Từ khoá: Số Hiệu, Tiêu đề hoặc Nội dung ngắn gọn của Văn Bản...

Đăng nhập

Dùng tài khoản LawNet
Quên mật khẩu?   Đăng ký mới

Đang tải văn bản...

Số hiệu: 0177/KH-UBND Loại văn bản: Kế hoạch
Nơi ban hành: Tỉnh Cà Mau Người ký: Lâm Văn Bi
Ngày ban hành: 06/11/2025 Ngày hiệu lực: Đã biết
Ngày công báo: Đang cập nhật Số công báo: Đang cập nhật
Tình trạng: Đã biết

ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH CÀ MAU
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 0177/KH-UBND

Cà Mau, ngày 06 tháng 11 năm 2025

 

KẾ HOẠCH

PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 5 NĂM 2026 - 2030

Căn cứ Chỉ thị số 31/CT-TTg ngày 18/10/2025 của Thủ thướng Chính phủ về việc xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030;

Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030;

Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030 như sau:

Phần thứ nhất

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 5 NĂM 2021 - 2025

I. BỐI CẢNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 5 NĂM 2021 - 2025

Năm năm qua, tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường; xung đột vũ trang, bất ổn diễn ra nhiều nơi; cạnh tranh chiến lược và thương mại giữa các nước lớn tiếp tục tiếp diễn, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh mạng, chính sách thuế quan của Hoa Kỳ… ngày càng phức tạp, khó lường. Cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ tư, sự phát triển không gian mạng và chuyển nhanh sang kinh tế số, xã hội số đã và đang tác động mạnh mẽ, nhiều mặt trong đời sống kinh tế - xã hội. Cùng với những khó khăn, thách thức của kinh tế, đất nước ta bị tác động bởi những yếu tố bất lợi từ bên ngoài, chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19, biến đổi khí hậu, thiên tai.

Năm 2025, thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và các văn bản chỉ đạo của trung ương; tỉnh Cà Mau đã hoàn thành công tác sắp xếp tổ chức bộ máy và tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp. Sau khi sắp xếp, tổ chức, bộ máy các cơ quan, đơn vị được củng cố, kiện toàn theo hướng tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; rà soát, sắp xếp, sáp nhập, hợp nhất các đầu mối, đơn vị trực thuộc, phòng, ban và đơn vị sự nghiệp, đơn vị hành chính... bảo đảm đúng quy định, tinh giản biên chế.

Tỉnh Cà Mau, bên cạnh những thuận lợi cơ bản, nhiều vấn đề mới nảy sinh, nhất là tình trạng xâm nhập mặn, sạt lở ven biển, ven sông ngày càng nghiêm trọng, cùng với việc phải tập trung xử lý những khó khăn, hạn chế nội tại chưa được giải quyết dứt điểm, đã tác động không nhỏ đến việc triển khai thực hiện các mục tiêu Nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025.

Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng nhờ sự quan tâm chỉ đạo của Trung ương, cùng với sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, kịp thời của Tỉnh ủy, đã kịp thời ban hành nhiều chủ trương, Nghị quyết với nhiều giải pháp tập trung chỉ đạo quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm; cộng với sự điều hành tích cực, chủ động của Ủy ban nhân dân tỉnh và các ngành, các cấp; sự phối hợp giám sát chặt chẽ của Hội đồng nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể; sự vươn lên khắc phục khó khăn của cộng đồng doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân đã góp phần quan trọng vào thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025 đã đề ra.

II. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

1. Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) của tỉnh năm 2025 ước đạt 8%; hoạt động sản xuất kinh doanh tăng ở cả ba khu vực kinh tế; tổng giá trị sản phẩm trong tỉnh (GRDP) theo giá hiện hành ước đạt 172.033 tỷ đồng; GRDP bình quân đầu người ước đạt 80 triệu đồng/người/năm. Giai đoạn 2021 - 2025, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) đạt kết quả khá, bình quân đạt hơn 7%/năm nếu không tính ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, nếu tính đến yếu tố ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 thì tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 6,15%[1]. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần công nghiệp, xây dựng và dịch vụ; trong đó: Khu vực I (ngư, nông, lâm nghiệp) giảm từ 38,87% năm 2020 xuống 34,86% ước năm 2025; Khu vực II (công nghiệp - xây dựng) tăng từ 22,86% năm 2020 lên 24,23% ước năm 2025; Khu vực III (dịch vụ) tăng từ 33,69% năm 2020 lên 36,49% ước năm 2025.

2. Lĩnh vực ngư, nông, lâm nghiệp và xây dựng nông thôn mới

- Về thủy sản: Thủy sản tiếp tục là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, đặc biệt tôm nuôi là đối tượng chủ lực của tỉnh đóng góp khoảng trên 75% tổng giá trị sản phẩm khu vực I. Diện tích nuôi trồng thủy sản đến cuối năm 2025 khoảng 448.000 ha (trong đó nuôi tôm 428.932 ha). Tổng sản lượng thuỷ sản tăng bình quân 5,49%/năm[2].

Phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng hiệu quả, bền vững, đa dạng hóa đối tượng và phương thức nuôi; các mô hình nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao ngày càng được hoàn thiện, tăng giá trị và năng suất, chất lượng [3]. Ngoài ra, còn phát triển nuôi hàu, sò huyết ven biển, trên bãi bồi; nuôi cá bớp lồng bè ven đảo; đã hình thành các hợp tác xã sản xuất tôm giống để nâng cao chất lượng tôm nuôi và hiệu quả sản xuất. Các hoạt động khai thác thủy sản tiếp tục được duy trì, sản lượng khai thác ổn định. Các cấp, các ngành đã chỉ đạo quyết liệt việc chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo, không theo quy định (IUU), tuy nhiên tình trạng vi phạm vẫn còn xảy ra[4].

Tỉnh đã tổ chức sự kiện Festival Tôm và Ngày hội Cua Cà Mau góp phần phát triển thủy sản của tỉnh, xứng tầm là “thủ phủ tôm của cả nước”.

- Về nông nghiệp: Ổn định diện tích sản xuất lúa, hình thành vùng nguyên liệu lúa tập trung chất lượng cao đạt chứng nhận phục vụ xuất khẩu. Tập trung phát triển sản xuất lúa theo mô hình liên kết xây dựng vùng nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm lúa an toàn và lúa hữu cơ. Diện tích gieo trồng lúa đến cuối năm 2025 đạt 314.982 ha, tăng 23.971 ha so với năm 2021. Cơ cấu giống lúa đã được chuyển đổisang nhóm lúa chất lượng cao chiếm tỷ lệ 79,5%; trong đó nhóm lúa thơm đặc sản (ST24, ST25, RVT và Đài Thơm 8...) chiếm tỷ lệ 48%; cơ giới hóa trong sản xuất lúa được áp dụng mạnh mẽ đã đem lại hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất lúa. Diện tích lúa sản xuất theo tiêu chuẩn hữu cơ hiện nay khoảng 800 ha. Sản lượng lúa tăng bình quân 3,3%/năm.

Phát triển chăn nuôi bền vững, an toàn sinh học, liên kết sản xuất gắn với thị trường tiêu thụ sản phẩm, thích ứng với biến đổi khí hậu, theo hướng trang trại gia đình, đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển chăn nuôi gia súc gia cầm nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và bảo đảm vệ sinh thú y. Công tác bảo vệ thực vật, phòng chống dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi được tăng cường thực hiện.

- Về lâm nghiệp: Công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng được thực hiện bền vững, kinh tế rừng có bước phát triển. Tỷ lệ sản phẩm gỗ có đường kính nhỏ trong khai thác rừng giảm dần, tăng dần tỷ lệ sản phẩm gỗ có đường kính lớn, giá bán cao hơn, tạo ra giá trị gia tăng cao hơn. Đã có 01 doanh nghiệp được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững (FSC) với diện tích 2.121 ha. Tỷ lệ che phủ rừng và cây phân tán ước đến cuối năm 2025 đạt 12,2%.

- Về diêm nghiệp: Diện tích sản xuất muối 1.588,01 ha (trong đó: diện tích sản xuất theo phương pháp truyền thống 1.350,06 ha; diện tích sản xuất trải bạt: 237,95 ha); với 831 hộ (1.730 lao động) tham gia sản xuất. Nhằm phát huy tinh hoa văn hóa và quảng bá thương hiệu sản phẩm muối Bạc Liêu đã tổ chức thành công sự kiện Festival Nghề muối Việt Nam - Bạc Liêu năm 2025.

- Xây dựng nông thôn mới: Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới được tập trung triển khai thực hiện toàn diện, quyết liệt, đạt kết quả tốt; diện mạo nông thôn ngày càng khang trang, sạch đẹp, đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân được nâng lên, an ninh, trật tự giữ vững. Cà Mau hiện có 55 xã tiếp tục triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Kết quả sau khi rà soát có 43/55 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đạt 78,2%; có 3/43 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, đạt 6,97% và 01/3 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu, đạt 33,3%. Hệ thống giao thông nông thôn tiếp tục được phát triển và nâng cấp về chất lượng, góp phần tích cực tạo điều kiện thuận lợi thu hút các nhà đầu tư về khu vực nông thôn, tạo công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo đem lại diện mạo mới, sức sống mới cho vùng nông thôn.

- Về thực hiện Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP): Đến nay, trên địa bàn tỉnh Cà Mau có 343 sản phẩm được công nhận OCOP (02 sản phẩm 5 sao, 75 sản phẩm 4 sao, 266 sản phẩm 3 sao) của 162 chủ thể (25 Công ty/doanh nghiệp, 50 Hợp tác xã, 1 Tổ hợp tác, 86 hộ kinh doanh).

3. Lĩnh vực công nghiệp, xây dựng

3.1. Về công nghiệp

- Về sản xuất công nghiệp: Trên địa bàn tỉnh tập trung chủ yếu vào các ngành công nghiệp chủ lực như: Chế biến nông, thủy sản, sản xuất khí, điện, phân bón. Đây là những ngành hàng chiếm tỷ trọng lớn trong khu vực công nghiệp - xây dựng và là một trong những động lực quan trọng giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh [5]. Toàn tỉnh có 89 nhà máy chế biến và xuất khẩu thủy sản, với tổng công suất thiết kế khoảng 544.000 tấn/năm [6]; 02 nhà máy chế biến gạo xuất khẩu, công suất chế biến 370.000 tấn/năm; đang mời gọi đầu tư xây dựng các cơ sở chế biến gạo xuất khẩu chất lượng cao và 02 nhà máy chế biến muối, với công suất thiết kế 29.500 tấn/năm. Các doanh nghiệp luôn chú trọng mở rộng đầu tư, đổi mới công nghệ, đa dạng hóa mặt hàng, từng bước nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ; hầu hết các nhà máy đều đạt tiêu chuẩn để xuất hàng vào các nước phát triển như: Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Canada, EU…; sản phẩm thủy sản của tỉnh Cà Mau đã có mặt ở 60 quốc gia và vùng lãnh thổ.

- Về cụm công nghiệp: Theo Quy hoạch tỉnh được phê duyệt, Cà Mau có 30 cụm công nghiệp với tổng diện tích 1.635,83 ha [7]; hiện có 02 cụm công nghiệp đang hoạt động (cụm công nghiệp Hòa Thành và cụm công nghiệp Lý Văn Lâm (phường 8 cũ)), với tổng diện tích là 79,15 ha; có 03 cụm công nghiệp được phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng 1/500, với tổng diện tích 110 ha [8], trong đó có 02 cụm công nghiệp (cụm công nghiệp Chủ Chí và cụm công nghiệp Vĩnh Mỹ) đang thực hiện thủ tục lựa chọn chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật theo quy định.

- Về khu công nghiệp, khu kinh tế: Theo Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, tỉnh có 01 khu kinh tế (khu kinh tế Năm Căn với diện tích 10.801,86 ha) và 09 khu công nghiệp với diện tích 2.459,3 ha [9]; trong đó, có 03 khu công nghiệp đang hoạt động (khu công nghiệp Khánh An, khu công nghiệp Hòa Trung, khu công nghiệp Trà Kha).

- Về năng lượng tái tạo: Giai đoạn 2021 - 2025, có 16 dự án điện gió đã đưa vào vận hành thương mại, với tổng công suất 870,2 MW; hỗ trợ các nhà đầu tư đẩy nhanh tiến độ xây dựng các dự án trọng điểm như: Dự án điện LNG Bạc Liêu 3.200 MW, dự án Nhà máy điện gió Bạc Liêu giai đoạn III (141 MW), dự án Nhà máy điện gió Nhật Bản - Bạc Liêu (50 MW) và các dự án nguồn điện và lưới điện khác theo quy hoạch được phê duyệt; điện mặt trời mái nhà tính đến nay Công ty Điện lực Cà Mau đang quản lý 2.827 khách hàng với tổng công suất 295,494 MWp. Đồng thời, Tỉnh đã được bổ sung thêm 2.133MW điện gió; 100MW điện mặt trời tập trung; 117MW điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ; 24MW điện sinh khối và 16MW điện rác; lưới điện sẽ được đầu tư đường dây 500kV Cà Mau - Bạc Liêu - Thốt Nốt dài 217km và trạm biến áp 500KV và các tuyến đường dây và trạm 220KV vào Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII đến năm 2030.

Triển khai dự án đường ống thu gom khí từ các mỏ tiềm năng (Đầm Dơi, Khánh Mỹ,…) thuộc Lô 46/13 kết nối với đường ống Nam Du, U Minh về PM3- Cà Mau chiều dài dự kiến 40 - 60 km với công suất khoảng 2,2 tỷ m3/năm, vận hành giai đoạn 2026 - 2030. Dự án khai thác mỏ Khánh Mỹ - Đầm Dơi được nhà thầu giao Chi nhánh điều hành dầu khí Khánh Mỹ điều hành hoạt động[10].

Ngoài ra, trong giai đoạn 2021 - 2025, tỉnh còn lập Đề án xuất khẩu điện tỉnh Cà Mau và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong danh mục của Điều chỉnh Quy hoạch điện VIII với công suất 2.000 - 5.000 MW; sản xuất hydro xanh từ năng lượng tái tạo cũng được Thủ tướng phê duyệt trong danh mục tiềm năng của Quy hoạch tỉnh tại Quyết định số 1386/QĐ-TTg ngày 16/11/2023 với công suất 86.248 tấn/năm.

3.2. Về xây dựng; công tác quy hoạch, phát triển đô thị

- Về đầu tư xây dựng: Hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông được quan tâm đầu tư xây dựng, từng bước hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu đi lại của Nhân dân, nhiều dự án hạ trọng điểm được đầu tư mới, đưa vào sử dụng hiệu quả như: Khu lưu niệm Chuyến tàu tập kết ra Bắc, cầu sông Ông Đốc, tuyến trục Đông - Tây, cầu Gành Hào, đường tránh Quốc lộ 1, tuyến đường Cà Mau - Đầm Dơi, nâng cấp bệnh viện Đa khoa Bạc Liêu… Khởi công nhiều dự án động lực mới: Cao tốc Cần Thơ - Cà Mau (dự kiến hoàn thành cuối năm 2025); cao tốc Cà Mau - Đất Mũi, Cảng Hòn Khoai và tuyến đường nối từ đất liền ra đảo Hòn Khoai; Nâng cấp, mở rộng sân bay Cà Mau; Bệnh viện đa khoa Cà Mau 1.200 giường; đường vành đai trong và vành đai ngoài Bạc Liêu, cầu Hoà Bình 2; tuyến đường ĐT.979 kết nối với tuyến cao tốc; tuyến đường U Minh - Khánh Hội, tuyến đường Cái Nước - Vàm Đình - Cái Đôi Vàm. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2021 - 2025 ước đạt 288.845 tỷ đồng.

Công tác quản lý, bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông được tập trung thực hiện. Triển khai đúng tiến độ các hoạt động bảo dưỡng thường xuyên, sửa chữa định kỳ các công trình giao thông. Chú trọng thực hiện các dự án, công trình giao thông trọng điểm trên địa bàn tỉnh.

