|
VĂN PHÒNG QUỐC
HỘI
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 136/VBHN-VPQH
|
Hà Nội, ngày 05
tháng 9 năm 2025
|
LUẬT
THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ
Luật Thi hành án hình sự số 41/2019/QH14
ngày 14 tháng 6 năm 2019 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm
2020, được sửa đổi, bổ sung bởi:
1. Luật Tư pháp người chưa
thành niên số 59/2024/QH15 ngày 30 tháng 11 năm 2024 của Quốc hội, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026;
2. Luật số 86/2025/QH15 ngày 25
tháng 6 năm 2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Thi
hành án hình sự[1].
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm
vi điều chỉnh
Luật này quy định nguyên tắc,
trình tự, thủ tục, tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, người có thẩm quyền
trong thi hành bản án, quyết định về hình phạt tù, tử hình, cảnh cáo, cải tạo
không giam giữ, cấm cư trú, quản chế, trục xuất, tước một số quyền công dân, cấm
đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, án treo, tha tù
trước thời hạn có điều kiện, hình phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn, đình chỉ
hoạt động vĩnh viễn, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định,
cấm huy động vốn, biện pháp tư pháp; quyền, nghĩa vụ của người, pháp nhân
thương mại chấp hành án hình sự, biện pháp tư pháp; trách nhiệm của cơ quan, tổ
chức, cá nhân có liên quan trong thi hành án hình sự, biện pháp tư pháp.
Điều 2. Bản
án, quyết định được thi hành
1. Bản án, quyết định của Tòa
án có hiệu lực pháp luật và đã có quyết định thi hành.
2. Bản án, quyết định của Tòa
án được thi hành ngay theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự hoặc kể từ ngày
bản án có hiệu lực pháp luật theo quy định của Bộ luật Hình sự.
3. Quyết định của Tòa án tiếp
nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam chấp hành án và
đã có quyết định thi hành; quyết định của Tòa án chuyển giao người đang chấp
hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài.
4. Bản án, quyết định về áp dụng
biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh[2];
buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu, buộc thực hiện một số biện pháp nhằm khắc
phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra đối với pháp nhân thương mại thuộc thẩm
quyền của cơ quan thi hành án hình sự.
Điều 3. Giải
thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới
đây được hiểu như sau:
1. Người chấp hành án là
người bị kết án, phải chịu hình phạt theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu
lực pháp luật và đã có quyết định thi hành.
2. Phạm nhân là người
đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân.
3. Cơ sở giam giữ phạm nhân là
nơi tổ chức quản lý, giam giữ và giáo dục cải tạo phạm nhân, bao gồm trại giam,
trại tạm giam, nhà tạm giữ.
4. Thi hành án phạt tù là
việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc người bị kết
án phạt tù có thời hạn, tù chung thân phải chịu sự quản lý giam giữ, giáo dục cải
tạo.
5. Thi hành án tử hình là
việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này tước bỏ tính mạng
của người bị kết án tử hình.
6. Thi hành án treo là
việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này giám sát, giáo dục
người bị kết án phạt tù được hưởng án treo trong thời gian thử thách.
7. Thi hành quyết định tha
tù trước thời hạn có điều kiện là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo
quy định của Luật này quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
trong thời gian thử thách.
8. Thi hành án phạt cải tạo
không giam giữ là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật
này giám sát, giáo dục người chấp hành án tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc, học
tập; khấu trừ một phần thu nhập sung quỹ nhà nước, giám sát việc thực hiện một
số công việc lao động phục vụ cộng đồng theo bản án, quyết định của Tòa án có
hiệu lực pháp luật.
9. Thi hành án phạt cấm cư
trú là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc
người chấp hành án không được tạm trú, thường trú ở một số địa phương nhất định
theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
10. Thi hành án phạt quản chế
là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc người
chấp hành án phải cư trú, làm ăn sinh sống và cải tạo ở một địa phương nhất định
dưới sự kiểm soát, giáo dục của chính quyền và Nhân dân địa phương theo bản án,
quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
11. Thi hành án phạt trục xuất
là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc người
chấp hành án phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
12. Thi hành án phạt tước một
số quyền công dân là việc cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Luật này
tước một hoặc một số quyền công dân của người chấp hành án theo bản án, quyết định
của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
13. Thi hành án phạt cấm đảm
nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định là việc cơ quan,
tổ chức, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc người chấp hành án
không được đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc nhất định theo bản
án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
14. Thi hành biện pháp tư
pháp bắt buộc chữa bệnh là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định
của Luật này buộc người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội hoặc người đang
chấp hành án mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả
năng điều khiển hành vi của mình phải điều trị tại cơ sở chữa bệnh bắt buộc
theo quyết định của Tòa án, Viện kiểm sát.
15.[3] (được bãi bỏ)
16. Áp giải thi hành án là
việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc người chấp
hành án phạt tù, tử hình, trục xuất đến nơi chấp hành án.
17. Trích xuất là việc
thực hiện quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật
này đưa phạm nhân, người bị kết án tử hình[4] ra khỏi nơi quản lý và chuyển giao cho cơ quan, người có
thẩm quyền để phục vụ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, khám bệnh, chữa bệnh,
quản lý giam giữ, giáo dục cải tạo trong thời hạn nhất định.
18. Danh bản là bản ghi
thông tin tóm tắt về lý lịch, nhân dạng, ảnh chụp ba tư thế, in dấu vân hai
ngón tay trỏ của người chấp hành án, người chấp hành biện pháp tư pháp do cơ
quan có thẩm quyền lập và lưu giữ.
19. Chỉ bản là bản ghi
thông tin tóm tắt về lý lịch và in dấu vân tất cả các ngón tay của người chấp
hành án do cơ quan có thẩm quyền lập và lưu giữ.
20. Pháp nhân thương mại chấp
hành án là pháp nhân thương mại bị kết án, phải chịu hình phạt, biện pháp
tư pháp theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
21. Thi hành hình phạt đình
chỉ hoạt động có thời hạn là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định
của Luật này buộc pháp nhân thương mại chấp hành án phải tạm dừng hoạt động đối
với ngành, nghề trong một hoặc một số lĩnh vực bị đình chỉ hoạt động có thời hạn
theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
22. Thi hành hình phạt đình
chỉ hoạt động vĩnh viễn là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định
của Luật này buộc pháp nhân thương mại chấp hành án phải chấm dứt ngay hoạt động
đối với ngành, nghề trong một hoặc một số lĩnh vực bị đình chỉ hoạt động vĩnh
viễn hoặc toàn bộ hoạt động bị đình chỉ vĩnh viễn theo bản án, quyết định của
Tòa án có hiệu lực pháp luật.
23. Thi hành hình phạt cấm
kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định là việc cơ quan,
người có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc pháp nhân thương mại chấp
hành án không được tiếp tục kinh doanh, hoạt động đối với ngành, nghề trong
lĩnh vực bị cấm trong thời hạn theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực
pháp luật.
24. Thi hành hình phạt cấm
huy động vốn là việc cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của Luật
này buộc pháp nhân thương mại chấp hành án không được thực hiện một hoặc một số
hình thức huy động vốn trong thời hạn bị cấm theo bản án, quyết định của Tòa án
có hiệu lực pháp luật.
25. Cơ quan quản lý nhà nước
đối với pháp nhân thương mại chấp hành án là cơ quan có thẩm quyền đăng ký
kinh doanh, cấp giấy chứng nhận đăng ký, cấp giấy phép, chấp thuận cho pháp
nhân thương mại hoạt động, giám sát, theo dõi pháp nhân thương mại hoạt động được
cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền yêu cầu thực hiện một hoặc một số nhiệm
vụ để bảo đảm thi hành hình phạt, biện pháp tư pháp đối với pháp nhân thương mại
chấp hành án.
Điều 4.
Nguyên tắc thi hành án hình sự
1. Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật,
bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá
nhân.
2. Bản án, quyết định của Tòa
án có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ
quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải nghiêm chỉnh chấp hành.
3. Bảo đảm nhân đạo xã hội chủ
nghĩa; tôn trọng danh dự, nhân phẩm, quyền, lợi ích hợp pháp của người chấp
hành án, người chấp hành biện pháp tư pháp, quyền, lợi ích hợp pháp của pháp
nhân thương mại chấp hành án.
4. Kết hợp trừng trị và giáo dục
cải tạo trong việc thi hành án; áp dụng biện pháp giáo dục cải tạo phải trên cơ
sở tính chất, mức độ phạm tội, độ tuổi, sức khỏe, giới tính, trình độ học vấn
và các đặc điểm nhân thân khác của người chấp hành án.
5. Thi hành án đối với người dưới
18 tuổi chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh
và trở thành người có ích cho xã hội.
6. Khuyến khích người chấp hành
án ăn năn hối cải, tích cực học tập, lao động cải tạo, tự nguyện bồi thường thiệt
hại.
7. Bảo đảm quyền khiếu nại, tố
cáo hành vi, quyết định trái pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền trong
thi hành án hình sự.
8. Bảo đảm sự tham gia của cơ
quan, tổ chức, cá nhân và gia đình trong hoạt động thi hành án hình sự, tái hòa
nhập cộng đồng theo quy định của pháp luật.
Điều 5.
Trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thi hành án hình sự
Cơ quan, tổ chức, cá nhân,
trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của mình, có trách nhiệm phối hợp
và thực hiện yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền trong thi hành án hình sự
theo quy định của Luật này.
Điều 6.
Giám sát việc thi hành án hình sự
Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận giám sát hoạt động
của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có
liên quan trong thi hành án hình sự theo quy định của pháp luật.
Điều 7. Kiểm
sát việc thi hành án hình sự
Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát
việc tuân theo pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền và cơ quan, tổ chức,
cá nhân khác có liên quan trong thi hành án hình sự.
Điều 8. Phổ
biến, giáo dục pháp luật về thi hành án hình sự
1. Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang
Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo công tác phổ biến,
giáo dục pháp luật về thi hành án hình sự.
2. Ủy ban nhân dân các cấp, cơ
quan, tổ chức khác, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm
tổ chức thực hiện việc phổ biến, giáo dục pháp luật, vận động Nhân dân chấp
hành pháp luật về thi hành án hình sự.
Điều 9. Hợp
tác quốc tế trong thi hành án hình sự
Hợp tác quốc tế trong thi hành
án hình sự giữa cơ quan có thẩm quyền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam với cơ quan có thẩm quyền tương ứng của nước ngoài được thực hiện trên cơ sở
tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc
nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật của
Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên.
Trường hợp giữa Việt Nam và nước
có liên quan chưa có điều ước quốc tế thì việc hợp tác quốc tế trong thi hành
án hình sự được thực hiện theo nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái với Hiến
pháp của Việt Nam, phù hợp với pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế.
Điều 10.
Các hành vi bị nghiêm cấm trong thi hành án hình sự
1. Phá hủy cơ sở quản lý, giam
giữ; hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của cơ sở quản lý, giam giữ; tổ chức
trốn hoặc trốn khỏi nơi quản lý, giam giữ; tổ chức trốn hoặc trốn khi đang bị
áp giải, dẫn giải; đánh tháo phạm nhân, người chấp hành biện pháp tư pháp, người
bị áp giải, dẫn giải.
2. Không chấp hành quyết định
thi hành án hình sự; cản trở hoặc chống lại việc thực hiện nội quy, quy chế về
thi hành án hình sự hoặc quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền
trong thi hành án hình sự.
3. Tổ chức, kích động, xúi giục,
lôi kéo, dụ dỗ, giúp sức, cưỡng bức người khác vi phạm pháp luật về thi hành án
hình sự; trả thù, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của
người có trách nhiệm thi hành án hình sự.
4. Không ra quyết định thi hành
án hình sự; không thi hành quyết định trả tự do theo quy định của pháp luật và
quyết định khác của cơ quan, người có thẩm quyền trong thi hành án hình sự.
5. Đưa hối lộ, nhận hối lộ, môi
giới hối lộ, nhũng nhiễu trong thi hành án hình sự.
6. Tha trái pháp luật người
đang bị giam, người bị áp giải thi hành án; thiếu trách nhiệm trong việc quản
lý, canh gác, áp giải thi hành án để người chấp hành án phạt tù, án tử hình hoặc
án phạt trục xuất trốn.
7. Lợi dụng, lạm dụng chức vụ,
quyền hạn để đề nghị miễn, giảm, hoãn, tạm đình chỉ, tha tù trước thời hạn có
điều kiện, rút ngắn thời gian thử thách cho người không đủ điều kiện; không đề
nghị cho người đủ điều kiện được miễn, giảm, hoãn, tạm đình chỉ, tha tù trước
thời hạn có điều kiện, rút ngắn thời gian thử thách; đề nghị hoặc không đề nghị
chấm dứt trước thời hạn việc chấp hành biện pháp tư pháp, hoãn, đình chỉ thi
hành biện pháp tư pháp; cản trở người, pháp nhân thương mại chấp hành án thực
hiện các quyền theo quy định của Luật này.
8. Tra tấn và các hình thức đối
xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục người chấp hành án, biện
pháp tư pháp.
9. Kỳ thị, phân biệt đối xử hoặc
xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người, pháp nhân thương mại chấp hành án.
10. Cấp hoặc từ chối cấp trái
quy định của pháp luật quyết định, giấy chứng nhận, xác nhận hoặc giấy tờ khác
về thi hành án hình sự.
11. Làm sai lệch hồ sơ, sổ sách
về thi hành án hình sự.
Chương II
HỆ THỐNG TỔ CHỨC THI
HÀNH ÁN HÌNH SỰ, NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA CƠ QUAN CÓ THẨM QUYỀN TRONG THI HÀNH
ÁN HÌNH SỰ
Điều 11. Hệ
thống tổ chức thi hành án hình sự
1. Cơ quan quản lý thi hành án
hình sự bao gồm:
a) Cơ quan quản lý thi hành án
hình sự thuộc Bộ Công an;
b) Cơ quan quản lý thi hành án
hình sự thuộc Bộ Quốc phòng.
2. Cơ quan thi hành án hình sự bao
gồm:
a) Trại giam thuộc Bộ Công an,
trại giam thuộc Bộ Quốc phòng, trại giam thuộc quân khu (sau đây gọi là trại
giam);
b) Cơ quan thi hành án hình sự
Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp tỉnh);
c) Cơ quan thi hành án hình sự
Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực
thuộc trung ương (sau đây gọi là cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện);
d) Cơ quan thi hành án hình sự
quân khu và tương đương (sau đây gọi là cơ quan thi hành án hình sự cấp quân
khu).
3. Cơ quan được giao một số nhiệm
vụ thi hành án hình sự bao gồm:
a) Trại tạm giam thuộc Bộ Công
an, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh, trại
tạm giam cấp quân khu (sau đây gọi là trại tạm giam);
b) Ủy ban nhân dân cấp xã;
c) Đơn vị quân đội cấp trung
đoàn và tương đương (sau đây gọi là đơn vị quân đội).
4. Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng
Bộ Quốc phòng quy định chi tiết tổ chức bộ máy của cơ quan quản lý thi hành án
hình sự, cơ quan thi hành án hình sự.
Điều 12.
Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an
1. Giúp Bộ trưởng Bộ Công an thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tổ chức thi hành pháp luật về
thi hành án hình sự;
b) Chỉ đạo nghiệp vụ, hướng dẫn
việc áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật về thi hành án hình sự;
c) Tổng kết công tác thi hành
án hình sự.
2. Kiểm tra công tác thi hành
án hình sự.
3. Quyết định đưa người chấp
hành án phạt tù đến nơi chấp hành án, đưa người dưới 18 tuổi vào trường giáo dưỡng.
4. Trực tiếp quản lý trại giam,
trường giáo dưỡng thuộc Bộ Công an.
5. Thực hiện chế độ thống kê,
báo cáo.
6. Giải quyết khiếu nại, tố cáo
về thi hành án hình sự theo quy định của Luật này và Luật Tố cáo.
7. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
khác theo quy định của Luật này và nhiệm vụ, quyền hạn do Bộ trưởng Bộ Công an
giao.
Điều 13.
Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng
1. Giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tổ chức thi hành pháp luật về
thi hành án hình sự;
b) Chỉ đạo nghiệp vụ, hướng dẫn
việc áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật về thi hành án hình sự trong
quân đội;
c) Tổng kết công tác thi hành
án hình sự trong quân đội.
2. Kiểm tra công tác thi hành
án hình sự trong quân đội.
3. Quyết định đưa người chấp
hành án phạt tù đến nơi chấp hành án.
4. Trực tiếp quản lý trại giam
thuộc Bộ Quốc phòng.
5. Thực hiện chế độ thống kê,
báo cáo.
6. Giải quyết khiếu nại, tố cáo
về thi hành án hình sự theo quy định của Luật này và Luật Tố cáo.
7. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
khác theo quy định của Luật này và nhiệm vụ, quyền hạn do Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng giao.
Điều 14.
Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh
1. Giúp Giám đốc Công an cấp tỉnh
quản lý, chỉ đạo công tác thi hành án hình sự trên địa bàn cấp tỉnh:
a) Chỉ đạo nghiệp vụ và kiểm
tra công tác thi hành án hình sự đối với trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh,
cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện;
b) Tổng kết công tác thi hành
án hình sự và thực hiện chế độ thống kê, báo cáo theo hướng dẫn của cơ quan quản
lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an.
2. Tiếp nhận bản án, quyết định
của Tòa án, quyết định thi hành án; hoàn chỉnh hồ sơ, lập danh sách người chấp
hành án phạt tù để báo cáo, đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền quyết định; lập
hồ sơ thi hành án đối với pháp nhân thương mại.
3. Đề nghị Tòa án có thẩm quyền
xem xét, quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, giảm thời hạn chấp hành
án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với phạm nhân và rút ngắn thời
gian thử thách đối với người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, trưng cầu
giám định pháp y tâm thần theo quy định của pháp luật.
4. Tổ chức tiếp nhận người bị kết
án phạt tù do nước ngoài chuyển giao về Việt Nam chấp hành án theo quyết định của
Tòa án có thẩm quyền, hoàn chỉnh hồ sơ thi hành án, báo cáo cơ quan quản lý thi
hành án hình sự ra quyết định đưa đến nơi chấp hành án.
5. Tổ chức thi hành án phạt trục
xuất; tham gia thi hành án tử hình; quản lý số phạm nhân phục vụ việc tạm giữ,
tạm giam theo quy định của Luật này.
6. Ra quyết định truy nã và tổ
chức truy bắt người chấp hành án bỏ trốn.
7. Quyết định trích xuất hoặc
thực hiện lệnh trích xuất theo yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền.
8. Tổ chức thi hành hình phạt,
biện pháp tư pháp đối với pháp nhân thương mại theo quy định của Luật này.
9. Cấp giấy chứng nhận chấp
hành xong hình phạt, giấy chứng nhận chấp hành xong biện pháp tư pháp theo thẩm
quyền.
10. Giải quyết khiếu nại, tố
cáo về thi hành án hình sự theo quy định của Luật này và Luật Tố cáo.
11. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
khác theo quy định của Luật này.
Điều 15.
Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu
1. Giúp Tư lệnh quân khu quản
lý, chỉ đạo công tác thi hành án hình sự trên địa bàn quân khu và tương đương:
a) Chỉ đạo nghiệp vụ và kiểm
tra công tác thi hành án hình sự;
b) Quản lý trại giam thuộc quân
khu;
c) Tổng kết công tác thi hành
án hình sự và thực hiện thống kê, báo cáo theo hướng dẫn của cơ quan quản lý
thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng.
2. Tiếp nhận bản án, quyết định
của Tòa án, quyết định thi hành án; hoàn chỉnh hồ sơ, lập danh sách người chấp
hành án phạt tù để báo cáo, đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền quyết định; lập
hồ sơ thi hành án đối với pháp nhân thương mại.
3. Đề nghị Tòa án có thẩm quyền
xem xét, quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, giảm thời hạn chấp hành
án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với phạm nhân và rút ngắn thời
gian thử thách đối với người được hưởng án treo, người được tha tù trước thời hạn
có điều kiện, giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, buộc người
được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã
cho hưởng án treo, hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với
người được tha tù trước thời hạn có điều kiện vi phạm nghĩa vụ và buộc người đó
phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành, trưng cầu giám định
pháp y tâm thần theo quy định của pháp luật.
4. Áp giải thi hành án đối với
người bị kết án phạt tù đang được tại ngoại, được hoãn, tạm đình chỉ, người bị
Tòa án buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, người bị
Tòa án hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện.
5. Tham gia thi hành án tử
hình; quản lý số phạm nhân phục vụ việc tạm giữ, tạm giam theo quy định của Luật
này.
6. Ra quyết định truy nã và tổ
chức truy bắt người chấp hành án bỏ trốn.
7. Quyết định trích xuất hoặc
thực hiện lệnh trích xuất theo yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền.
8. Tổ chức thi hành hình phạt,
biện pháp tư pháp đối với pháp nhân thương mại theo quy định của Luật này.
9. Cấp giấy chứng nhận chấp
hành xong hình phạt, giấy chứng nhận chấp hành xong biện pháp tư pháp theo thẩm
quyền.
10. Giải quyết khiếu nại, tố
cáo về thi hành án hình sự theo quy định của Luật này và Luật Tố cáo.
11. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
khác theo quy định của Luật này.
Điều 16.
Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện
1. Giúp Trưởng Công an cấp huyện
quản lý, chỉ đạo công tác thi hành án hình sự trên địa bàn cấp huyện:
a) Hướng dẫn nghiệp vụ công tác
thi hành án hình sự theo thẩm quyền đối với Ủy ban nhân dân cấp xã; chỉ đạo, kiểm
tra Công an cấp xã trong việc giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ
thi hành án hình sự theo quy định của Luật này;
b) Thực hiện thống kê, báo cáo
theo hướng dẫn của cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an.
2. Tiếp nhận bản án, quyết định
của Tòa án, quyết định thi hành án, các tài liệu có liên quan, lập hồ sơ và tổ
chức thi hành án đối với người chấp hành án treo, án phạt cải tạo không giam giữ,
cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định,
tước một số quyền công dân, quản chế; tổ chức quản lý người được hoãn, tạm đình
chỉ chấp hành án phạt tù, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện.
3. Lập hồ sơ và báo cáo cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết
định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, tha
tù trước thời hạn có điều kiện cho phạm nhân đang chấp hành án tại nhà tạm giữ,
rút ngắn thời gian thử thách cho người được tha tù trước thời hạn có điều kiện.
4. Áp giải thi hành án đối với
người bị kết án phạt tù đang được tại ngoại, được hoãn, tạm đình chỉ, người bị
Tòa án buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, người bị
Tòa án hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện.
5. Trực tiếp quản lý số phạm
nhân phục vụ việc tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ.
6. Tống đạt quyết định thi hành
án cho người bị kết án phạt tù đang ở nhà tạm giữ và báo cáo cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp tỉnh.
7. Lập hồ sơ và báo cáo cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để đề nghị cơ quan quản lý thi hành án
hình sự thuộc Bộ Công an ra quyết định đưa người bị kết án phạt tù đang ở nhà tạm
giữ, người được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án, người bị Tòa án buộc chấp hành
hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, người bị Tòa án hủy quyết định
tha tù trước thời hạn có điều kiện đi chấp hành án.
8. Đề nghị Tòa án có thẩm quyền
xem xét, quyết định hoãn chấp hành án phạt tù cho người bị kết án phạt tù đang
tại ngoại, buộc người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ phải chấp hành hình
phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, hủy quyết định tha tù trước thời hạn
có điều kiện đối với người được tha tù trước thời hạn có điều kiện vi phạm
nghĩa vụ và buộc người đó phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại chưa chấp
hành, rút ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo, giảm thời
hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, miễn chấp hành thời hạn còn lại đối
với người chấp hành án phạt quản chế, cấm cư trú.
9. Đề nghị cơ quan có thẩm quyền
ra quyết định truy nã người trốn thi hành án; quyết định trích xuất hoặc thực
hiện lệnh trích xuất theo yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền.
10. Cấp giấy chứng nhận chấp
hành xong hình phạt theo thẩm quyền.
11. Giải quyết khiếu nại, tố
cáo về thi hành án hình sự theo quy định của Luật này và Luật Tố cáo.
12. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
khác theo quy định của Luật này.
Điều 17.
Nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của trại giam
1. Trại giam là cơ quan thi
hành án phạt tù có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tiếp nhận, tổ chức quản lý
giam giữ, giáo dục cải tạo phạm nhân;
b) Thông báo cho thân nhân của
phạm nhân về việc tiếp nhận phạm nhân và tình hình chấp hành án của người đó;
c) Đề nghị Tòa án có thẩm quyền
xem xét, quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành
án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với phạm nhân theo quy định
của pháp luật;
d) Thực hiện lệnh trích xuất của
cơ quan, người có thẩm quyền;
đ) Nhận tài sản, tiền mà phạm
nhân, thân nhân của phạm nhân tự nguyện nộp tại trại giam để thi hành án, chuyển
cho cơ quan thi hành án dân sự nơi Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án có trụ sở hoặc
cơ quan thi hành án dân sự được ủy thác thi hành án; nhận tài sản, tiền do cơ
quan thi hành án dân sự chuyển đến để giao cho phạm nhân theo quy định của Luật
Thi hành án dân sự;
e) Phối hợp với cơ quan thi
hành án dân sự trong việc cung cấp thông tin về nơi chấp hành án phạt tù và việc
thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự của phạm nhân, thông tin nơi về cư trú của người
chấp hành xong án phạt tù, người được đặc xá, người được miễn chấp hành án phạt
tù, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện; chuyển giao giấy tờ có liên
quan đến phạm nhân phải thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản, các nghĩa vụ
dân sự;
g) Cấp giấy chứng nhận chấp
hành xong án phạt tù, giấy chứng nhận tha tù trước thời hạn có điều kiện;
h) Làm thủ tục giải quyết trường
hợp phạm nhân chết;
i) Áp giải, bàn giao phạm nhân
là người nước ngoài theo quyết định của Tòa án về việc chuyển giao người đang
chấp hành án phạt tù; tiếp nhận, tổ chức quản lý giam giữ, giáo dục cải tạo phạm
nhân là công dân Việt Nam phạm tội và bị kết án phạt tù ở nước ngoài được chuyển
giao về Việt Nam để chấp hành án; thực hiện các quy định của Luật này về thi
hành án phạt trục xuất;
k) Thực hiện thống kê, báo cáo
về thi hành án phạt tù;
l) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
khác theo quy định của pháp luật.
2. Giám thị trại giam có nhiệm
vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tổ chức thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn của trại giam theo quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Ra quyết định phân loại và tổ
chức giam giữ phạm nhân theo loại; quyết định xếp loại chấp hành án phạt tù,
quyết định nâng, hạ loại phạm nhân, quyết định công nhận phạm nhân vi phạm kỷ
luật đã tiến bộ, quyết định một số biện pháp điều tra ban đầu theo quy định của
pháp luật, quyết định đình nã khi bắt được phạm nhân trốn trại giam; quyết định
khen thưởng, kỷ luật phạm nhân;
c) Quyết định kiểm tra, thu giữ,
xử lý đồ vật, tài liệu thuộc danh mục cấm;
d) Quyết định trích xuất phạm
nhân phục vụ yêu cầu khám bệnh, chữa bệnh, quản lý, lao động, học tập; phạm
nhân đến khu điều trị tại bệnh viện để phục vụ phạm nhân bị bệnh nặng không tự
phục vụ bản thân được, phạm nhân có con dưới 36 tháng tuổi theo mẹ vào trại
giam bị bệnh phải đưa đi bệnh viện điều trị;
đ) Ra quyết định truy nã và phối
hợp tổ chức truy bắt kịp thời phạm nhân trốn trại giam.
3. Phó Giám thị trại giam thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Giám thị theo sự phân công hoặc ủy quyền của Giám
thị và chịu trách nhiệm trong phạm vi công việc được giao.
4. Trại giam được tổ chức như
sau:
a) Trại giam có phân trại, khu
giam giữ, nhà giam; công trình phục vụ việc quản lý giam giữ, học tập, sinh hoạt,
chăm sóc y tế; khu lao động, dạy nghề do trại giam quản lý; công trình phục vụ
làm việc, sinh hoạt của sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ,
công nhân công tác tại trại giam;
b) Tổ chức bộ máy quản lý của
trại giam gồm có Giám thị, Phó Giám thị, Trưởng phân trại, Phó trưởng phân trại,
Đội trưởng, Phó đội trưởng; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan; chiến
sĩ và công nhân.
Giám thị, Phó Giám thị, Trưởng
phân trại, Phó trưởng phân trại, Đội trưởng, Phó đội trưởng phải là người có
trình độ đại học cảnh sát, đại học an ninh hoặc cử nhân luật trở lên và bảo đảm
các tiêu chuẩn khác theo quy định.
5. Chính phủ quy định chi tiết khoản
4 Điều này.
Điều 18.
Nhiệm vụ, quyền hạn của trại tạm giam trong thi hành án hình sự
1. Trực tiếp quản lý, giam giữ,
giáo dục cải tạo phạm nhân chấp hành án tại trại tạm giam theo quy định của Luật
này.
2. Lập hồ sơ đề nghị cơ quan có
thẩm quyền xem xét, quyết định giảm thời hạn chấp hành án, tạm đình chỉ chấp
hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện cho phạm nhân.
3. Cấp giấy chứng nhận chấp
hành xong án phạt tù, giấy chứng nhận tha tù trước thời hạn có điều kiện cho phạm
nhân chấp hành án tại trại tạm giam thuộc Bộ Công an, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc
phòng.
4. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
khác theo quy định của Luật này.
Điều 19.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã trong thi hành án hình sự
1. Ủy ban nhân dân cấp xã thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn về giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, người
chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm
hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân; quản lý người
được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người được tha tù trước thời hạn
có điều kiện; kiểm soát, giáo dục người chấp hành án phạt quản chế.
2. Công an xã, phường, thị trấn
(sau đây gọi là Công an cấp xã) tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Đối với huyện không có đơn vị
hành chính cấp xã thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện thực hiện
nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 20.
Nhiệm vụ, quyền hạn của đơn vị quân đội trong thi hành án hình sự
Đơn vị quân đội thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn về giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, người chấp hành
án phạt cải tạo không giam giữ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm
công việc nhất định, tước một số quyền công dân; quản lý người được hoãn, tạm
đình chỉ chấp hành án phạt tù, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện.
Điều 21.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trong thi hành án hình sự
1. Ra quyết định thi hành án;
quyết định thành lập Hội đồng thi hành án tử hình.
2. Ra quyết định hoặc hủy quyết
định hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều kiện;
quyết định đình chỉ thi hành án; quyết định miễn chấp hành án, giảm thời hạn chấp
hành án; quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành án phạt tù;
quyết định kéo dài thời hạn trục xuất; quyết định rút ngắn thời gian thử thách
đối với người được hưởng án treo, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện.
3. Xem xét, giải quyết việc cho
nhận tử thi của người bị thi hành án tử hình.
4. Gửi bản án, quyết định được
thi hành và quyết định quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, tài liệu có
liên quan cho cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của Luật này.
5. Ra quyết định tiếp nhận phạm
nhân là công dân Việt Nam phạm tội và bị kết án phạt tù ở nước ngoài được chuyển
giao về Việt Nam để chấp hành án, chuyển giao phạm nhân là người nước ngoài.
6. Ra quyết định trưng cầu giám
định pháp y tâm thần đối với phạm nhân có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần, bệnh khác
làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.
7. Thực hiện chế độ thống kê,
báo cáo về thi hành án hình sự theo thẩm quyền.
8. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
khác theo quy định của Luật này.
Chương
III
THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ
Mục 1. THỦ
TỤC THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ VÀ CHẾ ĐỘ QUẢN LÝ GIAM GIỮ, GIÁO DỤC PHẠM NHÂN
Điều 22.
Quyết định thi hành án phạt tù
1. Quyết định thi hành án phạt
tù phải ghi rõ họ, tên, chức vụ người ra quyết định; bản án, quyết định được
thi hành; tên cơ quan có nhiệm vụ thi hành quyết định thi hành án; họ, tên,
ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người bị kết án; thời hạn chấp hành án phạt
tù, thời hạn chấp hành hình phạt bổ sung. Trường hợp người bị kết án đang tại
ngoại, quyết định thi hành án phải ghi rõ trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận
được quyết định, người bị kết án phải có mặt tại cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp huyện nơi người đó cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu
nơi người đó làm việc.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày ra quyết định thi hành án phạt tù, Tòa án phải gửi quyết định
đó cho cá nhân, cơ quan sau đây:
a) Người chấp hành án và người
đại diện trong trường hợp người chấp hành án là người dưới 18 tuổi;
b) Viện kiểm sát cùng cấp;
c) Cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu;
d) Trại tạm giam nơi người chấp
hành án đang bị tạm giam hoặc cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi
người chấp hành án đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ hoặc đang tại ngoại;
đ) Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra
quyết định thi hành án có trụ sở;
e) Bộ Ngoại giao trong trường hợp
người chấp hành án là người nước ngoài.
Điều 23.
Thi hành quyết định thi hành án phạt tù
1. Trường hợp người bị kết án
phạt tù đang bị tạm giam thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
quyết định thi hành án, trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp huyện nơi người bị kết án phạt tù đang bị tạm giam phải
tống đạt quyết định thi hành án cho người bị kết án và báo cáo cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp tỉnh. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được
báo cáo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoàn chỉnh hồ sơ, lập
danh sách người chấp hành án phạt tù để báo cáo cơ quan quản lý thi hành án
hình sự thuộc Bộ Công an. Trường hợp người bị kết án phạt tù đang bị tạm giam tại
trại tạm giam thuộc Bộ Công an thì trại tạm giam phải tống đạt quyết định thi
hành án cho người bị kết án, hoàn chỉnh hồ sơ, lập danh sách để báo cáo cơ quan
quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an. Trường hợp người đang chấp hành
án bị kết án về hành vi phạm tội khác thì trại giam tống đạt quyết định thi
hành án của bản án mới cho người đó.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc
kể từ ngày nhận được báo cáo của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh
hoặc trại tạm giam thuộc Bộ Công an, cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc
Bộ Công an ra quyết định đưa người chấp hành án đi chấp hành án.
2. Trường hợp người bị kết án
phạt tù đang bị tạm giam tại trại tạm giam cấp quân khu thì trong thời hạn 03
ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, trại tạm giam phải tống
đạt quyết định thi hành án cho người bị kết án và báo cáo cơ quan thi hành án
hình sự cấp quân khu. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo
cáo, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu hoàn chỉnh hồ sơ, lập danh sách
người chấp hành án phạt tù để báo cáo cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc
Bộ Quốc phòng. Trường hợp người bị kết án phạt tù đang bị tạm giam tại trại tạm
giam thuộc Bộ Quốc phòng thì trại tạm giam phải tống đạt quyết định thi hành án
cho người bị kết án, hoàn chỉnh hồ sơ, lập danh sách để báo cáo cơ quan quản lý
thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng. Trường hợp người đang chấp hành án bị
kết án về hành vi phạm tội khác thì trại giam tống đạt quyết định thi hành án của
bản án mới cho người đó.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc
kể từ ngày nhận được báo cáo của cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu hoặc
trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ
Quốc phòng ra quyết định đưa người chấp hành án đi chấp hành án.
3. Trong thời gian chờ chuyển đến
nơi chấp hành án phạt tù, người chấp hành án được hưởng chế độ như đối với phạm
nhân.
4. Trường hợp người bị kết án
phạt tù đang tại ngoại thì trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được quyết định
thi hành án, người chấp hành án phải có mặt tại trụ sở cơ quan thi hành án hình
sự Công an cấp huyện hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu được chỉ định
trong quyết định thi hành án; quá thời hạn này mà người đó không có mặt, Cảnh
sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp hoặc Vệ binh hỗ trợ tư pháp thực hiện
áp giải thi hành án.
Trường hợp người bị kết án phạt
tù đang tại ngoại bỏ trốn thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu ra quyết định truy nã và tổ chức truy bắt;
trường hợp người đó có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng
nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp huyện hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thực hiện
trưng cầu giám định; trường hợp kết quả giám định xác định người đó mắc bệnh
tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi
của mình thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án
hình sự cấp quân khu đề nghị Tòa án đã ra quyết định thi hành án quyết định áp
dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh.
