|
VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
--------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 26/VBHN-VPQH
|
Hà Nội, ngày 26 tháng 02 năm 2026
|
LUẬT
KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH
Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 15/2023/QH15 ngày 09 tháng 01 năm 2023 của
Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2024, được sửa đổi, bổ sung bởi:
1. Luật Quy hoạch số 112/2025/QH15 ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2026;
2. Luật Dân số số 113/2025/QH15 ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội,
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
Căn cứ Hiến pháp nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật
Khám bệnh, chữa bệnh[1].
Chương
I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều
1. Phạm vi điều chỉnh
Luật này quy định về
quyền, nghĩa vụ của người bệnh; người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh; cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh; chuyên môn kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh; khám bệnh,
chữa bệnh bằng y học cổ truyền và kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại;
khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo, không vì mục đích lợi nhuận; chuyển giao kỹ thuật
chuyên môn về khám bệnh, chữa bệnh; áp dụng kỹ thuật mới, phương pháp mới và thử
nghiệm lâm sàng; sai sót chuyên môn kỹ thuật; điều kiện bảo đảm hoạt động khám
bệnh, chữa bệnh; huy động, điều động nguồn lực phục vụ công tác khám bệnh, chữa
bệnh trong trường hợp xảy ra thiên tai, thảm họa, dịch bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A hoặc tình trạng khẩn cấp.
Điều
2. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ
ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Khám bệnh là việc người
hành nghề khám bệnh, chữa bệnh sử dụng kiến thức, phương pháp, kỹ thuật chuyên
môn để đánh giá tình trạng sức khỏe, nguy cơ đối với sức khỏe và nhu cầu chăm
sóc sức khỏe của người bệnh.
2. Chữa bệnh là việc người
hành nghề khám bệnh, chữa bệnh sử dụng kiến thức, phương pháp, kỹ thuật chuyên môn để giải quyết tình trạng bệnh, ngăn ngừa
sự xuất hiện, tiến triển của bệnh hoặc đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của
người bệnh trên cơ sở kết quả khám bệnh.
3. Người bệnh là
người sử dụng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh.
4. Người hành nghề
khám bệnh, chữa bệnh là người đã được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp
giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh (sau đây gọi là người hành nghề).
5. Giấy phép hành
nghề khám bệnh, chữa bệnh là văn bản do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam
cấp cho người có đủ điều kiện hành nghề khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của
Luật này (sau đây gọi là giấy phép hành nghề).
6. Cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh là cơ sở đã được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy phép
hoạt động khám bệnh, chữa bệnh để cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh.
7. Giấy phép hoạt động
khám bệnh, chữa bệnh là văn bản do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp
cho cơ sở có đủ điều kiện hoạt động khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Luật
này (sau đây gọi là giấy phép hoạt động).
8. Bài thuốc gia
truyền hoặc phương pháp chữa bệnh gia truyền là bài thuốc hoặc phương pháp
chữa bệnh theo kinh nghiệm do dòng tộc hoặc gia đình truyền lại và điều trị có
hiệu quả đối với một hoặc một số bệnh được cơ quan chuyên môn về y tế thuộc Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh công nhận.
9. Người có bài thuốc
gia truyền hoặc có phương pháp chữa bệnh gia truyền là người giữ quyền sở hữu
bài thuốc hoặc phương pháp chữa bệnh quy định tại khoản 8 Điều này.
10. Người bệnh không
có thân nhân là người thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người bệnh đang
trong tình trạng cấp cứu không có giấy tờ tùy thân, không có thân nhân đi cùng,
không có thông tin để liên lạc với thân nhân;
b) Người bệnh tại thời
điểm vào cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không thể hoặc có khó khăn trong nhận
thức, làm chủ hành vi và không có giấy tờ tùy thân, không có thân nhân đi cùng,
không có thông tin để liên lạc với thân nhân;
c) Người bệnh đã xác định
được danh tính nhưng tại thời điểm vào cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không thể hoặc
có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, không có thân nhân đi cùng, không
có thông tin để liên lạc với thân nhân;
d) Trẻ em dưới 06 tháng
tuổi bị bỏ rơi tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
11. Thân nhân của người bệnh là
người thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Vợ hoặc chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha mẹ
vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể của người bệnh hoặc thành
viên khác trong gia đình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình;
b) Người đại diện của
người bệnh;
c) Người trực tiếp chăm
sóc cho người bệnh trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh nhưng không phải là người hành nghề.
12. Người đại diện của
người bệnh là người thay thế cho người bệnh thực hiện quyền và nghĩa vụ của
người bệnh theo quy định của Luật này trong phạm vi đại diện.
13. Người chịu trách
nhiệm chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là người đại diện theo pháp
luật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh về toàn bộ hoạt động chuyên môn của cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh.
14. Cập nhật kiến thức
y khoa liên tục là việc bổ sung kiến thức, kỹ năng về y khoa phù hợp với phạm
vi hành nghề theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.
15. Tình trạng cấp cứu là tình trạng sức khỏe hoặc
hành vi xuất hiện đột ngột của một người mà nếu không được theo dõi, can thiệp kịp thời thì có thể dẫn đến suy giảm chức năng cơ thể, tổn
thương nghiêm trọng và lâu dài đối với cơ quan, bộ phận cơ thể hoặc tử vong ở
người đó hoặc đe dọa nghiêm trọng về sức khỏe, tính mạng đối với người khác.
16. Hội chẩn là việc thảo
luận giữa một nhóm người hành nghề về tình trạng bệnh của người bệnh để chẩn
đoán và đưa ra phương pháp chữa bệnh phù hợp, kịp thời.
17. Hồ
sơ bệnh án là tập hợp dữ liệu, bao gồm thông tin cá nhân, kết quả khám bệnh,
kết quả cận lâm sàng, kết quả thăm dò chức năng, quá trình chẩn đoán, điều trị,
chăm sóc và những thông tin khác có liên quan trong quá trình chữa bệnh của người
bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
18. Phục hồi chức năng là tập hợp các can thiệp, bao gồm các phương pháp y học, kỹ
thuật phục hồi chức năng, công nghệ trợ giúp, biện pháp giáo dục, hướng nghiệp,
xã hội và cải thiện môi trường, để người bệnh phát triển, đạt được, duy trì tối
đa hoạt động chức năng, phòng ngừa và giảm tình trạng khuyết tật phù hợp với
môi trường sống của họ.
19. Khám
bệnh, chữa bệnh từ xa là hình thức khám bệnh, chữa bệnh không trực tiếp tiếp
xúc giữa người hành nghề và người bệnh mà việc khám bệnh, chữa bệnh được thực
hiện thông qua thiết bị, công nghệ thông tin.
20. Khám sức khỏe là việc khám bệnh để xác định tình trạng sức
khỏe, phân loại sức khỏe hoặc phát hiện, quản lý bệnh.
21. Giám định y khoa là việc khám bệnh để xác định
tình trạng sức khỏe, mức độ tổn thương cơ thể do
thương tích, bệnh, tật, dị dạng, dị tật theo trưng cầu
hoặc yêu cầu của cơ quan, tổ chức,
cá nhân.
22. Sự
cố y khoa là tình huống không mong muốn hoặc bất thường xảy ra trong quá
trình khám bệnh, chữa bệnh do yếu tố khách quan, chủ quan.
23. Tai
biến y khoa là sự cố y khoa gây tổn hại đến sức khỏe, tính mạng của người bệnh
do một trong các nguyên nhân sau đây:
a) Rủi ro
xảy ra ngoài ý muốn mặc dù người hành nghề đã tuân thủ các quy định về chuyên
môn kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh (sau đây gọi là chuyên môn kỹ thuật);
b) Sai
sót chuyên môn kỹ thuật.
Điều 3. Nguyên tắc trong khám bệnh, chữa bệnh
1. Tôn trọng, bảo vệ,
đối xử bình đẳng và không kỳ thị, phân biệt đối xử đối với người bệnh.
2. Ưu tiên khám bệnh,
chữa bệnh đối với trường hợp người bệnh trong tình trạng cấp cứu, trẻ em dưới
06 tuổi, phụ nữ có thai, người khuyết tật đặc biệt nặng, người khuyết tật nặng,
người từ đủ 75 tuổi trở lên, người có công với cách mạng phù hợp với đặc thù của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
3. Tôn trọng, hợp tác,
bảo vệ người hành nghề, người
khác đang thực hiện nhiệm vụ tại cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh.
4. Thực hiện kịp thời
và tuân thủ quy định về chuyên môn kỹ thuật.
5. Tuân thủ quy tắc đạo
đức nghề nghiệp trong hành nghề khám bệnh, chữa bệnh do Bộ trưởng Bộ Y tế ban
hành.
6. Bình đẳng, công bằng
giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Điều
4. Chính sách của Nhà nước về khám bệnh, chữa bệnh
1. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển
hoạt động khám bệnh, chữa bệnh; huy động các nguồn lực xã hội cho hoạt động khám bệnh, chữa bệnh.
2. Ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước
cho các hoạt động sau đây:
a) Phát
triển cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc y tế cơ sở, hệ thống cấp cứu ngoại viện;
tập trung đầu tư cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tại khu vực biên giới, hải đảo,
vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội
khó khăn và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;
b) Khám bệnh,
chữa bệnh đối với người có công với cách mạng; trẻ em, người cao tuổi, người
khuyết tật, người thuộc hộ nghèo, người thuộc hộ cận nghèo; người đang sinh sống
ở khu vực biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và
vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người mắc bệnh tâm thần,
bệnh phong; người mắc bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A; người mắc bệnh truyền nhiễm
thuộc nhóm B theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định;
c) Tăng
cường phát triển nguồn nhân lực y tế, đặc biệt là nguồn nhân lực thuộc các lĩnh
vực truyền nhiễm, tâm thần, giải phẫu bệnh, pháp y, pháp y tâm thần, hồi sức cấp
cứu và chuyên ngành, lĩnh vực khác cần ưu tiên để đáp ứng nhu cầu, điều kiện
phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ theo quy định của Chính phủ;
d) Nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ,
chuyển đổi số trong khám bệnh, chữa bệnh.
3. Khuyến
khích thực hiện hợp tác công tư; thực hiện ưu đãi đầu tư trong lĩnh vực khám bệnh,
chữa bệnh. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được ưu
đãi về tín dụng để đầu tư nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh; được miễn
thuế thu nhập doanh nghiệp đối với phần thu nhập không chia mà để lại để đầu tư
phát triển cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
4. Đầu tư cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tại vùng
có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc
biệt khó khăn và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoạt động không vì mục đích lợi nhuận
được xác định thuộc ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư trong Danh mục ngành,
nghề ưu đãi đầu tư.
5. Thực
hiện chế độ luân phiên có thời hạn đối với người hành nghề giữa các cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh của Nhà nước.
6. Có
chính sách đãi ngộ đặc biệt đối với người hành nghề.
7. Có
chính sách phát triển nguồn nhân lực quản lý, quản trị bệnh viện.
8. Phát
huy vai trò của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp về khám bệnh, chữa bệnh trong
hoạt động khám bệnh, chữa bệnh.
9. Kế thừa
và phát huy y học cổ truyền; kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại.
10. Kết hợp
quân y và dân y trong khám bệnh, chữa bệnh.
Điều 5. Quản lý nhà nước về khám bệnh, chữa bệnh
1. Nội
dung quản lý nhà nước trong khám bệnh, chữa bệnh bao gồm:
a) Xây dựng,
ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về khám bệnh, chữa
bệnh; ban hành hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật khám bệnh, chữa bệnh;
b) Xây dựng,
ban hành và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, chương trình, đề án, kế
hoạch về khám bệnh, chữa bệnh;
c) Xây dựng,
ban hành và tổ chức thực hiện quy hoạch mạng lưới cơ
sở y tế công lập[2] theo quy định của pháp luật
về quy hoạch;
d) Quy định về chuyên môn kỹ thuật, tiêu chí, tiêu chuẩn,
quy chuẩn trong khám bệnh, chữa bệnh;
đ) Tổ chức,
xây dựng, quản lý hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; đánh giá chất lượng cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh;
e) Cấp,
đình chỉ, thu hồi giấy phép hành nghề đối với người hành nghề, giấy phép hoạt động
đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
g) Đào tạo,
bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực cho hoạt động khám bệnh, chữa bệnh; giáo dục,
tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh; hướng dẫn
việc thực hiện chế độ luân phiên có thời hạn đối với người hành nghề;
h) Tổ chức
nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ, ứng dụng và chuyển giao công nghệ
trong khám bệnh, chữa bệnh;
i) Xây dựng,
quản lý và vận hành Hệ thống thông tin về quản lý hoạt động khám bệnh, chữa bệnh;
k) Quản
lý nhà nước về giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Luật này và
pháp luật về giá;
l) Hợp
tác quốc tế trong lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh;
m) Thanh
tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về khám
bệnh, chữa bệnh.
2. Trách
nhiệm quản lý nhà nước về khám bệnh, chữa bệnh được quy định như sau:
a) Chính
phủ thống nhất quản lý nhà nước về khám bệnh, chữa bệnh;
b) Bộ Y tế
chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về khám bệnh, chữa
bệnh;
c) Bộ Quốc
phòng, Bộ Công an, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thực hiện quản
lý nhà nước về khám bệnh, chữa bệnh và có trách nhiệm tổ chức hệ thống và hoạt
động khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý theo quy định của Luật này;
d) Các Bộ,
cơ quan ngang Bộ, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm phối
hợp với Bộ Y tế thực hiện quản lý nhà nước về khám bệnh, chữa bệnh;
đ) Ủy ban
nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về khám bệnh, chữa bệnh trên địa
bàn thuộc thẩm quyền quản lý.
Điều 6. Tổ chức xã hội - nghề nghiệp về khám bệnh, chữa bệnh
Tổ chức
xã hội - nghề nghiệp về khám bệnh, chữa bệnh được thành lập và hoạt động theo
quy định của pháp luật về hội có trách nhiệm sau đây:
1. Bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên theo quy định của pháp luật;
2. Tham
gia vào quá trình xây dựng chính sách, pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh;
3. Tham
gia các hội đồng chuyên môn, biên soạn giáo trình, tài liệu giảng dạy, tài liệu
chuyên môn kỹ thuật, tham gia kiểm tra đánh giá năng lực hành nghề và giám sát
việc hành nghề, cập nhật kiến thức y khoa liên tục khi có đề nghị của cơ quan,
tổ chức có thẩm quyền;
4. Phổ biến,
giáo dục, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn và chính sách, pháp luật về khám bệnh,
chữa bệnh cho các hội viên theo quy định của pháp luật;
5. Thực
hiện chương trình, dự án, đề tài nghiên cứu, tư vấn, tham gia giám sát, phản biện
xã hội về khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật;
6. Tham
gia xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện quy tắc đạo đức nghề nghiệp; vận động
hội viên, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khám bệnh, chữa bệnh tuân thủ quy
định của pháp luật;
7. Huy động
các nguồn lực xã hội để triển khai hoạt động khám bệnh, chữa bệnh theo quy định
của pháp luật;
8. Kiến
nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về khám bệnh,
chữa bệnh.
Điều 7. Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh
1. Xâm phạm
quyền của người bệnh.
2. Từ chối
hoặc cố ý chậm cấp cứu người bệnh, trừ trường hợp quy định tại Điều
40 của Luật này.
3. Khám bệnh,
chữa bệnh mà không đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 19 của Luật
này.
4. Khám bệnh, chữa bệnh không đúng phạm vi hành nghề hoặc phạm
vi hoạt động được cơ quan có thẩm quyền cho phép, trừ trường hợp cấp cứu hoặc
thực hiện khám bệnh, chữa bệnh theo huy động, điều động của cơ quan có thẩm quyền
khi xảy ra thiên tai, thảm họa, dịch bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A hoặc tình trạng khẩn cấp.
5. Hành
nghề khám bệnh, chữa bệnh ngoài thời gian, địa điểm đã đăng ký hành nghề khám bệnh,
chữa bệnh (sau đây gọi là đăng ký hành nghề), trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 36 của Luật này.
6. Không
tuân thủ quy định về chuyên môn kỹ thuật; áp dụng phương pháp, kỹ thuật chuyên
môn, sử dụng thiết bị y tế chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép.
7. Kê
đơn, chỉ định sử dụng thuốc chưa được cấp phép lưu hành theo quy định của pháp
luật về dược trong khám bệnh, chữa bệnh.
8. Có
hành vi nhũng nhiễu trong khám bệnh, chữa bệnh.
9. Kê đơn
thuốc, chỉ định thực hiện các dịch vụ kỹ thuật, thiết bị y tế, gợi ý chuyển người bệnh tới cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác hoặc có hành vi khác nhằm trục lợi.
10. Tẩy
xóa, sửa chữa hồ sơ bệnh án nhằm làm sai lệch thông tin về khám bệnh, chữa bệnh
hoặc lập hồ sơ bệnh án giả hoặc lập hồ sơ bệnh án và các giấy tờ khống khác về
kết quả khám bệnh, chữa bệnh.
11. Người
hành nghề bán thuốc dưới mọi hình thức, trừ các trường hợp sau đây:
a) Bác sỹ
y học cổ truyền, y sỹ y học cổ truyền, lương y bán thuốc cổ truyền;
b) Người
có bài thuốc gia truyền bán thuốc theo bài thuốc gia truyền thuộc quyền sở hữu
của mình đã được đăng ký.
12. Sử dụng
rượu, bia và đồ uống có cồn khác, ma túy, thuốc lá tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
hoặc trong khi khám bệnh, chữa bệnh.
13. Sử dụng
hình thức mê tín, dị đoan trong khám bệnh, chữa bệnh.
14. Từ chối
tham gia hoạt động khám bệnh, chữa bệnh khi có thiên tai, thảm họa, dịch bệnh
truyền nhiễm thuộc nhóm A hoặc tình trạng khẩn cấp theo quyết định huy động, điều
động của cơ quan, người có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 3 Điều 47 của Luật này.
15. Cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh khi thuộc một trong
các trường hợp sau đây:
a) Không
có giấy phép hoạt động;
b) Đang
trong thời gian bị đình chỉ hoạt động;
c) Không
đúng phạm vi hoạt động chuyên môn cho phép, trừ trường hợp cấp cứu hoặc thực hiện
khám bệnh, chữa bệnh theo quyết định huy động, điều động của cơ quan, người có
thẩm quyền khi xảy ra thiên tai, thảm họa, dịch bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A
hoặc tình trạng khẩn cấp.
16. Thuê,
mượn, cho thuê, cho mượn giấy phép hành nghề hoặc giấy phép hoạt động.
17. Lợi dụng
hình ảnh, tư cách của người hành nghề để phát ngôn, tuyên truyền, khuyến khích
người bệnh sử dụng phương pháp khám bệnh, chữa bệnh chưa được công nhận.
18. Xâm
phạm tính mạng, sức khoẻ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người hành nghề và người khác làm
việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc phá hoại, hủy hoại tài sản của cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh.
19. Ngăn
cản người bệnh thuộc trường hợp bắt buộc chữa bệnh vào cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
hoặc cố ý thực hiện bắt buộc chữa bệnh đối với người không thuộc trường hợp bắt
buộc chữa bệnh.
20. Quảng
cáo vượt quá phạm vi hành nghề hoặc vượt quá phạm vi hoạt động chuyên môn đã được
cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; lợi dụng kiến thức y học để quảng cáo gian dối
về khám bệnh, chữa bệnh.
21. Đăng
tải các thông tin mang tính quy kết về trách nhiệm của người hành nghề, cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh khi xảy ra sự cố y khoa mà chưa có kết luận của cơ quan có
thẩm quyền.
Điều 8. Người đại diện của người bệnh
1. Một
người bệnh chỉ có một người đại diện tại một thời điểm.
2. Người
đại diện của người bệnh phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, bao gồm:
a) Người do người bệnh là người thành niên tự lựa
chọn;
b) Người do
thành viên gia đình của người bệnh lựa chọn trong trường hợp người bệnh là người
thành niên không thể tự lựa chọn và không có ủy quyền trước khi rơi vào tình trạng
không thể hoặc có khó khăn
trong nhận thức, làm chủ hành vi;
c) Người đại diện theo ủy quyền và người đại diện
theo pháp luật của người bệnh theo quy định của Bộ luật Dân sự;
d) Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân
theo quy định của Bộ luật Dân sự hoặc người được pháp nhân phân công mà pháp
nhân đó chịu trách nhiệm quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng người bệnh theo quy định
của Bộ luật Dân sự;
đ) Người không thuộc đối tượng quy định tại các
điểm a, b, c và d khoản này nhưng tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của người bệnh
theo quy định của Bộ luật Dân sự.
3. Việc
thay thế người đại diện được thực hiện như sau:
a) Trường
hợp thay thế người đại diện quy định tại điểm a khoản 2 Điều này thì phải có
xác nhận của người bệnh;
b) Trường
hợp thay thế người đại diện quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì phải có
xác nhận của người bệnh hoặc thành viên gia đình của người bệnh;
c) Trường
hợp người đại diện là cha mẹ đối với con chưa thành niên thì khi thay thế người
đại diện không phải có xác nhận của người bệnh;
d) Trường
hợp người đại diện là người giám hộ, người do Tòa án chỉ định, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân hoặc người được
pháp nhân phân công thì việc
thay thế người đại diện phải được thực hiện bằng quyết định của cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền;
đ) Trường
hợp người đại diện là người đại diện theo ủy quyền thì việc thay thế người đại diện phải được thực hiện bằng văn bản ủy quyền
theo quy định.
4. Quyền
và nghĩa vụ của người đại diện, hậu quả pháp lý của hành vi đại diện, thời hạn
đại diện, phạm vi đại diện thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự và quy định
khác của pháp luật có liên quan.
Chương II
QUYỀN, NGHĨA VỤ
CỦA NGƯỜI BỆNH
Mục 1. QUYỀN CỦA NGƯỜI BỆNH
Điều 9. Quyền được khám bệnh, chữa bệnh
1. Được
thông tin, giải thích về tình trạng sức khỏe; phương pháp, dịch vụ khám bệnh,
chữa bệnh, giá dịch vụ khám
bệnh, chữa bệnh; được hướng
dẫn cách tự theo dõi, chăm sóc, phòng ngừa tai biến.