- Về Quy hoạch tỉnh: Hoàn thành công tác lập Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2025 và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt[11]. Hiện nay, tỉnh đang tích cực khẩn trương thực hiện trình tự, thủ tục điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Cà Mau thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 theo quy định, phù hợp với địa giới hành chính mới và tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp.

- Về quy hoạch đô thị, nông thôn:

Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt các đồ án Quy hoạch đô thị và nông thôn, cụ thể như: Điều chỉnh đồ án Quy hoạch chung thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau đến năm 2045; Điều chỉnh đồ án Quy hoạch chung đô thị Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau đến năm 2035; đồ án điều chỉnh Quy hoạch phân khu xây dựng Khu công nghiệp Hòa Trung, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau, tỷ lệ 1/2000; Đồ án Quy hoạch chi tiết xây dựng Khu Tượng đài kỷ niệm chuyến tàu tập kết ra Bắc năm 1954, tỷ lệ 1/500,… Phê duyệt các Đồ án Quy hoạch xây dựng vùng huyện: Đông Hải, Hòa Bình, Hồng Dân và Vĩnh Lợi; Đồ án Quy hoạch chung: Đồ án điều chỉnh Quy hoạch chung thành phố Bạc Liêu đến năm 2045; đồ án điều chỉnh Quy hoạch chung thị trấn Phước Long,...

Tổ chức lập các đồ án quy hoạch: Đồ án Quy hoạch chung đô thị mới: Đất Mũi, Tân Thuận, Trí Phải, Tân Hưng, Phú Tân, Thanh Tùng, Thạnh Phú, Khánh Bình Tây, Nguyễn Huân, Khánh Hội, Hồ Thị Kỷ; Đồ án Quy hoạch chung Khu du lịch sinh thái Đầm Thị Tường, tỷ lệ 1/10.000; Đồ án điều chỉnh cục bộ Quy hoạch phân khu Khu dân cư Khóm 3, Khóm 4, phường Tân Xuyên, thành phố Cà Mau, tỷ lệ 1/2.000; Đồ án Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích Địa điểm chứng tích tội ác Mỹ Ngụy ở Biệt khu Hải Yến - Bình Hưng, xã Phú Tân, tỉnh Cà Mau, tỷ lệ 1/500.

- Về phát triển nhà ở xã hội: Công tác phát triển nhà ở đô thị và nông thôn có nhiều chuyển biến; tiếp tục triển khai thực hiện Đề án 1 triệu căn nhà ở xã hội giai đoạn 2021 - 2030. Năm 2024, hoàn thành 87 căn; kế hoạch năm 2025 hoàn thành 610 căn (đến nay hoàn thành 420 căn, ước cuối năm 2025 hoàn thành 610 căn theo kế hoạch).

Các đề án hỗ trợ nhà cho người có công cách mạng, người nghèo được quan tâm thực hiện; tỉnh đã hoàn thành chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát sớm hơn 03 tháng so kế hoạch của tỉnh, sớm hơn 05 tháng so kế hoạch của trung ương; qua đó, tỉnh Cà Mau là 01 trong 19 tập thể được Thủ tướng Chính phủ tặng Huân chương Lao động hạng Ba vì có thành tích xuất sắc trong Phong trào “Chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát” trên phạm vi cả nước [12].

4. Lĩnh vực thương mại, dịch vụ

4.1. Về thương mại

Hoạt động giao thương nội địa diễn ra khá sôi động, mạng lưới thương mại bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng hàng hóa được củng cố, mở rộng về quy mô, hình thức phân phối hàng hóa. Tổ chức có hiệu quả Đề án phát triển thị trường trong nước gắn với cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng ước đạt 820.736 tỷ đồng, bằng 96,07% Kế hoạch 05 năm (854.308 tỷ đồng); tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn đạt 12,06%/năm.

Các hoạt động xúc tiến thương mại trong nước diễn ra sôi động, đã hỗ trợ hơn 600 lượt doanh nghiệp tham gia 70 sự kiện xúc tiến thương mại [13] cấp vùng và quốc gia tại các thành phố lớn, các sự kiện hợp tác, liên kết vùng [14], kết nối nhiều đối tác mua hàng trong và ngoài nước; tạo điều kiện cho doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất kinh doanh của tỉnh có không gian trưng bày, quảng bá, giới thiệu sản phẩm [15].

Bên cạnh đó, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi số, thương mại điện tử, hợp đồng điện tử, hóa đơn điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt đến các đơn vị và doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh. Đến nay, tỉnh Cà Mau có

112 website thương mại điện tử bán hàng, 04 ứng dụng bán hàng, 01 ứng dụng

cung cấp dịch vụ, 05 website cung cấp dịch vụ bán hàng (sàn giao dịch thương mại điện tử) đã đăng ký với Bộ Công Thương.

Triển khai có hiệu quả các Kế hoạch xuất khẩu trên địa bàn tỉnh, kế hoạch thực hiện các FTA; kịp thời triển khai, thông tin các văn bản về hội nhập kinh tế, hội nhập quốc tế đến các đơn vị có liên quan; tổ chức hơn 12 hội nghị về hội nhập kinh tế quốc tế; các nội dung tập trung triển khai về các hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam đã ký kết như: RCEP, CPTPP, UKVFTA, EVFTA,... Mặc dù chịu ảnh hưởng lớn của bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội trong nước và quốc tế; ảnh hưởng bởi dịch bệnh COVID-19; các chính sách thuế quan,... đặc biệt là các mức thuế đối ứng của Mỹ, nhưng các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh đã thích ứng, sáng tạo, vượt qua các khó khăn, thách thức và tận dụng lợi thế từ các hiệp định thương mại tự do để đẩy mạnh xuất khẩu, đạt được những kết quả đáng ghi nhận với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 7,63%/năm; tổng kim ngạch xuất khẩu ước đạt 11.302 triệu USD, bằng 95,35% so kế hoạch (11.853 triệu USD).

4.2. Về dịch vụ

- Về du lịch: Du lịch đang từng bước trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh và hướng đến là trung tâm du lịch của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Nhiều dự án du lịch được triển khai, cơ sở vật chất, hạ tầng giao thông được nâng cấp, mở rộng. Các hoạt động phục vụ, dịch vụ du lịch được tổ chức chuyên nghiệp hơn. Công tác xúc tiến, quảng bá có đổi mới, góp phần nâng cao hình ảnh điểm đến và sức cạnh tranh của ngành. Liên kết, hợp tác du lịch được duy trì và mở rộng, tạo động lực thu hút khách và đầu tư. Tổ chức thành công các sự kiện lớn trong Chương trình “Cà Mau - Điểm đến”, nhiều địa phương đã phát triển mô hình du lịch mới gắn với đờn ca tài tử, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, tạo sự đa dạng và gia tăng trải nghiệm cho du khách, góp phần hình thành nhiều sản phẩm du lịch đặc trưng. Các chỉ tiêu văn hóa, thể thao và du lịch qua các năm từ năm 2021 đến năm 2024 và ước thực hiện năm 2025 nhìn chung đều đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra, cụ thể giai đoạn 2021 - 2025 (ước đến cuối năm 2025): Tổng lượt khách du đạt 29,35 triệu lượt (trong đó, khách quốc tế: 0,39 triệu lượt, khách nội địa: 28,96 triệu lượt); tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 12,35%. Tổng thu từ khách du lịch đạt 30.638 tỷ đồng; tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 13,55%.

- Về dịch vụ vận tải: Chất lượng phục vụ của các đơn vị tham gia vận tải hành khách, hàng hóa được nâng cao; đường thủy chiếm tỷ trọng lớn trong vận chuyển hàng hóa và đường bộ chiếm tỷ trọng lớn trong vận chuyển hành khách[16].

Vận tải đường bộ phát triển nhanh, hệ thống bến bãi từng bước được quy hoạch, đầu tư xây dựng, phương tiện vận tải hành khách đường bộ tăng nhanh về số lượng và chất lượng [17]. Vận tải hàng hóa bằng đường thủy với phương tiện có tải trọng lớn gia tăng [18]. Vận tải hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không tuy có tăng nhưng vẫn còn chiếm tỷ trọng nhỏ so với các loại giao thông khác.

5. Tài chính, ngân hàng

Công tác xây dựng dự toán thu, quản lý, điều hành ngân sách được thực hiện đúng quy định, chống thất thu và tiết kiệm chi có hiệu quả. Thu ngân sách nhà nước 5 năm (2021 - 2025) ước đạt 51.385 tỷ đồng [19]; chi ngân sách ước đạt 107.510 tỷ đồng.

Các tổ chức tín dụng tiếp tục triển khai các giải pháp tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân tiếp cận tín dụng, cung ứng đủ, kịp thời nhu cầu vốn cho các phương án, dự án sản xuất kinh doanh khả thi có nhu cầu vay và đáp ứng đủ điều kiện vay vốn, góp phần tháo gỡ khó khăn trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể. Tổng nguồn vốn huy động tại địa phương ước đến cuối năm 2025 đạt 86.950 tỷ đồng, tăng 13%; tổng dư nợ cho vay ước đạt 127.000 tỷ đồng, tăng 8,9%; tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ chiếm 3,9%.

6. Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp và cải cách hành chính

- Về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh: Công tác hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh được các cấp, các ngành quan tâm triển khai thực hiện tốt [20]. Theo đó, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI thuộc nhóm có chất lượng điều hành tốt trên bản đồ PCI cả nước [21] kết quả này đã ghi nhận những nỗ lực, chỉ đạo kỳ quyết, kịp thời của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh và sự quyết tâm phấn đấu của các cấp, các ngành trong triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp của Chính phủ và các nhiệm vụ, giải pháp được giao trong cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao chỉ số PCI của tỉnh Cà Mau trong năm vừa qua. Đồng thời, các thành phần kinh tế, loại hình doanh nghiệp phát triển đa dạng, đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

- Về thu hút đầu tư: Giai đoạn 2021 - 2025, đã cấp Quyết định chủ trương đầu tư cho 129 dự án cấp tỉnh (trong đó, có 123 dự án trong nước, với tổng số vốn đăng ký 46.496,7 tỷ đồng; 6 dự án nước ngoài, với vốn đăng ký đầu tư 27.701.816 USD (tương đương 656,433 tỷ đồng)); lũy kế đến nay có 681 dự án đầu tư đang hoạt động, với tổng vốn đăng ký 328.782,9 tỷ đồng (trong đó: có 29 dự án FDI, với tổng vốn đăng ký đầu tư 4,87 tỷ USD (tương đương 113.229 tỷ đồng)).

- Về phát triển doanh nghiệp:

Trong những năm qua, khu vực doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn tỉnh Cà Mau tiếp tục được Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh và các ngành, địa phương quan tâm tạo điều kiện thuận lợi phát triển, từng bước trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế tỉnh. Tỉnh đã thường xuyên tổ chức các cuộc đối thoại trực tiếp giữa lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh, các sở, ban, ngành, địa phương với doanh nghiệp và nhà đầu tư để tiếp nhận phản ánh, kiến nghị, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh.

Ngày 04/5/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân có ý nghĩa như một “cú hích” chiến lược, không chỉ khẳng định vai trò của kinh tế tư nhân mà còn yêu cầu phải “xóa bỏ các rào cản, định kiến, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế tư nhân”, Nghị quyết là một chủ trương, giải pháp lớn, có ý nghĩa chiến lược, là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị[22].

Ước giai đoạn 2021 - 2025, sau khi hợp nhất, tỉnh Cà Mau có 5.233 doanh nghiệp đăng ký mới; nâng tổng số doanh nghiệp toàn tỉnh đến cuối năm 2025 lên 10.330 doanh nghiệp, tăng 43% so với đầu nhiệm kỳ. Khu vực tư nhân năm 2024 đóng góp 112.066 tỷ đồng trong cơ cấu GRDP của tỉnh, chiếm 73,17%, tiếp tục tăng so với năm 2020 là 71,68%. Doanh nghiệp đóng góp ngân sách năm 2024 hơn 2.450 tỷ đồng; đồng thời tạo việc làm cho 78.548 lao động (tăng 1,65% so với cuối năm 2020), tổng thu nhập người lao động đạt 7.481 tỷ đồng, tăng 29,5%, bình quân thu nhập hàng tháng đạt 7,94 triệu đồng/người, tăng 27,5% so với năm 2020.

- Về kinh tế tập thể: Kinh tế hợp tác tiếp tục phát triển; số hợp tác xã hoạt động có hiệu quả tiếp tục được duy trì và có bước nâng lên; nhiều hợp tác xã được củng cố, kiện toàn; chất lượng sản phẩm bước đầu được hình thành trong một số hợp tác xã, nhất là hợp tác xã nông nghiệp, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội [23].

- Công tác cải cách hành chính: Thực hiện Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 - 2030, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 của tỉnh Cà Mau và tổ chức hội nghị triển khai đến tất cả các sở, ban, ngành tỉnh, địa phương. Theo công bố của Bộ Nội vụ, các chỉ số cải cách hành chính, chỉ số hài lòng của người dân, doanh nghiệp đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước có một số kết quả tích cực [24].

7. Lĩnh vực khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo

Tiếp tục đẩy mạnh triển khai hiệu quả Chương trình hành động số 97- CTr/TU ngày 23/5/2025 của Tỉnh ủy Cà Mau về thực hiện Nghị quyết số 57- NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Tỉnh đã tổ chức thành công 06 Hội nghị về khoa học công nghệ, chuyển đổi số; triển khai đồng loạt ứng dụng Trí tuệ nhân tạo (AI). Đặc biệt, Đảng bộ tỉnh Cà Mau và một số đảng bộ xã, phường đã ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong tổ chức đại hội đảng theo mô hình “không giấy”, góp phần đổi mới phương thức điều hành, nâng cao hiệu quả, tính minh bạch và hiện đại trong công tác tổ chức đại hội.

- Về khoa học, công nghệ:

Trong giai đoạn 2021 - 2025: Đã triển khai thực hiện đề tài, dự án cấp bộ: 05 nhiệm vụ, thông qua xét duyệt đề cương 04 nhiệm vụ; đề tài, dự án cấp tỉnh, tổng số được phê duyệt 81 đề tài/dự án; tổ chức hội đồng nghiệm thu kết quả thực hiện 101 đề tài/dự án; ban hành Quyết định công nhận kết quả 66 đề tài/dự án hoàn thành; tiến hành kiểm tra định kỳ tiến độ thực hiện nội dung và kinh phí đối với 160 lượt đề tài/dự án.

Triển khai thực hiện nhiệm vụ thuộc Chương trình Ứng dụng nhân rộng kết quả nghiên cứu thử nghiệm vào sản xuất và đời sống; Chương trình Ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ xây dựng nông thôn mới, tái cơ cấu ngành nông nghiệp và phát triển sản phẩm OCOP; Chương trình Hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất chất lượng dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tỉnh Cà Mau; Dự án Huy động nguồn lực nhân rộng quy trình công nghệ nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh tuần hoàn, ít thay nước, an toàn sinh học trên địa bàn tỉnh Cà Mau;...

Hoạt động tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng; quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, quản lý công nghệ, thị trường công nghệ, khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo... thường xuyên được quan tâm và đạt kết quả quan trọng.

- Về chuyển đổi số: Triển khai thực hiện có hiệu quả phong trào “Bình dân học vụ số”, tổ chức Lễ phát động phong trào “Bình dân học vụ số” và Tọa đàm với chủ đề “Lãnh đạo thích ứng với làn sóng AI”, triển khai mô hình “Tổ công nghệ số cộng đồng”[25].

Về phát triển hạ tầng số: 100% xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh đã triển khai hệ thống cáp quang Internet và phủ sóng mạng di động 3G/4G; 100% cơ quan, đơn vị nhà nước cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã có hệ thống mạng LAN, kết nối Internet tốc độ cao.

Trung tâm Giám sát, điều hành thông minh (IOC) của tỉnh Cà Mau đã hoàn thiện và đưa vào vận hành, kết nối 13 lĩnh vực quản lý với 39 loại dữ liệu và 258 trường thông tin.