Trường hợp người bị kết án phạt
tù đang tại ngoại chết thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan
thi hành án hình sự cấp quân khu báo cáo Tòa án đã ra quyết định thi hành án để
ra quyết định đình chỉ thi hành án.
Điều 24.
Thủ tục hoãn chấp hành án phạt tù
1. Đối với người bị kết án phạt
tù đang được tại ngoại, Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án có thể tự
mình hoặc theo đơn đề nghị của người bị kết án, văn bản đề nghị của Viện kiểm
sát cùng cấp, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành
án cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người chấp hành án làm việc
hoặc cư trú ra quyết định hoãn chấp hành án phạt tù. Đơn đề nghị hoặc văn bản đề
nghị phải được gửi cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án kèm theo các giấy tờ
có liên quan.
2. Trong thời hạn 07 ngày kể từ
ngày nhận được đơn hoặc văn bản đề nghị hoãn chấp hành án phạt tù, Chánh án Tòa
án đã ra quyết định thi hành án phải xem xét, quyết định. Trường hợp không đồng
ý hoãn chấp hành án phạt tù thì Chánh án Tòa án phải có văn bản trả lời người
có đơn đề nghị hoặc cơ quan có văn bản đề nghị và thông báo cho Viện kiểm sát
cùng cấp, trong đó nêu rõ lý do không chấp nhận.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày ra quyết định hoãn chấp hành án phạt tù, Tòa án phải gửi quyết
định đó cho cá nhân, cơ quan sau đây:
a) Người được hoãn chấp hành án
và người đại diện trong trường hợp người được hoãn chấp hành án là người dưới
18 tuổi;
b) Viện kiểm sát cùng cấp;
c) Cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp huyện hoặc Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người được
hoãn thi hành án cư trú, làm việc;
d) Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra
quyết định thi hành án có trụ sở;
đ) Bộ Ngoại giao trong trường hợp
người được hoãn chấp hành án là người nước ngoài.
Điều 25.
Thi hành quyết định hoãn chấp hành án phạt tù
1. Khi nhận được quyết định
hoãn chấp hành án phạt tù của Tòa án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải ngừng việc làm thủ tục đưa
người chấp hành án phạt tù đi chấp hành án, sao gửi quyết định hoãn chấp hành
án phạt tù cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được hoãn chấp hành án cư trú
hoặc đơn vị quân đội được giao quản lý người đó và lập hồ sơ thi hành quyết định
hoãn chấp hành án phạt tù.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày nhận được quyết định hoãn chấp hành án phạt tù, cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải
triệu tập người được hoãn chấp hành án đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc
đơn vị quân đội đang quản lý người đó để thông báo quyết định và yêu cầu người
đó cam kết bằng văn bản chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật. Người được hoãn chấp
hành án phạt tù phải có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả
kháng hoặc trở ngại khách quan. Trường hợp người được hoãn chấp hành án phạt tù
không cam kết thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu lập biên bản và thông báo cho Tòa án đã ra quyết định
hoãn chấp hành án phạt tù để xử lý theo thẩm quyền.
Trường hợp người được hoãn chấp
hành án không có mặt theo yêu cầu triệu tập thì cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phối hợp với Ủy ban
nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội để xác minh và yêu cầu họ có mặt tại trụ sở Ủy
ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội để làm thủ tục thông báo và cam kết chấp
hành nghiêm chỉnh pháp luật.
Trường hợp người được hoãn chấp
hành án vì lý do bệnh nặng đang điều trị tại bệnh viện hoặc tại nhà mà không thể
có mặt theo yêu cầu triệu tập thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã,
đơn vị quân đội và bệnh viện nơi điều trị, gia đình người được hoãn để làm thủ
tục thông báo và cam kết chấp hành pháp luật.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày nhận được bản sao quyết định hoãn chấp hành án phạt tù, Ủy ban
nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý người được hoãn chấp hành án
phải lập hồ sơ quản lý người được hoãn chấp hành án phạt tù.
Hằng tháng, Ủy ban nhân dân cấp
xã, đơn vị quân đội được giao quản lý người được hoãn chấp hành án phạt tù phải
báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình
sự cấp quân khu về việc quản lý người được hoãn chấp hành án.
Người được hoãn chấp hành án
không được đi khỏi nơi cư trú trong thời gian được hoãn chấp hành án nếu không
được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội và phải có mặt theo
yêu cầu triệu tập của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý
người được hoãn chấp hành án.
Việc thay đổi nơi cư trú, nơi
làm việc của người được hoãn chấp hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
Trường hợp người được hoãn chấp
hành án vì lý do bệnh nặng đang điều trị tại bệnh viện ngoài nơi cư trú thì Ủy
ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội có trách nhiệm phối hợp với gia đình để quản
lý người đó.
4. Trong thời gian được hoãn chấp
hành án mà người được hoãn chấp hành án phạt tù lại thực hiện hành vi phạm tội
mới, bỏ trốn hoặc vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an
toàn xã hội thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý người
được hoãn chấp hành án báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để đề nghị Chánh án Tòa án có thẩm quyền
xem xét ra quyết định hủy quyết định hoãn chấp hành án phạt tù.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc
kể từ ngày ra quyết định hủy quyết định hoãn chấp hành án phạt tù, Tòa án phải
gửi quyết định đó cho cá nhân, cơ quan được quy định tại khoản 3
Điều 24 của Luật này. Ngay sau khi nhận được quyết định của Tòa án, cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu
tổ chức thi hành án.
Trường hợp người được hoãn chấp
hành án bỏ trốn thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu ra quyết định truy nã và tổ chức truy bắt.
5. Trong thời gian được hoãn chấp
hành án phạt tù mà người được hoãn chấp hành án chết thì Ủy ban nhân dân cấp
xã, đơn vị quân đội được giao quản lý người được hoãn chấp hành án phải báo cáo
cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự
cấp quân khu để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định hoãn chấp hành án phạt tù
ra quyết định đình chỉ thi hành án và giải quyết các thủ tục có liên quan.
6. Chậm nhất 07 ngày trước khi
hết thời hạn hoãn chấp hành án phạt tù, Chánh án Tòa án đã quyết định hoãn chấp
hành án phạt tù phải thông báo bằng văn bản về việc hết thời hạn hoãn và gửi
ngay cho cá nhân, cơ quan quy định tại khoản 3 Điều 24 của Luật
này. Sau thời hạn 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn hoãn chấp hành án phạt tù
mà người được hoãn không có mặt tại cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để chấp hành án thì Thủ trưởng cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu ra quyết định áp giải thi hành án trừ trường hợp vì lý do bất khả
kháng hoặc trở ngại khách quan.
7. Đối với người được hoãn chấp
hành án phạt tù vì lý do bị bệnh nặng, nếu xét thấy có dấu hiệu phục hồi sức khỏe
mà vẫn lấy lý do về sức khỏe để trốn tránh việc chấp hành án hoặc người được
hoãn chấp hành án phạt tù có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả
năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thì cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp huyện nơi người được hoãn chấp hành án phạt tù cư trú,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi đơn vị quân đội được giao quản lý
người đó có trách nhiệm trưng cầu giám định y khoa tại bệnh viện cấp tỉnh, bệnh
viện cấp quân khu trở lên hoặc trưng cầu giám định pháp y tâm thần tại tổ chức
giám định pháp y tâm thần có thẩm quyền.
Trường hợp kết quả giám định
xác định người được hoãn chấp hành án đã phục hồi sức khỏe thì cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thực hiện
việc đưa người đó đến nơi chấp hành án và thông báo cho Tòa án đã ra quyết định
hoãn chấp hành án.
Trường hợp kết quả giám định
xác định người đó mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc
khả năng điều khiển hành vi của mình thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đề nghị Chánh án Tòa án đã ra
quyết định thi hành án để ra quyết định hủy quyết định hoãn chấp hành án và áp
dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh.
Chi phí giám định do cơ quan
trưng cầu giám định chi trả.
Điều 26. Hồ
sơ đưa người bị kết án đến nơi chấp hành án phạt tù
1. Hồ sơ đưa người bị kết án đến
nơi chấp hành án phạt tù phải có đủ các tài liệu sau đây:
a) Bản án, quyết định của Tòa
án có hiệu lực pháp luật; trường hợp xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm
thì phải có bản án sơ thẩm kèm theo;
b) Quyết định thi hành án phạt
tù;
c) Quyết định của cơ quan quản
lý thi hành án hình sự đưa người chấp hành án phạt tù đến trại giam, trại tạm
giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện;
d) Danh bản của người chấp hành
án phạt tù;
đ) Bản sao hộ chiếu hoặc giấy tờ
chứng minh quốc tịch đối với người chấp hành án phạt tù là người nước ngoài;
e) Phiếu khám sức khỏe và tài
liệu khác có liên quan đến sức khỏe của người chấp hành án phạt tù;
g) Bản nhận xét việc chấp hành
nội quy của trại tạm giam, nhà tạm giữ đối với người bị tạm giam;
h) Tài liệu khác có liên quan.
2. Trường hợp con của người bị
kết án phạt tù theo mẹ vào trại giam thì phải có giấy khai sinh. Trường hợp
chưa có giấy khai sinh thì phải có giấy chứng sinh do cơ quan y tế nơi trẻ em
được sinh ra cấp hoặc văn bản của người làm chứng nếu trẻ em được sinh ra ngoài
cơ sở y tế; trường hợp không có các giấy tờ nêu trên thì phải có báo cáo bằng
văn bản của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, trại tạm giam chuyển
người bị kết án phạt tù đến trại giam để chấp hành án kèm theo giấy cam đoan của
mẹ về việc sinh con. Trại giam có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc đăng ký
khai sinh cho trẻ em theo mẹ vào trại giam theo quy định của pháp luật về đăng
ký, quản lý hộ tịch.
3. Cơ quan quản lý thi hành án
hình sự thuộc Bộ Công an, cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc
phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm hoàn
chỉnh hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều này, tổ chức đưa người bị kết án phạt tù
và hồ sơ kèm theo đến bàn giao cho trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp huyện đã được chỉ định để thi hành án.
Điều 27.
Quyền và nghĩa vụ của phạm nhân
1. Phạm nhân có các quyền sau
đây:
a) Được bảo hộ tính mạng, sức
khỏe, tài sản, tôn trọng danh dự, nhân phẩm; được phổ biến quyền và nghĩa vụ của
mình, nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân;
b) Được bảo đảm chế độ ăn, ở, mặc,
đồ dùng sinh hoạt cá nhân, chăm sóc y tế theo quy định; gửi, nhận thư, nhận
quà, tiền; đọc sách, báo, nghe đài, xem truyền hình phù hợp với điều kiện của
nơi chấp hành án;
c) Được tham gia hoạt động thể
dục, thể thao, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ;
d) Được lao động, học tập, học
nghề;
đ) Được gặp, liên lạc với thân
nhân, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân; đối với phạm nhân là người nước
ngoài được thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự;
e) Được tự mình hoặc thông qua
người đại diện để thực hiện giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật;
g) Được bảo đảm quyền khiếu nại,
tố cáo; được đề nghị xét đặc xá, bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật;
h) Được tham gia bảo hiểm xã hội
tự nguyện, hưởng chế độ, chính sách về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp
luật;
i) Được sử dụng kinh sách, bày
tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật;
k) Được khen thưởng khi có
thành tích trong quá trình chấp hành án.
2. Phạm nhân có các nghĩa vụ
sau đây:
a) Chấp hành bản án, quyết định
của Tòa án có hiệu lực pháp luật, quyết định của cơ quan quản lý thi hành án
hình sự, cơ quan thi hành án hình sự trong quá trình thi hành án hình sự và các
quyết định khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
b) Chấp hành nội quy của cơ sở
giam giữ phạm nhân, các tiêu chuẩn thi đua chấp hành án;
c) Chấp hành yêu cầu, mệnh lệnh,
hướng dẫn của cán bộ cơ sở giam giữ phạm nhân;
d) Lao động, học tập, học nghề
theo quy định;
đ) Phạm nhân làm hư hỏng, làm mất
hoặc hủy hoại tài sản của người khác thì phải bồi thường.
3. Phạm nhân có quyền và nghĩa
vụ khác theo quy định của Luật này.
Điều 28.
Tiếp nhận người chấp hành án phạt tù
1. Trại giam, trại tạm giam, cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện được chỉ định thi hành án phải tiếp
nhận người chấp hành án phạt tù khi có đủ hồ sơ quy định tại khoản
1 Điều 26 của Luật này.
2. Khi tiếp nhận người chấp
hành án phạt tù, trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an
cấp huyện có trách nhiệm sau đây:
a) Kiểm tra thông tin để xác định
đúng người chấp hành án phạt tù theo quyết định thi hành án của Tòa án;
b) Lập biên bản giao nhận người
chấp hành án phạt tù; biên bản bàn giao hồ sơ, tài liệu;
c) Kiểm tra người chấp hành án
phạt tù; kiểm tra và xử lý đồ vật mang theo trước khi đưa vào buồng giam;
d) Tổ chức khám sức khỏe cho
người chấp hành án phạt tù và trẻ em dưới 36 tháng tuổi theo mẹ vào trại giam
(nếu có);
đ) Giải thích quyền, nghĩa vụ của
phạm nhân; phổ biến nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân.
3. Cơ quan tiếp nhận phổ biến
cho phạm nhân thực hiện các quy định sau đây:
a) Chỉ được đưa vào buồng giam
những đồ dùng theo quy định; trường hợp có tư trang chưa dùng đến, có tiền, giấy
tờ có giá, các loại thẻ thanh toán bằng hình thức điện tử, vàng, bạc, đá quý,
kim loại quý thì phải gửi trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp huyện quản lý; trường hợp phạm nhân có nhu cầu được chuyển số tiền,
đồ dùng, tư trang cho thân nhân hoặc người đại diện và tự chịu chi phí thì trại
giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm
thực hiện việc chuyển hoặc giao trực tiếp cho thân nhân hoặc người đại diện của
phạm nhân tại nơi chấp hành án;
b) Không được sử dụng tiền, giấy
tờ có giá tại nơi chấp hành án. Việc phạm nhân mua lương thực, thực phẩm và các
hàng hóa khác để phục vụ đời sống, sinh hoạt tại nơi chấp hành án được thực hiện
bằng hình thức mua qua sổ lưu ký;
c) Không được đưa vào nơi chấp
hành án đồ vật thuộc danh mục cấm do Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng quy định.
4. Trong thời hạn 05 ngày làm
việc kể từ ngày tiếp nhận người chấp hành án, trại giam, trại tạm giam, cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải thông báo cho Tòa án đã ra quyết định
thi hành án, thân nhân của người chấp hành án phạt tù biết và báo cáo cơ quan
quản lý thi hành án hình sự.
Điều 29. Hồ
sơ phạm nhân
1. Hồ sơ, tài liệu theo quy định
tại khoản 1 và khoản 2 Điều 26 của Luật này.
2. Biên bản giao nhận người chấp
hành án phạt tù; biên bản bàn giao hồ sơ, tài liệu; biên bản giao nhận tiền,
tài sản khác của người chấp hành án phạt tù gửi lưu ký hoặc giao cho thân nhân,
người đại diện của họ quản lý; quyết định, biên bản xử lý đồ vật thuộc danh mục
cấm (nếu có).
3. Tài liệu phản ánh kết quả chấp
hành các quy định về thi hành án phạt tù; tài liệu về sức khỏe, khám bệnh, chữa
bệnh; tài liệu liên quan đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của người chấp hành
án phạt tù trong thời gian chấp hành án; tài liệu về việc thực hiện nghĩa vụ
dân sự; biên bản, quyết định kỷ luật về việc vi phạm nội quy cơ sở giam giữ phạm
nhân, pháp luật về thi hành án phạt tù, tài liệu liên quan đến việc giải quyết
khiếu nại, tố cáo, yêu cầu, đề nghị của người chấp hành án, tài liệu về thăm gặp,
tiếp xúc lãnh sự (nếu có).
4. Tài liệu khác có liên quan
trong quá trình chấp hành án.
Điều 30.
Giam giữ phạm nhân
1. Trại giam tổ chức giam giữ
phạm nhân như sau:
a) Khu giam giữ đối với phạm
nhân có mức án phạt tù trên 15 năm, tù chung thân, phạm nhân thuộc trường hợp
tái phạm nguy hiểm;
b) Khu giam giữ đối với phạm
nhân có mức án phạt tù từ 15 năm trở xuống; phạm nhân có mức án phạt tù trên 15
năm đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù và thời hạn chấp hành án còn lại
dưới 15 năm; phạm nhân thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, đã chấp hành một phần
hai thời hạn chấp hành án phạt tù và đã được giảm thời hạn chấp hành án;
c) Buồng kỷ luật đối với phạm
nhân bị kỷ luật.
2. Trong các khu giam giữ quy định
tại khoản 1 Điều này, những phạm nhân dưới đây được bố trí giam giữ riêng:
a) Phạm nhân nữ;
b) Phạm nhân là người dưới 18
tuổi;
c) Phạm nhân là người nước
ngoài;
d) Phạm nhân là người mắc bệnh
truyền nhiễm nhóm A theo quy định của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm;
đ) Phạm nhân có dấu hiệu mắc bệnh
tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi
của mình trong thời gian chờ quyết định của Tòa án;
e) Phạm nhân có con dưới 36
tháng tuổi theo mẹ vào trại giam;
g) Phạm nhân thường xuyên vi phạm
nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân.
3. Phạm nhân là người đồng
tính, người chuyển đổi giới tính, người chưa xác định rõ giới tính có thể được
giam giữ riêng.
4. Trong trại tạm giam, những
phạm nhân quy định tại điểm a và điểm g khoản 2 Điều này được bố trí giam giữ
riêng.
5. Phạm nhân được chia thành
các đội, tổ để lao động, học tập và sinh hoạt. Căn cứ vào tính chất của tội phạm,
mức hình phạt, đặc điểm nhân thân của phạm nhân, kết quả chấp hành án, Giám thị
trại giam, Giám thị trại tạm giam quyết định việc phân loại, chuyển khu giam giữ.
Điều 31.
Chế độ học tập, học nghề của phạm nhân
1. Phạm nhân được phổ biến pháp
luật, giáo dục công dân và được học văn hóa, học nghề. Phạm nhân chưa biết chữ
phải học văn hóa để xóa mù chữ. Phạm nhân là người nước ngoài được khuyến khích
học tiếng Việt. Phạm nhân được bố trí 01 ngày trong tuần để học tập, học nghề,
trừ ngày chủ nhật, lễ, tết theo quy định của pháp luật.
2. Căn cứ yêu cầu quản lý, giáo
dục cải tạo phạm nhân và thời hạn chấp hành án, trại giam, trại tạm giam tổ chức
dạy học cho phạm nhân; căn cứ điều kiện thực tế, cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp huyện tổ chức dạy học cho phạm nhân.
3. Chương trình, nội dung học tập,
học nghề của phạm nhân do Chính phủ quy định.
Điều 32.
Chế độ lao động của phạm nhân
1. Phạm nhân được tổ chức lao động
phù hợp với độ tuổi, sức khỏe và đáp ứng yêu cầu quản lý, giáo dục, hòa nhập cộng
đồng. Phạm nhân lao động phải dưới sự giám sát, quản lý của trại giam, trại tạm
giam. Thời giờ lao động của phạm nhân không quá 08 giờ trong 01 ngày và 05 ngày
trong 01 tuần, được nghỉ vào các ngày chủ nhật, lễ, tết theo quy định của pháp
luật. Trường hợp đột xuất hoặc thời vụ, Giám thị trại giam có thể yêu cầu phạm
nhân làm thêm giờ nhưng không được vượt quá tổng số giờ làm thêm trong ngày
theo quy định của pháp luật về lao động. Trường hợp phạm nhân lao động thêm giờ
hoặc lao động trong ngày nghỉ thì được nghỉ bù hoặc được bồi dưỡng bằng tiền,
hiện vật.
Trại giam phải áp dụng các biện
pháp cần thiết để bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động cho phạm nhân.
2. Phạm nhân nữ được bố trí làm
công việc phù hợp với giới tính; không được bố trí làm công việc không sử dụng
lao động nữ theo quy định của pháp luật về lao động.
3. Phạm nhân bị bệnh hoặc có
nhược điểm về thể chất, tâm thần thì tùy mức độ, tính chất của bệnh và trên cơ
sở chỉ định của y tế trại giam, trại tạm giam được miễn hoặc giảm thời gian lao
động.
4. Phạm nhân được nghỉ lao động
trong các trường hợp sau đây:
a) Phạm nhân bị bệnh, không đủ
sức khỏe lao động và được y tế trại giam xác nhận;
b) Phạm nhân đang điều trị tại
cơ sở y tế;
c) Phạm nhân có con dưới 36
tháng tuổi đang ở cùng mẹ trong trại giam mà bị bệnh, được y tế trại giam xác
nhận;
d) Phạm nhân nữ có thai được
nghỉ lao động trước và sau khi sinh con theo quy định của pháp luật về lao động.
Điều 33. Tổ
chức lao động cho phạm nhân
1. Căn cứ vào độ tuổi, sức khỏe,
giới tính, mức án, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của phạm nhân; điều kiện
đất đai, tài nguyên, ngành, nghề, trang thiết bị, phương tiện, vật tư, nguồn vốn
mà trại giam đang quản lý và điều kiện cụ thể của trại giam; khả năng hợp tác với
tổ chức, cá nhân để tổ chức lao động cho phạm nhân, Giám thị trại giam lập kế
hoạch tổ chức lao động cho phạm nhân trong năm, gửi cơ quan quản lý thi hành án
hình sự thuộc Bộ Công an, cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc
phòng để phê duyệt.
2. Kế hoạch tổ chức lao động
cho phạm nhân hằng năm phải có các nội dung cơ bản sau đây:
a) Tổng số phạm nhân, trong đó
có số lượng phạm nhân đủ điều kiện lao động theo quy định của pháp luật;
b) Dự kiến chi phí cho lao động;
trích khấu hao tài sản cố định;
c) Dự kiến kết quả lao động của
phạm nhân; chênh lệch thu, chi trong tổ chức lao động của phạm nhân;
d) Dự kiến, đề xuất kế hoạch sử
dụng kết quả lao động của phạm nhân.
3. Trại giam tổ chức lao động
cho phạm nhân theo kế hoạch đã được cấp có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều
này phê duyệt.
4. Chính phủ quy định chi tiết
Điều này.
Điều 34. Sử
dụng kết quả lao động của phạm nhân
1. Kết quả lao động của phạm
nhân sau khi trừ các chi phí hợp lý được sử dụng như sau:
a) Bổ sung mức ăn cho phạm
nhân;
b) Lập Quỹ hòa nhập cộng đồng để
chi hỗ trợ cho phạm nhân khi chấp hành xong án phạt tù;
c) Bổ sung vào quỹ phúc lợi,
khen thưởng của trại giam;
d) Chi hỗ trợ đầu tư trở lại
cho trại giam phục vụ việc tổ chức lao động, giáo dục, dạy nghề cho phạm nhân;
nâng cao tay nghề cho phạm nhân chuẩn bị chấp hành xong án phạt tù;
đ) Chi trả một phần công lao động
cho phạm nhân trực tiếp tham gia lao động sản xuất; chi hỗ trợ cho phạm nhân bị
tai nạn lao động.
2. Phạm nhân được sử dụng theo
quy định số tiền thưởng quy định tại điểm c khoản 1 Điều này và số tiền được nhận
quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này hoặc gửi trại giam quản lý và được nhận lại
khi chấp hành xong án phạt tù.
3. Việc thu, chi từ hoạt động
lao động, học nghề của phạm nhân được thực hiện như sau:
a) Trại giam mở sổ sách kế toán
và việc ghi chép, hạch toán nghiệp vụ thu, chi tài chính phát sinh, báo cáo tài
chính thực hiện theo chế độ kế toán hành chính sự nghiệp. Mọi khoản thu, chi từ
hoạt động lao động, học nghề của phạm nhân được phản ánh qua hệ thống sổ sách
tài vụ - kế toán của trại giam;
b) Trại giam tập hợp đầy đủ các
chi phí quy định tại khoản 1 Điều này vào giá thành sản phẩm;
c) Báo cáo kết quả thu, chi từ
hoạt động lao động của phạm nhân trong các trại giam là báo cáo tổng hợp về số
liệu, tình hình và kết quả thu, chi từ hoạt động tổ chức lao động cho phạm
nhân. Giám thị trại giam chịu trách nhiệm lập báo cáo tổng hợp và báo cáo thuyết
minh chi tiết về kết quả thu, chi từ hoạt động lao động của phạm nhân gửi cơ
quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng;
d) Cơ quan quản lý thi hành án
hình sự thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm thẩm định và phê duyệt
báo cáo kết quả thu, chi từ hoạt động lao động của phạm nhân và báo cáo cơ quan
quản lý tài chính của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng để tổng hợp chung vào báo cáo
quyết toán ngân sách hằng năm của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng theo quy định của
pháp luật.
4. Chính phủ quy định chi tiết
Điều này.
Điều 35. Xếp
loại chấp hành án phạt tù
1. Trong thời gian chấp hành án
phạt tù, phạm nhân được nhận xét, đánh giá kết quả chấp hành án phạt tù theo tuần,
tháng, quý, 06 tháng, 01 năm. Việc nhận xét, đánh giá phải bảo đảm khách quan,
công bằng, công khai, dân chủ và bảo đảm tính liên tục.
2. Căn cứ kết quả thực hiện các
tiêu chuẩn thi đua chấp hành án phạt tù, nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân, học
tập, lao động cải tạo, kết quả khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra để
nhận xét, đánh giá và xếp loại chấp hành án phạt tù cho phạm nhân theo một
trong các mức tốt, khá, trung bình, kém.
3. Kết quả xếp loại chấp hành
án phạt tù theo quý, 06 tháng, 01 năm phải bằng văn bản, được lưu hồ sơ phạm
nhân. Phạm nhân lập công thì được nâng mức xếp loại chấp hành án phạt tù.
4. Chính phủ quy định chi tiết
Điều này.
Điều 36.
Thủ tục đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù
1. Thẩm quyền đề nghị tạm đình
chỉ chấp hành án phạt tù được quy định như sau:
a) Trại giam, trại tạm giam thuộc
Bộ Công an, Bộ Quốc phòng;
b) Cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu;
c) Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh,
Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu.
2. Cơ quan có thẩm quyền nơi phạm
nhân đang chấp hành án quy định tại khoản 1 Điều này có trách nhiệm lập hồ sơ đề
nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù và chuyển cho Tòa án có thẩm quyền xem
xét, quyết định.
3. Trong thời hạn 07 ngày kể từ
ngày nhận được hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, Chánh án Tòa án
nhân dân khu vực[5], Chánh án Tòa
án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án phải xem xét, quyết định.
Trường hợp không đồng ý tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù thì Chánh án Tòa án
phải có văn bản thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp và cơ quan đề nghị tạm
đình chỉ, trong đó nêu rõ lý do không chấp nhận.
4. Việc tạm đình chỉ chấp hành
án phạt tù để xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm do người đã kháng
nghị quyết định.
Điều 37.
Thi hành quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù
1. Ngay sau khi ra quyết định tạm
đình chỉ chấp hành án phạt tù, Tòa án phải gửi quyết định đó cho cá nhân, cơ
quan sau đây:
a) Người được tạm đình chỉ và
người đại diện trong trường hợp người được tạm đình chỉ là người dưới 18 tuổi;
b) Cơ quan đề nghị tạm đình chỉ,
trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người
được tạm đình chỉ đang chấp hành án;
c) Cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được tạm đình chỉ về cư
trú, đơn vị quân đội được giao quản lý người đó;
d) Viện kiểm sát cùng cấp;
đ) Tòa án đã ra quyết định thi
hành án;
e) Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra
quyết định tạm đình chỉ có trụ sở;
g) Bộ Ngoại giao trong trường hợp
người được tạm đình chỉ là người nước ngoài.
2. Trường hợp Viện trưởng Viện
kiểm sát quyết định tạm đình chỉ thi hành án phạt tù thì phải gửi quyết định đó
cho Sở Tư pháp nơi Viện kiểm sát đã ra quyết định có trụ sở và cá nhân, cơ quan
quy định tại các điểm a, b, c, đ và g khoản 1 Điều này.
3. Trại giam, trại tạm giam, cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện đang quản lý người được tạm đình chỉ
tổ chức giao người được tạm đình chỉ cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó về
cư trú, đơn vị quân đội được giao quản lý người đó; thân nhân của người được tạm
đình chỉ có trách nhiệm tiếp nhận người được tạm đình chỉ.
Trường hợp người được tạm đình
chỉ bị bệnh nặng đang phải điều trị tại bệnh viện thì trại giam, trại tạm giam,
cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện giao người được tạm đình chỉ cho
thân nhân người đó tại bệnh viện, lập biên bản giao người, thông báo và gửi
biên bản giao người cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan
thi hành án hình sự cấp quân khu. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện
nơi người đó về cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu được giao quản
lý có trách nhiệm phối hợp với thân nhân của người đó để theo dõi, quản lý người
được tạm đình chỉ trong thời gian người đó điều trị tại bệnh viện. Trường hợp
người được tạm đình chỉ xuất viện thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
huyện nơi người đó về cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu được
giao quản lý giao người được tạm đình chỉ cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người
đó về cư trú, đơn vị quân đội được giao quản lý.
4. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày nhận được quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu
nơi người được tạm đình chỉ về cư trú có trách nhiệm lập hồ sơ thi hành quyết định
tạm đình chỉ.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc
kể từ ngày nhận bàn giao người được tạm đình chỉ hoặc biên bản giao người được
tạm đình chỉ, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được tạm đình chỉ về cư trú, đơn
vị quân đội được giao quản lý người được tạm đình chỉ có trách nhiệm lập hồ sơ
quản lý người được tạm đình chỉ.
Trong thời gian tạm đình chỉ,
người được tạm đình chỉ không được đi khỏi nơi cư trú nếu không được sự đồng ý
của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó về cư trú, đơn vị quân đội được giao quản
lý; báo cáo về tình hình chấp hành pháp luật theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp
xã nơi người đó về cư trú, đơn vị quân đội được giao quản lý; phải tự giác
trình báo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án
hình sự cấp quân khu khi hết thời hạn tạm đình chỉ hoặc khi sức khỏe hồi phục để
tiếp tục chấp hành án.
Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người
đó về cư trú, đơn vị quân đội được giao quản lý người được tạm đình chỉ có
trách nhiệm theo dõi, giám sát người được tạm đình chỉ, xem xét, giải quyết cho
người đó được đi khỏi nơi cư trú, nơi làm việc; triệu tập người được tạm đình
chỉ để yêu cầu báo cáo việc chấp hành pháp luật trong thời gian tạm đình chỉ; hằng
tháng phải báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành
án hình sự cấp quân khu về việc quản lý người được tạm đình chỉ.
5. Việc tiếp tục thi hành án đối
với người được tạm đình chỉ thực hiện như sau:
a) Chậm nhất 07 ngày trước khi
hết thời hạn tạm đình chỉ, Chánh án Tòa án đã quyết định tạm đình chỉ chấp hành
án phạt tù phải thông báo bằng văn bản và gửi ngay thông báo đó cho cá nhân, cơ
quan quy định tại khoản 1 Điều này. Sau thời hạn 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn
tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù mà người được tạm đình chỉ không có mặt tại
cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu để chấp hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
huyện, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu ra quyết định áp giải
thi hành án, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan;
b) Đối với người được tạm đình
chỉ chấp hành án phạt tù vì lý do bị bệnh nặng, nếu xét thấy có dấu hiệu phục hồi
sức khỏe mà vẫn lấy lý do về sức khỏe để trốn tránh việc chấp hành án hoặc người
được tạm đình chỉ chấp hành án có dấu hiệu mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất
khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp huyện nơi người được tạm đình chỉ cư trú, cơ quan thi hành
án hình sự cấp quân khu nơi đơn vị được giao quản lý người đó có trách nhiệm
trưng cầu giám định y khoa tại bệnh viện cấp tỉnh, bệnh viện cấp quân khu trở
lên hoặc trưng cầu giám định pháp y tâm thần tại tổ chức giám định pháp y tâm
thần có thẩm quyền.
Trường hợp kết quả giám định
xác định người được tạm đình chỉ chấp hành án đã phục hồi sức khỏe thì cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu
thực hiện việc đưa người đó đến nơi chấp hành án và thông báo cho Tòa án đã ra
quyết định tạm đình chỉ.
Trường hợp kết quả giám định
xác định người đó mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc
khả năng điều khiển hành vi thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đề nghị Tòa án đã ra quyết định thi
hành án để ra quyết định hủy quyết định tạm đình chỉ và áp dụng biện pháp tư
pháp bắt buộc chữa bệnh.
Chi phí giám định do cơ quan
trưng cầu giám định chi trả.
6. Trong thời gian được tạm
đình chỉ, người được tạm đình chỉ lại thực hiện hành vi phạm tội mới, bỏ trốn
hoặc vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội
thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được tạm đình chỉ cư trú, đơn vị quân đội
được giao quản lý người tạm đình chỉ báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để thông báo cho Tòa án
đã ra quyết định tạm đình chỉ. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận
được thông báo, Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ phải xem xét ra quyết định
hủy quyết định tạm đình chỉ và gửi quyết định đó cho cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, Viện kiểm sát cùng
cấp.
Trường hợp người được tạm đình
chỉ bỏ trốn, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án
hình sự cấp quân khu ra quyết định truy nã và tổ chức truy bắt.
7. Trường hợp người được tạm
đình chỉ chết, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú, đơn vị quân đội được
giao quản lý người đó báo cáo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định
tạm đình chỉ và Tòa án đã ra quyết định thi hành án. Trường hợp người được tạm
đình chỉ chết khi đang điều trị tại bệnh viện theo quy định tại khoản 3 Điều
này thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình
sự cấp quân khu thông báo cho Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ và Tòa án đã
ra quyết định thi hành án, Viện kiểm sát cùng cấp.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc
kể từ ngày nhận được thông báo, Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết
định đình chỉ thi hành án và gửi cho cơ quan quy định tại các điểm b, c, d, e
và g khoản 1 Điều này và Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án.
Điều 38.
Thủ tục giảm thời hạn chấp hành án phạt tù
1. Cơ quan có thẩm quyền quy định
tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 36 của Luật này có quyền đề
nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù.
2. Cơ quan có thẩm quyền đề nghị
giảm thời hạn chấp hành án phạt tù có trách nhiệm lập hồ sơ và chuyển cho Tòa
án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành
án xem xét, quyết định, đồng thời gửi 01 bộ hồ sơ đến Viện kiểm sát cùng cấp với
Tòa án. Hồ sơ bao gồm:
a) Bản sao bản án; trường hợp
xét giảm án từ lần hai thì bản sao bản án được thay bằng bản sao quyết định thi
hành án;
b) Văn bản của cơ quan có thẩm
quyền đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù;
c) Kết quả xếp loại chấp hành
án phạt tù theo quý, 06 tháng, 01 năm; quyết định khen thưởng hoặc giấy xác nhận
của cơ quan có thẩm quyền về việc phạm nhân lập công;
d) Kết luận của bệnh viện, hội
đồng giám định y khoa cấp tỉnh, cấp quân khu trở lên về tình trạng bệnh tật đối
với trường hợp phạm nhân bị bệnh hiểm nghèo hoặc tài liệu thể hiện phạm nhân là
người quá già yếu;
đ) Bản sao quyết định giảm thời
hạn chấp hành án phạt tù đối với trường hợp đã được giảm;
e) Tài liệu chứng minh kết quả
bồi thường nghĩa vụ dân sự của người được đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt
tù.
3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được hồ sơ đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, Chánh án Tòa
án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang
chấp hành án thành lập Hội đồng và tổ chức phiên họp để xét, quyết định giảm thời
hạn chấp hành án phạt tù. Thành phần Hội đồng gồm 03 Thẩm phán; phiên họp có sự
tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ phải bổ
sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn mở phiên họp được tính từ ngày nhận
được hồ sơ bổ sung.
4. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày ra quyết định về việc giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, Tòa
án phải gửi quyết định đó cho người chấp hành án, cơ quan đề nghị giảm thời hạn
chấp hành án, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, Tòa án
đã ra quyết định thi hành án, Sở Tư pháp nơi Tòa án ra quyết định giảm thời hạn
chấp hành án phạt tù có trụ sở, Bộ Ngoại giao trong trường hợp người được giảm
thời hạn chấp hành án là người nước ngoài.
