|
BỘ Y TẾ
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 137/QĐ-BYT
|
Hà Nội, ngày 17
tháng 01 năm 2020
|
QUYẾT ĐỊNH
BAN
HÀNH KẾ HOẠCH PHÒNG, CHỐNG DỊCH BỆNH TRUYỀN NHIỄM NĂM 2020
BỘ TRƯỞNG BỘ Y TẾ
Căn cứ Nghị định số 75/2017/NĐ-CP
ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và cơ cấu tổ chức Bộ Y tế;
Xét đề nghị của Cục trưởng Cục Y tế dự phòng,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này “Kế hoạch Phòng, chống dịch
bệnh truyền nhiễm năm 2020”.
Điều 2. Kế hoạch Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm năm 2020 là căn
cứ để Sở Y tế các tỉnh, thành phố xây dựng kế hoạch hoạt động cụ thể, trình Ủy
ban nhân dân tỉnh, thành phố phê duyệt và đầu tư kinh phí để chủ động triển
khai các hoạt động giám sát, phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm trên địa bàn.
Các Vụ, Cục thuộc Bộ Y tế, các đơn vị trực thuộc Bộ Y tế và các đơn vị liên
quan theo chức năng, nhiệm vụ được phân công chủ động xây dựng kế hoạch để thực
hiện.
Điều 3. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký, ban hành.
Điều 4. Các ông, bà: Chánh Văn phòng Bộ; Chánh Thanh tra Bộ; Vụ trưởng,
Cục trưởng, Tổng Cục trưởng các Vụ, Cục, Tổng Cục thuộc Bộ Y tế; Giám đốc các Bệnh
viện trực thuộc Bộ Y tế; Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ, Viện Pasteur, Viện Sốt
rét - Ký sinh trùng - Côn trùng; Giám đốc Trung tâm Truyền thông giáo dục sức
khỏe Trung ương; Giám đốc Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Thủ
trưởng đơn vị y tế các Bộ, ngành; Thủ trưởng các đơn vị có liên quan chịu trách
nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
Nơi nhận:
- Như Điều 4:
- PTTg. Vũ Đức Đam (để báo cáo);
- Các Đ/c Thứ trưởng;
- Văn phòng Chính phủ;
- Các Bộ, Cơ quan ngang Bộ;
- UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Cổng TTĐT Bộ Y tế;
- Lưu: VT, DP.
|
KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG
Đỗ Xuân Tuyên
|
KẾ HOẠCH
PHÒNG
CHỐNG DỊCH BỆNH TRUYỀN NHIỄM NĂM 2020
(Ban hành kèm theo Quyết định số 137/QĐ-BYT ngày 17 tháng 01 năm 2020 của Bộ
trưởng Bộ Y tế)
Phần thứ nhất.
ĐÁNH GIÁ DỊCH BỆNH TRUYỀN
NHIỄM NĂM 2019
I. TÌNH HÌNH DỊCH BỆNH TRUYỀN
NHIỄM
1. Tình hình dịch bệnh trên thế giới
1.1. Bệnh do vi rút Ebola
Theo thông tin từ Cơ quan đầu mối quốc gia thực hiện
Điều lệ Y tế quốc tế (IHR), tình hình dịch bệnh Ebola tại Cộng hòa dân chủ Công
gô vẫn diễn biến phức tạp. Ngày 01/8/2018, tại Công gô đã ghi nhận đợt dịch thứ
10 trong vòng 40 năm qua, đến ngày 07/10/2019, đã ghi nhận 3.186 trường hợp mắc,
trong đó có 2.908 tử vong, trong đó có 160 nhân viên y tế. Ngày 11/6/2019, tại
Uganda thông báo 03 trường hợp mắc Ebola, đây là các trường hợp đầu tiên có sự
lây truyền qua biên giới. Ngày 17/7/2019, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tuyên bố
dịch bệnh do vi rút Ebola tại Công Gô là sự kiện y tế cống cộng khẩn cấp gây
quan ngại quốc tế. WHO đánh giá khả năng bùng phát dịch bệnh Ebola tại Cộng hòa
dân chủ Công Gô vẫn ở mức cao dù quốc gia này cũng đã triển khai nhiều biện
pháp phòng chống và triển khai việc điều trị bệnh bằng các loại thuốc mới.
1.2. Hội chứng viêm đường hô hấp cấp tính
vùng Trung Đông (MERS-CoV)
Năm 2018, WHO thông báo tại Vương quốc Ả rập thống
nhất đã ghi nhận 130 trường hợp mắc MERS-CoV, trong đó có 54 trường hợp tử
vong. Hầu hết các trường hợp mắc có tiền sử tiếp xúc với lạc đà, các sản phẩm từ
lạc đà hoặc có tiếp xúc với trường hợp bệnh. Trong năm 2019, dịch MERS-CoV vẫn
được ghi nhận rải rác tại khu vực Trung Đông (Quata, Ả Rập Xê Út, Tiểu vương quốc
Ả Rập Thống Nhất). Từ năm 2012 đến năm 2019, trên toàn cầu đã ghi nhận 2.266
trường hợp mắc MERS-CoV, trong đó có 804 trường hợp tử vong.
1.3. Bệnh cúm A(H7N9), A(H5N1), A(H5N6)
- Dịch cúm A(H7N9) bắt đầu được ghi nhận tại Trung
Quốc từ tháng 3 năm 2013, có nguồn gốc từ cúm trên gia cầm. Từ đó đến nay,
Trung Quốc đã ghi nhận 6 đợt dịch, chủ yếu tập trung vào mùa đông xuân. Năm
2017 ghi nhận đợt dịch lần thứ 5 là đợt dịch lớn nhất cả về quy mô, số lượng mắc
và tốc độ lây lan với hơn 786 trường hợp mắc tại 18 tỉnh, thành phố, trong đó
có 300 trường hợp tử vong. Ngoài ra, từ 10/01/2017, đã phát hiện chủng vi rút
cúm A(H7N9) độc lực cao gây bệnh ở gia cầm. Năm 2018, Trung Quốc ghi nhận 02
trường hợp mắc. Năm 2019, Trung Quốc ghi nhận 01 trường hợp mắc. Từ năm 2013 đến
năm 2019, thế giới ghi nhận 1.568 trường hợp mắc cúm A(H7N9), trong đó có 616
trường hợp tử vong. Các trường hợp mắc chủ yếu ghi nhận tại Trung Quốc.
- Cúm A(H5N1): Ngày 09/4/2019, tại Nepal đã ghi nhận
01 trường hợp nhiễm cúm A(H5N1). Từ năm 2003 đến năm 2019, trên thế giới đã ghi
nhận 861 trường hợp mắc cúm A(H5N1), trong đó có 455 trường hợp tử vong tại 17
quốc gia.
- Cúm A(H5N6): Tháng 8/2019, WHO thông báo ghi nhận
01 trường hợp mắc cúm A(H5N6) tại Bắc Kinh, Trung Quốc, Từ năm 2014 đến năm
2019, trên thế giới đã ghi nhận 23 trường hợp mắc cúm A(H5N6), các trường hợp mắc
chỉ ghi nhận tại Trung Quốc.
Như vậy, trong năm 2019 tình hình cúm gia cầm ở người
trên thế giới cơ bản ổn định, ghi nhận rất ít số ca mắc ở người, trong đó ghi
nhận 01 trường hợp nhiễm cúm A(H7N9), 01 trường hợp cúm A(H5N6) tại Trung Quốc
và 01 trường hợp cúm A(H5N1) tại Nepal. Tuy nhiên trên thế giới vẫn ghi nhận
cúm trên gia cầm tại Trung Quốc, Đan Mạch, Ý, Đức.
1.4. Bệnh bại liệt
- Tù 14/9/2019 đến 27/11/2019, Philippines đã ghi
nhận 08 trường hợp bại liệt sau 19 năm loại trừ tại nước này. Trường hợp đầu
tiên được xác định vào ngày 14/9/2019, bệnh nhân là một bé gái 3 tuổi ở miền
Nam Philippines. Vi rút phân lập từ bệnh nhân có mối liên hệ về di truyền với
chủng vi rút bại liệt có nguồn gốc từ vắc xin týp 2 (VDPV2) trước đó được phân
lập từ các mẫu giám sát lấy từ môi trường ở Manila và Davao. Trường hợp thứ hai
được ghi nhận vào ngày 19/9/2019 là một bé trai 5 tuổi ở tỉnh Laguna, cách
Metro Manila khoảng 100 km. Trường hợp thứ 3 ghi nhận ngày 28/10/2019, trường hợp
thứ 4 vào ngày 05/11/2019, trường hợp thứ 5, 6, 7 vào ngày 20/11/2019 và trường
hợp thứ 8 ghi nhận ngày 25/11/2019. Ngoài ra, vi rút bại liệt có nguồn gốc từ vắc
xin týp 1 (VDPV1) cũng đã được phân lập từ các mẫu lấy từ môi trường được thu
thập vào ngày 01/7/2019, 22/7/2019, 13/8/2019 và 27/8/2019 tại Manila.
- Ngoài ra, trong năm 2019 tại Myanmar cũng đã ghi
nhận 06 trường hợp mắc, tại Trung Quốc ghi nhận 01 trường hợp mắc.
1.5. Bệnh sốt vàng
Theo thông tin từ Cơ quan đầu mối quốc gia thực hiện
Điều lệ Y tế quốc tế (IHR), dịch bệnh sốt vàng vẫn ghi nhận một số trường hợp bệnh
rải rác, xâm nhập tại châu Phi, Angola và Cộng hòa dân chủ Công Gô và một số
các quốc gia khác (Ethiopia, Gambia, Senegal, Nigeria và Hà Lan, Brazil). Tại
Nigeria, từ ngày 01/01 - 31/7/2019, đã ghi nhận hơn 2.000 trường hợp mắc tại 36
bang của nước này.
1.6. Bệnh tả tại Sudan
Theo thông báo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO),
ngày 24/9/2019, một ổ dịch tả đã được ghi nhận ở phía Đông Nam của Sudan. Đây
là vụ dịch đầu tiên được ghi nhận tại khu vực này. Từ ngày 28/8/2019 (trường hợp
đầu tiên khởi phát bệnh) đến 19/9/2019 đã ghi nhận tổng số 124 trường hợp nghi
ngờ mắc tả, trong đó có 07 trường hợp tử vong tại 2 bang Blue Nile và Sennar.
Ngày 19/9/2019, đã có 6/9 mẫu bệnh phẩm được lấy từ các khu vực có dịch đã có kết
quả dương tính với phẩy khuẩn tả 01 Ogawa. WHO chưa khuyến cáo phải hạn chế đi
lại đến khu vực có dịch và Sudan.
1.7. Bệnh sốt xuất huyết Dengue
- Bệnh sốt xuất huyết Dengue hiện nay đang là vấn đề
y tế công cộng nan giải trên toàn cầu và được WHO đánh giá là một trong những bệnh
do véc tơ truyền quan trọng nhất. Hiện bệnh đã lưu hành tại 128 quốc gia nằm
trong khu vực có khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới như vùng Đông Nam Á, châu
Phi, châu Mỹ, khu vực phía Đông Địa Trung Hải, trong đó Đông Nam Á và Tây Thái
Bình Dương là khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Theo WHO, mỗi năm có khoảng
390 triệu trường hợp mắc, phần lớn là trẻ em dưới 15 tuổi, tỷ lệ tử vong trung
bình do sốt xuất huyết khoảng 2,5-5%.
- Tại khu vực Đông Nam Á, có tới 7 trong số 10 nước
của khu vực bị sốt xuất huyết Dengue nặng nề, là nguyên nhân hàng đầu của các
trường hợp nhập viện và tử vong ở trẻ em; tỷ lệ mắc sốt xuất huyết Dengue trong
khu vực tăng lên đáng kể trong vòng 17 năm qua và từ năm 1980 trở lại đây số mắc
sốt xuất huyết Dengue đã tăng lên gần gấp 5 lần so với 30 năm về trước. Theo
báo cáo cập nhật đến ngày 26/10/2019 của Tổ chức Y tế thế giới, tình hình sốt
xuất huyết đang diễn biến phức tạp và ghi nhận số mắc tăng cao tại nhiều quốc
gia, cụ thể như sau:
- Theo báo cáo cập nhật đến ngày 05/12/2019 của Tổ
chức Y tế thế giới, tình hình sốt xuất huyết đang diễn biến phức tạp và ghi nhận
số mắc tăng cao tại nhiều quốc gia, cụ thể như sau:
+ Philippines: Tích lũy năm 2019 ghi nhận 402.694
trường hợp mắc, trong đó có 1.502 trường hợp tử vong. Số mắc tăng gấp đôi so với
cùng kỳ 2018 (209.335/1.075).
+ Malaysia: Tích lũy năm 2019 ghi nhận 119.524 trường
hợp mắc, trong đó có 164 trường hợp tử vong. Số mắc tăng gần gấp đôi so với
cùng kỳ 2018 (70.682/122).
+ Lào: Tích lũy năm 2019 ghi nhận 38.026 trường hợp
mắc, trong đó có 70 trường hợp tử vong.
+ Singapore: Tích lũy năm 2019 ghi nhận 14.657 trường
hợp mắc, số mắc cao hơn cùng kỳ năm 2018.
1.8. Bệnh sởi
- Năm 2019, trên thế giới ghi nhận 664.221 trường hợp
mắc sởi tại 171/194 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong đó có nhiều nước có số trường
hợp mắc cao như: Cộng hòa dân chủ Congo, Madagascar, Sudan, Ethiopia, Yemen,
Ukraine, Georgia, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Myanmar, Philippines, Thailand and
India, Pakistan, và Brazil.
- Tại Hoa Kỳ, sau gần 20 năm công bố loại trừ bệnh
sởi, đã ghi nhận các ổ dịch sởi tại 31/50 bang với 1.261 trường hợp mắc; đây là
số trường hợp mắc cao nhất trong vòng 27 năm qua kể từ năm 1992. Nguyên nhân bệnh
sởi gia tăng mạnh ở Hoa Kỳ là do tỷ lệ tiêm phòng sởi thấp.
- Tại khu vực châu Á Thái Bình Dương, một số quốc
gia đã công bố loại trừ bệnh sởi, tuy nhiên trong năm 2019 đều đã ghi nhận các
trường hợp mắc sởi như: Australia, Brunei Darussalam, Cambodia, Hong Kong SAR
(China), Macao SAR (China), Japan, New Zealand, Hàn Quốc và Singapore.
2. Tình hình dịch bệnh tại Việt Nam
Tại Việt Nam, trong năm 2019 không ghi nhận sự xâm
nhập của các bệnh nguy hiểm mới nổi, các bệnh dịch lưu hành tiếp tục được khống
chế, tỷ lệ mắc và tử vong của hầu hết các bệnh dịch truyền nhiễm lưu hành thấp
hơn so với trung bình giai đoạn 5 năm qua, thấp hơn nhiều so với các nước trong
khu vực, các bệnh truyền nhiễm có vắc xin tiêm phòng có tỷ lệ mắc giảm mạnh do
duy trì tỷ lệ tiêm chủng cao. Tiếp tục giữ vững thành quả thanh toán bại liệt,
loại trừ uốn ván sơ sinh. Một số bệnh truyền nhiễm lưu hành như bệnh tay chân
miệng, sốt xuất huyết có số mắc gia tăng cục bộ tại một số địa phương vào các
tháng cao điểm, bệnh sởi ghi nhận rải rác, lẻ tẻ tại một số tỉnh, thành phố,
nhưng không thành ổ dịch tập trung cũng đã được can thiệp giải quyết kịp thời
tránh được nguy cơ lan rộng và bùng phát thành dịch lớn.
2.7. Dịch bệnh MERS-CoV: Không ghi nhận
trường hợp mắc MERS-CoV.
2.2. Cúm gia cầm độc lực cao gây bệnh cho người:
Không ghi nhận trường hợp mắc bệnh cúm A(H5N1), cúm A(H5N6), cúm A(H7N9) trên
người. Tuy nhiên vẫn ghi nhận các ổ dịch cúm A(H5N1), cúm A(H5N6) trên các đàn
gia cầm tại một số tỉnh, thành phố. Tích lũy từ năm 2003 đến năm 2019, Việt Nam
ghi nhận 127 trường hợp mắc cúm A(H5N1), trong đó có 63 trường hợp tử vong.
2.3. Bệnh tả: Trong 8 năm trở lại đây
không ghi nhận trường hợp mắc. Năm 2007 ghi nhận số mắc tả cao là 1.907 trường
hợp, năm 2008 ghi nhận 886 trường hợp mắc, năm 2011 ghi nhận 02 trường hợp mắc.
2.4. Bệnh tay chân miệng: Tích lũy
năm 2019, cả nước ghi nhận 107.669 trường hợp mắc tay chân miệng tại 63 tỉnh,
thành phố (50.410 trường hợp nhập viện), trong đó có 01 trường hợp tử vong. So
với cùng kỳ năm 2018 (133.789/65.288), số mắc cả nước giảm 19,5%, số trường hợp
nhập viện giảm 22,8%.
2.5. Bệnh sốt xuất huyết Dengue: Tích
lũy năm 2019, cả nước ghi nhận 334.664 trường hợp mắc sốt xuất huyết tại 63 tỉnh,
thành phố, trong đó có 54 trường hợp tử vong. So với cùng kỳ năm 2018
(135.154/26) số mắc tăng 2,4 lần; tỷ lệ tử vong là 0,016%, tương đương cùng kỳ
năm 2018.
2.6. Bệnh viêm não vi rút: Tích lũy
năm 2019, cả nước ghi nhận 603 trường hợp mắc (106 trường hợp dương tính),
trong đó có 16 trường hợp tử vong. So với cùng kỳ năm 2018 (784/22), số mắc giảm
23,1%, số tử vong giảm 06 trường hợp.
2.7. Bệnh viêm não Nhật Bản: Tích lũy
năm 2019, cả nước ghi nhận 137 trường hợp mắc viêm não Nhật Bản tại 45 tỉnh,
thành phố (112 trường hợp dương tính), trong đó có 02 trường hợp tử vong. So với
cùng kỳ năm 2018 (277/05), số mắc giảm 50,5%, số tử vong giảm 03 trường hợp.
2.8. Bệnh sốt rét: Tích lũy năm 2019,
cả nước ghi nhận 5.908 trường hợp sốt rét (12 bệnh nhân sốt rét ác tính, 4.699
bệnh nhân có ký sinh trùng), không có trường hợp tử vong. Phân bố ký sinh trùng
sốt rét tập trung chủ yếu tại các tỉnh Tây Nguyên (60,8%), miền Trung (30,0%),
miền Nam (7,9%). So với cùng kỳ năm 2018, số bệnh nhân sốt rét giảm 12,77%, bệnh
nhân có ký sinh trùng sốt rét giảm 2,85%.
2.9. Bệnh dại: Tích lũy năm 2019, cả
nước ghi nhận 77 trường hợp tử vong do bệnh dại tại 31 tỉnh, thành phố, chủ yếu
ở khu vực phía Bắc. So với cùng kỳ năm 2018 (105 trường hợp), số tử vong do bệnh
dại giảm 28 trường hợp.
2.10. Các bệnh truyền nhiễm thuộc Chương
trình tiêm chủng mở rộng
- 19 năm liên tục Việt Nam bảo vệ được thành quả
thanh toán bại liệt kể từ khi chính thức được WHO xác nhận vào năm 2000, trong
bối cảnh vi rút bại liệt hoang dại vẫn lưu hành ở một số quốc gia vùng Nam Á,
cũng như sự xuất hiện trở lại các ca bại liệt ở những quốc gia khác trong khu vực.
