|
ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH CÀ MAU
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 0177/KH-UBND
|
Cà Mau, ngày 06
tháng 11 năm 2025
|
KẾ HOẠCH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 5 NĂM 2026 - 2030
Căn cứ Chỉ thị số 31/CT-TTg ngày
18/10/2025 của Thủ thướng Chính phủ về việc xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế
- xã hội 5 năm 2026 - 2030;
Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại
biểu Đảng bộ tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030;
Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau xây
dựng Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030 như sau:
Phần thứ
nhất
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ
HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 5 NĂM 2021 - 2025
I. BỐI CẢNH
THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 5 NĂM 2021 - 2025
Năm năm qua, tình hình thế giới,
khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường; xung đột vũ trang, bất ổn
diễn ra nhiều nơi; cạnh tranh chiến lược và thương mại giữa các nước lớn tiếp
tục tiếp diễn, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh mạng, chính
sách thuế quan của Hoa Kỳ… ngày càng phức tạp, khó lường. Cuộc cách mạng Công
nghiệp lần thứ tư, sự phát triển không gian mạng và chuyển nhanh sang kinh tế số,
xã hội số đã và đang tác động mạnh mẽ, nhiều mặt trong đời sống kinh tế - xã
hội. Cùng với những khó khăn, thách thức của kinh tế, đất nước ta bị tác động
bởi những yếu tố bất lợi từ bên ngoài, chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch
COVID-19, biến đổi khí hậu, thiên tai.
Năm 2025, thực hiện Nghị quyết số
18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục
đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu
lực, hiệu quả và các văn bản chỉ đạo của trung ương; tỉnh Cà Mau đã hoàn thành
công tác sắp xếp tổ chức bộ máy và tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp. Sau
khi sắp xếp, tổ chức, bộ máy các cơ quan, đơn vị được củng cố, kiện toàn theo
hướng tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; rà soát, sắp xếp, sáp nhập, hợp
nhất các đầu mối, đơn vị trực thuộc, phòng, ban và đơn vị sự nghiệp, đơn vị
hành chính... bảo đảm đúng quy định, tinh giản biên chế.
Tỉnh Cà Mau, bên cạnh những thuận
lợi cơ bản, nhiều vấn đề mới nảy sinh, nhất là tình trạng xâm nhập mặn, sạt
lở ven biển, ven sông ngày càng nghiêm trọng, cùng với việc phải tập trung xử
lý những khó khăn, hạn chế nội tại chưa được giải quyết dứt điểm, đã tác động
không nhỏ đến việc triển khai thực hiện các mục tiêu Nghị quyết về phát triển
kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025.
Mặc dù còn gặp nhiều khó
khăn, thách thức nhưng nhờ sự quan tâm chỉ đạo của Trung ương, cùng với sự
lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, kịp thời của Tỉnh ủy, đã kịp thời ban hành nhiều
chủ trương, Nghị quyết với nhiều giải pháp tập trung chỉ đạo quyết liệt, có trọng
tâm, trọng điểm; cộng với sự điều hành tích cực, chủ động của Ủy ban nhân dân tỉnh
và các ngành, các cấp; sự phối hợp giám sát chặt chẽ của Hội đồng nhân dân, Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể; sự vươn lên khắc phục
khó khăn của cộng đồng doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân đã góp phần quan
trọng vào thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 -
2025 đã đề ra.
II. KẾT QUẢ
ĐẠT ĐƯỢC
1. Tăng trưởng
kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế
(GRDP) của tỉnh năm 2025 ước đạt 8%; hoạt động sản xuất kinh doanh tăng ở cả
ba khu vực kinh tế; tổng giá trị sản phẩm trong tỉnh (GRDP) theo giá hiện hành
ước đạt 172.033 tỷ đồng; GRDP bình quân đầu người ước đạt 80 triệu đồng/người/năm.
Giai đoạn 2021 - 2025, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) đạt kết quả khá,
bình quân đạt hơn 7%/năm nếu không tính ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, nếu
tính đến yếu tố ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 thì tốc độ tăng trưởng bình
quân đạt 6,15%[1]. Cơ cấu kinh tế
chuyển dịch tích cực theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần công
nghiệp, xây dựng và dịch vụ; trong đó: Khu vực I (ngư, nông, lâm nghiệp) giảm
từ 38,87% năm 2020 xuống 34,86% ước năm 2025; Khu vực II (công nghiệp - xây dựng)
tăng từ 22,86% năm 2020 lên 24,23% ước năm 2025; Khu vực III (dịch vụ) tăng
từ 33,69% năm 2020 lên 36,49% ước năm 2025.
2. Lĩnh vực
ngư, nông, lâm nghiệp và xây dựng nông thôn mới
- Về thủy sản: Thủy sản
tiếp tục là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, đặc biệt tôm nuôi là đối tượng chủ
lực của tỉnh đóng góp khoảng trên 75% tổng giá trị sản phẩm khu vực I. Diện
tích nuôi trồng thủy sản đến cuối năm 2025 khoảng 448.000 ha (trong đó nuôi
tôm 428.932 ha). Tổng sản lượng thuỷ sản tăng bình quân 5,49%/năm[2].
Phát triển nuôi trồng thủy sản
theo hướng hiệu quả, bền vững, đa dạng hóa đối tượng và phương thức nuôi; các
mô hình nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao ngày càng được hoàn thiện, tăng giá trị
và năng suất, chất lượng [3]. Ngoài
ra, còn phát triển nuôi hàu, sò huyết ven biển, trên bãi bồi; nuôi cá bớp lồng
bè ven đảo; đã hình thành các hợp tác xã sản xuất tôm giống để nâng cao chất lượng
tôm nuôi và hiệu quả sản xuất. Các hoạt động khai thác thủy sản tiếp tục được
duy trì, sản lượng khai thác ổn định. Các cấp, các ngành đã chỉ đạo quyết liệt
việc chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo, không theo quy định
(IUU), tuy nhiên tình trạng vi phạm vẫn còn xảy ra[4].
Tỉnh đã tổ chức sự kiện
Festival Tôm và Ngày hội Cua Cà Mau góp phần phát triển thủy sản của tỉnh, xứng
tầm là “thủ phủ tôm của cả nước”.
- Về nông nghiệp: Ổn định
diện tích sản xuất lúa, hình thành vùng nguyên liệu lúa tập trung chất lượng
cao đạt chứng nhận phục vụ xuất khẩu. Tập trung phát triển sản xuất lúa theo mô
hình liên kết xây dựng vùng nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm lúa an toàn và
lúa hữu cơ. Diện tích gieo trồng lúa đến cuối năm 2025 đạt 314.982 ha, tăng
23.971 ha so với năm 2021. Cơ cấu giống lúa đã được chuyển đổisang nhóm lúa chất
lượng cao chiếm tỷ lệ 79,5%; trong đó nhóm lúa thơm đặc sản (ST24, ST25, RVT
và Đài Thơm 8...) chiếm tỷ lệ 48%; cơ giới hóa trong sản xuất lúa được áp dụng
mạnh mẽ đã đem lại hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất lúa. Diện tích lúa sản
xuất theo tiêu chuẩn hữu cơ hiện nay khoảng 800 ha. Sản lượng lúa tăng bình
quân 3,3%/năm.
Phát triển chăn nuôi bền vững,
an toàn sinh học, liên kết sản xuất gắn với thị trường tiêu thụ sản phẩm,
thích ứng với biến đổi khí hậu, theo hướng trang trại gia đình, đồng thời
khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển chăn nuôi gia súc gia cầm nhằm
nâng cao năng suất, chất lượng và bảo đảm vệ sinh thú y. Công tác bảo vệ thực vật,
phòng chống dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi được tăng cường thực hiện.
- Về lâm nghiệp: Công
tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng được thực hiện bền vững, kinh tế rừng
có bước phát triển. Tỷ lệ sản phẩm gỗ có đường kính nhỏ trong khai thác
rừng giảm dần, tăng dần tỷ lệ sản phẩm gỗ có đường kính lớn, giá bán cao
hơn, tạo ra giá trị gia tăng cao hơn. Đã có 01 doanh nghiệp được cấp chứng chỉ
quản lý rừng bền vững (FSC) với diện tích 2.121 ha. Tỷ lệ che phủ rừng và
cây phân tán ước đến cuối năm 2025 đạt 12,2%.
- Về diêm nghiệp: Diện
tích sản xuất muối 1.588,01 ha (trong đó: diện tích sản xuất theo phương pháp
truyền thống 1.350,06 ha; diện tích sản xuất trải bạt: 237,95 ha); với 831 hộ
(1.730 lao động) tham gia sản xuất. Nhằm phát huy tinh hoa văn hóa và quảng bá
thương hiệu sản phẩm muối Bạc Liêu đã tổ chức thành công sự kiện Festival Nghề
muối Việt Nam - Bạc Liêu năm 2025.
- Xây dựng nông thôn mới: Chương
trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới được tập trung triển khai thực
hiện toàn diện, quyết liệt, đạt kết quả tốt; diện mạo nông thôn ngày càng khang
trang, sạch đẹp, đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân được nâng lên, an
ninh, trật tự giữ vững. Cà Mau hiện có 55 xã tiếp tục triển khai thực hiện
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Kết quả sau khi rà soát
có 43/55 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đạt 78,2%; có 3/43 xã đạt chuẩn nông
thôn mới nâng cao, đạt 6,97% và 01/3 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu, đạt
33,3%. Hệ thống giao thông nông thôn tiếp tục được phát triển và nâng cấp về chất
lượng, góp phần tích cực tạo điều kiện thuận lợi thu hút các nhà đầu tư về khu
vực nông thôn, tạo công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo đem lại diện mạo mới,
sức sống mới cho vùng nông thôn.
- Về thực hiện Chương trình
“Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP): Đến nay, trên địa bàn tỉnh Cà Mau có 343 sản
phẩm được công nhận OCOP (02 sản phẩm 5 sao, 75 sản phẩm 4 sao, 266 sản phẩm 3
sao) của 162 chủ thể (25 Công ty/doanh nghiệp, 50 Hợp tác xã, 1 Tổ hợp tác, 86
hộ kinh doanh).
3. Lĩnh vực
công nghiệp, xây dựng
3.1. Về công nghiệp
- Về sản xuất công nghiệp: Trên
địa bàn tỉnh tập trung chủ yếu vào các ngành công nghiệp chủ lực như: Chế biến
nông, thủy sản, sản xuất khí, điện, phân bón. Đây là những ngành hàng chiếm tỷ
trọng lớn trong khu vực công nghiệp - xây dựng và là một trong những động lực
quan trọng giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh [5]. Toàn tỉnh có 89 nhà máy chế biến và xuất khẩu thủy sản,
với tổng công suất thiết kế khoảng 544.000 tấn/năm [6]; 02 nhà máy chế biến gạo xuất khẩu, công suất chế biến
370.000 tấn/năm; đang mời gọi đầu tư xây dựng các cơ sở chế biến gạo xuất khẩu
chất lượng cao và 02 nhà máy chế biến muối, với công suất thiết kế 29.500 tấn/năm.
Các doanh nghiệp luôn chú trọng mở rộng đầu tư, đổi mới công nghệ, đa dạng
hóa mặt hàng, từng bước nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản
phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ; hầu hết các nhà máy đều đạt tiêu chuẩn để
xuất hàng vào các nước phát triển như: Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Canada, EU…; sản phẩm
thủy sản của tỉnh Cà Mau đã có mặt ở 60 quốc gia và vùng lãnh thổ.
- Về cụm công nghiệp: Theo
Quy hoạch tỉnh được phê duyệt, Cà Mau có 30 cụm công nghiệp với tổng diện tích
1.635,83 ha [7]; hiện có 02 cụm
công nghiệp đang hoạt động (cụm công nghiệp Hòa Thành và cụm công nghiệp Lý
Văn Lâm (phường 8 cũ)), với tổng diện tích là 79,15 ha; có 03 cụm công nghiệp
được phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng 1/500, với tổng diện tích 110 ha [8], trong đó có 02 cụm công nghiệp
(cụm công nghiệp Chủ Chí và cụm công nghiệp Vĩnh Mỹ) đang thực hiện thủ tục lựa
chọn chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật theo quy định.
- Về khu công nghiệp, khu
kinh tế: Theo Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050
đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, tỉnh có 01 khu kinh tế (khu kinh tế Năm
Căn với diện tích 10.801,86 ha) và 09 khu công nghiệp với diện tích 2.459,3 ha [9]; trong đó, có 03 khu công nghiệp
đang hoạt động (khu công nghiệp Khánh An, khu công nghiệp Hòa Trung, khu công
nghiệp Trà Kha).
- Về năng lượng tái tạo: Giai
đoạn 2021 - 2025, có 16 dự án điện gió đã đưa vào vận hành thương mại, với tổng
công suất 870,2 MW; hỗ trợ các nhà đầu tư đẩy nhanh tiến độ xây dựng các dự án
trọng điểm như: Dự án điện LNG Bạc Liêu 3.200 MW, dự án Nhà máy điện gió Bạc
Liêu giai đoạn III (141 MW), dự án Nhà máy điện gió Nhật Bản - Bạc Liêu (50
MW) và các dự án nguồn điện và lưới điện khác theo quy hoạch được phê duyệt; điện
mặt trời mái nhà tính đến nay Công ty Điện lực Cà Mau đang quản lý 2.827
khách hàng với tổng công suất 295,494 MWp. Đồng thời, Tỉnh đã được bổ sung
thêm 2.133MW điện gió; 100MW điện mặt trời tập trung; 117MW điện mặt trời
mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ; 24MW điện sinh khối và 16MW điện rác; lưới điện
sẽ được đầu tư đường dây 500kV Cà Mau - Bạc Liêu - Thốt Nốt dài 217km và trạm
biến áp 500KV và các tuyến đường dây và trạm 220KV vào Điều chỉnh Quy hoạch điện
VIII đến năm 2030.
Triển khai dự án đường ống thu
gom khí từ các mỏ tiềm năng (Đầm Dơi, Khánh Mỹ,…) thuộc Lô 46/13 kết nối với
đường ống Nam Du, U Minh về PM3- Cà Mau chiều dài dự kiến 40 - 60 km với công
suất khoảng 2,2 tỷ m3/năm, vận hành giai đoạn 2026 - 2030. Dự án khai thác mỏ
Khánh Mỹ - Đầm Dơi được nhà thầu giao Chi nhánh điều hành dầu khí Khánh Mỹ điều
hành hoạt động[10].
Ngoài ra, trong giai đoạn 2021
- 2025, tỉnh còn lập Đề án xuất khẩu điện tỉnh Cà Mau và được Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt trong danh mục của Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII với công suất
2.000 - 5.000 MW; sản xuất hydro xanh từ năng lượng tái tạo cũng được Thủ tướng
phê duyệt trong danh mục tiềm năng của Quy hoạch tỉnh tại Quyết định số
1386/QĐ-TTg ngày 16/11/2023 với công suất 86.248 tấn/năm.
3.2. Về xây dựng; công
tác quy hoạch, phát triển đô thị
- Về đầu tư xây dựng: Hệ
thống kết cấu hạ tầng giao thông được quan tâm đầu tư xây dựng, từng bước hoàn
thiện, đáp ứng nhu cầu đi lại của Nhân dân, nhiều dự án hạ trọng điểm được đầu
tư mới, đưa vào sử dụng hiệu quả như: Khu lưu niệm Chuyến tàu tập kết ra Bắc,
cầu sông Ông Đốc, tuyến trục Đông - Tây, cầu Gành Hào, đường tránh Quốc lộ 1,
tuyến đường Cà Mau - Đầm Dơi, nâng cấp bệnh viện Đa khoa Bạc Liêu… Khởi công
nhiều dự án động lực mới: Cao tốc Cần Thơ - Cà Mau (dự kiến hoàn thành cuối năm
2025); cao tốc Cà Mau - Đất Mũi, Cảng Hòn Khoai và tuyến đường nối từ đất liền
ra đảo Hòn Khoai; Nâng cấp, mở rộng sân bay Cà Mau; Bệnh viện đa khoa Cà Mau
1.200 giường; đường vành đai trong và vành đai ngoài Bạc Liêu, cầu Hoà Bình
2; tuyến đường ĐT.979 kết nối với tuyến cao tốc; tuyến đường U Minh - Khánh Hội,
tuyến đường Cái Nước - Vàm Đình - Cái Đôi Vàm. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội
giai đoạn 2021 - 2025 ước đạt 288.845 tỷ đồng.
Công tác quản lý, bảo vệ kết cấu
hạ tầng giao thông được tập trung thực hiện. Triển khai đúng tiến độ các hoạt động
bảo dưỡng thường xuyên, sửa chữa định kỳ các công trình giao thông. Chú trọng
thực hiện các dự án, công trình giao thông trọng điểm trên địa bàn tỉnh.
- Về Quy hoạch tỉnh: Hoàn
thành công tác lập Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2025
và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt[11].
Hiện nay, tỉnh đang tích cực khẩn trương thực hiện trình tự, thủ tục điều chỉnh
Quy hoạch tỉnh Cà Mau thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 theo quy định,
phù hợp với địa giới hành chính mới và tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp.
- Về quy hoạch đô thị, nông
thôn:
Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt
các đồ án Quy hoạch đô thị và nông thôn, cụ thể như: Điều chỉnh đồ án Quy hoạch
chung thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau đến năm 2045; Điều chỉnh đồ án Quy hoạch
chung đô thị Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau đến năm 2035; đồ án điều
chỉnh Quy hoạch phân khu xây dựng Khu công nghiệp Hòa Trung, huyện Cái Nước, tỉnh
Cà Mau, tỷ lệ 1/2000; Đồ án Quy hoạch chi tiết xây dựng Khu Tượng đài kỷ niệm
chuyến tàu tập kết ra Bắc năm 1954, tỷ lệ 1/500,… Phê duyệt các Đồ án Quy hoạch
xây dựng vùng huyện: Đông Hải, Hòa Bình, Hồng Dân và Vĩnh Lợi; Đồ án Quy hoạch
chung: Đồ án điều chỉnh Quy hoạch chung thành phố Bạc Liêu đến năm 2045; đồ án
điều chỉnh Quy hoạch chung thị trấn Phước Long,...
