|
QUỐC HỘI
-------
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Luật số:
114/2025/QH15
|
Hà Nội, ngày 10
tháng 12 năm 2025
|
LUẬT
PHÒNG BỆNH
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật Phòng
bệnh.
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm
vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng
1. Luật này quy định về phòng,
chống bệnh truyền nhiễm; phòng, chống bệnh không lây nhiễm; phòng, chống rối loạn
tâm thần; dinh dưỡng trong phòng bệnh; điều kiện bảo đảm để phòng bệnh.
2. Luật này áp dụng đối với cơ
quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tại Việt Nam.
Điều 2. Giải
thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới
đây được hiểu như sau:
1. Phòng bệnh là hoạt động
y tế dự phòng nhằm ngăn ngừa sự phát sinh, ngăn chặn sự lây lan, tiến triển, giảm
thiểu hậu quả của bệnh và nâng cao sức khỏe cá nhân, cộng đồng.
2. Dịch vụ phòng bệnh là
dịch vụ y tế dự phòng để phòng, chống bệnh truyền nhiễm; phòng, chống bệnh
không lây nhiễm; phòng, chống rối loạn tâm thần; dinh dưỡng trong phòng bệnh và
dịch vụ y tế dự phòng khác theo quy định của pháp luật.
3. Cơ sở y tế dự phòng là
cơ sở được thành lập theo quy định của pháp luật để thực hiện chức năng, nhiệm
vụ chính về phòng bệnh.
4. Giám sát trong phòng bệnh
là việc thu thập, phân tích, đánh giá, diễn giải và sử dụng thông tin một
cách liên tục có hệ thống về tình hình bệnh và yếu tố nguy cơ gây bệnh để phòng
bệnh.
5. Bệnh truyền nhiễm là
bệnh lây truyền trực tiếp, gián tiếp từ người hoặc từ trung gian truyền bệnh
truyền nhiễm sang người do tác nhân gây bệnh truyền nhiễm.
6. Tác nhân gây bệnh truyền
nhiễm là vi rút, vi khuẩn, ký sinh trùng, nấm và tác nhân khác có nguồn gốc
sinh học có khả năng gây bệnh truyền nhiễm.
7. Trung gian truyền bệnh
truyền nhiễm là côn trùng, động vật, môi trường, thực phẩm và vật khác mang
tác nhân gây bệnh truyền nhiễm, có khả năng truyền bệnh.
8. Người mắc bệnh truyền nhiễm
là người bị nhiễm tác nhân gây bệnh truyền nhiễm có biểu hiện triệu chứng bệnh.
9. Người mang mầm bệnh truyền
nhiễm là người mang tác nhân gây bệnh truyền nhiễm nhưng không có biểu hiện
triệu chứng bệnh.
10. Người tiếp xúc là
người có tiếp xúc với tác nhân gây bệnh truyền nhiễm, người mắc bệnh truyền nhiễm,
người mang mầm bệnh truyền nhiễm, trung gian truyền bệnh truyền nhiễm và có khả
năng mắc bệnh.
11. Người bị nghi ngờ mắc bệnh
truyền nhiễm là người có biểu hiện triệu chứng bệnh truyền nhiễm nhưng chưa
xác định được tác nhân gây bệnh.
12. Dịch bệnh (còn gọi là dịch
bệnh truyền nhiễm) là sự xuất hiện bệnh truyền nhiễm với số người mắc bệnh
vượt quá số người mắc bệnh dự tính bình thường trong một khoảng thời gian xác định
ở một khu vực nhất định.
13. Kiểm dịch y tế là việc
thực hiện các biện pháp y tế để phát hiện, ngăn chặn sự xâm nhập và lây truyền
của bệnh truyền nhiễm qua cửa khẩu.
14. An toàn sinh học trong
xét nghiệm là việc sử dụng các biện pháp để giảm thiểu hoặc loại trừ nguy
cơ lây truyền không cố ý tác nhân gây bệnh truyền nhiễm trong cơ sở xét nghiệm
và trong việc xét nghiệm ở ngoài cơ sở xét nghiệm, từ cơ sở xét nghiệm và từ việc
xét nghiệm ở ngoài cơ sở xét nghiệm ra môi trường, cộng đồng.
15. An ninh sinh học trong
xét nghiệm là việc sử dụng các biện pháp để bảo vệ, kiểm soát đối với tác
nhân gây bệnh truyền nhiễm, thiết bị, cơ sở vật chất và thông tin có giá trị
trong cơ sở xét nghiệm nhằm ngăn chặn việc cố ý tiếp cận trái phép, trộm cắp,
làm mất, dùng sai hoặc thay đổi mục đích sử dụng và phát tán tác nhân gây bệnh
truyền nhiễm từ cơ sở xét nghiệm ra môi trường và cộng đồng.
16. Tiêm chủng là việc
đưa vắc xin, sinh phẩm vào cơ thể con người để phòng bệnh.
17. Bệnh không lây nhiễm là
bệnh không truyền nhiễm, có xu hướng tiến triển chậm và trở thành bệnh mạn
tính.
18. Sức khỏe tâm thần là
trạng thái tinh thần lành mạnh giúp con người có khả năng ứng phó với những
căng thẳng trong cuộc sống, nhận ra khả năng của mình, học tập, lao động hiệu
quả và có đóng góp cho cộng đồng.
19. Rối loạn tâm thần là
tình trạng bệnh lý đặc trưng bởi sự thay đổi trong tư duy, cảm xúc hoặc hành vi
của một người gây ảnh hưởng đến khả năng hoạt động cá nhân, xã hội, học tập và
lao động.
20. Khám sức khỏe định kỳ là
việc khám sức khỏe tổng quát theo khoảng thời gian xác định để đánh giá tình trạng
sức khỏe hoặc phân loại sức khỏe.
21. Khám sàng lọc là việc
khám sức khỏe để phát hiện sớm nguy cơ mắc bệnh và người mắc bệnh theo nhóm đối
tượng.
22. Dinh dưỡng hợp lý là
việc bảo đảm đủ các chất dinh dưỡng cần thiết, cân bằng theo tỷ lệ phù hợp đáp ứng
nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể nhằm đạt được sức khỏe tối ưu.
23. Suy dinh dưỡng là
tình trạng cơ thể mất cân bằng các chất dinh dưỡng thiết yếu gây ra thiếu hụt
hoặc dư thừa chất dinh dưỡng.
Điều 3.
Chính sách của Nhà nước về phòng bệnh
1. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo,
định hướng và huy động cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, gia đình, cá nhân và
toàn xã hội tham gia phòng bệnh, giải quyết toàn diện, đồng bộ các vấn đề về
phòng bệnh.
2. Ngân sách nhà nước bảo đảm
kinh phí chi thường xuyên, chi đầu tư cho y tế dự phòng.
3. Cơ sở y tế dự phòng được tự
chủ quyết định mức thu nhập tăng thêm cho công chức, viên chức, người lao động
từ nguồn thu hợp pháp ngoài ngân sách nhà nước cấp, phù hợp với quy chế chi
tiêu nội bộ và kết quả hoạt động của đơn vị.
4. Có chính sách ưu đãi đặc
thù, vượt trội đối với nhân viên y tế trực tiếp làm chuyên môn y tế tại trạm y
tế cấp xã, cơ sở y tế dự phòng. Phát triển nhân lực y tế dự phòng bảo đảm đủ
năng lực tổ chức triển khai các hoạt động phòng bệnh, chú trọng đối với khu vực
biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện
kinh tế - xã hội khó khăn và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó
khăn.
5. Kiện toàn, nâng cao hệ thống
y tế dự phòng theo hướng hiện đại.
6. Có chính sách đẩy mạnh phong
trào toàn dân chủ động phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe, thực hiện lối sống lành mạnh,
xây dựng văn hóa sức khỏe trong Nhân dân; khuyến khích cộng đồng, gia đình, cá
nhân chủ động, tích cực cập nhật kiến thức để phòng bệnh, tiếp cận sử dụng dịch
vụ phòng bệnh.
7. Có chính sách đẩy mạnh
nghiên cứu, ứng dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo
và chuyển đổi số trong phòng bệnh, đặc biệt là công nghệ hỗ trợ dự báo, can thiệp,
ứng phó tình huống dịch bệnh.
8. Có chính sách khuyến khích
thực hiện hợp tác công tư; ưu đãi về thuế, đất đai, tín dụng và cơ chế ưu đãi
khác theo quy định của pháp luật để động viên, huy động mọi nguồn lực xã hội
tham gia phòng bệnh.
9. Khuyến khích, hỗ trợ và xây
dựng các mô hình cộng đồng, cơ sở giáo dục và nơi làm việc an toàn, khỏe mạnh.
10. Bảo đảm người dân được khám
sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm một lần theo nhóm
đối tượng và lộ trình ưu tiên.
11. Hỗ trợ thực hiện dinh dưỡng
trong phòng bệnh cho các đối tượng, khu vực ưu tiên phù hợp với điều kiện phát
triển kinh tế - xã hội từng thời kỳ để hỗ trợ người dân thực hiện dinh dưỡng hợp
lý theo độ tuổi, ngành nghề, tình trạng sinh lý, sức khỏe.
