|
VĂN PHÒNG QUỐC
HỘI
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 122/VBHN-VPQH
|
Hà Nội, ngày 27
tháng 8 năm 2025
|
LUẬT
HÒA GIẢI, ĐỐI THOẠI TẠI TÒA ÁN
Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa
án số 58/2020/QH14 ngày 16 tháng 6 năm 2020 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2021, được sửa đổi, bổ sung bởi:
Luật số 85/2025/QH15 ngày 25
tháng 6 năm 2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng
dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản
và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Hòa
giải, đối thoại tại Tòa án[1].
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm
vi điều chỉnh
1. Luật này quy định nguyên tắc,
chính sách của Nhà nước về hòa giải, đối thoại tại Tòa án; quyền, nghĩa vụ của
Hòa giải viên tại Tòa án, các bên tham gia hòa giải, đối thoại tại Tòa án;
trách nhiệm của Tòa án trong hoạt động hòa giải, đối thoại; trình tự, thủ tục
hòa giải, đối thoại và công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành tại
Tòa án.
2. Hòa giải, đối thoại theo quy
định của Luật này được thực hiện trước khi Tòa án thụ lý vụ án về tranh chấp
dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc yêu cầu
công nhận thuận tình ly hôn; vụ án hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính.
3. Luật này không áp dụng đối với
hoạt động hòa giải, đối thoại đã được luật khác quy định.
Điều 2. Giải
thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới
đây được hiểu như sau:
1. Hòa giải viên tại Tòa án (sau
đây gọi là Hòa giải viên) là người có đủ điều kiện, được Chánh án Tòa án nhân
dân cấp tỉnh bổ nhiệm để tiến hành hòa giải tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia
đình, kinh doanh, thương mại, lao động, yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn
(sau đây gọi chung là vụ việc dân sự) và đối thoại khiếu kiện hành chính theo
quy định của Luật này.
2. Hòa giải tại Tòa án là
hoạt động hòa giải do Hòa giải viên tiến hành trước khi Tòa án thụ lý vụ việc
dân sự, nhằm hỗ trợ các bên tham gia hòa giải thỏa thuận giải quyết vụ việc dân
sự theo quy định của Luật này.
3. Đối thoại tại Tòa án là
hoạt động đối thoại do Hòa giải viên tiến hành trước khi Tòa án thụ lý vụ án
hành chính, nhằm hỗ trợ các bên tham gia đối thoại thống nhất giải quyết khiếu
kiện hành chính theo quy định của Luật này.
4. Hòa giải thành là
thông qua hòa giải, các bên tham gia hòa giải tự nguyện thỏa thuận về việc giải
quyết toàn bộ hoặc một phần vụ việc dân sự mà phần này không liên quan đến những
phần khác của vụ việc dân sự đó.
5. Đối thoại thành là thông
qua đối thoại, các bên tham gia đối thoại tự nguyện thống nhất về việc giải quyết
toàn bộ hoặc một phần khiếu kiện hành chính mà phần này không liên quan đến những
phần khác của khiếu kiện hành chính đó.
6. Các bên tham gia hòa giải
là cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến vụ việc dân sự theo quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự.
7. Các bên tham gia đối thoại
là cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến khiếu kiện hành chính theo
quy định của Luật Tố tụng hành chính.
8. Người đại diện bao gồm
người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền theo quy định của
Bộ luật Dân sự.
Điều 3.
Nguyên tắc hòa giải, đối thoại tại Tòa án
1. Các bên tham gia hòa giải, đối
thoại (sau đây gọi là các bên) phải tự nguyện hòa giải, đối thoại.
2. Tôn trọng sự tự nguyện thỏa
thuận, thống nhất của các bên; không được ép buộc các bên thỏa thuận, thống nhất
trái với ý chí của họ.
3. Bảo đảm bình đẳng về quyền
và nghĩa vụ giữa các bên.
4. Nội dung thỏa thuận hòa giải,
thống nhất đối thoại không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội,
không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân
khác, không xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân
khác.
5. Các thông tin liên quan đến
vụ việc hòa giải, đối thoại phải được giữ bí mật theo quy định tại Điều 4 của Luật này.
6. Phương thức hòa giải, đối
thoại được tiến hành linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tế, đặc điểm của mỗi
loại vụ việc.
7. Hòa giải viên tiến hành hòa
giải, đối thoại độc lập và tuân theo pháp luật.
8. Tiếng nói và chữ viết dùng
trong hòa giải, đối thoại là tiếng Việt. Người tham gia hòa giải, đối thoại có
quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình; trường hợp này họ có thể tự bố
trí hoặc đề nghị Hòa giải viên bố trí phiên dịch cho mình.
Người tham gia hòa giải, đối
thoại là người khuyết tật nghe, nói hoặc khuyết tật nhìn có quyền dùng ngôn ngữ,
ký hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật; trường hợp này phải có người biết
ngôn ngữ, ký hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật để dịch lại và họ cũng
được coi là người phiên dịch.
9. Bảo đảm bình đẳng giới, bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em trong hòa giải, đối thoại.
Điều 4. Bảo
mật thông tin hòa giải, đối thoại tại Tòa án
1. Hòa giải viên, các bên, cơ
quan, tổ chức, cá nhân khác được mời tham gia hòa giải, đối thoại không được tiết
lộ thông tin mà mình biết được trong quá trình hòa giải, đối thoại.
2. Trong quá trình hòa giải, đối
thoại không được ghi âm, ghi hình, ghi biên bản hòa giải, đối thoại. Việc lập
biên bản chỉ được thực hiện để ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại theo quy định
tại Điều 31 của Luật này. Hòa giải viên, các bên chỉ được
ghi chép để phục vụ cho việc hòa giải, đối thoại và phải bảo mật nội dung đã
ghi chép.
3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân
không được sử dụng tài liệu, lời trình bày của các bên trong quá trình hòa giải,
đối thoại làm chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc theo quy định của
pháp luật, trừ các trường hợp sau đây:
a) Bên đã xuất trình tài liệu, trình
bày ý kiến trong quá trình hòa giải, đối thoại đồng ý việc sử dụng tài liệu, lời
trình bày của mình trong quá trình hòa giải, đối thoại làm chứng cứ;
b) Phải sử dụng làm chứng cứ
theo quy định của luật.
4. Cơ quan, tổ chức, cá nhân vi
phạm quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này thì bị xử lý theo quy định của
pháp luật.
Điều 5.
Chính sách của Nhà nước về hòa giải, đối thoại tại Tòa án
Nhà nước khuyến khích các bên
giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính bằng hình thức hòa giải, đối
thoại tại Tòa án; khuyến khích những người đủ điều kiện theo quy định của Luật
này làm Hòa giải viên và tạo điều kiện, hỗ trợ cho hoạt động hòa giải, đối thoại
tại Tòa án.
Điều 6.
Kinh phí hòa giải, đối thoại tại Tòa án
1. Nhà nước bảo đảm kinh phí
hòa giải, đối thoại tại Tòa án từ ngân sách nhà nước và các nguồn kinh phí hợp
pháp khác theo quy định của pháp luật.
2. Kinh phí hòa giải, đối thoại
tại Tòa án do Chính phủ trình Quốc hội quyết định sau khi thống nhất với Tòa án
nhân dân tối cao.
3. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định
việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí hòa giải, đối thoại tại
Tòa án.
Điều 7.
Trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong hoạt động hòa giải, đối thoại tại Tòa án
1. Tòa án nhân dân tối cao có
trách nhiệm sau đây:
a) Tổ chức, quản lý hoạt động
hòa giải, đối thoại theo quy định của Luật này;
b) Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng
chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng hòa giải, đối thoại; quy định trình tự, thủ tục
cấp, thu hồi và việc sử dụng thẻ Hòa giải viên;
c) Phối hợp với Chính phủ trong
việc trình Quốc hội quyết định kinh phí hòa giải, đối thoại tại Tòa án;
d) Hướng dẫn, kiểm tra việc quản
lý, sử dụng và quyết toán kinh phí hòa giải, đối thoại tại Tòa án theo quy định
của pháp luật;
đ) Kiểm tra việc thực hiện và xử
lý vi phạm trong hoạt động hòa giải, đối thoại;
e) Giải quyết khiếu nại đối với
quyết định giải quyết khiếu nại của Tòa án nhân dân cấp tỉnh;
g) Báo cáo Quốc hội về hoạt động
hòa giải, đối thoại tại Tòa án trong báo cáo công tác hằng năm;
h) Thực hiện các nhiệm vụ khác
theo quy định của Luật này.
2. Tòa án nhân dân cấp tỉnh có
trách nhiệm sau đây:
a)[2] (được bãi bỏ)
b) Bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn
nhiệm, xóa tên Hòa giải viên; cấp, thu hồi thẻ Hòa giải viên;
c) Bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp
vụ; khen thưởng, xử lý vi phạm đối với Hòa giải viên;
d)[3] (được bãi bỏ)
đ)[4] (được bãi bỏ)
e) Giải quyết khiếu nại đối với
quyết định của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh về việc buộc thôi làm Hòa giải
viên;
g) Báo cáo về hoạt động hòa giải,
đối thoại tại Tòa án theo quy định của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
h) Thực hiện các nhiệm vụ khác
theo quy định của Luật này.
3. Tòa án nhân dân khu vực[5] có trách nhiệm sau đây:
a) Tổ chức thực hiện hoạt động
hòa giải, đối thoại theo quy định của Luật này;
b) Đề nghị Tòa án nhân dân cấp
tỉnh bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm Hòa giải viên;
c) Chỉ định, hỗ trợ, hướng dẫn
Hòa giải viên tiến hành hòa giải, đối thoại; đánh giá, nhận xét kết quả hoạt động
của Hòa giải viên; hỗ trợ bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; đề xuất khen thưởng,
đề nghị xử lý vi phạm đối với Hòa giải viên của Tòa án nhân dân khu vực[6];
d) Bố trí địa điểm, trang thiết
bị và điều kiện bảo đảm khác cho hoạt động hòa giải, đối thoại tại Tòa án;
đ) Báo cáo về hoạt động hòa giải,
đối thoại tại Tòa án theo quy định của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
e) Thực hiện các nhiệm vụ khác
theo quy định của Luật này.
4. Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao quy định chi tiết Điều này.
Điều 8. Quyền,
nghĩa vụ của các bên tham gia hòa giải, đối thoại tại Tòa án
1. Các bên có các quyền sau
đây:
a) Đồng ý hoặc từ chối tham gia
hòa giải, đối thoại hoặc chấm dứt hòa giải, đối thoại;
b) Trực tiếp hoặc thông qua người
đại diện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 25 của Luật này
tham gia hòa giải, đối thoại;
c)[7] Lựa chọn Hòa giải viên trong danh sách Hòa giải viên của
Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính hoặc Tòa
án nhân dân khu vực khác trên cùng phạm vi địa giới hành chính cấp tỉnh;
d) Đề nghị thay đổi Hòa giải
viên theo quy định của Luật này;
đ) Tự bố trí hoặc đề nghị Hòa
giải viên bố trí phiên dịch trong trường hợp người tham gia hòa giải, đối thoại
là người không biết tiếng Việt, người khuyết tật nghe, nói hoặc khuyết tật
nhìn;
e) Yêu cầu Hòa giải viên, người
tham gia hòa giải, đối thoại, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác, Thẩm phán tham
gia phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại giữ bí mật thông tin do mình
cung cấp;
g) Bày tỏ ý chí, đề xuất phương
thức, giải pháp giải quyết tranh chấp, yêu cầu, khiếu kiện; thống nhất về nội
dung hòa giải, đối thoại;
h) Yêu cầu Tòa án công nhận kết
quả hòa giải thành, đối thoại thành;
i) Yêu cầu bên có nghĩa vụ thực
hiện các nội dung đã hòa giải thành, đối thoại thành;
k) Đề nghị Tòa án có thẩm quyền
xem xét lại quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành theo
quy định của Luật này.
2. Các bên có các nghĩa vụ sau
đây:
a) Tuân thủ pháp luật;
b) Tham gia hòa giải, đối thoại
với tinh thần thiện chí, hợp tác để thúc đẩy quá trình hòa giải, đối thoại đạt
kết quả tích cực; trình bày chính xác tình tiết, nội dung của vụ việc, cung cấp
kịp thời, đầy đủ thông tin, tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ việc theo yêu cầu
của Hòa giải viên;
c) Chịu trách nhiệm về tính xác
thực của các thông tin, tài liệu, chứng cứ mà mình cung cấp trong quá trình hòa
giải, đối thoại; nếu thông tin, tài liệu, chứng cứ cung cấp là giả mạo thì kết
quả hòa giải, đối thoại bị vô hiệu; trường hợp có dấu hiệu tội phạm thì bị xử
lý theo quy định của pháp luật về hình sự; nếu gây thiệt hại cho cơ quan, tổ chức,
cá nhân khác thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật;
d) Tôn trọng Hòa giải viên và
các bên có liên quan; thực hiện các yêu cầu của Hòa giải viên theo quy định của
Luật này;
đ) Chấp hành quy chế hòa giải,
đối thoại tại Tòa án;
e) Thực hiện các nội dung đã
hòa giải thành, đối thoại thành.
Điều 9. Chi
phí hòa giải, đối thoại tại Tòa án
1. Chi phí hòa giải, đối thoại
tại Tòa án do ngân sách nhà nước bảo đảm, trừ các trường hợp quy định tại khoản
2 Điều này.
2. Các bên tham gia hòa giải, đối
thoại tại Tòa án phải chịu chi phí trong các trường hợp sau đây:
a) Chi phí hòa giải đối với
tranh chấp về kinh doanh, thương mại có giá ngạch;
b) Chi phí khi các bên thống nhất
lựa chọn địa điểm hòa giải, đối thoại ngoài trụ sở Tòa án; chi phí khi Hòa giải
viên xem xét hiện trạng tài sản liên quan đến vụ việc dân sự, khiếu kiện hành
chính mà tài sản đó nằm ngoài phạm vi địa giới hành chính của tỉnh nơi Tòa án
có thẩm quyền giải quyết có trụ sở;
c) Chi phí phiên dịch tiếng nước
ngoài.
3. Chính phủ quy định chi tiết
mức thu, trình tự, thủ tục thu, nộp và việc quản lý, sử dụng chi phí quy định tại
khoản 2 Điều này.
Chương II
HÒA GIẢI VIÊN
Điều 10. Điều
kiện bổ nhiệm Hòa giải viên
1. Công dân Việt Nam thường trú
tại Việt Nam, trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có phẩm chất đạo đức tốt,
gương mẫu trong việc chấp hành pháp luật và có đủ các điều kiện sau đây thì có
thể được bổ nhiệm làm Hòa giải viên:
a) Đã là Thẩm phán, Thẩm tra
viên Tòa án, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên Viện kiểm sát, Chấp
hành viên thi hành án dân sự, Thanh tra viên; luật sư, chuyên gia, nhà chuyên
môn khác có ít nhất 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực công tác; người có hiểu
biết về phong tục tập quán, có uy tín trong cộng đồng dân cư;
b) Có kinh nghiệm, kỹ năng hòa
giải, đối thoại;
c) Có sức khỏe bảo đảm hoàn
thành nhiệm vụ được giao;
d) Có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp
vụ hòa giải, đối thoại do cơ sở đào tạo của Tòa án nhân dân tối cao cấp, trừ
người đã là Thẩm phán, Thẩm tra viên Tòa án ngạch Thẩm tra viên chính, Thẩm tra
viên cao cấp, Thư ký Tòa án ngạch Thư ký viên chính, Thư ký viên cao cấp, Kiểm
sát viên, Chấp hành viên thi hành án dân sự, Thanh tra viên.