Tổ chức lập các đồ án quy hoạch:
Đồ án Quy hoạch chung đô thị mới: Đất Mũi, Tân Thuận, Trí Phải, Tân Hưng, Phú
Tân, Thanh Tùng, Thạnh Phú, Khánh Bình Tây, Nguyễn Huân, Khánh Hội, Hồ Thị Kỷ;
Đồ án Quy hoạch chung Khu du lịch sinh thái Đầm Thị Tường, tỷ lệ 1/10.000; Đồ
án điều chỉnh cục bộ Quy hoạch phân khu Khu dân cư Khóm 3, Khóm 4, phường
Tân Xuyên, thành phố Cà Mau, tỷ lệ 1/2.000; Đồ án Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục
hồi di tích Địa điểm chứng tích tội ác Mỹ Ngụy ở Biệt khu Hải Yến - Bình
Hưng, xã Phú Tân, tỉnh Cà Mau, tỷ lệ 1/500.
- Về phát triển nhà ở xã hội:
Công tác phát triển nhà ở đô thị và nông thôn có nhiều chuyển biến; tiếp
tục triển khai thực hiện Đề án 1 triệu căn nhà ở xã hội giai đoạn 2021 - 2030.
Năm 2024, hoàn thành 87 căn; kế hoạch năm 2025 hoàn thành 610 căn (đến nay hoàn
thành 420 căn, ước cuối năm 2025 hoàn thành 610 căn theo kế hoạch).
Các đề án hỗ trợ nhà cho người
có công cách mạng, người nghèo được quan tâm thực hiện; tỉnh đã hoàn thành
chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát sớm hơn 03 tháng so kế hoạch của tỉnh,
sớm hơn 05 tháng so kế hoạch của trung ương; qua đó, tỉnh Cà Mau là 01
trong 19 tập thể được Thủ tướng Chính phủ tặng Huân chương Lao động hạng Ba vì
có thành tích xuất sắc trong Phong trào “Chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát”
trên phạm vi cả nước [12].
4. Lĩnh vực
thương mại, dịch vụ
4.1. Về thương mại
Hoạt động giao thương nội địa
diễn ra khá sôi động, mạng lưới thương mại bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng hàng
hóa được củng cố, mở rộng về quy mô, hình thức phân phối hàng hóa. Tổ chức
có hiệu quả Đề án phát triển thị trường trong nước gắn với cuộc vận động
“Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch
vụ tiêu dùng ước đạt 820.736 tỷ đồng, bằng 96,07% Kế hoạch 05 năm (854.308 tỷ đồng);
tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn đạt 12,06%/năm.
Các hoạt động xúc tiến thương mại
trong nước diễn ra sôi động, đã hỗ trợ hơn 600 lượt doanh nghiệp tham gia 70 sự
kiện xúc tiến thương mại [13] cấp
vùng và quốc gia tại các thành phố lớn, các sự kiện hợp tác, liên kết vùng [14], kết nối nhiều đối tác mua hàng
trong và ngoài nước; tạo điều kiện cho doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất
kinh doanh của tỉnh có không gian trưng bày, quảng bá, giới thiệu sản phẩm [15].
Bên cạnh đó, tiếp tục đẩy mạnh
thực hiện chuyển đổi số, thương mại điện tử, hợp đồng điện tử, hóa đơn điện
tử, thanh toán không dùng tiền mặt đến các đơn vị và doanh nghiệp sản xuất,
kinh doanh trên địa bàn tỉnh. Đến nay, tỉnh Cà Mau có
112 website thương mại điện tử
bán hàng, 04 ứng dụng bán hàng, 01 ứng dụng
cung cấp dịch vụ, 05 website
cung cấp dịch vụ bán hàng (sàn giao dịch thương mại điện tử) đã đăng ký với Bộ
Công Thương.
Triển khai có hiệu quả các Kế
hoạch xuất khẩu trên địa bàn tỉnh, kế hoạch thực hiện các FTA; kịp thời triển
khai, thông tin các văn bản về hội nhập kinh tế, hội nhập quốc tế đến các đơn vị
có liên quan; tổ chức hơn 12 hội nghị về hội nhập kinh tế quốc tế; các nội
dung tập trung triển khai về các hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam
đã ký kết như: RCEP, CPTPP, UKVFTA, EVFTA,... Mặc dù chịu ảnh hưởng lớn của
bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội trong nước và quốc tế; ảnh hưởng bởi dịch
bệnh COVID-19; các chính sách thuế quan,... đặc biệt là các mức thuế đối ứng của
Mỹ, nhưng các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh đã thích ứng, sáng tạo,
vượt qua các khó khăn, thách thức và tận dụng lợi thế từ các hiệp định thương
mại tự do để đẩy mạnh xuất khẩu, đạt được những kết quả đáng ghi nhận với tốc độ
tăng trưởng bình quân đạt 7,63%/năm; tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt 11.302
triệu USD, bằng 95,35% so kế hoạch (11.853 triệu USD).
4.2. Về dịch vụ
- Về du lịch: Du lịch
đang từng bước trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh và hướng đến là
trung tâm du lịch của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Nhiều dự án du lịch được
triển khai, cơ sở vật chất, hạ tầng giao thông được nâng cấp, mở rộng. Các hoạt
động phục vụ, dịch vụ du lịch được tổ chức chuyên nghiệp hơn. Công tác xúc tiến,
quảng bá có đổi mới, góp phần nâng cao hình ảnh điểm đến và sức cạnh tranh của
ngành. Liên kết, hợp tác du lịch được duy trì và mở rộng, tạo động lực thu
hút khách và đầu tư. Tổ chức thành công các sự kiện lớn trong Chương trình “Cà
Mau - Điểm đến”, nhiều địa phương đã phát triển mô hình du lịch mới gắn với
đờn ca tài tử, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, tạo sự đa dạng và gia
tăng trải nghiệm cho du khách, góp phần hình thành nhiều sản phẩm du lịch
đặc trưng. Các chỉ tiêu văn hóa, thể thao và du lịch qua các năm từ năm 2021
đến năm 2024 và ước thực hiện năm 2025 nhìn chung đều đạt chỉ tiêu kế hoạch đề
ra, cụ thể giai đoạn 2021 - 2025 (ước đến cuối năm 2025): Tổng lượt khách du đạt
29,35 triệu lượt (trong đó, khách quốc tế: 0,39 triệu lượt, khách nội địa:
28,96 triệu lượt); tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 12,35%. Tổng thu từ
khách du lịch đạt 30.638 tỷ đồng; tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 13,55%.
- Về dịch vụ vận tải: Chất
lượng phục vụ của các đơn vị tham gia vận tải hành khách, hàng hóa được nâng
cao; đường thủy chiếm tỷ trọng lớn trong vận chuyển hàng hóa và đường bộ chiếm
tỷ trọng lớn trong vận chuyển hành khách[16].
Vận tải đường bộ phát triển
nhanh, hệ thống bến bãi từng bước được quy hoạch, đầu tư xây dựng, phương tiện
vận tải hành khách đường bộ tăng nhanh về số lượng và chất lượng [17]. Vận tải hàng hóa bằng đường
thủy với phương tiện có tải trọng lớn gia tăng [18]. Vận tải hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không
tuy có tăng nhưng vẫn còn chiếm tỷ trọng nhỏ so với các loại giao thông khác.
5. Tài
chính, ngân hàng
Công tác xây dựng dự toán thu,
quản lý, điều hành ngân sách được thực hiện đúng quy định, chống thất thu và
tiết kiệm chi có hiệu quả. Thu ngân sách nhà nước 5 năm (2021 - 2025) ước đạt
51.385 tỷ đồng [19]; chi ngân
sách ước đạt 107.510 tỷ đồng.
Các tổ chức tín dụng tiếp tục
triển khai các giải pháp tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân
tiếp cận tín dụng, cung ứng đủ, kịp thời nhu cầu vốn cho các phương án, dự án
sản xuất kinh doanh khả thi có nhu cầu vay và đáp ứng đủ điều kiện vay vốn,
góp phần tháo gỡ khó khăn trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hộ kinh
doanh cá thể. Tổng nguồn vốn huy động tại địa phương ước đến cuối năm 2025 đạt
86.950 tỷ đồng, tăng 13%; tổng dư nợ cho vay ước đạt 127.000 tỷ đồng, tăng
8,9%; tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ chiếm 3,9%.
6. Cải thiện
môi trường đầu tư kinh doanh, thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp và cải
cách hành chính
- Về cải thiện môi trường đầu
tư kinh doanh: Công tác hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh
được các cấp, các ngành quan tâm triển khai thực hiện tốt [20]. Theo đó, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI thuộc
nhóm có chất lượng điều hành tốt trên bản đồ PCI cả nước [21] kết quả này đã ghi nhận những nỗ lực, chỉ đạo kỳ quyết,
kịp thời của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh và sự quyết
tâm phấn đấu của các cấp, các ngành trong triển khai thực hiện có hiệu quả các
nhiệm vụ, giải pháp của Chính phủ và các nhiệm vụ, giải pháp được giao trong cải
thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao chỉ số PCI của tỉnh Cà Mau trong
năm vừa qua. Đồng thời, các thành phần kinh tế, loại hình doanh nghiệp phát
triển đa dạng, đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế
- xã hội của tỉnh.
- Về thu hút đầu tư: Giai
đoạn 2021 - 2025, đã cấp Quyết định chủ trương đầu tư cho 129 dự án cấp tỉnh
(trong đó, có 123 dự án trong nước, với tổng số vốn đăng ký 46.496,7 tỷ đồng;
6 dự án nước ngoài, với vốn đăng ký đầu tư 27.701.816 USD (tương đương 656,433
tỷ đồng)); lũy kế đến nay có 681 dự án đầu tư đang hoạt động, với tổng vốn
đăng ký 328.782,9 tỷ đồng (trong đó: có 29 dự án FDI, với tổng vốn đăng ký
đầu tư 4,87 tỷ USD (tương đương 113.229 tỷ đồng)).
- Về phát triển doanh nghiệp:
Trong những năm qua, khu vực
doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn tỉnh Cà Mau tiếp tục được Tỉnh ủy, Ủy ban
nhân dân tỉnh và các ngành, địa phương quan tâm tạo điều kiện thuận lợi phát
triển, từng bước trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế tỉnh. Tỉnh đã
thường xuyên tổ chức các cuộc đối thoại trực tiếp giữa lãnh đạo Ủy ban nhân
dân tỉnh, các sở, ban, ngành, địa phương với doanh nghiệp và nhà đầu tư để tiếp
nhận phản ánh, kiến nghị, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, cải thiện môi
trường đầu tư, kinh doanh.
Ngày 04/5/2025, Bộ Chính trị
ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân có ý nghĩa như
một “cú hích” chiến lược, không chỉ khẳng định vai trò của kinh tế tư nhân mà
còn yêu cầu phải “xóa bỏ các rào cản, định kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi
để phát triển kinh tế tư nhân”, Nghị quyết là một chủ trương, giải pháp lớn,
có ý nghĩa chiến lược, là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Tỉnh ủy, Ủy
ban nhân dân tỉnh đã ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số
68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị[22].
Ước
giai đoạn 2021 - 2025, sau khi hợp nhất, tỉnh Cà Mau có 5.233 doanh nghiệp
đăng ký mới; nâng tổng số doanh nghiệp toàn tỉnh đến cuối năm 2025 lên 10.330
doanh nghiệp, tăng 43% so với đầu nhiệm kỳ. Khu vực tư nhân năm 2024 đóng góp
112.066 tỷ đồng trong cơ cấu GRDP của tỉnh, chiếm 73,17%, tiếp tục tăng so với
năm 2020 là 71,68%. Doanh nghiệp đóng góp ngân sách năm 2024 hơn 2.450 tỷ đồng;
đồng thời tạo việc làm cho 78.548 lao động (tăng 1,65% so với cuối năm 2020),
tổng thu nhập người lao động đạt 7.481 tỷ đồng, tăng 29,5%, bình quân thu nhập
hàng tháng đạt 7,94 triệu đồng/người, tăng 27,5% so với năm 2020.
-
Về kinh tế tập thể: Kinh tế hợp tác tiếp tục
phát triển; số hợp tác xã hoạt động có hiệu quả tiếp tục được duy trì và có
bước nâng lên; nhiều hợp tác xã được củng cố, kiện toàn; chất lượng sản phẩm bước
đầu được hình thành trong một số hợp tác xã, nhất là hợp tác xã nông nghiệp,
đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội [23].
-
Công tác cải cách hành chính: Thực hiện
Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng
thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 - 2030, Ủy ban nhân dân tỉnh
ban hành ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn
2021 - 2030 của tỉnh Cà Mau và tổ chức hội nghị triển khai đến tất cả các sở,
ban, ngành tỉnh, địa phương. Theo công bố của Bộ Nội vụ, các chỉ số cải cách
hành chính, chỉ số hài lòng của người dân, doanh nghiệp đối với sự phục vụ của
cơ quan hành chính nhà nước có một số kết quả tích cực [24].
7. Lĩnh vực khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới
sáng tạo
Tiếp
tục đẩy mạnh triển khai hiệu quả Chương trình hành động số 97- CTr/TU ngày
23/5/2025 của Tỉnh ủy Cà Mau về thực hiện Nghị quyết số 57- NQ/TW ngày
22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Tỉnh
đã tổ chức thành công 06 Hội nghị về khoa học công nghệ, chuyển đổi số; triển
khai đồng loạt ứng dụng Trí tuệ nhân tạo (AI). Đặc biệt, Đảng bộ tỉnh Cà Mau
và một số đảng bộ xã, phường đã ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số
trong tổ chức đại hội đảng theo mô hình “không giấy”, góp phần đổi mới phương
thức điều hành, nâng cao hiệu quả, tính minh bạch và hiện đại trong công tác tổ
chức đại hội.
-
Về khoa học, công nghệ:
Trong
giai đoạn 2021 - 2025: Đã triển khai thực hiện đề tài, dự án cấp bộ: 05 nhiệm vụ,
thông qua xét duyệt đề cương 04 nhiệm vụ; đề tài, dự án cấp tỉnh, tổng số được
phê duyệt 81 đề tài/dự án; tổ chức hội đồng nghiệm thu kết quả thực hiện 101 đề
tài/dự án; ban hành Quyết định công nhận kết quả 66 đề tài/dự án hoàn thành; tiến
hành kiểm tra định kỳ tiến độ thực hiện nội dung và kinh phí đối với 160 lượt đề
tài/dự án.
Triển
khai thực hiện nhiệm vụ thuộc Chương trình Ứng dụng nhân rộng kết quả nghiên cứu
thử nghiệm vào sản xuất và đời sống; Chương trình Ứng dụng khoa học và công
nghệ phục vụ xây dựng nông thôn mới, tái cơ cấu ngành nông nghiệp và phát triển
sản phẩm OCOP; Chương trình Hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất chất lượng
dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tỉnh Cà Mau; Dự án
Huy động nguồn lực nhân rộng quy trình công nghệ nuôi tôm thẻ chân trắng siêu
thâm canh tuần hoàn, ít thay nước, an toàn sinh học trên địa bàn tỉnh Cà
Mau;...
Hoạt
động tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng; quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ,
quản lý công nghệ, thị trường công nghệ, khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo...
thường xuyên được quan tâm và đạt kết quả quan trọng.
-
Về chuyển đổi số: Triển khai thực hiện có
hiệu quả phong trào “Bình dân học vụ số”, tổ chức Lễ phát động phong trào
“Bình dân học vụ số” và Tọa đàm với chủ đề “Lãnh đạo thích ứng với làn sóng
AI”, triển khai mô hình “Tổ công nghệ số cộng đồng”[25].
Về
phát triển hạ tầng số: 100% xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh đã triển
khai hệ thống cáp quang Internet và phủ sóng mạng di động 3G/4G; 100% cơ quan,
đơn vị nhà nước cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã có hệ thống mạng LAN, kết nối
Internet tốc độ cao.
Trung
tâm Giám sát, điều hành thông minh (IOC) của tỉnh Cà Mau đã hoàn thiện và đưa
vào vận hành, kết nối 13 lĩnh vực quản lý với 39 loại dữ liệu và 258 trường
thông tin.
8. Công tác quản lý tài nguyên; bảo vệ môi trường; phòng chống
thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh
Công
tác lập, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đảm bảo quy định, đáp ứng
nhu cầu phát triển của ngành, lĩnh vực, địa phương, tạo nguồn lực để phục vụ
phát triển kinh tế - xã hội. Đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng thực hiện
các dự án đầu tư. Công tác bồi thường, tái định cư cho các hộ gia đình, cá
nhân bị ảnh hưởng bởi dự án thực hiện kịp thời, theo quy định. Các nguồn tài
nguyên được quy hoạch, quản lý, khai thác và sử dụng khá hợp lý, hiệu quả;
quản lý chặt chẽ hoạt động khai thác khoáng sản, đặc biệt là cát biển, cát
bồi vùng cửa sông ven biển, đất mặt, đất lòng sông…; công tác quản lý tài
nguyên từng bước đi vào nề nếp, hướng đến việc khai thác, sử dụng hiệu quả, bền
vững.