12. Khuyến khích nuôi con bằng
sữa mẹ hoàn toàn đối với trẻ em dưới 06 tháng tuổi và tiếp tục duy trì nuôi con
bằng sữa mẹ cho đến 24 tháng tuổi; khuyến khích tổ chức thực hiện bữa ăn tại cơ
sở giáo dục bảo đảm an toàn thực phẩm, dinh dưỡng hợp lý và phù hợp với từng lứa
tuổi.
Điều 4.
Nguyên tắc trong phòng bệnh
1. Phòng bệnh chủ động là
chính, người dân là chủ thể trung tâm; chú trọng bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức
khỏe toàn diện, liên tục theo vòng đời. Kết hợp các biện pháp chuyên môn y tế với
biện pháp hành chính, biện pháp xã hội và biện pháp khác trong việc triển khai
hoạt động phòng bệnh.
2. Bảo đảm việc chủ động, tích
cực, tự nguyện, bình đẳng, bảo mật và đề cao trách nhiệm của mỗi cá nhân, gia
đình trong phòng bệnh.
3. Ưu tiên trong tiếp cận dịch
vụ phòng bệnh đối với người khuyết tật, người cao tuổi; người dân tộc thiểu số,
phụ nữ, trẻ em sinh sống tại khu vực biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc
thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều
kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
4. Phối hợp liên ngành, phát
huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên; huy động cộng
đồng, xã hội trong việc triển khai hoạt động phòng bệnh; lồng ghép và ưu tiên
các chỉ tiêu, hoạt động về phòng bệnh trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch,
chương trình, đề án, dự án phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh.
5. Công khai, cung cấp chính
xác, kịp thời thông tin về phòng, chống bệnh truyền nhiễm theo quy định của
pháp luật.
6. Bảo đảm tính liên tục, kịp
thời, sẵn có của dịch vụ phòng bệnh.
Điều 5. Quản
lý nhà nước về phòng bệnh
1. Nội dung quản lý nhà nước về
phòng bệnh bao gồm:
a) Xây dựng và chỉ đạo thực hiện
chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án về phòng bệnh;
b) Xây dựng, ban hành và tổ chức
thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách về phòng bệnh; quy định
về cơ sở y tế dự phòng; quy định chuyên môn kỹ thuật, tiêu chí, tiêu chuẩn, quy
chuẩn kỹ thuật về phòng bệnh;
c) Xây dựng, ban hành và tổ chức
phát triển hệ thống cơ sở y tế dự phòng trong quy hoạch mạng lưới cơ sở y tế
công lập theo quy định của pháp luật về quy hoạch;
d) Đào tạo, bồi dưỡng phát triển
nguồn nhân lực làm công tác phòng bệnh; giáo dục, tuyên truyền, phổ biến kiến
thức, pháp luật về phòng bệnh;
đ) Tổ chức nghiên cứu, phát triển
khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, ứng dụng và chuyển giao
công nghệ trong phòng bệnh;
e) Xây dựng, vận hành, khai
thác và sử dụng hệ thống thông tin về phòng bệnh;
g) Hợp tác quốc tế về phòng bệnh;
h) Thanh tra, kiểm tra, giải
quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về phòng bệnh; khen thưởng
trong hoạt động phòng bệnh;
i) Nhiệm vụ khác theo quy định
của pháp luật.
2. Chính phủ thống nhất quản lý
nhà nước về phòng bệnh trong phạm vi cả nước.
3. Bộ Y tế là cơ quan đầu mối
chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về phòng bệnh.
4. Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ
quan thuộc Chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm
thực hiện quản lý nhà nước về phòng bệnh.
5. Ủy ban nhân dân các cấp,
trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, theo phân cấp có trách nhiệm thực
hiện quản lý nhà nước về phòng bệnh.
Điều 6.
Trách nhiệm của tổ chức, gia đình, cá nhân về phòng bệnh
1. Thực hiện các quy định của
pháp luật có liên quan đến phòng bệnh.
2. Phối hợp chặt chẽ và tuân thủ,
chấp hành sự chỉ đạo, điều hành của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khi
có dịch bệnh xảy ra.
Điều 7.
Ngày Sức khỏe toàn dân Việt Nam
Ngày Sức khỏe toàn dân Việt Nam
là ngày 07 tháng 4 hằng năm.
Điều 8. Các
hành vi bị nghiêm cấm trong phòng bệnh
1. Tuyên truyền, phổ biến hoặc
đưa ra thông tin có nội dung trái với đường lối, chủ trương của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước và hướng dẫn chuyên môn của cơ quan có thẩm quyền
về công tác phòng bệnh.
2. Cản trở việc thông tin, giáo
dục, truyền thông về phòng bệnh.
3. Cố ý khai báo, thông tin giả
mạo, sai lệch, sai sự thật về phòng bệnh.
4. Phân biệt đối xử, kỳ thị
trong phòng bệnh.
5. Không triển khai hoặc triển
khai không kịp thời hoặc triển khai không đầy đủ các biện pháp phòng bệnh theo
quy định.
6. Sử dụng các biện pháp phòng
bệnh không có cơ sở khoa học, trái với chuẩn mực đạo đức, văn hóa.
7. Tổ chức tiêm chủng, tổ chức
xét nghiệm tại cơ sở, địa điểm không đủ điều kiện.
8. Các hành vi bị nghiêm cấm
trong phòng, chống bệnh truyền nhiễm, bao gồm:
a) Cố ý phát tán, làm lây lan
tác nhân gây bệnh truyền nhiễm;
b) Tiếp cận trái phép; sử dụng
không đúng mục đích hoặc thay đổi mục đích sử dụng tác nhân gây bệnh truyền nhiễm
khi chưa được người có thẩm quyền cho phép;
c) Che giấu, cố ý không khai
báo các trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm theo quy định của pháp luật;
d) Không chấp hành các biện
pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền.
9. Có hành vi gian dối, giả mắc
rối loạn tâm thần để trục lợi, trốn tránh các nghĩa vụ pháp luật.
Điều 9. Đối
tượng, nội dung, yêu cầu và hình thức thông tin, giáo dục, truyền thông về
phòng bệnh
1. Tổ chức, gia đình, cá nhân
được thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng bệnh, trong đó ưu tiên các đối
tượng sau đây:
a) Người mắc bệnh truyền nhiễm,
người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm, người mang mầm bệnh truyền nhiễm và
người tiếp xúc;
b) Người có nguy cơ, người
trong vùng có dịch bệnh, vùng có nguy cơ dịch bệnh;
c) Người mắc bệnh không lây nhiễm,
người mắc rối loạn tâm thần, người có nguy cơ mắc bệnh không lây nhiễm, người
có nguy cơ mắc rối loạn tâm thần;
d) Người khuyết tật, người cao
tuổi, người dân tộc thiểu số, phụ nữ;
đ) Người đang sinh sống tại khu
vực biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều
kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó
khăn;
e) Người học.
2. Nội dung thông tin, giáo dục
và truyền thông về phòng bệnh bao gồm:
a) Đường lối, chủ trương của Đảng;
chính sách, pháp luật của Nhà nước về phòng bệnh;
b) Vai trò, quyền lợi, trách
nhiệm và nghĩa vụ của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức trong thực hiện pháp
luật về phòng bệnh;
c) Chính sách, biện pháp về
phòng, chống bệnh truyền nhiễm; phòng, chống bệnh không lây nhiễm; phòng, chống
rối loạn tâm thần; dinh dưỡng trong phòng bệnh và điều kiện bảo đảm để phòng bệnh;
d) Chính sách, biện pháp về dự
phòng và sơ cứu, cấp cứu thương tích tại cộng đồng;
đ) Chính sách, biện pháp về quản
lý sức khỏe và ứng dụng công nghệ thông tin trong phòng bệnh;
e) Chính sách, biện pháp về
truyền thông thay đổi hành vi và lối sống để phòng bệnh;
g) Các lĩnh vực y tế khác có
liên quan đến phòng bệnh.
3. Yêu cầu của thông tin, giáo
dục, truyền thông về phòng bệnh bao gồm:
a) Chính xác, khoa học, rõ
ràng, dễ hiểu, thiết thực, kịp thời, có tính lan tỏa, dễ tiếp cận, khuyến khích
cá nhân, người có nguy cơ mắc bệnh, người bệnh thực hiện các hành vi có lợi cho
sức khỏe;
b) Phù hợp với truyền thống văn
hoá, bản sắc dân tộc, đạo đức xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng, giới tính và phong
tục tập quán;
c) Phù hợp với đặc điểm của từng
địa bàn, từng đối tượng được thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng bệnh.
4. Hình thức thông tin, giáo dục,
truyền thông về phòng bệnh bao gồm:
a) Trực tiếp;
b) Gián tiếp thông qua các
phương tiện truyền thông;
c) Chiến dịch, sự kiện, triển
lãm, cuộc thi về phòng bệnh và hình thức khác.
Điều 10.
Trách nhiệm thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng bệnh
1. Cơ quan quản lý nhà nước về
phòng bệnh có trách nhiệm hướng dẫn thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng
bệnh; phối hợp với các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện thông tin, giáo dục,
truyền thông về phòng bệnh.
2. Cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc
lực lượng vũ trang nhân dân, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có
trách nhiệm thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng bệnh.
3. Cơ quan báo chí có trách nhiệm
phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về phòng bệnh xây dựng chuyên mục cho
công tác thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng bệnh.
Điều 11. Hợp
tác quốc tế về phòng bệnh
1. Nhà nước chủ động, tích cực
hợp tác quốc tế về phòng bệnh phù hợp với pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc
tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2. Khuyến khích tổ chức, cá nhân
tham gia hỗ trợ, trao đổi kinh nghiệm và hợp tác quốc tế về phòng bệnh; tập
trung nghiên cứu, đào tạo, triển khai các mô hình dự báo, can thiệp, ứng phó
tình huống dịch bệnh nhằm phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm
công tác phòng bệnh.
3. Trường hợp xảy ra dịch bệnh
quy định tại điểm a khoản 2 Điều 15 của Luật này, căn cứ vào
tính chất, mức độ nguy hiểm của dịch bệnh, tác nhân gây bệnh truyền nhiễm, Bộ
trưởng Bộ Y tế, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo thẩm quyền quyết định việc
hợp tác quốc tế về nghiên cứu khoa học, đào tạo, trao đổi mẫu bệnh phẩm, thông
tin dịch bệnh, chuyên môn, kỹ thuật, công nghệ, chuyên gia, thiết bị, vắc xin,
sinh phẩm, kinh phí trong hoạt động phòng, chống dịch bệnh.
4. Trường hợp xảy ra dịch bệnh
quy định tại điểm b khoản 2 Điều 15 của Luật này, việc hợp
tác quốc tế về phòng bệnh thực hiện theo quy định của pháp luật về phòng thủ
dân sự, pháp luật về tình trạng khẩn cấp và quy định khác của pháp luật có liên
quan.
Điều 12. Hệ
thống thông tin về phòng bệnh
Hệ thống thông tin về phòng bệnh
bao gồm thông tin về bệnh truyền nhiễm, bệnh không lây nhiễm, tiêm chủng, dinh
dưỡng, thương tích và các thông tin khác được kết nối, chia sẻ trong cơ sở dữ
liệu về y tế theo quy định.
Điều 13.
Giám sát trong phòng bệnh
1. Đối tượng
giám sát trong phòng, chống bệnh truyền nhiễm bao gồm:
a) Người mắc bệnh truyền nhiễm,
người mang mầm bệnh truyền nhiễm, người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm và
người tiếp xúc;
b) Tác nhân gây bệnh truyền nhiễm;
c) Ổ chứa tác nhân gây bệnh truyền
nhiễm, trung gian truyền bệnh truyền nhiễm và các yếu tố nguy cơ.
2. Đối tượng
giám sát trong phòng, chống bệnh không lây nhiễm bao gồm:
a) Người mắc bệnh không lây nhiễm;
b) Người có nguy cơ mắc bệnh
không lây nhiễm;
c) Các yếu tố nguy cơ gây bệnh
không lây nhiễm.
3. Đối tượng
giám sát trong phòng, chống rối loạn tâm thần bao gồm:
a) Người mắc rối loạn tâm thần;
b) Người có nguy cơ mắc rối loạn
tâm thần;
c) Các yếu tố nguy cơ mắc rối
loạn tâm thần.
4. Đối tượng
giám sát trong dự phòng thương tích tại cộng đồng bao gồm:
a) Người bị thương tích tại cộng
đồng;
b) Các yếu tố nguy cơ dẫn đến
thương tích tại cộng đồng.
5. Đối tượng
giám sát dinh dưỡng trong phòng bệnh bao gồm:
a) Người mắc bệnh liên quan đến
dinh dưỡng;
b) Người có nguy cơ mắc bệnh
liên quan đến dinh dưỡng;
c) Các yếu tố nguy cơ gây bệnh
liên quan đến dinh dưỡng.
6. Trong trường hợp cần thiết,
cơ sở y tế, nhân viên y tế có thẩm quyền được lấy mẫu xét nghiệm ở người bị
nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm, người đã tử vong nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm
để giám sát.
7. Bộ trưởng
Bộ Y tế quy định chi tiết đối tượng giám sát tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều
này; quy định hướng dẫn giám sát, địa điểm giám sát, chế độ thông tin, báo cáo
giám sát trong phòng bệnh.
Điều 14.
Phòng bệnh trong cơ sở giáo dục
1. Cơ sở giáo dục có trách nhiệm
triển khai thực hiện công tác y tế trường học cho người học thuộc phạm vi quản
lý, bảo đảm người học được chăm sóc sức khỏe toàn diện cả thể chất và tinh thần,
bao gồm:
a) Tư vấn, truyền thông, giáo dục
sức khỏe;
b) Phòng, chống dịch, bệnh,
thương tích, rối loạn tâm thần;
c) Kiểm tra sức khỏe đầu năm học,
khám sàng lọc bệnh, tật; rà soát tiền sử tiêm chủng;
d) Kiểm soát các yếu tố nguy cơ
gây bệnh, tật, rối loạn tâm thần;
đ) Bảo đảm điều kiện chăm sóc sức
khỏe, sơ cứu;
e) Bảo đảm an toàn thực phẩm,
dinh dưỡng hợp lý kết hợp với tăng cường hoạt động thể lực phù hợp;
g) Vệ sinh môi trường và các hoạt
động khác.
2. Chính phủ quy định chi tiết
Điều này.
Chương II
PHÒNG, CHỐNG BỆNH TRUYỀN
NHIỄM
Điều 15.
Phân loại bệnh truyền nhiễm, dịch bệnh và chấm dứt, loại trừ, thanh toán bệnh
truyền nhiễm
1. Bệnh
truyền nhiễm được phân loại theo các nhóm sau đây:
a) Nhóm A gồm các bệnh truyền
nhiễm đặc biệt nguy hiểm;
b) Nhóm B gồm các bệnh truyền
nhiễm nguy hiểm;
c) Nhóm C gồm các bệnh truyền
nhiễm ít nguy hiểm;
d) Nhóm khác theo khuyến cáo của
Tổ chức Y tế thế giới (WHO).
2. Dịch bệnh
được phân loại theo khả năng, điều kiện ứng phó, khắc phục hậu quả, bao gồm:
a) Trong khả năng, điều kiện ứng
phó, khắc phục hậu quả về dịch bệnh của lực lượng chuyên trách, kiêm nhiệm và
các lực lượng khác trên địa bàn cấp xã;
b) Vượt quá khả năng, điều kiện
ứng phó, khắc phục hậu quả về dịch bệnh của lực lượng chuyên trách, kiêm nhiệm
và các lực lượng khác trên địa bàn cấp xã.
3. Trường
hợp xảy ra dịch bệnh quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì dịch bệnh được
phân loại theo cấp độ về phòng thủ dân sự hoặc tình trạng khẩn cấp như sau:
a) Phòng thủ dân sự cấp độ 1 về
dịch bệnh khi dịch bệnh trong phạm vi địa bàn cấp xã vượt quá khả năng, điều kiện
ứng phó, khắc phục hậu quả của lực lượng chuyên trách, kiêm nhiệm và các lực lượng
khác trên địa bàn cấp xã theo quy định của pháp luật về phòng thủ dân sự;
b) Phòng thủ dân sự cấp độ 2 về
dịch bệnh khi dịch bệnh trong phạm vi địa bàn cấp tỉnh vượt quá khả năng, điều
kiện ứng phó, khắc phục hậu quả của chính quyền địa phương cấp xã theo quy định
của pháp luật về phòng thủ dân sự;
c) Phòng thủ dân sự cấp độ 3 về
dịch bệnh khi dịch bệnh trên địa bàn một hoặc một số tỉnh, thành phố vượt quá
khả năng, điều kiện ứng phó, khắc phục hậu quả của chính quyền địa phương cấp tỉnh
theo quy định của pháp luật về phòng thủ dân sự;
d) Tình trạng khẩn cấp về dịch
bệnh theo quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp.
4. Bộ trưởng
Bộ Y tế quy định tiêu chí xác định phân loại nhóm bệnh truyền nhiễm, quyết định
danh mục bệnh truyền nhiễm thuộc các nhóm bệnh truyền nhiễm quy định tại khoản
1 Điều này; quy định tiêu chí xác định dịch bệnh quy định tại khoản 2 Điều này.
5. Việc chấm dứt, loại trừ,
thanh toán bệnh truyền nhiễm được thực hiện như sau:
a) Các tiêu chí công nhận chấm
dứt, loại trừ, thanh toán bệnh truyền nhiễm phù hợp với khuyến cáo của Tổ chức
Y tế thế giới hoặc tiêu chí của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định;
b) Chính
phủ quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục công nhận chấm dứt, loại trừ,
thanh toán bệnh truyền nhiễm.
Điều 16.
