|
VĂN PHÒNG QUỐC HỘI
--------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 22/VBHN-VPQH
|
Hà Nội, ngày 26 tháng 02 năm 2026
|
LUẬT
BẢO VỆ SỨC KHỎE NHÂN DÂN
Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân số 21-LCT/HĐNN8 ngày 30 tháng 6 năm 1989 của Quốc hội được sửa đổi, bổ sung
bởi:
Luật Dân
số số 113/2025/QH15 ngày 10 tháng 12 năm 2025 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 7 năm 2026.
Sức khoẻ
là vốn quý nhất của con người, là một trong những điều cơ bản để con người sống
hạnh phúc, là mục tiêu và là nhân tố quan trọng trong việc phát triển kinh tế,
văn hoá, xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
Để bảo
vệ và tăng cường sức khoẻ nhân dân;
Căn cứ
vào Điều 47, Điều 61 và Điều 83 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam;
Luật
này quy định việc bảo vệ sức khoẻ nhân dân[1].
Chương 1
NHỮNG QUY ĐỊNH
CHUNG
Điều 1. Quyền và nghĩa vụ của công dân trong bảo vệ sức khoẻ
1. Công
dân có quyền được bảo vệ sức khoẻ, nghỉ ngơi, giải trí, rèn luyện thân thể; được
bảo đảm vệ sinh trong lao động, vệ sinh dinh dưỡng, vệ sinh môi trường sống và
được phục vụ về chuyên môn y tế.
2. Bảo vệ
sức khoẻ là sự nghiệp của toàn dân. Tất cả công dân có nghĩa vụ thực hiện
nghiêm chỉnh những quy định của pháp luật về bảo vệ sức khoẻ nhân dân để giữ
gìn sức khoẻ cho mình và cho mọi người.
Điều 2. Nguyên tắc chỉ đạo công tác bảo vệ sức khoẻ
1. Đẩy mạnh
tuyên truyền, giáo dục vệ sinh trong Nhân dân; tiến hành các biện pháp dự
phòng, cải tạo và làm sạch môi trường sống; bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh lao động,
vệ sinh lương thực, thực phẩm và nước uống theo quy định của Hội đồng Bộ trưởng.
2. Mở rộng
mạng lưới nhà nghỉ, nhà điều dưỡng, cơ sở tập luyện thể dục thể thao; kết hợp
lao động, học tập với nghỉ ngơi và giải trí; phát triển thể dục thể thao quần
chúng để duy trì và phục hồi khả năng lao động.
3. Hoàn
thiện, nâng cao chất lượng và phát triển mạng lưới phòng, chống dịch, khám bệnh,
chữa bệnh; kết hợp phát triển hệ thống y tế Nhà nước với y tế tập thể và y tế
tư nhân.
4. Xây dựng
nền y học Việt Nam kế thừa và phát triển nền y học, dược học cổ truyền dân tộc;
kết hợp y học, dược học hiện đại với y học, dược học cổ truyền dân tộc, nghiên
cứu và ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật của y học thế giới vào thực tiễn
Việt Nam, xây dựng các mũi nhọn khoa học y học, dược học Việt Nam.
Điều 3. Trách nhiệm của Nhà nước
1. Nhà nước
chăm lo bảo vệ và tăng cường sức khoẻ nhân dân; đưa công tác bảo vệ sức khoẻ
nhân dân vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách Nhà nước; quyết
định những chế độ chính sách, biện pháp để bảo vệ và tăng cường sức khoẻ nhân
dân.
2. Bộ Y tế
có trách nhiệm quản lý, hoàn thiện, nâng cao chất lượng và phát triển hệ thống
phòng bệnh, chống dịch, khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, lưu thông thuốc và thiết
bị y tế, kiểm tra việc thực hiện các quy định về chuyên môn nghiệp vụ y, dược.
3- Hội đồng
nhân dân các cấp dành tỷ lệ ngân sách thích đáng cho công tác bảo vệ sức khoẻ
nhân dân ở địa phương; thường xuyên giám sát, kiểm tra việc tuân theo pháp luật
về bảo vệ sức khoẻ nhân dân của Ủy ban nhân dân cùng cấp, của các cơ quan, các
tổ chức xã hội, cơ sở sản xuất, kinh doanh của Nhà nước, tập thể, tư nhân và mọi
công dân trong địa phương. Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm thực hiện các
biện pháp để bảo đảm vệ sinh ăn, ở, sinh hoạt, vệ sinh công cộng cho Nhân dân
trong địa phương; lãnh đạo các cơ quan y tế trực thuộc, chỉ đạo sự phối hợp giữa
các ngành, các tổ chức xã hội trong địa phương để thực hiện những quy định của
pháp luật về bảo vệ sức khoẻ nhân dân.