5. Việc xét giảm thời hạn chấp
hành án phạt tù được thực hiện mỗi năm 03 đợt. Người chấp hành án mỗi năm chỉ
được xét giảm thời hạn chấp hành án 01 lần. Trường hợp sau khi được giảm thời hạn
chấp hành án mà có lý do đặc biệt đáng được khoan hồng thêm như đã lập công, đã
quá già yếu hoặc bị bệnh hiểm nghèo thì có thể được xét giảm tiếp nhưng không
quá 02 lần trong 01 năm.
Điều 39.
Thủ tục miễn chấp hành án phạt tù
1. Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh,
Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu nơi người chấp hành án phạt tù đang cư trú
hoặc làm việc lập hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp
quân khu xét miễn chấp hành án phạt tù. Hồ sơ bao gồm:
a) Bản sao bản án, quyết định của
Tòa án có hiệu lực pháp luật;
b) Văn bản đề nghị của Viện trưởng
Viện kiểm sát có thẩm quyền;
c) Đơn xin miễn chấp hành án phạt
tù của người bị kết án;
d) Đối với người bị kết án đã lập
công hoặc lập công lớn thì phải có bản tường trình có xác nhận của cơ quan có
thẩm quyền; đối với người bị kết án bị bệnh hiểm nghèo thì phải có kết luận của
bệnh viện, hội đồng giám định y khoa cấp tỉnh, cấp quân khu trở lên; đối với
người bị kết án chấp hành tốt pháp luật, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó
khăn thì phải có xác nhận của chính quyền địa phương nơi người đó cư trú.
2. Trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được hồ sơ đề nghị miễn chấp hành án phạt tù, Chánh án Tòa án có thẩm
quyền thành lập Hội đồng và tổ chức phiên họp để xét, quyết định miễn chấp hành
án phạt tù. Thành phần Hội đồng gồm 03 Thẩm phán; phiên họp có sự tham gia của
Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ phải bổ sung theo yêu cầu
của Tòa án thì thời hạn mở phiên họp được tính từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày ra quyết định về việc miễn chấp hành án phạt tù, Tòa án phải gửi
quyết định đó cho người chấp hành án, Viện kiểm sát đề nghị, Viện kiểm sát cấp
trên trực tiếp, cơ quan thi hành án hình sự cùng cấp, Tòa án đã ra quyết định
thi hành án, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được miễn chấp hành án cư trú,
đơn vị quân đội được giao quản lý người đó, Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định
có trụ sở, Bộ Ngoại giao trong trường hợp người được miễn chấp hành án là người
nước ngoài.
4. Ngay sau khi nhận được quyết
định miễn chấp hành án phạt tù, trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp huyện phải làm thủ tục trả tự do cho người được miễn chấp
hành án và báo cáo kết quả cho cơ quan quản lý thi hành án hình sự hoặc cơ quan
thi hành án hình sự cấp trên.
Điều 40.
Thực hiện trích xuất phạm nhân
1. Cơ quan, người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng khi có yêu cầu trích xuất phạm nhân phải gửi văn bản yêu cầu
cho cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi cơ quan, người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng có yêu cầu trích xuất để yêu cầu người có thẩm quyền quy định
tại khoản 2 Điều này ra lệnh trích xuất. Khi nhận được yêu cầu trích xuất phạm
nhân, người có thẩm quyền phải ra lệnh trích xuất.
2. Thẩm quyền trích xuất phạm
nhân để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử được thực hiện như sau:
a) Thủ trưởng cơ quan quản lý
thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an ra lệnh trích xuất đối với phạm nhân đang
chấp hành án tại trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an;
b) Thủ trưởng cơ quan quản lý
thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng ra lệnh trích xuất đối với phạm nhân
đang chấp hành án tại trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng; Thủ trưởng
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu ra lệnh trích xuất đối với phạm nhân
đang chấp hành án tại trại giam, trại tạm giam cấp quân khu;
c) Thủ trưởng cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp tỉnh ra lệnh trích xuất đối với phạm nhân đang chấp hành
án tại trại tạm giam hoặc phạm nhân do cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
huyện trực tiếp quản lý.
3. Trường hợp trích xuất phạm
nhân để phục vụ yêu cầu quản lý giam giữ, giáo dục cải tạo, khám bệnh, chữa bệnh
hoặc để chăm sóc con của phạm nhân đang ở cùng mẹ trong cơ sở giam giữ phạm
nhân phải đưa đi khám và điều trị bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì Giám
thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp huyện ra lệnh trích xuất.
4. Lệnh trích xuất phạm nhân phải
có các nội dung sau đây:
a) Cơ quan, họ, tên, chức vụ, cấp
bậc người ra lệnh;
b) Họ, tên, ngày, tháng, năm
sinh, nơi cư trú, ngày bị bắt, tội danh, thời hạn và nơi phạm nhân đang chấp
hành án phạt tù;
c) Mục đích và thời hạn trích
xuất;
d) Cơ quan, người nhận phạm
nhân được trích xuất (nếu có);
đ) Ngày, tháng, năm ra lệnh; chữ
ký của người ra lệnh và đóng dấu.
5. Giám thị trại giam, Giám thị
trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có
trách nhiệm kiểm tra, bàn giao, lập biên bản giao nhận phạm nhân được trích xuất.
Trường hợp thời hạn trích xuất từ 02 tháng trở lên và thời gian trích xuất bằng
thời gian chấp hành án phạt tù còn lại của phạm nhân được trích xuất thì bàn
giao phạm nhân cùng với hồ sơ và giấy tờ, đồ vật, tiền, tài sản khác (nếu có) của
phạm nhân được trích xuất để cơ quan, người có thẩm quyền nhận phạm nhân trích
xuất cấp giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù khi hết thời hạn và ghi sổ
theo dõi trích xuất.
Cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu nơi cơ quan, người tiến hành tố tụng có yêu cầu
trích xuất có nhiệm vụ tiếp nhận, áp giải, quản lý phạm nhân và hồ sơ phạm nhân
được trích xuất trong thời gian trích xuất.
6. Trường hợp đưa phạm nhân được
trích xuất ra khỏi nơi chấp hành án thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu tiếp nhận phạm nhân được trích
xuất phải bảo đảm chế độ ăn, ở, sinh hoạt cho người đó theo quy định của pháp
luật trong thời gian trích xuất. Căn cứ lệnh trích xuất, trại tạm giam hoặc nhà
tạm giữ nơi cơ quan điều tra, truy tố, xét xử có yêu cầu phải quản lý phạm nhân
được trích xuất theo quy định của pháp luật.
7. Trường hợp không đưa phạm
nhân được trích xuất ra khỏi nơi chấp hành án thì trại giam, trại tạm giam, cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện bảo đảm chế độ ăn, ở, sinh hoạt và
quản lý phạm nhân đó ngoài thời gian cơ quan, người nhận phạm nhân được trích
xuất làm việc với phạm nhân.
8. Hết thời hạn trích xuất, cơ
quan nhận phạm nhân được trích xuất phải gửi thông báo cho cơ quan quản lý thi
hành án hình sự thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu và bàn giao phạm
nhân được trích xuất cho trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp huyện để tiếp tục thi hành án, trừ trường hợp thời hạn trích xuất bằng
thời gian chấp hành án phạt tù còn lại quy định tại khoản 5 Điều này; nếu có
nhu cầu tiếp tục trích xuất thì đề nghị gia hạn trích xuất; thời hạn trích xuất
và gia hạn trích xuất không được kéo dài hơn thời hạn chấp hành án phạt tù còn
lại của phạm nhân.
9. Thời gian trích xuất được
tính vào thời hạn chấp hành án phạt tù, trừ trường hợp phạm nhân đó bỏ trốn
trong thời gian được trích xuất.
Việc trích xuất không ảnh hưởng
đến việc xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, tha tù trước thời hạn có điều
kiện của phạm nhân.
Điều 41.
Khen thưởng phạm nhân
1. Trong thời gian chấp hành án
phạt tù, phạm nhân chấp hành tốt nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân, có thành
tích trong lao động, học tập hoặc lập công thì được khen thưởng theo một hoặc
nhiều hình thức sau đây:
a) Biểu dương;
b) Thưởng tiền hoặc hiện vật;
c) Tăng số lần được liên lạc bằng
điện thoại, số lần gặp thân nhân, số lần và số lượng quà được nhận.
2. Giám thị trại giam, Giám thị
trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Giám thị trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, Thủ
trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu quyết định khen thưởng phạm nhân. Việc khen thưởng
phải bằng văn bản, được lưu vào hồ sơ phạm nhân. Phạm nhân được khen thưởng có
thể được đề nghị xét nâng mức giảm thời hạn chấp hành án phạt tù theo quy định
của pháp luật.
Điều 42.
Giải quyết trường hợp phạm nhân bỏ trốn
1. Khi phạm nhân bỏ trốn, trại
giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải
tổ chức truy bắt ngay, báo cáo về cơ quan quản lý thi hành án hình sự và thông
báo cho Viện kiểm sát có thẩm quyền. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi phát hiện
phạm nhân bỏ trốn mà việc truy bắt không có kết quả thì Giám thị trại giam,
Giám thị trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Giám thị trại tạm giam thuộc Bộ Quốc
phòng, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải ra quyết định truy nã và tổ chức
truy bắt.
Mọi trường hợp phạm nhân bỏ trốn
đều phải được lập biên bản, áp dụng các biện pháp ngăn chặn, điều tra, xử lý
theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.
2. Phạm nhân đã bỏ trốn ra đầu
thú thì cơ quan tiếp nhận phạm nhân đầu thú lập biên bản, xử lý theo thẩm quyền
hoặc giao phạm nhân đó cho cơ quan thi hành án hình sự nơi gần nhất để xử lý
theo quy định của pháp luật.
Điều 43. Xử
lý phạm nhân vi phạm
1. Phạm nhân vi phạm nội quy cơ
sở giam giữ phạm nhân hoặc có hành vi vi phạm pháp luật thì tùy theo tính chất,
mức độ vi phạm mà bị kỷ luật bằng một trong các hình thức sau đây:
a) Khiển trách;
b) Cảnh cáo;
c) Giam tại buồng kỷ luật đến
10 ngày.
2. Trong thời gian bị giam tại
buồng kỷ luật, phạm nhân không được gặp thân nhân và có thể bị cùm chân. Không
áp dụng cùm chân đối với phạm nhân nữ, phạm nhân là người dưới 18 tuổi, phạm
nhân là người già yếu.
3. Giám thị trại giam, Giám thị
trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện quyết định
kỷ luật phạm nhân bằng văn bản và lưu hồ sơ phạm nhân.
4. Trường hợp hành vi vi phạm của
phạm nhân có dấu hiệu của tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Giám thị trại
giam thì Giám thị trại giam ra quyết định khởi tố vụ án, tiến hành một số hoạt
động điều tra theo quy định của pháp luật. Trường hợp không thuộc thẩm quyền điều
tra của mình thì phải kiến nghị cơ quan điều tra có thẩm quyền khởi tố theo quy
định của pháp luật.
Trường hợp hành vi vi phạm của
phạm nhân đang giam giữ tại trại tạm giam, nhà tạm giữ Công an cấp huyện có dấu
hiệu của tội phạm thì Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp huyện kiến nghị cơ quan điều tra có thẩm quyền khởi tố theo
quy định của pháp luật.
5. Chính phủ quy định chi tiết
Điều này.
Điều 44.
Thông báo tình hình chấp hành án; phối hợp với gia đình phạm nhân, cơ quan, tổ
chức, cá nhân tham gia giáo dục cải tạo phạm nhân
1. Trại giam, trại tạm giam, cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm định kỳ 06 tháng 01 lần
thông báo tình hình chấp hành án của phạm nhân cho thân nhân của họ.
2. Trại giam, trại tạm giam, cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phối hợp với gia đình phạm nhân,
chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức, cá nhân quan tâm động viên phạm nhân
tích cực học tập, lao động, rèn luyện để được hưởng sự khoan hồng của Nhà nước;
hỗ trợ các hoạt động giáo dục, dạy nghề cho phạm nhân và chuẩn bị các điều kiện
cần thiết để phạm nhân tái hòa nhập cộng đồng sau khi chấp hành xong án phạt
tù.
Điều 45.
Tái hòa nhập cộng đồng
1. Trại giam, trại tạm giam, cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm tổ chức chuẩn bị tái
hòa nhập cộng đồng trước khi phạm nhân chấp hành xong án phạt tù, được đặc xá,
tha tù trước thời hạn có điều kiện. Nội dung chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng
bao gồm:
a) Tư vấn tâm lý, hỗ trợ các thủ
tục pháp lý;
b) Định hướng nghề nghiệp, tìm
kiếm việc làm;
c) Hỗ trợ một phần kinh phí từ
Quỹ hòa nhập cộng đồng của trại giam.
2. Kinh phí bảo đảm cho việc thực
hiện tái hòa nhập cộng đồng bao gồm:
a) Kinh phí do ngân sách nhà nước
cấp;
b) Quỹ hòa nhập cộng đồng của
trại giam và các quỹ khác theo quy định của pháp luật;
c) Nguồn đóng góp tự nguyện của
cơ quan, tổ chức, cá nhân và các nguồn thu hợp pháp khác.
3. Nhà nước khuyến khích cơ
quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân tạo điều kiện, giúp đỡ người chấp hành xong án
phạt tù, người được đặc xá, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện tái
hòa nhập cộng đồng bằng các biện pháp sau đây:
a) Thông tin, truyền thông,
giáo dục về tái hòa nhập cộng đồng;
b) Dạy nghề, giải quyết việc
làm;
c) Trợ giúp về tâm lý và hỗ trợ
các thủ tục pháp lý;
d) Các biện pháp hỗ trợ khác.
4. Chính phủ quy định chi tiết
Điều này.
Điều 46.
Trả tự do cho phạm nhân
1. Hai tháng trước khi phạm
nhân hết thời hạn chấp hành án phạt tù, trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công
an, Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an
cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan, tổ chức nơi người chấp hành xong án
phạt tù về cư trú, làm việc, Bộ Ngoại giao trong trường hợp phạm nhân là người
nước ngoài. Nội dung thông báo bao gồm kết quả chấp hành án phạt tù, hình phạt
bổ sung mà phạm nhân còn phải chấp hành và thông tin cần thiết khác có liên
quan để xem xét, sắp xếp, tạo lập cuộc sống bình thường cho người đó.
Trường hợp không xác định được
nơi người chấp hành xong án phạt tù về cư trú thì trại giam, trại tạm giam thuộc
Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu đề nghị với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi phạm
nhân chấp hành án hoặc cơ quan, tổ chức khác để tiếp nhận người chấp hành xong
án phạt tù về cư trú.
2. Vào ngày cuối cùng của thời
hạn chấp hành án phạt tù, trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu hoàn chỉnh thủ tục
theo quy định của pháp luật để trả tự do cho phạm nhân; cấp giấy chứng nhận chấp
hành xong án phạt tù cho người đã chấp hành xong án phạt tù, cấp khoản tiền từ
Quỹ hòa nhập cộng đồng, cấp tiền tàu xe, tiền ăn trong thời gian đi đường trở về
nơi cư trú hoặc nơi làm việc; trả lại đầy đủ giấy tờ, đồ vật, tiền, tài sản
khác mà phạm nhân đã gửi tại nơi chấp hành án phạt tù quản lý.
3. Trường hợp phạm nhân được
trích xuất để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử mà thời gian trích xuất từ 02
tháng trở lên và thời gian trích xuất bằng thời gian chấp hành án phạt tù còn lại
thì cơ quan có thẩm quyền nhận phạm nhân được trích xuất có trách nhiệm thông
báo theo quy định tại khoản 1 Điều này, cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án
phạt tù, trả tự do cho người được trích xuất và giải quyết các thủ tục, nghĩa vụ,
quyền, lợi ích có liên quan của người được trích xuất theo quy định tại khoản 2
Điều này nếu người đó không bị tạm giam về tội khác theo quyết định của cơ quan
tiến hành tố tụng có thẩm quyền.
4. Phạm nhân là người nước
ngoài đã chấp hành xong án phạt tù thì được cấp giấy chứng nhận chấp hành xong
án phạt tù và lưu trú tại cơ sở lưu trú do cơ quan quản lý thi hành án hình sự
chỉ định trong thời gian chờ làm thủ tục xuất cảnh.
5. Cơ quan đã cấp giấy chứng nhận
chấp hành xong án phạt tù có trách nhiệm gửi giấy chứng nhận đó cho Trung tâm
lý lịch tư pháp quốc gia, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, cơ quan chịu
trách nhiệm thi hành các hình phạt bổ sung, cơ quan được thông báo quy định tại
khoản 1 Điều này và thông báo bằng văn bản cho cơ quan thi hành phần dân sự
trong bản án, quyết định hình sự.
Điều 47.
Thi hành quyết định tiếp nhận, chuyển giao đối với người đang chấp hành án phạt
tù
1. Thi hành quyết định tiếp nhận
người đang chấp hành án phạt tù từ nước ngoài về Việt Nam để chấp hành án được
thực hiện như sau:
a) Khi có quyết định thi hành
quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù được chuyển giao từ nước
ngoài về Việt Nam để chấp hành án, Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư
pháp tổ chức tiếp nhận và bàn giao người bị kết án cho trại giam theo quyết định
của cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an;
b) Chế độ quản lý giam giữ,
giáo dục cải tạo, quyền, nghĩa vụ của người chấp hành án phạt tù được chuyển
giao được thực hiện theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật
có liên quan.
2. Thi hành quyết định chuyển
giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài được thực hiện
như sau:
a) Khi nhận được quyết định thi
hành quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước
ngoài, trại giam có trách nhiệm bàn giao phạm nhân cho Cảnh sát thi hành án
hình sự và hỗ trợ tư pháp. Việc bàn giao phải được lập biên bản, lưu hồ sơ phạm
nhân;
b) Cảnh sát thi hành án hình sự
và hỗ trợ tư pháp có nhiệm vụ áp giải người được chuyển giao đến địa điểm và
vào thời gian do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và nước yêu cầu chuyển giao
thỏa thuận trước bằng văn bản.
3. Chính phủ quy định chi tiết
Điều này.
Mục 2. CHẾ
ĐỘ ĂN, MẶC, Ở, SINH HOẠT, CHĂM SÓC Y TẾ ĐỐI VỚI PHẠM NHÂN
Điều 48.
Chế độ ăn, ở đối với phạm nhân
1. Phạm nhân được bảo đảm tiêu
chuẩn định lượng về gạo, rau xanh, thịt, cá, đường, muối, nước mắm, dầu ăn, bột
ngọt, chất đốt. Đối với phạm nhân lao động nặng nhọc, độc hại theo quy định của
pháp luật thì định lượng ăn được tăng thêm nhưng không quá 02 lần tiêu chuẩn ăn
ngày thường. Ngày lễ, tết theo quy định của pháp luật, phạm nhân được ăn thêm
nhưng mức ăn không quá 05 lần tiêu chuẩn ăn ngày thường.
Căn cứ yêu cầu bảo đảm sức khỏe
của phạm nhân trong quá trình giam giữ, lao động, học tập tại nơi chấp hành án,
Chính phủ quy định cụ thể định mức ăn phù hợp với điều kiện kinh tế, ngân sách
và biến động giá cả thị trường. Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ
trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có thể quyết định hoán đổi
định lượng ăn cho phù hợp với thực tế để phạm nhân có thể ăn hết tiêu chuẩn.
2. Ngoài tiêu chuẩn ăn quy định
tại khoản 1 Điều này, phạm nhân được sử dụng quà, tiền của mình để ăn thêm
nhưng không được quá 03 lần định lượng trong 01 tháng cho mỗi phạm nhân.
3. Phạm nhân được bảo đảm ăn, uống
hợp vệ sinh. Việc nấu ăn cho phạm nhân do phạm nhân đảm nhiệm dưới sự giám sát,
kiểm tra của trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
huyện.
Bếp ăn cho phạm nhân được cấp
các dụng cụ cần thiết cho việc nấu ăn, đun nước uống và chia đồ ăn cho phạm
nhân theo khẩu phần tiêu chuẩn.
4. Phạm nhân được ở theo buồng
giam tập thể, trừ phạm nhân đang bị giam riêng theo quy định tại các điểm d, đ, e, g khoản 2 và khoản 3 Điều 30 của Luật này. Chỗ nằm
tối thiểu của mỗi phạm nhân là 02 m2. Đối với phạm nhân có con nhỏ ở
cùng thì được bố trí chỗ nằm tối thiểu là 03 m2.
Điều 49.
Chế độ mặc và tư trang của phạm nhân
Phạm nhân được cấp quần áo theo
mẫu thống nhất, khăn mặt, chăn, chiếu, màn, dép, mũ hoặc nón, xà phòng, kem và
bàn chải đánh răng; phạm nhân nữ được cấp thêm đồ dùng cần thiết cho vệ sinh của
phụ nữ. Phạm nhân tham gia lao động được cấp thêm quần áo để lao động và căn cứ
vào điều kiện công việc cụ thể được cấp dụng cụ bảo hộ lao động cần thiết.
Chính phủ quy định chi tiết Điều
này.
Điều 50.
Chế độ hoạt động thể dục, thể thao, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ và sử dụng kinh
sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo của phạm nhân
1. Phạm nhân được hoạt động thể
dục, thể thao, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, đọc sách, báo, nghe đài, xem truyền
hình phù hợp với điều kiện của nơi chấp hành án.
Mỗi phân trại của trại giam có
thư viện, khu vui chơi, sân thể thao, được trang bị một hệ thống truyền thanh nội
bộ, mỗi buồng giam tập thể được trang bị 01 ti vi.
2. Thời gian hoạt động thể dục,
thể thao, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, đọc sách, báo, nghe đài, xem truyền hình
của phạm nhân được thực hiện theo nội quy trại giam.
3. Phạm nhân theo tôn giáo được
sử dụng kinh sách xuất bản dưới hình thức sách in, phát hành hợp pháp và được
bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật về tín ngưỡng,
tôn giáo.
Điều 51.
Chế độ đối với phạm nhân nữ có thai, nuôi con dưới 36 tháng tuổi
1. Phạm nhân nữ có thai nếu
không được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù thì được bố trí nơi giam hợp lý,
được khám thai định kỳ hoặc đột xuất, được chăm sóc y tế trong trường hợp cần
thiết, được giảm thời gian lao động, được hưởng chế độ ăn, uống bảo đảm sức khỏe.
2. Phạm nhân nữ có thai được
nghỉ lao động trước và sau khi sinh con theo quy định của pháp luật về lao động.
Trong thời gian nghỉ sinh con, phạm nhân được bảo đảm tiêu chuẩn, định lượng ăn
theo chỉ dẫn của y sỹ hoặc bác sỹ, được cấp phát thực phẩm, đồ dùng cần thiết
cho việc chăm sóc trẻ sơ sinh. Phạm nhân nữ nuôi con dưới 36 tháng tuổi được bố
trí thời gian phù hợp để chăm sóc, nuôi dưỡng con.
3. Trẻ em dưới 36 tháng tuổi,
trẻ em từ 36 tháng tuổi trở lên trong thời gian chờ đưa vào cơ sở bảo trợ xã hội
là con của phạm nhân ở cùng mẹ trong trại giam được hưởng chế độ ăn, mặc, ở, cấp
phát nhu yếu phẩm và được chăm sóc y tế, khám chữa bệnh để bảo đảm thực hiện
quyền của trẻ em theo quy định của Luật Trẻ em.
4. Trại giam, trại tạm giam, cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm làm thủ tục đề nghị
đăng ký khai sinh cho con của phạm nhân. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi phạm nhân
chấp hành án có trách nhiệm đăng ký và cấp giấy khai sinh.
5. Phạm nhân nữ có con từ 36
tháng tuổi trở lên phải gửi con về cho thân nhân nuôi dưỡng. Trường hợp con của
phạm nhân không có thân nhân nhận nuôi dưỡng thì trại giam, trại tạm giam thuộc
Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải đề nghị cơ quan chuyên môn về lao động,
thương binh và xã hội thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi phạm nhân chấp hành án
chỉ định cơ sở bảo trợ xã hội tiếp nhận, nuôi dưỡng. Trong thời hạn 15 ngày kể
từ ngày nhận được đề nghị, cơ quan chuyên môn về lao động, thương binh và xã hội
thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải chỉ định cơ sở bảo trợ xã hội có trách nhiệm
tiếp nhận, nuôi dưỡng. Người chấp hành xong án phạt tù được nhận lại con đang
được cơ sở bảo trợ xã hội nuôi dưỡng.
6. Trại giam phải tổ chức nhà
trẻ ngoài khu giam giữ để chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em là con của phạm nhân dưới
36 tháng tuổi và con của phạm nhân từ 36 tháng tuổi trở lên trong thời gian chờ
làm thủ tục đưa vào cơ sở bảo trợ xã hội.
7. Chính phủ quy định chi tiết
Điều này.
Điều 52.
Chế độ gặp, nhận quà của phạm nhân
1. Phạm nhân được gặp thân nhân
01 lần trong 01 tháng, mỗi lần gặp không quá 01 giờ. Căn cứ kết quả xếp loại chấp
hành án, yêu cầu giáo dục cải tạo, thành tích lao động, học tập của phạm nhân,
Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình
sự Công an cấp huyện quyết định kéo dài thời gian gặp thân nhân nhưng không quá
03 giờ hoặc được gặp vợ, chồng ở phòng riêng không quá 24 giờ. Phạm nhân được
khen thưởng hoặc lập công thì được gặp thân nhân thêm 01 lần trong 01 tháng.
Phạm nhân vi phạm nội quy cơ sở
giam giữ phạm nhân thì 02 tháng được gặp thân nhân 01 lần, mỗi lần không quá 01
giờ.
2. Trường hợp đại diện cơ quan,
tổ chức hoặc cá nhân khác có đề nghị được gặp phạm nhân thì Giám thị trại giam,
Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện
xem xét, quyết định.
3. Khi gặp thân nhân, đại diện
cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác, phạm nhân được nhận thư, tiền, đồ vật, trừ
đồ vật thuộc danh mục cấm. Đối với tiền, phạm nhân phải gửi trại giam, trại tạm
giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện quản lý. Việc quản lý, sử dụng
đồ vật, tiền của phạm nhân được thực hiện theo quy định tại các điểm
a, b và c khoản 3 Điều 28 của Luật này.
4. Phạm nhân được nhận quà là
tiền, đồ vật do thân nhân gửi qua đường bưu chính không quá 02 lần trong 01
tháng. Trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện
có trách nhiệm tiếp nhận tiền, đồ vật mà thân nhân của phạm nhân gửi cho phạm
nhân và bóc, mở, kiểm tra để phát hiện và xử lý đồ vật thuộc danh mục cấm theo
quy định của pháp luật.
5. Thân nhân của phạm nhân đến
gặp phạm nhân phải mang theo sổ thăm gặp hoặc đơn xin gặp có xác nhận của Ủy
ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi người đó cư trú hoặc của cơ quan, tổ
chức nơi người đó làm việc, học tập. Trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp huyện phải phổ biến cho thân nhân của phạm nhân về quy định
thăm gặp phạm nhân; thân nhân của phạm nhân phải chấp hành các quy định này.
Đối với phạm nhân là người nước
ngoài, trường hợp thân nhân là người nước ngoài thì phải có đơn xin gặp gửi cơ
quan quản lý thi hành án hình sự, đơn phải viết bằng tiếng Việt hoặc được dịch
ra tiếng Việt và có xác nhận của cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự của
nước mà người đó mang quốc tịch hoặc cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại
Việt Nam nơi người đó làm việc; trường hợp thân nhân là người Việt Nam thì đơn
xin gặp phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú. Trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được đơn, cơ quan quản lý thi hành án hình sự
có trách nhiệm trả lời người có đơn; trường hợp đặc biệt có thể kéo dài nhưng
thời hạn trả lời không quá 30 ngày.
6. Trại giam, trại tạm giam, cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện bố trí nơi phạm nhân gặp thân nhân,
đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác.
7. Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng
Bộ Quốc phòng quy định chi tiết Điều này.
Điều 53.
Thủ tục thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự
1. Cơ quan đại diện ngoại giao,
lãnh sự nước ngoài có yêu cầu thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự đối với phạm nhân mang
quốc tịch nước mình đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam phải gửi văn bản đề
nghị đến Bộ Ngoại giao. Nội dung văn bản đề nghị bao gồm:
a) Tên cơ quan đại diện ngoại
giao, lãnh sự gửi văn bản;
b) Họ, tên, quốc tịch phạm nhân
cần thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự;
c) Trại giam nơi phạm nhân đang
chấp hành án;
d) Họ, tên, chức vụ của những
người đến thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự;
đ) Họ, tên người phiên dịch.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Bộ Ngoại giao có trách nhiệm thông
báo cho cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an hoặc cơ quan quản
lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể
từ ngày nhận được thông báo, cơ quan quản lý thi hành án hình sự có thẩm quyền
phải trả lời bằng văn bản cho Bộ Ngoại giao để thông báo cho cơ quan đại diện
ngoại giao, lãnh sự nước ngoài đã đề nghị liên hệ với cơ quan quản lý thi hành
án hình sự có thẩm quyền cấp giấy giới thiệu thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự.
Điều 54.
Chế độ liên lạc của phạm nhân
1. Phạm nhân được gửi mỗi tháng
02 lá thư. Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp huyện phải kiểm tra, kiểm duyệt thư mà phạm nhân gửi
và nhận.
2. Phạm nhân được liên lạc điện
thoại trong nước với thân nhân mỗi tháng 01 lần, mỗi lần không quá 10 phút, trừ
trường hợp cấp bách. Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện xem xét, quyết định việc cho phạm
nhân liên lạc bằng điện thoại và tổ chức kiểm soát việc liên lạc này.
3. Chi phí cho việc liên lạc của
phạm nhân quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này do phạm nhân chi trả.
Điều 55.
Chế độ chăm sóc y tế đối với phạm nhân
1. Phạm nhân được hưởng chế độ
phòng, chống dịch bệnh. Trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp huyện phối hợp với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp huyện hoặc bệnh
viện quân đội nơi trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an
cấp huyện đóng tổ chức khám sức khỏe cho phạm nhân.
2. Phạm nhân bị ốm, bị thương
tích thì được khám bệnh, chữa bệnh và điều trị tại cơ sở y tế của trại giam, trại
tạm giam hoặc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước nơi gần nhất. Trường
hợp phạm nhân bị bệnh nặng hoặc thương tích vượt quá khả năng điều trị của cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh đó thì được chuyển đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến
trên để điều trị; trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an
cấp huyện phải thông báo cho thân nhân hoặc đại diện của người đó biết để phối
hợp chăm sóc, điều trị. Chế độ ăn, cấp phát thuốc, bồi dưỡng cho phạm nhân do
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chỉ định.
Trại giam, cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phối hợp với
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến huyện, tuyến tỉnh, bệnh viện quân đội xây dựng
hoặc bố trí một số buồng riêng trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để điều trị cho
phạm nhân. Việc quản lý, giám sát phạm nhân trong thời gian điều trị tại cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh do trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp huyện chịu trách nhiệm.
3. Đối với phạm nhân có dấu hiệu
mắc bệnh tâm thần, bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển
hành vi của mình, trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an
cấp tỉnh đề nghị Tòa án nhân dân khu vực[6],
Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân chấp hành án phạt tù trưng cầu giám định
pháp y tâm thần. Khi có kết luận giám định là người đó mắc bệnh tâm thần, bệnh
khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì Chánh án
Tòa án nhân dân khu vực[7], Chánh
án Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân chấp hành án ra quyết định tạm
đình chỉ chấp hành án phạt tù và áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh đối
với người đó.
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có
trách nhiệm tiếp nhận, quản lý phạm nhân thuộc đối tượng bắt buộc chữa bệnh tại
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
4. Phạm nhân nghiện ma túy được
trại giam tổ chức cai nghiện.
5. Kinh phí khám bệnh, chữa bệnh,
tổ chức cai nghiện ma túy và kinh phí xây dựng, bố trí các buồng chữa bệnh dành
cho phạm nhân tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh do Nhà nước cấp.
6. Chính phủ quy định chi tiết
Điều này.
Điều 56.
Thủ tục giải quyết trường hợp phạm nhân chết
1. Khi phạm nhân chết tại trại
giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh của Nhà nước thì cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm báo ngay
cho cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, cơ quan điều tra và
Viện kiểm sát quân sự khu vực nơi có phạm nhân chết để xác định nguyên nhân. Trại
giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện làm thủ tục
đăng ký khai tử tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi phạm nhân chết và thông báo cho
thân nhân hoặc đại diện của phạm nhân trước khi làm thủ tục mai táng. Trường hợp
phạm nhân chết ở cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó gửi
giấy báo tử cho trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
huyện.
Trường hợp phạm nhân là người
nước ngoài, Giám thị trại giam phải báo ngay cho cơ quan điều tra và Viện kiểm
sát nhân dân cấp tỉnh, cơ quan điều tra và Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu
nơi có phạm nhân chết để xác định nguyên nhân; đồng thời báo cáo cơ quan quản
lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an hoặc cơ quan quản lý thi hành án hình sự
thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao để thông báo cho cơ quan đại diện của nước
mà người đó mang quốc tịch. Sau khi được cơ quan có thẩm quyền cho phép, trại
giam có trách nhiệm tổ chức mai táng.
2. Khi cơ quan có thẩm quyền
cho phép làm các thủ tục mai táng người chết thì trại giam, trại tạm giam, cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm thông báo về việc mai
táng cho thân nhân hoặc người đại diện của phạm nhân. Trường hợp thân nhân của
người chết có đơn đề nghị thì bàn giao tử thi đó cho họ, trừ trường hợp có căn
cứ cho rằng việc đó ảnh hưởng đến an ninh trật tự và vệ sinh môi trường. Sau thời
hạn 24 giờ kể từ khi thông báo mà họ không nhận thì trại giam, trại tạm giam,
cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện tổ chức mai táng theo quy định của
pháp luật và thông báo cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án. Trong thời hạn
03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, Tòa án đã ra quyết định thi
hành án phải ra quyết định đình chỉ việc chấp hành án phạt tù và gửi cho thân
nhân của người chết, trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp huyện nơi phạm nhân chết, Viện kiểm sát có thẩm quyền, Sở Tư pháp nơi
Tòa án ra quyết định đình chỉ có trụ sở. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi phạm nhân
chết có trách nhiệm phối hợp với trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp huyện trong việc mai táng và quản lý mộ của phạm nhân. Kinh
phí cho việc mai táng được Nhà nước cấp.
Trường hợp phạm nhân chết là
người nước ngoài, trong thời hạn 48 giờ kể từ khi thông báo về phạm nhân chết,
nếu cơ quan đại diện của nước mà người đó mang quốc tịch không đề nghị nhận tử
thi thì trại giam tổ chức mai táng.
3. Trường hợp thân nhân hoặc đại
diện của phạm nhân có đơn đề nghị được nhận tử thi hoặc hài cốt của phạm nhân
và tự chịu chi phí, thì trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp huyện có thể xem xét, giải quyết, trừ trường hợp có căn cứ cho rằng
việc đó ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và vệ sinh môi trường. Việc nhận hài cốt
chỉ được giải quyết sau thời hạn 03 năm kể từ ngày mai táng. Trường hợp phạm
nhân là người nước ngoài thì việc nhận tử thi hoặc hài cốt phải được cơ quan quản
lý thi hành án hình sự xem xét, quyết định.
Mục 3. THA
TÙ TRƯỚC THỜI HẠN CÓ ĐIỀU KIỆN
Điều 57.
Thời điểm xét tha tù trước thời hạn có điều kiện
Việc xét tha tù trước thời hạn
có điều kiện được thực hiện mỗi năm 03 đợt vào thời điểm kết thúc quý I, kết
thúc quý II và kết thúc năm xếp loại.
Điều 58. Hồ
sơ đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện
1. Trại giam, trại tạm giam thuộc
Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị tha tù
trước thời hạn có điều kiện và chuyển cho Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện
kiểm sát quân sự cấp quân khu, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp
quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án phạt tù.
