|
VĂN PHÒNG QUỐC
HỘI
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 115/VBHN-VPQH
|
Hà Nội, ngày 27
tháng 8 năm 2025
|
LUẬT
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Luật Thi hành án dân sự số
26/2008/QH12 ngày 14 tháng 11 năm 2008 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2009, được sửa đổi, bổ sung bởi:
1. Luật số 64/2014/QH13 ngày 25
tháng 11 năm 2014 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành
án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015;
2. Luật Cạnh tranh số
23/2018/QH14 ngày 12 tháng 6 năm 2018 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2019;
3. Luật số 67/2020/QH14 ngày 13
tháng 11 năm 2020 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi
phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2022;
4. Luật số 03/2022/QH15 ngày 11
tháng 01 năm 2022 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư
công, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, Luật Đầu tư, Luật Nhà ở, Luật
Đấu thầu, Luật Điện lực, Luật Doanh nghiệp, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật
Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2022;
5. Luật Đất đai số 31/2024/QH15
ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 8 năm
2024[1];
6. Luật số 43/2024/QH15 ngày 29
tháng 6 năm 2024 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai số
31/2024/QH15, Luật Nhà ở số 27/2023/QH15, Luật Kinh doanh bất động sản số
29/2023/QH15 và Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 8 năm 2024;
7. Luật Tư pháp người chưa
thành niên số 59/2024/QH15 ngày 30 tháng 11 năm 2024 của Quốc hội, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
8. Luật số 81/2025/QH15 ngày 24
tháng 6 năm 2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa
án nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025;
9. Luật Thanh tra số
84/2025/QH15 ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2025.
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Quốc hội ban hành Luật Thi
hành án dân sự[2].
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm
vi điều chỉnh[3]
Luật này quy định nguyên tắc,
trình tự, thủ tục thi hành bản án, quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu
tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án
phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Tòa án, biện pháp
xử lý chuyển hướng bồi thường thiệt hại trong quyết định áp dụng biện pháp xử
lý chuyển hướng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án[4], phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Tòa
án, quyết định của Tòa án giải quyết phá sản, quyết định xử lý vụ việc cạnh
tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế
cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh
của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định
xử lý vụ việc cạnh tranh[5] có liên
quan đến tài sản của bên phải thi hành và phán quyết, quyết định của Trọng tài
thương mại (sau đây gọi chung là bản án, quyết định); hệ thống tổ chức thi hành
án dân sự và Chấp hành viên; quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, người
phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; nhiệm vụ, quyền hạn của
cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động thi hành án dân sự.
Điều 2. Bản
án, quyết định được thi hành
Những bản án, quyết định được
thi hành theo Luật này bao gồm:
1. Bản án, quyết định quy định
tại Điều 1 của Luật này đã có hiệu lực pháp luật:
a) Bản án, quyết định hoặc phần
bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo
thủ tục phúc thẩm;
b) Bản án, quyết định của Tòa
án cấp phúc thẩm;
c) Quyết định giám đốc thẩm hoặc
tái thẩm của Tòa án;
d) Bản án, quyết định dân sự của
Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam
công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;
đ)[6] Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban
Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, quyết định giải
quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh
tranh Quốc gia, Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh
tranh mà sau 15 ngày kể từ ngày có hiệu lực pháp luật đương sự không tự nguyện
thi hành, không khởi kiện tại Tòa án;
e)[7] Phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại;
g)[8] Quyết định của Tòa án giải quyết phá sản.
2. Những bản án, quyết định sau
đây của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo,
kháng nghị:
a) Bản án, quyết định về cấp dưỡng,
trả lương, trả công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp
mất sức lao động hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tổn thất về
tinh thần, nhận người lao động trở lại làm việc;
b) Quyết định áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời.
3.[9] Quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng bồi thường
thiệt hại của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Điều 3. Giải
thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới
đây được hiểu như sau:
1. Đương sự bao gồm người
được thi hành án, người phải thi hành án.
2. Người được thi hành án là
cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích trong bản án, quyết định được
thi hành.
3. Người phải thi hành án là
cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định được
thi hành.
4. Người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
trực tiếp đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của đương sự.
5. Thời hiệu yêu cầu thi
hành án là thời hạn mà người được thi hành án, người phải thi hành án có
quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án; hết thời hạn đó
thì mất quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án theo quy định
của Luật này.
6. Có điều kiện thi hành án là
trường hợp người phải thi hành án có tài sản, thu nhập để thi hành nghĩa vụ về
tài sản; tự mình hoặc thông qua người khác thực hiện nghĩa vụ thi hành án.
7. Phí thi hành án là khoản
tiền mà người được thi hành án phải nộp khi nhận được tiền, tài sản theo bản
án, quyết định.
8. Chi phí cưỡng chế thi
hành án là các khoản chi phí do người phải thi hành án chịu để tổ chức cưỡng
chế thi hành án, trừ trường hợp pháp luật quy định chi phí cưỡng chế thi hành
án do người được thi hành án hoặc do ngân sách nhà nước chi trả.
9.[10] Mỗi quyết định thi hành án là một việc thi hành
án.
Điều 4. Bảo
đảm hiệu lực của bản án, quyết định
Bản án, quyết định quy định tại
Điều 2 của Luật này phải được cơ quan, tổ chức và mọi công
dân tôn trọng.
Cá nhân, cơ quan, tổ chức có
liên quan trong phạm vi trách nhiệm của mình chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết
định và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án.
Điều 5. Bảo
đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan
Trong quá trình thi hành án,
quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được
tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
Điều 6. Thỏa
thuận thi hành án
1. Đương sự có quyền thỏa thuận
về việc thi hành án, nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và
không trái đạo đức xã hội. Kết quả thi hành án theo thỏa thuận được công nhận.
Theo yêu cầu của đương sự, Chấp
hành viên có trách nhiệm chứng kiến việc thỏa thuận về thi hành án.
2. Trường hợp đương sự không thực
hiện đúng thỏa thuận thì có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành phần
nghĩa vụ chưa được thi hành theo nội dung bản án, quyết định.
Điều 7. Quyền,
nghĩa vụ của người được thi hành án[11]
1. Người được thi hành án có
các quyền sau đây:
a) Yêu cầu thi hành án, đình chỉ
thi hành một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định, áp dụng biện pháp bảo đảm,
áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án được quy định trong Luật này;
b) Được thông báo về thi hành
án;
c) Thỏa thuận với người phải
thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm,
phương thức, nội dung thi hành án;
d) Yêu cầu Tòa án xác định,
phân chia quyền sở hữu, sử dụng tài sản; yêu cầu Tòa án giải thích những điểm
chưa rõ, đính chính lỗi chính tả hoặc số liệu sai sót; khởi kiện dân sự để bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp có tranh chấp về tài sản
liên quan đến thi hành án;
đ) Tự mình hoặc ủy quyền cho
người khác xác minh, cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải
thi hành án;
e) Không phải chịu chi phí xác
minh điều kiện thi hành án do Chấp hành viên thực hiện;
g) Yêu cầu thay đổi Chấp hành
viên trong trường hợp có căn cứ cho rằng Chấp hành viên không vô tư khi làm nhiệm
vụ;
h) Ủy quyền cho người khác thực
hiện quyền, nghĩa vụ của mình;
i) Chuyển giao quyền được thi
hành án cho người khác;
k) Được miễn, giảm phí thi hành
án trong trường hợp cung cấp thông tin chính xác về điều kiện thi hành án của
người phải thi hành án và trường hợp khác theo quy định của Chính phủ;
l) Khiếu nại, tố cáo về thi
hành án.
2. Người được thi hành án có
các nghĩa vụ sau đây:
a) Chấp hành nghiêm chỉnh bản
án, quyết định;
b) Thực hiện các quyết định,
yêu cầu của Chấp hành viên trong thi hành án; thông báo cho cơ quan thi hành án
dân sự khi có thay đổi về địa chỉ, nơi cư trú;
c) Chịu phí, chi phí thi hành
án theo quy định của Luật này.
Điều 7a.
Quyền, nghĩa vụ của người phải thi hành án[12]
1. Người phải thi hành án có
các quyền sau đây:
a) Tự nguyện thi hành án; thỏa
thuận với người được thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời
gian, địa điểm, phương thức, nội dung thi hành án; tự nguyện giao tài sản để
thi hành án;
b) Tự mình hoặc ủy quyền cho
người khác yêu cầu thi hành án theo quy định của Luật này;
c) Được thông báo về thi hành
án;
d) Yêu cầu Tòa án xác định,
phân chia quyền sở hữu, sử dụng tài sản; yêu cầu Tòa án giải thích những điểm
chưa rõ, đính chính lỗi chính tả hoặc số liệu sai sót; khởi kiện dân sự để bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp có tranh chấp về tài sản
liên quan đến thi hành án;
đ) Chuyển giao nghĩa vụ thi
hành án cho người khác theo quy định của Luật này;
e) Yêu cầu thay đổi Chấp hành
viên trong trường hợp có căn cứ cho rằng Chấp hành viên không vô tư khi làm nhiệm
vụ;
g) Được xét miễn, giảm nghĩa vụ
thi hành án; được xét miễn, giảm một phần hoặc toàn bộ chi phí cưỡng chế thi
hành án theo quy định của Luật này;
h) Khiếu nại, tố cáo về thi
hành án.
2. Người phải thi hành án có
các nghĩa vụ sau đây:
a) Thi hành đầy đủ, kịp thời bản
án, quyết định;
b) Kê khai trung thực tài sản, điều
kiện thi hành án; cung cấp đầy đủ tài liệu, giấy tờ có liên quan đến tài sản của
mình khi có yêu cầu của người có thẩm quyền và chịu trách nhiệm trước pháp luật
về nội dung kê khai đó;
c) Thực hiện các quyết định,
yêu cầu của Chấp hành viên trong thi hành án; thông báo cho cơ quan thi hành án
dân sự khi có thay đổi về địa chỉ, nơi cư trú;
d) Chịu chi phí thi hành án
theo quy định của Luật này.
Điều 7b.
Quyền, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan[13]
1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan có các quyền sau đây:
a) Được thông báo, tham gia vào
việc thực hiện biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án mà mình có
liên quan;
b) Yêu cầu Tòa án xác định,
phân chia quyền sở hữu, sử dụng tài sản; yêu cầu Tòa án giải thích những điểm
chưa rõ, đính chính lỗi chính tả hoặc số liệu sai sót; khởi kiện dân sự để bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp có tranh chấp về tài sản
liên quan đến thi hành án;
c) Khiếu nại, tố cáo về thi
hành án.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan có nghĩa vụ thực hiện nghiêm chỉnh các quyết định, yêu cầu của Chấp
hành viên trong thi hành án; thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự khi có
thay đổi về địa chỉ, nơi cư trú.
Điều 8. Tiếng
nói và chữ viết dùng trong thi hành án dân sự
1. Tiếng nói và chữ viết dùng
trong thi hành án dân sự là tiếng Việt.
Đương sự có quyền dùng tiếng
nói và chữ viết của dân tộc mình nhưng phải có người phiên dịch. Đương sự là
người dân tộc thiểu số mà không biết tiếng Việt thì cơ quan thi hành án dân sự
phải bố trí phiên dịch.
2. Người phiên dịch phải dịch
đúng nghĩa, trung thực, khách quan, nếu cố ý dịch sai thì phải chịu trách nhiệm
theo quy định của pháp luật.
Điều 9. Tự
nguyện và cưỡng chế thi hành án
1. Nhà nước khuyến khích đương
sự tự nguyện thi hành án.
2. Người phải thi hành án có điều
kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế thi hành án theo
quy định của Luật này.
Điều 10.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Cơ quan, tổ chức và cá nhân vi
phạm quy định của Luật này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của
pháp luật.
Điều 11.
Trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân với cơ quan thi hành án dân
sự, Chấp hành viên
1. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền
hạn, nghĩa vụ của mình cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm phối hợp với
cơ quan thi hành án dân sự trong việc thi hành án.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có
liên quan có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp
hành viên theo quy định của Luật này.
Mọi hành vi cản trở, can thiệp
trái pháp luật đối với hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên
đều bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều 12.
Giám sát và kiểm sát việc thi hành án
1. Quốc hội, Hội đồng nhân dân
và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự
và các cơ quan nhà nước khác trong thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật.
2.[14] Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật
của Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, cơ quan, tổ chức, cá
nhân có liên quan trong việc thi hành án dân sự.
Khi kiểm sát thi hành án dân sự,
Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Kiểm sát việc cấp, chuyển
giao, giải thích, sửa chữa, bổ sung bản án, quyết định của Tòa án;
b) Yêu cầu Chấp hành viên, cơ
quan thi hành án dân sự cùng cấp, cấp dưới ra quyết định về thi hành án, gửi
các quyết định về thi hành án; thi hành đúng bản án, quyết định; tự kiểm tra việc
thi hành án và thông báo kết quả kiểm tra cho Viện kiểm sát nhân dân; yêu cầu
cơ quan, tổ chức và cá nhân cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng có liên quan đến
việc thi hành án theo quy định của Luật này;
c) Trực tiếp kiểm sát hoạt động
thi hành án dân sự của cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và cấp dưới, Chấp
hành viên, các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan; ban hành kết luận kiểm
sát khi kết thúc việc kiểm sát;
d) Tham gia phiên họp của Tòa
án xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước
và phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân;
đ) Kiến nghị xem xét hành vi,
quyết định liên quan đến thi hành án có vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng của
Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp hoặc cấp dưới, yêu cầu khắc phục vi
phạm pháp luật và xử lý người vi phạm; kiến nghị cơ quan, tổ chức liên quan có
sơ hở, thiếu sót trong hoạt động quản lý khắc phục nguyên nhân, điều kiện dẫn tới
vi phạm pháp luật và áp dụng các biện pháp phòng ngừa;
e) Kháng nghị hành vi, quyết định
của Thủ trưởng, Chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp, cấp dưới có
vi phạm pháp luật nghiêm trọng xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp
pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; yêu cầu đình chỉ việc thi hành, thu hồi, sửa
đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ quyết định có vi phạm pháp luật trong việc thi hành
án, chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật.
Chương II
HỆ THỐNG TỔ CHỨC THI
HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ CHẤP HÀNH VIÊN
Điều 13. Hệ
thống tổ chức thi hành án dân sự
Hệ thống tổ chức thi hành án
dân sự bao gồm:
1. Cơ quan quản lý thi hành án
dân sự:
a) Cơ quan quản lý thi hành án
dân sự thuộc Bộ Tư pháp;
b) Cơ quan quản lý thi hành án
thuộc Bộ Quốc phòng.
2. Cơ quan thi hành án dân sự:
a) Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cơ quan thi hành án dân sự
cấp tỉnh);
b) Cơ quan thi hành án dân sự
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cơ quan thi
hành án dân sự cấp huyện);
c) Cơ quan thi hành án quân khu
và tương đương (sau đây gọi chung là cơ quan thi hành án cấp quân khu).
Chính phủ quy định nhiệm vụ,
quyền hạn của cơ quan quản lý thi hành án dân sự; tên gọi, cơ cấu, tổ chức cụ
thể của cơ quan thi hành án dân sự.
Điều 14.
Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh
1. Quản lý, chỉ đạo về thi hành
án dân sự trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, bao gồm:
a) Bảo đảm việc áp dụng thống
nhất các quy định của pháp luật trong hoạt động thi hành án dân sự;
b) Chỉ đạo hoạt động thi hành
án dân sự đối với cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện; hướng dẫn nghiệp vụ thi
hành án dân sự cho Chấp hành viên, công chức khác của cơ quan thi hành án dân sự
trên địa bàn;
c) Kiểm tra công tác thi hành
án dân sự đối với cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện;
d) Tổng kết thực tiễn thi hành
án dân sự; thực hiện chế độ thống kê, báo cáo công tác tổ chức, hoạt động thi
hành án dân sự theo hướng dẫn của cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ
Tư pháp.
2. Trực tiếp tổ chức thi hành bản
án, quyết định theo quy định tại Điều 35 của Luật này.
3. Lập hồ sơ đề nghị xét miễn,
giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự; phối hợp với cơ quan Công an trong việc lập hồ
sơ đề nghị xét miễn, giảm chấp hành hình phạt tù và đặc xá cho người có nghĩa vụ
thi hành án dân sự đang chấp hành hình phạt tù.
4. Giải quyết khiếu nại, tố cáo
về thi hành án dân sự thuộc thẩm quyền theo quy định của Luật này.
5. Thực hiện quản lý công chức,
cơ sở vật chất, kinh phí, phương tiện hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự
tại địa phương theo hướng dẫn, chỉ đạo của cơ quan quản lý thi hành án dân sự
thuộc Bộ Tư pháp.
6. Giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp
thực hiện trách nhiệm, quyền hạn theo quy định tại khoản 1 và khoản
2 Điều 173 của Luật này.
7.[15] Báo cáo công tác thi hành án dân sự trước Hội đồng nhân
dân, Ủy ban nhân dân theo quy định của pháp luật; báo cáo Tòa án về kết quả
thi hành bản án, quyết định khi có yêu cầu.
Điều 15.
Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thi hành án cấp quân khu
1. Trực tiếp tổ chức thi hành bản
án, quyết định theo quy định tại Điều 35 của Luật này.
2.[16] Tổng kết thực tiễn công tác thi hành án theo thẩm quyền;
thực hiện chế độ thống kê, báo cáo công tác tổ chức, hoạt động thi hành án dân
sự theo hướng dẫn của cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng; báo cáo
Tòa án về kết quả thi hành bản án, quyết định khi có yêu cầu.
3. Giải quyết khiếu nại, tố cáo
về thi hành án thuộc thẩm quyền theo quy định của Luật này.
4. Phối hợp với các cơ quan chức
năng của quân khu trong việc quản lý cán bộ, cơ sở vật chất, kinh phí và phương
tiện hoạt động của cơ quan thi hành án cấp quân khu theo hướng dẫn, chỉ đạo của
cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng.
5. Lập hồ sơ đề nghị xét miễn,
giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự; phối hợp với cơ quan thi hành án phạt tù
trong quân đội trong việc lập hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm chấp hành hình phạt
tù và đặc xá cho người có nghĩa vụ thi hành án dân sự đang chấp hành hình phạt
tù.
6. Giúp Tư lệnh quân khu và
tương đương thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại khoản
1 Điều 172 của Luật này.
Điều 16.
Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện
1. Trực tiếp tổ chức thi hành
các bản án, quyết định theo quy định tại Điều 35 của Luật này.
2. Giải quyết khiếu nại, tố cáo
về thi hành án dân sự thuộc thẩm quyền theo quy định của Luật này.
3. Thực hiện quản lý công chức,
cơ sở vật chất, kinh phí và phương tiện hoạt động được giao theo hướng dẫn, chỉ
đạo của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh.
4. Thực hiện chế độ thống kê,
báo cáo công tác tổ chức, hoạt động thi hành án theo quy định của pháp luật và
hướng dẫn của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh.
5. Lập hồ sơ đề nghị xét miễn,
giảm nghĩa vụ thi hành án dân sự.
6. Giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại khoản 1 và khoản
2 Điều 174 của Luật này.
7.[17] Báo cáo công tác thi hành án dân sự trước Hội đồng nhân
dân, Ủy ban nhân dân theo quy định của pháp luật; báo cáo Tòa án về kết quả
thi hành bản án, quyết định khi có yêu cầu.
Điều 17.
Chấp hành viên
1. Chấp hành viên là người được
Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định theo quy định tại Điều 2 của Luật này. Chấp hành viên có ba ngạch là Chấp hành
viên sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp và Chấp hành viên cao cấp.
2. Chấp hành viên do Bộ trưởng
Bộ Tư pháp bổ nhiệm.
3. Chính phủ quy định trình tự,
thủ tục thi tuyển, bổ nhiệm Chấp hành viên.
Điều 18.
Tiêu chuẩn bổ nhiệm Chấp hành viên
1. Công dân Việt Nam trung
thành với Tổ quốc, trung thực, liêm khiết, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ
cử nhân luật trở lên, có sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao thì có thể
được bổ nhiệm làm Chấp hành viên.
2. Người có đủ tiêu chuẩn quy định
tại khoản 1 Điều này và có đủ các điều kiện sau thì được bổ nhiệm làm Chấp hành
viên sơ cấp:
a) Có thời gian làm công tác
pháp luật từ 03 năm trở lên;
b) Đã được đào tạo nghiệp vụ
thi hành án dân sự;
c) Trúng tuyển kỳ thi tuyển Chấp
hành viên sơ cấp.
3. Người có đủ tiêu chuẩn quy định
tại khoản 1 Điều này và có đủ các điều kiện sau thì được bổ nhiệm làm Chấp hành
viên trung cấp:
a) Có thời gian làm Chấp hành
viên sơ cấp từ 05 năm trở lên;
b) Trúng tuyển kỳ thi tuyển Chấp
hành viên trung cấp.
4. Người có đủ tiêu chuẩn quy định
tại khoản 1 Điều này và có đủ các điều kiện sau thì được bổ nhiệm làm Chấp hành
viên cao cấp:
a) Có thời gian làm Chấp hành
viên trung cấp từ 05 năm trở lên;
b) Trúng tuyển kỳ thi tuyển Chấp
hành viên cao cấp.
5.[18] Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này,
là sỹ quan quân đội tại ngũ thì được bổ nhiệm Chấp hành viên trong quân đội.
Tiêu chuẩn để được bổ nhiệm Chấp
hành viên sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp và Chấp hành viên cao cấp trong quân
đội được thực hiện theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này.
6.[19] Người đang là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên
được điều động đến công tác tại cơ quan thi hành án dân sự, người đã từng là Chấp
hành viên nhưng được bố trí làm nhiệm vụ khác và có đủ điều kiện quy định tại khoản
1 Điều này thì có thể được bổ nhiệm Chấp hành viên ở ngạch tương đương không qua
thi tuyển.
7.[20] Trường hợp đặc biệt do nhu cầu bổ nhiệm Thủ trưởng, Phó
thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản
1 Điều này đã có thời gian làm công tác pháp luật từ 05 năm trở lên có thể được
bổ nhiệm Chấp hành viên sơ cấp; có 10 năm làm công tác pháp luật trở lên có thể
được bổ nhiệm Chấp hành viên trung cấp; có 15 năm làm công tác pháp luật trở
lên có thể được bổ nhiệm Chấp hành viên cao cấp không qua thi tuyển.
Điều 19.
Miễn nhiệm Chấp hành viên
1. Chấp hành viên đương nhiên
được miễn nhiệm trong trường hợp nghỉ hưu hoặc chuyển công tác đến cơ quan
khác.
2. Bộ trưởng Bộ Tư pháp xem
xét, quyết định miễn nhiệm Chấp hành viên trong các trường hợp sau đây:
a) Do hoàn cảnh gia đình hoặc sức
khỏe mà xét thấy không thể bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ Chấp hành viên;
b) Năng lực chuyên môn, nghiệp
vụ không bảo đảm thực hiện nhiệm vụ Chấp hành viên hoặc vì lý do khác mà không
còn đủ tiêu chuẩn để làm Chấp hành viên.
3. Chính phủ quy định trình tự,
thủ tục miễn nhiệm Chấp hành viên.
Điều 20.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên
1. Kịp thời tổ chức thi hành vụ
việc được phân công; ra các quyết định về thi hành án theo thẩm quyền.
2. Thi hành đúng nội dung bản
án, quyết định; áp dụng đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục
thi hành án, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; thực hiện nghiêm chỉnh chuẩn mực đạo đức
nghề nghiệp Chấp hành viên.
3. Triệu tập đương sự, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết việc thi hành án.
4. Xác minh tài sản, điều kiện
thi hành án của người phải thi hành án; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có
liên quan cung cấp tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải thi
hành án hoặc phối hợp với cơ quan có liên quan xử lý vật chứng, tài sản và những
việc khác liên quan đến thi hành án.
5. Quyết định áp dụng biện pháp
bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án; lập kế hoạch cưỡng chế
thi hành án; thu giữ tài sản thi hành án.
6. Yêu cầu cơ quan Công an tạm
giữ người chống đối việc thi hành án theo quy định của pháp luật.
7. Lập biên bản về hành vi vi
phạm pháp luật về thi hành án; xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền; kiến
nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy
cứu trách nhiệm hình sự đối với người vi phạm.
8. Quyết định áp dụng biện pháp
cưỡng chế để thu hồi tiền, tài sản đã chi trả cho đương sự không đúng quy định
của pháp luật, thu phí thi hành án và các khoản phải nộp khác.
9. Được sử dụng công cụ hỗ trợ
trong khi thi hành công vụ theo quy định của Chính phủ.
10. Thực hiện nhiệm vụ khác
theo sự phân công của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự.
Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
của mình, Chấp hành viên phải tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp
luật về việc thi hành án và được pháp luật bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự,
nhân phẩm và uy tín.
Điều 21.
Những việc Chấp hành viên không được làm
1. Những việc mà pháp luật quy
định công chức không được làm.
2. Tư vấn cho đương sự, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan dẫn đến việc thi hành án trái pháp luật.
3. Can thiệp trái pháp luật vào
việc giải quyết vụ việc thi hành án hoặc lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến
người có trách nhiệm thi hành án.
4. Sử dụng trái phép vật chứng,
tiền, tài sản thi hành án.
5. Thực hiện việc thi hành án
liên quan đến quyền, lợi ích của bản thân và những người sau đây:
a) Vợ, chồng, con đẻ, con nuôi;
b) Cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ
nuôi, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, bác, chú, cậu, cô, dì và anh, chị,
em ruột của Chấp hành viên, của vợ hoặc chồng của Chấp hành viên;
c) Cháu ruột mà Chấp hành viên
là ông, bà, bác, chú, cậu, cô, dì.
6. Sử dụng thẻ Chấp hành viên,
trang phục, phù hiệu thi hành án, công cụ hỗ trợ để làm những việc không thuộc
nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
7. Sách nhiễu, gây phiền hà cho
cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thi hành án.
8. Cố ý thi hành trái nội dung
bản án, quyết định; trì hoãn hoặc kéo dài thời gian giải quyết việc thi hành án
được giao không có căn cứ pháp luật.
Điều 22.
Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự
1. Thủ trưởng, Phó thủ trưởng
cơ quan thi hành án dân sự phải là Chấp hành viên. Thủ trưởng, Phó thủ trưởng
cơ quan thi hành án dân sự do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm, miễn nhiệm; Thủ
trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án trong quân đội do Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng bổ nhiệm, miễn nhiệm.
2. Chính phủ quy định tiêu chuẩn,
trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự và cơ quan thi hành án trong quân đội.
Điều 23.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự
1. Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Ra quyết định về thi hành án
theo thẩm quyền;
b) Quản lý, chỉ đạo hoạt động
thi hành án dân sự của cơ quan thi hành án dân sự;
c) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá
nhân phối hợp tổ chức thi hành án;
d) Yêu cầu cơ quan đã ra bản
án, quyết định giải thích bằng văn bản những điểm chưa rõ hoặc không phù hợp với
thực tế trong bản án, quyết định đó để thi hành;
đ) Kiến nghị người có thẩm quyền
kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với bản án, quyết định
theo quy định của pháp luật;
e) Trả lời kháng nghị, kiến nghị
của Viện kiểm sát; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án, xử phạt vi phạm
hành chính theo thẩm quyền; kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý kỷ
luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người
vi phạm;
g) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
của Chấp hành viên;
h) Tổ chức thực hiện chế độ báo
cáo, thống kê thi hành án;
i) Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự cấp tỉnh có quyền điều động, hướng dẫn nghiệp vụ, chỉ đạo, kiểm tra
công tác thi hành án đối với Chấp hành viên, công chức cơ quan thi hành án dân
sự cấp tỉnh và cấp huyện trên địa bàn và những việc khác theo hướng dẫn, chỉ đạo
của cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp.
2. Phó thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân công hoặc ủy quyền của
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự và chịu trách nhiệm trong phạm vi công việc
được giao.
Điều 24.
Biên chế, kinh phí, cơ sở vật chất của cơ quan thi hành án dân sự
Nhà nước bảo đảm biên chế, kinh
phí, trụ sở làm việc, công cụ hỗ trợ thi hành án, ứng dụng công nghệ thông tin
và phương tiện, trang thiết bị cần thiết khác cho cơ quan thi hành án dân sự.
Điều 25.
Trang phục, phù hiệu, chế độ đối với công chức làm công tác thi hành án dân sự
Chấp hành viên, Thẩm tra viên
và công chức khác làm công tác thi hành án dân sự được cấp trang phục, phù hiệu
để sử dụng trong khi thi hành công vụ, được hưởng tiền lương, chế độ phụ cấp
phù hợp với nghề nghiệp và chế độ ưu đãi khác theo quy định của Chính phủ.
Chương
III
THỦ TỤC THI HÀNH ÁN DÂN
SỰ
Điều 26.
Hướng dẫn quyền yêu cầu thi hành án dân sự
Khi ra bản án, quyết định, Tòa
án, Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh
tranh, Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh[21], Trọng tài thương mại phải giải
thích cho đương sự, đồng thời ghi rõ trong bản án, quyết định về quyền yêu cầu
thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án.