8. Công tác quản lý tài nguyên; bảo vệ môi trường; phòng chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh

Công tác lập, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đảm bảo quy định, đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành, lĩnh vực, địa phương, tạo nguồn lực để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng thực hiện các dự án đầu tư. Công tác bồi thường, tái định cư cho các hộ gia đình, cá nhân bị ảnh hưởng bởi dự án thực hiện kịp thời, theo quy định. Các nguồn tài nguyên được quy hoạch, quản lý, khai thác và sử dụng khá hợp lý, hiệu quả; quản lý chặt chẽ hoạt động khai thác khoáng sản, đặc biệt là cát biển, cát bồi vùng cửa sông ven biển, đất mặt, đất lòng sông…; công tác quản lý tài nguyên từng bước đi vào nề nếp, hướng đến việc khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững.

Công tác bảo vệ môi trường được chỉ đạo thực hiện quyết liệt. Chất thải sinh hoạt đô thị, chất thải rắn y tế được thu gom và xử lý đúng quy định, chất thải nguy hại được quản lý chặt chẽ theo quy định. Công tác tuyên truyền bảo vệ môi trường thông qua các hình thức đa dạng, phong phú góp phần nâng cao ý thức của nhân dân. Đầu tư xây dựng các bãi tập kết xử lý rác thải tập trung; kiểm tra, xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; thường xuyên theo dõi chất lượng không khí, chất lượng nguồn nước, môi trường biển, đa dạng sinh học vùng ven bờ và quanh các cụm đảo thông qua các chương trình quan trắc nhằm cảnh báo và khắc phục kịp thời khi bị ô nhiễm.

Công tác bảo vệ, phát triển, nâng cao chất lượng rừng và duy trì độ che phủ rừng được chú trọng, công tác trồng rừng gắn với khai thác hiệu quả; đẩy mạnh tái sinh khu vực bãi bồi, nâng cao chất lượng rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, nhất là những khu vực nhạy cảm như các vườn quốc gia và rừng ven biển; công tác bảo tồn đa dạng sinh học, quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ. Các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu được quan tâm lồng ghép vào các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Xây dựng, tổ chức thực hiện khá tốt các kế hoạch phòng, chống thiên tai, phương án ứng phó thiên tai; thường xuyên khảo sát, đánh giá mức độ an toàn các tuyến kênh vùng ngọt hóa, đê sông, đê biển và kè biển để triển khai các giải pháp cảnh báo, gia cố, khắc phục sạt lở.

9. Lĩnh vực văn hóa, xã hội

9.1. Công tác giáo dục và đào tạo; giải quyết việc làm và an sinh xã hội

- Về giáo dục và đào tạo: có nhiều tiến bộ; đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục các cấp phát triển cả về lượng và chất. Công tác xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia được thực hiện quyết liệt, tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia tăng nhanh; giai đoạn 2021 - 2025 (ước đến cuối năm 2025) toàn tỉnh có 630/731 trường công lập đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 86,2% hoàn thành và vượt kế hoạch đề ra. Công tác phổ cập giáo dục tiếp tục được duy trì và nâng cao mức độ đạt chuẩn. Việc ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong ngành giáo dục được đẩy mạnh. Đào tạo nghề cho người lao động được chú trọng; trình độ, tay nghề của người lao động không ngừng cải thiện, cơ bản đáp ứng yêu cầu lao động của xã hội[26]. Chất lượng dạy và học tăng dần qua từng năm. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông của tỉnh Cà Mau năm 2025 đạt 99,4%. Đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường, lớp học; tiếp tục đẩy mạnh thu hút các nguồn vốn hợp pháp ngoài ngân sách nhà nước để đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy học.

- Về giải quyết việc làm: Giai đoạn 2021 - 2025 (ước đến cuối năm 2025) giải quyết việc làm cho 316.870 lao động, bình quân giải quyết việc làm cho 63.374 lao động/năm[27].

Lao động xuất cảnh đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng giai đoạn 2021 - 2025 (ước đến cuối năm 2025) là 4.246 người, bằng 96,5% kế hoạch (trong đó, có 285 lao động thời vụ) [28]. Công tác quản lý lao động người nước ngoài làm việc trên địa bàn tỉnh được thực hiện đảm bảo quy định; đến thời điểm báo cáo, số lao động người nước ngoài được cấp giấy phép lao động còn thời hạn trên địa bàn tỉnh là 463 người.

- Về an sinh xã hội: Hoạt động chăm sóc người có công được quan tâm và đẩy mạnh, hiện nay toàn tỉnh có khoảng 185.008 người được công nhận (trong đó, có 21.681 người đang hưởng trợ cấp hàng tháng, với tổng kinh phí chi trả trên 60 tỷ đồng/năm). Công tác chi trả trợ cấp được thực hiện đầy đủ, kịp thời, an toàn, đặc biệt trong các thời điểm dịch bệnh và chuyển đổi hình thức chi trả không dùng tiền mặt theo lộ trình Chính phủ quy định. Từ năm 2021 - 2025 đã vận động trên 61 tỷ đồng, xây dựng, sửa chữa cho khoảng 1.400 căn nhà tình nghĩa.

Triển khai thực hiện đồng bộ các mục tiêu của Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021 - 2030 gắn với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, giáo dục về bình đẳng giới thông qua việc triển khai nhiều chương trình, hội thảo, chiến dịch truyền thông đa dạng, nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về bình đẳng giới. Các hoạt động được tổ chức thường xuyên, khuyến khích sự tham gia của cả nam và nữ trong các lĩnh vực xã hội, góp phần xóa bỏ định kiến giới, thúc đẩy sự tôn trọng và hợp tác giữa các giới. Công tác truyền thông, phổ biến pháp luật, phòng chống bạo lực trên cơ sở giới được chú trọng, khoảng 90% người dân trên địa bàn tỉnh đã được tiếp cận các kiến thức cơ bản về phòng, chống bạo lực trên cở sở giới.

9.2. Y tế

Công tác bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe cho Nhân dân luôn được quan tâm; chất lượng khám bệnh, chữa bệnh tại các tuyến được nâng lên, cơ bản đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của người dân. Công tác phòng, chống dịch bệnh được tăng cường, nhiều biện pháp tuyên truyền và hướng dẫn vệ sinh, phòng bệnh hiệu quả. Các dịch bệnh được kiểm soát tốt, đặc biệt là dịch bệnh COVID-19. Từ cuối tháng 4 năm 2021 đến những tháng đầu năm 2022, tình hình dịch bệnh COVID-19 bùng phát mạnh, xâm nhập vào tỉnh, tác động ảnh hưởng lớn đến tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, nhưng với sự chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh và sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, sự ủng hộ, chia sẻ, tin tưởng của các tầng lớp nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp, dịch bệnh COVID-19 được kiểm soát, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh được phục hồi và phát triển.

Đẩy mạnh chuyển đổi số trong lĩnh vực y tế, ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác khám chữa bệnh, thanh quyết toán bảo hiểm y tế, quản lý, điều hành bệnh viện; các Bệnh viện và Trung tâm Y tế có giường bệnh đã hoàn thành việc triển khai ứng dụng bệnh án điện tử thay thế bệnh án giấy và thanh toán viện phí không dùng tiền mặt; sử dụng căn cước công dân gắn chip cho việc tiếp nhận thông tin khi đến khám bệnh. Đã triển khai và vận hành, kết nối hệ thống thông tin Quốc gia về quản lý kê đơn thuốc và bán thuốc theo đơn; liên thông dữ liệu giấy khám sức khỏe lái xe từ phần mềm của cơ sở khám chữa bệnh lên Cổng tiếp nhận dữ liệu Hệ thống thông tin giám định bảo hiểm y tế,...

Cơ sở vật chất ngành y tế từ tuyến tỉnh đến cơ sở tiếp tục được quan tâm đầu tư, nâng cấp; số giường bệnh/vạn dân, ước đến cuối năm 2025 đạt 30 giường; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi (chiều cao/tuổi) suy dinh dưỡng giảm còn 19%. Công tác đào tạo bổ sung nguồn nhân lực y tế được quan tâm. Đội ngũ cán bộ y tế ngày càng được nâng cao về chất lượng chuyên môn. Tỷ lệ bác sĩ/vạn dân, ước đến cuối năm 2025 đạt 13,05 bác sĩ; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế trong toàn tỉnh ước đạt 95%.

9.3. Văn hóa, thể thao

Hệ thống các thiết chế văn hóa từ tỉnh đến cơ sở đã có những hoạt động tích cực, thu hút được sự quan tâm của đông đảo quần chúng Nhân dân[29]

Hoạt động lĩnh vực văn hóa - gia đình có nhiều chuyển biến, các hoạt động bảo tồn, phát huy di sản, phát triển văn hóa đọc, nghệ thuật biểu diễn tiếp tục được quan tâm, tạo môi trường lành mạnh, khuyến khích sáng tạo và giữ gìn giá trị truyền thống.

Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa được triển khai rộng khắp, ngày càng đi vào chiều sâu, công tác gia đình có bước tiến, ý thức cộng đồng về xây dựng hạnh phúc gia đình, phòng chống bạo lực được nâng lên. Ước đến cuối năm 2025 tỷ lệ gia đình được công nhận danh hiệu “Gia đình văn hóa” đạt 93,5%; tỷ lệ xã có Trung tâm Văn hóa, Thể thao - Học tập cộng đồng đạt 69%.

Thể dục thể thao quần chúng phát triển mạnh, thu hút đông đảo người dân tham gia. Tỷ lệ dân số tập luyện thể dục thể thao thường xuyên đạt 35%; tỷ lệ gia đình thể thao đạt tiêu chuẩn gia đình thể thao đạt 26%.

10. Quốc phòng, an ninh, nội chính

10.1. Quốc phòng, an ninh

Tình hình an ninh chính trị trên địa bàn tỉnh ổn định. Phối hợp giữa 03 lực lượng (Công an - Quân sự - Biên phòng) từ tỉnh đến cơ sở được thực hiện theo quy chế, kế hoạch, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh; chủ động bảo vệ tuyệt đối an toàn các sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội quan trọng; chủ quyền biên giới biển được giữ vững, không phát hiện các dấu hiệu hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia.

Công tác bồi dưỡng, tập huấn, huấn luyện, giáo dục quốc phòng được thực hiện theo quy định. Tổ chức tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ hàng năm đạt chỉ tiêu kế hoạch. Tổ chức thành công diễn tập tác chiến phòng thủ kết hợp tình huống phòng thủ dân sự cấp tỉnh. An ninh chính trị, chủ quyền vùng biển được giữ vững; công tác kiểm tra, kiểm soát, ngăn chặn hoạt động buôn lậu trên khu vực biên giới biển được thực hiện theo quy định.

10.2. Trật tự, an toàn xã hội, an toàn giao thông

Thực hiện tốt nhiệm vụ được giao của Đề án số 06, Dự án Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và Cấp căn cước công dân.

Công tác giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được tăng cường thực hiện, xử lý kịp thời, hiệu quả các vụ việc xảy ra; tuy nhiên , tình hình tội phạm về trật tự xã hội, tội phạm về ma túy và tệ nạn x ã hội từng lúc còn diễn biến phức tạp [30]. Công tác phòng, chống cháy, nổ tiếp tục được quan tâm, chỉ đạo quyết liệt; thường xuyên kiểm tra, hướng dẫn công tác phòng cháy, chữa cháy đối với khu dân cư và cơ sở có nguy cơ cháy, nổ cao[31].

Công tác đảm bảo trật tự, an toàn giao thông được chỉ đạo triển khai, thực hiện quyết liệt với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” và với quyết tâm kiềm chế tai nạn giao thông [32]

10.3. Công tác thanh tra, tiếp dân, tư pháp

Công tác thanh tra tiếp tục được tăng cường thực hiện, góp phần quan trọng trong việc phát hiện, chấn chỉnh, xử lý vi phạm, tiêu cực, tham nhũng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước trên nhiều lĩnh vực [33].

Công tác tiếp dân, xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực hiện tốt; các quyết định giải quyết khiếu nại, văn bản xử lý tố cáo có hiệu lực pháp luật tiếp tục được đôn đốc tổ chức thực hiện công khai, minh bạch.

Hoạt động tư pháp, xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật được triển khai kịp thời, hiệu quả. Công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, pháp chế và hỗ trợ doanh nghiệp được thực hiện chặt chẽ theo kế hoạch. Công tác tự kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện theo quy định.

Công tác quản lý nhà nước về xây dựng, thi hành pháp luật; kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật được tỉnh xác định trọng tâm nên trong thời gian qua công tác này chuyển biến tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; nguồn lực bước đầu được tăng cường, nhất là đội ngũ pháp chế; trình độ chuyên môn nghiệp vụ được nâng lên, chất lượng dự thảo, thẩm định văn bản quy phạm pháp luật từng bước được nâng lên.

10.4. Công tác nội vụ

Việc tổ chức triển khai các văn bản của Trung ương[34] về xây dựng tổ chức hoạt động chính quyền địa phương 02 cấp được thực hiện nghiêm túc, đảm bảo chính quyền địa phương hoạt động thông suốt, hiệu quả.

Công tác quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tiếp tục được quan tâm thực hiện; công tác rà soát, sắp xếp, tổ chức lại các cơ quan, tổ chức hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh tiếp tục được triển khai thực hiện. Thực hiện Kế hoạch số 141/KH-BCĐTKNQ18 ngày 06/12/2024 của Ban Chỉ đạo về tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW; Kết luận số 121-KL/TW ngày 24/01/2025 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW; Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12/4/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII; sau khi hợp nhất tỉnh Cà Mau và tỉnh Bạc Liêu, Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo cơ quan chuyên môn hướng dẫn xây dựng Đề án vị trí việc làm trong các cơ quan, tổ chức hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập; hiện các cơ quan, đơn vị, địa phương đang trong quá trình xây dựng Đề án. Thực hiện đúng, đủ các quy định về chế độ, chính sách cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nghỉ việc theo Nghị định số 178/2024/NĐ-CP, Nghị định số 67/2025/NĐ-CP; về tinh giản biên chế theo Nghị định số 154/2025/NĐ-CP của Chính phủ.

Công tác rà soát, kiểm kê và đánh giá hiện trạng sử dụng trụ sở làm việc, nhà công vụ và các tài sản công thuộc phạm vi quản lý của các cơ quan, đơn vị tiếp tục được thực hiện chặt chẽ theo quy định.

10.5. Công tác dân tộc, tôn giáo

Ủy ban nhân dân tỉnh đã tổ chức, triển khai thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng và các chính sách dành cho đồng bào dân tộc thiểu số; tuyên truyền, hướng dẫn các cơ sở tôn giáo chấp hành tốt quy định của pháp luật, nhất là Luật tín ngưỡng, tôn giáo đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh trật tự, nâng cao đời sống vật chất lẫn tinh thần của đồng bào trên địa bàn tỉnh.

Các tổ chức tôn giáo, đồng bào dân tộc thiểu số có ý thức cao về chấp hành tốt và thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là việc xây dựng, cải tạo, sửa chữa, các hoạt động của các cơ sở tôn giáo đã được người đứng đầu các cơ sở tôn giáo quan tâm, thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; các dân tộc luôn phát huy tinh thần tương thân tương ái, sinh sống đoàn kết thống nhất, giúp đỡ nhau cùng phát triển.

Công tác chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh được quan tâm tổ chức thực hiện[35], góp phần cùng với các địa phương làm tốt công tác giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống cho đồng bào dân tộc thiểu số và người dân vùng dân tộc thiểu số của tỉnh. Tổ chức thành công Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số cấp huyện, cấp tỉnh lần thứ IV.

III. NHỮNG HẠN CHẾ, KHÓ KHĂN

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm; chỉ số sản xuất công nghiệp còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế; tỷ trọng công nghiệp và xây dựng trong GRDP thấp, chưa xây dựng được nhiều cụm liên kết ngành công nghiệp. Tiến độ đầu tư, xây dựng một số công trình, dự án trọng điểm chưa đạt kế hoạch đề ra.