2. Người thuộc một trong các
trường hợp sau đây thì không được bổ nhiệm làm Hòa giải viên:
a) Không đáp ứng điều kiện quy
định tại khoản 1 Điều này;
b) Đang là cán bộ, công chức,
viên chức; sĩ quan, hạ sĩ quan Quân đội nhân dân, quân nhân chuyên nghiệp, công
nhân, viên chức quốc phòng; sĩ quan, hạ sĩ quan Công an nhân dân, công nhân
công an.
3. Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao quy định chi tiết Điều này.
Điều 11. Bổ
nhiệm Hòa giải viên
1. Người có đủ điều kiện quy định
tại khoản 1 Điều 10 của Luật này nộp hồ sơ đề nghị bổ nhiệm
Hòa giải viên tại Tòa án nơi họ có nguyện vọng làm Hòa giải viên.
2. Hồ sơ đề nghị bổ nhiệm Hòa
giải viên bao gồm:
a) Đơn đề nghị bổ nhiệm;
b) Sơ yếu lý lịch và Phiếu lý lịch
tư pháp;
c) Giấy chứng nhận sức khỏe do
cơ quan y tế có thẩm quyền cấp;
d) Giấy tờ chứng minh có đủ điều
kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 10 của Luật này;
đ) Chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ
hòa giải, đối thoại theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 10 của
Luật này.
3. Căn cứ nhu cầu bổ nhiệm Hòa
giải viên, Tòa án nơi nhận hồ sơ đề nghị bổ nhiệm Hòa giải viên lựa chọn người
có đủ điều kiện đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh xem xét, bổ nhiệm.
4. Trong thời hạn 20 ngày kể từ
ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị bổ nhiệm Hòa giải viên, Chánh án Tòa án nhân dân cấp
tỉnh xem xét, quyết định bổ nhiệm Hòa giải viên, trường hợp từ chối bổ nhiệm
thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.
5. Trong thời hạn 07 ngày kể từ
ngày ra quyết định bổ nhiệm, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh công bố danh
sách Hòa giải viên trên Trang thông tin điện tử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và
niêm yết tại trụ sở Tòa án nơi Hòa giải viên làm việc; đồng thời gửi Tòa án
nhân dân tối cao để công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối
cao.
6. Nhiệm kỳ của Hòa giải viên
là 03 năm kể từ ngày được bổ nhiệm.
7. Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao quy định chi tiết Điều này.
Điều 12. Bổ
nhiệm lại Hòa giải viên
1. Hòa giải viên khi hết nhiệm
kỳ được xem xét, bổ nhiệm lại, trừ các trường hợp sau đây:
a) Không bảo đảm sức khỏe thực
hiện nhiệm vụ;
b) Không hoàn thành nhiệm vụ;
c) Thuộc 10% tổng số Hòa giải
viên nơi họ làm việc mà trong 02 năm có mức độ hoàn thành nhiệm vụ thấp nhất, cần
được thay thế.
2. Hồ sơ đề nghị bổ nhiệm lại
Hòa giải viên bao gồm:
a) Đơn đề nghị bổ nhiệm lại;
b) Giấy chứng nhận sức khỏe do
cơ quan y tế có thẩm quyền cấp;
c) Báo cáo về quá trình thực hiện
nhiệm vụ hòa giải, đối thoại của Hòa giải viên;
d) Đánh giá, nhận xét của Tòa
án nơi Hòa giải viên làm việc về quá trình thực hiện nhiệm vụ hòa giải, đối thoại.
3. Trình tự, thủ tục bổ nhiệm lại,
công bố danh sách Hòa giải viên thực hiện theo quy định tại khoản
4 và khoản 5 Điều 11 của Luật này.
4. Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao quy định chi tiết Điều này.
Điều 13.
Miễn nhiệm Hòa giải viên
1. Việc miễn nhiệm Hòa giải
viên được thực hiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Theo nguyện vọng của Hòa giải
viên;
b) Hòa giải viên không còn đáp ứng
một trong các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 10 của Luật
này hoặc thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều
10 của Luật này.
2. Khi có căn cứ quy định tại khoản
1 Điều này, Tòa án nơi Hòa giải viên làm việc đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân
cấp tỉnh xem xét, quyết định miễn nhiệm Hòa giải viên. Trong thời hạn 03 ngày
làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh xem
xét, quyết định việc miễn nhiệm Hòa giải viên. Quyết định này được gửi cho người
bị miễn nhiệm và Tòa án nơi họ làm việc.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày ra quyết định miễn nhiệm, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh xóa
tên Hòa giải viên bị miễn nhiệm khỏi danh sách Hòa giải viên, công bố danh sách
Hòa giải viên bị miễn nhiệm trên Trang thông tin điện tử của Tòa án nhân dân cấp
tỉnh và niêm yết tại trụ sở Tòa án nơi Hòa giải viên đã làm việc; đồng thời gửi
đến Tòa án nhân dân tối cao để công bố trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án
nhân dân tối cao.
4. Tòa án nhân dân cấp tỉnh thu
hồi thẻ Hòa giải viên sau khi xóa tên Hòa giải viên.
Điều 14.
Quyền, nghĩa vụ của Hòa giải viên
1. Hòa giải viên có các quyền
sau đây:
a) Tiến hành hòa giải vụ việc
dân sự, đối thoại khiếu kiện hành chính theo quy định của Luật này;
b) Yêu cầu các bên cung cấp
thông tin, tài liệu, chứng cứ liên quan đến nội dung tranh chấp, khiếu kiện;
các thông tin, tài liệu liên quan khác cần thiết cho việc hòa giải, đối thoại;
c) Xem xét hiện trạng tài sản
liên quan đến tranh chấp, khiếu kiện trước khi lập biên bản ghi nhận kết quả
hòa giải, đối thoại theo yêu cầu của một trong các bên;
d) Mời người có uy tín tham gia
hòa giải, đối thoại; tham khảo ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân có chuyên
môn về lĩnh vực tranh chấp, khiếu kiện;
đ) Không phải chịu trách nhiệm trước
pháp luật về tính xác thực của thông tin, tài liệu, chứng cứ do các bên cung cấp;
e) Từ chối cung cấp thông tin,
tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính, trừ trường
hợp các bên đồng ý bằng văn bản hoặc theo quy định của pháp luật;
g) Từ chối việc lập biên bản
ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại nếu có đủ căn cứ xác định thỏa thuận, thống
nhất đó vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, trốn tránh nghĩa vụ với
Nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác;
h) Được bồi dưỡng chuyên môn,
nghiệp vụ, kỹ năng hòa giải, đối thoại;
i) Được cấp thẻ Hòa giải viên;
k) Được hưởng thù lao theo quy
định của Chính phủ;
l) Được khen thưởng theo quy định
của pháp luật.
2. Hòa giải viên có các nghĩa vụ
sau đây:
a) Tiến hành hòa giải, đối thoại
theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật này;
b) Tuân thủ pháp luật, độc lập,
vô tư, khách quan;
c) Bảo đảm bí mật thông tin
theo quy định của Luật này;
d) Không ép buộc các bên hòa giải,
đối thoại trái với ý chí của họ;
đ) Không được nhận tiền, lợi
ích từ các bên;
e) Từ chối tiến hành hòa giải,
đối thoại nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm
a, b và d khoản 1 Điều 18 của Luật này;
g) Tôn trọng sự thỏa thuận, thống
nhất của các bên, nếu nội dung thỏa thuận, thống nhất đó không vi phạm điều cấm
của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước
hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác;
h) Từ chối tham gia tố tụng với
tư cách là người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đối với vụ việc mà
mình đã tiến hành hòa giải, đối thoại nhưng không thành và được chuyển cho Tòa
án giải quyết theo trình tự tố tụng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Điều 15.