2. Hồ sơ đề nghị tha tù trước
thời hạn có điều kiện bao gồm:
a) Đơn xin tha tù trước thời hạn
có điều kiện của phạm nhân kèm theo cam kết không vi phạm pháp luật, các nghĩa
vụ phải chấp hành khi được tha tù trước thời hạn;
b) Bản sao bản án, quyết định của
Tòa án có hiệu lực pháp luật; quyết định thi hành án;
c) Tài liệu thể hiện phạm nhân có
nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt là các quyết định hoặc bản sao quyết định
xếp loại chấp hành án phạt tù;
d) Bản sao quyết định giảm thời
hạn chấp hành án phạt tù đối với người bị kết án về tội phạm nghiêm trọng, tội
phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
đ) Văn bản, tài liệu thể hiện
việc chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, nghĩa vụ bồi thường
thiệt hại, án phí;
e) Tài liệu để xác định thời
gian thực tế đã chấp hành án phạt tù;
g) Trường hợp phạm nhân là người
có công với cách mạng hoặc thân nhân của người có công với cách mạng, người từ
đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ
đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người đang chấp hành án phạt tù dưới 18 tuổi
thì phải có tài liệu chứng minh;
h) Văn bản đề nghị tha tù trước
thời hạn có điều kiện của trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc
phòng, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự
cấp quân khu.
3. Người đã được tạm đình chỉ
chấp hành án phạt tù hoặc người được áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh
được bảo lưu kết quả xếp loại chấp hành án phạt tù và được tính liên tục liền kề
với thời gian sau khi trở lại tiếp tục chấp hành án. Trường hợp này, nếu được Ủy
ban nhân dân cấp xã nơi người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù về cư trú,
đơn vị quân đội được giao quản lý hoặc cơ sở y tế điều trị người đó xác nhận chấp
hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật thì có thể được xem xét, đề nghị
tha tù trước thời hạn có điều kiện.
4. Trường hợp phạm nhân được
trích xuất để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử nhưng không thuộc đối tượng
đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội khác thì trại giam, trại
tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi nhận phạm nhân
trích xuất có văn bản đề nghị trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp huyện nơi đang quản lý hồ sơ phạm nhân xem xét, lập hồ sơ đề
nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện, nếu họ có đủ điều kiện.
Điều 59.
Thi hành quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện
1. Ngay sau khi nhận được quyết
định tha tù trước thời hạn có điều kiện, trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp huyện phải niêm yết danh sách phạm nhân được tha tù
trước thời hạn có điều kiện tại cơ sở giam giữ phạm nhân. Ngay sau khi quyết định
tha tù trước thời hạn có hiệu lực pháp luật, trại giam, trại tạm giam, cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp huyện cấp giấy chứng nhận tha tù trước thời hạn
có điều kiện và tha phạm nhân. Thời gian thử thách được tính từ ngày quyết định
tha tù trước thời hạn có điều kiện có hiệu lực pháp luật.
Trại giam, trại tạm giam, cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm bàn giao hồ sơ phạm
nhân cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người tha tù trước
thời hạn có điều kiện về cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
2. Cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp huyện nơi người được tha tù trước thời hạn có điều kiện về cư trú,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu tiếp nhận, quản lý hồ sơ phạm nhân; lập
hồ sơ quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện và giao cho Ủy ban
nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội để tổ chức quản lý.
Trong thời hạn 05 ngày kể từ
ngày được tha tù trước thời hạn có điều kiện, người được tha tù trước thời hạn
có điều kiện phải trình diện Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao
quản lý để cam kết chấp hành nghĩa vụ, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc
trở ngại khách quan. Trường hợp hết thời hạn 05 ngày mà người được tha tù trước
thời hạn có điều kiện không trình diện, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội
triệu tập người đó đến trụ sở để cam kết việc chấp hành nghĩa vụ. Trường hợp
người đó không có mặt theo đúng thời hạn triệu tập hoặc không cam kết thì Công
an cấp xã, đơn vị quân đội lập biên bản vi phạm nghĩa vụ.
Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị
quân đội báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu kết quả việc trình diện và cam kết của người được
tha tù trước thời hạn có điều kiện.
3. Trường hợp người được tha tù
trước thời hạn có điều kiện do quân đội quản lý nhưng sau đó không còn phục vụ
trong quân đội thì cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu bàn giao người đó
kèm theo hồ sơ phạm nhân cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi
người đó về cư trú lập hồ sơ quản lý và giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã để tổ
chức quản lý.
4. Vào ngày cuối cùng của thời
gian thử thách, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành
án hình sự cấp quân khu nơi đã quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều
kiện có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù cho họ và gửi
cho Viện kiểm sát cùng cấp, Tòa án đã ra quyết định tha tù trước thời hạn có điều
kiện, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, trại giam, trại tạm giam, cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu
nơi người đó đã chấp hành án, Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia, Ủy ban nhân
dân cấp xã nơi người đó về cư trú.
5. Trường hợp người được tha tù
trước thời hạn có điều kiện chết, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được
giao quản lý người đó thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định
thi hành án. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo,
Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ thi hành án và
gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội
được giao quản lý người đó, Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định có trụ sở.
Điều 60. Hồ
sơ quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
1. Hồ sơ quản lý người được tha
tù trước thời hạn có điều kiện do cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập bao gồm:
a) Bản sao bản án, quyết định của
Tòa án có hiệu lực pháp luật; quyết định thi hành án;
b) Quyết định tha tù trước thời
hạn có điều kiện;
c) Giấy chứng nhận tha tù trước
thời hạn có điều kiện;
d) Bản nhận xét quá trình chấp
hành án phạt tù của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện;
đ) Cam kết của người được tha
tù trước thời hạn có điều kiện;
e) Phiếu thông tin của người được
tha tù trước thời hạn có điều kiện;
g) Tài liệu khác có liên quan.
2. Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn
vị quân đội được giao quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện có
trách nhiệm tiếp nhận và bổ sung vào hồ sơ quản lý các tài liệu sau đây:
a) Bản nhận xét của Ủy ban nhân
dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý người được tha tù trước thời hạn
có điều kiện;
b) Báo cáo của người được tha
tù trước thời hạn có điều kiện về việc thực hiện nghĩa vụ;
c) Trường hợp người được tha tù
trước thời hạn có điều kiện bị kiểm điểm theo quy định tại Điều
66 của Luật này thì phải có bản kiểm điểm, biên bản cuộc họp kiểm điểm và
tài liệu có liên quan;
d) Trường hợp người được tha tù
trước thời hạn có điều kiện được rút ngắn thời gian thử thách thì phải có quyết
định của Tòa án;
đ) Tài liệu khác có liên quan.
3. Trước khi hết thời gian thử
thách 15 ngày, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý người
được tha tù trước thời hạn có điều kiện bàn giao hồ sơ quản lý cho cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để
cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù khi kết thúc thời gian thử thách.
Việc giao nhận hồ sơ được lập thành biên bản và lưu hồ sơ phạm nhân.
Điều 61. Nhiệm
vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý người
được tha tù trước thời hạn có điều kiện
1. Ủy ban nhân dân cấp xã được
giao quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện có nhiệm vụ, quyền hạn
sau đây:
a) Tiếp nhận hồ sơ, tổ chức quản
lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện; bàn giao hồ sơ cho cơ quan
thi hành án hình sự có thẩm quyền theo quy định của Luật này;
b) Yêu cầu người được tha tù
trước thời hạn có điều kiện thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình; có biện pháp
giáo dục, phòng ngừa khi người đó có dấu hiệu vi phạm pháp luật;
c) Biểu dương người được tha tù
trước thời hạn có điều kiện có nhiều tiến bộ hoặc lập công;
d) Giải quyết cho người được
tha tù trước thời hạn có điều kiện được vắng mặt ở nơi cư trú theo quy định của
Luật này và pháp luật về cư trú;
đ) Phối hợp với các tổ chức
chính trị - xã hội, gia đình và cơ quan, tổ chức nơi người được tha tù trước thời
hạn có điều kiện làm việc, học tập trong việc quản lý người đó;
e) Lập hồ sơ, có văn bản đề nghị
cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện báo cáo cơ quan thi hành án hình
sự Công an cấp tỉnh đề nghị Tòa án cùng cấp xem xét, quyết định rút ngắn thời
gian thử thách;
g) Báo cáo cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp huyện tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm
quyền hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện và buộc người được tha
tù trước thời hạn có điều kiện phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại chưa chấp
hành trong trường hợp người đó vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 66 của Bộ luật
Hình sự;
h) Báo cáo cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp huyện khi người được tha tù trước thời hạn có điều kiện bỏ
trốn;
i) Nhận xét bằng văn bản quá
trình chấp hành nghĩa vụ trong thời gian thử thách của người được tha tù trước
thời hạn có điều kiện;
k) Báo cáo cơ quan thi hành án
hình sự có thẩm quyền về kết quả quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều
kiện trong thời gian thử thách.
2. Công an cấp xã có nhiệm vụ
tham mưu, trực tiếp giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Đơn vị quân đội được giao quản
lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện có nhiệm vụ, quyền hạn sau
đây:
a) Các nhiệm vụ, quyền hạn quy
định tại các điểm a, b, c, i và k khoản 1 Điều này;
b) Phối hợp với Ủy ban nhân dân
cấp xã giải quyết cho người được tha tù trước thời hạn có điều kiện được vắng mặt
ở nơi cư trú theo quy định của Luật này và pháp luật về cư trú;
c) Phối hợp với gia đình của
người được tha tù trước thời hạn có điều kiện trong việc quản lý người đó;
d) Lập hồ sơ, có văn bản đề nghị
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu
đề nghị Tòa án cùng cấp xem
xét, quyết định rút ngắn thời gian thử thách;
đ) Báo cáo cơ quan thi hành án
hình sự cấp quân khu tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền hủy
quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện và buộc người được tha tù trước
thời hạn có điều kiện phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành
trong trường hợp người đó vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 66 của Bộ luật Hình
sự;
e) Báo cáo cơ quan thi hành án
hình sự cấp quân khu khi người được tha tù trước thời hạn có điều kiện bỏ trốn.
Điều 62.
Nghĩa vụ của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
1. Thực hiện nghiêm chỉnh cam kết
trong việc tuân thủ pháp luật, nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của nơi cư
trú, nơi làm việc, học tập.
2. Trình diện và cam kết theo
quy định tại khoản 2 Điều 59 của Luật này.
3. Chịu sự quản lý của Ủy ban
nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý.
4. Chấp hành quy định tại Điều 67 của Luật này.
5. Phải có mặt theo yêu cầu của
Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao quản lý.
6. Hằng tháng phải báo cáo bằng
văn bản với Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý về tình
hình chấp hành nghĩa vụ của mình. Trường hợp vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 67 của Luật này thì khi hết thời hạn vắng mặt,
người được tha tù trước thời hạn có điều kiện phải báo cáo về tình hình chấp
hành nghĩa vụ của mình.
Điều 63.
Việc lao động, học tập của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
1. Người được tha tù trước thời
hạn có điều kiện mà không phải là cán bộ, công chức, viên chức nếu được tiếp tục
làm việc tại cơ quan, tổ chức, đơn vị thì được hưởng tiền lương và chế độ khác
phù hợp với công việc đảm nhiệm, được tính vào thời gian công tác theo quy định
của pháp luật.
2. Người được tha tù trước thời
hạn có điều kiện được cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp tiếp nhận
học tập thì được hưởng quyền lợi theo quy định của pháp luật.
3. Người được tha tù trước thời
hạn có điều kiện không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều
này thì được Ủy ban nhân dân cấp xã tạo điều kiện tìm việc làm.
Điều 64.
Rút ngắn thời gian thử thách đối với người được tha tù trước thời hạn có điều
kiện
1. Người được tha tù trước thời
hạn có điều kiện được đề nghị rút ngắn thời gian thử thách khi có đủ các điều
kiện sau đây:
a) Đã chấp hành được một phần
hai thời gian thử thách;
b) Có nhiều tiến bộ trong thời
gian thử thách.
2. Người được tha tù trước thời
hạn có điều kiện mỗi năm có thể được rút ngắn thời gian thử thách 01 lần từ 03
tháng đến 02 năm. Trường hợp thời gian thử thách của người được tha tù trước thời
hạn có điều kiện còn lại dưới 03 tháng thì Tòa án có thể quyết định rút ngắn hết
thời gian thử thách còn lại.
Người được tha tù trước thời hạn
có điều kiện có thể được rút ngắn thời gian thử thách nhiều lần, nhưng phải bảo
đảm thực tế đã chấp hành ít nhất ba phần tư thời gian thử thách, trừ trường hợp
quy định tại khoản 3 Điều này.
3. Trường hợp người được tha tù
trước thời hạn có điều kiện là người dưới 18 tuổi, người đã lập công, người đã
quá già yếu hoặc người bị bệnh hiểm nghèo và có đủ điều kiện quy định tại khoản
1 Điều này thì Tòa án có thể rút ngắn hết thời gian thử thách còn lại.
Điều 65.
Thủ tục rút ngắn thời gian thử thách đối với người được tha tù trước thời hạn
có điều kiện
1. Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn
vị quân đội được giao quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện có
trách nhiệm rà soát người đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật Hình sự, lập hồ
sơ và có văn bản đề nghị rút ngắn thời gian thử thách gửi cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
2. Trong thời hạn 07 ngày kể từ
ngày nhận được hồ sơ và văn bản đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao quản
lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp huyện xem xét, có văn bản đề nghị rút ngắn thời gian thử thách đối
với những người có đủ điều kiện gửi kèm hồ sơ đến cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh. Trong thời hạn 07 ngày kể từ khi nhận được hồ sơ và văn bản đề
nghị của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh xem xét, có văn bản đề nghị rút ngắn thời gian thử
thách đối với người được tha tù trước thời hạn có điều kiện gửi Tòa án nhân dân
cùng cấp xem xét, quyết định, đồng thời gửi Viện kiểm sát cùng cấp.
3. Trong thời hạn 07 ngày kể từ
ngày nhận được hồ sơ và văn bản đề nghị của đơn vị quân đội được giao quản lý
người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu xem xét, có văn bản đề nghị rút ngắn thời gian thử thách đối với những
người có đủ điều kiện gửi Tòa án quân sự cấp quân khu xem xét, quyết định, đồng
thời gửi Viện kiểm sát cùng cấp.
4. Trong thời hạn 07 ngày kể từ
ngày nhận được hồ sơ và văn bản đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự Công an
cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, Chánh án Tòa án nhân dân cấp
tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu nơi người được tha tù trước thời hạn
có điều kiện cư trú, làm việc thành lập Hội đồng và tổ chức phiên họp để xét,
quyết định rút ngắn thời gian thử thách. Thành phần Hội đồng gồm 03 Thẩm phán;
phiên họp có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp hồ
sơ phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn mở phiên họp được tính từ
ngày nhận được hồ sơ bổ sung.
5. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày ra quyết định về việc rút ngắn thời gian thử thách, Tòa án phải
gửi quyết định đó cho người chấp hành án, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát
cấp trên trực tiếp, cơ quan đề nghị rút ngắn thời gian thử thách, Tòa án đã ra
quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, Sở Tư pháp nơi Tòa án ra quyết định
rút ngắn thời gian thử thách có trụ sở.
Điều 66.
Việc kiểm điểm người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
1. Trong thời gian thử thách,
người được tha tù trước thời hạn có điều kiện vi phạm lần đầu nghĩa vụ quy định
tại Điều 62 của Luật này hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành
chính lần đầu thì Ủy ban nhân dân cấp xã được giao quản lý phải phối hợp với cơ
quan, tổ chức, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở cơ sở tổ chức họp tại cộng đồng dân
cư nơi người được tha tù trước thời hạn có điều kiện cư trú để kiểm điểm người
đó; trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện đang làm việc tại
đơn vị quân đội thì việc kiểm điểm được thực hiện tại đơn vị quân đội nơi người
đó làm việc.
2. Việc kiểm điểm phải được lập
thành biên bản, lưu hồ sơ quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án
hình sự cấp quân khu.
Điều 67.
Việc vắng mặt tại nơi cư trú của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
1. Người được tha tù trước thời
hạn có điều kiện có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải
xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng
theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú được
tính vào thời gian thử thách nhưng mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời
gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử
thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của
bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
2. Người được tha tù trước thời
hạn có điều kiện khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng
ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, trường hợp
không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn
bản và nêu rõ lý do. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện khi đến nơi
cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết
thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công
an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được tha tù trước thời hạn có
điều kiện vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú,
lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản
lý.
3. Người được tha tù trước thời
hạn có điều kiện không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.
Điều 68.
Giải quyết trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện thay đổi
nơi cư trú, nơi làm việc
1. Trường hợp người được tha tù
trước thời hạn có điều kiện vì lý do chính đáng mà phải thay đổi nơi cư trú,
nơi làm việc thì phải làm đơn có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị
quân đội được giao quản lý gửi cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
nhận được đơn của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phối
hợp với các đơn vị có liên quan kiểm tra, xác minh và giải quyết cho người đó
thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc. Trường hợp không đồng ý thì phải trả lời bằng
văn bản và nêu rõ lý do.
2. Người được tha tù trước thời
hạn có điều kiện được xem xét, giải quyết cho thay đổi nơi cư trú nếu bảo đảm
các điều kiện sau đây:
a) Bảo đảm các yêu cầu theo quy
định của pháp luật về cư trú;
b)[8] Được sự đồng ý của Công an cấp xã trong trường hợp thay đổi
nơi cư trú trong phạm vi đơn vị hành chính cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh trong trường hợp thay đổi nơi cư trú ngoài phạm vi đơn vị hành
chính cấp tỉnh.
3. Việc thay đổi nơi làm việc của
người được tha tù trước thời hạn có điều kiện trong phạm vi quân khu do cơ quan
thi hành án hình sự cấp quân khu quyết định.
Việc thay đổi nơi làm việc của
người được tha tù trước thời hạn có điều kiện ngoài phạm vi quân khu do cơ quan
quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng quyết định.
Trường hợp người được tha tù
trước thời hạn có điều kiện không tiếp tục làm việc trong quân đội thì cơ quan
thi hành án hình sự cấp quân khu làm thủ tục chuyển hồ sơ cho cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp huyện nơi người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
về cư trú để quản lý theo quy định tại khoản 3 Điều 59 của Luật
này.
4. Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng
Bộ Quốc phòng quy định chi tiết Điều này.
Điều 69. Xử
lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện vi phạm nghĩa vụ hoặc vi phạm
pháp luật bị xử phạt vi phạm hành chính
1. Người được tha tù trước thời
hạn có điều kiện cố ý vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 62 của
Luật này thì Công an cấp xã lập biên bản vi phạm; trường hợp cố ý vi phạm lần
thứ hai thì lập biên bản vi phạm và báo cáo Ủy ban nhân dân cấp xã.
Người được tha tù trước thời hạn
có điều kiện do đơn vị quân đội quản lý cố ý vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 62 của Luật này thì đơn vị quân đội được giao quản lý lập
biên bản vi phạm; trường hợp cố ý vi phạm lần thứ hai thì lập biên bản vi phạm
và báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
2. Trường hợp người được tha tù
trước thời hạn có điều kiện vi phạm pháp luật bị xử phạt vi phạm hành chính từ
02 lần trở lên thì Công an cấp xã báo cáo Ủy ban nhân dân cấp xã.
Trường hợp người được tha tù
trước thời hạn có điều kiện do đơn vị quân đội quản lý vi phạm pháp luật bị xử
phạt vi phạm hành chính từ 02 lần trở lên thì đơn vị quân đội được giao quản lý
báo cáo cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày nhận được báo cáo của Công an cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp xã phải
có văn bản đề nghị cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện kèm theo biên
bản vi phạm nghĩa vụ hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính và các tài liệu
khác có liên quan đối với người được tha tù trước thời hạn có điều kiện để tiến
hành thủ tục đề nghị hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc
kể từ ngày nhận được báo cáo kèm theo biên bản vi phạm nghĩa vụ hoặc quyết định
xử phạt vi phạm hành chính và các tài liệu khác có liên quan của đơn vị quân đội
được giao quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu tiến hành thủ tục đề nghị hủy quyết định tha tù
trước thời hạn có điều kiện.
Điều 70.
Giải quyết trường hợp phạm nhân đã được đề nghị tha tù trước thời hạn có điều
kiện mà vi phạm nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân hoặc có hành vi vi phạm pháp
luật
1. Trường hợp phạm nhân đã được
đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện mà vi phạm nội quy cơ sở giam giữ phạm
nhân và bị xử lý kỷ luật hoặc có hành vi vi phạm pháp luật trước khi có quyết định
tha tù trước thời hạn có điều kiện của Tòa án thì cơ quan đã đề nghị theo quy định
tại khoản 1 Điều 368 của Bộ luật Tố tụng hình sự có văn bản gửi Viện kiểm sát,
Tòa án đề nghị rút hồ sơ và xóa tên phạm nhân trong danh sách đề nghị tha tù
trước thời hạn có điều kiện.
2. Trường hợp phạm nhân đã có
quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện của Tòa án nhưng chưa có hiệu lực
pháp luật mà vi phạm nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân và bị xử lý kỷ luật hoặc
có hành vi vi phạm pháp luật thì hồ sơ, trình tự, thủ tục xem xét hủy quyết định
tha tù trước thời hạn có điều kiện được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 71 của Luật này và Điều 368 của Bộ luật Tố tụng
hình sự.
Điều 71. Hủy
quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện
1. Trường hợp người được tha tù
trước thời hạn có điều kiện vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 66 của Bộ luật
Hình sự thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án
hình sự cấp quân khu lập hồ sơ chuyển đến Tòa án đã ra quyết định tha tù trước
thời hạn có điều kiện để xem xét, hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều
kiện, đồng thời gửi 01 bộ hồ sơ đến Viện kiểm sát cùng cấp với Tòa án. Hồ sơ
bao gồm:
a) Văn bản của cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu đề nghị
hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện;
b) Biên bản vi phạm nghĩa vụ hoặc
quyết định xử phạt vi phạm hành chính;
c) Báo cáo của cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu về việc
thực hiện nghĩa vụ của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện trong thời
gian thử thách;
d) Bản sao bản án, quyết định của
Tòa án; bản sao quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện;
đ) Tài liệu khác có liên quan.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày quyết định hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện có
hiệu lực pháp luật, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu phải thông báo bằng văn bản cho người bị hủy quyết
định tha tù trước thời hạn có điều kiện. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận
được thông báo, người bị hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện phải
có mặt tại cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án
hình sự cấp quân khu để chấp hành phần hình phạt tù còn lại; quá thời hạn trên
mà người đó không có mặt thì Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp hoặc
Vệ binh hỗ trợ tư pháp thực hiện áp giải thi hành án. Trường hợp người bị hủy
quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện bỏ trốn thì cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu làm thủ tục
đề nghị cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền ra quyết định truy nã.
3. Trường hợp phạm nhân vi phạm
nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân hoặc có hành vi vi phạm pháp luật thuộc trường
hợp quy định tại khoản 2 Điều 70 của Luật này thì cơ quan
đã đề nghị tha tù trước thời hạn có điều kiện lập hồ sơ, chuyển đến Tòa án đã
ra quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện để xem xét, hủy quyết định tha
tù trước thời hạn có điều kiện, đồng thời gửi 01 bộ hồ sơ đến Viện kiểm sát
cùng cấp với Tòa án. Hồ sơ bao gồm:
a) Văn bản đề nghị hủy quyết định
tha tù trước thời hạn có điều kiện;
b) Quyết định kỷ luật phạm nhân
kèm theo biên bản vi phạm nội quy cơ sở giam giữ phạm nhân hoặc văn bản về việc
vi phạm pháp luật;
c) Tài liệu khác có liên quan.
4. Trình tự, thủ tục Tòa án xem
xét, quyết định hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện thực hiện
theo quy định tại Điều 368 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Điều 72.
Trách nhiệm của gia đình người được tha tù trước thời hạn có điều kiện
Gia đình người được tha tù trước
thời hạn có điều kiện có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị
quân đội trong việc quản lý người được tha tù trước thời hạn có điều kiện;
thông báo kết quả chấp hành các nghĩa vụ của người được tha tù trước thời hạn
có điều kiện với Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý khi
có yêu cầu; có mặt tại cuộc họp kiểm điểm người được tha tù trước thời hạn có
điều kiện theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản
lý người đó.
Mục 4[9] (được
bãi bỏ)
Chương IV
THI HÀNH ÁN TỬ HÌNH
Điều 77.
Quyết định thi hành án tử hình
1. Chánh án Tòa án đã xét xử sơ
thẩm ra quyết định thi hành án tử hình. Quyết định phải ghi rõ ngày, tháng, năm
ra quyết định, họ, tên, chức vụ của người ra quyết định; bản án, quyết định được
thi hành; họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người bị kết án.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày ra quyết định thi hành án tử hình, Tòa án phải gửi quyết định
đó cho các cơ quan sau đây:
a) Viện kiểm sát, cơ quan thi
hành án hình sự cùng cấp;
b) Trại tạm giam nơi người chấp
hành án đang bị giam giữ;
c) Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra
quyết định thi hành án có trụ sở.
Điều 78.
Quyết định thành lập Hội đồng thi hành án tử hình
1. Ngay khi có quyết định thi
hành án tử hình, Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án có văn bản yêu cầu
Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp tỉnh hoặc Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu cử đại diện
lãnh đạo tham gia Hội đồng thi hành án tử hình. Trong thời hạn 03 ngày làm việc
kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu, Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp, Thủ
trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc Thủ trưởng cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu phải có văn bản cử đại diện lãnh đạo tham gia Hội
đồng thi hành án tử hình.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày nhận được văn bản cử đại diện lãnh đạo tham gia Hội đồng thi
hành án tử hình của các cơ quan quy định tại khoản 1 Điều này, Chánh án Tòa án
đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định thành lập Hội đồng thi hành án
tử hình. Quyết định thành lập Hội đồng thi hành án tử hình phải ghi rõ ngày,
tháng, năm ra quyết định, họ, tên, chức vụ của người ra quyết định; căn cứ ra
quyết định; họ, tên, chức vụ của người tham gia Hội đồng.
3. Hội đồng thi hành án tử hình
bao gồm:
a) Chánh án hoặc Phó Chánh án
Tòa án đã ra quyết định thi hành án làm Chủ tịch Hội đồng;
b) Viện trưởng hoặc Phó Viện
trưởng Viện kiểm sát cùng cấp;
c) Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng
cơ quan thi hành án hình sự cùng cấp.
4. Giúp việc cho Hội đồng thi
hành án tử hình có Thư ký là cán bộ, công chức của Tòa án, do Chánh án Tòa án
có thẩm quyền ra quyết định thi hành án phân công.
Điều 79.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng thi hành án tử hình
1. Hội đồng thi hành án tử hình
có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Quyết định kế hoạch và chuẩn
bị các điều kiện bảo đảm cho việc thi hành án;
b) Tổ chức kiểm tra các điều kiện
về người chấp hành án tử hình theo quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng
hình sự; ra quyết định hoãn thi hành án và báo cáo Chánh án Tòa án đã ra quyết
định thi hành án khi người bị kết án không đủ điều kiện để thi hành án;
c) Yêu cầu cơ quan, tổ chức có
liên quan cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho việc thi hành án; yêu cầu
đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan, tổ chức hỗ trợ bảo đảm an toàn việc thi hành
án trong trường hợp cần thiết;
d) Điều hành việc thi hành án
theo kế hoạch;
đ) Thông báo kết quả thi hành
án cho cơ quan quản lý thi hành án hình sự;
e) Hội đồng tự giải thể sau khi
hoàn thành nhiệm vụ của mình.
2. Chủ tịch Hội đồng thi hành
án tử hình triệu tập họp, công bố các quyết định có liên quan đến việc thi hành
án tử hình, quyết định thời gian thi hành án; những nội dung cần giữ bí mật;
các điều kiện bảo đảm việc tổ chức thực hiện kế hoạch thi hành án; địa điểm mai
táng đối với trường hợp không được nhận tử thi hoặc không có đơn đề nghị được
nhận tử thi. Cuộc họp phải được lập biên bản, lưu hồ sơ thi hành án tử hình.
Điều 80. Hồ
sơ thi hành án tử hình
1. Hồ sơ thi hành án tử hình gồm
các tài liệu sau đây:
a) Bản án sơ thẩm có hiệu lực
pháp luật; bản án phúc thẩm trong trường hợp bản án sơ thẩm có kháng cáo, kháng
nghị theo thủ tục phúc thẩm;
b) Quyết định giám đốc thẩm,
tái thẩm (nếu có);
c) Quyết định không kháng nghị
của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và quyết định không kháng nghị của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
d)[10] (được bãi bỏ)
đ) Quyết định thi hành án tử
hình;
e) Quyết định thành lập Hội đồng
thi hành án tử hình;
g) Biên bản họp Hội đồng thi
hành án tử hình;
h) Kế hoạch thi hành án tử
hình;
i) Danh bản, chỉ bản, biên bản
kiểm tra căn cước người bị thi hành án tử hình;
k) Biên bản kiểm tra, xác minh
người bị thi hành án tử hình không thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều
40 của Bộ luật Hình sự;
l) Tài liệu có liên quan đến việc
hoãn thi hành án tử hình trong trường hợp hoãn thi hành án tử hình;
m) Biên bản giám định pháp y tử
thi người đã bị thi hành án tử hình;
n) 01 ảnh của người đã bị thi
hành án tử hình;
o) Biên bản thi hành án tử
hình;
p) Báo cáo kết quả thi hành án
tử hình;
q) Tài liệu khác có liên quan.
2. Hồ sơ thi hành án tử hình do
cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu lập, quản lý và được lưu giữ, bảo quản theo chế độ hồ sơ do Bộ trưởng
Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định.
Điều 81.
Hoãn thi hành án tử hình
1. Hội đồng thi hành án tử hình
quyết định hoãn thi hành án tử hình nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người bị kết án tử hình thuộc
trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự;
b) Có lý do bất khả kháng hoặc
trở ngại khách quan;
c) Ngay trước khi thi hành án
người bị kết án tử hình khai báo những tình tiết mới về tội phạm.
2. Khi quyết định hoãn thi hành
án tử hình, Hội đồng thi hành án tử hình phải lập biên bản ghi rõ ngày, giờ,
tháng, năm, địa điểm thi hành án; họ, tên, chức vụ của thành viên Hội đồng; lý
do hoãn thi hành án. Biên bản hoãn thi hành án phải được tất cả các thành viên
Hội đồng ký, lưu hồ sơ thi hành án tử hình và báo cáo Chánh án Tòa án đã ra quyết
định thi hành án, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện
kiểm sát quân sự cấp quân khu và cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh,
cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
3. Cảnh sát thi hành án hình sự
và hỗ trợ tư pháp hoặc Vệ binh hỗ trợ tư pháp áp giải, bàn giao người được hoãn
thi hành án tử hình cho trại tạm giam để tiếp tục quản lý giam giữ người đó. Việc
giao nhận người được hoãn thi hành án tử hình phải được lập thành biên bản.
4. Trường hợp hoãn thi hành án
theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này thì Hội đồng thi hành án tử hình hoãn
thi hành án và báo cáo Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án để báo cáo
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định.
Trường hợp hoãn thi hành án
theo quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này mà lý do hoãn không còn thì
Chánh án Tòa án ra quyết định thi hành án yêu cầu Hội đồng tiếp tục thực hiện
việc thi hành án. Trường hợp có sự thay đổi thành viên Hội đồng thì Chánh án
Tòa án đã ra quyết định thi hành án quyết định thay đổi thành viên Hội đồng hoặc
thành lập Hội đồng thi hành án tử hình theo quy định tại Điều
78 của Luật này.
Điều 82.
Hình thức và trình tự thi hành án tử hình
1. Thi hành án tử hình được thực
hiện bằng tiêm thuốc độc. Quy trình thực hiện việc tiêm thuốc độc do Chính phủ
quy định.
2. Trước khi thi hành án, Hội đồng
thi hành án tử hình phải kiểm tra danh bản, chỉ bản, hồ sơ lý lịch của người chấp
hành án tử hình; trường hợp người chấp hành án là nữ thì Hội đồng phải kiểm tra
các tài liệu liên quan đến điều kiện không thi hành án tử hình theo quy định của
Bộ luật Hình sự.
3. Trước khi bị đưa ra thi hành
án tử hình, người chấp hành án được ăn, uống, viết thư, ghi âm lời nói gửi lại
thân nhân.
4. Trình tự thi hành án tử hình
được thực hiện như sau:
a) Căn cứ quyết định thi hành
án tử hình và yêu cầu của Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình, Cảnh sát thi
hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp hoặc Vệ binh hỗ trợ tư pháp thực hiện áp giải
người chấp hành án đến nơi làm việc của Hội đồng thi hành án tử hình;
b) Thực hiện yêu cầu của Hội đồng
thi hành án tử hình, cán bộ chuyên môn thuộc Công an nhân dân hoặc Quân đội
nhân dân tiến hành lăn tay, kiểm tra danh bản, chỉ bản, đối chiếu với hồ sơ,
tài liệu có liên quan; chụp ảnh, ghi hình quá trình làm thủ tục lăn tay, kiểm
tra và lập biên bản; báo cáo Hội đồng thi hành án tử hình về kết quả kiểm tra;
c)[11] Chủ tịch Hội đồng thi hành án tử hình công bố quyết định
thi hành án, quyết định không kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao
và quyết định không kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao không chấp nhận kháng
nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc kháng nghị của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, văn bản thông báo của cơ quan có thẩm quyền về việc
không có quyết định ân giảm hình phạt tử hình.
Ngay sau khi Chủ tịch Hội đồng
thi hành án công bố các quyết định, Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư
pháp hoặc Vệ binh hỗ trợ tư pháp có nhiệm vụ giao các quyết định trên cho người
chấp hành án để người đó tự đọc. Trường hợp người chấp hành án không biết chữ,
không biết tiếng Việt hoặc không tự mình đọc được thì Hội đồng thi hành án tử
hình chỉ định người đọc hoặc phiên dịch các quyết định trên cho người đó nghe.
Quá trình công bố và đọc các quyết định phải được chụp ảnh, ghi hình, ghi âm và
lưu vào hồ sơ thi hành án tử hình;
d) Theo lệnh của Chủ tịch Hội đồng
thi hành án tử hình, cán bộ chuyên môn do cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu chỉ định thực hiện việc thi hành
án và báo cáo kết quả cho Chủ tịch Hội đồng;
đ) Theo lệnh của Chủ tịch Hội đồng
thi hành án tử hình, bác sỹ pháp y xác định tình trạng của người đã bị thi hành
án tử hình và báo cáo kết quả cho Hội đồng;
e) Hội đồng thi hành án tử hình
lập biên bản thi hành án; báo cáo về quá trình, kết quả thi hành án cho Tòa án
nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cơ quan quản lý thi hành án
hình sự. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình
sự cấp quân khu làm thủ tục khai tử tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thi hành án;
g) Cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm bảo
quản tử thi, tổ chức mai táng, vẽ sơ đồ mộ người đã bị thi hành án. Ủy ban nhân
dân cấp xã nơi mai táng có nhiệm vụ phối hợp với cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu trong việc mai táng
và quản lý mộ của người đã bị thi hành án;
h) Trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu thông báo cho thân nhân của người đã bị
thi hành án biết, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 83 của
Luật này.
Điều 83.
Giải quyết việc xin nhận tử thi, tro cốt và hài cốt của người bị thi hành án tử
hình
1. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày ra quyết định thi hành án tử hình, Chánh án Tòa án đã ra quyết
định thi hành án phải thông báo cho thân nhân hoặc người đại diện của người bị
thi hành án tử hình biết để làm đơn xin nhận tử thi của người đã bị thi hành án
tử hình. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, đơn
xin nhận tử thi của người bị thi hành án tử hình phải được gửi cho Chánh án Tòa
án đã ra thông báo. Đơn xin nhận tử thi về mai táng phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ
người nhận tử thi; quan hệ với người bị thi hành án; cam kết bảo đảm yêu cầu về
an ninh, trật tự, vệ sinh môi trường và tự chịu chi phí. Đơn phải có xác nhận của
Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú, trường hợp người bị thi hành án tử hình là
người nước ngoài thì đơn phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền hoặc cơ
quan đại diện của nước mà người đó mang quốc tịch và phải được dịch sang tiếng
Việt.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày nhận được đơn xin nhận tử thi về mai táng của thân nhân hoặc
người đại diện của người bị thi hành án tử hình, Chánh án Tòa án đã ra quyết định
thi hành án tử hình phải thông báo bằng văn bản về việc chấp nhận hay không chấp
nhận cho nhận tử thi về mai táng. Nếu không chấp nhận cho nhận tử thi về mai
táng thì nêu rõ lý do.