Kinh tế biển, ven biển phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế; đầu tư phòng chống sạt lở bờ biển, bờ sông còn hạn chế. Hạ tầng giao thông trong tỉnh, kết nối vùng và huy động nguồn lực tư nhân cho phát triển hạ tầng còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu đồng bộ, hiện đại. Xây dựng nông thôn mới có mặt chưa toàn diện, thiếu vững chắc. Phát triển đô thị, vệ sinh môi trường có nơi chưa đảm bảo yêu cầu. Kinh tế tập thể phát triển chậm, quy mô nhỏ, hiệu quả hoạt động thấp.

Số hộ kinh doanh cá thể chuyển lên doanh nghiệp và số doanh nghiệp phát triển thành doanh nghiệp quy mô lớn còn ít. Sự phát triển của khu vực doanh nghiệp tư nhân vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Phần lớn doanh nghiệp trong tỉnh có quy mô nhỏ và siêu nhỏ với quy mô lao động dưới 50 người chiếm tới 98,58%; tỷ lệ này có xu hướng tăng so với đầu nhiệm kỳ (96%), cho thấy số lượng doanh nghiệp tuy tăng nhưng quy mô chưa có sự chuyển biến rõ rệt. Số doanh nghiệp rút khỏi thị trường có xu hướng tăng, ước 2025 có 800 doanh nghiệp rút khỏi thị trường, tăng 47,6% so với năm 2020 (540 doanh nghiệp), cho thấy môi trường kinh doanh vẫn còn nhiều khó khăn, khả năng chống chịu của doanh nghiệp vẫn còn hạn chế.

Du lịch phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của tỉnh; hạ tầng phục vụ du lịch và dịch vụ du lịch còn yếu, chưa chuyên nghiệp, hiệu quả thấp; dịch vụ vận tải và logistics phát triển chậm. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số còn nhiều hạn chế, chưa theo kịp yêu cầu; tỷ lệ chi nghiên cứu khoa học, công nghệ thuộc nhóm địa phương thấp nhất cả nước. Thiết chế văn hóa còn thiếu, vận hành còn nhiều khó khăn. Y tế, giáo dục có mặt chưa đáp ứng yêu cầu. Đào tạo nghề lao động nông thôn chưa được chú trọng đúng mức; nguồn nhân lực chất lượng cao còn ít, chưa thực sự trở thành khâu đột phá trong phát triển. Tỷ lệ hồ sơ người dân tự thực hiện trực tuyến còn thấp; thủ tục hành chính trên một số lĩnh vực chưa được đơn giản hóa.

Tội phạm kinh tế, tham nhũng, ma túy... ngày càng phức tạp, tinh vi, việc phát hiện và đấu tranh ngăn chặn gặp nhiều khó khăn. Tình trạng tàu cá ngư dân khai thác vi phạm vùng biển nước ngoài và hoạt động buôn lậu xăng dầu trên biển, gian lận thương mại, tranh chấp ngư trường… chưa được ngăn chặn triệt để.

IV. NGUYÊN NHÂN

1. Nguyên nhân khách quan

Tình hình thế giới diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, vượt ngoài khả năng dự báo, đã ảnh hưởng, tác động không nhỏ đến tình hình đất nước và của tỉnh trong suốt nhiệm kỳ đại hội. Đặc biệt, ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19; thời tiết diễn biến phức tạp, thiên tai, biến đổi khí hậu gây sạt lở bờ biển, bờ sông, xâm nhập mặn diễn ra nhiều nơi; việc đứt gãy chuỗi cung ứng; biến động giá vật liệu tăng cao, giá cả nhiều mặt hàng nông sản thấp, bấp bênh... ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh và đời sống người dân.

Là địa phương xa trung tâm các thành phố lớn, không nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; không có nguồn vật liệu tại chỗ trong khi vật liệu xây dựng, nhất là cát, đá ngày càng khan hiếm, giá cả tăng cao, gây khó khăn và làm tăng chi phí đầu tư, dẫn đến việc mời gọi đầu tư, huy động nguồn lực từ các thành phần kinh tế còn nhiều khó khăn. Hạ tầng lưới điện không đảm bảo truyền tải cho các dự án điện gió, điện mặt trời, gây lãng phí năng lượng và khó kêu gọi đầu tư dự án mới...

2. Nguyên nhân chủ quan

Công tác lãnh đạo, chỉ đạo và kiểm tra, giám sát của một số cấp ủy, chính quyền các cấp có lúc, có nơi chưa cao, hiệu quả còn hạn chế, chưa thể hiện hết quyết tâm, trách nhiệm cao trong lãnh đạo, chỉ đạo. Công tác phối hợp giữa các cấp, các ngành có lúc, có nơi chưa đồng bộ, thiếu chặt chẽ. Một số sở, ngành, địa phương xử lý, giải quyết một số vụ việc tồn đọng còn chậm, kéo dài. Một số cơ quan chưa chủ động tranh thủ sự ủng hộ của các bộ, ngành Trung ương nên hiệu quả triển khai thực hiện nhiệm vụ chưa cao.

Một bộ phận cán bộ trình độ, năng lực chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; tinh thần trách nhiệm chưa cao; thực thi công vụ chưa quyết liệt, còn nặng tâm lý sợ rủi ro, sợ trách nhiệm, nên né tránh, đùn đẩy trong xử lý công việc. Doanh nghiệp trong tỉnh hầu hết có quy mô nhỏ và vừa, năng lực cạnh tranh thấp. Việc ứng dụng khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ thông tin còn hạn chế; nguồn lực đầu tư cho khoa học, công nghệ chưa đáp ứng yêu cầu phát triển.

V. BÀI HỌC KINH NGHIỆM

Một là, trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành cần phát huy dân chủ, vai trò của tập thể gắn với nâng cao trách nhiệm của từng cá nhân, đặc biệt là trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu; thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo, phương pháp, lề lối làm việc theo hướng toàn diện, sâu sát, chọn đúng lĩnh vực trọng tâm, khâu đột phá để chỉ đạo; chuyển từ chính quyền thụ động sang kiến tạo, chủ động phục vụ Nhân dân.

Hai là, phải đảm bảo hài hòa giữa kế thừa và đổi mới, ổn định và phát triển; giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, con người, giải quyết tốt các vấn đề xã hội; giữa phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảo quốc phòng, an ninh.

Ba là, phải quán triệt, thực hiện nghiêm các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước; xác định đúng định hướng, mục tiêu phát triển của tỉnh phù hợp với điều kiện thực tế địa phương; tổ chức thực hiện với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, hiệu quả.

Bốn là, phát huy tối đa nội lực và khơi dậy ý chí tự lực, tự cường, tinh thần đoàn kết, khát vọng phát triển, lòng yêu quê hương của cán bộ, đảng viên và Nhân dân; đồng thời, tranh thủ mọi nguồn lực để phát triển tỉnh nhà. Qua thực tế đều khẳng định, trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, nhất là đại dịch COVID-19, cần có sự tham gia của cả hệ thống chính trị và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân để huy động các nguồn lực, với mục tiêu đặt lợi ích, tính mạng và sức khỏe của Nhân dân lên trên hết, trước hết; lấy người dân là trung tâm, là chủ thể.

Phần thứ hai

KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 5 NĂM 2026 - 2030

I. BỐI CẢNH KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 5 NĂM 2026 - 2030

1. Dự báo tình hình

Giai đoạn 2026 - 2030 là 5 năm cuối thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030, tình hình thế giới dự báo tiếp tục chuyển biến nhanh, phức tạp hơn và ngày càng khó đoán định; khó khăn, thách thức và thuận lợi, thời cơ đan xen nhưng khó khăn, thách thức nhiều hơn.

Trong nước, xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, vị thế, uy tín đất nước tiếp tục nâng cao trên trường quốc tế. Cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy và thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp phát huy hiệu quả, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; quốc phòng, an ninh và đối ngoại tiếp tục được tăng cường. Tuy nhiên, tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, khó lường, khó đoán định; cạnh tranh công nghệ, cạnh tranh thương mại, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo... tiếp tục diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ bất ổn. Tình hình đó tác động không nhỏ đến phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh của đất nước và của tỉnh.

Kết quả quan trọng đạt được trong những nhiệm kỳ qua là nền tảng vững chắc, tạo đà phát triển trong những năm tới; sau hợp nhất, tỉnh Cà Mau bước vào giai đoạn phát triển mới với không gian rộng lớn, với nhiều tiềm năng, lợi thế nổi trội, có vị trí địa chính trị đặc biệt quan trọng, trung tâm vùng biển các nước Đông Nam Á và các tuyến hàng hải quốc tế; Cà Mau không chỉ sở hữu vị thế địa đầu cực Nam Tổ quốc, mà còn là cửa ngõ ra biển lớn, với ba mặt giáp biển của tự nhiên vùng Đất Mũi. Tỉnh hội tụ lợi thế chiến lược: Trung tâm thủy sản quốc gia, có khả năng vươn tầm thế giới; tiềm năng năng lượng tái tạo; vùng xanh tự nhiên, đất ngập nước, rừng ngập mặn và hệ sinh thái biển, đồng bằng đặc thù, là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn...; biển, đảo, Mũi Cà Mau mang giá trị sinh thái và an ninh quốc phòng chiến lược. Cùng với khát vọng lớn, quyết tâm cao và sự đoàn kết, thống nhất của hệ thống chính trị, các tầng lớp Nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp tạo tiềm lực chính trị tinh thần to lớn thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển nhanh và bền vững.

2. Thuận lợi, khó khăn

2.1. Thuận lợi

Cà Mau có nhiều dư địa để phát triển, nhiều cơ hội để bứt phá vươn lên trên cơ sở khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế; cùng với các nguồn lực được Trung ương ưu tiên đầu tư hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng đạt kết quả sớm hơn so dự kiến…; các công trình, dự án trên địa bàn tỉnh được quan tâm đầu tư hoàn thành theo quy hoạch, kế hoạch.

Là Tỉnh nằm trong vùng nhiệt đới có khí hậu mát mẻ quanh năm, ít bị ảnh hưởng bởi lũ, bão. Có bờ biển dài 310 km cùng với vùng lãnh hải rộng trên 12 nghìn km2, có diện tích đất nông nghiệp, diện tích đất có khả năng nuôi trồng thủy sản lớn; tài nguyên biển, tiềm năng gió… là điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành như: Kinh tế biển; nông nghiệp sạch (tôm sinh thái, kết hợp tôm - rừng, lúa - tôm, lúa sạch...); du lịch sinh thái, du lịch tâm linh, truyền thống văn hóa, lịch sử... đồng thời, phát triển kinh tế của tỉnh sẽ có những đột phá với sự xuất hiện của các yếu tố mới [36], đó là cơ hội trở thành cực tăng trưởng xanh của Việt Nam, khu vực.

Tỉnh nằm trên các trục đô thị hóa Biển Đông và Biển Tây của vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời nằm trong hành lang kinh tế đô thị Tiểu vùng sông Mekong mở rộng (GMS) do đó có khả năng kết nối giao thông, kinh tế và dịch vụ với các vùng trong nước và Quốc tế. Tỉnh đang có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phù hợp với điều kiện tự nhiên của tỉnh.

2.2. Khó khăn

Quy mô kinh tế của tỉnh còn nhỏ; ảnh hưởng của biến đổi khí hậu ngày một nghiêm trọng, tác động trực tiếp đến sản xuất, đời sống của người dân.

Nguồn vật liệu xây dựng, nhất là cát, đá ngày càng khan hiếm, giá cả tăng cao, gây khó khăn và làm tăng chi phí đầu tư. Chưa phát huy được lợi thế của giao thông đường biển. Nhu cầu về đầu tư phát triển còn khá lớn, trong khi nguồn thu ngân sách lại hạn chế; nguồn nhân lực về chuyên môn kỹ thuật cao còn quá ít…

II. MỤC TIÊU TỔNG QUÁT

Phát triển kinh tế nhanh và bền vững, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; thúc đẩy khởi nghiệp, sáng tạo, liên kết vùng; mở rộng thị trường xuất khẩu; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới, sáng tạo, chuyển đổi số và kinh tế tư nhân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân; phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử truyền thống, quyết tâm đưa Cà Mau phát triển nhanh, bền vững, không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của Nhân dân. Bảo đảm vững chắc quốc phòng - an ninh. Phấn đấu đến năm 2030, Cà Mau - tỉnh địa đầu cực Nam của Tổ quốc, trở thành tỉnh phát triển toàn diện, vững tin cùng cả nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

III. CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU

1. Về kinh tế

(1) Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) bình quân 5 năm từ 10% trở lên; GRDP bình quân đầu người đến năm 2030 trên 6.000 USD.

(2) Tốc độ tăng năng suất lao động xã hội đến năm 2030 khoảng 8,0 - 8,5%/năm.

(3) Tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân 5 năm từ 40% GRDP trở lên.

(4) Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GRDP đến năm 2030 từ 20% trở lên.

(5) Tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm khoảng 17 tỷ USD.

(6) Tổng thu ngân sách 5 năm ít nhất 75.000 tỷ đồng.

(7) Tổng số doanh nghiệp đến năm 2030 khoảng 20.000 doanh nghiệp.

(8) Tỷ lệ đô thị hóa đến năm 2030 vượt chỉ tiêu quy định.

2. Về xã hội

(9) Chỉ số phát triển con người (HDI) đến năm 2030 đạt trên 0,7.

(10) Phát triển nhà ở xã hội 5 năm trên 4.200 căn.

(11) Tỷ lệ lao động qua đào tạo đến năm 2030 khoảng 80% (trong đó: tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ: >35%).

(12) Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều mới) giảm khoảng 1,0 - 1,5%/năm.

(13) Tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng số lao động xã hội đến năm 2030 dưới 30%.

(14) Đến năm 2030, số giường bệnh/vạn dân đạt khoảng 34,5 giường; số bác sĩ/vạn dân đạt khoảng 14 bác sĩ.

(15) Đến năm 2030, tỷ lệ trường học các cấp đạt chuẩn quốc gia khoảng 90%; 100% trường học có hệ thống nước sạch để uống và nhà vệ sinh tiêu chuẩn.

3. Về môi trường

(16) Tỷ lệ che phủ rừng đến năm 2030 đạt khoảng 12,4% (không tính diện tích cây phân tán).

(17) Tỷ lệ dân số nông thôn đến năm 2030 sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 100%; trong đó, tỷ lệ dân số nông thôn sử dụng nước sạch đáp ứng quy chuẩn đạt khoảng 65%.

(18) Đến năm 2030, tỷ lệ các cơ sở sản xuất kinh doanh đạt quy chuẩn về môi trường đạt 90%; tỷ lệ khu công nghiệp, khu kinh tế đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường đạt 100%.

(19) Tỷ lệ thu gom xử lý rác thải sinh hoạt đến năm 2030 đạt 95% trở lên.

4. Về quốc phòng, an ninh

(20) Thực hiện công tác tuyển quân, diễn tập hằng năm đạt 100%. Đến năm 2030, có ít nhất 50% địa bàn cấp xã “không ma túy”; phấn đấu có 90% xã, phường đạt tiêu chuẩn “An toàn về an ninh, trật tự”.

IV. NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1. Cơ cấu lại nền kinh tế, xác lập mô hình tăng trưởng mới

Tập trung phát triển kinh tế theo bốn trụ cột: (1) Hoàn thiện hạ tầng giao thông kết nối, nhất là hệ thống cao tốc, sân bay, cảng biển để triển khai thực hiện các khu kinh tế, các khu, cụm công nghiệp có lợi thế; phát triển đồng bộ hạ tầng số. (2) Phát triển kinh tế biển: Phát triển mạnh năng lượng tái tạo (nhất là, điện gió, hướng đến xuất khẩu điện); nâng cao hiệu quả khai thác biển, gắn với bảo vệ chủ quyền quốc gia; đầu tư và từng bước khai thác hiệu quả cảng biển; phát triển công nghiệp chế biến giá trị gia tăng cao. (3) Phát triển nông nghiệp sạch, công nghệ cao, chủ lực là tôm và lúa. (4) Đẩy mạnh phát triển dịch vụ - du lịch: Dựa trên lợi thế sẵn có và giá trị lịch sử, bản sắc văn hóa đặc sắc của địa phương.