Điều 4. Trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước, các cơ sở sản xuất, kinh
doanh, các đơn vị vũ trang nhân dân
Các cơ
quan Nhà nước, các cơ sở sản xuất, kinh doanh của Nhà nước, các đơn vị vũ trang
nhân dân (gọi chung là các tổ chức Nhà nước), các cơ sở sản xuất, kinh doanh của
tập thể và tư nhân có trách nhiệm trực tiếp chăm lo, bảo vệ, tăng cường sức khoẻ
của những thành viên trong cơ quan, đơn vị mình và đóng góp tiền của, công sức
theo khả năng cho công tác bảo vệ sức khoẻ nhân dân.
Điều 5. Trách nhiệm của các tổ chức xã hội
1. Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ
Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Tổng Hội y dược
học Việt Nam, Hội Y học cổ truyền dân tộc Việt Nam và các tổ chức xã hội khác động
viên, giáo dục các thành viên trong tổ chức thực hiện những quy định của pháp
luật về bảo vệ sức khoẻ nhân dân và tham gia tích cực vào sự nghiệp bảo vệ sức
khoẻ nhân dân trong phạm vi điều lệ của tổ chức mình.
2. Hội Chữ
thập đỏ Việt Nam tuyên truyền, phổ biến những kiến thức y học thường thức cho hội
viên và Nhân dân, vận động nhân dân thực hiện các biện pháp giữ gìn sức khoẻ
cho bản thân và cho mọi người, hiến máu cứu người; tổ chức cứu trợ Nhân dân khi
có tai nạn, thiên tai, dịch bệnh và chiến tranh xảy ra.
Chương 2
VỆ SINH TRONG
SINH HOẠT VÀ LAO ĐỘNG, VỆ SINH CÔNG CỘNG, PHÒNG VÀ CHỐNG DỊCH BỆNH
Điều 6. Giáo dục vệ sinh
1. Các cơ
quan y tế, văn hoá, giáo dục, thể dục thể thao, thông tin đại chúng và các tổ
chức xã hội có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục cho nhân dân kiến thức về y học
và vệ sinh thường thức, vệ sinh môi trường, vệ sinh phụ nữ, vệ sinh thai nghén
và nuôi dạy con.
2. Bộ
Giáo dục xây dựng chương trình giáo dục vệ sinh cho học sinh phổ thông, mẫu
giáo, nhà trẻ, tạo thói quen giữ gìn vệ sinh chung, vệ sinh trong sinh hoạt và
học tập.
Điều 7. Vệ sinh lương thực, thực phẩm, các loại nước uống và rượu
1. Các tổ
chức Nhà nước, tập thể, tư nhân khi sản xuất, chế biến, bao bì đóng gói, bảo quản,
vận chuyển lương thực, thực phẩm, các loại nước uống và rượu phải bảo đảm tiêu
chuẩn vệ sinh. Khi đưa các hoá chất mới, nguyên liệu mới hoặc các chất phụ gia
mới vào chế biến, bảo quản lương thực, thực phẩm, các loại nước uống, rượu và sản
phẩm các loại bao bì đóng gói phải được phép của Sở Y tế.
2. Nghiêm
cấm sản xuất, lưu thông, xuất khẩu, nhập khẩu những mặt hàng lương thực, thực
phẩm, các loại nước uống và rượu không bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh.
3. Người
đang mắc bệnh truyền nhiễm không được làm những công việc có liên quan trực tiếp
đến thực phẩm, các loại nước uống và rượu.
Điều 8. Vệ sinh nước và các nguồn nước dùng trong sinh hoạt của Nhân dân
1- Các cơ
quan, xí nghiệp cấp nước phải bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh nước dùng trong sinh
hoạt của Nhân dân.
2. Nghiêm
cấm các tổ chức Nhà nước, tập thể, tư nhân và mọi công dân làm ô nhiễm các nguồn
nước dùng trong sinh hoạt của Nhân dân.
Điều 9. Vệ sinh trong sản xuất, bảo quản, vận chuyển và sử dụng hoá chất
1. Các tổ
chức Nhà nước, tập thể, tư nhân và mọi công dân khi sản xuất, bảo quản, vận
chuyển, sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu, diệt cỏ, diệt chuột, hoá chất kích
thích sinh trưởng vật nuôi, cây trồng và các loại hoá chất khác phải bảo đảm
tiêu chuẩn vệ sinh, không gây nguy hại đến sức khoẻ con người.
2. Các cơ
sở sản xuất mỹ phẩm, đồ chơi trẻ em, đồ dùng vệ sinh cá nhân bằng hoá chất phải
bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh.
Điều 10. Vệ sinh các chất thải trong công nghiệp và trong sinh hoạt
1. Các xí
nghiệp, các cơ sở sản xuất của Nhà nước, tập thể, tư nhân phải thực hiện những
biện pháp xử lý chất thải trong công nghiệp để phòng, chống ô nhiễm không khí,
đất và nước theo quy định của Hội đồng Bộ trưởng.