- Năm thứ 14 Việt Nam duy trì loại trừ bệnh uốn ván
sơ sinh quy mô huyện trên phạm vi cả nước. Nhờ triển khai vắc xin uốn ván cho
phụ nữ có thai và nữ tuổi sinh đẻ liên tục từ 1993 đến nay, số trường hợp mắc/tử
vong do uốn ván sơ sinh đã giảm từ 334 trường hợp mắc, 225 trường hợp tử vong
năm 1991 xuống còn 52 trường hợp mắc, 18 trường hợp tử vong năm 2017.
- Đa số các bệnh trong Chương trình tiêm chủng mở rộng
quốc gia có số mắc giảm nhiều lần so với năm 1984 khi chưa triển khai tiêm chủng
mở rộng, tuy nhiên vẫn ghi nhận một số dịch bệnh có xu hướng gia tăng trong năm
2019, cụ thể:
+ Bệnh sởi: Tích lũy năm 2019, cả nước ghi nhận
39.417 trường hợp sốt phát ban nghi sởi, trong đó 7.114 trường hợp mắc sởi
dương tính, 04 trường hợp tử vong tại Hòa Bình (2), Sơn La, Hà Nam (các trường
hợp này không được tiêm vắc xin sởi và có bệnh lý nền trước khi nhiễm sởi: bại
não, viêm gan vi rút cấp, viêm phế quản). So với cùng kỳ năm 2018 (8.444 trường
hợp sốt phát ban nghi sởi, 1.889 trường hợp sởi dương tính, 01 trường hợp tử
vong), số trường hợp sốt phát ban nghi sởi tăng 4,8 lần, số dương tính với sởi
tăng 4,6 lần, số tử vong tăng 03 trường hợp.
+ Bệnh bạch hầu: Tích lũy năm 2019, cả nước ghi nhận
67 trường hợp mắc (38 trường hợp dương tính), trong đó có 04 trường hợp tử
vong. So với năm 2018 (15 trường hợp mắc, 03 tử vong), số mắc tăng 52 trường hợp.
+ Bệnh ho gà: Tích lũy năm 2019, cả nước ghi nhận
1.227 trường hợp mắc ho gà (756 trường hợp dương tính), 01 trường hợp tử vong.
So với năm 2018 (676 trường hợp mắc, 02 tử vong), số mắc tăng 81,5%.
2.11. Các bệnh truyền nhiễm gây dịch khác:
các trường hợp mắc bệnh xuất hiện rải rác, không có ổ dịch tập trung.
II. CÁC HOẠT ĐỘNG PHÒNG, CHỐNG DỊCH
ĐÃ TRIỂN KHAI
Trước tình hình dịch bệnh trên thế giới diễn biến
phức tạp, có nhiều nguy cơ xâm nhập, lây truyền, trước nguy cơ bùng phát dịch bệnh
truyền nhiễm lưu hành, ngành Y tế đã chủ động, tích cực triển khai các hoạt động
giám sát nhằm phát hiện sớm và đáp ứng kịp thời với các tình huống về dịch bệnh.
1. Công tác xây dựng mới, sửa đổi bổ sung các
văn bản pháp quy, kế hoạch, hướng dẫn chuyên môn phòng, chống bệnh truyền nhiễm
- Xây dựng và ban hành Thông tư số 17/2019/TT-BYT ngày 17/7/2019 của Bộ Y tế về hướng
dẫn giám sát và đáp ứng với bệnh, dịch bệnh truyền nhiễm.
- Xây dựng và ban hành Thông tư số 28/2019/TT-BYT ngày 28/10/2019 của Bộ Y tế về hướng
dẫn việc thông tin, báo cáo hoạt động kiểm dịch y tế biên giới.
- Trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo Kế hoạch quốc
gia thực hiện Điều lệ y tế quốc tế tại Việt Nam
- Xây dựng Thông tư quy định danh mục trang thiết bị
thiết yếu tại cửa khẩu.
- Xây dựng Thông tư quy định việc thành lập, tổ chức
và hoạt động của hội đồng tư vấn chuyên môn đánh giá nguyên nhân tai biến nặng
trong quá trình sử dụng vắc xin.
- Xây dựng và ban hành Quyết định số 278/QĐ-BYT
ngày 22/01/2019 của Bộ Y tế về Kế hoạch Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm của
Bộ Y tế năm 2019.
- Xây dựng và ban hành Quyết định số 5894/QĐ-BYT ngày 19/12/2019 của Bộ Y tế về việc
hướng dẫn thiết lập và vận hành Đội đáp ứng nhanh.
- Xây dựng và ban hành Kế hoạch số 2627/QĐ-BYT ngày
21/6/2019 của Bộ Y tế về việc phê duyệt Kế hoạch hoạt động bằng nguồn ngân sách
nhà nước năm 2019 của Dự án 1 - Phòng, chống một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm
và các bệnh không lây nhiễm phổ biến thuộc Chương trình mục tiêu Y tế - Dân số.
2. Công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành hoạt động
chuyên môn
- Thường xuyên theo dõi, giám sát chặt chẽ tình
hình dịch bệnh trên thế giới và trong nước, xây dựng và triển khai kế hoạch
phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm năm 2019, đặc biệt là bệnh sốt xuất huyết,
cúm A(H5N1), cúm A(H7N9), MERS-CoV, tay chân miệng, bệnh dại ..., Ban hành các
văn bản của Bộ Y tế, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo quyết liệt công tác phòng chống
dịch bệnh tại cửa khẩu, cơ sở y tế và tại cộng đồng. Chỉ đạo công tác phòng chống
dịch theo tình huống, mùa bão lụt, dịp lễ hội, tết, các đại hội, hội nghị quốc
tế. Chỉ đạo, Sở Y tế tăng cường kiểm tra, giám sát các Trung tâm Y tế dự phòng,
Trung tâm Kiểm soát bệnh tật, Trung tâm Phòng chống sốt rét, Trung tâm Kiểm dịch
y tế quốc tế, các bệnh viện 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tích cực
triển khai các biện pháp chủ động ứng phó, không để các dịch bệnh bùng phát, hạn
chế tỷ lệ mắc, tử vong do bệnh dịch, đảm bảo nguồn lực phòng chống dịch và các
chương trình mục tiêu y tế quốc gia.
- Trong dịp Tết Nguyên đán và mùa lễ hội hàng năm,
xây dựng kế hoạch các hoạt động phòng chống dịch trong dịp Tết Nguyên đán bao gồm
thành lập các Đội đáp ứng nhanh của các Viện Vệ sinh dịch tễ, Viện Pasteur; các
địa phương tổ chức trực chống dịch, cập nhật và báo cáo hàng ngày tình hình dịch
bệnh trong dịp Tết Nguyên đán. Triển khai thực hiện Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Y
tế về việc đảm bảo công tác y tế trong dịp Tết Nguyên đán và Chỉ đạo của Bộ trưởng
Bộ Y tế đề nghị đồng chí Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương về tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh trong dịp Tết Nguyên đán và
mùa Lễ hội hàng năm.
- Triển khai Chương trình Cộng đồng chung tay phòng
chống dịch bệnh giai đoạn 2015-2020, Kế hoạch phòng chống dịch bệnh, Kế hoạch
Quốc gia phòng chống bệnh viêm gan vi rút giai đoạn 2015-2019, Kế hoạch Giám
sát trọng điểm một số bệnh truyền nhiễm/hội chứng gây dịch nguy hiểm, theo dõi
sự biến đổi gen của tác nhân gây bệnh, đưa ra các nhận định, cảnh báo, dự báo sớm
tình hình dịch bệnh, bao gồm: hội chứng cúm (ILI), nhiễm trùng đường hô hấp cấp
tính nặng (SARI), bệnh tay chân miệng, sốt xuất huyết Dengue, bệnh do vi rút
Zika, Chikungunya, sốt rét, SVP, dịch hạch, viêm não Nhật Bản, dại..., theo dõi
sự biến đổi gen của tác nhân gây bệnh, đưa ra các nhận định, cảnh báo, dự báo sớm
tình hình dịch bệnh. Triển khai điều tra ước tính tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B
và vi rút viêm gan C trong nhóm người trưởng thành tại Việt Nam nhằm thu thập
thông tin về hiện trạng nhiễm vi rút viêm gan tại Việt Nam và đề xuất các giải
pháp phù hợp cho chương trình phòng chống viêm gan tại Việt Nam. Triển khai
Chương trình phòng, chống kháng thuốc cộng đồng.
- Phối hợp với UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương chỉ đạo triển khai các biện pháp chủ động ứng phó, không để dịch bệnh
bùng phát; đảm bảo nguồn lực phòng chống dịch, các Chương trình mục tiêu Y tế
quốc gia.
- Chỉ đạo các Viện Vệ sinh dịch tễ, Viện Pasteur, Sở
Y tế, Trung tâm Y tế dự phòng, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật, Trung tâm Phòng chống
sốt rét, Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế, các bệnh viện 63 tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương tích cực triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh do sốt
xuất huyết, tay chân miệng, sởi,... cấp cứu điều trị bệnh nhân hạn chế tối đa số
mắc và tử vong.
- Phối hợp với Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch
bệnh Hoa Kỳ (USCDC), WHO thường xuyên tổ chức đánh giá nguy cơ tình hình dịch bệnh;
tổ chức diễn tập đáp ứng khẩn cấp với sự kiện Y tế công cộng tại Việt Nam.
- Xây dựng hướng dẫn đánh giá nguy cơ tình hình dịch
bệnh; Kiện toàn, đẩy mạnh hoạt động Văn phòng đáp ứng tình huống khẩn cấp phòng
chống dịch bệnh nhằm tăng cường sự điều phối, chia sẻ thông tin và huy động các
nguồn lực trong công tác giám sát, đáp ứng dịch bệnh truyền nhiễm. Thường xuyên
phối hợp với WHO, USCDC, các tổ chức quốc tế có liên quan để đánh giá nguy cơ,
nhận định tình hình dịch bệnh.
- Xây dựng hướng dẫn đánh giá nguy cơ sự kiện y tế
công cộng, hướng dẫn quốc gia về phối hợp đánh giá nguy cơ bệnh lây truyền từ động
vật sang người; xây dựng Kế hoạch phòng chống bệnh viêm gan vi rút giai đoạn
2020-2025 và hướng dẫn giám sát viêm gan vi rút.
- Triển khai giám sát dựa vào sự kiện đã được Bộ Y
tế ban hành tại Quyết định số 2018/QĐ-BYT
ngày 28/3/2018. Củng cố hệ thống giám sát dựa vào sự kiện (EBS) nhằm thu thập
và phân tích thông tin để phát hiện sớm các sự kiện y tế công cộng có nguy cơ
gây dịch bệnh và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng. Hoàn thiện, tăng cường và mở
rộng triển khai giám sát dựa vào sự kiện (EBS) lồng ghép với hệ thống giám sát
thường xuyên (giám sát dựa vào chỉ số) trên phạm vi cả nước.
- Chỉ đạo các đơn vị chủ trì triển khai thực hiện
hoạt động của Dự án 1 - Phòng, chống một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm và các
bệnh không lây nhiễm phổ biến thuộc Chương trình mục tiêu Y tế - Dân số tổ chức
triển khai, hướng dẫn các địa phương, đơn vị triển khai thực hiện Kế hoạch hoạt
động năm 2019 (Kế hoạch số 2627/QĐ-BYT ngày 21/6/2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế về
việc phê duyệt Kế hoạch hoạt động bằng nguồn ngân sách nhà nước năm 2019 của Dự
án 1) và đề xuất Kế hoạch hoạt động năm 2020.
- Đẩy mạnh Chương trình đào tạo về dịch tễ học thực
địa (FETP) Việt Nam với mục tiêu tăng cường năng lực của y tế dự phòng Việt Nam
nhằm đáp ứng nhanh, xử lý kịp thời các dịch bệnh, nhanh chóng kiểm soát bệnh dịch
và giải quyết các vấn đề y tế công cộng góp phần nâng cao sức khỏe của người
dân thông qua việc triển khai thực hiện đào tạo cán bộ có chất lượng. Đối tượng
đào tạo trong chương trình dịch tễ học thực địa là các cán bộ y tế dự phòng Việt
Nam tại tất cả các tuyến từ trung ương đến địa phương được đào tạo về dịch tễ học
thực địa thông qua các khóa đào tạo ngắn hạn và dài hạn nhằm nâng cao kiến thức
và kỹ năng thực hành phòng chống dịch bệnh.
- Chỉ đạo các địa phương tăng cường việc phối hợp
liên ngành tại các cửa khẩu, xây dựng các biên bản phối hợp liên ngành để tạo
điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các hoạt động kiểm dịch y tế.
- Thường xuyên tổ chức các đoàn kiểm tra, chỉ đạo,
phòng chống dịch tại các tỉnh, thành phố trọng điểm. Tổ chức kiểm tra, giám sát
tại địa phương về kiểm dịch y tế, tăng cường chỉ đạo các đơn vị có hoạt động kiểm
dịch y tế quốc tế tăng cường việc quản lý, đã kiểm tra một số tỉnh/thành phố trọng
điểm.
- Chỉ đạo địa phương thực hiện giám sát chặt chẽ tại
cửa khẩu và thực hiện nghị định số 89/2018/NĐ-CP.
- Xây dựng hướng dẫn chuyên môn về quy trình kiểm dịch
tại các cửa khẩu phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật; xây dựng dự thảo nội
dung tiêu chí kiểm dịch viên y tế. Tổ chức cấp thẻ cho kiểm dịch viên y tế tại
các địa phương.
- Chỉ đạo các đơn vị kiểm dịch y tế tăng cường công
tác giám sát, khai báo phòng chống bệnh truyền nhiễm tại các cửa khẩu; theo dõi
chặt chẽ tình hình dịch bệnh trên thế giới, chống dịch khẩn cấp, tổ chức và
phân công trực chống dịch, chỉ đạo các hoạt động phòng chống Ebola, MERS-CoV,
cúm A(H7N9), sốt vàng, chủ động đề xuất các biện pháp đáp ứng phù hợp.
- Thực hiện tốt vai trò Cơ quan Đầu mối IHR, phối hợp
với WHO tổ chức tự đánh giá việc thực hiện IHR tại Việt Nam, kết quả Việt Nam
đã triển khai đủ các lĩnh vực kỹ thuật, đảm bảo năng lực thực hiện IHR được WHO
đánh giá cao. Thu thập và chia sẻ thông tin về tình hình dịch bệnh các quốc gia
thông qua cơ quan đầu mối IHR.
3. Một số hoạt động phòng, chống dịch cụ thể
3.1. Công tác phòng, chống dịch bệnh truyền
nhiễm nguy hiểm (MERS-CoV, Ebola, cúm A(H7N9), cúm A(H5N1), cúm A(H5N6))
Trong năm 2019, dịch bệnh nguy hiểm như MERS-CoV,
cúm A(H7N9) vẫn còn diễn biến phức tạp trên thế giới, Bộ Y tế đã chủ động phối
hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành ngăn chặn thành công không để dịch bệnh nguy hiểm
lây lan vào Việt Nam.
- Hàng ngày theo dõi tình hình dịch bệnh trong nước
và trên thế giới Ebola, MERS-CoV, cúm A(H7N9), sốt vàng... thông qua đơn vị đầu
mối IHR và các nguồn thông tin từ các nước để xác minh, chủ động đề xuất các biện
pháp đáp ứng phù hợp. Chỉ đạo các địa phương tiếp tục các hoạt động tăng cường
giám sát và phát hiện sớm các trường hợp mắc, sự biến chủng của vi rút và xử lý
kịp thời ổ dịch. Tổng hợp, báo cáo kịp thời Chính phủ về các hoạt động phòng,
chống dịch bệnh nguy hiểm, đề xuất các biện pháp phòng chống phù hợp.
- Ban hành các văn bản gửi Ủy ban nhân dân các tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương đề nghị tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh
truyền nhiễm nguy hiểm.
- Tổ chức giám sát chặt chẽ hành khách, phương tiện
nhập cảnh, xuất cảnh cũng như hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu, đặc biệt các đối
tượng xuất phát từ vùng dịch bệnh đang lưu hành để kiểm tra sàng lọc, phát hiện
sớm các trường hợp nghi ngờ mắc bệnh, tổ chức cách ly kịp thời.
- Tổ chức và duy trì giám sát cúm tại các điểm giám
sát mọng điểm quốc gia để đánh giá sự lưu hành và theo dõi sự biến đổi gen,
tính kháng thuốc của vi rút cúm để đưa ra các giải pháp trong công tác phòng chống
và điều trị.
- Phối hợp với ngành Thú y trong việc phát hiện sớm
bệnh cúm gia cầm để xử lý kịp thời, tránh lây sang người và tuân thủ nghiêm ngặt
các quy định về vận chuyển, giết mổ và sử dụng gia cầm.
- Phối hợp với Ban Quản lý cửa khẩu để tuyên truyền
các khuyến cáo hành khách nhập cảnh về các biện pháp theo dõi và phòng chống bệnh
nguy hiểm tại các cửa khẩu.
- Phối hợp với WHO, FAO, USCDC, USAID và các đơn vị
liên quan để đánh giá nguy cơ về dịch bệnh nguy hiểm để ứng phó dịch bệnh.
- Tổ chức họp với các chuyên gia của WHO, FAO,
USCDC, USAID và các đơn vị liên quan đánh giá nguy cơ về dịch bệnh nguy hiểm
như Ebola, cúm A(H7N9), MERS-CoV để ứng phó kịp thời, phù hợp.
- Củng cố các Đội đáp ứng nhanh phòng, chống dịch bệnh
nguy hiểm tại các Viện Vệ sinh dịch tễ, Viện Pasteur và các tỉnh, thành phố.
- Đảm bảo công tác xét nghiêm tại Viện Vệ sinh dịch
tễ Trung ương, Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh đủ năng lực xét nghiệm khẳng
định các chủng vi rút mới nổi, nguy hiểm như vi rút cúm A(H7N9), MERS-CoV.
- Duy trì đường dây nóng để kịp thời tư vấn cho người
dân các biện pháp phát hiện và phòng ngừa bệnh, cũng như nhận thông tin của các
hành khách nhập cảnh.
- Tổ chức tập huấn về Điều lệ Y tế quốc tế, phòng
chống cúm A(H7N9) cho các tỉnh có nguy cơ cao về xảy ra dịch trong cả nước.
- Thành lập các đoàn công tác liên ngành giám sát,
kiểm tra công tác phòng, chống dịch bệnh cúm A(H5N1), cúm A(H7N9) trên gia cầm
và trên người tại các tỉnh, thành phố trọng điểm.
3.2. Công tác phòng, chống bệnh sốt xuất huyết
- Bộ Y tế đã có văn bản chỉ đạo các Viện Vệ sinh dịch
tễ, Viện Pasteur, các Sở Y tế tỉnh, thành phố và các đơn vị bộ ngành liên quan
xây dựng kế hoạch phòng, chống bệnh sốt xuất huyết năm 2019 và giai đoạn
2019-2020, báo cáo Bộ Y tế, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố để vận động,
huy động nguồn lực chủ động triển khai các hoạt động phòng, chống dịch trên địa
bàn. Thường xuyên ban hành các văn bản chỉ đạo địa phương tăng cường công tác
phòng chống sốt xuất huyết.
- Bộ Y tế đã ban hành Kế hoạch Phòng, chống dịch bệnh
sốt xuất huyết ngay từ đầu năm 2019. Có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh,
thành phố về việc tăng cường chỉ đạo công tác phòng, chống sốt xuất huyết.
- Triển khai thực hiện giám sát trọng điểm lồng
ghép bệnh sốt xuất huyết Dengue, bệnh do vi rút Zika và Chikungunya tại Việt
Nam giai đoạn 2019-2020 (ban hành Quyết định số 4607/QĐ-BYT
ngày 11/10/2017 của Bộ trưởng Bộ Y tế).