Điều 27. Cấp
bản án, quyết định
Tòa án, Chủ tịch Ủy ban Cạnh
tranh Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, Hội đồng giải quyết
khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh[22], Trọng tài thương mại đã ra bản án, quyết định được quy
định tại Điều 2 của Luật này phải cấp cho đương sự bản án,
quyết định có ghi “Để thi hành".
Điều 28.
Chuyển giao bản án, quyết định
1.[23] Tòa án đã ra bản án, quyết định quy định tại các điểm a, b, c, d và g khoản 1 Điều 2 của Luật này phải chuyển
giao bản án, quyết định đó cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong
thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
2.[24] Tòa án đã ra bản án, quyết định quy định tại điểm a khoản 2 Điều 2 của Luật này phải chuyển giao bản án,
quyết định đó cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong thời hạn 15
ngày, kể từ ngày ra bản án, quyết định.
3.[25] Tòa án, Trọng tài thương mại đã ra quyết định áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời phải chuyển giao quyết định đó cho cơ quan thi hành
án dân sự có thẩm quyền ngay sau khi ra quyết định.
4. Trường hợp cơ quan có thẩm
quyền đã kê biên tài sản, tạm giữ tài sản, thu giữ vật chứng hoặc thu giữ các
tài liệu khác có liên quan đến việc thi hành án thì khi chuyển giao bản án, quyết
định cho cơ quan thi hành án dân sự, Tòa án phải gửi kèm theo bản sao biên bản
về việc kê biên, tạm giữ tài sản, thu giữ vật chứng hoặc tài liệu khác có liên
quan.
Điều 29.
Thủ tục nhận bản án, quyết định[26]
Khi nhận bản án, quyết định do
Tòa án, Trọng tài thương mại chuyển giao, cơ quan thi hành án dân sự phải kiểm
tra, vào sổ nhận bản án, quyết định.
Sổ nhận bản án, quyết định phải
ghi rõ số thứ tự; ngày, tháng, năm nhận bản án, quyết định; số, ngày, tháng,
năm của bản án, quyết định và tên Tòa án, Trọng tài thương mại đã ra bản án,
quyết định; tên, địa chỉ của đương sự và tài liệu khác có liên quan.
Việc giao, nhận trực tiếp bản
án, quyết định phải có chữ ký của hai bên; trường hợp nhận được bản án, quyết định
và tài liệu có liên quan bằng đường bưu điện thì cơ quan thi hành án dân sự phải
thông báo bằng văn bản cho Tòa án, Trọng tài thương mại đã chuyển giao biết.
Điều 30.
Thời hiệu yêu cầu thi hành án
1. Trong thời hạn 05 năm, kể từ
ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải
thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết
định thi hành án.
Trường hợp thời hạn thực hiện
nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định thì thời hạn 05 năm được tính từ
ngày nghĩa vụ đến hạn.
Đối với bản án, quyết định thi
hành theo định kỳ thì thời hạn 05 năm được áp dụng cho từng định kỳ, kể từ ngày
nghĩa vụ đến hạn.
2. Đối với các trường hợp hoãn,
tạm đình chỉ thi hành án theo quy định của Luật này thì thời gian hoãn, tạm
đình chỉ không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp người được
thi hành án đồng ý cho người phải thi hành án hoãn thi hành án.
3. Trường hợp người yêu cầu thi
hành án chứng minh được do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà
không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn thì thời gian có trở ngại khách
quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án.
Điều 31.
Tiếp nhận, từ chối yêu cầu thi hành án[27]
1. Đương sự tự mình hoặc ủy quyền
cho người khác yêu cầu thi hành án bằng hình thức trực tiếp nộp đơn hoặc trình
bày bằng lời nói hoặc gửi đơn qua bưu điện. Người yêu cầu phải nộp bản án, quyết
định, tài liệu khác có liên quan.
Ngày yêu cầu thi hành án được
tính từ ngày người yêu cầu nộp đơn hoặc trình bày trực tiếp hoặc ngày có dấu
bưu điện nơi gửi.
2. Đơn yêu cầu phải có các nội
dung sau đây:
a) Tên, địa chỉ của người yêu cầu;
b) Tên cơ quan thi hành án dân
sự nơi yêu cầu;
c) Tên, địa chỉ của người được
thi hành án; người phải thi hành án;
d) Nội dung yêu cầu thi hành
án;
đ) Thông tin về tài sản, điều
kiện thi hành án của người phải thi hành án, nếu có;
e) Ngày, tháng, năm làm đơn;
g) Chữ ký hoặc điểm chỉ của người
làm đơn; trường hợp là pháp nhân thì phải có chữ ký của người đại diện hợp pháp
và đóng dấu của pháp nhân, nếu có.
3. Trường hợp người yêu cầu trực
tiếp trình bày bằng lời nói thì cơ quan thi hành án dân sự phải lập biên bản có
các nội dung quy định tại khoản 2 Điều này, có chữ ký của người lập biên bản;
biên bản này có giá trị như đơn yêu cầu.
4. Khi tiếp nhận yêu cầu thi
hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải kiểm tra nội dung yêu cầu và các tài
liệu kèm theo, vào sổ nhận yêu cầu thi hành án và thông báo bằng văn bản cho
người yêu cầu.
5. Cơ quan thi hành án dân sự từ
chối yêu cầu thi hành án và phải thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu trong
thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu thi hành án trong các
trường hợp sau đây:
a) Người yêu cầu không có quyền
yêu cầu thi hành án hoặc nội dung yêu cầu không liên quan đến nội dung của bản
án, quyết định; bản án, quyết định không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các
đương sự theo quy định của Luật này;
b) Cơ quan thi hành án dân sự
được yêu cầu không có thẩm quyền thi hành án;
c) Hết thời hiệu yêu cầu thi
hành án.
Điều 32.[28] (được
bãi bỏ)
Điều 33.[29] (được
bãi bỏ)
Điều 34.[30] (được
bãi bỏ)
Điều 35.
Thẩm quyền thi hành án[31]
1. Cơ quan thi hành án dân sự cấp
tỉnh có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định sau đây:
a) Bản án, quyết định sơ thẩm của
Tòa án nhân dân khu vực; bản án, quyết định sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm,
tái thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;
b) Bản án, quyết định của Tòa
Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao đối với bản án, quyết định của Tòa án nhân
dân cấp tỉnh nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;
c) Quyết định giám đốc thẩm,
tái thẩm của Tòa án nhân dân tối cao đối với bản án, quyết định của Tòa án nhân
dân cấp tỉnh nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;
d) Quyết định giám đốc thẩm,
tái thẩm của Tòa án nhân dân tối cao đối với bản án, quyết định của Tòa Phúc thẩm
Tòa án nhân dân tối cao nơi Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã xét xử sơ thẩm có trụ sở;
đ) Quyết định của Tòa án nhân
dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh;
e) Bản án, quyết định của Tòa
án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài được Tòa án công nhận và cho
thi hành tại Việt Nam;
g) Phán quyết, quyết định của
Trọng tài thương mại;
h) Quyết định xử lý vụ việc cạnh
tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế
cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh
của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định
xử lý vụ việc cạnh tranh;
i) Bản án, quyết định do cơ
quan thi hành án dân sự nơi khác ủy thác;
k) Quyết định áp dụng biện pháp
xử lý chuyển hướng bồi thường thiệt hại của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát
nhân dân, Tòa án nhân dân nơi cơ quan thi hành án dân sự có trụ sở;
l) Bản án, quyết định khác theo
quy định của pháp luật.
2. Cơ quan thi hành án cấp quân
khu có thẩm quyền thi hành các bản án, quyết định sau đây:
a) Quyết định về hình phạt tiền,
tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng,
tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Tòa
án quân sự quân khu và tương đương trên địa bàn;
b) Quyết định về hình phạt tiền,
tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng,
tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Tòa
án quân sự khu vực trên địa bàn;
c) Quyết định về hình phạt tiền,
tịch thu tài sản, xử lý vật chứng, tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất
chính, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự của Tòa án
quân sự trung ương chuyển giao cho cơ quan thi hành án cấp quân khu;
d) Quyết định dân sự của Tòa án
nhân dân tối cao chuyển giao cho cơ quan thi hành án cấp quân khu;
đ) Quyết định áp dụng biện pháp
xử lý chuyển hướng bồi thường thiệt hại của Cơ quan điều tra trong quân đội
nhân dân, Viện kiểm sát quân sự, Tòa án quân sự nơi cơ quan thi hành án cấp
quân khu có trụ sở;
e) Bản án, quyết định do cơ
quan thi hành án dân sự nơi khác ủy thác;
g) Bản án, quyết định khác theo
quy định của pháp luật.
Điều 36.
Ra quyết định thi hành án[32]
1. Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự ra quyết định thi hành án khi có yêu cầu thi hành án, trừ trường
hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
Thời hạn ra quyết định thi
hành án theo yêu cầu là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu thi hành
án.
2. Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự có thẩm quyền chủ động ra quyết định thi hành án và phân công Chấp
hành viên tổ chức thi hành đối với phần bản án, quyết định sau:
a) Hình phạt tiền, truy thu
tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí, lệ phí Tòa
b) Trả lại tiền, tài sản cho
đương sự;
c) Tịch thu sung quỹ nhà nước,
tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản; các khoản thu khác cho Nhà nước;
d) Thu hồi quyền sử dụng đất
và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước;
đ) Quyết định áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời;
e) Quyết định của Tòa án giải
quyết phá sản.
Trong thời hạn 05 ngày làm
việc, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định quy định tại các điểm a, b, c và
d khoản này, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định thi hành
án.
Đối với quyết định quy định
tại điểm đ khoản này thì phải ra ngay quyết định thi hành án.
Đối với quyết định quy định
tại điểm e khoản này thì phải ra quyết định thi hành án trong thời hạn 03 ngày
làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định.
3. Quyết định thi hành án phải
ghi rõ họ, tên, chức vụ của người ra quyết định; số, ngày, tháng, năm, tên cơ
quan, tổ chức ban hành bản án, quyết định; tên, địa chỉ của người phải thi hành
án, người được thi hành; phần nghĩa vụ phải thi hành án; thời hạn tự nguyện thi
hành án.
4. Chính phủ quy định chi tiết
Điều này.
Điều 37.
Thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định về thi hành án
1. Người có thẩm quyền ra
quyết định về thi hành án ra quyết định thu hồi quyết định về thi hành án trong
các trường hợp sau đây:
a) Quyết định về thi hành án
được ban hành không đúng thẩm quyền;
b) Quyết định về thi hành án
có sai sót làm thay đổi nội dung vụ việc;
c) Căn cứ ra quyết định về
thi hành án không còn;
d) Trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 54 của Luật này.
2. Người có thẩm quyền ra
quyết định về thi hành án, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có quyền ra
quyết định sửa đổi, bổ sung hoặc yêu cầu sửa đổi, bổ sung quyết định về thi
hành án trong trường hợp quyết định về thi hành án có sai sót mà không làm thay
đổi nội dung vụ việc thi hành án.
3. Người có thẩm quyền ra
quyết định về thi hành án, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có quyền ra
quyết định hủy hoặc yêu cầu hủy quyết định về thi hành án của Thủ trưởng cơ
quan thi hành án dân sự cấp dưới, Chấp hành viên thuộc quyền quản lý trực tiếp
trong các trường hợp sau đây:
a) Phát hiện các trường hợp
quy định tại các khoản 1 và khoản 2 Điều này mà Thủ trưởng cơ quan thi hành án
dân sự cấp dưới, Chấp hành viên thuộc quyền quản lý trực tiếp không tự khắc phục
sau khi có yêu cầu;
b) Quyết định về thi hành án
có vi phạm pháp luật theo kết luận của cơ quan có thẩm quyền.
4. Quyết định thu hồi, sửa đổi,
bổ sung, hủy bỏ quyết định về thi hành án phải ghi rõ căn cứ, nội dung và hậu
quả pháp lý của việc thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ.
Điều 38. Gửi
quyết định về thi hành án[33]
Trong thời hạn 03 ngày làm việc,
kể từ ngày ra quyết định, các quyết định về thi hành án phải được gửi cho Viện kiểm
sát nhân dân cùng cấp, trừ trường hợp Luật này có quy định khác.
Quyết định cưỡng chế thi hành
án phải được gửi cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung
là Ủy ban nhân dân cấp xã) nơi tổ chức cưỡng chế thi hành án, cơ quan, tổ chức,
cá nhân có liên quan đến việc thực hiện quyết định cưỡng chế thi hành án.
Điều 39.
Thông báo về thi hành án
1. Quyết định về thi hành án,
giấy báo, giấy triệu tập và văn bản khác có liên quan đến việc thi hành án phải
thông báo cho đương sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan để họ thực hiện quyền,
nghĩa vụ theo nội dung của văn bản đó.
2. Việc thông báo phải thực hiện
trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ra văn bản, trừ trường hợp cần ngăn
chặn đương sự tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án.
3. Việc thông báo được thực hiện
theo các hình thức sau đây:
a) Thông báo trực tiếp hoặc qua
cơ quan, tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật;
b) Niêm yết công khai;
c) Thông báo trên các phương tiện
thông tin đại chúng.
4. Chi phí thông báo do người
phải thi hành án chịu, trừ trường hợp pháp luật quy định ngân sách nhà nước chi
trả hoặc người được thi hành án chịu.
Điều 40.
Thủ tục thông báo trực tiếp cho cá nhân
1. Văn bản thông báo cho cá
nhân phải được giao trực tiếp và yêu cầu người đó ký nhận hoặc điểm chỉ.
2. Trường hợp người được thông
báo vắng mặt thì văn bản thông báo được giao cho một trong số những người thân
thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng cư trú với người đó, bao gồm vợ, chồng,
con, ông, bà, cha, mẹ, bác, chú, cô, cậu, dì, anh, chị, em của đương sự, của vợ
hoặc chồng của đương sự.
Việc giao thông báo phải lập
thành biên bản. Ngày lập biên bản là ngày được thông báo hợp lệ.
Trường hợp người được thông báo
không có người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng cư trú hoặc có
nhưng người đó từ chối nhận văn bản thông báo hoặc người được thông báo vắng mặt
mà không rõ thời điểm trở về thì người thực hiện thông báo phải lập biên bản về
việc không thực hiện được thông báo, có chữ ký của người chứng kiến và thực hiện
việc niêm yết công khai theo quy định tại Điều 42 của Luật này.
3. Trường hợp người được thông
báo đã chuyển đến địa chỉ mới thì phải thông báo theo địa chỉ mới của người được
thông báo.
Điều 41.
Thủ tục thông báo trực tiếp cho cơ quan, tổ chức
Trường hợp người được thông báo
là cơ quan, tổ chức thì văn bản thông báo phải được giao trực tiếp cho người đại
diện theo pháp luật hoặc người chịu trách nhiệm nhận văn bản của cơ quan, tổ chức
đó và phải được những người này ký nhận. Trường hợp cơ quan, tổ chức được thông
báo có người đại diện tham gia việc thi hành án hoặc cử người đại diện nhận văn
bản thông báo thì những người này ký nhận văn bản thông báo. Ngày ký nhận là
ngày được thông báo hợp lệ.
Điều 42.
Niêm yết công khai
1. Việc niêm yết công khai văn
bản thông báo chỉ được thực hiện khi không rõ địa chỉ của người được thông báo
hoặc không thể thực hiện được việc thông báo trực tiếp, trừ trường hợp pháp luật
có quy định khác.
Cơ quan thi hành án dân sự trực
tiếp hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối
cùng của người được thông báo hoặc cá nhân, tổ chức có đủ điều kiện theo quy định
của pháp luật thực hiện việc niêm yết.
2. Việc niêm yết được thực hiện
theo thủ tục sau đây:
a) Niêm yết văn bản thông báo tại
trụ sở cơ quan thi hành án dân sự, trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú
hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được thông báo;
b) Lập biên bản về việc niêm yết
công khai, trong đó ghi rõ ngày, tháng, năm niêm yết; số, ngày, tháng, năm, tên
của văn bản thông báo; có chữ ký của người chứng kiến.
3. Thời gian niêm yết công khai
văn bản thông báo là 10 ngày, kể từ ngày niêm yết. Ngày niêm yết là ngày được
thông báo hợp lệ.
Điều 43.
Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng
1. Thông báo trên phương tiện
thông tin đại chúng chỉ được thực hiện khi pháp luật có quy định hoặc khi đương
sự có yêu cầu.
2. Trường hợp xác định đương sự
đang có mặt tại địa phương nơi đương sự cư trú thì việc thông báo được thực hiện
trên báo ngày trong hai số liên tiếp hoặc trên đài phát thanh, đài truyền hình
của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương của địa phương đó hai lần trong 02
ngày liên tiếp.
Trường hợp xác định đương sự
không có mặt tại địa phương nơi đương sự cư trú thì việc thông báo được thực hiện
trên báo ngày trong hai số liên tiếp hoặc trên đài phát thanh, đài truyền hình
của trung ương hai lần trong 02 ngày liên tiếp.
3. Ngày thực hiện việc thông
báo lần hai trên phương tiện thông tin đại chúng là ngày được thông báo hợp lệ.
Điều 44.
Xác minh điều kiện thi hành án[34]
1. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ
ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện
thi hành thì Chấp hành viên tiến hành xác minh; trường hợp thi hành quyết định
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải tiến hành xác minh ngay.
Người phải thi hành án phải kê
khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi
hành án với cơ quan thi hành án dân sự và phải chịu trách nhiệm về việc kê khai
của mình.
2. Trường hợp người phải thi
hành án chưa có điều kiện thi hành án thì ít nhất 06 tháng một lần, Chấp hành
viên phải xác minh điều kiện thi hành án; trường hợp người phải thi hành án
chưa có điều kiện thi hành án là người đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian
chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm trở lên hoặc không xác định được địa
chỉ, nơi cư trú mới của người phải thi hành án thì thời hạn xác minh ít nhất 01
năm một lần. Sau hai lần xác minh mà người phải thi hành án vẫn chưa có điều kiện
thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo bằng văn bản cho người
được thi hành án về kết quả xác minh. Việc xác minh lại được tiến hành khi có
thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.
3. Cơ quan thi hành án dân sự
có thể ủy quyền cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có
tài sản, cư trú, làm việc hoặc có trụ sở để xác minh điều kiện thi hành án.
4. Khi xác minh điều kiện thi
hành án, Chấp hành viên có trách nhiệm sau đây:
a) Xuất trình thẻ Chấp hành
viên;
b) Xác minh cụ thể tài sản, thu
nhập, các điều kiện khác để thi hành án; đối với tài sản phải đăng ký quyền sở
hữu, sử dụng hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm thì còn phải xác minh tại cơ quan
có chức năng đăng ký tài sản, giao dịch đó;
c) Trường hợp xác minh bằng văn
bản thì văn bản yêu cầu xác minh phải nêu rõ nội dung xác minh và các thông tin
cần thiết khác;
d) Trường hợp người phải thi
hành án là cơ quan, tổ chức thì Chấp hành viên trực tiếp xem xét tài sản, sổ
sách quản lý vốn, tài sản; xác minh tại cơ quan, tổ chức khác có liên quan đang
quản lý, bảo quản, lưu giữ thông tin về tài sản, tài khoản của người phải thi
hành án;
đ) Yêu cầu cơ quan chuyên môn
hoặc mời, thuê chuyên gia để làm rõ các nội dung cần xác minh trong trường hợp
cần thiết;
e) Lập biên bản thể hiện đầy đủ
kết quả xác minh có xác nhận của Ủy ban nhân dân hoặc công an cấp xã hoặc cơ
quan, tổ chức, cá nhân nơi tiến hành xác minh.
5. Người được thi hành án có
quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh điều kiện thi hành án, cung
cấp thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án của người phải thi
hành án cho cơ quan thi hành án dân sự.
Trường hợp Chấp hành viên thấy
cần thiết hoặc kết quả xác minh của Chấp hành viên và người được thi hành án
khác nhau hoặc có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thì phải xác minh lại.
Việc xác minh lại được tiến hành trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận
được kết quả xác minh do đương sự cung cấp hoặc nhận được kháng nghị của Viện
kiểm sát nhân dân.
6. Trách nhiệm của cơ quan, tổ
chức, cá nhân có liên quan trong việc xác minh điều kiện thi hành án:
a) Cơ quan, tổ chức, công chức
tư pháp - hộ tịch, địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường, cán bộ, công chức
cấp xã khác và cá nhân có liên quan thực hiện yêu cầu của Chấp hành viên và phải
chịu trách nhiệm về các nội dung thông tin đã cung cấp;
b) Bảo hiểm xã hội, ngân hàng,
tổ chức tín dụng khác, văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, cơ quan đăng ký
giao dịch bảo đảm, công chứng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ
thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành án có trách
nhiệm cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án;
ký vào biên bản trong trường hợp Chấp hành viên xác minh trực tiếp hoặc trả lời
bằng văn bản trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản yêu
cầu của Chấp hành viên, đối với thông tin về tài khoản thì phải cung cấp ngay;
c) Cơ quan, tổ chức, cá nhân
đang nắm giữ thông tin hoặc quản lý tài sản, tài khoản của người phải thi hành
án có trách nhiệm cung cấp thông tin khi người được thi hành án hoặc người đại
diện theo ủy quyền của người được thi hành án có yêu cầu trong thời hạn 05 ngày
làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu, trừ trường hợp do sự kiện bất khả kháng
hoặc trở ngại khách quan. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân từ chối cung cấp
thì phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.
7. Trường hợp người được thi
hành án, cơ quan, tổ chức, cá nhân không cung cấp hoặc cung cấp thông tin sai sự
thật về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì phải chịu trách
nhiệm trước pháp luật, thanh toán các chi phí phát sinh, trường hợp gây ra thiệt
hại thì phải bồi thường.
8. Chính phủ quy định chi tiết Điều
này.
Điều
44a. Xác định việc chưa có điều kiện thi hành án[35]
1. Căn cứ kết quả xác minh điều
kiện thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định về việc
chưa có điều kiện thi hành án khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người phải thi hành án không
có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi
hành án, người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng và không có tài sản để thi hành
án hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế
thi hành án hoặc tài sản theo quy định của pháp luật không được kê biên, xử lý
để thi hành án;
b) Người phải thi hành án phải
thi hành nghĩa vụ về trả vật đặc định nhưng vật phải trả không còn hoặc hư hỏng
đến mức không thể sử dụng được; phải trả giấy tờ nhưng giấy tờ không thể thu hồi
và cũng không thể cấp lại được mà đương sự không có thỏa thuận khác;
c) Chưa xác định được địa chỉ,
nơi cư trú của người phải thi hành án, người chưa thành niên được giao cho người
khác nuôi dưỡng.
2. Thông tin về tên, địa chỉ,
nghĩa vụ phải thi hành của người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành được
đăng tải trên trang thông tin điện tử về thi hành án dân sự và gửi cho Ủy ban
nhân dân cấp xã nơi xác minh để niêm yết. Khi người phải thi hành án có điều kiện
thi hành thì cơ quan thi hành án phải tổ chức thi hành.
Chính phủ quy định chi tiết khoản
này.
Điều 45.
Thời hạn tự nguyện thi hành án[36]
1. Thời hạn tự nguyện thi hành
án là 10 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành
án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án.
2. Trường hợp cần ngăn chặn người
phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc hành vi khác nhằm trốn
tránh việc thi hành án thì Chấp hành viên áp dụng ngay biện pháp quy định tại
Chương IV của Luật này.
Điều 46.
Cưỡng chế thi hành án
1. Hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 45 của Luật này, người phải thi hành án có điều
kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế.
2. Không tổ chức cưỡng chế thi
hành án trong thời gian từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau, các ngày nghỉ,
ngày lễ theo quy định của pháp luật và các trường hợp đặc biệt khác do Chính phủ
quy định.
Điều 47.
Thanh toán tiền, trả tài sản thi hành án[37]
1. Số tiền thi hành án, sau khi
trừ các chi phí thi hành án và khoản tiền quy định tại khoản 5 Điều
115 của Luật này thì được thanh toán theo thứ tự sau đây:
a) Tiền cấp dưỡng; tiền lương,
tiền công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức
lao động; tiền bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tổn thất về tinh thần;
b) Án phí, lệ phí Tòa án;
c) Các khoản phải thi hành án
khác theo bản án, quyết định.
2. Trường hợp có nhiều người được
thi hành án thì việc thanh toán tiền thi hành án được thực hiện như sau:
a) Việc thanh toán được thực hiện
theo thứ tự quy định tại khoản 1 Điều này; trường hợp trong cùng một hàng ưu
tiên có nhiều người được thi hành án thì việc thanh toán được thực hiện theo tỷ
lệ số tiền mà họ được thi hành án;
b) Số tiền thi hành án thu theo
quyết định cưỡng chế thi hành án được thanh toán cho những người được thi hành
án tính đến thời điểm có quyết định cưỡng chế đó; số tiền còn lại được thanh
toán cho những người được thi hành án theo các quyết định thi hành án khác tính
đến thời điểm thanh toán;
c) Sau khi thanh toán theo quy
định tại điểm a và điểm b khoản này, số tiền còn lại được trả cho người phải
thi hành án.
3. Trường hợp xử lý tài sản cầm
cố, thế chấp mà bên nhận cầm cố, thế chấp là bên được thi hành án hoặc trường hợp
bán tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành một nghĩa vụ
cụ thể thì số tiền thu được từ việc bán tài sản cầm cố, thế chấp, bị kê biên được
ưu tiên thanh toán cho bên nhận cầm cố, thế chấp hoặc bên có nghĩa vụ được bảo
đảm sau khi trừ án phí của bản án, quyết định đó, chi phí cưỡng chế và khoản tiền
quy định tại khoản 5 Điều 115 của Luật này.
Trường hợp xử lý tài sản cầm cố,
thế chấp mà bên nhận cầm cố, thế chấp không phải là người được thi hành án thì
người nhận cầm cố, thế chấp được ưu tiên thanh toán trước khi thanh toán các khoản
theo quy định tại Điều này.
4. Thứ tự thanh toán tiền thi
hành án về phá sản thực hiện theo quy định của pháp luật về phá sản.
5. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ
ngày thu được tiền, tài sản thi hành án, Chấp hành viên phải thực hiện việc
thanh toán tiền, trả tài sản thi hành án quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này.
Trường hợp đương sự không đến
nhận thì tiền, tài sản đó được xử lý theo quy định tại Điều 126
của Luật này.
Điều 48.
Hoãn thi hành án
1.[38] Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định
hoãn thi hành án trong trường hợp sau đây:
a) Người phải thi hành án bị ốm
nặng, có xác nhận của cơ sở y tế từ cấp huyện trở lên; bị mất hoặc bị hạn chế
năng lực hành vi dân sự theo quyết định của Tòa án;
b) Chưa xác định được địa chỉ của
người phải thi hành án hoặc vì lý do chính đáng khác mà người phải thi hành án
không thể tự mình thực hiện nghĩa vụ theo bản án, quyết định;
c) Đương sự đồng ý hoãn thi
hành án; việc đồng ý hoãn thi hành án phải lập thành văn bản ghi rõ thời hạn
hoãn, có chữ ký của đương sự; trong thời gian hoãn thi hành án thì người phải
thi hành án không phải chịu lãi suất chậm thi hành án, trừ trường hợp đương sự có
thỏa thuận khác;
d) Tài sản để thi hành án đã được
Tòa án thụ lý để giải quyết theo quy định tại Điều 74 và Điều
75 của Luật này; tài sản được kê biên theo Điều 90 của Luật
này nhưng sau khi giảm giá theo quy định mà giá trị bằng hoặc thấp hơn chi
phí và nghĩa vụ được bảo đảm;
đ)[39] Việc thi hành án đang trong thời hạn cơ quan có thẩm
quyền giải thích bản án, quyết định và trả lời kiến nghị của cơ quan thi hành
án dân sự theo quy định tại điểm b khoản 2, điểm d khoản 3 Điều
170 và khoản 2 Điều 179 của Luật này;
e) Người được nhận tài sản, người
được giao nuôi dưỡng đã được thông báo hợp lệ 02 lần về việc nhận tài sản, nhận
người được nuôi dưỡng nhưng không đến nhận;
g) Việc chuyển giao quyền và
nghĩa vụ thi hành án theo quy định tại Điều 54 của Luật này
chưa thực hiện được vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan;
h) Tài sản kê biên không bán được
mà người được thi hành án không nhận để thi hành án theo quy định tại khoản 3 Điều 104 của Luật này.
2. Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự ra quyết định hoãn thi hành án khi nhận được yêu cầu hoãn thi hành án
của người có thẩm quyền kháng nghị ít nhất 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế thi
hành án đã được ấn định trong quyết định cưỡng chế. Trường hợp cơ quan thi hành
án nhận được yêu cầu hoãn thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị ít hơn
24 giờ trước thời điểm cưỡng chế đã được ấn định trong quyết định cưỡng chế thi
hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có quyền quyết định hoãn thi
hành án khi xét thấy cần thiết.