Công
tác bảo vệ môi trường được chỉ đạo thực hiện quyết liệt. Chất thải sinh hoạt
đô thị, chất thải rắn y tế được thu gom và xử lý đúng quy định, chất thải
nguy hại được quản lý chặt chẽ theo quy định. Công tác tuyên truyền bảo vệ
môi trường thông qua các hình thức đa dạng, phong phú góp phần nâng cao ý
thức của nhân dân. Đầu tư xây dựng các bãi tập kết xử lý rác thải tập trung;
kiểm tra, xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng;
thường xuyên theo dõi chất lượng không khí, chất lượng nguồn nước, môi trường
biển, đa dạng sinh học vùng ven bờ và quanh các cụm đảo thông qua các chương
trình quan trắc nhằm cảnh báo và khắc phục kịp thời khi bị ô nhiễm.
Công
tác bảo vệ, phát triển, nâng cao chất lượng rừng và duy trì độ che phủ rừng
được chú trọng, công tác trồng rừng gắn với khai thác hiệu quả; đẩy mạnh tái
sinh khu vực bãi bồi, nâng cao chất lượng rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, nhất
là những khu vực nhạy cảm như các vườn quốc gia và rừng ven biển; công tác bảo
tồn đa dạng sinh học, quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên, rừng đặc dụng,
rừng phòng hộ thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ. Các giải pháp thích ứng với biến
đổi khí hậu được quan tâm lồng ghép vào các chương trình, dự án phát triển
kinh tế - xã hội ở địa phương. Xây dựng, tổ chức thực hiện khá tốt các kế hoạch
phòng, chống thiên tai, phương án ứng phó thiên tai; thường xuyên khảo sát,
đánh giá mức độ an toàn các tuyến kênh vùng ngọt hóa, đê sông, đê biển và kè
biển để triển khai các giải pháp cảnh báo, gia cố, khắc phục sạt lở.
9. Lĩnh vực văn hóa, xã hội
9.1.
Công tác giáo dục và đào tạo; giải quyết việc làm và an sinh xã hội
-
Về giáo dục và đào tạo: có nhiều tiến bộ;
đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục các cấp phát triển cả về lượng và chất.
Công tác xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia được thực hiện quyết liệt, tỷ
lệ trường đạt chuẩn quốc gia tăng nhanh; giai đoạn 2021 - 2025 (ước đến cuối
năm 2025) toàn tỉnh có 630/731 trường công lập đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ
86,2% hoàn thành và vượt kế hoạch đề ra. Công tác phổ cập giáo dục tiếp tục được
duy trì và nâng cao mức độ đạt chuẩn. Việc ứng dụng công nghệ thông tin và
chuyển đổi số trong ngành giáo dục được đẩy mạnh. Đào tạo nghề cho người lao động
được chú trọng; trình độ, tay nghề của người lao động không ngừng cải thiện,
cơ bản đáp ứng yêu cầu lao động của xã hội[26]. Chất lượng dạy và học tăng dần qua từng năm. Tỷ lệ học
sinh tốt nghiệp trung học phổ thông của tỉnh Cà Mau năm 2025 đạt 99,4%. Đẩy mạnh
công tác xã hội hóa giáo dục để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường, lớp học;
tiếp tục đẩy mạnh thu hút các nguồn vốn hợp pháp ngoài ngân sách nhà nước để đầu
tư, nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy học.
-
Về giải quyết việc làm: Giai đoạn 2021 -
2025 (ước đến cuối năm 2025) giải quyết việc làm cho 316.870 lao động, bình
quân giải quyết việc làm cho 63.374 lao động/năm[27].
Lao động
xuất cảnh đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng giai đoạn 2021 - 2025 (ước đến
cuối năm 2025) là 4.246 người, bằng 96,5% kế hoạch (trong đó, có 285 lao động
thời vụ) [28]. Công tác quản lý
lao động người nước ngoài làm việc trên địa bàn tỉnh được thực hiện đảm bảo
quy định; đến thời điểm báo cáo, số lao động người nước ngoài được cấp giấy phép
lao động còn thời hạn trên địa bàn tỉnh là 463 người.
-
Về an sinh xã hội: Hoạt động chăm sóc
người có công được quan tâm và đẩy mạnh, hiện nay toàn tỉnh có khoảng
185.008 người được công nhận (trong đó, có 21.681 người đang hưởng trợ cấp
hàng tháng, với tổng kinh phí chi trả trên 60 tỷ đồng/năm). Công tác chi trả trợ
cấp được thực hiện đầy đủ, kịp thời, an toàn, đặc biệt trong các thời điểm dịch
bệnh và chuyển đổi hình thức chi trả không dùng tiền mặt theo lộ trình Chính
phủ quy định. Từ năm 2021 - 2025 đã vận động trên 61 tỷ đồng, xây dựng, sửa
chữa cho khoảng 1.400 căn nhà tình nghĩa.
Triển
khai thực hiện đồng bộ các mục tiêu của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới
giai đoạn 2021 - 2030 gắn với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của
địa phương; đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, giáo dục về bình đẳng giới
thông qua việc triển khai nhiều chương trình, hội thảo, chiến dịch truyền
thông đa dạng, nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về bình đẳng giới. Các hoạt
động được tổ chức thường xuyên, khuyến khích sự tham gia của cả nam và nữ
trong các lĩnh vực xã hội, góp phần xóa bỏ định kiến giới, thúc đẩy sự tôn
trọng và hợp tác giữa các giới. Công tác truyền thông, phổ biến pháp luật,
phòng chống bạo lực trên cơ sở giới được chú trọng, khoảng 90% người dân trên
địa bàn tỉnh đã được tiếp cận các kiến thức cơ bản về phòng, chống bạo lực trên
cở sở giới.
9.2.
Y tế
Công
tác bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe cho Nhân dân luôn được quan tâm; chất
lượng khám bệnh, chữa bệnh tại các tuyến được nâng lên, cơ bản đáp ứng nhu cầu
khám chữa bệnh của người dân. Công tác phòng, chống dịch bệnh được tăng
cường, nhiều biện pháp tuyên truyền và hướng dẫn vệ sinh, phòng bệnh hiệu quả.
Các dịch bệnh được kiểm soát tốt, đặc biệt là dịch bệnh COVID-19. Từ cuối
tháng 4 năm 2021 đến những tháng đầu năm 2022, tình hình dịch bệnh COVID-19
bùng phát mạnh, xâm nhập vào tỉnh, tác động ảnh hưởng lớn đến tình hình phát
triển kinh tế - xã hội của tỉnh, nhưng với sự chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, Ủy
ban nhân dân tỉnh và sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, sự ủng hộ,
chia sẻ, tin tưởng của các tầng lớp nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp, dịch bệnh
COVID-19 được kiểm soát, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh được phục hồi và
phát triển.
Đẩy mạnh
chuyển đổi số trong lĩnh vực y tế, ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác
khám chữa bệnh, thanh quyết toán bảo hiểm y tế, quản lý, điều hành bệnh viện;
các Bệnh viện và Trung tâm Y tế có giường bệnh đã hoàn thành việc triển khai ứng
dụng bệnh án điện tử thay thế bệnh án giấy và thanh toán viện phí không dùng
tiền mặt; sử dụng căn cước công dân gắn chip cho việc tiếp nhận thông tin khi
đến khám bệnh. Đã triển khai và vận hành, kết nối hệ thống thông tin Quốc gia về
quản lý kê đơn thuốc và bán thuốc theo đơn; liên thông dữ liệu giấy khám sức
khỏe lái xe từ phần mềm của cơ sở khám chữa bệnh lên Cổng tiếp nhận dữ liệu
Hệ thống thông tin giám định bảo hiểm y tế,...
Cơ
sở vật chất ngành y tế từ tuyến tỉnh đến cơ sở tiếp tục được quan tâm đầu
tư, nâng cấp; số giường bệnh/vạn dân, ước đến cuối năm 2025 đạt 30 giường; tỷ
lệ trẻ em dưới 5 tuổi (chiều cao/tuổi) suy dinh dưỡng giảm còn 19%. Công tác
đào tạo bổ sung nguồn nhân lực y tế được quan tâm. Đội ngũ cán bộ y tế ngày
càng được nâng cao về chất lượng chuyên môn. Tỷ lệ bác sĩ/vạn dân, ước đến cuối
năm 2025 đạt 13,05 bác sĩ; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế trong toàn tỉnh ước đạt
95%.
9.3.
Văn hóa, thể thao
Hệ thống
các thiết chế văn hóa từ tỉnh đến cơ sở đã có những hoạt động tích cực, thu
hút được sự quan tâm của đông đảo quần chúng Nhân dân[29]
Hoạt
động lĩnh vực văn hóa - gia đình có nhiều chuyển biến, các hoạt động bảo tồn,
phát huy di sản, phát triển văn hóa đọc, nghệ thuật biểu diễn tiếp tục được
quan tâm, tạo môi trường lành mạnh, khuyến khích sáng tạo và giữ gìn giá trị
truyền thống.
Phong
trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa được triển khai rộng khắp,
ngày càng đi vào chiều sâu, công tác gia đình có bước tiến, ý thức cộng đồng
về xây dựng hạnh phúc gia đình, phòng chống bạo lực được nâng lên. Ước đến cuối
năm 2025 tỷ lệ gia đình được công nhận danh hiệu “Gia đình văn hóa” đạt
93,5%; tỷ lệ xã có Trung tâm Văn hóa, Thể thao - Học tập cộng đồng đạt 69%.
Thể dục
thể thao quần chúng phát triển mạnh, thu hút đông đảo người dân tham gia. Tỷ lệ
dân số tập luyện thể dục thể thao thường xuyên đạt 35%; tỷ lệ gia đình thể
thao đạt tiêu chuẩn gia đình thể thao đạt 26%.
10. Quốc phòng, an ninh, nội chính
10.1.
Quốc phòng, an ninh
Tình
hình an ninh chính trị trên địa bàn tỉnh ổn định. Phối hợp giữa 03 lực lượng
(Công an - Quân sự - Biên phòng) từ tỉnh đến cơ sở được thực hiện theo quy chế,
kế hoạch, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa
bàn tỉnh; chủ động bảo vệ tuyệt đối an toàn các sự kiện chính trị, kinh tế, văn
hóa xã hội quan trọng; chủ quyền biên giới biển được giữ vững, không phát hiện
các dấu hiệu hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia.
Công
tác bồi dưỡng, tập huấn, huấn luyện, giáo dục quốc phòng được thực hiện theo
quy định. Tổ chức tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ hàng năm đạt chỉ tiêu kế hoạch.
Tổ chức thành công diễn tập tác chiến phòng thủ kết hợp tình huống phòng thủ
dân sự cấp tỉnh. An ninh chính trị, chủ quyền vùng biển được giữ vững; công tác
kiểm tra, kiểm soát, ngăn chặn hoạt động buôn lậu trên khu vực biên giới biển
được thực hiện theo quy định.
10.2.
Trật tự, an toàn xã hội, an toàn giao thông
Thực
hiện tốt nhiệm vụ được giao của Đề án số 06, Dự án Cơ sở dữ liệu quốc gia về
dân cư và Cấp căn cước công dân.
Công
tác giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được tăng cường thực
hiện, xử lý kịp thời, hiệu quả các vụ việc xảy ra; tuy nhiên , tình hình tội
phạm về trật tự xã hội, tội phạm về ma túy và tệ nạn x ã hội từng lúc còn
diễn biến phức tạp [30]. Công
tác phòng, chống cháy, nổ tiếp tục được quan tâm, chỉ đạo quyết liệt; thường
xuyên kiểm tra, hướng dẫn công tác phòng cháy, chữa cháy đối với khu dân cư và
cơ sở có nguy cơ cháy, nổ cao[31].
Công
tác đảm bảo trật tự, an toàn giao thông được chỉ đạo triển khai, thực hiện quyết
liệt với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” và với quyết tâm kiềm
chế tai nạn giao thông [32]
10.3.
Công tác thanh tra, tiếp dân, tư pháp
Công
tác thanh tra tiếp tục được tăng cường thực hiện, góp phần quan trọng trong việc
phát hiện, chấn chỉnh, xử lý vi phạm, tiêu cực, tham nhũng, nâng cao hiệu lực,
hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước trên nhiều lĩnh vực [33].
Công
tác tiếp dân, xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực hiện tốt;
các quyết định giải quyết khiếu nại, văn bản xử lý tố cáo có hiệu lực pháp
luật tiếp tục được đôn đốc tổ chức thực hiện công khai, minh bạch.
Hoạt
động tư pháp, xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật được triển khai kịp
thời, hiệu quả. Công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, pháp
chế và hỗ trợ doanh nghiệp được thực hiện chặt chẽ theo kế hoạch. Công tác tự
kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện theo quy định.
Công
tác quản lý nhà nước về xây dựng, thi hành pháp luật; kiểm tra, xử lý văn bản
quy phạm pháp luật được tỉnh xác định trọng tâm nên trong thời gian qua công
tác này chuyển biến tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, giữ
vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và góp phần phát triển kinh tế
- xã hội ở địa phương; nguồn lực bước đầu được tăng cường, nhất là đội ngũ
pháp chế; trình độ chuyên môn nghiệp vụ được nâng lên, chất lượng dự thảo, thẩm
định văn bản quy phạm pháp luật từng bước được nâng lên.
10.4.
Công tác nội vụ
Việc
tổ chức triển khai các văn bản của Trung ương[34] về xây dựng tổ chức hoạt động chính quyền
địa phương 02 cấp được thực hiện nghiêm túc, đảm bảo chính quyền địa phương hoạt
động thông suốt, hiệu quả.
Công
tác quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tiếp tục được quan tâm thực
hiện; công tác rà soát, sắp xếp, tổ chức lại các cơ quan, tổ chức hành chính và
đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh tiếp tục được triển khai thực hiện.
Thực hiện Kế hoạch số 141/KH-BCĐTKNQ18 ngày 06/12/2024 của Ban Chỉ đạo về tổng
kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW; Kết luận số 121-KL/TW ngày
24/01/2025 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tổng kết Nghị quyết
số 18-NQ/TW; Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12/4/2025 của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khóa XIII; sau khi hợp nhất tỉnh Cà Mau và tỉnh Bạc Liêu, Ủy ban nhân dân
tỉnh chỉ đạo cơ quan chuyên môn hướng dẫn xây dựng Đề án vị trí việc làm trong
các cơ quan, tổ chức hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập; hiện các cơ quan,
đơn vị, địa phương đang trong quá trình xây dựng Đề án. Thực hiện đúng, đủ các
quy định về chế độ, chính sách cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nghỉ việc
theo Nghị định số 178/2024/NĐ-CP, Nghị định số 67/2025/NĐ-CP; về tinh giản biên
chế theo Nghị định số 154/2025/NĐ-CP của Chính phủ.
Công
tác rà soát, kiểm kê và đánh giá hiện trạng sử dụng trụ sở làm việc, nhà công
vụ và các tài sản công thuộc phạm vi quản lý của các cơ quan, đơn vị tiếp tục
được thực hiện chặt chẽ theo quy định.
10.5.
Công tác dân tộc, tôn giáo
Ủy
ban nhân dân tỉnh đã tổ chức, triển khai thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ
trương của Đảng và các chính sách dành cho đồng bào dân tộc thiểu số; tuyên
truyền, hướng dẫn các cơ sở tôn giáo chấp hành tốt quy định của pháp luật, nhất
là Luật tín ngưỡng, tôn giáo đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần phát triển
kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh trật tự, nâng cao đời sống vật
chất lẫn tinh thần của đồng bào trên địa bàn tỉnh.
Các tổ
chức tôn giáo, đồng bào dân tộc thiểu số có ý thức cao về chấp hành tốt và thực
hiện đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất
là việc xây dựng, cải tạo, sửa chữa, các hoạt động của các cơ sở tôn giáo đã
được người đứng đầu các cơ sở tôn giáo quan tâm, thực hiện đúng trình tự, thủ
tục theo quy định của pháp luật; các dân tộc luôn phát huy tinh thần tương thân
tương ái, sinh sống đoàn kết thống nhất, giúp đỡ nhau cùng phát triển.
Công
tác chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa
bàn tỉnh được quan tâm tổ chức thực hiện[35], góp phần cùng với các địa phương làm tốt công tác giảm
nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống cho đồng bào dân tộc thiểu số và người
dân vùng dân tộc thiểu số của tỉnh. Tổ chức thành công Đại hội đại biểu các dân
tộc thiểu số cấp huyện, cấp tỉnh lần thứ IV.
III. NHỮNG HẠN CHẾ, KHÓ KHĂN
Chuyển
dịch cơ cấu kinh tế còn chậm; chỉ số sản xuất công nghiệp còn thấp, chưa tương
xứng với tiềm năng và yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế; tỷ trọng công nghiệp
và xây dựng trong GRDP thấp, chưa xây dựng được nhiều cụm liên kết ngành công
nghiệp. Tiến độ đầu tư, xây dựng một số công trình, dự án trọng điểm chưa đạt
kế hoạch đề ra.
Kinh
tế biển, ven biển phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế; đầu tư
phòng chống sạt lở bờ biển, bờ sông còn hạn chế. Hạ tầng giao thông trong tỉnh,
kết nối vùng và huy động nguồn lực tư nhân cho phát triển hạ tầng còn hạn chế,
chưa đáp ứng yêu cầu đồng bộ, hiện đại. Xây dựng nông thôn mới có mặt chưa
toàn diện, thiếu vững chắc. Phát triển đô thị, vệ sinh môi trường có nơi chưa
đảm bảo yêu cầu. Kinh tế tập thể phát triển chậm, quy mô nhỏ, hiệu quả hoạt động
thấp.