- Tăng cường điều tra, giám sát dịch sớm, tổ chức xử
lý ổ dịch kịp thời, phun hóa chất diệt muỗi chủ động diện rộng tại khu vực ổ dịch
và các khu vực có nguy cơ bùng phát dịch. Thực hiện các biện pháp mới trong
công tác phòng, chống bệnh sốt xuất huyết Dengue như phun tồn lưu và phun mù
nóng; nghiên cứu sử dụng tác nhân sinh học Wolbachia tại Thành phố Nha Trang.
- Chỉ đạo các địa phương tiếp tục triển khai chiến
dịch tổng vệ sinh môi trường diệt lăng quăng (bọ gậy) và phun hóa chất diệt muỗi
phòng, chống bệnh sốt xuất huyết Dengue tại các xã, phường, thị trấn; triển
khai các hoạt động hưởng ứng “Ngày ASEAN Phòng, chống bệnh sốt xuất huyết” ngày
15/6 hàng năm.
- Tổ chức Hội nghị trực tuyến triển khai công tác
phòng, chống dịch bệnh, công tác tiêm chủng và an toàn tiêm chủng năm 2019 ngày
11/6/2019 tại hơn 700 điểm cầu Trung ương, tỉnh, quận, huyện. Tổ chức Hội nghị
tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh sốt xuất huyết ngày 19/7/2019 tại
TP. Hồ Chí Minh.
- Phối hợp với các cơ quan truyền thông: thông tấn
báo chí, truyền hình, truyền thanh, báo viết đã triển khai hoạt động truyền
thông phòng, chống bệnh sốt xuất huyết Dengue trên phạm vi cả nước.
- Bộ Y tế phối hợp với các Bộ, ngành: Bộ Công an, Bộ
Quốc phòng, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trung ương Đoàn
thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân, Viện Y học dự phòng quân đội để
thực hiện công tác phòng, chống bệnh sốt xuất huyết Dengue.
- Triển khai hoạt động hợp tác với WHO và UNDP về
mô hình cảnh báo sớm sốt xuất huyết.
- Tổ chức tập huấn nâng cao năng lực về phòng, chống
bệnh sốt xuất huyết Dengue, chẩn đoán, điều trị, huy động cộng đồng, cán bộ các
tuyến từ tỉnh đến cộng tác viên các xã, phường.
- Cấp vật tư, hóa chất, trang thiết bị kịp thời cho
các tỉnh, thành phố triển khai công tác phòng, chống dịch bệnh sốt xuất huyết
Dengue trên địa bàn. Tổ chức mua sắm hóa chất, vật tư phục vụ công tác phòng,
chống bệnh sốt xuất huyết Dengue để cấp phát cho các tỉnh, thành phố ghi nhận số
mắc, tử vong cao và các tỉnh, thành phố khó khăn, chưa được trang bị.
- Tổ chức 08 đoàn kiểm tra của Bộ Y tế đi kiểm tra
công tác phòng, chống dịch bệnh sốt xuất huyết tại 20 tỉnh, thành phố trọng điểm
(Quyết định số 3301/QĐ-BYT ngày 29/7/2019 của
Bộ trưởng Bộ Y tế).
3.3. Công tác phòng, chống bệnh tay chân miệng
- Giám sát chặt chẽ, phát hiện sớm và xử lý kịp thời;
đánh giá xu hướng của bệnh; phân tích các đặc điểm dịch tễ học, vi rút học,
đánh giá các yếu tố nguy cơ để đề xuất các biện pháp giảm mắc phù hợp. Chỉ đạo
các tỉnh; thành phố có xu hướng gia tăng số mắc tập trung nguồn lực tăng cường
công tác phòng, chống bệnh tay chân miệng.
- Ban hành văn bản chỉ đạo các địa phương tăng cường
công tác phòng chống dịch bệnh tay chân miệng. Chỉ đạo các Sở Y tế tham mưu với
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố chỉ đạo chính quyền các cấp, huy động các ban,
ngành, tổ chức chính trị - xã hội phối hợp chặt chẽ với ngành y tế triển khai
quyết liệt, đồng bộ các giải pháp phòng chống dịch, tập trung vào các vùng có số
mắc cao, có nguy cơ bùng phát dịch.
- Tăng cường truyền thông, khuyến cáo cộng đồng
phòng, chống dịch bệnh trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Đăng tải
khuyến cáo phòng, chống bệnh tay chân miệng và các dịch bệnh khác trên website
của Cục Y tế dự phòng. Tham gia trả lời các báo cung cấp thông tin về tình hình
dịch bệnh tay chân miệng và các khuyến cáo phòng, chống trên các phương tiện
truyền thông đại chúng như: VTV, VOV, Truyền hình Thông tấn xã Việt Nam, Báo
Thông tấn xã Việt Nam, Dân trí, Người Lao động, Truyền hình An ninh,...
- Phối hợp chặt chẽ với ngành Giáo dục và Đào tạo tổ
chức các hoạt động truyền thông sâu rộng phòng chống dịch bệnh tại các trường học,
đặc biệt tại các nhà trẻ, trường mẫu giáo về các biện pháp phòng chống dịch bệnh
trong trường học, đảm bảo các cơ sở giáo dục có đủ các phương tiện rửa tay, xà
phòng và có vị trí thuận tiện tạo điều kiện thuận lợi cho người chăm sóc trẻ và
trẻ em thường xuyên rửa tay bằng xà phòng, làm sạch bề mặt và đồ chơi hằng ngày
bằng xà phòng hoặc các chất tẩy rửa thông thường, phát hiện sớm các trường hợp
mắc bệnh tại cơ sở giáo dục để xử lý kịp thời.
- Chuẩn bị đầy đủ hóa chất khử khuẩn, thiết bị, vật
tư chuyên dụng sẵn sàng triển khai các hoạt động chống dịch, điều trị cấp cứu bệnh
nhân.
3.4. Công tác phòng, chống bệnh dại
- Chỉ đạo các Sở Y tế tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh,
thành phố tiếp tục thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ
thị 31/CT-TTg ngày 06/7/2017 về việc tăng cường
các biện pháp cấp bách phòng chống bệnh dại; hỗ trợ kinh phí mua vắc xin phòng
dại để điều trị miễn phí sau phơi nhiễm cho người nghèo, người dân ở vùng sâu,
vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, người tham gia phòng chống bệnh dại khi bị
chó, mèo cắn hoặc khi bị phơi nhiễm bệnh dại.
- Chỉ đạo địa phương thực hiện nghiêm Công văn số
6832/BYT-DP ngày 29/11/2017 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc tăng cường các biện
pháp cấp bách phòng, chống bệnh dại.
- Phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn tổ chức hưởng ứng Ngày thế giới phòng chống bệnh dại (28/9) tại tỉnh Bà Rịa
- Vũng Tàu ngày 27/9/2019 với chủ đề “Bệnh Dại: Vắc xin loại trừ bệnh Dại”.
- Phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn triển khai Kế hoạch Quốc gia khống chế và tiến tới loại trừ bệnh dại, giai
đoạn 2017-2021; Tổ chức hoạt động phối hợp trong phòng, chống bệnh dại tại các
tỉnh, thành phố có số tử vong do bệnh dại cao và thực hiện tập huấn liên ngành
các nội dung về phòng, chống bệnh dại ở động vật.
- Phối hợp với cơ quan thú y và chính quyền địa
phương giám sát và phát hiện sớm các ổ dịch dại hoặc nghi dại trên động vật để
có biện pháp xử lý kịp thời, triệt để ổ dịch hạn chế lây nhiễm bệnh dại sang
người.
- Chủ động đánh giá nhu cầu, điều phối và dự trữ vắc
xin, huyết thanh kháng dại để đảm bảo cho công tác điều trị dự phòng bệnh dại
sau phơi nhiễm.
- Tăng cường giám sát chặt chẽ các trường hợp bị
chó nghi dại cắn; tuyên truyền và vận động người dân đến cơ sở y tế để được
khám, tư vấn và tiêm vắc xin phòng bệnh dại khi bị chó, mèo nghi dại cắn.
- Tăng cường tiếp cận vắc xin phòng dại và huyết
thanh kháng dại trên người, đảm bảo ít nhất có một điểm tiêm tại từng huyện, thị
xã. Thành lập các điểm tiêm vắc xin phòng dại tại các xã có nguy cơ cao hoặc cụm
xã để tăng cường việc tiếp cận vắc xin phòng dại.
- Giám sát các trường hợp tử vong do bệnh dại trên
phạm vi toàn quốc, điều tra các bệnh nhân tử vong do bệnh dại. Triển khai giám
sát điểm theo dõi sự lưu hành của vi rút dại trên động vật tại đàn chó, lấy mẫu
bệnh phẩm trên chó ở các tỉnh có tỷ lệ mắc cao.
- Tổ chức các đoàn kiểm tra, giám sát tăng hỗ trợ kỹ
thuật cho các tỉnh, thành phố có số trường hợp tử vong cao tại miền Bắc nhằm
nâng cao chất lượng khám, chỉ định tiêm, kỹ thuật tiêm, bảo quản vắc xin, theo
dõi và xử lý kịp thời các phản ứng sau tiêm vắc xin và huyết thanh kháng dại tại
các điểm tiêm phòng dại. Một số tỉnh thành, thành phố đã có chính sách hỗ trợ
chi phí tiêm phòng vắc xin dại cho đối tượng chính sách và người nghèo.
3.5. Công tác phòng chống bệnh sốt rét
- Tổ chức Hội nghị giao ban công tác phòng, chống bệnh
sốt rét năm 2018, triển khai kế hoạch năm 2019 tại khu vực miền Bắc, miền Trung
và miền Nam.
- Chỉ đạo các đơn vị, địa phương triển khai đồng bộ
các hoạt động phòng chống sốt rét, tập trung các nhiệm vụ trọng tâm: Triển khai
kế hoạch phòng chống bệnh sốt rét tại các tuyến; đáp ứng đủ thuốc, hóa chất, vật
tư phòng chống sốt rét.
- Đẩy mạnh công tác giáo dục truyền thông phòng chống
sốt rét, hưởng ứng Ngày thế giới phòng chống sốt rét 25/4 với chủ đề là: “Hãy
cùng nhau loại trừ bệnh sốt rét”, huy động mỗi người dân trở thành một cộng tác
viên tích cực phòng chống và loại trừ sốt rét.
- Đẩy mạnh công tác phòng chống sốt rét cho các đối
tượng nguy cơ cao như dân di biến động, đối tượng đi rừng ngủ rẫy, người qua lại
biên giới và lao động từ nước ngoài trở về Việt Nam; tăng cường phối hợp liên
ngành trong các hoạt động phòng chống sốt rét tại các tỉnh có sốt rét lưu hành
nặng. Rà soát lại hệ thống y tế cơ sở làm công tác phòng chống sốt rét, đào tạo
nhân lực, củng cố các điểm kính hiển vi để xét nghiệm phát hiện sớm sốt rét.
- Chỉ đạo thực hiện các biện pháp phát hiện bệnh sớm,
điều trị kịp thời và đúng phác đồ cho người bệnh nhiễm ký sinh trùng sốt rét;
theo dõi, đánh giá tình hình ký sinh trùng sốt rét kháng thuốc tại các tỉnh.
- Triển khai các hoạt động phân vùng dịch tễ sốt rét
năm 2019.
- Tiếp tục triển khai thực hiện Lộ trình loại trừ sốt
rét ở Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 và được Bộ Y tế phê duyệt
tại Quyết định số 08/QĐ-BYT ngày 04/01/2017. Năm 2019, có 25 tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương được công nhận đạt tiêu chí loại trừ bệnh sốt rét.
- Xây dựng hướng dẫn thực hiện loại trừ và công nhận
loại trừ sốt rét cho tuyến huyện và tỉnh.
- Triển khai phác đồ điều trị sốt rét kháng thuốc tại
2 tỉnh gồm Bình Phước, Đắk Nông.
- Triển khai các kế hoạch tăng cường phòng chống sốt
rét tại các điểm nóng sốt rét thuộc các tỉnh Bình Phước, Gia Lai, Đắk Lắk, Phú
Yên, Bình Thuận, Lai Châu.
- Tiếp tục triển khai kế hoạch giám sát trọng điểm
sốt rét năm 2019 theo 7 vùng kinh tế xã hội để thu thập các thông tin dịch tễ học,
ký sinh trùng, véc tơ và các yếu tố liên quan.
- Tập huấn chuyên môn về giám sát dịch tễ, giám sát
muỗi truyền bệnh sốt rét, hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh sốt rét cho các
tỉnh và hướng dẫn các địa phương triển khai đến các tuyến.
- Tập huấn cho các tuyến về báo cáo thống kê sốt
rét trên phần mềm eCDS-MMS.
- Tổ chức các đoàn đi kiểm tra, chỉ đạo công tác
phòng chống sốt rét tại các tỉnh có tình hình sốt rét phức tạp.
3.6. Công tác tiêm chủng
- Kịp thời tham mưu, ban hành chỉ thị và công văn
chỉ đạo các Viện Vệ sinh dịch tễ, Viện Pasteur, Sở Y tế, Trung tâm Y tế dự
phòng, Kiểm soát bệnh tật 63 tỉnh, thành phố tăng cường triển khai công tác
tiêm chủng, đặc biệt là tiêm vắc xin phòng chống dịch sởi và tiêm vét vắc xin sởi,
nâng cao tỷ lệ tiêm chủng vắc xin viêm gan B liều sơ sinh, tăng cường tiêm vắc
xin viêm não Nhật Bản ... Tăng cường quản lý tiêm chủng dịch vụ và an toàn tiêm
chủng.
- Đẩy mạnh thực hiện dự án tiêm chủng mở rộng trong
Chương trình mục tiêu Y tế - Dân số quốc gia: tổ chức, duy trì và nâng cao công
tác an toàn tiêm chủng các loại vắc xin, tỷ lệ tiêm đạt tỷ lệ cao cho các đối
tượng trong diện tiêm chủng mở rộng.
- Tăng cường hoạt động truyền thông an toàn tiêm chủng
trên truyền hình, báo chí và báo mạng, tổ chức hội thảo về truyền thông nguy cơ
cho các báo để chủ động cung cấp và tin chính xác.
- Tăng cường công tác giám sát phản ứng sau tiêm chủng,
phát hiện sớm, điều trị kịp thời các trường hợp phản ứng sau tiêm chủng, hướng
dẫn việc theo dõi và xử trí các phản ứng sau tiêm chủng cho các bà mẹ đặc biệt
vùng sâu, vùng xa.
- Triển khai Hệ thống quản lý thông tin tiêm chủng
quốc gia tại 63 tỉnh, thành phố.
- Thực hiện chức năng NRA về giám sát phản ứng sau
tiêm chủng: Thực hiện việc báo cáo, chia sẻ thông tin về các trường hợp phản ứng
sau tiêm theo đúng quy định NRA. Tập huấn cho hội đồng tư vấn chuyên môn cấp tỉnh
khu vực miền Bắc và miền Trung về điều tra kết luận nguyên nhân, đánh giá
nguyên nhân phản ứng sau tiêm chủng.
- Tiếp tục triển khai Kế hoạch bảo vệ thành quả
thanh toán bệnh bại liệt (Quyết định số 1358/QĐ-BYT
ngày 14/4/2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế).
- Tổ chức Kế hoạch triển khai chiến dịch tiêm bổ
sung vắc xin sởi - rubella cho trẻ 1-5 tuổi vùng nguy cơ cao năm 2019, cho khoảng
4,2 triệu trẻ tại 418 huyện của 57 tỉnh, thành phố nguy cơ cao.
- Thành lập các đoàn công tác kiểm tra công tác
tiêm chủng. Phát hiện sớm và xử lý các trường hợp tai biến nặng sau tiêm, báo
cáo Lãnh đạo Bộ Y tế và thông báo cho các cơ quan chức năng liên quan phản ứng
sau tiêm chủng tại các tỉnh, thành phố.
3.7. Công tác kiểm dịch y tế biên giới
- Chỉ đạo, hướng dẫn việc thực hiện Nghị định số 89/2018/NĐ-CP ngày 25/6/2018 của Chính phủ,
công bố các thủ tục hành chính tại các địa phương.
- Ban hành văn bản chỉ đạo các đơn vị kiểm dịch y tế
tăng cường công tác giám sát, khai báo phòng chống bệnh truyền nhiễm tại các cửa
khẩu không để lây lan qua biên giới để kiểm tra sàng lọc, phát hiện sớm các trường
hợp nghi ngờ mắc bệnh, tổ chức cách ly kịp thời.
- Chỉ đạo các đơn vị có hoạt động kiểm dịch y tế quốc
tế tăng cường việc quản lý phí kiểm dịch y tế theo đúng các quy định hiện hành,
tránh lạm dụng thu phí đối với các đối tượng không thuộc diện kiểm tra y tế hoặc
xử lý y tế.
- Xây dựng hướng dẫn chuyên môn về quy trình kiểm dịch
tại các cửa khẩu. Tổ chức cấp thẻ cho kiểm dịch viên y tế tại các địa phương.
- Tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành liên quan triển
khai cơ chế “Một cửa, một lần dừng” tại cặp cửa khẩu Lao Bảo - Đen Xa Vẳn và “Hải
quan một cửa” tại các cửa khẩu quốc tế đường biển.
- Tổ chức kiểm tra, giám sát tại các địa phương về
công tác kiểm dịch y tế, hướng dẫn xây dựng quy trình tiếp nhận, cách ly, vận
chuyển bệnh nhân, bệnh phẩm tại các cửa khẩu.
- Kiểm tra công tác thực hiện kiểm dịch y tế biên
giới tại một số tỉnh có cửa khẩu với Lào; đặc biệt tham gia các đoàn công tác của
Ủy ban quốc gia về biên giới, các Bộ, ngành liên quan về đánh giá việc nâng cấp
các cửa khẩu và việc triển khai thực hiện các hoạt động phối hợp liên ngành tại
cửa khẩu.
- Chỉ đạo kiểm tra giám sát công tác phòng chống dịch
bệnh lây truyền qua cửa khẩu tại các tỉnh, thành phố: Lào Cai, Hải Phòng, Quảng
Ninh, Hà Tĩnh, Khánh Hòa, TP. Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Đà Nẵng. Thanh tra tại các
Trung tâm kiểm dịch Y tế quốc tế tại các địa phương: Tây Ninh, Lạng Sơn, TP. Hồ
Chí Minh.
- Giám sát công tác chuẩn bị sẵn sàng tiếp nhận
hành khách nghi ngờ tại cửa khẩu và Bệnh viện được chỉ định thu dung và kế hoạch
thực hiện phòng chống Ebola, MERS-CoV.
- Giám sát côn trùng, động vật gây bệnh dịch hạch tại
cửa khẩu các tỉnh, thành phố: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Nông, Lào Cai, Lạng Sơn, Hải
Phòng, Hà Nội, Quảng Ninh, Hà Tĩnh, An Giang, Tây Ninh.
- Tham gia giám sát, hỗ trợ chuyên môn kỹ thuật
lĩnh vực phòng chống dịch, kiểm dịch y tế quốc tế, giám sát phòng chống dịch hạch,
tập huấn phun hóa chất diệt côn trùng cho cán bộ tuyến tỉnh.
- Tăng cường kiểm dịch y tế đối với người: Số lượt
hành khách được kiểm tra, giám sát là 36.344.645 lượt, tăng 15,2% lượt người so
với năm 2018. Trong đó có 881 trường hợp nghi ngờ mắc bệnh đã được xác minh,
sàng lọc tại cửa khẩu nhưng không phát hiện trường hợp bệnh nguy hiểm xâm nhập.