Các biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm
1. Các biện pháp phòng, chống bệnh
truyền nhiễm bao gồm:
a) Giám sát bệnh truyền nhiễm
thực hiện theo quy định tại Điều 13 của Luật này;
b) Khai
báo thông tin về bệnh truyền nhiễm thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế;
c) Đánh
giá nguy cơ, cảnh báo dịch bệnh; điều tra, xử lý ổ dịch, dịch bệnh và báo cáo,
thông tin dịch bệnh;
d) Khoanh
vùng, kiểm soát, ngăn chặn sự lây lan dịch bệnh giữa khu vực có dịch bệnh và
khu vực không có dịch bệnh theo quy định của Chính phủ;
đ) Cách ly y tế;
e) Kiểm dịch y tế;
g) Sử dụng vắc xin, sinh phẩm
trong phòng bệnh;
h) Bảo đảm an toàn sinh học, an
ninh sinh học trong xét nghiệm;
i) Tổ chức cấp cứu, khám bệnh,
chữa bệnh; vệ sinh khử khuẩn trong vùng có dịch và các biện pháp bảo vệ cá
nhân;
k) Các biện pháp phòng, chống bệnh
truyền nhiễm khác do Bộ trưởng Bộ Y tế quyết định phù hợp với tình hình thực tế.
2. Trường hợp xảy ra dịch bệnh
quy định tại điểm a khoản 2 Điều 15 của Luật này, Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp xã theo thẩm quyền có trách nhiệm chỉ đạo
việc tổ chức thực hiện các biện pháp quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Trường hợp xảy ra dịch bệnh
quy định tại điểm b khoản 2 Điều 15 của Luật này, Thủ tướng
Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã,
trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, căn cứ tình hình thực tế quyết định
áp dụng các biện pháp quy định tại khoản 1 Điều này và quy định của pháp luật về
phòng thủ dân sự, pháp luật về tình trạng khẩn cấp.
4. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục
ban bố và bãi bỏ cấp độ phòng thủ dân sự về dịch bệnh và tình trạng khẩn cấp về
dịch bệnh quy định tại khoản 3 Điều 15 của Luật này thực hiện
theo quy định của pháp luật về phòng thủ dân sự, pháp luật về tình trạng khẩn cấp.
Điều 17.
Quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng, chống bệnh truyền
nhiễm
1. Cá nhân có quyền sau đây:
a) Được cung cấp đầy đủ, kịp thời,
chính xác thông tin về tình hình dịch bệnh, các biện pháp phòng, chống và quy định
của pháp luật liên quan; yêu cầu cung cấp thông tin về tình trạng sức khỏe của
bản thân liên quan đến bệnh truyền nhiễm;
b) Được tiếp cận các dịch vụ
phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh khi mắc bệnh truyền nhiễm; bảo đảm an toàn về
sức khỏe khi thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch bệnh; được từ chối các
biện pháp y tế không phù hợp với quy định của pháp luật hoặc chưa được cơ quan
có thẩm quyền phê duyệt;
c) Được bảo đảm quyền riêng tư;
được bảo vệ thông tin cá nhân, thông tin về tình trạng sức khỏe liên quan đến bệnh
truyền nhiễm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
d) Khiếu nại, tố cáo các hành
vi vi phạm pháp luật về phòng, chống bệnh truyền nhiễm; được bồi thường thiệt hại
theo quy định của pháp luật.
2. Cá nhân có trách nhiệm sau
đây:
a) Chủ động thực hiện các biện
pháp phòng ngừa lây nhiễm cho bản thân và những người xung quanh;
b) Thực hiện và tuân thủ đầy đủ
các biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm theo yêu cầu, hướng dẫn của cơ sở
y tế, nhân viên y tế có thẩm quyền hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong
phòng, chống bệnh truyền nhiễm;
c) Khai
báo kịp thời cho cơ sở y tế hoặc cơ quan có thẩm quyền khi phát hiện bản thân
hoặc người khác bị mắc bệnh truyền nhiễm hoặc nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm;
d) Cung cấp đầy đủ, trung thực
và kịp thời các thông tin dịch tễ và các thông tin khác có liên quan đến quá
trình mắc bệnh truyền nhiễm theo yêu cầu của cơ sở y tế, nhân viên y tế có thẩm
quyền hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong phòng, chống bệnh truyền nhiễm;
đ) Hợp tác với cơ sở y tế, nhân
viên y tế có thẩm quyền hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong phòng, chống
bệnh truyền nhiễm;
e) Chấp hành nghiêm chỉnh các
quy định của pháp luật về phòng, chống bệnh truyền nhiễm.
3. Cơ sở y tế, nhân viên y tế
có thẩm quyền có quyền và trách nhiệm sau đây:
a) Được bảo đảm an toàn khi thực
hiện nhiệm vụ phòng, chống bệnh truyền nhiễm;
b) Được ưu tiên cung cấp đầy đủ
nguồn lực cần thiết cho công tác phòng, chống bệnh truyền nhiễm;
c) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá
nhân cung cấp thông tin liên quan đến phòng, chống bệnh truyền nhiễm;
d) Tổ chức thực hiện cách ly y
tế theo quy định;
đ) Tổ chức thực hiện các biện
pháp vệ sinh, khử khuẩn môi trường và xử lý chất thải tại cơ sở y tế;
e) Theo dõi sức khỏe của người
trực tiếp tham gia điều tra, giám sát, chăm sóc, điều trị người mắc bệnh truyền
nhiễm thuộc nhóm A;
g) Thông tin, báo cáo đầy đủ,
chính xác, kịp thời về bệnh truyền nhiễm và dịch bệnh cho cơ quan có thẩm quyền
cấp trên;
h) Quyền và trách nhiệm khác
trong phòng, chống bệnh truyền nhiễm theo quy định của Luật này và quy định
khác của pháp luật có liên quan.
4. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền có quyền, trách nhiệm sau đây:
a) Được bảo đảm an toàn khi thực
hiện nhiệm vụ phòng, chống bệnh truyền nhiễm;
b) Chấp hành các quy định, chỉ
đạo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về phòng, chống bệnh truyền nhiễm;
c) Tôn trọng các quyền của người
mắc bệnh truyền nhiễm, người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm, người mang mầm
bệnh truyền nhiễm và người tiếp xúc;
d) Chịu trách nhiệm về các quyết
định chuyên môn, nghiệp vụ và biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm khi triển
khai thực hiện;
đ) Tuyên truyền, vận động thành
viên của cơ quan, tổ chức và cộng đồng thực hiện các biện pháp phòng, chống bệnh
truyền nhiễm;
e) Quyền và trách nhiệm khác
theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Điều 18.
Đánh giá nguy cơ, cảnh báo dịch bệnh; điều tra, xử lý ổ dịch, dịch bệnh và báo
cáo, thông tin dịch bệnh
1. Khi có
dấu hiệu hoặc xảy ra dịch bệnh, cơ quan chuyên môn về y tế tổ chức đánh giá
nguy cơ, cảnh báo dịch bệnh; điều tra, xử lý ổ dịch, dịch bệnh và báo cáo,
thông tin dịch bệnh theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.
2. Cơ quan chuyên môn về y tế
có trách nhiệm thông tin, báo cáo về dịch bệnh cho chính quyền địa phương cùng
cấp để thực hiện các biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm theo quy định.
Điều 19.
Cách ly y tế
1. Người mắc bệnh truyền nhiễm,
người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm, người mang mầm bệnh truyền nhiễm, người
tiếp xúc với tác nhân gây bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A và một số bệnh truyền
nhiễm thuộc nhóm B phải được cách ly y tế theo quyết định của cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền.
2. Hình thức cách ly y tế bao gồm
cách ly tại nhà, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cửa khẩu, các cơ sở, địa điểm
khác.
3. Trường hợp các đối tượng quy
định tại khoản 1 Điều này không thực hiện yêu cầu cách ly y tế thì bị áp dụng
biện pháp cưỡng chế cách ly.
4. Chính phủ quy định chi tiết
Điều này.
Điều 20.
Kiểm dịch y tế
1. Kiểm dịch y tế được thực hiện
tại cửa khẩu. Đối tượng phải kiểm dịch y tế bao gồm:
a) Người nhập cảnh, xuất cảnh,
quá cảnh Việt Nam;
b) Phương tiện vận chuyển nhập
cảnh, xuất cảnh, quá cảnh Việt Nam;
c) Hàng hoá nhập khẩu, xuất khẩu,
quá cảnh Việt Nam;
d) Thi thể, hài cốt, tro cốt, mẫu
bệnh phẩm, mô, bộ phận cơ thể người vận chuyển qua biên giới Việt Nam.