2. Các tổ
chức Nhà nước, tổ chức xã hội, tập thể, tư nhân và mọi công dân không được để
các chất phế thải trong sinh hoạt làm ô nhiễm môi trường sống ở các khu dân cư.
Điều 11. Vệ sinh trong chăn nuôi gia súc, gia cầm
1. Việc
chăn nuôi gia súc, gia cầm phải bảo đảm vệ sinh chung. Không được giết mổ, mua,
bán, ăn thịt gia súc, gia cầm bị bệnh truyền nhiễm gây nguy hại cho sức khoẻ
con người.
2. Nghiêm
cấm việc thả rông chó ở thành phố, thị xã và thị trấn; chó nuôi phải được tiêm
phòng theo quy định của cơ quan thú y.
Điều 12. Vệ sinh trong xây dựng
Việc quy
hoạch xây dựng và cải tạo các khu dân cư, các công trình công nghiệp và các
công trình dân dụng đều phải tuân theo tiêu chuẩn vệ sinh.
Điều 13. Vệ sinh trong trường học và nhà trẻ.
1. Hội đồng
nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, ngành giáo dục và các ngành có liên quan phải
từng bước bảo đảm cơ sở vật chất, trang thiết bị, ánh sáng, đồ dùng giảng dạy,
học tập ở trường học và nhà trẻ, không làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của học sinh
và giáo viên.
2. Hiệu
trưởng các trường học và Chủ nhiệm các nhà trẻ phải bảo đảm thực hiện chương
trình học tập rèn luyện đã được quy định; bảo đảm vệ sinh trường, lớp và nhà trẻ.
Điều
14. Vệ sinh trong lao động
1. Các tổ chức Nhà nước,
tập thể và tư nhân phải thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn lao động, bảo đảm
tiêu chuẩn vệ sinh về độ nóng, ẩm, khói, bụi, tiếng ồn, rung chuyển và về các yếu
tố độc hại khác trong lao động sản xuất để bảo vệ sức khoẻ, phòng, chống bệnh
nghề nghiệp cho người lao động, không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường xung quanh.
2. Đơn vị và cá nhân sử
dụng lao động phải tổ chức việc khám sức khoẻ định kỳ cho người lao động và phải
bảo đảm trang bị bảo hộ lao động cần thiết cho người lao động.
Điều
15. Vệ sinh nơi công cộng
1. Mọi người phải có
trách nhiệm thực hiện những quy định về vệ sinh nơi công cộng.
2. Cấm phóng uế, vứt
rác và các chất phế thải khác trên đường phố, vườn hoa, công viên và những nơi
công cộng khác.
3. Cấm hút thuốc trong
phòng họp, ở rạp chiếu bóng, rạp hát và những nơi quy định khác.
Điều
16. Vệ sinh trong việc quàn, ướp, chôn, hoả táng, di chuyển thi hài, hài cốt
1. Việc quàn, ướp,
chôn, hoả táng, di chuyển thi hài, hài cốt, phải tuân theo các quy định về vệ
sinh phòng dịch. Nhà nước khuyến khích việc hoả táng thi hài và hài cốt.
2. Khi di chuyển thi
hài, hài cốt qua biên giới Việt Nam, phải có giấy phép theo quy định của Hội đồng
Bộ trưởng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Điều
17. Phòng và chống các bệnh nhiễm khuẩn, bệnh dịch
1. Y tế cơ sở phải tổ
chức tiêm chủng các loại vắc xin phòng bệnh cho nhân dân.
2. Các tổ chức Nhà nước,
tập thể, tư nhân và mọi công dân phải thực hiện các biện pháp phòng, chống các
bệnh nhiễm khuẩn, bệnh dịch. Khi phát hiện có bệnh dịch hoặc nghi có bệnh dịch
trong đơn vị, địa phương, cơ quan y tế phải báo cáo kịp thời với Ủy ban nhân
dân cùng cấp và cơ quan y tế cấp trên.
3. Ủy ban nhân dân các
cấp phải bảo đảm công tác phòng dịch, chống dịch tại địa phương.
4. Căn cứ vào tính chất
nguy hiểm, mức độ lây lan của từng vụ dịch, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Bộ trưởng
Bộ Y tế, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung
ương có quyền áp dụng những biện pháp đặc biệt để nhanh chóng dập tắt dịch.
Điều
18. Kiểm dịch
1. Động vật, thực vật,
phương tiện vận chuyển hàng hoá ra vào biên giới và quá cảnh nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam đều phải được kiểm dịch.
2. Động vật, thực vật,
phương tiện vận chuyển, hàng hoá và bưu phẩm từ vùng có dịch chuyển ra vùng
không có dịch đều phải được kiểm dịch tại các đầu mối giao thông và bưu điện.