Trường hợp vụ việc đã được thi
hành một phần hoặc đã được thi hành xong thì cơ quan thi hành án dân sự phải có
văn bản thông báo ngay cho người yêu cầu hoãn thi hành án.
Người có thẩm quyền kháng nghị theo
thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với bản án, quyết định của Tòa án chỉ
được yêu cầu hoãn thi hành án một lần để xem xét kháng nghị nhằm tránh hậu quả
không thể khắc phục được.
Thời hạn hoãn thi hành án theo
yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định không quá 03
tháng, kể từ ngày ra văn bản yêu cầu hoãn thi hành án; trong thời gian hoãn thi
hành án thì người phải thi hành án không phải chịu lãi suất chậm thi hành án.
3. Thời hạn ra quyết định hoãn
thi hành án là 05 ngày làm việc, kể từ ngày có căn cứ hoãn thi hành án quy định
tại khoản 1 Điều này. Trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này thì phải ra ngay
quyết định hoãn thi hành án khi nhận được yêu cầu của người có thẩm quyền.
4. Trong thời hạn 05 ngày làm
việc, kể từ khi căn cứ hoãn thi hành án quy định tại khoản 1 Điều này không
còn, hết thời hạn hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền quy định
tại khoản 2 Điều này hoặc khi nhận được văn bản trả lời của người có thẩm quyền
kháng nghị về việc không có căn cứ kháng nghị thì Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự phải ra quyết định tiếp tục thi hành án.
Điều 49. Tạm
đình chỉ thi hành án
1. Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự thông báo về việc tạm đình chỉ thi hành án khi nhận được quyết định tạm
đình chỉ thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị bản án, quyết định theo
thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định
đã được thi hành một phần hoặc toàn bộ thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự
phải thông báo ngay bằng văn bản cho người đã kháng nghị.
Trong thời gian tạm đình chỉ
thi hành án do có kháng nghị thì người phải thi hành án không phải chịu lãi suất
chậm thi hành án.
2. Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án khi nhận được thông báo của
Tòa án về việc đã thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với người phải thi
hành án.
Thời hạn ra quyết định tạm đình
chỉ thi hành án là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án.
3. Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể
từ ngày nhận được một trong các quyết định sau đây:
a) Quyết định rút kháng nghị của
người có thẩm quyền;
b) Quyết định giám đốc thẩm,
tái thẩm của Tòa án giữ nguyên bản án, quyết định bị kháng nghị;
c) Quyết định của Tòa án về việc
đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản, đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.
Điều 50.
Đình chỉ thi hành án
1.[40] Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định
đình chỉ thi hành án trong trường hợp sau đây:
a) Người phải thi hành án chết
không để lại di sản hoặc theo quy định của pháp luật nghĩa vụ của người đó theo
bản án, quyết định không được chuyển giao cho người thừa kế;
b) Người được thi hành án chết
mà theo quy định của pháp luật quyền và lợi ích của người đó theo bản án, quyết
định không được chuyển giao cho người thừa kế hoặc không có người thừa kế;
c) Đương sự có thỏa thuận bằng
văn bản hoặc người được thi hành án có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án dân
sự đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ quyền, lợi ích được hưởng theo bản
án, quyết định, trừ trường hợp việc đình chỉ thi hành án ảnh hưởng đến quyền, lợi
ích hợp pháp của người thứ ba;
d) Bản án, quyết định bị hủy một
phần hoặc toàn bộ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 103
của Luật này;
đ) Người phải thi hành án là tổ
chức đã bị giải thể, không còn tài sản mà theo quy định của pháp luật nghĩa vụ
của họ không được chuyển giao cho tổ chức khác;
e) Có quyết định miễn nghĩa vụ
thi hành án;
g) Tòa án ra quyết định mở thủ
tục phá sản đối với người phải thi hành án;
h) Người chưa thành niên được
giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định đã chết hoặc đã thành niên.
2. Thời hạn ra quyết định đình
chỉ thi hành án là 05 ngày làm việc, kể từ ngày có căn cứ đình chỉ thi hành án
theo quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 51.[41] (được
bãi bỏ)
Điều 52. Kết
thúc thi hành án[42]
Việc thi hành án đương nhiên kết
thúc trong trường hợp sau đây:
1. Có xác nhận của cơ quan thi
hành án dân sự về việc đương sự đã thực hiện xong quyền, nghĩa vụ của mình.
2. Có quyết định đình chỉ thi
hành án.
Điều 53.
Xác nhận kết quả thi hành án
Đương sự có quyền yêu cầu cơ quan
thi hành án dân sự xác nhận kết quả thi hành án.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc,
kể từ ngày nhận được yêu cầu của đương sự, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự
cấp giấy xác nhận kết quả thi hành án.
Điều 54.
Chuyển giao quyền và nghĩa vụ thi hành án
1. Việc chuyển giao quyền và
nghĩa vụ thi hành án đối với tổ chức được thực hiện như sau:
a) Trường hợp hợp nhất thì tổ
chức mới tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án, trừ trường hợp pháp luật
có quy định khác;
b) Trường hợp sáp nhập thì tổ
chức sáp nhập tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án, trừ trường hợp
pháp luật có quy định khác;
c) Trường hợp chia, tách thì cơ
quan ra quyết định chia, tách phải xác định rõ cá nhân, tổ chức tiếp tục thực
hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án theo quyết định chia, tách, trừ trường hợp
pháp luật có quy định khác.
Nếu quyết định chia, tách không
quy định nghĩa vụ của các tổ chức mới thì sau khi chia, tách các tổ chức mới có
trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ thi hành án của tổ chức bị chia, tách;
d)[43] Trường hợp giải thể thì cơ quan có thẩm quyền ra quyết
định giải thể phải thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự biết trước khi ra
quyết định. Trường hợp quyền, nghĩa vụ thi hành án của tổ chức bị giải thể được
chuyển giao cho tổ chức khác thì tổ chức mới tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ
thi hành án.
Trường hợp doanh nghiệp giải thể
do bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh
nghiệp thì nghĩa vụ thi hành án được chuyển giao theo quy định của Luật Doanh
nghiệp.
Cơ quan thi hành án dân sự, người
được thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đề nghị cơ
quan có thẩm quyền xem xét lại quyết định giải thể theo quy định của pháp luật.
Trường hợp tài sản để thi hành
án không còn do thực hiện quyết định giải thể trái pháp luật thì cơ quan ra quyết
định giải thể phải chịu trách nhiệm thi hành phần nghĩa vụ của tổ chức bị giải
thể tương ứng với tài sản đó;
đ) Trường hợp phá sản thì quyền,
nghĩa vụ thi hành án được thực hiện theo quyết định về phá sản;
e)[44] Trường hợp doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi thành công
ty cổ phần mà trước đó chưa thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án của mình thì
sau khi chuyển đổi, công ty cổ phần tiếp tục thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành
án.
2. Trường hợp người được thi
hành án, người phải thi hành án là cá nhân chết thì quyền, nghĩa vụ thi hành án
được chuyển giao cho người khác theo quy định của pháp luật về thừa kế.
3. Trường hợp quy định tại khoản
1 và khoản 2 Điều này thì tổ chức, cá nhân được chuyển giao quyền và nghĩa vụ
thi hành án có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án hoặc phải tiếp tục thực hiện
nghĩa vụ thi hành án theo quy định của Luật này.
Thủ trưởng cơ quan thi hành án
dân sự ra quyết định thi hành án đối với cá nhân, tổ chức mới tương ứng với quyền,
nghĩa vụ thi hành án được chuyển giao và ra quyết định thu hồi quyết định thi
hành án trước đây.
Đối với các quyết định, thông
báo khác về thi hành án thì tùy từng trường hợp cụ thể mà cơ quan thi hành án
dân sự giữ nguyên, thu hồi hoặc ra các quyết định, thông báo khác phù hợp theo
quy định của Luật này.
4. Trường hợp đương sự thỏa thuận
về việc chuyển giao quyền, nghĩa vụ về thi hành án cho người thứ ba thì người
thứ ba có quyền, nghĩa vụ của đương sự.
Điều 55. Ủy
thác thi hành án và ủy thác xử lý tài sản[45]
1. Cơ quan thi hành án dân sự
phải ủy thác thi hành án trong các trường hợp sau đây:
a) Ủy thác thi hành án cho cơ
quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có tài sản, làm việc, cư trú
hoặc có trụ sở sau khi đã xử lý xong tài sản tạm giữ, thu giữ, tài sản kê biên
trên địa bàn có liên quan đến khoản ủy thác, trừ trường hợp quy định tại điểm b
khoản này.
Trường hợp thi hành nghĩa vụ về
tài sản thì ủy thác cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án
có tài sản; trường hợp không xác định được nơi có tài sản thì ủy thác cho cơ
quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án làm việc, cư trú hoặc có trụ
sở.
Trường hợp thi hành nghĩa vụ
liên đới mà người phải thi hành án có tài sản, làm việc, cư trú hoặc có trụ sở ở
các địa phương khác nhau thì ủy thác toàn bộ nghĩa vụ thi hành án cho cơ quan
thi hành án dân sự thuộc một trong các địa phương nơi người phải thi hành án có
điều kiện thi hành án;
b) Ủy thác thi hành án đối với
khoản phải thi hành án cụ thể có tài sản bảo đảm theo bản án, quyết định cho cơ
quan thi hành án dân sự nơi có tài sản.
2. Cơ quan thi hành án dân sự xử
lý tài sản trên địa bàn, đồng thời có thể ủy thác xử lý tài sản cho cơ quan thi
hành án dân sự nơi có tài sản được bản án, quyết định tuyên kê biên, phong tỏa
hoặc xử lý tài sản để bảo đảm thi hành án mà tài sản ở nhiều địa phương khác
nhau.
Điều 56.
Thẩm quyền ủy thác thi hành án, ủy thác xử lý tài sản[46]
1. Cơ quan thi hành án dân sự cấp
tỉnh ủy thác thi hành án, ủy thác xử lý tài sản như sau:
a) Ủy thác cho cơ quan thi
hành án dân sự cấp tỉnh ở địa phương khác đối với các bản án, quyết định về nhận
người lao động trở lại làm việc hoặc bồi thường thiệt hại mà người phải thi
hành án là cơ quan nhà nước cấp tỉnh trở lên; bản án, quyết định có yếu tố nước
ngoài hoặc liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ; quyết định của Trọng tài thương
mại; quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc
gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại
quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội
đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh;
b) Ủy thác cho cơ quan thi
hành án cấp quân khu đối với vụ việc mà đương sự hoặc tài sản có liên quan đến
quân đội trên địa bàn;
c) Ủy thác cho cơ quan thi
hành án dân sự cấp huyện đối với vụ việc khác, trừ trường hợp quy định tại điểm
a và điểm b khoản này.
2. Cơ quan thi hành án dân sự cấp
huyện ủy thác thi hành án, ủy thác xử lý tài sản đối với vụ việc thuộc thẩm quyền
thi hành án của mình cho cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh ở địa phương khác,
cơ quan thi hành án cấp quân khu, cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện khác.
3. Cơ quan thi hành án cấp quân
khu ủy thác thi hành án, ủy thác xử lý tài sản đối với vụ việc thuộc thẩm quyền
thi hành án của mình cho cơ quan thi hành án cấp quân khu khác, cơ quan thi
hành án dân sự cấp tỉnh hoặc cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện.
Điều 57.
Thủ tục ủy thác thi hành án và ủy thác xử lý tài sản[47]
1. Thủ tục ủy thác thi hành án
được quy định như sau:
a) Trong thời hạn 05 ngày làm
việc, kể từ ngày xác định có căn cứ ủy thác, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân
sự ra quyết định ủy thác. Trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời thì ra quyết định ủy thác trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi có căn
cứ ủy thác. Trường hợp đã ra quyết định thi hành án nhưng xét thấy cần ủy thác
thì phải ra quyết định thu hồi một phần hoặc toàn bộ quyết định thi hành án.
Hồ sơ ủy thác thi hành án bao gồm
quyết định ủy thác thi hành án; bản án, quyết định hoặc bản sao bản án, quyết định
trong trường hợp ủy thác cho nhiều nơi, ủy thác theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 55 của Luật này; bản sao biên bản kê biên,
tạm giữ tài sản và các tài liệu khác có liên quan, nếu có;
b) Trong thời hạn 05 ngày làm
việc, kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác, Thủ trưởng cơ quan thi hành án
dân sự nhận ủy thác ra quyết định thi hành án và thông báo bằng văn bản cho cơ
quan thi hành án dân sự đã ủy thác. Trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện
pháp khẩn cấp tạm thời thì phải ra ngay quyết định thi hành án.
2. Thủ tục ủy thác xử lý tài sản
được quy định như sau:
a) Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự ra quyết định ủy thác xử lý tài sản. Hồ sơ ủy thác xử lý tài sản bao
gồm quyết định ủy thác xử lý tài sản; bản sao bản án, quyết định; quyết định
thi hành án và các tài liệu khác có liên quan, nếu có;
b) Trong thời hạn 05 ngày làm
việc, kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác xử lý tài sản, Thủ trưởng cơ quan
thi hành án dân sự nhận ủy thác ra quyết định xử lý tài sản ủy thác, phân công
Chấp hành viên tổ chức thi hành và thông báo bằng văn bản cho cơ quan thi hành
án dân sự đã ủy thác.
Chấp hành viên căn cứ quyết định
thi hành án, kết quả tổ chức thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự đã ủy
thác và quyết định xử lý tài sản ủy thác để tiếp tục thực hiện trình tự, thủ tục
xử lý tài sản theo quy định của Luật này;
c) Trong thời hạn 05 ngày làm
việc, kể từ ngày giao tài sản cho người mua được tài sản bán đấu giá hoặc người
nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự nhận
ủy thác xử lý tài sản chuyển số tiền thu được cho cơ quan thi hành án dân sự đã
ủy thác để thanh toán theo quy định tại Điều 47 của Luật này,
sau khi trừ chi phí thi hành án, đồng thời, thông báo ngay bằng văn bản cho cơ
quan thi hành án dân sự đã ủy thác;
d) Cơ quan thi hành án dân sự
đã ủy thác xử lý tài sản chịu trách nhiệm toàn bộ về quá trình tổ chức thi hành
vụ việc, trừ việc xử lý tài sản của cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác.
Trường hợp xác định kết quả thẩm
định giá, bán đấu giá tài sản đủ để thanh toán nghĩa vụ của người phải thi hành
án và các chi phí liên quan hoặc có quyết định hoãn, tạm đình chỉ thi hành án
thì thông báo ngay bằng văn bản cho cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác để
tạm dừng việc xử lý các tài sản còn lại. Việc tiếp tục xử lý tài sản ủy thác được
thực hiện theo thông báo của cơ quan thi hành án dân sự đã ủy thác.
Trường hợp đã thu đủ số tiền
thi hành án và các chi phí liên quan hoặc có quyết định đình chỉ thi hành án
thì thông báo ngay bằng văn bản cho cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác để
chấm dứt việc xử lý các tài sản còn lại, giải tỏa kê biên tài sản theo quy định
của Luật này. Cơ quan thi hành án dân sự đã ủy thác phải thanh toán các chi phí
thi hành án phát sinh trước thời điểm chấm dứt việc xử lý tài sản cho cơ quan
thi hành án dân sự nhận ủy thác theo quy định tại khoản 1 và khoản
2 Điều 73 của Luật này;
đ) Cơ quan thi hành án dân sự
nhận ủy thác xử lý tài sản chịu trách nhiệm thực hiện các quy định liên quan đến
việc xử lý tài sản ủy thác; thông báo ngay bằng văn bản kết quả thẩm định giá,
thời điểm bán đấu giá, kết quả xử lý tài sản cho cơ quan thi hành án dân sự đã ủy
thác; tạm dừng hoặc chấm dứt xử lý tài sản theo yêu cầu của cơ quan thi hành án
dân sự đã ủy thác.
3. Cơ quan thi hành án dân sự
nhận ủy thác không được từ chối thực hiện quyết định ủy thác thi hành án, ủy
thác xử lý tài sản, trừ trường hợp quyết định ủy thác có sự nhầm lẫn, sai sót về
nội dung hoặc thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự nhận ủy thác.
Điều 58. Bảo
quản tài sản thi hành án
1. Việc bảo quản tài sản thi
hành án được thực hiện bằng một trong các hình thức sau đây:
a) Giao cho người phải thi hành
án, người thân thích của người phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 40 của Luật này hoặc người đang sử dụng, bảo quản;
b) Cá nhân, tổ chức có điều kiện
bảo quản;
c) Bảo quản tại kho của cơ quan
thi hành án dân sự.
2. Tài sản là kim khí quý, đá
quý, tiền hoặc giấy tờ có giá được bảo quản tại Kho bạc nhà nước.
3. Việc giao bảo quản tài sản
phải được lập biên bản ghi rõ loại tài sản, tình trạng tài sản, giờ, ngày,
tháng, năm giao; họ, tên Chấp hành viên, đương sự, người được giao bảo quản,
người làm chứng, nếu có; quyền, nghĩa vụ của người được giao bảo quản tài sản
và có chữ ký của các bên. Trường hợp có người từ chối ký thì phải ghi vào biên
bản và nêu rõ lý do.
Người được giao bảo quản tài sản
quy định tại điểm b khoản 1 Điều này được trả thù lao và được thanh toán chi
phí bảo quản tài sản. Thù lao và chi phí bảo quản tài sản do người phải thi
hành án chịu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Biên bản giao bảo quản tài sản
được giao cho đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người được giao
bảo quản tài sản hoặc người đang sử dụng, bảo quản tài sản và lưu hồ sơ thi
hành án.
5. Người được giao bảo quản tài
sản vi phạm quy định của pháp luật trong việc bảo quản tài sản thì tùy theo
tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính, xử lý kỷ luật hoặc bị truy
cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của
pháp luật.
Điều 59.
Việc thi hành án khi có thay đổi giá tài sản tại thời điểm thi hành án
Trường hợp theo bản án, quyết định
mà một bên được nhận tài sản và phải thanh toán cho người khác giá trị tài sản
họ được nhận, nhưng tại thời điểm thi hành án, giá tài sản thay đổi và một
trong các bên đương sự có yêu cầu định giá tài sản đó thì tài sản được định giá
theo quy định tại Điều 98 của Luật này để thi hành án.
Điều 60.
Phí thi hành án dân sự
Người được thi hành án phải nộp
phí thi hành án dân sự.
Chính phủ quy định mức phí thi
hành án dân sự, thủ tục thu nộp, quản lý, sử dụng phí thi hành án dân sự.
Điều 61. Điều
kiện miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước[48]
1. Người phải thi hành án được
xét miễn nghĩa vụ thi hành án khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Không có tài sản hoặc có tài
sản nhưng tài sản đó theo quy định của pháp luật không được xử lý để thi hành
án hoặc không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho
người phải thi hành án và người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng;
b) Hết thời hạn 05 năm, kể từ
ngày ra quyết định thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước có giá
trị dưới 2.000.000 đồng hoặc hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày ra quyết định thi
hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước có giá trị từ 2.000.000 đồng đến
dưới 5.000.000 đồng.
2. Người phải thi hành án đã
thi hành được một phần khoản thu nộp ngân sách nhà nước được xét miễn thi hành phần
nghĩa vụ còn lại khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Thuộc trường hợp quy định tại
điểm a khoản 1 Điều này;
b) Hết thời hạn 05 năm, kể từ
ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị dưới
5.000.000 đồng hoặc hết thời hạn 10 năm, kể từ ngày ra quyết định thi hành án
mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng.
3. Người phải thi hành án đã
thi hành được một phần khoản thu nộp ngân sách nhà nước mà thuộc trường hợp quy
định tại điểm a khoản 1 Điều này thì được xét giảm một phần nghĩa vụ thi hành
án khi có một trong các điều kiện sau đây:
a) Hết thời hạn 05 năm, kể từ
ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ
10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, mỗi lần giảm không quá một phần tư số tiền
còn lại phải thi hành án;
b) Hết thời hạn 10 năm, kể từ
ngày ra quyết định thi hành án mà phần nghĩa vụ còn lại có giá trị từ trên 100.000.000
đồng, mỗi lần giảm không quá một phần năm số tiền còn lại phải thi hành án
nhưng tối đa không quá 50.000.000 đồng.
4. Người phải thi hành án đã
tích cực thi hành được một phần án phí, tiền phạt nhưng lâm vào hoàn cảnh kinh
tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra
mà không thể tiếp tục thi hành được phần nghĩa vụ còn lại hoặc lập công lớn thì
được xét miễn thi hành phần nghĩa vụ còn lại.
5. Người phải thi hành án quy định
tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này chỉ được xét miễn hoặc giảm một lần trong 01
năm đối với mỗi bản án, quyết định.
Quyết định thi hành án lần đầu
là căn cứ để xác định thời hạn xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án.
6. Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp
với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn Điều này.
Điều 62. Hồ
sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách
nhà nước
Cơ quan thi hành án dân sự lập
hồ sơ đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án. Hồ
sơ bao gồm các tài liệu sau đây:
1. Văn bản đề nghị xét miễn, giảm
nghĩa vụ thi hành án của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự hoặc của Viện
trưởng Viện kiểm sát trong trường hợp đề nghị xét miễn, giảm khoản tiền phạt;
2. Bản án, quyết định của Tòa
án, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự;
3. Biên bản xác minh điều kiện
thi hành án của người phải thi hành án được thực hiện trong thời hạn không quá
03 tháng trước khi đề nghị xét miễn, giảm;
4. Tài liệu khác chứng minh điều
kiện được xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành án, nếu
có;
5. Ý kiến bằng văn bản của Viện
kiểm sát cùng cấp trong trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đề nghị xét miễn,
giảm nghĩa vụ thi hành án.
Điều 63.
Thẩm quyền, thủ tục xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp
ngân sách nhà nước
1.[49] Việc xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản
thu nộp ngân sách nhà nước thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực, Tòa án
quân sự khu vực (sau đây gọi chung là Tòa án nhân dân khu vực và tương đương)
nơi cơ quan thi hành án dân sự đang tổ chức việc thi hành án có trụ sở.
2. Trong thời hạn 02 ngày làm
việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án,
Tòa án phải thụ lý hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án.
Trong thời hạn 20 ngày, kể từ
ngày thụ lý hồ sơ, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc phải mở phiên họp
xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án.
3. Phiên họp xét miễn, giảm
nghĩa vụ thi hành án do một Thẩm phán chủ trì, có sự tham dự của đại diện Viện
kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành án dân sự đã đề nghị xét miễn, giảm.
Khi tiến hành xét miễn, giảm
nghĩa vụ thi hành án, đại diện cơ quan thi hành án dân sự trình bày tóm tắt hồ
sơ đề nghị xét miễn, giảm; đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về hồ sơ đề
nghị xét miễn, giảm. Trên cơ sở xem xét hồ sơ và ý kiến của đại diện của Viện
kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự, Thẩm phán ra quyết định chấp nhận, chấp
nhận một phần hoặc không chấp nhận đề nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án.
4. Trong thời hạn 05 ngày làm
việc, kể từ ngày ra quyết định về việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, Tòa án
phải gửi quyết định đó cho người được xét miễn, giảm thi hành án, Viện kiểm sát
cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, cơ quan thi hành án dân sự đã đề
nghị xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án, trại giam, trại tạm giam nơi người được
xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước đang
chấp hành hình phạt tù.
Điều 64.
Kháng nghị quyết định của Tòa án về miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản
thu nộp ngân sách nhà nước
1. Quyết định miễn, giảm nghĩa
vụ thi hành án của Tòa án có thể bị Viện kiểm sát kháng nghị theo thủ tục phúc
thẩm. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 07 ngày, của Viện kiểm
sát cấp trên trực tiếp là 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định.
Hết thời hạn kháng nghị, Viện
kiểm sát không kháng nghị thì quyết định của Tòa án có hiệu lực thi hành.
2. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ
ngày nhận được quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát, Tòa án đã ra quyết định
miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án phải chuyển hồ sơ và văn bản kháng nghị lên Tòa
án cấp trên trực tiếp.
3. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ
ngày nhận được hồ sơ kháng nghị, Tòa án cấp trên trực tiếp phải mở phiên họp để
xét kháng nghị.
Phiên họp xét kháng nghị do một
Thẩm phán chủ trì, có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp. Trong
trường hợp cần thiết, Tòa án yêu cầu đại diện cơ quan thi hành án dân sự đã lập
hồ sơ đề nghị xét miễn, giảm tham dự. Thẩm phán chủ trì phiên họp ra quyết định
giải quyết kháng nghị.
Quyết định của Tòa án về giải
quyết kháng nghị việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án có hiệu lực thi hành.
4. Trường hợp Viện kiểm sát rút
quyết định kháng nghị trước hoặc trong phiên họp xét kháng nghị thì Tòa án ra
quyết định đình chỉ việc xét kháng nghị. Quyết định của Tòa án về việc miễn, giảm
thi hành án bị kháng nghị có hiệu lực thi hành.
5. Trường hợp sau khi quyết định
cho miễn, giảm thi hành án có hiệu lực mà phát hiện người phải thi hành án có
hành vi cất giấu, tẩu tán tài sản để xin miễn, giảm, trốn tránh việc thi hành
án thì cơ quan thi hành án dân sự, Viện kiểm sát đã đề nghị xét miễn, giảm có
trách nhiệm đề nghị Chánh án Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền
theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự và tố tụng dân sự xem xét việc
kháng nghị quyết định miễn, giảm thi hành án theo thủ tục tái thẩm.
Điều 65. Bảo
đảm tài chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án
Trường hợp cơ quan, tổ chức hoạt
động hoàn toàn bằng kinh phí do ngân sách nhà nước cấp phải thi hành án đã áp dụng
mọi biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn không có khả năng thi hành án thì ngân
sách nhà nước bảo đảm nghĩa vụ thi hành án. Việc xử lý trách nhiệm vật chất đối
với người gây ra thiệt hại được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Chính phủ quy định thẩm quyền, điều
kiện, đối tượng, thủ tục bảo đảm tài chính để thi hành án.
Chương IV
BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM VÀ CƯỠNG
CHẾ THI HÀNH ÁN
Mục 1. BIỆN
PHÁP BẢO ĐẢM THI HÀNH ÁN
Điều 66.
Biện pháp bảo đảm thi hành án
1. Chấp hành viên có quyền tự
mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của đương sự áp dụng ngay biện pháp bảo đảm
thi hành án nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi
hành án. Khi áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, Chấp hành viên không phải
thông báo trước cho đương sự.
2. Người yêu cầu Chấp hành viên
áp dụng biện pháp bảo đảm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của
mình. Trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm không đúng mà gây thiệt hại
cho người bị áp dụng biện pháp bảo đảm hoặc cho người thứ ba thì phải bồi thường.
3. Các biện pháp bảo đảm thi
hành án bao gồm:
a) Phong tỏa tài khoản;
b) Tạm giữ tài sản, giấy tờ;
c) Tạm dừng việc đăng ký, chuyển
dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản.
Điều 67.
Phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ[50]
1. Việc phong tỏa tài khoản,
tài sản ở nơi gửi giữ được thực hiện trong trường hợp người phải thi hành án có
tài khoản, tài sản gửi giữ.
2. Quyết định phong tỏa tài khoản,
tài sản ở nơi gửi giữ phải xác định rõ số tiền, tài sản bị phong tỏa. Chấp hành
viên phải giao quyết định phong tỏa cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý
tài khoản, tài sản của người phải thi hành án.
Trường hợp cần phong tỏa ngay
tài khoản, tài sản của người phải thi hành án ở nơi gửi giữ mà chưa ban hành
quyết định phong tỏa thì Chấp hành viên lập biên bản yêu cầu cơ quan, tổ chức,
cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản của người phải thi hành án phong tỏa
tài khoản, tài sản đó. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi lập biên bản, Chấp hành
viên phải ra quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang
quản lý tài khoản, tài sản phải thực hiện ngay yêu cầu của Chấp hành viên về
phong tỏa tài khoản, tài sản. Biên bản, quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản
trong trường hợp này phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
3. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ
ngày ra quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ, Chấp hành viên
phải áp dụng biện pháp cưỡng chế hoặc ra quyết định chấm dứt việc phong tỏa
theo quy định của Luật này.
Điều 68. Tạm
giữ tài sản, giấy tờ của đương sự[51]
1. Chấp hành viên đang thực hiện
nhiệm vụ thi hành án có quyền tạm giữ tài sản, giấy tờ liên quan đến việc thi
hành án mà đương sự, tổ chức, cá nhân khác đang quản lý, sử dụng. Cơ quan, tổ
chức, cá nhân hữu quan có trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ, thực hiện yêu cầu của
Chấp hành viên trong việc tạm giữ tài sản, giấy tờ.
2. Quyết định tạm giữ tài sản,
giấy tờ phải xác định rõ loại tài sản, giấy tờ bị tạm giữ. Chấp hành viên phải
giao quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ cho đương sự hoặc tổ chức, cá nhân
đang quản lý, sử dụng.