Khen thưởng, xử lý vi phạm đối với Hòa giải viên
1. Hòa giải viên có thành tích
trong thực hiện nhiệm vụ thì được khen thưởng theo quy định của pháp luật.
2. Hòa giải viên vi phạm quy định
của Luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xem xét xử lý
theo quy định của pháp luật hoặc bị xử lý bằng hình thức buộc thôi làm Hòa giải
viên.
3. Chánh án Tòa án nhân dân cấp
tỉnh đã bổ nhiệm Hòa giải viên có thẩm quyền xử lý Hòa giải viên vi phạm bằng
hình thức buộc thôi làm Hòa giải viên.
4. Hòa giải viên bị buộc thôi
làm Hòa giải viên thì bị xóa tên khỏi danh sách Hòa giải viên và thu hồi thẻ
Hòa giải viên. Thủ tục thông báo xử lý, xóa tên Hòa giải viên và thu hồi thẻ
Hòa giải viên được thực hiện theo quy định tại khoản 3 và khoản
4 Điều 13 của Luật này.
5. Người bị buộc thôi làm Hòa
giải viên có quyền khiếu nại đến Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã ra quyết
định buộc thôi làm Hòa giải viên trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được
quyết định. Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm giải quyết trong
thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại.
Trường hợp không đồng ý với quyết
định giải quyết khiếu nại, người khiếu nại có quyền khiếu nại tiếp đến Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định
giải quyết khiếu nại. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm giải quyết
trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Quyết định giải quyết
khiếu nại của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có hiệu lực thi hành.
6. Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao quy định chi tiết Điều này.
Chương
III
TRÌNH TỰ, THỦ TỤC HÒA GIẢI,
ĐỐI THOẠI VÀ CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI, ĐỐI THOẠI TẠI TÒA ÁN
Điều 16.
Trình tự nhận, xử lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu tại Tòa án và chỉ định Hòa giải
viên
1. Người khởi kiện, người yêu cầu
gửi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính
kèm theo tài liệu, chứng cứ đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại
Điều 190 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 119 của Luật Tố tụng hành chính.
2. Tòa án nhận đơn, vào sổ nhận
đơn, xác nhận việc nhận đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Tố tụng
dân sự, khoản 1 Điều 121 của Luật Tố tụng hành chính.
3. Trong thời hạn 02 ngày làm
việc kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, nếu không thuộc một trong
các trường hợp quy định tại các khoản 1, 2, 4, 6 và 7 Điều 19 của
Luật này thì Tòa án thông báo bằng văn bản cho người khởi kiện, người yêu cầu
biết về quyền được lựa chọn hòa giải, đối thoại và lựa chọn Hòa giải viên theo
quy định của Luật này.
4. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án, người khởi kiện, người yêu cầu
tại khoản 3 Điều này phải trả lời bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác cho Tòa
án biết về những nội dung đã được Tòa án thông báo. Trường hợp người khởi kiện,
người yêu cầu trực tiếp đến Tòa án trình bày ý kiến thì Tòa án lập biên bản ghi
nhận ý kiến; biên bản có chữ ký hoặc điểm chỉ của họ. Hết thời hạn này thì tùy
từng trường hợp, Tòa án xử lý như sau:
a) Phân công Thẩm phán phụ
trách hòa giải, đối thoại thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Luật này nếu người
khởi kiện, người yêu cầu có ý kiến đồng ý hòa giải, đối thoại;
b) Chuyển đơn để xử lý theo quy
định của pháp luật về tố tụng nếu người khởi kiện, người yêu cầu có ý kiến
không đồng ý hòa giải, đối thoại;
c) Thông báo lại lần thứ hai
cho người khởi kiện, người yêu cầu biết để thực hiện quyền lựa chọn hòa giải, đối
thoại và lựa chọn Hòa giải viên nếu người này chưa có ý kiến trả lời.
5. Nếu quá thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày nhận được thông báo lần thứ hai quy định tại điểm c khoản 4 Điều
này mà người khởi kiện, người yêu cầu vẫn không trả lời thì Tòa án phân công Thẩm
phán phụ trách hòa giải, đối thoại để thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Luật
này.
6. Trường hợp người khởi kiện,
người yêu cầu đồng ý hòa giải, đối thoại theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều này
hoặc trường hợp họ không trả lời Tòa án theo quy định tại khoản 5 Điều này thì
trong thời hạn 03 ngày làm việc, Thẩm phán phụ trách hòa giải, đối thoại chỉ định
Hòa giải viên theo quy định tại Điều 17 của Luật này.
7. Tòa án thông báo bằng văn bản
về việc chuyển vụ việc sang hòa giải, đối thoại và văn bản chỉ định Hòa giải
viên cho Hòa giải viên, người khởi kiện, người yêu cầu, người bị kiện, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Trường hợp Hòa giải viên được lựa
chọn thuộc danh sách Hòa giải viên của Tòa án nhân dân khu vực[8] khác thì văn bản chỉ định Hòa giải viên phải được gửi cho
Tòa án đó.
8. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án quy định tại khoản 7 Điều này,
người bị kiện phải trả lời bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác về việc đồng ý
hoặc không đồng ý tiến hành hòa giải, đối thoại. Hết thời hạn này thì tùy từng
trường hợp mà xử lý như sau:
a) Hòa giải viên tiến hành hòa
giải, đối thoại nếu người bị kiện đồng ý hòa giải, đối thoại hoặc không trả lời
Tòa án;
b) Thẩm phán phụ trách hòa giải,
đối thoại chỉ định Hòa giải viên khác nếu người bị kiện đề nghị thay đổi Hòa giải
viên;
c) Tòa án chuyển đơn để xử lý
theo quy định của pháp luật về tố tụng nếu người bị kiện không đồng ý hòa giải,
đối thoại.
9. Thời gian nhận, giải quyết
đơn khởi kiện, đơn yêu cầu theo quy định của Luật này không tính vào thời hiệu
khởi kiện, thời hạn xử lý đơn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố
tụng hành chính nếu vụ việc được giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng.
10. Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao quy định chi tiết Điều này.
Điều 17. Lựa
chọn, chỉ định Hòa giải viên
1. Mỗi vụ việc do 01 Hòa giải
viên tiến hành hòa giải, đối thoại.
2. Người khởi kiện, người yêu cầu
lựa chọn Hòa giải viên trong danh sách Hòa giải viên của Tòa án có thẩm quyền
giải quyết vụ việc và phải thông báo họ, tên, địa chỉ của Hòa giải viên cho Tòa
án đó.
3. Trường hợp người khởi kiện,
người yêu cầu lựa chọn Hòa giải viên trong danh sách Hòa giải viên của Tòa án
nhân dân khu vực[9] khác trên cùng
phạm vi địa giới hành chính với Tòa án nhân dân cấp tỉnh thì phải thông báo họ,
tên, địa chỉ của Hòa giải viên cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc, Tòa
án nơi Hòa giải viên làm việc và Hòa giải viên được lựa chọn.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc
kể từ ngày nhận được thông báo lựa chọn Hòa giải viên, Hòa giải viên được lựa
chọn phải có ý kiến bằng văn bản đồng ý hoặc không đồng ý gửi Thẩm phán phụ
trách hòa giải, đối thoại nơi giải quyết vụ việc, Tòa án nơi mình làm việc và
người khởi kiện, người yêu cầu.
Trong thời hạn 02 ngày làm việc
kể từ ngày nhận được văn bản thông báo ý kiến đồng ý của Hòa giải viên, Tòa án
nơi Hòa giải viên làm việc phải có ý kiến đồng ý hoặc không đồng ý với sự lựa
chọn của Hòa giải viên gửi Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc và Hòa giải
viên; Hòa giải viên có trách nhiệm thông báo cho người khởi kiện, người yêu cầu
biết.