3.8. Giám sát trọng điểm một số bệnh truyền
nhiễm gây dịch
- Tiếp tục triển khai giám sát điểm một số bệnh
truyền nhiễm (cúm, SARI, viêm phổi nặng nghi do vi rút (SVP), tay chân miệng, dịch
hạch, viêm não Nhật Bản, sốt xuất huyết, sốt rét) đưa ra các nhận định, cảnh
báo, dự báo sớm tình hình bệnh truyền nhiễm, triển khai kịp thời các biện pháp
phòng, chống dịch.
- Tổ chức thực hiện Kế hoạch giám sát trọng điểm Hội
chứng cúm (ILI), nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính nặng (SARI), bệnh tay chân
miệng tại Việt Nam giai đoạn 2019-2020 ban hành kèm theo Quyết định số 4608/QĐ-BYT ngày 11/10/2017 của Bộ trưởng Bộ Y
tế.
- Tổ chức thực hiện Kế hoạch giám sát trọng điểm lồng
ghép bệnh sốt xuất huyết Dengue, bệnh do vi rút Zika và Chikungunya tại Việt
Nam giai đoạn 2019-2020 (Quyết định số 4607/QĐ-BYT
ngày 11/10/2017 của Bộ Y tế).
- Tăng cường năng lực xét nghiệm chẩn đoán tác nhân
gây bệnh, xây dựng các phòng xét nghiệm đủ năng lực phát hiện các tác nhân gây
bệnh nguy hiểm và mới nổi như cúm A(H7N9), MERS-CoV.
4. Công tác khác
- Phối hợp với các đơn vị truyền thông để góp ý nội
dung chuyên môn kịch bản phóng sự và các thông điệp phòng, chống sốt xuất huyết
phát sóng trên VTV1, VTV2.
- Xây dựng Niên giám thống kê bệnh truyền nhiễm
2018 nhằm tổng hợp cung cấp số liệu chính thức để các Đơn vị y tế làm cơ sở cho
việc đánh giá tình hình bệnh truyền nhiễm và xây dựng kế hoạch chủ động phòng,
chống dịch bệnh của địa phương, đơn vị.
- Theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh trong nước
và quốc tế, đặc biệt tại các tỉnh ghi nhận số mắc gia tăng và triển khai hoạt động
phòng chống dịch.
- Tổng hợp thông tin báo cáo hoạt động kiểm dịch y
tế biên giới trên phần mềm thông tin báo cáo về thông tin báo cáo hoạt động kiểm
dịch y tế biên giới.
- Phối hợp với các Viện Vệ sinh dịch tễ, Viện
Pasteur, các địa phương kiểm tra, đánh giá việc thực hiện hướng dẫn tạm thời
giám sát viêm phổi nặng do vi rút.
- Hỗ trợ vật tư, hóa chất cho các địa phương sẵn
sàng phòng chống dịch bệnh.
- Thành lập các đoàn kiểm tra, giám sát tình hình bệnh
dịch sau lũ lụt tại các tỉnh bị ảnh hưởng. Hướng dẫn chỉ đạo, đôn đốc địa
phương chủ động triển khai các hoạt động phòng chống dịch bệnh, không để xảy ra
dịch bệnh truyền nhiễm sau bão lụt.
5. Quản lý điều trị người bệnh
- Tiếp tục tổ chức triển khai tăng cường công tác
điều trị phòng, chống bệnh sởi, tay chân miệng, sốt xuất huyết và một số bệnh dịch
mới nổi.
- Phối hợp xây dựng hướng dẫn chẩn đoán, điều trị,
phòng lây nhiễm một số bệnh thường gặp ở trẻ em bao gồm các bệnh truyền nhiễm.
- Xây dựng hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh
whitmore, hướng dẫn xét nghiệm viêm gan vi rút B, C.
- Sửa đổi, bổ sung Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh
sốt xuất huyết Dengue, viêm gan vi rút B.
- Duy trì đường dây nóng tại các bệnh viện tuyến
trên để tư vấn, hỗ trợ bệnh viện tuyến dưới trong công tác điều trị.
- Tích cực tìm kiếm nguồn cung cấp dịch truyền cao
phân tử trong điều trị sốc sốt xuất huyết Dengue.
- Duy trì, củng cố các đơn vị huấn luyện lâm sàng
điều trị bệnh truyền nhiễm nguy hiểm và mới nổi tại các Bệnh viện tuyến cuối: Bệnh
Nhiệt đới Trung ương, Nhi Trung ương, Nhi đồng 1, Nhi đồng 2 Thành phố Hồ Chi
Minh, Bệnh Nhiệt đới Thành phố Hồ Chí Minh.
- Chỉ đạo đôn đốc tất cả cơ sở khám chữa bệnh trong
hệ thống điều trị từ Trung ương đến địa phương trong công tác điều trị phòng,
chống dịch bệnh truyền nhiễm, chuẩn bị đầy đủ thuốc, trang thiết bị hồi sức cấp
cứu và các phương tiện cần thiết để sẵn sàng tiếp nhận, cấp cứu và điều trị bệnh
nhân.
- Tăng cường năng lực cho bệnh viện các tuyến, phân
tuyến điều trị, bệnh viện tuyến trung ương điều trị các trường hợp rất nặng; bệnh
viện tuyến tỉnh điều trị các trường hợp nặng, bệnh viện huyện điều trị các trường
hợp thông thường.
- Thực hiện triệt để việc kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh
viện, phòng chống lây nhiễm chéo đối với bệnh nhân đến khám và điều trị.
- Chỉ đạo các cơ sở điều trị báo cáo đầy đủ nội
dung các bệnh truyền nhiễm theo Thông tư số 54/2015/TT-BYT
ngày 28/12/2015 của Bộ Y tế.
- Tổ chức các đội điều trị cấp cứu cơ động để hỗ trợ
tuyến dưới. Tập huấn cho cán bộ hệ điều trị về tiếp nhận, cách ly, điều trị cấp
cứu bệnh nhân, chủ động chuẩn bị giường bệnh, có kế hoạch duy trì hoạt động thường
xuyên của bệnh viện khi có trường hợp mắc bệnh nguy hiểm (MERS-CoV, cúm
A(H7N9), ...) xâm nhập hoặc khi dịch bệnh bùng phát.
6. Truyền thông phòng, chống dịch bệnh
- Tăng cường hiệu quả công tác truyền thông trong
phòng, chống dịch bệnh, với phương châm truyền thông đi trước một bước, lấy phòng
bệnh là chính, hướng về cơ sở, dựa vào cộng đồng; tăng cường phổ biến kiến thức,
giúp thay đổi hành vi chủ động phòng ngừa dịch bệnh; tuyên truyền để người dân
chủ động phòng bệnh, khi mắc bệnh cần sớm đến cơ sở y tế gần nhất để được khám,
tư vấn và điều trị, không lên thẳng tuyến trên gây tình trạng quá tải bệnh viện,
tăng nguy cơ lây nhiễm chéo trong bệnh viện.
- Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan truyền thông đại
chúng tổ chức truyền thông, truyền thông nguy cơ cho người dân về các biện pháp
phòng chống dịch bệnh. Tổ chức Hội nghị trực tuyến triển khai công tác phòng chống
dịch bệnh, công tác tiêm chủng và an toàn tiêm chủng kết nối 63 tỉnh, thành phố
và gần 700 điểm cầu tỉnh, quận, huyện do Bộ trưởng chủ trì. Tổ chức các lễ mít
tinh, phát động, tuyên truyền về công tác phòng chống dịch, bệnh hàng năm như
Ngày Thế giới phòng chống sốt rét, Ngày ASEAN phòng, chống sốt xuất huyết, Ngày
thế giới phòng chống viêm gan, Ngày thế giới phòng chống bệnh dại. Tổ chức Hội
thảo quốc tế phòng chống dại khu vực ASEAN.
- Xây dựng, phát sóng các khuyến cáo, thông điệp
truyền thông phòng chống bệnh truyền nhiễm để đăng tin trên wesite của Bộ Y tế,
Cục Y tế dự phòng và phát trên truyền hình khuyến cáo người dân chủ động phòng
chống dịch bệnh.
- Tổ chức gặp gỡ định kỳ, đột xuất, tập huấn cho
các phóng viên Báo, Đài về các bệnh truyền nhiễm gây dịch và các thông điệp
phòng chống dịch bệnh. Tuyên truyền về tiêm chủng mở rộng.
- Tổ chức các lễ mít tinh, các buổi phát động,
tuyên truyền về công tác phòng chống dịch, bệnh.
- Thường xuyên xây dựng, cập nhật các khuyến cáo
phòng chống dịch bệnh, đăng tin trên website của các cơ quan Bộ Y tế.
- Chỉ đạo các địa phương tổ chức các hoạt động truyền
thông ngay từ đầu mùa dịch và tăng cường truyền thông nguy cơ tại các địa
phương có nguy cơ xảy ra dịch bệnh.
- Tổ chức truyền thông phòng chống dịch bệnh, cung
cấp thông tin cho người dân và các cơ quan báo đài, tổ chức truyền thông với
các hình thức tọa đàm, TV spots, Radio spot, trên VTV 1, các đài truyền hình địa
phương.
7. Phối hợp liên ngành
- Phối hợp chặt chẽ với Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn, các Bộ, ngành liên quan triển khai các biện pháp phòng chống dịch,
kiểm tra, giám sát các hoạt động tại địa phương, chú trọng công tác phòng chống
dịch bệnh nguy hiểm có tỷ lệ tử vong cao như cúm A(H5N1), cúm A(H7N9),
MERS-CoV, bệnh dại.
- Phối hợp với các Bộ, ngành: Công Thương, Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, Công an, Bộ đội biên phòng, Hải quan đã tăng cường
các hoạt động liên ngành kiểm tra, quản lý việc vận chuyển, buôn bán gia cầm và
các sản phẩm gia cầm nhập lậu không rõ nguồn gốc trên thị trường.
- Phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc
tuyên truyền, phổ biến kiến thức về công tác vệ sinh phòng bệnh trong các cơ sở
giáo dục.
- Phối hợp chặt chẽ với các Bộ: Ngoại giao, Công
an, Thông tin Truyền thông, Lao động Thương binh và Xã hội, Quốc phòng trong
công tác tuyên truyền và triển khai các hoạt động phòng chống MERS-CoV.
- Bộ Y tế phối hợp với các Bộ, ngành: Bộ Công an, Bộ
Quốc phòng, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trung ương Đoàn
thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân để thực hiện công tác phòng chống
sốt xuất huyết.
- Bộ Y tế đã phối hợp với các Bộ, ngành, đơn vị
đánh giá kết quả thực hiện Điều lệ Y tế quốc tế tại Việt Nam thông qua sử dụng
bộ công cụ của WHO.
- Phối hợp với Bộ Ngoại giao và các Bộ, ngành liên
quan đi khảo sát, thẩm định việc nâng cấp cửa khẩu tại tỉnh Lạng Sơn.
- Chỉ đạo, phối hợp với các đơn vị chia sẻ thông
tin dịch bệnh với Lào và Căm Pu Chia tại 14 cặp cửa khẩu.
- Phối hợp chặt chẽ với Cục Hàng không trong việc
phối hợp với các cơ quan chuyên ngành tại các cảng hàng không trong việc phối hợp,
xử lý hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh qua đường hàng không.
- Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan triển khai
cơ chế “Một cửa, một lần dừng” tại cặp cửa khẩu Lao Bảo - Đen xa vẳn và “Hải
quan một cửa” tại các cửa khẩu quốc tế đường biển; tham gia các đoàn công tác
liên ngành về đánh giá việc nâng cấp các cửa khẩu và việc triển khai thực hiện
các hoạt động phối hợp liên ngành tại cửa khẩu.
- Phối hợp với Ủy ban biên giới và các Bộ, ngành tiếp
tục thực hiện việc khảo sát nhằm nâng cấp các cặp cửa khẩu đường bộ với 3 nước
Trung Quốc, Lào, Căm Pu Chia.
- Chỉ đạo các địa phương tăng cường việc phối hợp
liên ngành tại các cửa khẩu, xây dựng các biên bản phối hợp liên ngành để tạo
điều kiện thuận lợi cho việc triển khai các hoạt động kiểm dịch y tế.
8. Hợp tác quốc tế và nghiên cứu khoa học
- Tổ chức hội nghị quốc tế về bệnh truyền nhiễm
nguy hiểm và mới nổi khu vực Châu Á Thái Bình Dương.
- Phối hợp với Đầu mối thực hiện Điều lệ y tế quốc
tế của các nước chia sẻ thông tin dịch bệnh, đặc biệt là các bệnh nguy hiểm và
mới nổi: Ebola, cúm A(H5N1), cúm A(H7N9), cúm A(H5N6), MERS-CoV.
- Thực hiện việc chia sẻ thông tin về tình hình dịch
bệnh giữa các cặp tỉnh của 14 tỉnh có chung đường biên giới giữa Việt Nam - Lào
- Căm pu chia nhằm chủ động triển khai các hoạt động phòng chống dịch bệnh lan
truyền qua biên giới.
- Hợp tác với WHO, USCDC, FAO, UNICEF, USAID, ADB,
WB, PATH và các tổ chức quốc tế khác để huy động các nguồn lực và kỹ thuật cho
phòng chống bệnh truyền nhiễm, nâng cao năng lực cán bộ, hệ thống kiểm dịch y tế.
- Triển khai hoạt động hợp tác với WHO và UNDP về
mô hình cảnh báo sớm sốt xuất huyết.
- Nghiên cứu khoa học đề tài cấp cơ sở đánh giá việc
triển khai Thông tư số 54/2015/TT-BYT ngày
28/12/2015 của Bộ Y tế về Hướng dẫn chế độ thông tin báo cáo và khai báo bệnh,
dịch bệnh truyền nhiễm.
- Triển khai các hoạt động Dự án An ninh y tế khu vực
tiểu vùng Mê Kông. Triển khai thực hiện dự án hợp tác quốc tế (GHS, ADB, FETP,
WHO, ...).
- Tiếp tục thực hiện một số hoạt động phối hợp
thông qua cơ chế hợp tác giữa các nước ASEAN về diễn tập, xây dựng các hướng dẫn
chung về điều tra ổ dịch, điều tra người tiếp xúc, ...
9. Công tác cải cách hành chính, Ứng dụng CNTT
- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, hoàn thiện
phần mềm báo cáo bệnh truyền nhiễm triển khai tại 63/63 tỉnh, thành phố.
- Triển khai đánh giá việc thông tin, báo cáo bằng
phần mềm trực tuyến theo Thông tư số 54/2015/TT-BYT
ngày 28/12/2015 của Bộ Y tế về Hướng dẫn chế độ thông tin báo cáo và khai báo bệnh,
dịch bệnh truyền nhiễm.
- Tiếp tục hoàn thiện kho dữ liệu bệnh truyền nhiễm
và bảng điều khiển thông tin dịch tễ với nguồn thông tin từ phần mềm báo cáo bệnh
truyền nhiễm, giám sát trọng điểm, giám sát dựa vào sự kiện hiển thị trực quan
các bảng, biểu đồ, bản đồ dịch tễ và triển khai mở rộng kho dữ liệu bệnh truyền
nhiễm tích hợp phần mềm quản lý tiêm chủng. Tiếp tục phối hợp với các đối tác
phát triển để đề xuất triển khai giải pháp thí điểm đường dây nóng ghi nhận
thông tin dịch bệnh truyền nhiễm, hệ thống truyền thông qua màn hình số.
10. Công tác hậu cần, đầu tư tài chính
- Bộ Y tế xây dựng, triển khai kế hoạch kinh phí sử
dụng các nguồn lực từ ngân sách nhà nước, các tổ chức trong và ngoài nước cho
công tác phòng, chống dịch bệnh.
- Bộ y tế đề xuất danh mục dự trữ quốc gia và xây dựng
danh mục dự trữ của ngành Y tế để chủ động đáp ứng công tác phòng, chống dịch bệnh.
- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương phê duyệt kế hoạch đảm bảo nguồn lực cho công tác phòng, chống dịch
bệnh và các Chương trình mục tiêu Y tế quốc gia tại các tỉnh, thành phố.
- Khảo sát, đánh giá và xây dựng Hướng dẫn dự trữ
các mặt hàng phục vụ công tác chống dịch khẩn cấp.
- Cập nhật, kiểm tra số lượng vật tư, hóa chất tồn
kho, cấp phát cho các đơn vị theo đề nghị, đồng thời, theo dõi tiến độ tiếp nhận
vật tư, hóa chất, trang thiết bị phòng, chống dịch tại địa phương.
- Cấp vật tư, hóa chất, trang thiết bị kịp thời cho
các tỉnh, thành phố triển khai công tác phòng, chống dịch trên địa bàn.
11. Đánh giá kết quả hoạt động phòng, chống dịch
bệnh truyền nhiễm
|
Các chỉ tiêu kế hoạch năm 2019
|
Kết quả năm 2019
|
So với kế hoạch
|
|
1. MERS-CoV
Giám sát phát hiện sớm,
xử lý kịp thời ổ dịch, không để dịch bệnh bùng phát, lan rộng
|
Không ghi nhận trường hợp
mắc
|
Đạt
|
|
2. Cúm A (H7N9):
Giám sát phát hiện sớm,
xử lý kịp thời không để dịch bệnh bùng phát.
|
Không ghi nhận trường hợp
mắc
|
Đạt
|
|
3. Cúm A (H5N1):
Giám sát phát hiện sớm,
xử lý kịp thời ổ dịch; không để dịch bệnh bùng phát, lan rộng.
|
Không ghi nhận trường hợp
mắc
|
Đạt
|
|
4. Bệnh tả:
Giám sát phát hiện sớm,
xử lý kịp thời ổ dịch, không để dịch bệnh bùng phát, lan rộng.
|
Không có trường hợp mắc
|
Đạt
|
|
5. Bệnh tay chân miệng
- Tỷ lệ mắc: <
100/100.000 dân.
- Tỷ lệ chết/mắc: <
0,05%.
|
- 106/100.000 dân
- 0,0001%
|
Không đạt
Đạt
|
|
6. Bệnh sốt xuất huyết:
- Không để dịch bệnh lớn
xảy ra.
- Tỷ lệ mắc: <
120/100.000 dân.
- Tỷ lệ chết/mắc: <
0,09%.
|
- Không có dịch lớn
- 330/100.000 dân
- 0,016%
|
Đạt
Không đạt
Đạt
|
|
7. Bệnh sốt rét:
- Không để dịch bệnh lớn
xảy ra.
- Tỷ lệ mắc: <
22/100.000 dân.
- Tỷ lệ tử vong:
≤0,02/100.000 dân.
|
- Không xảy ra dịch.
- 6/100.000 dân
- 0/100.000 dân
|
Đạt
|
|
8. Bệnh dại:
Khống chế ≤ 80 trường hợp
tử vong.
|
77 tử vong
(0,08/100.000 dân)
|
Đạt
|
|
10. Các bệnh truyền
nhiễm thuộc chương trình tiêm chủng mở rộng:
- Bệnh sởi:
+ Không để dịch bệnh lớn
xảy ra.
+ Tỷ lệ mắc: <
7,5/100.000 dân.
+ Tỷ lệ tử vong: <
0,09%.
|
- Không có dịch lớn
- 38/100.000 dân
- 0,01/100.000 dân
|
Đạt
Không đạt
Đạt
|
|
- Bệnh bạch hầu, ho gà
giảm 5% so với trung bình giai đoạn 5 năm 2010 - 2015.
- Duy trì thành quả
thanh toán bại liệt, loại trừ uốn ván sơ sinh.
|
- Tỷ lệ mắc bạch hầu 0,07/100.000
dân.