Trường hợp cần tạm giữ ngay tài
sản, giấy tờ mà chưa ban hành quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ thì Chấp hành
viên yêu cầu giao tài sản, giấy tờ và lập biên bản về việc tạm giữ.
Trong thời hạn 24 giờ, kể từ
khi lập biên bản, Chấp hành viên phải ban hành quyết định tạm giữ tài sản, giấy
tờ. Biên bản, quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ phải được gửi ngay cho Viện
kiểm sát nhân dân cùng cấp.
3. Khi tạm giữ tài sản, giấy tờ
phải lập biên bản có chữ ký của Chấp hành viên và người đang quản lý, sử dụng
tài sản, giấy tờ; trường hợp người đang quản lý, sử dụng tài sản, giấy tờ không
ký thì phải có chữ ký của người làm chứng. Biên bản tạm giữ tài sản, giấy tờ phải
được giao cho người quản lý, sử dụng tài sản, giấy tờ.
4. Chấp hành viên yêu cầu đương
sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp các giấy tờ, tài liệu cần
thiết để chứng minh quyền sở hữu, sử dụng; thông báo cho đương sự, cơ quan, tổ
chức, cá nhân có liên quan về quyền khởi kiện yêu cầu xác định quyền sở hữu, sử
dụng đối với tài sản, giấy tờ tạm giữ.
Trường hợp cần thiết, Chấp hành
viên phải xác minh, làm rõ hoặc yêu cầu Tòa án, cơ quan có thẩm quyền xác định
người có quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản, giấy tờ tạm giữ.
5. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ
ngày có căn cứ xác định tài sản, giấy tờ tạm giữ thuộc quyền sở hữu, sử dụng của
người phải thi hành án, Chấp hành viên phải ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng
chế theo quy định tại Chương IV của Luật này; trường hợp có căn cứ xác định tài
sản, giấy tờ tạm giữ không thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành
án hoặc thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án nhưng đã thực hiện
xong nghĩa vụ của mình thì Chấp hành viên phải ra quyết định trả lại tài sản,
giấy tờ cho người có quyền sở hữu, sử dụng.
Điều 69. Tạm
dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản[52]
1. Trường hợp cần ngăn chặn hoặc
phát hiện đương sự có hành vi chuyển quyền sở hữu, sử dụng, tẩu tán, hủy hoại,
thay đổi hiện trạng tài sản, trốn tránh việc thi hành án, Chấp hành viên ra quyết
định tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng
tài sản của người phải thi hành án, tài sản chung của người phải thi hành án với
người khác.
2. Quyết định tạm dừng việc
đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản phải được gửi
ngay cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để tạm dừng việc đăng ký, chuyển
quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản đó.
3. Chấp hành viên yêu cầu đương
sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp các giấy tờ, tài liệu cần
thiết để chứng minh quyền sở hữu, sử dụng; thông báo cho đương sự, cơ quan, tổ
chức, cá nhân có liên quan về quyền khởi kiện yêu cầu xác định quyền sở hữu, sử
dụng đối với tài sản.
Trường hợp cần thiết, Chấp hành
viên phải xác minh, làm rõ hoặc yêu cầu Tòa án, cơ quan có thẩm quyền xác định
quyền sở hữu, sử dụng tài sản để thi hành án, giải quyết tranh chấp tài sản;
yêu cầu hủy giấy tờ, giao dịch liên quan đến tài sản theo quy định của pháp luật.
4. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ
ngày có căn cứ xác định tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi
hành án, Chấp hành viên phải ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy
định tại Chương IV của Luật này; trường hợp có căn cứ xác định tài sản không
thuộc quyền sở hữu, sử dụng của người phải thi hành án thì Chấp hành viên phải
ra quyết định chấm dứt việc tạm dừng đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng,
thay đổi hiện trạng tài sản.
Mục 2. QUY
ĐỊNH CHUNG VỀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN
Điều 70.
Căn cứ cưỡng chế thi hành án
Căn cứ để cưỡng chế thi hành án
bao gồm:
1. Bản án, quyết định;
2. Quyết định thi hành án;
3. Quyết định cưỡng chế thi
hành án, trừ trường hợp bản án, quyết định đã tuyên kê biên, phong tỏa tài sản,
tài khoản và trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
của Tòa án.
Điều 71.
Biện pháp cưỡng chế thi hành án
1. Khấu trừ tiền trong tài khoản;
thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án.
2. Trừ vào thu nhập của người
phải thi hành án.
3. Kê biên, xử lý tài sản của
người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ.
4. Khai thác tài sản của người phải
thi hành án.
5. Buộc chuyển giao vật, chuyển
giao quyền tài sản, giấy tờ.
6. Buộc người phải thi hành án
thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định.
Điều 72. Kế
hoạch cưỡng chế thi hành án[53]
1. Chấp hành viên lập kế hoạch
cưỡng chế thi hành án trong trường hợp cần huy động lực lượng.
2. Kế hoạch cưỡng chế thi hành
án có các nội dung chính sau đây:
a) Tên người bị áp dụng biện
pháp cưỡng chế;
b) Biện pháp cưỡng chế cần áp dụng;
c) Thời gian, địa điểm cưỡng chế;
d) Phương án tiến hành cưỡng chế;
đ) Yêu cầu về lực lượng tham
gia bảo vệ cưỡng chế;
e) Dự trù chi phí cưỡng chế.
3. Kế hoạch cưỡng chế phải được
gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan Công an cùng cấp, Ủy ban nhân dân
cấp xã nơi tổ chức cưỡng chế và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc
cưỡng chế thi hành án. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm thực
hiện theo kế hoạch, yêu cầu của Chấp hành viên.
4. Trong thời hạn 03 ngày làm
việc, kể từ ngày nhận được kế hoạch cưỡng chế của cơ quan thi hành án dân sự
cùng cấp, cơ quan Công an có trách nhiệm xây dựng kế hoạch và lập phương án bảo
vệ cưỡng chế.
Cơ quan Công an có trách nhiệm
bố trí lực lượng, phương tiện cần thiết để giữ gìn trật tự, bảo vệ hiện trường,
kịp thời ngăn chặn, xử lý hành vi tẩu tán tài sản, cản trở, chống đối việc thi
hành án, tạm giữ người chống đối, khởi tố vụ án hình sự khi có dấu hiệu phạm tội.
Điều 73.
Chi phí cưỡng chế thi hành án
1. Người phải thi hành án chịu
chi phí cưỡng chế thi hành án sau đây:
a) Chi phí thông báo về cưỡng
chế thi hành án;
b) Chi phí mua nguyên liệu,
nhiên liệu, thuê phương tiện, thiết bị bảo vệ, y tế, phòng, chống cháy, nổ, các
thiết bị, phương tiện cần thiết khác cho việc cưỡng chế thi hành án;
c) Chi phí cho việc định giá,
giám định tài sản, bán đấu giá tài sản; chi phí định giá lại tài sản, trừ trường
hợp quy định tại điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều này;
d) Chi phí cho việc thuê, trông
coi, bảo quản tài sản; chi phí bốc dỡ, vận chuyển tài sản; chi phí thuê nhân
công và khoản chi phục vụ cho việc xây ngăn, phá dỡ; chi thuê đo đạc, xác định
mốc giới để thực hiện việc cưỡng chế thi hành án;
đ) Chi phí cho việc tạm giữ,
thu giữ tài sản, giấy tờ;
e) Tiền bồi dưỡng cho những người
trực tiếp tham gia cưỡng chế và bảo vệ cưỡng chế thi hành án.
2. Người được thi hành án phải
chịu chi phí cưỡng chế thi hành án sau đây:
a)[54] Chi phí định giá lại tài sản nếu người được thi hành án
yêu cầu định giá lại, trừ trường hợp định giá lại do có vi phạm quy định về định
giá;
b) Một phần hoặc toàn bộ chi
phí xây ngăn, phá dỡ trong trường hợp bản án, quyết định xác định người được
thi hành án phải chịu chi phí xây ngăn, phá dỡ.
3. Ngân sách nhà nước trả chi
phí cưỡng chế thi hành án trong các trường hợp sau đây:
a) Định giá lại tài sản khi có
vi phạm quy định về định giá;
b)[55] Chi phí xác minh điều kiện thi hành án;
c) Chi phí cần thiết khác theo
quy định của Chính phủ;
d) Trường hợp đương sự được miễn,
giảm chi phí cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật.
4. Chấp hành viên dự trù chi
phí cưỡng chế và thông báo cho người phải thi hành án biết ít nhất 03 ngày làm
việc trước ngày cưỡng chế đã được ấn định, trừ trường hợp cần thiết phải cưỡng
chế ngay. Chi phí cưỡng chế thi hành án được tạm ứng từ ngân sách nhà nước.
5. Các khoản chi phí cưỡng chế
thi hành án được thanh toán theo mức chi thực tế, hợp lý do Thủ trưởng cơ quan
thi hành án dân sự duyệt theo đề xuất của Chấp hành viên.
Thủ trưởng cơ quan thi hành án
dân sự nơi tổ chức việc thi hành án thực hiện xét miễn, giảm các khoản chi phí
cưỡng chế thi hành án.
6. Chi phí cưỡng chế thi hành
án do đương sự nộp hoặc được khấu trừ vào tiền thu được, tiền bán đấu giá tài sản
kê biên, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ. Sau khi xử lý tài sản hoặc thu
được tiền, Chấp hành viên phải làm thủ tục hoàn trả ngay các khoản tiền đã tạm ứng
trước đó.
7. Chính phủ quy định mức bồi
dưỡng cho người trực tiếp tham gia cưỡng chế và bảo vệ cưỡng chế thi hành án;
thủ tục thu, nộp, miễn, giảm chi phí cưỡng chế thi hành án.
Điều 74.
Xác định, phân chia, xử lý tài sản chung để thi hành án[56]
1. Trường hợp chưa xác định được
phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án
trong khối tài sản chung để thi hành án thì Chấp hành viên phải thông báo cho
người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản,
quyền sử dụng đất biết để họ tự thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu
Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.
Hết thời hạn 30 ngày, kể từ
ngày nhận được thông báo mà các bên không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận vi phạm
quy định tại Điều 6 của Luật này hoặc thỏa thuận không được
và không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên thông báo cho người được
thi hành án có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần
quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ
tục tố tụng dân sự.
Hết thời hạn 15 ngày, kể từ
ngày nhận được thông báo mà người được thi hành án không yêu cầu Tòa án giải
quyết thì Chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần
quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ
tục tố tụng dân sự.
Chấp hành viên xử lý tài sản
theo quyết định của Tòa án.
2. Tài sản kê biên thuộc sở hữu
chung đã xác định được phần sở hữu của các chủ sở hữu chung được xử lý như sau:
a) Đối với tài sản chung có thể
chia được thì Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế phần tài sản tương ứng
với phần sở hữu của người phải thi hành án;
b) Đối với tài sản chung không
thể chia được hoặc nếu việc phân chia làm giảm đáng kể giá trị của tài sản thì
Chấp hành viên có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với toàn bộ tài sản và
thanh toán cho chủ sở hữu chung còn lại giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu
của họ.
3. Chủ sở hữu chung được quyền
ưu tiên mua phần tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản thuộc sở
hữu chung.
Trước khi bán tài sản lần đầu đối
với tài sản thuộc sở hữu chung, Chấp hành viên thông báo và định thời hạn cho
chủ sở hữu chung mua phần tài sản của người phải thi hành án theo giá đã định
trong thời hạn 03 tháng đối với bất động sản, 01 tháng đối với động sản; đối với
những lần bán tài sản tiếp theo thì thời hạn là 15 ngày, kể từ ngày được thông
báo hợp lệ.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc,
kể từ ngày hết thời hạn ưu tiên mà chủ sở hữu chung không mua tài sản thì tài sản
được bán theo quy định tại Điều 101 của Luật này.
Điều 75.
Giải quyết tranh chấp, yêu cầu hủy giấy tờ, giao dịch liên quan đến tài sản thi
hành án[57]
1. Trường hợp tài sản của người
phải thi hành án bị cưỡng chế để thi hành án mà có người khác tranh chấp thì Chấp
hành viên thông báo cho đương sự, người có tranh chấp về quyền của họ được khởi
kiện tại Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ
ngày được thông báo hợp lệ mà đương sự, người có tranh chấp khởi kiện tại Tòa
án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì việc xử lý tài sản được thực
hiện theo quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền.
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ
ngày được thông báo hợp lệ mà đương sự, người có tranh chấp không khởi kiện tại
Tòa án hoặc không đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì Chấp hành viên xử
lý tài sản để thi hành án theo quy định của Luật này.
2. Trường hợp có căn cứ xác định
giao dịch liên quan đến tài sản thi hành án nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành
án thì Chấp hành viên thông báo cho người được thi hành án để yêu cầu Tòa án
tuyên bố giao dịch đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy giấy tờ
liên quan đến giao dịch đó.
Hết thời hạn 15 ngày, kể từ
ngày được thông báo mà người được thi hành án không yêu cầu thì Chấp hành viên
yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền
hủy giấy tờ liên quan đến giao dịch đó.
3. Trường hợp Chấp hành viên
yêu cầu Tòa án giải quyết các việc quy định tại khoản 1 Điều 74
của Luật này và khoản 1, khoản 2 Điều này để thi hành án thì không phải chịu
án phí, lệ phí Tòa án.
Mục 3. CƯỠNG
CHẾ THI HÀNH ĐỐI VỚI TÀI SẢN LÀ TIỀN
Điều 76.
Khấu trừ tiền trong tài khoản
1. Chấp hành viên ra quyết định
khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án. Số tiền khấu trừ
không được vượt quá nghĩa vụ thi hành án và chi phí cưỡng chế.
2. Ngay sau khi nhận được quyết
định về khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án, cơ quan, tổ
chức đang quản lý tài khoản phải khấu trừ tiền để chuyển vào tài khoản của cơ
quan thi hành án dân sự hoặc chuyển cho người được thi hành án theo quyết định
khấu trừ.
Điều 77.
Chấm dứt phong tỏa tài khoản
1. Việc phong tỏa tài khoản được
chấm dứt trong các trường hợp sau đây:
a) Người phải thi hành án đã
thi hành xong nghĩa vụ thi hành án;
b) Cơ quan, tổ chức đã thực hiện
xong yêu cầu của Chấp hành viên về khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải
thi hành án;
c) Có quyết định đình chỉ thi
hành án theo quy định tại Điều 50 của Luật này.
2. Chấp hành viên ra quyết định
chấm dứt việc phong tỏa tài khoản ngay sau khi có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều
này.
Điều 78.
Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án
1. Thu nhập của người phải thi
hành án gồm tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động
và thu nhập hợp pháp khác.
2. Việc trừ vào thu nhập của
người phải thi hành án được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Theo thỏa thuận của đương sự;
b) Bản án, quyết định ấn định
trừ vào thu nhập của người phải thi hành án;
c) Thi hành án cấp dưỡng, thi
hành án theo định kỳ, khoản tiền phải thi hành án không lớn hoặc tài sản khác của
người phải thi hành án không đủ để thi hành án.
3. Chấp hành viên ra quyết định
trừ vào thu nhập của người phải thi hành án. Mức cao nhất được trừ vào tiền
lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động là 30% tổng số
tiền được nhận hàng tháng, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác. Đối với
thu nhập khác thì mức khấu trừ căn cứ vào thu nhập thực tế của người phải thi
hành án, nhưng phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người đó và người
được nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.
4. Cơ quan, tổ chức, người sử dụng
lao động, Bảo hiểm xã hội nơi người phải thi hành án nhận tiền lương, tiền
công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp và các thu nhập hợp pháp khác có trách nhiệm
thực hiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.
Điều 79.
Thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người phải thi hành án
1. Trường hợp người phải thi
hành án có thu nhập từ hoạt động kinh doanh thì Chấp hành viên ra quyết định
thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người đó để thi hành án.
Khi thu tiền, Chấp hành viên phải
để lại số tiền tối thiểu cho hoạt động kinh doanh và sinh hoạt của người phải
thi hành án và gia đình.
2. Chấp hành viên cấp biên lai
thu tiền cho người phải thi hành án.
Điều 80.
Thu tiền của người phải thi hành án đang giữ
Trường hợp phát hiện người phải
thi hành án đang giữ tiền mà có căn cứ xác định khoản tiền đó là của người phải
thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định thu tiền để thi hành án. Chấp hành
viên lập biên bản thu tiền và cấp biên lai cho người phải thi hành án. Trường hợp
người phải thi hành án không ký vào biên bản thì phải có chữ ký của người làm
chứng.
Điều 81.
Thu tiền của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ
Trường hợp phát hiện người thứ
ba đang giữ tiền của người phải thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định
thu khoản tiền đó để thi hành án. Người thứ ba đang giữ tiền của người phải thi
hành án có nghĩa vụ giao nộp tiền cho Chấp hành viên để thi hành án. Chấp hành
viên lập biên bản thu tiền, cấp biên lai cho người thứ ba đang giữ tiền và
thông báo cho người phải thi hành án. Trường hợp người thứ ba đang giữ tiền
không ký vào biên bản thì phải có chữ ký của người làm chứng.
Mục 4. CƯỠNG
CHẾ ĐỐI VỚI TÀI SẢN LÀ GIẤY TỜ CÓ GIÁ
Điều 82.
Thu giữ giấy tờ có giá
1. Trường hợp phát hiện người
phải thi hành án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân đang giữ giấy tờ có giá của người
phải thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định thu giữ giấy tờ đó để thi
hành án.
2. Người phải thi hành án hoặc
cơ quan, tổ chức, cá nhân giữ giấy tờ có giá của người phải thi hành án phải
chuyển giao giấy tờ đó cho cơ quan thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật.
Trường hợp người phải thi hành
án hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân giữ giấy tờ có giá không giao giấy tờ cho cơ
quan thi hành án dân sự thì Chấp hành viên yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
chuyển giao giá trị của giấy tờ đó để thi hành án.
Điều 83.
Bán giấy tờ có giá
Việc bán giấy tờ có giá được thực
hiện theo quy định của pháp luật.
Mục 5. CƯỠNG
CHẾ ĐỐI VỚI TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Điều 84.
Kê biên, sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ
1. Chấp hành viên ra quyết định
kê biên quyền sở hữu trí tuệ thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án.
Trường hợp người phải thi hành
án là chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ chuyển quyền sử dụng quyền sở hữu trí tuệ
cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thì quyền sở hữu trí tuệ vẫn bị kê biên.
2. Khi kê biên quyền sở hữu trí
tuệ của người phải thi hành án, tùy từng đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ, Chấp
hành viên thu giữ các giấy tờ có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ của người
phải thi hành án.
3. Trường hợp nhằm bảo đảm mục
tiêu quốc phòng, an ninh, dân sinh và lợi ích của Nhà nước, xã hội quy định tại
Luật Sở hữu trí tuệ mà Nhà nước quyết định chủ sở hữu trí tuệ phải chuyển giao
quyền của mình cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác sử dụng trong thời gian nhất
định thì Chấp hành viên không được kê biên quyền sở hữu trí tuệ của người phải
thi hành án trong thời gian bắt buộc phải chuyển giao.
4. Chấp hành viên quyết định
giao cho cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ. Cơ
quan, tổ chức, cá nhân được giao sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ phải nộp
số tiền thu được sau khi trừ các chi phí cần thiết cho cơ quan thi hành án dân
sự để thi hành án.
Trường hợp cần thiết, Chấp hành
viên yêu cầu tổ chức chuyên môn, nghề nghiệp về sở hữu trí tuệ thu và quản lý
thu nhập, lợi nhuận từ việc sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ của người
phải thi hành án.
5. Trường hợp người phải thi
hành án đã chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ cho cơ quan, tổ chức, cá nhân khác
mà chưa được thanh toán hoặc mới được thanh toán một phần tiền thì Chấp hành
viên ra quyết định buộc cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận chuyển giao nộp khoản tiền
chưa thanh toán để thi hành án.
Điều 85. Định
giá quyền sở hữu trí tuệ
1. Quyền sở hữu trí tuệ được định
giá theo quy định tại Điều 98 và Điều 99 của Luật này và
pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ.
2. Chính phủ quy định trình tự,
thủ tục, phương pháp định giá và thẩm quyền định giá quyền sở hữu trí tuệ.
Điều 86.
Bán đấu giá quyền sở hữu trí tuệ
1. Quyền sở hữu trí tuệ được
bán đấu giá theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản và pháp luật về
quyền sở hữu trí tuệ.
2. Chính phủ quy định trình tự,
thủ tục bán đấu giá và thẩm quyền bán đấu giá quyền sở hữu trí tuệ.
Mục 6. CƯỠNG
CHẾ ĐỐI VỚI TÀI SẢN LÀ VẬT
Điều 87.
Tài sản không được kê biên
1. Tài sản bị cấm lưu thông
theo quy định của pháp luật; tài sản phục vụ quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng;
tài sản do ngân sách nhà nước cấp cho cơ quan, tổ chức.
2. Tài sản sau đây của người phải
thi hành án là cá nhân:
a) Số lương thực đáp ứng nhu cầu
thiết yếu của người phải thi hành án và gia đình trong thời gian chưa có thu nhập,
thu hoạch mới;
b) Số thuốc cần dùng để phòng,
chữa bệnh của người phải thi hành án và gia đình;
c) Vật dụng cần thiết của người
tàn tật, vật dụng dùng để chăm sóc người ốm;
d) Đồ dùng thờ cúng thông thường
theo tập quán ở địa phương;
đ) Công cụ lao động cần thiết,
có giá trị không lớn được dùng làm phương tiện sinh sống chủ yếu hoặc duy nhất
của người phải thi hành án và gia đình;
e) Đồ dùng sinh hoạt cần thiết
cho người phải thi hành án và gia đình.
3. Tài sản sau đây của người phải
thi hành án là doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ:
a) Số thuốc phục vụ việc phòng,
chữa bệnh cho người lao động; lương thực, thực phẩm, dụng cụ và tài sản khác phục
vụ bữa ăn cho người lao động;
b) Nhà trẻ, trường học, cơ sở y
tế và thiết bị, phương tiện, tài sản khác thuộc các cơ sở này, nếu không phải
là tài sản để kinh doanh;
c) Trang thiết bị, phương tiện,
công cụ bảo đảm an toàn lao động, phòng, chống cháy nổ, phòng, chống ô nhiễm
môi trường.
Điều 88.
Thực hiện việc kê biên
1. Trước khi kê biên tài sản là
bất động sản ít nhất là 03 ngày làm việc, Chấp hành viên thông báo cho đại diện
chính quyền cấp xã hoặc đại diện tổ dân phố nơi tổ chức cưỡng chế, đương sự,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, tài sản kê biên,
trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc
thi hành án.
Trường hợp đương sự vắng mặt
thì có thể uỷ quyền cho người khác thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình. Trường
hợp đã được thông báo hợp lệ mà đương sự hoặc người được uỷ quyền vắng mặt thì
Chấp hành viên vẫn tiến hành việc kê biên, nhưng phải mời người làm chứng và
ghi rõ vào nội dung biên bản kê biên. Trường hợp không mời được người làm chứng
thì Chấp hành viên vẫn tiến hành việc kê biên nhưng phải ghi rõ vào nội dung
biên bản kê biên.
Khi kê biên đồ vật, nhà ở, công
trình kiến trúc nếu vắng mặt người phải thi hành án hoặc người đang quản lý, sử
dụng tài sản đó mà phải mở khóa, phá khóa, mở gói thì Chấp hành viên thực hiện
theo quy định tại Điều 93 của Luật này.
2. Việc kê biên tài sản phải lập
biên bản. Biên bản phải ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm kê biên, họ, tên Chấp hành
viên, đương sự hoặc người được ủy quyền, người lập biên bản, người làm chứng và
người có liên quan đến tài sản; diễn biến của việc kê biên; mô tả tình trạng từng
tài sản, yêu cầu của đương sự và ý kiến của người làm chứng.
Biên bản kê biên có chữ ký của
đương sự hoặc người được ủy quyền, người làm chứng, đại diện chính quyền cấp xã
hoặc đại diện tổ dân phố nơi tổ chức cưỡng chế, Chấp hành viên và người lập
biên bản.
Điều 89.
Kê biên tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc
đăng ký giao dịch bảo đảm
1. Trước khi kê biên tài sản là
quyền sử dụng đất, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc đăng ký giao dịch bảo
đảm theo quy định của pháp luật, Chấp hành viên yêu cầu cơ quan đăng ký cung cấp
thông tin về tài sản, giao dịch đã đăng ký.
2. Sau khi kê biên, Chấp hành
viên thông báo bằng văn bản cho cơ quan đăng ký về việc kê biên tài sản đó để xử
lý theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Luật này.
Điều 90.
Kê biên, xử lý tài sản đang cầm cố, thế chấp
1. Trường hợp người phải thi
hành án không còn tài sản nào khác hoặc có tài sản nhưng không đủ để thi hành
án, Chấp hành viên có quyền kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án
đang cầm cố, thế chấp nếu giá trị của tài sản đó lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm
và chi phí cưỡng chế thi hành án.
2. Khi kê biên tài sản đang cầm
cố, thế chấp, Chấp hành viên phải thông báo ngay cho người nhận cầm cố, nhận thế
chấp; khi xử lý tài sản kê biên, người nhận cầm cố, nhận thế chấp được ưu tiên
thanh toán theo quy định tại khoản 3 Điều 47 của Luật này.
Điều 91.
Kê biên tài sản của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ
Trường hợp xác định người thứ
ba đang giữ tài sản của người phải thi hành án, kể cả trường hợp tài sản được
xác định bằng bản án, quyết định khác thì Chấp hành viên ra quyết định kê biên
tài sản đó để thi hành án; trường hợp người thứ ba không tự nguyện giao tài sản
thì Chấp hành viên cưỡng chế buộc họ phải giao tài sản để thi hành án.
Trường hợp tài sản kê biên đang
cho thuê thì người thuê được tiếp tục thuê theo hợp đồng đã giao kết.
Điều 92.
Kê biên vốn góp
1. Chấp hành viên yêu cầu cá
nhân, cơ quan, tổ chức nơi người phải thi hành án có vốn góp cung cấp thông tin
về phần vốn góp của người phải thi hành án để kê biên phần vốn góp đó. Trong
trường hợp cần thiết, Chấp hành viên yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác định phần
vốn góp của người phải thi hành án; trưng cầu tổ chức, cá nhân có chuyên môn
xác định phần giá trị vốn góp của người phải thi hành án để cưỡng chế thi hành
án.
2. Đương sự có quyền yêu cầu
Tòa án xác định phần vốn góp của người phải thi hành án.
Điều 93.
Kê biên đồ vật bị khóa, đóng gói
Khi kê biên đồ vật đang bị khóa
hoặc đóng gói thì Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang sử
dụng, quản lý đồ vật mở khóa, mở gói; nếu họ không mở hoặc cố tình vắng mặt thì
Chấp hành viên tự mình hoặc có thể thuê cá nhân, tổ chức khác mở khóa, phá khóa
hoặc mở gói, trong trường hợp này phải có người làm chứng. Người phải thi hành
án phải chịu thiệt hại do việc mở khóa, phá khóa, mở gói.
Trường hợp cần thiết, sau khi mở
khóa, phá khóa, mở gói, Chấp hành viên niêm phong đồ vật và giao bảo quản theo
quy định tại Điều 58 của Luật này.
Việc mở khóa, phá khóa, mở gói
hoặc niêm phong phải lập biên bản, có chữ ký của những người tham gia và người
làm chứng.
Điều 94.
Kê biên tài sản gắn liền với đất
Khi kê biên tài sản là công
trình xây dựng gắn liền với đất phải kê biên cả quyền sử dụng đất, trừ trường hợp
quyền sử dụng đất không được kê biên theo quy định của pháp luật hoặc việc tách
rời tài sản kê biên và đất không làm giảm đáng kể giá trị tài sản đó.
Điều 95.
Kê biên nhà ở
1. Việc kê biên nhà ở là nơi ở
duy nhất của người phải thi hành án và gia đình chỉ được thực hiện sau khi xác
định người đó không có các tài sản khác hoặc có nhưng không đủ để thi hành án,
trừ trường hợp người phải thi hành án đồng ý kê biên nhà ở để thi hành án.
2. Khi kê biên nhà ở phải kê
biên cả quyền sử dụng đất gắn liền với nhà ở. Trường hợp nhà ở gắn liền với đất
thuộc quyền sử dụng của người khác thì Chấp hành viên chỉ kê biên nhà ở và quyền
sử dụng đất để thi hành án nếu người có quyền sử dụng đất đồng ý. Trường hợp
người có quyền sử dụng đất không đồng ý thì chỉ kê biên nhà ở của người phải
thi hành án, nếu việc tách rời nhà ở và đất không làm giảm đáng kể giá trị căn
nhà.
3. Khi kê biên nhà ở của người
phải thi hành án đang cho thuê, cho ở nhờ thì Chấp hành viên phải thông báo
ngay cho người đang thuê, đang ở nhờ biết.
Trường hợp tài sản kê biên là
nhà ở, cửa hàng đang cho thuê được bán đấu giá mà thời hạn thuê hoặc thời hạn
lưu cư vẫn còn thì người thuê có quyền tiếp tục được thuê hoặc lưu cư theo quy
định của Bộ luật Dân sự.