2. Được
khám bệnh, chữa bệnh bằng phương pháp an toàn phù hợp với bệnh, tình trạng
sức khỏe của mình và điều kiện thực tế của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Điều 10. Quyền được tôn trọng danh dự, bảo vệ sức khỏe và tôn trọng bí
mật riêng tư trong khám bệnh, chữa bệnh
1. Được
tôn trọng về tuổi, giới tính, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, tình trạng sức khỏe, điều kiện kinh tế, địa vị xã hội.
2. Được
giữ bí mật thông tin trong hồ sơ bệnh án và thông tin khác về đời tư mà người bệnh
đã cung cấp cho người hành nghề trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh, trừ trường
hợp người bệnh đồng ý chia sẻ thông tin theo quy định của pháp luật hoặc trường
hợp quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 69 của Luật này.
3. Không
bị kỳ thị, phân biệt đối xử, ngược đãi, lạm dụng thể chất, lạm dụng tình dục trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh.
4. Không bị ép buộc khám bệnh, chữa bệnh, trừ trường
hợp bắt buộc chữa bệnh quy định tại khoản 1 Điều 82 của Luật này.
Điều 11. Quyền được lựa chọn trong khám bệnh, chữa bệnh
1. Lựa chọn
phương pháp khám bệnh, chữa bệnh sau khi được cung cấp thông tin, giải thích,
tư vấn đầy đủ về tình trạng bệnh, kết quả, rủi ro có thể xảy ra, trừ trường hợp
quy định tại khoản 4 Điều 40 của Luật này.
2. Chấp
nhận hoặc từ chối tham gia nghiên cứu y sinh học về khám bệnh, chữa bệnh.
Điều 12. Quyền được cung cấp thông tin về hồ sơ bệnh án và chi phí khám
bệnh, chữa bệnh
1. Được đọc,
xem, sao chụp, ghi chép hồ sơ bệnh án và cung cấp tóm tắt hồ sơ bệnh án theo
quy định tại điểm d khoản 4 Điều 69 của Luật này.
2. Được
cung cấp và giải thích chi tiết về các khoản chi trả dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh
khi có yêu cầu.
Điều 13. Quyền được từ chối khám bệnh, chữa bệnh và rời khỏi cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh
1. Được từ
chối khám bệnh, chữa bệnh nhưng phải cam kết tự chịu trách nhiệm bằng văn bản về
việc từ chối của mình sau khi đã được người hành nghề tư vấn, trừ trường hợp bắt
buộc chữa bệnh quy định tại khoản 1 Điều 82 của Luật này.
2. Được rời
khỏi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi chưa kết thúc chữa bệnh trái với chỉ định của
người hành nghề nhưng phải cam kết tự chịu trách nhiệm bằng văn bản về việc rời
khỏi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, trừ trường hợp bắt buộc chữa bệnh quy định tại
khoản 1 Điều 82 của Luật này.
Điều 14. Quyền kiến nghị và bồi thường
1. Được
kiến nghị về tồn tại, bất cập, khó khăn, vướng mắc và vấn đề khác trong quá
trình khám bệnh, chữa bệnh.
2. Được bồi
thường theo quy định tại Điều 102 của Luật này.
Điều 15. Việc thực hiện quyền của người bệnh bị mất năng lực hành vi
dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, hạn chế năng lực hành vi
dân sự, người bệnh là người chưa thành niên và người bệnh không có thân nhân
1. Trường
hợp người bệnh là người thành niên và rơi vào tình trạng mất năng lực hành vi
dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, hạn chế năng lực hành vi
dân sự nhưng trước đó đã có văn bản thể hiện nguyện vọng hợp pháp về khám bệnh,
chữa bệnh của mình thì thực hiện theo nguyện vọng của người bệnh.
2. Trường
hợp người bệnh là người thành niên và rơi vào tình trạng mất năng lực hành vi
dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, hạn chế năng lực hành vi
dân sự nhưng trước đó không có văn bản thể hiện nguyện vọng hợp pháp về khám bệnh,
chữa bệnh của mình thì thực hiện như sau:
a) Nếu có
người đại diện quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều
8 của Luật này thì thực hiện theo quyết định của người đại diện;
b) Nếu
không có người đại diện quy định tại các điểm a, b, c và d khoản
2 Điều 8 của Luật này thì thực hiện theo quyết định của người chịu trách
nhiệm chuyên môn hoặc người trực lãnh đạo của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
3. Trường
hợp người bệnh là người chưa thành niên thì thực hiện như sau:
a) Nếu có
người đại diện quy định tại điểm c và điểm d khoản 2 Điều 8 của
Luật này thì thực hiện theo quyết định của người đại diện;
b) Nếu
không có người đại diện quy định tại điểm c và điểm d khoản 2
Điều 8 của Luật này thì thực hiện theo quyết định của người chịu trách nhiệm
chuyên môn hoặc người trực lãnh đạo của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Mục 2. NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI BỆNH
Điều 16. Nghĩa vụ tôn trọng người hành nghề và người khác làm việc tại
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
Tôn trọng
người hành nghề; không được đe dọa, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, xúc phạm danh
dự, nhân phẩm của người hành nghề và người khác làm việc tại cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh.
Điều 17. Nghĩa vụ chấp hành các quy định trong khám bệnh, chữa bệnh
1. Cung cấp
trung thực và chịu trách nhiệm về thông tin liên quan đến nhân thân, tình trạng
sức khỏe của mình, hợp tác đầy đủ với người hành nghề và người khác làm việc tại
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
2. Chấp
hành chỉ định về chẩn đoán, phương pháp chữa bệnh của người hành nghề.
3. Chấp
hành và yêu cầu thân nhân, người đến thăm mình chấp hành nội quy của cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh, quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh.
Điều 18. Nghĩa vụ chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh
1. Người
bệnh tham gia bảo hiểm y tế có nghĩa vụ chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh
ngoài phạm vi được hưởng và mức hưởng theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y
tế.
2. Người
bệnh không tham gia bảo hiểm y tế có nghĩa vụ chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh
theo quy định của pháp luật.
Chương III
NGƯỜI HÀNH NGHỀ
KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH
Mục 1. ĐIỀU KIỆN HÀNH NGHỀ
Điều 19. Điều kiện để cá nhân được phép khám bệnh, chữa bệnh
1. Cá
nhân được phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh tại Việt Nam khi đáp ứng đủ các
điều kiện sau đây:
a) Có giấy
phép hành nghề đang còn hiệu lực;
b) Đã
đăng ký hành nghề, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 36
của Luật này;
c) Đáp ứng
yêu cầu về sử dụng ngôn ngữ trong khám bệnh, chữa bệnh quy định tại Điều 21 của Luật này;
d) Có đủ
sức khỏe để hành nghề theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế;
đ) Không
thuộc trường hợp quy định tại Điều 20 của Luật này.
2. Cá
nhân được khám bệnh, chữa bệnh mà không cần đáp ứng điều kiện quy định tại các
điểm a, b và c khoản 1 Điều này trong các trường hợp sau đây:
a) Học
viên, sinh viên, học sinh đang học tại cơ sở đào tạo thuộc khối ngành sức khỏe,
người đang trong thời gian thực hành khám bệnh, chữa bệnh để cấp giấy phép hành
nghề, người đang trong thời gian chờ cấp giấy phép hành nghề và chỉ được khám bệnh,
chữa bệnh dưới sự giám sát của người hành nghề;
b) Nhân
viên y tế thôn, bản, cô đỡ thôn, bản hoặc nhân viên y tế làm việc
tại y tế cơ quan, đơn vị, tổ chức mà không thành lập cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
chỉ được khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi hoạt động và sau khi đã hoàn thành
chương trình đào tạo theo nội dung chuyên môn, nghiệp vụ do Bộ trưởng Bộ
Y tế quy định;
c) Đối tượng
quy định tại khoản 1 Điều 115 của
Luật này;
d) Các đối
tượng khác tham gia vào quá trình khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Chính
phủ.
3. Người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã có giấy
phép hành nghề do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cấp được khám bệnh,
chữa bệnh nhân đạo theo đợt, hợp tác đào tạo về y khoa có thực hành khám bệnh,
chữa bệnh hoặc chuyển giao kỹ thuật chuyên môn trong khám bệnh, chữa bệnh theo
quy định của Luật này mà không cần đáp ứng điều kiện quy định tại điểm a và điểm
b khoản 1 Điều này.
4. Người
tham gia cấp cứu tại cộng đồng mà không phải là cấp cứu viên ngoại viện thì
không phải đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này.
Điều 20. Các trường hợp bị cấm hành nghề khám bệnh, chữa bệnh
1. Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi vi phạm
pháp luật có liên quan đến chuyên môn kỹ thuật.
2. Đang trong thời gian thi hành án treo, án phạt
cải tạo không giam giữ về hành vi vi phạm pháp luật có liên quan đến chuyên môn
kỹ thuật.
3. Đang trong thời gian
thử thách đối với người bị kết án phạt tù có liên quan đến chuyên môn kỹ thuật
nhưng được tha tù trước thời hạn có điều kiện.
4. Đang trong thời gian
thi hành án phạt tù hoặc đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ
sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.
5. Đang trong thời gian
bị cấm hành nghề khám bệnh, chữa bệnh theo bản án hình sự có hiệu lực pháp luật
của tòa án hoặc bị hạn chế thực hiện hoạt động khám bệnh, chữa bệnh theo quyết
định của cơ quan có thẩm quyền.
6. Mất năng lực hành vi
dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Điều 21. Sử dụng ngôn ngữ trong khám bệnh, chữa bệnh
1. Ngôn ngữ sử dụng trong khám bệnh, chữa bệnh là
tiếng Việt, trừ các trường hợp quy định
tại khoản 2 Điều
này.
2. Người hành nghề là
người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài (sau đây gọi là người
hành nghề nước ngoài) được sử dụng ngôn ngữ khác tiếng Việt để khám bệnh, chữa
bệnh cho người bệnh thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người bệnh có cùng
ngôn ngữ mẹ đẻ với người hành nghề; người bệnh có khả năng sử dụng chung ngôn
ngữ mà người hành nghề đã đăng ký;
b) Người bệnh là người
nước ngoài và không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này;
c) Khám bệnh, chữa bệnh
nhân đạo theo đợt; chuyển giao kỹ thuật chuyên môn về khám bệnh, chữa bệnh theo
thỏa thuận hợp tác giữa cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Việt Nam với cơ sở y tế
của nước ngoài.
3. Việc sử dụng ngôn ngữ
trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều
này được thực hiện như sau:
a) Trường
hợp khám bệnh, chữa bệnh theo quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều này phải
có người phiên dịch;
b) Việc ghi thông tin về
khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện bằng ngôn ngữ đã đăng ký của người hành nghề
nước ngoài đồng thời phải được dịch sang tiếng Việt.
4. Chính phủ quy định
chi tiết Điều này; quy định tiêu chuẩn của người phiên dịch trong trường hợp
quy định tại điểm a khoản 3 Điều này; quy định
việc sử dụng ngôn ngữ trong khám bệnh, chữa bệnh cho người dân tộc thiểu số
không có khả năng sử dụng tiếng Việt, người khuyết tật về ngôn ngữ, người bệnh
là người nước ngoài.
Điều 22. Cập nhật kiến thức y khoa liên tục
1. Người
hành nghề thuộc một trong các chức danh bác
sỹ, y sỹ, điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y, dinh dưỡng lâm sàng, cấp cứu viên
ngoại viện và tâm lý lâm sàng có
trách nhiệm cập nhật kiến thức y khoa liên tục phù hợp với phạm vi hành nghề.
2. Các
hình thức cập nhật kiến thức y khoa liên tục bao gồm:
a) Tham
gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn, hội nghị, hội thảo về y khoa phù hợp
với phạm vi hành nghề;
b) Tham gia biên soạn giáo trình, tài liệu giảng dạy, tài liệu chuyên
môn về khám bệnh, chữa bệnh;
c) Thực
hiện các nghiên cứu khoa học, giảng dạy về y khoa thuộc phạm vi hành nghề;
d) Tự cập
nhật kiến thức y khoa và các hình thức khác.
3. Cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm tạo điều kiện để người hành nghề được cập
nhật kiến thức y khoa liên tục.
4. Bộ trưởng
Bộ Y tế quy định chi tiết Điều này.
Mục 2. TỔ CHỨC KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC HÀNH NGHỀ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH
Điều 23. Thực hành khám bệnh, chữa bệnh
1. Người
đề nghị cấp giấy phép hành nghề theo một trong các chức danh bác sỹ, y sỹ, điều
dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y, dinh dưỡng lâm sàng, cấp cứu viên ngoại viện và tâm
lý lâm sàng phải thực hành khám bệnh, chữa bệnh theo nguyên tắc quy định tại
khoản 2 Điều này, trừ các trường hợp sau đây:
a) Đã
hoàn thành chương trình đào tạo chuyên khoa;
b) Đã được
cấp giấy phép hành nghề do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cấp và
được thừa nhận theo quy định tại Điều 29 của Luật này.
2. Thực
hành khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện theo nguyên tắc sau đây:
a) Phù hợp
với văn bằng chuyên môn được cấp;
b) Thực
hiện tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có phạm vi hoạt động chuyên môn phù hợp
với nội dung thực hành;
c) Thời
gian thực hành phù hợp với từng chức danh chuyên môn;
d) Cơ sở
hướng dẫn thực hành phải phân công người hướng dẫn thực hành, phải đăng ký danh
sách người thực hành tại cơ sở trên Hệ thống thông tin về quản lý hoạt động
khám bệnh, chữa bệnh và cấp giấy xác nhận việc thực hành cho người thực hành;
đ) Người
hướng dẫn thực hành phải là người hành nghề có phạm vi hành nghề phù hợp với nội
dung hướng dẫn thực hành và phải chịu trách nhiệm về hoạt động chuyên môn của
người thực hành trong quá trình thực hành, trừ trường hợp người thực hành cố ý
vi phạm pháp luật;
e) Người
thực hành phải tuân thủ sự phân công, hướng dẫn của người hướng dẫn thực hành
và phải tôn trọng các quyền, nghĩa vụ của người bệnh.
3. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều
24. Kiểm tra đánh giá năng lực hành nghề khám bệnh, chữa bệnh
1. Việc
kiểm tra đánh giá năng lực hành nghề khám bệnh, chữa bệnh trước khi đề nghị cấp
giấy phép hành nghề áp dụng đối với các chức danh bác sỹ, y sỹ, điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y, dinh dưỡng
lâm sàng, cấp cứu viên ngoại viện và tâm lý lâm sàng.
2. Người
tham dự kiểm tra đánh giá năng lực hành nghề khám bệnh, chữa bệnh phải đáp ứng
các điều kiện sau đây:
a) Có văn
bằng phù hợp với từng chức danh chuyên môn quy định tại khoản 1 Điều
này;
b) Đã
hoàn thành việc thực hành khám bệnh, chữa bệnh theo quy định tại Điều
23 của Luật này.
3. Việc kiểm
tra đánh giá năng lực hành nghề khám bệnh, chữa bệnh do Hội đồng Y khoa Quốc
gia chủ trì tổ chức thực hiện.
4. Người
tham dự kiểm tra đánh giá năng lực hành nghề khám bệnh, chữa bệnh phải chi trả
chi phí kiểm tra đánh giá.
5. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 25. Hội đồng Y khoa Quốc gia
1. Hội đồng
Y khoa Quốc gia là tổ chức do Thủ tướng Chính phủ thành lập, có chức năng đánh
giá độc lập năng lực hành nghề khám bệnh, chữa bệnh; có con dấu và trụ sở riêng.
2. Hội đồng
Y khoa Quốc gia có các nhiệm vụ sau đây:
a) Chủ
trì phối hợp với các tổ chức xã hội - nghề nghiệp về khám bệnh, chữa bệnh và cơ
quan, tổ chức khác có liên quan trong việc xây dựng bộ công cụ đánh giá năng lực
hành nghề khám bệnh, chữa bệnh;
b) Ban
hành bộ công cụ đánh giá năng lực hành nghề khám bệnh, chữa bệnh;
c) Chủ
trì tổ chức kiểm tra đánh giá năng lực hành nghề khám bệnh, chữa bệnh;
d) Tiếp
nhận, giải quyết kiến nghị, khiếu nại hoặc phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước
trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về kết quả kiểm tra đánh giá năng lực
hành nghề khám bệnh, chữa bệnh;
đ) Thực
hiện nhiệm vụ khác theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.
3. Thủ tướng
Chính phủ quy định tổ chức và hoạt động của Hội đồng Y khoa Quốc gia.
Mục 3. GIẤY PHÉP HÀNH NGHỀ
Điều
26. Chức danh chuyên môn phải có giấy phép hành nghề
1. Chức danh chuyên môn
phải có giấy phép hành nghề bao gồm:
a) Bác sỹ;
b) Y sỹ;
c) Điều
dưỡng;
d) Hộ
sinh;
đ) Kỹ thuật
y;
e) Dinh
dưỡng lâm sàng;
g) Cấp cứu
viên ngoại viện;
h) Tâm lý
lâm sàng;
i) Lương
y;
k) Người có
bài thuốc gia truyền hoặc có phương pháp chữa bệnh gia truyền.
2. Chính phủ
quy định chức danh chuyên môn và điều kiện cấp mới, cấp lại, gia
hạn, điều chỉnh, đình chỉ hành nghề, thu hồi giấy phép hành nghề đối với chức
danh chuyên môn được bổ sung ngoài các chức danh quy định tại khoản 1 Điều này phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ
sau khi báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
3. Bộ trưởng Bộ Y tế
quy định phạm vi hành nghề đối với từng chức danh chuyên môn.
Điều 27. Giấy phép hành nghề
1. Mỗi
người hành nghề chỉ được cấp 01 giấy phép hành nghề có giá trị trong phạm vi
toàn quốc.
2. Giấy
phép hành nghề có thời hạn 05 năm.
3. Nội
dung của giấy phép hành nghề bao gồm các thông tin cơ bản sau đây:
a) Họ và
tên; ngày, tháng, năm sinh; số định danh cá nhân đối với người hành nghề Việt
Nam; số hộ chiếu và quốc tịch đối với người hành nghề nước ngoài;
b) Chức
danh chuyên môn;
c) Phạm
vi hành nghề;
d) Thời hạn
của giấy phép hành nghề.
4. Người đề nghị cấp mới, cấp lại, gia hạn, điều
chỉnh giấy phép hành nghề phải nộp phí theo quy định của pháp luật về phí và lệ
phí, trừ trường hợp do lỗi của cơ quan có thẩm quyền cấp
giấy phép hành nghề mà phải cấp mới, cấp lại, gia hạn, điều chỉnh.
5. Bộ trưởng
Bộ Y tế quy định chi tiết Điều này và quy định mẫu giấy phép hành nghề.
Điều 28. Thẩm quyền cấp mới, cấp lại, gia hạn, điều chỉnh giấy phép
hành nghề, đình chỉ hành nghề, thu hồi giấy phép hành nghề
1. Thẩm
quyền cấp mới, cấp lại, gia hạn, điều chỉnh giấy phép hành nghề được quy định
như sau:
a) Bộ Y tế
cấp mới, cấp lại, gia hạn, điều chỉnh giấy phép hành nghề đối với các chức danh
bác sỹ, y sỹ, điều dưỡng, hộ sinh, kỹ
thuật y, dinh dưỡng lâm sàng, cấp cứu viên ngoại viện và tâm lý lâm sàng đối với người làm việc tại cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý;
b) Bộ Quốc
phòng cấp mới, cấp lại, gia hạn, điều chỉnh giấy phép hành nghề đối với các chức
danh bác sỹ, y sỹ, điều dưỡng, hộ sinh,
kỹ thuật y, dinh dưỡng lâm sàng, cấp cứu viên ngoại viện và tâm lý lâm sàng đối với người làm việc tại cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý;
c) Bộ
Công an cấp mới, cấp lại, gia hạn, điều chỉnh giấy phép hành nghề đối với các
chức danh bác sỹ, y sỹ, điều dưỡng, hộ
sinh, kỹ thuật y, dinh dưỡng lâm sàng, cấp cứu viên ngoại viện và tâm lý lâm
sàng đối với người làm
việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý;
d) Cơ
quan chuyên môn về y tế thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp mới, cấp lại, gia hạn,
điều chỉnh giấy phép hành nghề đối với các chức danh chuyên môn quy định tại khoản 1 Điều 26 của Luật này, trừ các trường hợp quy định tại
các điểm a, b và c khoản này.
2. Thẩm
quyền đình chỉ hành nghề, thu hồi giấy phép hành nghề được quy định
như sau:
a) Bộ Y tế
đình chỉ hành nghề đối với người hành nghề làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
trên phạm vi toàn quốc; thu hồi giấy phép hành nghề đối với người hành nghề làm
việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý;
b) Bộ Quốc
phòng đình chỉ hành nghề, thu hồi giấy phép hành nghề đối với người hành nghề
làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý;
c) Bộ
Công an đình chỉ hành nghề, thu hồi giấy phép hành nghề đối với người hành nghề
làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý;
d) Cơ
quan chuyên môn về y tế thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đình chỉ hành nghề đối với
người hành nghề làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn quản lý;
thu hồi giấy phép hành nghề đối với người hành nghề thuộc thẩm quyền quản lý.
Điều
29. Thừa nhận giấy phép hành nghề do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước
ngoài cấp
1. Giấy
phép hành nghề do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cấp được xem
xét thừa nhận khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
a) Được
thừa nhận theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
thành viên hoặc thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam là bên ký kết; giấy phép hành
nghề được cấp bởi cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài mà cơ quan, tổ
chức đó được Bộ Y tế đánh giá để thừa nhận theo quy định tại khoản 3 Điều này;
b) Còn hiệu
lực tại thời điểm đề nghị thừa nhận;
c) Có
thông tin về chức danh chuyên môn và chức danh đó phải tương đương với một
trong các chức danh chuyên môn quy định tại các điểm a, b, c,
d, đ, e, g và h khoản 1 Điều 26 của Luật này.