2. Nội
dung kiểm dịch y tế bao gồm:
a) Thu thập thông tin đối với đối
tượng phải kiểm dịch y tế và tình hình dịch bệnh trên thế giới;
b) Khai báo y tế;
c) Quan sát y tế bao gồm trực
tiếp và gián tiếp;
d) Kiểm tra y tế bao gồm kiểm
tra giấy tờ hoặc thông tin liên quan đến y tế và kiểm tra thực tế. Kiểm tra thực
tế được tiến hành trong trường hợp đối tượng phải kiểm dịch y tế xuất phát hoặc
đi qua quốc gia, vùng lãnh thổ ghi nhận có trường hợp mắc bệnh truyền nhiễm thuộc
nhóm A hoặc một số bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm B phải được cách ly y tế; đối
tượng phải kiểm dịch y tế bị mắc hoặc nghi ngờ mắc bệnh hoặc mang hoặc có dấu
hiệu mang tác nhân gây bệnh truyền nhiễm, trung gian truyền bệnh truyền nhiễm
thuộc nhóm A hoặc một số bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm B phải được cách ly y tế;
đ) Xử lý y tế được thực hiện
khi đã tiến hành kiểm tra y tế và phát hiện đối tượng phải kiểm dịch y tế bị mắc
hoặc nghi ngờ mắc bệnh hoặc mang hoặc có dấu hiệu mang tác nhân gây bệnh truyền
nhiễm, trung gian truyền bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A hoặc một số bệnh truyền
nhiễm thuộc nhóm B phải được cách ly y tế để áp dụng các biện pháp phòng, chống
bệnh truyền nhiễm tại cửa khẩu. Trường hợp nhận được khai báo của chủ phương tiện
vận chuyển hoặc có bằng chứng rõ ràng cho thấy đối tượng phải xử lý y tế quy định
tại điểm này thì phải được cách ly ngay để áp dụng các biện pháp phòng, chống bệnh
truyền nhiễm tại cửa khẩu.
3. Trách nhiệm trong việc thực
hiện kiểm dịch y tế bao gồm:
a) Đối tượng quy định tại điểm
a khoản 1 Điều này, chủ phương tiện hoặc người quản lý đối tượng quy định tại
các điểm b, c và d khoản 1 Điều này phải thực hiện việc khai báo y tế; chấp
hành các biện pháp thu thập thông tin, quan sát y tế, kiểm tra y tế, xử lý y tế
và thanh toán chi phí theo giá dịch vụ kiểm dịch y tế theo quy định của pháp luật;
b) Tổ chức kiểm dịch y tế có
trách nhiệm tổ chức thực hiện nội dung kiểm dịch y tế quy định tại khoản 2 Điều
này; cấp giấy chứng nhận trong kiểm dịch y tế và thực hiện thông tin, báo cáo
hoạt động kiểm dịch y tế;
c) Các cơ quan chức năng tại cửa
khẩu có trách nhiệm phối hợp với tổ chức kiểm dịch y tế trong việc thực hiện kiểm
dịch y tế;
d) Cơ quan nhà nước có thẩm quyền
có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan hữu quan của các nước, các tổ chức quốc
tế trong công tác phòng, chống bệnh truyền nhiễm tại cửa khẩu.
4. Chính phủ quy định chi tiết
Điều này.
Điều 21. Sử
dụng vắc xin, sinh phẩm trong phòng bệnh
1. Người dân có quyền được sử dụng
và được bảo đảm công bằng trong tiếp cận vắc xin, sinh phẩm theo lứa tuổi, đối
tượng trong suốt vòng đời để bảo vệ sức khỏe bản thân và cộng đồng.
2. Vắc xin, sinh phẩm được sử dụng
phải bảo đảm các điều kiện theo quy định của pháp luật về dược.
3. Vắc xin, sinh phẩm phải được
sử dụng theo đúng hướng dẫn của nhà sản xuất, Bộ Y tế.
Điều 22.
Tiêm chủng
1. Hình thức thực hiện tiêm chủng
bao gồm:
a) Tiêm chủng bắt buộc là việc
cá nhân phải tiêm chủng vắc xin, sinh phẩm theo danh mục bệnh phải sử dụng vắc
xin, sinh phẩm bắt buộc và tiêm chủng chống dịch;
b) Tiêm chủng tự nguyện là việc
cá nhân tự quyết định việc tiêm chủng vắc xin, sinh phẩm không thuộc quy định tại
điểm a khoản này.
2. Ngân sách nhà nước bảo đảm
việc tiêm chủng bắt buộc quy định tại điểm a khoản 1 Điều này thông qua hoạt động
của Chương trình tiêm chủng mở rộng và tiêm chủng chống dịch.
3. Cơ sở tiêm chủng được thực
hiện tiêm chủng khi đủ điều kiện.
4. Bộ trưởng Bộ Y tế quy định
các nội dung sau đây:
a) Danh mục
bệnh phải sử dụng vắc xin, sinh phẩm trong tiêm chủng bắt buộc;
b) Tiêm
chủng thường xuyên, tiêm chủng bù liều, tiêm chủng chiến dịch chủ động và các
phương thức tổ chức tiêm chủng khác trong Chương trình tiêm chủng mở rộng; tiêm
chủng chống dịch;
c) Việc tổ
chức tiêm chủng.
5. Chính phủ quy định chi tiết
khoản 2 và khoản 3 Điều này.
Điều 23.
Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tổ chức sử dụng vắc xin,
sinh phẩm
1. Ủy ban
nhân dân các cấp có trách nhiệm chỉ đạo việc tổ chức tiêm chủng trên địa bàn quản
lý.
2. Cơ sở
tiêm chủng có trách nhiệm thực hiện chế độ thông tin, báo cáo về hoạt động tiêm
chủng theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.
3. Đối tượng
thuộc diện tiêm chủng bắt buộc phải tham gia tiêm chủng và được bồi thường nếu
xảy ra tai biến ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe hoặc tính mạng. Việc xác định
trách nhiệm bồi thường được thực hiện như sau:
a) Khi thực hiện Chương trình
tiêm chủng mở rộng, tiêm chủng chống dịch, nếu xảy ra tai biến ảnh hưởng nghiêm
trọng đến sức khỏe hoặc tính mạng của người được tiêm chủng, Nhà nước có trách
nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại. Trường hợp xác định được lỗi thuộc về
tổ chức thực hiện sản xuất, kinh doanh; tổ chức, cá nhân thực hiện bảo quản vắc
xin, sinh phẩm hoặc người làm công tác tiêm chủng thì tổ chức, cá nhân này phải
bồi hoàn cho Nhà nước và phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm của mình gây
ra tai biến nghiêm trọng cho người được tiêm chủng theo quy định của pháp luật;
b) Cơ sở tiêm chủng tư nhân có
trách nhiệm bồi thường đối với người được tiêm chủng tại cơ sở của mình theo
quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Trường hợp cơ sở tiêm chủng tư
nhân được Nhà nước huy động tham gia Chương trình tiêm chủng mở rộng, tiêm chủng
chống dịch thì Nhà nước thực hiện bồi thường. Trường hợp xác định được lỗi thuộc
về tổ chức thực hiện sản xuất, kinh doanh; tổ chức, cá nhân thực hiện bảo quản
vắc xin, sinh phẩm hoặc người làm công tác tiêm chủng thì tổ chức, cá nhân này
phải bồi hoàn cho cơ sở tiêm chủng hoặc cho Nhà nước nếu Nhà nước huy động cơ sở
tiêm chủng và phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm của mình gây ra tai biến
nghiêm trọng cho người được tiêm chủng theo quy định của pháp luật.
4. Chính phủ quy định chi tiết
khoản 1 và khoản 3 Điều này.
Điều 24. Bảo
đảm an toàn sinh học trong xét nghiệm
1. Cơ sở xét nghiệm phải đáp ứng
các điều kiện an toàn sinh học phù hợp với từng cấp độ và chỉ được tiến hành
xét nghiệm trong phạm vi chuyên môn sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
về y tế công bố hoặc cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn an toàn sinh học; bảo đảm
quy định về quản lý mẫu bệnh phẩm và quy định về bảo vệ người làm việc trong cơ
sở xét nghiệm.
2. Việc tổ chức và vận hành
phòng xét nghiệm phải tuân thủ các quy định về thực hành an toàn sinh học tương
ứng với cấp độ phòng xét nghiệm; thực hiện đánh giá nguy cơ và áp dụng các biện
pháp kiểm soát nguy cơ phù hợp để bảo đảm an toàn sinh học trong quá trình hoạt
động.
3. Việc xét nghiệm ngoài cơ sở
xét nghiệm phải bảo đảm an toàn cho cá nhân người lấy mẫu, xét nghiệm và những
người liên quan.
4. Việc thực hiện thu thập, quản
lý, sử dụng, tiêu hủy mẫu bệnh phẩm trong và ngoài cơ sở xét nghiệm phải bảo đảm
an toàn cho con người, môi trường.
5. Chính phủ quy định chi tiết
Điều này.
Điều 25. Bảo
đảm an ninh sinh học trong xét nghiệm
1. Cơ sở xét nghiệm phải đáp ứng
các yêu cầu về an ninh sinh học; thực hiện quản lý tác nhân gây bệnh truyền nhiễm,
thiết bị, dữ liệu trong cơ sở xét nghiệm theo các biện pháp bảo đảm an ninh
sinh học nhằm ngăn chặn việc tiếp cận trái phép, thất thoát, lấy cắp, sử dụng
không đúng mục đích hoặc thay đổi mục đích sử dụng, phát tán tác nhân gây bệnh
truyền nhiễm ra môi trường và cộng đồng.
2. Cơ sở xét nghiệm khi tổ chức,
vận hành phòng xét nghiệm phải tuân thủ đánh giá nguy cơ và áp dụng các biện
pháp kiểm soát nguy cơ phù hợp để bảo đảm an ninh sinh học.