Chương
3
THỂ DỤC THỂ THAO, ĐIỀU
DƯỠNG VÀ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG
Điều
19. Tổ chức hoạt động thể dục thể thao
1. Các ngành, các cấp,
các tổ chức Nhà nước, tổ chức xã hội, tập thể, tư nhân có trách nhiệm tạo điều
kiện cần thiết và tổ chức, động viên mọi người tham gia hoạt động thể dục thể
thao.
2. Tổng cục Thể dục Thể
thao phối hợp với các ngành có liên quan nghiên cứu, phố biến các phương pháp tập
luyện, các môn tập, bài tập thể dục thể thao phù hợp với thể lực, lứa tuổi,
ngành nghề, hướng dẫn chữa bệnh bằng thể dục; xây dựng và phát triển y học thể
dục thể thao; đào tạo cán bộ, hướng dẫn viên, huấn luyện viên và giáo viên thể
dục thể thao.
3. Nghiêm cấm các hành
vi thô bạo trong tập luyện và thi đấu thể dục thể thao.
Điều
20. Tổ chức nghỉ ngơi và điều dưỡng
1. Tổng Liên đoàn Lao động
Việt Nam, các ngành, các cấp, các tổ chức Nhà nước, các tổ chức xã hội, tổ chức
tập thể có trách nhiệm mở rộng các cơ sở điều dưỡng, nhà nghỉ và câu lạc bộ sức
khoẻ.
2. Các tổ chức và tư
nhân sử dụng lao động phải tạo điều kiện cho người lao động được điều dưỡng và
nghỉ ngơi.
Điều
21. Phục hồi chức năng.
1. Bộ Y tế, Bộ Lao động
- Thương binh và Xã hội phải xây dựng và bảo đảm điều kiện cần thiết cho các cơ
sở phục hồi chức năng hoạt động.
2. Ngành y tế, ngành
lao động - thương binh và xã hội phối hợp với các ngành liên quan, các tổ chức
xã hội mở rộng hoạt động phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng để phòng ngừa và
hạn chế hậu quả tàn tật; áp dụng kỹ thuật thích hợp để đưa người tàn tật có khả
năng trở lại cuộc sống bình thường.
Điều
22. Điều dưỡng, phục hồi sức khoẻ bằng yếu tố thiên nhiên.
Nguồn nước khoáng, mỏ
bùn thuốc, khu vực bãi biển, vùng khí hậu và các yếu tố thiên nhiên khác có tác
dụng dược lý đặc biệt phải được sử dụng vào việc điều dưỡng và phục hồi sức khoẻ.
Hội đồng Bộ trưởng quy
định việc xác định, xếp hạng, quản lý khai thác, sử dụng và bảo vệ các yếu tố
thiên nhiên quy định tại Điều này.
Chương
4
KHÁM BỆNH VÀ CHỮA BỆNH
Điều
23. Quyền được khám bệnh và chữa bệnh.
1. Mọi người khi ốm
đau, bệnh tật, bị tai nạn được khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh ở nơi công dân cư trú, lao động, học tập.
Người bệnh còn được chọn
thầy thuốc hoặc lương y, chọn cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và ra nước ngoài để
khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Hội đồng Bộ trưởng.
2. Trong trường hợp cấp
cứu, người bệnh được cấp cứu tại bất kỳ cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nào. Các cơ
sở khám bệnh, chữa bệnh phải tiếp nhận và xử trí mọi trường hợp cấp cứu.
Điều
24. Điều kiện hành nghề của thầy thuốc
Người có bằng tốt nghiệp
y khoa ở các trường đại học hoặc trung học và có giấy phép hành nghề do Bộ Y tế
hoặc Sở Y tế cấp được khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở y tế Nhà nước, tập thể,
tư nhân.
Điều
25. Trách nhiệm của thầy thuốc
1. Thầy thuốc có nghĩa vụ
khám bệnh chữa bệnh, kê đơn và hướng dẫn cách phòng bệnh, tự chữa bệnh cho người
bệnh; phải giữ bí mật về những điều có liên quan đến bệnh tật hoặc đời tư mà
mình được biết về người bệnh.
2. Thầy thuốc phải có y
đức, có tinh thần trách nhiệm, tận tình cứu chữa người bệnh; chấp hành nghiêm
chỉnh các quy định chuyên môn nghiệp vụ, kỹ thuật y tế; chỉ sử dụng những
phương pháp, phương tiện, dược phẩm được Bộ Y tế cho phép.
3. Nghiêm cấm hành vi
vô trách nhiệm trong cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh làm tổn hại đến sức khoẻ,
tính mạng, danh dự, nhân phẩm của người bệnh.
Điều
26. Giúp đỡ bảo vệ thầy thuốc và nhân viên y tế
1. Mọi tổ chức và công
dân có trách nhiệm giúp đỡ, bảo vệ thầy thuốc và nhân viên y tế khi họ làm nhiệm
vụ.