Rà soát điều chỉnh lại quy hoạch tỉnh đảm bảo phát huy tối đa lợi thế của từng địa bàn. Quy hoạch trung tâm động lực: Khu vực thành phố Cà Mau (cũ) thành Trung tâm chính trị - hành chính, kinh tế - văn hóa - xã hội của tỉnh. Khu vực thành phố Bạc Liêu (cũ) thành Trung tâm văn hóa - nghệ thuật, giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, du lịch, nghỉ dưỡng; phát triển hạ tầng giao thông hiện đại kết nối nhanh hai trung tâm. Ngoài ra, quy hoạch các vùng: Theo hệ sinh thái nước mặn, nước ngọt, nước lợ, gắn với cây trồng, vật nuôi phù hợp là thế mạnh, lợi thế cạnh tranh của Cà Mau.

Phấn đấu tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) bình quân 5 năm từ 10% trở lên; GRDP bình quân đầu người đến năm 2030 trên 6.000 USD.

2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng xanh, sinh thái, tuần hoàn, chuỗi giá trị

Tập trung quy hoạch và tổ chức thực hiện nghiêm quy hoạch nông thôn. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số trong nông nghiệp. Phát triển nền nông nghiệp hàng hóa hiện đại, sạch, bền vững; ứng dụng công nghệ cao gắn với chế biến và phát triển thị trường. Phát triển các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp hiện đại; các vùng sản xuất hàng hoá lớn, giá trị gia tăng cao, gắn với xây dựng thương hiệu sản phẩm; đẩy mạnh liên kết sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, nông thôn.

Tập trung quy hoạch phát triển các vùng tôm công nghệ cao, tôm sinh thái, tôm quảng canh cải tiến và mô hình lúa - tôm chất lượng cao. Phát triển bền vững nuôi trồng thủy sản an toàn, quy mô lớn, công nghệ cao dọc tuyến Đê Đông. Hình thành và phát triển chuỗi liên kết giá trị ngành tôm (từ sản xuất tôm giống, tôm thương phẩm, thức ăn, chế biến xuất khẩu, truy xuất nguồn gốc). Quy hoạch phát triển vùng nuôi tôm công nghệ cao tập trung ở khu vực xã Vĩnh Hậu, xã Hòa Bình, xã Đông Hải (khoảng 10.000 ha); phát triển nuôi tôm công nghệ cao ở một số khu vực có điều kiện phù hợp, hạn chế phát triển nuôi tôm công nghệ cao phân tán, quy mô hộ gia đình tại các khu vực không có quy hoạch; vùng nuôi tôm sinh thái ở các xã: Tân Thuận, Tân Tiến, Tam Giang, Tân Ân, Phan Ngọc Hiển, Đất Mũi, Đất Mới, Cái Đôi Vàm; vùng nuôi tôm quảng canh cải tiến và quảng canh tại các khu vực nuôi tôm còn lại; vùng lúa - tôm kết hợp tạo ra các sản phẩm chất lượng cao ở các xã: Ninh Thạnh Lợi, Vĩnh Phước, Vĩnh Lộc, Hồng Dân, Hưng Hội, Châu Thới, Phong Hiệp, Trí Phải, Biển Bạch, Nguyễn Phích, U Minh, Khánh An... Phát triển nuôi xen canh cua, sò huyết với tôm ở những khu vực thích hợp; phát huy thế mạnh thương hiệu sản phẩm Cua Cà Mau theo hướng sản xuất hàng hóa, cung ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu.

Chuyển một số diện tích trồng lúa kém hiệu quả ven biển sang cây trồng, vật nuôi phù hợp. Mở rộng mô hình lúa - tôm gắn với tôm sạch - lúa hữu cơ. Cơ bản ổn định diện tích chuyên lúa, kết hợp trồng lúa với bảo tồn và phát triển nguồn lợi cá đồng; nuôi dưỡng sản sinh những mầm sống thủy sinh, thủy sản, đa dạng sinh học quý giá mang lại nguồn lợi giá trị lớn, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững. Tiếp tục xây dựng, mở rộng các mô hình liên kết theo chuỗi giá trị, cánh đồng lớn, vùng nguyên liệu lúa tập trung, chất lượng cao phục vụ xuất khẩu và thị trường xuất khẩu nông sản. Khuyến khích chăn nuôi công nghiệp công nghệ cao, mô hình liên kết chăn nuôi sinh thái, xanh, hữu cơ. Phát triển diêm nghiệp tại những nơi có điều kiện thuận lợi.

Sản xuất, chế biến muối (tại các xã: Vĩnh Hậu, Long Điền, Đông Hải, Gành Hào, Tân Thuận): Ổn định diện tích sản xuất muối có hiệu quả, mở rộng diện tích những nơi có điều kiện; nâng cao sản lượng và chất lượng muối; đầu tư phát triển công nghiệp chế biến muối, tăng giá trị sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ muối thương phẩm. Thực hiện chuyển đổi diện tích sản xuất muối đen, sản xuất thủ công, năng suất, chất lượng, thu nhập thấp sang nuôi Artemia.

Phát triển mạnh kinh tế lâm nghiệp, trong đó, tập trung công nghiệp chế biến gỗ, gia tăng giá trị cao, khai thác tối đa nguồn lợi dưới tán rừng và thị trường tín chỉ các - bon từ rừng; kết hợp hiệu quả dịch vụ du lịch sinh thái trong diện tích rừng; tập trung trồng rừng tại các bãi bồi, khu kè lấn biển.

Đẩy mạnh quá trình đô thị hóa nông thôn. Thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lao động nông thôn theo hướng hiện đại, phù hợp gắn với xây dựng nông thôn mới. Tập trung xây dựng đồng bộ hạ tầng nông nghiệp, nông thôn; đẩy mạnh xây dựng, nâng cấp, mở rộng đường giao thông nông thôn theo phương thức “nhà nước và nhân dân cùng làm”. Cải thiện chất lượng dịch vụ xã hội ở khu vực nông thôn để nâng cao chất lượng sống, chăm lo đời sống nhân dân, góp phần ổn định xã hội và giảm nghèo bền vững.

3. Tập trung phát triển mạnh công nghiệp, tạo bứt phá trong phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng mới, công nghiệp chế biến nông, thủy sản

Cơ cấu lại ngành công nghiệp, phân bố không gian phát triển công nghiệp gắn với các vùng động lực, cực tăng trưởng, hành lang kinh tế trọng điểm. Khuyến khích hình thành các cụm liên kết công nghiệp, hiện đại hoá một số ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động. Có cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển các ngành công nghiệp chủ lực, như: năng lượng, chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản, dịch vụ, văn hóa, du lịch...

Tập trung đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư tại các khu kinh tế, khu công nghiệp đang hoạt động để nâng cao hiệu quả đầu tư; xử lý các vướng mắc, nút thắt (nhất là, khâu giải phóng mặt bằng) để phát triển Khu kinh tế Năm Căn, gắn với logistics cảng Hòn Khoai, thu hút đầu tư mạnh khu vực này. Rà soát các khu công nghiệp, cụm công nghiệp có vị trí kết nối thuận lợi hạ tầng giao thông để ưu tiên thực hiện giải pháp mặt bằng và thu hút đầu tư. Mở rộng cụm công nghiệp Khí - Điện - Đạm theo quy hoạch; quy hoạch phát triển công nghiệp dọc tuyến cao tốc Cà Mau - Đất Mũi, nhất là địa bàn các xã: Trí Phải, Thới Bình, Hồ Thị Kỷ, Khánh Bình, Lương Thế Trân…; hình thành các khu, cụm công nghiệp, dịch vụ hỗ trợ phát triển sản xuất, kinh doanh nông nghiệp tại một số vùng nông nghiệp tập trung, nhất là xây dựng các nhà máy chế biến gạo, các sản phẩm chế biến từ lúa gạo để xuất khẩu ở khu vực các xã có vùng nguyên liệu lớn và hạ tầng giao thông thuận lợi.

Triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị “về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Chú trọng phát triển hạ tầng năng lượng, nhất là năng lượng mới, năng lượng sạch, bảo đảm an ninh năng lượng cho phát triển khoa học, công nghệ. Chuẩn bị các điều kiện triển khai đề án xuất khẩu điện. Tập trung chỉ đạo sớm triển khai dự án Nhà máy điện khí LNG Bạc Liêu; xử lý triệt để các vướng mắc, triển khai nhanh các dự án điện gió được quy hoạch giai đoạn 2026 - 2030; thu hút đầu tư, phát triển nguồn năng lượng mới (Hydro xanh, Amoniac xanh), gắn với xây dựng hạ tầng kỹ thuật đồng bộ. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến nông sản (gạo, rau củ quả), thủy sản, muối, may mặc, cơ khí chế tạo nông cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp; xây dựng, điều chỉnh quy hoạch phù hợp để thu hút các nhà máy chế biến thủy sản, thức ăn, thuốc thú y, phục vụ chuỗi liên kết giá trị ngành nông nghiệp, nhất là ngành tôm. Phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống. Duy trì, phát triển bền vững làng nghề truyền thống, kết hợp với tham quan du lịch.

4. Đẩy mạnh phát triển dịch vụ, văn hóa, du lịch

Cơ cấu lại ngành dịch vụ trên nền tảng công nghệ hiện đại; phát triển mạnh một số ngành dịch vụ có lợi thế, hàm lượng tri thức, công nghệ cao, như: Du lịch, thương mại, viễn thông, công nghệ thông tin, tài sản số, dịch vụ thương mại, logistics,... Mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng, hiệu quả các tổ chức tín dụng, thị trường tiền tệ. Tăng khả năng tiếp cận tín dụng cho doanh nghiệp, người dân; ưu tiên lĩnh vực phát triển của tỉnh. Mở rộng quy mô, nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng chính sách xã hội. Tạo thuận lợi hoạt động tài chính vi mô.

Tăng cường công tác xúc tiến thương mại; hỗ trợ doanh nghiệp quảng bá hình ảnh, sản phẩm, tìm kiếm khách hàng, mở rộng thị trường (quan tâm thị trường trong nước), tăng kim ngạch xuất khẩu; phấn đấu 5 năm đạt khoảng 17 tỷ USD. Đẩy mạnh khai thác, phát triển thị trường thương mại nội địa; xây dựng, triển khai các chương trình kích cầu tiêu dùng. Ngành thương mại - dịch vụ 5 năm đạt khoảng 1,45 triệu tỷ đồng.

Phát triển thị trường bất động sản, nhà ở an toàn, lành mạnh, hiệu quả. Công khai, minh bạch thông tin quy hoạch xây dựng, danh mục, tiến độ triển khai các dự án bất động sản. Triển khai đồng bộ, liên thông thị trường lao động về quy mô, chất lượng, ngành nghề; nâng cao trách nhiệm quản lý nhà nước về việc làm, lao động, xuất khẩu lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; các dịch vụ môi giới, giới thiệu việc làm. Đẩy mạnh phát triển thị trường khoa học, công nghệ, thị trường điện tử, hàng hóa, dịch vụ (cả thị trường xuất, nhập khẩu, nội địa), hạ tầng thương mại, phân phối; bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

Xây dựng hoàn chỉnh quy hoạch du lịch phù hợp với quy hoạch chung và điều kiện thực tế của tỉnh. Khai thác tối đa lợi thế về du lịch sinh thái, du lịch tâm linh, du lịch văn hóa. Đổi mới, nâng cao năng lực quản lý, phương thức đầu tư, tạo sự bứt phá để du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế quan trọng. Khẩn trương đầu tư xây dựng các khu du lịch trọng điểm, như: Khu du lịch Quốc gia Mũi Cà Mau, Vườn Quốc gia U Minh Hạ, Đầm Thị Tường, Khu du lịch Nhà Mát (kể cả khu lấn biển); du lịch sinh thái kết hợp sản xuất nông nghiệp dọc theo trục cao tốc Cần Thơ - Cà Mau... Phát triển, đa dạng hóa các loại hình, sản phẩm du lịch có thương hiệu, chất lượng, sức cạnh tranh cao, gắn kết khai thác các dịch vụ để phát huy tốt lợi thế của địa phương. Tập trung đầu tư, tổ chức lại và nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dịch vụ du lịch trọng điểm. Tổ chức các sự kiện văn hóa, thể thao khu vực và quốc tế để quảng bá, thu hút du khách. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số trong mọi hoạt động ngành du lịch.

Hình thành, phát triển công nghiệp văn hóa, kinh tế di sản; xây dựng thương hiệu du lịch của tỉnh mang sắc thái riêng đặc sắc của địa phương và bản sắc văn hóa, con người Việt Nam nói chung; phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh.

5. Đẩy mạnh phát triển các ngành kinh tế biển

Đảm bảo thực hiện hiệu quả chủ trương, chính sách về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam nói chung và vùng biển địa phương nói riêng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Đẩy mạnh phát triển các ngành kinh tế biển có lợi thế: Nuôi trồng và khai thác hải sản; du lịch, dịch vụ, đô thị du lịch sinh thái biển; kinh tế hàng hải, cảng biển; dầu khí; công nghiệp ven biển, chế biến, xuất khẩu các sản phẩm từ biển; năng lượng tái tạo; diêm nghiệp và các ngành kinh tế biển mới. Phát triển một số trung tâm nghề cá lớn; nuôi trồng hải sản trên biển. Nâng cao hiệu quả, tính bền vững nghề khai thác, gắn với bảo vệ nguồn lợi hải sản và dịch vụ hậu cần nghề cá.

Kết nối các tuyến hành lang đường bộ ven biển với các tuyến đường nội tỉnh, tạo động lực phát triển kinh tế biển. Tăng cường đầu tư hạ tầng, phát triển kinh tế khu vực Đảo Hòn Chuối. Chủ động phối hợp với bộ, ngành Trung ương đẩy nhanh xây dựng Cảng Hòn Khoai theo mô hình cảng tổng hợp, lưỡng dụng, hướng đến phát triển thành cảng nước sâu kết nối giao thương quốc tế, đảm bảo mạnh về kinh tế, vững về quốc phòng, an ninh.

Hỗ trợ, tạo điều kiện để người dân ven biển chuyển đổi nghề từ các hoạt động có nguy cơ xâm hại, tác động tiêu cực đến biển sang tạo sinh kế bền vững, việc làm mới ổn định, nâng cao thu nhập. Bảo vệ môi trường, bảo tồn, phát triển bền vững các hệ sinh thái, đa dạng sinh học biển; kiểm soát chặt chẽ khai thác tài nguyên biển. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội vùng biển, ven biển với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh.

6. Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước. Phát triển mạnh doanh nghiệp tư nhân trở thành động lực phát triển. Tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể, tập trung thu hút để phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và các loại hình kinh tế khác

Tiếp tục rà soát, sắp xếp, nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước; tăng cường đổi mới cơ chế quản lý và từng bước phát triển quy mô, địa bàn hoạt động, để các doanh nghiệp nhà nước của tỉnh ngày càng vươn lên, đóng góp hiệu quả hơn vào quá trình phát triển kinh tế của tỉnh.

Triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân; Kế hoạch số 05-KH/TU ngày 14/7/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân. Tăng cường quán triệt, tuyên truyền, thống nhất nhận thức của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân về vị trí, vai trò kinh tế tư nhân; xem kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Thông tin, tuyên truyền, cổ vũ, lan toả những mô hình tốt, cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả, khích lệ tinh thần kinh doanh trong toàn xã hội. Nghiêm cấm các hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực, đưa thông tin sai lệch, ảnh hưởng đến doanh nghiệp, doanh nhân. Tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp tư nhân tiếp cận bình đẳng và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; mở rộng sản xuất, kinh doanh... Hình thành một số doanh nghiệp lớn mang tầm quốc gia, khu vực (lĩnh vực thủy sản, năng lượng, logistics, công nghệ cao). Cơ quan nhà nước các cấp quan tâm hỗ trợ kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững; xây dựng mối quan hệ giữa chính quyền với doanh nghiệp cởi mở, thân thiện, đồng hành, liêm chính phục vụ, kiến tạo phát triển.