3. Chính phủ quy định chi tiết
Điều này.
Điều 26. Tổ
chức cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh; vệ sinh khử khuẩn trong vùng có dịch bệnh và
các biện pháp bảo vệ cá nhân
1. Tổ chức cấp cứu, khám bệnh,
chữa bệnh cho người mắc bệnh truyền nhiễm, người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền
nhiễm và các biện pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm thực hiện theo quy định của
pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh.
2. Các biện pháp vệ sinh khử
khuẩn trong vùng có dịch bệnh bao gồm:
a) Khử khuẩn bề mặt và vệ sinh
cá nhân;
b) Khử khuẩn khu vực được xác định
hoặc nghi ngờ có tác nhân gây bệnh truyền nhiễm.
3. Người
tham gia phòng, chống dịch bệnh và người có nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm phải
thực hiện một hoặc một số biện pháp bảo vệ cá nhân sau đây:
a) Sử dụng phương tiện bảo vệ
cá nhân;
b) Sử dụng thuốc phòng bệnh;
c) Sử dụng vắc xin, sinh phẩm
trong phòng bệnh;
d) Sử dụng hoá chất, chế phẩm
và biện pháp bảo vệ cá nhân khác phòng ngừa trung gian truyền bệnh truyền nhiễm,
tác nhân gây bệnh truyền nhiễm.
4. Nhà nước bảo đảm cho người
tham gia phòng, chống dịch bệnh thực hiện các biện pháp bảo vệ cá nhân quy định
tại khoản 3 Điều này.
5. Bộ trưởng
Bộ Y tế hướng dẫn thực hiện các biện pháp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều
này trên cơ sở mức độ, nguy cơ của dịch bệnh.
Chương
III
PHÒNG, CHỐNG BỆNH KHÔNG
LÂY NHIỄM; PHÒNG, CHỐNG RỐI LOẠN TÂM THẦN
Điều 27.
Khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc miễn phí
1. Người dân được hưởng chính
sách khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm một lần
theo nhóm đối tượng và lộ trình ưu tiên.
2. Nguồn kinh phí chi trả cho
hoạt động khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc quy định tại khoản 1 Điều này
bao gồm:
a) Người sử dụng lao động chi
trả chi phí khám sức khỏe định kỳ cho người lao động theo quy định pháp luật về
lao động, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động;
b) Ngân sách nhà nước;
c) Quỹ bảo hiểm y tế chi trả
theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế;
d) Quỹ phòng bệnh;
đ) Các khoản đóng góp, tặng
cho, tự nguyện hợp pháp của tổ chức, cá nhân;
e) Nguồn kinh phí hợp pháp
khác.
3. Chính
phủ quy định phạm vi, đối tượng, lộ trình ưu tiên, cơ sở tổ chức khám và nguồn
kinh phí thực hiện chính sách khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn
phí.
Điều 28.
Biện pháp phòng, chống bệnh không lây nhiễm
1. Phòng, chống yếu tố nguy cơ
gây bệnh không lây nhiễm.
2. Phát hiện sớm, dự phòng bệnh
không lây nhiễm.
3. Quản lý bệnh không lây nhiễm
tại cộng đồng.
Điều 29.
Phòng, chống yếu tố nguy cơ gây bệnh không lây nhiễm
1. Yếu tố nguy cơ gây bệnh
không lây nhiễm bao gồm:
a) Yếu tố nguy cơ liên quan đến
hành vi, lối sống không có lợi cho sức khỏe;
b) Yếu tố nguy cơ do rối loạn
chuyển hóa; c) Yếu tố nguy cơ do ô nhiễm môi trường; d) Yếu tố nguy cơ khác.
2. Phòng, chống tác hại của thuốc
lá, rượu, bia, ô nhiễm môi trường được thực hiện theo quy định của pháp luật về
phòng, chống tác hại của thuốc lá, rượu, bia; pháp luật về bảo vệ môi trường và
tài nguyên nước.
3. Phòng,
chống yếu tố nguy cơ khác gây bệnh không lây nhiễm theo quy định của pháp luật
có liên quan và theo hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Điều 30.
Phát hiện sớm, dự phòng bệnh không lây nhiễm và quản lý bệnh không lây nhiễm
tại cộng đồng
1. Người có nguy cơ mắc bệnh
không lây nhiễm tại cộng đồng được phát hiện sớm, tư vấn, theo dõi và điều trị
dự phòng bệnh không lây nhiễm.
2. Người mắc bệnh không lây nhiễm
được tư vấn, quản lý, kiểm soát các yếu tố nguy cơ tăng nặng bệnh và dự phòng
các biến chứng nguy hiểm.
3. Cơ sở y tế dự phòng, cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh tổ chức thực hiện phát hiện sớm, tư vấn, theo dõi và điều
trị dự phòng bệnh không lây nhiễm cho người có nguy cơ mắc bệnh không lây nhiễm
tại cộng đồng; tư vấn, quản lý, kiểm soát các yếu tố nguy cơ tăng nặng bệnh và
dự phòng các biến chứng nguy hiểm cho người mắc bệnh không lây nhiễm.
4. Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn
chuyên môn về phát hiện sớm, tư vấn, theo dõi và điều trị dự phòng bệnh không
lây nhiễm cho người có nguy cơ mắc bệnh không lây nhiễm tại cộng đồng; tư vấn,
quản lý, kiểm soát các yếu tố nguy cơ tăng nặng bệnh và dự phòng các biến chứng
nguy hiểm cho người mắc bệnh không lây nhiễm.
5. Chính
phủ quy định việc tổ chức thực hiện phát hiện sớm, dự phòng bệnh không lây nhiễm
và quản lý bệnh không lây nhiễm tại cộng đồng.
Điều 31. Dự
phòng mắc rối loạn tâm thần tại cộng đồng
1. Yếu tố nguy cơ mắc rối loạn
tâm thần bao gồm:
a) Yếu tố nguy cơ về sinh học,
di truyền;
b) Yếu tố nguy cơ về tâm lý;
c) Yếu tố nguy cơ về xã hội;
d) Yếu tố nguy cơ khác.
2. Người có nguy cơ mắc rối loạn
tâm thần là người có ít nhất một trong các yếu tố nguy cơ quy định tại khoản 1
Điều này.
3. Người có nguy cơ mắc rối loạn
tâm thần được phát hiện sớm, quản lý, theo dõi; hỗ trợ tâm lý, xã hội phù hợp.
4. Các biện pháp dự phòng mắc rối
loạn tâm thần bao gồm:
a) Dự phòng tại cộng đồng thông
qua tăng cường nhận thức và giáo dục cộng đồng, khuyến cáo thực hiện lối sống
lành mạnh;
b) Dự phòng theo nhóm đối tượng
tại gia đình, cơ sở giáo dục và nơi làm việc, ưu tiên học sinh, sinh viên, người
lao động, phụ nữ có thai, bà mẹ nuôi con dưới 24 tháng tuổi, trẻ em, người cao
tuổi, người khuyết tật, người có sang chấn tâm lý sau sự cố, thảm họa.
5. Bộ trưởng
Bộ Y tế hướng dẫn chuyên môn về dự phòng mắc rối loạn tâm thần tại cộng đồng.
6. Chính
phủ quy định việc tổ chức thực hiện dự phòng mắc rối loạn tâm thần tại cộng đồng.
Điều 32.
Quản lý, chăm sóc y tế, xã hội cho người mắc rối loạn tâm thần tại cộng đồng
1. Người mắc rối loạn tâm thần
tại cộng đồng được tư vấn, quản lý, kiểm soát các yếu tố tăng nặng bệnh, dự
phòng các biến chứng nguy hiểm và tái phát.
2. Người mắc rối loạn tâm thần
được cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế, xã hội phù hợp.
3. Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn
chuyên môn về quản lý, chăm sóc y tế, xã hội cho người mắc rối loạn tâm thần tại
cộng đồng.
4. Chính
phủ quy định việc tổ chức thực hiện quản lý, chăm sóc y tế, xã hội cho người mắc
rối loạn tâm thần tại cộng đồng.
Điều 33.
Quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng, chống rối loạn
tâm thần
1. Người có nguy cơ mắc rối loạn
tâm thần và người mắc rối loạn tâm thần có quyền và nghĩa vụ sau đây:
a) Được khám sàng lọc để phát
hiện sớm, theo dõi; được hỗ trợ tâm lý, xã hội; được quản lý điều trị và sử dụng
các dịch vụ chăm sóc y tế, xã hội phù hợp;
b) Được ưu tiên và không bị ngược
đãi, kỳ thị, phân biệt đối xử trong chăm sóc, điều trị y tế;
c) Hợp tác với cơ quan y tế,
chính quyền địa phương trong việc thực hiện các nội dung quy định tại điểm a
khoản này.
2. Gia đình, người chăm sóc có
trách nhiệm sau đây:
a) Tôn trọng, quan tâm, chăm
sóc, giúp đỡ, bảo vệ người có nguy cơ mắc rối loạn tâm thần và người mắc rối loạn
tâm thần;
b) Phối hợp với cơ quan y tế,
chính quyền địa phương trong việc thực hiện các nội dung quy định tại điểm a
khoản 1 Điều này.