2. Trong trường hợp khẩn
cấp để đưa người bệnh hay người bị tai nạn đến cơ sở cấp cứu, thầy thuốc, nhân
viên y tế được quyền sử dụng các phương tiện vận chuyển có mặt tại chỗ. Người điều
khiển phương tiện phải thực hiện yêu cầu của người thầy thuốc và nhân viên y tế.
3. Nghiêm cấm hành vi
làm tổn hại đến sức khoẻ, tính mạng, danh dự, nhân phẩm của thầy thuốc và nhân
viên y tế trong khi đang làm nhiệm vụ.
Điều
27. Trách nhiệm của người bệnh
1. Người bệnh có trách
nhiệm tôn trọng thầy thuốc và nhân viên y tế; chấp hành những quy định trong
khám bệnh, chữa bệnh.
2. Người bệnh phải trả
một phần chi phí y tế. Hội đồng Bộ trưởng quy định chế độ thu chi phí y tế.
Điều
28. Chữa bệnh bằng phẫu thuật
Thầy thuốc chỉ tiến
hành phẫu thuật sau khi được sự đồng ý của người bệnh. Đối với người bệnh chưa
thành niên, người bệnh đang bị hôn mê hay mắc bệnh tâm thần thì phải được sự đồng
ý của thân nhân hoặc người giám hộ của người bệnh. Trong trường hợp mà thân
nhân hay người giám hộ của người bệnh không đồng ý hoặc thân nhân hay người
giám hộ vắng mặt, nếu không kịp thời phẵu thuật có thể nguy hại đến tính mạng
người bệnh, thì thầy thuốc được quyền quyết định, nhưng phải có sự phê chuẩn của
người phụ trách hay người được uỷ quyền của cơ sở y tế đó.
Điều
29. Bắt buộc chữa bệnh
1. Các cơ sở y tế phải
tiến hành các biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người mắc bệnh tâm thần thể
nặng, bệnh lao, phong đang thời kỳ lây truyền, bệnh lây truyền qua đường sinh dục,
bệnh nghiện ma tuý, bệnh SIDA và một số bệnh truyền nhiễm khác có thể gây nguy
hại cho xã hội.
2. Việc bắt buộc chữa bệnh
tại các cơ sở y tế phải được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Điều
30. Lấy và ghép mô hoặc một bộ phận của cơ thể con người.
1. Thầy thuốc chỉ tiến
hành lấy mô hoặc bộ phận của cơ thể người sống hay người chết dùng vào mục đích
y tế sau khi đã được sự đồng ý của người cho, của thân nhân người chết hoặc người
chết có di chúc để lại.
2. Việc ghép mô hoặc một
bộ phận cho cơ thể người bệnh phải được sự đồng ý của người bệnh hoặc thân nhân
hay người giám hộ của người bệnh chưa thành niên.
3. Bộ Y tế quy định chế
độ chăm sóc sức khoẻ người cho mô hoặc một bộ phận của cơ thể.
Điều
31. Giải phẫu tử thi
Bệnh viện được quyền giải
phẫu thi thể người chết tại bệnh viện trong trường hợp cần thiết để nâng cao chất
lượng khám bệnh, chữa bệnh. Các trường đại học y khoa được dùng tử thi vô thừa
nhận và tử thi của người có di chúc cho phép sử dụng vào mục đích học tập và
nghiên cứu khoa học.
Điều
32. Khám bệnh, chữa bệnh cho người nước
ngoài tại Việt Nam
1. Người nước ngoài
đang ở trên lãnh thổ Việt Nam được khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở y tế và
phải chấp hành những quy định pháp luật về bảo vệ sức khoẻ nhân dân. Người nước
ngoài có thể vào Việt Nam để khám bệnh, chữa bệnh.
2. Hội đồng Bộ trưởng
quy định chế độ khám bệnh, chữa bệnh cho người nước ngoài tại Việt Nam.
Điều
33. Giám định y khoa
1. Hội đồng Giám định y
khoa xác định tình trạng sức khoẻ và khả năng lao động của người lao động theo
yêu cầu của các tổ chức sử dụng lao động và người lao động.
2. Các tổ chức sử dụng
lao động và các cơ quan bảo hiểm xã hội phải căn cứ vào kết luận của Hội đồng
Giám định y khoa để thực hiện chính sách đối với người lao động.
Chương
5
Y HỌC, DƯỢC HỌC CỔ TRUYỀN
DÂN TỘC
Điều
34. Kế thừa và phát triển nền y học, dược học cổ truyền dân tộc
1. Bộ Y tế, Hội Y học cổ
truyền dân tộc Việt Nam và Tổng hội Y Dược học Việt Nam có trách nhiệm tổ chức
thực hiện việc kế thừa, phát triển nền y học, dược học cổ truyền dân tộc, kết hợp
y học, dược học hiện đại với y học, dược học cổ truyền dân tộc trong mọi lĩnh vực
hoạt động y tế và bảo đảm điều kiện hoạt động cho các bệnh viện, viện đầu ngành
y học dân tộc.