Số hộ
kinh doanh cá thể chuyển lên doanh nghiệp và số doanh nghiệp phát triển thành
doanh nghiệp quy mô lớn còn ít. Sự phát triển của khu vực doanh nghiệp tư nhân
vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Phần lớn doanh nghiệp trong tỉnh
có quy mô nhỏ và siêu nhỏ với quy mô lao động dưới 50 người chiếm tới
98,58%; tỷ lệ này có xu hướng tăng so với đầu nhiệm kỳ (96%), cho thấy số lượng
doanh nghiệp tuy tăng nhưng quy mô chưa có sự chuyển biến rõ rệt. Số doanh
nghiệp rút khỏi thị trường có xu hướng tăng, ước 2025 có 800 doanh nghiệp
rút khỏi thị trường, tăng 47,6% so với năm 2020 (540 doanh nghiệp), cho thấy
môi trường kinh doanh vẫn còn nhiều khó khăn, khả năng chống chịu của doanh
nghiệp vẫn còn hạn chế.
Du lịch
phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của tỉnh; hạ tầng phục vụ du
lịch và dịch vụ du lịch còn yếu, chưa chuyên nghiệp, hiệu quả thấp; dịch vụ vận
tải và logistics phát triển chậm. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển
đổi số còn nhiều hạn chế, chưa theo kịp yêu cầu; tỷ lệ chi nghiên cứu khoa học,
công nghệ thuộc nhóm địa phương thấp nhất cả nước. Thiết chế văn hóa còn thiếu,
vận hành còn nhiều khó khăn. Y tế, giáo dục có mặt chưa đáp ứng yêu cầu. Đào
tạo nghề lao động nông thôn chưa được chú trọng đúng mức; nguồn nhân lực chất
lượng cao còn ít, chưa thực sự trở thành khâu đột phá trong phát triển. Tỷ lệ
hồ sơ người dân tự thực hiện trực tuyến còn thấp; thủ tục hành chính trên một
số lĩnh vực chưa được đơn giản hóa.
Tội
phạm kinh tế, tham nhũng, ma túy... ngày càng phức tạp, tinh vi, việc phát hiện
và đấu tranh ngăn chặn gặp nhiều khó khăn. Tình trạng tàu cá ngư dân khai
thác vi phạm vùng biển nước ngoài và hoạt động buôn lậu xăng dầu trên biển,
gian lận thương mại, tranh chấp ngư trường… chưa được ngăn chặn triệt để.
IV. NGUYÊN NHÂN
1. Nguyên nhân khách quan
Tình
hình thế giới diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, vượt ngoài khả
năng dự báo, đã ảnh hưởng, tác động không nhỏ đến tình hình đất nước và của
tỉnh trong suốt nhiệm kỳ đại hội. Đặc biệt, ảnh hưởng nặng nề của đại dịch
COVID-19; thời tiết diễn biến phức tạp, thiên tai, biến đổi khí hậu gây sạt
lở bờ biển, bờ sông, xâm nhập mặn diễn ra nhiều nơi; việc đứt gãy chuỗi
cung ứng; biến động giá vật liệu tăng cao, giá cả nhiều mặt hàng nông sản thấp,
bấp bênh... ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh và
đời sống người dân.
Là địa
phương xa trung tâm các thành phố lớn, không nằm trong vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam; không có nguồn vật liệu tại chỗ trong khi vật liệu xây dựng, nhất là
cát, đá ngày càng khan hiếm, giá cả tăng cao, gây khó khăn và làm tăng chi phí
đầu tư, dẫn đến việc mời gọi đầu tư, huy động nguồn lực từ các thành phần
kinh tế còn nhiều khó khăn. Hạ tầng lưới điện không đảm bảo truyền tải cho các
dự án điện gió, điện mặt trời, gây lãng phí năng lượng và khó kêu gọi đầu
tư dự án mới...
2. Nguyên nhân chủ quan
Công
tác lãnh đạo, chỉ đạo và kiểm tra, giám sát của một số cấp ủy, chính quyền các
cấp có lúc, có nơi chưa cao, hiệu quả còn hạn chế, chưa thể hiện hết quyết
tâm, trách nhiệm cao trong lãnh đạo, chỉ đạo. Công tác phối hợp giữa các cấp,
các ngành có lúc, có nơi chưa đồng bộ, thiếu chặt chẽ. Một số sở, ngành, địa
phương xử lý, giải quyết một số vụ việc tồn đọng còn chậm, kéo dài. Một số cơ
quan chưa chủ động tranh thủ sự ủng hộ của các bộ, ngành Trung ương nên hiệu quả
triển khai thực hiện nhiệm vụ chưa cao.
Một bộ
phận cán bộ trình độ, năng lực chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; tinh thần trách
nhiệm chưa cao; thực thi công vụ chưa quyết liệt, còn nặng tâm lý sợ rủi ro,
sợ trách nhiệm, nên né tránh, đùn đẩy trong xử lý công việc. Doanh nghiệp
trong tỉnh hầu hết có quy mô nhỏ và vừa, năng lực cạnh tranh thấp. Việc ứng
dụng khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ thông tin còn hạn chế; nguồn lực đầu
tư cho khoa học, công nghệ chưa đáp ứng yêu cầu phát triển.
V. BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Một
là, trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành cần
phát huy dân chủ, vai trò của tập thể gắn với nâng cao trách nhiệm của từng cá
nhân, đặc biệt là trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu; thường xuyên đổi
mới phương thức lãnh đạo, phương pháp, lề lối làm việc theo hướng toàn diện,
sâu sát, chọn đúng lĩnh vực trọng tâm, khâu đột phá để chỉ đạo; chuyển từ
chính quyền thụ động sang kiến tạo, chủ động phục vụ Nhân dân.
Hai
là, phải đảm bảo hài hòa giữa kế thừa và
đổi mới, ổn định và phát triển; giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn
hóa, con người, giải quyết tốt các vấn đề xã hội; giữa phát triển kinh tế -
xã hội với đảm bảo quốc phòng, an ninh.
Ba
là, phải quán triệt, thực hiện nghiêm các
quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước; xác định
đúng định hướng, mục tiêu phát triển của tỉnh phù hợp với điều kiện thực tế địa
phương; tổ chức thực hiện với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động
quyết liệt, hiệu quả.
Bốn
là, phát huy tối đa nội lực và khơi dậy ý
chí tự lực, tự cường, tinh thần đoàn kết, khát vọng phát triển, lòng yêu quê
hương của cán bộ, đảng viên và Nhân dân; đồng thời, tranh thủ mọi nguồn lực để
phát triển tỉnh nhà. Qua thực tế đều khẳng định, trong phòng, chống thiên tai,
dịch bệnh, nhất là đại dịch COVID-19, cần có sự tham gia của cả hệ thống chính
trị và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân để huy động các nguồn lực, với mục
tiêu đặt lợi ích, tính mạng và sức khỏe của Nhân dân lên trên hết, trước hết;
lấy người dân là trung tâm, là chủ thể.
Phần thứ hai
KẾ HOẠCH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 5 NĂM 2026 - 2030
I. BỐI CẢNH KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 5 NĂM 2026 - 2030
1. Dự báo tình hình
Giai đoạn
2026 - 2030 là 5 năm cuối thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10
năm 2021 - 2030, tình hình thế giới dự báo tiếp tục chuyển biến nhanh, phức tạp
hơn và ngày càng khó đoán định; khó khăn, thách thức và thuận lợi, thời cơ
đan xen nhưng khó khăn, thách thức nhiều hơn.
Trong
nước, xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, vị thế, uy tín đất nước tiếp
tục nâng cao trên trường quốc tế. Cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy và thực
hiện chính quyền địa phương 02 cấp phát huy hiệu quả, đáp ứng ngày càng tốt hơn
yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; quốc phòng, an ninh và đối ngoại tiếp tục
được tăng cường. Tuy nhiên, tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp,
khó lường, khó đoán định; cạnh tranh công nghệ, cạnh tranh thương mại, tranh
chấp chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo... tiếp tục diễn biến phức tạp, tiềm ẩn
nguy cơ bất ổn. Tình hình đó tác động không nhỏ đến phát triển kinh tế - xã
hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh của đất nước và của tỉnh.
Kết
quả quan trọng đạt được trong những nhiệm kỳ qua là nền tảng vững chắc, tạo đà
phát triển trong những năm tới; sau hợp nhất, tỉnh Cà Mau bước vào giai đoạn
phát triển mới với không gian rộng lớn, với nhiều tiềm năng, lợi thế nổi trội,
có vị trí địa chính trị đặc biệt quan trọng, trung tâm vùng biển các nước
Đông Nam Á và các tuyến hàng hải quốc tế; Cà Mau không chỉ sở hữu vị thế địa đầu
cực Nam Tổ quốc, mà còn là cửa ngõ ra biển lớn, với ba mặt giáp biển của tự
nhiên vùng Đất Mũi. Tỉnh hội tụ lợi thế chiến lược: Trung tâm thủy sản quốc
gia, có khả năng vươn tầm thế giới; tiềm năng năng lượng tái tạo; vùng xanh tự
nhiên, đất ngập nước, rừng ngập mặn và hệ sinh thái biển, đồng bằng đặc thù,
là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn...; biển,
đảo, Mũi Cà Mau mang giá trị sinh thái và an ninh quốc phòng chiến lược. Cùng với
khát vọng lớn, quyết tâm cao và sự đoàn kết, thống nhất của hệ thống chính trị,
các tầng lớp Nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp tạo tiềm lực chính trị tinh thần
to lớn thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển nhanh và bền vững.
2. Thuận lợi, khó khăn
2.1.
Thuận lợi
Cà
Mau có nhiều dư địa để phát triển, nhiều cơ hội để bứt phá vươn lên trên cơ sở
khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế; cùng với các nguồn lực được Trung ương
ưu tiên đầu tư hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng đạt kết quả sớm hơn so dự kiến…;
các công trình, dự án trên địa bàn tỉnh được quan tâm đầu tư hoàn thành theo
quy hoạch, kế hoạch.
Là Tỉnh
nằm trong vùng nhiệt đới có khí hậu mát mẻ quanh năm, ít bị ảnh hưởng bởi
lũ, bão. Có bờ biển dài 310 km cùng với vùng lãnh hải rộng trên 12 nghìn km2,
có diện tích đất nông nghiệp, diện tích đất có khả năng nuôi trồng thủy sản lớn;
tài nguyên biển, tiềm năng gió… là điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành
như: Kinh tế biển; nông nghiệp sạch (tôm sinh thái, kết hợp tôm - rừng, lúa -
tôm, lúa sạch...); du lịch sinh thái, du lịch tâm linh, truyền thống văn hóa,
lịch sử... đồng thời, phát triển kinh tế của tỉnh sẽ có những đột phá với sự
xuất hiện của các yếu tố mới [36],
đó là cơ hội trở thành cực tăng trưởng xanh của Việt Nam, khu vực.
Tỉnh
nằm trên các trục đô thị hóa Biển Đông và Biển Tây của vùng Đồng bằng sông
Cửu Long, đồng thời nằm trong hành lang kinh tế đô thị Tiểu vùng sông Mekong
mở rộng (GMS) do đó có khả năng kết nối giao thông, kinh tế và dịch vụ với
các vùng trong nước và Quốc tế. Tỉnh đang có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá
trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phù
hợp với điều kiện tự nhiên của tỉnh.
2.2.
Khó khăn
Quy
mô kinh tế của tỉnh còn nhỏ; ảnh hưởng của biến đổi khí hậu ngày một nghiêm
trọng, tác động trực tiếp đến sản xuất, đời sống của người dân.
Nguồn
vật liệu xây dựng, nhất là cát, đá ngày càng khan hiếm, giá cả tăng cao, gây
khó khăn và làm tăng chi phí đầu tư. Chưa phát huy được lợi thế của giao thông
đường biển. Nhu cầu về đầu tư phát triển còn khá lớn, trong khi nguồn thu ngân
sách lại hạn chế; nguồn nhân lực về chuyên môn kỹ thuật cao còn quá ít…
II. MỤC TIÊU TỔNG QUÁT
Phát
triển kinh tế nhanh và bền vững, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng
cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; cải thiện môi trường đầu
tư, kinh doanh; thúc đẩy khởi nghiệp, sáng tạo, liên kết vùng; mở rộng thị
trường xuất khẩu; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Đột phá phát triển
khoa học, công nghệ, đổi mới, sáng tạo, chuyển đổi số và kinh tế tư nhân; phát
huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân; phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử
truyền thống, quyết tâm đưa Cà Mau phát triển nhanh, bền vững, không ngừng cải
thiện và nâng cao đời sống của Nhân dân. Bảo đảm vững chắc quốc phòng - an
ninh. Phấn đấu đến năm 2030, Cà Mau - tỉnh địa đầu cực Nam của Tổ quốc, trở
thành tỉnh phát triển toàn diện, vững tin cùng cả nước bước vào kỷ nguyên phát
triển mới.
III. CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU
1. Về kinh tế
(1) Tốc
độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) bình quân 5 năm từ 10% trở
lên; GRDP bình quân đầu người đến năm 2030 trên 6.000 USD.
(2) Tốc
độ tăng năng suất lao động xã hội đến năm 2030 khoảng 8,0 - 8,5%/năm.
(3) Tổng
vốn đầu tư toàn xã hội bình quân 5 năm từ 40% GRDP trở lên.
(4) Tỷ
trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP đến năm 2030 từ 20% trở
lên.
(5) Tổng
kim ngạch xuất khẩu 5 năm khoảng 17 tỷ USD.
(6) Tổng
thu ngân sách 5 năm ít nhất 75.000 tỷ đồng.
(7) Tổng
số doanh nghiệp đến năm 2030 khoảng 20.000 doanh nghiệp.
(8) Tỷ
lệ đô thị hóa đến năm 2030 vượt chỉ tiêu quy định.
2. Về xã hội
(9)
Chỉ số phát triển con người (HDI) đến năm 2030 đạt trên 0,7.
(10)
Phát triển nhà ở xã hội 5 năm trên 4.200 căn.
(11)
Tỷ lệ lao động qua đào tạo đến năm 2030 khoảng 80% (trong đó: tỷ lệ lao động
qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ: >35%).
(12) Tỷ
lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều mới) giảm khoảng 1,0 - 1,5%/năm.
(13)
Tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng số lao động xã hội đến năm 2030 dưới 30%.
(14)
Đến năm 2030, số giường bệnh/vạn dân đạt khoảng 34,5 giường; số bác sĩ/vạn
dân đạt khoảng 14 bác sĩ.
(15)
Đến năm 2030, tỷ lệ trường học các cấp đạt chuẩn quốc gia khoảng 90%; 100%
trường học có hệ thống nước sạch để uống và nhà vệ sinh tiêu chuẩn.
3. Về môi trường
(16)
Tỷ lệ che phủ rừng đến năm 2030 đạt khoảng 12,4% (không tính diện tích
cây phân tán).
(17)
Tỷ lệ dân số nông thôn đến năm 2030 sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 100%; trong
đó, tỷ lệ dân số nông thôn sử dụng nước sạch đáp ứng quy chuẩn đạt khoảng
65%.
(18)
Đến năm 2030, tỷ lệ các cơ sở sản xuất kinh doanh đạt quy chuẩn về môi trường
đạt 90%; tỷ lệ khu công nghiệp, khu kinh tế đang hoạt động có hệ thống xử lý
nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường đạt 100%.
(19)
Tỷ lệ thu gom xử lý rác thải sinh hoạt đến năm 2030 đạt 95% trở lên.
4. Về quốc phòng, an ninh
(20)
Thực hiện công tác tuyển quân, diễn tập hằng năm đạt 100%. Đến năm 2030, có
ít nhất 50% địa bàn cấp xã “không ma túy”; phấn đấu có 90% xã, phường đạt
tiêu chuẩn “An toàn về an ninh, trật tự”.
IV. NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Cơ cấu lại nền kinh tế, xác lập mô hình tăng trưởng mới
Tập
trung phát triển kinh tế theo bốn trụ cột: (1) Hoàn thiện hạ tầng giao
thông kết nối, nhất là hệ thống cao tốc, sân bay, cảng biển để triển khai thực
hiện các khu kinh tế, các khu, cụm công nghiệp có lợi thế; phát triển đồng bộ
hạ tầng số. (2) Phát triển kinh tế biển: Phát triển mạnh năng lượng tái
tạo (nhất là, điện gió, hướng đến xuất khẩu điện); nâng cao hiệu quả khai thác
biển, gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia; đầu tư và từng bước khai thác hiệu quả
cảng biển; phát triển công nghiệp chế biến giá trị gia tăng cao. (3) Phát
triển nông nghiệp sạch, công nghệ cao, chủ lực là tôm và lúa. (4) Đẩy mạnh
phát triển dịch vụ - du lịch: Dựa trên lợi thế sẵn có và giá trị lịch sử, bản
sắc văn hóa đặc sắc của địa phương.
Rà
soát điều chỉnh lại quy hoạch tỉnh đảm bảo phát huy tối đa lợi thế của từng địa
bàn. Quy hoạch trung tâm động lực: Khu vực thành phố Cà Mau (cũ) thành Trung
tâm chính trị - hành chính, kinh tế - văn hóa - xã hội của tỉnh. Khu vực thành
phố Bạc Liêu (cũ) thành Trung tâm văn hóa - nghệ thuật, giáo dục, đào tạo,
nghiên cứu khoa học, du lịch, nghỉ dưỡng; phát triển hạ tầng giao thông hiện đại
kết nối nhanh hai trung tâm. Ngoài ra, quy hoạch các vùng: Theo hệ sinh thái nước
mặn, nước ngọt, nước lợ, gắn với cây trồng, vật nuôi phù hợp là thế mạnh, lợi
thế cạnh tranh của Cà Mau.
Phấn
đấu tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) bình quân 5 năm từ
10% trở lên; GRDP bình quân đầu người đến năm 2030 trên 6.000 USD.