- Tỷ lệ mắc ho gà
1,19/100.000 dân
|
Không đạt
Đạt
|
|
11. Các bệnh truyền
nhiễm lưu hành khác:
Giám sát, phát hiện sớm,
xử lý kịp thời không để gia tăng số mắc và xảy ra dịch bệnh.
|
Không có dịch bệnh lớn
xảy ra
|
Đạt
|
III.
KHÓ KHĂN VÀ TỒN TẠI
- Trên thế giới và khu vực, dịch bệnh luôn diễn biến
phức tạp, luôn có nguy cơ bùng phát bệnh dịch, bệnh mới nổi, tái nổi, bệnh chưa
rõ nguyên nhân, sự biến chứng tác nhân gây bệnh. Đặc biệt là các bệnh dịch nguy
hiểm, dịch bệnh cúm A(H7N9), MERS-CoV, sốt vàng ... chưa khống chế được triệt để;
một số bệnh trước đây đã được khống chế nhưng hiện gia tăng trở lại ở nhiều quốc
gia trong khu vực như bệnh tay chân miệng, sốt xuất huyết, bại liệt, sởi. Trong
đó có những quốc gia có chung đường biên giới và một số quốc gia có nhiều hoạt
động giao lưu thương mại với nước ta.
- Tại Việt Nam đã thành công trong việc ngăn chặn
không để một số dịch bệnh nguy hiểm mới nổi xâm nhập như cúm A(H7N9), MERS -
CoV, sốt vàng ... góp phần rất lớn vào việc ổn định an sinh xã hội trong bối cảnh
giao lưu du lịch, thương mại giữa các nước trên thế giới ngày càng gia tăng. Một
số bệnh truyền nhiễm lưu hành tại Việt Nam như tay chân miệng, viêm não vi rút
..., tuy đã được kiểm soát và có số mắc giảm so với năm 2018 nhưng vẫn có nguy cơ
lây lan, bùng phát nếu không quyết liệt thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch
một cách triệt để.
- Các bệnh dịch chủ yếu do vi rút (tay chân miệng,
sốt xuất huyết...), không có thuốc điều trị đặc hiệu, một số bệnh chưa có vắc
xin dự phòng, các biện pháp phòng chống dịch chủ yếu là các biện pháp không đặc
hiệu, tuy đã được kiểm soát và có số mắc giảm nhưng vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ
lây lan, bùng phát. Các bệnh truyền nhiễm đã được thanh toán, loại trừ tại Việt
Nam như dịch hạch, bại liệt luôn có nguy cơ tái xâm nhập.
- Sự biến đổi khí hậu, biến động về dân cư, đô thị
hóa, đặc biệt là thói quen vệ sinh cá nhân, vệ sinh an toàn thực phẩm của một bộ
phận lớn dân cư chưa được tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều dịch bệnh mới
phát sinh, cũng như các dịch bệnh đã được khống chế nay xuất hiện trở lại.
- Một số địa phương chưa có sự chỉ đạo quyết liệt của
chính quyền các cấp đối với công tác phòng chống dịch, chưa thấy được sự cần
thiết và tính cấp bách của công tác phòng, chống dịch bệnh, coi công tác phòng chống
dịch bệnh là nhiệm vụ của ngành y tế, các Ban ngành đoàn thể chưa tham gia tích
cực vào công tác phòng chống dịch bệnh.
- Nhận thức của người dân còn hạn chế, chưa tự giác
tham gia các hoạt động phòng, chống dịch bệnh tại cộng đồng; bệnh dại còn ghi nhận
nhiều trường hợp tử vong do người dân không chủ động, tự giác đi tiêm phòng vắc
xin dại; có thói quen, tập quán ăn uống không đảm bảo vệ sinh (ăn tiết canh sống
gây bệnh liên cầu lợn).
- Bùng nổ dân số, đô thị hóa, biến đổi khí hậu, ô
nhiễm môi trường, sự giao lưu rộng rãi của người dân, hậu quả của thiên tai, lụt
bão đang tác động tiêu cực tới các hoạt động y tế dự phòng, có thể làm phát
sinh, phát triển dịch bệnh.
- Hoạt động cung ứng vắc xin trong thời gian qua do
nhiều nguyên nhân từ các nhà sản xuất chưa đáp ứng, cung ứng chậm để đảm bảo
triển khai thực hiện theo kế hoạch.
- Việc quản lý đối tượng tiêm chủng dịch vụ và tiêm
chủng mở rộng khó khăn do không tách hoặc cập nhật được các đối tượng trong
tiêm chủng mở rộng sử dụng vắc xin tiêm chủng dịch vụ, không quản lý được hết
các đối tượng vãng lai, di biến động. Tại một số vùng sâu, vùng xa, vùng khó
khăn chưa quản lý được hết các đối tượng, tỷ lệ tiêm chủng còn thấp ở quy mô cấp
xã.
- Việc triển khai hoạt động kiểm dịch y tế đối với
người còn gặp khó khăn do các nguyên nhân chính như: điều kiện cơ sở làm việc
còn nhiều hạn chế và phòng cách ly, các trang thiết bị phục vụ khám, phát hiện
các triệu chứng liên quan tới các bệnh dịch chưa được trang bị hoặc còn thiếu
và đặc biệt là bác sĩ tại các cửa khẩu còn thiếu. Đội ngũ cán bộ thực hiện công
tác phòng chống dịch bệnh, kiểm dịch, tiêm chủng không ổn định, có nhiều trường
hợp luân chuyển, kiêm nhiệm công tác, nhân lực còn thiếu và yếu ở nhiều nơi.
- Kinh phí Chương trình mục tiêu quốc gia liên tục
bị cắt giảm, kinh phí bố trí cho công tác phòng, chống dịch tại địa phương hạn
chế, nhiều địa phương không bố trí hoặc bố trí chậm kinh phí cho công tác
phòng, chống dịch bệnh.
IV. DỰ BÁO TÌNH HÌNH DỊCH BỆNH
NĂM 2020
|
TT
|
Tên bệnh
|
Dự báo dịch bệnh 2020
|
Cơ sở ước tính, dự báo
|
|
Thế giới
|
Trong nước
|
Tác nhân
|
Đường dây
|
Miễn dịch cộng đồng
|
Vắc xin, biện pháp phòng bệnh đặc hiệu
|
Yếu tố nguy cơ
|
|
1
|
2
|
3
|
4
|
5
|
6
|
7
|
|
1
|
Bệnh viêm phổi cấp do
vi rút corona (ở Trung Quốc)
|
Nguy cơ xâm nhập vào Việt
Nam.
|
Tính đến ngày
15/01/2020 tại thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc đã ghi nhận 59 trường
hợp mắc, 07 trường hợp nặng, 01 trường hợp tử vong.
|
Chưa ghi nhận trường hợp
mắc.
|
Vi rút mới thuộc họ
corona (nCoV).
|
Thường lây qua đường hô
hấp.
|
Chưa có miễn dịch cộng
đồng.
|
Chưa có vắc xin, thuốc
điều trị đặc hiệu
|
Người nhập cảnh từ vùng
có dịch.
|
|
2
|
Ebola
|
Nguy cơ xâm nhập vào Việt
Nam
|
Tiếp tục ghi nhận tại
các nước khu vực châu Phi
|
Chưa ghi nhận trường hợp
mắc
|
Một týp vi rút gây bệnh
|
Qua tiếp xúc
|
Chưa có miễn dịch cộng
đồng.
|
Chưa có vắc xin, thuốc
điều trị đặc hiệu.
|
Người nhập cảnh từ vùng
có dịch
|
|
3
|
MERS-CoV
|
Nguy cơ xâm nhập vào Việt
Nam
|
Tiếp tục ghi nhận tại
các nước khu vực Trung Đông.
|
Chưa ghi nhận trường hợp
mắc
|
Một týp vi rút gây bệnh
|
Qua tiếp xúc
|
Chưa có miễn dịch cộng
đồng.
|
Chưa có vắc xin, thuốc
điều trị đặc hiệu.
|
Người nhập cảnh từ vùng
có dịch
|
|
4
|
Cúm gia cầm độc lực cao
gây bệnh cho người
|
Trong những tháng mùa
đông - xuân và mùa lễ hội, có nguy cơ xuất hiện cúm A(H7N9) xâm nhập; dịch
cúm A(H5N1), cúm A(H5N6) trên các đàn gia cầm tại một số tỉnh, thành phố,
nguy cơ lây bệnh cho người.
|
Dịch bệnh cúm A(H7N9) tại
Trung Quốc gia tăng qua hàng năm gần đây cả về quy mô và phạm vi.
Tiếp tục ghi nhận cúm
A(H5N1) tại Ai Cập, Indonesia.
|
Không ghi nhận trường hợp
mắc cúm A(H5N1), cúm A(H5N6), cúm A(H7N9) trên người. Tuy nhiên vẫn ghi nhận
các ổ dịch cúm A(H5N1), cúm A(H5N6) trên các dàn gia cầm tại một số tỉnh, TP.
|
Có nguy cơ biến chứng
và tái tổ hợp
|
Từ gia cầm sang người
|
Chưa có miễn dịch cúm
A(H7N9) và cúm A(H5N6) trong cộng đồng do chưa có trường hợp mắc.
|
Chưa có thuốc điều trị
đặc hiệu. Chưa có vắc xin sử dụng ở Việt Nam.
|
Chưa kiểm soát được dịch
bệnh trên gia cầm.
Xảy ra dịch cúm trên
gia cầm.
Thói quen sử dụng, tiếp
xúc với gia cầm, sản phẩm gia cầm bị bệnh.
Giao lưu với vùng có dịch.
|
|
5
|
Tả
|
Có nguy cơ xâm nhập từ
các quốc gia lưu hành dịch bệnh
|
Dịch tả tiếp tục ghi nhận
với số mắc cao ở một số quốc gia Châu Phi.
|
Năm 2007-2011 liên tục
ghi nhận trường hợp bệnh, từ năm 2012 đến nay không ghi nhận trường hợp mắc.
|
Có hai týp gây bệnh chủ
yếu tại Việt Nam là Ogawa và Inaba.
|
Đường tiêu hóa, thông
qua thực phẩm và nguồn nước nhiễm bẩn
|
Thời gian tồn lại miễn
dịch ngắn.
|
Có vắc xin, hiệu lực bảo
vệ thấp 70%, miễn dịch tồn tại ngắn 6 tháng. Có kháng sinh đặc hiệu.
|
Quản lý nước sinh hoạt,
phân chưa tốt. Không đảm bảo an toàn thực phẩm.
Tập quán ăn, uống mất vệ
sinh của một số bộ phận dân cư.
|
|
6
|
Tay chân miệng
|
Lưu hành, gia tăng cục bộ
tại một số tỉnh, thành phố trọng điểm. Tỷ lệ tử vong duy trì ở mức thấp so với
các nước trong khu vực.
|
Trong những năm gần
đây, các nước trong khu vực tiếp tục ghi nhận tỷ lệ mắc cao.
|
Từ năm 2005 - 2016 dịch
bệnh xuất hiện rải rác và lưu hành rộng, Năm 2018-2019 ghi nhận sự gia tăng cục
bộ tại một số tỉnh, TP.
|
Nhiều týp vi rút. Tỷ lệ
người lành mang trùng 71% các ổ dịch, thời gian thải trùng dài tới 6 tuần.
|
Đường tiêu hóa, thông
qua thực phẩm và tiếp xúc với vật dụng nhiễm bẩn.
|
Không có miễn dịch
chéo.
Tỷ lệ mắc cao ở trẻ dưới
5 tuổi.
|
Chưa có vắc xin và thuốc
điều trị đặc hiệu.
Chưa có biện pháp phòng
bệnh đặc hiệu.
|
Mầm bệnh lưu hành rộng
rãi trong cộng đồng.
Thói quen rửa tay hợp vệ
sinh thấp.
Tỷ lệ người lớn, người
chăm sóc trẻ mang trùng cao.
|
|
7
|
Sốt xuất huyết
|
Lưu hành cao, có tính
chu kỳ, nguy cơ lưu hành cao ở các tỉnh miền Nam, miền Trung, Tây nguyên, đồng
bằng, trung du Bắc bộ.
|
Các nước trong khu vực,
nhiều quốc gia trên thế giới tiếp tục ghi nhận với tỷ lệ mắc cao.
|
Trong giai đoạn 2001 -
2012 tỷ lệ mắc ở mức cao. Năm 2013, 2014 giảm xuống, gia tăng năm 2017 -
2019.
|
Có 4 týp gây bệnh D1,
D2, D3, D4. (chủ yếu vẫn là D1, D2)
|
Do muỗi truyền
|
Miễn dịch bền vững theo
týp, không có miễn dịch chéo.
|
Chưa có vắc xin.
Chưa có thuốc điều trị
đặc hiệu.
|
Tích trữ nước sinh hoạt.
Mưa nhiều, nhiệt độ tăng.
Đô thị hóa mạnh tạo các
ổ bọ gậy nguồn, Di cư nhiều.
Vệ sinh môi trường còn
nhiều tồn tại.
|
|
8
|
Zika
|
Bệnh lưu hành tại Việt
Nam, ghi nhận rải rác tại 1 số tỉnh, thành phố khu vực phía Nam.
|
Dịch bệnh tiếp tục lan
truyền tại tất cả các khu vực trên thế giới.
|
Đã ghi nhận tại khu vực
miền Nam, miền Trung và Tây Nguyên.
|
Có liên hệ mật thiết với
chủng vi rút Zika châu Á.
|
Do muỗi truyền Ades
|
Chưa có miễn dịch.
|
Chưa có vắc xin, thuốc
điều trị đặc hiệu
|
Giống bệnh sốt xuất huyết
|
|
9
|
Sởi
|
Bệnh lưu hành tại Việt
Nam, vẫn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra các ổ dịch tại các xã vùng sâu, vùng xa, vùng
đồng bào dân tộc, nơi có tỷ lệ tiêm chủng thấp
|
Bệnh dịch ghi nhận tại
178/194 quốc gia và vùng lãnh thổ, tập trung tại khu vực Tây Thái Bình Dương,
châu Phi.
|
Bệnh lưu hành rộng trên
cả nước. Chu kỳ bùng phát dịch 4-5 năm, đợt gần nhất năm 2014 dịch bệnh bùng
phát tại 63/63 tỉnh, thành phố.
|
Một týp vi rút gây bệnh
|
Đường hô hấp
|
Miễn dịch bền vững
|
Có vắc xin, chưa có thuốc
điều trị đặc hiệu.
|
Tỷ lệ tiêm chủng thấp tại
tại các xã vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn, vùng đồng bào dân tộc ít người
sinh sống. Giao lưu đi, lại gia tăng giữa các khu vực.
|
|
10
|
Sốt rét
|
Nguy cơ rải rác tại một
số tỉnh miền Nam, Tây Nguyên, miền Trung, miền núi phía Bắc. Nguy cơ ký sinh
trùng sốt rét kháng thuốc có thể lan rộng.
|
Các nước trong khu vực,
thế giới tiếp lục ghi nhận với tỷ lệ mắc cao.
|
Trong giai đoạn 2015 -
2019 tỷ lệ mắc và tử vong liên tục giảm, khu trú ở miền Nam, Trung. Ký sinh
trùng sốt rét kháng thuốc tại các tỉnh miền Trung - Tây nguyên
|
Có 2 loài gây bệnh chủ
yếu: vivax và falciparum. Tỷ lệ Ký sinh trùng kháng thuốc cao. Không có miễn
dịch chéo
|
Do muỗi truyền
|
Miễn dịch không bền vững.
|
Chưa có vắc xin.
|
Di cư tự do.
Người dân các tỉnh miền
núi đi làm rừng và nương rẫy nhiều.
Mưa nhiều, nhiệt độ
tăng.
Ký sinh trùng sốt rét
kháng thuốc
|
|
11
|
Dại
|
Nguy cơ xảy ra dịch rải
rác tại một số tỉnh trung du và miền núi phía Bắc, nguy cơ gia tăng số mắc và
số tử vong.
|
Hàng năm ghi nhận các
trường hợp mắc tại các quốc gia như Trung Quốc, Philippines, Thái Lan, Lào,
Campuchia
|
Tỷ lệ chết/mắc cao.
Hàng năm có số tử vong cao nhất trong các bệnh truyền nhiễm lưu hành.
|
Một týp vi rút gây bệnh
|
Chủ yếu lây qua da bị tổn
thương như vết cắn, cào, xước và niêm mạc
|
Miễn dịch bền vững sau
tiêm vắc xin phòng bệnh dại đầy đủ. Tỷ lệ miễn dịch trong quần thể thấp.
|
Có vắc xin phòng bệnh.
Không có thuốc điều trị đặc hiệu.
|
Lưu hành cao trên đàn chó,
mèo, chưa được kiểm soát. Tỷ lệ tiêm phòng chó, mèo thấp.
Ý thức chưa cao về tiêm
vắc xin khi bị chó nghi dại cắn.
|
|
12
|
Bệnh viêm gan vi rút
|
Các bệnh viêm gan do vi
rút có tỷ lệ lưu hành cao trong cộng đồng.
|
Tỷ lệ mắc cao viêm gan
vi rút B, có các vụ dịch nhỏ viêm gan vi rút C, viêm gan vi rút A. Số lượng tử
vong do viêm gan vi rút cao.
|
Tỷ lệ mắc nhiễm vi rút
viêm gan B cao, xuất hiện ổ dịch viêm gan vi rút A
|
Týp A, B, C, D, E
|
Máu, tiêu hóa
|
Miễn dịch bền vững
|
Có vắc xin phòng viêm
gan vi rút A, B
|
Tỷ lệ lưu hành cao
Tỷ lệ người tiêm vắc
xin thấp
Tỷ lệ tiêm trẻ sơ sinh
thấp và gián đoạn tiêm
|
|
13
|
Bệnh than, leptospira,
liên cầu lợn ở người; các bệnh do Hanta vi rút.
|
Bệnh xảy ra rải rác và
số mắc có thể tăng lên.
|
Bệnh xuất hiện ở nhiều
quốc gia trên thế giới và các nước trong khu vực
|
Bệnh vẫn ghi nhận trên
động vật tại các tỉnh có nguy cơ cao là khu vực miền núi, miền Trung, miền
Nam.
|
|
Qua ăn uống hoặc tiếp
xúc.
|
Miễn dịch trong cộng đồng
có tỷ lệ thấp hoặc không có miễn dịch.
|
Chưa có vắc xin phòng bệnh.
|
Chăn nuôi chưa được quản
lý tốt làm tăng nguy cơ lây nhiễm.
Tập quán chăn nuôi, giết
mổ không hợp vệ sinh.
Thói quen ăn uống không
đảm bảo vệ sinh.
|
|
14
|
Các bệnh thuộc Chương
trình Tiêm chủng mở rộng
|
Nguy cơ tản phát các
trường hợp mắc bệnh như ho gà, bạch hầu …
|
Ghi nhận rải rác ở một
số quốc gia trên thế giới.
|
Ghi nhận trường hợp mắc
bệnh ho gà, bạch hầu, sởi rải rác ở một số tỉnh.
|
Các chủng gây bệnh đã
được xác định cho từng bệnh.
|
Đường lây truyền đã xác
định rõ cho từng bệnh.
|
Miễn dịch bền vững. Tỷ
lệ miễn dịch cao trong quần thể.
|
Có kế hoạch chủ động
tiêm vắc xin hàng năm và nâng cao tỷ lệ tiêm chủng.
|
Có nguy cơ xâm nhập từ
các nước có tỷ lệ mắc cao.
Tỷ lệ tiêm vắc xin
không được duy trì. Có thời gian ngừng tiêm cho trẻ sơ sinh
|
Phần
thứ hai
KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG NĂM
2020
I. MỤC TIÊU CHUNG
Giảm 5-10% tỷ lệ mắc và tử vong do các bệnh truyền
nhiễm so với trung bình hàng năm giai đoạn 2015-2019. Khống chế kịp thời, không
để dịch bệnh bùng phát, góp phần bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân
và phát triển kinh tế, xã hội.