3. Trước khi thi hành án tử
hình 03 ngày làm việc, Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án tử hình phải
thông báo bằng văn bản cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu biết để giải quyết việc cho nhận tử thi của
người đã bị thi hành án tử hình về mai táng hoặc tổ chức việc mai táng người đã
bị thi hành án tử hình.
4. Trường hợp Chánh án Tòa án
đã ra quyết định thành lập Hội đồng thi hành án tử hình chấp nhận cho nhận tử
thi của người đã bị thi hành án tử hình, nhưng trong quá trình triển khai thi
hành án tử hình, Hội đồng thi hành án tử hình xét thấy việc cho nhận tử thi
không bảo đảm an ninh, trật tự thì quyết định không cho nhận và thông báo bằng
văn bản cho thân nhân của người đã bị thi hành án tử hình, đồng thời giao cho
cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu tổ chức mai táng và báo cáo lại Chánh án Tòa án đã ra quyết định.
5. Cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm thông
báo cho người có đơn đề nghị ngay sau khi thi hành án để đến nhận tử thi về mai
táng. Việc giao, nhận tử thi của người đã bị thi hành án tử hình phải được thực
hiện trong thời hạn 24 giờ kể từ khi thông báo và do cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thực hiện. Việc
giao, nhận tử thi phải được lập thành văn bản, có chữ ký của bên giao và bên nhận.
Hết thời hạn này mà người có đơn đề nghị không đến nhận tử thi thì cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có
trách nhiệm mai táng.
6. Trường hợp thân nhân hoặc
người đại diện của người bị thi hành án tử hình muốn nhận tro cốt của người bị
thi hành án và tự chịu chi phí hỏa táng thì cơ quan thi hành án hình sự Công an
cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu bàn giao tử thi và hỗ trợ
đưa tử thi về nơi hỏa táng.
7. Trường hợp cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu tổ chức
việc mai táng người bị thi hành án tử hình thì sau 03 năm kể từ ngày thi hành
án, thân nhân hoặc người đại diện của người đã bị thi hành án được làm đơn đề
nghị cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự
cấp quân khu nơi đã thi hành án cho nhận hài cốt. Đơn phải ghi rõ họ, tên, địa
chỉ người nhận hài cốt; quan hệ với người đã bị thi hành án; cam kết bảo đảm
yêu cầu về an ninh, trật tự, vệ sinh môi trường và tự chịu chi phí. Đơn phải có
xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú, trường hợp người bị thi hành án
là người nước ngoài thì đơn đề nghị phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền
hoặc cơ quan đại diện của nước mà người đó mang quốc tịch và phải được dịch ra
tiếng Việt. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được đơn, cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách
nhiệm xem xét giải quyết.
Chương V
THI HÀNH ÁN TREO, ÁN PHẠT
CẢNH CÁO, CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ
Mục 1. THI
HÀNH ÁN TREO
Điều 84.
Quyết định thi hành án treo
1. Quyết định thi hành án treo
phải ghi rõ họ, tên, chức vụ người ra quyết định; bản án, quyết định được thi
hành; tên cơ quan có nhiệm vụ thi hành; họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư
trú của người được hưởng án treo; mức hình phạt tù và thời gian thử thách của
người được hưởng án treo; hình phạt bổ sung, trừ hình phạt bổ sung là hình phạt
tiền; hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định
tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội
được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày ra quyết định thi hành án treo, Tòa án phải gửi quyết định đó
cho cá nhân, cơ quan sau đây:
a) Người được hưởng án treo và
người đại diện trong trường hợp người được hưởng án treo là người dưới 18 tuổi;
b) Viện kiểm sát cùng cấp;
c) Cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp huyện nơi Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục người
được hưởng án treo, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người được hưởng
án treo làm việc;
d) Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn
vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo;
đ) Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra
quyết định thi hành án có trụ sở.
Điều 85. Thi
hành quyết định thi hành án treo
1. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án treo, cơ quan thi hành án hình
sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải triệu tập
người được hưởng án treo, người đại diện trong trường hợp người được hưởng án
treo là người dưới 18 tuổi đến trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư
trú, đơn vị quân đội nơi người đó làm việc để cam kết việc chấp hành án. Người
được hưởng án treo, người đại diện của người được hưởng án treo phải có mặt
theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách
quan. Trường hợp người được hưởng án treo không có mặt theo giấy triệu tập hoặc
không cam kết thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu lập biên bản vi phạm nghĩa vụ.
2. Khi nhận được quyết định thi
hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án
hình sự cấp quân khu lập hồ sơ thi hành án và sao gửi cho Ủy ban nhân dân cấp
xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo. Hồ
sơ bao gồm:
a) Bản án, quyết định của Tòa
án có hiệu lực pháp luật;
b) Quyết định thi hành án treo;
c) Cam kết của người được hưởng
án treo. Đối với người được hưởng án treo là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi
thì bản cam kết của người đó phải có xác nhận của người đại diện;
d) Tài liệu khác có liên quan.
3. Trong thời hạn 07 ngày kể từ
ngày triệu tập người được hưởng án treo,
Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị
quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo phải lập hồ sơ
giám sát, giáo dục người được hưởng án treo. Hồ sơ bao gồm:
a) Bản sao các tài liệu quy định
tại khoản 2 Điều này;
b) Bản nhận xét của Ủy ban nhân
dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục về việc chấp hành
nghĩa vụ của người được hưởng án treo;
c) Bản tự nhận xét của người được
hưởng án treo về việc thực hiện nghĩa vụ chấp hành pháp luật; trường hợp người
được hưởng án treo bị kiểm điểm theo quy định tại Điều 91 của
Luật này thì phải có bản kiểm điểm và biên bản cuộc họp kiểm điểm;
d) Trường hợp người được hưởng
án treo được rút ngắn thời gian thử thách thì phải có quyết định của Tòa án;
đ) Tài liệu khác có liên quan.
4. Trước khi hết thời gian thử
thách 03 ngày, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo
dục bàn giao hồ sơ giám sát, giáo dục cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu. Vào ngày cuối cùng của thời
gian thử thách, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành
án hình sự cấp quân khu phải cấp giấy chứng nhận chấp hành xong thời gian thử
thách. Giấy chứng nhận phải gửi cho người được hưởng án treo, Ủy ban nhân dân cấp
xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục, Tòa án đã ra quyết định thi
hành án, Viện kiểm sát cùng cấp, Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định thi
hành án có trụ sở.
5. Trường hợp người được hưởng
án treo chết, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo
dục thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định thi hành
án. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, Tòa án đã
ra quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ thi hành án và gửi cho cơ
quan quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản 2 Điều 84 của Luật
này.
Điều 86.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám
sát, giáo dục người được hưởng án treo
1. Ủy ban nhân dân cấp xã được
giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo có nhiệm vụ, quyền hạn sau
đây:
a) Lập hồ sơ, tổ chức giám sát,
giáo dục người được hưởng án treo; bàn giao hồ sơ cho cơ quan thi hành án hình
sự có thẩm quyền theo quy định của Luật này;
b) Yêu cầu người được hưởng án
treo thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình; có biện pháp giáo dục, phòng ngừa khi
người đó có dấu hiệu vi phạm pháp luật;
c) Biểu dương người được hưởng
án treo có nhiều tiến bộ hoặc lập công;
d) Giải quyết cho người được hưởng
án treo được vắng mặt ở nơi cư trú theo quy định của Luật này và pháp luật về
cư trú;
đ) Phối hợp với các tổ chức
chính trị - xã hội, gia đình và cơ quan, tổ chức nơi người được hưởng án treo
làm việc, học tập trong việc giám sát, giáo dục người đó;
e) Báo cáo cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp huyện để đề nghị Tòa án cùng cấp xem xét, quyết định việc
rút ngắn thời gian thử thách;
g) Báo cáo cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp huyện tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm
quyền quyết định buộc người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ phải chấp hành
hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định của Luật này;
h) Báo cáo cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp huyện khi người được hưởng án treo bỏ trốn;
i) Hằng tháng nhận xét bằng văn
bản về quá trình chấp hành án của người được hưởng án treo và lưu hồ sơ giám
sát, giáo dục;
k) Báo cáo cơ quan thi hành án
hình sự có thẩm quyền về kết quả thi hành án.
2. Công an cấp xã có nhiệm vụ
tham mưu, trực tiếp giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Đơn vị quân đội được giao
giám sát, giáo dục người được hưởng án treo có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Nhiệm vụ, quyền hạn quy định
tại các điểm a, b, c, i và k khoản 1 Điều này;
b) Phối hợp với Ủy ban nhân dân
cấp xã giải quyết cho người được hưởng án treo được vắng mặt ở nơi cư trú theo
quy định của Luật này và pháp luật về cư trú;
c) Phối hợp với gia đình và Ủy
ban nhân dân cấp xã nơi người được hưởng án treo cư trú trong việc giám sát,
giáo dục người đó;
d) Báo cáo cơ quan thi hành án
hình sự cấp quân khu để đề nghị Tòa án quân sự khu vực xem xét, quyết định việc
rút ngắn thời gian thử thách;
đ) Báo cáo cơ quan thi hành án
hình sự có thẩm quyền tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền
quyết định buộc người được hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ phải chấp hành hình
phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định của Luật này;
e) Báo cáo cơ quan thi hành án
hình sự cấp quân khu khi người được hưởng án treo bỏ trốn.
Điều 87.
Nghĩa vụ của người được hưởng án treo
1. Có mặt theo giấy triệu tập
và cam kết việc chấp hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 85
của Luật này.
2. Thực hiện nghiêm chỉnh cam kết
trong việc tuân thủ pháp luật, nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của nơi cư
trú, nơi làm việc, học tập; chấp hành đầy đủ hình phạt bổ sung, nghĩa vụ bồi
thường thiệt hại, trừ trường hợp vì lý do khách quan được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền xác nhận.
3. Chịu sự giám sát, giáo dục của
Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục, cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu
nơi cư trú, nơi làm việc.
4. Chấp hành quy định tại Điều 92 của Luật này.
5. Phải có mặt theo yêu cầu của
Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục, cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu.
6. Hằng tháng phải báo cáo bằng
văn bản với Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục
về tình hình chấp hành nghĩa vụ của mình. Trường hợp vắng mặt theo quy định tại
khoản 1 Điều 92 của Luật này thì khi hết thời hạn vắng mặt,
người được hưởng án treo phải báo cáo về tình hình chấp hành nghĩa vụ của mình.
Điều 88.
Việc lao động, học tập của người được hưởng án treo
1. Người được hưởng án treo là
cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến
sĩ, công nhân và viên chức quốc phòng, công nhân công an, người lao động nếu được
tiếp tục làm việc tại cơ quan, tổ chức thì được bố trí công việc bảo đảm yêu cầu
giám sát, giáo dục, được hưởng tiền lương và chế độ khác phù hợp với công việc
mà họ đảm nhiệm, được tính vào thời gian công tác, thời gian tại ngũ theo quy định
của pháp luật.
2. Người được hưởng án treo được
cơ sở giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp tiếp nhận học tập thì được hưởng
quyền lợi theo quy chế của cơ sở đó.
3. Người được hưởng án treo
không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì được Ủy ban
nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú tạo điều kiện tìm việc làm.
4. Người được hưởng án treo thuộc
đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi người có công với cách mạng, người đang hưởng
chế độ bảo hiểm xã hội thì thực hiện theo quy định của pháp luật.
Điều 89.
Rút ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo
1. Người được hưởng án treo được
đề nghị rút ngắn thời gian thử thách khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Đã chấp hành được một phần
hai thời gian thử thách;
b) Trong thời gian thử thách,
người được hưởng án treo đã chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, các nghĩa vụ theo
quy định tại Điều 87 của Luật này; tích cực học tập, lao động,
sửa chữa lỗi lầm hoặc lập thành tích trong lao động, bảo vệ an ninh, trật tự được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền khen thưởng.
2. Người được hưởng án treo chỉ
được xét rút ngắn thời gian thử thách mỗi năm 01 lần, mỗi lần từ 01 tháng đến
01 năm. Trường hợp thời gian thử thách còn lại không quá 01 tháng thì có thể được
rút ngắn hết thời gian thử thách còn lại. Người được hưởng án treo có thể được
rút ngắn thời gian thử thách nhiều lần, nhưng phải bảo đảm thực tế đã chấp hành
ba phần tư thời gian thử thách.
3. Trường hợp người được hưởng
án treo lập công hoặc bị bệnh hiểm nghèo và có đủ các điều kiện quy định tại
khoản 1 Điều này thì Tòa án có thể rút ngắn hết thời gian thử thách còn lại.
4. Trường hợp người được hưởng
án treo đã được rút ngắn thời gian thử thách nhưng sau đó vi phạm nghĩa vụ quy
định tại Điều 87 của Luật này và bị Tòa án quyết định buộc
người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo thì thời
gian thử thách đã được rút ngắn không được tính để trừ vào thời gian chấp hành
án phạt tù.
Điều 90.
Thủ tục rút ngắn thời gian thử thách đối với người được hưởng án treo
1. Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn
vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo có trách nhiệm
rà soát người đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 89 của
Luật này, báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan
thi hành án hình sự cấp quân khu kèm theo tài liệu có liên quan để đề nghị xét
rút ngắn thời gian thử thách.
2. Trong thời hạn 07 ngày kể từ
ngày nhận được báo cáo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện lập hồ sơ
và có văn bản đề nghị rút ngắn thời gian thử thách đối với người có đủ điều kiện
gửi đến Tòa án và Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp xét thấy không đủ điều kiện
lập hồ sơ rút ngắn thời gian thử thách, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
huyện có văn bản thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo
dục người được hưởng án treo.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ
ngày nhận được báo cáo, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập hồ sơ và
có văn bản đề nghị rút ngắn thời gian thử thách đối với người có đủ điều kiện gửi
đến Tòa án và Viện kiểm sát quân sự khu vực. Trường hợp xét thấy không đủ điều
kiện lập hồ sơ rút ngắn thời gian thử thách, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu có văn bản thông báo cho đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục
người được hưởng án treo.
3. Hồ sơ đề nghị rút ngắn thời
gian thử thách bao gồm:
a) Đơn đề nghị rút ngắn thời
gian thử thách của người được hưởng án treo;
b) Bản sao bản án. Đối với trường
hợp xét rút ngắn thời gian thử thách từ lần thứ hai thì bản sao bản án được
thay bằng bản sao quyết định thi hành án treo;
c) Văn bản đề nghị rút ngắn thời
gian thử thách của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát,
giáo dục người được hưởng án treo;
d) Trường hợp người được hưởng
án treo được khen thưởng hoặc lập công thì hồ sơ phải có quyết định khen thưởng
hoặc giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc người được hưởng án treo lập
công; trường hợp bị bệnh hiểm nghèo thì phải có kết luận của bệnh viện cấp tỉnh,
bệnh viện cấp quân khu trở lên về tình trạng bệnh của họ;
đ) Trường hợp người được hưởng
án treo đã được rút ngắn thời gian thử thách thì phải có bản sao quyết định rút
ngắn thời gian thử thách.
4. Trong thời hạn 07 ngày kể từ
ngày nhận được hồ sơ đề nghị rút ngắn thời gian thử thách, Chánh án Tòa án nhân
dân khu vực[12], Chánh án Tòa án
quân sự khu vực nơi người được hưởng án treo cư trú hoặc làm việc thành lập Hội
đồng và tổ chức phiên họp để xét, quyết định rút ngắn thời gian thử thách.
Thành phần Hội đồng gồm 03 Thẩm phán; phiên họp có sự tham gia của Kiểm sát
viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa
án thì thời hạn mở phiên họp được tính từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung.
5. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày ra quyết định về việc chấp nhận toàn bộ, chấp nhận một phần hoặc
không chấp nhận rút ngắn thời gian thử thách của án treo, Tòa án phải gửi quyết
định đó cho người chấp hành án, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên
trực tiếp, cơ quan đề nghị rút ngắn thời gian thử thách, Tòa án đã ra quyết định
cho hưởng án treo, Sở Tư pháp nơi Tòa án ra quyết định cho hưởng án treo có trụ
sở.
Điều 91.
Việc kiểm điểm người được hưởng án treo
1. Trong thời gian thử thách,
người được hưởng án treo thuộc một trong các trường hợp sau đây thì Ủy ban nhân
dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục tổ chức kiểm điểm:
a) Vi phạm nghĩa vụ quy định tại
các khoản 2, 3, 4, 5 và 6 Điều 87 của Luật này và đã bị nhắc
nhở bằng văn bản về việc vi phạm mà tiếp tục vi phạm;
b) Đã bị xử phạt vi phạm hành
chính.
2. Việc kiểm điểm phải được lập
thành biên bản, lưu hồ sơ giám sát, giáo dục và báo cáo cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
Điều 92.
Giải quyết việc vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc
của người được hưởng án treo
1. Người được hưởng án treo có
thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định
tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp
luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và
tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời
gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định
của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
2. Người được hưởng án treo khi
vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân
dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng
ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu
rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với
Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải
có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu
trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp
xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã,
đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
3. Việc giải quyết trường hợp
người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo
quy định tại Điều 68 của Luật này.
4. Người được hưởng án treo
không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.
Điều 93. Xử
lý vi phạm đối với người được hưởng án treo
1. Trường hợp người được hưởng
án treo vi phạm nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều 87 của Luật
này thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án
hình sự cấp quân khu lập biên bản vi phạm, đồng thời yêu cầu người được hưởng
án treo phải có mặt trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày lập biên bản vi phạm. Hết
thời hạn này mà người được hưởng án treo vẫn không có mặt thì cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập biên
bản vi phạm và đề nghị Tòa án nhân dân khu vực[13] nơi người được hưởng án treo cư trú, Tòa án quân sự khu
vực nơi người được hưởng án treo làm việc quyết định buộc người đó phải chấp
hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Trong thời gian thử thách, nếu
người được hưởng án treo đã bị kiểm điểm theo quy định tại Điều
91 của Luật này nhưng sau khi kiểm điểm vẫn tiếp tục vi phạm và đã được nhắc
nhở bằng văn bản mà vẫn cố ý vi phạm thì Công an cấp xã đề xuất Ủy ban nhân dân
cấp xã báo cáo, đề nghị cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện tiến hành
trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền quyết định buộc người đó phải chấp
hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm
việc kể từ ngày nhận được báo cáo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện
lập hồ sơ đề nghị buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo gửi
Tòa án nhân dân khu vực[14] để
xem xét, quyết định, đồng thời gửi Viện kiểm sát cùng cấp. Hồ sơ bao gồm:
a) Văn bản đề nghị của cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp huyện;
b) Báo cáo của Ủy ban nhân dân
cấp xã được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo về việc người được
hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên;
c) Biên bản người được hưởng án
treo vi phạm nghĩa vụ;
d) Quyết định xử phạt vi phạm
hành chính đối với người được hưởng án treo trong trường hợp người đó bị xử phạt
vi phạm hành chính;
đ) Biên bản kiểm điểm người được
hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ;
e) Tài liệu khác có liên quan.
4. Trong thời gian thử thách, nếu
người được hưởng án treo do đơn vị quân đội giám sát, giáo dục đã bị kiểm điểm
theo quy định tại Điều 91 của Luật này nhưng sau khi kiểm
điểm vẫn tiếp tục vi phạm và đã được nhắc nhở bằng văn bản mà vẫn cố ý vi phạm
thì đơn vị quân đội giám sát, giáo dục lập biên bản vi phạm và đề nghị cơ quan
thi hành án hình sự cấp quân khu tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có
thẩm quyền quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã
cho hưởng án treo, đồng thời gửi Viện kiểm sát quân sự cùng cấp. Hồ sơ bao gồm:
a) Văn bản đề nghị của cơ quan
thi hành án hình sự cấp quân khu;
b) Báo cáo của đơn vị quân đội
được giao giám sát, giáo dục người được hưởng án treo về việc người được hưởng
án treo vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên;
c) Biên bản người được hưởng án
treo vi phạm nghĩa vụ;
d) Quyết định xử phạt vi phạm
hành chính đối với người được hưởng án treo trong trường hợp người đó bị xử phạt
hành chính;
đ) Biên bản kiểm điểm người được
hưởng án treo vi phạm nghĩa vụ;
e) Tài liệu khác có liên quan.
5. Trong thời hạn 05 ngày làm
việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị, Chánh án Tòa án nhân dân khu vực[15], Chánh án Tòa án quân sự khu vực
nơi người được hưởng án treo cư trú hoặc làm việc thành lập Hội đồng và tổ chức
phiên họp để xét, quyết định buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng
án treo. Thành phần Hội đồng gồm 03 Thẩm phán; phiên họp có sự tham gia của Kiểm
sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ phải bổ sung theo yêu cầu của
Tòa án thì thời hạn mở phiên họp được tính từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc
kể từ ngày ra quyết định về việc buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho
hưởng án treo, Tòa án phải gửi quyết định cho cá nhân, cơ quan quy định tại khoản 2 Điều 84 của Luật này.
6. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải làm
thủ tục đưa người bị buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án
treo đi chấp hành án phạt tù. Trường hợp người bị Tòa án quyết định chấp hành
hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo bỏ trốn thì cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu làm thủ tục
đề nghị cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền ra quyết định truy nã.
Trường hợp Tòa án không chấp nhận
đề nghị buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo thì cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu
lưu quyết định và các tài liệu có liên quan vào hồ sơ thi hành án treo và thông
báo quyết định cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát,
giáo dục người được hưởng án treo để tiếp tục giám sát, giáo dục.
Điều 94.
Trách nhiệm giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức và gia đình đối với người
được hưởng án treo
1. Cơ quan, tổ chức có liên
quan có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội trong
việc giám sát, giáo dục người được hưởng án treo.
2. Gia đình người được hưởng án
treo có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục và thông báo kết quả
chấp hành án của người được hưởng án treo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao
giám sát, giáo dục khi có yêu cầu; phải có mặt tại cuộc họp kiểm điểm người được
hưởng án treo theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được
giao giám sát, giáo dục.
Mục 2. THI
HÀNH ÁN PHẠT CẢNH CÁO
Điều 95.
Thi hành án phạt cảnh cáo
1. Trong thời hạn 07 ngày kể từ
ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải gửi bản án cho
người bị phạt cảnh cáo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan
thi hành án hình sự cấp quân khu, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội nơi
người bị phạt cảnh cáo cư trú hoặc làm việc, Sở Tư pháp nơi Tòa án đã xét xử sơ
thẩm có trụ sở.
2. Cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm theo
dõi, thống kê, báo cáo theo quy định của Luật này.
Mục 3. THI
HÀNH ÁN PHẠT CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ
Điều 96.
Quyết định thi hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Quyết định thi hành án phạt
cải tạo không giam giữ phải ghi rõ họ, tên, chức vụ người ra quyết định; bản án
được thi hành; họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người chấp hành
án; thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ; hình phạt bổ sung, trừ
hình phạt bổ sung là hình phạt tiền; tên cơ quan có nhiệm vụ thi hành; Ủy ban
nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người chấp hành
án.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày ra quyết định thi hành án phạt cải tạo không giam giữ, Tòa án
phải gửi quyết định đó cho cá nhân, cơ quan sau đây:
a) Người chấp hành án, người đại
diện trong trường hợp người chấp hành án là người dưới 18 tuổi;
b) Viện kiểm sát cùng cấp;
c) Cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp huyện nơi Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục người chấp
hành án, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người chấp hành án làm việc;
d) Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn
vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người chấp hành án;
đ) Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra
quyết định thi hành án có trụ sở.
Điều 97.
Thi hành quyết định thi hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án phạt cải tạo không giam giữ,
cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu phải triệu tập người chấp hành án, người đại diện trong trường hợp người
chấp hành án là người dưới 18 tuổi đến trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người
đó cư trú, đơn vị quân đội nơi người đó làm việc để cam kết việc chấp hành án.
Người chấp hành án, người đại diện của người chấp hành án phải có mặt theo giấy
triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Trường
hợp người chấp hành án không có mặt theo giấy triệu tập hoặc không cam kết thì
cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu lập biên bản vi phạm nghĩa vụ.
2. Khi nhận được quyết định thi
hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án
hình sự cấp quân khu lập hồ sơ thi hành án và sao gửi cho Ủy ban nhân dân cấp
xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người chấp hành án. Hồ sơ bao
gồm:
a) Bản án, quyết định của Tòa
án có hiệu lực pháp luật;
b) Quyết định thi hành án;
c) Cam kết của người chấp hành
án. Đối với người chấp hành án là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì bản
cam kết của người đó phải có xác nhận của người đại diện;
d) Tài liệu khác có liên quan.
3. Trong thời hạn 07 ngày kể từ
ngày triệu tập người chấp hành án, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được
giao giám sát, giáo dục người chấp hành án phải lập hồ sơ giám sát, giáo dục
người chấp hành án. Hồ sơ bao gồm:
a) Các tài liệu quy định tại
khoản 2 Điều này;
b) Bản nhận xét của Ủy ban nhân
dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục về việc chấp hành
nghĩa vụ của người chấp hành án;
c) Bản tự nhận xét của người chấp
hành án về việc thực hiện nghĩa vụ chấp hành pháp luật; trường hợp người chấp
hành án bị kiểm điểm theo quy định tại Điều 105 của Luật này
thì phải có bản kiểm điểm và biên bản cuộc họp kiểm điểm;
d) Trường hợp được giảm thời hạn
chấp hành án, miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ thì phải có quyết định
của Tòa án;
đ) Tài liệu khác có liên quan.
4. Trước khi hết thời gian chấp
hành án 03 ngày, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát,
giáo dục bàn giao hồ sơ giám sát, giáo dục cho cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu. Vào ngày cuối cùng của
thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ, cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu phải cấp giấy chứng
nhận chấp hành xong án phạt cải tạo không giam giữ. Giấy chứng nhận phải gửi
cho người chấp hành án, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám
sát, giáo dục, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Viện kiểm sát cùng cấp, Sở
Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định thi hành án có trụ sở.
5. Trường hợp người chấp hành
án chết, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục
thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành
án hình sự cấp quân khu để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, Tòa án đã ra
quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ thi hành án và gửi cho cơ
quan quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản 2 Điều 96 của Luật
này.
Điều 98.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám
sát, giáo dục người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Ủy ban nhân dân cấp xã được
giao giám sát, giáo dục người chấp hành án có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Lập hồ sơ, tổ chức giám sát,
giáo dục người chấp hành án; bàn giao hồ sơ cho cơ quan thi hành án hình sự có
thẩm quyền theo quy định của Luật này;
b) Yêu cầu người chấp hành án
thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình; có biện pháp giáo dục, phòng ngừa khi người
đó có dấu hiệu vi phạm pháp luật;
c) Biểu dương người chấp hành
án có nhiều tiến bộ hoặc lập công;
d) Giải quyết cho người chấp
hành án được vắng mặt ở nơi cư trú theo quy định của Luật này và pháp luật về
cư trú;
đ) Phối hợp với các tổ chức
chính trị - xã hội, gia đình và cơ quan, tổ chức nơi người chấp hành án làm việc,
học tập trong việc giám sát, giáo dục người đó;
e) Báo cáo cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp huyện để đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định
giảm thời hạn chấp hành án, miễn chấp hành án;
g) Phối hợp với cơ quan thi
hành án dân sự thực hiện khấu trừ một phần thu nhập của người chấp hành án theo
quyết định của Tòa án để sung quỹ nhà nước;
h) Tổ chức giám sát người chấp
hành án thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng;
i) Đề nghị cơ quan, người có thẩm
quyền xử phạt vi phạm hành chính hoặc xem xét, truy cứu trách nhiệm hình sự người
chấp hành án trong trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 105 của
Luật này;
k) Hằng tháng nhận xét bằng văn
bản về quá trình chấp hành án của người chấp hành án và lưu hồ sơ giám sát,
giáo dục;
l) Báo cáo cơ quan thi hành án
hình sự có thẩm quyền về kết quả thi hành án.
2. Công an cấp xã có nhiệm vụ
tham mưu, trực tiếp giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Đơn vị quân đội được giao
giám sát, giáo dục người chấp hành án có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Nhiệm vụ, quyền hạn quy định
tại các điểm a, b, c, g, i, k và l khoản 1 Điều này;
b) Phối hợp với Ủy ban nhân dân
cấp xã giải quyết cho người chấp hành án được vắng mặt ở nơi cư trú theo quy định
của Luật này và pháp luật về cư trú;
c) Phối hợp với gia đình và Ủy
ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án cư trú trong việc giám sát, giáo dục
người đó;
d) Báo cáo cơ quan thi hành án
hình sự cấp quân khu để đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định giảm
thời hạn chấp hành án, miễn chấp hành án.
Điều 99.
Nghĩa vụ của người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Có mặt theo giấy triệu tập
và cam kết việc chấp hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 97
của Luật này.
2. Chấp hành nghiêm chỉnh cam kết
tuân thủ pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế của
nơi cư trú, nơi làm việc; tích cực tham gia lao động, học tập; chấp hành đầy đủ
nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, các hình phạt bổ sung theo bản án của Tòa án.
3. Thực hiện nghĩa vụ nộp phần
thu nhập bị khấu trừ; thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng
theo quy định của pháp luật.
4. Chịu sự giám sát, giáo dục của
Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục, cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu
nơi cư trú, nơi làm việc.
5. Chấp hành quy định tại Điều 100 của Luật này.
6. Có mặt theo yêu cầu của Ủy
ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục, cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
7. Hằng tháng phải nộp bản tự
nhận xét về việc thực hiện nghĩa vụ chấp hành án cho Ủy ban nhân dân cấp xã,
đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 100 của Luật này.
Điều 100.
Giải quyết việc vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc
của người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Người chấp hành án có thể vắng
mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại
khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật
về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 30 ngày và tổng
số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian
chấp hành án, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định
của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
2. Người chấp hành án khi vắng
mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp
xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy
ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
Người chấp hành án khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi
mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy
ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người
chấp hành án vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm
trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được
giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
3. Việc giải quyết trường hợp
người chấp hành án thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc trong quân đội thực hiện
theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
4. Người chấp hành án không được
xuất cảnh trong thời gian chấp hành án.
Điều 101.
Việc lao động, học tập của người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Người chấp hành án là cán bộ,
công chức, viên chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ,
công nhân và viên chức quốc phòng, công nhân công an, người lao động nếu được
tiếp tục làm việc tại cơ quan, tổ chức thì được bố trí công việc bảo đảm yêu cầu
giám sát, giáo dục, được hưởng tiền lương và chế độ khác phù hợp với công việc
mà họ đảm nhiệm, được tính vào thời gian công tác, thời gian tại ngũ theo quy định
của pháp luật.
2. Người chấp hành án được cơ sở
giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp tiếp nhận học tập thì được hưởng quyền
lợi theo quy chế của cơ sở đó.
3. Người chấp hành án không thuộc
trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được Ủy ban nhân dân cấp xã
nơi người đó chấp hành án tạo điều kiện tìm việc làm.
4. Người chấp hành án thuộc đối
tượng được hưởng chế độ ưu đãi người có công với cách mạng, người đang hưởng chế
độ bảo hiểm xã hội thì thực hiện theo quy định của pháp luật.
5. Người chấp hành án không có
việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành án thì phải thực hiện một
số công việc lao động phục vụ cộng đồng.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc
kể từ ngày người chấp hành án được xác định là không có việc làm hoặc bị mất việc
làm, Công an cấp xã có trách nhiệm báo cáo bằng văn bản với Ủy ban nhân dân
cùng cấp; trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo, Ủy ban
nhân dân cấp xã có trách nhiệm báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
huyện.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc
kể từ ngày nhận được báo cáo của Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp huyện phải xem xét, quyết định buộc người chấp hành án thực
hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng.
Báo cáo của Ủy ban nhân dân cấp
xã, quyết định của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải nêu rõ loại
công việc, thời gian lao động phục vụ cộng đồng dự kiến buộc người chấp hành án
phải thực hiện.
Căn cứ quyết định buộc người chấp
hành án phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng, Ủy ban nhân
dân cấp xã giao cho người chấp hành án thực hiện một số công việc lao động phục
vụ cộng đồng dưới sự giám sát của Công an cấp xã.
Điều 102.
Giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Người chấp hành án có thể được
Tòa án nhân dân khu vực[16], Tòa
án quân sự khu vực quyết định giảm thời hạn chấp hành án khi có đủ các điều kiện
sau đây:
a) Đã chấp hành được một phần
ba thời hạn án phạt; đối với người dưới 18 tuổi thì phải chấp hành được một phần
tư thời hạn án phạt;
b) Trong thời gian thử thách
người chấp hành án đã chấp hành nghiêm chỉnh các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 99 của Luật này; tích cực học tập, lao động, sửa chữa lỗi
lầm hoặc lập thành tích trong lao động, bảo vệ an ninh, bảo đảm trật tự, an
toàn xã hội được cơ quan nhà nước có thẩm quyền khen thưởng;
c) Bồi thường được một phần
nghĩa vụ dân sự trong trường hợp có nghĩa vụ dân sự.
2. Người chấp hành án mỗi năm
được xét giảm thời hạn chấp hành án 01 lần, mỗi lần có thể được giảm từ 03
tháng đến 09 tháng.
3. Người chấp hành án có thể được
giảm thời hạn chấp hành án nhiều lần nhưng phải bảo đảm thời gian thực tế chấp
hành án là một phần hai mức án, đối với người chấp hành án là người dưới 18 tuổi
thì phải bảo đảm thời gian thực tế chấp hành án là hai phần năm mức án.
4. Người chấp hành án đã lập
công, người đã quá già yếu hoặc người bị bệnh hiểm nghèo đã chấp hành được một
phần tư thời hạn án phạt thì có thể được xét giảm thời hạn chấp hành án, mức giảm
mỗi lần cao nhất là 01 năm nhưng phải bảo đảm thời gian thực tế chấp hành án là
hai phần năm mức án.
5. Người chấp hành án là người
dưới 18 tuổi nếu lập công hoặc bị bệnh hiểm nghèo thì được xét giảm ngay. Trường
hợp đã chấp hành được hai phần năm mức án thì có thể được giảm hết thời hạn còn
lại.
Điều 103.
Thủ tục giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn
vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người chấp hành án có trách nhiệm rà
soát người đủ điều kiện giảm thời hạn chấp hành án, báo cáo cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu kèm theo
tài liệu có liên quan để đề nghị giảm thời hạn chấp hành án.
2. Trong thời hạn 07 ngày kể từ
ngày nhận được báo cáo, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện lập hồ sơ
và có văn bản đề nghị giảm thời hạn chấp hành án đối với người có đủ điều kiện
gửi đến Tòa án và Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp xét thấy không đủ điều kiện
lập hồ sơ giảm thời hạn chấp hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
huyện có văn bản thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo
dục người chấp hành án.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ
ngày nhận được báo cáo, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu lập hồ sơ và
có văn bản đề nghị giảm thời hạn chấp hành án đối với người có đủ điều kiện gửi
đến Tòa án và Viện kiểm sát quân sự khu vực. Trường hợp xét thấy không đủ điều
kiện lập hồ sơ giảm thời hạn chấp hành án, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân
khu có văn bản thông báo cho đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người
chấp hành án.
3. Hồ sơ đề nghị giảm thời hạn
chấp hành án bao gồm:
a) Đơn đề nghị giảm thời hạn chấp
hành án của người chấp hành án;
b) Bản sao bản án. Đối với trường
hợp xét giảm thời hạn chấp hành án từ lần thứ hai thì bản sao bản án được thay
bằng bản sao quyết định thi hành án;
c) Văn bản đề nghị giảm thời hạn
chấp hành án của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát,
giáo dục người chấp hành án;
d) Trường hợp người chấp hành
án được khen thưởng hoặc lập công thì hồ sơ phải có quyết định khen thưởng hoặc
giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc người chấp hành án lập công;
trường hợp bị bệnh hiểm nghèo thì phải có kết luận của bệnh viện cấp tỉnh, bệnh
viện cấp quân khu trở lên về tình trạng bệnh của họ; tài liệu thể hiện đã thực
hiện được một phần nghĩa vụ dân sự;
đ) Trường hợp người chấp hành
án đã được giảm thời hạn chấp hành án thì phải có bản sao quyết định giảm thời
hạn chấp hành án;
e) Tài liệu khác có liên quan.
