duyệt giao chủ trì thực hiện nhiệm vụ thì trình tự, thủ
tục xác định, tuyển chọn, giao trực tiếp, phê duyệt nhiệm vụ khoa học và công
nghệ được tiếp tục thực hiện theo quy định của Luật Khoa học và công nghệ số
29/2013/QH13 và văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Khoa học và
công nghệ số 29/2013/QH13.
2.
Đối với hồ sơ đăng ký thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ được gửi tới Quỹ
phát triển khoa học và công nghệ quốc gia trước ngày 01 tháng 10 năm 2025 thì
quy trình, thủ tục đánh giá để tài trợ thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ
được tiếp tục thực hiện theo quy định của Luật Khoa học và công nghệ số
29/2013/QH13 và văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Khoa học và
công nghệ số 29/2013/QH13.
3.
Đối với nhiệm vụ khoa học và công nghệ đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt
giao chủ trì thực hiện nhiệm vụ trước ngày 01 tháng 10 năm 2025 thì tiếp tục thực
hiện theo quy định của Luật Khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13, Nghị quyết số
193/2025/QH15 và văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành có hiệu lực tại
thời điểm phê duyệt nhiệm vụ.
4.
Đối với nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước đã được cơ
quan có thẩm quyền phê duyệt giao chủ trì thực hiện trước ngày 01 tháng 10 năm
2025 mà chưa được cấp có thẩm quyền ban hành quyết định xử lý tài sản trang bị
thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ và kết quả của nhiệm vụ khoa học và
công nghệ theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công thì việc
xử lý tài sản trang bị thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ và kết quả của
nhiệm vụ khoa học và công nghệ thực hiện theo quy định tại Luật này.
5.
Chính phủ quy định chuyển tiếp về hoạt động của Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia.
6.
Đối với hồ sơ đề nghị chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ đã được gửi
đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước ngày 01 tháng 10 năm 2025 thì trình tự,
thủ tục cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ được tiếp tục thực
hiện theo quy định của Luật Khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13 và văn bản
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khoa học và công nghệ số
29/2013/QH13.
7.
Quy định về phân chia lợi nhuận từ thương mại hóa kết quả nghiên cứu theo quy
định tại Điều 28 của Luật này được áp dụng đối với lợi nhuận chưa được phân chia
từ việc thương mại hóa sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, giống
cây trồng là kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của các nhiệm
vụ được giao từ ngày 01 tháng 01 năm 2023 đến trước ngày 01 tháng 10 năm 2025
được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về sở hữu trí tuệ cấp văn bằng
bảo hộ.
8.
Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động khoa học và công nghệ đã được cơ quan có thẩm
quyền cấp trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì vẫn còn hiệu lực. Trường
hợp đề nghị thay đổi, bổ sung thông tin hoặc cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký hoạt
động khoa học và công nghệ thì thực hiện theo quy định của Luật này.
9.
Văn phòng đại diện, chi nhánh của tổ chức khoa học và công nghệ nước ngoài tại
Việt Nam đã được cấp Giấy phép thành lập văn phòng đại diện, chi nhánh tại Việt
Nam thì tiếp tục được hoạt động đến khi Giấy phép thành lập văn phòng đại diện,
chi nhánh hết hiệu lực.”.
Điều 2
và Điều 3 của Luật số 115/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2026
quy định như sau:
“Điều
2. Hiệu lực thi hành
1.
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 4 năm 2026, trừ trường hợp quy định
tại khoản 2 Điều này.
2.
Các khoản 2, 3 và 4 Điều 29, các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 30 của Luật Chuyển
giao công nghệ số 07/2017/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số
16/2023/QH15 và Luật số 93/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung theo khoản 12 và
khoản 13 Điều 1, điểm a khoản 21 Điều 1 của Luật này có hiệu lực thi hành từ
ngày Luật này được thông qua.
Điều
3. Quy định chuyển tiếp
1.
Thỏa thuận chuyển giao công nghệ được ký kết trước ngày Luật này có hiệu lực
thi hành được tiếp tục thực hiện theo thỏa thuận đó; trường hợp sửa đổi, bổ
sung, gia hạn sau ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì thực hiện theo quy định
của Luật này.
2.
Hồ sơ đề nghị đăng ký, gia hạn hợp đồng chuyển giao công nghệ được thụ lý trước
ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành
chưa được giải quyết thì áp dụng theo quy định của Luật Chuyển giao công nghệ
số 07/2017/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 16/2023/QH15
và Luật số 93/2025/QH15.
3.
Hồ sơ đề nghị chấp thuận, cấp phép chuyển giao công nghệ được thụ lý trước ngày
01 tháng 7 năm 2025 mà đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa được giải
quyết thì áp dụng theo quy định của Luật Chuyển giao công nghệ số 07/2017/QH14
đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 16/2023/QH15 và Luật số
93/2025/QH15.
4.
Dự án đầu tư sử dụng công nghệ thuộc Danh mục công nghệ hạn chế chuyển giao hoặc
dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường có sử dụng công nghệ đã được quyết
định chủ trương đầu tư, chấp thuận chủ trương đầu tư, cấp Giấy chứng nhận đăng
ký đầu tư, quyết định, phê duyệt dự án đầu tư trước ngày Luật này có hiệu lực
thi hành mà chưa thực hiện thẩm định hoặc có ý kiến về công nghệ tại cơ quan
nhà nước có thẩm quyền, sau ngày Luật này có hiệu lực thi hành, nếu điều chỉnh
chủ trương đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, quyết định, phê duyệt dự án
đầu tư, trong đó có sửa đổi, bổ sung nội dung về công nghệ thì phải thực hiện
thẩm định hoặc có ý kiến về công nghệ theo quy định của Luật này.
5.
Hồ sơ đề nghị thẩm định hoặc có ý kiến về công nghệ trong giai đoạn xem xét chấp
thuận chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư được thụ lý trước ngày Luật này có
hiệu lực thi hành mà đến ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa có kết quả
giải quyết thì việc thẩm định hoặc có ý kiến về công nghệ để xem xét chấp thuận
chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư thực hiện theo quy định của Luật Chuyển
giao công nghệ số 07/2017/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số
16/2023/QH15 và Luật số 93/2025/QH15, Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo
Luật số 03/2016/QH14, Luật số 62/2020/QH14.”.
Điều 5
của Luật số 20/2026/QH16, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2027 quy định
như sau:
“Điều
5. Hiệu lực thi hành
1.
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 3 năm 2027, trừ quy định tại
khoản 2 Điều này.
2. Quy định tại khoản 3 Điều 1 và Điều 4 của Luật
này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 10 năm 2026.”.