2. Ngành y tế, Ủy ban
nhân dân các cấp phải củng cố và mở rộng mạng lưới phục vụ y tế bằng y học, dược
học cổ truyền dân tộc và phát triển nuôi trồng dược liệu trong địa phương mình.
Điều
35. Điều kiện hành nghề của lương y
Người đã tốt nghiệp ở
các trường, lớp hoặc được gia truyền về y học, dược học cổ truyền dân tộc, chữa
bệnh bằng các phương pháp y học cổ truyền dân tộc hoặc bằng các bài thuốc gia truyền
và có giấy phép hành nghề do Bộ Y tế hoặc Sở Y tế cấp được khám bệnh, chữa bệnh
tại các cơ sở y tế Nhà nước, tập thể và tư nhân.
Điều
36. Trách nhiệm của lương y
1. Lương y có nhiệm vụ
khám bệnh, chữa bệnh và hướng dẫn cách phòng bệnh, tự chữa bệnh cho người bệnh;
phải có y đức, có tinh thần trách nhiệm tận tình cứu chữa người bệnh.
2. Những bài thuốc mới,
phương pháp chữa bệnh mới phải được Bộ Y tế hoặc Sở Y tế cùng với Hội Y học cổ
truyền dân tộc cùng cấp kiểm tra xác nhận mới được áp dụng vào khám bệnh, chữa
bệnh cho Nhân dân.
3. Nghiêm cấm việc sử dụng
các hình thức mê tín trong khám bệnh, chữa bệnh.
Điều
37. Giúp đỡ và bảo vệ lương y
1. Nhà nước bảo đảm quyền
tác giả cho lương y về việc phổ biến những bài thuốc, vị thuốc và dược liệu
quý, phương pháp chữa bệnh gia truyền có hiệu quả của mình.
2. Mọi người có trách
nhiệm giúp đỡ và bảo vệ lương y cũng như đối với thầy thuốc theo quy định tại Điều 26 của Luật này.
Chương
6
THUỐC PHÒNG BỆNH, CHỮA BỆNH
Điều
38. Quản lý sản xuất, lưu thông, xuất khẩu, nhập khẩu thuốc và nguyên liệu làm
thuốc
1. Bộ Y tế thống nhất
quản lý sản xuất, lưu thông, xuất khẩu, nhập khẩu thuốc và nguyên liệu làm thuốc,
tổ chức bán và cung cấp thuốc thiết yếu trong phòng bệnh, chữa bệnh cho Nhân
dân.
2. Các cơ sở của Nhà nước,
tập thể, tư nhân được cơ quan y tế có thẩm quyền cho phép mới được sản xuất,
lưu thông, xuất khẩu, nhập khẩu thuốc, nguyên liệu làm thuốc và chỉ được phép sản
xuất, lưu thông, xuất khẩu, nhập khẩu các loại thuốc và nguyên liệu làm thuốc
đã được Bộ Y tế quy định.
3. Người có bằng cấp
chuyên môn về dược và được Bộ Y tế hoặc Sở Y tế cấp giấy phép mới được hành nghề
dược.
4. Các loại thuốc mới
phải được Bộ Y tế hoặc Sở Y tế kiểm tra, xác định hiệu lực phòng bệnh, chữa bệnh,
bảo đảm an toàn đối với người bệnh mới được đưa vào sản xuất, lưu thông, xuất
khẩu, nhập khẩu.
Điều
39. Quản lý thuốc độc, thuốc và chất dễ gây nghiện, gây hưng phấn, ức chế tâm
thần
1. Các loại thuốc có độc
tính cao, các thuốc và chất dễ gây nghiện, gây hưng phấn, ức chế tâm thần chỉ
được dùng để chữa bệnh và nghiên cứu khoa học.
2. Bộ Y tế quy định chế
độ sản xuất, lưu thông, bảo quản, sử dụng, tồn trữ cá loại thuốc và các chất
quy định tại khoản 1 của Điều này.
Điều
40. Chất lượng thuốc
1. Thuốc đưa vào lưu
thông và sử dụng phải bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng Nhà nước và an toàn cho người
dùng.
2. Nghiêm cấm việc sản
xuất, lưu thông thuốc giả, thuốc không bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng Nhà nước.
Chương
7
BẢO VỆ SỨC KHOẺ NGƯỜI
CAO TUỔI, THƯƠNG BINH, BỆNH BINH, NGƯỜI TÀN TẬT VÀ ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
Điều
41. Bảo vệ sức khoẻ người cao tuổi, thương binh, bệnh binh và người tàn tật
1. Người cao tuổi,
thương binh, bệnh binh và người tàn tật được ưu tiên trong khám bệnh, chữa bệnh,
được tạo điều kiện thuận lợi để đóng góp cho xã hội phù hợp với sức khoẻ của
mình.