4. Trong thời hạn 07 ngày kể từ
ngày nhận được hồ sơ đề nghị giảm thời hạn chấp hành án, Chánh án Tòa án nhân
dân khu vực[17], Chánh án Tòa án
quân sự khu vực nơi người chấp hành án cư trú hoặc làm việc thành lập Hội đồng
và tổ chức phiên họp để xét, quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt cải tạo
không giam giữ. Thành phần Hội đồng gồm 03 Thẩm phán; phiên họp có sự tham gia
của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ phải bổ sung theo
yêu cầu của Tòa án thì thời hạn mở phiên họp được tính từ ngày nhận được hồ sơ
bổ sung.
5. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày ra quyết định về việc chấp nhận toàn bộ, chấp nhận một phần hoặc
không chấp nhận giảm thời hạn chấp hành án, Tòa án phải gửi quyết định đó cho
người chấp hành án, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp,
cơ quan đề nghị giảm thời hạn chấp hành án, Tòa án đã ra quyết định thi hành
án, Sở Tư pháp nơi Tòa án ra quyết định cho giảm thời hạn chấp hành án có trụ sở.
Điều 104.
Thủ tục miễn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Viện kiểm sát nhân dân cấp
huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực nơi người chấp hành án đang cư trú, làm việc,
tự mình hoặc theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu xem xét, lập hồ sơ đề nghị Tòa án cùng cấp
xét miễn chấp hành án. Hồ sơ bao gồm:
a) Bản sao bản án, quyết định của
Tòa án có hiệu lực pháp luật;
b) Văn bản đề nghị của Viện trưởng
Viện kiểm sát;
c) Văn bản đề nghị của cơ quan
thi hành án hình sự trong trường hợp cơ quan này đề nghị;
d) Đơn xin miễn chấp hành án của
người bị kết án hoặc người đại diện theo quy định của pháp luật;
đ) Xác nhận của cơ quan có thẩm
quyền về việc người bị kết án đã lập công; kết luận của bệnh viện cấp tỉnh, bệnh
viện cấp quân khu trở lên về tình trạng bệnh của người bị kết án bị bệnh hiểm
nghèo; xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc người bị kết án chấp hành tốt
pháp luật, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn.
2. Trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều này, Chánh án Tòa án có thẩm quyền
thành lập Hội đồng và tổ chức phiên họp để xét, quyết định miễn chấp hành án.
Thành phần Hội đồng gồm 03 Thẩm phán; phiên họp có sự tham gia của Kiểm sát
viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa
án thì thời hạn mở phiên họp được tính từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày ra quyết định về việc miễn chấp hành án, Tòa án phải gửi quyết
định đó cho người bị kết án, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực
tiếp, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự cùng cấp,
Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục người chấp
hành án, Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định miễn chấp hành án có trụ sở.
Điều 105.
Xử lý vi phạm đối với người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Trường hợp người chấp hành
án cố ý vi phạm nghĩa vụ quy định tại Điều 99 của Luật này
thì Công an cấp xã, đơn vị quân đội lập biên bản về việc vi phạm. Trường hợp đã
lập biên bản về việc vi phạm nghĩa vụ 02 lần nhưng người chấp hành án vẫn tiếp
tục vi phạm thì Công an cấp xã đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám
sát, giáo dục tổ chức kiểm điểm người đó; trường hợp người chấp hành án do đơn
vị quân đội giám sát, giáo dục thì đơn vị quân đội tổ chức kiểm điểm người đó.
Việc kiểm điểm phải được lập
thành biên bản, lưu hồ sơ giám sát, giáo dục và báo cáo cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
2. Người chấp hành án đã bị kiểm
điểm nhưng tiếp tục cố ý không chấp hành nghĩa vụ quy định tại Điều
99 của Luật này thì không được xem xét giảm thời hạn chấp hành án. Tùy theo
tính chất, mức độ của hành vi vi phạm, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội
được giao giám sát, giáo dục đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm
hành chính hoặc xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều 106.
Trách nhiệm giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức và gia đình đối với người
chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ
1. Cơ quan, tổ chức có liên
quan có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội trong
việc giám sát, giáo dục người chấp hành án.
2. Gia đình người chấp hành án
có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục và thông báo kết quả chấp
hành án của người chấp hành án cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát,
giáo dục khi có yêu cầu; phải có mặt tại cuộc họp kiểm điểm người chấp hành án
theo yêu cầu của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát,
giáo dục.
Chương VI
THI HÀNH ÁN PHẠT CẤM CƯ
TRÚ, QUẢN CHẾ
Mục 1. THI
HÀNH ÁN PHẠT CẤM CƯ TRÚ
Điều 107.
Thủ tục thi hành án phạt cấm cư trú
1. Hai tháng trước khi hết thời
hạn chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân có hình phạt bổ sung là cấm cư trú,
Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình
sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm
thông báo bằng văn bản về nội dung quy định tại khoản 1 Điều 46
của Luật này cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người đó
về cư trú và nơi người đó bị cấm cư trú, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó về
cư trú và nơi người đó bị cấm cư trú.
2. Ngay sau khi phạm nhân có
hình phạt bổ sung là cấm cư trú chấp hành xong án phạt tù, trại giam, trại tạm
giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự
cấp quân khu nơi người đó chấp hành án phải gửi giấy chứng nhận chấp hành xong
án phạt tù, bản sao bản án, bản sao quyết định thi hành án cho cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án về cư trú.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm
việc kể từ ngày nhận được các văn bản quy định tại khoản 2 Điều này, cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án về cư trú có trách nhiệm
lập hồ sơ thi hành án phạt cấm cư trú và sao gửi các tài liệu cho Ủy ban nhân
dân cấp xã nơi người chấp hành án về cư trú và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người
chấp hành án bị cấm cư trú. Hồ sơ bao gồm:
a) Bản sao bản án, quyết định của
Tòa án có hiệu lực pháp luật;
b) Bản sao quyết định thi hành
án phạt tù;
c) Giấy chứng nhận chấp hành
xong án phạt tù;
d) Tài liệu khác có liên quan.
4. Trong thời hạn 07 ngày kể từ
ngày nhận được các tài liệu quy định tại khoản 3 Điều này, Ủy ban nhân dân cấp
xã nơi người chấp hành án cư trú có trách nhiệm triệu tập người chấp hành án và
yêu cầu cam kết việc chấp hành án, lập hồ sơ giám sát, giáo dục người chấp hành
án. Hồ sơ bao gồm:
a) Các tài liệu quy định tại
khoản 3 Điều này;
b) Cam kết của người chấp hành
án; nhận xét về quá trình chấp hành án phạt cấm cư trú;
c) Biên bản vi phạm nghĩa vụ của
người chấp hành án (nếu có);
d) Quyết định xử phạt vi phạm
hành chính đối với người chấp hành án (nếu có);
đ) Quyết định của Tòa án về miễn
chấp hành thời hạn cấm cư trú còn lại (nếu có);
e) Tài liệu khác có liên quan.
5. Trước khi hết thời hạn cấm
cư trú 03 ngày hoặc trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định miễn
chấp hành thời hạn cấm cư trú còn lại, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp
hành án cư trú bàn giao hồ sơ giám sát, giáo dục người chấp hành án cho cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp huyện để cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án
phạt cấm cư trú. Giấy chứng nhận phải gửi cho người chấp hành án, Ủy ban nhân
dân cấp xã nơi người chấp hành án cư trú, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp
hành án bị cấm cư trú, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Sở Tư pháp nơi cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện cấp giấy chứng nhận chấp hành xong
án phạt cấm cư trú có trụ sở.
6. Trường hợp người chấp hành
án chết, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án cư trú thông báo cho cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để thông báo cho Tòa án đã ra quyết
định thi hành án. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông
báo, Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ thi hành
án và gửi cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Viện kiểm sát cùng
cấp, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án cư trú, Ủy ban nhân dân cấp
xã nơi người chấp hành án bị cấm cư trú, Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định
thi hành án có trụ sở.
Điều 108.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án về cư trú
1. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi
người chấp hành án về cư trú có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tiếp nhận hồ sơ, tổ chức
giám sát, giáo dục người chấp hành án; tạo điều kiện để họ lao động, học tập
bình thường;
b) Triệu tập người chấp hành án
để thông báo thi hành bản án; phổ biến quyền và nghĩa vụ và những quy định có
liên quan đến việc chấp hành án;
c) Nhận xét bằng văn bản và lưu
hồ sơ theo dõi về quá trình chấp hành án phạt cấm cư trú khi người đó chuyển
nơi cư trú;
d) Yêu cầu người chấp hành án
cam kết và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình; có biện pháp giáo dục, phòng ngừa
khi người đó có dấu hiệu vi phạm pháp luật;
đ) Báo cáo cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp huyện để đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét việc miễn chấp
hành thời hạn cấm cư trú còn lại cho người chấp hành án;
e) Báo cáo cơ quan thi hành án
hình sự có thẩm quyền về kết quả thi hành án.
2. Công an cấp xã có nhiệm vụ
tham mưu, trực tiếp giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 109.
Quyền và nghĩa vụ của người chấp hành án phạt cấm cư trú
1. Người chấp hành án phạt cấm
cư trú có các quyền sau đây:
a) Khi có lý do chính đáng và
được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị cấm cư trú thì người chấp hành
án phạt cấm cư trú được đến địa phương đó; thời gian lưu trú do Ủy ban nhân dân
cấp xã nơi đến quyết định nhưng mỗi lần không quá 05 ngày;
b) Khi có đủ điều kiện theo quy
định của pháp luật thì được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú đề nghị miễn chấp
hành thời hạn cấm cư trú theo quy định của Luật này.
2. Người chấp hành án phạt cấm
cư trú có các nghĩa vụ sau đây:
a) Không được cư trú ở những
nơi đã bị cấm cư trú, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;
b) Chấp hành nghiêm chỉnh cam kết
của mình trong việc tuân thủ pháp luật;
c) Có mặt theo yêu cầu của Ủy
ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án cư trú.
Điều 110.
Thủ tục miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú còn lại
1. Khi người chấp hành án phạt
cấm cư trú có đủ điều kiện quy định tại khoản 6 Điều 62 của Bộ luật Hình sự, Ủy
ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án cư trú báo cáo cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp huyện lập hồ sơ đề nghị Tòa án cùng cấp xét miễn chấp hành
thời hạn cấm cư trú còn lại, đồng thời sao gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp. Hồ
sơ bao gồm:
a) Bản sao bản án, quyết định của
Tòa án có hiệu lực pháp luật; bản sao quyết định thi hành án;
b) Văn bản đề nghị của Ủy ban
nhân dân cấp xã;
c) Văn bản đề nghị của cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp huyện;
d) Đơn xin miễn chấp hành án của
người bị cấm cư trú;
đ) Tài liệu khác có liên quan.
2. Trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều này, Chánh án Tòa án có thẩm quyền
thành lập Hội đồng và tổ chức phiên họp để xét, quyết định miễn chấp hành thời
hạn cấm cư trú còn lại. Thành phần Hội đồng gồm 03 Thẩm phán; phiên họp có sự
tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ phải bổ
sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn mở phiên họp được tính từ ngày nhận
được hồ sơ bổ sung.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày ra quyết định về việc miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú còn lại,
Tòa án phải gửi quyết định đó cho người chấp hành án, Viện kiểm sát cùng cấp,
Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, cơ quan
thi hành án hình sự cùng cấp, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú và nơi
người đó bị cấm cư trú, Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định miễn chấp hành
án có trụ sở.
Điều 111.
Xử lý người chấp hành án phạt cấm cư trú vi phạm nghĩa vụ
1. Trường hợp người chấp hành
án đến lưu trú mà chưa được phép hoặc lưu trú quá thời hạn cho phép thì Trưởng
Công an, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm
quyền, buộc họ rời khỏi địa phương và thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi
người chấp hành án cư trú.
2. Trường hợp người chấp hành
án phạt cấm cư trú không chấp hành nghĩa vụ quy định tại điểm b
và điểm c khoản 2 Điều 109 của Luật này thì không được xem xét miễn chấp
hành thời hạn cấm cư trú còn lại.
Mục 2. THI
HÀNH ÁN PHẠT QUẢN CHẾ
Điều 112.
Thủ tục thi hành án phạt quản chế
1. Hai tháng trước khi hết thời
hạn chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân có hình phạt bổ sung là quản chế,
Giám thị trại giam có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về nội dung quy định tại
khoản 1 Điều 46 của Luật này cho cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó về cư trú để chấp hành
án phạt quản chế.
2. Khi phạm nhân có hình phạt bổ
sung là quản chế chấp hành xong án phạt tù, trại giam phải giao người bị quản
chế kèm theo bản sao bản án, bản sao quyết định thi hành án, giấy chứng nhận chấp
hành xong án phạt tù, nhận xét kết quả chấp hành án phạt tù và tài liệu có liên
quan cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện tại trụ sở Ủy ban nhân
dân cấp xã nơi người đó về cư trú. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện
phải giao ngay người đó cho Ủy ban nhân dân cấp xã để kiểm soát, giáo dục.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm
việc kể từ ngày nhận người chấp hành án, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
huyện phải lập hồ sơ thi hành án phạt quản chế và sao gửi các tài liệu cho Ủy
ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án về cư trú. Hồ sơ bao gồm:
a) Bản sao bản án, quyết định của
Tòa án có hiệu lực pháp luật;
b) Bản sao quyết định thi hành
án phạt tù;
c) Giấy chứng nhận chấp hành
xong án phạt tù;
d) Biên bản giao người bị quản
chế;
đ) Tài liệu về quá trình chấp
hành án phạt tù và tài liệu khác có liên quan.
4. Trong thời hạn 07 ngày kể từ
ngày nhận được các tài liệu quy định tại khoản 3 Điều này, Ủy ban nhân dân cấp
xã nơi người chấp hành án cư trú có trách nhiệm triệu tập người chấp hành án và
yêu cầu cam kết việc chấp hành án, lập hồ sơ kiểm soát, giáo dục người chấp
hành án phạt quản chế. Hồ sơ bao gồm:
a) Các tài liệu quy định tại
khoản 3 Điều này;
b) Cam kết của người chấp hành
án phạt quản chế;
c) Nhận xét về quá trình chấp
hành án phạt quản chế;
d) Biên bản vi phạm nghĩa vụ của
người chấp hành án (nếu có);
đ) Quyết định xử phạt vi phạm
hành chính đối với người chấp hành án (nếu có);
e) Quyết định của Tòa án về miễn
chấp hành thời hạn quản chế còn lại (nếu có);
g) Tài liệu khác có liên quan.
5. Trước khi hết thời hạn quản
chế 03 ngày hoặc trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa
án về miễn chấp hành thời hạn quản chế còn lại, Ủy ban nhân dân cấp xã bàn giao
hồ sơ kiểm soát, giáo dục cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để
cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt quản chế. Giấy chứng nhận phải gửi
cho người chấp hành án, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú, Tòa án đã
ra quyết định thi hành án, Sở Tư pháp nơi cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
huyện cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt quản chế có trụ sở.
6. Trường hợp người chấp hành
án chết, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án cư trú thông báo cho cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp huyện để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định
thi hành án. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo,
Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ thi hành án và
gửi cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Viện kiểm sát cùng cấp, Ủy
ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án cư trú, Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra
quyết định thi hành án có trụ sở.
Điều 113.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án phạt quản
chế về cư trú
1. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi
người chấp hành án về cư trú có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tiếp nhận người chấp hành án
và hồ sơ thi hành án phạt quản chế; tổ chức kiểm soát, giáo dục người chấp hành
án; tạo điều kiện để họ lao động, học tập bình thường tại nơi bị quản chế; nhận
xét bằng văn bản và lưu hồ sơ theo dõi về quá trình chấp hành án;
b) Triệu tập người chấp hành án
để thông báo thi hành bản án, phổ biến quyền và nghĩa vụ và những quy định có
liên quan đến việc chấp hành án;
c) Yêu cầu người chấp hành án
cam kết và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình; có biện pháp giáo dục, phòng ngừa
khi người đó có dấu hiệu vi phạm pháp luật; triệu tập người bị quản chế trong
trường hợp cần thiết; cấp giấy phép cho người chấp hành án đi khỏi nơi quản chế
theo quy định tại Điều 115 của Luật này;
d) Định kỳ 03 tháng 01 lần nhận
xét quá trình chấp hành án gửi cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện;
đ) Báo cáo cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp huyện để đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét việc miễn chấp
hành thời hạn quản chế còn lại cho người chấp hành án;
e) Báo cáo cơ quan thi hành án
hình sự có thẩm quyền về kết quả thi hành án.
2. Công an cấp xã có nhiệm vụ
tham mưu, trực tiếp giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 114.
Quyền và nghĩa vụ của người chấp hành án phạt quản chế
1. Người chấp hành án có các
quyền sau đây:
a) Sinh sống cùng gia đình tại
nơi quản chế;
b) Lựa chọn việc làm thích hợp,
trừ những ngành, nghề hoặc công việc mà người chấp hành án không được làm theo
quy định của pháp luật; được hưởng thành quả lao động do mình làm ra;
c) Tự do đi lại trong phạm vi
xã, phường, thị trấn nơi quản chế;
d) Được xét miễn chấp hành thời
hạn quản chế còn lại theo quy định tại Điều 117 của Luật này.
2. Người chấp hành án có các
nghĩa vụ sau đây:
a) Chịu sự kiểm soát, giáo dục
của Ủy ban nhân dân cấp xã và nhân dân địa phương; không được tự ý rời khỏi nơi
quản chế;
b) Mỗi tháng một lần vào tuần đầu
của tháng, trình diện và báo cáo với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi quản chế việc
chấp hành quy định về quản chế;
c) Có mặt tại địa điểm quy định
khi Ủy ban nhân dân cấp xã triệu tập, nếu vắng mặt phải có lý do chính đáng;
d) Chấp hành nghiêm chỉnh chính
sách, pháp luật và quy định của chính quyền địa phương; tích cực lao động, học
tập, cải tạo để trở thành người có ích cho xã hội;
đ) Trường hợp được phép đi khỏi
nơi quản chế, người chấp hành án phạt quản chế phải khai báo tạm vắng; trình diện,
xuất trình giấy phép, làm thủ tục đăng ký tạm trú, lưu trú với Công an cấp xã
nơi đến theo quy định; trở về nơi quản chế đúng thời hạn và trình diện với Ủy
ban nhân dân cấp xã.
Điều 115.
Giải quyết trường hợp người chấp hành án phạt quản chế đi khỏi nơi quản chế
1.[18] Trường hợp có lý do chính đáng, người chấp hành án có
thể được cấp giấy phép đi khỏi nơi quản chế. Thẩm quyền cấp giấy phép như sau:
a) Trưởng Công an cấp xã nơi quản
chế cấp giấy phép đi lại trong phạm vi cấp tỉnh nơi quản chế;
b) Thủ trưởng cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp tỉnh cấp giấy phép đi ra ngoài phạm vi cấp tỉnh nơi quản
chế.
2. Thời hạn người chấp hành án
được phép đi khỏi nơi quản chế do người có thẩm quyền cấp giấy phép quyết định,
nhưng mỗi lần không quá 10 ngày. Trường hợp người chấp hành án phải đi chữa bệnh
thì thời gian đi khỏi nơi quản chế theo thời gian điều trị của cơ sở chữa bệnh.
Điều 116.
Xử lý người chấp hành án phạt quản chế vi phạm nghĩa vụ
1. Trường hợp người chấp hành
án vi phạm nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 114 của Luật này
thì Công an cấp xã lập biên bản vi phạm nghĩa vụ, lưu hồ sơ thi hành án.
2. Người chấp hành án phạt quản
chế đi khỏi nơi quản chế mà không có giấy phép hoặc vi phạm quy định ghi trong
giấy phép nếu không có lý do chính đáng thì thời gian này không được tính vào
thời hạn chấp hành án phạt quản chế.
Người chấp hành án phạt quản chế
vi phạm nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 114 của Luật này
thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc
truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều 117.
Thủ tục miễn chấp hành thời hạn quản chế còn lại
1. Khi người chấp hành án phạt
quản chế có đủ điều kiện quy định tại khoản 6 Điều 62 của Bộ luật Hình sự, Ủy
ban nhân dân cấp xã nơi quản chế báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
huyện lập hồ sơ đề nghị Tòa án cùng cấp xét miễn chấp hành thời hạn quản chế
còn lại, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp. Hồ sơ bao gồm:
a) Bản sao bản án, quyết định của
Tòa án có hiệu lực pháp luật; bản sao quyết định thi hành án phạt tù;
b) Văn bản đề nghị của Ủy ban
nhân dân cấp xã nơi quản chế;
c) Văn bản đề nghị của cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp huyện;
d) Đơn xin miễn chấp hành án của
người chấp hành án phạt quản chế;
đ) Tài liệu khác có liên quan.
2. Trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được hồ sơ quy định tại khoản 1 Điều này, Chánh án Tòa án có thẩm quyền
thành lập Hội đồng và tổ chức phiên họp để xét, quyết định miễn chấp hành thời
hạn quản chế còn lại. Thành phần Hội đồng gồm 03 Thẩm phán; phiên họp có sự
tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp. Trường hợp hồ sơ phải bổ
sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn mở phiên họp được tính từ ngày nhận
được hồ sơ bổ sung.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày ra quyết định về việc miễn chấp hành thời hạn quản chế còn lại,
Tòa án phải gửi quyết định đó cho người chấp hành án, Viện kiểm sát cùng cấp,
Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, cơ quan
thi hành án hình sự cùng cấp, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi quản chế, Sở Tư pháp
nơi Tòa án đã ra quyết định miễn chấp hành án có trụ sở.
Chương
VII
THI HÀNH ÁN PHẠT TRỤC XUẤT
Điều 118.
Quyết định thi hành án phạt trục xuất
1. Trường hợp trục xuất là hình
phạt chính hoặc là hình phạt bổ sung trong trường hợp hình phạt chính là phạt
tiền thì Tòa án đã xét xử sơ thẩm phải ra quyết định thi hành án. Quyết định phải
ghi rõ họ, tên, chức vụ người ra quyết định; bản án được thi hành; họ, tên,
ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người chấp hành án; hình phạt bổ sung;
tên cơ quan có nhiệm vụ thi hành.
2. Trường hợp trục xuất là hình
phạt bổ sung thì quyết định thi hành án phải ghi đầy đủ hình phạt chính và hình
phạt bổ sung, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 119.
Thông báo thi hành án phạt trục xuất
1. Trường hợp ra quyết định thi
hành án phạt trục xuất theo quy định tại khoản 1 Điều 118 của
Luật này, Tòa án phải gửi ngay quyết định cho cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh và Viện kiểm sát cùng cấp, Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định
thi hành án có trụ sở. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh phải tống đạt
quyết định thi hành án cho người chấp hành án và thông báo ngay cho Bộ Ngoại
giao Việt Nam, cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước mà người
đó mang quốc tịch hoặc cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế mà người đó làm việc,
cơ quan, tổ chức đã bảo lãnh người đó vào Việt Nam. Trường hợp người chấp hành
án đang bị tạm giam thì phải gửi quyết định này cho trại tạm giam, cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp huyện nơi đang tạm giam người đó để tống đạt cho
người chấp hành án.
2. Trường hợp phạm nhân có hình
phạt bổ sung là trục xuất theo quy định tại khoản 2 Điều 118 của
Luật này thì 02 tháng trước khi hết thời hạn chấp hành án phạt tù, Giám thị
trại giam phải thông báo bằng văn bản cho phạm nhân đó và cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh nơi trại giam đóng. Cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp tỉnh phải thông báo cho Bộ Ngoại giao Việt Nam, cơ quan đại diện ngoại
giao, cơ quan lãnh sự của nước mà người đó mang quốc tịch hoặc cơ quan đại diện
của tổ chức quốc tế mà người đó làm việc, cơ quan, tổ chức đã bảo lãnh người đó
vào Việt Nam.
Điều 120.
Hồ sơ thi hành án phạt trục xuất
1. Cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh lập hồ sơ thi hành án phạt trục xuất.
2. Hồ sơ thi hành án phạt trục xuất
bao gồm:
a) Bản sao bản án có hiệu lực
pháp luật; quyết định thi hành án phạt trục xuất hoặc bản sao quyết định thi
hành án phạt tù trong trường hợp trục xuất là hình phạt bổ sung;
b) Bản sao hộ chiếu hoặc bản
sao giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu của người chấp hành án;
c) Giấy tờ chứng nhận đã chấp
hành xong hình phạt, nghĩa vụ khác;
d) Tài liệu khác có liên quan.
Điều 121.
Lưu trú trong thời gian chờ xuất cảnh
1. Trong thời gian chờ xuất cảnh,
người chấp hành án phải lưu trú tại nơi được cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp tỉnh chỉ định.
2. Cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh đưa người chấp hành án phạt trục xuất vào cơ sở lưu trú của Bộ
Công an nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Không có nơi thường trú, tạm
trú;
b) Nhập cảnh trái phép hoặc phạm
tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng;
c) Tự ý rời khỏi nơi lưu trú được
chỉ định hoặc không chấp hành các biện pháp quản lý, giám sát của cơ quan có thẩm
quyền;
d) Có hành vi vi phạm pháp luật
hoặc có căn cứ cho rằng người đó có thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật
trong thời gian chờ xuất cảnh;
đ) Có hành vi bỏ trốn, chuẩn bị
bỏ trốn hoặc hành vi khác gây khó khăn cho việc thi hành án phạt trục xuất;
e) Mắc bệnh truyền nhiễm nhóm A
theo quy định của Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm;
g) Tự nguyện xin vào cơ sở lưu
trú.
3. Thủ tục đưa người chấp hành
án phạt trục xuất vào cơ sở lưu trú được thực hiện như sau:
a) Trường hợp người chấp hành
án đang tại ngoại thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh phải áp giải
người chấp hành án đến cơ sở lưu trú;
b) Trường hợp người chấp hành
án đang bị tạm giam thì sau khi nhận được quyết định thi hành án, trại tạm
giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi tạm giam phải giao người
chấp hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để áp giải vào cơ
sở lưu trú;
c) Khi phạm nhân có hình phạt bổ
sung là trục xuất chấp hành xong án phạt tù thì trại giam phải giao người chấp
hành án cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để áp giải vào cơ sở
lưu trú.
4. Trường hợp người chấp hành
án chết trong thời gian chờ xuất cảnh thì cơ sở lưu trú hoặc nơi lưu trú được
chỉ định phải báo ngay cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ
quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền để xác định nguyên nhân chết. Cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh phải thông báo bằng văn bản hoặc bằng
fax cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án phạt trục xuất, Bộ Ngoại giao Việt
Nam, cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước mà người đó mang quốc
tịch hoặc cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế mà người đó làm việc, cơ quan, tổ
chức đã bảo lãnh người đó vào Việt Nam. Sau khi được cơ quan có thẩm quyền cho
phép, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức mai
táng. Trường hợp thân nhân hoặc đại diện hợp pháp của người chết đề nghị được
nhận tử thi, tro cốt về mai táng và tự chịu chi phí thì cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh xem xét, giải quyết.
5. Chính phủ quy định chi tiết
chế độ ăn, ở, sinh hoạt, thăm gặp, khám bệnh, chữa bệnh đối với người chấp hành
án phạt trục xuất trong thời gian lưu trú tại cơ sở lưu trú, chi phí mai táng đối
với người chấp hành án phạt trục xuất chết tại cơ sở lưu trú.
Điều 122.
Giải quyết trường hợp người chấp hành án phạt trục xuất bỏ trốn
1. Trường hợp người chấp hành
án bỏ trốn thì cơ sở lưu trú hoặc nơi lưu trú chỉ định phải lập biên bản và
thông báo ngay cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi có cơ sở
lưu trú hoặc nơi lưu trú chỉ định. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh
nhận được thông báo phải tổ chức truy bắt ngay. Trường hợp truy bắt không có kết
quả thì trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày người chấp hành án bỏ trốn, cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh phải ra quyết định truy nã.
2. Người chấp hành án bỏ trốn
ra đầu thú thì cơ quan tiếp nhận lập biên bản và thông báo cho cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp tỉnh đến nhận và đưa người đó vào cơ sở lưu trú.
Điều 123.
Thực hiện buộc rời khỏi lãnh thổ Việt Nam
1. Đến thời hạn người chấp hành
án phải rời khỏi lãnh thổ Việt Nam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh
phối hợp với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh có thẩm quyền tiến hành kiểm tra
căn cước của người chấp hành án phạt trục xuất và áp giải người đó đến địa điểm
xuất cảnh và buộc rời khỏi lãnh thổ Việt Nam. Người chấp hành án phạt trục xuất
được mang theo tài sản hợp pháp của mình khi rời khỏi lãnh thổ Việt Nam. Trong
thời hạn 10 ngày kể từ ngày thi hành xong án phạt trục xuất, cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh phải thông báo việc thi hành án phạt trục xuất cho Tòa
án đã ra quyết định thi hành án, Viện kiểm sát cùng cấp, Trung tâm lý lịch tư
pháp quốc gia.
2. Tòa án đã ra quyết định thi
hành án có thẩm quyền quyết định kéo dài thời hạn buộc phải rời khỏi lãnh thổ
Việt Nam đối với người chấp hành án thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Đang ốm nặng, đang phải cấp
cứu không thể đi lại được và được cơ quan y tế hoặc bệnh viện từ cấp tỉnh trở
lên xác nhận;
b) Phải chấp hành bản án khác
hoặc thực hiện nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật Việt Nam;
c) Có lý do chính đáng khác
chưa thể rời khỏi lãnh thổ Việt Nam được Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh xác nhận.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày ra quyết định kéo dài thời hạn buộc phải rời khỏi lãnh thổ Việt
Nam đối với người chấp hành án, Tòa án phải gửi quyết định đó cho cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi Tòa án đã ra quyết định thi hành án có trụ
sở, Viện kiểm sát cùng cấp.
Điều 124.
Chi phí trục xuất
Người chấp hành án phạt trục xuất
phải chịu chi phí vé máy bay, ô tô, tàu hỏa, tàu biển để rời khỏi lãnh thổ Việt
Nam; trường hợp người chấp hành án phạt trục xuất không có khả năng tự chịu chi
phí thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh phối hợp với cơ quan quản
lý xuất nhập cảnh yêu cầu cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của nước
mà người đó mang quốc tịch hoặc cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế mà người
đó làm việc, cơ quan, tổ chức đã bảo lãnh người đó vào Việt Nam giải quyết kinh
phí đưa người chấp hành án phạt trục xuất về nước; trường hợp đã yêu cầu mà cơ
quan, tổ chức đó vẫn chưa giải quyết được kinh phí nhưng vì lý do an ninh quốc
gia cần phải trục xuất ngay thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an
cấp tỉnh báo cáo cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an quyết định
việc sử dụng ngân sách nhà nước chi trả vé máy bay, ô tô, tàu hỏa, tàu biển cho
người chấp hành án phạt trục xuất.
Chương
VIII
THI HÀNH ÁN PHẠT TƯỚC MỘT
SỐ QUYỀN CÔNG DÂN
Điều 125.
Thủ tục thi hành án phạt tước một số quyền công dân
1. Hai tháng trước khi hết thời
hạn chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân có hình phạt bổ sung là tước một số
quyền công dân, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh trong trường hợp phạm nhân chấp hành án tại
cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm thông báo bằng văn
bản về nội dung quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này
cho Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Viện
kiểm sát nhân dân cấp huyện, Sở Tư pháp nơi người đó về cư trú.
2. Ngay sau khi phạm nhân có
hình phạt bổ sung là tước một số quyền công dân chấp hành xong án phạt tù, trại
giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu nơi người đó chấp hành án phải gửi giấy chứng nhận
chấp hành xong án phạt tù, bản sao bản án, bản sao quyết định thi hành án cho
cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án về cư trú.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm
việc kể từ ngày nhận được các văn bản quy định tại khoản 2 Điều này, cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án về cư trú có trách
nhiệm lập hồ sơ thi hành án phạt tước một số quyền công dân và thông báo bằng
văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó về cư trú. Hồ sơ bao gồm:
a) Bản sao bản án của Tòa án có
hiệu lực pháp luật; bản sao quyết định thi hành án phạt tù;
b) Giấy chứng nhận chấp hành
xong án phạt tù;
c) Tài liệu khác có liên quan.
4. Trường hợp người chấp hành
án phạt tước một số quyền công dân là người được hưởng án treo thì sau khi nhận
được bản án, quyết định thi hành án do Tòa án ra quyết định thi hành án gửi, Cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện lập hồ sơ và thông báo cho cơ quan
nơi người chấp hành án làm việc, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú.
5. Cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp huyện nơi người bị tước một số quyền công dân về cư trú có nhiệm vụ
theo dõi, giám sát việc thực hiện thi hành án phạt tước một số quyền công dân
theo bản án của Tòa án; cung cấp danh sách người bị tước một số quyền công dân
khi có đề nghị của cơ quan, đơn vị có thẩm quyền.
Khi hết thời hạn chấp hành án,
cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải cấp giấy chứng nhận đã chấp
hành xong án phạt tước một số quyền công dân. Giấy chứng nhận phải gửi cho người
chấp hành án, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú, Tòa án đã ra quyết định
thi hành án, Sở Tư pháp nơi cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện cấp
giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt có trụ sở.
6. Trường hợp người chấp hành
án chết, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án cư trú thông báo cho cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để thông báo cho Tòa án đã ra quyết
định thi hành án. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông
báo, Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ thi hành
án và gửi cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Viện kiểm sát cùng
cấp, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án cư trú, Sở Tư pháp nơi Tòa
án đã ra quyết định thi hành án có trụ sở.
Điều 126.
Tước quyền ứng cử đại biểu cơ quan quyền lực nhà nước
Trong thời gian bị tước quyền ứng
cử đại biểu cơ quan quyền lực nhà nước, người chấp hành án không được tham gia ứng
cử đại biểu cơ quan quyền lực nhà nước.
Điều 127.
Tước quyền làm việc trong cơ quan nhà nước
1. Trong thời gian bị tước quyền
làm việc trong cơ quan nhà nước, người chấp hành án không được dự tuyển hoặc tiếp
tục làm việc trong cơ quan nhà nước.
2. Trường hợp người chấp hành
án đang là cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan nhà nước mà bị tước quyền
làm việc trong cơ quan nhà nước thì cơ quan nơi người đó làm việc phải ra quyết
định hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định buộc thôi việc hoặc đình
chỉ công tác trong thời hạn bị tước quyền làm việc trong cơ quan nhà nước đối với
người đó.
Điều 128.
Tước quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân
1. Trong thời gian bị tước quyền
phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân, người chấp hành án không được đăng
ký nghĩa vụ quân sự, dự tuyển hoặc tiếp tục làm công chức, viên chức, công nhân
quốc phòng trong Quân đội nhân dân, dự tuyển hoặc tiếp tục phục vụ trong Công
an nhân dân.
2. Trường hợp người chấp hành
án đang là quân nhân, công chức, viên chức, công nhân quốc phòng trong Quân đội
nhân dân hoặc đang phục vụ trong cơ quan, đơn vị Công an nhân dân mà bị tước
quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân thì cơ quan, đơn vị nơi người
đó làm việc phải ra quyết định hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định
buộc người đó ra khỏi lực lượng vũ trang nhân dân.
Chương IX
THI HÀNH ÁN PHẠT CẤM ĐẢM
NHIỆM CHỨC VỤ, CẤM HÀNH NGHỀ HOẶC LÀM CÔNG VIỆC NHẤT ĐỊNH
Điều 129.
Thủ tục thi hành án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc
nhất định
1. Hai tháng trước khi hết thời
hạn chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân có hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm
chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, Giám thị trại giam, Giám
thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi
người đó đang chấp hành án phạt tù phải thông báo bằng văn bản về việc thi hành
án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định cho Ủy
ban nhân dân cấp xã, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Viện kiểm
sát nhân dân cấp huyện nơi người đó về cư trú, cơ quan thi hành án hình sự và
Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu nơi có đơn vị quân đội người đó làm việc.