2. Thủ tục
thừa nhận giấy phép hành nghề được quy định như sau:
a) Người
có giấy phép hành nghề gửi hồ sơ đề nghị thừa nhận giấy phép hành nghề đến Bộ Y
tế, bao gồm đơn đề nghị thừa nhận giấy phép hành nghề và bản sao hợp lệ giấy
phép hành nghề đã được cấp;
b) Trong
thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị, Bộ Y tế phải có văn bản trả
lời về việc thừa nhận hoặc không thừa nhận giấy phép hành nghề;
c) Trường
hợp cần xác minh đối với việc đào tạo ở nước ngoài của người hành nghề thì thời
hạn thừa nhận là 30 ngày kể từ ngày có kết quả xác minh.
3. Nội
dung đánh giá để thừa nhận cơ quan, tổ chức cấp phép hành nghề của nước ngoài
bao gồm:
a) Đánh
giá về hệ thống đào tạo;
b) Đánh
giá về hệ thống, quy trình, thủ tục cấp giấy phép hành nghề và các quy định về
chức danh, phạm vi hành nghề.
4. Người
có giấy phép hành nghề do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cấp được
thừa nhận tại Việt Nam không phải thực hành khám bệnh, chữa bệnh theo quy định
tại Điều 23 của Luật này và không phải tham dự kiểm tra
đánh giá năng lực hành nghề khám bệnh, chữa bệnh theo quy định tại Điều 24 của Luật này.
5. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều
30. Cấp mới giấy phép hành nghề
1. Cấp mới giấy phép
hành nghề được áp dụng đối với các trường hợp sau đây:
a) Người lần đầu tiên đề
nghị cấp giấy phép hành nghề;
b) Người hành nghề thay
đổi chức danh chuyên môn đã được ghi trên giấy phép hành nghề;
c) Người bị thu hồi giấy
phép hành nghề thuộc trường hợp cấp mới theo quy định của Chính phủ;
d) Trường hợp khác theo
quy định của Chính phủ.
2. Điều kiện cấp mới giấy
phép hành nghề đối với các chức danh bác sỹ, y sỹ, điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật
y, dinh dưỡng lâm sàng, cấp cứu viên ngoại viện và tâm lý lâm sàng bao gồm:
a) Được đánh giá đủ
năng lực hành nghề qua kiểm tra đánh giá năng lực hành nghề khám bệnh, chữa bệnh
quy định tại Điều 24 của Luật này hoặc có giấy phép hành nghề được thừa nhận theo quy định
tại Điều 29 của Luật này;
b) Có đủ sức khỏe để
hành nghề;
c) Đáp ứng năng lực tiếng Việt đối với người nước
ngoài theo quy định của Chính phủ;
d) Không thuộc một
trong các trường hợp quy định tại Điều 20 của Luật này hoặc
bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi khám bệnh, chữa bệnh mà không có giấy
phép hành nghề nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành
chính.
3. Điều kiện cấp mới giấy
phép hành nghề đối với các chức danh lương y, người có bài thuốc gia truyền hoặc
có phương pháp chữa bệnh gia truyền bao gồm:
a) Có giấy chứng nhận
lương y hoặc giấy chứng nhận người có bài thuốc gia truyền hoặc giấy chứng nhận
người có phương pháp chữa bệnh gia truyền;
b) Đáp ứng điều kiện
quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều này.
4. Hồ sơ đề nghị cấp mới
giấy phép hành nghề bao gồm:
a) Đơn đề
nghị cấp mới giấy phép hành nghề;
b) Tài liệu
chứng minh đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này đối với
từng chức danh chuyên môn tương ứng.
5. Thủ tục
cấp mới giấy phép hành nghề được quy định như sau:
a) Người
đề nghị cấp mới giấy phép hành nghề nộp hồ sơ theo quy định tại khoản 4 Điều này
cho cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép hành nghề;
b) Cơ
quan có thẩm quyền cấp giấy phép hành nghề phải cấp mới giấy phép
hành nghề trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ; trường hợp không cấp
mới giấy phép hành nghề thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do;
c) Trường
hợp cần xác minh tài liệu có yếu tố nước ngoài trong hồ sơ đề nghị cấp mới giấy
phép hành nghề thì thời hạn cấp mới là 30 ngày kể từ ngày có kết quả xác minh.
6. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 31. Cấp lại giấy phép hành nghề
1. Cấp lại giấy phép hành nghề áp dụng đối với các trường hợp
sau đây:
a) Giấy phép hành nghề
bị mất hoặc hư hỏng;
b) Thay đổi thông tin
quy định tại điểm a khoản 3 Điều 27 của Luật này hoặc có
sai sót thông tin quy định tại khoản 3 Điều 27 của Luật này;
c) Người bị thu hồi giấy phép hành nghề thuộc trường hợp cấp lại
theo quy định của Chính phủ;
d) Giấy phép hành nghề
được cấp không đúng thẩm quyền;
đ) Trường hợp khác theo
quy định của Chính phủ.
2. Điều kiện cấp lại giấy phép hành nghề bao gồm:
a) Đã được cấp giấy
phép hành nghề;
b) Đáp ứng các điều kiện
phù hợp với nội dung đề nghị cấp lại;
c) Không thuộc một
trong các trường hợp quy định tại Điều 20 của Luật này.
3. Hồ sơ đề nghị cấp lại giấy phép hành nghề bao gồm:
a) Đơn đề
nghị cấp lại giấy phép hành nghề;
b) Tài liệu
chứng minh đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này.
4. Thủ tục
cấp lại giấy phép hành nghề được quy định như sau:
a) Người
đề nghị cấp lại giấy phép hành nghề nộp hồ sơ theo quy định tại khoản 3 Điều
này cho cơ quan có thẩm
quyền cấp giấy phép hành
nghề;
b) Cơ
quan có thẩm quyền cấp giấy phép hành nghề phải cấp lại giấy phép
hành nghề trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ; trường hợp không cấp
lại giấy phép hành nghề thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do;
c) Trường
hợp cần xác minh tài liệu có yếu tố nước ngoài trong hồ sơ đề nghị cấp lại giấy
phép hành nghề thì thời hạn cấp lại là 15 ngày kể từ ngày có kết quả xác minh.
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 32. Gia hạn giấy phép hành nghề
1. Gia hạn giấy phép hành nghề áp dụng đối với trường hợp giấy phép hành nghề hết hạn.
2. Điều kiện gia hạn giấy phép hành nghề đối với các chức danh
bác sỹ, y sỹ, điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y, dinh dưỡng lâm sàng, cấp cứu
viên ngoại viện, tâm lý lâm sàng
và lương y bao gồm:
a) Đáp ứng yêu cầu về cập
nhật kiến thức y khoa liên tục theo quy định tại Điều 22 của Luật
này;
b) Có đủ sức khỏe để
hành nghề;
c) Phải thực hiện thủ tục
gia hạn ít nhất 60 ngày trước thời điểm giấy phép hành nghề hết hạn, trừ trường
hợp khác theo quy định của Chính phủ;
d) Không thuộc một
trong các trường hợp quy định tại Điều 20 của Luật này.
3. Điều kiện gia hạn giấy
phép hành nghề đối với chức danh người có bài thuốc gia truyền hoặc có phương
pháp chữa bệnh gia truyền bao gồm điều kiện quy định tại các điểm b, c và d khoản
2 Điều này.
4. Hồ sơ đề nghị gia hạn giấy phép hành nghề bao gồm tài liệu chứng minh đáp ứng
điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này.
5. Thủ tục
gia hạn giấy phép hành nghề được quy định như sau:
a) Người
đề nghị gia hạn giấy phép hành nghề nộp hồ sơ theo quy định tại khoản 4 Điều
này cho cơ quan có thẩm
quyền cấp giấy phép hành
nghề;
b) Trong
thời gian kể từ khi nhận đủ hồ sơ đến ngày hết hạn ghi trên giấy phép hành nghề,
cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép hành nghề có trách nhiệm thực hiện
việc gia hạn hoặc phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do nếu không thực hiện
việc gia hạn; trường hợp đến ngày hết hạn ghi trên giấy phép hành nghề mà không
có văn bản trả lời thì giấy phép hành nghề tiếp tục có hiệu lực theo quy định tại
khoản 2 Điều 27 của Luật này;
c) Trường
hợp cần xác minh việc cập nhật kiến thức y khoa liên tục của người hành nghề
theo chương trình do cơ quan, tổ chức nước ngoài thực hiện thì thời hạn gia hạn
là 15 ngày kể từ ngày có kết quả xác minh.
6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 33. Điều chỉnh giấy phép hành nghề
1. Điều chỉnh giấy phép hành nghề đối với các chức danh bác sỹ, y sỹ, điều dưỡng, hộ sinh, kỹ
thuật y, dinh dưỡng lâm sàng, cấp cứu viên ngoại viện và tâm
lý lâm sàng khi bổ sung, thay đổi phạm vi hành nghề khám bệnh, chữa bệnh.
2. Điều kiện điều chỉnh giấy phép hành nghề bao
gồm:
a) Đã hoàn thành chương
trình đào tạo về chuyên môn kỹ thuật phù hợp với phạm vi hành nghề đề nghị điều
chỉnh do cơ sở đào tạo, bệnh viện cấp;
b) Đáp ứng yêu cầu về
thực hành khám bệnh, chữa bệnh đối với một số lĩnh vực chuyên môn;
c) Không thuộc một
trong các trường hợp quy định tại Điều 20 của Luật này.
3. Hồ sơ đề nghị điều chỉnh giấy phép hành nghề bao gồm:
a) Đơn đề
nghị điều chỉnh giấy phép hành nghề;
b) Tài liệu
chứng minh đáp ứng đủ điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này.
4. Thủ tục điều
chỉnh giấy phép hành nghề được quy định như sau:
a) Người
đề nghị điều chỉnh giấy phép hành nghề nộp hồ sơ theo quy định tại khoản 3 Điều
này cho cơ quan có thẩm
quyền cấp giấy phép hành
nghề;
b) Cơ
quan có thẩm quyền cấp giấy phép hành nghề phải điều chỉnh giấy
phép hành nghề trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ; trường hợp
không điều chỉnh giấy phép hành nghề thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý
do;
c) Trường
hợp cần xác minh tài liệu có yếu tố nước ngoài trong hồ sơ đề nghị điều chỉnh
giấy phép hành nghề thì thời hạn điều chỉnh là 15 ngày kể từ ngày có kết quả
xác minh.
5. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 34. Đình chỉ hành nghề
1. Người hành nghề bị đình chỉ hành nghề trong các trường hợp sau đây:
a) Bị Hội đồng chuyên môn quy định tại Điều 101 của Luật
này xác định có sai sót chuyên môn
kỹ thuật đến mức phải đình chỉ hành nghề nhưng chưa đến mức bị thu hồi giấy
phép hành nghề;
b) Bị cơ quan có thẩm quyền kết luận có vi phạm đạo đức nghề
nghiệp nhưng chưa đến mức phải thu hồi giấy phép hành nghề;
c) Không đủ sức khỏe để hành nghề;
d)[3] Có hành vi thông báo, tiết lộ giới
tính thai nhi để phá thai.
2. Tùy theo tính chất, mức độ sai sót chuyên môn kỹ thuật,
vi phạm đạo đức nghề nghiệp, tình trạng sức khỏe, người hành nghề bị đình chỉ
hành nghề trong thời hạn từ 01 tháng đến 24 tháng.
3. Sau khi bị đình chỉ hành nghề, tùy tính chất, mức độ sai
sót chuyên môn kỹ thuật mà người hành nghề phải cập nhật kiến thức y khoa theo kết luận của Hội đồng chuyên môn quy định
tại Điều 101 của Luật này.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 35. Thu hồi giấy phép hành nghề
1. Giấy phép hành nghề
bị thu hồi trong trường hợp sau đây:
a) Hồ sơ đề nghị cấp giấy
phép hành nghề không đúng quy định;
b) Giả mạo tài liệu
trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hành nghề;
c) Cấp sai chức danh
chuyên môn hoặc phạm vi hành nghề trong giấy phép hành nghề so với hồ sơ đề nghị
cấp giấy phép hành nghề;
d) Người hành nghề
không hành nghề trong thời gian 24 tháng liên tục, trừ trường hợp tham gia chương trình đào tạo chuyên khoa;
đ) Người hành nghề thuộc
một trong các trường hợp bị cấm hành nghề quy định tại các khoản
1, 2, 3, 4 và 6 Điều 20 của Luật này;
e) Người hành nghề bị Hội
đồng chuyên môn quy định tại Điều 101 của Luật này xác định
có sai sót chuyên môn kỹ thuật đến mức phải thu hồi giấy phép hành nghề;
g) Người hành nghề lần
thứ hai bị Hội đồng chuyên môn quy định tại Điều 101 của Luật
này xác định có sai sót chuyên môn kỹ thuật đến mức phải đình chỉ hành nghề
trong thời hạn của giấy phép hành nghề;
h) Người hành nghề lần
thứ hai bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định là có vi phạm đạo đức nghề
nghiệp đến mức phải đình chỉ hành nghề trong thời hạn của giấy phép hành nghề;
i) Người hành nghề tự đề
nghị thu hồi giấy phép hành nghề;
k) Trường hợp khác do
Chính phủ quy định sau khi đã báo
cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
2. Sau khi thu hồi giấy
phép hành nghề, trường hợp muốn tiếp tục hành nghề, người hành nghề phải đề nghị
cấp mới giấy phép hành nghề quy định tại điểm c khoản 1 Điều 30
của Luật này hoặc đề nghị cấp lại giấy phép hành nghề quy định tại điểm c khoản 1 Điều 31 của Luật này.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Mục
4. ĐĂNG KÝ HÀNH NGHỀ
Điều
36. Nguyên tắc đăng ký hành nghề
1. Người
hành nghề được đăng ký hành nghề tại nhiều cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhưng
không được trùng thời gian khám bệnh, chữa bệnh giữa các cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh.
2. Người
hành nghề được đăng ký làm việc tại một hoặc nhiều
vị trí chuyên môn sau đây trong cùng một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhưng phải
bảo đảm chất lượng công việc tại các vị trí được phân công:
a)
Khám bệnh, chữa bệnh theo giấy phép hành nghề;
b) Phụ
trách một bộ phận chuyên môn;
c) Chịu
trách nhiệm chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
3. Người
hành nghề được khám bệnh, chữa bệnh mà không phải đăng ký hành nghề trong các
trường hợp sau đây:
a) Hoạt
động cấp cứu ngoài cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, trừ cấp cứu viên ngoại viện;
b) Được
cơ quan, người có thẩm quyền huy động, điều động tham gia hoạt động khám bệnh,
chữa bệnh trong trường hợp xảy ra thiên tai, thảm họa, dịch bệnh truyền nhiễm
thuộc nhóm A hoặc tình trạng khẩn cấp;
c)
Khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo theo đợt;
d)
Khám bệnh, chữa bệnh trong quá trình chuyển giao kỹ thuật chuyên môn, hỗ trợ
chuyên môn kỹ thuật ở cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác trong thời gian ngắn hạn;
đ) Trường
hợp khác theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Điều
37. Nội dung đăng ký hành nghề
1. Họ
và tên, số giấy phép hành nghề của người hành nghề.
2. Chức
danh, vị trí chuyên môn của người hành nghề.
3. Địa
điểm hành nghề, bao gồm tên, địa chỉ của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nơi đăng ký
hành nghề.
4. Thời
gian hành nghề.
5.
Ngôn ngữ mà người hành nghề nước ngoài sử dụng trong khám bệnh, chữa bệnh đối với
các trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 21 của
Luật này.
Điều
38. Trách nhiệm trong đăng ký hành nghề
1. Cơ
sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện đăng ký hành nghề cho người hành nghề làm việc
tại cơ sở của mình như sau:
a) Gửi
danh sách đăng ký hành nghề cùng với đề nghị cấp mới giấy phép hoạt động đến cơ
quan có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động;
b) Trường
hợp có thay đổi về người hành nghề trong thời gian chờ cấp giấy phép hoạt động
hoặc trong quá trình hoạt động thì phải gửi văn bản đăng ký đến cơ quan có thẩm
quyền cấp giấy phép hoạt động.
2. Cơ
quan có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động có trách nhiệm công bố công khai
danh sách người hành nghề trên Hệ thống thông tin về quản lý hoạt động khám bệnh,
chữa bệnh như sau:
a)
Cùng thời điểm cấp giấy phép hoạt động đối với trường hợp quy định tại điểm a
khoản 1 Điều này và trường hợp có thay đổi về người hành nghề trong thời gian
chờ cấp giấy phép hoạt động quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;
b)
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ thời điểm tiếp nhận văn bản đăng ký hành
nghề đối với trường hợp thay đổi người hành nghề trong quá trình hoạt động của
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.
3.
Chính phủ quy định chi tiết về đăng ký hành nghề tại Mục 4 Chương III của Luật
này.
Mục
5. QUYỀN CỦA
NGƯỜI HÀNH NGHỀ
Điều
39. Quyền hành nghề
1. Được hành nghề khám
bệnh, chữa bệnh theo đúng phạm vi hành nghề cho phép.
2. Được quyết định về
việc chẩn đoán, phương pháp chữa bệnh trong phạm vi hành nghề cho phép.
3. Được hành nghề khám
bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác nhau nhưng phải tuân thủ
quy định về đăng ký hành nghề của Luật này.
4. Được tham gia các tổ
chức xã hội - nghề nghiệp về khám bệnh, chữa bệnh.
Điều
40. Quyền từ chối khám bệnh, chữa bệnh
Người hành nghề được từ
chối khám bệnh, chữa bệnh trong các trường hợp sau đây:
1. Tiên lượng tình trạng
bệnh vượt quá khả năng hoặc không thuộc phạm vi hành nghề của mình nhưng phải
giới thiệu người bệnh đến người hành nghề khác hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
khác phù hợp để khám bệnh, chữa bệnh và phải thực hiện việc sơ cứu, cấp cứu,
theo dõi, chăm sóc, điều trị người bệnh cho đến khi người bệnh được người hành
nghề khác tiếp nhận hoặc chuyển đi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác;
2. Việc khám bệnh, chữa
bệnh trái với quy định của pháp luật hoặc đạo đức nghề nghiệp;
3. Người bệnh, thân
nhân của người bệnh có hành vi xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng của người
hành nghề khi đang thực hiện nhiệm vụ, trừ trường hợp người đó mắc bệnh tâm thần
hoặc bệnh khác mà không nhận thức, làm chủ được hành vi;
4. Người bệnh yêu cầu
phương pháp khám bệnh, chữa bệnh không phù hợp với quy định về chuyên môn kỹ
thuật;
5. Người bệnh, người đại
diện của người bệnh quy định tại điểm a khoản 2 và điểm a khoản
3 Điều 15 của Luật này không chấp hành chỉ định về chẩn đoán, phương pháp
chữa bệnh của người hành nghề sau khi đã được người hành nghề tư vấn, vận động
thuyết phục mà việc không chấp hành này có nguy cơ gây hại đến sức khỏe, tính mạng
của người bệnh.
Điều
41. Quyền được nâng cao năng lực chuyên môn
1. Được đào tạo, phát
triển năng lực chuyên môn.
2. Được cập nhật kiến
thức y khoa liên tục phù hợp với phạm vi hành nghề.
3. Được tham gia bồi dưỡng,
trao đổi thông tin về chuyên môn, kiến thức pháp luật về y tế.
Điều
42. Quyền được bảo vệ khi xảy ra sự cố y khoa
1. Được pháp luật bảo vệ
và không phải chịu trách nhiệm khi đã thực hiện đúng quy định mà vẫn xảy ra sự
cố y khoa.
2. Được đề nghị cơ
quan, tổ chức, tổ chức xã hội - nghề nghiệp về khám bệnh, chữa bệnh bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của mình khi xảy ra sự cố y khoa.
Điều
43. Quyền được bảo đảm an toàn khi hành nghề khám bệnh, chữa bệnh
1. Được bảo đảm an
toàn, vệ sinh lao động khi làm việc theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ
sinh lao động.
2. Được bảo vệ danh dự,
nhân phẩm, sức khỏe và tính mạng.
3. Được phép tạm rời khỏi
nơi làm việc trong trường hợp bị người khác đe dọa đến sức khỏe, tính mạng
nhưng phải báo cáo ngay với người chịu trách nhiệm chuyên môn hoặc
người trực lãnh đạo của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và với cơ quan công an hoặc
chính quyền địa phương nơi gần nhất.
Mục
6. NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI HÀNH NGHỀ
Điều
44. Nghĩa vụ đối với người bệnh
1. Kịp thời sơ cứu, cấp
cứu, khám bệnh, chữa bệnh cho người bệnh, trừ trường hợp quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều 40 của Luật này.
2. Tôn trọng các quyền
của người bệnh, có thái độ ân cần, hòa nhã với người bệnh.
3. Tư vấn, cung cấp
thông tin theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật này.
4. Đối xử bình đẳng với
người bệnh, không để lợi ích cá nhân hay sự phân biệt đối xử ảnh hưởng đến quyết
định chuyên môn của mình.
5. Chỉ được yêu cầu người
bệnh chi trả các chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật.
Điều
45. Nghĩa vụ đối với nghề nghiệp
1. Tuân thủ quy định về
chuyên môn kỹ thuật.
2. Chịu trách nhiệm về
việc khám bệnh, chữa bệnh của mình.
3. Thường xuyên học tập,
cập nhật kiến thức y khoa liên tục.
4. Tận tâm trong quá
trình khám bệnh, chữa bệnh.
5. Giữ bí mật tình trạng
bệnh của người bệnh, những thông tin mà người bệnh đã cung cấp và hồ sơ bệnh
án, trừ trường hợp người bệnh đồng ý chia sẻ thông tin và trường hợp quy định tại
khoản 3 và khoản 4 Điều 69 của Luật này.
6. Thông báo với người
có thẩm quyền về người hành nghề có hành vi lừa dối người bệnh hoặc vi phạm quy
định của Luật này.
Điều
46. Nghĩa vụ đối với đồng nghiệp
1. Hợp tác với đồng
nghiệp trong khám bệnh, chữa bệnh.
2. Tôn trọng danh dự và
uy tín của đồng nghiệp.
Điều
47. Nghĩa vụ đối với xã hội
1. Tham gia cấp cứu, bảo
vệ sức khỏe và giáo dục sức khỏe tại cộng đồng.
2. Tham gia giám sát về
năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của người hành nghề khác.