2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo
hướng xanh, sinh thái, tuần hoàn, chuỗi giá trị
Tập
trung quy hoạch và tổ chức thực hiện nghiêm quy hoạch nông thôn. Đẩy mạnh ứng dụng
khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong nông nghiệp. Phát triển nền nông nghiệp
hàng hóa hiện đại, sạch, bền vững; ứng dụng công nghệ cao gắn với chế biến và
phát triển thị trường. Phát triển các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp
hiện đại; các vùng sản xuất hàng hoá lớn, giá trị gia tăng cao, gắn với xây dựng
thương hiệu sản phẩm; đẩy mạnh liên kết sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, nông
thôn.
Tập
trung quy hoạch phát triển các vùng tôm công nghệ cao, tôm sinh thái, tôm quảng
canh cải tiến và mô hình lúa - tôm chất lượng cao. Phát triển bền vững nuôi trồng
thủy sản an toàn, quy mô lớn, công nghệ cao dọc tuyến Đê Đông. Hình thành và
phát triển chuỗi liên kết giá trị ngành tôm (từ sản xuất tôm giống, tôm thương
phẩm, thức ăn, chế biến xuất khẩu, truy xuất nguồn gốc). Quy hoạch phát triển
vùng nuôi tôm công nghệ cao tập trung ở khu vực xã Vĩnh Hậu, xã Hòa Bình, xã
Đông Hải (khoảng 10.000 ha); phát triển nuôi tôm công nghệ cao ở một số khu vực
có điều kiện phù hợp, hạn chế phát triển nuôi tôm công nghệ cao phân tán, quy
mô hộ gia đình tại các khu vực không có quy hoạch; vùng nuôi tôm sinh thái ở
các xã: Tân Thuận, Tân Tiến, Tam Giang, Tân Ân, Phan Ngọc Hiển, Đất Mũi, Đất Mới,
Cái Đôi Vàm; vùng nuôi tôm quảng canh cải tiến và quảng canh tại các khu vực
nuôi tôm còn lại; vùng lúa - tôm kết hợp tạo ra các sản phẩm chất lượng cao ở
các xã: Ninh Thạnh Lợi, Vĩnh Phước, Vĩnh Lộc, Hồng Dân, Hưng Hội, Châu Thới,
Phong Hiệp, Trí Phải, Biển Bạch, Nguyễn Phích, U Minh, Khánh An... Phát triển
nuôi xen canh cua, sò huyết với tôm ở những khu vực thích hợp; phát huy thế mạnh
thương hiệu sản phẩm Cua Cà Mau theo hướng sản xuất hàng hóa, cung ứng nhu cầu
trong nước và xuất khẩu.
Chuyển
một số diện tích trồng lúa kém hiệu quả ven biển sang cây trồng, vật nuôi phù hợp.
Mở rộng mô hình lúa - tôm gắn với tôm sạch - lúa hữu cơ. Cơ bản ổn định diện
tích chuyên lúa, kết hợp trồng lúa với bảo tồn và phát triển nguồn lợi cá đồng;
nuôi dưỡng sản sinh những mầm sống thủy sinh, thủy sản, đa dạng sinh học quý
giá mang lại nguồn lợi giá trị lớn, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển
bền vững. Tiếp tục xây dựng, mở rộng các mô hình liên kết theo chuỗi giá trị,
cánh đồng lớn, vùng nguyên liệu lúa tập trung, chất lượng cao phục vụ xuất khẩu
và thị trường xuất khẩu nông sản. Khuyến khích chăn nuôi công nghiệp công nghệ
cao, mô hình liên kết chăn nuôi sinh thái, xanh, hữu cơ. Phát triển diêm nghiệp
tại những nơi có điều kiện thuận lợi.
Sản
xuất, chế biến muối (tại các xã: Vĩnh Hậu, Long Điền, Đông Hải, Gành Hào, Tân
Thuận): Ổn định diện tích sản xuất muối có hiệu quả, mở rộng diện tích những
nơi có điều kiện; nâng cao sản lượng và chất lượng muối; đầu tư phát triển
công nghiệp chế biến muối, tăng giá trị sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu
thụ muối thương phẩm. Thực hiện chuyển đổi diện tích sản xuất muối đen, sản xuất
thủ công, năng suất, chất lượng, thu nhập thấp sang nuôi Artemia.
Phát
triển mạnh kinh tế lâm nghiệp, trong đó, tập trung công nghiệp chế biến gỗ,
gia tăng giá trị cao, khai thác tối đa nguồn lợi dưới tán rừng và thị trường
tín chỉ các - bon từ rừng; kết hợp hiệu quả dịch vụ du lịch sinh thái trong
diện tích rừng; tập trung trồng rừng tại các bãi bồi, khu kè lấn biển.
Đẩy mạnh
quá trình đô thị hóa nông thôn. Thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, lao động nông thôn theo hướng hiện đại, phù hợp gắn với
xây dựng nông thôn mới. Tập trung xây dựng đồng bộ hạ tầng nông nghiệp, nông
thôn; đẩy mạnh xây dựng, nâng cấp, mở rộng đường giao thông nông thôn theo
phương thức “nhà nước và nhân dân cùng làm”. Cải thiện chất lượng dịch
vụ xã hội ở khu vực nông thôn để nâng cao chất lượng sống, chăm lo đời sống
nhân dân, góp phần ổn định xã hội và giảm nghèo bền vững.
3. Tập trung phát triển mạnh công nghiệp, tạo bứt phá trong
phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng mới, công nghiệp chế biến nông, thủy
sản
Cơ cấu
lại ngành công nghiệp, phân bố không gian phát triển công nghiệp gắn với các
vùng động lực, cực tăng trưởng, hành lang kinh tế trọng điểm. Khuyến khích
hình thành các cụm liên kết công nghiệp, hiện đại hoá một số ngành công nghiệp
sử dụng nhiều lao động. Có cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển các ngành
công nghiệp chủ lực, như: năng lượng, chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản, dịch
vụ, văn hóa, du lịch...
Tập
trung đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư tại các khu kinh tế, khu công nghiệp
đang hoạt động để nâng cao hiệu quả đầu tư; xử lý các vướng mắc, nút thắt (nhất
là, khâu giải phóng mặt bằng) để phát triển Khu kinh tế Năm Căn, gắn với
logistics cảng Hòn Khoai, thu hút đầu tư mạnh khu vực này. Rà soát các khu công
nghiệp, cụm công nghiệp có vị trí kết nối thuận lợi hạ tầng giao thông để ưu
tiên thực hiện giải pháp mặt bằng và thu hút đầu tư. Mở rộng cụm công nghiệp
Khí - Điện - Đạm theo quy hoạch; quy hoạch phát triển công nghiệp dọc tuyến cao
tốc Cà Mau - Đất Mũi, nhất là địa bàn các xã: Trí Phải, Thới Bình, Hồ Thị Kỷ,
Khánh Bình, Lương Thế Trân…; hình thành các khu, cụm công nghiệp, dịch vụ hỗ
trợ phát triển sản xuất, kinh doanh nông nghiệp tại một số vùng nông nghiệp tập
trung, nhất là xây dựng các nhà máy chế biến gạo, các sản phẩm chế biến từ lúa
gạo để xuất khẩu ở khu vực các xã có vùng nguyên liệu lớn và hạ tầng giao
thông thuận lợi.
Triển
khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ
Chính trị “về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm
nhìn đến năm 2045”. Chú trọng phát triển hạ tầng năng lượng, nhất là năng
lượng mới, năng lượng sạch, bảo đảm an ninh năng lượng cho phát triển khoa học,
công nghệ. Chuẩn bị các điều kiện triển khai đề án xuất khẩu điện. Tập trung chỉ
đạo sớm triển khai dự án Nhà máy điện khí LNG Bạc Liêu; xử lý triệt để các vướng
mắc, triển khai nhanh các dự án điện gió được quy hoạch giai đoạn 2026 - 2030;
thu hút đầu tư, phát triển nguồn năng lượng mới (Hydro xanh, Amoniac xanh),
gắn với xây dựng hạ tầng kỹ thuật đồng bộ. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế
biến nông sản (gạo, rau củ quả), thủy sản, muối, may mặc, cơ khí chế
tạo nông cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp; xây dựng, điều chỉnh quy hoạch phù hợp
để thu hút các nhà máy chế biến thủy sản, thức ăn, thuốc thú y, phục vụ chuỗi
liên kết giá trị ngành nông nghiệp, nhất là ngành tôm. Phát triển công nghiệp -
tiểu thủ công nghiệp gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động, giải quyết việc làm,
cải thiện đời sống. Duy trì, phát triển bền vững làng nghề truyền thống, kết hợp
với tham quan du lịch.
4. Đẩy mạnh phát triển dịch vụ, văn hóa, du lịch
Cơ cấu
lại ngành dịch vụ trên nền tảng công nghệ hiện đại; phát triển mạnh một số
ngành dịch vụ có lợi thế, hàm lượng tri thức, công nghệ cao, như: Du lịch,
thương mại, viễn thông, công nghệ thông tin, tài sản số, dịch vụ thương mại,
logistics,... Mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng, hiệu quả các tổ chức tín dụng,
thị trường tiền tệ. Tăng khả năng tiếp cận tín dụng cho doanh nghiệp, người
dân; ưu tiên lĩnh vực phát triển của tỉnh. Mở rộng quy mô, nâng cao hiệu quả
hoạt động của Ngân hàng chính sách xã hội. Tạo thuận lợi hoạt động tài chính vi
mô.
Tăng
cường công tác xúc tiến thương mại; hỗ trợ doanh nghiệp quảng bá hình ảnh, sản
phẩm, tìm kiếm khách hàng, mở rộng thị trường (quan tâm thị trường trong nước),
tăng kim ngạch xuất khẩu; phấn đấu 5 năm đạt khoảng 17 tỷ USD. Đẩy mạnh khai
thác, phát triển thị trường thương mại nội địa; xây dựng, triển khai các
chương trình kích cầu tiêu dùng. Ngành thương mại - dịch vụ 5 năm đạt khoảng
1,45 triệu tỷ đồng.
Phát
triển thị trường bất động sản, nhà ở an toàn, lành mạnh, hiệu quả. Công khai,
minh bạch thông tin quy hoạch xây dựng, danh mục, tiến độ triển khai các dự án
bất động sản. Triển khai đồng bộ, liên thông thị trường lao động về quy mô, chất
lượng, ngành nghề; nâng cao trách nhiệm quản lý nhà nước về việc làm, lao động,
xuất khẩu lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; các dịch vụ môi giới,
giới thiệu việc làm. Đẩy mạnh phát triển thị trường khoa học, công nghệ, thị
trường điện tử, hàng hóa, dịch vụ (cả thị trường xuất, nhập khẩu, nội địa),
hạ tầng thương mại, phân phối; bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
Xây dựng
hoàn chỉnh quy hoạch du lịch phù hợp với quy hoạch chung và điều kiện thực tế của
tỉnh. Khai thác tối đa lợi thế về du lịch sinh thái, du lịch tâm linh, du lịch
văn hóa. Đổi mới, nâng cao năng lực quản lý, phương thức đầu tư, tạo sự bứt
phá để du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế quan trọng. Khẩn trương đầu tư
xây dựng các khu du lịch trọng điểm, như: Khu du lịch Quốc gia Mũi Cà Mau,
Vườn Quốc gia U Minh Hạ, Đầm Thị Tường, Khu du lịch Nhà Mát (kể cả khu lấn biển);
du lịch sinh thái kết hợp sản xuất nông nghiệp dọc theo trục cao tốc Cần Thơ -
Cà Mau... Phát triển, đa dạng hóa các loại hình, sản phẩm du lịch có thương
hiệu, chất lượng, sức cạnh tranh cao, gắn kết khai thác các dịch vụ để phát huy
tốt lợi thế của địa phương. Tập trung đầu tư, tổ chức lại và nâng cao hiệu quả
quản lý hoạt động dịch vụ du lịch trọng điểm. Tổ chức các sự kiện văn hóa, thể
thao khu vực và quốc tế để quảng bá, thu hút du khách. Đẩy mạnh ứng dụng công
nghệ, chuyển đổi số trong mọi hoạt động ngành du lịch.
Hình
thành, phát triển công nghiệp văn hóa, kinh tế di sản; xây dựng thương hiệu du
lịch của tỉnh mang sắc thái riêng đặc sắc của địa phương và bản sắc văn hóa,
con người Việt Nam nói chung; phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch đáp ứng
yêu cầu phát triển của tỉnh.
5. Đẩy mạnh phát triển các ngành kinh tế biển
Đảm bảo
thực hiện hiệu quả chủ trương, chính sách về Chiến lược phát triển bền vững
kinh tế biển Việt Nam nói chung và vùng biển địa phương nói riêng đến năm
2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Đẩy mạnh
phát triển các ngành kinh tế biển có lợi thế: Nuôi trồng và khai thác hải sản;
du lịch, dịch vụ, đô thị du lịch sinh thái biển; kinh tế hàng hải, cảng biển; dầu
khí; công nghiệp ven biển, chế biến, xuất khẩu các sản phẩm từ biển; năng lượng
tái tạo; diêm nghiệp và các ngành kinh tế biển mới. Phát triển một số trung tâm
nghề cá lớn; nuôi trồng hải sản trên biển. Nâng cao hiệu quả, tính bền vững nghề
khai thác, gắn với bảo vệ nguồn lợi hải sản và dịch vụ hậu cần nghề cá.
Kết nối
các tuyến hành lang đường bộ ven biển với các tuyến đường nội tỉnh, tạo động
lực phát triển kinh tế biển. Tăng cường đầu tư hạ tầng, phát triển kinh tế khu
vực Đảo Hòn Chuối. Chủ động phối hợp với bộ, ngành Trung ương đẩy nhanh xây dựng
Cảng Hòn Khoai theo mô hình cảng tổng hợp, lưỡng dụng, hướng đến phát triển
thành cảng nước sâu kết nối giao thương quốc tế, đảm bảo mạnh về kinh tế, vững
về quốc phòng, an ninh.
Hỗ trợ,
tạo điều kiện để người dân ven biển chuyển đổi nghề từ các hoạt động có nguy
cơ xâm hại, tác động tiêu cực đến biển sang tạo sinh kế bền vững, việc làm mới ổn
định, nâng cao thu nhập. Bảo vệ môi trường, bảo tồn, phát triển bền vững các hệ
sinh thái, đa dạng sinh học biển; kiểm soát chặt chẽ khai thác tài nguyên biển.
Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội vùng biển, ven biển với
tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh.
6. Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả của các doanh nghiệp
nhà nước. Phát triển mạnh doanh nghiệp tư nhân trở thành động lực phát triển.
Tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể, tập trung thu
hút để phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và các loại hình kinh tế
khác
Tiếp
tục rà soát, sắp xếp, nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước;
tăng cường đổi mới cơ chế quản lý và từng bước phát triển quy mô, địa bàn hoạt
động, để các doanh nghiệp nhà nước của tỉnh ngày càng vươn lên, đóng góp hiệu
quả hơn vào quá trình phát triển kinh tế của tỉnh.
Triển
khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ
Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân; Kế hoạch số 05-KH/TU ngày 14/7/2025 của
Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về
phát triển kinh tế tư nhân. Tăng cường quán triệt, tuyên truyền, thống nhất nhận
thức của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân về vị trí,
vai trò kinh tế tư nhân; xem kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của nền
kinh tế. Thông tin, tuyên truyền, cổ vũ, lan toả những mô hình tốt, cách làm
hay, sáng tạo, hiệu quả, khích lệ tinh thần kinh doanh trong toàn xã hội.
Nghiêm cấm các hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực, đưa thông tin sai lệch, ảnh
hưởng đến doanh nghiệp, doanh nhân. Tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp
tư nhân tiếp cận bình đẳng và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; mở rộng sản xuất,
kinh doanh... Hình thành một số doanh nghiệp lớn mang tầm quốc gia, khu vực
(lĩnh vực thủy sản, năng lượng, logistics, công nghệ cao). Cơ quan nhà nước các
cấp quan tâm hỗ trợ kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững; xây dựng mối
quan hệ giữa chính quyền với doanh nghiệp cởi mở, thân thiện, đồng hành, liêm
chính phục vụ, kiến tạo phát triển.
Có
cơ chế, chính sách đặc biệt hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; hỗ trợ thực chất,
hiệu quả doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh. Tạo điều kiện để phát
triển vườn ươm, phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, doanh
nghiệp muối… bố trí đủ nguồn lực từ ngân sách thực hiện chương trình, chính
sách hỗ trợ doanh nghiệp, kết hợp huy động nguồn lực các quỹ đầu tư của doanh
nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, ngành hàng. Tiếp tục thực hiện hiệu quả Cuộc vận
động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; nâng cấp, đổi mới
chương trình xúc tiến thương mại; hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân xây dựng, quảng
bá thương hiệu. Hỗ trợ các doanh nghiệp chế biến mở rộng xuất khẩu thủy sản
vào thị trường Halal toàn cầu; tiếp cận thị trường xuất khẩu gạo, sản phẩm
cua Cà Mau. Ban hành quy định, chính sách hỗ trợ phát triển công nghệ chế biến.
Có cơ chế hỗ trợ cụ thể để thu hút các dự án đầu tư lớn.
Đẩy mạnh
số hoá, minh bạch hoá, đơn giản hoá, thực hiện chế độ kế toán, thuế, bảo hiểm để
khuyến khích chuyển đổi hộ kinh doanh sang mô hình doanh nghiệp. Tạo thuận lợi
cho kinh tế tư nhân tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất kinh doanh. Thực hiện
giao dịch điện tử trong lĩnh vực đất đai; công khai, minh bạch và chủ động
cung cấp thông tin cho doanh nghiệp; giảm thiểu thời gian giải quyết thủ tục
thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hỗ trợ tích cực trong giải
phóng mặt bằng. Sử dụng ngân sách địa phương hỗ trợ đầu tư hạ tầng khu công
nghiệp, cụm công nghiệp... theo quy định. Rà soát, kịp thời tháo gỡ khó khăn,
vướng mắc trong đầu tư, sản xuất, kinh doanh; nhất là, các dự án đầu tư công, dự
án đầu tư ngoài ngân sách còn tồn đọng trên địa bàn tỉnh, bảo đảm cạnh tranh
bình đẳng.