2. Bộ Y tế, Tổng cục Thể
dục thể thao hướng dẫn phương pháp rèn luyện thân thể, nghỉ ngơi và giải trí để
phòng, chống các bệnh người già.
Điều
42. Bảo vệ sức khoẻ đồng bào các dân tộc thiểu số
1. Nhà nước dành ngân
sách thích đáng để củng cố mở rộng mạng lưới y tế khám bệnh, chữa bệnh cho đồng
bào các dân tộc thiểu số, đặc biệt là y tế cơ sở ở vùng cao, vùng xã xôi hẻo
lánh.
2. Nhà nước có chế độ
đãi ngộ thích đáng đối với cán bộ y tế công tác tại các vùng cao, vùng xa xôi hẻo
lánh.
3. Hội đồng Bộ trưởng
có trách nhiệm bảo đảm đủ thuốc phòng và chữa bệnh sốt rét, bướu cổ cho các
vùng quy định tại khoản 1 của Điều này.
4. Ủy ban nhân dân các
cấp, các ngành có liên quan và các tổ chức xã hội có trách nhiệm tuyên truyền
giáo dục vệ sinh, xây dựng nếp sống văn minh, văn hoá mới cho đồng bào các dân
tộc thiểu số.
Chương
8
THỰC HIỆN KẾ HOẠCH HOÁ
GIA ĐÌNH VÀ BẢO VỆ SỨC KHOẺ PHỤ NỮ, TRẺ EM
Điều
43. Thực hiện kế hoạch hoá gia đình
1. Mọi người có trách
nhiệm thực hiện kế hoạch hoá gia đình, có quyền lựa chọn biện pháp sinh đẻ có kế
hoạch theo nguyện vọng.[2]
2. Nhà nước có chính
sách, biện pháp khuyến khích và tạo điều kiện cần thiết cho mọi người thực hiện
kế hoạch hoá gia đình. Các cơ sở chuyên khoa phụ sản của Nhà nước, tập thể và
tư nhân phải thực hiện yêu cầu của mọi người về việc lựa chọn biện pháp sinh đẻ
có kế hoạch theo nguyện vọng.
3. Các cơ quan y tế,
văn hoá, giáo dục, thông tin đại chúng và các tổ chức xã hội có trách nhiệm
tuyên truyền, giáo dục kiến thức về dân số và kế hoạch hoá gia đình cho nhân
dân.
4. Nghiêm cấm hành vi
gây trở ngại hoặc cưỡng bức trong việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình.
Điều
44. Quyền của phụ nữ được khám bệnh, chữa bệnh phụ khoa và nạo thai, phá thai
1. Phụ nữ được quyền nạo
thai, phá thai theo nguyện vọng, được khám bệnh, chữa bệnh phụ khoa, được theo
dõi sức khoẻ trong thời kỳ thai nghén, được phục vụ y tế khi sinh con tại các
cơ sở y tế.
2. Bộ Y tế có trách nhiệm
củng cố, phát triển mạng lưới chuyên khoa phụ sản và sơ sinh đến tận cơ sở để bảo
đảm phục vụ y tế cho phụ nữ.
3. Nghiêm cấm các cơ sở
y tế và cá nhân làm các thủ thuật nạo thai, phá thai, tháo vòng tránh thai nếu
không có giấy phép do Bộ Y tế hoặc Sở Y tế cấp.
Điều
45. Sử dụng lao động nữ
1. Các tổ chức và cá
nhân sử dụng lao động nữ phải thực hiện các quy định về bảo vệ sức khoẻ cho phụ
nữ, bảo đảm chế độ đối với phụ nữ có thai, sinh con, nuôi con và áp dụng các biện
pháp sinh đẻ có kế hoạch.
2. Không được sử dụng
lao động nữ vào những công việc nặng nhọc, độc hại. Bộ Y tế, Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội quy định danh mục các công việc nặng nhọc, độc hại.
Điều
46. Bảo vệ sức khoẻ trẻ em
1. Trẻ em được y tế cơ
sở quản lý sức khoẻ, được tiêm chủng phòng bệnh, phòng dịch, được khám bệnh, chữa
bệnh.
2. Ngành y tế có trách
nhiệm phát triển, củng cố mạng lưới chăm sóc bảo vệ sức khoẻ trẻ em.
3. Cha mẹ, người nuôi
dưỡng trẻ em có trách nhiệm thực hiện những quy định về kiểm tra sức khoẻ và
tiêm chủng theo kế hoạch của y tế cơ sở, chăm lo trẻ em khi đau ốm và thực hiện
các quyết định của người thầy thuốc trong khám bệnh, chữa bệnh đối với trẻ em.
Điều
47. Chăm sóc trẻ em có khuyết tật
Bộ Y tế, Bộ Lao động -
Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục có trách nhiệm tổ chức chăm sóc và áp dụng
các biện pháp phục hồi chức năng cho trẻ em có khuyết tật.