3. Chấp hành quyết định
luân phiên có thời hạn của cơ quan quản lý trực tiếp; quyết định huy động, điều
động của cơ quan, người có thẩm quyền về việc tham gia hoạt động khám bệnh, chữa
bệnh khi có thiên tai, thảm họa, dịch bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A hoặc tình
trạng khẩn cấp, trừ các trường hợp sau đây:
a) Người hành nghề đang
mang thai hoặc đang nuôi con dưới 24 tháng tuổi, trừ trường hợp người đó tự
nguyện;
b) Người hành nghề thuộc
nhóm nguy cơ cao đối với các bệnh dịch và trường hợp khác theo quy định của Bộ
trưởng Bộ Y tế.
Chương
IV
CƠ SỞ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH
Mục
1. GIẤY PHÉP
HOẠT ĐỘNG KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH
Điều
48. Hình thức tổ chức của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
1. Các
hình thức tổ chức của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bao gồm:
a) Bệnh
viện;
b) Bệnh
xá thuộc lực lượng vũ trang nhân dân;
c) Nhà hộ
sinh;
d) Phòng
khám;
đ) Phòng
chẩn trị y học cổ truyền;
e) Cơ sở dịch vụ cận lâm sàng;
g) Trạm y
tế;
h) Cơ sở
cấp cứu ngoại viện;
i) Cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh y học gia đình;
k) Hình
thức tổ chức khác của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Chính phủ.
2. Trường
hợp cơ sở giám định y khoa, cơ sở giám định pháp y, cơ sở pháp y tâm thần,
trung tâm y tế, viện có giường bệnh, y tế cơ quan, đơn vị, tổ chức hoặc cơ sở
có tên gọi khác mà thực hiện khám bệnh, chữa bệnh thì việc cấp giấy phép hoạt động
phải thực hiện theo một trong các hình thức tổ chức của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 49. Điều kiện hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
1. Đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động.
2. Bảo đảm
tiêu chuẩn chất lượng cơ bản quy định tại điểm a khoản 1 Điều
57 của Luật này trong quá trình hoạt động.
Điều
50. Giấy phép hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
1. Mỗi cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh có một giấy phép hoạt động và không có thời hạn. Trường hợp cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thêm
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tại địa điểm khác thì mỗi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải có một giấy phép hoạt động riêng.
2. Nội dung của giấy
phép hoạt động bao gồm các thông tin cơ bản sau đây:
a) Tên cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh;
b) Hình thức tổ chức;
c) Địa chỉ hoạt động;
d) Phạm vi hoạt động chuyên
môn;
đ) Thời gian làm việc hằng
ngày.
3. Cơ sở đề nghị cấp mới, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động
phải nộp phí theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí, trừ trường hợp do lỗi
của cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động mà phải cấp mới, cấp lại, điều chỉnh.
4. Trong thời hạn 05
ngày làm việc kể từ ngày cấp mới, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động, cơ
quan có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động phải cập nhật thông tin liên quan đến
việc cấp mới, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động trên Hệ thống thông tin về
quản lý hoạt động khám bệnh, chữa bệnh.
5. Chính phủ quy định chi tiết các trường hợp, điều kiện, hồ sơ, thủ tục
cấp mới, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động đối với từng hình thức tổ chức
của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quy định tại Điều 48 của Luật
này; quy định mẫu giấy phép hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và các điều kiện đặc thù đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc
lực lượng vũ trang nhân dân.
Điều 51. Thẩm quyền cấp mới, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động,
đình chỉ hoạt động và thu hồi giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh
1. Bộ Y tế
cấp mới, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động, đình chỉ hoạt động và thu hồi
giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc Bộ Y tế; đình
chỉ hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác trên phạm vi toàn quốc.
2. Bộ Quốc
phòng cấp mới, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động, đình chỉ hoạt động và
thu hồi giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý.
3. Bộ
Công an cấp mới, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động, đình chỉ hoạt động và
thu hồi giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý.
4. Cơ
quan chuyên môn về y tế thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp mới, cấp lại, điều
chỉnh và thu hồi giấy phép hoạt động đối với các
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn quản lý, trừ trường hợp quy định tại
các khoản 1, 2 và 3 Điều này; đình chỉ hoạt động đối
với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoạt động
trên địa bàn quản lý.
Điều 52. Cấp mới giấy phép hoạt động
1. Cấp mới giấy phép hoạt
động được áp dụng đối với các trường hợp sau đây:
a) Cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh lần đầu tiên đề nghị cấp giấy phép hoạt động;
b) Cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh bị thu hồi giấy phép hoạt động, trừ trường hợp quy định tại điểm
d khoản 1 Điều 56 của Luật này;
c) Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã được cấp giấy phép hoạt động nhưng
thay đổi hình thức tổ chức hoặc địa điểm;
d) Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã được cấp giấy phép hoạt động nhưng
chia tách, hợp nhất, sáp nhập;
đ) Trường hợp khác theo
quy định của Chính phủ.
2. Điều kiện cấp mới giấy
phép hoạt động bao gồm:
a) Được
thành lập theo quy định của pháp luật;
b) Có cơ
cấu tổ chức phù hợp với từng hình thức tổ chức của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
c) Có địa
điểm hoạt động;
d) Có cơ
sở vật chất phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn và quy mô của cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh, trong đó hạ tầng công nghệ thông tin phải bảo đảm kết nối với Hệ thống
thông tin về quản lý hoạt động khám bệnh, chữa bệnh theo quy định tại khoản 1 Điều 112 của Luật này;
đ) Có đủ
thiết bị y tế, phương tiện phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn và quy mô của
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
e) Có đủ
người hành nghề phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn và quy mô của cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải có người chịu trách nhiệm
chuyên môn và mỗi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chỉ có một người chịu trách nhiệm
chuyên môn.
3. Hồ sơ đề nghị
cấp mới giấy phép hoạt động bao gồm:
a) Đơn đề
nghị cấp mới giấy phép hoạt động;
b) Tài liệu
chứng minh cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 2 Điều
này.
4. Thủ tục
cấp mới giấy phép hoạt động được quy định như sau:
a) Hồ sơ
đề nghị cấp mới nộp cho cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động;
b) Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động có trách nhiệm thẩm định. Thời hạn
thẩm định không quá 60 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ. Kết quả thẩm định phải được
thể hiện bằng biên bản thẩm định, trong đó nêu rõ các nội dung yêu cầu sửa đổi,
bổ sung (nếu có) và phải có chữ ký của các bên tham gia thẩm định, cơ sở được
thẩm định;
c) Trong thời hạn 10
ngày làm việc kể từ ngày ban hành biên bản thẩm định, cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động phải cấp mới giấy phép hoạt động;
trường hợp cơ sở phải thực hiện các nội dung sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu nêu
tại biên bản thẩm định thì trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày hoàn
thành việc sửa đổi, bổ sung, cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt
động phải cấp mới giấy phép hoạt động.
5. Chính phủ quy định
chi tiết Điều này; quy định việc
cấp mới giấy phép hoạt động đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc lực lượng
vũ trang nhân dân.
Điều 53. Cấp lại giấy phép hoạt động
1. Cấp lại giấy phép hoạt động được áp dụng đối với các trường hợp sau
đây:
a) Giấy phép hoạt động
bị mất;
b) Giấy phép hoạt động
bị hư hỏng;
c) Giấy phép hoạt động có sai sót thông tin.
2. Hồ sơ đề nghị cấp lại giấy phép hoạt động bao
gồm:
a) Đơn đề nghị cấp lại giấy phép hoạt động;
b) Bản gốc giấy phép hoạt động, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản
1 Điều này;
c) Tài liệu
chứng minh đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này.
3. Thủ tục
cấp lại giấy phép hoạt động được quy định như sau:
a) Hồ sơ
đề nghị cấp lại nộp cho cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động;
b) Trong
thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan có thẩm
quyền cấp giấy phép hoạt động có trách nhiệm cấp lại giấy phép hoạt động.
Trường hợp phải thẩm định thực tế tại cơ sở thì thực hiện theo thủ tục quy định
tại điểm b và điểm c khoản 4 Điều 52 của Luật này.
4. Chính phủ quy định
chi tiết Điều này; quy định việc
cấp lại giấy phép hoạt động đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc lực lượng
vũ trang nhân dân.
Điều 54. Điều chỉnh giấy phép hoạt động
1. Điều chỉnh giấy phép hoạt động trong
các trường hợp sau đây:
a) Thay đổi phạm vi hoạt
động chuyên môn;
b) Thay đổi quy mô hoạt
động;
c) Thay đổi thời gian
làm việc;
d) Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không thay đổi địa điểm
nhưng thay đổi tên, địa chỉ;
đ) Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bị đình chỉ một phần hoạt động khi hết thời hạn đình chỉ mà
không hoàn thành việc khắc phục đầy đủ các nội dung yêu cầu tại văn bản đình chỉ.
2. Điều
kiện điều chỉnh giấy phép hoạt động bao gồm:
a) Có giấy
phép hoạt động đang còn hiệu lực;
b) Đáp ứng các điều kiện
phù hợp với nội dung đề nghị điều chỉnh theo quy định của pháp luật.
3. Hồ sơ điều chỉnh giấy phép hoạt động bao gồm:
a) Đơn đề
nghị điều chỉnh giấy phép hoạt động;
b) Bản gốc
giấy phép hoạt động và tài liệu chứng minh việc thay đổi quy định tại điểm b khoản
2 Điều này.
4. Thủ tục
điều chỉnh giấy phép hoạt động được quy định như sau:
a) Hồ sơ
đề nghị điều chỉnh nộp cho cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động;
b) Trong
thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan có thẩm
quyền cấp giấy phép hoạt động có trách nhiệm điều chỉnh giấy phép hoạt động.
Trường hợp phải thẩm định thực tế tại cơ sở thì thực hiện theo thủ tục quy định
tại điểm b và điểm c khoản 4 Điều 52 của Luật này.
5. Chính phủ quy định
chi tiết Điều này; quy định việc
điều chỉnh giấy phép hoạt động đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc lực
lượng vũ trang nhân dân.
Điều 55. Đình chỉ hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
1. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bị đình chỉ một phần
hoặc toàn bộ hoạt động trong các trường hợp sau đây:
a) Xảy ra sự cố y
khoa tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đến mức phải đình chỉ hoạt động;
b) Không bảo đảm một trong các điều kiện quy định tại Điều
49 của Luật này;
c) Không bảo đảm một trong các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 52 của Luật này.
2. Thời hạn
đình chỉ hoạt động từ 01 tháng đến 24 tháng.
3. Việc
đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và thời
hạn đình chỉ phải căn cứ vào nguyên nhân, tính
chất, mức độ, hậu quả của sự cố y
khoa hoặc phần điều kiện
hoạt động không còn bảo đảm.
4. Trong thời hạn bị đình chỉ hoạt động, nếu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã hoàn thành việc khắc phục đầy đủ các nội
dung yêu cầu tại văn bản đình chỉ, cơ quan
có thẩm quyền đình chỉ hoạt động cơ
sở khám bệnh, chữa bệnh quyết định cho
phép cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoạt động trở lại.
5. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 56. Thu hồi giấy phép hoạt động cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
1. Giấy phép hoạt động
bị thu hồi trong các trường hợp sau đây:
a) Hồ sơ đề nghị cấp giấy
phép hoạt động không đúng quy định;
b) Giả mạo giấy tờ
trong hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động;
c) Giấy phép hoạt động
được cấp không đúng thẩm quyền;
d) Giấy phép hoạt động
có sai sót thông tin;
đ) Cấp sai hình thức tổ
chức, phạm vi hoạt động chuyên môn;
e) Sau 24 tháng kể từ
ngày được cấp giấy phép hoạt động mà cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không hoạt động;
g) Cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh tạm dừng hoạt động từ 24 tháng liên tục trở lên hoặc chấm dứt hoạt động;
h) Cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh bị đình chỉ toàn bộ hoạt động khi hết thời hạn đình chỉ mà không hoàn
thành việc khắc phục đầy đủ các nội dung yêu cầu tại văn bản đình chỉ;
i) Cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh không bảo đảm duy trì đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều
49 hoặc khoản 2 Điều 52 của Luật này;
k) Cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh tự đề nghị thu hồi giấy phép hoạt động.
2. Chính phủ quy định
chi tiết Điều này. Trường hợp cần
thiết phải bổ sung các trường hợp thu hồi giấy phép hoạt động, Chính phủ báo
cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước khi ban hành.
Mục
2. ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CƠ SỞ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH
Điều
57. Tiêu chuẩn chất lượng đối với cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh
1. Tiêu chuẩn chất lượng
là các tiêu chuẩn, yêu cầu về quản lý và chuyên môn kỹ thuật dùng làm cơ sở để
đánh giá chất lượng của dịch vụ kỹ thuật hoặc của từng chuyên khoa hoặc của
toàn bộ cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã được cấp giấy phép hoạt động, bao gồm:
a) Tiêu chuẩn chất lượng
cơ bản đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh do Bộ Y tế ban hành;
b) Tiêu chuẩn chất lượng
nâng cao đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh do Bộ Y tế ban hành;
c) Tiêu chuẩn chất lượng
đối với từng chuyên khoa hoặc dịch vụ kỹ thuật do Bộ Y tế ban hành;
d) Tiêu chuẩn chất lượng
đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc từng chuyên khoa hoặc dịch vụ kỹ thuật
do tổ chức trong nước, tổ chức nước ngoài ban hành được Bộ Y tế thừa nhận.
2. Khuyến khích cơ sở khám bệnh, chữa bệnh áp dụng
tiêu chuẩn chất lượng quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều này.
3. Tiêu chuẩn chất lượng quy định tại điểm d khoản 1 Điều này phải
phù hợp với điều kiện tại Việt Nam, không thấp hơn tiêu chuẩn chất lượng quy định
tại điểm a khoản 1 Điều này và bảo đảm các yêu cầu tối thiểu sau đây:
a) Bảo đảm tính khoa học
và hiệu quả;
b) Bảo đảm đánh giá được
tổng thể các đặc tính chất lượng và thành tố chất lượng;
c) Được các tổ chức quốc
tế về chất lượng khám bệnh, chữa bệnh thừa nhận, đã được áp dụng trên thế giới.
4. Bộ trưởng Bộ Y tế
quy định việc thừa nhận tiêu chuẩn chất lượng quy định tại điểm d khoản 1 Điều
này.
Điều
58. Đánh giá và chứng nhận chất lượng đối với
cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh
1. Việc đánh giá và chứng
nhận chất lượng nhằm mục đích sau đây:
a) Duy trì và cải tiến
chất lượng hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
b) Cung cấp thông tin để
người bệnh và các bên chi trả có thể lựa chọn cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phù hợp;
c) Làm căn cứ để kiến nghị xử lý vi phạm và khen thưởng đối với kết quả
đánh giá theo tiêu chuẩn chất lượng cơ bản.
2. Nguyên tắc đánh giá
chất lượng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bao gồm:
a) Độc lập, khách quan,
trung thực, công khai, minh bạch, đúng pháp luật;
b) Phù hợp với tiêu chuẩn
chất lượng khám bệnh, chữa bệnh đã được Bộ Y tế ban hành hoặc thừa nhận;
c) Chỉ thực hiện đánh
giá chất lượng sau khi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được cấp giấy phép hoạt động
ít nhất đủ 12 tháng;
d) Cơ quan, tổ chức
đánh giá, chứng nhận chất lượng chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả
đánh giá của mình.
3. Hằng năm, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách
nhiệm tự đánh giá chất lượng theo quy định tại điểm a khoản 1
Điều 57 của Luật này.
4. Tổ chức
đánh giá, chứng nhận chất lượng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã được cấp giấy chứng
nhận đăng ký hoạt động đánh giá sự phù hợp theo quy định của pháp luật thực hiện
đánh giá chất lượng khi có đề nghị của cơ quan quản lý nhà nước về khám bệnh,
chữa bệnh hoặc của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
5. Kết quả đánh giá chất lượng được công khai tại cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh và Hệ thống thông tin về quản lý hoạt động khám bệnh, chữa bệnh.
6. Căn cứ
kết quả đánh giá quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều này, cơ quan quản lý nhà
nước về khám bệnh, chữa bệnh thực hiện kiểm tra kết quả đánh giá chất lượng đối
với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý theo nguyên tắc quản lý
rủi ro.
7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Mục
3 . QUYỀN VÀ TRÁCH
NHIỆM CỦA CƠ SỞ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH
Điều
59. Quyền của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
1. Thực hiện các hoạt động
khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Luật này.
2. Được từ chối khám bệnh,
chữa bệnh trong các trường hợp sau đây:
a) Vượt quá khả năng
chuyên môn hoặc không thuộc phạm vi hoạt động chuyên môn của cơ sở, trừ trường
hợp cấp cứu quy định tại Điều 61 của Luật này.
b) Thuộc một trong các
trường hợp quy định tại các khoản 3, 4 và 5 Điều 40 của Luật
này.
3. Thu các khoản chi
phí liên quan đến hoạt động khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật.
4. Hưởng chế độ ưu đãi
khi thực hiện các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật.
5. Giao kết hợp đồng
khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế với cơ quan bảo hiểm xã hội theo quy định của
pháp luật về bảo hiểm y tế; giao kết hợp đồng với các tổ chức bảo hiểm khác
theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm để khám bệnh, chữa bệnh.
6. Hợp tác với các tổ
chức, cá nhân trong nước và nước ngoài trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh.
7. Được tổ chức cung cấp
các dịch vụ chăm sóc, hỗ trợ theo yêu cầu của người bệnh, người đại diện của
người bệnh.
8. Cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh tư nhân được tham gia đấu thầu hoặc được Nhà nước đặt hàng
cung cấp một số dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh trong danh mục dịch vụ sự nghiệp
công do ngân sách nhà nước bảo đảm hoặc hỗ trợ một phần kinh phí.
Điều 60. Trách nhiệm của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
1. Tổ chức
việc sơ cứu, cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh kịp thời cho người bệnh.
2. Thực
hiện quy định về chuyên môn kỹ thuật và các quy định khác của pháp luật có liên
quan; chịu trách nhiệm về kết quả khám bệnh, chữa bệnh của người hành nghề thuộc
thẩm quyền quản lý.
3. Công
khai thời gian làm việc và danh sách người hành nghề, thời gian làm việc của từng
người hành nghề tại cơ sở.
4. Niêm yết
giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, giá dịch
vụ chăm sóc, hỗ trợ theo yêu cầu
tại cơ sở và trên Hệ thống thông tin về quản lý hoạt động khám bệnh, chữa bệnh.
5. Bảo đảm
việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người bệnh, người hành nghề theo quy định
của Luật này.
6. Bảo đảm
các điều kiện cần thiết để người hành nghề thực hiện khám bệnh, chữa bệnh.
7. Tự
đánh giá chất lượng và công khai kết quả đánh giá chất lượng theo quy định tại khoản 3 và khoản 5 Điều 58 của Luật này.
8. Chấp
hành quyết định huy động, điều động của cơ quan, người có thẩm quyền trong trường
hợp xảy ra thiên tai, thảm họa, dịch bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A hoặc tình
trạng khẩn cấp.
9. Tổ chức
lực lượng bảo vệ, bảo đảm các điều kiện về cơ sở vật chất để bảo đảm an ninh,
trật tự phù hợp với hình thức tổ chức, quy mô của cơ sở; phối hợp với cơ quan
công an có thẩm quyền trong việc tổ chức triển khai thực hiện các biện pháp bảo
đảm an ninh, trật tự tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; thông báo cơ quan công an
có thẩm quyền trên địa bàn để phối hợp triển khai các biện pháp bảo vệ người bệnh
là người bị bạo lực, xâm hại.
10. Giới
thiệu, chuyển người bệnh đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác phù hợp tình trạng
bệnh và yêu cầu của người bệnh trong các trường hợp sau đây:
a) Tình
trạng bệnh vượt quá khả năng chuyên môn hoặc không
thuộc phạm vi hoạt động chuyên
môn của cơ sở;
b) Theo
yêu cầu của người bệnh, người đại diện của người bệnh và được sự đồng ý của người
hành nghề trực tiếp điều trị cho người bệnh hoặc người trực lâm sàng;
c) Tạm dừng
hoặc bị đình chỉ hoạt động, thu hồi giấy phép hoạt động;
d) Gặp sự
cố bất khả kháng mà không thể tiếp tục thực hiện việc tiếp nhận, điều trị cho
người bệnh.
11. Tham
gia các hoạt động y tế dự phòng theo quy định của pháp luật.
12. Mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh theo quy
định của Chính phủ.
Chương V
CHUYÊN MÔN KỸ
THUẬT
Điều 61. Cấp cứu
1. Hoạt động
cấp cứu bao gồm:
a) Cấp cứu
tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
b) Cấp cứu
ngoại viện.
2. Việc cấp
cứu phải được thực hiện trên cơ sở đánh giá, phân loại và áp dụng các biện pháp
chuyên môn kỹ thuật phù hợp với tình trạng của người bệnh. Trong trường hợp cần
áp dụng những biện pháp cấp cứu khẩn cấp mà chưa có sự đồng ý của người đại diện
của người bệnh thì người
chịu trách nhiệm chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc người trực lãnh
đạo của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có quyền quyết định.
3. Khi việc
cấp cứu cần sự hỗ trợ chuyên môn kỹ thuật thì tùy từng trường hợp cụ thể, cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh phải thực hiện một hoặc một số hoạt động sau đây:
a) Tổ chức
hội chẩn theo quy định tại Điều
64 của Luật này;
b) Đề nghị
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác hỗ trợ cấp cứu;
c) Hỗ trợ
khám bệnh, chữa bệnh từ xa;
d) Chuyển
người bệnh cấp cứu đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phù hợp.
4. Cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm ưu tiên điều kiện tốt nhất về nhân lực, thiết
bị y tế, thuốc cho việc cấp cứu người bệnh và chuyển người bệnh cấp cứu đến cơ
sở khám bệnh, chữa bệnh phù hợp.
5. Hoạt động
cấp cứu ngoại viện bao gồm:
a) Hoạt động
sơ cứu do người có kiến thức hoặc đã qua đào tạo về cấp cứu ngoại viện thực hiện;
b) Hoạt động
cấp cứu do cấp cứu viên ngoại viện hoặc người hành nghề thực hiện.