2. Ngay sau khi phạm nhân có
hình phạt bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất
định chấp hành xong án phạt tù, trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp tỉnh phải gửi giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù, bản
sao bản án, bản sao quyết định thi hành án cho Sở Tư pháp, cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp huyện, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện nơi người
chấp hành án về cư trú, cơ quan thi hành án hình sự và Viện kiểm sát quân sự cấp
quân khu nơi có đơn vị quân đội người đó làm việc.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm
việc kể từ ngày nhận được các văn bản quy định tại khoản 2 Điều này, cơ quan
thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu
lập hồ sơ thi hành án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công
việc nhất định và thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp hành án
cư trú, đơn vị quân đội nơi người đó làm việc. Hồ sơ bao gồm:
a) Bản sao bản án có hiệu lực
pháp luật; bản sao quyết định thi hành án phạt tù;
b) Giấy chứng nhận chấp hành
xong án phạt tù;
c) Tài liệu khác có liên quan.
4. Trường hợp người có hình phạt
bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định phải
chấp hành hình phạt chính là cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc
phạt tù cho hưởng án treo thì thời hạn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề
hoặc làm công việc nhất định kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Tòa án ra
quyết định thi hành án phải gửi bản án, quyết định thi hành án cho Sở Tư pháp,
cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện
nơi người đó cư trú, cơ quan thi hành án hình sự và Viện kiểm sát quân sự cấp
quân khu nơi có đơn vị người đó làm việc. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp
huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nhận được quyết định thi hành
án phải lập hồ sơ và thông báo cho cơ quan, tổ chức, đơn vị quân đội nơi người
chấp hành án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định
làm việc, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú.
5. Cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có nhiệm vụ theo
dõi, giám sát việc thi hành án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc
làm công việc nhất định theo bản án của Tòa án. Trong thời gian chấp hành án, nếu
phát hiện người chấp hành án đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc bị
cấm thì cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình
sự cấp quân khu thông báo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc để buộc
người đó nghiêm chỉnh chấp hành bản án.
6. Khi hết thời hạn chấp hành án,
cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp
quân khu cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm
hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Giấy chứng nhận phải gửi cho người chấp
hành án, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú, cơ quan, tổ chức, đơn vị
quân đội nơi người đó làm việc, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Sở Tư pháp
nơi cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện cấp giấy chứng nhận có trụ sở.
7. Trường hợp người chấp hành
án chết, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú, đơn vị quân đội nơi người
đó làm việc thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu để thông báo cho Tòa án đã ra quyết định
thi hành án. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo,
Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải ra quyết định đình chỉ thi hành án và
gửi cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình
sự cấp quân khu, Viện kiểm sát cùng cấp, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người chấp
hành án cư trú, đơn vị quân đội nơi người chấp hành án làm việc, Sở Tư pháp nơi
Tòa án đã ra quyết định thi hành án có trụ sở.
Điều 130.
Nghĩa vụ của người chấp hành án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc
làm công việc nhất định
1. Báo cáo về chức vụ, nghề hoặc
công việc bị cấm đảm nhiệm cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, Ủy ban
nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú.
2. Không được tiếp tục hoặc phải
từ chối đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc nhất định đã bị cấm.
3. Không được ứng cử vào chức vụ
đã bị cấm.
4. Trường hợp không còn làm việc
trong cơ quan, tổ chức hoặc thay đổi nơi làm việc phải báo cáo Ủy ban nhân dân
cấp xã nơi cư trú.
5. Có mặt khi cơ quan có thẩm
quyền triệu tập liên quan đến việc chấp hành án của mình.
Điều 131.
Trách nhiệm thi hành án phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công
việc nhất định
1. Cơ quan, tổ chức nơi người
chấp hành án làm việc có trách nhiệm sau đây:
a) Ra quyết định cách chức hoặc
đề nghị cấp có thẩm quyền ra quyết định cách chức người chấp hành án khỏi chức
vụ bị cấm đảm nhiệm và thông báo công khai trong cơ quan, tổ chức nơi người đó
làm việc;
b) Không được đề cử, đề bạt, bổ
nhiệm, bố trí người chấp hành án vào chức vụ, công việc, nghề bị cấm;
c) Báo cáo kết quả thi hành án
cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự
cấp quân khu;
d) Thông báo cho cơ quan, tổ chức
nơi người chấp hành án được chuyển đến làm việc về việc người đó đang chấp hành
án; cơ quan, tổ chức nơi người chấp hành án chuyển đến có trách nhiệm thực hiện
các quy định tại các điểm a, b và c khoản này.
2. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi
người chấp hành án cư trú có trách nhiệm sau đây:
a) Thông báo công khai bản án tại
nơi người chấp hành án về cư trú;
b) Báo cáo kết quả thi hành án
cho cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện;
c) Trường hợp người chấp hành
án chuyển đến nơi cư trú mới phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi chuyển
đến về việc người đó đang chấp hành án. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó
chuyển đến có trách nhiệm thực hiện quy định tại điểm a và điểm b khoản này.
Chương X
THI HÀNH BIỆN PHÁP TƯ
PHÁP
Mục 1.
QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THI HÀNH BIỆN PHÁP TƯ PHÁP
Điều 132.
Quyết định áp dụng biện pháp tư pháp
1. Quyết định áp dụng biện pháp
tư pháp bao gồm:
a) Quyết định của Tòa án, Viện
kiểm sát về áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh;
b)[19] (được bãi bỏ)
2. Quyết định áp dụng biện pháp
tư pháp phải ghi rõ tên cơ quan, họ, tên, chức vụ người ra quyết định; họ, tên,
ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người chấp hành biện pháp tư pháp; tên cơ
quan có nhiệm vụ thi hành.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày ra quyết định, cơ quan ra quyết định phải gửi quyết định đó cho
cá nhân, cơ quan sau đây:
a) Người chấp hành biện pháp tư
pháp, người đại diện của người đó;
b) Viện kiểm sát cùng cấp trong
trường hợp Tòa án ra quyết định;
c) Cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp huyện nơi người chấp hành biện pháp tư pháp cư trú;
d) Cơ sở chữa bệnh tâm thần
trong trường hợp bắt buộc chữa bệnh;
đ) Cơ quan đề nghị Tòa án, Viện
kiểm sát áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh.
Điều 133.
Cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ thi hành biện pháp tư pháp
1. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
được giao nhiệm vụ bắt buộc chữa bệnh tâm thần có nhiệm vụ thực hiện việc khám
bệnh, chữa bệnh cho người bị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh.
2.[20] (được bãi bỏ)
Điều 134.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong thi hành biện pháp tư pháp
1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện
kiểm sát trong việc áp dụng và thi hành các biện pháp tư pháp được thực hiện
theo quy định tại Chương này.
2. Viện kiểm sát thực hiện chức
năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc
thi hành biện pháp tư pháp theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp
luật có liên quan.
Điều 135.
Bảo đảm điều kiện thi hành các biện pháp tư pháp
1. Nhà nước bảo đảm các điều kiện
về cơ sở vật chất, kinh phí để thi hành các biện pháp tư pháp.
2.[21] (được bãi bỏ)
Mục 2.
THI HÀNH BIỆN PHÁP TƯ PHÁP BẮT BUỘC CHỮA BỆNH
Điều 136.
Thẩm quyền đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, hồ sơ đưa người
vào cơ sở bắt buộc chữa bệnh
1. Thẩm quyền đề nghị áp dụng
biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh được quy định như sau:
a) Cơ quan đang thụ lý giải quyết
vụ án trong giai đoạn điều tra có quyền đề nghị Viện kiểm sát cùng cấp;
b) Trại giam, trại tạm giam, cơ
quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh trong giai đoạn thi hành án có quyền
đề nghị Tòa án nhân dân khu vực[22],
Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân chấp hành án.
2. Cơ quan đề nghị áp dụng biện
pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh có trách nhiệm lập hồ sơ đưa người vào cơ sở bắt
buộc chữa bệnh. Hồ sơ bao gồm:
a) Quyết định của Viện kiểm sát
hoặc Tòa án về áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh;
b) Kết luận của Hội đồng giám định
pháp y tâm thần;
c) Lý lịch cá nhân của người chấp
hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh;
d) Tài liệu khác có liên quan.
3. Trường hợp Viện kiểm sát,
Tòa án tự mình quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh thì Viện
kiểm sát, Tòa án đã ra quyết định có trách nhiệm lập hồ sơ và đề nghị cơ quan
đang thụ lý giải quyết vụ án trong giai đoạn điều tra hoặc trại giam, trại tạm
giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện trong giai đoạn thi hành án
đưa người vào cơ sở bắt buộc chữa bệnh.
Điều 137.
Đưa người vào cơ sở bắt buộc chữa bệnh
1. Ngay sau khi nhận được quyết
định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh, cơ quan đang giải quyết vụ
án trong giai đoạn điều tra hoặc trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án
hình sự Công an cấp huyện trong giai đoạn thi hành án có nhiệm vụ giao người bị
bắt buộc chữa bệnh và hồ sơ kèm theo cho cơ sở chữa bệnh tâm thần được chỉ định
theo quyết định của Viện kiểm sát hoặc quyết định của Tòa án, đồng thời sao gửi
quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh cho cơ quan quản lý thi
hành án hình sự thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng.
2. Cơ sở chữa bệnh tâm thần được
Viện kiểm sát hoặc Tòa án chỉ định có trách nhiệm tiếp nhận người bị bắt buộc
chữa bệnh và hồ sơ kèm theo, lập biên bản giao nhận. Cơ quan có trách nhiệm đưa
người vào cơ sở chữa bệnh tâm thần phải thông báo cho gia đình hoặc thân nhân của
người bị bắt buộc chữa bệnh về nơi người đó đang chữa bệnh.
Điều 138.
Tổ chức điều trị cho người bị bắt buộc chữa bệnh
1. Cơ sở chữa bệnh tâm thần có
trách nhiệm quản lý, tổ chức điều trị bệnh cho người bị bắt buộc chữa bệnh và
không được phân biệt đối xử.
2. Trong thời gian bắt buộc chữa
bệnh, thân nhân của người bị bắt buộc chữa bệnh được gặp và phối hợp chăm sóc
người bị bắt buộc chữa bệnh và phải chấp hành đúng quy định về thăm gặp, chăm
sóc của cơ sở chữa bệnh tâm thần.
3. Trường hợp người bị bắt buộc
chữa bệnh bỏ trốn, cơ sở chữa bệnh tâm thần phải lập biên bản và thông báo ngay
cho cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh và gia đình của
người đó biết để phối hợp truy tìm, đưa người đó trở lại cơ sở chữa bệnh tâm thần.
4. Kinh phí điều trị do cơ quan
đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh hoặc Viện kiểm sát, Tòa án
tự mình quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh chi trả từ nguồn
ngân sách nhà nước.
Điều 139.
Đình chỉ thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh
1. Khi người bị bắt buộc chữa bệnh
đã khỏi bệnh, thủ trưởng cơ sở chữa bệnh tâm thần thông báo cho cơ quan đề nghị
áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh để yêu cầu Hội đồng giám định y
khoa tiến hành giám định về tình trạng bệnh của người đó.
Căn cứ vào kết luận của Hội đồng
giám định y khoa về việc người đó đã khỏi bệnh, cơ quan đề nghị áp dụng biện
pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh đề nghị Tòa án hoặc Viện kiểm sát đã ra quyết định
áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh ra quyết định đình chỉ việc thi
hành biện pháp này.
2. Tòa án hoặc Viện kiểm sát đã
ra quyết định đình chỉ thi hành biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh có trách
nhiệm gửi quyết định cho cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa
bệnh để thông báo cho cơ sở chữa bệnh tâm thần và thân nhân của người đó.
3. Sau khi nhận được quyết định
đình chỉ, cơ quan đề nghị áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh phải đến
nhận người bị bắt buộc chữa bệnh. Việc giao nhận phải lập biên bản, trong đó
ghi rõ thời gian chữa bệnh tại cơ sở chữa bệnh tâm thần.
Điều 140.
Giải quyết trường hợp người bị bắt buộc chữa bệnh chết
1. Trường hợp người bị bắt buộc
chữa bệnh chết, thủ trưởng cơ sở chữa bệnh tâm thần phải báo ngay cho cơ quan
điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền để xác định nguyên nhân chết, thông báo
cho thân nhân của người chết, cơ quan quy định tại khoản 1 và
khoản 3 Điều 136 của Luật này.
2. Sau khi được cơ quan điều
tra và Viện kiểm sát có thẩm quyền cho phép, cơ sở chữa bệnh tâm thần có trách
nhiệm mai táng. Kinh phí cho việc mai táng do ngân sách nhà nước cấp. Trường hợp
thân nhân của người chết đề nghị nhận tử thi để mai táng và tự chịu chi phí thì
cơ sở chữa bệnh tâm thần giao cho họ thực hiện. Việc tổ chức mai táng phải bảo
đảm an ninh, trật tự, vệ sinh môi trường.
Mục 3[23] (được
bãi bỏ)
Chương
XI
THI HÀNH ÁN ĐỐI VỚI
PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI
Điều 158.
Cơ quan được giao nhiệm vụ thi hành án
1. Cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu thi hành hình phạt,
biện pháp tư pháp quy định tại các điều 78, 79, 80, 81 và điểm b, điểm c khoản
1 Điều 82 của Bộ luật Hình sự theo quy định của Luật này.
2. Cơ quan thi hành án dân sự
thi hành hình phạt tiền quy định tại Điều 77, biện pháp tư pháp quy định tại điểm
a khoản 1 Điều 82 của Bộ luật Hình sự theo quy định của pháp luật về thi hành
án dân sự.
Điều 159.
Quyết định thi hành án
1. Quyết định thi hành án phải
ghi rõ họ, tên, chức vụ người ra quyết định; bản án, quyết định được thi hành;
cơ quan thi hành án hình sự; tên, địa chỉ, mã số doanh nghiệp, mã số thuế; hình
phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp; thời hạn chấp hành án.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày ra quyết định thi hành án, Tòa án đã ra quyết định phải gửi quyết
định thi hành án cho các cơ quan, tổ chức sau đây:
a) Pháp nhân thương mại chấp
hành án;
b) Cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu;
c) Viện kiểm sát cùng cấp;
d) Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra
quyết định thi hành án có trụ sở;
đ) Cổng thông tin quốc gia về
đăng ký doanh nghiệp.
Điều 160.
Thủ tục thi hành án
1. Pháp nhân thương mại chấp
hành án thực hiện các thủ tục sau đây:
a) Khi được cơ quan thi hành án
hình sự triệu tập để thông báo, yêu cầu thi hành hình phạt, biện pháp tư pháp,
người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại phải có mặt, trừ trường
hợp vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan;
b) Trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, pháp nhân thương mại phải
công bố quyết định đó trên trang thông tin điện tử, ấn phẩm của pháp nhân
thương mại và niêm yết công khai tại trụ sở chính và địa điểm kinh doanh của
pháp nhân thương mại trong thời gian chấp hành án; thông báo việc chấp hành
hình phạt, biện pháp tư pháp cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan;
c) Pháp nhân thương mại bị đình
chỉ hoạt động có thời hạn phải tạm dừng hoạt động đối với ngành, nghề trong một
hoặc một số lĩnh vực bị đình chỉ hoạt động có thời hạn theo bản án, quyết định
của Tòa án có hiệu lực pháp luật;
d) Pháp nhân thương mại bị đình
chỉ hoạt động vĩnh viễn phải chấm dứt ngay hoạt động đối với ngành, nghề trong
một hoặc một số lĩnh vực bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn hoặc toàn bộ hoạt động
bị đình chỉ vĩnh viễn theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;
đ) Pháp nhân thương mại bị cấm
kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định thì không được tiếp tục
kinh doanh, hoạt động đối với ngành, nghề trong lĩnh vực bị cấm trong thời hạn
theo bản án, quyết định của Tòa án. Pháp nhân thương mại không được tiếp tục
kinh doanh, hoạt động kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp
luật;
e) Pháp nhân thương mại bị cấm
huy động vốn thì không được thực hiện một hoặc một số hình thức huy động vốn
trong thời hạn bị cấm theo bản án, quyết định của Tòa án. Pháp nhân thương mại
không được thực hiện việc huy động vốn kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án
có hiệu lực pháp luật;
g) Pháp nhân thương mại bị áp dụng
biện pháp tư pháp buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu, buộc thực hiện một số
biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra thì phải thi hành
theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;
h) Pháp nhân thương mại chấp
hành án phải báo cáo bằng văn bản cho cơ quan thi hành án hình sự và cơ quan quản
lý nhà nước đối với pháp nhân thương mại về việc chấp hành hình phạt, biện pháp
tư pháp theo bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;
i) Thực hiện thủ tục khác theo
quy định của pháp luật có liên quan.
2. Cơ quan thi hành án hình sự
thực hiện các thủ tục sau đây:
a) Ngay sau khi nhận được quyết
định thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự phải công bố ngay quyết định đó
trên trang thông tin điện tử của cơ quan mình và triệu tập người đại diện theo
pháp luật của pháp nhân thương mại để thông báo, yêu cầu thi hành án. Người đại
diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại được triệu tập hợp lệ mà không có
mặt thì cơ quan thi hành án hình sự phải lập biên bản vắng mặt và tiếp tục tổ
chức thi hành án;
b) Trong thời hạn 05 ngày làm
việc kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự
phải gửi văn bản yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước đối với pháp nhân thương mại
thực hiện một hoặc một số biện pháp quy định tại Điều 164 của
Luật này;
c) Chủ trì, phối hợp với cơ
quan quản lý nhà nước đối với pháp nhân thương mại và cơ quan khác có liên quan
kiểm tra, giám sát trong quá trình pháp nhân thương mại chấp hành án;
d) Ra quyết định cưỡng chế thi
hành án theo quy định của Luật này; chủ trì, phối hợp với cơ quan quản lý nhà
nước đối với pháp nhân thương mại và cơ quan, tổ chức khác có liên quan cưỡng
chế thi hành án đối với pháp nhân thương mại theo quy định của Luật này và quy
định khác của pháp luật có liên quan;
đ) Cấp giấy chứng nhận chấp
hành xong hình phạt, giấy chứng nhận chấp hành xong biện pháp tư pháp, công bố
và gửi các văn bản này theo quy định tại Điều 166 của Luật này;
e) Thực hiện thủ tục khác theo
quy định của pháp luật.
3. Cơ quan quản lý nhà nước đối
với pháp nhân thương mại chấp hành án thực hiện các thủ tục sau đây:
a) Thực hiện biện pháp quy định
tại Điều 164 của Luật này ngay sau khi nhận được văn bản
yêu cầu của cơ quan thi hành án hình sự kèm theo bản sao quyết định thi hành án
và thông báo cho cơ quan thi hành án hình sự kết quả thực hiện;
b) Công bố ngay trên cổng thông
tin, trang thông tin điện tử của cơ quan mình, Cổng thông tin quốc gia về đăng
ký doanh nghiệp quyết định thi hành án, các biện pháp đã được áp dụng đối với
pháp nhân thương mại quy định tại Điều 164 của Luật này, giấy
chứng nhận chấp hành xong hình phạt, giấy chứng nhận chấp hành xong biện pháp
tư pháp;
c) Phối hợp với cơ quan thi
hành án hình sự và cơ quan khác có liên quan kiểm tra, giám sát pháp nhân
thương mại trong quá trình chấp hành án;
d) Phối hợp với cơ quan thi
hành án hình sự và cơ quan, tổ chức khác có liên quan cưỡng chế thi hành án đối
với pháp nhân thương mại theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp
luật có liên quan;
đ) Thực hiện thủ tục khác theo
quy định của pháp luật.
4. Chính phủ quy định chi tiết
Điều này.
Điều 161.
Hồ sơ thi hành án
Cơ quan thi hành án hình sự
Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu có trách nhiệm lập hồ
sơ thi hành án đối với pháp nhân thương mại. Hồ sơ bao gồm:
1. Bản án, quyết định của Tòa
án có hiệu lực pháp luật;
2. Quyết định thi hành án;
3. Giấy triệu tập người đại diện
theo pháp luật của pháp nhân thương mại;
4. Văn bản của cơ quan thi hành
án hình sự yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước đối với pháp nhân thương mại thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong thi hành án;
5. Thông báo của cơ quan quản
lý nhà nước đối với pháp nhân thương mại cho cơ quan thi hành án hình sự về thực
hiện yêu cầu trong thi hành án và việc chấp hành án của pháp nhân thương mại;
6. Báo cáo của pháp nhân thương
mại về việc chấp hành án;
7. Tài liệu thể hiện việc công
bố thông tin về thi hành án theo quy định của Luật này;
8. Biên bản về thi hành án;
9. Tài liệu về việc cưỡng chế
thi hành án (nếu có);
10. Tài liệu về việc chấp hành
xong hình phạt, chấp hành xong biện pháp tư pháp theo quy định của Luật này;
11. Tài liệu khác có liên quan.
Điều 162.
Quyền, nghĩa vụ của pháp nhân thương mại chấp hành án
1. Pháp nhân thương mại chấp
hành án có các quyền sau đây:
a) Được thông báo về việc thi
hành án;
b) Được nhận các quyết định
liên quan trong quá trình chấp hành án;
c) Được khiếu nại về thi hành
án;
d) Được cấp giấy chứng nhận chấp
hành xong hình phạt, giấy chứng nhận chấp hành xong biện pháp tư pháp theo quy
định của Luật này;
đ) Được bồi thường thiệt hại
theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
2. Pháp nhân thương mại chấp
hành án có các nghĩa vụ sau đây:
a) Chấp hành nghiêm chỉnh bản
án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật; quyết định, yêu cầu của cơ
quan có thẩm quyền trong thi hành án;
b) Người đại diện theo pháp luật
của pháp nhân thương mại phải có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan thi hành
án hình sự;
c) Công bố và niêm yết công
khai quyết định thi hành án; thông báo việc chấp hành hình phạt và biện pháp tư
pháp cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định của Luật này;
d) Báo cáo cơ quan thi hành án
hình sự về việc chấp hành án.
3. Pháp nhân thương mại chấp
hành án có các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và quy định
khác của pháp luật có liên quan.
Điều 163.
Cưỡng chế thi hành án
1. Pháp nhân thương mại chấp
hành án không chấp hành hoặc chấp hành không đầy đủ bản án, quyết định của Tòa
án thì bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án. Pháp nhân thương mại phải chịu
chi phí cưỡng chế thi hành án.
2. Cơ quan thi hành án hình sự
ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án.
3. Chính phủ quy định chi tiết
Điều này.
Điều 164.
Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước đối với pháp nhân thương mại
1. Căn cứ vào bản án, quyết định
thi hành án và văn bản yêu cầu của cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan quản lý
nhà nước đối với pháp nhân thương mại, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của
mình, có trách nhiệm thực hiện một hoặc một số biện pháp sau đây:
a) Sửa đổi hoặc đình chỉ hiệu lực
giấy phép thành lập và hoạt động hoặc văn bản khác có giá trị tương đương đối với
pháp nhân thương mại trong thời gian bị đình chỉ hoạt động có thời hạn; áp dụng
biện pháp khác theo quy định của pháp luật để bảo đảm thi hành hình phạt đình
chỉ hoạt động có thời hạn theo bản án, quyết định của Tòa án;
b) Thu hồi hoặc xóa bỏ nội dung
đăng ký của pháp nhân thương mại hoặc văn bản khác có giá trị tương đương; thu
hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của pháp nhân thương mại, không cấp lại
giấy phép thành lập, hoạt động đối với pháp nhân thương mại đã bị đình chỉ hoạt
động vĩnh viễn; áp dụng biện pháp khác theo quy định của pháp luật để bảo đảm
thi hành hình phạt đình chỉ hoạt động vĩnh viễn theo bản án, quyết định của Tòa
án;
c) Xóa bỏ nội dung đăng ký; sửa
đổi, tạm dừng hiệu lực, thu hồi, từ chối hoặc không cấp lại một phần hoặc toàn
bộ giấy phép hoặc văn bản khác có giá trị tương đương; đình chỉ một phần hoặc
toàn bộ ngành, nghề, hoạt động của pháp nhân thương mại trong thời hạn bị cấm
hoạt động, cấm kinh doanh đối với ngành, nghề trong lĩnh vực bị cấm; áp dụng biện
pháp khác theo quy định của pháp luật để bảo đảm thi hành hình phạt cấm kinh
doanh, cấm hoạt động theo bản án, quyết định của Tòa án;
d) Tự mình hoặc yêu cầu cơ
quan, tổ chức thuộc lĩnh vực quản lý sửa đổi, đình chỉ, hủy bỏ, thu hồi giấy
phép; từ chối cấp phép, chấp thuận, tiến hành thủ tục để huy động vốn trong thời
hạn bị cấm đối với pháp nhân thương mại; áp dụng biện pháp khác theo quy định của
pháp luật để bảo đảm thi hành hình phạt cấm huy động vốn theo bản án, quyết định
của Tòa án;
đ) Áp dụng các biện pháp theo
quy định của pháp luật để bảo đảm thi hành biện pháp tư pháp buộc khôi phục lại
tình trạng ban đầu, buộc thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu
quả tiếp tục xảy ra theo bản án, quyết định của Tòa án.
2. Phối hợp với cơ quan thi
hành án hình sự và cơ quan khác có liên quan kiểm tra, giám sát pháp nhân
thương mại trong quá trình chấp hành hình phạt, biện pháp tư pháp.
3. Thông báo bằng văn bản cho
cơ quan thi hành án hình sự về việc thực hiện yêu cầu trong thi hành án và việc
chấp hành án của pháp nhân thương mại.
4. Phối hợp với cơ quan thi
hành án hình sự và cơ quan, tổ chức khác có liên quan thi hành biện pháp cưỡng
chế thi hành án đối với pháp nhân thương mại theo quy định của Luật này và quy
định khác của pháp luật có liên quan.
5. Công bố quyết định, văn bản
của cơ quan thi hành án hình sự và biện pháp được áp dụng đối với pháp nhân
thương mại theo quy định của Luật này.
6. Chính phủ quy định chi tiết
Điều này.
Điều 165.
Chuyển giao nghĩa vụ thi hành án trong trường hợp pháp nhân thương mại tổ chức
lại
Trường hợp pháp nhân thương mại
chấp hành án được chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi loại hình doanh
nghiệp theo quy định của pháp luật thì pháp nhân thương mại kế thừa các quyền
và nghĩa vụ của pháp nhân thương mại chấp hành án có trách nhiệm thực hiện
nghĩa vụ thi hành án theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật
có liên quan. Pháp nhân thương mại không được lợi dụng việc chia, tách, hợp nhất,
sáp nhập, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp hoặc giải thể, phá sản để trốn
tránh nghĩa vụ thi hành án.
Chính phủ quy định chi tiết Điều
này.
Điều 166.
Cấp giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt, giấy chứng nhận chấp hành xong biện
pháp tư pháp
1. Pháp nhân thương mại chấp
hành xong hình phạt, chấp hành xong biện pháp tư pháp thì được cơ quan thi hành
án hình sự có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt, giấy chứng
nhận chấp hành xong biện pháp tư pháp, trừ trường hợp pháp nhân thương mại bị kết
án theo quy định tại Điều 79 của Bộ luật Hình sự.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày cấp giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt, giấy chứng nhận
chấp hành xong biện pháp tư pháp cho pháp nhân thương mại, cơ quan thi hành án
hình sự phải công bố trên trang thông tin điện tử của cơ quan mình và gửi cho
cơ quan quản lý nhà nước đối với pháp nhân thương mại, Tòa án đã ra quyết định
thi hành án, cơ quan quy định tại điểm d và điểm đ khoản 2 Điều
159 của Luật này.
Chương
XII
KIỂM SÁT THI HÀNH ÁN
HÌNH SỰ
Điều 167.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong kiểm sát thi hành án hình sự
1. Yêu cầu Tòa án cùng cấp và cấp
dưới ra quyết định thi hành án hình sự đúng quy định của pháp luật; yêu cầu Tòa
án, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án
hình sự tự kiểm tra việc thi hành án hình sự và thông báo kết quả cho Viện kiểm
sát; cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến thi hành án hình sự.
2. Trực tiếp kiểm sát việc thi
hành án hình sự của cơ quan thi hành án hình sự cùng cấp và cấp dưới, cơ quan
được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự; kiểm sát hồ sơ thi hành án hình
sự của cơ quan thi hành án hình sự cùng cấp và cấp dưới, cơ quan được giao một
số nhiệm vụ thi hành án hình sự. Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát
quân sự cấp quân khu trực tiếp kiểm sát việc thi hành án phạt tù của trại giam
đóng tại địa phương, địa bàn; kiểm sát việc thi hành án đối với pháp nhân
thương mại.
3. Quyết định trả tự do ngay
cho người đang chấp hành án phạt tù không có căn cứ và trái pháp luật.
4. Đề nghị miễn, hoãn, tạm đình
chỉ, đình chỉ chấp hành án; tham gia phiên họp xét giảm, miễn thời hạn chấp
hành án, tha tù trước thời hạn có điều kiện, hủy quyết định tha tù trước thời hạn
có điều kiện, buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, rút
ngắn thời gian thử thách.
5. Kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu
Tòa án, cơ quan thi hành án hình sự cùng cấp, cấp dưới, cơ quan được giao một số
nhiệm vụ thi hành án hình sự, người có thẩm quyền và cá nhân có liên quan trong
thi hành án hình sự; yêu cầu đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết
định có vi phạm pháp luật trong thi hành án hình sự; chấm dứt hành vi vi phạm
pháp luật.
6. Tiếp nhận và giải quyết khiếu
nại, tố cáo trong quản lý, giáo dục người chấp hành án phạt tù; kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với việc thi hành án
hình sự.
7. Khởi tố hoặc yêu cầu cơ quan
điều tra khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm trong
thi hành án hình sự theo quy định của pháp luật.
8. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
khác trong kiểm sát thi hành án hình sự.
Điều 168.
Kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án hình sự
1. Viện kiểm sát trực tiếp kiểm
sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Tòa án, cơ quan quản lý thi hành án
hình sự, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi
hành án hình sự.
2. Khi kiểm sát việc giải quyết
khiếu nại, tố cáo trong thi hành án hình sự, Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Tòa
án, cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan
được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự cùng cấp và cấp dưới thực hiện
nhiệm vụ sau đây:
a) Ra văn bản giải quyết khiếu
nại, tố cáo theo quy định tại Chương XIV của Luật này;
b) Kiểm tra việc giải quyết khiếu
nại, tố cáo thuộc thẩm quyền và của cấp dưới; thông báo kết quả giải quyết cho
Viện kiểm sát;
c) Cung cấp hồ sơ, tài liệu liên
quan đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo cho Viện kiểm sát.
Điều 169.
Trách nhiệm thực hiện yêu cầu, quyết định, kháng nghị, kiến nghị của Viện kiểm
sát về thi hành án hình sự
1. Đối với yêu cầu Tòa án ra
quyết định thi hành án hình sự và cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến thi
hành án hình sự phải thực hiện ngay; đối với yêu cầu Tòa án, cơ quan thi hành
án hình sự, cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự tự kiểm tra
việc thi hành án hình sự và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát phải thực hiện
trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu.
2. Đối với quyết định quy định
tại khoản 3 Điều 167 của Luật này, cơ quan thi hành án hình
sự phải thi hành ngay; nếu không nhất trí với quyết định đó thì vẫn phải thi
hành, nhưng có quyền kiến nghị lên Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Trong thời
hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị, Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên
trực tiếp phải giải quyết.
3. Đối với kháng nghị về quyết
định quy định tại khoản 4 Điều 167 của Luật này thì việc giải
quyết được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.
4. Đối với kháng nghị quy định
tại khoản 5 Điều 167 của Luật này, Tòa án, cơ quan thi hành
án hình sự, cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự có trách nhiệm
trả lời bằng văn bản trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kháng nghị; nếu
không nhất trí với kháng nghị đó thì các cơ quan này có quyền khiếu nại lên Viện
kiểm sát cấp trên trực tiếp; Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải giải quyết
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Quyết định của Viện kiểm
sát cấp trên trực tiếp phải được thi hành.
5. Đối với kiến nghị quy định tại
khoản 5 Điều 167 của Luật này phải được xem xét, giải quyết,
trả lời bằng văn bản trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị.
Chương
XIII
BẢO ĐẢM ĐIỀU KIỆN CHO
HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ
Điều 170.
Biên chế, đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng cán bộ thi hành án hình sự
1. Nhà nước bảo đảm biên chế,
cán bộ cần thiết cho các cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành
án hình sự.
2. Người làm công tác thi hành
án hình sự phải được đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, pháp
luật và kiến thức khác phù hợp với nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
Điều 171.
Bảo đảm cơ sở vật chất phục vụ hoạt động thi hành án hình sự
Căn cứ yêu cầu công tác thi
hành án hình sự, địa bàn hoạt động và điều kiện kinh tế - xã hội, Nhà nước bảo
đảm cơ sở vật chất của cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án
hình sự, bao gồm đất đai, trụ sở, công trình; trang thiết bị, vũ khí, công cụ hỗ
trợ, phương tiện giao thông, thông tin liên lạc, kỹ thuật nghiệp vụ và các điều
kiện vật chất, kỹ thuật khác; ưu tiên bảo đảm cơ sở vật chất cho cơ quan đóng ở
vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt
khó khăn, địa bàn trọng yếu về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
Điều 172.
Trang bị và sử dụng vũ khí, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, công cụ hỗ trợ
trong thi hành án hình sự
Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân
chuyên nghiệp, chiến sĩ Công an nhân dân, Quân đội nhân dân khi thực hiện nhiệm
vụ thi hành án hình sự được trang bị và sử dụng vũ khí, phương tiện kỹ thuật
nghiệp vụ, công cụ hỗ trợ theo quy định của pháp luật.
Điều 173.
Cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự
1. Cơ sở dữ liệu về thi hành án
hình sự do Bộ Công an quản lý là một bộ phận của hệ cơ sở dữ liệu quốc gia về
thông tin phòng, chống tội phạm nhằm phục vụ công tác quản lý nhà nước về thi
hành án hình sự, đấu tranh phòng, chống tội phạm.
2. Việc xây dựng, thu thập, lưu
trữ, xử lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu về thi hành án hình sự do
Chính phủ quy định.
Điều 174.
Bảo đảm kinh phí cho hoạt động thi hành án hình sự
Nhà nước bảo đảm kinh phí cho
hoạt động thi hành án hình sự. Việc lập dự toán, sử dụng và quyết toán kinh phí
bảo đảm cho hoạt động thi hành án hình sự được thực hiện theo quy định của Luật
Ngân sách nhà nước.
Điều 175.
Chế độ, chính sách đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thi hành án hình sự
1. Cán bộ, công chức; công nhân
công an; công nhân, viên chức quốc phòng và những người khác làm nhiệm vụ thi
hành án hình sự được hưởng chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật.
2. Sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến
sĩ Công an nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, chiến sĩ
Quân đội nhân dân làm nhiệm vụ thi hành án hình sự được phong, thăng cấp bậc
hàm lực lượng vũ trang nhân dân và hưởng chế độ, chính sách theo quy định của
pháp luật.
3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân
trong thi hành án hình sự có thành tích thì được khen thưởng; người bị thiệt hại
về tính mạng, sức khỏe, tài sản thì bản thân và gia đình được hưởng chế độ,
chính sách theo quy định của pháp luật.
Chương
XIV
GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ
CÁO TRONG THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ
Mục 1.
KHIẾU NẠI VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TRONG THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ
Điều 176.
Quyền khiếu nại trong thi hành án hình sự
1. Người, pháp nhân thương mại
chấp hành án hình sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan (sau đây gọi
là người khiếu nại) có quyền khiếu nại đối với quyết định, hành vi của cơ quan,
người có thẩm quyền thi hành án hình sự nếu có căn cứ cho rằng quyết định, hành
vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Việc khiếu
nại của pháp nhân thương mại chấp hành án được thực hiện thông qua người đại diện
theo pháp luật của pháp nhân thương mại.
2. Thời hiệu khiếu nại lần đầu
là 30 ngày kể từ ngày nhận hoặc biết được quyết định, hành vi thi hành án hình
sự mà người khiếu nại cho rằng có vi phạm pháp luật. Thời hiệu khiếu nại lần
hai là 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại của người có
thẩm quyền.