Trường hợp nhận được ý kiến
không đồng ý của Hòa giải viên, của Tòa án nơi Hòa giải viên làm việc thì người
khởi kiện, người yêu cầu có thể lựa chọn Hòa giải viên khác.
4. Thẩm phán phụ trách hòa giải,
đối thoại của Tòa án nơi giải quyết vụ việc chỉ định Hòa giải viên theo sự lựa
chọn của người khởi kiện, người yêu cầu trong các trường hợp sau đây:
a) Theo quy định tại khoản 2 Điều
này;
b) Theo quy định tại khoản 3 Điều
này khi được sự đồng ý của Hòa giải viên được lựa chọn và Tòa án nơi Hòa giải
viên đó làm việc;
c) Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 18 của Luật này.
5. Thẩm phán phụ trách hòa giải,
đối thoại của Tòa án nơi giải quyết vụ việc tự mình chỉ định Hòa giải viên
trong các trường hợp sau đây:
a) Người khởi kiện, người yêu cầu
không lựa chọn Hòa giải viên theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này;
b) Không có sự đồng ý của Hòa
giải viên được lựa chọn, của Tòa án nơi Hòa giải viên đó làm việc theo quy định
tại khoản 3 Điều này mà các bên không lựa chọn Hòa giải viên khác;
c) Hòa giải viên từ chối tiến
hành hòa giải, đối thoại hoặc bị đề nghị thay đổi theo quy định tại khoản 1 Điều 18 của Luật này mà các bên không lựa chọn Hòa giải
viên khác;
d) Người bị kiện đề nghị thay đổi
Hòa giải viên theo quy định tại điểm b khoản 8 Điều 16 của Luật
này.
6. Việc chỉ định Hòa giải viên
theo quy định tại khoản 5 Điều này phải căn cứ vào tính chất của từng vụ việc;
trường hợp vụ việc có liên quan đến người dưới 18 tuổi thì Thẩm phán chỉ định
Hòa giải viên có kinh nghiệm, hiểu biết về tâm lý của người dưới 18 tuổi.
Điều 18. Từ
chối hòa giải, đối thoại, thay đổi Hòa giải viên
1. Hòa giải viên phải từ chối
khi được lựa chọn, chỉ định hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp
sau đây:
a) Là người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan đến vụ việc hòa giải, đối thoại;
b) Có căn cứ rõ ràng cho rằng
Hòa giải viên có thể không vô tư, khách quan trong khi thực hiện nhiệm vụ;
c) Các bên thay đổi Hòa giải
viên đã được chỉ định và thỏa thuận lựa chọn Hòa giải viên khác;
d) Không thể tiến hành hòa giải,
đối thoại vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan;
đ) Bị miễn nhiệm hoặc bị buộc
thôi làm Hòa giải viên theo quy định của Luật này.
2. Hòa giải viên từ chối hòa giải,
đối thoại quy định tại các điểm a, b và d khoản 1 Điều này phải thông báo lý do
cho các bên, Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc và Tòa án nơi Hòa giải
viên làm việc.
Các bên đề nghị thay đổi Hòa giải
viên phải thông báo lý do cho Hòa giải viên, Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ
việc và Tòa án nơi Hòa giải viên làm việc.
3. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc kể từ ngày Hòa giải viên từ chối hòa giải, đối thoại hoặc bị đề nghị thay
đổi mà các bên không thỏa thuận lựa chọn Hòa giải viên thì Thẩm phán phụ trách
hòa giải, đối thoại chỉ định Hòa giải viên khác để tiến hành hòa giải, đối thoại
và thông báo cho Hòa giải viên, các bên biết.
Trường hợp các bên lựa chọn Hòa
giải viên khác thì Thẩm phán phụ trách hòa giải, đối thoại chỉ định Hòa giải
viên theo sự lựa chọn của các bên và thông báo cho Hòa giải viên, các bên biết.
Trường hợp Thẩm phán chỉ định
Hòa giải viên của Tòa án nhân dân khu vực[10] khác thì phải thông báo cho Tòa án đó biết.
Điều 19.
Những trường hợp không tiến hành hòa giải, đối thoại tại Tòa án
1. Yêu cầu đòi bồi thường do
gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước.
2. Vụ việc phát sinh từ giao dịch
dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội.
3. Người khởi kiện, người yêu cầu,
người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được mời tham gia hòa
giải, đối thoại hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả
kháng hoặc trở ngại khách quan hoặc không thể tham gia hòa giải, đối thoại được
vì có lý do chính đáng.
4. Một bên vợ hoặc chồng trong
tranh chấp ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự.
5. Một trong các bên đề nghị
không tiến hành hòa giải, đối thoại.
6. Một trong các bên yêu cầu áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật
Tố tụng hành chính.
7. Trường hợp khác theo quy định
của pháp luật.
Điều 20.
Thời hạn hòa giải, đối thoại tại Tòa án
1. Thời hạn hòa giải, đối thoại
là 20 ngày kể từ ngày Hòa giải viên được chỉ định; đối với vụ việc phức tạp, thời
hạn này có thể được kéo dài nhưng không quá 30 ngày.
2. Các bên có thể thống nhất
kéo dài thời hạn hòa giải, đối thoại, nhưng không quá 02 tháng.
Điều 21.
Chuẩn bị hòa giải, đối thoại tại Tòa án
Công tác chuẩn bị hòa giải, đối
thoại của Hòa giải viên bao gồm:
1. Tiếp nhận đơn và tài liệu
kèm theo do Tòa án chuyển đến;
2. Vào sổ theo dõi vụ việc;
3. Nghiên cứu đơn và tài liệu
kèm theo do Tòa án chuyển đến;
4. Xác định tư cách của các
bên, người đại diện, người phiên dịch trong vụ việc dân sự, khiếu kiện hành
chính; thông báo cho họ biết về việc hòa giải, đối thoại;
5. Yêu cầu các bên bổ sung
thông tin, tài liệu, chứng cứ; đề xuất phương án, giải pháp để giải quyết vụ việc
dân sự, khiếu kiện hành chính;
6. Xây dựng phương án, giải
pháp hòa giải, đối thoại;
7. Mời người có uy tín có khả
năng tác động đến mỗi bên tham gia hòa giải, đối thoại để hỗ trợ cho việc hòa
giải, đối thoại khi cần thiết;
8. Nghiên cứu quy định của pháp
luật có liên quan, tìm hiểu phong tục, tập quán và hoàn cảnh của các bên để phục
vụ cho việc hòa giải, đối thoại khi cần thiết;
9. Tham khảo ý kiến của cơ
quan, tổ chức, cá nhân có chuyên môn về lĩnh vực liên quan đến vụ việc dân sự,
khiếu kiện hành chính để phục vụ cho việc hòa giải, đối thoại khi cần thiết;
10. Các nội dung khác cần thiết
cho việc hòa giải, đối thoại.
Điều 22.
Phương thức hòa giải, đối thoại tại Tòa án
1. Hòa giải, đối thoại có thể
được tiến hành trong một hoặc nhiều phiên.
2. Việc hòa giải, đối thoại được
tiến hành tại trụ sở Tòa án hoặc có thể ngoài trụ sở Tòa án theo lựa chọn của
các bên.
3. Phiên hòa giải, đối thoại có
thể được thực hiện bằng hình thức trực tiếp hoặc hình thức phù hợp khác theo đề
nghị của các bên.
4. Hòa giải viên có thể tiến
hành hòa giải, đối thoại có mặt các bên hoặc gặp riêng từng bên; yêu cầu mỗi
bên trình bày ý kiến của mình về các vấn đề của vụ việc dân sự, khiếu kiện hành
chính; đề xuất phương án, giải pháp hòa giải, đối thoại.
Trường hợp một trong các bên có
người đại diện, người phiên dịch thì Hòa giải viên phải mời họ cùng tham gia
hòa giải, đối thoại.