Tạo
môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp tư nhân tham gia nghiên cứu, ứng dụng
trí tuệ nhân tạo, chuỗi khối, dữ liệu lớn, thương mại điện tử, công nghệ tài
chính, y tế, giáo dục thông minh... Thực hiện chính sách hỗ trợ chi phí đầu tư
mua sắm máy móc, đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh doanh
bền vững, tuần hoàn; thực hiện nghiêm chính sách miễn, giảm thuế thu nhập
doanh nghiệp theo quy định.
Tăng
cường kết nối giữa doanh nghiệp tư nhân với doanh nghiệp nhà nước và doanh
nghiệp FDI. Đề xuất chính sách thu hút vốn FDI phù hợp thực tiễn của địa
phương. Có giải pháp thúc đẩy doanh nghiệp tư nhân đầu tư mở rộng và phát triển
cung ứng dịch vụ y tế, giáo dục chất lượng cao, phát triển công nghiệp văn
hóa, giải trí. Nâng cao hiệu quả hình thức hợp tác công tư (PPP, lãnh đạo
công - quản trị tư, đầu tư công - quản lý tư, đầu tư tư - sử dụng công),
trong lĩnh vực hạ tầng kinh tế, văn hóa, xã hội, công nghệ thông tin, truyền
thông, lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm thước đo lựa chọn.
Rà
soát, hoàn thiện, triển khai thực hiện hiệu quả Đề án “Phát triển kinh tế tập
thể trên địa bàn tỉnh Cà Mau giai đoạn 2025 - 2030”; phát huy hiệu quả hoạt
động các loại hình kinh tế tập thể; Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP),
xây dựng thương hiệu gắn với hỗ trợ liên kết tiêu thụ sản phẩm. Tạo môi trường
thuận lợi để kinh tế tập thể, hộ nông nghiệp và phi nông nghiệp tiếp cận đất
đai, vốn, công nghệ, thị trường. Có giải pháp khuyến khích, hỗ trợ phát triển
kinh tế hộ; tạo điều kiện thuận lợi cho hộ gia đình khởi sự kinh doanh, chuyển
đổi hoạt động sang mô hình doanh nghiệp. Khôi phục, phát triển các làng nghề
truyền thống, gắn với phát huy các giá trị văn hóa, bảo vệ môi trường.
7. Phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ
Đẩy mạnh
giải ngân vốn đầu tư công ngay từ đầu nhiệm kỳ, lấy đầu tư công dẫn dắt, kích
hoạt đầu tư xã hội, thúc đẩy hợp tác công tư; kịp thời rà soát, tháo gỡ các
khó khăn, vướng mắc từng dự án; đặc biệt là công trình, dự án trọng tâm, trọng
điểm, các chương trình mục tiêu quốc gia. Phát triển mạng lưới giao thông đồng
bộ, hiện đại theo hành lang kinh tế động lực (cả đường bộ, thủy, hàng không, cảng
biển). Phát triển khu, cụm công nghiệp, khu kinh tế gắn với phát triển đô thị,
có kết cấu hạ tầng kỹ thuật, xã hội đồng bộ, hiện đại. Đẩy nhanh tiến độ triển
khai các dự án giao thông quan trọng, chiến lược đã có chủ trương, ý kiến chỉ
đạo của Trung ương, của tỉnh theo quy hoạch; các tuyến đường giao thông đến
các khu vực trọng điểm phát triển kinh tế, du lịch, di tích lịch sử - văn
hóa, về trung tâm các xã, liên xã và nối các xã với các trục giao thông chính
của tỉnh, tuyến quốc lộ, cao tốc... Xây dựng hạ tầng, công trình thủy lợi theo
hướng vừa bảo đảm phục vụ sản xuất, giao thông, vận tải đường thủy vừa đáp ứng
yêu cầu phòng, chống thiên tai, thích ứng biến đổi khí hậu. Có giải pháp khắc
phục tình trạng khan hiếm nguồn vật liệu xây dựng (nhất là cát, đá) để đảm bảo
tiến độ thi công các công trình.
Rà
soát, điều chỉnh và triển khai thực hiện hiệu quả các quy hoạch xây dựng, quy
hoạch đô thị, Chương trình phát triển đô thị, đề án xây dựng, nâng loại đô thị.
Huy động đa dạng nguồn lực triển khai các dự án, công trình hạ tầng thiết yếu
đảm bảo chống ngập (tại các phường: An Xuyên, Tân Thành, Lý Văn Lâm, Bạc
Liêu, Vĩnh Trạch...); chỉnh trang, di dời nhà ở ven sông; cải tạo, nâng cấp
cơ sở hạ tầng thiết yếu tại các đô thị. Đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng kết
cấu hạ tầng, tăng tỷ lệ lấp đầy các khu, cụm công nghiệp đã thành lập. Quy hoạch,
ưu tiên bố trí quỹ đất phát triển nhà ở xã hội.
Tiếp
tục đầu tư, nâng cấp, phát triển hạ tầng thông tin, truyền thông, hạ tầng số,
giáo dục, y tế… đáp ứng yêu cầu phát triển thời gian tới và phục vụ nhu cầu
sáng tạo, văn hóa của người dân. Phát triển cơ sở dữ liệu dùng chung, chuyên
ngành, mạng truyền dữ liệu chuyên dùng và triển khai giải pháp, công cụ, kỹ thuật
số thống nhất, an toàn, thông suốt, kết nối từ tỉnh đến cơ sở. Hình thành,
phát triển mạng lưới trung tâm đổi mới sáng tạo. Chủ động tìm kiếm công nghệ mới
trong và ngoài nước, hợp tác chuyển giao công nghệ, kết quả nghiên cứu khoa học.
8. Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Triển
khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ
Chính trị “về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo”. Nâng cao chất lượng
giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao trong lĩnh
vực, ngành, nghề mới. Đa dạng hoá loại hình cơ sở đào tạo; phát triển các
phương thức đào tạo mở, các nền tảng dạy và học trực tuyến, học liệu số, bảo đảm
điều kiện học tập suốt đời; nâng tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ đến
năm 2030 trên 35%.
Tiếp
tục quan tâm đầu tư, xây dựng, nâng cấp cơ sở trường, lớp, trang thiết bị,
đáp ứng yêu cầu giảng dạy, học tập trong môi trường số và hội nhập quốc tế.
Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở các cấp học mầm non, phổ thông, giáo
dục thường xuyên và năng lực ngoại ngữ của học sinh, sinh viên. Phát triển
giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt, hiện đại, hiệu quả, hội nhập. Đổi
mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống,
kỹ năng sống, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục quốc phòng, an ninh.
Đẩy
nhanh tiến trình chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo; phát triển giáo dục
số, giáo dục thông minh, giáo dục sáng tạo, giáo dục thích ứng với sự phát triển
của trí tuệ nhân tạo; đồng thời, trang bị cho học sinh, sinh viên các kỹ năng
thiết yếu để thích ứng học tập, làm việc hiệu quả, an toàn trong không gian số,
công dân toàn cầu. Quan tâm công tác đào tạo, đào tạo lại, chuẩn bị nguồn nhân
lực số, kỹ năng số cho chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, xã hội số. Hiện đại
hoá phương thức đào tạo và ứng dụng công nghệ tiên tiến, nhất là trí tuệ nhân tạo.
9. Quản lý phát triển xã hội bền vững, bảo đảm tiến bộ,
công bằng xã hội
Chăm
lo tốt gia đình chính sách, người có công; triển khai hệ thống an sinh xã hội
đa tầng, toàn diện, hiện đại, thích ứng linh hoạt; bảo đảm mọi người dân được
tiếp cận, thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản, thiết yếu có chất lượng; ưu
tiên cho các đối tượng chính sách, yếu thế..., kiên quyết “không để ai bị bỏ
lại phía sau”.
Thực
hiện đồng bộ, hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững;
nâng cao nhận thức, trách nhiệm và khuyến khích, tạo điều kiện để hộ nghèo vươn
lên thoát nghèo, làm giàu chính đáng; triển khai hiệu quả Đề án hỗ trợ sinh kế
cho hộ nghèo, cận nghèo, hộ có hoàn cảnh kinh tế khó khăn; phấn đấu đến năm
2030, cơ bản không còn hộ nghèo. Thực hiện bình đẳng giới và trao quyền cho phụ
nữ trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa; chăm sóc, bảo
vệ người già và trẻ em, nhất là trẻ em gái.
Triển
khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ
Chính trị “về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo bệ, chăm sóc và
nông cao sức khỏe Nhân dân”. Tăng cường quản lý hoạt động y tế và công
tác bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe Nhân dân. Phát triển, nâng cao chất
lượng mạng lưới y tế. Quy hoạch, đào tạo, thu hút đội ngũ cán bộ y tế có
chuyên môn, y đức; nhất là, y tế cấp xã, bảo đảm khám chữa bệnh ngay từ cơ
sở. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế; đẩy mạnh ứng dụng
công nghệ hiện đại, chuyển đổi số ở các cơ sở y tế. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng
hoàn thành bệnh viện 1.200 giường, tập trung nghiên cứu, tận dụng mặt bằng, cải
tạo các trụ sở cơ quan đảng, nhà nước tại phường Bạc Liêu để đầu tư xây dựng
các cơ sở y tế, giáo dục theo hướng hiện đại. Quy hoạch, đầu tư xây dựng các
trung tâm dưỡng lão lâu dài (như: Trung tâm dưỡng lão tại khu vực Nhà Mát,
phường Hiệp Thành và tại các phường: An Xuyên, Tân Thành, Lý Văn Lâm...) nhằm
phục vụ cho việc điều dưỡng, chăm sóc tập trung người cao tuổi. Đến năm 2030,
đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân; nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh bảo hiểm
y tế; hướng đến miễn viện phí theo kế hoạch của Trung ương. Hoàn thiện cơ chế,
chính sách về dân số; bảo đảm tỷ suất sinh và mức sinh thay thế, ngặn chặn
suy giảm dân số; phát triển số lượng, chất lượng dân số, tận dụng hiệu quả
thời kỳ dân số vàng, bảo đảm nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh,
bền vững lâu dài của tỉnh.
Tiếp
tục thực hiện đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Nâng cao chất lượng
lao động, sàn giao dịch việc làm trên nền tảng số, bảo đảm nhanh chóng, hiệu quả,
bền vững. Chú trọng đào tạo các ngành, nghề đáp ứng yêu cầu thị trường lao động;
phát triển công nghiệp, dịch vụ và kinh tế nông thôn để thu hút lực lượng lao động
trong tỉnh đang làm việc ngoài tỉnh trở về lao động, làm việc tại tỉnh.
10. Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo
và chuyển đổi số
Triển
khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của
Bộ Chính trị “về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi số quốc gia”; Chương trình hành động số 97-CTr/TU ngày
23/5/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày
22/12/2024 của Bộ Chính trị. Quyết tâm phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo và chuyển đổi số trong cả hệ thống chính trị, người dân và doanh nghiệp,
tạo niềm tin, khí thế mới trong xã hội. Triển khai sâu rộng phong trào“Bình
dân học vụ số”, phổ cập, nâng cao kiến thức khoa học, công nghệ, kiến
thức số trong cán bộ, công chức và Nhân dân; phấn đấu mỗi gia đình đều có
người biết và sử dụng cơ bản trên nền tảng số.
Triển
khai chương trình, kế hoạch Chuyển đổi số của Chính phủ và các bộ, ngành Trung
ương. Đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ, đổi
mới sáng tạo và chuyển đổi số; triển khai các nhiệm vụ, phương thức quản lý
khoa học, công nghệ phù hợp với từng loại hình nghiên cứu. Bố trí nguồn lực
phù hợp để đầu tư xây dựng hạ tầng và dành từ 3 đến 5% tổng chi ngân sách nhà
nước cho sự nghiệp khoa học, công nghệ và chuyển đổi số; qua đó, cơ cấu lại
nguồn ngân sách chi sự nghiệp khoa học, công nghệ bảo đảm tập trung, có trọng
tâm, trọng điểm, không dàn trải. Kinh tế số đến năm 2030 chiếm 20% trở lên.
Chú
trọng phát triển hạ tầng năng lượng, nhất là năng lượng mới, năng lượng sạch và
bảo đảm an ninh năng lượng cho phát triển khoa học, công nghệ. Có cơ chế,
chính sách hỗ trợ, khuyến khích các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đầu tư, xây
dựng các phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu , đào tạo, phát triển nhân lực
chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo
và chuyển đổi số. Phát triển hạ tầng viễn thông, Internet đáp ứng yêu cầu phát
triển trong giai đoạn mới.
Chú
trọng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;
xúc tiến, trao đổi, kết nối với các đối tác quốc tế, các quốc gia phát triển
có nền khoa học tiên tiến, hiện đại. Hình thành khu công nghiệp công nghệ cao
gắn với khu đô thị sân bay Cà Mau. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra,
giám sát việc chấp hành pháp luật trong triển khai thực hiện các nhiệm vụ khoa
học, công nghệ, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng.
Thúc
đẩy mạnh mẽ hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
trong doanh nghiệp. Tập trung nguồn lực triển khai nhanh các dự án trong khu
nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng công nghệ
tiên tiến trong sản xuất, chế biến các sản phẩm thế mạnh của tỉnh; tinh thần
khởi nghiệp về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của doanh
nghiệp, người dân trong tỉnh. Đẩy mạnh tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ trên môi
trường số và sản xuất thông minh trong các ngành, lĩnh vực: Nông nghiệp,
thương mại, tài chính, giáo dục, y tế, giao thông, logistics.
11. Đẩy mạnh công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết
khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí và cải cách hành
chính
Đổi mới,
nâng cao công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng,
chống tham nhũng, tăng cường thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; thực hiện
nghiêm túc các quy định về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; tập trung
giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo tồn đọng, kéo dài.
Nâng
cao hiệu lực, hiệu quả chỉ đạo, điều hành, quản lý nhà nước trên các lĩnh vực;
siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính; tăng cường công tác cải cách hành
chính; tăng cường công tác cải cách hành chính, cải thiện Chỉ số Cải cách hành
chính (PAR Index), Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ
quan hành chính nhà nước (SIPAS), Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công
(PAPI), Chỉ số đổi mới sáng tạo (PII) của tỉnh. Tiếp tục thực hiện Đề án sắp xếp,
phát triển mạng lưới trường học trên địa bàn tỉnh. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền
gắn với trách nhiệm người đứng đầu; đồng thời, tăng cường công tác thanh
tra, kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực hiệu quả. Thực hiện tinh giản
biên chế gắn với cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức,
viên chức và người lao động.
12. Tăng cường quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội
Tăng
cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, giữ vùng ổn định chính trị và trật tự an
toàn xã hội; tiếp tục xây dựng tỉnh Cà Mau thành khu vực phòng thủ vững chắc; bảo
vệ vững chắc chủ quyền biên giới biển, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh
tế - xã hội với quốc phòng, an ninh, củng cố giữ vững chắc nền quốc phòng toàn
dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với an ninh Nhân dân và thế trận an ninh
Nhân dân trên từng địa bàn, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự
an toàn xã hội phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Thực
hiện nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu, nâng cao chất lượng huấn luyện,
diễn tập, xây dựng và luyện tập các phương án sẵn sàng chiến đấu, phương án
phòng, chống dịch, kịp thời xử trí có hiệu quả các tình huống xảy ra.
Tăng
cường công tác nắm, quản lý xuất nhập cảnh và hoạt động của người nước ngoài
đến tham quan, du lịch, đầu tư, kinh doanh,... trên địa bàn tỉnh; phối hợp kiểm
soát chặt chẽ an ninh tuyến biển, không để phát sinh phức tạp.
Thực
hiện hiệu quả công tác nắm tình hình, quản lý chặt địa bàn, đối tượng; chủ
động rà soát, nhận diện phương thức thủ đoạn mới của các loại tội phạm. Tiếp tục
thực hiện có hiệu quả Đề án 06, giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số, bảo đảm an
toàn thông tin, an ninh mạng; tăng cường công tác quản lý nhà nước về an
ninh, trật tự.
Thực
hiện đồng bộ các giải pháp bảo đảm trật tự an toàn giao thông, trọng tâm là
công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức của người tham gia giao thông; tăng
cường công tác tuần tra kiểm soát, khép kín địa bàn, xử lý nghiêm các hành
vi vi phạm pháp luật về trật tự an toàn giao thông, phương án bảo đảm trật tự
an toàn giao thông nhân dịp Lễ, Tết... góp phần ổn định trật tự an toàn xã hội.
Thường
xuyên kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định của pháp luật về phòng
cháy, chữa cháy; kịp thời phát hiện, khắc phục những bất cập trong công tác
phòng cháy, chữa cháy, hạn chế thấp nhất nguyên nhân xảy ra cháy, nổ trên địa
bàn tỉnh.
Tăng
cường công tác xây dựng phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; xây dựng,
nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến trong phong trào toàn dân bảo vệ
an ninh Tổ quốc.
13. Tiếp tục các hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế
Thực
hiện hiệu quả Nghị quyết 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập
quốc tế trong tình hình mới, tập trung vào các lĩnh vực trọng điểm như phát
triển cảng biển, logistics, nâng cấp sân bay, phát triển hạ tầng giao thông,
thu hút doanh nghiệp khoa học, công nghệ, chuyển đổi số; phát triển điện gió
ngoài khơi, năng lượng sạch, năng lượng mới, tiến tới hợp tác xuất khẩu điện
cho các nước trong khu vực.