Chương
9
THANH TRA NHÀ NƯỚC VỀ Y
TẾ
Điều
48. Tổ chức và quyền hạn của thanh tra Nhà nước về y tế.
1. Thanh tra Nhà nước về
y tế thuộc ngành y tế bao gồm: Thanh tra vệ sinh, thanh tra khám bệnh, chữa bệnh
và thanh tra dược.
Hội đồng Bộ trưởng quy
định tổ chức thanh tra Nhà nước về y tế.
2. Thanh tra Nhà nước về
y tế có quyền thanh tra, kiểm tra việc thực hiện những quy định của pháp luật về
bảo vệ sức khoẻ nhân dân, về vệ sinh, phòng, chống dịch, khám bệnh, chữa bệnh
và dược; quyết định các hình thức xử phạt hành chính; ra quyết định tạm đình chỉ
hoặc đình chỉ hoạt động của những đơn vị, cá nhân vi phạm và chịu trách nhiệm về
quyết định của mình.
3. Các tổ chức Nhà nước,
tổ chức xã hội, tập thể, tư nhân và mọi công dân nơi đang tiến hành thanh tra
phải báo cáo tình hình, cung cấp tài liệu bằng văn bản những sự việc có liên
quan đến nội dung thanh tra theo đúng thời hạn quy định và cử cán bộ tham gia
đoàn thanh tra khi cần thiết.
Điều
49. Thanh tra vệ sinh.
Thanh tra vệ sinh thanh
tra việc chấp hành pháp luật về vệ sinh của các tổ chức Nhà nước, tổ chức xã hội,
tập thể, tư nhân và mọi công dân.
Điều
50. Thanh tra khám bệnh, chữa bệnh.
Thanh tra khám bệnh và
chữa bệnh thanh tra việc chấp hành những quy định chuyên môn, nghiệp vụ và điều
lệ kỹ thuật y tế của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Nhà nước, tập thể và tư
nhân.
Điều
51. Thanh tra dược.
Thanh tra dược thanh
tra việc chấp hành những quy định chuyên môn, nghiệp vụ dược trong sản xuất,
lưu thông, xuất khẩu, nhập khẩu thuốc và nguyên liệu làm thuốc của các cơ sở
Nhà nước, tập thể, tư nhân.
Chương
10
KHEN THƯỞNG VÀ XỬ LÝ
CÁC VI PHẠM
Điều
52. Khen thưởng
Địa phương, đơn vị, cá
nhân có thành tích trong công tác bảo vệ sức khoẻ nhân dân được Nhà nước khen
thưởng vật chất và tinh thần.
Thầy thuốc, lương y, dược
sĩ và nhân viên y tế khác có nhiều cống hiến trong sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ
nhân dân, có trình độ nghiệp vụ, chuyên môn kỹ thuật giỏi, có đạo đức, được
Nhân dân và đồng nghiệp tín nhiệm thì được xét tặng danh hiệu cao quý của Nhà
nước.
Điều
53. Xử lý các vi phạm
Người nào có những hành
vi sau đây thì tuỳ theo mức độ nhẹ hoặc nặng sẽ bị xứ lý kỷ luật, bị xử lý hành
chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
1. Vi phạm các quy định
về giữ gìn vệ sinh nơi công cộng, phòng và chống dịch, bệnh.
2. Vi phạm các quy định
về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất thuốc và bán thuốc.
3. Vi phạm các quy định
về vệ sinh lương thực, thực phẩm, vệ sinh lao động và các quy định khác của Luật
Bảo vệ sức khoẻ nhân dân.
Ngoài những hình thức xử
lý nói trên, người nào có hành vi vi phạm quy định tại các điểm 1, 2, 3 của Điều
này nếu gây thiệt hại đến sức khoẻ, tính mạng, tài sản của người khác thì phải
bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
Chương
11
ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG
Điều
54. Những quy định trước đây trái với Luật này đều bãi bỏ.
Điều
55. Hội đồng bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Luật này.
---------------------------------------------------------
Quy định về việc thi
hành
Khoản 1 và khoản 3 Điều
30 của Luật Dân số số 113/2025/QH15, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026
quy định như sau:
“Điều 30. Hiệu lực
thi hành
1. Luật này có hiệu
lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
3. Pháp lệnh Dân số
số 06/2003/PL-UBTVQH11 đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số
07/2025/UBTVQH15 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.”.
|
|
XÁC THỰC VĂN BẢN
HỢP NHẤT
CHỦ NHIỆM
Lê Quang Mạnh
|
[1] Luật Dân số số 113/2025/QH15 có căn cứ ban
hành như sau:
“Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số
203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật Dân số.”.
[2] Cụm từ “Mỗi cặp vợ chồng chỉ nên có từ một đến hai con.” được
bãi bỏ theo quy định tại khoản 6 Điều 29 của Luật Dân số số 113/2025/QH15, có
hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.