Điều 23.
Nhiệm vụ của Hòa giải viên trong quá trình tiến hành hòa giải, đối thoại tại
Tòa án
1. Phổ biến, giải thích quyền,
nghĩa vụ của các bên.
2. Tạo điều kiện để các bên đề
xuất, trao đổi về phương án, giải pháp giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện
hành chính.
3. Phân tích tính hiệu quả, khả
thi của từng phương án, giải pháp giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành
chính; hỗ trợ các bên đạt được sự thỏa thuận, thống nhất.
Điều 24.
Tiến hành phiên hòa giải, đối thoại tại Tòa án
1. Khi các bên đồng ý gặp nhau
để thống nhất phương án giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính, Hòa
giải viên ấn định thời gian, địa điểm tiến hành phiên hòa giải, đối thoại và thông
báo cho các bên, người đại diện, người phiên dịch chậm nhất là 05 ngày trước
ngày mở phiên hòa giải, đối thoại.
2. Việc thông báo có thể được
thực hiện bằng văn bản hoặc hình thức khác thuận tiện cho các bên.
Điều 25.
Thành phần phiên hòa giải, đối thoại tại Tòa án
1. Thành phần phiên hòa giải, đối
thoại gồm có:
a) Hòa giải viên;
b) Các bên, người đại diện, người
phiên dịch;
c) Người được mời tham gia hòa
giải, đối thoại trong trường hợp cần thiết.
2. Các bên có thể trực tiếp hoặc
ủy quyền cho người đại diện tham gia hòa giải, đối thoại; đồng thời phải thông
báo bằng văn bản về họ, tên, địa chỉ của người đại diện cho bên kia và Hòa giải
viên biết. Đối với hòa giải việc ly hôn, các bên trong quan hệ vợ, chồng phải
trực tiếp tham gia hòa giải.
Quyền và nghĩa vụ của người đại
diện của các bên được xác định theo quy định của Bộ luật Dân sự.
3. Người bị kiện trong khiếu kiện
hành chính có thể ủy quyền cho người đại diện tham gia đối thoại. Người đại diện
theo ủy quyền phải có đầy đủ thẩm quyền để giải quyết khiếu kiện.
Điều 26.
Trình tự phiên hòa giải, đối thoại tại Tòa án
1. Hòa giải viên giới thiệu
thành phần tham gia phiên hòa giải, đối thoại; trình bày nội dung cần hòa giải,
đối thoại; diễn biến quá trình chuẩn bị hòa giải, đối thoại; phổ biến quy định
của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành
chính, phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành, đối thoại thành.
2. Người khởi kiện, người yêu cầu
hoặc người đại diện của họ trình bày nội dung yêu cầu, khởi kiện; đề xuất quan điểm
về những vấn đề cần hòa giải, đối thoại và hướng giải quyết tranh chấp, khiếu
kiện.
3. Người bị kiện hoặc người đại
diện của họ trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện, người
yêu cầu; đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, đối thoại; hướng giải
quyết tranh chấp, khiếu kiện.
4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan hoặc người đại diện của họ trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu
của người khởi kiện, người yêu cầu, người bị kiện; đề xuất quan điểm về những vấn
đề cần hòa giải, đối thoại; hướng giải quyết tranh chấp, khiếu kiện.
5. Người được mời tham gia hòa
giải, đối thoại phát biểu ý kiến.
6. Hòa giải viên thực hiện nhiệm
vụ quy định tại Điều 23 của Luật này để hỗ trợ các bên trao
đổi ý kiến, trình bày bổ sung về những nội dung chưa rõ và đi đến thỏa thuận,
thống nhất việc giải quyết tranh chấp, khiếu kiện.
7. Hòa giải viên tóm tắt những
vấn đề các bên đã thỏa thuận, thống nhất hoặc chưa thỏa thuận, thống nhất.
Điều 27.
Tiến hành phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại tại Tòa án
1. Khi các bên đạt được sự thỏa
thuận, thống nhất với nhau về việc giải quyết toàn bộ hoặc một phần vụ việc dân
sự, khiếu kiện hành chính, Hòa giải viên ấn định thời gian, địa điểm mở phiên họp
ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại.
Phiên họp ghi nhận kết quả hòa
giải, đối thoại có thể được tổ chức ngay sau phiên hòa giải, đối thoại hoặc vào
thời gian phù hợp khác.
Hòa giải viên phải thông báo
cho những người quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật này.
2. Hòa giải viên tiến hành
phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại tại trụ sở Tòa án có thẩm quyền
giải quyết vụ việc.
Điều 28.
Thành phần phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại tại Tòa án
1. Thành phần phiên họp ghi nhận
kết quả hòa giải, đối thoại gồm có:
a) Hòa giải viên;
b) Các bên, người đại diện, người
phiên dịch;
c) Thẩm phán phụ trách hòa giải,
đối thoại hoặc Thẩm phán khác do Chánh án Tòa án phân công (sau đây gọi chung
là Thẩm phán tham gia phiên họp).
2. Việc ủy quyền cho người đại
diện tham gia phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại được thực hiện
theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 25 của Luật này.
Điều 29.
Hoãn phiên họp, mở lại phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại tại Tòa
án
1. Hòa giải viên hoãn phiên họp
ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại khi thuộc một trong các trường hợp sau
đây:
a) Một trong các bên đã được
thông báo mà vắng mặt. Trường hợp vắng mặt lần thứ hai mà không vì sự kiện bất
khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì chấm dứt hòa giải, đối thoại; Hòa giải
viên chuyển đơn và tài liệu kèm theo cho Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 41 của Luật này;
b) Hòa giải viên, Thẩm phán
tham gia phiên họp vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan;
c) Theo yêu cầu của các bên.
2. Khi hoãn phiên họp, Hòa giải
viên phải thông báo bằng văn bản cho những người quy định tại khoản
1 Điều 28 của Luật này. Thời gian hoãn phiên họp là không quá 07 ngày kể từ
ngày ra thông báo hoãn phiên họp.
3. Hết thời gian quy định tại khoản
2 Điều này, Hòa giải viên phải mở lại phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải, đối
thoại.
Điều 30.
Trình tự phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại tại Tòa án
1. Hòa giải viên trình bày tóm
tắt diễn biến quá trình hòa giải, đối thoại và nội dung các bên đã thỏa thuận,
thống nhất.
2. Các bên, người đại diện phát
biểu ý kiến về nội dung đã thỏa thuận, thống nhất.
3. Trường hợp nội dung thỏa thuận,
thống nhất của các bên chưa rõ thì Thẩm phán yêu cầu các bên trình bày bổ sung.
4. Hòa giải viên lập biên bản
ghi nhận kết quả hòa giải, biên bản ghi nhận kết quả đối thoại theo quy định tại
Điều 31 của Luật này và đọc lại biên bản cho các bên nghe.
5. Các bên, người đại diện, người
phiên dịch ký hoặc điểm chỉ, Hòa giải viên ký vào biên bản ghi nhận kết quả hòa
giải, biên bản ghi nhận kết quả đối thoại.
6. Thẩm phán tham gia phiên họp
ký xác nhận biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, biên bản ghi nhận kết quả đối
thoại và phải giữ bí mật thông tin về nội dung hòa giải, đối thoại do các bên
cung cấp tại phiên họp theo yêu cầu của họ.
Điều 31.
Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại tại Tòa án
1. Biên bản ghi nhận kết quả
hòa giải, biên bản ghi nhận kết quả đối thoại phải có các nội dung sau đây:
a) Ngày, tháng, năm, địa điểm
tiến hành phiên họp ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại;
b) Thành phần tham gia phiên họp
ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại;
c) Diễn biến quá trình hòa giải,
đối thoại; kết quả hòa giải thành, đối thoại thành.