6. Hệ thống
cấp cứu ngoại viện được tổ chức dựa trên các tiêu chí cơ bản sau đây:
a) Phù hợp
với quy mô dân số;
b) Phù hợp
với đặc điểm địa lý của từng địa bàn;
c) Bảo đảm
khả năng tiếp nhận và vận chuyển người bệnh đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
trong khoảng thời gian ngắn nhất.
7. Kinh phí
cho hoạt động cấp cứu ngoại viện bao gồm:
a) Ngân
sách nhà nước bảo đảm kinh phí cho đầu tư thiết lập hệ thống cơ sở cấp cứu ngoại
viện của Nhà nước; hệ thống tiếp nhận thông tin và điều phối cấp cứu; chi phí vận
chuyển và sử dụng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh trong quá trình vận chuyển cấp cứu
đối với trường hợp tai nạn, thiên tai, thảm họa, dịch bệnh truyền nhiễm đặc biệt
nguy hiểm có khả năng lây truyền rất nhanh, phát tán rộng và tỷ lệ tử vong cao
hoặc chưa rõ tác nhân gây bệnh; chi phí quản lý, vận hành cơ sở cấp cứu ngoại
viện của Nhà nước;
b) Người
sử dụng dịch vụ cấp cứu ngoại viện chi trả chi phí sử dụng dịch vụ theo quy định
tại Điều 18 và Điều 110 của Luật
này, trừ trường hợp quy định tại điểm a khoản này.
8. Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tổ chức hệ thống cấp cứu ngoại viện của Nhà nước
trên địa bàn quản lý.
9. Chính
phủ quy định chi tiết việc bảo đảm kinh phí cho hoạt động cấp cứu quy định tại
điểm a khoản 7 Điều này.
Điều 62. Khám bệnh, chỉ định phương pháp chữa bệnh và kê đơn thuốc
1. Việc
khám bệnh, chỉ định phương pháp chữa bệnh và kê đơn thuốc phải tuân thủ quy định
về chuyên môn kỹ thuật do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành hoặc công nhận.
2. Người
hành nghề được giao nhiệm vụ khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm sau đây:
a) Khám bệnh,
chỉ định phương pháp chữa bệnh và kê đơn thuốc kịp thời, chính xác và chịu
trách nhiệm về quyết định của mình;
b) Căn cứ
vào tình trạng bệnh của người bệnh, áp dụng điều trị ngoại trú, điều trị ban
ngày hoặc điều trị nội trú. Trường hợp người bệnh phải điều trị nội trú mà cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh không có giường điều trị nội trú thì phải giới thiệu người
bệnh đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phù hợp.
Điều
63. Sử dụng thuốc trong điều trị
1. Việc sử dụng thuốc
trong khám bệnh, chữa bệnh phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:
a) Chỉ định sử dụng thuốc khi thật sự cần thiết, đúng mục đích, an
toàn, hợp lý và hiệu quả;
b) Việc kê đơn thuốc phải
phù hợp với chẩn đoán bệnh, tình trạng bệnh của người bệnh;
c) Bảo quản, cấp phát
và sử dụng thuốc đúng quy định.
2. Khi kê đơn thuốc,
người hành nghề phải ghi đầy đủ, rõ ràng vào đơn thuốc hoặc hồ sơ bệnh án thông
tin về tên thuốc, hàm lượng, liều dùng, cách dùng và thời gian dùng thuốc;
không kê đơn thực phẩm chức năng trong đơn thuốc.
3. Khi cấp phát thuốc
cho người bệnh, người hành nghề được giao nhiệm vụ cấp phát thuốc có trách nhiệm
sau đây:
a) Kiểm tra đơn thuốc,
phiếu lĩnh thuốc, tên thuốc, nồng độ, hàm lượng,
liều dùng, cách dùng thuốc;
b) Kiểm tra, đối chiếu
đơn thuốc với các thông tin về tên thuốc, nồng độ, hàm lượng, hạn dùng và số lượng
khi nhận thuốc;
c) Kiểm tra, đối chiếu họ tên người bệnh, tên thuốc, dạng thuốc, nồng độ,
hàm lượng, liều dùng, cách dùng, thời gian dùng trước khi cấp phát thuốc cho
người bệnh;
d) Đối với người bệnh
điều trị nội trú, phải ghi chép đầy đủ thời gian cấp phát thuốc cho người bệnh,
theo dõi, phát hiện kịp thời các tai biến và báo cho người hành nghề trực tiếp
điều trị.
4. Người bệnh có trách
nhiệm dùng thuốc theo đúng hướng dẫn của người hành nghề. Người bệnh hoặc người
đại diện của người bệnh kịp thời thông báo cho
người hành nghề hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh về các dấu hiệu bất thường sau
khi người bệnh dùng thuốc.
Điều 64. Hội chẩn
1. Việc hội chẩn được
thực hiện khi bệnh vượt quá khả năng chẩn đoán và điều trị của người hành nghề
hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc đã điều trị nhưng bệnh không có tiến triển
tốt hoặc có diễn biến xấu đi. Kết quả hội chẩn phải được thể hiện bằng văn bản
và được lưu trữ trong hồ sơ bệnh án.
2. Các hình thức hội chẩn
bao gồm:
a) Hội chẩn khoa, liên
khoa và toàn cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
b) Hội chẩn giữa các cơ
sở khám bệnh, chữa bệnh trong nước; giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong
nước và nước ngoài;
c) Hội chẩn khác.
3. Các phương thức hội
chẩn bao gồm:
a) Hội chẩn trực tiếp;
b) Hội chẩn từ xa.
4. Trên cơ sở kết quả hội
chẩn, người hành nghề trực tiếp khám bệnh, chữa bệnh đưa ra quyết định chẩn
đoán, điều trị phù hợp cho người bệnh.
Điều
65. Thực hiện phẫu thuật, can thiệp có xâm nhập
cơ thể
1. Việc phẫu thuật hoặc can thiệp có
xâm nhập cơ thể đối với người bệnh chỉ được thực hiện sau khi có sự đồng ý của
người bệnh hoặc người đại diện của người bệnh quy định tại các điểm
a, b, c và d khoản 2 Điều 8 của Luật này.
2. Việc phẫu
thuật hoặc can thiệp có xâm nhập cơ thể đối với
người bệnh là người bị mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, hạn chế năng lực
hành vi dân sự hoặc người chưa thành niên hoặc người bệnh không có thân nhân được
thực hiện theo quy định tại Điều 15 của Luật này.
Điều
66. Chăm sóc người bệnh
1. Chăm sóc người bệnh
là việc thực hiện các kỹ thuật can thiệp chuyên môn, hỗ trợ để chăm sóc người bệnh
trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh theo chỉ định của người hành nghề.
2. Nội dung chăm sóc
người bệnh bao gồm:
a) Xác định nhu cầu chăm
sóc, chẩn đoán điều dưỡng, chỉ định can thiệp chăm sóc người bệnh;
b) Phân cấp cấp độ chăm
sóc người bệnh;
c) Thực hiện các kỹ thuật
can thiệp chuyên môn, hỗ trợ để chăm sóc người bệnh, hướng dẫn người bệnh hoặc
thân nhân của người bệnh thực hiện một số hoạt động chăm sóc;
d) Theo dõi tình trạng
của người bệnh, đánh giá kết quả thực hiện can thiệp chăm sóc.
Điều
67. Dinh dưỡng trong khám bệnh, chữa bệnh
1. Dinh
dưỡng trong khám bệnh, chữa bệnh là hoạt động dinh dưỡng lâm sàng và việc tư vấn,
hướng dẫn chế độ dinh dưỡng trong khám bệnh, chữa bệnh.
2. Nội
dung hoạt động dinh dưỡng trong khám bệnh, chữa bệnh bao gồm:
a) Khám,
đánh giá, phân loại mức độ suy dinh dưỡng, tư vấn, hướng dẫn chuyên môn về dinh
dưỡng bệnh lý và theo dõi tình trạng dinh dưỡng của người bệnh;
b) Giáo dục,
truyền thông về dinh dưỡng.
Điều
68. Phục hồi chức năng
1. Nguyên tắc thực hiện
các hoạt động phục hồi chức năng
bao gồm:
a) Phòng ngừa và giảm ảnh hưởng của khuyết tật; khám phát hiện
để can thiệp phục hồi chức năng sớm;
b) Đánh giá nhu cầu sử
dụng các biện pháp can thiệp phục hồi chức năng trong quá trình khám, điều trị
cho người bệnh;
c) Các biện pháp can
thiệp phải được thực hiện liên tục, toàn diện theo các giai đoạn tiến triển của
bệnh tật;
d) Phối hợp giữa chuyên khoa phục hồi chức năng với các chuyên
khoa khác; giữa cơ sở khám bệnh, chữa bệnh với cá nhân, gia đình, cộng đồng và
cơ quan, tổ chức khác; thực hiện phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng.
2. Hoạt động phục hồi
chức năng bao gồm:
a) Khám, chẩn đoán, xác
định nhu cầu phục hồi chức năng của người bệnh;
b) Sử dụng kỹ thuật vận
động trị liệu, vật lý trị liệu, hoạt động trị liệu, ngôn ngữ trị liệu, tâm lý
trị liệu, chỉnh hình, thiết bị y tế, dụng cụ phục hồi chức năng và các biện
pháp can thiệp khác;
c) Tư vấn cho người bệnh
và gia đình người bệnh về phục hồi chức năng, tâm lý, giáo dục, hướng nghiệp và
hòa nhập cộng đồng;
d) Điều chỉnh, cải thiện
điều kiện tiếp cận môi trường sống phù hợp với tình trạng sức khỏe;
đ) Tuyên truyền phòng
ngừa khuyết tật, bệnh tật.
Điều
69. Hồ sơ bệnh án
1. Người bệnh điều trị
nội trú, điều trị ban ngày và điều trị ngoại trú trong các cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh phải được lập, cập nhật hồ sơ bệnh án.
Hồ sơ bệnh án được lập
bằng giấy hoặc bản điện tử có giá trị pháp lý như nhau. Mẫu hồ sơ bệnh án và mẫu
bản tóm tắt hồ sơ bệnh án do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành.
2. Hồ sơ bệnh án phải
được lưu giữ và giữ bí mật theo quy định của pháp luật; trường hợp hồ sơ bệnh
án thuộc phạm vi bí mật nhà nước thì thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo
vệ bí mật nhà nước. Việc lưu trữ hồ sơ bệnh án được thực hiện theo quy định của
pháp luật về lưu trữ.
3. Việc khai thác hồ sơ
bệnh án đang trong quá trình điều trị được thực hiện như sau:
a) Học sinh, sinh viên,
học viên, nghiên cứu viên của các cơ sở nghiên
cứu, cơ sở đào tạo, người hành nghề, người trực tiếp tham gia điều trị người bệnh
trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được đọc nhưng chỉ được sao chép khi có sự đồng
ý của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
b) Người hành nghề của
cơ sở khác được đọc, sao chép khi có sự đồng ý của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
4. Việc khai thác hồ sơ
bệnh án đã hoàn thành quá trình điều trị và được chuyển lưu trữ được thực hiện
như sau:
a) Đại diện cơ quan quản
lý nhà nước về y tế, cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án, thanh tra chuyên ngành
y tế, tổ chức giám định pháp y, pháp y tâm thần, luật sư của người bệnh được tiếp
cận, cung cấp hồ sơ bệnh án để thực hiện nhiệm vụ
theo quy định của pháp luật có liên quan;
b) Học sinh, sinh viên,
học viên, nghiên cứu viên của các cơ sở nghiên
cứu, cơ sở đào tạo, người hành nghề trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được mượn
hồ sơ bệnh án tại chỗ để đọc hoặc sao chép phục vụ cho việc nghiên cứu hoặc
công tác chuyên môn kỹ thuật khi có sự đồng ý của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
c) Đại diện cơ quan bảo
hiểm xã hội, cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước được mượn hồ sơ bệnh án tại
chỗ để đọc, ghi chép hoặc đề nghị cấp bản sao phục vụ nhiệm vụ được giao khi có
sự đồng ý của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
d) Người bệnh hoặc người
đại diện của người bệnh quy định tại điểm c và điểm d khoản 2
Điều 8 của Luật này được đọc,
xem, sao chụp, ghi chép hồ sơ bệnh án và
được cung cấp bản tóm tắt hồ sơ bệnh án khi có yêu cầu bằng văn bản;
đ) Người đại diện của
người bệnh quy định tại điểm a và điểm d khoản 2 Điều 8 của Luật
này được cung cấp bản tóm tắt hồ sơ bệnh án khi có yêu cầu bằng văn bản.
5. Các đối tượng quy định
tại khoản 3 và khoản 4 Điều này khi sử dụng thông tin trong hồ sơ bệnh án phải
giữ bí mật và chỉ được sử dụng đúng mục đích như đã đề nghị với cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh.
Điều 70. Trực khám bệnh, chữa bệnh
1. Cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh có giường bệnh nội trú, có giường lưu để theo dõi, điều
trị người bệnh và cơ sở cấp cứu ngoại viện phải tổ chức trực khám
bệnh, chữa bệnh liên tục theo thời gian hoạt động được ghi trong giấy phép hoạt
động, kể cả ngày lễ, tết, ngày nghỉ, để kịp thời cấp cứu và duy trì các hoạt động
khám bệnh, chữa bệnh khác.
2. Trực
khám bệnh, chữa bệnh bao gồm các thành phần sau đây:
a) Trực
lãnh đạo;
b) Trực
lâm sàng;
c) Trực cận
lâm sàng;
d) Trực hậu
cần, quản trị.
3. Trực
khám bệnh, chữa bệnh ở bệnh viện phải bảo đảm đầy đủ thành phần theo quy định tại
khoản 2 Điều này; trực khám bệnh, chữa bệnh ở cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quy định
tại khoản 1 Điều này mà không phải là bệnh viện thì thực hiện theo quy định của
Bộ trưởng Bộ Y tế.
4. Người
đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quy định tại khoản 1 Điều này có trách nhiệm
sau đây:
a) Phân
công người trực;
b) Bảo đảm
đầy đủ các phương tiện vận chuyển cấp cứu phù hợp với hình thức tổ chức khám bệnh,
chữa bệnh; thiết bị y tế và thuốc thiết yếu sử dụng trong các trường hợp cấp cứu;
c) Bảo đảm
chế độ báo cáo đối với mỗi phiên trực.
Điều 71. Phòng ngừa sự cố y khoa tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
1. Việc
phòng ngừa sự cố y khoa được thực hiện trên cơ sở nhận diện, báo cáo, phân tích
tìm nguyên nhân, đưa ra các khuyến cáo, giải pháp phòng ngừa, tránh tái diễn sự
cố y khoa để nâng cao chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, an toàn cho người
bệnh.
Các khuyến
cáo, giải pháp phòng ngừa sự cố y khoa được công bố công khai trên Hệ thống
thông tin về quản lý hoạt động khám bệnh, chữa bệnh.
2. Việc
phòng ngừa sự cố y khoa tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là trách nhiệm của người
đứng đầu cơ sở và người làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Điều 72. Tiếp nhận và xử lý đối với người bệnh không có thân nhân
1. Khi tiếp
nhận, thực hiện khám bệnh, chữa bệnh cho người bệnh không có thân nhân, cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm kiểm kê, lập biên bản và lưu giữ tài sản của
người bệnh.
2. Trong
thời gian 48 giờ kể từ khi tiếp nhận người bệnh mà vẫn không thể xác định được
thân nhân của người bệnh thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm sau đây:
a) Thông
báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đặt trụ sở để báo
tìm thân nhân của người bệnh trên các phương tiện thông tin đại chúng;
b) Lập hồ
sơ đề nghị tiếp nhận đối tượng bảo trợ xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
vào cơ sở trợ giúp xã hội theo quy định của pháp luật về bảo trợ xã hội đối với
trẻ em dưới 06 tháng tuổi bị bỏ rơi tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
3. Trường
hợp người bệnh đã được điều trị ổn định mà vẫn không thể xác định được thân
nhân và thuộc trường hợp bị
mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, hạn chế năng lực hành vi dân sự, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị tiếp nhận đối
tượng bảo trợ xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn vào cơ sở trợ giúp xã hội
theo quy định của pháp luật về bảo trợ xã hội.
4. Trường
hợp người bệnh tử vong, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm giải quyết
theo quy định tại Điều 73 của
Luật này.
5. Cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc, khám bệnh, chữa bệnh
cho người bệnh trong thời gian từ khi tiếp nhận đến khi hoàn thành thủ tục chuyển
người bệnh đến cơ sở trợ giúp xã hội hoặc đến khi người bệnh tử vong.
6. Chính
phủ quy định việc chi trả chi phí nuôi dưỡng, chăm sóc, khám bệnh, chữa bệnh
cho các đối tượng quy định tại Điều này và việc xử lý đối với người bệnh không
có thân nhân là người nước ngoài.
Điều 73. Xử lý trường hợp tử vong
1. Việc xử
lý trường hợp người được đưa đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhưng đã tử vong
trước khi đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện như sau:
a) Trường
hợp có giấy tờ tùy thân và liên hệ được với thân nhân thì cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh thông báo cho thân nhân của người đó để tiếp nhận thi thể;
b) Trường
hợp không có giấy tờ tùy thân hoặc có giấy tờ tùy thân nhưng không thể liên hệ
với thân nhân thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đặt trụ sở trong vòng 24 giờ kể từ khi
tiếp nhận thi thể.
Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đặt trụ sở có
trách nhiệm tiếp nhận thi thể và tổ chức mai táng trong thời gian chậm nhất là
48 giờ kể từ khi nhận được thông báo.
2. Việc xử
lý trường hợp tử vong tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện như sau:
a) Cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm cấp giấy báo tử; tiến hành kiểm thảo tử
vong; hoàn thiện, lưu trữ hồ sơ bệnh án của người bệnh tử vong; lấy và lưu trữ
mẫu của thi thể để phục vụ việc xác định nhân thân người bệnh đối với trường hợp
quy định tại điểm b khoản 1 Điều này; thông báo cho thân nhân của người bệnh để
tổ chức mai táng;
b) Cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đặt trụ sở trong vòng 24 giờ kể từ khi
người bệnh tử vong đối với trường hợp người bệnh tử vong mà không có người nhận
hoặc từ chối tiếp nhận.
Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đặt trụ sở có
trách nhiệm tiếp nhận thi thể và tổ chức mai táng trong thời gian chậm nhất là
48 giờ kể từ khi nhận được thông báo của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quy định tại
điểm b khoản này.
3. Chính
phủ quy định việc xử lý trường hợp người nước ngoài tử vong mà không có thân
nhân và việc chi trả chi phí mai táng đối với các trường hợp quy định tại điểm
b khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều này.
Điều 74. Kiểm soát nhiễm khuẩn tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
1. Kiểm
soát nhiễm khuẩn tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bao gồm các biện
pháp sau đây:
a) Giám sát nhiễm khuẩn
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và các bệnh có nguy cơ gây dịch;
b) Giám sát tuân thủ thực
hành kiểm soát nhiễm khuẩn;
c) Phòng ngừa chuẩn, phòng
ngừa dựa theo đường lây truyền;
d) Kiểm soát nhiễm khuẩn
đối với dụng cụ, thiết bị y tế;
đ) Vệ sinh tay;
e) Vệ sinh môi trường;
g) Phòng ngừa và xử trí
lây nhiễm liên quan đến vi sinh vật;
h) An toàn thực phẩm;
i) Các biện pháp kiểm
soát nhiễm khuẩn khác.
2. Cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh có trách nhiệm sau đây:
a) Thực hiện các biện
pháp kiểm soát nhiễm khuẩn tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Bảo đảm cơ sở vật chất,
thiết bị, trang phục phòng hộ, điều kiện vệ sinh cá nhân cho người làm việc tại
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, người bệnh và người khác đến cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh phù hợp với yêu cầu về kiểm soát nhiễm khuẩn tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
c) Tư vấn về các biện
pháp kiểm soát nhiễm khuẩn cho người bệnh và thân
nhân của người bệnh;
d) Tổ chức hệ thống kiểm
soát nhiễm khuẩn tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Điều
75. Quản lý chất thải y tế và bảo vệ môi trường trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
có trách nhiệm thực hiện quản lý chất thải y tế, bảo vệ môi trường trong cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.
Điều
76. Điều trị
ngoại trú
Điều trị ngoại trú được
áp dụng đối với
các trường hợp không phải điều trị nội trú tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
Điều
77. Điều trị nội trú
1. Điều trị nội trú được
áp dụng đối với trường hợp người
bệnh phải lưu lại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để thực hiện việc khám bệnh, chữa
bệnh theo chỉ định của người hành nghề.
2. Tùy theo chuyên khoa
và điều kiện hoạt động, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được tổ chức điều trị nội trú. Phòng khám đa khoa tư nhân tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó
khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, khu vực biên giới,
hải đảo, phòng khám đa khoa khu vực của Nhà nước, nhà hộ sinh và trạm y tế xã
được bố trí giường lưu để theo dõi và điều trị cho người bệnh nhưng tối đa
không quá 72 giờ, trừ trường hợp bất khả kháng do thiên tai, thảm họa, dịch bệnh.
3. Việc chuyển khoa được thực hiện như sau:
a) Trong trường hợp
phát hiện việc khám bệnh, chữa bệnh của người bệnh tại chuyên khoa khác phù hợp
hơn với tình trạng bệnh của người bệnh;
b) Khoa chuyển người bệnh
đi phải hoàn chỉnh hồ sơ bệnh án, chuyển người bệnh và hồ sơ bệnh án đến khoa mới.
4. Trường hợp chuyển cơ
sở khám bệnh, chữa bệnh thì cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh chuyển người bệnh đi phải hoàn chỉnh hồ sơ bệnh án, giới thiệu người bệnh
đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh mới.
Trường hợp chuyển cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh theo yêu cầu của người bệnh hoặc người đại diện của người
bệnh đối với trường hợp người bệnh quy định tại
Điều 15 của Luật này, người bệnh hoặc người đại diện của
người bệnh phải cam kết tự chịu trách nhiệm bằng văn bản về việc chuyển cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh.