Thường
xuyên cập nhật tình hình thị trường, phổ biến các thông tin về các Hiệp định
thương mại tự do mà Việt Nam tham gia ký kết (CPTPP, EVFTA, UKVFTA, RCEP,…);
tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại ở ngoài nước, tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp của tỉnh, đăng ký tham gia để tìm kiếm khách hàng, mở rộng thị
trường xuất khẩu.
Duy
trì, phát triển quan hệ hợp tác toàn diện với các địa phương, nước bạn đã thiết
lập quan hệ hợp tác (tỉnh Koh Kong - Campuchia, tỉnh Khăm Muộn - Cộng hòa dân
chủ Nhân dân Lào, tỉnh Jeollabuk - Hàn Quốc); mở rộng quan hệ với một số tỉnh
của Hàn Quốc, Nhật Bản, xúc tiến hợp tác đưa lao động của tỉnh Cà Mau sang làm
việc và các nội dung hợp tác khác; tiếp tục tăng cường hợp tác với các địa
phương trong nước (thành phố Hồ Chí Minh, Ninh Bình,...).
V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Tổ chức
thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030 là nhiệm vụ trọng
tâm của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và Nhân dân trong tỉnh. Trong tổ
chức thực hiện kế hoạch phải tăng cường vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân
các cấp, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp và toàn thể
Nhân dân nhằm hoàn thành thắng lợi kế hoạch 5 năm.
Giao
Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành tỉnh , Ủy ban nhân dân
các xã, phường tham mưu, xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng
năm, trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định. Thường xuyên theo dõi,
đánh giá tình hình kết quả thực hiện kế hoạch theo từng năm, giữa kỳ và cả
giai đoạn 5 năm. Trong trường hợp có những thay đổi lớn cần chủ động đề xuất Ủy
ban nhân dân tỉnh xem xét, điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp.
Các
sở, ban, ngành tỉnh, Ủy ban nhân dân các xã, phường căn cứ các giải pháp, nhiệm
vụ nêu trên; xây dựng và ban hành kế hoạch triển khai thực hiện các nội dung
thuộc trách nhiệm quản lý của ngành, đơn vị mình; định kỳ 6 tháng, hàng năm
báo cáo kết quả thực hiện về Sở Tài chính để tổng hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân
tỉnh (kèm theo các biểu Phụ lục)./.
|
Nơi nhận:
- Bộ Tài
chính;
- Thường trực Tỉnh ủy;
- Thường trực HĐND tỉnh;
- CT, các PCT UBND tỉnh;
- Các sở, ban, ngành tỉnh;
- UBND các xã, phường;
- LĐVP UBND tỉnh;
- Các phòng khối NC-TH;
- Lưu: VT, KTTH (Nh235), M.A155/11.
|
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
Lâm Văn Bi
|
PHỤ LỤC 14A
MỘT SỐ CHỈ TIÊU KINH TẾ - XÃ HỘI CHỦ YẾU CỦA TỈNH CÀ
MAU
(Kèm theo Kế hoạch số 0177/KH-UBND ngày 06/11/2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh)
|
TT
|
Chỉ tiêu
|
ĐVT
|
Thực hiện 2016 - 2020
|
TH 2021
|
TH 2022
|
TH 2023
|
TH 2024
|
TH 2025
|
Ước TH giai đoạn 2021- 2025
|
Mục tiêu giai đoạn 2021-2025
|
Đánh giá thực hiện so với mục tiêu giai đoạn 2021-2025
|
|
1
|
Tốc độ tăng GRDP
|
%
|
4,22
|
0,66
|
7,60
|
7,78
|
6,88
|
8,0
|
6,15
|
|
|
|
2
|
Quy mô GRDP theo giá hiện
hành
|
Nghìn tỷ đông
|
105,00
|
109,88
|
126,44
|
139,46
|
153,16
|
172,03
|
172,03
|
|
|
|
3
|
GRDP bình quân đầu người
|
Triệu đồng/người
|
49,83
|
51,65
|
59,38
|
65,39
|
71,55
|
80,21
|
80,21
|
|
|
|
4
|
Cơ cấu kinh tế
|
|
100,00
|
100,00
|
100,00
|
100,00
|
100,00
|
100,00
|
100,00
|
|
|
|
|
- Ngư, nông, lâm nghiệp
|
%
|
38,87
|
39,37
|
39,05
|
36,70
|
36,09
|
34,86
|
34,86
|
|
|
|
|
- Công nghiệp, xây dựng
|
%
|
22,68
|
21,80
|
22,16
|
23,70
|
23,66
|
24,23
|
24,23
|
|
|
|
|
- Dịch vụ
|
%
|
33,69
|
33,99
|
34,28
|
35,17
|
35,86
|
36,49
|
36,49
|
|
|
|
|
- Thuế sản phẩm trừ trợ cấp
sản phẩm
|
%
|
4,76
|
4,84
|
4,51
|
4,43
|
4,39
|
4,42
|
4,42
|
|
|
|
5
|
Tổng vốn đầu tư thực hiện
trên địa bàn
|
Nghìn tỷ đồng
|
165,5
|
52,6
|
52,0
|
53,8
|
58,5
|
72,0
|
288,8
|
|
|
|
6
|
Tổng kim ngạch xuất khẩu trên
địa bàn
|
Triệu USD
|
8.461,8
|
1.892,2
|
2.164,2
|
2.201,7
|
2.444,3
|
2.600,0
|
11.302,2
|
|
|
|
7
|
Thu ngân sách địa phương
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
- Tổng thu NSNN trên địa bàn
|
Tỷ đồng
|
41.011,45
|
9.939
|
9.580
|
9.880
|
10.482
|
12.960
|
52.840
|
|
|
|
|
+ Thu nội địa
|
Tỷ đồng
|
40.465,10
|
9.280
|
9.226
|
9.700
|
10.049
|
12.460
|
50.715
|
|
|
|
|
Trong đó:
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Thu từ tiền sử dụng đất
|
Tỷ đồng
|
|
668
|
924
|
918
|
523
|
560
|
3.593
|
|
|
|
|
Thu từ xổ số kiến thiết
|
Tỷ đồng
|
11.244,08
|
2.806
|
3.507
|
3.846
|
4.226
|
4.820
|
19.205
|
|
|
|
|
- Thu NSĐP hưởng theo phân cấp
|
Tỷ đồng
|
|
8.634
|
8.357
|
9.199
|
9.480
|
10.631
|
46.301
|
|
|
|
|
Trong đó:
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
+ Thu NSĐP hưởng 100%
|
Tỷ đồng
|
|
4.238
|
4.987
|
5.106
|
5.376
|
5.438
|
25.145
|
|
|
|
|
+ Thu NSĐP hưởng từ các khoản
theo phân chia
|
Tỷ đồng
|
|
4.396
|
3.370
|
4.093
|
4.104
|
5.193
|
21.156
|
|
|
|
8
|
Chi ngân sách địa phương
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
- Tổng chi cân đối ngân sách
địa phương
|
Tỷ đồng
|
70.902,00
|
17.177
|
17.015
|
17.518
|
18.806
|
21.049
|
91.566
|
|
|
|
|
Trong đó:
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
+ Chi đầu tư phát triển
|
Tỷ đồng
|
19.902,91
|
5.725
|
5.188
|
5.307
|
5.285
|
5.937
|
27.443
|
|
|
|
|
+ Chi thường xuyên (bao gồm
chi cải cách tiền lương, sắp xếp bộ máy, tinh giản biên chế)
|
Tỷ đồng
|
50.231,97
|
11.441
|
11.818
|
12.198
|
13.504
|
14.490
|
63.451
|
|
|
|
9
|
Bội thu/Bội chi NSĐP
|
Tỷ đồng
|
-
|
-
|
-
|
-
|
-
|
-
|
-
|
|
|
|
10
|
Thứ hạng Chỉ số năng lực cạnh
tranh cấp tỉnh (PCI)
|
|
-
|
-
|
-
|
-
|
-
|
-
|
-
|
|
|
|
11
|
Thứ hạng Chỉ số hiệu quả quản
trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI)
|
|
-
|
-
|
-
|
-
|
-
|
-
|
-
|
|
|
|
12
|
Số doanh nghiệp đang hoạt động
và kê khai thuế đến cuối kỳ báo cáo
|
Nghìn doanh nghiệp
|
5,11
|
5,59
|
5,93
|
6,28
|
6,64
|
7,63
|
6,42
|
|
|
|
13
|
Về đầu tư FDI
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
- Số dự án còn hiệu lực luỹ kế
đến cuối kỳ báo cáo
|
Dự án
|
10
|
2
|
1
|
2
|
1
|
-
|
6,0
|
|
|
|
|
- Vốn đầu tư thực hiện
|
Triệu USD
|
1.893
|
0,97
|
7,34
|
0,79
|
1,98
|
-
|
11,08
|
|
|
|
|
- Vốn đăng ký
|
Triệu USD
|
4.733
|
2,42
|
18,35
|
1,97
|
4,96
|
-
|
27,70
|
|
|
|
14
|
Dân số trung bình đến năm cuối
kỳ
|
Nghìn người
|
2.107
|
2.127
|
2.129
|
2.133
|
2.141
|
2.145
|
2.145
|
|
|
|
15
|
Mật độ dân số đến năm cuối kỳ
|
Người/Km2
|
265
|
268
|
268
|
268
|
269
|
270
|
270
|
|
|
|
16
|
Lực lượng lao động từ 15 tuổi
trở lên đến năm cuối kỳ
|
Nghìn người
|
1.100
|
1.110
|
1.111
|
1.113
|
1.117
|
1.120
|
1.120
|
|
|
|
17
|
Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở
lên đang làm việc so với tổng dân số
|
%
|
52,18
|
52,17
|
52,17
|
52,19
|
52,18
|
52,21
|
52,21
|
|
|
|
18
|
Tỷ lệ lao động qua đào tạo
|
%
|
56,7
|
58,0
|
60,1
|
62,5
|
64,5
|
65,0
|
65,0
|
|
|
|
|
Trong đó: Tỷ lệ lao động qua
đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ
|
|
24,5
|
24,9
|
25,6
|
26,5
|
26,9
|
27,5
|
27,5
|
|
|
|
19
|
Tỷ lệ rác thải sinh hoạt (ở
đô thị và nông thôn) được thu gom và xử lý
|
%
|
85,0
|
86,0
|
87,0
|
88,0
|
89,0
|
90,0
|
90,0
|
|
|
|
20
|
Số xã đạt chuẩn nông thôn mới
|
Xã
|
61
|
70
|
86
|
94
|
113
|
43
|
43
|
|
|
|
21
|
Tỷ lệ số xã đạt chuẩn nông
thôn mới
|
%
|
46,6
|
53,4
|
65,6
|
71,8
|
86,3
|
78,2
|
78,2
|
|
|
|
22
|
Hộ nghèo theo chuẩn đa chiều
|
Hộ
|
530.439
|
21.066
|
14.640
|
8.786
|
4.471
|
4.025
|
4.025
|
|
|
|
|
- Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn
nghèo đa chiều
|
%
|
1,21
|
3,96
|
2,74
|
1,65
|
0,84
|
0,75
|
0,75
|
|
|
|
|
- Mức giảm tỷ lệ hộ nghèo
theo chuẩn nghèo đa chiều
|
Điểm %
|
0,83
|
0,25
|
1,22
|
1,09
|
0,81
|
0,09
|
0,09
|
|
|
PHỤ LỤC 15B
MỘT SỐ CHỈ TIÊU KINH TẾ - XÃ HỘI CHỦ YẾU CỦA TỈNH CÀ
MAU
(Kèm theo Kế hoạch số 0177/KH-UBND ngày 06/11/2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh)
|
TT
|
Chỉ tiêu
|
ĐVT
|
Thực hiện 2016 - 2020
|
Ước TH giai đoạn 2021-2025
|
Dự kiến giai đoạn 2026-2030
|
Cơ quan chủ trì theo dõi, đánh giá, báo cáo
|
Kỳ báo cáo
|
|
1
|
Tốc độ tăng GRDP
|
%
|
4,22
|
6,15
|
10,00
|
Thống Kê tỉnh
|
Hàng năm, giữa kỳ, kết thúc giai đoạn
|
|
2
|
Quy mô GRDP theo giá hiện
hành
|
Nghìn tỷ đông
|
105,00
|
172,03
|
322,0
|
|
3
|
GRDP bình quân đầu người
|
Triệu đồng/người
|
49,8
|
80,2
|
>150
|
|
4
|
Cơ cấu kinh tế
|
|
100,00
|
100,00
|
100,00
|
|
|
- Ngư, nông, lâm nghiệp
|
%
|
38,87
|
34,86
|
27,31
|
|
|
- Công nghiệp, xây dựng
|
%
|
22,68
|
24,23
|
27,91
|
|
|
- Dịch vụ
|
%
|
33,69
|
36,49
|
40,95
|
|
|
- Thuế sản phẩm trừ trợ cấp
sản phẩm
|
%
|
4,76
|
4,42
|
3,83
|
|
5
|
Tổng vốn đầu tư thực hiện
trên địa bàn
|
Nghìn tỷ đông
|
165,5
|
288,8
|
505,0
|
|
6
|
Tổng kim ngạch xuất khẩu trên
địa bàn
|
Triệu USD
|
8.461,8
|
11.302,2
|
17.000
|
Sở Công Thương
|
|
7
|
Thu ngân sách địa phương
|
|
|
|
|
Sở Tài chính, Thuế tỉnh
|
|
|
- Tổng thu NSNN trên địa bàn
|
Tỷ đồng
|
41.011,5
|
52.839,8
|
75.000
|
|
|
+ Thu nội địa
|
Tỷ đồng
|
40.465,1
|
50.715,4
|
73.532
|
|
|
Trong đó:
|
|
|
|
|
|
|
Thu từ tiền sử dụng đất
|
Tỷ đồng
|
|
3.593,0
|
5.750
|
|
|
Thu từ xổ số kiến thiết
|
Tỷ đồng
|
11.244,1
|
19.205,0
|
31.100
|
|
|
Trong đó:
|
|
|
|
|
|
|
|
+ Thu NSĐP hưởng 100%
|
Tỷ đồng
|
|
25.145,4
|
39.228
|
Hàng năm, giữa kỳ, kết thúc giai đoạn
|
|
|
+ Thu NSĐP hưởng từ các khoản
theo phân chia
|
Tỷ đồng
|
|
21.155,8
|
20.477
|
|
8
|
Chi ngân sách địa phương
|
|
|
|
|
Sở Tài chính
|
|
|
- Tổng chi cân đối ngân sách
địa phương
|
Tỷ đồng
|
70.902,00
|
107.510,55
|
132.200
|
|
|
Trong đó:
|
|
|
|
|
|
|
+ Chi đầu tư phát triển
|
Tỷ đồng
|
19.902,91
|
27.442,65
|
44.536
|
|
|
+ Chi thường xuyên (bao gồm
chi cải cách tiền lương, sắp xếp bộ máy, tinh giản biên chế)
|
Tỷ đồng
|
50.231,97
|
63.450,70
|
84.948
|
|
9
|
Bội thu/Bội chi NSĐP
|
Tỷ đồng
|
-
|
-
|
-
|
|
|
10
|
Thứ hạng Chỉ số năng lực cạnh
tranh cấp tỉnh (PCI)
|
|
-
|
-Đ
|
ạt
mức khá của cả nướ
|
Sở Tài chính
|
|
11
|
Thứ hạng Chỉ số hiệu quả quản
trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI)
|
|
-
|
-Đ
|
ạt
mức khá của cả nướ
|
Sở Nội vụ
|
|
12
|
Số doanh nghiệp đang hoạt động
và kê khai thuế đến cuối kỳ báo cáo
|
Nghìn doanh nghiệp
|
5,11
|
6,42
|
7,70
|
Sở Tài chính, Thuế tỉnh
|
|
13
|
Về đầu tư FDI
|
|
|
|
|
Sở Tài chính, Ban Quản lý Khu kinh tế
|
|
|
- Số dự án còn hiệu lực luỹ kế
đến cuối kỳ báo cáo
|
Dự án
|
10
|
6
|
10
|
|
|
- Vốn đầu tư thực hiện
|
Triệu USD
|
1.893
|
11,1
|
15,5
|
|
|
- Vốn đăng ký
|
Triệu USD
|
4.733
|
27,7
|
38,8
|
|
14
|
Dân số trung bình đến năm cuối
kỳ
|
Nghìn người
|
2.107
|
2.145
|
2.169
|
Thống kê tỉnh
|
|
15
|
Mật độ dân số đến năm cuối kỳ
|
Người/Km2
|
265
|
270
|
273
|
|
16
|
Lực lượng lao động từ 15 tuổi
trở lên đến năm cuối kỳ
|
Nghìn người
|
1.100,0
|
1.120,0
|
1.131,7
|
|
17
|
Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở
lên đang làm việc so với tổng dân số
|
%
|
52,18
|
52,21
|
51,3
|
|
18
|
Tỷ lệ lao động qua đào tạo
|
%
|
56,7
|
65,0
|
80,0
|
Sở Giáo dục và Đào tạo
|
Hàng năm, giữa kỳ, kết thúc giai đoạn
|
|
|
Trong đó: Tỷ lệ lao động qua
đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ
|
|
24,5
|
27,5
|
35,0
|
|
19
|
Tỷ lệ rác thải sinh hoạt (ở
đô thị và nông thôn) được thu gom và xử lý
|
%
|
85,0
|
90,0
|
95,0
|
Sở Nông nghiệp và Môi trường
|
|
20
|
Số xã đạt chuẩn nông thôn mới
|
Xã
|
61
|
43
|
49,0
|
|
21
|
Tỷ lệ số xã đạt chuẩn nông
thôn mới
|
%
|
46,6
|
78,2
|
89,1
|
|
22
|
Hộ nghèo theo chuẩn đa chiều
|
Hộ
|
530.439
|
4.025
|
0,0
|
|
|
- Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn
nghèo đa chiều
|
%
|
1,21
|
0,75
|
0,0
|
|
|
- Mức giảm tỷ lệ hộ nghèo
theo chuẩn nghèo đa chiều
|
Điểm %
|
0,83
|
0,09
|
1-1,5
|
[1] Trong
đó: Khu vực ngư - nông - lâm nghiệp tăng bình quân 4,91%/năm; khu vực công
nghiệp - xây dựng tăng bình quân 5,71%/năm; khu vực dịch vụ tăng bình quân
8,18%/năm.