Có cơ chế, chính sách đặc biệt hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; hỗ trợ thực chất, hiệu quả doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và hộ kinh doanh. Tạo điều kiện để phát triển vườn ươm, phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp muối… bố trí đủ nguồn lực từ ngân sách thực hiện chương trình, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, kết hợp huy động nguồn lực các quỹ đầu tư của doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, ngành hàng. Tiếp tục thực hiện hiệu quả Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; nâng cấp, đổi mới chương trình xúc tiến thương mại; hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân xây dựng, quảng bá thương hiệu. Hỗ trợ các doanh nghiệp chế biến mở rộng xuất khẩu thủy sản vào thị trường Halal toàn cầu; tiếp cận thị trường xuất khẩu gạo, sản phẩm cua Cà Mau. Ban hành quy định, chính sách hỗ trợ phát triển công nghệ chế biến. Có cơ chế hỗ trợ cụ thể để thu hút các dự án đầu tư lớn.

Đẩy mạnh số hoá, minh bạch hoá, đơn giản hoá, thực hiện chế độ kế toán, thuế, bảo hiểm để khuyến khích chuyển đổi hộ kinh doanh sang mô hình doanh nghiệp. Tạo thuận lợi cho kinh tế tư nhân tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất kinh doanh. Thực hiện giao dịch điện tử trong lĩnh vực đất đai; công khai, minh bạch và chủ động cung cấp thông tin cho doanh nghiệp; giảm thiểu thời gian giải quyết thủ tục thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hỗ trợ tích cực trong giải phóng mặt bằng. Sử dụng ngân sách địa phương hỗ trợ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp... theo quy định. Rà soát, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong đầu tư, sản xuất, kinh doanh; nhất là, các dự án đầu tư công, dự án đầu tư ngoài ngân sách còn tồn đọng trên địa bàn tỉnh, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng.

Tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp tư nhân tham gia nghiên cứu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, chuỗi khối, dữ liệu lớn, thương mại điện tử, công nghệ tài chính, y tế, giáo dục thông minh... Thực hiện chính sách hỗ trợ chi phí đầu tư mua sắm máy móc, đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh doanh bền vững, tuần hoàn; thực hiện nghiêm chính sách miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định.

Tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp tư nhân với doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI. Đề xuất chính sách thu hút vốn FDI phù hợp thực tiễn của địa phương. Có giải pháp thúc đẩy doanh nghiệp tư nhân đầu tư mở rộng và phát triển cung ứng dịch vụ y tế, giáo dục chất lượng cao, phát triển công nghiệp văn hóa, giải trí. Nâng cao hiệu quả hình thức hợp tác công tư (PPP, lãnh đạo công - quản trị tư, đầu tư công - quản lý tư, đầu tư tư - sử dụng công), trong lĩnh vực hạ tầng kinh tế, văn hóa, xã hội, công nghệ thông tin, truyền thông, lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm thước đo lựa chọn.

Rà soát, hoàn thiện, triển khai thực hiện hiệu quả Đề án “Phát triển kinh tế tập thể trên địa bàn tỉnh Cà Mau giai đoạn 2025 - 2030”; phát huy hiệu quả hoạt động các loại hình kinh tế tập thể; Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP), xây dựng thương hiệu gắn với hỗ trợ liên kết tiêu thụ sản phẩm. Tạo môi trường thuận lợi để kinh tế tập thể, hộ nông nghiệp và phi nông nghiệp tiếp cận đất đai, vốn, công nghệ, thị trường. Có giải pháp khuyến khích, hỗ trợ phát triển kinh tế hộ; tạo điều kiện thuận lợi cho hộ gia đình khởi sự kinh doanh, chuyển đổi hoạt động sang mô hình doanh nghiệp. Khôi phục, phát triển các làng nghề truyền thống, gắn với phát huy các giá trị văn hóa, bảo vệ môi trường.

7. Phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ

Đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công ngay từ đầu nhiệm kỳ, lấy đầu tư công dẫn dắt, kích hoạt đầu tư xã hội, thúc đẩy hợp tác công tư; kịp thời rà soát, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc từng dự án; đặc biệt là công trình, dự án trọng tâm, trọng điểm, các chương trình mục tiêu quốc gia. Phát triển mạng lưới giao thông đồng bộ, hiện đại theo hành lang kinh tế động lực (cả đường bộ, thủy, hàng không, cảng biển). Phát triển khu, cụm công nghiệp, khu kinh tế gắn với phát triển đô thị, có kết cấu hạ tầng kỹ thuật, xã hội đồng bộ, hiện đại. Đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án giao thông quan trọng, chiến lược đã có chủ trương, ý kiến chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh theo quy hoạch; các tuyến đường giao thông đến các khu vực trọng điểm phát triển kinh tế, du lịch, di tích lịch sử - văn hóa, về trung tâm các xã, liên xã và nối các xã với các trục giao thông chính của tỉnh, tuyến quốc lộ, cao tốc... Xây dựng hạ tầng, công trình thủy lợi theo hướng vừa bảo đảm phục vụ sản xuất, giao thông, vận tải đường thủy vừa đáp ứng yêu cầu phòng, chống thiên tai, thích ứng biến đổi khí hậu. Có giải pháp khắc phục tình trạng khan hiếm nguồn vật liệu xây dựng (nhất là cát, đá) để đảm bảo tiến độ thi công các công trình.

Rà soát, điều chỉnh và triển khai thực hiện hiệu quả các quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị, Chương trình phát triển đô thị, đề án xây dựng, nâng loại đô thị. Huy động đa dạng nguồn lực triển khai các dự án, công trình hạ tầng thiết yếu đảm bảo chống ngập (tại các phường: An Xuyên, Tân Thành, Lý Văn Lâm, Bạc Liêu, Vĩnh Trạch...); chỉnh trang, di dời nhà ở ven sông; cải tạo, nâng cấp cơ sở hạ tầng thiết yếu tại các đô thị. Đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, tăng tỷ lệ lấp đầy các khu, cụm công nghiệp đã thành lập. Quy hoạch, ưu tiên bố trí quỹ đất phát triển nhà ở xã hội.

Tiếp tục đầu tư, nâng cấp, phát triển hạ tầng thông tin, truyền thông, hạ tầng số, giáo dục, y tế… đáp ứng yêu cầu phát triển thời gian tới và phục vụ nhu cầu sáng tạo, văn hóa của người dân. Phát triển cơ sở dữ liệu dùng chung, chuyên ngành, mạng truyền dữ liệu chuyên dùng và triển khai giải pháp, công cụ, kỹ thuật số thống nhất, an toàn, thông suốt, kết nối từ tỉnh đến cơ sở. Hình thành, phát triển mạng lưới trung tâm đổi mới sáng tạo. Chủ động tìm kiếm công nghệ mới trong và ngoài nước, hợp tác chuyển giao công nghệ, kết quả nghiên cứu khoa học.

8. Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị “về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo”. Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực, ngành, nghề mới. Đa dạng hoá loại hình cơ sở đào tạo; phát triển các phương thức đào tạo mở, các nền tảng dạy và học trực tuyến, học liệu số, bảo đảm điều kiện học tập suốt đời; nâng tỷ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ đến năm 2030 trên 35%.

Tiếp tục quan tâm đầu tư, xây dựng, nâng cấp cơ sở trường, lớp, trang thiết bị, đáp ứng yêu cầu giảng dạy, học tập trong môi trường số và hội nhập quốc tế. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở các cấp học mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên và năng lực ngoại ngữ của học sinh, sinh viên. Phát triển giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở, linh hoạt, hiện đại, hiệu quả, hội nhập. Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục quốc phòng, an ninh.

Đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo; phát triển giáo dục số, giáo dục thông minh, giáo dục sáng tạo, giáo dục thích ứng với sự phát triển của trí tuệ nhân tạo; đồng thời, trang bị cho học sinh, sinh viên các kỹ năng thiết yếu để thích ứng học tập, làm việc hiệu quả, an toàn trong không gian số, công dân toàn cầu. Quan tâm công tác đào tạo, đào tạo lại, chuẩn bị nguồn nhân lực số, kỹ năng số cho chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, xã hội số. Hiện đại hoá phương thức đào tạo và ứng dụng công nghệ tiên tiến, nhất là trí tuệ nhân tạo.

9. Quản lý phát triển xã hội bền vững, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội

Chăm lo tốt gia đình chính sách, người có công; triển khai hệ thống an sinh xã hội đa tầng, toàn diện, hiện đại, thích ứng linh hoạt; bảo đảm mọi người dân được tiếp cận, thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản, thiết yếu có chất lượng; ưu tiên cho các đối tượng chính sách, yếu thế..., kiên quyết “không để ai bị bỏ lại phía sau”.

Thực hiện đồng bộ, hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững; nâng cao nhận thức, trách nhiệm và khuyến khích, tạo điều kiện để hộ nghèo vươn lên thoát nghèo, làm giàu chính đáng; triển khai hiệu quả Đề án hỗ trợ sinh kế cho hộ nghèo, cận nghèo, hộ có hoàn cảnh kinh tế khó khăn; phấn đấu đến năm 2030, cơ bản không còn hộ nghèo. Thực hiện bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa; chăm sóc, bảo vệ người già và trẻ em, nhất là trẻ em gái.

Triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị “về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo bệ, chăm sóc và nông cao sức khỏe Nhân dân”. Tăng cường quản lý hoạt động y tế và công tác bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe Nhân dân. Phát triển, nâng cao chất lượng mạng lưới y tế. Quy hoạch, đào tạo, thu hút đội ngũ cán bộ y tế có chuyên môn, y đức; nhất là, y tế cấp xã, bảo đảm khám chữa bệnh ngay từ cơ sở. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ hiện đại, chuyển đổi số ở các cơ sở y tế. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng hoàn thành bệnh viện 1.200 giường, tập trung nghiên cứu, tận dụng mặt bằng, cải tạo các trụ sở cơ quan đảng, nhà nước tại phường Bạc Liêu để đầu tư xây dựng các cơ sở y tế, giáo dục theo hướng hiện đại. Quy hoạch, đầu tư xây dựng các trung tâm dưỡng lão lâu dài (như: Trung tâm dưỡng lão tại khu vực Nhà Mát, phường Hiệp Thành và tại các phường: An Xuyên, Tân Thành, Lý Văn Lâm...) nhằm phục vụ cho việc điều dưỡng, chăm sóc tập trung người cao tuổi. Đến năm 2030, đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân; nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế; hướng đến miễn viện phí theo kế hoạch của Trung ương. Hoàn thiện cơ chế, chính sách về dân số; bảo đảm tỷ suất sinh và mức sinh thay thế, ngặn chặn suy giảm dân số; phát triển số lượng, chất lượng dân số, tận dụng hiệu quả thời kỳ dân số vàng, bảo đảm nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững lâu dài của tỉnh.

Tiếp tục thực hiện đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Nâng cao chất lượng lao động, sàn giao dịch việc làm trên nền tảng số, bảo đảm nhanh chóng, hiệu quả, bền vững. Chú trọng đào tạo các ngành, nghề đáp ứng yêu cầu thị trường lao động; phát triển công nghiệp, dịch vụ và kinh tế nông thôn để thu hút lực lượng lao động trong tỉnh đang làm việc ngoài tỉnh trở về lao động, làm việc tại tỉnh.

10. Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị “về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”; Chương trình hành động số 97-CTr/TU ngày 23/5/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị. Quyết tâm phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong cả hệ thống chính trị, người dân và doanh nghiệp, tạo niềm tin, khí thế mới trong xã hội. Triển khai sâu rộng phong trào“Bình dân học vụ số”, phổ cập, nâng cao kiến thức khoa học, công nghệ, kiến thức số trong cán bộ, công chức và Nhân dân; phấn đấu mỗi gia đình đều có người biết và sử dụng cơ bản trên nền tảng số.

Triển khai chương trình, kế hoạch Chuyển đổi số của Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương. Đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; triển khai các nhiệm vụ, phương thức quản lý khoa học, công nghệ phù hợp với từng loại hình nghiên cứu. Bố trí nguồn lực phù hợp để đầu tư xây dựng hạ tầng và dành từ 3 đến 5% tổng chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp khoa học, công nghệ và chuyển đổi số; qua đó, cơ cấu lại nguồn ngân sách chi sự nghiệp khoa học, công nghệ bảo đảm tập trung, có trọng tâm, trọng điểm, không dàn trải. Kinh tế số đến năm 2030 chiếm 20% trở lên.

Chú trọng phát triển hạ tầng năng lượng, nhất là năng lượng mới, năng lượng sạch và bảo đảm an ninh năng lượng cho phát triển khoa học, công nghệ. Có cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp đầu tư, xây dựng các phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu , đào tạo, phát triển nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Phát triển hạ tầng viễn thông, Internet đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Chú trọng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; xúc tiến, trao đổi, kết nối với các đối tác quốc tế, các quốc gia phát triển có nền khoa học tiên tiến, hiện đại. Hình thành khu công nghiệp công nghệ cao gắn với khu đô thị sân bay Cà Mau. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật trong triển khai thực hiện các nhiệm vụ khoa học, công nghệ, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng.

Thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong doanh nghiệp. Tập trung nguồn lực triển khai nhanh các dự án trong khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất, chế biến các sản phẩm thế mạnh của tỉnh; tinh thần khởi nghiệp về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của doanh nghiệp, người dân trong tỉnh. Đẩy mạnh tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ trên môi trường số và sản xuất thông minh trong các ngành, lĩnh vực: Nông nghiệp, thương mại, tài chính, giáo dục, y tế, giao thông, logistics.

11. Đẩy mạnh công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí và cải cách hành chính

Đổi mới, nâng cao công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, tăng cường thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; thực hiện nghiêm túc các quy định về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; tập trung giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo tồn đọng, kéo dài.

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả chỉ đạo, điều hành, quản lý nhà nước trên các lĩnh vực; siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính; tăng cường công tác cải cách hành chính; tăng cường công tác cải cách hành chính, cải thiện Chỉ số Cải cách hành chính (PAR Index), Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS), Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công (PAPI), Chỉ số đổi mới sáng tạo (PII) của tỉnh. Tiếp tục thực hiện Đề án sắp xếp, phát triển mạng lưới trường học trên địa bàn tỉnh. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm người đứng đầu; đồng thời, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực hiệu quả. Thực hiện tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động.

12. Tăng cường quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội

Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, giữ vùng ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội; tiếp tục xây dựng tỉnh Cà Mau thành khu vực phòng thủ vững chắc; bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới biển, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh, củng cố giữ vững chắc nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với an ninh Nhân dân và thế trận an ninh Nhân dân trên từng địa bàn, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Thực hiện nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu, nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập, xây dựng và luyện tập các phương án sẵn sàng chiến đấu, phương án phòng, chống dịch, kịp thời xử trí có hiệu quả các tình huống xảy ra.

Tăng cường công tác nắm, quản lý xuất nhập cảnh và hoạt động của người nước ngoài đến tham quan, du lịch, đầu tư, kinh doanh,... trên địa bàn tỉnh; phối hợp kiểm soát chặt chẽ an ninh tuyến biển, không để phát sinh phức tạp.

Thực hiện hiệu quả công tác nắm tình hình, quản lý chặt địa bàn, đối tượng; chủ động rà soát, nhận diện phương thức thủ đoạn mới của các loại tội phạm. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Đề án 06, giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số, bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng; tăng cường công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự.

Thực hiện đồng bộ các giải pháp bảo đảm trật tự an toàn giao thông, trọng tâm là công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức của người tham gia giao thông; tăng cường công tác tuần tra kiểm soát, khép kín địa bàn, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về trật tự an toàn giao thông, phương án bảo đảm trật tự an toàn giao thông nhân dịp Lễ, Tết... góp phần ổn định trật tự an toàn xã hội.