Trường hợp có những nội dung mà
các bên không thỏa thuận, thống nhất thì cũng được ghi trong biên bản;
d) Trường hợp các bên thuận
tình ly hôn thì thỏa thuận của các bên phải có đầy đủ nội dung về việc ly hôn,
việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chưa
thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả
năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trên cơ sở bảo đảm quyền lợi
chính đáng của vợ, chồng, con theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình;
đ) Trường hợp nội dung thỏa thuận
hòa giải, thống nhất đối thoại của các bên liên quan đến quyền, nghĩa vụ của
người khác nhưng người đó không có mặt tại phiên hòa giải, đối thoại thì phải
ghi rõ trong biên bản;
e) Ý kiến của các bên về việc
yêu cầu hoặc không yêu cầu Tòa án ra quyết định công nhận kết quả hòa giải
thành, đối thoại thành;
g) Chữ ký hoặc điểm chỉ của các
bên, người đại diện, người phiên dịch;
h) Chữ ký của Hòa giải viên;
i) Chữ ký xác nhận của Thẩm
phán tham gia phiên họp.
2. Biên bản ghi nhận kết quả
hòa giải, biên bản ghi nhận kết quả đối thoại được lưu vào hồ sơ hòa giải, đối
thoại và giao cho các bên có mặt.
Trường hợp những người quy định
tại điểm đ khoản 1 Điều này vắng mặt thì Hòa giải viên phải gửi biên bản cho họ
để họ có ý kiến.
3. Hòa giải viên từ chối lập
biên bản ghi nhận kết quả hòa giải, biên bản ghi nhận kết quả đối thoại nếu thuộc
trường hợp quy định tại điểm g khoản 1 Điều 14 của Luật này.
Điều 32.
Thủ tục ra quyết định công nhận hoặc không công nhận kết quả hòa giải thành, đối
thoại thành tại Tòa án
1. Sau khi lập biên bản ghi nhận
kết quả hòa giải, biên bản ghi nhận kết quả đối thoại, Hòa giải viên chuyển
biên bản cùng tài liệu kèm theo cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân
sự, khiếu kiện hành chính để ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối
thoại thành trong trường hợp các bên có yêu cầu.
2. Thời hạn chuẩn bị ra quyết định
công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành là 15 ngày kể từ ngày Tòa án
nhận được biên bản và tài liệu kèm theo. Trong thời hạn này, Thẩm phán được
Chánh án Tòa án phân công xem xét ra quyết định có các quyền sau đây:
a) Yêu cầu một hoặc các bên
trình bày ý kiến về kết quả hòa giải thành, đối thoại thành đã được ghi tại
biên bản;
b) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền cung cấp cho Tòa án tài liệu làm cơ sở cho việc ra quyết định,
nếu xét thấy cần thiết. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được Tòa án yêu cầu có trách
nhiệm trả lời Tòa án trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu
của Tòa án.
3. Hết thời hạn quy định tại khoản
2 Điều này, Thẩm phán phải ra một trong các quyết định sau đây:
a) Trường hợp có đủ điều kiện
quy định tại Điều 33 của Luật này thì Thẩm phán ra quyết định
công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành;
b) Trường hợp không có đủ điều
kiện quy định tại Điều 33 của Luật này thì Thẩm phán ra quyết
định không công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành và nêu rõ lý do.
Thẩm phán chuyển quyết định, biên bản và tài liệu kèm theo cho Tòa án có thẩm
quyền giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật về tố tụng.
4. Quyết định công nhận hoặc
không công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành được gửi cho các bên và
Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án ra quyết
định.
Điều 33. Điều
kiện công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành tại Tòa án
Kết quả hòa giải thành, đối thoại
thành được công nhận khi có đủ các điều kiện sau đây:
1. Các bên có năng lực hành vi
dân sự đầy đủ;
2. Các bên là người có quyền,
nghĩa vụ đối với nội dung thỏa thuận, thống nhất;
3. Nội dung thỏa thuận, thống
nhất của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không
trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc cơ quan,
tổ chức, cá nhân khác;
4. Trường hợp các bên thuận
tình ly hôn thì thỏa thuận của các bên phải có đầy đủ nội dung về việc ly hôn,
việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chưa
thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả
năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trên cơ sở bảo đảm quyền lợi
chính đáng của vợ, chồng, con theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình;
5. Trường hợp nội dung thỏa thuận
hòa giải, thống nhất đối thoại của các bên liên quan đến quyền, nghĩa vụ của
người khác nhưng người đó không có mặt tại phiên hòa giải, đối thoại thì thỏa
thuận, thống nhất chỉ được công nhận khi có ý kiến đồng ý bằng văn bản của họ;
6. Trường hợp các bên thỏa thuận,
thống nhất được một phần tranh chấp dân sự, một phần khiếu kiện hành chính thì
chỉ được công nhận khi nội dung thỏa thuận, thống nhất không liên quan đến các phần
khác của tranh chấp, khiếu kiện đó.
Điều 34.
Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành tại Tòa án
Quyết định công nhận kết quả
hòa giải thành, đối thoại thành phải có các nội dung sau đây:
1. Ngày, tháng, năm ra quyết định;
2. Tên Tòa án ra quyết định;
3. Họ, tên của Thẩm phán ra quyết
định;
4. Họ, tên, địa chỉ của các
bên, người đại diện, người phiên dịch;
5. Nội dung hòa giải thành, đối
thoại thành;
6. Căn cứ ra quyết định công nhận
kết quả hòa giải thành, đối thoại thành.
Điều 35.
Hiệu lực của quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành tại
Tòa án
1. Quyết định công nhận kết quả
hòa giải thành, đối thoại thành có hiệu lực pháp luật và không bị kháng cáo,
kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật
Tố tụng hành chính.
2. Quyết định công nhận kết quả
hòa giải thành được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
3. Quyết định công nhận kết quả
đối thoại thành được thi hành theo quy định của pháp luật về tố tụng hành
chính.
Điều 36. Đề
nghị, kiến nghị xem xét lại quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối
thoại thành tại Tòa án
1. Quyết định công nhận kết quả
hòa giải thành, đối thoại thành có thể bị xem xét lại theo đề nghị của các bên,
người đại diện hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến quyết định của
Tòa án, kiến nghị của Viện kiểm sát nếu có căn cứ cho rằng nội dung thỏa thuận,
thống nhất của các bên vi phạm một trong các điều kiện quy định tại Điều 33 của Luật này.
2. Các bên, người đại diện hoặc
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến quyết định của Tòa án có quyền đề
nghị xem xét lại quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định. Trường hợp
vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác mà họ không thực hiện được
quyền đề nghị theo đúng thời hạn thì thời gian đó không tính vào thời hạn đề
nghị.
3. Viện kiểm sát cùng cấp có
quyền kiến nghị xem xét lại quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối
thoại thành trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.
Điều 37.
Thủ tục đề nghị, kiến nghị xem xét lại quyết định công nhận kết quả hòa giải
thành, đối thoại thành tại Tòa án
Người đề nghị, Viện kiểm sát kiến
nghị xem xét lại quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành
phải gửi đơn đề nghị, văn bản kiến nghị đến Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa
án đã ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành.
Điều 38.
Thủ tục giải quyết đề nghị, kiến nghị xem xét lại quyết định công nhận kết quả
hòa giải thành, đối thoại thành tại Tòa án
1. Trong thời hạn 02 ngày làm
việc kể từ ngày nhận được đơn đề nghị hoặc văn bản kiến nghị xem xét lại quyết
định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành, Tòa án cấp trên trực tiếp
yêu cầu Tòa án đã ra quyết định chuyển hồ sơ, tài liệu. Trong thời hạn 02 ngày
làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu, Tòa án đã ra quyết định phải chuyển hồ
sơ, tài liệu cho Tòa án cấp trên trực tiếp. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể
từ ngày nhận được hồ sơ, tài liệu, Tòa án cấp trên trực tiếp phải thụ lý và
phân công Thẩm phán xem xét, giải quyết; đồng thời thông báo cho người đề nghị,
Viện kiểm sát kiến nghị và Viện kiểm sát cùng cấp.