4. Việc kê biên nhà ở bị
khóa được thực hiện theo quy định tại Điều 93 của Luật này.
Điều 96.
Kê biên phương tiện giao thông
1. Trường hợp kê biên phương tiện
giao thông của người phải thi hành án, Chấp hành viên yêu cầu người phải thi
hành án, người đang quản lý, sử dụng phương tiện đó phải giao giấy đăng ký phương
tiện đó, nếu có.
2. Đối với phương tiện giao
thông đang được khai thác sử dụng thì sau khi kê biên Chấp hành viên có thể thu
giữ hoặc giao cho người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tiếp tục
khai thác sử dụng, bảo quản nhưng không được chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp.
Trường hợp giao cho người phải
thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tiếp tục khai thác sử dụng phương tiện
giao thông thì Chấp hành viên cấp cho người đó biên bản thu giữ giấy đăng ký để
phương tiện được phép tham gia giao thông.
3. Chấp hành viên có quyền yêu
cầu cơ quan có thẩm quyền cấm chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp, cho thuê hoặc hạn
chế giao thông đối với phương tiện bị kê biên.
4. Việc kê biên đối với tàu
bay, tàu biển để thi hành án được thực hiện theo quy định của pháp luật về bắt
giữ tàu bay, tàu biển.
Điều 97.
Kê biên hoa lợi
Trường hợp người phải thi hành
án có tài sản mang lại hoa lợi, Chấp hành viên kê biên hoa lợi đó để bảo đảm
thi hành án. Đối với hoa lợi là lương thực, thực phẩm thì khi kê biên, Chấp
hành viên phải để lại một phần để người phải thi hành án và gia đình họ sinh sống
theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 87 của Luật này.
Điều 98. Định
giá tài sản kê biên
1. Ngay khi kê biên tài sản mà
đương sự thỏa thuận được về giá tài sản hoặc về tổ chức thẩm định giá thì Chấp
hành viên lập biên bản về thỏa thuận đó. Giá tài sản do đương sự thỏa thuận là
giá khởi điểm để bán đấu giá. Trường hợp đương sự có thỏa thuận về tổ chức thẩm
định giá thì Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức thẩm định giá đó.
2. Trong thời hạn 05 ngày làm
việc, kể từ ngày kê biên tài sản, Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ với tổ chức
thẩm định giá trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có tài sản
kê biên trong các trường hợp sau đây:
a) Đương sự không thỏa thuận được
về giá và không thỏa thuận được việc lựa chọn tổ chức thẩm định giá;
b) Tổ chức thẩm định giá do
đương sự lựa chọn từ chối việc ký hợp đồng dịch vụ;
c) Thi hành phần bản án, quyết
định quy định tại khoản 1 Điều 36 của Luật này.
3. Chấp hành viên xác định giá
trong các trường hợp sau đây:
a) Không thực hiện được việc ký
hợp đồng dịch vụ quy định tại khoản 2 Điều này;
b) Tài sản kê biên thuộc loại
tươi sống, mau hỏng hoặc có giá trị nhỏ mà đương sự không thỏa thuận được với
nhau về giá. Chính phủ quy định về tài sản có giá trị nhỏ.
Điều 99. Định
giá lại tài sản kê biên
1. Việc định giá lại tài sản kê
biên được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Chấp hành viên có vi phạm
nghiêm trọng quy định tại Điều 98 của Luật này dẫn đến sai
lệch kết quả định giá tài sản;
b)[58] Đương sự có yêu cầu định giá lại trước khi có thông báo
công khai về việc bán đấu giá tài sản. Yêu cầu định giá lại chỉ được thực hiện
một lần và chỉ được chấp nhận nếu đương sự có đơn yêu cầu trong thời hạn 05
ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo về kết quả thẩm định giá và phải
nộp ngay tạm ứng chi phí định giá lại tài sản.
2. Việc định giá lại tài sản kê
biên được thực hiện theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều
98 của Luật này.
3.[59] Giá thẩm định lại được lấy làm giá khởi điểm để bán đấu
giá theo quy định.
Điều 100.
Giao tài sản để thi hành án
1. Trường hợp đương sự thỏa thuận
để người được thi hành án nhận tài sản đã kê biên để trừ vào số tiền được thi
hành án thì Chấp hành viên lập biên bản về việc thỏa thuận.
Trường hợp có nhiều người được
thi hành án thì người nhận tài sản phải được sự đồng ý của những người được thi
hành án khác và phải thanh toán lại cho những người được thi hành án khác số tiền
tương ứng tỷ lệ giá trị mà họ được hưởng.
2. Việc giao tài sản để trừ vào
số tiền được thi hành án được thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ
ngày có thỏa thuận.
Điều 101.
Bán tài sản đã kê biên
1. Tài sản đã kê biên được bán
theo các hình thức sau đây:
a) Bán đấu giá;
b) Bán không qua thủ tục đấu
giá.
2. Việc bán đấu giá đối với tài
sản kê biên là động sản có giá trị từ trên 10.000.000 đồng và bất động sản do tổ
chức bán đấu giá thực hiện.
Đương sự có quyền thỏa thuận về
tổ chức bán đấu giá trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày định
giá. Chấp hành viên ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản với tổ chức bán đấu
giá do đương sự thỏa thuận. Trường hợp đương sự không thỏa thuận được thì Chấp
hành viên lựa chọn tổ chức bán đấu giá để ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản.
Việc ký hợp đồng dịch vụ bán đấu
giá tài sản được tiến hành trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày định giá.
Việc bán đấu giá đối với động sản
phải được thực hiện trong thời hạn là 30 ngày, đối với bất động sản là 45 ngày,
kể từ ngày ký hợp đồng.
3. Chấp hành viên bán đấu giá
tài sản kê biên trong các trường hợp sau đây:
a) Tại tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương nơi có tài sản chưa có tổ chức bán đấu giá hoặc có nhưng tổ chức bán
đấu giá từ chối ký hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản;
b) Động sản có giá trị từ
2.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Việc bán đấu giá đối với động sản
phải được thực hiện trong thời hạn là 30 ngày, đối với bất động sản là 45 ngày,
kể từ ngày định giá hoặc từ ngày nhận được văn bản của tổ chức bán đấu giá từ
chối bán đấu giá.
4. Chấp hành viên bán không qua
thủ tục bán đấu giá đối với tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng hoặc tài sản
tươi sống, mau hỏng.
Việc bán tài sản phải được thực
hiện trong thời hạn không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày kê biên.
5. Trước khi mở cuộc bán đấu
giá 01 ngày làm việc, người phải thi hành án có quyền nhận lại tài sản nếu nộp
đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phí thực tế, hợp lý đã phát sinh từ
việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá.
Người phải thi hành án có trách
nhiệm hoàn trả phí tổn thực tế, hợp lý cho người đăng ký mua tài sản. Mức phí tổn
do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
6. Thủ tục bán đấu giá được thực
hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản.
Điều 102.
Hủy kết quả bán đấu giá tài sản[60]
1. Việc hủy kết quả bán đấu giá
tài sản được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản; trường
hợp kết quả bán đấu giá tài sản bị hủy thì việc xử lý tài sản để thi hành án được
thực hiện theo quy định của Luật này.
2. Người mua được tài sản bán đấu
giá, Chấp hành viên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về
kết quả bán đấu giá tài sản, nếu có căn cứ chứng minh có vi phạm trong quá
trình bán đấu giá tài sản.
3. Việc xử lý hậu quả và bồi
thường thiệt hại do kết quả bán đấu giá tài sản bị hủy được giải quyết theo quy
định của pháp luật.
Điều 103.
Bảo vệ quyền của người mua tài sản bán đấu giá, người nhận tài sản để thi hành
án[61]
1. Người mua được tài sản bán đấu
giá, người nhận tài sản để thi hành án được bảo vệ quyền sở hữu, sử dụng đối với
tài sản đó.
2. Trường hợp người mua được tài
sản bán đấu giá đã nộp đủ tiền mua tài sản bán đấu giá nhưng bản án, quyết định
bị kháng nghị, sửa đổi hoặc bị hủy thì cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục giao
tài sản, kể cả thực hiện việc cưỡng chế thi hành án để giao tài sản cho người
mua được tài sản bán đấu giá, trừ trường hợp kết quả bán đấu giá bị hủy theo
quy định của pháp luật hoặc đương sự có thỏa thuận khác.
3. Việc cưỡng chế giao tài sản
cho người mua được tài sản bán đấu giá, người nhận tài sản để thi hành án thực
hiện theo quy định tại các điều 114, 115, 116
và 117 của Luật này.
Điều 104.
Xử lý tài sản không có người tham gia đấu giá, bán đấu giá không thành[62]
1. Trong thời hạn 05 ngày làm
việc, kể từ ngày nhận được thông báo của tổ chức bán đấu giá về việc tài sản
đưa ra bán đấu giá lần đầu nhưng không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc
bán đấu giá không thành thì Chấp hành viên thông báo và yêu cầu đương sự thỏa
thuận về mức giảm giá tài sản.
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ
ngày nhận được thông báo, nếu đương sự không thỏa thuận hoặc thỏa thuận không
được về mức giảm giá thì Chấp hành viên quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục
bán đấu giá.
2. Từ sau lần giảm giá thứ hai
trở đi mà không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành
thì người được thi hành án có quyền nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi
hành án.
Trường hợp người được thi hành
án đồng ý nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án, trong thời hạn 10
ngày, kể từ ngày nhận được thông báo về việc không có người tham gia đấu giá,
trả giá hoặc bán đấu giá không thành thì Chấp hành viên thông báo cho người phải
thi hành án biết.
Trong thời hạn 30 ngày, kể từ
ngày người phải thi hành án nhận được thông báo về việc người được thi hành án
đồng ý nhận tài sản để thi hành án, nếu người phải thi hành án không nộp đủ số
tiền thi hành án và chi phí thi hành án để lấy lại tài sản đưa ra bán đấu giá
thì Chấp hành viên giao tài sản cho người được thi hành án. Đối với tài sản là
bất động sản, động sản phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng thì Chấp hành viên ra
quyết định giao tài sản cho người được thi hành án để làm thủ tục đăng ký, cấp
giấy chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng tài sản đó cho người được thi hành án.
Người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tài sản không tự nguyện giao
tài sản cho người được thi hành án thì bị cưỡng chế thi hành án.
3. Trường hợp người được thi
hành án không đồng ý nhận tài sản để thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định
giảm giá tài sản để tiếp tục bán đấu giá. Nếu giá trị tài sản đã giảm bằng hoặc
thấp hơn chi phí cưỡng chế mà người được thi hành án vẫn không nhận để trừ vào
số tiền được thi hành án thì tài sản được giao lại cho người phải thi hành án
quản lý, sử dụng. Người phải thi hành án không được đưa tài sản này tham gia
các giao dịch dân sự cho đến khi họ thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án.
4. Đối với tài sản bán đấu giá
để thi hành các khoản nộp ngân sách nhà nước, trong thời hạn 10 ngày, kể từ
ngày nhận được thông báo về việc tài sản đưa ra bán đấu giá nhưng không có người
tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành thì Chấp hành viên quyết
định giảm giá để tiếp tục bán đấu giá tài sản.
5. Mỗi lần giảm giá theo quy định
tại các khoản 1, 3 và 4 Điều này không quá 10% giá khởi điểm của lần bán đấu
giá liền kề trước đó.
Điều 105.
Giải tỏa kê biên tài sản
1. Việc giải tỏa kê biên tài sản
được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Đương sự thỏa thuận về việc
giải tỏa kê biên tài sản mà không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người
thứ ba;
b) Đương sự đã thực hiện xong nghĩa
vụ thi hành án và các chi phí thi hành án theo quy định của Luật này;
c) Có quyết định của người có
thẩm quyền hủy bỏ quyết định kê biên tài sản;
d) Có quyết định đình chỉ thi
hành án theo quy định tại Điều 50 của Luật này.
2. Chấp hành viên ra quyết định
giải tỏa kê biên và trả lại tài sản cho người phải thi hành án trong thời hạn
05 ngày làm việc, kể từ ngày có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 106.
Đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng tài sản
1. Người mua được tài sản thi hành
án, người nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án được pháp luật công
nhận và bảo vệ quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản đó.
2. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền
có trách nhiệm làm thủ tục đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng cho người mua,
người nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án. Cơ quan thi hành án dân
sự có trách nhiệm cung cấp đầy đủ những văn bản, giấy tờ quy định tại khoản 3 Điều
này cho người mua tài sản thi hành án, người nhận tài sản để trừ vào số tiền được
thi hành án.
3.[63] Hồ sơ đăng ký chuyển quyền sở hữu, sử dụng gồm có:
a) Văn bản đề nghị của cơ quan
thi hành án dân sự;
b) Bản sao bản án, quyết định;
c) Quyết định thi hành án;
d) Quyết định kê biên tài sản,
nếu có;
đ) Văn bản bán đấu giá thành hoặc
quyết định giao tài sản, biên bản giao nhận tài sản để thi hành án;
e) Giấy tờ khác có liên quan đến
tài sản.
4.[64] Trường hợp tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền
với đất mà đủ điều kiện nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận lần đầu thì cơ quan
thi hành án có trách nhiệm đề nghị cơ quan có thẩm quyền thực hiện cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất lần đầu cho người
mua được tài sản thi hành án, người nhận tài sản thi hành án theo quy định của
pháp luật.
Trường hợp tài sản là quyền sử
dụng đất, tài sản gắn liền với đất đã được cấp giấy chứng nhận mà không thu hồi
được giấy chứng nhận đã cấp thì cơ quan thi hành án có trách nhiệm đề nghị cơ
quan có thẩm quyền thực hiện thu hồi hoặc hủy giấy chứng nhận đã cấp và cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho người
mua được tài sản thi hành án, người nhận tài sản thi hành án theo quy định của
pháp luật.
5.[65] Đối với tài sản không thuộc trường hợp quy định tại khoản
4 Điều này mà không có giấy tờ đăng ký hoặc không thu hồi được giấy tờ đăng ký
thì cơ quan có thẩm quyền đăng ký có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận đăng ký
quyền sở hữu, sử dụng tài sản.
6.[66] Giấy tờ được cấp mới thay thế cho giấy tờ không thu hồi
được. Giấy tờ không thu hồi được không còn giá trị.
Mục 7. CƯỠNG
CHẾ KHAI THÁC ĐỐI VỚI TÀI SẢN
Điều 107.
Cưỡng chế khai thác đối với tài sản để thi hành án
1. Chấp hành viên cưỡng chế
khai thác tài sản của người phải thi hành án trong các trường hợp sau đây:
a) Tài sản của người phải thi
hành án có giá trị quá lớn so với nghĩa vụ phải thi hành và tài sản đó có thể
khai thác để thi hành án;
b) Người được thi hành án đồng
ý cưỡng chế khai thác tài sản để thi hành án nếu việc khai thác tài sản không ảnh
hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba.
2. Chấp hành viên phải ra quyết
định cưỡng chế khai thác tài sản. Quyết định ghi rõ hình thức khai thác; số tiền,
thời hạn, thời điểm, địa điểm, phương thức nộp tiền cho cơ quan thi hành án dân
sự để thi hành án.
Quyết định cưỡng chế khai thác
tài sản phải được gửi ngay cho cơ quan có thẩm quyền quản lý, đăng ký đối với
tài sản đó và Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản.
Việc thực hiện giao dịch, chuyển
giao quyền sở hữu tài sản đối với tài sản đang khai thác phải được sự đồng ý của
Chấp hành viên.
Điều 108.
Hình thức cưỡng chế khai thác tài sản để thi hành án
Tài sản của người phải thi hành
án bị cưỡng chế khai thác để thi hành án theo các hình thức sau đây:
1. Tài sản mà người phải thi
hành án đang trực tiếp khai thác hoặc cho người khác khai thác thì người đang
khai thác được tiếp tục khai thác.
Trường hợp tài sản, bao gồm cả
quyền sử dụng đất mà chưa khai thác thì Chấp hành viên yêu cầu người phải thi
hành án ký hợp đồng khai thác tài sản với tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác
tài sản.
2. Người khai thác tài sản quy
định tại khoản 1 Điều này phải nộp số tiền thu được từ việc khai thác tài sản
cho cơ quan thi hành án dân sự, sau khi trừ các chi phí cần thiết.
3. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ
ngày yêu cầu mà người phải thi hành án không ký hợp đồng khai thác với người
khác thì Chấp hành viên kê biên, xử lý tài sản đó để thi hành án.
Điều 109.
Chấm dứt việc cưỡng chế khai thác tài sản
1. Chấp hành viên ra quyết định
chấm dứt việc cưỡng chế khai thác tài sản trong các trường hợp sau đây:
a) Việc khai thác tài sản không
hiệu quả hoặc làm cản trở đến việc thi hành án;
b) Người phải thi hành án, người
khai thác tài sản thực hiện không đúng yêu cầu của Chấp hành viên về việc khai
thác tài sản;
c) Người phải thi hành án đã thực
hiện xong nghĩa vụ thi hành án và các chi phí về thi hành án;
d) Có quyết định đình chỉ thi
hành án.
2. Trường hợp việc cưỡng chế
khai thác tài sản chấm dứt theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này
thì Chấp hành viên tiếp tục kê biên và xử lý tài sản đó để thi hành án.
Trường hợp việc cưỡng chế khai
thác tài sản chấm dứt theo quy định tại điểm c và điểm d khoản 1 Điều này thì
trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có quyết định, Chấp hành viên ra
quyết định giải tỏa việc cưỡng chế khai thác tài sản và trả lại tài sản cho người
phải thi hành án.
Mục 8. CƯỠNG
CHẾ ĐỐI VỚI TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Điều 110.
Quyền sử dụng đất được kê biên, bán đấu giá để thi hành án
1. Chấp hành viên chỉ kê biên
quyền sử dụng đất của người phải thi hành án thuộc trường hợp được chuyển quyền
sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai.
2. Người phải thi hành án chưa
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà thuộc trường hợp được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai hoặc thuộc diện
quy hoạch phải thu hồi đất, nhưng chưa có quyết định thu hồi đất thì vẫn được
kê biên, xử lý quyền sử dụng đất đó.
Điều 111.
Kê biên quyền sử dụng đất
1. Khi kê biên quyền sử dụng đất,
Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án, người đang quản lý giấy tờ về
quyền sử dụng đất phải nộp các giấy tờ đó cho cơ quan thi hành án dân sự.
2. Khi kê biên quyền sử dụng đất
có tài sản gắn liền với đất thuộc quyền sở hữu của người phải thi hành án thì
kê biên cả quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.
Trường hợp đất của người phải
thi hành án có tài sản gắn liền với đất mà tài sản đó thuộc quyền sở hữu của
người khác thì Chấp hành viên chỉ kê biên quyền sử dụng đất và thông báo cho
người có tài sản gắn liền với đất.
3. Việc kê biên quyền sử dụng đất
phải lập biên bản ghi rõ vị trí, diện tích, ranh giới thửa đất được kê biên, có
chữ ký của những người tham gia kê biên.
Điều 112.
Tạm giao quản lý, khai thác, sử dụng diện tích đất đã kê biên
1. Trường hợp diện tích đất đã
kê biên đang do người phải thi hành án quản lý, khai thác, sử dụng thì Chấp
hành viên tạm giao diện tích đất đã kê biên cho người đó.
Trường hợp diện tích đất đã kê
biên đang do tổ chức hoặc cá nhân khác quản lý, khai thác, sử dụng thì tạm giao
cho tổ chức, cá nhân đó.
2. Trường hợp người phải thi
hành án hoặc tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 1 Điều này không nhận thì Chấp
hành viên tạm giao diện tích đất đã kê biên cho tổ chức, cá nhân khác quản lý,
khai thác, sử dụng. Trường hợp không có tổ chức, cá nhân nào nhận thì cơ quan
thi hành án dân sự tiến hành ngay việc định giá và bán đấu giá theo quy định của
pháp luật.
3. Việc tạm giao quản lý, khai
thác, sử dụng đất đã kê biên phải được lập biên bản, trong đó ghi rõ:
a) Diện tích, loại đất, vị trí,
số thửa đất, số bản đồ;
b) Hiện trạng sử dụng đất;
c) Thời hạn tạm giao quản lý,
khai thác, sử dụng đất;
d) Quyền và nghĩa vụ cụ thể của
người được tạm giao quản lý, khai thác, sử dụng đất.
4. Trong thời hạn tạm giao quản
lý, khai thác, sử dụng đất đã kê biên, người được tạm giao không được chuyển đổi,
chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, để thừa kế, thế chấp, hoặc góp
vốn bằng quyền sử dụng đất; không được làm thay đổi hiện trạng sử dụng đất;
không được sử dụng đất trái mục đích.
Điều 113.
Xử lý tài sản gắn liền với đất đã kê biên
1. Trường hợp tài sản gắn liền
với đất đã kê biên thuộc sở hữu của người khác thì xử lý như sau:
a) Đối với tài sản có trước khi
người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án thì Chấp hành viên yêu
cầu người có tài sản tự nguyện di chuyển tài sản để trả quyền sử dụng đất cho
người phải thi hành án. Trường hợp người có tài sản không tự nguyện di chuyển
tài sản thì Chấp hành viên hướng dẫn cho người có tài sản và người phải thi
hành án thỏa thuận bằng văn bản về phương thức giải quyết tài sản. Trong thời hạn
15 ngày, kể từ ngày hướng dẫn mà họ không thỏa thuận được thì Chấp hành viên xử
lý tài sản đó cùng với quyền sử dụng đất để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của
người phải thi hành án và người có tài sản gắn liền với đất.
Trường hợp người có tài sản là
người thuê đất hoặc nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của người phải thi hành
án mà không hình thành pháp nhân mới thì người có tài sản được quyền tiếp tục
ký hợp đồng thuê đất, hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất với người trúng đấu
giá, người nhận quyền sử dụng đất trong thời hạn còn lại của hợp đồng mà họ đã
ký kết với người phải thi hành án. Trường hợp này, trước khi xử lý quyền sử dụng
đất, Chấp hành viên có trách nhiệm thông báo cho người tham gia đấu giá, người
được đề nghị nhận quyền sử dụng đất về quyền được tiếp tục ký hợp đồng của người
có tài sản gắn liền với đất;
b) Đối với tài sản có sau khi
người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án thì Chấp hành viên yêu
cầu người có tài sản tự nguyện di chuyển tài sản để trả lại quyền sử dụng đất
cho người phải thi hành án. Sau thời hạn 15 ngày, kể từ ngày yêu cầu, mà người
có tài sản không di chuyển tài sản hoặc tài sản không thể di chuyển được thì Chấp
hành viên xử lý tài sản đó cùng với quyền sử dụng đất.
Đối với tài sản có sau khi kê
biên, nếu người có tài sản không di chuyển tài sản hoặc tài sản không thể di
chuyển được thì tài sản phải bị tháo dỡ. Chấp hành viên tổ chức việc tháo dỡ
tài sản, trừ trường hợp người nhận quyền sử dụng đất hoặc người trúng đấu giá
quyền sử dụng đất đồng ý mua tài sản;
c) Người có tài sản gắn liền với
đất của người phải thi hành án được hoàn trả tiền bán tài sản, nhận lại tài sản,
nếu tài sản bị tháo dỡ nhưng phải chịu các chi phí về kê biên, định giá, bán đấu
giá, tháo dỡ tài sản.
2. Trường hợp tài sản thuộc sở
hữu của người phải thi hành án gắn liền với quyền sử dụng đất đã kê biên thì Chấp
hành viên xử lý tài sản cùng với quyền sử dụng đất.
3. Đối với tài sản là cây trồng,
vật nuôi ngắn ngày chưa đến mùa thu hoạch hoặc tài sản đang trong quy trình sản
xuất khép kín chưa kết thúc thì sau khi kê biên, Chấp hành viên chỉ tiến hành xử
lý khi đến mùa thu hoạch hoặc khi kết thúc quy trình sản xuất khép kín.
Mục 9. CƯỠNG
CHẾ TRẢ VẬT, GIẤY TỜ, CHUYỂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Điều 114.
Thủ tục cưỡng chế trả vật
1. Đối với vật đặc định, việc
cưỡng chế được thực hiện như sau:
a) Chấp hành viên yêu cầu người
phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng trả vật cho người được thi hành
án; nếu người đó không thi hành thì Chấp hành viên thu hồi vật để trả cho người
được thi hành án;
b) Trường hợp vật phải trả giảm
giá trị mà người được thi hành án không đồng ý nhận thì Chấp hành viên hướng dẫn
đương sự thỏa thuận việc thi hành án. Việc thi hành án được thực hiện theo thỏa
thuận.
Trường hợp đương sự không thỏa
thuận được thì Chấp hành viên cưỡng chế trả vật cho người được thi hành án.
Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về thiệt hại do vật phải
trả bị giảm giá trị;
c)[67] Trường hợp vật không còn hoặc bị hư hỏng đến mức không
sử dụng được mà đương sự có thỏa thuận khác về việc thi hành án thì Chấp hành
viên thi hành theo thỏa thuận.
Trường hợp đương sự không thỏa
thuận được thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về thiệt hại do vật
phải trả không còn hoặc hư hỏng đến mức không sử dụng được.
2. Đối với vật cùng loại thì Chấp
hành viên thực hiện việc cưỡng chế theo nội dung bản án, quyết định.
Trường hợp vật phải trả không
còn hoặc hư hỏng, giảm giá trị thì Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành
án trả vật cùng loại hoặc thanh toán giá trị của vật cùng loại, trừ trường hợp
đương sự có thỏa thuận khác.
3. Trường hợp người phải thi
hành án, người đang quản lý, sử dụng vật phải trả có thể tẩu tán, hủy hoại vật
đó thì Chấp hành viên có quyền áp dụng ngay biện pháp bảo đảm thi hành án quy định
tại Điều 68 của Luật này.
Điều 115.
Cưỡng chế trả nhà, giao nhà
1. Trường hợp người phải thi
hành án có nghĩa vụ trả nhà thì Chấp hành viên buộc người phải thi hành án và
những người khác có mặt trong nhà ra khỏi nhà, đồng thời yêu cầu họ tự chuyển
tài sản ra khỏi nhà; nếu họ không tự nguyện thực hiện thì Chấp hành viên yêu cầu
lực lượng cưỡng chế đưa họ cùng tài sản ra khỏi nhà.
Trường hợp họ từ chối nhận tài
sản, Chấp hành viên phải lập biên bản ghi rõ số lượng, chủng loại, tình trạng từng
loại tài sản và giao tài sản cho tổ chức, cá nhân có điều kiện bảo quản hoặc bảo
quản tại kho của cơ quan thi hành án dân sự và thông báo địa điểm, thời gian để
người có tài sản nhận lại tài sản.
2. Trường hợp người phải thi
hành án cố tình vắng mặt mặc dù đã được thông báo quyết định cưỡng chế thì Chấp
hành viên thực hiện việc cưỡng chế theo quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Hết thời hạn 03 tháng, kể từ
ngày thông báo theo quy định tại khoản 1 Điều này mà người có tài sản bảo quản
không đến nhận thì tài sản đó được xử lý theo quy định tại khoản
2 Điều 126 của Luật này, trừ trường hợp có lý do chính đáng.
4. Việc cưỡng chế để trả lại
công trình xây dựng, vật kiến trúc theo bản án, quyết định được thực hiện theo
quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này.
5. Trường hợp cưỡng chế giao
nhà là nhà ở duy nhất của người phải thi hành án cho người mua được tài sản bán
đấu giá, nếu xét thấy sau khi thanh toán các khoản nghĩa vụ thi hành án mà người
phải thi hành án không còn đủ tiền để thuê nhà hoặc tạo lập nơi ở mới thì trước
khi làm thủ tục chi trả cho người được thi hành án, Chấp hành viên trích lại từ
số tiền bán tài sản một khoản tiền để người phải thi hành án thuê nhà phù hợp với
giá thuê nhà trung bình tại địa phương trong thời hạn 01 năm. Nghĩa vụ thi hành
án còn lại được tiếp tục thực hiện theo quy định của Luật này.
Điều 116.
Cưỡng chế giao, trả giấy tờ[68]
1. Trường hợp người phải thi
hành án không giao, trả giấy tờ cho người được thi hành án theo nội dung bản
án, quyết định thì Chấp hành viên cưỡng chế buộc người phải thi hành án giao,
trả giấy tờ đó.
Trường hợp xác định người thứ
ba đang giữ giấy tờ phải giao, trả thì Chấp hành viên yêu cầu người đó giao, trả
giấy tờ đang giữ, nếu người thứ ba không tự nguyện giao, trả thì Chấp hành viên
cưỡng chế buộc người đó giao, trả giấy tờ để thi hành án.
2. Trường hợp giấy tờ không thể
thu hồi được nhưng có thể cấp lại thì Chấp hành viên yêu cầu cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền ra quyết định hủy giấy tờ đó và cấp giấy tờ mới cho người được
thi hành án, người trúng đấu giá tài sản thi hành án.