5. Người bệnh được ra
khỏi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Khi người bệnh đã khỏi
bệnh hoặc tình trạng bệnh ổn định;
b) Có yêu cầu được ra
khỏi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và có cam kết của người bệnh hoặc người đại diện
của người bệnh đối với trường hợp người bệnh bị mất năng lực hành vi dân sự, có
khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, hạn chế năng lực hành vi dân sự, người
bệnh là người chưa thành niên.
6. Khi người bệnh ra khỏi
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm sau đây:
a) Hoàn chỉnh hồ sơ bệnh
án;
b) Hướng dẫn người bệnh
về việc tự chăm sóc sức khỏe;
c) Chỉ định điều trị
ngoại trú trong trường hợp cần thiết;
d) Quyết toán chi phí
khám bệnh, chữa bệnh;
đ) Cung cấp giấy ra viện
cho người bệnh.
Điều
78. Điều trị ban ngày
1. Điều trị ban ngày áp
dụng đối với trường hợp người bệnh
phải điều trị nội trú mà theo chỉ định của
người hành nghề thì người bệnh không phải lưu lại qua đêm tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
2. Việc điều trị ban
ngày được thực hiện theo quy định tại Điều
77 của Luật này.
Điều
79. Hoạt động khám bệnh, chữa bệnh lưu động
1. Các hoạt
động khám bệnh, chữa bệnh lưu động bao gồm:
a) Hoạt động
khám bệnh, chữa bệnh lưu động do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cung cấp ngoài địa
điểm khám bệnh, chữa bệnh ghi trong giấy phép hoạt động;
b) Khám bệnh,
chữa bệnh tại nhà, khám sức khỏe tại cơ quan, tổ chức, đơn vị;
c) Khám bệnh,
chữa bệnh nhân đạo theo đợt.
2. Điều
kiện thực hiện hoạt động khám bệnh, chữa bệnh lưu động được quy định như sau:
a) Đối với
trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này phải được cung cấp bởi
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có đủ người hành nghề, thiết bị y tế, cơ sở vật
chất và các điều kiện khác phù hợp với quy mô và phạm vi cung cấp dịch vụ khám
bệnh, chữa bệnh lưu động, trừ các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh tại nhà do
nhân viên y tế thôn, bản, cô đỡ thôn, bản thực hiện;
b) Đối với
trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này phải đáp ứng các điều kiện quy
định tại khoản 2 Điều 88 của Luật này;
c) Được sự
đồng ý của cơ quan chuyên
môn về y tế thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi dự kiến tổ chức hoạt động khám bệnh, chữa bệnh lưu động đối với
trường hợp quy định tại điểm
a và điểm c khoản 1 Điều này, trừ trường hợp cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc lực
lượng vũ trang tổ chức khám bệnh, chữa bệnh lưu động cho đối tượng thuộc thẩm
quyền quản lý.
3. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều
80. Khám bệnh, chữa bệnh từ xa và hỗ trợ khám bệnh, chữa bệnh từ xa
1. Khám bệnh,
chữa bệnh từ xa giữa người hành nghề với người bệnh
được thực hiện như sau:
a) Khám bệnh, chữa bệnh
từ xa giữa người hành nghề với người bệnh
phải thực hiện theo phạm vi hành nghề của người hành nghề; việc chữa bệnh từ xa
phải theo danh mục bệnh, tình trạng bệnh do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành;
b) Người hành nghề phải chịu trách nhiệm về kết quả chẩn đoán bệnh,
chỉ định phương pháp chữa bệnh và kê đơn thuốc của mình.
2. Hỗ trợ khám bệnh,
chữa bệnh từ xa giữa các cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện như
sau:
a) Người hành nghề trực
tiếp khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh được hỗ trợ phải chịu trách nhiệm về kết quả khám bệnh,
chữa bệnh của mình;
b) Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được hỗ trợ phải chi trả chi phí hỗ trợ
khám bệnh, chữa bệnh từ xa cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hỗ trợ theo mức thỏa
thuận giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
3. Chính phủ quy định
chi tiết về khám bệnh, chữa bệnh từ xa và hỗ trợ khám bệnh, chữa bệnh từ xa.
Điều
81. Khám bệnh, chữa bệnh y học gia đình
1. Hoạt động khám bệnh,
chữa bệnh y học gia đình do cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh y học gia đình hoặc
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác có phạm vi hoạt động chuyên môn về y học gia đình thực hiện.
2. Cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh quy định tại khoản 1 Điều này thực hiện
các nhiệm vụ sau đây:
a) Quản lý, chăm sóc sức khỏe ban đầu trên địa bàn hoạt động;
b) Tư vấn, dự phòng bệnh,
tật và nâng cao sức khỏe;
c) Cấp cứu, khám bệnh,
chữa bệnh ban đầu;
d) Cung cấp dịch vụ
khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng, chăm sóc giảm nhẹ, chăm sóc cuối đời
tại nhà;
đ) Quyết định việc chuyển người bệnh thuộc đối tượng quản lý đến
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác; tiếp nhận, quản lý sức khỏe người bệnh do cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh chuyển đến;
e) Thực hiện nhiệm vụ
khác do cơ quan có thẩm quyền giao.
Điều
82. Bắt buộc chữa bệnh
1. Các trường hợp bắt
buộc chữa bệnh theo quy định của Luật này bao gồm:
a) Người mắc bệnh truyền
nhiễm nhóm A theo quy định của pháp luật về phòng, chống bệnh truyền nhiễm;
b) Người mắc bệnh trầm
cảm có ý tưởng, hành vi tự sát; người mắc bệnh tâm thần ở trạng thái kích động
có khả năng gây nguy hại cho bản thân hoặc có hành vi gây nguy hại cho người
khác hoặc phá hoại tài sản;
c) Trường hợp khác theo
quy định của pháp luật.
2. Chính phủ quy định về biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với trường hợp quy định
tại khoản 1 Điều này.
Điều
83. Khám sức khỏe
1. Các hình thức khám sức
khỏe bao gồm:
a) Khám sức khỏe định kỳ;
b) Khám sức khỏe để
phân loại sức khỏe để đi học, đi làm việc;
c) Khám sức khỏe cho học
sinh, sinh viên;
d) Khám sức khỏe theo yêu
cầu nghề nghiệp, công việc đặc thù;
đ) Khám phát hiện bệnh
nghề nghiệp;
e) Khám sức khỏe theo
yêu cầu;
g) Hình thức khám sức
khỏe khác.
2. Bộ trưởng Bộ Y tế
quy định tiêu chuẩn và việc khám sức khỏe quy định tại khoản 1 Điều này, trừ
trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này.
3. Bộ trưởng Bộ Quốc
phòng, Bộ trưởng Bộ Công an quy định tiêu chuẩn sức khỏe đặc thù và việc khám sức
khỏe cho đối tượng thuộc thẩm quyền quản lý.
Điều
84. Giám định y khoa
1. Giám định y khoa bao
gồm giám định lần đầu, giám định lại, giám định phúc quyết và giám định lần cuối.
2. Kết luận giám định
phải theo đúng nội dung mà cơ quan, tổ chức, cá nhân trưng cầu hoặc yêu cầu
giám định. Cơ quan, người kết luận giám định phải chịu trách nhiệm trước pháp
luật về kết luận đó.
Chương VI
KHÁM BỆNH, CHỮA
BỆNH BẰNG Y HỌC CỔ TRUYỀN VÀ KẾT HỢP Y HỌC CỔ TRUYỀN VỚI Y HỌC HIỆN ĐẠI
Điều 85. Phát triển khám bệnh, chữa bệnh bằng y học cổ truyền
1. Các bệnh
viện đa khoa của Nhà nước phải tổ chức việc khám bệnh, chữa bệnh bằng y học cổ
truyền; khuyến khích cơ sở khám bệnh, chữa bệnh y học cổ truyền tổ chức khám bệnh,
chữa bệnh đa khoa nếu đáp ứng đủ điều kiện.
2. Kế thừa
và phát triển bài thuốc, phương pháp khám bệnh, chữa bệnh bằng y học cổ truyền;
khuyến khích sử dụng thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền được sản xuất từ nguyên
liệu nuôi trồng trong nước có hiệu quả trên lâm sàng trong phòng bệnh, chữa bệnh.
Khuyến khích và hỗ trợ phát triển các phương pháp dưỡng sinh y học cổ truyền tại
cộng đồng.
3. Khuyến
khích thực hiện các hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ về y học cổ truyền
sau đây:
a) Phát
hiện, nghiên cứu về thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền;
b) Nghiên
cứu về tính vị và tác dụng theo y học cổ truyền của các vị thuốc nam, thuốc dân
gian, bài thuốc được xác định theo y học cổ truyền và y học hiện đại có tác dụng
trong phòng bệnh, chữa bệnh;
c) Nghiên
cứu về tính an toàn, hiệu quả của các phương thức chẩn trị và các phương pháp
chữa bệnh không dùng thuốc của y học cổ truyền trong phòng bệnh, chữa bệnh;
d) Nghiên
cứu tuyển chọn, phát triển thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền an toàn, hiệu quả
cao trong điều trị bệnh;
đ) Nghiên
cứu về an toàn, hiệu quả sử dụng thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền kết hợp với
thuốc hóa dược theo giai đoạn bệnh;
e) Nghiên
cứu kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại trong chẩn đoán bệnh để xây dựng
bộ tiêu chí chẩn đoán bệnh, thể bệnh theo y học cổ truyền;
g) Nghiên
cứu ứng dụng công nghệ tiên tiến để bào chế thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền dưới
dạng bào chế hiện đại.
4. Khuyến
khích đăng ký quyền sở hữu trí tuệ đối với bài thuốc gia truyền, phương pháp chữa
bệnh gia truyền.
Điều 86. Phát triển nguồn lực phục vụ khám bệnh, chữa bệnh bằng y học cổ
truyền
1. Lồng
ghép nội dung đào tạo về y học cổ truyền trong chương trình đào tạo của các cơ sở
đào tạo thuộc khối ngành sức khỏe; đa dạng hình thức đào tạo, loại hình đào tạo
nhân lực khám bệnh, chữa bệnh y học cổ truyền với nhiều trình độ khác nhau.
2. Lương
y, người có bài thuốc gia truyền hoặc có phương pháp chữa bệnh gia truyền được
tham gia các khóa đào tạo cập nhật, bồi dưỡng, nâng cao kiến thức về y học hiện
đại và y học cổ truyền.
3. Khuyến
khích người có bài thuốc gia truyền hoặc có phương pháp chữa bệnh gia truyền thực
hiện việc đăng ký với cơ quan chuyên môn về y tế thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
nơi người đó hành nghề khi đào tạo cho người khác để kế thừa bài thuốc gia truyền,
phương pháp chữa bệnh gia truyền.
4. Bộ trưởng
Bộ Y tế quy định việc cấp
giấy chứng nhận lương y, giấy chứng nhận người có bài thuốc gia truyền, giấy chứng
nhận người có phương pháp chữa bệnh gia truyền.
Điều
87. Kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
1. Việc kết
hợp y học cổ truyền với y học hiện đại chỉ được thực hiện tại cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh và theo quy định sau đây:
a) Sử dụng
phương pháp, kỹ thuật chuyên môn của y học cổ truyền kết hợp với phương pháp, kỹ
thuật chuyên môn của y học hiện đại để khám bệnh, chữa bệnh và theo dõi, đánh
giá kết quả điều trị;
b) Chỉ
người hành nghề có đủ điều kiện mới được chỉ định phương pháp chữa bệnh, kê đơn
thuốc kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại.
2. Bộ trưởng
Bộ Y tế quy định chi tiết Điều này.
Chương VII
KHÁM BỆNH, CHỮA
BỆNH NHÂN ĐẠO, KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH KHÔNG VÌ MỤC ĐÍCH LỢI NHUẬN, CHUYỂN GIAO KỸ
THUẬT CHUYÊN MÔN VỀ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH
Mục 1. KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH NHÂN ĐẠO, KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH KHÔNG VÌ MỤC
ĐÍCH LỢI NHUẬN
Điều 88. Hoạt động khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo và khám bệnh, chữa bệnh
không vì mục đích lợi nhuận
1. Tổ chức,
cá nhân trong nước và nước ngoài có quyền đề nghị khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo
và khám bệnh, chữa bệnh
không vì mục đích lợi nhuận tại Việt Nam.
2. Điều
kiện thực hiện khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo theo đợt quy định như sau:
a) Được
thực hiện bởi người hành nghề hoặc người quy định tại khoản 3
Điều 19 của Luật này;
b) Được
thực hiện bởi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc tổ chức được phép hoạt động tại
Việt Nam;
c) Có nguồn
tài chính cho việc tổ chức khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo và miễn phí toàn bộ
chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho người được khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo;
d) Được sự
đồng ý của cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Chính phủ.
3. Điều
kiện cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo, cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh không vì mục đích lợi nhuận quy định như sau:
a) Đáp ứng
các yêu cầu để cấp giấy phép hoạt động theo quy định của Luật này;
b) Cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo phải có nguồn tài chính cho việc tổ chức khám bệnh,
chữa bệnh nhân đạo và miễn phí toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho người
được khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo;
c) Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoạt động không vì mục đích lợi
nhuận phải cam kết hoạt động không vì lợi nhuận, không
rút vốn; phần thu nhập hằng năm thuộc sở hữu chung hợp nhất không phân
chia được sử dụng để tiếp tục đầu tư phát triển cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó. Việc cam kết phải được ghi nhận trong quyết định về thành
lập hoặc chuyển đổi loại hình cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
4. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 89. Ưu đãi đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo, cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh không vì mục đích lợi nhuận
1. Cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không vì mục đích lợi
nhuận khi thành lập được hưởng chế độ ưu đãi theo quy định của pháp luật.
2. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo, cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh không vì mục đích lợi nhuận thực hiện chế độ tài chính, kế toán, kiểm
toán, thuế, định giá tài sản và công khai tài chính theo quy định của pháp luật,
trong đó phần thu nhập không chia của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không vì mục
đích lợi nhuận không phải nộp thuế.
Mục 2. CHUYỂN GIAO KỸ THUẬT CHUYÊN MÔN VỀ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH
Điều 90. Chuyển giao kỹ thuật chuyên môn về khám bệnh, chữa bệnh
1. Cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh được hợp tác chuyển giao kỹ thuật chuyên môn về khám bệnh,
chữa bệnh tại Việt Nam với tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài.
2. Việc đào tạo chuyển giao kỹ thuật chuyên môn về khám bệnh, chữa bệnh phải được thực hiện bởi
người hành nghề, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hợp pháp.
3. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 91. Ưu đãi đối với hoạt động chuyển giao kỹ thuật chuyên môn về
khám bệnh, chữa bệnh
Hoạt động
chuyển giao kỹ thuật chuyên môn về khám
bệnh, chữa bệnh được hưởng chế độ
ưu đãi theo quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ,
khoa học và công nghệ.
Chương
VIII
ÁP DỤNG KỸ THUẬT MỚI,
PHƯƠNG PHÁP MỚI TRONG KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH VÀ THỬ NGHIỆM LÂM SÀNG TRONG KHÁM BỆNH,
CHỮA BỆNH
Mục
1. ÁP DỤNG KỸ
THUẬT MỚI, PHƯƠNG PHÁP MỚI TRONG KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH
Điều
92. Kỹ thuật mới, phương pháp mới trong khám bệnh,
chữa bệnh
1. Kỹ thuật mới, phương
pháp mới là kỹ thuật, phương pháp lần đầu tiên áp dụng tại Việt Nam.
2. Kỹ thuật mới, phương
pháp mới bao gồm:
a) Kỹ thuật mới, phương
pháp mới được nghiên cứu tại Việt Nam hoặc nước ngoài;
b) Kỹ thuật mới, phương
pháp mới được cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài cho phép áp dụng.
Điều
93. Điều kiện áp dụng kỹ thuật mới, phương pháp
mới trong khám bệnh, chữa bệnh
1. Cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh đề nghị áp dụng kỹ thuật mới, phương pháp mới phải đáp ứng các điều kiện
sau đây:
a) Có
giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh mà phạm vi hoạt động chuyên môn phù hợp
với kỹ thuật mới,
phương pháp mới được đề nghị áp dụng;
b) Có
cơ sở vật chất, thiết bị y tế, nhân lực và điều kiện khác đáp ứng yêu cầu thực
hiện kỹ thuật mới,
phương pháp mới.
2. Việc
áp dụng kỹ thuật mới,
phương pháp mới được thực hiện như sau:
a) Cơ
sở khám bệnh, chữa bệnh lập đề án đề nghị cho phép áp dụng thí điểm kỹ thuật mới, phương pháp mới;
b) Bộ
Y tế thẩm định hoặc phân cấp thẩm định cho phép áp dụng thí điểm kỹ thuật mới, phương pháp mới;
c) Sau
khi hoàn thành giai đoạn thí điểm, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tổng hợp kết quả
thí điểm và đề nghị Bộ Y tế tổ chức nghiệm thu;
d) Trường
hợp kết quả nghiệm thu đạt yêu cầu, Bộ Y tế có trách nhiệm ban hành văn bản cho
phép áp dụng kỹ thuật mới, phương pháp mới.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Mục
2. THỬ NGHIỆM
LÂM SÀNG TRONG
KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH
Điều
94. Các trường hợp thử nghiệm lâm sàng trong
khám bệnh, chữa bệnh
1. Kỹ thuật mới, phương
pháp mới trong khám bệnh, chữa bệnh.
2. Thiết bị y tế trước
khi đăng ký lưu hành tại Việt Nam có mức độ rủi ro trung bình cao hoặc mức độ rủi
ro cao theo quy định của Chính phủ.
Điều
95. Điều kiện của người tham gia thử nghiệm lâm
sàng trong khám bệnh, chữa bệnh
1. Người đáp ứng yêu cầu
chuyên môn của việc thử nghiệm lâm sàng kỹ thuật mới, phương pháp mới, thiết bị
y tế trong khám bệnh, chữa bệnh (sau đây gọi là thử nghiệm lâm sàng) và
tự nguyện tham gia thử nghiệm lâm sàng.
2. Trường hợp người
tham gia thử nghiệm lâm sàng là người bị mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ
hành vi, hạn chế năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên thì phải được sự đồng ý của người đại diện hoặc người giám hộ
theo quy định của pháp luật về dân sự.
3. Trường hợp người
tham gia thử nghiệm lâm sàng là đối tượng quy định tại khoản 2 Điều này, phụ nữ
đang mang thai hoặc đang cho con bú thì hồ sơ nghiên cứu phải ghi rõ lý do tuyển
chọn và biện pháp phù hợp để bảo vệ người tham gia thử nghiệm lâm sàng, thai
nhi hoặc trẻ em đang trong thời gian sử dụng sữa của người mẹ tham gia thử nghiệm
lâm sàng.
Điều
96. Quyền và nghĩa vụ của người tham gia thử
nghiệm lâm sàng
1. Người tham gia thử
nghiệm lâm sàng có quyền sau đây:
a) Được cung cấp thông
tin đầy đủ, trung thực về thử nghiệm lâm sàng và những rủi ro có thể xảy ra trước
khi thử nghiệm lâm sàng;
b) Được bồi thường thiệt
hại (nếu có) do thử nghiệm lâm sàng gây ra;
c) Được giữ bí mật về
thông tin cá nhân có liên quan đến việc thử nghiệm lâm sàng;
d) Không phải chịu
trách nhiệm khi đơn phương chấm dứt việc tham gia thử nghiệm lâm sàng;
đ) Khiếu nại, tố cáo,
khởi kiện về hành vi vi phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân có kỹ thuật mới,
phương pháp mới, thiết bị y tế phải thử nghiệm lâm sàng.
2. Người tham gia thử
nghiệm lâm sàng có nghĩa vụ tuân thủ hướng dẫn theo hồ sơ thử nghiệm lâm sàng
đã được phê duyệt.
Điều
97. Quyền và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân
có kỹ thuật mới, phương pháp mới, thiết bị y tế phải thử nghiệm lâm sàng
1. Tổ chức, cá nhân có
kỹ thuật mới, phương pháp mới, thiết bị y tế phải thử nghiệm lâm sàng có quyền
sau đây:
a) Lựa chọn cơ sở đáp ứng
yêu cầu về cơ sở vật chất và nhân lực để thử nghiệm lâm sàng;
b) Sở hữu toàn bộ kết
quả thử nghiệm lâm sàng.
2. Tổ chức, cá nhân có
kỹ thuật mới, phương pháp mới, thiết bị y tế phải thử nghiệm lâm sàng có trách
nhiệm sau đây:
a) Bồi thường thiệt hại
cho người tham gia thử nghiệm lâm sàng theo quy định của pháp luật nếu có rủi
ro xảy ra do thử nghiệm lâm sàng;
b) Giao kết hợp đồng bằng
văn bản về việc thử nghiệm lâm sàng với cơ sở nhận thử nghiệm lâm sàng;
c) Chịu trách nhiệm trước
pháp luật về chất lượng và tính an toàn của kỹ thuật mới, phương pháp mới, thiết
bị y tế do mình cung cấp.
Điều
98. Quyền và trách nhiệm của cơ sở nhận thử
nghiệm lâm sàng
1. Cơ sở nhận thử nghiệm
lâm sàng có quyền sau đây:
a) Tiến hành hoạt động
nhận thử nghiệm lâm sàng theo quy định;
b) Nhập khẩu, mua hóa
chất, chất chuẩn, mẫu thuốc, thiết bị y tế phục vụ cho hoạt động thử nghiệm lâm
sàng;
c) Sử dụng kết quả thử
nghiệm lâm sàng theo thỏa thuận với tổ chức, cá nhân có kỹ thuật mới, phương
pháp mới, thiết bị y tế phải thử nghiệm lâm sàng.
2. Cơ sở nhận thử nghiệm
lâm sàng có trách nhiệm sau đây:
a) Chịu trách nhiệm về
tính đầy đủ, chính xác, tin cậy của kết quả thử nghiệm lâm sàng;
b) Chịu trách nhiệm về
sự an toàn của người tham gia thử nghiệm lâm sàng và bồi thường thiệt hại cho
người tham gia thử nghiệm lâm sàng theo quy định của pháp luật nếu có rủi ro xảy
ra do lỗi của cơ sở nhận thử nghiệm lâm sàng;
c) Bảo đảm trung thực,
khách quan trong thử nghiệm lâm sàng.