Trường hợp vì lý do bất khả
kháng hoặc trở ngại khách quan mà người khiếu nại không thực hiện được quyền
khiếu nại theo đúng thời hiệu thì thời gian có lý do bất khả kháng hoặc trở ngại
khách quan đó không tính vào thời hiệu khiếu nại.
Điều 177.
Các trường hợp khiếu nại về thi hành án hình sự không được thụ lý giải quyết
1. Quyết định, hành vi bị khiếu
nại không liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại.
2. Người khiếu nại là cá nhân
không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ mà không có người đại diện, trừ trường
hợp pháp luật có quy định khác.
3. Người đại diện không có giấy
tờ chứng minh về việc đại diện hợp pháp của mình.
4. Thời hiệu khiếu nại đã hết.
5. Việc khiếu nại đã có quyết định
giải quyết khiếu nại có hiệu lực thi hành.
Điều 178.
Thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong thi hành án hình sự
1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
xã giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi trái pháp luật của cơ quan,
tổ chức, người có liên quan trong quản lý, giám sát, giáo dục người chấp hành
án hình sự ở xã, phường, thị trấn.
2. Thủ trưởng cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp huyện giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi
sau đây:
a) Quyết định, hành vi trái
pháp luật của Phó thủ trưởng, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ thuộc quyền quản lý
của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, trừ trường hợp quy định tại
khoản 8 Điều này;
b) Quyết định, hành vi trái
pháp luật của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp xã được Tòa
án giao giám sát, giáo dục đối với người chấp hành án;
c) Quyết định giải quyết khiếu
nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã được Tòa án giao giám sát, giáo dục đối
với người chấp hành án.
3. Trưởng Công an cấp huyện giải
quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi sau đây:
a) Quyết định, hành vi trái
pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện;
b) Quyết định giải quyết khiếu
nại của Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện.
4. Thủ trưởng cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp tỉnh giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi
sau đây:
a) Quyết định, hành vi trái
pháp luật của sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ thuộc quyền quản lý của cơ quan thi
hành án hình sự Công an cấp tỉnh, trừ trường hợp quy định tại khoản 8 Điều này;
b) Quyết định, hành vi trái
pháp luật của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong thi hành án hình sự đối với
pháp nhân thương mại.
5. Giám đốc Công an cấp tỉnh giải
quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi sau đây:
a) Quyết định, hành vi trái
pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh;
b) Quyết định giải quyết khiếu
nại của Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Trưởng Công an
cấp huyện.
6. Thủ trưởng cơ quan quản lý
thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an giải quyết khiếu nại đối với quyết định,
hành vi trái pháp luật của sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ thuộc quyền quản lý của
cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, trừ trường hợp quy định tại
khoản 8 Điều này.
7. Bộ trưởng Bộ Công an giải
quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi sau đây, trừ trường hợp quy định tại
khoản 8 Điều này:
a) Quyết định, hành vi trái
pháp luật của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an;
b) Quyết định giải quyết khiếu
nại của Giám đốc Công an cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình
sự thuộc Bộ Công an.
8. Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu, Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành
vi trái pháp luật trong quản lý, giáo dục phạm nhân của người được giao quản
lý, giáo dục phạm nhân.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân cấp tỉnh giải quyết khiếu nại đối với quyết định giải quyết khiếu nại của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương giải quyết khiếu nại
đối với quyết định giải quyết khiếu nại của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
cấp tỉnh, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu. Quyết định giải quyết
khiếu nại của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên có hiệu lực thi hành.
Điều 179.
Thẩm quyền giải quyết khiếu nại về thi hành án hình sự trong Quân đội nhân dân
1. Thủ trưởng cơ quan thi hành
án hình sự cấp quân khu giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi trái
pháp luật trong thi hành án hình sự của sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ
quan, chiến sĩ của đơn vị quân đội, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu,
trừ trường hợp quy định tại khoản 8 Điều 178 của Luật này.
2. Tư lệnh quân khu và tương
đương giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi sau đây, trừ trường hợp
quy định tại khoản 8 Điều 178 của Luật này:
a) Quyết định, hành vi trái
pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu;
b) Quyết định giải quyết khiếu
nại của Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
3. Thủ trưởng cơ quan quản lý
thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng giải quyết khiếu nại đối với quyết định,
hành vi trái pháp luật của sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến
sĩ thuộc quyền quản lý của cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc
phòng, trừ trường hợp quy định tại khoản 8 Điều 178 của Luật
này.
4. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giải
quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi sau đây, trừ trường hợp quy định tại
khoản 8 Điều 178 của Luật này:
a) Quyết định, hành vi trái
pháp luật của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc
phòng;
b) Quyết định, hành vi trái
pháp luật của Tư lệnh quân khu và tương đương;
c) Quyết định giải quyết khiếu
nại của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Quốc phòng, Tư
lệnh quân khu và tương đương.
Điều 180.
Quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại trong thi hành án hình sự
1. Người khiếu nại có các quyền
sau đây:
a) Tự mình khiếu nại hoặc thông
qua người đại diện để khiếu nại trong bất kỳ thời gian nào của quá trình thi
hành án hình sự;
b) Rút khiếu nại trong bất kỳ
thời gian nào của quá trình giải quyết khiếu nại;
c) Được nhận văn bản trả lời về
việc thụ lý giải quyết khiếu nại, nhận quyết định giải quyết khiếu nại;
d) Được khôi phục quyền, lợi
ích hợp pháp đã bị xâm phạm, được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp
luật.
2. Người khiếu nại có các nghĩa
vụ sau đây:
a) Trình bày trung thực sự việc,
cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc khiếu nại cho người giải quyết
khiếu nại; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày và việc cung
cấp các thông tin, tài liệu đó;
b) Chấp hành quyết định giải
quyết khiếu nại có hiệu lực thi hành.
Điều 181.
Quyền và nghĩa vụ của người bị khiếu nại trong thi hành án hình sự
1. Người bị khiếu nại có các
quyền sau đây:
a) Được thông báo về nội dung
khiếu nại;
b) Đưa ra bằng chứng về tính hợp
pháp của quyết định, hành vi thi hành án hình sự bị khiếu nại;
c) Được nhận quyết định giải
quyết khiếu nại.
2. Người bị khiếu nại có các
nghĩa vụ sau đây:
a) Giải trình về quyết định,
hành vi thi hành án hình sự bị khiếu nại, cung cấp thông tin, tài liệu liên
quan khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền yêu cầu;
b) Chấp hành quyết định giải
quyết khiếu nại có hiệu lực thi hành;
c) Bồi hoàn, khắc phục hậu quả
do quyết định, hành vi trái pháp luật của mình gây ra theo quy định của pháp luật.
Điều 182.
Nhiệm vụ và quyền hạn của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại trong thi
hành án hình sự
1. Tiếp nhận, giải quyết khiếu
nại đối với quyết định, hành vi bị khiếu nại.
2. Yêu cầu người khiếu nại, người
bị khiếu nại giải trình, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc khiếu
nại.
3. Thông báo bằng văn bản về việc
thụ lý để giải quyết, gửi quyết định giải quyết cho người khiếu nại.
4. Chịu trách nhiệm trước pháp
luật về việc giải quyết khiếu nại của mình.
Điều 183.
Thời hạn giải quyết khiếu nại trong thi hành án hình sự
1. Thời hạn giải quyết khiếu nại
lần đầu là 15 ngày kể từ ngày thụ lý khiếu nại.
2. Thời hạn giải quyết khiếu nại
lần hai là 30 ngày kể từ ngày thụ lý khiếu nại.
3. Trường hợp cần thiết, đối với
những vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại quy định tại khoản 1
và khoản 2 Điều này có thể kéo dài thêm nhưng không quá 30 ngày.
Điều 184.
Tiếp nhận, thụ lý khiếu nại trong thi hành án hình sự
1. Cơ quan, người có thẩm quyền
phải tiếp nhận các khiếu nại trong thi hành án hình sự. Đối với khiếu nại của
phạm nhân quy định tại khoản 8 Điều 178 của Luật này thì
trong thời hạn 24 giờ kể từ khi tiếp nhận, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm
giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện phải chuyển ngay
khiếu nại cho Viện kiểm sát có thẩm quyền.
2. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày nhận được khiếu nại, cơ quan, người có thẩm quyền quy định tại
khoản 1 Điều này, Điều 178 và Điều 179 của Luật này phải thụ
lý để giải quyết và thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại biết. Trường hợp
không thụ lý khiếu nại để giải quyết thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ
lý do.
Điều 185.
Hồ sơ giải quyết khiếu nại trong thi hành án hình sự
1. Hồ sơ giải quyết khiếu nại
bao gồm:
a) Đơn khiếu nại hoặc văn bản
ghi nội dung khiếu nại;
b) Văn bản giải trình của người
bị khiếu nại;
c) Biên bản thẩm tra, xác minh,
kết luận;
d) Quyết định giải quyết khiếu
nại;
đ) Tài liệu khác có liên quan.
2. Hồ sơ giải quyết khiếu nại
phải được đánh số bút lục và lưu giữ tại cơ quan giải quyết khiếu nại.
Điều 186.
Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại lần đầu trong thi hành án hình sự
1. Sau khi thụ lý khiếu nại,
người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại quy định tại Điều 178
và Điều 179 của Luật này tiến hành xác minh, yêu cầu người khiếu nại, người
bị khiếu nại giải trình, cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc khiếu
nại; gặp cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để làm rõ nội dung khiếu nại và
ra quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu.
2. Quyết định giải quyết khiếu
nại lần đầu có hiệu lực thi hành nếu trong thời hiệu do Luật này quy định mà
người khiếu nại không khiếu nại tiếp.
Điều 187.
Nội dung quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu trong thi hành án hình sự
1. Ngày, tháng, năm ra quyết định.
2. Họ, tên, địa chỉ của người
khiếu nại, người bị khiếu nại.
3. Nội dung khiếu nại.
4. Kết quả xác minh nội dung
khiếu nại.
5. Căn cứ pháp luật để giải quyết
khiếu nại.
6. Kết luận về nội dung khiếu nại
là đúng, đúng một phần hoặc sai toàn bộ.
7. Giữ nguyên, sửa đổi, hủy bỏ
hoặc yêu cầu sửa đổi, hủy bỏ một phần quyết định bị khiếu nại hoặc buộc chấm dứt
việc thực hiện quyết định, hành vi bị khiếu nại.
8. Việc bồi thường thiệt hại,
khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trái pháp luật gây ra (nếu có).
9. Hướng dẫn quyền khiếu nại tiếp
theo của đương sự.
Điều 188.
Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại lần hai trong thi hành án hình sự
1. Trường hợp tiếp tục khiếu nại
thì người khiếu nại phải gửi đơn kèm theo bản sao quyết định giải quyết khiếu nại
lần đầu và tài liệu liên quan cho người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần
hai.
2. Trong quá trình giải quyết
khiếu nại lần hai, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại quy định tại Điều 178 và Điều 179 của Luật này có quyền yêu cầu người giải
quyết khiếu nại lần đầu, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông
tin, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại; triệu tập người bị khiếu nại,
người khiếu nại khi cần thiết; xác minh, tiến hành các biện pháp khác theo quy
định của pháp luật để giải quyết khiếu nại. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khi nhận
được yêu cầu phải thực hiện đúng các yêu cầu đó.
3. Quyết định giải quyết khiếu
nại lần hai có hiệu lực thi hành.
Điều 189.
Nội dung quyết định giải quyết khiếu nại lần hai trong thi hành án hình sự
1. Ngày, tháng, năm ra quyết định.
2. Họ, tên, địa chỉ của người
khiếu nại, người bị khiếu nại.
3. Nội dung khiếu nại.
4. Kết quả xác minh nội dung
khiếu nại.
5. Căn cứ pháp luật để giải quyết
khiếu nại.
6. Kết luận về nội dung khiếu nại
và việc giải quyết của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu.
7. Giữ nguyên, sửa đổi, hủy bỏ
hoặc yêu cầu sửa đổi, hủy bỏ một phần quyết định bị khiếu nại hoặc buộc chấm dứt
thực hiện quyết định, hành vi bị khiếu nại; việc bồi thường thiệt hại, khắc phục
hậu quả do quyết định, hành vi trái pháp luật gây ra.
Mục 2. TỐ
CÁO VÀ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO TRONG THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ
Điều 190.
Người có quyền tố cáo trong thi hành án hình sự
Người chấp hành án và mọi công
dân có quyền tố cáo với cơ quan, người có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật
của bất kỳ người có thẩm quyền nào trong thi hành án hình sự mà gây thiệt hại
hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ
quan, tổ chức, cá nhân.
Điều 191.
Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo, người bị tố cáo trong thi hành án hình sự
Quyền và nghĩa vụ của người tố
cáo, người bị tố cáo trong thi hành án hình sự được thực hiện theo quy định của
Luật Tố cáo.
Điều 192.
Thẩm quyền và thời hạn giải quyết tố cáo
1. Thẩm quyền giải quyết tố cáo
như sau:
a) Người đứng đầu cơ quan, tổ
chức giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của người thuộc thẩm
quyền quản lý của cơ quan, tổ chức đó;
b) Chủ tịch Ủy ban nhân cấp xã
giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của Trưởng Công an cấp xã;
c)[24] (được bãi bỏ)
d) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh[25] giải quyết tố cáo đối với
hành vi vi phạm pháp luật của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã;
đ) Giám đốc Công an cấp tỉnh giải
quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành
án hình sự Công an cấp tỉnh;
e) Tư lệnh Quân khu và tương
đương giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của Thủ trưởng cơ
quan thi hành án hình sự cấp quân khu;
g) Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng
Bộ Quốc phòng giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật của Thủ trưởng
cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc phạm vi quản lý.
h) Viện trưởng Viện kiểm sát có
thẩm quyền giải quyết tố cáo đối với hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý,
giáo dục phạm nhân của người được giao quản lý, giáo dục phạm nhân.
2. Thời hạn giải quyết tố cáo
là không quá 30 ngày kể từ ngày thụ lý giải quyết tố cáo; đối với vụ việc phức
tạp thì có thể gia hạn giải quyết tố cáo một lần nhưng không quá 30 ngày; đối với
vụ việc đặc biệt phức tạp thì có thể gia hạn giải quyết tố cáo 02 lần, mỗi lần
không quá 30 ngày.
3. Tố cáo về hành vi vi phạm
pháp luật có dấu hiệu tội phạm được giải quyết theo quy định của Bộ luật Tố tụng
hình sự.
Điều 193.
Trách nhiệm giải quyết tố cáo
1. Cơ quan, người có thẩm quyền,
trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm tiếp nhận và giải
quyết tố cáo kịp thời, đúng pháp luật; xử lý nghiêm minh người vi phạm; áp dụng
biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra; bảo đảm cho quyết định
giải quyết được thi hành nghiêm chỉnh và chịu trách nhiệm trước pháp luật về
quyết định của mình.
2. Người có thẩm quyền giải quyết
tố cáo mà không giải quyết, thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết, giải quyết
trái pháp luật thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc
truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định
của pháp luật.
Chương
XV
NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA
CƠ QUAN NHÀ NƯỚC TRONG QUẢN LÝ CÔNG TÁC THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ
Điều 194.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ trong quản lý nhà nước về thi hành án hình sự
1. Thống nhất quản lý nhà nước
về thi hành án hình sự trong phạm vi cả nước.
2. Chỉ đạo các cơ quan của
Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong thi hành án hình sự.
3. Phối hợp với Tòa án nhân dân
tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong thi hành án hình sự.
4. Hằng năm, báo cáo Quốc hội về
công tác thi hành án hình sự.
Điều 195.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Công an trong quản lý công tác thi hành án hình sự
1. Bộ Công an chịu trách nhiệm
trước Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về thi hành án hình sự và
có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Ban hành hoặc trình cơ quan
có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án hình sự; phối
hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, cơ quan khác
có liên quan trong việc ban hành thông tư liên tịch quy định về việc phối hợp
giữa các cơ quan này trong việc thực hiện trình tự, thủ tục thi hành án hình sự;
b) Xây dựng và tổ chức thực hiện
chính sách, kế hoạch về thi hành án hình sự; chỉ đạo và tổ chức thực hiện các
văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án hình sự;
c) Đình chỉ, bãi bỏ theo thẩm
quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền bãi bỏ những quy định về thi hành án
hình sự trái với quy định của Luật này;
d) Ban hành các biểu mẫu, giấy
tờ, sổ sách về thi hành án hình sự;
đ) Phổ biến, giáo dục pháp luật
về thi hành án hình sự;
e) Quản lý hệ thống tổ chức,
biên chế và hoạt động của cơ quan thi hành án hình sự trong Công an nhân dân;
quyết định thành lập, sáp nhập, giải thể cơ quan thi hành án hình sự trong Công
an nhân dân theo quy định của Luật này; đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện sĩ quan,
hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân Công an trong thi hành án hình sự; bồi dưỡng,
huấn luyện, chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ cho cán bộ, công chức, nhân viên cơ
quan, tổ chức được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự;
g) Chỉ đạo việc truy bắt người
chấp hành án bỏ trốn; áp giải người có quyết định thi hành án hình sự để thi
hành án; giải tán, tạm giữ người có hành vi cản trở, chống đối việc thi hành
án; phối hợp với đơn vị vũ trang nhân dân khác và chính quyền địa phương để chủ
động triển khai lực lượng hỗ trợ thi hành án hình sự trong trường hợp cần thiết;
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này;
h) Kiểm tra, thanh tra, khen
thưởng, xử lý vi phạm trong công tác thi hành án hình sự; giải quyết khiếu nại,
tố cáo về thi hành án hình sự theo quy định của Luật này;
i) Quyết định kế hoạch phân bổ
kinh phí, bảo đảm điều kiện cho hoạt động của cơ quan thi hành án hình sự;
k) Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực
thi hành án hình sự;
l) Tổng kết công tác thi hành
án hình sự;
m) Ban hành và thực hiện chế độ
thống kê về thi hành án hình sự;
n) Báo cáo Chính phủ về công
tác thi hành án hình sự.
2. Bộ trưởng Bộ Công an căn cứ
yêu cầu quản lý người bị tạm giữ, tạm giam để quyết định đưa người chấp hành án
phạt tù có thời hạn từ 05 năm trở xuống không phải là người dưới 18 tuổi, người
nước ngoài, người mắc bệnh truyền nhiễm nguy hiểm hoặc nghiện ma túy để phục vụ
việc tạm giữ, tạm giam. Số lượng người chấp hành án phạt tù phục vụ việc tạm giữ,
tạm giam được tính theo tỷ lệ trên tổng số người bị tạm giữ, tạm giam nhưng
không vượt quá 15%.
Điều 196.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Quốc phòng trong quản lý công tác thi hành án hình sự
1. Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm
quản lý công tác thi hành án hình sự trong Quân đội nhân dân có nhiệm vụ, quyền
hạn sau đây:
a) Ban hành hoặc trình cấp có
thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án hình sự trong
Quân đội nhân dân; phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân
tối cao, cơ quan khác có liên quan trong việc ban hành thông tư liên tịch quy định
về việc phối hợp giữa các cơ quan này trong việc thực hiện trình tự, thủ tục
thi hành án hình sự;
b) Quản lý hệ thống tổ chức,
biên chế và hoạt động của cơ quan thi hành án hình sự trong Quân đội nhân dân;
quyết định thành lập, sáp nhập, giải thể cơ quan thi hành án hình sự trong Quân
đội nhân dân theo quy định của Luật này;
c) Phối hợp với Bộ Công an, Bộ
Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư pháp trong việc xây dựng chương trình giáo dục pháp
luật, giáo dục công dân; phối hợp với Bộ Công an trong việc tổng kết, thống kê,
báo cáo Chính phủ về công tác thi hành án hình sự;
d) Hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ
thi hành án hình sự cho cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu; phổ biến,
giáo dục pháp luật về thi hành án hình sự trong Quân đội nhân dân;
đ) Khen thưởng, kỷ luật đối với
quân nhân làm công tác thi hành án hình sự trong Quân đội nhân dân;
e) Chỉ đạo việc truy bắt người
chấp hành án bỏ trốn; áp giải người có quyết định thi hành án hình sự để thi
hành án; giải tán, tạm giữ người có hành vi cản trở, chống đối việc thi hành
án; phối hợp với đơn vị vũ trang nhân dân khác và chính quyền địa phương để chủ
động triển khai lực lượng hỗ trợ thi hành án hình sự trong trường hợp cần thiết;
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật này;
g) Kiểm tra, thanh tra, giải
quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm về thi hành án hình sự trong Quân đội
nhân dân theo quy định của Luật này;
h) Quản lý, lập kế hoạch phân bổ
kinh phí, bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động thi hành án hình sự
trong Quân đội nhân dân.
2. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng căn
cứ yêu cầu quản lý người bị tạm giữ, tạm giam trong các cơ sở giam giữ của Bộ
Quốc phòng để quyết định đưa người chấp hành án phạt tù có thời hạn từ 5 năm trở
xuống không phải là người dưới 18 tuổi, người nước ngoài, người mắc bệnh truyền
nhiễm nguy hiểm hoặc nghiện ma túy để phục vụ việc tạm giữ, tạm giam. Số lượng
người chấp hành án phạt tù tại trại tạm giam được tính theo tỷ lệ trên tổng số
người bị tạm giữ, tạm giam nhưng không vượt quá 15%.
Điều 197.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân tối cao trong thi hành án hình sự
1. Phối hợp với Viện kiểm sát
nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, cơ quan khác có liên
quan trong việc ban hành thông tư liên tịch quy định về việc phối hợp giữa các
cơ quan này trong việc thực hiện trình tự, thủ tục thi hành án hình sự.
2. Hướng dẫn Tòa án các cấp
trong việc ra quyết định thi hành án hình sự; chỉ đạo Tòa án các cấp phối hợp với
cơ quan quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 11 của Luật này
trong công tác thi hành án hình sự.
3. Phối hợp với Bộ Công an, Bộ
Quốc phòng trong việc tổng kết công tác thi hành án hình sự.
4. Phối hợp với Bộ Công an
trong việc thực hiện chế độ thống kê, báo cáo về công tác thi hành án hình sự.
Điều 198.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong thi hành án hình sự
1. Phối hợp với Tòa án nhân dân
tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư pháp, cơ quan khác có liên quan trong
việc ban hành thông tư liên tịch quy định về việc phối hợp giữa các cơ quan này
trong việc thực hiện trình tự, thủ tục thi hành án hình sự.
2. Kiểm sát và chỉ đạo Viện kiểm
sát các cấp thực hiện việc kiểm sát thi hành án hình sự theo quy định của Luật
này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
3. Phối hợp với Bộ Công an, Bộ
Quốc phòng trong việc tổng kết công tác thi hành án hình sự.
4. Phối hợp với Bộ Công an
trong việc thực hiện chế độ thống kê, báo cáo về công tác thi hành án hình sự.
Điều 199.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp trong thi hành án hình sự
1. Phối hợp với Tòa án nhân dân
tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, cơ quan
khác có liên quan ban hành thông tư liên tịch quy định về việc phối hợp giữa
các cơ quan này trong việc thực hiện trình tự, thủ tục thi hành án hình sự.
2. Phối hợp với Bộ Giáo dục và
Đào tạo, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng trong việc xây dựng chương trình giáo dục
pháp luật, giáo dục công dân; phổ biến, giáo dục pháp luật về thi hành án hình
sự.
3. Chỉ đạo cơ quan thi hành án
dân sự chủ trì, phối hợp với trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình
sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi
hành án hình sự cấp quân khu trong việc cung cấp thông tin, chuyển giao giấy tờ,
tiền, tài sản, việc thu, nộp tiền, tài sản có liên quan đến phạm nhân là người
phải thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự; phối hợp với cơ quan
thi hành án hình sự và cơ quan có liên quan trong thi hành án đối với pháp nhân
thương mại.
Điều 200.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Y tế trong thi hành án hình sự
Phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc
phòng trong việc chỉ đạo, hướng dẫn việc phòng, chống dịch bệnh, khám bệnh,chữa
bệnh cho phạm nhân, học sinh trường giáo dưỡng; chỉ đạo công tác giám định theo
thẩm quyền; tổ chức các cơ sở chuyên khoa y tế để thực hiện biện pháp tư pháp bắt
buộc chữa bệnh theo quy định của Luật này.
Điều 201.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trong thi hành án
hình sự
1. Phối hợp với Bộ Công an
trong chỉ đạo, hướng dẫn việc tổ chức lao động, dạy nghề và thực hiện chế độ,
chính sách cho phạm nhân, học sinh trường giáo dưỡng.
2. Chỉ đạo cơ quan chuyên môn về
lao động, thương binh và xã hội thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ sở bảo
trợ xã hội tiếp nhận, chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em là con phạm nhân không có người
thân nhận chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định của Luật này và quy định khác của
pháp luật có liên quan.
Điều 202.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong thi hành án hình sự
Phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc
phòng chỉ đạo, hướng dẫn việc xây dựng chương trình, tài liệu, đào tạo giáo
viên, tham gia dạy văn hóa cho phạm nhân, học sinh trường giáo dưỡng theo quy định
của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Điều 203.
Trách nhiệm của Bộ, cơ quan ngang Bộ trong thi hành án hình sự
Bộ, cơ quan ngang Bộ, trong phạm
vi chức năng, nhiệm vụ của mình, có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc
phòng trong thi hành án hình sự.
Điều 204.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong thi hành án hình sự
1. Chỉ đạo việc tổ chức phối hợp
với các cơ quan có liên quan, Ủy ban nhân dân cấp dưới trong công tác thi hành
án hình sự trên địa bàn theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật
có liên quan.
2. Chỉ đạo cơ quan chuyên môn, Ủy
ban nhân dân cấp dưới và có chính sách phù hợp để khuyến khích cơ quan, tổ chức,
cá nhân trong việc tạo điều kiện để người chấp hành xong án phạt tù, người được
đặc xá, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện tìm việc làm, ổn định cuộc
sống, học nghề, hòa nhập cộng đồng.
3. Yêu cầu Công an cấp tỉnh báo
cáo công tác thi hành án hình sự ở địa phương.
Điều 205.[26] (được
bãi bỏ)
Chương
XVI
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH[27]
Điều 206.
Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2020.
2. Luật Thi hành án hình sự số
53/2010/QH12 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ trường
hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 207 của Luật này.
Điều 207.
Quy định chuyển tiếp
1. Đối với bản án, quyết định của
Tòa án có hiệu lực pháp luật mà đến ngày Luật này có hiệu lực chưa được thi
hành hoặc chưa thi hành xong thì áp dụng các quy định của Luật này để thi hành,
trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Đối với việc thi hành án
treo, án phạt cải tạo không giam giữ mà bản án được tuyên theo quy định của Bộ
luật Hình sự số 15/1999/QH10 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số
37/2009/QH12 thì vẫn áp dụng quy định của Luật Thi hành án hình sự số
53/2010/QH12 và các văn bản quy định chi tiết hướng dẫn thi hành Luật.
3. Đối với việc thi hành bản
án, quyết định theo Luật Thi hành án hình sự số 53/2010/QH12 nhưng đến ngày Luật
này có hiệu lực mà còn khiếu nại, tố cáo thì việc giải quyết khiếu nại, tố cáo
được áp dụng theo quy định của Luật Thi hành án hình sự số 53/2010/QH12 và các
văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật.
|
|
XÁC THỰC VĂN BẢN
HỢP NHẤT
|
|
Nơi nhận:
- Văn phòng Chính phủ (để đăng Công
báo);
- Cục Quản trị, VPQH (để đăng trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội);
- Cục Kiểm tra VBQPPL, Bộ Tư pháp (để đăng trên CSDL Quốc gia về VBPL);
- Vụ Chuyển đổi số, VPQH (để đăng trên trang nội bộ Intranet);
- Lưu: HC, TH.
|
CHỦ NHIỆM
Lê Quang Tùng
|
[1] Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15 có
căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Tư
pháp người chưa thành niên.”.
Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Hình sự có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị
quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Luật số 12/2017/QH14 và Luật số 59/2024/QH15.”.
[2] Cụm
từ “, giáo dục tại trường giáo dưỡng” được bỏ theo quy định tại điểm a khoản 3
Điều 177 của Luật Tư pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[3] Khoản
này được bãi bỏ theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 177 của Luật Tư pháp người
chưa thành niên số 59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[4] Cụm
từ “hoặc người chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng” được
bỏ theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 177 của Luật Tư pháp người chưa thành
niên số 59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[5] Cụm
từ “Tòa án nhân dân khu vực” được thay thế bằng cụm từ “Tòa án nhân dân cấp tỉnh”
theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 2 của Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[6] Cụm
từ “Tòa án nhân dân cấp tỉnh” được thay thế bằng cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực”
theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 2 của Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[7] Cụm
từ “Tòa án nhân dân cấp tỉnh” được thay thế bằng cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực”
theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 2 của Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[8] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 2 của Luật số
86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[9] Mục
này được bãi bỏ theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 177 của Luật Tư pháp người
chưa thành niên số 59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[10]
Điểm này được bãi bỏ theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 2 của Luật số
86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[11]
Điểm này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 2 của Luật
số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, , có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[12]
Cụm từ “Tòa án nhân dân cấp huyện” được thay thế bằng cụm từ “Tòa án nhân dân
khu vực” theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 2 của Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[13]
Cụm từ “Tòa án nhân dân cấp huyện” được thay thế bằng cụm từ “Tòa án nhân dân
khu vực” theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 2 của Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[14]
Cụm từ “Tòa án nhân dân cấp huyện” được thay thế bằng cụm từ “Tòa án nhân dân
khu vực” theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 2 của Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[15]
Cụm từ “Tòa án nhân dân cấp huyện” được thay thế bằng cụm từ “Tòa án nhân dân
khu vực” theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 2 của Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[16]
Cụm từ “Tòa án nhân dân cấp huyện” được thay thế bằng cụm từ “Tòa án nhân dân
khu vực” theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 2 của Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[17]
Cụm từ “Tòa án nhân dân cấp huyện” được thay thế bằng cụm từ “Tòa án nhân dân
khu vực” theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 2 của Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[18]
Khoản này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 2 của Luật
số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[19]
Điểm này được bãi bỏ theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 177 của Luật Tư pháp
người chưa thành niên số 59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm
2026.
[20]
Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 177 của Luật Tư
pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01
năm 2026.
[21]
Khoản này được bãi bỏ theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 177 của Luật Tư
pháp người chưa thành niên số 59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01
năm 2026.
[22]
Cụm từ “Tòa án nhân dân cấp tỉnh” được thay thế bằng cụm từ “Tòa án nhân dân
khu vực” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 2 của Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[23]
Mục này được bãi bỏ theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 177 của Luật Tư pháp
người chưa thành niên số 59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm
2026.
[24]
Điểm này được bãi bỏ theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 2 của Luật số
86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[25]
Cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp huyện” được thay thế bằng cụm từ “Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh” theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 2 của Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[26]
Điều này được bãi bỏ theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 2 của Luật số
86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[27] Điều 178 của Luật Tư pháp người chưa thành niên số
59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026 quy định như sau:
“Điều 178. Hiệu lực thi
hành
1. Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2026, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều
này.
2. Quy định tại Điều 139,
khoản 1 và khoản 2 Điều 162 của Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng
01 năm 2028.”.
Điều 3 và Điều 4 của Luật số
86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025 quy định như sau:
“Điều 3. Hiệu lực thi
hành
Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
Điều 4. Điều khoản chuyển
tiếp
1. Kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025, Luật này được áp dụng như sau:
a) Các quy định tại Điều 1 của
Luật này được áp dụng để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối
với người thực hiện hành vi phạm tội từ 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 7 năm 2025;
b) Quy định có lợi cho người
phạm tội tại các điều 40, 63, 109, 110, 114, 194, 248, 250, 251, 353, 354 và
421 của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Luật số 12/2017/QH14 và Luật số 59/2024/QH15 (sau đây gọi là Bộ luật Hình
sự) được sửa đổi, bổ sung tại các khoản 1, 4, 5, 6, 7, 10, 18, 22, 23 và 29 Điều
1 của Luật này và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng
đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 7
năm 2025 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện hoặc đang bị điều tra, truy tố,
xét xử;
c) Quy định không có lợi cho
người phạm tội tại các điều 63, 192, 193, 194, 195, 235, 236, 237, 238, 239,
240, 241, 242, 243, 244, 245, 246, 248, 249, 250, 251, 252, 255, 317, 353, 354,
355, 356, 357, 358 và 359 của Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung tại các khoản
4, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27 và
28 Điều 1 của Luật này và các quy định khác không có lợi cho người phạm tội thì
không áp dụng đối với những hành vi xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 7
năm 2025 mà sau thời điểm đó mới phát hiện hoặc đang bị điều tra, truy tố, xét
xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án
tích; trong trường hợp này, áp dụng quy định tương ứng của các văn bản quy phạm
pháp luật về hình sự có hiệu lực trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 7 năm 2025 để
giải quyết, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này;
d) Đối với những hành vi phạm
tội đã có bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trước 0 giờ 00
phút ngày 01 tháng 7 năm 2025 thì không căn cứ vào những quy định của Luật này
có nội dung khác so với các điều luật đã được áp dụng khi tuyên án để kháng nghị
giám đốc thẩm; trường hợp kháng nghị dựa vào căn cứ khác hoặc đã kháng nghị trước
ngày 01 tháng 7 năm 2025 thì việc xét xử giám đốc thẩm được áp dụng quy định tại
điểm b và điểm c khoản này.
2. Hình phạt tử hình đã
tuyên trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 đối với người phạm tội về các tội quy định
tại các điều 109, 110, 114, 194, 250, 353, 354 và 421 của Bộ luật Hình sự hoặc
thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự được sửa
đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 1 của Luật này mà chưa thi hành án thì không thi
hành và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định chuyển hình phạt tử hình
thành tù chung thân.
3. Hình phạt tử hình đã
tuyên trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 đối với người phạm tội về các tội quy định
tại Điều 248 hoặc Điều 251 của Bộ luật Hình sự mà chưa thi hành án thì không
thi hành và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định chuyển hình phạt tử
hình thành tù chung thân đối với các trường hợp sau:
a) Khối lượng, thể tích chất
ma túy được xác định trong bản án để quyết định hình phạt bằng hoặc thấp hơn khối
lượng, thể tích chất ma túy thấp nhất quy định tại khoản 5 Điều 248 hoặc khoản
5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung tại khoản 18 Điều 1 của Luật
này;
b) Khối lượng, thể tích chất
ma túy được xác định trong bản án để quyết định hình phạt lớn hơn khối lượng,
thể tích chất ma túy thấp nhất quy định tại khoản 5 Điều 248 hoặc khoản 5 Điều
251 của Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung tại khoản 18 Điều 1 của Luật này
mà người phạm tội không phải là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy hoặc không có
02 tình tiết tăng nặng trở lên.
4. Người phạm tội về các tội
quy định tại Điều 353 và Điều 354 của Bộ luật Hình sự mà theo quy định tại khoản
2 Điều này được chuyển thành tù chung thân thì vẫn áp dụng quy định tại điểm a khoản
4 Điều 1 của Luật này khi xét giảm mức hình phạt đã tuyên.
5. Hình phạt tù chung thân
đã tuyên trước ngày 01 tháng 7 năm 2025 khi xét giảm mức hình phạt đã tuyên đối
với người phạm tội về các tội quy định tại Điều 353 và Điều 354 của Bộ luật
Hình sự thì không áp dụng quy định tại điểm a khoản 4 Điều 1 của Luật này khi
xét giảm mức hình phạt đã tuyên.
6. Trách nhiệm triển khai,
thi hành Luật này được quy định như sau:
a) Giao Tòa án nhân dân tối
cao chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tối
cao và các cơ quan có liên quan tổ chức việc rà soát người bị kết án tử hình
thuộc diện được chuyển từ hình phạt tử hình thành tù chung thân để thực hiện
theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này;
b) Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm
sát nhân dân tối cao, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, phối
hợp tổ chức rà soát các văn bản có liên quan để kịp thời hủy bỏ, sửa đổi, bổ
sung hoặc ban hành mới hoặc đề nghị Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội hủy bỏ,
sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật cho phù hợp với
quy định của Luật này.”.