II. MỤC TIÊU CỤ THỂ
1. Giám sát chặt chẽ, phát hiện sớm, đáp ứng nhanh
và xử lý triệt để các ổ dịch, giảm số mắc và tử vong các bệnh truyền nhiễm,
ngăn chặn kịp thời bệnh dịch truyền nhiễm nguy hiểm không để xâm nhập vào Việt
Nam.
2. Bảo đảm công tác phân tuyến điều trị giảm quá tải
bệnh viện tuyến cuối, thu dung, cấp cứu, điều trị kịp thời các trường hợp mắc bệnh
truyền nhiễm, hạn chế đến mức thấp nhất các trường hợp tử vong, biến chứng.
3. Tăng cường công tác truyền thông, nâng cao nhận
thức, thay đổi hành vi của người dân về công tác phòng chống dịch bệnh.
4. Bảo đảm hiệu quả hoạt động phối hợp liên ngành
triển khai các biện pháp phòng chống dịch bệnh, kiểm tra, giám sát các hoạt động
tại địa phương.
5. Tăng cường hợp tác liên ngành và hợp tác quốc tế
trong lĩnh vực kiểm dịch y tế và vai trò của Cơ quan Đầu mối thực hiện IHR tại
Việt Nam.
6. Đảm bảo kinh phí, thuốc, vật tư, hóa chất, nguồn
lực, sẵn sàng đáp ứng kịp thời với các tình huống về dịch bệnh tại các tuyến.
III. CÁC CHỈ TIÊU CHÍNH
1. Xây dựng văn bản pháp quy, hướng dẫn chuyên
môn
- Hoàn thiện hồ sơ xây dựng, trình dự thảo Luật dự
phòng và kiểm soát bệnh tật.
- Hoàn thiện và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành
Kế hoạch thực hiện Điều lệ Y tế Quốc tế (IHR 2005) tại Việt Nam.
- Xây dựng Thông tư hướng dẫn tiêu chuẩn đối với cơ
sở vật chất, trang thiết bị thiết yếu phục vụ hoạt động kiểm dịch y tế tại cửa
khẩu.
- Xây dựng Thông tư quy định việc thành lập, tổ chức
và hoạt động của hội đồng tư vấn chuyên môn đánh giá nguyên nhân tai biến nặng
trong quá trình sử dụng vắc xin.
- Xây dựng Kế hoạch Phòng chống đại dịch cúm ở người.
- Xây dựng Kế hoạch dự phòng đáp ứng với các nguy
cơ y tế công cộng ưu tiên của quốc gia.
- Xây dựng Kế hoạch phòng chống viêm gan vi rút
giai đoạn 2020-2025.
- Xây dựng Kế hoạch phòng chống và loại trừ sốt rét
giai đoạn 2021-2025.
- Cập nhật hướng dẫn vận hành Trung tâm đáp ứng khẩn
cấp với sự kiện Y tế công cộng Trung ương.
- Xây dựng hướng dẫn thiết lập và vận hành Trung
tâm đáp ứng khẩn cấp với sự kiện Y tế công cộng.
- Xây dựng quy trình thực hành chuẩn cho các hoạt động
vận hành của Trung tâm đáp ứng khẩn cấp với sự kiện Y tế công cộng Trung ương.
- Xây dựng quy chế sử dụng kho dữ liệu bệnh truyền
nhiễm và bảng theo dõi thông tin dịch bệnh.
- Xây dựng Niên giám thống kê bệnh truyền nhiễm năm
2019.
- Xây dựng tài liệu Hướng dẫn giám sát, xử lý vệ
sinh tàu bay, tàu thuyền.
- Xây dựng tài liệu Hướng dẫn về đánh giá nguy cơ tại
Việt Nam.
- Xây dựng Hướng dẫn giám sát viêm gan vi rút.
- Xây dựng Hướng dẫn giám sát viêm phổi nặng do vi
rút (SVP).
- Cập nhật Hướng dẫn giám sát và phòng chống bệnh
tay chân miệng.
- Xây dựng Hướng dẫn giám sát và xử lý ổ dịch liên
ngành y tế - nông nghiệp đối với 5 bệnh: cúm gia cầm, dại, than, liên cầu lợn,
xoắn khuẩn vàng da.
- Cập nhật hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh viêm
gan vi rút C.
- Cập nhật hướng dẫn chẩn đoán, điều trị một số bệnh
ký sinh trùng.
2. Chỉ tiêu chuyên môn
- 100% bệnh, dịch bệnh mới phát sinh được phát hiện
và xử lý kịp thời.
- 100% đối tượng kiểm dịch y tế biên giới được giám
sát, kiểm tra và xử lý y tế theo đúng quy định, không để dịch bệnh xâm nhập qua
cửa khẩu.
- 100% cán bộ làm công tác thống kê báo cáo bệnh
truyền nhiễm được tập huấn về giám sát, công tác thông tin, báo cáo bệnh truyền
nhiễm, nâng cao chất lượng và hướng dẫn sử dụng báo cáo bằng phần mềm qua mạng
internet.
- 100 % hành khách xuất, nhập cảnh, quá cảnh được
thực hiện kiểm dịch y tế tại các cửa khẩu, phát hiện kịp thời các trường hợp mắc
bệnh truyền nhiễm để tổ chức quản lý, cách ly.
3. Chỉ tiêu cụ thể đối với một số bệnh truyền
nhiễm
3.1. Bệnh Ebola, MERS-CoV, cúm A (H7N9)
- Không để dịch bệnh xâm nhập vào Việt Nam.
3.2. Bệnh cúm A (H5N1), cúm A (H5N6)
- 100% ổ dịch được phát hiện, xử lý kịp thời, không
để lây lan trong cộng đồng.
3.3. Bệnh viêm phổi cấp do vi rut corona (ở Trung
Quốc)
- 100% ổ dịch được phát hiện, xử lý kịp thời, không
để dịch bệnh bùng phát trong cộng đồng.
3.4. Bệnh sốt xuất huyết
- Không để dịch bệnh lớn xảy ra.
- Tỷ lệ mắc: < 150/100.000 dân.
- Tỷ lệ chết/mắc: < 0,09%.
3.5. Bệnh sốt rét
- Không để dịch bệnh lớn xảy ra.
- Tỷ lệ mắc: < 19/100.000 dân.
- Tỷ lệ tử vong: ≤ 0,02/100.000 dân.
3.6. Bệnh dại:
- Khống chế ≤ 77 trường hợp tử vong.
3.7. Bệnh tay chân miệng
- Tỷ lệ mắc: < 100/100.000 dân.
- Tỷ lệ tử vong: < 0,05%.
3.8. Bệnh tả, lỵ trực trùng
- 100% ổ dịch dược phát hiện, xử lý kịp thời, không
để lây lan trong cộng đồng.
4. Một số bệnh truyền nhiễm thuộc Chương trình
tiêm chủng mở rộng
4.1. Duy trì thành quả thanh toán bại liệt, loại trừ
uốn ván sơ sinh.
4.2. Tỷ lệ tiêm vắc xin trong Chương trình tiêm chủng
mở rộng đạt ≥ 95% quy mô xã, phường.
4.3. Bệnh sởi, rubella
- Tỷ lệ mắc: < 40/100.000 dân.
- Tỷ lệ tử vong: < 0,1%.
4.4. Bệnh ho gà, bạch hầu, viêm não Nhật bản B và
các bệnh truyền nhiễm thuộc Chương trình tiêm chủng mở rộng khác: giảm 5% so với
trung bình giai đoạn 5 năm 2011 - 2015.
IV. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1. Tổ chức, chỉ đạo điều hành
- Củng cố, nâng cao năng lực của hệ thống phòng chống
dịch từ Trung ương đến địa phương, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện mô hình tổ
chức về giám sát và phòng, chống dịch bệnh để đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.
- Củng cố, duy trì hoạt động Ban Chỉ đạo phòng, chống
dịch bệnh các cấp để nâng cao chất lượng, hiệu quả và chủ động trong phòng chống
bệnh dịch, kịp thời chỉ đạo triển khai công tác phòng, chống và ứng phó khi dịch
bệnh xảy ra trên địa phương.
- Tăng cường trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp
trong công tác phòng, chống dịch bệnh, sớm phê duyệt kế hoạch phòng, chống dịch
bệnh, cấp và bổ sung kinh phí cho công tác phòng chống dịch bệnh và các Chương
trình mục tiêu y tế.
- Bộ Y tế tham mưu kịp thời cho Thủ tướng Chính phủ;
Sở Y tế kịp thời tham mưu cho Ủy ban nhân dân chỉ đạo công tác phòng chống dịch,
không để dịch bệnh bùng phát, đặc biệt đối với các bệnh nguy hiểm và mới nổi
(cúm A(H7N9), cúm A(H5N1), MERS-CoV, Ebola...)
- Tăng cường chỉ đạo công tác truyền thông, nâng
cao nhận thức, thay đổi hành vi của cộng đồng tích cực tham gia, hưởng ứng các
hoạt động phòng, chống bệnh truyền nhiễm.
- Tăng cường chỉ đạo việc thông tin báo cáo và khai
báo bệnh, dịch bệnh truyền nhiễm theo Thông tư số 54/2015/TT-BYT ngày 28/12/2015 của Bộ trưởng Bộ
Y tế, đặc biệt tại các cơ sở khám, chữa bệnh.
- Củng cố việc giao ban trực tuyến hàng tuần, cung
cấp, chia sẻ và trao đổi thông tin về tình hình dịch bệnh kịp thời và chính xác
cho các đơn vị trong hệ thống.
- Tăng cường chỉ đạo giám sát, kiểm tra, đôn đốc và
hỗ trợ tuyến dưới. Tổ chức đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ, thống kê báo cáo, mở
rộng triển khai sử dụng hệ thống báo cáo điện tử cho tất cả các tuyến.
- Rà soát và nâng cao chất lượng xây dựng, sửa đổi
các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực y tế dự phòng.
- Tăng cường xã hội hóa công tác phòng, chống dịch
bệnh truyền nhiễm, huy động các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội và người
dân và cùng với cơ quan quản lý nhằm phát huy được hiệu quả cao nhất.
- Triển khai xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực y tế.
- Triển khai kiểm tra, thanh tra chuyên ngành theo
kế hoạch đã được Lãnh đạo Bộ phê duyệt.
2. Chuyên môn kỹ thuật
2.7. Công tác kiểm soát bệnh truyền nhiễm
- Chủ động theo dõi, giám sát chặt chẽ tình hình hình
dịch bệnh và kịp thời thông báo, chỉ đạo các đơn vị, địa phương triển khai các
biện pháp chủ động ứng phó, không để các dịch bệnh bùng phát, hạn chế tỷ lệ mắc,
tử vong do bệnh dịch.
- Triển khai thực hiện hiệu quả kế hoạch phòng chống
dịch bệnh; kế hoạch giám sát trọng điểm dịch (cúm, SARI, SVP, sốt xuất huyết,
tay chân miệng, sốt rét, viêm gan vi rút, viêm não Nhật Bản, dịch hạch) nhằm
cung cấp chính xác, kịp thời, đầy đủ các thông tin cần thiết về dịch tễ học, vi
khuẩn học và các yếu tố liên quan làm cơ sở lập kế hoạch dự phòng và khống chế
dịch bệnh chủ động; Chương trình cộng đồng chung tay phòng chống dịch bệnh, kế
hoạch các hoạt động phòng chống dịch, bệnh thuộc Chương trình mục tiêu Y tế quốc
gia; kế hoạch phòng chống dịch bệnh trong dịp Tết Nguyên đán, mùa lễ hội và các
sự kiện chính trị xã hội, thiên tai, bão lụt.
- Tăng cường và mở rộng triển khai giám sát dựa vào
sự kiện (EBS) lồng ghép với hệ thống giám sát thường xuyên (giám sát dựa vào chỉ
số).
- Duy trì hoạt động Trung tâm đáp ứng khẩn cấp với
sự kiện Y tế công cộng Việt Nam (PHEOC) tại Bộ Y tế, Văn phòng đáp ứng khẩn cấp
với sự kiện Y tế công cộng tại các Viện Vệ sinh dịch tễ, Viện Pasteur kịp thời ứng
phó với các vấn đề dịch bệnh nguy hiểm và mới nổi, xây dựng kế hoạch đáp ứng
theo từng tình huống dịch bệnh. Tiếp tục xây dựng hệ thống EOC các tuyến khu vực,
tỉnh thành phố.
- Thiết lập và vận hành Đội đáp ứng nhanh tại các
tuyến có đủ năng lực và trang thiết bị sẵn sàng thực hiện xử lý ổ dịch, hỗ trợ
tuyến trước khi có dịch bệnh xảy ra.
- Thường xuyên đánh giá nguy cơ, nhận định tình
hình dịch bệnh; kiện toàn, đẩy mạnh hoạt động Văn phòng đáp ứng tình huống khẩn
cấp phòng chống dịch bệnh nhằm tăng cường sự điều phối, chia sẻ thông tin và
huy động các nguồn lực trong công tác giám sát, đáp ứng dịch bệnh truyền nhiễm.
- Đẩy mạnh công tác chủ động đáp ứng bệnh, dịch bệnh
truyền nhiễm theo Thông tư số 17/2019/TT-BYT
ngày 17/7/2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế về hướng dẫn giám sát và đáp ứng với bệnh,
dịch bệnh truyền nhiễm; công tác báo cáo bệnh truyền nhiễm theo Thông tư số 54/2015/TT-BYT ngày 28/12/2015 và báo cáo hoạt
động kiểm dịch y tế biên giới trên phạm vi toàn quốc theo Thông tư số 28/2019/TT-BYT ngày 28/10/2019 của Bộ trưởng Bộ
Y tế.
2.2. Chương trình đào tạo về dịch tễ học thực địa
(FETP) Việt Nam
Đẩy mạnh Chương trình đào tạo về dịch tễ học thực địa
(FETP) Việt Nam với mục tiêu tăng cường năng lực của y tế dự phòng Việt Nam nhằm
đáp ứng nhanh, xử lý kịp thời các dịch bệnh, nhanh chóng kiểm soát bệnh dịch và
giải quyết các vấn đề y tế công cộng góp phần nâng cao sức khỏe của người dân
thông qua việc triển khai thực hiện đào tạo cán bộ có chất lượng.
2.3. Công tác kiểm dịch y tế
- Tăng cường công tác giám sát, khai báo phòng chống
bệnh truyền nhiễm tại các cửa khẩu; theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh trên
thế giới về MERS-CoV, cúm A(H7N9), sốt vàng, chủ động đề xuất các biện pháp đáp
ứng phù hợp.
- Tăng cường việc phối hợp liên ngành tại các cửa
khẩu, xây dựng các biên bản phối hợp liên ngành để tạo điều kiện thuận lợi cho
việc triển khai các hoạt động kiểm dịch y tế.
- Tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành liên quan triển
khai cơ chế “Một cửa, một lần dừng” tại cặp cửa khẩu Lao Bảo - Đen xa vẳn và “Hải
quan một cửa” tại các cửa khẩu quốc tế đường biển; tham gia các đoàn công tác
liên ngành về đánh giá việc nâng cấp các cửa khẩu và việc triển khai thực hiện
các hoạt động phối hợp liên ngành tại cửa khẩu.
- Chỉ đạo địa phương thực hiện giám sát chặt chẽ tại
cửa khẩu và thực hiện nghị định số 89/2018/NĐ-CP.
- Xây dựng hướng dẫn chuyên môn về quy trình kiểm dịch
tại các cửa khẩu phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật; xây dựng dự thảo nội
dung tiêu chí kiểm dịch viên y tế. Tổ chức cấp thẻ cho kiểm dịch viên y tế tại
các địa phương.
2.4. Công tác đầu mối IHR
Thực hiện tốt vai trò Cơ quan Đầu mối IHR, phối hợp
với WHO tổ chức đánh giá độc lập việc thực hiện IHR tại Việt Nam, kết quả Việt
Nam đã triển khai đủ các lĩnh vực kỹ thuật, đảm bảo năng lực thực hiện IHR được
WHO đánh giá cao.
2.5. Công tác tiêm chủng và an toàn sinh học
- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, các hướng
dẫn chuyên môn, các văn bản chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Y tế về đảm bảo an toàn
tiêm chủng, tăng cường kiểm tra giám sát, nâng cao tỷ lệ tiêm; đảm bảo an toàn
sinh học tại phòng xét nghiệm.
- Xây dựng các Đề án tăng cường công tác tiêm chủng,
tăng số lượng vắc xin trong tiêm chủng.
- Triển khai các hoạt động về an toàn sinh học và
xét nghiệm theo Kế hoạch Nâng cao năng lực hệ thống xét nghiệm bệnh truyền nhiễm
thuộc Y tế dự phòng năm 2020.
- Đảm bảo an toàn tiêm chủng, nâng cao tỷ tệ tiêm vắc
xin trong Chương trình tiêm chủng mở rộng; tăng cường tiếp cận tiêm chủng dịch
vụ phòng bệnh truyền nhiễm.
- Thực hiện tốt chương trình tiêm chủng mở rộng,
thường xuyên rà soát đối tượng và tổ chức tiêm vét các loại vắc xin trong tiêm
chủng mở rộng, đặc biệt tại các xã, phường vùng sâu, vùng xa, vùng đi lại khó
khăn, vùng có dân tộc thiểu số sinh sống, các trung tâm bảo trợ xã hội, các cơ
sở chăm sóc tập trung tự nguyện bảo đảm tỷ lệ tiêm các loại vắc xin trong tiêm
chủng mở rộng đạt ít nhất 95% quy mô xã, phường trên phạm vi toàn quốc.
- Theo dõi, giám sát, tổng hợp, thực hiện việc chia
sẻ thông tin, phân tích các trường hợp tai biến nặng sau tiêm. Thực hiện việc
báo cáo, chia sẻ thông tin về các trường hợp tai biến nặng sau tiêm theo đúng
quy định NRA.
- Triển khai kế hoạch tiêm vắc xin cúm mùa cho nhân
viên y tế trong năm 2020 theo Quyết định số 2893/QĐ-BYT ngày 11/5/2018 của Bộ Y
tế; Kế hoạch truyền thông về tiêm chủng, kế hoạch tiếp nhận, vận chuyển bảo quản
và sử dụng vắc xin phòng chống đại dịch cúm.
- Xây dựng kế hoạch phát triển hệ thống phòng xét
nghiệm tham chiếu quốc gia.
- Tổ chức thẩm định cấp mới và cấp lại giấy chứng
nhận phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp III cho 05 đơn vị.
2.6. Phát triển và quản lý cơ sở dữ liệu hệ thống
- Tổ chức thực hiện báo cáo bệnh truyền nhiễm qua
phần mềm theo quy định Thông tư 54/2015/TT-BYT.
- Tổ chức thực hiện thông tin báo cáo hoạt động kiểm
dịch y tế theo Thông tư số 28/2019/TT-BYT
ngày 28/10/2019.
- Quản lý thông tin tiêm chủng thông qua phần mềm
báo cáo tiêm chủng.
- Xây dựng kho dữ liệu bệnh truyền nhiễm và bảng điều
khiển thông tin dịch tễ; tích hợp cơ sở dữ liệu (phần mềm báo cáo bệnh truyền
nhiễm, thông tin tiêm chủng, kiểm dịch y tế, thời tiết...) hiển thị trực quan
các bảng, biểu đồ, bản đồ dịch tễ và triển khai mở rộng kho dữ liệu bệnh truyền
nhiễm tích hợp phần mềm quản lý tiêm chủng. Tiếp tục phối hợp với các đối tác
phát triển để đề xuất triển khai giải pháp thí điểm đường dây nóng ghi nhận
thông tin dịch bệnh truyền nhiễm, hệ thống truyền thông qua màn hình số.