[2] Năm
2020, tổng sản lượng thủy sản đạt 970.941 tấn; năm 2025 ước đạt 1,26 triệu tấn.
[3]
Từng bước cải tiến quy trình nuôi tôm thâm canh, phát triển mô hình nuôi ứng dụng
công nghệ cao. Hoàn thiện kỹ thuật các hình thức nuôi kết hợp, nuôi xen canh,
nuôi luân canh một số đối tượng như: cua biển, sò huyết, tôm càng xanh đem lại
giá trị kinh tế cao và bền vững. Tỉnh đã tập trung phát triển nuôi tôm theo
tiêu chuẩn quốc tế và đã được cấp các chứng nhận như: GlobalGAP, Naturland,
BAP, EU và gần đây có ASC, Selva Shrimp, VietGAP... đến nay đã được nhiều tổ
chức chứng nhận trong và ngoài nước cấp 9 loại chứng nhận quốc tế.
[4]
Giai đoạn 2021 - 2025, tỉnh tiếp nhận thông tin 38 tàu cá và 237 ngư dân vi phạm
vùng biển nước ngoài bị bắt giữ và xử lý, trong đó (Cà Mau (cũ): 30 tàu/189
thuyền viên; Bạc Liêu (cũ): 08 tàu/48 thuyền viên).
[5]
Giai đoạn 2021 - 2025: sản lượng chế biến tôm và thủy sản khác ước đạt 1,5 triệu
tấn; sản lượng phân bón ước đạt 5,4 triệu tấn; sản lượng khí thương phẩm ước đạt
7,9 tỷ m3; sản lượng LPG - Condensate ước đạt 634.935 tấn; sản lượng điện sản
xuất ước đạt 34,5 tỷ kWh.
[6] Cà
Mau (cũ): 41 nhà máy với tổng công suất thiết kế 250.000 tấn/năm; Bạc Liêu
(cũ): 48 nhà máy với tổng công suất thiết kế 294.000 tấn/năm.
[7] Cà
Mau (cũ): 19 cụm công nghiệp với tổng diện tích 1.025,83 ha; Bạc Liêu (cũ): 11
cụm công nghiệp với tổng diện tích 610 ha.
[8] (i)
Cụm công nghiệp Vĩnh Mỹ 30 ha; (ii) Cụm công nghiệp Chủ Chí 30 ha; (iii) Cụm
công nghiệp Vĩnh Lợi 50 ha.
[9] Khu
công nghiệp Khánh An (235,86 ha); khu công nghiệp Hòa Trung (326 ha); khu công
nghiệp Sông Đốc (145,45 ha); khu công nghiệp Tắc Thủ ((khu công nghiệp Khánh An
mở rộng) (345 ha)); khu công nghiệp Tân Thuận (490 ha); khu công nghiệp Trà
Kha (60 ha); khu công nghiệp Láng Trâm (100 ha); khu công nghiệp Ninh Quới (257
ha); khu công nghiệp Bạc Liêu (500 ha).
[10]
Đã lập báo cáo nghiên cứu khả thi trình Bộ Công Thương thẩm định và phê duyệt dự
kiến trong tháng 10/2025; đã trình hồ sơ Báo cáo đánh giá tác động môi trường
đang chờ Bộ Nông nghiệp và Môi trường chấp thuận; đã ký kết thoả thuận với
bên mua khí; đang thực hiện đấu thầu lựa chọn nhà thầu EPC, dự kiến hoàn thành
và khởi công dự án trong quý I/2026; dự kiến bắt đầu có nguồn khí đầu tiên vào
quý II/2027 với ước tính sẽ bổ sung khoảng 4,03 tỷ m3. Toàn bộ nguồn khí tại
mỏ sẽ được đưa vào hệ thống đường ống PM3 - CAA hiện hữu để cung cấp cho Cụm
Khí - Điện - Đạm tại Cà Mau nhằm đảm bảo nguồn cung năng lượng khí cho Cà Mau
nói riêng và khu vực Tây Nam bộ nói chung.
[11]
Quyết định số 1386/QĐ-TTg ngày 16/11/2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê
duyệt Quy hoạch tỉnh Cà Mau thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quyết
định số 1598/QĐ-TTg ngày 08/12/2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt
Quy hoạch tỉnh Bạc Liêu thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
[12]
Tổng số nhà được hỗ trợ 9.594 căn (trong đó: Tỉnh Cà Mau (cũ) 4.400 căn, tỉnh
Bạc Liêu (cũ) 5.194 căn), tổng kinh phí thực hiện 599,377 tỷ đồng. Tỉnh tiếp tục
thực hiện Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát bằng nguồn ngân sách địa
phương; tính đến nay đã hoàn thành 247/271 căn, đạt 91,1% kế hoạch (còn 24 căn
không thực hiện do người dân không nhận hỗ trợ, không có đất xây nhà và đã được
hỗ trợ từ nguồn khác).
[13]
Trong đó, có Phiên Xúc tiến thương mại trong khuôn khổ sự kiện Ngày Hội Cua
Cà Mau 2022 và Festival Tôm Cà Mau 2023, đây là sự kiện lớn đã kết nối nhiều đơn
vị thu mua, phân phối lớn như Tập đoàn Central Retail (với chuỗi siêu thị Go),
Co.opmart, Bách Hóa Xanh, các đơn vị logictics, các Sàn thương mại điện tử
trong và ngoài nước như Alibaba, TikTok Shop,… với các doanh nghiệp, hợp tác
xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh các sản phẩm đặc sản, đặc trưng, sản phẩm
OCOP trên địa bàn tỉnh.
[14]
Triển khai thực hiện các Chương trình hợp tác với thành phố Hồ Chí Minh, thành
phố Hà Nội, Ninh Bình,... về lĩnh vực xúc tiến thương mại như phối hợp thực hiện
Chương trình Bình ổn thị trường; kịp thời cập nhật, chia sẻ thông tin thị
trường, điều phối hàng hóa, phối hợp xử lý biến động thị trường,…; hỗ trợ,
tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp các bên đầu tư, liên kết đầu tư sản xuất,
kinh doanh, phát triển hệ thống phân phối, xây dựng vùng nguyên liệu, tạo nguồn
hàng bình ổn thị trường; phối hợp phát triển hệ thống phân phối, xây dựng các
chuỗi cung ứng, lưu thông hàng hóa hiệu quả xuyên suốt từ hoạt động sản xuất,
nuôi trồng đến hoạt động phân phối,…
[15]
Đến nay đã có hơn 50 sản phẩm được đưa vào các hệ thống phân phối, bán lẻ
trong và ngoài tỉnh như: Siêu thị Big C, CO.OPMART, CO.OP FOOD, AEON, MEGA
Market, Fuji Mart, Top Go, Tứ Sơn - An Giang, cửa hàng thực phẩm an toàn, chuỗi
cung ứng Nutrimart...; có trên 100 sản phẩm được liên kết với các đại lý ngoài
tỉnh như TP. Hồ Chí Minh, các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, Đà Nẵng, Hà Nội,…
[16]
Năm 2025, tổng khối lượng vận tải hàng hóa đạt 4.200 ngàn tấn, tăng hơn 2 lần
so năm 2020, bình quân giai đoạn tăng 14,5%/năm. Vận chuyển hành khách năm
2025 đạt 73,5 triệu lượt hành khách, giảm 15,3% so năm 2020.
[17]
Về đường bộ: Quốc lộ có 7 tuyến đi qua địa bàn tỉnh với tổng chiều dài 353km
(Quốc lộ 1: 125,74 km; Quốc lộ 63: 40,42 km; Quản Lộ - Phụng Hiệp: 61,8 km;
đường Nam Sông Hậu: 13,3 km; Hành lang ven biển phía Nam: 42,42 km; đường Hồ
Chí Minh: 59,0 km; tuyến tránh QL1 TP Cà Mau: 13,41 km); đường tỉnh 28 tuyến
dài 627,434 km; đường xã, huyện và nông thôn tổng cộng trên 18.000 km.
[18]
Về đường thủy: có 170 tuyến sông, kênh chính dài 2.421,6 km (trong đó, Trung
ương quản lý 17 tuyến với tổng chiều dài 402,2km).
[19]
Trong đó, thu nội địa đạt 50.715 tỷ đồng.
[20]
Bao gồm: tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp các các văn bản quy
phạm pháp luật có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh; tổ chức chức các
hội nghị, diễn đàn đối thoại với doanh nghiệp, kịp thời giải quyết các khó
khăn vướng mắc của người dân và doanh nghiệp; tổ chức các hội trợ, chương
trình xúc tiến thương mại trong và ngoài nước; đơn giản hóa các thủ tục hành
chính, tăng cường áp dụng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3,4; ban hành công
khai doanh mục các dự án đầu tư.
[21]
Chỉ số PCI tỉnh Cà Mau (cũ): năm 2021 xếp hạng 32, năm 2022 xếp hạng 58, năm
2023 xếp hạng 22, năm 2024 xếp hạng 28 so với cả nước
và thuộc nhóm điều hành tốt. Chỉ số PCI tỉnh Bạc Liêu (cũ): năm 2021 xếp hạng 55, năm 2022 xếp hạng 61, năm 2023 xếp hạng
top 30 cả nước, năm 2024 xếp hạng ngoài nhóm
30 tỉnh, thành phố đứng đầu.
[22] Kế hoạch số 05-KH/TU ngày 14/7/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh
ủy; Kế hoạch số 194/KH-UBND ngày 30/6/2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh.
[23] Ước đến cuối năm 2025, toàn tỉnh có 613 hợp tác xã (HTX)
đang hoạt động và 1.498 tổ hợp tác.
[24] Cà Mau (cũ): Chỉ số cải
cách hành chính (PAR INDEX) năm 2024 của tỉnh xếp hạng 20 (tăng 26 bậc so với
năm 2021); Chỉ số hài lòng của người dân, doanh nghiệp đối với sự phục vụ của
các cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) năm 2024 của tỉnh xếp hạng 12 (tăng 09
bậc so với năm 2021); Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh
(PAPI) năm 2024 xếp hạng 17 (tăng 22 bậc so với năm 2021).
- Bạc Liêu (cũ): Chỉ số cải
cách hành chính (PAR INDEX) năm 2024 của tỉnh xếp hạng 59 (giảm 15 bậc so với
năm 2021); Chỉ số hài lòng của người dân, doanh nghiệp đối với sự phục vụ của
các cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) năm 2024 của tỉnh xếp hạng 50 (giảm 18
bậc so với năm 2021); Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh
(PAPI) năm 2024 xếp hạng 21 (giảm 10 bậc so với năm 2021).
[25] Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có khoảng 1.459 Tổ công nghệ số
cộng đồng. Tổ công nghệ số cộng đồng triển khai các nền tảng số đã được tập huấn
và trực tiếp làm mẫu, hướng dẫn cho hơn 223.000 hộ gia đình trên địa bàn tỉnh,
chiếm trên 72% số hộ gia đình trong ấp, khóm thuộc xã, phường, thị trấn; số hộ
gia đình triển khai dịch vụ công trực tuyến là 197.962 hộ; số hộ gia đình có
tài khoản bán hàng trên sàn thương mại điện tử 6.525 hộ… góp phần nâng cao kỹ
năng bán hàng trên các sàn thương mại điện tử uy tín, thúc đẩy chuyển đổi số tại
các địa phương.
[26] Giai đoạn 2021 - 2025 (ước đến cuối năm 2025) đã đào tạo, bồi
dưỡng và dạy nghề cho 29.163 người (trong đó: Đại học: 1495.000 người, Cao đẳng
27.668 người).
[27] Năm 2021: 53.635 lao động, đạt 92,3%; năm 2022: 62.618 lao
động, vượt 7%; năm 2023: 66.035 lao động, vượt 12,1%; năm 2024: 72.582 lao động,
vượt 22,8%; năm 2025 (ước đến cuối năm 2025): 62.000 lao động, vượt 5,1%.
[28] Năm 2021: 194 người, đạt 21,5%; năm 2022: 672 người, vượt
34,4%; năm 2023: 954 người, vượt 36,3%; năm 2024: 1.226, vượt 11,5%; năm 2025
(ước đến cuối năm 2025): 1.200, đạt 100%.
[29] Tập trung tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách
pháp luật của Nhà nước và các nhiệm vụ chính trị của địa phương; về xây dựng
đời sống văn hóa, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, an toàn giao
thông, kỷ niệm các ngày lễ lớn; thực hiện dự án “Bảo tồn, phát huy giá trị văn
hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch”.
[30] Tội phạm về trật tự xã hội: Khởi tố 5.557 vụ, 6.830 bị
can; tội phạm về ma túy khởi tố 1.402 vụ, 1.945 bị can (nhiều hơn 26 vụ, nhiều
hơn 59 bị can so cùng kỳ).
[31] Tổ chức tuyên truyền phòng cháy chữa cháy 15.711 cuộc,
299.090 lượt người tham dự; phát 39.986 tờ rơi, 1.024 băng rôn. Xử phạt
1.273 trường hợp vi phạm về phòng cháy chữa cháy; xảy ra 54 vụ cháy, chết 02
người, bị thương 02 người.
[32] Xảy ra 605 vụ tai nạn giao thông, chết 312 người, bị
thương 489 người.
[33] Triển khai 32.644 cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành,
qua thanh tra phát hiện sai phạm với tổng số tiền 160.827 triệu đồng và 446.024
m² đất; đã kiến nghị thu hồi, xử lý theo quy định và kiến nghị xử lý hành
chính đối với 60 tập thể, 713 cá nhân có liên quan, phát hiện 26 vụ việc có dấu
hiệu tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đã chuyển cơ quan điều tra xử lý theo quy
định.
[34] Kết luận số 174-KL/TW ngày 04/7/2025 của Bộ Chính trị, Ban
Bí thư về nhiệm vụ tiếp tục xây dựng tổ chức, hoạt động của chính quyền địa
phương 02 cấp bảo đảm thông suốt, hiệu quả; Kết luận số 179-KL/TW ngày
25/7/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về tiếp tục triển khai nhiệm vụ hoàn thiện
tổ chức bộ máy và hoạt động của mô hình chính quyền địa phương 02 cấp; Kết luận
số 183-KL/TW ngày 01/8/2025 của Bộ chính trị tập trung cho nhiệm vụ phát triển
kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trật tự, chăm lo đời sống nhân
dân theo đúng tinh thần Kết luận số 183-KL/TW ngày 01/8/2025 của Bộ chính trị.
[35] Tổ chức nhiều hoạt động thiết thực nhằm tạo điều kiện cho
nhân dân, đồng bào dân tộc đón tết Nguyên đán Giáp Thìn, Tết Nguyên tiêu, Tết
Chôl Chnăm Thmây trên tinh thần vui tươi, đầm ấm, an toàn, tiết kiệm. Tổ chức
triển khai thực hiện các chương trình, chính sách hỗ trợ cho đồng bào dân tộc
thiểu số và đầu tư cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số; đặc biệt là Chương
trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu
số.
[36] Như: Thu hút đầu tư các dự án năng lượng tái tạo không nối
lưới (điện gió, điện mặt trời...), tiến tới xuất khẩu điện sang các nước
lân cận; phát triển ngành công nghiệp sản xuất khí hydrogen (H2), Ammoniac
(NH3),...; các dự án lớn đang tập trung đầu tư, có vai trò bứt phá, kết nối,
lan tỏa đầu tư trên địa bàn tỉnh như: Cảng hàng không Cà Mau đạt tiêu chuẩn cấp
4C; tuyến cao tốc Cần Thơ - Cà Mau; tuyến cao tốc Hà Tiên - Rạch Giá - Bạc Liêu
và đoạn Cà Mau - Đất Mũi; nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 1, đường Hồ Chí Minh từ
Cà Mau đến Mũi Cà Mau, Quốc lộ 63, Quốc lộ 91B (Nam Sông Hậu)… gắn kết với
việc hình thành Cảng Hòn Khoai và đường kết nối ra đảo Hòn Khoai sẽ tạo điều
kiện thuận lợi để đầu tư hệ thống hạ tầng kết nối đến các khu kinh tế, khu công
nghiệp, khu du lịch lớn...; đầu tư, nâng cấp, mở rộng các tuyến đấu nối đến
các cụm kinh tế ven biển, các tuyến đường tại các đô thị đồng bộ các hạng mục
giao thông, vỉa hè, cấp thoát nước, điện, cáp quang,…; các tuyến kết nối đa
phương thức khác; đầu tư các công trình cầu, đường giao thông nông thôn gắn với
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025, định
hướng đến năm 2030. Với những điều kiện thuận lợi về hạ tầng sẽ tạo điều kiện
thu hút đầu tư các dự án lớn: Khu dịch vụ hậu cần logistics trên đất liền phục
vụ cho Cảng Hòn Khoai; phát triển Khu kinh tế Năm Căn, các khu, cụm công nghiệp,
Khu du lịch Quốc gia Mũi Cà Mau, khu du lịch sinh thái Đầm Thị Tường, Khu du lịch
sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí trong rừng đặc dụng, rừng phòng hộ ven biển,
khu du lịch Nhà Mát (trong đó, có khu lấn biển)… Tập trung phát triển công
nghiệp chế biến nhiều nhất từ nguồn nguyên liệu tại chỗ, đặc biệt là công
nghiệp chế biến tôm là lợi thế nổi trội của tỉnh.