Thường xuyên kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định của pháp luật về phòng cháy, chữa cháy; kịp thời phát hiện, khắc phục những bất cập trong công tác phòng cháy, chữa cháy, hạn chế thấp nhất nguyên nhân xảy ra cháy, nổ trên địa bàn tỉnh.

Tăng cường công tác xây dựng phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; xây dựng, nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến trong phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc.

13. Tiếp tục các hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế

Thực hiện hiệu quả Nghị quyết 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, tập trung vào các lĩnh vực trọng điểm như phát triển cảng biển, logistics, nâng cấp sân bay, phát triển hạ tầng giao thông, thu hút doanh nghiệp khoa học, công nghệ, chuyển đổi số; phát triển điện gió ngoài khơi, năng lượng sạch, năng lượng mới, tiến tới hợp tác xuất khẩu điện cho các nước trong khu vực.

Thường xuyên cập nhật tình hình thị trường, phổ biến các thông tin về các Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam tham gia ký kết (CPTPP, EVFTA, UKVFTA, RCEP,…); tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại ở ngoài nước, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp của tỉnh, đăng ký tham gia để tìm kiếm khách hàng, mở rộng thị trường xuất khẩu.

Duy trì, phát triển quan hệ hợp tác toàn diện với các địa phương, nước bạn đã thiết lập quan hệ hợp tác (tỉnh Koh Kong - Campuchia, tỉnh Khăm Muộn - Cộng hòa dân chủ Nhân dân Lào, tỉnh Jeollabuk - Hàn Quốc); mở rộng quan hệ với một số tỉnh của Hàn Quốc, Nhật Bản, xúc tiến hợp tác đưa lao động của tỉnh Cà Mau sang làm việc và các nội dung hợp tác khác; tiếp tục tăng cường hợp tác với các địa phương trong nước (thành phố Hồ Chí Minh, Ninh Bình,...).

V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Tổ chức thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030 là nhiệm vụ trọng tâm của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và Nhân dân trong tỉnh. Trong tổ chức thực hiện kế hoạch phải tăng cường vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp và toàn thể Nhân dân nhằm hoàn thành thắng lợi kế hoạch 5 năm.

Giao Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành tỉnh , Ủy ban nhân dân các xã, phường tham mưu, xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm, trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định. Thường xuyên theo dõi, đánh giá tình hình kết quả thực hiện kế hoạch theo từng năm, giữa kỳ và cả giai đoạn 5 năm. Trong trường hợp có những thay đổi lớn cần chủ động đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp.

Các sở, ban, ngành tỉnh, Ủy ban nhân dân các xã, phường căn cứ các giải pháp, nhiệm vụ nêu trên; xây dựng và ban hành kế hoạch triển khai thực hiện các nội dung thuộc trách nhiệm quản lý của ngành, đơn vị mình; định kỳ 6 tháng, hàng năm báo cáo kết quả thực hiện về Sở Tài chính để tổng hợp, báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh (kèm theo các biểu Phụ lục)./.

 


Nơi nhận:
- Bộ Tài chính;
- Thường trực Tỉnh ủy;
- Thường trực HĐND tỉnh;
- CT, các PCT UBND tỉnh;
- Các sở, ban, ngành tỉnh;
- UBND các xã, phường;
- LĐVP UBND tỉnh;
- Các phòng khối NC-TH;
- Lưu: VT, KTTH (Nh235), M.A155/11.

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH





Lâm Văn Bi

 

PHỤ LỤC 14A

MỘT SỐ CHỈ TIÊU KINH TẾ - XÃ HỘI CHỦ YẾU CỦA TỈNH CÀ MAU
(Kèm theo Kế hoạch số 0177/KH-UBND ngày 06/11/2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh)

TT

Chỉ tiêu

ĐVT

Thực hiện 2016 - 2020

TH 2021

TH 2022

TH 2023

TH 2024

TH 2025

Ước TH giai đoạn 2021- 2025

Mục tiêu giai đoạn 2021-2025

Đánh giá thực hiện so với mục tiêu giai đoạn 2021-2025

1

Tốc độ tăng GRDP

%

4,22

0,66

7,60

7,78

6,88

8,0

6,15

 

 

2

Quy mô GRDP theo giá hiện hành

Nghìn tỷ đông

105,00

109,88

126,44

139,46

153,16

172,03

172,03

 

 

3

GRDP bình quân đầu người

Triệu đồng/người

49,83

51,65

59,38

65,39

71,55

80,21

80,21

 

 

4

Cơ cấu kinh tế

 

100,00

100,00

100,00

100,00

100,00

100,00

100,00

 

 

 

- Ngư, nông, lâm nghiệp

%

38,87

39,37

39,05

36,70

36,09

34,86

34,86

 

 

 

- Công nghiệp, xây dựng

%

22,68

21,80

22,16

23,70

23,66

24,23

24,23

 

 

 

- Dịch vụ

%

33,69

33,99

34,28

35,17

35,86

36,49

36,49

 

 

 

- Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm

%

4,76

4,84

4,51

4,43

4,39

4,42

4,42

 

 

5

Tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn

Nghìn tỷ đồng

165,5

52,6

52,0

53,8

58,5

72,0

288,8

 

 

6

Tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn

Triệu USD

8.461,8

1.892,2

2.164,2

2.201,7

2.444,3

2.600,0

11.302,2

 

 

7

Thu ngân sách địa phương

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- Tổng thu NSNN trên địa bàn

Tỷ đồng

41.011,45

9.939

9.580

9.880

10.482

12.960

52.840

 

 

 

+ Thu nội địa

Tỷ đồng

40.465,10

9.280

9.226

9.700

10.049

12.460

50.715

 

 

 

Trong đó:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thu từ tiền sử dụng đất

Tỷ đồng

 

668

924

918

523

560

3.593

 

 

 

Thu từ xổ số kiến thiết

Tỷ đồng

11.244,08

2.806

3.507

3.846

4.226

4.820

19.205

 

 

 

- Thu NSĐP hưởng theo phân cấp

Tỷ đồng

 

8.634

8.357

9.199

9.480

10.631

46.301

 

 

 

Trong đó:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

+ Thu NSĐP hưởng 100%

Tỷ đồng

 

4.238

4.987

5.106

5.376

5.438

25.145

 

 

 

+ Thu NSĐP hưởng từ các khoản theo phân chia

Tỷ đồng

 

4.396

3.370

4.093

4.104

5.193

21.156

 

 

8

Chi ngân sách địa phương

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- Tổng chi cân đối ngân sách địa phương

Tỷ đồng

70.902,00

17.177

17.015

17.518

18.806

21.049

91.566

 

 

 

Trong đó:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

+ Chi đầu tư phát triển

Tỷ đồng

19.902,91

5.725

5.188

5.307

5.285

5.937

27.443

 

 

 

+ Chi thường xuyên (bao gồm chi cải cách tiền lương, sắp xếp bộ máy, tinh giản biên chế)

Tỷ đồng

50.231,97

11.441

11.818

12.198

13.504

14.490

63.451

 

 

9

Bội thu/Bội chi NSĐP

Tỷ đồng

-

-

-

-

-

-

-

 

 

10

Thứ hạng Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI)

 

-

-

-

-

-

-

-

 

 

11

Thứ hạng Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI)

 

-

-

-

-

-

-

-

 

 

12

Số doanh nghiệp đang hoạt động và kê khai thuế đến cuối kỳ báo cáo

Nghìn doanh nghiệp

5,11

5,59

5,93

6,28

6,64

7,63

6,42

 

 

13

Về đầu tư FDI

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- Số dự án còn hiệu lực luỹ kế đến cuối kỳ báo cáo

Dự án

10

2

1

2

1

-

6,0

 

 

 

- Vốn đầu tư thực hiện

Triệu USD

1.893

0,97

7,34

0,79

1,98

-

11,08

 

 

 

- Vốn đăng ký

Triệu USD

4.733

2,42

18,35

1,97

4,96

-

27,70

 

 

14

Dân số trung bình đến năm cuối kỳ

Nghìn người

2.107

2.127

2.129

2.133

2.141

2.145

2.145

 

 

15

Mật độ dân số đến năm cuối kỳ

Người/Km2

265

268

268

268

269

270

270

 

 

16

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đến năm cuối kỳ

Nghìn người

1.100

1.110

1.111

1.113

1.117

1.120

1.120

 

 

17

Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc so với tổng dân số

%

52,18

52,17

52,17

52,19

52,18

52,21

52,21

 

 

18

Tỷ lệ lao động qua đào tạo

%

56,7

58,0

60,1

62,5

64,5

65,0

65,0

 

 

 

Trong đó: Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ

 

24,5

24,9

25,6

26,5

26,9

27,5

27,5

 

 

19

Tỷ lệ rác thải sinh hoạt (ở đô thị và nông thôn) được thu gom và xử lý

%

85,0

86,0

87,0

88,0

89,0

90,0

90,0

 

 

20

Số xã đạt chuẩn nông thôn mới

Xã

61

70

86

94

113

43

43

 

 

21

Tỷ lệ số xã đạt chuẩn nông thôn mới

%

46,6

53,4

65,6

71,8

86,3

78,2

78,2

 

 

22

Hộ nghèo theo chuẩn đa chiều

Hộ

530.439

21.066

14.640

8.786

4.471

4.025

4.025

 

 

 

- Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều

%

1,21

3,96

2,74

1,65

0,84

0,75

0,75

 

 

 

- Mức giảm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều

Điểm %

0,83

0,25

1,22

1,09

0,81

0,09

0,09

 

 

 

PHỤ LỤC 15B

MỘT SỐ CHỈ TIÊU KINH TẾ - XÃ HỘI CHỦ YẾU CỦA TỈNH CÀ MAU
(Kèm theo Kế hoạch số 0177/KH-UBND ngày 06/11/2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh)

TT

Chỉ tiêu

ĐVT

Thực hiện 2016 - 2020

Ước TH giai đoạn 2021-2025

Dự kiến giai đoạn 2026-2030

Cơ quan chủ trì theo dõi, đánh giá, báo cáo

Kỳ báo cáo

1

Tốc độ tăng GRDP

%

4,22

6,15

10,00

Thống Kê tỉnh

Hàng năm, giữa kỳ, kết thúc giai đoạn

2

Quy mô GRDP theo giá hiện hành

Nghìn tỷ đông

105,00

172,03

322,0

3

GRDP bình quân đầu người

Triệu đồng/người

49,8

80,2

>150

4

Cơ cấu kinh tế

 

100,00

100,00

100,00

 

- Ngư, nông, lâm nghiệp

%

38,87

34,86

27,31

 

- Công nghiệp, xây dựng

%

22,68

24,23

27,91

 

- Dịch vụ

%

33,69

36,49

40,95

 

- Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm

%

4,76

4,42

3,83

5

Tổng vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn

Nghìn tỷ đông

165,5

288,8

505,0

6

Tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn

Triệu USD

8.461,8

11.302,2

17.000

Sở Công Thương

7

Thu ngân sách địa phương

 

 

 

 

Sở Tài chính, Thuế tỉnh

 

- Tổng thu NSNN trên địa bàn

Tỷ đồng

41.011,5

52.839,8

75.000

 

+ Thu nội địa

Tỷ đồng

40.465,1

50.715,4

73.532

 

Trong đó:

 

 

 

 

 

Thu từ tiền sử dụng đất

Tỷ đồng

 

3.593,0

5.750

 

Thu từ xổ số kiến thiết

Tỷ đồng

11.244,1

19.205,0

31.100

 

Trong đó:

 

 

 

 

 

 

+ Thu NSĐP hưởng 100%

Tỷ đồng

 

25.145,4

39.228

Hàng năm, giữa kỳ, kết thúc giai đoạn

 

+ Thu NSĐP hưởng từ các khoản theo phân chia

Tỷ đồng

 

21.155,8

20.477

8

Chi ngân sách địa phương

 

 

 

 

Sở Tài chính

 

- Tổng chi cân đối ngân sách địa phương

Tỷ đồng

70.902,00

107.510,55

132.200

 

Trong đó:

 

 

 

 

 

+ Chi đầu tư phát triển

Tỷ đồng

19.902,91

27.442,65

44.536

 

+ Chi thường xuyên (bao gồm chi cải cách tiền lương, sắp xếp bộ máy, tinh giản biên chế)

Tỷ đồng

50.231,97

63.450,70

84.948

9

Bội thu/Bội chi NSĐP

Tỷ đồng

-

-

-

 

10

Thứ hạng Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI)

 

-

-Đ

ạt mức khá của cả nướ

Sở Tài chính

11

Thứ hạng Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI)

 

-

-Đ

ạt mức khá của cả nướ

Sở Nội vụ

12

Số doanh nghiệp đang hoạt động và kê khai thuế đến cuối kỳ báo cáo

Nghìn doanh nghiệp

5,11

6,42

7,70

Sở Tài chính, Thuế tỉnh

13

Về đầu tư FDI

 

 

 

 

Sở Tài chính, Ban Quản lý Khu kinh tế

 

- Số dự án còn hiệu lực luỹ kế đến cuối kỳ báo cáo

Dự án

10

6

10

 

- Vốn đầu tư thực hiện

Triệu USD

1.893

11,1

15,5

 

- Vốn đăng ký

Triệu USD

4.733

27,7

38,8

14

Dân số trung bình đến năm cuối kỳ

Nghìn người

2.107

2.145

2.169

Thống kê tỉnh

15

Mật độ dân số đến năm cuối kỳ

Người/Km2

265

270

273

16

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đến năm cuối kỳ

Nghìn người

1.100,0

1.120,0

1.131,7

17

Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc so với tổng dân số

%

52,18

52,21

51,3

18

Tỷ lệ lao động qua đào tạo

%

56,7

65,0

80,0

Sở Giáo dục và Đào tạo

Hàng năm, giữa kỳ, kết thúc giai đoạn

 

Trong đó: Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ

 

24,5

27,5

35,0

19

Tỷ lệ rác thải sinh hoạt (ở đô thị và nông thôn) được thu gom và xử lý

%

85,0

90,0

95,0

Sở Nông nghiệp và Môi trường

20

Số xã đạt chuẩn nông thôn mới

Xã

61

43

49,0

21

Tỷ lệ số xã đạt chuẩn nông thôn mới

%

46,6

78,2

89,1

22

Hộ nghèo theo chuẩn đa chiều

Hộ

530.439

4.025

0,0

 

- Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều

%

1,21

0,75

0,0

 

- Mức giảm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều

Điểm %

0,83

0,09

1-1,5

 


[1] Trong đó: Khu vực ngư - nông - lâm nghiệp tăng bình quân 4,91%/năm; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng bình quân 5,71%/năm; khu vực dịch vụ tăng bình quân 8,18%/năm.

[2] Năm 2020, tổng sản lượng thủy sản đạt 970.941 tấn; năm 2025 ước đạt 1,26 triệu tấn.

[3] Từng bước cải tiến quy trình nuôi tôm thâm canh, phát triển mô hình nuôi ứng dụng công nghệ cao. Hoàn thiện kỹ thuật các hình thức nuôi kết hợp, nuôi xen canh, nuôi luân canh một số đối tượng như: cua biển, sò huyết, tôm càng xanh đem lại giá trị kinh tế cao và bền vững. Tỉnh đã tập trung phát triển nuôi tôm theo tiêu chuẩn quốc tế và đã được cấp các chứng nhận như: GlobalGAP, Naturland, BAP, EU và gần đây có ASC, Selva Shrimp, VietGAP... đến nay đã được nhiều tổ chức chứng nhận trong và ngoài nước cấp 9 loại chứng nhận quốc tế.

[4] Giai đoạn 2021 - 2025, tỉnh tiếp nhận thông tin 38 tàu cá và 237 ngư dân vi phạm vùng biển nước ngoài bị bắt giữ và xử lý, trong đó (Cà Mau (cũ): 30 tàu/189 thuyền viên; Bạc Liêu (cũ): 08 tàu/48 thuyền viên).