- Tổ chức các lớp tập huấn sử dụng kho dữ liệu và bảng
theo dõi thông tin dịch tễ trong công tác giám sát, phòng chống dịch bệnh.
2.7. Các giải pháp giảm tử vong
- Tổ chức tốt hệ thống cấp cứu, điều trị bệnh nhân,
sẵn sàng khu vực cách ly, các đội cấp cứu lưu động tăng cường công tác phòng chống
nhiễm khuẩn, lây nhiễm chéo tại các cơ sở khám chữa bệnh nhằm giảm đến mức tối
đa số mắc và tử vong.
- Tăng cường năng lực cho bệnh viện các tuyến, tổ
chức phân tuyến điều trị, phòng lây nhiễm chéo tại các cơ sở khám, chữa bệnh.
- Bổ sung phác đồ điều trị một số bệnh truyền nhiễm
gây dịch, phác đồ chống sốc, chống kháng thuốc.
- Tổ chức các đội cấp cứu lưu động để hỗ trợ tuyến
dưới. Tập huấn về các phác đồ điều trị, hồi sức cấp cứu, chăm sóc bệnh nhân,
phòng lây nhiễm.
- Trang bị phương tiện chẩn đoán, điều trị, cấp cứu
bệnh nhân. Lập đường dây nóng hỗ trợ tuyến dưới. Xây dựng quy trình hội chẩn
tuyến trên. Đảm bảo an toàn chuyển viện.
- Duy trì các đơn vị tập huấn điều trị bệnh truyền
nhiễm tại các bệnh viện tuyến cuối như Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, Bệnh
viện Nhi Trung ương, Bệnh viện Nhi đồng 1, Bệnh viện Nhi đồng 2, Bệnh viện Bệnh
Nhiệt đới TP. Hồ Chí Minh.
- Xây dựng các thông điệp truyền thông cho người bệnh,
người chăm sóc, gia đình người bệnh về phát hiện sớm các dấu hiệu của bệnh, một
số kiến thức cơ bản về phòng bệnh.
3. Truyền thông, giáo dục sức khỏe
- Đẩv mạnh công tác truyền thông đến cộng đồng về
phòng chống bệnh truyền nhiễm, bệnh và tiêm chủng phòng bệnh, đặc biệt đến các
nhóm đối tượng nguy cơ (trường học, khu công nghiệp, nhà trọ...).
- Xây dựng mô hình truyền thông số trong chỉ đạo,
điều hành, trao đổi thông tin về dịch bệnh và hoạt động giám sát đáp ứng giữa
các tuyến.
- Xây dựng các tài liệu truyền thông phù hợp với đặc
thù tại khu vực cửa khẩu cho các hành khách xuất nhập cảnh.
- Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chủ động
ứng phó, xử lý các tình huống thông tin y tế bất cập, kịp thời cung cấp thông tin
bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân.
- Chủ động, thường xuyên cung cấp thông tin kịp thời
và chính xác về tình hình dịch bệnh, phối hợp với các cơ quan truyền thông đại
chúng, hệ thống thông tin và truyền thông tăng cường công tác tuyên truyền, phổ
biến kiến thức, khuyến cáo phòng, chống dịch bệnh.
- Tăng cường công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe,
phổ biến kiến thức về các biện pháp phòng bệnh, lợi ích tiêm chủng để vận động
nhân dân chủ động đưa trẻ đi tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch, phối hợp và tham gia
các hoạt động phòng, chống dịch bệnh.
- Tiếp tục tổ chức các chiến dịch tuyên truyền rửa
tay bằng xà phòng, chiến dịch vệ sinh môi trường; duy trì thực hiện tốt phong
trào vệ sinh yêu nước nâng cao sức khỏe nhân dân.
4. Đầu tư nguồn lực
- Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính
và các Bộ, ngành liên quan báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tăng đầu tư tài chính
cho công tác phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm, xây dựng kế hoạch dự trữ quốc
gia về phòng, chống dịch.
- Xây dựng dự trữ quốc gia và dự trữ của Bộ Y tế
phòng chống dịch bệnh. Rà soát cơ số thuốc, vật tư, trang thiết bị phục vụ công
tác giám sát, xử lý ổ dịch, thu dung, cấp cứu, điều trị bệnh nhân, xây dựng kế
hoạch sửa chữa, bổ sung và trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Sở Y tế xây dựng Kế hoạch Phòng, chống dịch bệnh
trình Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố đảm bảo đầu tư nguồn lực cho công tác
phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm.
- Bổ sung số lượng cán bộ hiện đang thiếu cho các
đơn vị dự phòng các tuyến, đảm bảo đủ nhân lực tham gia công tác phòng chống dịch.
Tăng cường các hoạt động nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để thực hiện công
tác y tế dự phòng một cách hiệu quả; xây dựng các chính sách thu hút, đãi ngộ,
chế độ độc hại và thâm niên nghề nghiệp cho cán bộ làm việc trong lĩnh vực y tế
dự phòng.
- Thực hiện đầy đủ và kịp thời các chế độ, phụ cấp
ưu đãi nghề, phụ cấp chống dịch, trực dịch cho cán bộ tham gia chống dịch bệnh.
- Thực hiện các quy định của Điều lệ y tế quốc tế,
đảm bảo đáp ứng đủ 13 năng lực cơ bản mà Việt Nam đã cam kết thực hiện.
- Xây dựng văn bản hướng dẫn công tác dự trữ hàng
hóa phục vụ công tác phòng chống dịch khẩn cấp tại các đơn vị.
- Theo dõi, chỉ đạo các địa phương, đơn vị đảm bảo
hậu cần phục vụ công tác phòng chống dịch bệnh, Đảm bảo kinh phí, hóa chất,
trang thiết bị.
5. Phối hợp liên ngành
- Phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành: Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn, Giáo dục và Đào tạo, Quốc phòng, Công an, Ngoại giao,
Thông tin và Truyền thông, Tài chính, Giao thông vận tải và các đơn vị liên
quan triển khai công tác phòng chống dịch bệnh trên người, bệnh từ động vật lây
truyền sang người, phòng chống buôn lậu gia cầm, gia súc, các sản phẩm từ gia cầm,
gia súc không rõ nguồn gốc xuất xứ; phối hợp giám sát chặt chẽ các đối tượng phải
kiểm dịch tại các cửa khẩu.
- Phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn và các đơn vị liên quan để đẩy mạnh các hoạt động phòng chống dịch bệnh
lây truyền từ động vật sang người theo hướng tiếp cận “Một sức khỏe”.
- Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tăng cường
năng lực thực hiện Điều lệ Y tế quốc tế nhằm chủ động dự phòng, phát hiện, ứng
phó với sự kiện y tế công cộng, trong đó có dịch bệnh truyền nhiễm.
- Phối hợp với các đơn vị liên quan để nghiên cứu đề
xuất các chính sách đãi ngộ cho cán bộ y tế dự phòng, chính sách về đào tạo,
các chế độ bảo hiểm rủi ro và có chế độ bảo vệ sức khỏe đặc thù nghề nghiệp cho
cán bộ y tế dự phòng; xây dựng các cơ chế đầu tư tài chính đặc thù cho công tác
phòng chống dịch.
6. Hợp tác quốc tế
- Phối hợp với Bộ Y tế các nước trên thế giới thực
hiện Điều lệ y tế quốc tế (IHR) nhằm chia sẻ thông tin dịch bệnh, nhất là các bệnh
nguy hiểm, mới nổi.
- Tiếp tục đẩy mạnh công tác hợp tác quốc tế: Phối
hợp với các tổ chức quốc tế như WHO, FAO, UNICEF, USAID, USCDC, ADB, WB, PATH,
Unilever, các tổ chức quốc tế khác để huy động các nguồn lực và kỹ thuật cho
phòng chống bệnh truyền nhiễm.
- Xây dựng kế hoạch thực hiện IHR/APSED/GHSA tại Việt
Nam. Phối hợp với các đơn vị liên quan triển khai các cam kết thực hiện vai trò
quốc gia đầu mối thực hiện hành động phòng, chống bệnh lây truyền từ động vật
sang người (ZDAP).
- Thúc đẩy việc chia sẻ thông tin giữa các cặp tỉnh
chung đường biên giới 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia.
7. Nghiên cứu khoa học
Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học về dịch tễ học của bệnh,
tác nhân gây bệnh, véc tơ truyền bệnh, vắc xin phòng bệnh, dự báo dịch, xây dựng
mô hình phòng chống để đề xuất các biện pháp phòng chống phù hợp, đánh giá hiệu
quả các biện pháp phòng chống dịch bệnh.
8. Công tác kiểm tra, thanh tra
- Tổ chức các đoàn thanh tra việc thực hiện các quy
định của pháp luật về phòng chống dịch bệnh, công bố dịch, quản lý sử dụng vắc
xin trong tiêm chủng mở rộng và tiêm chủng dịch vụ, kiểm dịch y tế biên giới tại
các tỉnh, thành phố trong phạm vi cả nước.
- Thường xuyên tổ chức các đoàn kiểm tra, chỉ đạo,
phòng chống dịch bệnh, tập trung vào các dịch bệnh nguy hiểm và mới nổi hoặc bệnh
lưu hành có số mắc, tử vong cao (MERS-CoV, cúm A(H7N9), cúm A(H5N1), tay chân
miệng, sốt xuất huyết, sởi, dại ...) tại các tỉnh, thành phố trọng điểm.
- Kiểm tra, giám sát, hỗ trợ kỹ thuật cho các bệnh
viện về phân tuyến điều trị, phân luồng khám bệnh, cách ly, triển khai các giải
pháp phòng chống lây nhiễm chéo trong bệnh viện.
- Phối hợp với ngành thú y và các đơn vị liên quan thành
lập các đoàn công tác liên ngành tăng cường kiểm tra công tác phòng chống dịch
tại các tỉnh, thành phố trọng điểm.
V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Tuyến Trung ương
1.1. Cục Y tế dự phòng
- Tham mưu cho Bộ Y tế trong việc chỉ đạo công tác
phòng chống dịch bệnh trên phạm vi toàn quốc.
- Thường xuyên cập nhật, tổng hợp tình hình dịch
trong nước và quốc tế, thường xuyên báo cáo Lãnh đạo Bộ Y tế, Lãnh đạo Chính phủ
và các đơn vị liên quan.
- Thường trực về các hoạt động phòng chống dịch, điều
phối hoạt động dưới sự chỉ đạo của Bộ Y tế.
- Trực tiếp chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra các địa
phương, đơn vị thuộc hệ y tế dự phòng triển khai các biện pháp phòng, chống dịch
bệnh. Chỉ đạo giám sát, phát hiện sớm sự lưu hành của vi rút gây bệnh, các yếu
tố nguy cơ, các trường hợp mắc bệnh và xử lý triệt để ổ dịch.
- Chịu trách nhiệm về nội dung thông tin phòng, chống
dịch bệnh, phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức cung cấp thông tin cho các
cơ quan báo chí đáp ứng yêu cầu công tác phòng, chống dịch bệnh.
- Chủ trì xây dựng nội dung và phối hợp các đơn vị
liên quan xây dựng, cung cấp các thông điệp và tài liệu truyền thông về phòng
chống dịch, bệnh cho cộng đồng.
- Chỉ đạo xây dựng, bổ sung và hoàn thiện hướng dẫn
giám sát, phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm; tập huấn, cập nhật các thông tin
về giám sát, phòng chống dịch bệnh cho cán bộ y tế dự phòng của các tuyến.
- Phối hợp Dự án Nâng cao năng lực, truyền thông,
giám sát và đánh giá thực hiện chương trình thuộc Chương trình mục tiêu y tế quốc
gia đề xuất, triển khai các hoạt động truyền thông phòng, chống dịch bệnh.
- Chỉ đạo các Trung tâm Y tế dự phòng/ Kiểm soát bệnh
tật/ Kiểm dịch Y tế quốc tế tỉnh, thành phố phối hợp Trung tâm Truyền thông
giáo dục sức khỏe tỉnh, thành phố và các đơn vị truyền thông tại địa phương thực
hiện các hoạt động truyền thông phòng chống dịch bệnh.
- Đầu mối Quốc gia thực hiện Điều lệ Y tế quốc tế,
chia sẻ và cập nhật thông tin bệnh truyền nhiễm trong khu vực và trên thế giới.
- Đẩy mạnh các hoạt động của Văn phòng EOC, kịp thời
ứng phó với các vấn đề dịch bệnh nguy hiểm và mới nổi, các dịch bệnh có số mắc
và tử vong cao, xây dựng kế hoạch đáp ứng theo từng tình huống dịch bệnh.
- Đầu mối tổ chức họp đánh giá nguy cơ và đề xuất
các biện pháp phòng chống dịch bệnh phù hợp.
- Tham mưu Bộ Y tế thực hiện việc công bố dịch khi
có đủ điều kiện công bố dịch theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.
- Hoàn thiện phần mềm, nâng cao chất lượng hệ thống
báo cáo trực tuyến trường hợp bệnh của 43 bệnh truyền nhiễm và quản lý từng đối
tượng tiêm chủng tại 63 tỉnh, thành phố theo quy định tại Thông tư số 54/TT-BYT ngày 28/12/2015 của Bộ Y tế về việc
hướng dẫn chế độ thông tin báo cáo và khai báo bệnh, dịch bệnh truyền nhiễm và
Nghị định số 104/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của
Chính phủ quy định về hoạt động tiêm chủng.
- Tổ chức các đoàn kiểm tra, giám sát các địa
phương, các đơn vị y tế dự phòng trong công tác phòng, chống dịch bệnh truyền
nhiễm.
1.2. Cục Quản lý Khám, chữa bệnh
- Tham mưu cho Bộ Y tế trong việc chỉ đạo, điều
hành công tác điều trị bệnh truyền nhiễm.
- Trực tiếp chỉ đạo, đôn đốc tất cả cơ sở khám chữa
bệnh trong hệ thống điều trị từ Trung ương đến địa phương trong công tác điều
trị bệnh truyền nhiễm.
- Chỉ đạo kiểm tra việc thực hiện nghiêm việc phân
luồng, phân tuyến điều trị bệnh nhân, thực hiện kiểm soát nhiễm khuẩn, phòng chống
lây nhiễm chéo tại các bệnh viện; tổng kết, rút kinh nghiệm về điều trị và các
trường hợp tử vong.
- Chịu trách nhiệm về nội dung thông tin về công
tác điều trị bệnh truyền nhiễm, phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức cung
cấp thông tin cho các cơ quan báo chí đáp ứng yêu cầu công tác phòng, chống dịch
bệnh.
- Chủ trì xây dựng nội dung và phối hợp các đơn vị
liên quan xây dựng, cung cấp các thông điệp và tài liệu truyền thông về phòng
chống dịch, bệnh tại bệnh viện cho người bệnh, người chăm sóc, gia đình người bệnh,
- Chỉ đạo xây dựng, bổ sung và hoàn thiện hướng dẫn
chẩn đoán, điều trị và phòng lây nhiễm của bệnh dịch; tập huấn, cập nhật các
thông tin về chẩn đoán, phác đồ điều cho cán bộ các bệnh viện ở tất cả các tuyến.
- Chỉ đạo các Viện, Bệnh viện trực thuộc Bộ, Bệnh
viện tỉnh, thành phố chuẩn bị đầy đủ thuốc, trang thiết bị hồi sức cấp cứu, khu
vực thu dung để sẵn sàng tiếp nhận, cấp cứu và điều trị bệnh nhân.
- Tổ chức các đoàn kiểm tra các địa phương, các cơ
sở khám, chữa bệnh trong công tác điều trị người mắc bệnh truyền nhiễm, công
tác kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện, phòng lây truyền chéo và thường trực chống
dịch.
1.3. Cục An toàn thực phẩm
- Chỉ đạo hướng dẫn các đơn vị, địa phương tăng cường
các biện pháp đảm bảo an toàn thực phẩm cho cộng đồng, truyền thông về an toàn
thực phẩm; chủ động phòng ngừa ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra về an
toàn thực phẩm.
- Chỉ đạo hướng dẫn các địa phương tăng cường công
tác giám sát nguy cơ ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm.
- Chỉ đạo hướng dẫn các địa phương điều tra, xử lý,
khắc phục hậu quả các vụ ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm ở địa
phương.
1.4. Cục Quản lý Môi trường Y tế
- Tiếp tục đẩy mạnh phong trào vệ sinh yêu nước
nâng cao sức khỏe nhân dân, đảm bảo vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường góp phần
vào công tác phòng chống dịch bệnh.
- Chỉ đạo các địa phương triển khai các hoạt động vệ
sinh môi trường, nước sạch trong mùa bão lụt.
- Chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị thực hiện giám sát
chất lượng nước dùng cho ăn uống, sinh hoạt và các công trình vệ sinh tại hộ
gia đình.
1.5. Cục Quản lý Dược
- Phối hợp với các đơn vị liên quan đảm bảo nguồn
cung của thuốc phục vụ cho công tác phòng, chống dịch bệnh, tiêm chủng mở rộng.
- Thẩm định nhanh hồ sơ đề nghị Cấp giấy phép lưu
hành các vắc xin mới, thuốc chống dịch tại Việt Nam.
1.6. Vụ Kế hoạch - Tài chính
- Chủ động tham mưu cho Lãnh đạo Bộ đảm bảo nguồn
ngân sách, cơ chế dự trữ hàng hóa phục vụ công tác phòng chống dịch bệnh.
- Dự trù và cấp kinh phí kịp thời cho hoạt động
phòng, chống dịch ngay từ đầu năm, đặc biệt là kinh phí phục vụ cho việc sẵn
sàng ứng phó phòng, chống dịch, tập hợp nhu cầu về thuốc, hóa chất, vật tư, trang
thiết bị phục vụ cho công tác phòng, chống dịch bệnh.
- Phối hợp với các đơn vị chức năng để kiểm tra
công tác đảm bảo thuốc, hóa chất, vật tư, trang thiết bị phục vụ cho công tác
phòng, chống dịch bệnh; hướng dẫn về các chế độ tài chính cho công tác phòng,
chống dịch.
1.7. Vụ Truyền thông và Thi đua, khen thưởng
- Xây dựng kế hoạch tổng thể trong truyền thông
phòng chống dịch bệnh. Chủ trì, phối hợp với Vụ, Cục và đơn vị liên quan thực
hiện tuyên truyền trên các báo, đài thông qua các chuyên trang, chuyên mục,
tin, bài ... về phòng, chống dịch bệnh sởi.
- Chủ trì, phối hợp Cục Y tế dự phòng và các đơn vị
liên quan chủ động cung cấp thông tin phòng, chống dịch, bệnh thường xuyên cho
các cơ quan báo chí thông qua họp báo, gặp mặt báo chí, hội nghị giao ban báo
chí, giao ban dư luận xã hội tại Ban Tuyên Giáo Trung ương khi cần thiết, tổ chức
các tọa đàm, đối thoại ... trên các phương tiện thông tin đại chúng.
- Phối hợp các Vụ, Cục thuộc Bộ Y tế lồng ghép
tuyên truyền phòng, chống dịch bệnh trong nội dung phối hợp các cơ quan báo chí
tuyên truyền về công tác y tế.
- Chỉ đạo Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khỏe
Trung ương, Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khỏe các tỉnh, thành phố phối hợp
các đơn vị thuộc hệ y tế dự phòng, các cơ quan truyền thông đại chúng triển
khai các hoạt động truyền thông phòng chống dịch bệnh.