3. Trường hợp không thu hồi được
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất và giấy tờ về tài sản khác thì thực hiện theo quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 106 của Luật này.
4. Trường hợp giấy tờ không thể
thu hồi và cũng không thể cấp lại thì việc thi hành án được xử lý theo quy định
tại Điều 44a của Luật này.
Điều 117.
Cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất
1. Trường hợp bản án, quyết định
tuyên nghĩa vụ chuyển giao quyền sử dụng đất thì Chấp hành viên tổ chức giao diện
tích đất cho người được thi hành án.
Khi tiến hành giao đất phải có
sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cùng cấp và Ủy
ban nhân dân cấp xã nơi có đất được chuyển giao.
2. Việc xử lý tài sản gắn liền
với đất được chuyển giao thực hiện theo quy định sau đây:
a) Trường hợp tài sản gắn liền
với đất hình thành sau khi có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì Chấp
hành viên yêu cầu người có tài sản đó tháo dỡ hoặc chuyển tài sản ra khỏi diện
tích đất phải chuyển giao cho người được thi hành án. Nếu người có tài sản
không thực hiện thì Chấp hành viên cưỡng chế tháo dỡ hoặc chuyển tài sản ra khỏi
diện tích đất phải chuyển giao, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác. Chi
phí cưỡng chế do người có tài sản chịu.
Trường hợp người có tài sản gắn
liền với đất từ chối nhận tài sản thì Chấp hành viên lập biên bản ghi rõ số lượng,
chủng loại, tình trạng từng loại tài sản, giao tài sản cho tổ chức, cá nhân có điều
kiện bảo quản hoặc bảo quản tại kho của cơ quan thi hành án dân sự và thông báo
địa điểm, thời gian để người có tài sản nhận lại tài sản.
Hết thời hạn thông báo mà người
có tài sản không đến nhận thì tài sản được xử lý theo quy định tại Điều 126 của Luật này;
b) Trường hợp tài sản gắn liền
với đất có trước khi có bản án, quyết định sơ thẩm nhưng bản án, quyết định được
thi hành không tuyên rõ việc xử lý đối với tài sản đó thì cơ quan thi hành án
dân sự yêu cầu Tòa án đã ra bản án, quyết định giải thích rõ việc xử lý đối với
tài sản hoặc đề nghị Tòa án có thẩm quyền xem xét lại nội dung bản án theo thủ
tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
3. Việc cưỡng chế giao quyền sử
dụng đất cho người trúng đấu giá hoặc cho người nhận quyền sử dụng đất để trừ
vào số tiền được thi hành án được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều này.
Mục 10.
CƯỠNG CHẾ THI HÀNH NGHĨA VỤ BUỘC THỰC HIỆN HOẶC KHÔNG ĐƯỢC THỰC HIỆN CÔNG VIỆC
NHẤT ĐỊNH
Điều 118.
Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc thực hiện công việc nhất định
1. Trường hợp thi hành nghĩa vụ
phải thực hiện công việc nhất định theo bản án, quyết định mà người phải thi
hành án không thực hiện thì Chấp hành viên quyết định phạt tiền và ấn định thời
hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người đó thực hiện
nghĩa vụ thi hành án.
2. Hết thời hạn đã ấn định mà
người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ thi hành án thì Chấp hành viên
xử lý như sau:
a) Trường hợp công việc đó có
thể giao cho người khác thực hiện thay thì Chấp hành viên giao cho người có điều
kiện thực hiện; chi phí thực hiện do người phải thi hành án chịu;
b) Trường hợp công việc đó phải
do chính người phải thi hành án thực hiện thì Chấp hành viên đề nghị cơ quan có
thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.
Điều 119.
Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ không được thực hiện công việc nhất định
Người phải thi hành án không tự
nguyện chấm dứt việc thực hiện công việc mà theo bản án, quyết định không được
thực hiện thì Chấp hành viên ra quyết định phạt tiền đối với người đó, trong
trường hợp cần thiết có thể yêu cầu họ khôi phục hiện trạng ban đầu. Trường hợp
người đó vẫn không chấm dứt công việc không được làm, không khôi phục lại hiện
trạng ban đầu thì Chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách
nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.
Điều 120.
Cưỡng chế giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản
án, quyết định
1. Chấp hành viên ra quyết định
buộc giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết
định. Trước khi cưỡng chế giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi
dưỡng, Chấp hành viên phối hợp với chính quyền địa phương, tổ chức chính trị -
xã hội tại địa phương đó thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án.
2. Trường hợp người phải thi
hành án hoặc người đang trông giữ người chưa thành niên không giao người chưa
thành niên cho người được giao nuôi dưỡng thì Chấp hành viên ra quyết định phạt
tiền, ấn định thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để
người đó giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng. Hết thời hạn
đã ấn định mà người đó không thực hiện thì Chấp hành viên tiến hành cưỡng chế
buộc giao người chưa thành niên hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu
trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.
Điều 121.
Cưỡng chế buộc nhận người lao động trở lại làm việc
1. Trường hợp người sử dụng lao
động không nhận người lao động trở lại làm việc theo bản án, quyết định thì Chấp
hành viên ra quyết định phạt tiền đối với người sử dụng lao động là cá nhân hoặc
người đứng đầu cơ quan, tổ chức sử dụng lao động, đồng thời ấn định thời hạn 10
ngày, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người sử dụng lao động thực hiện việc
nhận người lao động trở lại làm việc. Hết thời hạn đã ấn định mà người sử dụng
lao động không thực hiện thì Chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý
kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án.
2. Trường hợp không thể bố trí
người lao động trở lại làm công việc theo nội dung bản án, quyết định thì người
sử dụng lao động phải bố trí công việc khác với mức tiền lương tương đương theo
quy định của pháp luật lao động.
Trường hợp người lao động không
chấp nhận công việc được bố trí và yêu cầu người sử dụng lao động thanh toán
các chế độ theo quy định của pháp luật lao động thì người sử dụng lao động phải
thực hiện việc thanh toán để chấm dứt nghĩa vụ thi hành án.
3. Người sử dụng lao động phải
thanh toán cho người lao động khoản tiền lương trong thời gian chưa bố trí được
công việc theo bản án, quyết định, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến
khi người lao động được nhận trở lại làm việc hoặc được giải quyết theo quy định
tại khoản 2 Điều này.
Chương V
THI HÀNH ÁN TRONG MỘT SỐ
TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ
Mục 1. THI
HÀNH KHOẢN TỊCH THU SUNG QUỸ NHÀ NƯỚC; TIÊU HUỶ TÀI SẢN; HOÀN TRẢ TIỀN, TÀI SẢN
KÊ BIÊN, TẠM GIỮ TRONG BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH HÌNH SỰ
Điều 122.
Chuyển giao vật chứng, tài sản tạm giữ kèm theo bản án, quyết định
1. Vật chứng, tài sản tạm giữ
trong bản án, quyết định hình sự do yêu cầu phục vụ việc xét xử mà chưa được
chuyển cho cơ quan thi hành án dân sự trong giai đoạn truy tố, xét xử theo quy
định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì phải chuyển giao cho cơ quan thi hành án
dân sự tại thời điểm Tòa án chuyển giao bản án, quyết định.
2. Việc giao, nhận vật chứng,
tài sản tạm giữ được tiến hành tại kho của cơ quan thi hành án dân sự. Bên giao
có trách nhiệm vận chuyển vật chứng, tài sản tạm giữ đến kho của cơ quan thi
hành án dân sự.
Đối với vật chứng, tài sản tạm
giữ không thể vận chuyển, di dời về bảo quản tại kho của cơ quan thi hành án
dân sự thì địa điểm giao nhận vật chứng, tài sản tạm giữ là nơi đang gửi, giữ
hoặc nơi đang có tài sản.
3. Việc tiếp nhận tài sản phải
có sự tham gia đầy đủ của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự hoặc người được
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự uỷ quyền, thủ kho, kế toán.
Điều 123.
Thủ tục tiếp nhận vật chứng, tài sản tạm giữ
Việc tiếp nhận vật chứng, tài sản
tạm giữ được tiến hành theo thủ tục sau đây:
1. Thủ kho có trách nhiệm trực
tiếp nhận, kiểm tra hiện trạng vật chứng, tài sản tạm giữ và nhập kho thi hành
án. Việc giao nhận vật chứng, tài sản tạm giữ phải được lập biên bản ghi rõ giờ,
ngày, tháng, năm giao nhận; số lượng, chủng loại, hiện trạng của từng loại vật
chứng, tài sản tạm giữ, có so sánh với biên bản thu giữ ban đầu của cơ quan
Công an hoặc Tòa án. Cơ quan thi hành án dân sự chỉ tiếp nhận tài sản đủ và
đúng với hiện trạng ghi trong biên bản thu giữ ban đầu. Trong trường hợp vật chứng,
tài sản tạm giữ giao, nhận đã bị thay đổi so với biên bản thu giữ ban đầu thì
Thủ trưởng cơ quan bên giao, bên nhận có trách nhiệm kiểm tra, kết luận và cơ
quan thi hành án dân sự chỉ nhận khi đã được các cơ quan có thẩm quyền làm rõ về
những thay đổi đó.
Biên bản giao, nhận vật chứng,
tài sản tạm giữ phải có chữ ký của người đại diện và dấu của cơ quan bên nhận,
chữ ký của người đại diện và dấu của cơ quan bên giao, nếu có.
2. Trường hợp vật chứng, tài sản
tạm giữ được bàn giao dưới hình thức gói niêm phong, cơ quan thi hành án dân sự
chỉ nhận khi có kết quả giám định rõ số lượng, chủng loại, chất lượng của từng
loại vật chứng, tài sản tạm giữ trong gói niêm phong đó của cơ quan có thẩm quyền.
Đối với vật chứng, tài sản tạm giữ là các chất ma tuý, cơ quan thi hành án dân
sự chỉ nhận dưới hình thức gói niêm phong kèm theo kết luận giám định của cơ
quan có thẩm quyền.
Khi giao, nhận phải lập biên bản
ghi rõ hiện trạng của vật chứng, tài sản được niêm phong, có chữ ký của bên
giao, bên nhận. Trường hợp niêm phong bị rách hoặc có dấu hiệu khả nghi trên đó
thì cơ quan thi hành án dân sự chỉ tiếp nhận khi có kết luận giám định của cơ
quan có thẩm quyền.
Điều 124.
Xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ bị tuyên tịch thu, sung quỹ nhà nước
1. Đối với vật chứng, tài sản tạm
giữ mà bản án, quyết định tuyên tịch thu, sung quỹ nhà nước thì trong thời hạn
10 ngày, kể từ ngày ra quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải
thông báo bằng văn bản và tiến hành giao vật chứng, tài sản tạm giữ đó cho cơ
quan tài chính cùng cấp. Đối với tài sản tịch thu, sung quỹ nhà nước do cơ quan
thi hành án cấp quân khu thi hành thì chuyển cho cơ quan tài chính cấp tỉnh nơi
cơ quan thi hành án cấp quân khu có trụ sở.
Chi phí xử lý vật chứng, tài sản
tạm giữ bị tuyên tịch thu, sung quỹ nhà nước do cơ quan tài chính nơi nhận vật
chứng, tài sản tạm giữ chi trả theo quy định của pháp luật.
2. Khi chuyển giao vật chứng,
tài sản tạm giữ phải kèm theo quyết định thi hành án, bản án, quyết định hoặc bản
sao bản án, quyết định do cơ quan thi hành án dân sự sao y bản chính.
3. Việc chuyển giao vật chứng,
tài sản tạm giữ phải có sự tham gia của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự
hoặc người được Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự uỷ quyền, kế toán, thủ
kho và đại diện cơ quan tài chính. Việc giao, nhận vật chứng, tài sản tạm giữ
được lập biên bản, mô tả cụ thể thực trạng vật chứng, tài sản tạm giữ, có chữ
ký của người đại diện và dấu của cơ quan bên giao, chữ ký của người đại diện và
dấu của cơ quan bên nhận, nếu có.
4. Trường hợp quyết định tịch
thu vật chứng, tài sản tạm giữ đã được thi hành nhưng sau đó phát hiện có sai lầm
và đã được cơ quan có thẩm quyền ra quyết định hủy bỏ quyết định tịch thu thì
cơ quan thi hành án dân sự phối hợp với cơ quan tài chính cùng cấp hoặc cơ quan
tài chính cấp tỉnh nơi cơ quan thi hành án cấp quân khu có trụ sở để làm thủ tục
hoàn trả lại số tiền đã nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.
Điều 125.
Tiêu hủy vật chứng, tài sản
1. Trong thời hạn 01 tháng, kể
từ ngày ra quyết định thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải
ra quyết định thành lập Hội đồng tiêu hủy vật chứng, tài sản thuộc diện tiêu hủy
theo bản án, quyết định, trừ trường hợp pháp luật quy định phải tiêu hủy
ngay.
2. Hội đồng tiêu hủy vật chứng,
tài sản gồm Chấp hành viên là Chủ tịch Hội đồng, đại diện cơ quan tài chính
cùng cấp là thành viên, đại diện cơ quan chuyên môn tham gia Hội đồng khi cần
thiết.
3. Viện kiểm sát cùng cấp kiểm
sát việc tuân theo pháp luật trong việc tiêu hủy vật chứng, tài sản.
Điều 126.
Trả lại tiền, tài sản tạm giữ cho đương sự
1. Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự ra quyết định trả lại tiền, tài sản tạm giữ trong trường hợp bản án,
quyết định tuyên trả lại tài sản cho đương sự.
Trường hợp người được trả lại
tiền, tài sản tạm giữ đồng thời là người phải thi hành nghĩa vụ trả tiền không
tự nguyện thi hành án thì Chấp hành viên xử lý tiền, tài sản đó để thi hành án.
2. Sau khi có quyết định trả lại
tiền, tài sản tạm giữ, Chấp hành viên thông báo cho đương sự thời gian, địa điểm
nhận lại tiền, tài sản.
Hết thời hạn 15 ngày, kể từ
ngày được thông báo mà đương sự không đến nhận tiền thì Chấp hành viên gửi số
tiền đó theo hình thức tiết kiệm không kỳ hạn và thông báo cho đương sự.
Hết thời hạn 03 tháng, kể từ
ngày được thông báo nhưng đương sự không đến nhận tài sản mà không có lý do
chính đáng thì Chấp hành viên xử lý tài sản theo quy định tại các điều 98, 99 và 101 của Luật này và gửi số tiền thu được theo
hình thức tiết kiệm không kỳ hạn, đồng thời thông báo cho đương sự.
Hết thời hạn 05 năm, kể từ ngày
bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật mà đương sự vẫn không đến nhận số tiền
đã được gửi tiết kiệm mà không có lý do chính đáng thì cơ quan thi hành án dân
sự làm thủ tục sung quỹ nhà nước.
3. Đối với tài sản không bán được
hoặc bị hư hỏng không còn giá trị sử dụng thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án
dân sự phải ra quyết định tiêu hủy và tổ chức tiêu hủy tài sản theo quy định tại
Điều 125 của Luật này.
Đối với giấy tờ liên quan đến
tài sản, nhân thân của đương sự thì hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày thông báo nếu
đương sự không đến nhận, Chấp hành viên làm thủ tục chuyển giao cho cơ quan đã
ban hành giấy tờ đó xử lý theo quy định.
4. Trường hợp tài sản trả lại
là tiền Việt Nam, ngoại tệ bị hư hỏng không còn sử dụng được do lỗi của các cơ
quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án dân sự trong quá trình bảo quản và
đương sự từ chối nhận thì cơ quan thi hành án dân sự đề nghị Ngân hàng nhà nước
đổi tiền mới có giá trị tương đương để trả cho đương sự.
Đối với tài sản là tiền Việt
Nam, ngoại tệ bị hư hỏng không còn sử dụng được không do lỗi của các cơ quan tiến
hành tố tụng, cơ quan thi hành án dân sự mà đương sự từ chối nhận thì cơ quan
thi hành án dân sự giao cho Ngân hàng nhà nước xử lý theo quy định của pháp luật.
5. Việc trả lại tiền tạm ứng án
phí theo bản án, quyết định được thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2, 3
và 4 Điều này.
Điều 127.
Xử lý tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành án
Chấp hành viên xử lý theo quy định
tại các điều 98, 99, 100 và 101 của Luật
này đối với tài sản mà bản án, quyết định tuyên kê biên để bảo đảm thi hành
án trong trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án.
Điều 128.
Thu án phí, tiền phạt và các khoản phải thu khác đối với người phải thi hành án
đang chấp hành hình phạt tù
1. Giám thị trại giam, trại tạm
giam nơi người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù thu các khoản tiền,
tài sản mà người phải thi hành án, thân nhân của người phải thi hành án nộp để
thi hành án và chuyển cho cơ quan thi hành án dân sự xử lý theo quy định của
pháp luật.
2. Trường hợp người phải thi
hành án chuyển trại giam, trại tạm giam hoặc được đặc xá, được miễn chấp hành
hình phạt tù hoặc chết thì Giám thị trại giam, trại tạm giam nơi người đó chấp
hành hình phạt tù phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan thi hành án dân sự.
Điều 129.
Thủ tục trả lại tiền, tài sản cho người được thi hành án đang chấp hành hình phạt
tù
1. Chấp hành viên gửi thông báo,
quyết định về việc nhận lại tiền, tài sản cho người được thi hành án đang chấp
hành hình phạt tù thông qua Giám thị trại giam, trại tạm giam.
Trường hợp người được thi hành
án uỷ quyền cho người khác nhận tiền, tài sản thì văn bản uỷ quyền phải có xác
nhận của Giám thị trại giam, trại tạm giam. Chấp hành viên trả tiền, tài sản
cho người được uỷ quyền.
2. Trường hợp người được thi
hành án có yêu cầu và được nhận tiền, tài sản tại nơi đang chấp hành hình phạt
tù theo quy định của pháp luật thì Chấp hành viên gửi tiền, tài sản cho người
đó thông qua Giám thị trại giam, trại tạm giam. Chi phí cho việc gửi tiền, tài
sản do người được thi hành án chịu. Khi giao tiền, tài sản cho đương sự, Giám
thị trại giam, trại tạm giam lập biên bản và gửi cho cơ quan thi hành án dân sự.
3. Trường hợp người được thi
hành án đang chấp hành hình phạt tù từ chối nhận lại tiền, tài sản bằng văn bản
có xác nhận của Giám thị trại giam, trại tạm giam thì Chấp hành viên xử lý tiền,
tài sản để sung quỹ nhà nước hoặc tiêu hủy theo quy định của Luật này.
Mục 2. THI
HÀNH QUYẾT ĐỊNH ÁP DỤNG BIỆN PHÁP KHẨN CẤP TẠM THỜI
Điều 130.
Thủ tục thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
1. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ
khi nhận được quyết định thi hành án, Chấp hành viên phải áp dụng ngay các biện
pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế sau đây:
a) Biện pháp cưỡng chế quy định
tại các điều 118, 119, 120 và 121 của Luật
này để bảo đảm thi hành quyết định về cấm hoặc buộc đương sự thực hiện hành
vi nhất định; giao người chưa thành niên cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom,
nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; tạm đình chỉ quyết định sa thải người lao động;
b) Biện pháp cưỡng chế quy định
tại các khoản 1, 2, 3 và 5 Điều 71 của Luật này để bảo đảm
thi hành quyết định về buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng; buộc
thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị
xâm phạm; buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền công, tiền bồi
thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động;
c) Biện pháp cưỡng chế quy định
tại Điều 75 của Luật này để đảm bảo thi hành biện pháp khẩn
cấp tạm thời quy định về kê biên tài sản đang tranh chấp.
d) Biện pháp bảo đảm quy định tại
các điều 66, 67, 68 và 69 của Luật này
để bảo đảm thi hành quyết định về cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài
sản đang tranh chấp; cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp; phong tỏa
tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác; phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ;
phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ;
đ) Biện pháp cưỡng chế quy định
tại khoản 3 Điều 71 và các điều 98, 99,
100 và 101 của Luật này để bảo đảm thi hành quyết định về
cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm hàng hóa khác.
2. Trường hợp người phải thi
hành án cư trú hoặc có tài sản ở địa phương khác thì tùy từng trường hợp cụ thể,
Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định uỷ thác cho cơ quan thi
hành án dân sự nơi người đó cư trú hoặc nơi có tài sản tổ chức thi hành quyết định
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Điều 131.
Thi hành quyết định thay đổi, áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời
1. Trường hợp nhận được quyết định
thay đổi hoặc áp dụng bổ sung quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của
Tòa án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra ngay quyết định thi hành án, đồng
thời thu hồi quyết định thi hành án đối với quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp
tạm thời đã bị thay đổi.
2. Trường hợp quyết định áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời bị thay đổi đã thi hành được một phần hoặc đã thi
hành xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thông báo cho Tòa án và giải
thích cho đương sự quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
Điều 132.
Đình chỉ thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
1. Trường hợp Tòa án hủy bỏ quyết
định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì ngay sau khi nhận được quyết định
của Tòa án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ thi
hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Trong thời hạn 24 giờ, kể từ
khi có quyết định đình chỉ thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm
thời, Chấp hành viên làm thủ tục giải tỏa kê biên, trả lại tài sản, giải tỏa việc
phong tỏa tài sản hoặc tài khoản của người có nghĩa vụ.
2. Trường hợp quyết định áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời bị Tòa án hủy bỏ, nhưng cơ quan thi hành án dân sự
đã thi hành được một phần hoặc thi hành xong thì việc giải quyết quyền lợi của
đương sự được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 131 của Luật
này.
Điều 133.
Chi phí thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án
1. Chí phí thi hành quyết định
áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án được tạm ứng từ ngân sách nhà nước
và thực hiện theo quy định tại Điều 73 của Luật này.
Trường hợp người yêu cầu Tòa án
ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng thì người đó phải
thanh toán các chi phí thực tế do việc thi hành quyết định đó. Khoản tiền đặt
trước được đối trừ, tài sản bảo đảm bị xử lý để thanh toán nghĩa vụ.
2. Trường hợp Tòa án tự mình áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì chi phí thi hành án được thanh toán từ
ngân sách nhà nước.
Mục 3. THI
HÀNH QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM, TÁI THẨM
Điều 134.
Thi hành quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên giữ nguyên bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật
Trường hợp quyết định giám đốc
thẩm, tái thẩm tuyên giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mà
bản án, quyết định đó chưa thi hành hoặc đã thi hành được một phần thì Thủ trưởng
cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án. Trường hợp bản
án, quyết định đó đã thi hành xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự
thông báo cho Tòa án đã ra quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm, Viện kiểm sát
cùng cấp và đương sự.
Điều 135.
Thi hành quyết định giám đốc thẩm tuyên giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp
luật của Tòa án cấp dưới đã bị hủy hoặc bị sửa
1. Trường hợp quyết định giám đốc
thẩm tuyên giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp dưới đã
bị hủy hoặc bị sửa thì việc thi hành được thực hiện theo quyết định giám đốc thẩm
và bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp dưới đã bị hủy hoặc bị sửa.
2. Đối với phần bản án, quyết định
của Tòa án cấp dưới không bị hủy, bị sửa mà chưa được thi hành thì Thủ trưởng
cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định tiếp tục thi hành án; nếu đã thi hành
xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thông báo cho Tòa án đã ra quyết
định giám đốc thẩm, Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự.
3. Đối với phần bản án, quyết định
của Tòa án hủy, sửa bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới mà đã thi hành được
một phần hoặc đã thi hành xong thì đương sự có thể thỏa thuận với nhau về việc
hoàn trả tài sản, phục hồi lại quyền tài sản.
Trường hợp tài sản thi hành án
là động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản còn nguyên trạng thì cưỡng
chế trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu.
Trường hợp tài sản đã được chuyển
dịch hợp pháp cho người thứ ba chiếm hữu ngay tình thông qua bán đấu giá hoặc
giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản
do bản án, quyết định bị hủy, sửa hoặc tài sản thi hành án đã bị thay đổi hiện
trạng thì chủ sở hữu tài sản ban đầu không được lấy lại tài sản nhưng được bồi
hoàn giá trị của tài sản.
Trường hợp có yêu cầu về bồi
thường thiệt hại thì cơ quan ra bản án, quyết định bị hủy, sửa giải quyết theo
quy định của pháp luật.
Điều 136.
Thi hành quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm tuyên hủy bản án, quyết định đã có
hiệu lực pháp luật
1. Trường hợp quyết định giám đốc
thẩm, tái thẩm tuyên hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử
sơ thẩm lại hoặc xét xử phúc thẩm lại thì việc thi hành án được thực hiện theo
bản án, quyết định sơ thẩm mới có hiệu lực pháp luật hoặc bản án phúc thẩm mới.
2. Trường hợp quyết định giám đốc
thẩm, tái thẩm tuyên hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án
đã xét xử vụ án và đình chỉ giải quyết vụ án mà phần tài sản trong bản án, quyết
định bị hủy đã thi hành được một phần hoặc đã thi hành xong thì thực hiện theo
quy định tại khoản 3 Điều 135 của Luật này.
Mục 4. THI
HÀNH QUYẾT ĐỊNH VỀ PHÁ SẢN
Điều 137.
Tạm đình chỉ, đình chỉ và khôi phục thi hành án đối với người phải thi hành án
là doanh nghiệp, hợp tác xã bị lâm vào tình trạng phá sản
1. Sau khi nhận được văn bản của
Tòa án thông báo về việc thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Thủ trưởng cơ
quan thi hành án dân sự ra quyết định tạm đình chỉ đối với các trường hợp thi
hành về tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã là người phải thi hành án theo quy
định tại khoản 2 Điều 49 của Luật này.
Sau khi ra quyết định tạm đình
chỉ thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thông báo cho Tòa án
đang giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản về kết quả thi hành án đối với doanh
nghiệp, hợp tác xã bị lâm vào tình trạng phá sản.
2.[69] Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định
đình chỉ việc thi hành án về tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã là người phải
thi hành án lâm vào tình trạng phá sản ngay sau khi nhận được quyết định của
Tòa án về việc mở thủ tục phá sản.
Việc tiếp tục thi hành nghĩa vụ
về tài sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là người phải thi hành án trong trường
hợp này thực hiện theo quy định của Luật Phá sản. Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự có trách nhiệm chỉ đạo Chấp hành viên bàn giao cho Tòa án các tài liệu
thi hành án có liên quan đến việc tiếp tục thi hành nghĩa vụ về tài sản của
doanh nghiệp, hợp tác xã bị lâm vào tình trạng phá sản.
3. Trong thời hạn 05 ngày làm
việc, kể từ ngày ra quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản hoặc đình chỉ
thủ tục phục hồi kinh doanh, Thẩm phán tiến hành thủ tục phá sản phải gửi quyết
định đó kèm theo toàn bộ hồ sơ liên quan đến việc thi hành án cho cơ quan thi
hành án dân sự đã ra quyết định đình chỉ việc thi hành án về tài sản mà doanh
nghiệp, hợp tác xã là người phải thi hành án lâm vào tình trạng phá sản.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc,
kể từ ngày nhận được quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản hoặc đình chỉ
thủ tục phục hồi kinh doanh, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định
thu hồi quyết định đình chỉ thi hành án và tiếp tục thi hành án đối với phần
nghĩa vụ về tài sản còn phải thi hành đã đình chỉ đối với doanh nghiệp, hợp tác
xã và phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành vụ việc theo quy định của Luật
này.
Điều 138.[70] (được
bãi bỏ)
Điều 139.[71] (được
bãi bỏ)
Chương VI
KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ
KHÁNG NGHỊ VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Mục 1. KHIẾU
NẠI VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Điều 140.
Quyền khiếu nại về thi hành án
1. Đương sự, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan có quyền khiếu nại đối với quyết định, hành vi của Thủ trưởng
cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên nếu có căn cứ cho rằng quyết định,
hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
2. Thời hiệu khiếu nại đối với
quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên
như sau:
a) Đối với quyết định, hành vi
về thi hành án trước khi áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế là 15
ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc biết được hành vi đó;
b) Đối với quyết định về áp dụng
biện pháp phong tỏa tài khoản là 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định;
Đối với quyết định, hành vi về
áp dụng biện pháp bảo đảm khác là 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc
biết được hành vi đó;
c) Đối với quyết định, hành vi
về áp dụng biện pháp cưỡng chế là 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc
biết được hành vi đó;
d) Đối với quyết định, hành vi
sau khi áp dụng biện pháp cưỡng chế là 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định
hoặc biết được hành vi đó.
Trường hợp do trở ngại khách
quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà người khiếu nại không thực hiện được quyền
khiếu nại theo đúng thời hạn thì thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện
bất khả kháng không tính vào thời hạn khiếu nại.
Lần khiếu nại tiếp theo, thời
hiệu là 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại của người
có thẩm quyền.
Điều 141.
Những trường hợp khiếu nại không được thụ lý giải quyết
1. Quyết định, hành vi bị khiếu
nại không liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại.