[5] Giai đoạn 2021 - 2025: sản lượng chế biến tôm và thủy sản khác ước đạt 1,5 triệu tấn; sản lượng phân bón ước đạt 5,4 triệu tấn; sản lượng khí thương phẩm ước đạt 7,9 tỷ m3; sản lượng LPG - Condensate ước đạt 634.935 tấn; sản lượng điện sản xuất ước đạt 34,5 tỷ kWh.

[6] Cà Mau (cũ): 41 nhà máy với tổng công suất thiết kế 250.000 tấn/năm; Bạc Liêu (cũ): 48 nhà máy với tổng công suất thiết kế 294.000 tấn/năm.

[7] Cà Mau (cũ): 19 cụm công nghiệp với tổng diện tích 1.025,83 ha; Bạc Liêu (cũ): 11 cụm công nghiệp với tổng diện tích 610 ha.

[8] (i) Cụm công nghiệp Vĩnh Mỹ 30 ha; (ii) Cụm công nghiệp Chủ Chí 30 ha; (iii) Cụm công nghiệp Vĩnh Lợi 50 ha.

[9] Khu công nghiệp Khánh An (235,86 ha); khu công nghiệp Hòa Trung (326 ha); khu công nghiệp Sông Đốc (145,45 ha); khu công nghiệp Tắc Thủ ((khu công nghiệp Khánh An mở rộng) (345 ha)); khu công nghiệp Tân Thuận (490 ha); khu công nghiệp Trà Kha (60 ha); khu công nghiệp Láng Trâm (100 ha); khu công nghiệp Ninh Quới (257 ha); khu công nghiệp Bạc Liêu (500 ha).

[10] Đã lập báo cáo nghiên cứu khả thi trình Bộ Công Thương thẩm định và phê duyệt dự kiến trong tháng 10/2025; đã trình hồ sơ Báo cáo đánh giá tác động môi trường đang chờ Bộ Nông nghiệp và Môi trường chấp thuận; đã ký kết thoả thuận với bên mua khí; đang thực hiện đấu thầu lựa chọn nhà thầu EPC, dự kiến hoàn thành và khởi công dự án trong quý I/2026; dự kiến bắt đầu có nguồn khí đầu tiên vào quý II/2027 với ước tính sẽ bổ sung khoảng 4,03 tỷ m3. Toàn bộ nguồn khí tại mỏ sẽ được đưa vào hệ thống đường ống PM3 - CAA hiện hữu để cung cấp cho Cụm Khí - Điện - Đạm tại Cà Mau nhằm đảm bảo nguồn cung năng lượng khí cho Cà Mau nói riêng và khu vực Tây Nam bộ nói chung.

[11] Quyết định số 1386/QĐ-TTg ngày 16/11/2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch tỉnh Cà Mau thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quyết định số 1598/QĐ-TTg ngày 08/12/2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch tỉnh Bạc Liêu thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

[12] Tổng số nhà được hỗ trợ 9.594 căn (trong đó: Tỉnh Cà Mau (cũ) 4.400 căn, tỉnh Bạc Liêu (cũ) 5.194 căn), tổng kinh phí thực hiện 599,377 tỷ đồng. Tỉnh tiếp tục thực hiện Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát bằng nguồn ngân sách địa phương; tính đến nay đã hoàn thành 247/271 căn, đạt 91,1% kế hoạch (còn 24 căn không thực hiện do người dân không nhận hỗ trợ, không có đất xây nhà và đã được hỗ trợ từ nguồn khác).

[13] Trong đó, có Phiên Xúc tiến thương mại trong khuôn khổ sự kiện Ngày Hội Cua Cà Mau 2022 và Festival Tôm Cà Mau 2023, đây là sự kiện lớn đã kết nối nhiều đơn vị thu mua, phân phối lớn như Tập đoàn Central Retail (với chuỗi siêu thị Go), Co.opmart, Bách Hóa Xanh, các đơn vị logictics, các Sàn thương mại điện tử trong và ngoài nước như Alibaba, TikTok Shop,… với các doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh các sản phẩm đặc sản, đặc trưng, sản phẩm OCOP trên địa bàn tỉnh.

[14] Triển khai thực hiện các Chương trình hợp tác với thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hà Nội, Ninh Bình,... về lĩnh vực xúc tiến thương mại như phối hợp thực hiện Chương trình Bình ổn thị trường; kịp thời cập nhật, chia sẻ thông tin thị trường, điều phối hàng hóa, phối hợp xử lý biến động thị trường,…; hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp các bên đầu tư, liên kết đầu tư sản xuất, kinh doanh, phát triển hệ thống phân phối, xây dựng vùng nguyên liệu, tạo nguồn hàng bình ổn thị trường; phối hợp phát triển hệ thống phân phối, xây dựng các chuỗi cung ứng, lưu thông hàng hóa hiệu quả xuyên suốt từ hoạt động sản xuất, nuôi trồng đến hoạt động phân phối,…

[15] Đến nay đã có hơn 50 sản phẩm được đưa vào các hệ thống phân phối, bán lẻ trong và ngoài tỉnh như: Siêu thị Big C, CO.OPMART, CO.OP FOOD, AEON, MEGA Market, Fuji Mart, Top Go, Tứ Sơn - An Giang, cửa hàng thực phẩm an toàn, chuỗi cung ứng Nutrimart...; có trên 100 sản phẩm được liên kết với các đại lý ngoài tỉnh như TP. Hồ Chí Minh, các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, Đà Nẵng, Hà Nội,…

[16] Năm 2025, tổng khối lượng vận tải hàng hóa đạt 4.200 ngàn tấn, tăng hơn 2 lần so năm 2020, bình quân giai đoạn tăng 14,5%/năm. Vận chuyển hành khách năm 2025 đạt 73,5 triệu lượt hành khách, giảm 15,3% so năm 2020.

[17] Về đường bộ: Quốc lộ có 7 tuyến đi qua địa bàn tỉnh với tổng chiều dài 353km (Quốc lộ 1: 125,74 km; Quốc lộ 63: 40,42 km; Quản Lộ - Phụng Hiệp: 61,8 km; đường Nam Sông Hậu: 13,3 km; Hành lang ven biển phía Nam: 42,42 km; đường Hồ Chí Minh: 59,0 km; tuyến tránh QL1 TP Cà Mau: 13,41 km); đường tỉnh 28 tuyến dài 627,434 km; đường xã, huyện và nông thôn tổng cộng trên 18.000 km.

[18] Về đường thủy: có 170 tuyến sông, kênh chính dài 2.421,6 km (trong đó, Trung ương quản lý 17 tuyến với tổng chiều dài 402,2km).

[19] Trong đó, thu nội địa đạt 50.715 tỷ đồng.

[20] Bao gồm: tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp các các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh; tổ chức chức các hội nghị, diễn đàn đối thoại với doanh nghiệp, kịp thời giải quyết các khó khăn vướng mắc của người dân và doanh nghiệp; tổ chức các hội trợ, chương trình xúc tiến thương mại trong và ngoài nước; đơn giản hóa các thủ tục hành chính, tăng cường áp dụng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3,4; ban hành công khai doanh mục các dự án đầu tư.

[21] Chỉ số PCI tỉnh Cà Mau (cũ): năm 2021 xếp hạng 32, năm 2022 xếp hạng 58, năm 2023 xếp hạng 22, năm 2024 xếp hạng 28 so với cả nước và thuộc nhóm điều hành tốt. Chỉ số PCI tỉnh Bạc Liêu (cũ): năm 2021 xếp hạng 55, năm 2022 xếp hạng 61, năm 2023 xếp hạng top 30 cả nước, năm 2024 xếp hạng ngoài nhóm 30 tỉnh, thành phố đứng đầu.

[22] Kế hoạch số 05-KH/TU ngày 14/7/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy; Kế hoạch số 194/KH-UBND ngày 30/6/2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh.

[23] Ước đến cuối năm 2025, toàn tỉnh có 613 hợp tác xã (HTX) đang hoạt động và 1.498 tổ hợp tác.

[24] Cà Mau (cũ): Chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX) năm 2024 của tỉnh xếp hạng 20 (tăng 26 bậc so với năm 2021); Chỉ số hài lòng của người dân, doanh nghiệp đối với sự phục vụ của các cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) năm 2024 của tỉnh xếp hạng 12 (tăng 09 bậc so với năm 2021); Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) năm 2024 xếp hạng 17 (tăng 22 bậc so với năm 2021).

- Bạc Liêu (cũ): Chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX) năm 2024 của tỉnh xếp hạng 59 (giảm 15 bậc so với năm 2021); Chỉ số hài lòng của người dân, doanh nghiệp đối với sự phục vụ của các cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) năm 2024 của tỉnh xếp hạng 50 (giảm 18 bậc so với năm 2021); Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) năm 2024 xếp hạng 21 (giảm 10 bậc so với năm 2021).

[25] Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có khoảng 1.459 Tổ công nghệ số cộng đồng. Tổ công nghệ số cộng đồng triển khai các nền tảng số đã được tập huấn và trực tiếp làm mẫu, hướng dẫn cho hơn 223.000 hộ gia đình trên địa bàn tỉnh, chiếm trên 72% số hộ gia đình trong ấp, khóm thuộc xã, phường, thị trấn; số hộ gia đình triển khai dịch vụ công trực tuyến là 197.962 hộ; số hộ gia đình có tài khoản bán hàng trên sàn thương mại điện tử 6.525 hộ… góp phần nâng cao kỹ năng bán hàng trên các sàn thương mại điện tử uy tín, thúc đẩy chuyển đổi số tại các địa phương.

[26] Giai đoạn 2021 - 2025 (ước đến cuối năm 2025) đã đào tạo, bồi dưỡng và dạy nghề cho 29.163 người (trong đó: Đại học: 1495.000 người, Cao đẳng 27.668 người).

[27] Năm 2021: 53.635 lao động, đạt 92,3%; năm 2022: 62.618 lao động, vượt 7%; năm 2023: 66.035 lao động, vượt 12,1%; năm 2024: 72.582 lao động, vượt 22,8%; năm 2025 (ước đến cuối năm 2025): 62.000 lao động, vượt 5,1%.

[28] Năm 2021: 194 người, đạt 21,5%; năm 2022: 672 người, vượt 34,4%; năm 2023: 954 người, vượt 36,3%; năm 2024: 1.226, vượt 11,5%; năm 2025 (ước đến cuối năm 2025): 1.200, đạt 100%.

[29] Tập trung tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và các nhiệm vụ chính trị của địa phương; về xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, an toàn giao thông, kỷ niệm các ngày lễ lớn; thực hiện dự án “Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch”.

[30] Tội phạm về trật tự xã hội: Khởi tố 5.557 vụ, 6.830 bị can; tội phạm về ma túy khởi tố 1.402 vụ, 1.945 bị can (nhiều hơn 26 vụ, nhiều hơn 59 bị can so cùng kỳ).

[31] Tổ chức tuyên truyền phòng cháy chữa cháy 15.711 cuộc, 299.090 lượt người tham dự; phát 39.986 tờ rơi, 1.024 băng rôn. Xử phạt 1.273 trường hợp vi phạm về phòng cháy chữa cháy; xảy ra 54 vụ cháy, chết 02 người, bị thương 02 người.

[32] Xảy ra 605 vụ tai nạn giao thông, chết 312 người, bị thương 489 người.

[33] Triển khai 32.644 cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành, qua thanh tra phát hiện sai phạm với tổng số tiền 160.827 triệu đồng và 446.024 m² đất; đã kiến nghị thu hồi, xử lý theo quy định và kiến nghị xử lý hành chính đối với 60 tập thể, 713 cá nhân có liên quan, phát hiện 26 vụ việc có dấu hiệu tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đã chuyển cơ quan điều tra xử lý theo quy định.

[34] Kết luận số 174-KL/TW ngày 04/7/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về nhiệm vụ tiếp tục xây dựng tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương 02 cấp bảo đảm thông suốt, hiệu quả; Kết luận số 179-KL/TW ngày 25/7/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về tiếp tục triển khai nhiệm vụ hoàn thiện tổ chức bộ máy và hoạt động của mô hình chính quyền địa phương 02 cấp; Kết luận số 183-KL/TW ngày 01/8/2025 của Bộ chính trị tập trung cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trật tự, chăm lo đời sống nhân dân theo đúng tinh thần Kết luận số 183-KL/TW ngày 01/8/2025 của Bộ chính trị.

[35] Tổ chức nhiều hoạt động thiết thực nhằm tạo điều kiện cho nhân dân, đồng bào dân tộc đón tết Nguyên đán Giáp Thìn, Tết Nguyên tiêu, Tết Chôl Chnăm Thmây trên tinh thần vui tươi, đầm ấm, an toàn, tiết kiệm. Tổ chức triển khai thực hiện các chương trình, chính sách hỗ trợ cho đồng bào dân tộc thiểu số và đầu tư cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số; đặc biệt là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

[36] Như: Thu hút đầu tư các dự án năng lượng tái tạo không nối lưới (điện gió, điện mặt trời...), tiến tới xuất khẩu điện sang các nước lân cận; phát triển ngành công nghiệp sản xuất khí hydrogen (H2), Ammoniac (NH3),...; các dự án lớn đang tập trung đầu tư, có vai trò bứt phá, kết nối, lan tỏa đầu tư trên địa bàn tỉnh như: Cảng hàng không Cà Mau đạt tiêu chuẩn cấp 4C; tuyến cao tốc Cần Thơ - Cà Mau; tuyến cao tốc Hà Tiên - Rạch Giá - Bạc Liêu và đoạn Cà Mau - Đất Mũi; nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 1, đường Hồ Chí Minh từ Cà Mau đến Mũi Cà Mau, Quốc lộ 63, Quốc lộ 91B (Nam Sông Hậu)… gắn kết với việc hình thành Cảng Hòn Khoai và đường kết nối ra đảo Hòn Khoai sẽ tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư hệ thống hạ tầng kết nối đến các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu du lịch lớn...; đầu tư, nâng cấp, mở rộng các tuyến đấu nối đến các cụm kinh tế ven biển, các tuyến đường tại các đô thị đồng bộ các hạng mục giao thông, vỉa hè, cấp thoát nước, điện, cáp quang,…; các tuyến kết nối đa phương thức khác; đầu tư các công trình cầu, đường giao thông nông thôn gắn với Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030. Với những điều kiện thuận lợi về hạ tầng sẽ tạo điều kiện thu hút đầu tư các dự án lớn: Khu dịch vụ hậu cần logistics trên đất liền phục vụ cho Cảng Hòn Khoai; phát triển Khu kinh tế Năm Căn, các khu, cụm công nghiệp, Khu du lịch Quốc gia Mũi Cà Mau, khu du lịch sinh thái Đầm Thị Tường, Khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí trong rừng đặc dụng, rừng phòng hộ ven biển, khu du lịch Nhà Mát (trong đó, có khu lấn biển)… Tập trung phát triển công nghiệp chế biến nhiều nhất từ nguồn nguyên liệu tại chỗ, đặc biệt là công nghiệp chế biến tôm là lợi thế nổi trội của tỉnh.

Văn bản này chưa cập nhật nội dung Tiếng Anh

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Kế hoạch 0177/KH-UBND ngày 06/11/2025 phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030 do tỉnh Cà Mau ban hành

Bạn Chưa Đăng Nhập Thành Viên!


Vì chưa Đăng Nhập nên Bạn chỉ xem được Thuộc tính của văn bản.
Bạn chưa xem được Hiệu lực của Văn bản, Văn bản liên quan, Văn bản thay thế, Văn bản gốc, Văn bản tiếng Anh,...


Nếu chưa là Thành Viên, mời Bạn Đăng ký Thành viên tại đây


Văn bản liên quan

Ban hành: 05/08/2025

Hiệu lực: Đã biết

Tình trạng: Đã biết

Cập nhật: 08/09/2025

Ban hành: 15/06/2025

Hiệu lực: Đã biết

Tình trạng: Đã biết

Cập nhật: 16/06/2025

40

DMCA.com Protection Status

IP: 216.73.217.141