- Trong trường hợp khẩn cấp, đột xuất hoặc khi dịch
bệnh bùng phát, chủ trì, phối hợp Cục Y tế dự phòng và các đơn vị liên quan kịp
thời cung cấp thông tin chính xác cho các cơ quan báo chí.
- Là đầu mối triển khai dự án Nâng cao năng lực,
truyền thông, giám sát và đánh giá thực hiện chương trình thuộc Chương trình mục
tiêu quốc gia Y tế, phối hợp với Cục Y tế dự phòng và các đơn vị có liên quan đề
xuất, xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện các hoạt động truyền thông phòng, chống
dịch bệnh.
1.8. Dự án Tiêm chủng mở rộng quốc gia
- Xây dựng và triển khai kế hoạch tiêm chủng mở rộng,
bổ sung vắc xin rubella và vắc xin bại liệt tiêm (IPV) vào Chương trình tiêm chủng
mở rộng; mở rộng diện triển khai tiêm vắc xin viêm não Nhật Bản.
- Chịu trách nhiệm tổ chức, hướng dẫn, rà soát thống
kê đối tượng cần được tiêm chủng, bảo đảm không để sót đối tượng. Tổ chức, hướng
dẫn triển khai công tác tiêm chủng vắc xin, đạt tỷ lệ ≥ 95% tại tất cả các xã,
phường, thị trấn.
- Cung cấp đầy đủ, kịp thời vắc xin và vật tư tiêm
chủng cho công tác tiêm chủng mở rộng, thực hiện việc cấp phát, bảo quản, vận
chuyển vắc xin theo đúng quy định của Bộ Y tế.
- Tổ chức tập huấn chuyên môn cho cán bộ y tế về
công tác tiêm chủng, truyền thông, giáo dục cộng đồng tăng cường công tác an
toàn tiêm chủng.
- Kiểm tra, giám sát, đôn đốc các đơn vị, địa
phương trong việc thực hiện các hoạt động Tiêm chủng mở rộng.
1.9. Các Viện Vệ sinh dịch tễ, Viện Pasteur; Viện
Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng
- Theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh, hỗ trợ, chỉ
đạo Trung tâm Y tế dự phòng/ Kiểm soát bệnh tật, Trung tâm Phòng chống sốt rét,
Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế tỉnh, thành phố thực hiện tốt công tác giám sát
chặt chẽ bệnh dịch, kịp thời triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh.
- Tiếp tục triển khai hệ thống giám sát trọng điểm
cho một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm: cúm, sốt xuất huyết, sốt rét, dịch hạch,
sốt xuất huyết, bạch hầu, viêm não Nhật Bản...
- Nâng cấp EOC đầy đủ chức năng.
- Thiết lập và sử dụng hiệu quả Kho dữ liệu cấp khu
vực và tỉnh.
- Hỗ trợ, chỉ đạo nâng cao tỷ lệ bao phủ vắc xin
phòng các bệnh trong Chương trình tiêm chủng mở rộng.
- Thành lập các đội đáp ứng nhanh, đội cơ động chống
dịch hỗ trợ các tỉnh, thành phố điều tra, xử lý dịch bệnh.
- Xây dựng bộ chỉ số giám sát, cảnh báo, dự báo dịch
bệnh cho một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm: bệnh tay chân miệng, sốt xuất huyết,
sốt rét, dịch hạch.
- Tăng cường công tác xét nghiệm chẩn đoán sớm tác
nhân gây bệnh, giám sát sự biến chứng của tác nhân gây bệnh.
- Tổ chức đào tạo và chuyển giao kỹ thuật xét nghiệm,
giám sát, phòng chống bệnh truyền nhiễm.
- Dự trữ hóa chất khử khuẩn, thiết bị, vật tư
chuyên dụng, sinh phẩm, hóa chất sẵn sàng công tác xét nghiệm, triển khai các
hoạt động phòng, chống dịch bệnh và kịp thời hỗ trợ địa phương khi có dịch bệnh.
- Nghiên cứu khoa học về dịch tễ học, vi sinh vật học,
miễn dịch học và các yếu tố liên quan của các bệnh dịch.
- Thành lập các đoàn công tác trực tiếp hỗ trợ,
giám sát các địa phương giám sát, xử lý ổ dịch.
1.10. Các Bệnh viện tuyến Trung ương
- Xây dựng, bổ sung và cập nhật kế hoạch đáp ứng về
công tác tiếp nhận và điều trị, phác đồ điều trị, bố trí khu cách ly, sẵn sàng
tiếp nhận điều trị khi có dịch bệnh xảy ra.
- Chuẩn bị đủ cơ số thuốc, vật tư, trang thiết bị
phục vụ cho điều trị dịch bệnh; có kế hoạch chủ động chuẩn bị số giường bệnh,
duy trì hoạt động thường xuyên của bệnh viện khi có dịch bệnh xảy ra.
- Tổ chức tập huấn, cập nhật kiến thức, đào tạo
nâng cao kỹ năng lâm sàng về chẩn đoán, xử trí, cấp cứu, điều trị tích cực,
chăm sóc bệnh nhân cho các bệnh viện tuyến trước; củng cố và tăng cường năng lực
xét nghiệm chẩn đoán; sẵn sàng hỗ trợ về chuyên môn nghiệp vụ cho tuyến dưới
khi có yêu cầu.
- Duy trì, củng cố các đội cấp cứu lưu động, hỗ trợ
chuyên môn kỹ thuật cho tuyến trước trong việc sẵn sàng tiếp nhận, cấp cứu và
điều trị bệnh nhân.
- Tập hợp, thu thập thông tin và báo cáo trường hợp
mắc bệnh và kịp thời thông báo cho các đơn vị y tế dự phòng và phối hợp xử lý dịch
bệnh.
1.11. Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khỏe
Trung ương
- Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan để xây
dựng các sản phẩm truyền thông mẫu về phòng chống dịch bệnh (tờ rơi, áp phích,
tranh gấp,... pano, clip phát thanh, truyền hình).
- Phối hợp với các đơn vị liên quan và cơ quan
thông tin đại chúng để đăng tải tin, bài, phát sóng thông điệp, phóng sự trên
các phương tiện thông tin đại chúng.
- Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan thực
hiện giám sát hỗ trợ chuyên môn các đơn vị truyền thông tuyến dưới về công tác
truyền thông giáo dục sức khỏe trong phòng, chống dịch bệnh.
- Chủ trì xây dựng giáo trình, tổ chức tập huấn về
kỹ năng truyền thông, lập kế hoạch truyền thông, sử dụng tài liệu truyền thông
về phòng, chống dịch bệnh cho hệ truyền thông và các đơn vị có nhu cầu.
- Phối hợp với các đơn vị liên quan thực hiện công
tác theo dõi, giám sát, đánh giá việc thực hiện kế hoạch truyền thông phòng chống
dịch bệnh.
2. Địa phương
2.1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chỉ đạo quyết
liệt các địa phương, các sở, ngành liên quan phối hợp với ngành y tế triển khai
tốt các hoạt động về kiểm soát, phòng chống các bệnh truyền nhiễm trên địa bàn
tỉnh; kiện toàn Ban chỉ đạo phòng chống dịch bệnh, phân công cụ thể nhiệm vụ
cho các thành viên; đảm bảo kinh phí cho phòng chống dịch bệnh, đẩy mạnh công
tác truyền thông và quản lý bệnh nhân, xử lý nguồn bệnh tại cộng đồng.
- Thành lập các đoàn kiểm tra việc triển khai thực
hiện công tác phòng chống dịch bệnh tại địa phương.
- Huy động sự tham gia, giao trách nhiệm cụ thể cho
các cấp ủy, chính quyền các cấp, các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội phối
hợp với ngành y tế triển khai công tác phòng, chống dịch bệnh.
- Chỉ đạo các đơn vị liên quan phối hợp với các tổ
chức chính trị, chính trị - xã hội để tổ chức các hoạt động truyền thông trực
tiếp đến từng hộ gia đình về các biện pháp phòng, chống dịch bệnh.
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố thực hiện
công bố dịch bệnh nhóm B và nhóm C; đề nghị Bộ Y tế công bố dịch bệnh thuộc
nhóm A khi có đủ điều kiện công bố dịch theo quy định tại Quyết định số 02/2016/QĐ-TTg ngày 28/01/2016 của Thủ tướng
Chính phủ.
- Triển khai công tác thanh tra, xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực y tế, trong đó có các hoạt động liên quan đến công
tác phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm theo quy định tại Nghị định số 176/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2013 của
Chính phủ và các quy định hiện hành khác.
- Tăng cường đầu tư kinh phí cho công tác phòng chống
dịch bệnh, đặc biệt là công tác dự phòng chủ động. Bố trí kinh phí cho các hoạt
động ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực y tế theo Nghị quyết 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ.
2.2. Sở Y tế các tỉnh, thành phố
- Lập kế hoạch phòng, chống dịch bệnh năm 2020 và đề
xuất kinh phí triển khai thực hiện, trình Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố phê
duyệt sớm.
- Tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố tăng cường
các hoạt động phòng chống dịch bệnh tại các cấp ở địa phương.
- Tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố về việc
cấp bổ sung ngân sách từ địa phương và huy động nguồn kinh phí tài trợ để đảm bảo
kinh phí hoạt động của các Chương trình mục tiêu quốc gia.
- Chỉ đạo các đơn vị y tế trên địa bàn tỉnh triển
khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh ngay từ đầu năm và thực hiện các hoạt
động giám sát trọng điểm bệnh truyền nhiễm.
- Phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn cùng với các ban, ngành, đoàn thể chỉ đạo, kiểm tra,
giám sát công tác phòng chống dịch bệnh.
- Chỉ đạo các đơn vị y tế dự phòng, bệnh viện trên
địa bàn tỉnh triển khai các hoạt động giám sát trọng điểm quốc gia.
- Phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông và các
đơn vị liên quan tuyên truyền, hướng dẫn người dân thực hiện các biện pháp
phòng chống dịch.
- Tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố thực hiện
việc công bố dịch bệnh truyền nhiễm nhóm B, nhóm C khi có đủ điều kiện công bố
dịch bệnh và tham mưu Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố đề nghị Bộ Y tế
công bố dịch bệnh thuộc nhóm A khi có đủ điều kiện công bố dịch theo quy định tại
Quyết định số 02/2016/QĐ-TTg ngày
28/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ.
- Kiểm tra, đánh giá hiệu quả công tác phòng chống
dịch bệnh của các đơn vị tại địa phương.
- Thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật
về công tác phòng chống dịch bệnh, tiêm chủng (thông tin báo cáo bệnh, dịch bệnh
truyền nhiễm, giám sát phòng chống dịch, công bố dịch bệnh, tiêm chủng mở rộng,
tiêm chủng dịch vụ …)
2.3. Trung tâm Y tế dự phòng/ Kiểm soát bệnh tật,
Trung tâm Phòng chống sốt rét tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
- Đầu mối tham mưu Sở Y tế về công tác phòng, chống
bệnh truyền nhiễm.
- Giám sát chặt chẽ tình hình mắc dịch bệnh đến tận
thôn, ấp, xã, phường, hộ gia đình, các yếu tố nguy cơ, triển khai Chương trình
tiêm chủng mở rộng, thực hiện báo cáo kịp thời về Bộ Y tế theo quy định.
- Triển khai hoạt động xử lý triệt để ổ dịch theo
quy định của Bộ Y tế.
- Tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân thực hiện các biện
pháp phòng chống dịch bệnh.
- Hỗ trợ, hướng dẫn tuyến dưới về công tác giám
sát, phòng, chống bệnh truyền nhiễm, tiêm chủng mở rộng...
- Phối hợp với các Viện Vệ sinh dịch tễ, Viện
Pasteur triển khai các điểm giám sát trọng điểm theo kế hoạch được phê duyệt.
- Kiện toàn các đội cơ động chống dịch, sẵn sàng hỗ
trợ các địa phương khi cần thiết.
2.4. Trung tâm Kiểm dịch Y tế quốc tế tỉnh,
thành phố
- Giám sát chặt chẽ tại cửa khẩu các trường hợp
nghi mắc bệnh truyền nhiễm gây dịch tại cửa khẩu, đặc biệt các dịch bệnh nguy
hiểm nhóm A, các bệnh truyền nhiễm mới nổi.
- Kiểm tra giám sát, xử lý y tế đối với người,
phương tiện, hàng hóa tại các cửa khẩu.
- Thông báo kịp thời cho Trung tâm Y tế dự phòng/
Kiểm soát bệnh tật tỉnh, thành phố các trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm gây dịch
tại cửa khẩu.
- Tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân thực hiện các biện
pháp phòng chống bệnh truyền nhiễm tại các cửa khẩu.
2.5. Bệnh viện đa khoa tỉnh, thành phố và bệnh
viện khu vực
- Xây dựng kế hoạch tổ chức thu dung, cấp cứu và điều
trị dịch bệnh, duy trì hoạt động thường xuyên của bệnh viện khi có dịch bệnh.
- Chỉ đạo các Bệnh viện cấp huyện chuẩn bị đầy đủ
thuốc, trang thiết bị hồi sức cấp cứu và các phương tiện cần thiết để sẵn sàng
tiếp nhận, cấp cứu và điều trị bệnh nhân.
- Tập huấn phác đồ cấp cứu, điều trị bệnh truyền
nhiễm, hướng dẫn các cơ sở điều trị thực hiện.
- Chỉ đạo tuyến và hỗ trợ tuyến dưới về mặt chuyên
môn, nhân lực, vật lực khi cần thiết; kiểm tra giám sát công tác phòng chống dịch
bệnh của các cơ sở khám chữa bệnh trong phạm vi địa phương.
- Thực hiện kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện, phòng
chống lây nhiễm chéo trong bệnh viện.
- Thông báo cho các đơn vị y tế dự phòng trong công
tác báo cáo trường hợp bệnh truyền nhiễm đầy đủ, chính xác, kịp thời theo quy định.
- Phối hợp thực hiện thu thập mẫu bệnh phẩm, thu thập
thông tin đánh giá nguy cơ trong việc triển khai giám sát trọng điểm quốc gia.
2.6. Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khỏe tỉnh,
thành phố
- Phối hợp với Trung tâm Truyền thông giáo dục sức
khỏe Trung ương và các cơ sở y tế địa phương, cơ quan thông tin đại chúng của địa
phương và Trung ương tăng cường công tác truyền thông nguy cơ, giáo dục sức khỏe,
phổ biến kiến thức về các biện pháp phòng bệnh, giáo dục vệ sinh, chú trọng những
nơi có nguy cơ cao, nơi tập trung đông người (trường học, khu công nghiệp ...).
- Xây dựng các tài liệu về truyền thông giáo dục sức
khỏe theo quy định hiện hành.
- Tổ chức tập huấn công tác truyền thông phòng, chống
dịch bệnh cho đội ngũ thực hiện công tác truyền thông giáo dục sức khỏe.
2.7. Trung tâm Y tế cấp huyện
- Tham mưu cho Ban Chỉ đạo phòng chống dịch bệnh cấp
huyện tăng cường các hoạt động phòng chống dịch bệnh tại địa phương.
- Giám sát chặt chẽ phát hiện sớm trường hợp mắc bệnh
đầu tiên tại thôn, ấp, xã, phường, hộ gia đình để khoanh vùng và xử lý kịp thời.
- Triển khai hoạt động xử lý triệt để ổ dịch theo
đúng Hướng dẫn giám sát và phòng, chống dịch bệnh của Bộ Y tế.
- Tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân thực hiện các biện
pháp phòng, chống bệnh dịch.
2.8. Bệnh viện đa khoa cấp huyện
- Xây dựng kế hoạch thu dung, cách ly và điều trị bệnh
nhân và duy trì hoạt động thường xuyên của bệnh viện khi có dịch bệnh.
- Chuẩn bị đầy đủ thuốc, trang thiết bị hồi sức cấp
cứu và các phương tiện cần thiết để sẵn sàng tiếp nhận, cấp cứu và điều trị bệnh
nhân.
- Tập huấn phác đồ cấp cứu, điều trị, hướng dẫn các
Trạm Y tế xã, phường, thị trấn và phòng khám tư nhân trên địa bàn.
- Báo cáo kịp thời cho Trung tâm Y tế quận, huyện,
thị xã các trường hợp bệnh truyền nhiễm đầy đủ, chính xác theo quy định.
2.9. Trạm Y tế cấp xã
- Lập kế hoạch phòng, chống dịch bệnh, tham mưu với
Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn bảo đảm kinh phí cho công tác chống dịch bệnh
của địa phương; huy động các ban ngành, tổ chức chính trị - xã hội, Tổ trưởng,
Trưởng thôn, cộng tác viên vận động người dân đưa trẻ đi tiêm chủng và tham gia
tích cực công tác phòng chống dịch bệnh.
- Giám sát chặt chẽ phát hiện sớm trường hợp nghi mắc
bệnh tại từng thôn, ấp, hộ gia đình để khoanh vùng và xử lý kịp thời, triệt để ổ
dịch, không lây lan; cấp cứu ban đầu và điều trị bệnh nhân khi mắc bệnh dịch,
giám sát các trường hợp điều trị tại nhà.
- Thực hiện tuyên truyền trên hệ thống truyền thông
cơ sở, tổ chức truyền thông trực tiếp tại cộng đồng về các biện pháp phòng, chống
dịch bệnh, huy động cộng đồng trong các hoạt động tiêm chủng phòng bệnh.
- Tuyên truyền vận động người dân trên địa bàn
không sử dụng sản phẩm động vật mắc bệnh, thực hiện ăn chín, uống chín. Phối hợp
với cơ quan thú y thực hiện tiêu hủy gia cầm và các động vật mắc bệnh, cung cấp
thông tin cho người dân để phòng bệnh lây truyền từ động vật sang người.
- Thực hiện tiêm chủng mở rộng, rà soát đối tượng
tiêm chủng, thường xuyên tổ chức tiêm vét đảm bảo tỷ lệ tiêm chủng đạt tỷ lệ ≥
95%, không để thôn, xóm, bản trắng về tiêm chủng; giám sát chặt chẽ và xử trí
các trường hợp phản ứng sau tiêm chủng.
- Tổ chức thực hiện và hướng dẫn các hộ gia đình,
các đơn vị, cơ quan trên địa bàn thường xuyên thực hiện các biện pháp vệ sinh
môi trường, vệ sinh nhà cửa, xử lý đồ phế thải, loại trừ các ổ lăng quăng (bọ gậy),
phòng chống bệnh do véc tơ truyền.
- Phát hiện sớm để xử lý kịp thời trường hợp mắc bệnh
dịch đầu tiên, không để dịch bệnh lây lan.
- Báo cáo kịp thời cho Trung tâm Y tế huyện các trường
hợp bệnh truyền nhiễm theo quy định.
VI. KINH PHÍ
1. Trung ương
- Bộ Y tế bố trí kinh phí từ ngân sách nhà nước cho
các hoạt động phòng chống bệnh truyền nhiễm cấp Bộ, các Chương trình mục tiêu y
tế (phòng chống bệnh phong, lao, sốt rét, sốt xuất huyết; tiêm chủng mở rộng...).
- Huy động và sử dụng các nguồn kinh phí hợp pháp
khác cho công tác phòng, chống dịch bệnh.
2. Địa phương
Sở Y tế xây dựng kế hoạch phòng chống dịch bệnh,
trình Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố phê duyệt, đảm bảo đầu tư đủ nguồn lực
cho công tác phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm tại các cấp và các Chương
trình mục tiêu y tế. Tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố chỉ đạo Ủy ban
nhân dân cấp quận, huyện, thị xã nâng cao vai trò chỉ đạo giám sát thực hiện kế
hoạch và bố trí kinh phí cho công tác phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm trên
địa bàn.