3. Cơ sở trợ giúp xã hội có
trách nhiệm sau đây:
a) Tổ chức các hoạt động cung cấp
dịch vụ cho người mắc rối loạn tâm thần phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được
giao theo quy định của pháp luật;
b) Tổ chức các hoạt động truyền
thông, nâng cao nhận thức cho cộng đồng và xã hội về nhận biết nguy cơ và
phòng, chống rối loạn tâm thần;
c) Cung cấp dịch vụ về tư vấn,
hỗ trợ tâm lý, phục hồi tâm lý cho người mắc rối loạn tâm thần; quản lý, can
thiệp, bảo vệ, chăm sóc, phục hồi và hỗ trợ phát triển cho người mắc rối loạn
tâm thần.
4. Chính quyền địa phương,
trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình, có trách nhiệm sau đây:
a) Tổ chức việc theo dõi, giám
sát và triển khai biện pháp dự phòng, quản lý, chăm sóc y tế, xã hội đối với
người có nguy cơ mắc rối loạn tâm thần và người mắc rối loạn tâm thần quy định
tại Điều 31 và Điều 32 của Luật này;
b) Phối hợp với cơ quan chuyên
môn trong quá trình triển khai thực hiện việc theo dõi, giám sát, quản lý, dự
phòng và chăm sóc y tế, xã hội cho người có nguy cơ mắc rối loạn tâm thần và
người mắc rối loạn tâm thần trên địa bàn quản lý;
c) Huy động, tiếp nhận, phân bổ
và chủ động bố trí kinh phí để triển khai biện pháp dự phòng, quản lý, chăm sóc
y tế, xã hội tại địa phương.
Chương IV
DINH DƯỠNG TRONG PHÒNG BỆNH
Điều 34.
Thực hiện dinh dưỡng trong phòng bệnh
1. Dinh dưỡng trong phòng bệnh
được thực hiện trong suốt vòng đời, theo lứa tuổi, đối tượng; bảo đảm dinh dưỡng
hợp lý, phù hợp với thể trạng, văn hóa và điều kiện kinh tế của người Việt Nam;
chú trọng dinh dưỡng từ khi thai nhi đến trẻ được 24 tháng tuổi (còn gọi là
dinh dưỡng 1000 ngày đầu đời).
2. Các biện pháp thực hiện dinh
dưỡng trong phòng bệnh bao gồm:
a) Khám
sàng lọc, đánh giá, theo dõi về tình trạng dinh dưỡng;
b) Tư vấn,
hướng dẫn dinh dưỡng hợp lý;
c) Thông
tin, giáo dục, truyền thông về dinh dưỡng hợp lý;
d) Can
thiệp dinh dưỡng theo lứa tuổi, đối tượng phù hợp với tình trạng dinh dưỡng;
đ) Các
biện pháp thực hiện dinh dưỡng trong phòng bệnh khác do Bộ trưởng Bộ Y tế quyết
định phù hợp với tình hình thực tế.
3. Bộ trưởng
Bộ Y tế hướng dẫn chuyên môn các biện pháp thực hiện dinh dưỡng trong phòng bệnh
quy định tại các điểm a, b và c khoản 2 Điều này.
4. Chính phủ quy định chi tiết
điểm d khoản 2 Điều này.
Điều 35.
Dinh dưỡng đối với phụ nữ có thai, bà mẹ cho con bú và trẻ em
1. Các biện pháp thực hiện dinh
dưỡng trong phòng bệnh đối với phụ nữ có thai, bà mẹ cho con bú và trẻ em thực
hiện theo quy định tại Điều 34 của Luật này.
2. Nhà nước
hỗ trợ thực hiện các biện pháp dinh dưỡng trong phòng bệnh đối với phụ nữ có
thai, bà mẹ cho con bú và trẻ em khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Hộ nghèo, hộ cận nghèo;
b) Người dân tộc thiểu số sống ở
khu vực biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có
điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc
biệt khó khăn;
c) Người sống ở vùng xảy ra sự
cố, thảm họa theo quy định của pháp luật về phòng thủ dân sự, pháp luật về tình
trạng khẩn cấp;
d) Các trường hợp khác do chính
quyền địa phương quyết định phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của
địa phương.
3. Chính phủ quy định chi tiết
khoản 2 Điều này.
Điều 36.
Dinh dưỡng đối với người trong độ tuổi lao động
1. Các biện pháp thực hiện dinh
dưỡng trong phòng bệnh đối với người trong độ tuổi lao động thực hiện theo quy
định tại Điều 34 của Luật này.
2. Các biện pháp thực hiện dinh
dưỡng trong phòng bệnh quy định tại các điểm a, b và c khoản 2
Điều 34 của Luật này đối với người trong độ tuổi lao động được thực hiện lồng
ghép trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh.
3. Trường hợp người sử dụng lao
động có tổ chức bếp ăn, ăn ca cho người lao động thì bảo đảm an toàn thực phẩm,
dinh dưỡng hợp lý trong bữa ăn.
4. Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn
thực hiện khoản 2 và khoản 3 Điều này.
Điều 37.
Dinh dưỡng đối với người cao tuổi
1. Các biện pháp thực hiện dinh
dưỡng trong phòng bệnh đối với người cao tuổi thực hiện theo quy định tại Điều 34 của Luật này.
2. Cơ sở chăm sóc người cao tuổi
có trách nhiệm bảo đảm dinh dưỡng hợp lý đối với người cao tuổi.
Chương V
ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM ĐỂ
PHÒNG BỆNH
Điều 38.
Nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
trong phòng bệnh
1. Thống nhất, tích hợp, liên
thông dữ liệu giữa các ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác phòng bệnh
bảo đảm an toàn và bảo mật thông tin.
2. Ứng dụng khoa học, công nghệ,
chuyển đổi số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo cho hoạt động dự phòng, phát hiện
sớm, theo dõi, dự báo, cảnh báo trong phòng, chống bệnh truyền nhiễm, bệnh
không lây nhiễm, rối loạn tâm thần và các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng sức khỏe.
3. Cơ chế, chính sách cho hoạt
động nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
trong nghiên cứu, phát triển, sản xuất vắc xin, sinh phẩm thực hiện theo quy định
pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo và nghiên cứu y sinh học
trên đối tượng là con người.
Điều 39.
Chế độ đối với người làm công tác phòng, chống bệnh truyền nhiễm và người tham
gia chống dịch bệnh
1. Người làm công tác phòng, chống
bệnh truyền nhiễm được hưởng lương, các chế độ phụ cấp nghề nghiệp và các chế độ
khác của vị trí công việc theo quy định của pháp luật.
2. Người tham gia chống dịch bệnh
được hưởng chế độ phụ cấp chống dịch bệnh và được hưởng chế độ rủi ro nghề nghiệp
khi bị lây nhiễm bệnh.
3. Người không thuộc lực lượng
vũ trang khi tham gia chống dịch bệnh mà đặc biệt dũng cảm cứu người, là tấm
gương có ý nghĩa tôn vinh, giáo dục, lan tỏa rộng rãi trong xã hội mà bị chết
hoặc bị thương thì được xem xét để công nhận là liệt sỹ hoặc người hưởng chính
sách như thương binh theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với
cách mạng.
4. Chế độ đối với người làm
công tác phòng, chống bệnh truyền nhiễm và người tham gia chống dịch bệnh thực
hiện theo quy định của Chính phủ.
Điều 40.
Phát triển nguồn nhân lực làm công tác phòng bệnh
1. Nhà nước có chính sách về cấp
học bổng sau đây:
a) Cấp học bổng khuyến khích học
tập cho người học đại học, sau đại học thuộc lĩnh vực y học dự phòng, y tế công
cộng, dinh dưỡng có kết quả học tập, rèn luyện đủ điều kiện để cấp học bổng tại
cơ sở giáo dục thuộc lĩnh vực sức khỏe của Nhà nước;
b) Cấp học bổng chính sách cho
người đang làm việc tại trạm y tế cấp xã, cơ sở y tế dự phòng tại khu vực biên
giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện
kinh tế - xã hội khó khăn và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó
khăn khi học sau đại học thuộc lĩnh vực y học dự phòng, y tế công cộng, dinh dưỡng.
2. Nhà nước hỗ trợ đối với người
học sau đại học thuộc lĩnh vực y học dự phòng sau đây:
a) Hỗ trợ toàn bộ học phí và hỗ
trợ chi phí sinh hoạt trong toàn khóa học nếu học tại cơ sở giáo dục thuộc lĩnh
vực sức khỏe của Nhà nước;
b) Hỗ trợ tiền đóng học phí và
hỗ trợ chi phí sinh hoạt trong toàn khóa học tương ứng với mức quy định tại điểm
a khoản này nếu học tại cơ sở giáo dục thuộc lĩnh vực sức khỏe của tư nhân.
3. Nhà nước khuyến khích tổ chức,
cá nhân cấp học bổng hoặc trợ cấp cho người học đại học, sau đại học thuộc lĩnh
vực y học dự phòng, y tế công cộng, dinh dưỡng.