2. Người khiếu nại không có
năng lực hành vi dân sự đầy đủ mà không có người đại diện hợp pháp, trừ trường
hợp pháp luật có quy định khác.
3. Người đại diện không có giấy
tờ chứng minh về việc đại diện hợp pháp của mình.
4. Thời hiệu khiếu nại đã hết.
5. Việc khiếu nại đã có quyết định
giải quyết khiếu nại có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 và điểm b khoản 7 Điều 142 của Luật này.
Điều 142.
Thẩm quyền giải quyết khiếu nại về thi hành án
1. Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự cấp huyện giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi trái pháp
luật của Chấp hành viên thuộc quyền quản lý của cơ quan thi hành án dân sự cấp
huyện.
2. Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự cấp tỉnh giải quyết đối với các khiếu nại sau đây:
a) Khiếu nại quyết định, hành
vi trái pháp luật của Chấp hành viên thuộc quyền quản lý của cơ quan thi hành
án dân sự cấp tỉnh;
b) Khiếu nại quyết định, hành
vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện;
c) Khiếu nại đối với quyết định
giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện. Quyết
định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh có
hiệu lực thi hành.
3. Thủ trưởng cơ quan quản lý
thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp giải quyết đối với các khiếu nại sau đây:
a) Khiếu nại quyết định, hành
vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh;
b) Khiếu nại đối với quyết định
giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh. Quyết
định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc
Bộ Tư pháp có hiệu lực thi hành.
4. Bộ trưởng Bộ Tư pháp giải
quyết các khiếu nại sau đây:
a) Khiếu nại đối với quyết định
giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ
Tư pháp quy định tại điểm a khoản 3 Điều này. Quyết định giải quyết khiếu nại của
Bộ trưởng Bộ Tư pháp có hiệu lực thi hành;
b) Trường hợp cần thiết, Bộ trưởng
Bộ Tư pháp có quyền xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực
thi hành quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.
5. Thủ trưởng cơ quan thi hành
án cấp quân khu giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi trái pháp luật
của Chấp hành viên cơ quan thi hành án cấp quân khu.
6. Thủ trưởng cơ quan quản lý
thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng giải quyết các khiếu nại sau đây:
a) Khiếu nại đối với quyết định,
hành vi trái pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu;
b) Khiếu nại đối với quyết định
giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu. Quyết định
giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc
phòng có hiệu lực thi hành.
7. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng giải
quyết các khiếu nại sau đây:
a) Khiếu nại đối với quyết định
giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc
phòng. Quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có hiệu lực
thi hành;
b) Trường hợp cần thiết, Bộ trưởng
Bộ Quốc phòng có quyền xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng
cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng được quy định tại điểm b khoản
6 Điều này.
Điều 143.
Quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại
1. Người khiếu nại có các quyền
sau đây:
a) Tự mình khiếu nại hoặc thông
qua người đại diện hợp pháp để khiếu nại;
b) Nhờ luật sư giúp đỡ về pháp
luật trong quá trình khiếu nại;
c) Được nhận quyết định giải
quyết khiếu nại;
d) Được biết các bằng chứng để
làm căn cứ giải quyết khiếu nại; đưa ra bằng chứng về việc khiếu nại và giải
trình ý kiến của mình về bằng chứng đó;
đ) Được khôi phục quyền, lợi
ích hợp pháp đã bị xâm phạm và được bồi thường thiệt hại, nếu có;
e) Được khiếu nại tiếp nếu
không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của người có thẩm quyền
giải quyết khiếu nại;
g) Rút khiếu nại trong bất kỳ
giai đoạn nào của quá trình giải quyết khiếu nại.
2. Người khiếu nại có các nghĩa
vụ sau đây:
a) Khiếu nại đến đúng người có
thẩm quyền giải quyết;
b) Trình bày trung thực sự việc,
cung cấp thông tin, tài liệu cho người giải quyết khiếu nại; chịu trách nhiệm
trước pháp luật về nội dung trình bày và việc cung cấp thông tin, tài liệu đó;
c) Chấp hành nghiêm chỉnh quyết
định giải quyết khiếu nại có hiệu lực thi hành và quyết định của Bộ trưởng Bộ
Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định tại điểm b khoản 4 và
điểm b khoản 7 Điều 142 của Luật này.
Điều 144.
Quyền và nghĩa vụ của người bị khiếu nại
1. Người bị khiếu nại có các
quyền sau đây:
a) Được biết các căn cứ khiếu nại
của người khiếu nại; đưa ra bằng chứng về tính hợp pháp của quyết định, hành vi
bị khiếu nại;
b) Được nhận quyết định giải
quyết khiếu nại.
2. Người bị khiếu nại có các
nghĩa vụ sau đây:
a) Giải trình về quyết định,
hành vi bị khiếu nại, cung cấp các thông tin, tài liệu liên quan khi người có
thẩm quyền giải quyết khiếu nại yêu cầu;
b) Chấp hành nghiêm chỉnh quyết
định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực thi hành và quyết định của Bộ trưởng Bộ
Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định tại điểm b khoản 4 và
điểm b khoản 7 Điều 142 của Luật này;
c) Bồi thường, bồi hoàn, khắc
phục hậu quả do quyết định, hành vi trái pháp luật của mình gây ra theo quy định
của pháp luật.
Điều 145.
Quyền và nghĩa vụ của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại
1. Người có thẩm quyền giải quyết
khiếu nại có các quyền sau đây:
a) Yêu cầu người khiếu nại, người
bị khiếu nại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cung cấp thông tin, tài liệu
liên quan đến việc khiếu nại;
b) Tạm dừng việc thực hiện quyết
định, hành vi bị khiếu nại hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tạm ngừng việc
thi hành án trong thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của Luật này, nếu
xét thấy việc thi hành án sẽ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự
hoặc ảnh hưởng đến việc giải quyết khiếu nại.
2. Người có thẩm quyền giải quyết
khiếu nại có các nghĩa vụ sau đây:
a) Tiếp nhận, giải quyết khiếu
nại đối với quyết định, hành vi bị khiếu nại;
b) Thông báo bằng văn bản về việc
thụ lý để giải quyết, gửi quyết định giải quyết cho người khiếu nại;
c) Chịu trách nhiệm trước pháp
luật về việc giải quyết khiếu nại của mình.
Điều 146.
Thời hạn giải quyết khiếu nại
1. Đối với quyết định, hành vi
quy định tại điểm a khoản 2 Điều 140 của Luật này thì thời
hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 15 ngày, lần hai là 30 ngày, kể từ ngày thụ
lý đơn khiếu nại.
2. Đối với quyết định, hành vi
quy định tại điểm b khoản 2 Điều 140 của Luật này thì thời
hạn giải quyết khiếu nại là 05 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý đơn khiếu nại.
3. Đối với quyết định, hành vi
quy định tại điểm c khoản 2 Điều 140 của Luật này thì thời
hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 30 ngày, lần hai là 45 ngày, kể từ ngày thụ
lý đơn khiếu nại.
Trường hợp cần thiết, đối với
những vụ việc có tính chất phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể
kéo dài nhưng không quá 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại.
4. Đối với quyết định, hành vi
quy định tại điểm d khoản 2 Điều 140 của Luật này thì thời
hạn giải quyết khiếu nại lần đầu là 15 ngày, lần hai là 30 ngày, kể từ ngày thụ
lý đơn khiếu nại.
5.[72] Trường hợp ở vùng sâu, vùng xa, đường sá xa xôi, đi lại
khó khăn, vụ việc có tính chất phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể
kéo dài nhưng không quá 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại.
Điều 147.
Hình thức khiếu nại
Người khiếu nại thực hiện việc
khiếu nại bằng một trong các hình thức sau đây:
1. Gửi đơn khiếu nại đến cơ
quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại. Đơn của người khiếu nại phải ghi rõ
ngày, tháng, năm khiếu nại; họ, tên, địa chỉ của người khiếu nại; họ, tên, địa
chỉ của người bị khiếu nại; nội dung khiếu nại, lý do khiếu nại và yêu cầu giải
quyết. Đơn khiếu nại phải do người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ.
2. Trình bày trực tiếp nội dung
khiếu nại tại cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại. Người có trách nhiệm
tiếp nhận việc khiếu nại phải hướng dẫn người khiếu nại viết thành đơn hoặc ghi
lại nội dung theo quy định tại khoản 1 Điều này, có chữ ký hoặc điểm chỉ của
người khiếu nại.
3. Khiếu nại thông qua người đại
diện. Người đại diện phải có giấy tờ chứng minh tính hợp pháp của việc đại diện
và việc khiếu nại phải thực hiện theo đúng thủ tục quy định tại khoản 1 và khoản
2 Điều này.
Điều 148.
Thụ lý đơn khiếu nại
Trong thời hạn 05 ngày làm việc,
kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết và không thuộc
trường hợp quy định tại Điều 141 của Luật này, người có thẩm
quyền giải quyết khiếu nại lần đầu phải thụ lý để giải quyết và thông báo bằng
văn bản cho người khiếu nại biết. Trường hợp người có thẩm quyền không thụ lý
đơn khiếu nại để giải quyết thì phải thông báo và nêu rõ lý do.
Điều 149.
Hồ sơ giải quyết khiếu nại
1. Việc giải quyết khiếu nại phải
được lập thành hồ sơ. Hồ sơ giải quyết khiếu nại gồm có:
a) Đơn khiếu nại hoặc văn bản
ghi nội dung khiếu nại;
b) Văn bản giải trình của người
bị khiếu nại;
c) Biên bản thẩm tra, xác minh,
kết luận, kết quả giám định;
d) Quyết định giải quyết khiếu
nại;
đ) Tài liệu khác có liên quan.
2. Hồ sơ giải quyết khiếu nại
phải được đánh số bút lục và được lưu giữ theo quy định của pháp luật.
Điều 150.
Trình tự giải quyết khiếu nại lần đầu
Sau khi thụ lý đơn khiếu nại,
người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiến hành xác minh, yêu cầu người bị
khiếu nại giải trình, trong trường hợp cần thiết, có thể trưng cầu giám định hoặc
tổ chức đối thoại để làm rõ nội dung khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại và
hướng giải quyết khiếu nại.
Người có thẩm quyền giải quyết
khiếu nại phải ra quyết định giải quyết khiếu nại đối với khiếu nại thuộc thẩm
quyền.
Điều 151.
Nội dung quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu
1. Ngày, tháng, năm ra quyết định.
2. Họ, tên, địa chỉ của người
khiếu nại, người bị khiếu nại.
3. Nội dung khiếu nại.
4. Kết quả xác minh nội dung
khiếu nại;
5. Căn cứ pháp luật để giải quyết
khiếu nại.
6. Kết luận nội dung khiếu nại
là đúng, đúng một phần hoặc sai toàn bộ.
7. Giữ nguyên, sửa đổi, hủy bỏ
hoặc yêu cầu sửa đổi, hủy bỏ một phần quyết định, hành vi bị khiếu nại hoặc buộc
chấm dứt việc thực hiện quyết định, hành vi bị khiếu nại.
8. Việc bồi thường thiệt hại,
khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trái pháp luật gây ra.
9. Hướng dẫn quyền khiếu nại lần
hai của đương sự.
Điều 152.
Thủ tục giải quyết khiếu nại lần hai
1. Trường hợp tiếp tục khiếu nại
thì người khiếu nại phải gửi đơn kèm theo bản sao quyết định giải quyết khiếu nại
lần đầu và tài liệu liên quan cho người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần
hai.
2. Trong quá trình giải quyết
khiếu nại lần hai, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại có các quyền được
quy định tại Điều 145 của Luật này và có quyền yêu cầu người
giải quyết khiếu nại lần đầu, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp
thông tin, tài liệu và những bằng chứng liên quan đến nội dung khiếu nại; triệu
tập người bị khiếu nại, người khiếu nại để tổ chức đối thoại khi cần thiết; xác
minh; trưng cầu giám định, tiến hành các biện pháp khác theo quy định của pháp
luật để giải quyết khiếu nại. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khi nhận được yêu cầu
phải thực hiện đúng các yêu cầu đó.
Người có thẩm quyền giải quyết
khiếu nại lần hai phải ra quyết định giải quyết khiếu nại.
Điều 153.
Nội dung quyết định giải quyết khiếu nại lần hai
1. Ngày, tháng, năm ra quyết định.
2. Họ, tên, địa chỉ của người
khiếu nại, người bị khiếu nại.
3. Nội dung khiếu nại.
4. Kết quả xác minh nội dung
khiếu nại.
5. Căn cứ pháp luật để giải quyết
khiếu nại.
6. Kết luận về nội dung khiếu nại
và việc giải quyết của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu.
7. Giữ nguyên, sửa đổi, hủy bỏ
hoặc yêu cầu sửa đổi, hủy bỏ một phần quyết định, hành vi bị khiếu nại hoặc buộc
chấm dứt thực hiện quyết định, hành vi bị khiếu nại.
8. Việc bồi thường thiệt hại,
khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trái pháp luật gây ra.
Mục 2. TỐ
CÁO VÀ GIẢI QUYẾT TỐ CÁO TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Điều 154.
Người có quyền tố cáo
Công dân có quyền tố cáo với cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của Thủ trưởng
cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên và công chức khác làm công tác thi
hành án dân sự gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước,
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
Điều 155.
Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo
1. Người tố cáo có các quyền
sau đây:
a) Gửi đơn hoặc trực tiếp tố
cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền;
b) Yêu cầu giữ bí mật họ, tên,
địa chỉ, bút tích của mình;
c) Yêu cầu được thông báo kết
quả giải quyết tố cáo;
d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền bảo vệ khi bị đe doạ, trù dập, trả thù.
2. Người tố cáo có các nghĩa vụ
sau đây:
a) Trình bày trung thực, cung cấp
tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo;
b) Nêu rõ họ, tên, địa chỉ của
mình;
c) Chịu trách nhiệm trước pháp
luật về việc tố cáo sai sự thật.
Điều 156.
Quyền và nghĩa vụ của người bị tố cáo
1. Người bị tố cáo có các quyền
sau đây:
a) Được thông báo về nội dung tố
cáo;
b) Đưa ra bằng chứng để chứng
minh nội dung tố cáo là không đúng sự thật;
c) Được khôi phục quyền và lợi
ích hợp pháp bị xâm phạm; được phục hồi danh dự, được bồi thường thiệt hại do
việc tố cáo không đúng gây ra;
d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá
nhân có thẩm quyền xử lý người tố cáo sai sự thật.
2. Người bị tố cáo có các nghĩa
vụ sau đây:
a) Giải trình về hành vi bị tố
cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan khi cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm
quyền yêu cầu;
b) Chấp hành nghiêm chỉnh quyết
định xử lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền;
c) Bồi thường thiệt hại, khắc
phục hậu quả do hành vi trái pháp luật của mình gây ra theo quy định của pháp
luật.
Điều 157.
Thẩm quyền, thời hạn và thủ tục giải quyết tố cáo
1. Tố cáo hành vi vi phạm pháp
luật mà người bị tố cáo thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức nào thì
người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết.
2. Trường hợp người bị tố cáo
là Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân
sự cấp trên trực tiếp hoặc Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc
Bộ Tư pháp có trách nhiệm giải quyết.
Trường hợp người bị tố cáo là
Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu thì Thủ trưởng cơ quan quản lý thi
hành án thuộc Bộ Quốc phòng có trách nhiệm giải quyết.
Thời hạn giải quyết tố cáo là
60 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết tố
cáo có thể dài hơn, nhưng không quá 90 ngày.
3. Tố cáo về hành vi vi phạm
pháp luật có dấu hiệu tội phạm được giải quyết theo quy định của Bộ luật Tố tụng
hình sự.
4. Thủ tục giải quyết tố cáo được
thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
Điều 158.
Trách nhiệm của người có thẩm quyền giải quyết tố cáo
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tiếp nhận
và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật; xử lý nghiêm minh người vi phạm; áp dụng
biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra; bảo đảm cho quyết định
giải quyết được thi hành nghiêm chỉnh và chịu trách nhiệm trước pháp luật về
quyết định của mình.
2. Người có thẩm quyền giải quyết
tố cáo mà không giải quyết, thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết, giải quyết
trái pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc
truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định
của pháp luật.
Điều 159.
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về
thi hành án dân sự
Viện kiểm sát kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân
sự theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát có quyền yêu cầu, kiến nghị đối với
cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và cấp dưới, cơ quan, tổ chức và cá nhân có
trách nhiệm để bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo có căn cứ, đúng pháp
luật.
Mục 3.
KHÁNG NGHỊ VÀ GIẢI QUYẾT KHÁNG NGHỊ VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Điều 160.
Quyền kháng nghị của Viện kiểm sát
1. Viện kiểm sát kháng nghị đối
với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành
viên cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và cấp dưới theo quy định của Luật Tổ
chức Viện kiểm sát nhân dân.
2. Thời hạn kháng nghị của Viện
kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 30 ngày,
kể từ ngày nhận được quyết định hoặc phát hiện hành vi vi phạm.
Điều 161.
Trả lời kháng nghị của Viện kiểm sát
1.[73] Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm trả
lời kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân đối với quyết định, hành vi về thi
hành án của mình hoặc của Chấp hành viên thuộc quyền quản lý trong thời hạn 15
ngày, kể từ ngày nhận được kháng nghị.
Trường hợp chấp nhận kháng nghị
của Viện kiểm sát nhân dân thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có
văn bản trả lời kháng nghị, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải thực hiện
kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân.
2. Trường hợp Thủ trưởng cơ
quan thi hành án dân sự không nhất trí với kháng nghị của Viện kiểm sát thì giải
quyết như sau:
a)[74] Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện nơi có
quyết định, hành vi bị kháng nghị phải báo cáo với Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự cấp tỉnh và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh. Thủ trưởng
cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh phải xem xét, trả lời trong thời hạn 30
ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo; văn bản trả lời của Thủ trưởng cơ quan thi
hành án dân sự cấp tỉnh có hiệu lực thi hành;
b) Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự cấp tỉnh có quyết định, hành vi bị kháng nghị phải báo cáo với Thủ
trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp và Viện kiểm sát
nhân dân tối cao. Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư
pháp xem xét và trả lời trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo.
Văn bản trả lời của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư
pháp có hiệu lực thi hành;
c) Thủ trưởng cơ quan thi hành
án cấp quân khu có quyết định, hành vi bị kháng nghị phải báo cáo với Thủ trưởng
cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng và Viện kiểm sát quân sự trung
ương. Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng phải xem xét
và trả lời trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo. Văn bản trả lời
của Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng có hiệu lực thi
hành.
3.[75] Trường hợp xét thấy văn bản trả lời kháng nghị được quy
định tại khoản 2 Điều này không có căn cứ thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân tối cao yêu cầu Bộ trưởng Bộ Tư pháp xem xét lại văn bản trả lời đã có hiệu
lực thi hành của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ
quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp; Bộ trưởng Bộ Quốc phòng xem
xét lại văn bản trả lời đã có hiệu lực thi hành của Thủ trưởng cơ quan thi hành
án cấp quân khu, Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng. Bộ
trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có trách nhiệm xem xét và trả lời bằng
văn bản cho Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong thời hạn 30 ngày,
kể từ ngày nhận được yêu cầu.
Chương
VII
XỬ LÝ VI PHẠM
Điều 162.
Hành vi vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự
1. Đã nhận giấy báo, giấy triệu
tập lần thứ hai nhưng không có mặt để thực hiện việc thi hành án mà không có lý
do chính đáng.
2. Cố tình không thực hiện quyết
định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án hoặc bản án, quyết định phải
thi hành ngay.
3. Không thực hiện công việc phải
làm hoặc không chấm dứt thực hiện công việc không được làm theo bản án, quyết định.
4. Có điều kiện thi hành án
nhưng cố tình trì hoãn việc thực hiện nghĩa vụ thi hành án.
5. Tẩu tán hoặc làm hư hỏng tài
sản để không thực hiện nghĩa vụ thi hành án hoặc để trốn tránh việc kê biên tài
sản.
6. Không thực hiện yêu cầu của
Chấp hành viên về việc cung cấp thông tin, giao giấy tờ liên quan đến tài sản bị
xử lý để thi hành án mà không có lý do chính đáng.
7. Sử dụng trái phép, tiêu
dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc thay đổi tình trạng tài sản đã kê
biên nhưng chưa tới mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
8. Chống đối, cản trở hay xúi
giục người khác chống đối, cản trở; có lời nói, hành động lăng mạ, xúc phạm người
thi hành công vụ trong thi hành án; gây rối trật tự nơi thi hành án hoặc có
hành vi vi phạm khác gây trở ngại cho hoạt động thi hành án dân sự nhưng chưa tới
mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
9. Phá hủy niêm phong hoặc hủy
hoại tài sản đã kê biên nhưng chưa tới mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
10. Không chấp hành quyết định
của Chấp hành viên về việc khấu trừ tài khoản, trừ vào thu nhập, thu hồi giấy tờ
có giá của người phải thi hành án.
Điều 163.
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
1. Những người sau đây có quyền
xử phạt vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự:
a) Chấp hành viên đang giải quyết
việc thi hành án;
b)[76] (được bãi bỏ)
c) Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự cấp huyện;
d) Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu.
đ)[77] Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ
Tư pháp; Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng.
2. Mức xử phạt vi phạm hành
chính trong thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm
hành chính.
Điều 164.
Xử phạt vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo về xử phạt vi phạm hành chính
trong thi hành án dân sự
1. Nguyên tắc xử phạt, thời hiệu
xử phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và trình tự, thủ tục xử phạt cụ thể thực
hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
2. Việc khiếu nại, tố cáo và giải
quyết khiếu nại, tố cáo trong xử phạt vi phạm hành chính về thi hành án dân sự
thực hiện theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên
quan.
Điều 165.
Xử lý vi phạm
1. Người phải thi hành án cố ý
không chấp hành bản án, quyết định; không tự nguyện thi hành các quyết định về
thi hành án thì tùy theo tính chất và mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành
chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân
không thực hiện các quyết định về thi hành án thì tùy theo tính chất và mức độ
vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường;
nếu là cá nhân thì còn có thể bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm
hình sự.
3. Người lợi dụng chức vụ, quyền
hạn cố ý cản trở việc thi hành án hoặc ép buộc Chấp hành viên thi hành án trái
pháp luật; phá hủy niêm phong, tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu, hủy
hoại vật chứng, tài sản tạm giữ, tài sản bị kê biên thì tùy theo tính chất, mức
độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây
thiệt hại thì phải bồi thường.
4. Thủ trưởng cơ quan thi hành
án dân sự cố ý không ra quyết định thi hành án hoặc ra quyết định về thi hành
án trái pháp luật; Chấp hành viên không thi hành đúng bản án, quyết định, trì
hoãn việc thi hành án, áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án trái pháp luật;
vi phạm quy chế đạo đức của Chấp hành viên thì bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu
trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của
pháp luật.
Chương
VIII
NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA
CƠ QUAN, TỔ CHỨC TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Điều 166.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ trong thi hành án dân sự
1. Thống nhất quản lý nhà nước
về thi hành án dân sự trong phạm vi cả nước.
2. Chỉ đạo các cơ quan của
Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong thi hành án dân sự.
3. Phối hợp với Tòa án nhân dân
tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong thi hành án dân sự.
4. Định kỳ hàng năm báo cáo Quốc
hội về công tác thi hành án dân sự.
Điều 167.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp trong thi hành án dân sự
1. Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm
trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về thi hành án dân sự, có các nhiệm
vụ, quyền hạn sau đây:
a) Ban hành hoặc trình cơ quan
có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự;
b) Xây dựng và tổ chức thực hiện
chính sách, kế hoạch về thi hành án dân sự;
c) Phổ biến, giáo dục pháp luật
về thi hành án dân sự;
d) Quản lý hệ thống tổ chức,
biên chế và hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự; quyết định thành lập, giải
thể các cơ quan thi hành án dân sự; đào tạo, bổ nhiệm, miễn nhiệm Chấp hành
viên, Thẩm tra viên;
đ) Hướng dẫn, chỉ đạo, bồi dưỡng
nghiệp vụ cho Chấp hành viên, Thẩm tra viên và công chức khác làm công tác thi
hành án dân sự;
e)[78] Kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, khen thưởng, xử
lý vi phạm trong công tác thi hành án dân sự;
g) Quyết định kế hoạch phân bổ
kinh phí, bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động của cơ quan thi hành án
dân sự;
h) Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực
thi hành án dân sự;
i) Tổng kết công tác thi hành
án dân sự;
k) Ban hành và thực hiện chế độ
thống kê về thi hành án dân sự;
l) Báo cáo Chính phủ về công
tác thi hành án dân sự.
2. Cơ quan quản lý thi hành án
dân sự thuộc Bộ Tư pháp giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về công tác
thi hành án dân sự và thực hiện quản lý chuyên ngành về thi hành án dân sự theo
quy định của Chính phủ.
Điều 168.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Quốc phòng trong thi hành án dân sự
1. Phối hợp với Bộ Tư pháp quản
lý nhà nước về thi hành án dân sự trong quân đội:
a) Ban hành hoặc trình cấp có
thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự trong quân
đội;
b) Bổ nhiệm, miễn nhiệm Chấp
hành viên; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ thi hành án dân sự cho Chấp hành viên,
Thẩm tra viên và nhân viên làm công tác thi hành án dân sự trong quân đội;
c) Tổng kết, báo cáo Chính phủ
về công tác thi hành án dân sự;
2. Thực hiện các nhiệm vụ sau
đây:
a) Hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ
thi hành án cho cơ quan thi hành án cấp quân khu; phổ biến, giáo dục pháp luật
về thi hành án dân sự trong quân đội;
b) Quản lý hệ thống tổ chức,
biên chế; quyết định thành lập, giải thể các cơ quan thi hành án trong quân đội;
bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân
khu; khen thưởng, kỷ luật đối với quân nhân làm công tác thi hành án trong quân
đội;
c)[79] Thanh tra việc sử dụng ngân sách, việc thực hiện chế độ
chính sách và bố trí, sử dụng cán bộ thi hành án; kiểm tra, giải quyết khiếu nại,
tố cáo, khen thưởng, xử lý vi phạm về thi hành án trong quân đội;
d) Quản lý, lập kế hoạch phân bổ
kinh phí, bảo đảm cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động thi hành án trong quân
đội.
3. Cơ quan quản lý thi hành án
thuộc Bộ Quốc phòng giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
quy định tại Điều này theo quy định của Chính phủ.
Điều 169.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Công an trong thi hành án dân sự
1. Phối hợp với Bộ Tư pháp
trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự.
2. Chỉ đạo cơ quan Công an bảo
vệ cưỡng chế thi hành án, phối hợp bảo vệ kho vật chứng của cơ quan thi hành án
dân sự trong trường hợp cần thiết.
3. Chỉ đạo trại giam, trại tạm
giam nơi người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù thu các khoản tiền,
tài sản mà người phải thi hành án, thân nhân của người phải thi hành án nộp để
thi hành án.
4. Chỉ đạo cơ quan Công an có
thẩm quyền phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự đề nghị Tòa án xét, quyết định
miễn, giảm hình phạt cho những người phải thi hành án có đủ điều kiện theo quy
định của pháp luật.
5. Phối hợp với Bộ Tư pháp
trong việc tổng kết công tác thi hành án dân sự.
Điều 170.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trong thi hành án dân sự[80]
1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa
án nhân dân tối cao:
a) Phối hợp với Bộ Tư pháp
trong việc ban hành văn bản pháp luật về thi hành án dân sự;
b) Yêu cầu cơ quan thi hành án
dân sự báo cáo kết quả thi hành bản án, quyết định trong trường hợp cần thiết;
c) Xem xét theo thủ tục tái thẩm
quyết định miễn, giảm thi hành án theo quy định của luật;
d) Giải quyết yêu cầu, kiến nghị
và chỉ đạo Tòa án các cấp giải quyết yêu cầu, kiến nghị của cơ quan thi hành án
dân sự trong thời hạn theo quy định của pháp luật;
đ) Chỉ đạo Tòa án các cấp phối
hợp với các cơ quan liên quan trong thi hành án dân sự;
e) Phối hợp với Bộ Tư pháp
trong việc tổng kết công tác thi hành án dân sự.
2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa
án quân sự trung ương:
a) Yêu cầu cơ quan thi hành án
dân sự báo cáo kết quả thi hành bản án, quyết định trong trường hợp cần thiết;
b) Trả lời kiến nghị của cơ
quan thi hành án dân sự về việc xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án theo
thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày nhận được kiến
nghị;
c) Xem xét theo thủ tục tái thẩm
quyết định miễn, giảm thi hành án theo quy định của luật.
3. Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa
án nhân dân cấp tỉnh:
a) Chuyển giao bản án, quyết định,
tài liệu và vật chứng có liên quan cho cơ quan thi hành án dân sự theo quy định
của Luật này;
b) Giải quyết kháng nghị về quyết
định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước
theo quy định của Luật này;
c) Yêu cầu cơ quan thi hành án
dân sự báo cáo kết quả thi hành bản án, quyết định trong trường hợp cần thiết;
d) Trả lời kiến nghị của cơ
quan thi hành án dân sự về việc xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án theo
thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày nhận được kiến
nghị;
đ) Giải quyết kiến nghị, yêu cầu
của cơ quan thi hành án dân sự và theo dõi kết quả xử lý sau khi Tòa án trả lời;
e) Xem xét theo thủ tục tái thẩm
quyết định miễn, giảm thi hành án theo quy định của luật.
4. Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa
án nhân dân khu vực và tương đương, Tòa án quân sự quân khu và tương đương:
a) Chuyển giao bản án, quyết định,
tài liệu và vật chứng có liên quan cho cơ quan thi hành án dân sự theo quy định
của Luật này;
b) Xem xét, quyết định việc miễn,
giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước;
c) Thụ lý và kịp thời giải quyết
yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, đương sự về việc xác định quyền sở hữu,
phân chia tài sản hoặc giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu, sử dụng tài sản;
hủy giấy tờ, giao dịch phát sinh trong quá trình thi hành án thuộc thẩm quyền của
Tòa án;
d) Giải quyết kiến nghị, yêu cầu
của cơ quan thi hành án dân sự và theo dõi kết quả xử lý sau khi Tòa án trả lời.
5. Khi xét xử lại vụ án mà bản
án, quyết định đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm,
tái thẩm, Tòa án phải giải quyết vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành theo
bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy.
Điều 171.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong thi hành án dân sự
1. Phối hợp với Bộ Tư pháp
trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án dân sự.
2. Kiểm sát và chỉ đạo Viện kiểm
sát các cấp thực hiện việc kiểm sát thi hành án dân sự theo quy định của pháp
luật.
3. Phối hợp với Bộ Tư pháp
trong việc tổng kết công tác thi hành án dân sự.
Điều 172.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Tư lệnh quân khu và tương đương trong thi hành án dân sự
1. Chỉ đạo việc tổ chức phối hợp
với các cơ quan có liên quan trong việc thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh
hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn quân khu và
tương đương theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu.
2. Yêu cầu cơ quan thi hành án
cấp quân khu báo cáo công tác, kiểm tra, thanh tra công tác thi hành án trên địa
bàn quân khu và tương đương.
3. Có ý kiến bằng văn bản về việc
bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân
khu.
4. Quyết định khen thưởng hoặc
đề nghị cấp có thẩm quyền khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích trong công
tác thi hành án dân sự.
Điều 173.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong thi hành án dân sự[81]
1. Chỉ đạo việc tổ chức phối hợp
các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự trên địa bàn; giải quyết kịp
thời những vướng mắc, khó khăn phát sinh trong việc phối hợp giữa các cơ quan
có liên quan trong thi hành án dân sự.
2. Chỉ đạo việc tổ chức cưỡng
chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật
tự an toàn xã hội ở địa phương theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan thi hành án
dân sự cấp tỉnh.
3. Có ý kiến bằng văn bản về việc
bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp
tỉnh.
4. Yêu cầu cơ quan thi hành án
dân sự cấp tỉnh báo cáo công tác thi hành án dân sự ở địa phương; cho ý kiến đối
với báo cáo của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh trước khi trình Hội đồng
nhân dân cùng cấp.
5. Yêu cầu cơ quan thi hành án
dân sự cấp tỉnh kiểm tra công tác thi hành án ở địa phương; đề nghị cơ quan quản
lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp kiểm tra công tác thi hành án dân sự ở địa
phương.
6. Quyết định khen thưởng hoặc
đề nghị cơ quan có thẩm quyền khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích trong
công tác thi hành án dân sự.
7. Kiến nghị cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền xử lý kịp thời vi phạm pháp luật về thi hành án dân sự.
Điều 174.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp huyện trong thi hành án dân sự[82]
1. Chỉ đạo việc tổ chức phối hợp
các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự trên địa bàn; giải quyết kịp
thời những vướng mắc, khó khăn phát sinh trong việc phối hợp giữa các cơ quan
có liên quan trong thi hành án dân sự.
2. Chỉ đạo việc tổ chức cưỡng
chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật
tự an toàn xã hội ở địa phương theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan thi hành án
dân sự cấp huyện.
3. Có ý kiến bằng văn bản về việc
bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp
huyện.
4. Yêu cầu cơ quan thi hành án
dân sự cấp huyện tự kiểm tra, đề nghị Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp
tỉnh kiểm tra công tác thi hành án dân sự ở địa phương.
5. Yêu cầu cơ quan thi hành án
dân sự cấp huyện báo cáo công tác thi hành án dân sự ở địa phương; cho ý kiến đối
với báo cáo của cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện trước khi trình Hội đồng
nhân dân theo quy định của pháp luật.
6. Quyết định khen thưởng hoặc
có ý kiến đề nghị cơ quan có thẩm quyền khen thưởng tập thể, cá nhân có thành
tích trong công tác thi hành án dân sự.
7. Kiến nghị cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền xử lý kịp thời vi phạm pháp luật về thi hành án dân sự.
Điều 175.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã trong thi hành án dân sự
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
xã trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phối hợp với Chấp hành viên và cơ
quan thi hành án dân sự trong việc thông báo thi hành án, xác minh điều kiện
thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án và các
nhiệm vụ khác về thi hành án dân sự trên địa bàn.
Điều 176.
Trách nhiệm của Kho bạc nhà nước, ngân hàng và tổ chức tín dụng khác trong thi
hành án dân sự
1. Cung cấp đúng, đầy đủ, kịp
thời thông tin, số liệu về tài khoản của người phải thi hành án theo yêu cầu của
Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự.
2. Thực hiện nghiêm chỉnh, kịp
thời yêu cầu của Chấp hành viên về phong tỏa tài khoản, phong tỏa tài sản; khấu
trừ tiền trong tài khoản; giải tỏa việc phong tỏa tài khoản, phong tỏa tài sản
của người phải thi hành án.
3. Thực hiện đầy đủ yêu cầu
khác của Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự theo quy định của Luật này.
Điều 177.
Trách nhiệm của Bảo hiểm xã hội trong thi hành án dân sự
1. Cung cấp đúng, đầy đủ, kịp
thời thông tin, số liệu về các khoản thu nhập của người phải thi hành án đang
được chi trả qua Bảo hiểm xã hội theo yêu cầu của Chấp hành viên, cơ quan thi
hành án dân sự.
2. Thực hiện nghiêm chỉnh, kịp
thời yêu cầu của Chấp hành viên về khấu trừ thu nhập của người phải thi hành án
để thi hành án.
3. Thực hiện đầy đủ yêu cầu
khác của Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự theo quy định của Luật này.
Điều 178.
Trách nhiệm của cơ quan đăng ký tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm trong thi
hành án dân sự
1. Tạm dừng hoặc dừng việc thực
hiện các yêu cầu liên quan đến các giao dịch đối với tài sản của người phải thi
hành án đăng ký tại cơ quan đăng ký tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm ngay sau
khi nhận được yêu cầu của Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự.
2. Thực hiện việc đăng ký quyền
sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất cho người mua được tài sản, người được thi
hành án nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án.
3. Thu hồi, sửa đổi, hủy các giấy
tờ chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đất, giấy tờ đăng ký giao dịch bảo đảm
đã cấp cho người phải thi hành án; thực hiện việc cấp mới các giấy tờ theo quy
định của pháp luật.
Điều 179.
Trách nhiệm của cơ quan ra bản án, quyết định trong thi hành án
1. Bảo đảm bản án, quyết định
đã tuyên chính xác, rõ ràng, cụ thể, phù hợp với thực tế.
2. Có văn bản giải thích những
nội dung mà bản án, quyết định tuyên chưa rõ trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày
nhận được yêu cầu của đương sự hoặc của cơ quan thi hành án dân sự.
Trường hợp vụ việc phức tạp thì
thời hạn trả lời không quá 30 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu.
3.[83] (được bãi bỏ)
4.[84] (được bãi bỏ)
Điều 180.
Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức được giao theo dõi, quản lý người đang
chấp hành án hình sự
Cơ quan, tổ chức được giao theo
dõi, quản lý người đang chấp hành án hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng
hình sự trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với
cơ quan thi hành án dân sự về các việc sau đây:
1. Giáo dục người đang chấp
hành án hình sự thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ dân sự theo bản án, quyết định của
Tòa án;
2. Cung cấp cho cơ quan thi
hành án dân sự thông tin liên quan về người phải thi hành nghĩa vụ về dân sự
đang chấp hành án hình sự; thực hiện việc thông báo giấy tờ về thi hành án dân
sự cho người phải thi hành án đang chấp hành án hình sự;
3. Phối hợp với cơ quan thi
hành án dân sự thu tiền thi hành án theo quy định của Luật này;
4. Kịp thời thông báo cho cơ
quan thi hành án dân sự về nơi cư trú của người bị kết án đã chấp hành xong
hình phạt tù, được đặc xá, được miễn chấp hành hình phạt tù.
Chương IX
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH[85]
Điều 181.
Tương trợ tư pháp về dân sự trong thi hành án
1. Việc yêu cầu nước ngoài
tương trợ tư pháp về dân sự trong thi hành án, việc tiếp nhận và xử lý uỷ thác
tư pháp về thi hành án của nước ngoài trong quá trình thi hành án được thực hiện
theo quy định của pháp luật về tương trợ tư pháp.
2. Cơ quan thi hành án dân sự
có yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp về dân sự trong thi hành án phải lập hồ
sơ uỷ thác tư pháp theo quy định của pháp luật về tương trợ tư pháp.
Điều 182.
Hiệu lực thi hành
Luật này có hiệu lực thi hành từ
ngày 01 tháng 7 năm 2009.
Pháp lệnh Thi hành án dân sự
năm 2004 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực.
Điều 183.
Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
Chính phủ, Tòa án nhân dân tối
cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình
quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật; hướng
dẫn những nội dung cần thiết khác của Luật này để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà
nước.
|
|
XÁC THỰC VĂN BẢN
HỢP NHẤT
|
|
Nơi nhận:
- Văn phòng Chính phủ (để đăng Công
báo);
- Cục KTVB và QL xử lý VPHC, Bộ TP (để đăng trên CSDL Quốc gia về VBPL);
- Vụ Thông tin, VPQH (để đăng trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội);
- Vụ Chuyển đổi số, VPQH (để đăng trên trang thông tin nội bộ Intranet)
- Lưu: HC, TH.
|
CHỦ NHIỆM
Lê Quang Tùng
|
[1] Luật
Đất đai số 31/2024/QH15 có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2025 được sửa đổi
hiệu lực thành từ ngày 01 tháng 8 năm 2024 theo quy định tại khoản 2 Điều 1 của
Luật số 43/2024/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai số
31/2024/QH15, Luật Nhà ở số 27/2023/QH15, Luật Kinh doanh bất động sản số
29/2023/QH15 và Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 8 năm 2024.
[2] Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Thi hành án dân sự có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12.”.
Luật Cạnh tranh số 23/2018/QH14
có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Cạnh
tranh.”.
Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 đã được sửa
đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 54/2014/QH13 và Luật số 18/2017/QH14.”.
Luật số 03/2022/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Đầu tư công, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác
công tư, Luật Đầu tư, Luật Nhà ở, Luật Đấu thầu, Luật Điện lực, Luật Doanh nghiệp,
Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Thi hành án dân sự có căn cứ ban hành như
sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công số 39/2019/QH14 đã được sửa đổi, bổ
sung một số điều theo Luật số 64/2020/QH14 và Luật số 72/2020/QH14; Luật Đầu tư
theo phương thức đối tác công tư số 64/2020/QH14; Luật Đầu tư số 61/2020/QH14
đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 72/2020/QH14; Luật Nhà ở số
65/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 40/2019/QH14, Luật
số 61/2020/QH14, Luật số 62/2020/QH14 và Luật số 64/2020/QH14; Luật Đấu thầu số
43/2013/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 03/2016/QH14, Luật
số 04/2017/QH14, Luật số 40/2019/QH14 và Luật số 64/2020/QH14; Luật Điện lực số
28/2004/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 24/2012/QH13 và
Luật số 28/2018/QH14; Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14; Luật Thuế tiêu thụ đặc
biệt số 27/2008/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số
70/2014/QH13, Luật số 71/2014/QH13 và Luật số 106/2016/QH13; Luật Thi hành án
dân sự số 26/2008/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số
64/2014/QH13, Luật số 23/2018/QH14 và Luật số 67/2020/QH14.”.
Luật Đất đai số 31/2024/QH15 có
căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Đất đai.”.
Luật số 43/2024/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Đất đai số 31/2024/QH15, Luật Nhà ở số 27/2023/QH15,
Luật Kinh doanh bất động sản số 29/2023/QH15 và Luật Các tổ chức tín dụng số
32/2024/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Đất đai số 31/2024/QH15, Luật Nhà ở số
27/2023/QH15, Luật Kinh doanh bất động sản số 29/2023/QH15 và Luật Các tổ chức
tín dụng số 32/2024/QH15.”.
Luật Tư pháp người chưa thành
niên số 59/2024/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật Tư pháp người chưa thành
niên.”.
Luật số 81/2025/QH15 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị
quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15.”.
Luật Thanh tra số 84/2025/QH15
có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị
quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật Thanh tra.”.
[3] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[4] Cụm
từ “của Tòa án, biện pháp xử lý chuyển hướng bồi thường thiệt hại trong quyết định
áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa
án” được bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 177 của Luật Tư pháp người
chưa thành niên số 59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[5] Cụm
từ “quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh”
được thay thế bằng cụm từ “quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy
ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, quyết định
giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh
tranh Quốc gia, Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh
tranh” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 116 của Luật Cạnh tranh số
23/2018/QH14, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2019.
[6] Điểm này được sửa đổi, bổ sung lần thứ nhất theo quy định
tại khoản 2 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015 như sau:
“Quyết định xử lý vụ việc cạnh
tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh mà sau 30 ngày, kể từ ngày có hiệu
lực pháp luật đương sự không tự nguyện thi hành, không khởi kiện tại Tòa án;”.
Điểm này được sửa đổi, bổ sung lần thứ hai theo quy
định tại điểm c khoản 1 Điều 116 của Luật Canh tranh số 23/2018/QH14, có hiệu lực
kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2019.
[7] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[8] Điểm
này được bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2015.
[9] Khoản
này được bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 177 của Luật Tư pháp người
chưa thành niên số 59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
[10] Khoản
này được bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2015.
[11] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[12] Điều
này được bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2015.
[13] Điều
này được bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2015.
[14] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[15] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 7 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[16] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 8 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[17] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 9 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[18] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 10 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[19] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 10 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[20] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 10 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[21]
Cụm từ “Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh” được thay thế bằng cụm từ “Chủ tịch
Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, Hội đồng
giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh” theo quy định tại điểm
b khoản 1 Điều 116 của Luật Cạnh tranh số 23/2018/QH14, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2019.
[22]
Cụm từ “Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh” được thay thế bằng cụm từ “Chủ tịch
Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, Hội đồng
giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh” theo quy định tại điểm
b khoản 1 Điều 116 của Luật Cạnh tranh số 23/2018/QH14, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 7 năm 2019.
[23] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 11 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[24] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 11 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[25] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 11 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[26] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 12 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[27] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 13 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[28] Điều
này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 49 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2015.
[29] Điều
này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 49 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2015.
[30] Điều
này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 49 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2015.
[31] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm a khoản 9 Điều 2 của Luật số
81/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[32] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 15 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[33] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 16 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[34] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 17 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[35] Điều
này được bổ sung theo quy định tại khoản 18 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2015.
[36] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 19 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[37] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 20 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[38] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 21 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[39] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm b khoản 9 Điều 2 của Luật số
81/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức tòa án nhân dân, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[40] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 22 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[41] Điều
này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 49 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2015.
[42] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 23 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[43] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 24 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[44] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 24 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[45] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật số
03/2022/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công, Luật Đầu tư theo
phương thức đối tác công tư, Luật Đầu tư, Luật Nhà ở, Luật Đấu thầu, Luật Điện
lực, Luật Doanh nghiệp, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Thi hành án dân sự,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2022.
[46] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật số
03/2022/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công, Luật Đầu tư
theo phương thức đối tác công tư, Luật Đầu tư, Luật Nhà ở, Luật Đấu thầu, Luật
Điện lực, Luật Doanh nghiệp, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Thi hành án
dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2022.
[47] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 9 của Luật số
03/2022/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công, Luật Đầu tư
theo phương thức đối tác công tư, Luật Đầu tư, Luật Nhà ở, Luật Đấu thầu, Luật
Điện lực, Luật Doanh nghiệp, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Thi hành án
dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2022.
[48] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 25 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[49] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại điểm c khoản 9 Điều 2 của Luật số
81/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[50] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 26 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[51] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 27 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[52] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 28 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[53] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 29 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[54] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[55] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 30 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[56] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 31 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[57] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 32 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[58] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 33 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[59] Khoản
này được bổ sung theo quy định tại khoản 33 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2015.
[60] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 34 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[61] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 35 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[62] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 36 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[63] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 37 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[64] Khoản này được sửa đổi, bổ sung lần thứ nhất theo
quy định tại khoản 37 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
Khoản này được sửa đổi, bổ sung lần thứ hai theo
quy định tại Điều 246 của Luật Đất đai số 31/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 8 năm 2024 theo quy định tại khoản 2 Điều 1 của Luật số 43/2024/QH15 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai số 31/2024/QH15, Luật Nhà ở số
27/2023/QH15, Luật Kinh doanh bất động sản số 29/2023/QH15 và Luật Các tổ chức
tín dụng số 32/2024/QH15.
[65] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 37 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[66] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 37 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[67] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 38 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[68] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 39 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[69] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 40 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[70] Điều
này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 49 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2015.
[71] Điều
này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 49 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2015.
[72] Khoản
này được bổ sung theo quy định tại khoản 41 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2015.
[73] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 42 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[74] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 42 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[75] Khoản
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 42 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[76] Điểm
này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 49 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2015.
[77] Điểm
này được bổ sung theo quy định tại Điều 2 của Luật số 67/2020/QH14 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 01 năm 2022.
[78] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 43 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
Cụm từ “Thanh tra việc sử dụng ngân sách, việc tuyển
dụng, sử dụng, quản lý, thực hiện chế độ chính sách đối với công chức, viên chức,
người lao động trong hệ thống tổ chức thi hành án dân sự;” được bỏ theo quy định
tại điểm k khoản 1 Điều 62 của Luật Thanh tra số 84/2025/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025.
[79] Điểm
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 44 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[80] Điều này được sửa đổi, bổ sung lần thứ nhất theo quy
định tại khoản 45 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
Điều này được sửa đổi, bổ sung lần thứ hai theo quy
định tại điểm d khoản 9 Điều 2 của Luật số 81/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm
2025.
[81] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 46 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[82] Điều
này được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 47 Điều 1 của Luật số
64/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
[83] Khoản
này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 49 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2015.
[84] Khoản
này được bãi bỏ theo quy định tại khoản 49 Điều 1 của Luật số 64/2014/QH13 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01
tháng 7 năm 2015.
[85] Điều 2 và Điều 3 của Luật số 64/2014/QH13 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2015 quy định như sau:
“Điều 2
1. Đối với các việc thi hành
án đã được thi hành xong trước thời điểm Luật này có hiệu lực mà sau khi Luật
này có hiệu lực đương sự còn khiếu nại thì áp dụng quy định của Luật Thi hành
án dân sự số 26/2008/QH12 để giải quyết.
Đối với các việc thi hành án
đến thời điểm Luật này có hiệu lực mà chưa được thi hành hoặc chưa thi hành xong
thì áp dụng các quy định của Luật này để thi hành; các quyết định, hành vi của
cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên đã được thực hiện theo quy định của
Luật Thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 có giá trị thi hành.
2. Đối với trường hợp đã trả
đơn yêu cầu thi hành án trước ngày Luật này có hiệu lực thì cơ quan thi hành án
dân sự ra quyết định thi hành án khi đương sự yêu cầu theo quy định của Luật
này.
3. Người có đủ điều kiện quy
định tại khoản 1 và điểm a khoản 2 hoặc điểm a khoản 3 Điều 18 của Luật Thi
hành án dân sự số 26/2008/QH12, cam kết tình nguyện làm việc từ 05 năm trở lên ở
biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì được
tuyển chọn, bổ nhiệm làm Chấp hành viên sơ cấp hoặc Chấp hành viên trung cấp
không qua thi tuyển.
Thời hạn thực hiện việc bổ
nhiệm Chấp hành viên không qua thi tuyển theo quy định tại khoản này là 05 năm,
kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
Chính phủ quy định danh sách
các cơ quan thi hành án dân sự thuộc địa bàn được tuyển chọn, bổ nhiệm Chấp
hành viên không qua thi tuyển theo quy định tại khoản này.
4. Đối với người phải thi
hành án là người bị kết án thuộc trường hợp quy định tại điểm c mục 3 Nghị quyết
số 32/1999/QH10 của Quốc hội và điểm đ khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 33/2009/QH12
của Quốc hội thì được miễn nghĩa vụ thi hành án phí trong bản án hình sự mà người
đó phải chấp hành.
Điều 3
1. Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2015.
2. Chính phủ, Tòa án nhân
dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp trong phạm vi nhiệm vụ,
quyền hạn của mình quy định chi tiết thi hành các điều, khoản được giao trong Luật
này.”.
Điều 117 và Điều 118 của Luật Cạnh
tranh số 23/2018/QH14, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2019 quy định như
sau:
“Điều 117. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2019.
2. Luật Cạnh tranh số
27/2004/QH11 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.
Điều 118. Điều khoản chuyển
tiếp
Kể từ ngày Luật này có hiệu lực
thi hành, hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh theo quy định của Luật Cạnh
tranh số 27/2004/QH11 được tiếp tục xem xét, giải quyết như sau:
1. Hành vi vi phạm đang bị điều
tra, xử lý mà được xác định không vi phạm quy định của Luật này thì được đình
chỉ điều tra, xử lý;
2. Hành vi vi phạm đang bị điều
tra, xử lý, giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh mà vẫn bị
xác định vi phạm quy định của Luật này thì tiếp tục bị điều tra, xử lý, giải
quyết khiếu nại theo quy định của Luật này. Trường hợp hình thức xử lý hoặc mức
phạt tiền đối với hành vi vi phạm theo quy định của Luật này cao hơn quy định của
Luật Cạnh tranh số 27/2004/QH11 thì áp dụng quy định của Luật Cạnh tranh số
27/2004/QH11.”.
Điều 3 của Luật số 67/2020/QH14
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, có hiệu lực kể
từ ngày 01 tháng 01 năm 2022 quy định như sau:
“Điều 3. Hiệu lực thi
hành
Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2022.”.
Điều 10 và Điều 11 của Luật số
03/2022/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công, Luật Đầu tư
theo phương thức đối tác công tư, Luật Đầu tư, Luật Nhà ở, Luật Đấu thầu, Luật
Điện lực, Luật Doanh nghiệp, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Thi hành án
dân sự, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2022 quy định như sau:
“Điều 10. Hiệu lực thi
hành
Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 3 năm 2022.
Điều 11. Quy định chuyển
tiếp
1. Đối với dự án đầu tư công
nhóm B, nhóm C sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài
đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư trước ngày Luật này có
hiệu lực thi hành và trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, cơ quan, người
có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư quy định tại Điều 1 của Luật này có
thẩm quyền điều chỉnh chủ trương đầu tư.
2. Đối với dự án đầu tư công
nhóm B, nhóm C sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài
đã hoàn thành thủ tục lập, thẩm định và có văn bản thẩm định làm cơ sở cho việc
quyết định chủ trương đầu tư hoặc điều chỉnh chủ trương đầu tư theo quy định tại
Điều 25 và Điều 34 của Luật Đầu tư công số 39/2019/QH14 đã được sửa đổi, bổ
sung một số điều theo Luật số 64/2020/QH14 và Luật số 72/2020/QH14 trước ngày Luật
này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục thực hiện thủ tục trình Thủ tướng Chính
phủ xem xét, quyết định theo quy định của Luật Đầu tư công số 39/2019/QH14 đã
được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 64/2020/QH14 và Luật số
72/2020/QH14.
3. Kể từ ngày Luật này có hiệu
lực thi hành, hồ sơ hợp lệ đề nghị chấp thuận, điều chỉnh chủ trương đầu tư dự
án đầu tư xây dựng nhà ở (để bán, cho thuê, cho thuê mua), khu đô thị thuộc thẩm
quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của Thủ tướng Chính phủ theo quy định tại Điều
31 của Luật Đầu tư số 61/2020/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật
số 72/2020/QH14 nay thuộc thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại Điều 3 của Luật này đã tiếp nhận và quá thời
hạn giải quyết nhưng chưa trả kết quả theo quy định của Luật Đầu tư số
61/2020/QH14 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 72/2020/QH14 thì
tiếp tục thực hiện theo quy định của Luật Đầu tư số 61/2020/QH14 đã được sửa đổi,
bổ sung một số điều theo Luật số 72/2020/QH14.
4. Đối với hồ sơ hợp lệ đề
nghị chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư, điều chỉnh
chủ trương đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại trong trường hợp nhà đầu
tư có quyền sử dụng đất ở hoặc đất ở và đất khác đã được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền tiếp nhận trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa giải quyết
xong thì tiếp tục được giải quyết theo quy định tại Điều 4 của Luật này và pháp
luật có liên quan.
5. Kể từ ngày Luật này có hiệu
lực thi hành, các việc thi hành án dân sự chưa được thi hành hoặc chưa thi hành
xong thì áp dụng quy định của Luật này; quyết định, hành vi của cơ quan thi
hành án dân sự, Chấp hành viên đã được thực hiện theo quy định của Luật Thi
hành án dân sự số 26/2008/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số
64/2014/QH13, Luật số 23/2018/QH14 và Luật số 67/2020/QH14 có giá trị và tiếp tục
được thực hiện.”.
Điều 252 và Điều 253 của Luật Đất
đai số 31/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 8 năm 2024 quy định như
sau:
“Điều 252. Hiệu lực thi
hành
1. Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2025, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản
3 Điều này.
2. Điều 190 và Điều 248 của Luật
này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 4 năm 2024.
3. Việc lập, phê duyệt quy
hoạch sử dụng đất được tiếp tục thực hiện theo quy định của Nghị quyết số 61/2022/QH15
ngày 16 tháng 6 năm 2022 của Quốc hội về tiếp tục tăng cường hiệu lực, hiệu quả
thực hiện chính sách, pháp luật về quy hoạch và một số giải pháp tháo gỡ khó
khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ lập và nâng cao chất lượng quy hoạch thời kỳ
2021 - 2030.
Khoản 9 Điều 60 của Luật này
có hiệu lực thi hành từ ngày Nghị quyết số 61/2022/QH15 hết hiệu lực.
4. Luật Đất đai số
45/2013/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14
(sau đây gọi là Luật Đất đai số 45/2013/QH13) hết hiệu lực kể từ ngày Luật này
có hiệu lực thi hành.
Điều 253. Quy định chuyển
tiếp về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất khi Luật này có hiệu lực thi hành
1. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt trước ngày Luật
này có hiệu lực thi hành thì được tiếp tục thực hiện và được điều chỉnh khi rà
soát quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định tại Điều 73 của Luật này.
2. Đối với địa phương đã được
phê duyệt quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 - 2030 theo quy định của pháp luật về quy
hoạch trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì được tiếp tục sử dụng phương
án phân bổ và khoanh vùng đất đai trong quy hoạch tỉnh để thực hiện công tác quản
lý đất đai cho đến hết kỳ quy hoạch. Việc điều chỉnh quy hoạch tỉnh thực hiện
theo quy định của Luật Quy hoạch số 21/2017/QH14.”.
Điều 5 của Luật số 43/2024/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai số 31/2024/QH15, Luật Nhà ở số
27/2023/QH15, Luật Kinh doanh bất động sản số 29/2023/QH15 và Luật Các tổ chức
tín dụng số 32/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 8 năm 2024 quy định
như sau:
“Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 8 năm 2024.”.
Điều 178 của Luật Tư pháp người
chưa thành niên số 59/2024/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026
quy định như sau:
“Điều 178. Hiệu lực thi
hành
1. Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2026, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Quy định tại Điều 139, khoản
1 và khoản 2 Điều 162 của Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm
2028.”.
Điều 3 của Luật số 81/2025/QH15
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2025 quy định như sau:
“Điều 3. Hiệu lực thi
hành
Luật này có hiệu lực thi
hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.”.
Việc thi hành Luật số
81/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân được
thực hiện theo Nghị quyết số 225/2025/QH15 ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Quốc hội
về việc thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân
dân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân,
các luật tố tụng và luật khác có liên quan, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7
năm 2025.
Điều 63 của Luật Thanh tra số
84/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2025, quy định như sau:
“Điều 63. Hiệu lực thi
hành
1. Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
2. Luật Thanh tra số
11/2022/QH15 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ quy định
tại khoản 1 và khoản 3 Điều 64 của Luật này.
3. Chính phủ quy định chi tiết các điều, khoản
được giao và hướng dẫn thực hiện Luật này.”.