2. Trong thời hạn 30 ngày kể từ
ngày được phân công, Thẩm phán thực hiện việc xác minh, thu thập chứng cứ,
nghiên cứu hồ sơ, tài liệu.
Trường hợp có đủ căn cứ kết luận
quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành vi phạm một trong
các điều kiện quy định tại Điều 33 của Luật này thì Thẩm
phán ra quyết định hủy quyết định đó và làm thủ tục chuyển vụ việc cho Tòa án
có thẩm quyền giải quyết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng
hành chính.
Trường hợp không có căn cứ kết
luận quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành vi phạm một
trong các điều kiện quy định tại Điều 33 của Luật này thì
Thẩm phán ra quyết định không chấp nhận đề nghị, kiến nghị và giữ nguyên quyết
định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành.
Trường hợp người đề nghị rút đề
nghị, Viện kiểm sát rút kiến nghị thì Thẩm phán ra quyết định đình chỉ việc xem
xét đề nghị, kiến nghị.
3. Quyết định quy định tại khoản
2 Điều này phải được gửi cho Viện kiểm sát đã kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp,
người đề nghị, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc đề nghị, kiến
nghị trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định.
Điều 39.
Quyết định giải quyết đề nghị, kiến nghị xem xét lại quyết định công nhận kết
quả hòa giải thành, đối thoại thành tại Tòa án
1. Quyết định giải quyết đề nghị,
kiến nghị xem xét lại quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại
thành phải có các nội dung sau đây:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;
b) Tên Tòa án ra quyết định;
c) Họ, tên của Thẩm phán ra quyết
định;
d) Họ, tên, địa chỉ của người đề
nghị; tên của Viện kiểm sát kiến nghị;
đ) Họ, tên, địa chỉ của người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
e) Những vấn đề cụ thể yêu cầu
Tòa án giải quyết;
g) Căn cứ pháp luật để giải quyết
đề nghị, kiến nghị;
h) Nhận định của Tòa án và những
căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị, kiến nghị;
i) Quyết định của Tòa án.
2. Quyết định của Tòa án có hiệu
lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
Điều 40.
Chấm dứt hòa giải, đối thoại tại Tòa án
Việc hòa giải, đối thoại chấm dứt
khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
1. Hòa giải thành, đối thoại
thành;
2. Các bên không đạt được thỏa
thuận, thống nhất về toàn bộ nội dung vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính hoặc
chỉ thỏa thuận, thống nhất được một phần vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính
nhưng phần đó có liên quan đến những phần khác của vụ việc dân sự, khiếu kiện
hành chính;
3. Một bên hoặc các bên không đồng
ý tiếp tục hòa giải, đối thoại hoặc vắng mặt sau 02 lần được thông báo hợp lệ về
việc hòa giải, đối thoại;
4. Trong quá trình hòa giải, đối
thoại phát hiện vụ việc thuộc trường hợp quy định tại Điều 19 của
Luật này;
5. Một trong các bên yêu cầu áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật
Tố tụng hành chính trong quá trình hòa giải, đối thoại;
6. Người nộp đơn khởi kiện, đơn
yêu cầu rút đơn khởi kiện, đơn yêu cầu.
Điều 41. Xử
lý việc chấm dứt hòa giải, đối thoại tại Tòa án
1. Hòa giải viên chuyển đơn và
tài liệu kèm theo cho Tòa án đã nhận đơn để tiến hành xem xét, thụ lý vụ việc
theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính trong trường
hợp quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 40 của Luật này,
trừ tài liệu phải bảo mật quy định tại khoản 3 Điều 4 của Luật
này.
2. Trường hợp người nộp đơn khởi
kiện, đơn yêu cầu rút đơn khởi kiện, đơn yêu cầu theo quy định tại khoản 6 Điều 40 của Luật này thì Hòa giải viên chuyển đơn và
tài liệu kèm theo cho Tòa án đã nhận đơn để tiến hành xem xét, giải quyết theo
quy định chung và thông báo cho các bên biết.
Thẩm phán đã tham gia phiên họp
ghi nhận kết quả hòa giải, đối thoại không được tham gia giải quyết vụ việc đó
theo trình tự tố tụng dân sự, tố tụng hành chính.
3. Hòa giải viên lập biên bản
chấm dứt việc hòa giải, đối thoại đối với trường hợp quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 40 của Luật này. Trong thời hạn 03
ngày làm việc kể từ ngày lập biên bản, Hòa giải viên phải gửi biên bản kèm theo
đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và tài liệu kèm theo cho Tòa án đã nhận đơn và thông
báo cho các bên biết.
Chương IV
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH[11]
Điều 42.
Hiệu lực thi hành
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01
năm 2021.
|
Nơi nhận:
- Văn phòng Chính phủ (để đăng Công
báo);
- Cục KTVB và Quản lý xử lý VPHC, Bộ TP (để đăng trên CSDL Quốc gia về VBPL);
- Vụ Thông tin, VPQH (để đăng trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội);
- Vụ Chuyển đổi số, VPQH (để đăng trên trang thông tin nội bộ Intranet);
- Lưu: HC, TR.
|
XÁC THỰC VĂN BẢN
HỢP NHẤT
CHỦ NHIỆM
Lê Quang Tùng
|
[1] Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành
niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án có căn cứ ban hành
như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị
quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một
số điều theo Bộ luật số 45/2019/QH14, Luật số 59/2020/QH14, Luật số
13/2022/QH15, Luật số 19/2023/QH15, Luật số 34/2024/QH15 và Luật số
46/2024/QH15; Luật Tố tụng hành chính số 93/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung
một số điều theo Luật số 55/2019/QH14 và Luật số 34/2024/QH15; Luật Tư pháp người
chưa thành niên số 59/2024/QH15; Luật Phá sản số 51/2014/QH13 và Luật Hòa giải,
đối thoại tại Tòa án số 58/2020/QH14.”.
[2] Điểm
này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 3 Điều 5 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật
Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa
án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[3] Điểm
này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 3 Điều 5 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật
Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa
án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[4] Điểm
này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 3 Điều 5 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật
Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa
án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[5] Cụm
từ “Tòa án nhân dân cấp huyện” được thay thế bằng cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực”
theo quy định tại khoản 2 Điều 5 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người
chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[6] Cụm
từ “Tòa án nhân dân cấp huyện” được thay thế bằng cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực”
theo quy định tại khoản 2 Điều 5 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người
chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[7] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều 5 của Luật số
85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng
hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải,
đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[8] Cụm
từ “Tòa án nhân dân cấp huyện” được thay thế bằng cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực”
theo quy định tại khoản 2 Điều 5 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người
chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[9] Cụm
từ “Tòa án nhân dân cấp huyện” được thay thế bằng cụm từ “Tòa án nhân dân khu vực”
theo quy định tại khoản 2 Điều 5 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một
số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người
chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[10]
Cụm từ “Tòa án nhân dân cấp huyện” được thay thế bằng cụm từ “Tòa án nhân dân
khu vực” theo quy định tại khoản 2 Điều 5 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp
người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[11] Điều
6 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân
sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản
và Luật Hòa giải, đối thoại tại tòa án, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025 quy định như sau:
"Điều 6. Hiệu lực thi hành
Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7
năm 2025, trừ trường hợp Luật Tư pháp người chưa thành niên có quy định
khác.".
Việc thi hành Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung
một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp
người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án được
thực hiện theo Nghị quyết số 225/2025/QH15 ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội
về việc thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân
dân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân,
các luật tố tụng và luật khác có liên quan, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.