Điều
99. Nguyên tắc và thẩm quyền phê duyệt thử nghiệm
lâm sàng
1. Thử nghiệm lâm sàng
được thực hiện trước khi cho phép áp dụng kỹ thuật mới, phương pháp mới hoặc đăng
ký lưu hành thiết bị y tế, trừ trường hợp được miễn thử nghiệm lâm sàng hoặc được
miễn một số giai đoạn thử nghiệm lâm sàng.
2. Việc thử nghiệm lâm
sàng chỉ được thực hiện sau khi đã được Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y
sinh học quy định tại khoản 3 Điều này đánh giá về khoa học, đạo đức đối với hồ
sơ thử nghiệm lâm sàng và được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt bằng văn bản.
3. Hội đồng đạo đức
trong nghiên cứu y sinh học là hội đồng độc lập được thành lập để bảo vệ quyền,
sự an toàn và sức khỏe của người tham gia thử nghiệm lâm sàng.
4. Việc thử nghiệm lâm
sàng, đánh giá về khoa học, đạo đức đối với hồ sơ thử nghiệm lâm sàng và phê
duyệt thử nghiệm lâm sàng được thực hiện theo các nguyên tắc cơ bản sau đây:
a) Tôn trọng, bảo vệ, bảo
đảm quyền tự quyết của người tham gia thử nghiệm lâm sàng;
b) Bảo đảm lợi ích của
nghiên cứu lớn hơn rủi ro có nguy cơ xảy ra trong quá trình thử nghiệm lâm sàng;
c) Bình đẳng về lợi ích
và trách nhiệm; bảo đảm nguy cơ rủi ro được phân bố đều cho người tham gia thử
nghiệm lâm sàng;
d) Bảo đảm thực hiện
các giai đoạn thử nghiệm lâm sàng và tuân thủ thực hành tốt thử kỹ thuật mới,
phương pháp mới hoặc thử thiết bị y tế trên lâm sàng theo quy định của Bộ trưởng
Bộ Y tế.
5. Chính phủ quy định cụ
thể các nội dung sau đây:
a) Các giai đoạn thử
nghiệm lâm sàng;
b) Trường hợp được miễn
thử nghiệm lâm sàng hoặc được miễn một số giai đoạn thử nghiệm lâm sàng;
c) Yêu cầu đối với kỹ
thuật mới, phương pháp mới, thiết bị y tế phải thử nghiệm lâm sàng;
d) Yêu cầu đối với cơ sở
nhận thử nghiệm lâm sàng;
đ) Hồ sơ, quy trình, thủ
tục cho phép thử nghiệm lâm sàng;
e) Việc thành lập Hội đồng
đạo đức trong nghiên cứu y sinh học.
Chương
IX
SAI SÓT CHUYÊN MÔN KỸ
THUẬT
Điều
100. Xác định người hành nghề có sai sót chuyên môn kỹ thuật
1. Người hành nghề có
sai sót chuyên môn kỹ thuật khi được Hội đồng chuyên môn quy định tại Điều 101 của Luật này xác định có ít nhất một trong các hành
vi sau đây:
a) Vi phạm trách nhiệm
trong chăm sóc, điều trị người bệnh;
b) Vi phạm các quy định
về chuyên môn kỹ thuật.
2. Người hành nghề
không có sai sót chuyên môn kỹ thuật khi được Hội đồng chuyên môn quy định tại Điều 101 của Luật này xác định thuộc một trong các trường hợp
sau đây:
a) Trong quá trình khám
bệnh, chữa bệnh, người hành nghề đã thực hiện đúng trách nhiệm chăm sóc, điều
trị người bệnh và các quy định về chuyên môn kỹ thuật nhưng vẫn xảy ra tai biến
y khoa đối với người bệnh;
b) Trường hợp cấp cứu
nhưng do thiếu phương tiện, thiết bị y tế, thuốc, thiếu người hành nghề mà
không thể khắc phục được; trường hợp bệnh chưa có hướng dẫn chuyên môn kỹ thuật
để thực hiện dẫn đến xảy ra tai biến y khoa đối với người bệnh;
c) Trường hợp bất khả
kháng, trở ngại khách quan hoặc lý do khách quan khác dẫn đến xảy
ra tai biến y khoa đối với người bệnh;
d) Trường hợp tai biến
y khoa do người bệnh tự gây ra.
Điều
101. Hội đồng chuyên môn
1. Khi xảy ra tai biến
y khoa mà có tranh chấp cần giải quyết, theo đề nghị của người bệnh, người đại
diện của người bệnh hoặc của người hành nghề thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải
thành lập Hội đồng chuyên môn để xác định người hành nghề có hay không có sai sót chuyên môn kỹ thuật.
2. Hội
đồng chuyên môn bao gồm các thành phần sau đây:
a)
Chuyên gia thuộc lĩnh vực chuyên môn phù hợp;
b)
Chuyên gia thuộc các chuyên khoa, chuyên ngành khác có liên quan đến tai biến y
khoa.
3. Việc
trưng cầu các chuyên gia tham gia Hội đồng chuyên môn phải bảo đảm khách quan,
không xung đột lợi ích theo quy định của pháp luật.
4. Hội
đồng chuyên môn được thành lập trong các trường hợp sau đây:
a) Hội
đồng chuyên môn do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tự thành lập theo quy định tại
khoản 1 Điều này. Trường hợp cơ sở khám
bệnh, chữa bệnh không tự
thành lập được Hội đồng chuyên môn thì phải đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm
quyền về y tế quản lý trực tiếp thành lập;
b) Hội
đồng chuyên môn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền về y tế quản lý trực tiếp cơ
sở khám bệnh, chữa bệnh thành lập trong trường hợp có đề nghị của cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh theo quy định tại điểm a khoản này hoặc có đề nghị bằng văn bản của
bên tranh chấp khi không nhất trí với kết luận của Hội đồng chuyên môn do cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh tự thành lập;
c) Hội
đồng chuyên môn do Bộ Y tế thành lập trong trường hợp có đề nghị bằng văn bản của
bên tranh chấp khi không nhất trí với kết luận của Hội đồng chuyên môn do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền về y tế quản lý trực tiếp cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
thành lập.
5. Hội
đồng chuyên môn hoạt động theo các nguyên tắc sau đây:
a) Hội
đồng chuyên môn hoạt động theo nguyên tắc thảo luận tập thể, quyết định theo đa
số và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận của mình;
b) Kết
luận của Hội đồng chuyên môn là cơ sở để giải quyết tranh chấp khi xảy ra tai
biến y khoa và là căn cứ để cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về y tế, người
đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quyết định áp dụng các biện pháp xử lý theo
thẩm quyền đối với người hành nghề;
c) Kết
luận của Hội đồng chuyên môn do Bộ Y tế thành lập là kết luận cuối cùng về việc
có hay không có sai sót chuyên môn kỹ thuật.
6. Bộ
trưởng Bộ Y tế quy định về quy chế tổ chức, hoạt động của Hội đồng chuyên môn
và trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp khi xảy ra tai biến y khoa.
Điều 102. Bồi thường khi xảy ra tai biến y khoa
Trường
hợp xảy ra tai biến y khoa đối với người bệnh, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có
trách nhiệm bồi thường cho người bệnh theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp
quy định tại khoản 2 Điều 100 của Luật này.
Điều 103. Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp trong khám bệnh, chữa bệnh
1. Bảo
hiểm trách nhiệm nghề nghiệp trong khám bệnh, chữa bệnh là loại hình bảo hiểm
được sử dụng để chi trả chi phí bồi thường cho những thiệt hại do tai biến y
khoa trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh xảy ra trong thời hạn bảo hiểm và chi
phí khiếu kiện pháp lý liên quan tới tai biến y khoa đó, trừ trường hợp quy định
tại điểm d khoản 2 Điều 100 của Luật này.
2.
Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm chi trả chi phí bồi thường quy định tại
khoản 1 Điều này cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo hợp đồng bảo hiểm đã được
giao kết.
3. Bảo
hiểm trách nhiệm nghề nghiệp trong khám bệnh, chữa bệnh thực hiện theo quy định
của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm.
4.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Chương X
ĐIỀU KIỆN BẢO
ĐẢM HOẠT ĐỘNG KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH
Mục 1. ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM VỀ CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT
Điều 104. Cấp chuyên môn kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh
1. Cơ
sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước, tư nhân được chia thành 03 cấp chuyên môn
kỹ thuật như sau:
a) Cấp
khám bệnh, chữa bệnh ban đầu thực hiện nhiệm vụ khám bệnh, điều trị ngoại trú, chăm
sóc sức khỏe ban đầu; quản lý bệnh tật, phục hồi chức năng tại cộng đồng;
b) Cấp
khám bệnh, chữa bệnh cơ bản thực hiện nhiệm vụ khám bệnh, điều trị ngoại trú, nội
trú tổng quát; đào tạo thực hành tổng quát, tổ chức cập nhật kiến thức y khoa liên
tục cho người hành nghề;
c) Cấp
khám bệnh, chữa bệnh chuyên sâu thực hiện nhiệm vụ khám bệnh, điều trị ngoại
trú, nội trú chuyên sâu; đào tạo thực hành chuyên sâu; nghiên cứu, đào tạo liên
tục chuyên sâu; chuyển giao kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh.
2.
Các cấp chuyên môn kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh được tổ chức bảo đảm
tính liên tục, liên thông trong cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh theo tình
trạng, mức độ bệnh và bảo đảm các nguyên tắc sau đây:
a) Một
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chỉ được xếp vào một cấp chuyên môn kỹ thuật; trường
hợp cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện được nhiệm vụ của cả 03 cấp chuyên môn
kỹ thuật thì được xếp vào cấp chuyên sâu; trường hợp cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
thực hiện được nhiệm vụ của cấp ban đầu và cấp cơ bản thì được xếp vào cấp cơ bản;
b) Cơ
sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc cấp nào phải tập trung thực hiện các nhiệm vụ của
cấp đó và được thực hiện kỹ thuật chuyên môn của cấp khác nếu đáp ứng đủ điều
kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế; thực hiện nhiệm vụ của cấp chuyên môn
kỹ thuật khác phù hợp với đặc thù của ngành, lĩnh vực theo quy định của Chính
phủ.
3. Cơ
sở khám bệnh, chữa bệnh được xếp vào cấp chuyên môn kỹ thuật theo các tiêu chí
sau đây:
a)
Năng lực cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh và phạm vi hoạt động chuyên môn;
b)
Năng lực tham gia đào tạo thực hành y khoa;
c)
Năng lực tham gia hỗ trợ kỹ thuật cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác;
d)
Năng lực nghiên cứu khoa học về y học.
4.
Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 105. Đào tạo, bồi dưỡng người hành nghề
1. Cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm tổ chức, tạo điều kiện cho người hành nghề
tham gia đào tạo, cập nhật kiến thức y khoa liên tục, bồi dưỡng về chuyên môn kỹ
thuật, đạo đức nghề nghiệp.
2. Nhà nước
có chính sách về cấp học bổng như sau:
a) Cấp học
bổng khuyến khích học tập cho người học chuyên ngành tâm thần, giải phẫu bệnh, pháp y, pháp y tâm
thần, truyền nhiễm và hồi sức cấp cứu có kết quả học tập, rèn luyện đủ điều kiện để cấp học bổng tại cơ sở đào tạo thuộc khối ngành sức khỏe của
Nhà nước;
b) Cấp học
bổng chính sách cho người học chuyên ngành tâm thần, giải phẫu bệnh, pháp y, pháp y tâm
thần, truyền nhiễm và hồi sức cấp cứu là người đang làm việc tại cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và vùng có điều kiện
kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
3. Nhà nước hỗ trợ đối với người học chuyên ngành tâm thần, giải phẫu bệnh, pháp y, pháp y tâm
thần, truyền nhiễm và hồi sức cấp cứu như sau:
a) Hỗ trợ toàn bộ học phí và hỗ trợ chi phí sinh
hoạt trong toàn khóa học nếu học tại cơ sở đào tạo thuộc khối ngành sức khỏe của
Nhà nước;
b) Hỗ trợ
tiền đóng học phí và hỗ trợ chi phí sinh hoạt trong toàn khóa học tương ứng với
mức quy định tại điểm a khoản này nếu học tại cơ sở đào tạo thuộc khối ngành sức
khỏe của tư nhân.
4. Nhà nước
khuyến khích tổ chức, cá nhân cấp học bổng hoặc trợ cấp cho người học.
5. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Mục 2. ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM VỀ TÀI CHÍNH
Điều 106. Nguồn tài chính cho khám bệnh, chữa bệnh
1. Các
nguồn tài chính cho khám bệnh, chữa bệnh bao gồm:
a) Ngân
sách nhà nước;
b) Quỹ bảo
hiểm y tế;
c) Kinh
phí chi trả của người bệnh;
d) Viện
trợ, tài trợ, hỗ trợ của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài theo quy định
của pháp luật;
đ) Nguồn
tài chính hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
2. Cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh thực hiện chế độ tài chính, kế toán, kiểm toán, thuế, định
giá tài sản và công khai tài chính theo quy định của pháp luật.
Điều 107. Ngân sách nhà nước chi cho khám bệnh, chữa bệnh
1. Chi cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện việc cung cấp dịch vụ
khám bệnh, chữa bệnh thuộc danh mục dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh sử dụng ngân
sách nhà nước theo quy định của pháp luật và thực hiện nhiệm vụ do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền đặt hàng, giao nhiệm vụ.
2. Chi hỗ
trợ cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước theo quy định của pháp luật về ngân
sách nhà nước, pháp luật về cơ chế tự chủ về tài chính đối với đơn vị sự nghiệp
công lập, bao gồm bảo đảm chi thường xuyên cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của
Nhà nước trong trường hợp không cân đối được chi thường xuyên.
3. Chi đầu
tư phát triển cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật.
4. Chi
đóng, hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm y tế cho đối tượng được Nhà nước đóng hoặc hỗ
trợ theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế.
Điều 108. Quy định về tự chủ đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà
nước
1. Cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước được Nhà nước bảo đảm kinh phí để thực hiện chức năng, nhiệm vụ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao; có trách nhiệm sử dụng hiệu quả các nguồn tài chính theo quy định của
pháp luật, phát huy tiềm năng, thế mạnh, nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh.
2. Cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh thực hiện tự chủ được tự chủ trong quyết định về tổ chức
và nhân sự, thực hiện nhiệm vụ, phát triển các hoạt động chuyên môn, các hoạt động
khác phục vụ khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Luật này và quy định khác của
pháp luật có liên quan.
3. Cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh thực hiện tự chủ về tài chính theo quy định của pháp luật
và các nội dung sau:
a) Quyết
định nội dung thu, mức thu của các dịch vụ, hàng hóa liên quan đến hoạt động
khám bệnh, chữa bệnh, phục vụ người bệnh, thân nhân của người bệnh theo quy định
của pháp luật, trừ dịch vụ, hàng hóa do Nhà nước định giá;
b) Quyết
định sử dụng nguồn thu hợp pháp để đầu tư các dự án thực hiện hoạt động khám bệnh,
chữa bệnh theo quy định của pháp luật;
c) Quyết
định nội dung chi và mức chi từ nguồn thu dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh và thu sự
nghiệp, nguồn kinh phí đặt hàng theo quy chế chi tiêu nội bộ của cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh phù hợp với quy định của pháp luật và khả năng tài chính của cơ sở;
d) Quyết
định sử dụng tài sản công theo quy định của pháp luật nhằm mục đích phát triển
hoạt động khám bệnh, chữa bệnh theo nguyên tắc bảo toàn, phát triển; tiếp nhận,
quản lý, khai thác, sử dụng các tài sản do tổ chức, cá nhân cho, tặng trên
nguyên tắc công khai, minh bạch và không ràng buộc lợi ích giữa các bên để phục
vụ công tác khám bệnh, chữa bệnh;
đ) Cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh tự bảo đảm chi đầu tư và chi thường xuyên được quyết định
giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh nhưng không vượt quá giá dịch vụ khám bệnh, chữa
bệnh tương ứng do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định, trừ giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh
theo yêu cầu và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh hình thành từ hoạt động hợp
tác theo hình thức đối tác công tư thực hiện theo quy định tại khoản
7 và khoản 9 Điều 110 của Luật này.
4. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 109. Xã hội hóa trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh
1. Tổ chức,
gia đình và cá nhân có trách nhiệm tự chăm lo sức khỏe, phát hiện bệnh sớm cho
thành viên trong tổ chức, gia đình và bản thân; tham gia cấp cứu, hỗ trợ giải
quyết các trường hợp xảy ra tai nạn, thương tích tại cộng đồng và tham gia hoạt
động khám bệnh, chữa bệnh khi có sự huy động của cơ quan, người có thẩm quyền.
2. Nhà nước
thực hiện đa dạng hóa các loại hình dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh; tổ chức, cá
nhân tham gia xây dựng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được hưởng chính sách ưu đãi
theo quy định của pháp luật về xã hội hóa, bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch,
bình đẳng, bền vững, hiệu quả, hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư, người
bệnh và cộng đồng; khuyến khích cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân hoạt động
khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo, không vì mục đích lợi nhuận; khuyến khích thành
lập quỹ hỗ trợ khám bệnh, chữa bệnh.
3. Hình
thức thu hút nguồn lực xã hội trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh bao gồm:
a) Đầu tư
thành lập cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân;
b) Đầu tư
theo phương thức đối tác công tư để thành lập cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
c) Vay vốn
để đầu tư công trình hạ tầng, thiết bị y tế;
d) Thuê,
cho thuê tài sản, dịch vụ lâm sàng, dịch vụ cận lâm sàng, dịch vụ phi y tế, dịch
vụ nhà thuốc, quản lý vận hành cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
đ) Mua trả
chậm, trả dần; thuê, mượn thiết bị y tế;
e) Tài trợ,
viện trợ từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài;
g) Hình
thức khác theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công và quy định
khác của pháp luật có liên quan.
4. Việc thực
hiện thu hút nguồn lực xã hội trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh đối với cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước được thực hiện theo quy định của pháp luật.
5. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 110. Giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh
1. Giá dịch
vụ khám bệnh, chữa bệnh bao gồm các yếu tố sau đây:
a) Giá
thành toàn bộ của dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh quy định tại khoản 2 Điều này;
b) Tích
lũy hoặc lợi nhuận dự kiến (nếu có);
c) Các
nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.
2. Giá
thành toàn bộ của dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bao gồm các chi phí sau đây:
a) Chi
phí nhân công bao gồm tiền lương, tiền công phù hợp với loại hình cung cấp dịch
vụ, các khoản đóng góp theo lương và các khoản phụ cấp theo quy định;
b) Chi
phí trực tiếp bao gồm chi phí thuốc, hóa
chất, máu, chế phẩm máu và chi phí nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ,
nhiên liệu, năng lượng sử dụng trong khám bệnh, chữa bệnh và các khoản chi phí trực tiếp khác;
c) Chi
phí khấu hao thiết bị y tế, tài sản cố định;
d) Chi phí quản lý
bao gồm chi phí duy tu, bảo dưỡng
thiết bị y tế, tài sản cố định, chi phí bảo vệ môi trường, kiểm soát nhiễm khuẩn,
chi phí đào tạo, nghiên cứu khoa học, công nghệ thông tin, chi phí mua bảo hiểm
trách nhiệm nghề nghiệp, chi phí quản lý chất lượng, lãi vay (nếu có) và các
chi phí khác có liên quan đến hoạt động khám bệnh, chữa bệnh.
3. Việc định
giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo đảm phù hợp với loại hình cung cấp dịch vụ
khám bệnh, chữa bệnh và các nguyên tắc sau đây:
a) Bù đắp
chi phí thực hiện khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với quy định tại điểm b và điểm
c khoản 4 Điều này;
b) Hài
hòa lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
và người bệnh;
c) Rà
soát các yếu tố hình thành giá để điều chỉnh giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh
trong trường hợp cần thiết. Việc điều chỉnh giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo
đảm phù hợp với các căn cứ định giá quy định tại khoản 4 Điều này.
4. Việc định
giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh dựa trên các căn cứ sau đây:
a) Yếu tố hình thành giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh quy định tại khoản
1 Điều này tại thời điểm định giá;
b) Quan hệ cung cầu của dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, khả năng chi trả
của người bệnh;
c) Chủ trương, chính sách, pháp luật về tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp
công lập trong từng thời kỳ, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội
của Nhà nước trong từng thời kỳ theo lộ trình tính đúng, tính đủ giá dịch vụ
khám bệnh, chữa bệnh do Chính phủ quy định.
5. Bộ trưởng
Bộ Y tế có trách nhiệm sau đây:
a) Chủ trì phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tài chính
quy định phương pháp định giá đối với dịch vụ khám bệnh,
chữa bệnh;
b) Quy định giá cụ thể
dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh thuộc danh mục do quỹ bảo hiểm y tế thanh toán,
giá cụ thể dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh do ngân sách nhà nước thanh toán, giá cụ thể dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh không thuộc danh mục
do quỹ bảo hiểm y tế thanh toán mà không phải là dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh
theo yêu cầu đối với các cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh thuộc Bộ Y tế và các Bộ khác.
6. Hội đồng nhân dân cấp
tỉnh quy định giá cụ thể dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh quy định tại điểm b khoản
5 Điều này đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước trên địa bàn quản
lý thuộc phạm vi được phân quyền nhưng không được vượt quá giá dịch vụ khám bệnh,
chữa bệnh tương ứng do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định.
7. Cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh của Nhà nước áp dụng giá cụ thể dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh đối với người
bệnh không có thẻ bảo hiểm y tế sử dụng các dịch vụ thuộc danh mục do quỹ bảo
hiểm y tế chi trả mà không phải là dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh theo yêu cầu; quyết định giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh theo yêu cầu và phải kê khai giá, niêm yết công khai giá dịch
vụ khám bệnh, chữa bệnh theo yêu cầu.
8. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân được quyền
quyết định và phải kê khai giá, niêm yết công khai giá dịch vụ khám bệnh, chữa
bệnh.
9. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được đầu tư theo phương thức đối
tác công tư quyết định giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh theo pháp luật về đầu
tư theo phương thức đối tác công tư.
10. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 111. Quỹ hỗ trợ khám bệnh, chữa bệnh
1. Quỹ hỗ
trợ khám bệnh, chữa bệnh được thành lập để hỗ trợ chi phí khám bệnh, chữa bệnh
cho người bệnh có hoàn cảnh khó khăn hoặc không có khả năng chi trả chi phí
khám bệnh, chữa bệnh; chi trả cho các trường hợp rủi ro nghề nghiệp trong khám
bệnh, chữa bệnh và các hoạt động khác phục vụ cho công tác khám bệnh, chữa bệnh.
2. Quỹ hỗ
trợ khám bệnh, chữa bệnh gồm các loại sau đây:
a) Quỹ hỗ
trợ khám bệnh, chữa bệnh do tổ chức, cá nhân thành lập được tổ chức, hoạt động
và quản lý theo quy định của pháp luật về quỹ xã hội, quỹ từ thiện;
b) Quỹ hỗ
trợ khám bệnh, chữa bệnh do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thành lập từ nguồn tài
trợ, viện trợ của các tổ chức, cá nhân, nguồn kinh phí của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (nếu có) và các nguồn kinh phí khác theo quy định của pháp luật được tổ
chức, hoạt động và quản lý
theo quy định tại quy chế chi tiêu nội bộ của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phù hợp
với quy định của pháp luật.
Mục 3. CÁC ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM KHÁC
Điều 112. Hệ thống thông tin về quản lý hoạt động khám bệnh, chữa bệnh
1. Hệ thống
thông tin về quản lý hoạt động khám bệnh, chữa bệnh bao gồm thông tin về các nội
dung chủ yếu sau đây:
a) Người
bệnh và thông tin sức khỏe của từng cá nhân;
b) Người
hành nghề;
c) Cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh;
d) Chuyên
môn kỹ thuật;
đ) Giá dịch
vụ khám bệnh, chữa bệnh, giá dịch vụ
chăm sóc, hỗ trợ theo yêu cầu;
e) Chi
phí khám bệnh, chữa bệnh, bao gồm cả chi phí khám bệnh, chữa bệnh do quỹ bảo hiểm
y tế thanh toán.
2. Hệ thống
thông tin về quản lý hoạt động khám bệnh, chữa bệnh do Bộ Y tế thống nhất, tập
trung quản lý, phải đáp ứng các điều kiện bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin
theo quy định của pháp luật và bảo đảm liên thông với cơ sở dữ liệu quốc gia.
3. Cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời các
thông tin lên Hệ thống thông tin về quản lý hoạt động khám bệnh, chữa bệnh.
4. Cơ
quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời thông
tin về thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế lên Hệ thống thông
tin về quản lý hoạt động khám bệnh, chữa bệnh.
5. Bộ trưởng
Bộ Y tế quy định các nội dung sau đây:
a) Chuẩn
định dạng dữ liệu đầu ra đối với Hệ thống thông tin về quản lý hoạt động khám bệnh,
chữa bệnh quy định tại khoản 1 Điều này;
b) Việc
xây dựng, quản lý, khai thác, sử dụng Hệ thống thông tin về quản lý hoạt động
khám bệnh, chữa bệnh.
Điều 113. Thiết bị y tế
1. Thiết
bị y tế sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải được phép lưu hành hợp
pháp tại Việt Nam.
2. Việc sử
dụng, kiểm tra, bảo dưỡng, bảo trì, sửa chữa, thay thế vật tư linh kiện, kiểm
định, hiệu chuẩn thiết bị y tế phải tuân thủ quy định của nhà sản xuất, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác về kiểm định, hiệu chuẩn.
3. Cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh phải lập, quản lý, lưu trữ đầy đủ hồ sơ theo dõi thiết bị
y tế.
4. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 114. Bảo đảm an ninh, trật tự tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
1. Các biện
pháp bảo đảm an ninh, trật tự cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và an toàn cho người
hành nghề, người khác làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bao gồm:
a) Thiết
lập hệ thống giám sát và cảnh báo nguy cơ gây mất an ninh, trật tự;
b) Giới hạn
ra vào cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo giờ và khu vực;
c) Ứng dụng
các giải pháp công nghệ cao để quản lý người bệnh, thân nhân của người bệnh,
người hành nghề để tăng cường an ninh, trật tự đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
d) Có biện
pháp phù hợp để bảo quản tài sản cho người bệnh và thân nhân của người bệnh
trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
đ) Không
cho phép đưa vào cơ sở khám bệnh, chữa bệnh các chất, phương tiện, công cụ, vật
dụng gây mất an ninh, trật tự cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
e) Biện
pháp bảo đảm an ninh, trật tự khác theo quy định của pháp luật.
2. Trong
trường hợp người bệnh, thân nhân của người bệnh hoặc người khác có hành vi gây
mất trật tự công cộng, xâm phạm tính mạng, sức khỏe an toàn của người bệnh, người
hành nghề, người khác làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, người ra vào cơ
sở khám bệnh, chữa bệnh thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được áp dụng biện pháp
sau đây:
a) Áp dụng
các biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật và thông báo cho cơ quan
công an, trừ trường hợp người vi phạm là người bệnh đang trong tình trạng cấp cứu;
b) Giới hạn
việc ra vào khu vực bị mất an ninh, trật tự hoặc có nguy cơ bị mất an ninh, trật
tự tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
3. Căn cứ
quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan, người đứng đầu
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quy định và tổ chức triển khai các biện pháp bảo đảm
an ninh, trật tự cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và an toàn cho người hành nghề,
người khác làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, người ra vào cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh.
4. Người
có hành vi xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng hoặc xúc phạm danh dự, nhân
phẩm của người hành nghề và người khác làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị
truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Chương XI
HUY ĐỘNG, ĐIỀU
ĐỘNG NGUỒN LỰC PHỤC VỤ CÔNG TÁC KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH TRONG TRƯỜNG HỢP XẢY RA
THIÊN TAI, THẢM HỌA, DỊCH BỆNH TRUYỀN NHIỄM THUỘC NHÓM A HOẶC TÌNH TRẠNG KHẨN CẤP
Điều 115. Huy động, điều động người tham gia hoạt động khám bệnh, chữa
bệnh trong trường hợp xảy ra thiên tai, thảm họa, dịch bệnh truyền nhiễm thuộc
nhóm A hoặc tình trạng khẩn cấp
1. Cơ
quan, người có thẩm quyền được huy động, điều động những người sau đây tham gia
khám bệnh, chữa bệnh trong
trường hợp xảy ra thiên tai, thảm họa, dịch bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A hoặc
tình trạng khẩn cấp mà không
phải điều chỉnh hoặc cấp mới giấy phép hành nghề:
a) Người
hành nghề khám bệnh, chữa bệnh, bao gồm cả người nước ngoài đang hành nghề tại
Việt Nam;
b) Người
nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã được cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền của nước ngoài cấp giấy phép hành nghề;
c) Học viên, sinh viên, học sinh đang học tại cơ
sở đào tạo thuộc khối ngành sức khỏe; người thuộc đối tượng được cấp giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh
nhưng chưa được cấp giấy phép hành nghề.
2. Việc phân
công nhiệm vụ cho các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này phải bảo đảm phù
hợp đến mức tối đa với trình độ chuyên môn của người được huy động, điều động
và an toàn cho người bệnh.
3. Trong quá trình thực
hiện nhiệm vụ, người được huy động, điều động quy định tại khoản 1 Điều này
không phải chịu trách nhiệm đối với tai biến y khoa khi thuộc một trong các trường
hợp quy định tại khoản 2 Điều 100 của Luật này.
4. Bộ trưởng
Bộ Y tế quy định việc huy động, điều động, phân công nhiệm vụ đối với các đối
tượng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Điều 116. Huy động, điều động cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tham gia hoạt
động khám bệnh, chữa bệnh trong trường hợp xảy ra thiên tai, thảm họa, dịch bệnh
truyền nhiễm thuộc nhóm A hoặc tình trạng khẩn cấp
1. Thành lập mới cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh của Nhà nước theo một trong các hình thức quy định tại khoản
1 Điều 48 của Luật này để thực hiện hoạt động khám bệnh, chữa bệnh trong
trường hợp xảy ra thiên tai, thảm họa, dịch bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A hoặc tình trạng khẩn cấp mà
không cần đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của Luật này và không phải
cấp mới giấy phép hoạt động.
2. Khi được
huy động, điều động tham gia hoạt động khám bệnh, chữa bệnh trong trường hợp xảy
ra thiên tai, thảm họa, dịch
bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A hoặc tình trạng khẩn cấp, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không phải điều chỉnh giấy
phép hoạt động, kể cả trường hợp việc khám bệnh, chữa bệnh khác với phạm vi hoạt
động chuyên môn.
3. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 117. Cơ chế tài chính đối với hoạt động khám bệnh, chữa bệnh trong
trường hợp xảy ra thiên tai, thảm họa, dịch bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A hoặc
tình trạng khẩn cấp
1. Ngân
sách nhà nước bảo đảm theo phân cấp đối với:
a) Tiền
lương, tiền công, phụ cấp, các khoản đóng góp theo quy định của pháp luật và
các chế độ khác (nếu có) đối với người làm việc tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quy định tại khoản 1 Điều 116 của Luật này đang hưởng
tiền lương và tiền công theo quy định của pháp luật và được huy động, điều động
hỗ trợ thực hiện hoạt động khám bệnh, chữa bệnh trong trường hợp xảy ra thiên
tai, thảm họa, dịch bệnh
truyền nhiễm thuộc nhóm A hoặc tình trạng khẩn cấp;
b) Phụ cấp,
các chế độ khác (nếu có) đối với người được huy động, điều động hỗ trợ thực hiện
hoạt động khám bệnh, chữa bệnh trong trường hợp xảy ra thiên tai, thảm họa, dịch bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A
hoặc tình trạng khẩn cấp không hưởng tiền lương, tiền công theo quy định của
pháp luật.
2. Nguồn
kinh phí bảo đảm chi thường xuyên của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được huy động, điều động quy định tại khoản 1 Điều 116
của Luật này, bao gồm ngân sách nhà nước, nguồn quỹ bảo hiểm y tế, nguồn
chi trả của người sử dụng dịch vụ và các nguồn thu hợp pháp khác theo quy định
của pháp luật, trong đó:
a) Ngân
sách trung ương bảo đảm kinh phí cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh do trung ương thành lập. Trường hợp ngân sách địa phương đã bảo đảm một
phần kinh phí hoạt động cho cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh do trung ương thành lập
đóng trên địa bàn địa phương, ngân sách trung ương không phải chi trả các khoản
chi đó;
b) Ngân
sách địa phương bảo đảm kinh phí cho các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh do địa phương thành lập. Trường hợp địa phương đã sử dụng hết các nguồn
lực theo quy định nhưng không bảo đảm được thì ngân sách trung ương xem xét hỗ
trợ.
3. Ngân
sách nhà nước bảo đảm kinh phí cho các hoạt động phục vụ phòng, chống, khắc phục
hậu quả trong trường hợp xảy
ra thiên tai, thảm họa, dịch
bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A hoặc tình trạng khẩn cấp đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được huy động, điều động.
4. Chính
phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều
118. Thẩm quyền điều động tham gia hoạt động
khám bệnh, chữa bệnh trong trường hợp xảy ra thiên tai, thảm họa, dịch bệnh
truyền nhiễm thuộc nhóm A hoặc tình trạng khẩn cấp
1. Bộ trưởng Bộ Y tế điều động nhân lực, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tham gia hoạt
động khám bệnh, chữa bệnh trong trường hợp xảy ra thiên tai, thảm họa, dịch bệnh
truyền nhiễm thuộc nhóm A hoặc tình trạng khẩn cấp trên phạm vi toàn quốc theo đề nghị của các cơ quan, tổ chức,
địa phương, trừ nhân lực, cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh thuộc lực lượng vũ trang nhân dân.
2. Người đứng đầu các Bộ, ngành khác và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh điều
động nhân lực thuộc thẩm quyền quản lý tham gia hoạt động khám bệnh, chữa bệnh trong trường hợp xảy ra thiên tai, thảm
họa, dịch bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A hoặc tình trạng khẩn cấp.
Chương XII
ĐIỀU KHOẢN THI
HÀNH[4]
Điều 119. Sửa đổi, bổ sung một số điều của một số luật liên quan đến
khám bệnh, chữa bệnh
1. Sửa đổi,
bổ sung khoản 10 Điều 4 của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số
14/2008/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 32/2013/QH13, Luật
số 71/2014/QH13 và Luật số 61/2020/QH14 như sau:
“10. Phần
thu nhập không chia của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để lại để đầu tư phát triển
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó; phần thu nhập không chia của cơ sở y tế thực hiện xã hội
hóa nhưng không phải là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và phần thu nhập không chia
của cơ sở thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, lĩnh vực xã hội
hóa khác để lại để đầu tư phát triển cơ sở đó theo quy định của luật chuyên
ngành về lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế và lĩnh vực xã hội hóa khác; phần
thu nhập hình thành tài sản không chia của hợp tác xã được thành lập và hoạt động
theo quy định của Luật Hợp tác xã.”
2. Thay cụm
từ “Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 40/2009/QH12” bằng cụm từ “Luật Khám bệnh, chữa
bệnh số 15/2023/QH15” tại điểm 26 Phụ lục II về Danh mục các quy hoạch có tính
chất kỹ thuật, chuyên ngành của Luật Quy hoạch số 21/2017/QH14.
Điều 120. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2024, trừ trường
hợp quy định tại các khoản 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 9 Điều này.
2. Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 40/2009/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một
số điều theo Luật số 21/2017/QH14 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực
thi hành.
3. Hội đồng Y khoa Quốc gia thực hiện nhiệm vụ kiểm tra đánh giá năng lực
hành nghề khám bệnh, chữa bệnh theo quy định sau đây:
a) Từ
ngày 01 tháng 01 năm 2027 đối với chức danh bác sỹ;
b) Từ ngày 01 tháng 01 năm 2028 đối với các chức danh y sỹ, điều dưỡng,
hộ sinh;
c) Từ ngày 01
tháng 01 năm 2029 đối với các chức danh kỹ thuật y, dinh dưỡng lâm sàng, cấp cứu viên ngoại viện và tâm lý lâm sàng.
4. Điều kiện phải đáp ứng năng lực tiếng Việt đối với người nước ngoài quy định tại điểm c khoản 1 Điều 19 và điểm
c khoản 2 Điều 30 của Luật này thực hiện từ ngày 01
tháng 01 năm 2032.
5. Quy định về hạ tầng công nghệ thông tin tại điểm d khoản 2 Điều 52 của Luật này thực hiện như sau:
a) Từ ngày 01 tháng 01 năm 2027 đối với trường
hợp nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động từ ngày 01 tháng 01 năm 2027;
b) Chậm nhất từ ngày 01 tháng 01 năm 2029 đối với cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh được cấp giấy phép hoạt động trước ngày 01 tháng 01 năm 2027.
6. Việc áp dụng tiêu chuẩn chất lượng tại điểm a khoản 1 Điều 57 của Luật này thực hiện như sau:
a) Từ ngày 01
tháng 01 năm 2025 đối với
bệnh viện;
b) Từ ngày 01 tháng 01 năm 2027 đối với các hình thức tổ chức
khác của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
7. Quy định về cấp chuyên môn kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh tại Điều 104 của Luật này thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2025.
8. Hoàn thành việc xây dựng và vận hành Hệ thống thông tin về quản lý
hoạt động khám bệnh, chữa bệnh trước ngày 01 tháng 01 năm 2027.
9. Cơ quan chuyên môn về y tế thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện việc cấp mới, cấp lại, điều chỉnh
và thu hồi giấy phép hoạt động đối với bệnh viện tư nhân từ ngày 01 tháng 01
năm 2027.
Điều 121. Quy định chuyển tiếp
1. Chứng chỉ hành nghề được cấp trước ngày 01 tháng 01 năm 2024 được
chuyển đổi sang giấy phép hành nghề theo lộ trình do Chính phủ quy định và thực
hiện việc gia hạn theo định kỳ 05 năm một lần kể từ ngày chuyển đổi theo quy định
của Luật này.
2. Việc cấp chứng chỉ hành nghề đối với hồ sơ đã nộp trước ngày 01
tháng 01 năm 2024 được thực hiện theo quy định tại Luật Khám bệnh, chữa bệnh số
40/2009/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 21/2017/QH14.
3. Chứng chỉ hành nghề được cấp theo quy định tại khoản 2 Điều này phải
được chuyển đổi sang giấy phép hành nghề và gia hạn theo quy định tại khoản 1
Điều này.
4. Quy định về sử dụng ngôn ngữ trong cấp phép và hành nghề khám bệnh,
chữa bệnh đối với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo
quy định tại Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 40/2009/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung
một số điều theo Luật số 21/2017/QH14 được áp dụng đến hết ngày 31 tháng 12 năm
2031.
5. Việc đình chỉ, thu hồi đối với chứng chỉ hành nghề được cấp theo quy
định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 40/2009/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một
số điều theo Luật số 21/2017/QH14 được thực hiện theo quy định về đình chỉ, thu
hồi giấy phép hành nghề tại Luật này.
6. Người đề nghị cấp giấy phép hành nghề theo chức danh bác sỹ từ ngày
01 tháng 01 năm 2024 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2026 không phải kiểm tra đánh
giá năng lực hành nghề theo quy định của Luật này.
7. Người đề nghị cấp giấy phép hành nghề theo chức danh y sỹ, điều dưỡng, hộ sinh từ ngày 01 tháng 01 năm 2024 đến hết ngày 31
tháng 12 năm 2027 không phải kiểm tra đánh giá năng lực hành nghề theo quy định
của Luật này.
8. Người đề nghị cấp giấy phép hành nghề theo chức danh kỹ thuật y, dinh dưỡng lâm sàng, cấp cứu viên ngoại viện và tâm lý lâm sàng từ
ngày 01 tháng 01 năm 2024 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2028 không phải kiểm tra
đánh giá năng lực hành nghề theo quy định của Luật này.
9. Người được cấp phép hành nghề theo quy định tại các khoản 1, 2, 6, 7
và 8 Điều này phải tuân thủ các quy định có liên quan đến hành nghề theo quy định
của Luật này.
10. Người được cấp văn bằng đào tạo y sỹ trình độ
trung cấp sau ngày 31 tháng 12 năm 2026 thì không được cấp giấy phép hành nghề
đối với chức danh y sỹ.
11. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã được cấp giấy phép hoạt động theo quy
định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 40/2009/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một
số điều theo Luật số 21/2017/QH14 được tiếp tục hoạt động mà không phải cấp lại
giấy phép hoạt động.
12. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động đã nộp trước ngày 01 tháng 01
năm 2024 được tiếp tục giải quyết theo quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh số
40/2009/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 21/2017/QH14.
13. Việc cấp giấy phép hoạt động đối với hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt
động nộp từ ngày 01 tháng 01 năm 2024 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2026 được cấp
theo quy định về hình thức tổ chức, điều kiện, thủ tục, thẩm quyền của Luật
này, trừ quy định về điều kiện tại điểm d khoản 2 Điều 52
và quy định về thẩm quyền tại khoản 9 Điều 120 của Luật này.
Việc cấp mới, cấp lại, điều
chỉnh và thu hồi giấy phép hoạt động đối với bệnh viện tư nhân từ ngày 01 tháng 01 năm 2024
đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2026 do Bộ trưởng Bộ Y tế thực hiện.
14. Việc đình chỉ, thu hồi đối với giấy phép hoạt động được cấp theo
quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 40/2009/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung
một số điều theo Luật số 21/2017/QH14 được thực hiện theo quy định về đình chỉ,
thu hồi giấy phép hoạt động tại Luật này.
15. Chính phủ quy định chi tiết Điều này; quy định điều kiện cấp giấy
phép hành nghề quy định tại các khoản 6, 7 và 8 Điều này.
|
|
XÁC THỰC VĂN BẢN
HỢP NHẤT
CHỦ NHIỆM
Lê Quang Mạnh
|
[1] Luật Quy hoạch số 112/2025/QH15
có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số
203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật Quy hoạch.”.
Luật Dân số số 113/2025/QH15 có căn cứ ban hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số
203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật Dân số.”.
[2] Cụm từ “quy
hoạch hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh” được thay thế bằng cụm từ “quy hoạch
mạng lưới cơ sở y tế công lập” theo quy định tại khoản 9 Điều 55 của Luật Quy
hoạch số 112/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2026.
[3] Điểm này được
bổ sung theo quy định tại khoản 4 Điều 29 của Luật Dân số số 113/2025/QH15, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
[4] Khoản 1 Điều 57 của Luật Quy hoạch
số 112/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 3 năm 2026 quy định như sau:
“Điều 57. Hiệu lực
thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 3 năm
2026, trừ quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này.
2. Điều 48 của Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày Luật
này được thông qua.
3. Điều 56 của Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày Luật
này được thông qua đến hết ngày 28 tháng 02 năm 2026, trừ quy định tại khoản 4
Điều này.
4. Quy định có liên quan đến việc điều chỉnh quy hoạch
không gian biển quốc gia, quy hoạch sử dụng đất quốc gia thời kỳ 2021-2030 tại
Điều 56 của Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày Luật này được thông qua đến
khi điều chỉnh quy hoạch được phê duyệt nhưng không quá ngày 30 tháng 6 năm
2026.
5. Nghị quyết số 66.2/2025/NQ-CP ngày 28 tháng 8 năm 2025 của
Chính phủ quy định xử lý khó khăn, vướng mắc về việc điều chỉnh quy hoạch cấp
quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành
chính và tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp trong thời gian chưa ban hành Luật
Quy hoạch (sửa đổi) hết hiệu lực kể từ ngày Luật này được thông qua.
6. Luật Quy hoạch số 21/2017/QH15 hết hiệu lực kể từ ngày
Luật này có hiệu lực thi hành, trừ các quy định có liên quan tại Điều 58 của Luật
này.”.
Điều 30 của Luật Dân số số 113/2025/QH15, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2026 quy định như sau:
“Điều 30. Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026, trừ
trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Quy định tại điểm c và điểm d khoản 1 Điều 14 của Luật
này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2027.
3. Pháp lệnh Dân số số 06/2003/PL-UBTVQH11 đã được sửa đổi,
bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có
hiệu lực thi hành.”.