4. Nhà nước có chính sách thu
hút, tuyển dụng, ưu đãi, bố trí và sử dụng hợp lý nhân lực làm công tác phòng bệnh,
đặc biệt tại khu vực biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền
núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và vùng có điều kiện kinh tế -
xã hội đặc biệt khó khăn.
5. Chính phủ quy định chi tiết
Điều này.
Điều 41.
Nguồn kinh phí cho công tác phòng bệnh
1. Các nguồn kinh phí cho công
tác phòng bệnh bao gồm:
a) Ngân
sách nhà nước;
b) Quỹ phòng bệnh;
c) Kinh phí chi trả của người sử
dụng dịch vụ phòng bệnh;
d) Quỹ bảo hiểm y tế theo quy định
của pháp luật về bảo hiểm y tế và theo lộ trình, đối tượng ưu tiên và khả năng
cân đối của Quỹ;
đ) Viện trợ, tài trợ, hỗ trợ của
tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật;
e) Nguồn tài chính hợp pháp
khác theo quy định của pháp luật.
2. Chính phủ quy định chi tiết
điểm a khoản 1 Điều này.
Điều 42. Dự
trữ quốc gia cho phòng, chống dịch bệnh
1. Nhà nước thực hiện việc dự
trữ quốc gia về thuốc, hóa chất, thiết bị y tế để phòng, chống dịch bệnh.
2. Việc xây dựng, tổ chức, quản
lý, điều hành và sử dụng dự trữ quốc gia để phòng, chống dịch bệnh được thực hiện
theo quy định của pháp luật về dự trữ quốc gia.
Điều 43.
Quỹ phòng bệnh
1. Quỹ phòng bệnh là quỹ tài
chính nhà nước ngoài ngân sách, có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản
riêng, trực thuộc Bộ Y tế, hoạt động theo mô hình đơn vị sự nghiệp công lập.
2. Mục đích của Quỹ phòng bệnh
nhằm tạo nguồn tài chính bền vững cho hoạt động phòng bệnh.
3. Nhiệm vụ của Quỹ phòng bệnh
tập trung cho các hoạt động sau đây:
a) Phòng, chống tác hại của thuốc
lá;
b) Khám sức khỏe định kỳ, khám
sàng lọc miễn phí;
c) Phòng, chống bệnh không lây
nhiễm;
d) Phòng, chống rối loạn tâm thần;
đ) Thực hiện dinh dưỡng trong
phòng bệnh;
e) Nghiên cứu, ứng dụng khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong phòng bệnh;
g) Hợp tác quốc tế về phòng bệnh;
h) Thực hiện một số dịch vụ
phòng bệnh.
4. Quỹ phòng bệnh được hình
thành từ các nguồn sau đây:
a) Vốn điều lệ do ngân sách nhà
nước hỗ trợ theo quy định của pháp luật;
b) Chuyển toàn bộ kinh phí kết
dư chưa được sử dụng đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2026 của Quỹ phòng, chống tác
hại của thuốc lá;
c) Khoản đóng góp bắt buộc 2%
trên giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt của cơ sở sản xuất, nhập khẩu thuốc lá;
d) Nguồn tài trợ, đóng góp tự
nguyện, hợp pháp của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài;
viện trợ không hoàn lại không thuộc hỗ trợ phát triển chính thức của cá nhân, tổ
chức nước ngoài;
đ) Các nguồn thu hợp pháp khác
theo quy định của pháp luật.
5. Nguyên tắc hoạt động của Quỹ
phòng bệnh bao gồm:
a) Không vì mục đích lợi nhuận;
b) Không trùng với hoạt động do
ngân sách nhà nước, Quỹ bảo hiểm y tế và Quỹ phòng thủ dân sự bảo đảm;
c) Bổ sung kinh phí cho hoạt động
phòng bệnh mà ngân sách nhà nước, Quỹ bảo hiểm y tế và Quỹ phòng thủ dân sự
chưa bảo đảm;
d) Thực hiện thu, chi, quyết
toán, công khai tài chính, tài sản và công tác kế toán theo quy định của pháp
luật;
đ) Chịu sự kiểm tra, thanh tra,
kiểm toán nhà nước, kiểm toán độc lập theo quy định của pháp luật;
e) Chịu sự giám sát của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, cộng đồng;
g) Bảo đảm công khai, minh bạch,
tiết kiệm, hiệu quả, sử dụng đúng mục đích, nhiệm vụ và phù hợp với quy định của
pháp luật;
h) Số dư kinh phí năm trước của
Quỹ phòng bệnh được chuyển sang năm sau để tiếp tục sử dụng.
6. Định kỳ 03 năm một lần,
Chính phủ báo cáo Quốc hội về kết quả hoạt động và việc quản lý, sử dụng Quỹ
phòng bệnh.
7. Tổ chức
và hoạt động của Quỹ phòng bệnh thực hiện theo quy định của Chính phủ.
Chương VI
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 44. Sửa
đổi, bổ sung một số luật có liên quan đến phòng bệnh
1. Sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 đã được
sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 32/2013/QH13,
Luật số 46/2014/QH13, Luật số 97/2015/QH13, Luật số 35/2018/QH14, Luật số 68/2020/QH14, Luật số 30/2023/QH15 và Luật số 51/2024/QH15 như sau:
a) Sửa đổi,
bổ sung điểm a khoản 1 Điều 21 như
sau:
“a) Khám bệnh, chữa bệnh,
bao gồm cả khám bệnh, chữa bệnh từ xa, hỗ trợ khám bệnh, chữa bệnh từ xa, khám
bệnh, chữa bệnh y học gia đình, khám bệnh, chữa bệnh tại nhà, phục hồi chức
năng, khám thai định kỳ, sinh con; một số dịch vụ phòng bệnh, quản lý bệnh mạn
tính, khám sức khỏe định kỳ và khám sàng lọc theo yêu cầu chuyên môn theo lộ
trình phù hợp, đối tượng ưu tiên và khả năng cân đối của Quỹ bảo hiểm y tế;”;
b) Bổ
sung điểm d vào sau điểm c khoản 3 Điều 21 như sau:
“d) Đối tượng ưu tiên, lộ
trình thực hiện một số dịch vụ phòng bệnh, quản lý bệnh mạn tính, khám sức khỏe
định kỳ và khám sàng lọc phù hợp với khả năng cân đối của Quỹ Bảo hiểm y tế.”;
c) Bổ
sung khoản 5a vào sau khoản 5 Điều 22 như sau:
“5a. Người đi khám sức khỏe
định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí theo quy định của Luật Phòng bệnh được hưởng
100% chi phí cho lượt khám sức khỏe định kỳ hoặc cho lượt khám sàng lọc miễn
phí theo đối tượng và lộ trình ưu tiên phù hợp với khả năng cân đối của Quỹ.”;
d) Sửa đổi,
bổ sung khoản 3 Điều 23 như
sau:
“3. Khám sức khỏe, trừ
khám sức khỏe định kỳ và khám sàng lọc.”;
đ) Thay
thế cụm từ “huyện đảo” bằng cụm từ “đặc khu” tại điểm o khoản
3 Điều 12 và điểm b khoản 4 Điều 22;
e) Bổ
sung khoản 3 vào sau khoản 2 Điều 7a như sau:
“3. Quy định tại Điều này
thực hiện theo quy định của Chính phủ kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.”.
2. Bãi bỏ
các điều 28, 29 và 30 của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc
lá số 09/2012/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số
điều theo Luật số 28/2018/QH14 và Luật số 16/2023/QH15.
3. Thay thế
cụm từ “công bố dịch theo quy định của pháp luật về phòng, chống bệnh truyền
nhiễm” bằng cụm từ “thông tin dịch bệnh theo quy định của pháp luật về phòng bệnh”
tại điểm a khoản 17 Điều 6; điểm e khoản 4 Điều 42; điểm a và điểm b khoản 3, điểm e khoản 6, điểm
c khoản 9 Điều 56; điểm b khoản 3, khoản
5b Điều 60 và khoản 1a Điều 87 của Luật Dược số 105/2016/QH13 đã được sửa đổi,
bổ sung một số điều theo Luật số 28/2018/QH14,
Luật số 44/2024/QH15 và Luật số 112/2025/QH15.
Điều 45.
Hiệu lực thi hành
1. Luật này có hiệu lực thi
hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2026.
2. Luật
Phòng, chống bệnh truyền nhiễm số 03/2007/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một
số điều theo Luật số 15/2008/QH12 và Luật số
35/2018/QH14 hết hiệu lực từ ngày Luật này
có hiệu lực thi hành.
Điều 46. Quy
định chuyển tiếp
Các hợp đồng đã được ký kết,
các kế hoạch đã được phê duyệt sử dụng nguồn kinh phí từ Quỹ phòng, chống tác hại
của thuốc lá trước ngày Luật này có hiệu lực được Quỹ Phòng bệnh bảo đảm thực
hiện từ ngày 01 tháng 7 năm 2026 đến hết thời hạn của hợp đồng, kế hoạch.
Luật này được Quốc hội nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10
tháng 12 năm 2025.
|
|
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI
Trần Thanh Mẫn
|